Điển hình của những chiến thắng đó là trận đánh kéo dài bốn ngày đêm mà địa
phương quân tại chi khu Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi đã đẩy lui cuộc tấn công
của Cộng quân. Người nữ phóng viên chiến trường đã gặp tại đó một người vợ lính
mang bầu và một em bé chưa đến 10 tuổi góp phần chiến thắng cùng chồng cùng
cha nơi trang 51-52.
Phóng sự về trận Lệ Khánh gần Kontum kéo dài trong một tháng cũng đáng quý,
ghi lại tinh thần bất khuất của Tiểu Đoàn 62 Biệt Động Quân Biên Phòng mà đa số
quân lính là người Thượng và chỉ huy trưởng căn cứ là Thiếu Tá Bửu Chuyển bị
thương nhưng không chịu để kẻ địch bắt nên đã hy sinh.
Phóng sự này có thêm phần hiếm hoi, là đoạn cập nhật tại California cho biết đại
úy Phan Thái Bình, chỉ huy phó căn cứ Lệ Khánh sau 11 tù tập trung (tác giả ghi là
"tù cải tạo") đến được Hoa Kỳ ngày 10 tháng 6 năm 1993 trong đợt HO.18. Đoạn
cập nhật thứ hai là tin tức một số bác sĩ tại Quân Y Viện Pleiku thời ấy đã thoát
khỏi Việt Nam gồm Bùi Thế Khải ở Pháp, Nguyễn Huy Đạt ở New York, Nguyễ̉n
Thúc Cường ở Seattle, Phong ở Úc (tác giả không cho biết rõ tên tuổi người y sĩ
này), và Ngô Thế Vinh, y sĩ trưởng của Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, ở Nam
California.
Trở lại phần phóng sự trong thập niên 1970, nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên đã viết rất
kỹ về trận Bình Long-An Lộc. Bà bắt đầu bài phóng sự bằng lệnh của Tổng Thống
ngày 5.4.1972 yêu cầu Tỉnh Trưởng Bình Long là đại tá Trần Văn Nhựt trở về tỉnh
nhà ngay vì tỉnh đang bị Cộng quân tấn công, dù đại tá Nhựt đang tham dự cuộc
hội thảo về Bình Định và Phát Triển tại Vũng Tàu do chính Tổng Thống chủ toạ.
Với quân số của ba Công Trường 5, 7, và 9 (công trường là danh từ của Cộng Sản
thay thế danh từ sư đoàn của ta) khoảng 30,000 người được yểm trợ bởi 100 chiến
xa loại T54 và PT76, cùng hai trung đoàn pháo binh gồm nhiều hoả tiễn 122 ly, và
một tiểu đoàn đặc công từ đất Miên tràn qua, lần lượt chiếm Lộc Ninh, Bố Đức, Kà
Tum, Thiện Ngôn, Tống Lê Chân để tiến về chiếm An Lộc, thủ phủ của tỉnh Bình
Long, làm thủ đô của cái gọi là Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam, hỗ trợ cho cuộc
hoà đàm với Mỹ đang tiến hành tại Paris, Pháp.
Cuộc chiến Bình Long-An Lộc kéo dài tới 144 ngày, nhưng An Lộc hoàn toàn đổ
nát vẫn đứng vững với nhiều thường dân, nhân dân tự vệ, nghĩa quân, địa phương
quân, và quân nhân thuộc nhiều binh chủng phải hy sinh. Chiến thắng Bình Long-
An Lộc đã để lại hai câu thơ trong quân sử QLVNCH:
An Lộc Địa Sử ghi chiến tích,
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.
Phóng sự hay nhất của ký giả Kiều Mỹ Duyên dài đến 30 trang (trang 147-77) là
trận quân Dù và Thủy Quân Lục Chiến phối hợp đánh chiếm lại thành phố Quảng
Trị và treo lại lá cờ Vàng trên cổ thành Đinh Công Tráng. Người treo cờ là binh I
Hồ Khang đã hy sinh ngay sau khi treo, bỏ lại vợ và ba đứa con thơ tại trại gia binh
của Tiểu Đoàn 5 Dù tại Biên Hoà. Hồ Khang ra đi ngạo nghễ, anh ra đi với lời hô
"Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm" sau khi thượng được lá quốc kỳ!
Hai bộ tem kỷ niệm chiến thắng Bình Long-An Lộc (phát hành ngày 25.11.1972)
và chiến thắng Quảng Trị (phát hành ngà̉y 24.2.1973). Bộ sưu tập TAT
Cảm động nhất và bùi ngùi nhất là phóng sự của Kiều Mỹ Duyên về người trung
đội trưởng nghĩa quân quận Chương Mỹ tỉnh Chương Thiện năm 1971. Sự việc
được trung tướng Ngô Quang Trưởng lúc ấy là Tư Lệnh Quân Đoàn IV kể lại cho
người nữ ký giả biết.
Nguyên mỗi buổi sáng theo dõi báo cáo tình hình và kết quả chiến sự ngày trước
đó, Tướng Trưởng thấy quận Chương Mỹ tỉnh Chương Thiện đêm nào cũng bắt
được Việt Cộng và lấy được vũ khí nên một ngày bất ngờ, ông cùng một viên
tướng Cố Vấn Mỹ xuống thăm quận để yêu cầu quận trưởng cho ông gặp người lập
được chiến công như trong báo cáo.
Nguyễn Văn Mới, tên người đội trưởng nghĩa quân được lệnh trình diện, là một
ông già chừng 65 tuổi, tóc bạc phơ và râu cũng đã bạc dài xuống ngực. Ông Mới
trình diện trong bộ đồ trận bạc mầu và sờn rách, dáng người nhanh nhẹn, cặp mắt
tinh anh, chỉ huy một toán nghĩa quân 20 người. Trung Tướng Trưởng và Thiếu
Tướng Macown (sic!) lần lượt nói lời tuyên dương và khích lệ rồi gắn huy chương
Việt Mỹ cho người chiến sĩ nghĩa quân 65 tuổi đời.
Tướng Trưởng sau đó còn đề cử ông Nguyễn Văn Mới vào phái đoàn chiến sĩ xuất
sắc được đi thăm Đài Loan. Tại Đài Bắc, người nghĩa quân già được viên đại
tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Trung Hoa Dân Quốc chủ tọa buổi tiếp
đón phái đoàn Việt Nam xuống tận nơi ông Mới đang ngồi trong đám cử tọa để
mời ông lên bàn chủ toạ, bên cạnh viên đại tướng chủ nhà.
Nếu năm 1971 số tuổi ông Nguyễn Văn Mới là 65 thì khi VNCH sụp đổ năm 1975,
ông chưa tới 70 và rất có thể còn sống để chứng kiến sự đau buồn không những
của cá nhân ông, mà còn của cả dân tộc. Người đọc không biết chuyện gì đã xảy
đến với người anh hùng thôn dã quận Chương Mỹ tỉnh Chương Thiện, và số phận
ông cùng gia đình thế nào trong tay bọn Cộng Sản tại địa phương. Nhưng điều tôi
biết là anh hùng không bao giờ sợ chết và với họ, sự nhục còn đau hơn sự chết!
Các trận đánh thì thắng, nhưng cuộc chiến thì thua và ngày 30.4.1975 xảy ra vì đại
tướng, trung tướng, và thiếu tướng miền Nam cao chạy xa bay. Nói như một trung
tướng, trung tướng Vĩnh Lộc trên đài phát thanh Sài Gòn ngày ấy, nguyên văn tôi
còn nhớ: "Chúng nó chạy như chuột!"
Tuy vậy, cũng còn năm vị tướng giữ đúng truyền thống trong quân sử Việt Nam từ
ngàn xưa, là giữ thành, thành mất, chết theo thành gồm thiếu tướng Nguyễn Khoa
Nam, thiếu tướng Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Lê Văn Hưng, chuẩn tướng Lê
Nguyên Vỹ, và chuẩn tướng Trần Văn Hai. Phải thêm vào đây một chi tiết bi hùng:
Phu nhân tướng Lê Nguyên Vỹ đã đề cập đến cái chết của chồng bà là đúng là
phải, trong khi nuốt vào lòng sự đau đớn của người vợ mất chồng!
Mặt khác, tự sát chết theo thành thì nhiều không kể xiết trong hàng tá, hàng úy,
hàng hạ sĩ quan, và hàng binh sĩ, hàng địa phương quân, nghĩa quân trong quân lực
Việt Nam Cộng Hoà!
5.8.2017
TRẦN ANH TUẤN
(Trong Sử Việt Tại Bắc Mỹ 1975-2015 sẽ xuất bản)
Nỗi buồn cổ vật
Trần Anh Tuấn
Tháng Năm vừa qua, một nhà sưu tầm đồ cổ ở San José báo cho tôi biết sắp có
cuộc đấu giá họa phẩm Việt Nam hiếm quý tại Hong Kong.
Tôi liền liên lạc với công ty đấu giá để mua mục lục cuộc đấu giá nhằm thu thập
thông tin, vốn là tài liệu về lịch sử văn hoá Việt Nam. Tôi được nhân viên công ty
đấu giá hồi âm ngay, và họ rất lịch sử gửi biếu mục lục chứ không bán.
Hoá ra đây là bộ họa phẩm của người tên Tuan H. Pham ở thành phố San Diego,
tiểu bang California. Tổng số 17 món đấu giá gồm bốn (4) bức tranh và một (1)
bức tượng của họa sĩ Vũ Cao Đàm, bốn (4) bức tranh của họa sĩ Lê Phổ, hai (2)
bức tranh của họa sĩ Mai Trung Thứ và sáu (6) bức tranh của các họa sĩ Nguyễn
Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Lê Thị Lựu, và Lương
Xuân Nhị, mỗi người một bức.
Bìa mục lục cuộc đấu giá ngày 26.5.2019 tại Hong Kong ghi rõ "... An Important
Collection of Vietnamese Paintings Featuring the Tuan Pham Collection."
Năm 1975 Tuan H. Pham mới 13 tuổi cùng một người anh hay em côi cút di tản
sang Hoa Kỳ. Tất cả cha mẹ anh chị em khác đều ở lại Việt Nam. Có lẽ hoàn cảnh
như thế́ giúp Tuan H Pham cố gắng hơn những người chung quanh nên anh đã
thành công về đường học vấn và ra đời thành công về phương diện tài chánh khi
mở công ty Phamatech năm 1992. Tuan H. Pham tỏ ra người có lòng tốt với đồng
hương khi anh tích cực giúp đỡ đồng bào tại miền Nam California qua sự bảo trợ
các sinh hoạt cộng đồng như hội Tết, chương trình dạy Việt ngữ và văn hoá,
chương trình phát thưởng cho học sinh xuất sắc, chương trình cấp học bổng cho
sinh viên nghèo...
Vào cuối thập niên 1990 và trong một dịp nghỉ hè ở tiểu bang Florida, Tuan H.
Pham tình cờ thấy một bức tranh vẽ bình hoa mà hậu cảnh là tháp Eiffel ký tên Le
Pho bằng chữ Tàu và Việt. Anh mua ngay bức tranh và đó là khởi điểm cho hành
trình tìm về gốc Việt.
Chỉ trong một thời gian ngắn, anh bỏ thì giờ, công sức và tài chánh xây đắp được
một bộ sưu tập tranh và cổ vật hiếm quý của tổ tiên người Việt. Đó là đồ đồng
Đông Sơn, gốm thời Lý, Trần, Hậu Lê cùng hoạ phẩm vẽ trong các thập niên 1930-
1980 của những họa sĩ tên tuổi tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật Đông Dương Hà Nội
thời Pháp thuộc.
Anh được hai công ty đấu giá quốc tế ca tụng có bộ sưu tập trác tuyệt (eminent
collection, Clars ở thành phố Oakland, Bắc California,) và rực rỡ (splendid
collection, Christie's Hong Kong).
Nhưng chỉ chưa đầy hai thập niên sau khi mua được nhiều họa phẩm hiếm và qúy,
anh tuyên bố những bức tranh đó thật sự không phải của người hoạ sĩ sáng tạo mà
cũng không phải của anh. Nay anh đã hoàn tất hành trình sưu tập và đến lúc để
người khác bắt đầu cuộc hành trình của họ. Nguyên văn lời anh Tuan H. Pham
trong Mục Lục của Christie's Hong Kong là thế này:"I have grown attacked to
many paintings, but like the artists who painted it, it really isn't my painting, and it
should continue to find its place among collectors. My journey is complete, and it's
time for someone else to start his or her personal journey." (CHRISTIE'S HONG
KONG, 20th Century and Contemporary Art. Morning Session and Afternoon
Session Including an Important Collection of Vietnamese Paintings Featuring the
Tuan Pham Collection. 26 May 2019, trang 10).
Đây là lời tuyên bố bất thường có tính cách biện minh để anh liên lạc với một công
ty có uy tín quốc tế hầu đem bộ sưu tập tranh Việt Nam của anh lên sàn đấu.
Ngay sau cuộc đấu giá thành công các họa phẩm Việt Nam tại công ty Christie's
Hong Kong của Tuan H. Pham, một nhà sưu tầm khác cũng ở Bắc California báo
cho tôi biết là người này lại giao một số cổ vật đồ đồng, đồ gốm và tượng gỗ cho
công ty Clars ở Oakland để bán đấu giá.
Trống Đông Sơn (nhỏ, đường kính 30cm) trong cuộc đấu giá ngày 16.6.2019 tại
Oakland.
Cá nhân tôi rất hào hứng thêm một lần nữa. Và chúng tôi thông báo cho nhau để
cùng tham dự, cũng là dịp các thân hữu nhiều năm chia sẻ thú vui sưu tầm cổ vật
Việt. Tôi ở thành phố đảo Alameda ngay sát Oakland, thân hữu thì nhiều người ở
San José, xa nhất là Santa Ana miền Nam California.
Thạp gốm đời Trần đấu giá ngày 16.6.2019
Ngày đấu giá cổ vật ở Clars là Chủ Nhật 16.6.2019, nhưng chúng tôi đi xem từ hai
ngày trước.
Tôi đến Clars chiều Thứ Sáu 14.6 một cách háo hức. Được ôm ấp hai chiếc trống
đồng trong tay mà ngắm vuốt là một cảm giác bồi hồi khôn tả. Mặt trống nhỏ còn
thấy rõ những nét nhịp nhàng uyển chuyển của bầy chim Đông Sơn dù thời gian đã
qua mấy ngàn năm và trên mặt kim khí. Linh mục Kim Định cả đời nghiên cứu để
tập đại thành pho sách hàng 5-7 ngàn trang về "vũ khúc trống đồng" chưa chắc đã
có hạnh phúc ôm ấp trống Đồng chim Lạc như tôi hôm nay! Được mở nắp chiếc
thạp gốm hoa nâu thời Trần thế kỷ XIII-XIV mà mê mẩn nhớ về gốc nguồn tiên tổ.
Được săm soi chiếc bình nhỏ bé với hoa văn mảnh nét hết sức thanh tú và mỹ thuật
của nghệ nhân Chu Đậu mà hãnh diện về trình độ văn minh của tổ tiên thế kỷ XV.
Được tự tay chụp hình chiếc mũ cánh chuồn của các đại thần triều Nguyễn mà
thấy... tội nghiệp cho họ. Chiếc mũ mỏng manh trước sau đính rời rạc vài mẫu
đồng và cặp cánh chuồn dùng lạt mây luồn viền bằng tay một cách thô thiển vụng
về. Nhưng đó là cổ vật cùng thời với hai chiếc áo gấm thêu rồng và thêu phụng do
triều Nguyễn để lại, dấu tích của văn minh thế kỷ XIX, bây giờ thấy tận mắt cũng
là mãn nhãn.
Đĩa Chu Đậu đấu giá ngày 16.6.2019
Sau hai giờ xem cổ vật Việt Nam bầy biện để sửa soạn bán đấu giá, tôi ra về. Ra
đến cửa thì tôi giật mình thấy bầy dưới đất sát tường một nhóm tượng gỗ sơn son
thếp vàng gồm bốn (4) tượng Phật và một cặp rùa đội hạc khổng lồ. Nhìn quanh,
tôi thấy còn có ba (3) bức tượng Phật khác bầy dựa sau một bức tường thấp ở bên
trong.
Bẩy (7) bức tượng gỗ này tương đối nhỏ và tất cả đều tróc sơn loang lổ, dấu hiệu
của thời gian tàn phá. Tượng Bồ Tát Quan Thế Âm nhỏ nhất, cao 1.04m, tượng
Phật Thích Ca lớn nhất, cao 1.15m. Chỉ có cặp rùa đội hạc là cao bất thường, hơn
2.5m với đường nét rất Việt Nam, thanh mảnh mà sắc sảo.
Cặp rùa đội hạc đấu giá ngày 16.6.2019
Rõ ràng tất cả đều là tượng thờ trong các chùa ở Việt Nam. Nhóm tượng thờ này
anh Tuan H. Pham mua khi nào? Và ở đâu? Mua ở Hoa Kỳ hay Đông Nam Á? Ở
Pháp hay Hà Lan? Ở Tầu hay Đại Hàn? Hay ở Việt Nam?
Mua từ Việt Nam thì chuyển ra khỏi nước bằng cách nào? Phải đút lót cho bao
nhiêu cơ quan, và bao nhiêu cán bộ trong hệ thống chính quyền Việt Nam hiện
tại? Sao có gan mua tượng thờ lấy trộm từ chùa trong nước đem về nhà ở Mỹ
chẳng bao lâu lại đem ra bán rao giữa chợ đời?
Tôi không hề có câu trả lời nào cho bất cứ một câu hỏi nào trên đây.
Chỉ tồn đọng trong tôi nỗi buồn mất mát. Mất di sản của tiền nhân! Mất quang
cảnh các thế hệ già trẻ lớn bé con Phật bao đời chiêm bái khấn cầu, quỳ lạy trước
mỗi pho tượng trong những ngày sóc ngày vọng.
Bây giờ, chính những pho tượng ấy đã bị người ta đem ra khỏi chùa khỏi nước, rồi
đặt dưới đất vừa tầm với chân người qua lại.
Tượng Bồ Tát Quan Thế Âm 32 tay đấu giá ngày 16.6.2019
Chia sẻ với một nhà sưu tầm cổ vật hiền lành đúng đắn ở San José, anh thản nhiên
cho biết rằng anh đã từng thấy dân chơi cổ vật mua tượng Phật về và trịnh trọng
dành cả một tầng lầu trong nhà để làm nơi thờ phụng.
Thật thế sao? Đã là người Việt mà không ý thức được rằng dù "trịnh trọng" đến
mức nào chăng nữa cũng không thể biện minh cho việc dùng tiền bạc để đem
tượng Phật mà thập phương bá tánh chiêm bái kính ngưỡng qua biết bao thế hệ về
nhà mình mà thờ riêng sao?
Thử hỏi trong hoàn cảnh như thế, có Phật nào mà chứng cho họ?! Có Phật nào mà
chỉ vụ nhà giầu?!
Những ai mua tượng thờ trong chùa do bọn ăn cắp ăn trộm ăn cướp đem về nhà
riêng của họ có chút tâm Phật nào không, hay chỉ biết ngụp lặn trong lòng tham
dục?
Thế là tôi quyết định không tham gia đấu giá hai ba món Chu Đậu đã để ý trước đó
hai ngày và chỉ đến để theo dõi một điều trần tục, là tiền bạc để biết bức tượng
Phật Di Đà ngã giá US$12,300.00, bức tượng Phật Thích Ca US$7,380.00, bức
tượng Bồ Tát Quan Thế Âm 32 tay US$7,380.00, và hai tượng Thị Nữ đứng hầu
US$9,225.00. Riêng hai bức Thị Nữ quỳ và cặp rùa đội hạc chưa đúng giá nên
công ty Clars chưa bán.
Tiền bạc như thế, thảo nào không động đến lòng tham của con người, con người
Việt Nam thế kỷ XXI?!
Thông tin trong nước ngày 17.6.2019 cho tôi biết pho tượng Bồ Tát Quan Thế
Âm 32 tay có thể là tượng "không thật" vì Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam tại Hà Nội
cũng trưng bầy một pho tượng như thế. Chi tiết này làm tôi nhớ lại một kỷ niệm
khi đi thăm chính Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam hồi tháng 9.2011 và thấy tượng La
Hán chùa Tây Phương trưng bầy ở đó. Ngạc nhiên và bất ngờ nên ngay ngày hôm
sau tôi lên tận chùa Tây Phương và mừng rỡ thấy rằng Thập Bán La Hán vẫn còn
nguyên vị tại chùa. Hoá ra trưng bầy tại Bảo Tàng chỉ là bộ tượng làm "nhái" mà
thôi. Vì thế, tôi chợt nghĩ không biết 2 bức tượng Bồ Tát Quan Thế Âm 32 tay,
một ở Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam tại Hà Nội và một vừa bán đấu giá ngày
16.6.2019 tại Oakland, California thì bức nào là tượng gốc, và tượng nào là tượng
làm nhái?
Trong cả hai trường hợp, một là tượng cổ thật, và một là tượng "không thật," tôi
nghĩ đều ảnh hưởng đến thanh danh của sở hữu chủ.
Trường hợp thứ nhất, nếu tượng là tượng cổ, thì sở hữu chủ đắc tội với thập
phương bá tánh con cái nhà Phật như tôi đã trình bầy ở trên. Trường hợp thứ hai,
nếu tượng là tượng "không thật," thì sở hữu chủ mắc tội bán hàng mới trong một
cuộc đấu giá cổ vật quốc tế.
TRẦN ANH TUẤN
18.6.2019
Thêm một Ấm Rồng Chu Đậu
TRẦN ANH TUẤN
Ấm hình rồng là một loại hình rất độc đáo thuộc dòng gốm Chu Đậu trong thế kỷ
XV ở nước ta. Công trình nghiên cứu quốc tế đề cập đầu tiên đến hiện vật quý
hiếm này là bài "Vietnamese Ceramics and Cultural Identity" mà tác giả là John
Guy cho đăng trong hợp tuyển Vietnamese Ceramics. A Separate Tradition xuất
bản năm 1997, trang 18. John Guy giới thiệu chiếc ấm gốm hiện tàng trữ tại
Cleveland Museum of Art, Hoa Kỳ.
Tạm gọi đây là chiếc ấm Chu Đậu hình rồng thứ nhất (1) và cao nhất.
Hình 1: Ấm rồng số 1, cao 28.3 cm.
Cũng năm 1997, sách Chinese and Vietnamese Blue and White Wares Found in the
Philippines của ba tác giả Larry Gotuaco, Rita C. Tan, và Allison I. Diem giới
thiệu chiếc ấm thứ hai (2). Nhưng điều đáng tiếc là các tác giả đã không cho biết
xuất xứ của chiếc ấm này từ đâu và hiện ai lưu giữ.
Hình 2: ấm rồng số 2, cao 17.8 cm.
Sau đó, từ năm 1997 kéo dài tới năm 1999, công cuộc trục vớt chiếc thuyền đắm ở
Cù Lao Chàm đã đem lên bờ 250,000 món nhưng chỉ có ba (3) ấm rồng. Tạm gọi
là ấm thứ ba (3), thứ tư (4), và thứ năm (5).
Hình 3: Lô 71. Ấm rồng số 3, cao 21.7 cm.
Hình 4: Lô 74. Ấm rồng số 4, cao 22.1 cm.
Hình 5: Lô 78. Ấm rồng số 5, cao 22.7 cm.
Ba chiếc ấm này đã được công ty Butterfields bán trong phiên đấu giá tháng 10
năm 2000 tại San Francisco. Đó là các lô 71, 74, và 78.
Lô số 71 ấm ngã giá US$57,500.00. Lô số 74 ấm ngã giá $US80,500.00. Và lô số
78 ấm ngã giá $US63,250.00.
Kiểu dáng giống nhau với chiều cao ngang nhau và được phát hiện cùng một chỗ
dưới đáy biển cho thấy ba chiếc ấm này là sản phẩm của cùng một lò gốm, cùng
một mẻ nung, và trong cùng một lần xuất cảng.
Đến năm 2004, tác giả Kerry Nguyen-Long giới thiệu chiếc ấm thứ sáu (6) và thứ
bẩy (7) qua bài "An Indonesian Collection: Vietnam's Painted Ceramics" trong Ấn
Bản Đặc Biệt (tháng 3-4 năm 2004) của chuyên san Arts of Asia xuất bản tại Hong
Kong, trang 97.
Theo thông tin của Kerry Nguyen-Long thì một tư nhân ở Indonesia tên Abdul
Ganie đã bỏ tiền mua được bộ sưu tập hiện vật cao cấp để đối phó với nạn cổ vật
quý hiếm thoát ra khỏi nước Indonesia. Bộ sưu tập đặc biệt đó có cả thẩy 15 đồ
gốm Việt cổ. Hai chiếc ấm rồng thứ sáu và thứ bẩy đề cập ở đây là 2 trong tổng số
15 món đó, vốn là gia bảo của tiểu vương miền Nam Sulawesi, Indonesia được lưu
truyền qua nhiều thế hệ.
Hình 6: Ấm rồng số 6, cao 25.3 cm.
Hình 7: Ấm rồng số 7, cao 23.5 cm.
Thực ra, chiếc ấm thứ sáu đã được giới thiệu trước đó, năm 2001 trong thiên
nghiên cứu dài hơi Gốm Hoa Lam Việt Nam. Vietnamese Blue & White
Ceramics của hai tác giả Bùi Minh Trí và Kerry Nguyễn-Long nơi trang 326.
Còn ấm rồng thứ bẩy sau đó được tác giả Nancy Tingley giới thiệu trong sách Arts
of Ancient Viet Nam From River Plain to Open Sea xuất bản năm 2010, trang 259.
Tất cả những ấm kể trên đều là cổ vật Chu Đậu trong tình trạng nguyên toàn,
không có dấu vết bị chôn dấu hay bị hủy hoại kể cả ba chiếc ấm trục vớt gần Cù
Lao Chàm (vì được xếp trong lòng các đồ gốm lớn khác nên không một ấm nào bị
thấm nước biển hay có dấu vết bị hà ăn.)
x
xx
Mới đây nhất, xuất hiện chiếc ấm thứ tám (8). Đặc biệt chiếc ấm này bị hà ăn toàn
thể cho phép hiểu rằng ấm này cũng thuộc lô gốm Chu Đậu trong chiếc thuyền
đắm.
Hình 8a: Ấm số 8, cao 24.6 cm.
Nhưng chiếc ấm này có vẻ không cùng một mẻ nung với ba chiếc ấm nguyên toàn
vì kích thước cao hơn 2 cm so với ba ấm kia (24.6 cm so với 21.7 cm, 22.1 cm và
22.7 cm), và nhất là kiểu dáng của hai loại ấm khác nhau. Trong khi đầu và đuôi
rồng của ba chiếc ấm nguyên toàn thuộc chiếc thuyền đắm và bốn chiếc khác rải
rắc trên thế giới (Indonesia, USA...) được nghệ nhân nung nặn theo hướng đối
nghịch nhau thì đầu và đuôi rồng của chiếc ấm đơn lẻ này chụm sát nhau.
Đó là những chi tiết khác biệt về kiểu dáng và về tình trạng hiện tại của chiếc ấm
mới phát hiện này so với bẩy chiếc ấm khác đã được quảng bá trong các cuộc đấu
giá hay trong những thiên nghiên cứu của các chuyên viên quốc tế về gốm Việt cổ
trước đây.
Chính vì thế, đây cũng là chiếc ấm độc nhất có dấu vết sâu đậm của mẻ gốm Việt
khổng lồ xuất cảng trong thế kỷ XV mà nửa đường bị nạn, chìm sâu dưới đáy biển
miền Trung nước ta. Có lẽ khi thuyền bị chìm vì hỏa hoạn, ấm bị văng ra và nằm
dưới lòng biển hàng năm sáu thế kỷ nên các loại hải vật bám đầy, rồi một ngư dân
nào đó may mắn lưới được trong một ngày đi biển?!
Thật vậy, ngay từ năm 1993, dân đánh cá địa phương đã lén lút kéo lưới tìm vớt cổ
vật dưới đáy biển để bán rẻ bán đắt cho dân chơi cổ vật trong nước và nhất là cho
giới buôn bán cổ vật người Nhật Bản, Đại Hàn, Hong Kong... đã chờ chực sẵn ở
phố cổ Hội An. Không ít tư gia tại Hội An hiện nay có những bộ sưu tập phong
phú gốm Chu Đậu là vì lý do đó. Mãi đến năm 1997, chính quyền Việt Nam mới
ký giao kèo với Saga Horizon, một công ty Mã Lai Á, để trục vớt chiếc thuyền
đắm chứa đầy cổ vật Việt tại Cù Lao Chàm.
Hình 8b: Ấm số 8, chi tiết đầu rồng.
Ấm hình rồng là loại gốm độc đáo dẫn xuất từ óc sáng tạo của nghệ nhân người
Việt thế kỷ XV. Ấm rất bắt mắt với kiểu dáng đặc biệt hình rồng uốn khúc, bụng
phình và ngang ra làm tăng thể tích chứa nước, đuôi vươn cao là nơi đổ chất lỏng
vào ấm và miệng rồng làm vòi ngang với đuôi theo nguyên tắc bình thông nhau.
Nghệ nhân Chu Đậu dùng men xanh vẽ rồng theo một mẫu chung nhưng mỗi chiếc
một khác nhau về chi tiết. Nhìn thì mẫu ấm nào cũng nhẹ nhàng thanh thoát, toát ra
vẻ đẹp quý phái và sang cả. Đặc biệt, rồng ở đây là mẫu rồng Việt Nam hiền hòa,
linh vật tượng trưng cho vua chúa, khác hẳn vẻ hung dữ đe dọa của mẫu rồng Tầu.
Về tình trạng của các hiện vật thì bờm, râu, và vẩy lưng là những chỗ gốm mảnh
và mỏng, nhưng may mắn cho người thưởng ngoạn đời nay là cả tám ấm hình rồng
đều không bị gẫy hay sứt.
Theo thỏa thuận giữa chính phủ Việt Nam và công ty trục vớt Saga Horizon thì
những gốm độc bản sẽ thuộc bảo tàng quốc gia và thêm 10% lượng gốm trục vớt
được sẽ chia cho các bảo tàng địa phương. Cụ thể như Bảo Tàng Lịch Sử Việt
Nam, Bảo Tà̉ng Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội, và Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam
tại Sài Gòn được chia mỗi nơi 4,362 hiện vật. Hay Bảo Tàng Quảng Nam (nơi phát
hiện) và Bảo Tàng Hải Dương (nơi sản xuất) mỗi nơi được chia 5,562 hiện vật.
Còn hiện vật độc bản có 779 món thì đưa về lưu giữ cũng tại BTLSVN Hà Nội.
Nhưng ấm rồng thì tôi không thấy bảo tàng nào ở Việt Nam có. Ý kiến của người
trong nước qua tạp chí Cổ Vật Tinh Hoa (số 10, tháng 12.2004) là than tiếc chuyện
Việt Nam không giữ được một ấm rồng nào, vốn là món "oách nhất" (sic!) trong
toàn thể cổ vật Chu Đậu trục vớt được ở Cù Lao Chàm (tr. 5). Cũng vì thế, chuyên
san Cổ Vật Tinh Hoa xuất bản tại Hà Nội phong phú những thông tin và hình ảnh
về đủ mọi thể loại cổ vật Việt Nam do hội viên các hội cổ vật khắp nước chia sẻ,
nhưng tuyệt nhiên không có một bài viết nào về chiếc ấm hình rồng trong dòng
gổm cổ Việt suốt từ số đầu tiên (số 1, tháng 6. 2003) đến nay (số 49, tháng
1.2015).
Hình 8c: Ấm số 8, chi tiết đuôi rồng.
Có thể kết luận ấm rồng Chu Đậu là món cổ vật vô giá. Giới sưu tập tư nhân, các
nhà buôn bán cổ vật, và các viện bảo tàng quốc tế đều theo dõi và ganh đua đấu giá
mỗi khi có cơ hội tạo mãi ấm rồng là vì thế.
Trong thế giới sưu tầm cổ vật, người ta quan niệm "nhất kỳ nhì cổ." Ấm hình rồng
Chu Đậu không những đã "kỳ" mà còn "cổ" nữa. Còn theo tiêu chuẩn "nhất dáng,
nhì men, tam nguyên, tứ chế" thì ấm rồng cũng ứng vào tiêu chuẩn đầu tiên, với cái
"dáng" độc đáo của ấm!
TRẦN ANH TUẤN
9.2016
Thiệp Tết, một thế kỷ sau
TRẦN ANH TUẤN
Trước khi người Pháp sang xâm chiếm đất nước, người Việt không có truyền thống
gửi thiệp Tết cho thân nhân bằng hữu. Lý do đơn giản là người Việt thời đó chưa
biết kỹ thuật nhiếp ảnh.
Chính người Pháp sang đã thu xã hội người Việt vào ống kính của họ, khiến ngày
nay chúng ta có được hiện vật cụ thể về dòng sử Việt hồi đầu thế kỷ XX, là hình
ảnh từ vua quan cho đến nhà nông, từ các anh hùng chống Pháp đến lính khố xanh
khố đỏ, từ giới nho sĩ cho đến người ăn mày trên đường phố, từ nhi đồng đầu để
chỏm đến phụ nữ buôn hương bán phấn, từ lò gốm cho đến nghề khảm nghề chạm,
từ chợ búa cho đến ngày Lễ ngày Tết, từ kinh thành cho đến đền chùa miếu mạo,
từ phong cảnh miền Bắc qua miền Trung đến miền Nam...
Người Pháp còn khởi hứng từ hình ảnh Việt Nam để tạo mẫu thiệp Tết. Đây là sinh
hoạt quen thuộc hàng năm của họ, nhằm chia sẻ với người thân những lời chúc đầu
năm, năm Dương Lịch dĩ nhiên, chứ không phải đầu năm Âm Lịch như người Việt
chúng ta.
Theo dõi thiệp Tết hồi đầu thế kỷ XX, tôi không hề thấy một thiệp Tết nào do
người Việt gửi hay nhận. Gửi hay nhận tất cả đều là người Pháp, gồm quan lại,
công chức, quân nhân, thương nhân, giáo sĩ... và gia đình họ. Sử dụng thiệp Tết rõ
ràng chưa phải là một sinh hoạt xã hội của dân Việt thời bấy giờ.
Có hai loại thiệp Tết do người Pháp thiết kế hồi đầu thế kỷ XX. Một là hình ảnh
hoa lá quen thuộc như trong thiệp tân niên ở bất cứ nơi nào và trong thời điểm nào.
Dấu bưu điện Thái Nguyên, không rõ năm.
Gửi đi Paris. (Bộ sưu tập TAT)
Dấu bưu điện Hà Nội tháng 11.1909, gửi đi Pháp. (Bộ sưu tập TAT)
Hai, và điều này rất đặc biệt. Là họ lấy hình ảnh người Việt hồi đầu thế kỷ XX làm
mẫu thiệp.
Phụ nữ và nhi đồng. Dấu bưu điện Đáp Cầu
đúng ngày 1.1.1907. Gửi về Hà Nội. (Bộ sưu tập TAT)
Chính cái áo tứ thân, chiếc khăn mỏ quạ hay khăn vấn, cái nón quai thao, hàm răng
hạt huyền, và nhất là nhan sắc phụ nữ Hà thành... đã khiến họ đưa tất cả vào thiệp
Tết mà người Pháp ở bên Pháp nhận được hẳn sẽ ngạc nhiên và thích thú.
Phụ nữ, nhi đồng, và lính Pháp. Dấu bưu điện
Huế ngày 1.12.1911. Gửi đi Brest, Pháp. (Bộ sưu tập TAT)
Gánh hàng hoa. Thiệp Tết từ Sài Gòn gửi đi Bordeaux, Pháp.
Không rõ năm. (Bộ sưu tập TAT)
Thôn nữ khoe sắc. Thiệp Tết chưa gửi. (Bộ sưu tập TAT)
Phụ nữ thành thị. Dấu bưu điện Tây Ninh
ngày 10.8.1914. Gửi đi Seine, Pháp. (Bộ sưu tập TAT)
Nhan sắc Hà thành. Dấu bưu điện Sài Gòn ngày
30.12.1910. Gửi đi Bouche-du-Rhone, Pháp. (Bộ sưu tập TAT)
Điểm đặc biết là thiệp Tết do người Pháp thiết kế cảnh Việt Nam còn được sử dụng
ở ngay nước Pháp nữa.
Phụ nữ ba miền và nhi đồng. Dấu bưu điện Verdun, Meuse
ngày 25.9.1920. Gửi đi Saint-Mihiel, Meuse. (Bộ sưu tập TAT)
Thiệp Tết tại Việt Nam thường có yếu tố ngoại lai do hoàn cảnh lịch sử.
Hồi đầu thế kỷ XX trong nước, Pháp là người thiết kế và phổ biến thiệp Tết để sử
dụng trong cộng đồng của họ. Một trăm năm sau, trong cuối thế kỷ XX, tôi là
người gốc Việt sống tại Hoa Kỳ thương nhớ đất nước mỗi khi Xuân về, nên ngay
năm đầu tiên khi Bưu Điện Mỹ phát hành tem Tết Nguyên Đán là năm 1992, tôi đã
kết hợp hai yếu tố Mỹ và Việt để thiết kế mẫu thiệp Tết.
Phong bì "Ngày Phát Hành Đầu Tiên" của bộ tem Tết Nguyên Đán
Hoa Kỳ năm 1992. Tem này được in lại năm 2005 với giá tiền mới. (Bộ sưu tập
TAT)
Năm 2006, khi nguyên thủ của 21 quốc gia họp nhau tại Hà Nội nhân hội nghị
APEC, có người công phu làm ba (3) bộ ảnh -mỗi bộ gồm 24 tấm- dán tem "Chào
Mừng APEC 2006."
Một trong 24 ảnh trong bộ APEC.2006 với tem kỷ niệm của Bưu Điện VN. (Bộ
sưu tập TAT)
Hình ảnh 21 nguyên thủ quốc gia trong APEC.2006 với tem Tết Hoa Kỳ. (Bộ sưu
tập TAT)
Địa điểm họp APEC.2017 năm nay lại trở lại Việt Nam. Nếu độc giả nào có
ảnh APEC.2017 thì tôi có thể hợp tác "hai bên cùng có lợi," như thế này. Xin gửi
cho tôi ba (3) hay năm (5) bộ ảnh, tôi sẽ dán tem Tết Mậu Tuất 2018 của Bưu Điện
Hoa Kỳ và gửi lại tác giả. Tôi sẽ giữ một (1) hay hai (2) bộ tuỳ số bộ ảnh tôi nhận
được. Không nên gửi quá năm (5) bộ vì nhiều quá thì giá trị bị sút giảm. Độc giả
nào có ảnh xin cứ gửi, càng nhiều bộ ảnh khác nhau càng tốt, coi như một dự án
vui chung, nhân dịp Xuân về giữa người Việt trong nước hay người gốc Việt tại
Hoa Kỳ. Năm nay, tem Tết Mậu Tuất của Bưu Điện Hoa Kỳ phát hành ngày
11.1.2018 nhưng tôi được phép của Bưu Điện Hoa Kỳ có thể gửi lấy dấu "First
Day of Issue" cho đến ngày 11.5.2018. Cho nên vẫn còn kịp thì giờ cho chúng ta
làm thiệp Tết năm nay.
Cầu nguyện, hình nghệ thuật của Vũ Công Hiển với tem Tết Hoa Kỳ
và dấu "Ngày Phát Hành Đầu Tiên 11.1.2018" tại Hawaii. (Bộ sưu tập TAT)
Trước thềm năm Mậu Tuất 2018, tôi xin nhờ VănHóa-Online California chuyển
đến quý thân hữu và quý độc giả lời chúc một năm an lành và thịnh vượng.
TRẦN ANH TUẤN
PO Box 1413
Alameda, CA 94501
USA
Trở lại chuyện hỏng thi thời VNCH
TRẦN ANH TUẤN
Trong bài viết về Giáo sư Nguyễn Thế Anh từng đưa lên Văn Hoá Online, tôi có
đề cập đến chuyện hỏng thi và Ông bị lên án tử hình thời Việt Nam Cộng Hoà. Đây
là chuyện quá khứ, viết để ghi lại một vết nhơ trong lịch sử giáo dục VNCH.
Tuy nhiên, chuyện hỏng thi vẫn còn đau đáu trong lòng người thi hỏng hơn 40 năm
sau.
Trong hồi ký Thác Lũ Mưa Nguồn. Quyển I (California, Người Việt Books xb,
2016, 649 tr.) của Nguyễn Lý Tưởng, tác giả ghi lại kết quả của kỳ thi Tiến sĩ
Chuyên Khoa Sử Học niên khoá 1972-73 một cách rất chi tiết nhằm phỉ báng ông
Chánh Chủ Khảo Nguyễn Thế Anh.
Tủ sách TAT
Trước hết là phóng ảnh bảng điểm kỳ thi với chữ ký của Gs. Chánh Chủ Khảo
ngày 4.10.1973 nơi trang 438. Phóng ảnh nhỏ và mờ, được tác giả Nguyễn Lý
Tưởng đánh máy và in lại nơi trang 436-437.
Theo bảng điểm đó, chỉ có hai thí sinh "Đủ điểm trung bình để được ghi danh năm
thứ II" là Đỗ Phan Hạnh và Tạ Chí Đại Trường; ba thí sinh "Phải học và thi lại
môn phương pháp học" là Lê Đình Cai, Nguyễn (sic!) Hữu Hùng và Nguyễn Văn
Tích; và hai thí sinh "Phải học và thi lại môn phương pháp học và sinh ngữ" là
Trần Nguyên Khôi và Trương Ngọc Phú.
Chính nhờ bảng điểm này, tôi có thể nói rõ những chi tiết cụ thể và chính xác về
chuyện một chánh chủ khảo bị lên án tử hình sau khi có thí sinh phải học lại và thi
lại.
Tác giả Nguyễn Lý Tưởng, vốn không hề ghi danh theo học Đại Học Văn Khoa
Sài Gòn, nhưng chắc chắn phải được người trong cuộc cung cấp phóng ảnh "BAN
TIẾN SĨ CHUYÊN KHOA SỬ HỌC. Bảng điểm khóa thi cuối năm thứ nhất 1972-
73" để bênh thí sinh tên Lê Đình Cai là một trong số năm người bị loại trong kỳ thi
ấy.
Bênh bạn là điều tốt với bạn, nhưng vì bênh mà bất kể luật lệ thi cử thì điều tốt trở
thành điểm sai trái mất rồi! Thí sinh Lê Đình Cai được 12/20 môn Thuyết Trình và
14/20 môn Anh Văn, nhưng chỉ được 9/20 môn Phương Pháp Học, tức qua được
hai môn, nhưng bị điểm loại môn thứ ba.
Cũng cần nói thêm là điểm loại của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn chỉ là 10/20, trong
khi điểm loại của Viện Đại Học Huế oách hơn nhiều, tới 12/20 như chính tác giả
Nguyễn Lý Tưởng hãnh diện tỏ bầy trong hồi ký Thác Lũ Mưa Nguồn này. Nền Tự
Trị Đại Học của chính thể Việt Nam Cộng Hoà cho phép điểm loại ở mỗi đại học
một khác. Như Viện Đại Học Cao Đài, Tây Ninh hồi ấy còn non trẻ thì điểm loại
chỉ là 0/20 để khuyến khích sinh viên. Tôi có một kỷ niệm về điểm loại ở Viện
này.
Trong cuộc thi tốt nghiệp cùa Đại Học Sư Phạm thuộc Viện Đại Học Cao Đài niên
khoá 1973-74, tôi phê điểm 0/20 cho một nữ sinh viên Ban Sử Địa vì bài thi không
liên hệ gì đến đề thi tôi ra. Đột nhiên sau đó có xe ca của Viện đến đón tôi từ Sài
Gòn lên Tây Ninh họp. Tôi đi, không tiên đoán chuyện gì. Đến khi vào họp, giáo
sư Tổng Thư Ký Viện tuyên bố chuyện chấm thi. Chi tiết thế nào tôi không nhớ,
chỉ nhớ khi tôi ngắt lời, cho biết, theo tôi, thì tôi không cho điểm, mà điểm là do tự
sinh viên có được qua nội dung bài thi. Tôi sẵn sàng cho điểm tối đa hay cho 0/20.
Tôi vừa dứt lời thì vị Tổng Thư Ký tuyên bố ngay, là nếu Giáo sư Tuấn đã quan
niệm như thế thì cuộc họp tới đây chấm dứt. Cuộc họp không quá 10 phút! Tôi vẫn
vô tâm không rõ chuyện gì.
Đến khoảng một tuần sau buổi họp đó, Giáo sư Thọ Xuân Lê Văn Phúc -thường
gọi là Lê Thọ Xuân-, một học giả của miền Nam chuyên về Phan Thanh Giản,
cũng đang dạy trong Ban Sử ĐHVK Sài Gòn, ghé Văn Phòng Ban Sử và đề cập
đến chuyện con một vị đặc biệt trong Tòa Thánh bị điểm loại môn Sử "do Giáo sư
chấm" nên không ra trường được. Tôi hỏi lại Giáo sư Thọ Xuân về điểm loại và
khi biết thì tôi đồng ý cho 1/20. Tôi còn giải thích là điểm số 1/20 tôi cho là cho
chữ viết của bài thi ấy, rất đẹp trong suốt 4 trang dài. Điều làm tôi áy náy là khi tôi
nói xong, Giáo sư Thọ Xuân lấy ngay bài thi của thí sinh Cụ đã mang sẵn trong cặp
để tôi sửa lại điểm. Nhớ lại kỷ niệm đó, và viết thành chữ bây giờ, tôi mong chị
sinh viên ngày ấy nếu thảng hoặc đọc những giòng chữ này, thì mong chị hiểu rằng
tôi dạy học là để "cứu người," chứ không phải nhằm "hại người." Giáo dục là
chuyện nghiêm chỉnh mà người dạy và người học phải giữ tư cách. Đây cũng là
nén hương tưởng nhớ Giáo sư Thọ Xuân Lê Văn Phúc mà những ngày trên xe ca
Sài Gòn-Tây Ninh đi dạy tại Viện Đại Học Cao Đài, tôi đã học được từ Giáo Sư
nhiều bài học về địa lý học lịch sử thời Quang Trung. Và đây cũng là lời cám ơn
Giáo sư Nguyễn Văn Sâm Ban Việt Hán Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, hiện định cư
tại Texas, là người mời tôi đi dạy ở Tây Ninh.
Chính vì bênh bạn mà ông Nguyễn Lý Tưởng viết hẳn trên giấy trắng mực đen
trong sách, nguyên văn nơi trang 435, là "... Giám Khảo cho 10/20 hay 9/20 cũng
xem là tương đương, nếu Giáo Sư không muốn đánh hỏng thí sinh thì có thể nâng
9/20 thành 10/20 mà không có ai thắc mắc gì." Thật là chuyện cãi lấy được, có hơi
hướm học đại thay vì đại học!
Tôi trích nguyên văn của tác giả Nguyễn Lý Tưởng, chứ không chỉ trích riêng phần
"Giám Khảo cho 10/20 hay 9/20 cũng xem là tương đương" để thấy chức nghiệp
của một số giáo sư thời VNCH, khác với lương tâm chức nghiệp của giới giáo sư
đại học Pháp, trong trường hợp này là Giáo sư Philippe Langlet, chủ khảo chấm
bài của tất cả bẩy thí sinh.
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Lý Tưởng đã thiếu sự cẩn trọng khi sao chép tài liệu.
Tác giả đánh máy lại tài liệu, nhưng sai sót nhiều so với nguyên bản. Thứ nhất là
nhóm chữ "Ban Tiến Sĩ Chuyên Khoa Sử Học" đã bị ông chép thành "Ban Tiến Sĩ
Khoa Sử Học." T̉ hứ đến, tên một thí sinh trong danh sách là "Huỳnh Hữu Hùng"
đã bị ông đổi thành "Nguyễn Hữu Hùng" đến hai lần. Đây là những sai sót làm mất
sự nguyên toàn của tài liệu một cách khó hiểu, vì chính tác giả Nguyễn Lý Tưởng
đã được học môn Phương Pháp Sử dưới sự chỉ dạy của linh mục Nguyễn Phương,
người thầy mà bạn học của ông là Nguyễn Đức Cung đã ca tụng trong một bài viết
dài tới 18 trang nhan đề "Về một giáo sư trường Đại Học Sư Phạm Huế 50 năm
trước: Linh mục sử gia Nguyễn Phương (1921-1993)" trong Kỷ Yếu 50 Đại Học Sư
Phạm Huế (California, 2007, trang 53-70).
Trong bài viết đó, tác giả Nguyễn Đức Cung cũng đã đề cập đến tôi trong chú thích
số 9. Nguyên văn thế này nơi trang 68: "Ông Trần Anh Tuấn... khi viết về Giáo sư
Châu Long, cho rằng ông Long đã lấy cắp công trình này của Trương Bửi Lâm.
Trần Anh Tuấn kết án ông Châu Long nặng lời nhưng không thấy nói gì đến Lê
Kim Ngân trong khi Lê Kim Ngân cũng đồng tác giả cuốn sách trên tức cũng là
"tòng phạm" trong vụ án đạo văn này vậy." Nay, tôi trả lời ông Nguyễn Đức Cung,
hiện sống tại miền Nam California thì phải (?).
Bỏ qua cách viết sách mé thiếu chuyên nghiệp, tôi chỉ nói đến nội dung. Hoá ra
ông Nguyễn Đức Cung viết về một quyển sách mà ông không hề đọc. Vì nếu
đọc Sử Học Nhập Môn do Văn Hào xuất bản tại Sài Gòn năm 1970, ông Nguyễn
Đức Cung hẳn phải biết "tác giả" Châu Long viết về "Thiên thứ I: Phương pháp sử
học Tây phương" từ trang 25 đến trang 85. Còn giáo sư Lê Kim Ngân viết "Thiên
thứ II: Quan niệm và̀ phương pháp sử học Đông phương" tiếp theo sau. Vì thế,
Giáo sư Lê Kim Ngân không mắc mớ gì đến tội đạo văn đáng xấu hổ. Tôi nghĩ ông
Nguyễn Đức Cung đã nợ giáo sư Lê Kim Ngân, hiện định cư tại Canada, một lời
xin lỗi.
Tủ̀ sách TAT
Cho nên, sự kiện tác giả Nguyễn Lý Tưởng dùng đến 5 trang trong Thác Lũ Mưa
Nguồn (từ trang 433 đến trang 438) để ca tụng bạn và phỉ báng giáo sư Chánh Chủ
Khảo Nguyễn Thế Anh chỉ làm "hồi ký" của ông kém giá trị chân thực.
Chuyện quá khứ cỏn con hàng nửa thế kỷ đã qua rồi (1973-2016). Ngay đến quê
hương đất nước mà chúng ta cũng phải từ bỏ ra đi, thì chuyện tự ái cá nhân -vốn
bất chấp công lý- giữ mãi trong lòng có ích gì?!
Mảnh bằng mỏng manh thế này khiến có người bị lên án tử hình. Tài liệu TAT
Mặt khác, chính cái tâm thù hận của tác giả Thác Lũ Mưa Nguồn và thân hữu của
ông đã giúp công chúng hiểu rõ cung cách nghiêm chỉnh của giới đại học Sài Gòn
thời Việt Nam Cộng Hoà.
Giáo sư Chánh Chủ Khảo kỳ thi Tiến Sĩ năm ấy không hề là giám khảo chấm các
môn Phương Pháp Học (người chấm là Giáo sư Philippe Langlet), hay môn Sinh
Ngữ (người chấm là hai Trưởng Ban Anh Văn và Pháp Văn). Trong kỳ thi, Giáo sư
Nguyễn Thế Anh chỉ chủ khảo môn Hội Thảo Thuyết Trình mà tất cả bẩy thí sinh,
không thí sinh nào bị loại. Người nhiều điểm nhất được 13/20, hai thí sinh ít điểm
nhất được 11/20.
Thêm một bằng chứng cho sự nghiêm túc của giới giáo sư Đại Học Văn Khoa Sài
Gòn nói chung, và giáo sư Nguyễn Thế Anh thuộc Ban Sử Học nói riêng. Là trong
bẩy (7) thí sinh kỳ thi Tiến Sĩ Chuyên Khoa Sử Học kể trên, chỉ có một (1) thí sinh
duy nhất được Giáo sư Nguyễn Thế Anh bảo trợ cấp Cao Học và Tiến Sĩ là Trương
Ngọc Phú, nguyên là giáo sư Phụ ̣ Tá Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Viện Đại
Học Huế. Nhưng thí sinh Trương Ngọc Phú cũng bị loại, mà bị loại tới hai môn, là
Sinh Ngữ và Phương Pháp Học!
Tôi viết đoạn này trong dự án Việt Sử Tại Bắc Mỹ từ năm 2016. Đêm nay, tự nhiên
muốn phổ biến nên tôi chỉnh sửa để gửi cho Văn Hoá Online của Chủ Nhiệm Lý
Kiến Trúc, một người rất thiết tha đến hồn Sử Việt./
TRẦN ANH TUẤN
Tháng 10.2018
Cùng quý thân hữu,
Tôi đã nhận được một số hồi đáp và đề nghị từ quý thân hữu:
1. Anh Nguyễn Kỳ Phong. Anh Phong trong tư cách của một độc giả, đề nghị bỏ
câu cuối cùng có tên NCK, TNH, và PD. Nhận định của NK Phong chính xác, và
tôi đã đồng ý bỏ câu cuối đó. Với thân hữu nào chưa biết về NKPhong, tôi xin chia
sẻ một hai chi tiết. Khi tôi xuất bản chuyên san Dòng Sử Việt hồi năm 2006-07 thì
Cơn Gió Lạ đến với tôi. Anh là cựu học sinh Võ Trường Toản Sài Gòn, sang
Mỹ, tốt nghiệp đại học rồi vào làm trong Ban Quân Sử thuộc Bộ Lục Quân Hoa
Kỳ. Xin hãy đọc Vũng Lầy Của Bạch Ốc. Người Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam
1954-1975 ( Virginia, Tiếng Quê Hương xb, 2006, 577 tr.) để hiểu cách viết sử của
đại học Hoa Kỳ. Tôi mừng thấy Nguyễn Kỳ Phong là một sử gia của thế hệ sau
chúng tôi.
2. Bỏ câu cuối thì câu trước đó trở thành câu cuối của bài, với hai chữ "vẩn đục."
Anh Đào Đức Chương đã liên lạc bằng điện thoại và đề nghị thay thế hai chữ "vẩn
đục" bằng "tì vết" cho nhẹ. Tôi cám ơn anh ĐĐChương ngay, vì dù sao sử gia
TCDT cũng là một người có chuyên môn cao ít người bì kịp.
3. Một thân hữu lưu ý tôi về website của công ty bán sách Tiki.vn ở Sài Gòn theo
đó quyển sách cuối cùng của TCĐT là Người Lính Thuộc Địa Nam Kỳ (1861-
1945) được in năm 2011, từ đó mới có ý kiến là lần in đầu năm 2011 với 382 trang
và lần tái bản là năm 2014 với 388 trang. Tôi đã xem kỹ quyển sách ấy trong tay
nên kết luận thế này:
"Anh TCDT ký hợp đồng xuất bản với nhà Nhã Nam năm 2011 (trang 2) nhưng
sách chỉ "In xong và nộp lưu chiểu năm 2014"(trang 388, tức trang cuối). Người
ta đã lẫn lộn năm ký hợp đồng (2011) với năm sách in xong (2014). Anh ... để ý sẽ
thấy thời gian ký hợp đồng với thời gian in xong cách nhau quá lâu một cách bất
thường. Đó là lý do tôi "tưởng tượng" hai bên đã làm việc rất căng thẳng với nhau
trong mấy năm trời, và cuối cùng anh TCDT phải theo ý người ta mà đặt bút
xuống, viết ra những dòng chữ từ nay không bao giờ xóa được. Vừa buồn bạn vừa
tức bạn vừa thương bạn là thế. Anh không để ý đến chuyện tôi kêu gào nhiều lần
câu: "TCDT phải có bản lãnh hơn thế này" sao?!
Tôi có sách này trong tay, nên biết rõ chi tiết về sách. Tóm lại, quyển Người Lính
Thuộc Địa Nam Kỳ (1861-1945) chỉ mới xuất bản một lần vào năm 2014, dầy 388
trang. Website của nhà sách Tiki.vn ghi sách này chỉ có 382 trang có lẽ càng làm
anh tin là có hai lần in. Sự thật thế này. Tôi đếm trang là đếm tất cả các trang
thuộc quyển sách, tức là cả Mục Lục nên có 388 trang, còn nhà Tiki.vn thì không
tính phần Mục Lục, nên mới chỉ có 382 trang. Họ không chuyên nghiệp mà!"
4. Phần hồi đáp mới đây nhất và cũng quan trọng nhất là chi tiết tôi viết tác giả
Hoành Linh Đỗ Mậu phải trả giá khi có in sách tại Việt Nam. Anh Phạm Phú Minh
đã liên lạc với thân nhân của tác giả Đỗ Mậu là ông Đỗ Hữu Chí. Ông ĐHChí cho
anh PPMinh biết nhà xuất bản Công An Nhân Dân tại Việt Nam tự ý biến cải nội
dung thay đổi tên sách mà tác giả Hoành Linh Đỗ Mậu không hề biết. Tôi đọc lại
Lời Tựa của Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi. Hồi Ký Chính Trị (California,
Văn Nghệ tb, 1993, 1089 tr. ) thì quả thật tác giả đã không biết gì về chuyện nhà
xuất bản Công An tại Việt Nam in lậu sách. Đây là lời tôi xin lổ̃i đã gửi tới địa chỉ
email của anh PPMinh:
"Thế này là tôi có lỗi nặng với tác giả Hoàng Linh Đỗ Mậu rồi, có lỗi với cả gia
đình nữa. Tôi sẽ sửa bỏ ngay phần nói về hai trường hợp Hoàng Linh Đỗ Mậu và
Nguyễn Tiến Hưng trong bài viết.
Xin cám ơn anh Phạm Phú Minh và ông Đỗ Hữu Chí.
Trần Anh Tuấn"
5. Vì thế, kèm đây là bản viết lại của tôi, đã "sửa chữa cẩn thận hơn."
Xin cám ơn thiện ý của nhiều thân hữu đã giúp tôi tránh được sai sót.
TAT
_________________________________________
Nhận định về sử gia Tạ Chí Đại Trường
Trần Anh Tuấn
Giáo sư Tạ Chí Đại Trường tốt nghiệp cao học Sử tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn
năm 1964, và hoàn tất chương trình tiến sĩ chuyên khoa Sử tại đó năm 1973. Bị
động viên, ông phải trốn về Sài Gòn khi trình tiểu luận cao học Sử với đề tài Lịch
Sử Nội Chiến Ở Việt Nam Từ 1771 Đến 1802. Mãi đến năm 1973 ông mới được
biệt phái về Bộ Quốc Gia Giáo Dục mà nhiệm sở là trung học Tân An thuộc tỉnh
Long An. Ông có thỉnh giảng tại Đại Học Cửu Long, một đại học tư ở Sài Gòn cho
đến ngày 30/4/1975.
Thuộc lớp nghiên cứu Sử được đào tạo tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trong thập
niên 1960, ông là một trong những tác giả tích cực cộng tác với Tập San Sử
Địa (Sài Gòn, 1966-1975).
Tập San Sử Địa là một quý san do Nhóm Sử Địa Đại Học Sư Phạm Sài Gòn chủ
trương. Buổi đầu, nhóm này có tờ nội san quay ronéo, tức Nội San Tin Sử Địa do
Hà Mai Phương chịu trách nhiệm năm 1962-64. Từ năm 1964, trách nhiệm của nội
san chuyển sang Trần Anh Tuấn. Phần chính của Nội San bao gồm bài vở của các
giáo sư và sinh viên Sử Địa Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.
Phần phụ của Nội San là đăng lại những tài liệu hiếm quý từng in trong những tạp
chí xưa như Tri Tân, Thanh Nghị... mượn trong hai tủ sách tư nhân của giáo sư
Nghiêm Thẩm và ông Thái Văn Kiểm.
Năm 1966, ông Nguyễn Hùng Trương chủ nhà sách Khai Trí tình cờ đọc thấy một
số Nội San và ngỏ ý tài trợ việc in ấn, vì theo ông, nội dung Nội San mà quay
ronéo để phổ biến một cách giới hạn thì “uổng lắm!”
Thế là Nội San biến thành Tập San Sử Địa từ đó, ra được 29 số cho mãi đến khi
Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ, dưới sự chăm sóc của Nguyễn Nhã, "chuyên viên"
liên lạc tìm người viết bài.
Tập San Sử Địa không có Chủ Bút, vì lúc ấy chúng tôi hoặc là còn đang “mài đũng
quần trên ghế nhà trường” -theo cách nói rẻ rúng của Nguyễn Huy, cũng tốt nghiệp
Đại Học Sư Phạm Sài Gòn Ban Sử Địa, định cư ở Canada sau năm 1975- hoặc mới
ra trường nên khả năng chuyên môn còn giới hạn.
Giáo sư Tạ Chí Đại Trường là một trong những người nghiên cứu sử sang được
Hoa Kỳ muộn nhất. Mãi đến tháng 8 năm 1994 ông mới đặt chân đến Hoa Kỳ.
Nhưng ngay từ khi còn ở Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, ông đã có can đảm cho
xuất bản nhiều tác phẩm của mình ở hải ngoại. Đó là các quyển Thần, Người và
Đất Việt (California, Văn Nghệ xb, 1989, 398 tr.), Một Khoảnh Việt Nam Cộng
Hòa Nối Dài (California, Thanh Văn xb, 1993), và Việt Nam Nhìn Từ Bên Trong
và Bên Ngoài, viết chung với Nguyễn Xuân Nghĩa (California, Văn Lang xb, 1994,
tr. 1-80).
Ngoài những sử phẩm nêu trên, ông còn thường xuyên có bài đăng trên Văn Lang,
một tập san nghiên cứu Việt Học xuất bản tại Nam California, trong những năm
1991-1993.
Một chia sẻ rất tự nhiên của ông và làm độc gỉa thấy gần với sử gia họ Tạ là khi
ông cho biết còn ở trong nước mà đăng bài và in sách ở ngoài như thế là sự bất đắc
dĩ và “hồi hộp!” (Lời Nói Đầu trong Những Bài Dã Sử Việt, trang 9).
Tạ Chí Đại Trường quê quán Bình Định, đề tài nghiên cứu của ông thường là lịch
sử Việt Nam thời cận và hiện đại, nhất là thời Tây Sơn. Ông có những suy luận sâu
sắc và độc đáo, nhưng đố ai đọc sách ông viết mà không nhức đầu vì ông có tật
làm dáng khi viết! Văn ông có sự phức tạp cầu kỳ và mất sự trong sáng dễ hiểu,
khiến tác phẩm của ông khó phổ biến ngay trong số những người có trình độ học
vấn cao. May thay, văn của ông trong thế kỷ XXI đã có phần sáng sủa dễ đọc hơn.
Thời gian đầu khi mới định cư ở Hoa Kỳ, Tạ Chí Đại Trường tung hoành ngang
(tạp chí) và dọc (tác phẩm) như một cánh chim bằng vừa được tháo cũi sổ lồng.
Đặt chân đến Hoa Kỳ hồi tháng 8 năm 1994 thì tháng 4 năm sau ông đã có bài trên
tạp chí Văn Học ở California (“Sử Học và Truyền Thống Hùng Vương,” Văn
Học số 108, tháng 4/1995, trang 3-18).
Sau đó, ông đều đặn phổ biến nhiều thiên nghiên cứu khác trên Văn Học (trong các
số 156, 4/99; 165&66, 1-2/2000; 168, 4/2000; 170, 6/2000; 177&78, 1-2/20001;
179, 3/2001; 188, 12/2001; 192, 4/2002; 195, 7/2002; 198, 10/2002; 201-202, 1-
2/2003; 203-204, 3-4/2003; 212-213, 12/2003-1/2004, 216, 4/2004; 217, 5/2004;
219, 7/2004; 226, 7-8/2005; 227, 9-10/2005...)
Những nghiên cứu này, ngay sau đó, được sử dụng như những công trình chính để
ông xuất bản dưới dạng sách, là Những Bài Dã Sử Việt (California, Thanh Văn xb,
1996, 432 tr.), Những Bài Văn Sử (California, Văn Học xb, 1999, 207 tr.), Sử Việt
Đọc Vài Quyển (California, Văn Mới xb, 2004, 523 tr.), và Bài Sử Khác Cho Việt
Nam (Sơ Thảo) (Văn Mới xb, 2009, 564 tr.)
Trong Những Bài Dã Sử Việt, Tạ Chí Đại Trường đã vượt quá những đề tài quen
thuộc của ông để lùi về dĩ vãng xa xăm thời Hùng Vương, hay khảo về lịch sử thế
kỷ X, và rị mọ về chế độ nội hôn -mà Tạ Chí Đại Trường gọi là “loạn dâm” của
nhà Trần thế kỷ XII-XIV. Sự đóng góp quan trọng nhất của Tạ Chí Đại Trường
qua Những Bài Dã Sử Việt là công cuộc nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc về hệ thống
tiền đồng và tiền giấy Việt Nam qua dòng lịch sử.
Đến Những Bài Văn Sử thì Tạ Chí Đại Trường lại trở lại nỗi ám ảnh từ lâu của
ông, là chuyện viết sử và viết văn. Thành ra khi viết sử, ông dồi dào những sự
thông giải cùng ý tưởng sáng tạo nhưng văn phong cứ uốn éo khó hiểu.
Trong Thay Lời Nói Đầu nơi trang 11 của sách này, ông phát biểu, nguyên
văn: “văn chương là của một người” và “sử học phải dành cho tập đoàn...” Đây
thật là một sự rắc rối không cần thiết! Văn chương mà không chia sẻ thì đâu phải là
văn chương?! Anh viết truyện hay anh làm thơ, là anh viết cho người khác đọc
chứ?! Và sử là gì, nếu sử không phải là một câu chuyện kể? Ai mà không kể
chuyện được, thử hỏi?!
Viết sử là viết những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, nhưng phải viết sao cho
trong sáng rõ ràng, có sâu sắc cũng phải mạch lạc dễ hiểu để độc giả khi đọc phải
bồi hồi háo hức. Nói cách khác, văn chương là hình thức của sự truyền bá lịch sử.
Hai yếu tố này không thể phân tách, cũng như người ta không thể phân tách phần
hồn và phần xác của một con người sinh động!
Sử Việt Đọc Vài Quyển đánh dấu nét tài hoa của họ Tạ khi ông nghĩ và viết sử.
Nhiều đề tài hay cách trình bầy mới mẻ: Sex Và Triều Đại (tr. 101-175), Các Sử
Quan Ẩn Khuất Lúc Ban Đầu (tr. 17-61), Các Sử Gia Nho Thần (tr. 62-100)...
Phần "Đối Thoại Sử Học" là dịp ông nhận xét về giới nghiên cứu sử trong chế độ
Cộng Sản Hà Nội thông qua Bùi Thiết, Vũ Minh Giang... Nhưng bài “Tiến Trình
Vương Hóa Mới” lọt vào sách (tr. 382-430) thật đáng tiếc, vì nội dung bài này
không gì khác hơn là những sự việc ai cũng biết rồi!
Bài Sử Khác Cho Việt Nam (Sơ Thảo) có lẽ dẫn xuất từ sự thành công của những
soạn phẩm mà tác giả cho trình làng trong hai thập niên 1990-2000. Bây giờ, sự tự
tin của Tạ Chí Đại Trường xuất lộ đến thành chữ viết, và ông đã cao ngạo mong
rằng sách này sẽ là "tập sử của thời có sử," ngược với loại "sử học thời sự" hiện
nay mà họ Tạ gọi là "thời kỳ tiềǹ sử của sử học..." (trang 9).
Cũng như những quyển sách trước đó, là Thần, Người Và Đất Việt năm 1989, Một
Khoảnh Việt Nam Cộng Hòa Nối Dài năm 1993, Việt Nam Nhìn Từ Bên Trong Và
Bên Ngoài năm 1994, Những Bài Dã Sử Việt năm 1996, Những Bài Văn Sử năm
1999, Sử Việt Đọc Vài Quyển năm 2004, Bài Sử Khác Cho Việt Nam (Sơ
Thảo) năm 2009 này phân tích, lý luận, và nhận định về những sự kiện xảy ra trong
quá khứ.
Trong hành trình tri thức ấy, tác giả đã tỏ lộ một kho kiến thức vừa căn bản vừa
quảng bác, một sở đắc gồm sử triết và... văn, những tư tưởng độc đáo bất ngờ,
cùng nhiều chi tiết mới mẻ và sự kiện mới mẻ trong quá khứ dân tộc Việt. Những
yếu tố thu hút đó giải thích sự nể trọng của nhiều tầng lớp và nhiều thế hệ độc giả
dành cho sử gia họ Tạ, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, dù hiểu hay không hiểu
cách hành văn của ông. Đó là cách viết sử của Tạ Chí Đại Trường, và chỉ Tạ Chí
Đại Trường mà thôi!
Điều đặc biệt là sau khi đọc vài quyển sử Việt tại hải ngoại, Tạ Chí Đại Trường trở
về Việt Nam rồi người ta thấy nhà xuất bản Công An Nhân Dân trong nước tái bản
quyển Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam Từ 1771 Đến 1802 của ông, nhưng đổi tựa
đề thành Việt Nam Thời Tây Sơn. Lịch Sử Nội Chiến 1771-1802 (Hà Nội, nxb
Công An Nhân Dân, 2007, 484 tr.). Mới đây, nhà xuất bản Nhã Nam-Tri Thức lại
tái bản vào tháng 8.2013, 482 tr.
Đây là thái độ đảo ngược 360 độ trong chính sách văn hóa thông tin của nhà cầm
quyền Hà Nội, vì sau khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa, họ đã lập nên “Phòng
Trưng Bầy Tội Ác Mỹ Ngụy” tại Sài Gòn trong đó quyển Lịch Sử Nội Chiến Ở
Việt Nam Từ 1771 Đến 1802 của Tạ Chí Đại Trường nằm “lù lù” trong đó (chữ của
chính tác gỉa)!
Quyển Thần, Người và Đất Việt (California, Văn Nghệ xb, 1989, 398 tr.) của ông
cũng được tái bản ở Việt Nam. Mới đây là nhà Nhã Nam-Tri Thức, tháng 1.2014.
Đến năm 2009 thì sách Những Bài Dã sử Việt cũng được nhà Nhã Nam-Tri Thức
tại Hà Nội tái bản và Dương Trung Quốc, Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử
Việt Nam, giới thiệu.
Và gần đây nhất, bản thảo Người Lính Thuộc Địa Nam Kỳ (1861-1945) của ông
được xuất bản lần đầu tiên ở trong nước, vẫn do nhà Nhã Nam-Tri Thức ấn hành
năm 2014, 388 tr.
Là cố nhân với nhau, tôi buồn khi thấy sách Người Lính Thuộc Địa Nam Kỳ (1861-
1945) của Tạ Chí Đại Trường in tại Việt Nam có kết luận của ông, nếu thật là của
ông, trong những dòng chữ cuối cùng của sách hàm ý ca tụng Cộng Sản Việt Nam
một cách uốn éo thô thiển.
Xin nêu lên ngay ở đây một bằng chứng cho sự uốn éo của lời văn họ Tạ: "... Kỹ
thuật sử dụng vũ khí được thông hiểu không chần chờ..." Thông hiểu không chần
chờ thì văn đã nặng hơn họ mất rồi!
Nơi trang 348, trang cuối của quyển sách, trước phần Tài Liệu Tham Khảo, có
nguyên văn như sau: "Cuộc tranh đấu kết thúc vào một ngày tháng Bảy năm 1954
giữa hai phe là một cuộc tranh đấu sử dụng hoàn toàn kiến thức kỹ thuật Tây
Phương. Kỹ thuật sử dụng vũ khí được thông hiểu không chần chờ. Có chút khác là
kỹ thuật tổ chức đã đem lại ưu thắng cho người kháng chiến. Quan niệm chiến
tranh đơn thuần chuyên môn chưa đủ thích ứng vào một xã hội cựu thuộc địa còn
rất cũ kỹ khiến những người tốt nghiệp St. Cyr, Saumur... trở thành cô lập, phải
lúng túng trước một tầng lớp đối kháng giờ đây đã thuộc lòng các yếu tính văn
minh Tây Phương đến độ không những chỉ đi theo những xuất hiện mới nhất về
mặt tư tưởng, mà còn có thêm sự gắn bó với địa phương và văn hóa cổ truyền. Tất
cả đã tạo cho họ sự hãnh diện, lòng tự tin để chiến thắng. Sài Gòn tháng 4-1975."
Tôi dám quả quyết những hàng chữ trên đây không thể nào được Tạ Chí Đại
Trường viết trong tháng 4-1975 như tác gỉa đã cho in trên giấy trắng mực đen năm
2011. Và sinh viên Tiến Sĩ Chuyên Khoa Sử Học -tên chính thức của văn bằng lúc
bấy giờ- Tạ Chí Đại Trường cũng chưa được trình luận án tốt nghiệp vì biến cố
30.4.1975.
Suốt thời gian tác gỉa viết luận án, từ tháng 9.1973 đến tháng 4.1975, thì Việt Nam
Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, Sài Gòn vẫn còn là thủ đô, và Tạ Chí Đại Trường vẫn
còn là một đại úy khối Quân Sử thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa được biệt phái về Bộ Quốc Gia Giáo Dục tại nhiệm sở là Trung học Tân
An tỉnh Long An. Thời điểm hoàn tất luận án vào tháng 4.1975 với hàng chữ ca
tụng Cộng Sản khi Cộng Sản chưa chiếm được Sài Gòn hoá ra tác giả là loại người
"đón gió trở cờ" sao? Làm sao tôi tin được sự xấu xa ấy của một đời nghiên cứu?!
Lẽ nào trong thời buổi ấy mà Tạ Chí Đại Trường lại lên tiếng ca tụng tư tưởng
Mác-Lê tiềm ẩn qua hàng chữ "những xuất hiện mới nhất về mặt tư tưởng?"
Còn nhận xét cuả tác giả Tạ Chí Đại Trường, nếu thật của Tạ Chí Đại Trường, rằng
người Cộng Sản "gắn bó với... văn hóa cổ truyền" thì đây là một nhận xét nông
cạn, chỉ biết xét bản chất qua sự tuyên truyền.
Xưa nay, Cộng Sản tha thiết với văn hóa cổ truyền bằng miệng lưỡi, nghĩa là tuyên
truyền mà thôi. Chính sách "tiêu thổ kháng chiến" của họ trong hai thập niên 1940-
1950 là đập phá đền miếu, biến đình chùa thành kho chứa thóc, lấy bia đá làm cầu
ao, đóng hoành phi câu đối thành ghế hay chẻ làm củi, dùng châu phê nhà Nguyễn
nhóm lửa hút thuốc lào, xé cổ thư chữ Hán nhóm bếp... Nếu đó là chuyện cũ, thì
chuyện mới là đại sứ đi mò sò bị cảnh sát Mỹ bắt, nhân viên tòa đại sứ buôn lậu
sừng tê giác bị quan thuế Nam Phi tóm... "Gắn bó với văn hóa cổ truyền" theo cách
nhìn của tác giả là thế sao?
Còn nhận định Cộng Sản là "một tầng lớp đối kháng giờ đây đã thuộc lòng các yếu
tính văn minh Tây Phương..." theo tôi, không những sai lầm mà còn rõ vẻ điếu
đóm!
Sai lầm vì giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam không hề "thuộc lòng các yếu tính
văn minh Tây Phương," mà trái lại, họ là nông dân với một ít thợ thuyền.
Chính vì họ không có điều kiện được học nhiều ở các trường do Pháp thành lập
nên họ giữ nguyên được đặc tính của giới nông dân Việt Nam trong nền văn minh
lúa nước từ ngàn xưa: ít học nhưng chịu khó chịu khổ, kiên trì nhẫn nại, mưu mẹo
quỷ quyệt, nhưng gan dạ và quyết tâm.
Thật ra, kết luận trên đây của Tạ Chí Đại Trường, nếu thật của Tạ Chí Đại
Trường, không hề dính dáng gì đến đề tài mà tác giả nghiên cứu, là Người Lính
Thuộc Địa Nam Kỳ trong thời khoảng 1861-1945.
Dĩ nhiên, thiên nghiên cứu nào cũng có thể mở ra vấn đề mới hay đi xa về không
gian hoặc thời gian khi kết thúc. Nhưng làm sao tôi có thể tin luận án Tiến Sĩ
Chuyên Khoa Sử Học thời Việt Nam Cộng Hòa mà kết luận chỉ cốt ca tụng Cộng