Tác phẩm là tập tài liệu thông tin cho các thành viên trong Hội Nghị.
Sách được thẩm phán Tòa Di Trú Liên Bang Phan Quang Tuệ, trưởng nam của tác
giả, tái bản tại California năm 2021 theo nguyên tác tháng 1.1975 trong nước. Sách
đã được giới thiệu nhân dịp phát hành tại thành phố San Jose ngày 18.12.2021.
Đó là một bộ sách khổ lớn 21cm x 28cm, dầy 587 trang.
Bìa
sách The Republic of Vietnam’s Environment & People
Nội dung của tác phẩm rất phong phú vì đầy những chi tiết nhỏ nhất và tỉ mỉ nhất
về đất nước và con người trên lãnh thổ nước Việt Nam Cộng Hòa cho đến năm
1974.
Trước hết là đất đai thổ nhưỡng. Tôi thật sự bất ngờ khi đọc thấy một bác sĩ y khoa
đề cập đến những loại thổ nhưỡng ở nước ta. Ngay “thổ nhưỡng” cũng đã là một
danh từ chuyên môn nên xa lạ với nhiều người Việt. Khi tôi tìm nguồn gốc của các
dữ kiện về đất đai trong sách thì tôi hiểu tác giả hơn, khi biết Cụ đã tìm đọc thiên
nghiên cứu của giáo sư Lâm Thanh Liêm, người Việt Nam duy nhất tốt nghiệp
Tiến Sĩ Địa Lý tại Đại Học Sorbonne, Pháp hồi đầu thập niên 1960. Đó là tác
phẩm Địa Lý Đại Cương do nhà Khai Trí xuất bản năm 1965 tại Sài gòn.
Sau phần thổ nhưỡng là thảm thực vật. Trong hai trang ngắn, tác giả đã khái quát
các loại rừng núi, các loại cây, các loại gỗ, các loại đồn điền, các loại trái cây, và
các loại hoa. Kết luận của phần này, tác giả nêu lên tầm quan trọng của cây lúa và
cây tre trong nền kinh tế và văn minh Việt Nam, và giới thiệu hai bài thơ trong văn
chương bình dân về “Ông Lúa-Genie of the Rice” và “The Genie of the
Bamboo.” Tiếc thay, tác giả chỉ đưa ra bản dịch Anh Văn của một dịch giả tên
Mona Ruoff nào đó, độc giả người Việt không hề biết nguyên tác của hai bài thơ ra
sao.
Thứ đến là vị trí của nước VNCH trong vùng Đông Nam Á. Phần này có cả bản đồ
kèm theo, rồi thời tiết khí hậu vũ lượng cùng múi giờ Sài Gòn so với các nơi khác,
và quãng cách giữa Sài Gòn với thủ đô các nước Đông Nam Á... Thật ra, những chi
tiết này độc giả có thể tìm thấy dễ dàng trong loại sách du lịch. Nhưng những chi
tiết đó trong một tập tài liệu thông tin cho Hội Nghị gồm nhiều thành viên quốc tế
thì thật tiện ích.
Trong phần này, có một ý niệm mà tôi cần phải lên tiếng. Nơi trang 7 tác giả viết,
nguyên văn: “The Republic of Vietnam, a country of Indochina...”
Sao lại “Indochina”?
Chính quyền Pháp hồi thế kỷ XIX xâm chiếm ba nước Việt, Miên, Lào rồi đặt cho
toàn thể ba nước thuộc địa đó một cái tên chung, là Indochine hay Indochina, danh
từ ghép của hai địa danh Inde và Chine. Địa danh đó nghĩa là một cái gì đó giữa
hai nước Ấn Độ (Inde) và Tàu (Chine).
Nước chúng ta có quốc hiệu riêng rất linh thiêng đối với dân tộc, khác với nước
Cam-bốt, khác với nước Ai-Lao. Chúng ta mất cả thế kỷ mới phục hồi tên nước,
đến giữa thế kỷ XX thật không nên nhắc đến cái tên vô nghĩa ấy!
Ngày trước chuyển Indochine thành Đông Dương trong Việt ngữ có làm nhẹ đi cái
tên do Pháp đặt, nhưng cũng vô nghĩa vì Đông Dương không gì khác hơn là miền
phía Đông của Đại Dương! Mà cũng có thể hiểu là Biển Đông, tức phía Đông của
Biển. Lại cũng một cái gì đó!
Tiếp theo là phần nhân dân VNCH, mở đầu bằng cơ cấu chính quyền trung ương
qua hai chế độ, là Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu.
Về chế độ Ngô Đình Diệm, tác giả lộ rõ ác cảm qua sự chỉ trích nặng nề chính
quyền VNCH trong thời khoảng 1954-1963. Tác giả phê phán Hiến Pháp Đệ Nhất
Cộng Hòa 1956 tạo cơ hội cho Tổng Thống độc tài và giảm thiểu vai trò của Lập
Pháp và Tư Pháp thành những nghị gật hay con rối. Nguyên văn lời của tác giả: “...
the National Assembly was nothing more than little fingers able only to wave and
repeat obediently “yes, yes, Mr. President.” (Quốc Hội không gì khác hơn là
những ngón tay bé nhỏ chỉ có thể ngoan ngoãn ngoe ngẩy “vâng, vâng, thưa Tổng
Thống.)
Muốn hiểu nguyên nhân của nhận xét này, độc giả phải hiểu quá trình hoạt động
chính trị của bác sĩ Phan Quang Đán.
Với văn bằng tiến sĩ, bác sĩ Đán cũng như hầu hết những tiến sĩ từ ngoại quốc về,
được xã hội trong nước trọng vọng và thường được mời tham gia nội các.
Tốt nghiệp bác sĩ (?) từ Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1945, bác sĩ Đán trở thành
Tổng Trưởng Thông Tin trong chính phủ Nguyễn Văn Xuân năm 1948. Thời gian
này, bác sĩ Đán còn lấy tên trong khai sinh là Phan Huy Đán.
Bác sĩ Phan Quang Đán, cựu Phó Thủ Tướng VNCH 1969-1975.
Nhưng khi tốt nghiệp tiến sĩ ngành Y khoa Công Cộng (Public Health) từ Hoa Kỳ
về nước năm 1955, bác sĩ Đán không những bất hợp tác với chính quyền Ngô Đình
Diệm mà còn chống đối qua các hoạt động báo chí và đảng phái.
Cụ thể nhất là bác sĩ Phan Quang Đán làm Cố Vấn cho cuộc đảo chính võ trang
chống lại tổng thống Ngô Đình Diệm của nhóm sĩ quan nhẩy dù trung cấp, đứng
đầu là trung tá Vương Văn Đông ngày 11.11.1960.
Ngày ấy, Cụ thân chinh lên đài phát thanh Sài Gòn và tổ chức họp báo tố cáo chính
sách độc tài gia đình trị của tổng thống Ngô Đình Diệm đã làm suy yếu công cuộc
chống Cộng. Vì thế, khi cuộc đảo chánh thất bại, nhóm cầm đầu cuộc đảo chính
bay sang Cam-bốt, còn bác sĩ Đán bị chính quyển Ngô Đình Diệm bắt và kết án 8
năm khổ sai, đày Côn Đảo.
Nhưng may cho Cụ là chỉ ba năm sau, Cụ được trả tự do hồi đầu tháng 11.1963 vì
một cuộc đảo chính nổ ra và thành công khi nhóm tướng Minh Đôn Kim Đính
Xuân theo lệnh chính quyền Hoa Kỳ giết Tổng Thống đương nhiệm Ngô Đình
Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nói theo Henry Cabot Lodge đại sứ Hoa Kỳ tại
Việt Nam như tôi nhớ: “You can’t make an omelet without breaking eggs,” Người
ta không thể làm món trứng chiên nếu không đập vỡ trứng! Và ông ta vui mừng
thốt lên bằng tiếng Pháp, nguyên văn: “C’est formidable! C’est magnifique!
Thật tuyệt vời! Thật tuyệt mỹ! lúc 4 giờ chiều ngày 2.11.1963 khi hai viên tướng
Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim chủ chốt trong “Ủy Ban Cách Mạng” thân hành đến
Tòa Đại Sứ để báo cáo theo yêu cầu của viên đại sứ này. (Xin xem: Our Endless
War Inside Vietnam, 1978, trang 109 và ấn bản Việt ngữ Việt Nam Nhân
Chứng do Trần Văn Đôn viết (?), 1989, trang 238).
Năm sau, 1964, bác sĩ Phan Quang Đán nắm chức Bộ Trưởng Bộ Chiêu Hồi trong
nội các Trần Văn Hương.
Về chế độ Nguyễn Văn Thiệu, bác sĩ Đán ca ngợi Hiến Pháp 4.1967 đã thiết lập hệ
thống tam quyền phân lập và ấn định cơ chế cụ thể nhằm tránh nạn độc tài. Kết
luận về chế độ Nguyễn Văn Thiệu với bản Hiến Pháp mới, bác sĩ Phan Quang Đán
nhận định đó là bản văn tương đối áp dụng được và đã chấm dứt nạn đảo chính và
phản đảo chính của giới quân nhân và tiến tới tình trạng trọng pháp. Cụ còn xét
thấy bản Hiến Pháp có thể được sửa đổi mà Luật 001/74 ngày 22.1.1974 chính là
bước đầu của sự tiến triển.
Nhưng Luật 001/1974 do Quốc Hội Đệ Nhị Cộng Hòa thông qua ngày 22.1 có nội
dung thế nào? Xin thưa ngay: Luật ấn định tổng thống có thể tái ứng cử ba (3) lần
thay vì hai (2) như trong Điều 52 Khoản 2 của Hiến Pháp năm 1967. Và nhiệm kỳ
của tổng thống kéo dài ra năm (5) năm thay vì bốn (4) năm như thủa ban đầu trong
cùng điều khoản vừa kể.
Hãy nhớ tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ hết nhiệm kỳ thứ hai năm 1975 và theo
Hiến Pháp 1967 thì ông ta không còn được quyển tái ứng cử nữa. Nay Quốc Hội
sửa đổi Hiến Pháp để tăng số lần tái ứng cử không gì khác hơn là Quốc Hội ngoan
ngoãn phục vụ mưu đồ tham quyền cố vị của một cá nhân.
Thế thì bác sĩ Phan Quang Đán phải nhận định Quốc Hội Đệ Nhị Cộng Hòa 1967
thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thế nào, sau khi Cụ nhận định Quốc Hội Đệ
Nhất Cộng Hòa 1956 thời tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ gồm những ngón tay bé
nhỏ ngoan ngoãn vâng dạ với tổng thống nơi trang 107?
Nhận định của Cụ đã có, nhưng là nhận định tốt đẹp cho Quốc Hội Đệ Nhị Cộng
Hòa 1967! Cụ thẳng thắn đề cập đến nội dung cũa Luật 001/1974, nhưng Cụ nhận
định Hiến Pháp có thể sửa đổi là một yếu tố tích cực, nguyên văn cũng nơi trang
107: “On the other hand, it (tức Hiến Pháp 1967) can be amended and on 22
January 1974 received a beginning of amendment.”
Sau khi Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa được ban hành, chính quyền đương nhiệm tổ
chức cuộc bầu cử tổng thống cùng năm 1967.
Có tất cả 10 liên danh tranh cử. Kết quả là liên danh quân nhân Thiệu-Kỳ đắc cử,
thất cử là 9 liên danh dân sự, gồm liên danh Phan Khắc Sửu-Phan Quang Đán,
Trần Văn Hương-Mai Thọ Truyền, Hà Thúc Ký-Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Đình
Quát-Lê Ngọc Chấn, Nguyễn Hòa Hiệp-Nguyễn Thế Truyền, Vũ Hồng Khanh-
Nguyễn Văn Đang, Hoàng Cơ Bình-Lưu Quang Khình, Phạm Huy Cơ-Lý Quốc
Sỉnh, và Trần Văn Lý-Nguyễn Văn Đương.
Năm 1969, bác sĩ Phan Quang Đán tham chính với chức Phó Thủ Tướng và trong
thẩm quyền đó, Cụ chủ trì Hội Nghị Quốc Tế về Nhi Đồng và Phát Triển Quốc
Gia (14-23.1.1975).
Tổng Cục Bưu Chính phát hành bộ tem cùng chủ đề để
kỷ niệm Hội Nghị. Rất hiếm là loại phong bì phát hành
ngày đầu tiên có nhật ấn hai ngày khai mạc và bế mạc
Hội Nghị như phong bi trên đây. (TAT Collection).
Bộ The Republic of Vietnam’s Environment & People là công trình sưu tầm
tài liệu của nhóm nhân viên phụ tá vị Phó Thủ Tướng. Nhưng công trình tổng hợp
để hoàn thành một bộ sách thông tin vừa căn bản vừa thâm sâu cho một hội nghị
quốc tế là tâm huyết và thành quả của một cá nhân say mê dự án trong phòng ăn và
phòng để xe tại tư gia số 3 đường Phùng Khắc Khoan Sài Gòn, theo như chia sẻ
của người tái bản sách trong Lời Nói Đầu hay “Foreword.”
Tiếp theo phần chính quyền là môi trường và con người VNCH trong hai thập niên
1960-1970 qua diễn tiến và kết quả của các ngành y tế, giáo dục, xã hội, nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai mỏ, điện lực, kỹ nghệ, thương mại, thuế
khóa, ngân sách, ngoại viện, giao thông, đường bộ, đường thủy, đường hàng
không, bưu điện, viễn thông, kể cả du lịch...
Đặc biệt, người tổng hợp tài liệu thông tin không nhiều lời nhiều chữ, mà Cụ để
con số trong các thống kê, biểu đồ, bản đồ... lên tiếng. Đây là cách “nói” dễ thuyết
phục người đọc nhất.
Dĩ nhiên để biết giá trị trung thực của các dữ kiện và dữ liệu, người ta phải xét đến
tính cách khoa học của công tác thu hoạch, rồi xét đến sự trung thực của con người
khi báo cáo kết quả.
Tóm lại, The Republic of Vietnam’s Environment & People là tác phẩm hiếm hoi
của giới lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa. Cùng giá trị với tác phẩm này, có thể
kể The Palace File của Nguyễn Tiến Hưng (Tổng Trưởng Kế Hoạch trong nội các
Trần Thiện Khiêm, New York, Harper&Row xb, 1986) và The Viet-Nam Peace
Negociations Saigon’s Side of the Story của Nguyễn Phú Đức (Cố Vấn Ngoại Giao
của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Virginia, Dalley Book xb, 2005).
Tuy nhiên, tác phẩm của hai tác giả họ Nguyễn có phần chủ quan qua hồi tưởng,
nhận định, và ý kiến cá nhân. Còn tác phẩm của họ Phan khách quan qua những
biểu đồ, bản đồ, thống kê...
The Republic of Vietnam’s Environment & People cung hiến bức tranh toàn cảnh,
tích cực, và phong phú cho bất cứ ai muốn biết cụ thể về những bước tiến bộ mà
chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã đạt được trong vùng lãnh thổ từ sông Bến Hải phía
Bắc đến mũi Cà Mâu phía Nam trong thời gian ngắn ngủi 1951-1975.
Đó là lý do giải thích vì sao nhà văn Dương Thu Hương từ Hà Nội đã rơi nước mắt
khi vào đến Hố Nai hồi tháng 5.1975. Và hãy đọc hồi ký của ca sĩ Ái Vân - cháu
ngoan Bác Hồ - để biết văn minh miền Nam đã ảnh hưởng thế nào đến người miền
Bắc vào tiếp quản.
Nói thêm về quan niệm của vị Phó Thủ Tướng VNCH trong những năm 1969-
1975.
Danh xưng của bộ sách, The Republic of Vietnam’s Environmnet & People là Môi
Trường và Con Người/Dân Chúng/Nhân Dân. Tựa đề được tác giả giải thích trong
những trang đầu, tức là ảnh hưởng tương tác cùng tương hỗ của môi trường và con
người.
Theo Cụ, Địa là Sử về Không Gian, và Sử là Địa về Thời Gian, nguyên văn nơi
trang thứ hai sau trang bìa: “... geography would be history in space, and history
would be geography in time. They complete one another (sic!) and their combined
disciplines help reach a better understanding of man and his environment through
the diversities of nations and ages.”
Theo tôi, ý niệm này phức tạp và khó hiểu. Kiến thức chung rất đơn giản và dễ
hiểu: Sử là về Thời Gian, và Địa là về Không Gian.
Chính sự đơn giản này đã làm lộ ra những nét cần sửa trong tác phẩm.
Thứ nhất, vì Địa là về không gian nên bản đồ bao giờ cũng phải có khung. Lý do là
bản đồ dù tỷ-lệ-xích có lớn bao nhiêu cũng không thể gồm hết không gian của quả
địa cầu. Trong sách, độc giả thấy nhiều bản đồ hợp lý khi có khung nhằm giới hạn
không gian, nhưng lại bắt gặp không ít bản đồ không có khung, nơi trang 9, 15, 22,
29, 33, 36, 39, 57, 84, 85, 87, 92, 93, 95, 96, 97...
Thứ hai, đa số “bản đồ” trong tác phẩm không phải là bản đồ, chỉ đơn thuần là lược
đồ vẽ tay nên không thể chính xác để có tỷ-lệ-xích như đã ghi trong sách, là “Scale
1/4,000,000, 1/6,000,000, 1/7,500,000...”
Cuối cùng, Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa 1967 được ghi lại đầy đủ 117 điều trong
phần Phụ Lục, nhưng Điều 30 có nguyên văn nơi trang 494: “... The National
Assembly includes two includes two houses, the Lower House and the Upper
House.” thì hai chữ “includes two” lập lại hai lần. Hiến Pháp là bộ luật tối cao
của một quốc gia, nên từng câu từng chữ, thậm chí từng dấu chấm dấu phẩy đều có
ý nghĩa mà chắc chắn sẽ là nguồn thông giải, phân tích, và tranh luận giữa những
chuyên viên luật hiến pháp trong tương lai, đâu có thể sơ suất đến thế? Lỗi từ đâu?
Điểm son của tác giả The Republic of Vietnam’s Environment & People là sao lại
chữ ký tay của toàn thể 117 dân biểu chấp thuận Hiến Pháp hồi tháng 4.1967, từ
chủ tịch Quốc Hội Lập Hiến là Phan Khắc Sửu đến dân biểu cuối cùng là Huỳnh
Văn Yên tự Huỳnh Bình Yên theo danh sách thứ tự ABC.
Trần Anh Tuấn
14.6.2022
CÙNG TÁC GIẢ:
Trần Anh Tuấn
Trần Anh Tuấn: Thêm một sử phẩm quan trọng
01 Tháng Tám 20222:29 CH(Xem: 773)
VĂN HÓA ONLINE - DIỄN ĐÀN 3 - THỨ HAI 01 AUG 2022
Ý kiến/Bài vở vui lòng gởi về: [email protected]
Thêm một sử phẩm quan trọng
TRẦN ANH TUẤN
Trong bài viết về tác phẩm của bác sĩ Phan Quang Đán, tôi có đề cập đến
tác phẩm của hai nhân viên nội các khác, là Nguyễn Phú Đức và Nguyễn Tiền
Hưng. Bài này tôi nhận định về tác phẩm của Nguyễn Phú Đức.
Cụ Nguyễn Phú Đức là một chuyên viên Công Pháp Quốc Tế, tốt nghiệp Tiến Sĩ
Luật Khoa tại Viện Đại Học Hà Nội năm 1953 (nguyên văn nơi trang xiii: Docteur
en Droit from the University of Hanoi in 1953, thời điểm này Việt Nam đã cấp
phát văn bằng Tiến Sĩ Luật?) và có văn bằng Tiến sĩ Luật tại Harvard Law School,
Hoa Kỳ năm 1956. Cụ là một chính khách, từng làm Quan Sát Viên Thường Trực
của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và Cố Vấn Tổng Thống trong chính phủ Nguyễn
Văn Thiệu. Trong vai trò sau, cụ tham dự hòa đàm Paris suốt từ đầu đến cuối trong
tám năm, 1968-1973.
Năm 2005, cụ cho xuất bản tác phẩm The Viet-Nam Peace Negotiations Saigon’s
Side of the Story tại tiểu bang Virginia, 463 trang.
Đây là một ấn phẩm căn cứ vào những văn kiện chính thức và cao cấp nhất giữa
hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ về công cuộc hòa đàm.
Hơn nữa, nội dung tác phẩm còn căn cứ vào những ghi nhận đương thời của tác giả
trong những buổi làm việc với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng những cuộc
họp giữa hai chính phủ Việt Mỹ mà cụ tham dự trong vai trò Cố Vấn Tổng Thống
về Ngoại Giao.
Tác phẩm lại được viết và ấn hành hơn 30 năm sau Hội Nghị Paris, tức là khi
những xung động tình cảm của người trong cuộc đã lắng đọng và nhu cầu trình bầy
sự kiện lịch sử trở thành mục tiêu của sách.
(Thư viện TAT)
Thật thế, độc giả có thể biết sách không nhằm mục tiêu riêng tư, mà sách là một cố
gắng truyền lại cho đời diễn tiến của cuộc hòa đàm Paris 1968-1973, theo một trình
tự rất chi tiết.
Đây chính là thông tin bán chính thức của VNCH sau khi tất cả các đối tác chủ
chốt khác trong cuộc Hòa Đàm -tức các chính phủ Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa, và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam- đã lên tiếng từ nhiều thập niên
trước.
Như Hoa Kỳ có Memoirs of Richard Nixon do Nixon viết (1978), còn Henry
Kissinger có tới ba quyển, là White House Years (1979), Years of Upheaval (1982),
và Years of Renewal (1999).
Như Hà Nội có Fifty Years of Vietnamese Diplomacy 1945-1995. Volume 1: 1945-
1975 do Lưu Văn Lơi viết (2000), rồi thêm quyển Các Cuộc Thương Lượng Lê
Đức Thọ Kissinger Tại Paris do Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ viết (không năm
xuất bản, knxb), và sau đó là Cuộc Đàm Phán Pari (sic!) Về Việt Nam (1968-
1973) do Nguyễn Thành Lê viết (tái bản, 2018).
Như Việt Cộng có Chung Một Bóng Cờ (Về Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền
Nam Việt Nam) (1992) và sau đó là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Chính Phủ
Cách Mạng Lâm Thời tại Hội Nghị Paris về Việt Nam của tập thể tác giả, từ
Trưởng Đoàn Nguyễn Thị Bình cho đến hầu hết nhân viên trong Đoàn gồm 25
người như Nguyễn Văn Hiếu, Dương Đình Thảo, Lý Văn Sáu... (2001).
Đặc biệt sau này, Nguyễn Thị Bình viết Gia Đình, Bạn Bè và Đất Nước (2012) có
rất nhiều hình ành sinh hoạt của hai đoàn VNDCCH và CHMNVN tại Hội Nghị
Paris.
Ngược lại, sách của Nguyễn Phú Đức không hề có một hình ảnh nào về phái đoàn
VNCH hay Hòa Đàm Paris. Sách chỉ có bốn tấm ảnh tự giới thiệu cá nhân: tác giả
gặp U Thant năm 1964, gặp McCormack Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ năm 1965, gặp
Humphrey năm 1966, và gặp Nixon năm 1972. Hình ảnh phái đoàn VNCH không
hề thấy xuất hiện, chỉ biết nổi nhất và công khai nhất thời đó là mấy tấm hình “đệ
nhị phu nhân” Nguyễn Cao Kỳ xúng xính thời trang trong tuần san
Pháp Paris Match!
Nếu lịch sử rốt lại là một chuyện kể thì đây là câu chuyện về nước VNCH từ một
đối tác trong việc thương thảo với VNDCCH dưới thời Tổng Thống Johnson đến
khi trở thành một vật trao đổi với VNDCCH dưới thời Tổng Thống Nixon.
Sách bắt đầu bằng cách ghi lại chính sách về Việt Nam của Mỹ, nhất là chính sách
dưới thời Tổng Thống Johnson. Chưa đầy một năm sau khi chủ chiến qua việc vận
động Quốc Hội Lưỡng Viện Hoa Kỳ thông qua “Tonkin Gulf Resolution” (tháng
Tám năm 1964) cho phép Hành Pháp được sử dụng vũ lực tại Đông Nam Á,
Johnson đã tìm cách thương thảo với Bắc Việt hầu rút khỏi Việt Nam, nhất là khi
Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara tỏ ra bi quan về viễn tượng chiến thắng năm
1966. Đến sau Tết Mậu Thân, khi Cộng Sản “tổng tiến công tổng nổi dậy” toàn
miền Nam, thì Johnson càng ngày càng nhượng bộ những yêu sách của Bắc Việt
để ngồi vào bàn hội nghị.
Tác giả Nguyễn Phú Đức đã trình bầy và phân tích công cuộc hòa đàm, cho độc giả
thấy đây là một cuộc đấu trí mà cả hai nhân vật chính trong cuộc (tức Kissinger và
Lê Đức Thọ) đều sử dụng những luận điệu dối trá, đe dọa, hứa hẹn, và cuối cùng là
phản bội, trong đó vật hy sinh là nước Việt Nam Cộng Hòa.
Nói như Kissinger, kẻ chủ chốt của chính phủ Hoa Kỳ trong hòa đàm, trong ngày
24 tháng Giêng năm 1973, rằng ông ta nghĩ VNCH may mắn lắm sẽ tồn tại thêm
một năm rưỡi nữa. (Lời Kissinger trao đổi với John Ehrlichman -Phụ Tá Tổng
Thống Nixon- tại Phòng Roosevelt Room trong Tòa Bạch Ốc để trả lời câu hỏi của
Ehrlichman rằng miền Nam Việt Nam sẽ có thể tồn tại bao lâu sau Hiệp Định. Xin
tham khảo quyển Witness to Power của John Ehrlichman (New York, nxb
Simon&Schuster, 1982) mà tác giả Nguyễn Phú Đức trích dẫn nơi trang
414. Rồi đến năm 1974 khi chưa thấy miền Nam bị miền Bắc thôn tính,
Kissinger sốt ruột bảo: “Sao chúng nó (tức VNCH) chưa chết đi?”
Thật là một tên Mỹ bất nhân!
Còn Richard Nixon cũng chỉ là một thứ vô loài! The Viet-Nam Peace Negotiations
Saigon’s Side of the Story đã ghi nhận nhiều sự kiện xảy ra sau Hiệp Định Paris
cho thấy những gì mà viên tổng thống Hoa Kỳ này cam kết với tổng thống một
quốc gia khác trong các công hàm chỉ là dối trá về nội dung và thiếu tư cách về
ngôn từ.
Văn viết còn đỡ, còn trong văn nói, ghi âm từ phòng làm việc trong Tòa Bạch Ốc,
thì Richard Nixon chửi rủa Nguyễn Văn Thiệu là, nguyên văn: “Son of a bitch!”
tức “Đồ chó đẻ!”
Tôi chưa hề thấy Anh ngữ và Việt ngữ phù hợp nhau đến thế này!
Truyền thống mã thượng hào hiệp và văn hóa trọng nhân phẩm nhân quyền của
dân tộc Hoa Kỳ đã bị nhơ nhớp dưới thời Richard Nixon làm tổng thống và Henry
Kissinger làm tổng trưởng ngoại giao!
Mặt khác, The Viet-Nam Peace Negotiations Saigon’s Side of the Story của vị Cố
Vấn Tổng Thống VNCH cũng giúp độc giả biết rõ hai chính phủ Hoa Kỳ thời
Johnson và Nixon, đã quyết rút khỏi Việt Nam, và chấp nhận cho Cộng Sản thôn
tính Việt Nam Cộng Hòa từ cuối thập niên 60 mà cụ thể là ký kết Hiệp Định Paris
năm 1973.
Như vậy, từ đó cho đến khi xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng dinh Dinh Độc Lập ngày
30.4.1975, thời gian cũng trên dưới 7 năm (1966-1973), một thời gian không dài
nhưng chắc chắn không ngắn để cả một quốc gia sửa soạn cho sự sống hay sự chết
của chính mình.
Đáng buồn thay, lãnh đạo quốc gia lúc ấy là một cá nhân chỉ biết ích kỷ sao cho
chiếc ghế Tổng Thống của ông ta được duy trì, đồng thời có thái độ đà điểu gặp
nguy vùi đầu xuống cát khi cấm nhân viên nội các và những thuộc cấp chung
quanh ông ta không được tiết lộ gì về những mưu đồ và toan tính của Mỹ.
Đến khi ngoại viện bị cắt, công khố trống rỗng, quân lính phải dè sẻn từng viên
đạn phòng thủ, thân danh trung tướng tổng thống mà nhục nhã cúi đầu xuống sàn
xe do một nhân viên CIA cầm lái để trốn vào phi trường Tân Sơn Nhất chạy ra
ngoại quốc.
(Xin xem tường trình của Frank Snepp trong tác phẩm Decent Interval. An
Insider’s Account of Saigon’s Indecent End Told by the CIA’s Chief Strategy
Analyst in Vietnam, New York, nxb Vintage Books, 1977, 591 tr. Sách Snepp viết
bị cơ quan CIA ra lệnh cấm phát hành vì tác giả tiết lộ một số bí mật quốc gia chưa
được bạch hóa. Tháng 1.1980 khi tôi mới từ trại tỵ nạn Tangjung Uban, Indonesia
đến San Diego, Nam California (11.1979), lên thành phố Oakland phía Bắc phỏng
vấn để được nhận làm Resource Teacher tức TSA (Teacher on Special
Assignment) tại Oakland Unified School District. Phỏng vấn buổi sáng, buổi chiều
tôi vào một hiệu sách ở đường Broadway, thấy sách của Frank Snepp bầy bán rất
mừng, mua ngay vì biết Snepp là người lái xe đưa Nguyễn Văn Thiệu vào Tân Sơn
Nhất để trốn sang Đài Loan bằng chiếc phi cơ C-118 bốn động cơ của Không Quân
Hoa Kỳ.
Trong Decent Interval..., tác giả tiết lộ đại sứ Martin ủy cho Polgar, Giám Đốc CIA
Sài Gòn tổ chức cho Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm đi trốn, nên Polgar
cử một đoàn xe gồm ba chiếc limousines đi thi hành sứ mạng lúc 8:30 tối ngày
25.4.1975, còn Polgar đi xe riêng. Đầu tiên, đoàn xe đến nhà Trần Thiện Khiêm
trong cư xá Bộ Tổng Tham Mưu để chờ đông đủ mọi người, rồi Nguyễn Văn Thiệu
đi chiếc Mercedes xám đến và đi thẳng vào nhà. Ít lâu sau, Thiệu, Khiêm, Polgar,
Timmes cùng đám cao cấp người Việt túa ra đoàn xe. Nguyễn Văn Thiệu lên băng
sau chiếc xe do Frank Snepp lái, cùng với Timmes và một cận vệ người Việt. Khi
xe chuyển bánh, Timmes bảo Nguyễn Văn Thiệu cúi đầu xuống để được an toàn,
nguyên văn Snepp thuật lại nơi trang 436: “Stay down, Mr. President, for your own
sake.”
Lý do tướng CIA Timmes khuyên Nguyễn Văn Thiệu không ngửng mặt lên là để
tránh sự kiểm soát của Quân Cảnh QLVNCH gác ở cổng vào phi trường Tân Sơn
Nhất có thể chận bắt viên tẩu tướng vi phạm luật giới nghiêm do chính ông ta ban
hành. Lúc đó đã hơn 9:30 tối.
Cũng cần ghi lại lời kể của chứng nhân tại chỗ ngay lúc đó, tức Frank Snepp. Đó là
trước khi xe chuyển bánh từ nhà Trần Thiện Khiêm đến phi trường để Thiệu và
Khiêm cùng trốn đi Đài Loan, Snepp thấy nhiều người lực lưỡng vác va li loại
khổng lồ từ khuôn viên nhà Khiêm tiến tới đoàn xe, và yêu cầu mở các thùng xe
sau cho chính tay họ bỏ va li vào. Snepp nghe tiếng lục cục của kim khí đụng chạm
nhau như tiếng khánh bị bọc lại trong không gian vắng lặng khi họ xếp hành lý vào
thùng xe. Nguyên văn đoạn này nơi trang 435 như sau: “Moments later several
burly aides scrambled out of a patch of woods at the edge of the compound, each
hefting a mammoth suitcase. They demanded we open our car trunks for them and
insisted on stacking the luggage themselves. The clink of metal on metal broke
through the stillness like muffled wind chimes as they heaved the bags into place.”
Dĩ nhiên hành lý đó là của cải của Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm,
nhưng ba thùng xe dù lớn đến đâu cũng không thể có sức chứa hàng chục tấn hàng
hóa. Song đó là lý do Hà Nội đổ cho viên trung tướng tổng thống lấy cắp 16 tấn
vàng trong Ngân Hàng Quốc Gia VNCH. Thật ra, số trữ kim đó vẫn còn dưới hầm
của Ngân Hàng mà phó thủ tướng trong chính-phủ-hai-ngày Vũ Văn Mẫu là
Nguyễn Văn Hảo đã “báo công” -từ ngữ của Cộng Sản- với Ủy Ban Quân Quản
sau ngày 30.4 là ông ta có công giữ lại để nộp cho “Cách Mạng!” Sau này, Bùi
Tín, một đại tá nhà báo Hà Nội nhân công du tại Pháp đã phản tỉnh, tiết lộ là 16 tấn
vàng đã được Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội chia nhau một
phần, một phần mua gạo cứu đói cho dân.)
Trước Nguyễn Văn Thiệu cả 700 năm, thời Trần, khi dự liệu quân Nguyên xâm
lăng nước ta, vua Trần Nhân Tôn đã sửa soạn chiến tranh, họp các bô lão ở Điện
Diên Hồng và các vương hầu ở Bình Than để hội ý nên hòa hay nên chiến, rồi cử
tướng Trần Quốc Tuấn thống lĩnh binh quyền.
Cả nước một lòng, quả nhiên nuớc Việt nhỏ và dân ít lại... không có viện trợ Mỹ đã
toàn thắng quân Nguyên vốn bách chiến bách thắng từ Á sang Âu!
Sách The Viet-Nam Peace Negotiations Saigon’s Side of the Story được viết bằng
lối văn thông tin, sự kiện được trình bầy không thiếu một W nào trong nguyên tắc
thông tin 5W của Mỹ: sự việc (What), tên người (Who), thời gian (When), nơi
chốn (Where), và tại sao (Why). Sách, vì thế, không có chỗ cho thứ văn chương
hào nhoáng bóng bẩy hay dây cà ra dây muống, mà là nối tiếp hết sự kiện này đến
sự kiện khác.
Có thể nói tác phẩm này cống hiến cho đời sau một bản tường trình chi tiết về cuộc
đối đầu giữa một bên là chính quyền siêu cường Mỹ muốn rút lại sự ủng hộ một
quốc gia nhỏ bé và một bên là Cộng Sản tìm phương kế trên bàn hội nghị để thôn
tính toàn thể nước Việt.
Từng động thái của Hoa Kỳ, từng văn bản của một siêu cường, từng sự o ép một
Đồng Minh nhỏ bé, và từng phản ứng yếu ớt và thụ động của Nguyễn Văn Thiệu,
một viên tướng nhiều tham vọng nhưng thiếu dũng khí ở miền Nam, khiến hậu quả
là bản “hiệp định chấm dứt chiến tranh,” thực chất là bản văn chấp nhận đầu hàng
của anh khổng lồ Da Trắng trước những mưu mô quỷ quyệt từ đồng ruộng Việt
Nam.
Tuy hiếm hoi, nhưng The Viet-Nam Peace Negotiations Saigon’s Side of the
Story cũng có những dòng chữ phân tích và phê phán cá nhân Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu. Nơi trang 403, cụ nhận định là sau Hiệp Định Paris năm 1973, Nguyễn
Văn Thiệu là người bị dồn vào chân tường, và sau đó có nhiều quyết định chính trị
và quân sự gây nên tranh cãi, còn khả năng lãnh đạo thì bị nghi ngờ. Tác giả cũng
nhận xét Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không dám chống lại áp lực của Johnson
và Nixon vì bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Sách còn cho thấy tầm quan trọng của chữ nghĩa trong những văn kiện ngoại giao
giữa các quốc gia nơi trang 410. Đó là bản Thông Cáo Chung giữa Richard Nixon
và Nguyễn Văn Thiệu khi hai Tổng Thống gặp nhau tại San Clemente, California
hai ngày 2-3 tháng Tư năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris đã được ký kết.
Thông Cáo Chung có một câu, nguyên văn: “Actions which would threaten the
basis of the Paris Agreement would call for appropriately vigorous reaction.”
(Những hoạt động đe dọa căn bản của Hiệp Định Paris sẽ dẫn đến những phản
ứng mạnh mẽ thích hợp.)
Phái đoàn Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu yên trí rằng “những phản ứng” dĩ nhiên
là từ phía Hoa Kỳ. Nhưng khi Phái Đoàn Việt Nam rời Mỹ, các viên chức Hành
Pháp Hoa Kỳ giải thích ngay rằng bản Thông Cáo Chung không hề ghi nhận ai là
phía sẽ phản ứng, hàm ý phản ứng nếu có là phiá Việt Nam Cộng Hòa mà thôi.
Thật là một bài học cho kinh nghiệm thương thảo mà những kẻ có trọng trách với
đất nước nhưng thiếu thông minh, thiếu kinh nghiệm, và thiếu cảnh giác đã bị lừa
phỉnh dễ dàng khi người đối diện có hậu ý.
Trường hợp này là hậu ý chạy làng của chính quyền Mỹ!
Về phương diện sự kiện, sách có những khác biệt có khi mâu thuẫn với những gì
mà các tác giả khác đề cập đến. Điển hình là vụ Chennault (sđd, tr. 165).
Nguyễn Tiến Hưng, một người đồng thời với tác giả, đã cho biết người trung gian
cho Richard Nixon “ve vãn” Nguyễn Văn Thiệu đừng tham gia hòa đàm Paris để
chờ Nixon lên làm Tổng Thống là bà Anna Chennault và đại sứ Bùi Diễm (Khi
Đồng Minh Tháo Chạy, California, Hứa Chấn Minh xb, 2005, tr. 36). Tác giả
Nguyễn Tiến Hưng từng gặp bà Chennault sau năm 1975 và viết rõ là “Anna
Chennault thăm viếng Sài Gòn thường xuyên vào năm 1968...” (sđd, tr. 37) và hai
cơ quan tình báo Mỹ, tức CIA và FBI, “có đầy đủ những phúc trình về cuộc điện
đàm giữa bà Chennault và Sài Gòn.” (sđd, tr. 38)
Còn Nguyễn Phú Đức cho biết cụ quen biết thân tình với bà Chennault từ những
năm 1965-66 và theo cụ, không hề có chuyện bà Chennault làm trung gian cho
Nixon liên lạc với Nguyễn Văn Thiệu vì bà Chennault không hề đề cập chuyện này
với cụ mà cụ cũng không hề nhận được văn thư giấy tờ gì.
Nguyễn Tiến Hưng và Nguyễn Phú Đức là hai thành viên của chính phủ Nguyễn
Văn Thiệu. Nguyễn Tiến Hưng là Tổng Trưởng Kế Hoạch, Nguyễn Phú Đức là Cố
Vấn Tổng Thống. Nay, cả hai đều nói quen biết thân tình với bà Anna Chennault,
nhưng một người nói bà Chennault làm trung gian cho Nixon ve vãn Nguyễn Văn
Thiệu để phá Đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 1968, và một
người nói không có chuyện này.
Để diễn tả vai trò của bà Chennault một cách chi tiết, tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã
liệt kê các hoạt động con thoi của Chennault trong các trang 36, 37, 38, 40, 49, 56,
128, và 419, cộng lại đầy 4 trang chữ in. Còn tác giả Nguyễn Phú Đức đề cập đến
bà Chennault trong 1/3 trang nơi trang 165.
Rõ ràng một trong hai người, cũng chính là hai tác giả viết sách lịch sử, hai “tổng
trưởng” thời Nguyễn Văn Thiệu, hai tiến sĩ tốt nghiệp tại Mỹ, đã không giữ được
sự trung thực!
Cuối cùng, điều đáng tiếc là vị Cố Vấn Ngoại Giao cho tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu viết sách bằng tiếng Anh, và vì thế phải nhờ người Mỹ sửa chữa cách hành
văn (nguyên văn: editing) và cách viết văn phạm đúng sai thế nào (nguyên
văn: corrections). Người Mỹ đó là Arthur J. Dommen.
Thiết tưởng giới lãnh đạo thời Đệ Nhị Cộng Hòa vốn có trách nhiệm với toàn thể
quân dân Việt Nam Cộng Hòa về hậu quả của Hiệp Định Paris 1973 thì phải tường
trình bằng Việt ngữ, sao lại ngoại ngữ, thưa cụ Nguyễn Phú Đức?
Tựa đề cũng không ổn. Saigon’s side of the story? Sao lại tên của một thành phố
mà không phải tên của một quốc gia, thưa Cụ?!
TRẦN ANH TUẤN
(Trong Sử Việt tại Bắc Mỹ 1975-2022)
CÙNG TÁC GIẢ: gõ vào mục tìm kiếm:
Trần Anh Tuấn
VĂN HÓA ONLINE - DIỄN ĐÀN 2 - THỨ BA 05 JULY 2022
Ý kiến/Bài vở vui lòng gởi về: [email protected]
Lịch sử lập cư
Vụ gian lận thẻ Y Tế năm 1984
TRẦN ANH TUẤN
Nhật báo East Bay Times phát hành tại thành phố Oakland, Bắc California số ra
ngày Thứ Ba 28.6.2022 đăng tin hai bác sĩ Mỹ bị tù vì lạm dụng quyền kê toa để
lấy tiền từ quỹ y tế của chính phủ liên bang.
Đó là bác sĩ Xiulu Ruan hành nghề ở Mobile, Alabama, và bác sĩ Shakeel Kahn
hành nghề ở Fort Mohave, Arizona và Casper, Wyoming. Ruan bị 21 năm tù, còn
Kahn bị 25 năm. Cả hai bị giam tại nhà tù liên bang.
Thật là những bản án quá nặng khiến tôi liên tưởng đến những bản án nhẹ của các
bác sĩ gốc Việt tại tiểu bang California năm 1984.
Đó là vụ gian lận quỹ y tế tiểu bang MediCal mà tổng cộng 51 người gồm bác sĩ,
dược sĩ, y sĩ châm cứu, trợ y, nhân viên văn phòng... bị bắt ngày Thứ Tư
15.2.1984, lúc 10 giờ sáng. Tổng cộng, cơ quan tư pháp đã ký 51 trát tống giam và
38 trát lục soát phòng mạch, tiệm thuốc, và tư gia.
Số người gian lận thuộc bốn quận hạt Santa Clara, Los Angeles, Orange, và San
Diego.
Ở San Jose có 5 bác sĩ cùng 2 bà vợ và 1 dược sĩ bị bắt. Hình ảnh bác sĩ Phan
Đông Tùng bị trói kích thước lớn 22cmX17cm được đưa lên trang nhất nhật
báo Mercury News, San Jose, ngày hôm sau, 16.2.1984 khiến tôi bất ngờ đến
choáng váng.
Ở Nam California, có tất cả 43 người bị bắt ở ba quận hạt Los Angeles, Orange, và
San Diego.
Lực Lượng Đặc Nhiệm điều tra gồm 10 nhân viên Medical Fraud Bureau (Văn
Phòng Gian Lận MediCal thuộc Bộ Tư Pháp Tiểu Bang) và 3 nhân viên
Department of Health Services (Bộ Y Tế Tiểu Bang). Nhưng trong ngày khám xét
và bắt giữ các can phạm thì cảnh sát địa phương tham gia tới hơn 150 người thuộc
các sở cảnh sát San Jose, Los Angeles, Westminster, Santa Ana, và San Diego.
Các đội đặc nhiệm đã khám phá những trường hợp gian lận cụ thể sau đây:
Bác sĩ gửi hóa đơn đòi bồi hoàn các dịch vụ y tế cho những bệnh nhân mà họ
không hề khám bệnh.
Bác sĩ kê toa cho bệnh nhân khỏe mạnh để họ mua thuốc ở tiệm do dược sĩ gốc
Việt làm chủ, rồi chuyển thuốc về Việt Nam, hoặc cho thân nhân hoặc bán chợ đen
trong nước.
Bác sĩ trả hoa hồng cho tài xế tìm mối và đưa đón người có thẻ Y Tế đến phòng
mạch.
Bác sĩ mua phiếu MediCal của các bệnh nhân để tồn trữ rồi lập hóa đơn đòi tiểu
bang bồi hoàn sau. Nguyên thẻ MediCal có phiếu hưởng dụng (coupons) được cấp
hàng tháng cho người thụ hưởng. Bác sĩ và nhà thuốc sẽ lấy những phiếu ấy dán
trong các hóa đơn mà họ đòi tiểu bang bồi hoàn qua cơ quan MediCal.
Tiệm thuốc gửi hóa đơn đòi MediCal bồi hoàn giá trị của loại thuốc đắt tiền, nhưng
thực tế là giao loại thuốc rẻ tiền cho người có thẻ.
Tiệm thuốc đổi toa thuốc cho bệnh nhân bằng hàng hóa như vải vóc, thuốc lá, bánh
kẹo... trong tiệm rồi gửi hóa đơn đòi MediCal bồi hoàn dù tiệm không hề xuất một
viên thuốc nào.
Lực Lượng Đặc Nhiệm liệt kê một trường hợp gian lận mà họ cho là trắng trợn
nhất như sau: Một bác sĩ gửi rất nhiều hóa đơn đòi MediCal tiền bồi hoàn mà chưa
thấy trả lời. Viên bác sĩ này sợ rằng nhiều hóa đơn quá có nghĩa là bệnh nhân bị
bệnh quá nặng mà ở nhà thì vô lý nên đương sự gửi thêm một hóa đơn nữa, tính
tiền ông/bà ta đem bệnh nhân đến bệnh viện Clara County’s Valley Medical
Center.
Công cuộc điều tra gian lận MediCal lớn nhất trong cộng đồng gốc Việt tại tiểu
bang California được bắt đầu bằng thư nặc danh gửi cho một Giám Sát Viên Quận
Hạt Orange County hồi tháng 7.1981. Người nặc danh chỉ ký tên, nguyên văn: “A
Vietnamese refugee who wants to return a nice thing to this country. God bless
America.” (Một người tỵ nạn Việt Nam muốn đáp trả một việc tốt lành cho xứ sở
này. Cầu Trời phù hộ Hoa Kỳ.)
Sau đó, từ năm 1982, các cơ quan công quyền và cảnh sát liên tiếp nhận thêm
nhiều tin mách bảo (tips) và nhận thức đang đương đầu với một vụ gian lận
MediCal khổng lồ. Vì thế, một lực lượng đặc nhiệm được thành lập vào tháng
3.1983. Đến tháng 6.1983, thêm Sở Cảnh Sát San Jose gia nhập.
Lực Lượng Đặc Nhiệm tổ chức giăng bẫy. Họ tổ chức những mật báo viên đi điều
tra với thẻ MediCal ma, căn cước ma, và vợ con ma. Sở Cảnh sát San Jose cũng cử
một nữ cảnh sát gốc Việt đi điều tra. Nhóm người này thông báo lại nhiều trường
hợp cụ thể, cười ra nước mắt.
Như trường hợp nhân viên đến văn phòng một bác sĩ ở San Jose, khai là không có
bệnh gì, nhưng muốn có thuốc để lập tủ thuốc gia đình, và cần cả thuốc ngừa thai.
Người bác sĩ đó đồng ý giúp, lấy 5 coupons trong 5 thẻ MediCal ma và kê toa tổng
cộng 7 loại thuốc, trong đó có cả thuốc ngừa thai. Rồi bác sĩ đó lập hóa đơn đòi bồi
hoàn tiền khám bệnh (examining) và thử bệnh (testing) cho 5 người trong gia đình
ma đó.
Khởi đầu cuộc điều tra Kim’s Pharmacy -nhà thuốc duy nhất tại San Jose bị điều
tra hôm 15.2.1984- là thư nặc danh của một người có mối lo âu là, nguyên
văn: “because the government might be running out of money and might decide to
cut off medical card to the people who really need help.” (bởi vì chính phủ có thể
hết tiền và có thể quyết định cắt trợ cấp y tế cho những ai thực sự cần giúp đỡ.)
Vị nữ cành sát San Jose đến Kim’s Pharmacy với toa mua thuốc, nhưng nói với nữ
nhân viên tại đó là cần hàng hóa và thuốc trụ sinh. Người này cho biết toa thuốc
chỉ trị giá $30.00 và soạn cho “khách hàng” một hộp trà gói, một lọ trụ sinh
Erythromicin và một chai thuốc bao tử Maalox. Trước khi khách hàng đi ra, nữ
nhân viên đó nhắn là lần sau, hãy nói bác sĩ kê toa với các loại thuốc đắt tiền hơn!
Nhật báo Mercury News cũng đăng tin Vũ Thế Hùng, một bác sĩ ở Mountain View
khi biết vụ bố ráp gian lận MediCal đã tỏ ra không ngạc nhiên vì người này đã
nhiều lần cảnh cáo các bác sĩ đồng nghiệp tới mở phòng mạch tại San Jose. Theo
ông, gian lận MediCal sẽ có hậu quả là, nguyên văn: “It’s short-term gain for a
very high price.” (Đó là sự lợi lộc ngắn hạn nhưng giá rất đắt.) Dĩ nhiên, vị bác sĩ
này cho biết ông ta không biết cá nhân bác sĩ nào gian lận, nhưng cũng theo ông,
sự gian lận thì thật kinh khủng (horrible), nhất là ở miền Nam California.
Tại San Jose, số bác sĩ, dược sĩ... bị bắt giam lúc 10 giờ sáng ngày 15.2. đều được
trả tự do lúc 2 giờ sáng ngày 16.2.1984 mà không phải nộp tiền tại ngoại hầu tra.
Nhưng ở miền Nam California thì các bác sĩ phải nộp từ $50,000.00 đến
$250,000.00 tiền thế chân.
Thông tin về cuộc bố ráp và bắt giữ 51 người gian lận quỹ MediCal sáng ngày
15.2.1984 được báo chí và các đài vô tuyến truyền hình Mỹ lan truyền rộng rãi. Tại
Bắc California có các nhật báo tại San Jose, Oakland, San Francisco và các đài TV
địa phương. Tại Nam California có các nhật báo tại Los Angeles, Westminster,
Santa Ana, Orange, San Diego... và các đài TV địa phương.
Về phần báo chí Việt ngữ tại Bắc Californai có các tờ Tin Biển, Dân Tộc, Đất Mới,
Đồng Nai, Lam Sơn... Tại Nam California có Người Việt...
Riêng tờ Lam Sơn có Thư Tòa Soạn với hai kết luận đáng ghi lại. Một, có tính khôi
hài, là vụ gian lận này không do lỗi của ông thầy thuốc hay ông bào chế thuốc. Lỗi
cũng không phải do con bệnh có phiếu Y Tế gây ra. Mà lỗi là do, nguyên
văn: “Ông Thần Tài!” Hai, có tính cụ thể, là “Lịch sử y khoa hải ngoại người Việt
hoen ố khó phai mờ!”
Còn tuần báo Dân Tộc vì có ý bênh vực các bác sĩ gian lận, đã xuyên tạc bức hình
đăng trên Mercury News. Nguyên nhật báo MN đăng hình với chú thích “Dr. Tung
D. Phan, San Jose physician, reacts to attention of photographers as he is taken
for booking.” (Xin xem hình kèm theo). Nguyên văn như thế, nhưng “Thư Tòa
Soạn” của tuần báo Dân Tộc đã dịch như sau: “Điển hình cho sụ bóp méo sự thật
là một bức hình trên tờ Mercury News ngày 16.2.1984 với lời chú thích “Bác sĩ X.
lè lưỡi với các phóng viên sau khi bị bắt giữ.”
So sánh hai đoạn văn của Mercury News và Dân Tộc, độc giả sẽ thấy rõ là chính
tuần báo Dân Tộc mới là kẻ bóp méo sự thật!
Hình tài liệu TAT
Phản ứng lớn nhất của cộng đồng gốc Việt miền Bắc California là phiên họp tổ
chức tại Trung Tâm Cộng Đồng Công Giáo Giáo phận San Jose tối Thứ Sáu
17.2.1984.
Kết quả phiên họp của nhóm lấy danh xưng”Ủy Ban Đặc Nhiệm” là Bản Nhận
Định 4 điểm. Bản văn có chủ đích bênh vực những người phạm tội với ngôn từ
chung chung, như yêu cầu cơ quan tư pháp phải vô tư, phi chính trị, như yêu cầu
mọi người trong cộng đồng Việt duy trì các giá trị đạo đức vốn là truyền thống của
người Việt...
Nhưng đây là luật pháp Hoa Kỳ nơi cơ quan hữu trách không thể bắt người mà
không có bằng chứng cụ thể với trát tòa. Huống chi nêu lên “các giá trị đạo đức
của truyền thống Việt” không gì khác hơn là chuyện trái khoáy. Đề cập đến đạo
đức với những người bị bắt vì gian tham có thích hợp không?!
Tài liệu TAT
Sự thật, chỉ những ai trong cộng đồng gốc Việt lập cư tại Hoa Kỳ sau ngày
30.4.1975 mới hiểu rõ sự phức tạp của vụ án gian lận này.
Trước hết, một khi đã thoát khỏi Việt Nam, việc đầu tiên mà người Việt đến được
Hoa Kỳ là tìm cách giúp thân nhân bạn bè còn lại trong nước đang bị tù đầy khốn
khổ trong các trại tù tập trung và cuộc sống khó khăn trăm điều của những ai trong
nhà tù lớn. Cho nên, thuốc tây, vải vóc, thuốc lá... là những món hàng thân nhân
trong nước rất cần vì bán được giá để sống còn.
Thứ đến, người tỵ nạn mới qua làm gì có tiền, nên mới tính việc lợi dụng thẻ Y Tế
để có quà miễn phí gửi về Việt Nam. Bác sĩ gốc Việt cũng hiểu hoàn cảnh của
người tỵ nạn mới đến định cư, nên giúp bằng cách kê toa mua thuốc dù người có
thẻ không có bệnh.
Sau cùng, người tỵ nạn đem toa đến pharmacy cũng do những dược sĩ gốc Việt làm
chủ để lấy thuốc và thêm vải vóc, thuốc lá... gửi về cứu đói thân nhân trong nước.
Cho nên, giúp đồng hương có quà gửi về giúp thân nhân trước hết là lòng tốt của
các bác sĩ gốc Việt. Nhưng đây cũng là chuyện hai bên cùng hưởng lợi: phía bác sĩ
sẽ lấy phiếu Y Tế để làm hóa đơn đòi MediCal bồi hoàn tiền khám bệnh và kê toa.
Rồi sự phạm pháp bắt nguồn từ lòng tham của con người. Nói như bác sĩ Vũ Thế
Hưng với ký giả Abby Cohn của nhật báo Mercury News ngày 16.2.1984: “For a
long time, MediCal is like money, you know. The money is there, they don’t see a
reason not to get it” (Từ lâu, MediCal là tiền, cô/chị/bà biết không. Họ (các bác sĩ
ở San Jose) không thấy lý do gì mà không lấy).
Trường hợp bị phạt nặng nhất là bác sĩ Nguyễn Trường Xuân ở Anaheim, Nam
California. Ông này bị 3 năm tù do phán quyết của quan tòa Phillip Cox tại pháp
đình West Orange County Municipal Superior Court cuối năm 1984.
Theo cáo trạng, bác sĩ Xuân đã gian lận chương trình MediCal hơn $600,000.00 từ
tháng 1.1983 đến tháng 2.1984. Tệ nhất là viên bác sĩ này đã gửi hóa đơn đòi
MediCal bồi hoàn tiền chữa bệnh và kê toa tại phòng mạch ở California khi ông ta
ngụ tại khách sạn ở Las Vegas để đánh bạc! Phó chưởng lý Carla Singer trong
phiên tòa cho biết đương sự đã thua hơn 2 triệu Mỹ Kim trong các sòng bài trong
hai năm 1983-84.
Nguyễn Trường Xuân đã thú nhận tội ăn cắp với trường hợp gia trọng (quá
$100,000.00) hồi tháng 9.1984. Trước tòa, luật sư của bị cáo là Dennis M. Warren
đã thuyết phục quan tòa xử theo tội hộ, mà không phải tội hình. Kết quả là một bản
án nhẹ cho bị cáo Xuân, với thời gian mất tự do trong nhà tù tiểu bang.
Đúng vậy, gian lận chỉ là tội ăn cắp, nên bản án xử phải bồi hoàn tiền cho công quỹ
và phạt vạ là chính. Hậu quả quan trọng nhất là tội gian lận không làm chết ai, trái
với trường hợp hai bác sĩ Xiulu Ruan và Shakeel Kahn đã đề cập đầu bài viết này.
Hai bác sĩ đó bị buộc tội hình vì kê thuốc giảm đau quá liều cho bệnh nhân nghiện
ma túy khiến nhiều người tử vong nên phải vào nhà tù liên bang mỗi người hơn hai
thập niên. Nhưng may cho hai bác sĩ này là Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán
quyết ngày Thứ Hai 27.6.2022 là Tòa Phá Án phải xử lại để xét các bị can có hành
vi hình tội (criminal behavior) hay chỉ là quyết định sai lầm vì ngay tình (medical
errors made in good faith).
Trong thực tế, cũng theo nhật báo East Bay Times ngày 28.6, chỉ một năm, năm
2014, hai người viết tới 66,892 toa thuốc giảm đau để thâu đoạt công quỹ tổng
cộng 20 triệu, tính từ năm 2012 đến năm 2014 thì phán quyết của cái-gọi-là Tối
Cao Pháp Viện nay đã trở thành một cơ cấu mất tư cách trong hệ thống quyền lực
tại Hoa Kỳ.
Nói như chính ba thẩm phán Tối Cao Pháp Viện có khuynh hướng Tự Do Tiến Bộ
(thường gọi là Liberals và Progressionists) về sáu thẩm phán của Đảng Cộng Hòa
(theo tôi, không phải là Conservatives mà là Euro-centrists) đã và đang bảo vệ
quyền lực của người Mỹ gốc Âu Châu và áp đặt những tiêu chuẩn Thiên-chúa-giáo
vào đời sống công, nguyên văn được ghi lại trong East Bay Times ngày 2.7.2022,
trang A6: “The majority thereby substitutes a rule by judges for the rule of law!”
(Nhóm đa số (trong Tối Cao Pháp Viện) vì thế thay thế quy củ của pháp luật bằng
phán quyết của thẩm phán!)
Trần Anh Tuấn
Ngày Lễ Độc Lập 2022
(Trong dự án Lịch sử cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ 1975-1990)
Vài hình ảnh tháng Tư 1975 (1)
TRẦN ANH TUẤN
Tháng Tư hàng năm lại đến, nhắc nhở người dân Việt Nam Cộng Hoà biến cố đau
thương trong năm 1975, khi một viên đại tướng lên tiếng đầu hàng vô điều kiện
các binh đoàn Cộng Sản Bắc Việt.
Và trước cả ngày có lời tuyên bố đầu hàng, đã có đến 2 đại tướng khác, 16 trung
tướng, và 5 thiếu tướng bỏ hàng quân mà cao chạy xa bay ra khỏi quê hương đất
nước. Đây là hiện tượng duy nhất chỉ xảy ra một lần trong suốt hai ngàn năm lịch
sử quân sự của dân tộc Việt, tính từ thời Trưng Nữ Vương (40-43) đến nay.
Hình ảnh Dương Văn Minh ngày 28.4.1975 ngay sau khi nhận chức "tổng thống"
tại Dinh Độc Lập. (Bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT)
Khi chủ tướng bỏ chạy như "chuột" -lời trung tướng Vĩnh Lộc quyền tổng tham
mưu trưởng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn ngày 28.4.75- thì rất nhiều sĩ quan cấp tá
và úy cùng binh sĩ đã tự sát để bảo toàn danh dự.
Họ tự sát một mình, như một trung úy phi công từ phi trường Bình Thủy, Cần
Thơ được lệnh lái oanh tạc cơ lên tiêu diệt đoàn chiến xa Bắc Việt đang tiến vào
Sài Gòn qua ngả Ngã Tư Bảy Hiền. Khi hết bom đạn và bình săng đã cạn, Anh
quay về phi trường thì được tin đại tướng của Anh đã đầu hàng vô điều kiện. Anh
hiên ngang bay vút lên trời xanh, xa lánh loại người tham sanh úy tử dưới mặt địa
cầu. Hay như một binh sĩ với khẩu đại liên một thân một mình cởi trần mặc áo giáp
ngạo nghễ trụ trên đỉnh Đèo Hải Vân ngăn chặn các binh đoàn Cộng Sản. Hay tự
sát như Trung Tá Nguyễn Văn Long dưới chân tượng Thủy Quân Lục Chiến trước
trụ sở Quốc Hội VNCH ở Sài Gòn.
Hay tự sát như những nhóm quân nhân thuộc nhiều binh chủng, nhất là Nhẩy Dù,
đứng chụm thành vòng tròn rồi cho nổ lựu đạn để nắm tay nhau cùng chết, tạo ra
những vòng tròn bất tử trong tháng 4.1975. Đúng 13 năm sau, vào tháng 3.1988 lại
thêm một vòng tròn bất tử của 64 thanh niên thuộc thế hệ sau, khi quyết tâm bảo vệ
biển đảo của nước nhà, đã quay thành vòng tròn để bảo vệ lá cờ của Việt Nam hiện
tại ở giữa, chống lại bọn giặc Tàu xâm lược nên bị chúng thảm sát tại bãi đá Gạc
Ma thuộc quần đảo Trường Sa.
Hay tự sát cùng toàn thể gia đình, như Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh cùng Phu Nhân và
bẩy người con -2 người con trai và 5 người con gái- mà người con cả là Trung Úy
Đặng Trần Vinh ở vùng Ngã Ba Ông Tạ Sài Gòn...
Lại cần phải nói đến một sự kiện làm toàn quân toàn dân VNCH kính ngưỡng, là
bên cạnh hình ảnh không đẹp mắt của nhóm tướng bỏ chạy là năm vị tướng không
để địch quân làm ô uế thanh danh nên đã tự sát theo truyền thống của tướng lãnh
Việt Nam từ ngàn xưa: "Tướng giữ thành, thành mất, mất theo thành." Đó là quí vị
Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Văn Hưng, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng
Phạm Văn Phú, và Tướng Lê Nguyên Vỹ. Riêng trường hợp Tướng Lê Nguyên
Vỹ, không những Ông đã đền nợ nước một cách oai hùng tại bản doanh Sư Đoàn 5
QLVNCH nơi Ông làm Tư Lệnh, mà Phu Nhân của Ông cũng đã rất xứng đáng
với Ông. Bà quả phụ Lê Nguyên Vỹ sau này tại hải ngoại đã chia sẻ là cái chết của
chồng Bà là cái chết phải có và nên có!
Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tự sát dưới chân tượng Thủy Quân Lục
Chiến tại tiền đình trụ sở Quốc Hội VNCH. Hình AP chụp ngày 30.4.1975 trong
bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT.
Còn số đông dân chúng Sài Gòn tìm mọi cách di tản khỏi miền Nam để tránh nạn
Cộng Sản đang ập tới. Có người bám theo nhân viên Toà Đại Sứ Mỹ. Nhiều người
lên tầu Hải Quân và các thương thuyền tại bến Bạch Đằng. Có người lái trực thăng
ra khơi. Có phi công ḷ ái máy bay Cessna bé nhỏ cùng gia đình 7 người đáp xuống
một hàng không mẫu hạm trên Biển Đông. Đó là cú hạ cánh đầu tiên, duy nhất, và
thành công của một thiếu tá không quân QLVNCH trên tập đoàn hàng không mẫu
hạm của Hoa Kỳ và chắc chắn của toàn thế giới.
Về quy củ, duy nhất chỉ có Hải Quân QLVNCH tập trung được một hải đoàn 22
chiến hạm chở khoảng 30,000 quân và dân thoát đến Phi Luật Tân ngày 7.5.1975.
Khi gần cập bến, hải đoàn này đã có buổi lễ hạ kỳ VNCH một lần và mãi mãi trên
toàn thể 22 chiến hạm. Một buỗi lễ hạ kỳ đẫm nước mắt vì buồn tủi, uất ức, và căm
hờn ngoài khơi vịnh Subic Bay!
Vài khuôn mặt di tản đầu tiên đến Mỹ trong Trại Thủy Quân Lục Chiến Camp
Pendleton, Nam California. Hình AP chụp ngày 1.5.1975 trong bộ sưu tập Hình
Ảnh Thời Sự TAT.
Nói chung, số người di tản vào cuối tháng 4.1975 bao gồm:
1. Trung tướng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
2. Đại tướng thủ tướng Trần Thiện Khiêm.
3. Đại tướng tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên.
4. Nhóm tổng bộ trưởng và tổng giám đốc trong chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
5. Nhóm tướng tá bỏ chạy.
6. Nhóm không quân có máy bay di tản.
7. Nhóm hải quân có tàu bè di tản.
8. Nhóm làm giầu trong chiến tranh có tiền mua giấy tờ xuất ngoại, hay có Mỹ kim
mua chuộc quân nhân và nhân viên Toà Đại Sứ Mỹ.
9. Những người làm công cho sở Mỹ, như tài xế, thư ký, nhân viên các ngành...
điển hình là gia đình một bác tài ở xóm Đình Phú Thạnh gần rạp hát Nam Quang,
đường Lê Văn Duyệt Sài Gòn, gần nhà tôi ở.
10. Những người Việt có liên hệ với Mỹ, như liên hệ hôn nhân, hay quen biết làm
ăn với Mỹ.
11. Những làng ngư phủ công giáo do các linh mục tổ chức ra đi.
12. Những người tình cờ có mặt tại bến tàu.
(Tôi ghi chức vụ của trung tướng Nguyễn Văn Thiệu là tổng thống, đại tướng Trần
Thiện Khiêm là thủ tướng và đại tướng Cao Văn Viên là tổng tham mưu trưởng dù
khi bỏ chạy, họ đã không còn nắm những chức vụ đó. Lý do là họ chỉ bỏ chạy
thoát thân vào phút chót, và tháo lon bỏ chức chỉ là cách trút trách nhiệm cho
người khác! Nhận định trong sử học không phải là nhận định hời hợt, hay chủ
quan, hay cố chấp theo tài liệu, mà phải nhận định cho rõ bản chất của con người
và sự kiện!)
Nụ cười thỏa mãn (xem hình!) của trung tướng Nguyễn Văn Thiệu tại phi trường
Đài Bắc ngày Thứ Sáu 19.9.1975 trên đường sang Luân Đôn thăm gia đình sau
5 tháng trốn chạy sang Đài Loan. Đến Anh, ông mua một biệt thự 7 phòng
ngủ ở vùng phong cảnh hữu tình (nguyên văn: leafy) Wimbledon. Hình do hãng
UPI chụp trong bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT.
Đợt di tản tháng 4.1975 vắng bóng đại đa số trí thức Việt Nam vốn không muốn có
liên hệ với người Mỹ suốt thời Việt Nam Cộng Hoà (1954-1975) vì họ nhận định
các viên chức Toà Đại Sứ Mỹ là những phù thủy chính trị thực dụng đáng khinh,
và những thanh niên trong quân đội Mỹ không hiểu biết ngôn ngữ và văn hoá Việt,
nên vào miền Nam chỉ làm bại hoại xã hội Việt. Cũng vắng bóng những quân nhân
công chức cấp trung và cấp dưới vốn bị cấp trên trước khi trốn chạy đã ra lệnh cho
họ phải tử thủ (giới quân nhân) hay không được rời bỏ nhiệm sở (giới công chức).
Dĩ nhiên, quảng đại quần chúng -trừ một số không hiểu biết Cộng Sản hay có ảo
tưởng về chế độ Cộng Sản- không có phương tiện di tản, đều bị bỏ lại.
Mãi đến năm 1978, sau những đợt đánh tư sản miền Nam -một hình thức chiếm
chiến lợi phẩm- thất bại vì không tịch thu được nhiều của cải vàng bạc qúy kim của
dân VNCH như dự tính của Bộ Chính Trị, chính quyền Cộng Sản Việt Nam mới tổ
chức thu vàng cho người gốc Tàu lẫn người Việt ra đi tạo nên phong trào thuyền
nhân.
Chính nhờ phong trào này, người Việt thuộc nhiều thành phần có cơ hội ra đi, nhất
là:
1. Trí thức các ngành nha y dược, giáo dục, hành chánh, khoa học, kỹ thuật...
2. Giới trung lưu có vàng đóng cho Công An và tư nhân tổ chức vượt biển vượt
biên.
3. Quân nhân ra khỏi các trại tập trung, nhất là những sĩ quan hải quân.
4. Giới ngư phủ dọc theo duyên hải sẵn có tàu thuyền.
5. Những kẻ láu lỉnh biết "căn me," tức là những người dò biết được thời gian và
địa điểm lên ghe vượt biển thì trà trộn để đi theo.
Do đó, dù nhóm người Việt di tản cuối tháng 4.1975 hay nhóm người Việt thuyền
nhân từ năm 1978 về sau cũng đều gồm đủ các thành phần trong xã hội VNCH.
Hình ảnh Khương Hữu Điểu, "bố già" của giới cựu sinh viên du học tại Mỹ. Hình
AP chụp ngày 2.5.1975 tại California, khi ông Điểu diễn tả cảnh ông đã bỏ lại tài
sản và những ngày huy hoàng tại Sài Gòn để chỉ mang theo được một túi sách.
Đây là nhân vật từng nổi tiếng thời VNCH khi lấy ảnh hưởng Mỹ can thiệp với
chính quyền quân nhân cho các cựu sinh viên du học Mỹ không phải đi quân dịch
vì họ, nguyên văn trong hồi ký của ông năm 2017 tựa đề Đông Gặp Tây. Tung
Cánh Từ Trời Nam Hành Trình qua Chiến Tranh và Hoà Bình là "Dream
Team, Chuyên Viên Lý Tưởng, G̀ à Nòi." Rồi lý luận "không ai đem gà nòi ra giết
thịt" để biện minh cho nhóm thanh niên trong thời chiến này phải được miễn quân
dịch. Thế thì theo ông Điểu, những người xuất thân đại học trong nước là loại
"gà chết, gà đ̀ ông lạnh, gà nuốt dây thun, gà kẹt giỏ" (sách đã dẫn, trang 575) hay
sao, mà họ phải thi hành quân dịch, một bổn phận căn bản của công dân biết tôn
trọng luật pháp quốc gia? Ngay cá nhân Khương Hữu Điểu, đang làm cho hãng
tư Esso cũng bỏ Esso để làm cho Công Ty Đường Hiệp Hoà, một liên doanh công
và tư để hoãn dịch từ năm 1961, phải không?! Thực ra, cảnh trốn lính của bọn
nhà giầu hay những kẻ có quyền thế thì nước nào cũng có và thời nào cũng xảy ra
do bản chất ham hưởng thụ và sợ khó sợ khổ sợ chết của bọn này. Trump,
Clinton, Bush Con đều trốn lính trong thời Chiến Tramh Việt Nam là bằng chứng
ở Hoa Kỳ. (Bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT)
Trong thập niên 1980, một số người Việt hoạt động xã hội và giáo dục tại Hoa Kỳ
đã chia thành phần di dân gốc Việt ra làm hai loại mà họ gọi là hai làn sóng di dân.
Theo họ, làn sóng di tản hồi tháng 4.1975 gồm những thành phần thượng lưu trí
thức. Còn làn sóng thuyền nhân sau đó bao gồm những thành phần hỗn tạp và ít
học.
Đã có người trong "làn sóng thứ nhất" viết truyện tưởng tượng ra cảnh xử án tại
Mỹ thì ghi can phạm "thuộc thành phần thuyền nhân," làm như Thuyền Nhân là
thành phần bất hảo hay cùi hủi, người khác thì lên giọng "Tôi ở hải ngoại
đã lâu..." Đó là bằng chứng của thứ tâm trạng bệnh hoạn trong cộng đồng gốc Việt
tại Hoa Kỳ trong thập niên 1980.
Thực tế cho thấy sự phân tích thành hai làn sóng di tản với những hơn kém khác
nhau chẳng qua chỉ là sự phân tích chủ quan và tài tử, không những đã không phản
ánh sự thật lịch sử mà còn chất chứa một niềm tự hào không chính đáng của những
kẻ nhanh chân trốn chạy trước hơn ai hết, bỏ cả thân nhân, bạn bè, đồng đội, và cấp
dưới. Sự phân tích tài tử này còn phân hoá một cộng đồng vốn nổi tiếng về vấn đề
chia rẽ.
May mắn là lâu nay, tôi không còn thấy ai nhắc đến cái gọi là sự phân tích này
nữa, cũng có nghĩa là cộng đồng gốc Việt tại Mỹ đã bớt được một mầm mống gây
chia rẽ.
Em bé tỵ nạn đầu tiên sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ có lẽ là Vũ Tha
Hương Jacqueline hồi 10g sáng ngày 1.5.1975 tại bệnh viện Hải Quân Guam. Tha
Hương đã và đang thành công trong xã hội Hoa Kỳ. Hình chụp tháng 11.2016
ngày Tha Hương (thứ hai từ phải, đứng giữa cha mẹ, bác sĩ Vũ Trọng
Tiến&Thanh-Bình, hình do gia đình gửi cho người viết) sau lễ tuyên thệ nhậm
chức Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Thống Nhất Washington nhiệm
kỳ 2016-2020, West Sacramento, California. Người đứng bìa trái là Tổng Giám
Đốc Học Khu.
Thời thế đổi thay, ngày 20.7.1977, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu với
đa số tuyệt đối chấp thuận cho nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam làm
thành viên. Cần nói thêm là trước đó nửa năm, CNXHCNVN đã không được nhận
làm hội viên Liên Hiệp Quốc vì sự bác bỏ của Phái Đoàn Mỹ ngày 15.11.1976.
Bây giờ, những hình ảnh thời sự dưới đây được phổ biến để trả lời những ai còn
mơ màng chuyện thi hành Hiệp Định Paris 1973, hay tranh cãi sự tồn tại của chính
thể Việt Nam Cộng Hoà!
Còn một vấn đề nữa, là danh hiệu lá cờ vàng ba sọc đỏ. Đây chính là lá quốc kỳ
của tất cả những người Việt sống trong nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà trên dải
giang sơn từ sông Bến Hải đến mũi Cà Mâu, với quốc ca là bản Thanh Niên Hành
Khúc Nhưng từ sau ngày 30.4.1975, lá cờ này không còn là quốc kỳ của quốc gia
nào, vì chính thể Việt Nam Cộng Hoà đã sụp đổ.
Từ đó, lá cờ chỉ có thể là biểu tượng của cộng đồng gốc Việt tại hải ngoại! Hãy
mệnh danh đó là Lá Cờ Tự Do của tất cả những ai phải bỏ nước ra đi để tránh nạn
Cộng Sản!
Nói cách khác cho rõ ràng hơn, lá cờ vàng ba sọc đỏ nay không còn là lá quốc kỳ
của nước Việt Nam Cộng Hoà, mà là lá cờ Tự Do biểu tượng của cộng đồng gốc
Việt tại hải ngoại.
Hình chụp ngày 20.7.1977, lúc Đinh Bá Thi, quan sát viên thường trực của Cộng
Sản Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, đầu hói đứng lom khom đầu bàn của Hội Đồng
Bảo An ngay sau khi nước CHXHCNVN được bầu làm hội viên LHQ. Hình do
Brian A. Keystone chụp trong bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT.
Cờ CHXHCNVN (giữa) được treo tại trụ sở Liên Hiệp Quốc, hình do Brian A,
Keystone chụp ngày 21.9.1977. (Bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT)
Còn khăng khăng xác định trên giấy tờ hay trong những bài báo, bài viết, bài diễn
văn nơi công cộng... lá cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà thì
chúng ta sẽ không thể biện minh cho sự hiện hữu của lá cờ trong thực tế bây giờ và
nhất là trước công pháp quốc tế. Hơn nữa, xác định sự kiện này không gì khác hơn
là tiếp đạn cho những ai chủ trương xóa bỏ lá Cờ Vàng để họ bắn lại... mình!
Dĩ nhiên, trong tâm tư tình cảm mỗi người tỵ nạn chúng ta -tỵ nạn chính trị chứ
không phải loại tha phương cầu thực- thì lá cờ vàng ba sọc đỏ và bản Thanh Niên
Hành Khúc vẫn mãi mãi là quốc kỳ và quốc ca thiêng liêng của nước Việt Nam
Cộng Hoà như thủa nào.
Mặt tiền Toà Đại Sứ VNCH tại Washington D.C. chụp ngày 1.5.1975. Chú thích
bức hình, hãng thông tấn AP nhận xét thấy lá quốc kỳ VNCH không còn trên cán
cờ ở tầng hai của Toà Đại Sứ từ hôm Thứ Tư, 30.4.1975. Nếu vậy, quyết định của
đại sứ bấy giờ là Trần Kim Phượng cũng đúng, là phải theo lệnh đầu hàng vô điều
kiện của "tổng thống" họ Dương, và một khi chế độ sụp đổ thì không còn cần biểu
tượng gì nữa! (Bộ sưu tập Hình Ảnh Thời Sự TAT)
"Thiêng liêng," vì trong đời sống thường nhật, tất cả các học sinh trung và tiểu học
trên toàn cõi VNCH xếp hàng lớp nào ra lớp nấy, nghiêm trang chào cờ và hát
quốc ca trong sân trường mỗi ngày Thứ Hai đầu tuần trước sự chứng kiến của Hiệụ
Trưởng và toàn ban Giáo Sư.
Hơn thế nữa, "Thiêng liêng," vì hàng ngày suốt từ đầu năm 1961 cho đến ngày
30.4.1975, biết bao thanh niên tươi trẻ tuấn tú đã trở thành tử sĩ dưới lá cờ vàng ba
sọc đỏ và trong bộ quân phục Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà để bảo vệ miền Nam
Tự Do chống lại Cộng Sản Bắc Việt chủ trương võ trang xâm chiếm VNCH qua
việc khai phá Đường Mòn Hồ Chí Minh theo chiều dọc của dẫy Trường Sơn bắt
đầu ngày 19.5.1959 để chuyển quân lính cùng võ khí vào miền Nam và thành lập
Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam ngày 20.12.1960.
Nhân đây, tôi nhắc lại những cái tang bi hùng mà những người quả phụ son trẻ
miền Nam phải gánh chịu trong cuộc chiến bảo vệ Tự Do và chế độ Dân Chủ của
quân và dân VNCH:
Ngày mai đi nhận xác chồng,
Say đi để thấy mình không là mình!
Lý Thụy Ý
Vì thế, đã là người tỵ nạn chính trị hay các thế hệ con cháu tiếp nối, chúng ta phải
bảo vệ Lá Cờ thiêng liêng. Muốn bảo vệ sự hiện hữu của Lá Cờ ấy nơi hải ngoại
được thành công thì nhiệt tâm nhiệt tình hay tận tâm tận lực vẫn chưa đủ, mà phải
già dặn về chính trị!
Cuối cùng, quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa dịch sang Anh ngữ phải là "Republic
of Vietnam" mà tài liệu chính thức hay sách báo Mỹ trước và sau năm 1975 đều
gọi tắt là RVN, chứ không thể dịch sai một cách tai hại thành "Republic of South
Vietnam," vì danh từ này dịch ngược sang Việt ngữ sẽ là "Cộng Hoà Nam Việt,"
hay "Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam." Trong trường hợp này, vô hình trung chúng
ta đã trở thành... Việt Cộng hết ráo, vì CHMNVN chính là tên do V.C. đặt cho
phần đất thuộc VNCH, đối với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở miền Bắc!
Republic of Vietnam (Việt Nam Cộng Hoà, tem bên trái) Republic of South
Vietnam (Việt Cộng, tem bên phải. (Bộ sưu tập bưu hoa TAT)
TRẦN ANH TUẤN
10.4.2019
Đọc Chinh Chiến Điêu Linh của phóng viên Kiều
Mỹ Duyên
TRẦN ANH TUẤN
Kiều Mỹ Duyên là bút hiệu của một nữ sinh trung học Trưng Vương và sinh viên
Luật Khoa, Viện Đại Học Sài Gòn. Nhưng bà không hành nghề chuyên môn, mà
trở thành nữ phóng viên chiến trường gan dạ và xông xáo cho các nhật báo ở Sài
Gòn trong một thời gian dài, hơn 10 năm, cho tới ngày 30.4.1975.
Bà vượt biên rất sớm, và thoát khỏi Việt Nam ngay từ năm 1976. Định cư tại tiểu
bang California, bà trở lại trường và đi vào ngành địa ốc từ năm 1984. Sau hơn 5
năm gây dựng cuộc sống mới nơi xứ người, bà nhờ một số thân hữu trong giới nhà
văn nhà báo sưu tầm tài liệu để xuất bản Chinh Chiến Điêu Linh năm 1994.
Sách do tác giả tự xuất bản, có nhà thơ Nguyên Sa viết tựa, có hoạ sĩ Tạ Tỵ vẽ bìa,
có nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cung cấp hình ảnh, nhưng nội dung cho thấy
sách không gì khác hơn là chép lại những bài báo của tác giả trong những năm
đầu thập niên 1970 khi còn ở trong nước.
Thật vậy, chính tác giả là người tiết lộ sự việc này, khi bà cám ơn Nguyễn Hoà,
một nhân viên người Việt làm việc tại Library of Congress, tức Thư Viện Quốc
Hội Hoa Kỳ ở Wasington D.C., đã cung cấp tài liệu.
Bìa sách Chinh Chiến Điêu Linh của phóng
viên Kiều Mỹ Duyên. (Tủ sách TAT)
Theo tôi đoán định, tài liệu đó là những số báo Công Luận, Hoà Bình, và Trắng
Đen trong ba năm 1970-72 vì sách gồm những trang in mà thời điểm ghi rõ ba năm
ấy, và phần giới thiệu tác giả ở trang bià sau ghi tên ba nhật báo kể trên.
Lấy vài thí dụ cho phép tôi kết luận sách chỉ là những bài phóng sự của tác giả
trong thập niên 1970 chứ không phải sách được viết trong thập niên 1990 và xuất
bản năm 1994.
Nơi trang 71, tác giả ghi nguyên văn: "Buổi sáng, sau khi gửi bài về toà soạn, tôi
đến thăm đồng bào từ Quảng Trị chạy về Huế." Sách xuất bản năm 1994 thì còn
toà soạn nào mà gửi nữa?
Hay trang 103-04: "Cho đến hôm nay..., vừa đặt chân đến Huế... Chúng tôi đến
thẳng nơi Liên Đoàn (tức Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân). Các đơn vị đang thi tài
một cách hào hứng..." Hay trang 182: "Hôm nay là ngày 7 tháng 2 năm 1972, tôi
ra thăm thị trấn Gio Linh..." Rồi trang 121-23: "Hôm nay là ngày 5 tháng 7 năm
1972. Một ngày nắng thật đẹp... Đến 11 giờ, dòng sông Mỹ Chánh hiện ra trước
mắt..."
Thời gian và cả thời tiết như thế, còn gì rõ ràng cụ thể hơn?!
Những gì tác giả cập nhật trong thập niên 1990 tại Hoa Kỳ có lẽ chỉ là những tiểu
tựa đượm vẻ hoa mỹ khi đời sống đã an toàn và sung túc nơi xứ người, ngược hẳn
với máu lửa và hy sinh trong các phóng sự chiến trường ngày nào của tác giả. Đó
là những tiểu tựa Viên đạn đã lên nòng trang 17, Chiều mưa trên đồi sim trang
99, Bên dòng sông Dabla trang 217, Trên đỉnh Chu Pao trang 245, Chàng từ khi
vào nơi gió cát trang 381...
Ngay người viết Tựa với lối văn kiểu cách bóng bẩy rồi kết luận, nguyên văn nơi
trang 13: "Tôi rất yêu cuốn sách này của Kiều Mỹ Duyên" cũng không thành thật
với độc gia,̉ vì ông hẳn phải biết nguyên ủy của tập giấy in dầy 400 trang mà tác
giả nhờ ông viết Tựa!
Trở lại với loạt phóng sự đương thời của ký giả Kiều Mỹ Duyên được in lại thành
sách, người đọc sẽ được biết một số trận chiến của Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục
Chiến, Biệt Cách Dù, Biệt Động Quân, Không Quân, các sư đoàn bộ binh, và địa
phương quân trong những năm 1970 trên toàn cõi VNCH, từ Quảng Trị cho đến
Cần Thơ, Chương Thiện, và cả bên đất Cam Bốt.
Đây là những chiến thắng của nhiều binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng
Hoà mà một người lính có thể đối đầu với 5-3 bộ đội miền Bắc non trẻ, ốm o, ngơ
ngác mà tôi thấy trên đường Hồng Thập Tự ngay cửa Vườn Tao Đàn giữa Sài Gòn
ngày 30.4.1975.
Chính những chiến thắng đó đã giữ cho VNCH không mất một tỉnh nào, hay một
quận nào trong suốt thời gian 1960-75.