The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Tuongvi Tran, 2026-05-25 13:20:11

Thế Sự Thăng Trầm - Bảo Anh Trần Tưởng Vi- Second Edition 2024

Memorial and Education

250 Thế Sự Thăng Trầm Đang Ở Nơi KhácTrong những trường hợp phạm tội đại hình, Luật Sư của bị cáo cũng như các Thẩm Phán, để ý nhiều nhất đến chữ alibi, chữ La tinh có nghĩa là ở nơi khác (elsewhere). Một người, nếu có bằng chứng xác định được chắc chắn, là đang ở nơi khác vào cùng lúc có một vụ giết người xẩy ra, ở một nơi này, sẽ không thể nào là hung thủ được và không thể bị buộc tội đã giết người.Thí dụ: Trường hợp một người vào ngày N, giờ G đang nằm trên bàn mổ được các bác sĩ giải phẫu, thì không thể nào có thể là hung thủ đã giết người ở địa điểm nào đó vào cùng thời điểm.Phương pháp dùng Alibi, để nói rằng mình vô tội, không phải chỉ thời nay mới có.1. Một người trong sử sách Trung Quốc thường được ca tụng là một vua tài giỏi, đã sử dụng phương


Trần Bảo Anh 251pháp này khi muốn giết tất cả những bề tôi xuất chúng đã giúp ông rất nhiều năm, để lên ngôi báu.Lưu Bang, vốn là một đứa rượu chè nơi huyện Bái, được nhiều mưu sĩ và tướng giỏi giúp, đánh nhau với Hạng Võ.Khi Hàn Tín bỏ Hạng Võ đi sang chỗ Lưu Bang, Lưu Bang rất mừng và phong làm Đại Tướng.Bang hỏi: “Sức ông chỉ huy được bao nhiêu quân?” Hàn Tín đáp: “Đa đa ích thiện” tức là càng nhiều càng tốt. Hàn Tín là vị tướng tài ba nhất của Lưu Bang.Hàn Tín cầm quân, đánh bại nước Sở. Lưu Bang lên ngôi, lập ra nhà Hán.Bang là một kẻ tính tình bạc ác, cực kỳ bất nhân, rất thâm hiểm, che dấu bản tính thật của mình một cách tài tình.Khi đã lên ngôi, Lưu Bang tìm cách giết tất cả những người tài giỏi đã giúp mình.Vì thế trước khi đi xa tới hai miền Triều, Đại, đã dặn dò vợ là Lã Hậu kế sách.Ít hôm sau, Hàn Tín theo các quan vào triều kiến Lã Hậu.Chào mừng xong, Lã Hậu nói:“Các quan cứ tự tiện lui về. Riêng Tiêu Thừa Tướng và Hàn Hầu hãy vào tiền điện để cùng ta bàn việc cơ mật.”Tiêu Hà bước xuống điện mời Hàn Tín vào nội cung.Vừa qua khỏi mấy dãy hành lang, chợt có bốn năm mươi võ sĩ phục sẵn, xông đến bắt Hàn Tín


252 Thế Sự Thăng Trầm trói lại. Lã Hậu sai đem trói Hàn Tín nơi cung Vị Ương, rồi sai võ sĩ đem chém và chu di tam tộc.Khi xa giá Hán Đế về đến Lạc Dương, triều thần ra khỏi thành 30 dặm nghênh tiếp.Hán Đế vui vẻ hỏi Lã hậu về việc xử trị Hàn Tín. Lã Hậu thuật lại mọi việc và nói: Trước khi bị chém, Hàn Tín bảo rằng: “ Ta hối hận đã không nghe lời Khoái Thông trước kia, để đến nỗi bị đàn bà sát hại”.Trong bụng mừng rỡ vì đã trừ được Hàn Tín, nhưng Hán Đế giả bùi ngùi nhớ đến công khai quốc lớn lao của Hàn Tín, đôi dòng lệ ướt nhòa.Các tướng thấy vậy đều cảm động.Sau Hán Đế muốn che mắt mọi người thêm nữa, nên truyền quân cải táng mộ Hàn Tín về nơi Hoài Âm, xây cất tử tế.Các tướng khác thấy rõ ràng Hán Đế ở xa kinh đô vào lúc Hàn Tín bị bắt và bị chém.Đây là cách dùng Alibi đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa.Lưu Bang phủi tay.2. Năm 1949, Mao Trạch Đông chiếm được toàn nước Tầu, thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.Những đồng chí của Mao được cử giữ những chức vụ quan trọng.Dần dần có những sự rạn nứt hoặc chống đối ngầm, ngược lại với ý của Mao.


Trần Bảo Anh 253Mao nghĩ kế.Mao trạch Đông rời Bắc Kinh vào đầu thu 1965. Mao và vợ là Giang Thanh cư trú tại tầng 18 của một tòa nhà. Toàn vùng được bao bọc nghiêm ngặt bởi những cảnh sát chìm và một đơn vị quân đội dưới quyền chỉ huy của Khang Sinh, trùm mật vụ rất thân cận với Mao Trạch Đông.Mao cho thành lập một tổ chức mới tên là tổ Trung Ương Cách Mạng Văn Hóa. Trần Bá Đạt được Mao chỉ định là Chủ Tịch của Tổ Chức này, phụ trách điều khiển. Còn Giang Thanh thì đứng đầu một nhóm gồm 4 người, là y thị và 3 người nữa là Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn. Cả 4 đều gốc từ Thượng Hải. Nhóm Tứ Nhân Bang do Giang Thanh đứng đầu giữ vai trò lộ mặt hơn, xông xáo hành động.Mao phát động cuộc Cách Mạng Văn Hóa để chống lại, hay nói cho đúng hơn là để tiêu diệt toàn bộ những đồng chí, cũng như những người giữ chức vụ cực cao ở trong chính quyền. Mao dùng hình ảnh của Tề Thiên Đại Thánh đã đại náo Thiên Cung làm cách hành động. Nghĩa là có thể giết bất cứ ai, đập phá bất cứ nơi nào, một cách vô tội vạ.Và bây giờ không phải chỉ có một Tôn Ngộ Không. Mao muốn tạo ra hàng ngàn, hàng vạn hay hàng triệu Tôn Ngộ Không, để triệt tất cả những người có thể là một mối đe dọa chức vụ Chủ Tịch của Mao. Và những tên này sẽ được gọi là Hồng Vệ.Trong các trường, đại học hay trung học, bất ngờ xuất hiện rất nhiều những tấm giấy lớn dán trên tường (posters), và những sinh viên học sinh, nam nữ thanh niên, nhanh chóng thành lập những nhóm


254 Thế Sự Thăng Trầm tay mang khăn đỏ. Chúng thề trung thành với Mao Chủ Tịch cho tới lúc chết, và quyết định sẽ truy diệt tất cả những kẻ thù của Chủ Tịch tại bất cứ chỗ nào, dù ở rất xa hay thật gần.Thật ra, mới đầu không phải các sinh viên tự ý lập ra các tổ Hồng Vệ, số là Trùm Mật Vụ Khang Sinh đã đặt một số lượng rất lớn tay chân mặc thường phục trà trộn vào làm sinh viên, học sinh ở trong các trường đã từ lâu. Bọn này chỉ chớp mắt biến thành các đội Hồng Vệ.Và các đội này phát động rồi thúc giục các sinh viên khác thành lập tiếp.Công An cung cấp cho những nhóm Hồng Vệ tên tuổi, địa chỉ của những người mà Mao muốn hành hạ hoặc giết. Giang Thanh lộ diện chỉ huy, cùng với ba tên kia. Và từ đó Hồng Vệ đã trở thành một thứ vũ khí khủng khiếp để sát hại những phần tử mà Mao muốn phải biến đi.Một cách rất nhanh chóng, Hồng Vệ xuất hiện khắp nơi. Không có một chỗ nào ở trên đất Trung Quốc thoát được sự khủng bố kinh hoàng này. Từ Nam đến Bắc, Quảng Tây cho đến Nội Mông.Từ Tây sang Đông, từ Tây Tạng cho đến Phúc Kiến. Tại Bắc Kinh, cuồng phong khủng bố khởi phát từ trung tuần tháng 8/1966.Những buổi đâm, chém, đánh, giết được tổ chức tại sân vận động hoặc là trong những rạp hát.Tổng số nạn nhân trên tòan quốc ước lượng lên tới 4 triệu người (4,000,000).Bây giờ chúng ta xem cảnh những Hồng Vệ đối xử với Chủ Tịch Nước, là Lưu Thiếu Kỳ, người mà Mao Trạch Đông muốn giết bỏ. Tuy mang danh


Trần Bảo Anh 255là Chủ tịch nước, nhưng Lưu Thiếu Kỳ dưới Mao Trạch Đông và thua cả Chu Ân Lai là Thủ tướng nữa, về quyền lực.Vào 7/1967 Mao Trạch Đông và Tổng Trưởng Quốc Phòng Lâm Bưu bay xuống Hàng Châu.Đã cả năm hoành hành tại Bắc Kinh, nhưng Hồng Vệ chưa bao giờ đặt chân đến Trung Nam Hải là nơi các lãnh tụ cao cấp nhất làm việc, và cư trú cùng gia đình. Đây là vùng đất tuyệt đối bất khả xâm phạm.Sau khi Mao rời Bắc Kinh, bọn Hồng Vệ dựng lều, ăn, ở bên ngoài Trung Nam Hải và bao vây thật chặt.Chúng dùng loa la hét ngày đêm, mạ lỵ, kết tội nhắm vào những lãnh tụ lão thành như Chu Đức, Đặng Tiểu Bình, Trần Nghị…Trần Bá Đạt và Giang Thanh hạ lệnh cho Hồng Vệ, xông vào cổng phía bắc Trung Nam Hải. Thủ Tướng Chu Ân Lai phải chạy tới đó để ngăn cản. Giang Thanh chuyển hướng, chạy sang cổng phía tây để đốc thúc. Chu Ân Lai lại phóng mình theo, tìm cách chặn họ lại. Cứ thế, hai người chuyển hướng mấy lần.Tất nhiên, rồi Hồng Vệ cũng vào được.Thấy Ngoại Trưởng Trần Nghị đã bị bắt, sắp sửa bị nhục mạ và đánh đập, Chu Ân Lai chạy tới, nắm tay Trần Nghị lôi đi.Vài hôm sau, hàng trăm ngàn Hồng Vệ bao vây Đại Sảnh Đường và Chu Ân Lai cố gắng nói, để làm dịu đám đông xuống, nhưng không thành công.Rồi Hồng Vệ bắt Chu Ân Lai. Không có một cánh tay nào giơ lên để bảo vệ Ông cả, dù là từ


256 Thế Sự Thăng Trầm những nhân viên an ninh, hay từ một người nào thuộc trung đội bảo vệ các lãnh tụ, hay từ tiểu đoàn lính của Tổng Trưởng Quốc Phòng Lâm Bưu.Chu bị bắt giữ 18 tiếng đồng hồ không cho ăn uống gì cả.Không có một lời từ Mao Trạch Đông cũng như từ Lâm Bưu. Họ đang hưởng những lạc thú ở Hàng Châu.Ngày 8-8-1967 Trung Nam Hải đã biến thành một nơi để hành hạ. Hàng trăm ngàn Hồng Vệ ở bên ngoài và hàng ngàn ở bên trong.Lưu Thiếu Kỳ và vợ bị bắt. Mấy đứa con bị bắt phải đứng nhìn.Hồng Vệ đưa Lưu lên cao rồi thả xuống như thả một bao gạo. Chúng đánh vào mặt vào đầu Ông, đá với đấm đủ kiểu. Một đứa nắm mớ tóc bạc trên đầu ông giật ngược về phía sau. Đứa con gái bẩy tuổi của vợ chồng Lưu Thiếu Kỳ khóc thét lên.Liên tục trong hai tiếng đồng hồ, Hồng Vệ tàn nhẫn đánh Lưu Thiếu Kỳ không ngừng tay.Mặt ông xưng húp, lỗ mũi chảy máu. Chân bên phải không nhích được. Bà vợ bị thương nặng ở đầu.Họ đưa nạn nhân về nhà. Căn nhà của họ ở sát ngay cạnh nhà Mao Trạch Đông.Tại văn phòng của mình, may mắn thay, Lưu Thiếu Kỳ vẫn còn thấy một người thư ký.Ông đọc cho người thư ký viết dùm một bức thư.Gửi cho Mao Trạch Đông. Không có thư trả lời.Mấy người con của họ ra sao? Chúng cũng bị đánh đập và mỗi đứa bị đầy đi một phương khác nhau.


Trần Bảo Anh 257Con cái Đặng Tiểu Bình và của nhiều lãnh tụ khác cũng bị đối xử như vậy.(Trích The New Emperors-Harrison E. Salisbury.)Trong khi tất cả những hành động tàn ác đối với các lãnh tụ vốn là đồng chí của Mao Trạch Đông xảy ra tại Trung Nam Hải thì Mao không hề có mặt ở Bắc Kinh.Mao đang ở nơi khác.3. Bây giờ xin nói chuyện ở Việt Nam.a) Phương pháp dùng Alibi đầu tiên, để phủi tay, là trong trường hợp Phạm Quỳnh bị giết .Trong cuốn Văn Học Việt Nam -Trần Bích San, xuất bản năm 2018, chúng ta có thể đọc thấy trong những trang 710-713:Phạm Quỳnh bị Việt Minh Cộng Sản thủ tiêu cùng Ngô Đình Khôi và con trai Ngô Đình Huân ở khu rừng Hắc Thú, thuộc Cổ Bi gần Huế ngày 06-09- 1945, hưởng dương 53 tuổi. Trưa ngày 23-08-1945 Chủ Tịch Thanh Niên Tiền Tuyến Phan Hàm nhận lệnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng (Việt Minh Thuận Hóa) đi bắt Phạm Quỳnh. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường, đưa giấy mời Phạm Quỳnh đi họp. Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn, cùng với con rể là Nguyễn Tiến Lãng. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của Bác Sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5 km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15 km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị.Theo lời kể của người gác xưởng:


258 Thế Sự Thăng Trầm Một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng 11giờ có người xưng là cấp trên đến bảo đưa 3 người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan, cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò.Theo lời kể của người chèo đò:Đi quanh đi quất trên sông Bồ gần 1giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân” sau đó là ba phát súng.(Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói đặc giọng Huế).Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc, rồi mới bị bắn 3 phát.Ngô Đình Khôi không bị đánh, chỉ bị bắn 3 phát. Ngô Đình Huân vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu. Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi. Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông.Theo các nhân chứng vụ thảm sát thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mùng 1 tháng 8 năm Ất Đậu tức 6 -9 -1945.Tháng 2/1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9-2- 1956, sọ của Phạm Quỳnh có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào.Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về Hà Nội 26-8-1945 ngụ ở nhà số 48 phố Hàng Ngang, cử Trần Huy Liệu,


Trần Bảo Anh 259Nguyễn Lương Bằng… vào Huế nhận chiếu thoái vị của Bảo Đại. Ngày 30-8-1945 phái đoàn Việt Minh có mặt ở Huế, tới ngày 06-09-1945, thì Phạm Quỳnh bị giết. Khi đã có sự hiện diện của đại diện trung ương tất nhiên các cán bộ địa phương không dám tự tiện giết một nhân vật lớn như Phạm Quỳnh. Điều chắc chắn phải có lệnh từ trung ương. Phạm Quỳnh là một nhân vật quan trọng. Nhóm Trần Huy Liệu không đủ thẩm quyền quyết định mà chỉ có thể đem theo mật lệnh của Hồ Chí Minh từ Hà Nội vào Huế. Trong ba người của phái đoàn, người mang lệnh giết Phạm Quỳnh, là Nguyễn Lương Bằng.Bằng là cán bộ nòng cốt và quá khích, tham gia đảng Cộng sản ngay từ 1925, các đảng viên suy tôn là anh cả, được Hồ Chí Minh tin cẩn giữ được bí mật tuyệt đối.Hồ Chí Minh tiếp Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức (hai con gái lớn của Phạm Quỳnh) tại Bắc Bộ Phủ để nghe trình bày sự việc (có sự hiện diện của Vũ Đình Huỳnh).Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc”.Họ Hồ nói dối và lập luận không đứng vững, chỉ cốt chạy tội.Thứ nhất, Họ Hồ về Hà Nội từ chiều ngày 26-8- 1945. Phạm Quỳnh bị giết ngày 06-09-1945. Họ Hồ dời Việt Bắc và đã có mặt ở Hà Nội được hai tuần. Thứ hai, Phạm Quỳnh bị bắt và giam giữ hơn hai tuần lễ, sự sôi nổi không kiểm soát lúc đầu đã qua, sự việc đã lắng đọng, không thể có sự nhầm lẫn .


260 Thế Sự Thăng Trầm (Trích Văn Học Việt Nam- Trần Bích San (Trần Gia Thái, Ph.D), trang 710-713)b) Chuyện Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc trong khoảng từ 1953-1956.Những phần dưới đây trích từ cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản của Hoàng Văn Chí…Chiến dịch này nhắm một mục đích là tiêu diệt toàn bộ giai cấp địa chủ để tiến tới việc thành lập chế độ vô sản chuyên chính ở nông thôn.Trong những năm 1953-1956 chiến dịch cải cách ruộng đất được Việt cộng thi hành, con số tối thiểu những án tử hình phải là 5 tại mỗi xã. Theo Giáo Sư Gérard Tongas, một Giáo Sư Pháp ở lại Hà Nội cho tới năm 1959, thì kết quả của cuộc tàn sát kinh khủng này là một trăm ngàn người.Khắp các vùng nông thôn Bắc Việt nhân dân mang toàn khăn trắng. Điều này cũng dễ hiểu vì ngoài những người bị tòa án nhân dân đặc biệt lên án xử tử và hành quyết công khai, còn vô số những người chết trong các trại giam và những người tự tử sau khi bị quy là địa chủ. Số người tự tử và chết trong các trại giam đã nhiều nhưng chưa thấm vào đâu với số bố mẹ, con cái địa chủ chết đói vì chính sách bao vây kinh tế.Một điểm nữa đáng nêu lên là chính phủ làm bộ không dính dáng gì đến việc khủng bố. Họ làm ra vẻ đấy là việc riêng của nông dân, hoàn toàn do nông dân chủ trương.Đảng nói đảng chỉ giúp ý kiến cho nông dân để họ biết cách đấu tranh mà thôi.Như vậy là cốt để sau này đảng có thể ngang


Trần Bảo Anh 261nhiên phủ nhận mọi trách nhiệm và hơn nữa đổ hết tội lỗi lên đầu nhân dân.Khi có đấu tố địa chủ thì toàn thể nhân dân trong xã phải bắt buộc đi dự.Mọi cuộc đấu tố đều tổ chức ngoài trời, thường là sân banh hay tốt hơn, trên sườn đồi.Một người chủ tọa sẽ nói về ý nghĩa và sự cần thiết của cuộc đấu tranh chống địa chủ, đại khái là vai trò chính yếu của nông dân trong kháng chiến, tính cách bội phản của giai cấp địa chủ… Sau đó người đàn bà giữ chức Công An Trưởng ra lệnh cho tự vệ xã lôi một tên địa chủ ra để anh chị em nông dân hỏi tội. Tức thì đám đông đồng thanh hô:” Đả đảo thằng việt gian, phản động, cường hào, gian ác XYZ. Nạn nhân không được đi bằng hai chân mà phải bò bằng tay và đầu gối từ ngoài hội trường vào đến trước khán đài. Người chủ tọa đoàn gọi: “Anh chị em nông dân lên kể tội,” Tức thì hàng trăm cánh tay giơ lên.Hắn sẽ gọi một tên lên thôi. Người này nhảy lên đài chỉ tay vào mặt địa chủ hỏi:“ Mày có nhớ tao là ai không?”. Không đợi câu trả lời hắn tiếp “ tao là… ở làng… đã đi ở (hoặc làm ruộng) cho mày … năm”, rồi tuôn ra một tràng những tội ác “nào là cướp trâu, cướp bò, đánh đập, nhét phân vào mồm, hiếp vợ giết con…”.Mỗi người được phép tố địa chủ trong 15 phút. Sau đó địa chủ, ký vào một tờ giấy nhận tội đã đánh máy sẵn từ trước.Nếu người bị đấu tố cứ khăng khăng chối “không” thì những người lên đấu ngày hôm sau sẽ tố những


262 Thế Sự Thăng Trầm tội càng ngày càng nặng, cho đến cuối cùng sẽ phải đưa ra tòa án nhân dân đặc biệt kết án tử hình và xử bắn. Những người bị kêu án tử hình bị bắn ngay sau khi tuyên án.*****Và dưới đây là vài dòng trích từ trang 256, Từ Thực Dân Đến Cộng Sản-Hoàng văn Chí.…Hồ Chí Minh đã chủ tâm diệt chủng giai cấp địa chủ, không khác Đức Quốc Xã diệt chủng người Do Thái. Nhưng nếu so sánh, chúng ta có thể nói Hitler và Eichmann đường hoàng hơn Hồ và Mao, vì khi họ ra lệnh lùa người Do Thái vào phòng hơi ngạt, họ ngang nhiên nhận lãnh trách nhiệm về quyết định của họ trước công luận và trước lịch sử.Ta đang ở nơi khác (Alibi) đã được ba kẻ cực kỳ gian ác và thâm hiểm dùng, để thỏa mãn máu sát nhân, trong bụng nghĩ rằng sẽ phủi tay được.Nhưng lịch sử vẫn nhận ra.Lưu Bang: Sát nhân có dự mưu, trường hợp gia trọng.Mao Trạch Đông và Hồ chí Minh: Tội diệt chủng.Sách tham khảo:1. Hán Sở Tranh Hùng.2. The New Emperors-Harrison E. Salisbury.3. Từ Thực Dân Đến Cộng Sản-Hoàng Văn Chí.4. Văn Học Việt Nam – Trần Bích San.


Trần Bảo Anh 263Đắc Thế, Thất Thế, Và Tư cách.Thuở nhỏ đi học, thường chúng ta có học được câu “Cái vòng danh lợi cong cong”. Danh và lợi là điều rất nhiều người theo đuổi. Có người chỉ theo một hướng cầu danh, lại có kẻ chỉ theo hướng kia, là trục lợi.Thế nhưng trên hết tất cả là một thứ khác: Cái Thế.Cái Thế luôn luôn kèm theo cái quyền. Và từ quyền thế người ta tạo danh hay kiếm lợi rất dễ dàng.Một người không xứng đáng, chẳng hiểu biết gì hoặc là hèn hạ, tư cách tồi tệ mà đắc thế lên được một vị trí cao, người ta bảo đó là “đồ chó nhảy bàn độc”.Những người này thường bị người đời khinh bỉ.Thế nhưng nếu thực sự thuộc vào hàng cầm thú, mà được ở ngôi vị lớn, thì người ta chỉ ghét chứ không khinh.Thời Chiến Quốc,Vệ Ý Công, thích chim hạc. Trong cung nuôi đầy những hạc, kể đến hàng mấy trăm con. Con nào đẹp, được phong làm quan Đại Phu. Mỗi khi Vệ Ý Công đi chơi đâu, lại có mấy cái xe lớn, để cho chim hạc đứng, mà đi dàn phía trước, gọi là Hạc Tướng Quân . Người dân trong


264 Thế Sự Thăng Trầm nước thấy ngứa mắt, hóa ra ghét hạc, nhưng không có ý gì là khinh cả.Điều này không phải tại hạc, mà tại vì vua đã đặt những chim này vào những cái thế như vậy, rất nhiều người suốt cả đời vẫn mong mà không được.Có Thế là có nhiều quyền sinh sát trong tay. Trong các triều đại vua chúa ngày xưa, luôn luôn có sự tranh giành nhau giữa các con vua, để làm sao được leo lên Hoàng Thái Tử. Rồi trong cung, các người cung nữ, thứ phi đều mong mỏi chiếm được cái thế của ngôi Hoàng Hậu.Những vị quan nhỏ mong đạt cái thế của Tể Tướng hay Thừa Tướng. Và nếu đã làm Tể Tướng hay Thừa Tướng rồi thì cũng mong lên thêm, tới cái thế làm Vua. Còn nếu đã làm Vua một nước chư hầu thì trong lòng cũng mong làm sao trở thành Thiên Tử, có được cái thế nắm việc cai trị tất cả các Vua Chư Hầu.Sự mong chiếm được cái thế, luôn luôn đưa đến nhiều điều tàn khốc, từ đầu độc, giết người, đến những lời tâu gian dối, dựng những kế hoạch để giết cả ba họ của kẻ cản trở mình bước lên vị trí cao hơn hoặc cao nhất.Khi đắc thế rồi, bạn bè đối xử với nhau như thế nào?Rất xấu chăng? Rất tốt chăng?Chúng ta sẽ lần lượt xem mỗi cách ứng xử xấu và tốt, trong vài trường hợp.Đất Dương Thành thuộc địa phận nhà Chu, có một chỗ núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề, không phải là chỗ người ở, vậy nên mới đặt tên là Quỷ Cốc. Một người tên là Vương Hủ ở ẩn trên núi Quỷ Cốc. Người ta vẫn gọi là Quỷ Cốc Tiên Sinh, thông hiểu mọi lẽ trong trời đất. Có nhiều người đến xin học. Trong số học trò có hai người là Tôn Tẫn và Bàng Quyên.


Trần Bảo Anh 265Bàng Quyên học binh pháp đã được ba năm, tự cho mình đã là giỏi lắm. Một hôm đi xách nước, qua dưới chân núi, thấy người đi đường nói nước Ngụy xuất nhiều tiền để chiêu hiền, cầu người làm tướng văn tướng võ. Trong lòng phấn khởi muốn giã từ tiên sinh xuống núi đi đến nước Ngụy để tỏ tài, lại sợ tiên sinh không cho. Trù trừ muốn nói mà không dám nói.Nhưng tiên sinh trông nét mặt, xét tình, đã thừa biết ý riêng của Bàng Quyên nên cười và bảo rằng:_Thời vận của nhà ngươi đã đến, sao không xuống núi mà đi cầu lấy giầu sang?Khi Quyên ra đi, Tôn Tẫn tiễn xuống dưới chân núi. Bàng Quyên nói:_Đệ cùng Anh có nghĩa kết giao, thề cùng giầu sang. Chuyến đi này nếu gặp bước tiến thân, đệ tất phải tiến cử Ngô huynh để cùng lập cơ nghiệp.Tôn Tẫn nói:_ Hiền đệ có giữ được như lời không?Bàng Quyên nói|:_ Nếu đệ có sai lời, sẽ phải chết ở dưới muôn mũi tên.Tôn Tẫn nói:_ Đa tạ hậu tình, cần gì phải thề độc như thế.Nói xong hai người cùng gạt lệ chia tay. Quyên đi thẳng tới nước Ngụy, xin vào yết kiến Huệ Vương.Huệ Vương thấy Bàng Quyên tướng mạo đường đường. Huệ Vương hỏi, học về môn gì.Bàng Quyên thưa :_Tôi học Quỷ Cốc Tiên Sinh về đạo dụng binh, riêng học được phần tinh túy.Đại Vương chẳng dùng tôi thì thôi, nếu dùng tôi làm tướng thì đánh trận nào được ấy, đánh thành nào được thành ấy, có thể kiêm tính được cả thiên hạ…


266 Thế Sự Thăng Trầm Huệ Vương bằng lòng lắm, cử ngay làm Nguyên Súy và kiêm chức Quân Sư.Quyên luyện binh huấn võ, trước lấn các nước nhỏ là Vệ, Tống, thường thường đắc thắng. Vua các nước Tống, Lỗ, Trịnh, Vệ đều rủ nhau đến chầu. Lại gặp lúc quân Tề lấn cõi. Quyên mang quân đánh lui được, tự cho là công to, hết sức khoe khoang.Huệ Vương có một người bạn là Mặc Địch đến thăm nói: “_Sao Tôn Tẫn học ở Quỷ Cốc Tử, đáng tài làm đại tướng, sao Đại vương không cho triệu đến dùng ?” Mặc Địch từ tạ ra đi.Huệ Vương lập tức cho đòi Bàng Quyên vào nói: “_Ta nghe người cùng học với nhà ngươi là Tôn Tẫn, học riêng được những binh pháp bí truyền của Tôn Vũ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao tướng quân chẳng vì quả nhân triệu đến.”Bàng Quyên nói:_Đại Vương đã muốn triệu Tôn Tẫn, hạ thần xin viết thư gọi đến.Bàng Quyên dẫu không nói gì nhưng trong lòng trù trừ, nghĩ thầm binh quyền nước Ngụy ngày nay ở trong tay mình, nếu Tôn Tẫn đến thì hắn sẽ cướp mất, nhưng Huệ Vương đã bảo thì thế nào cũng phải vâng lời. Âu là đợi khi hắn đến sẽ lập kế mà hại, ngăn trở đường tiến dụng của hắn lại càng hay lắm.Tôn Tẫn tới, lên gặp Huệ Vương. Huệ Vương muốn phong làm phó tướng cho Bàng Quyên.Bàng Quyên nói:_ Tẫn là bậc anh của hạ thần, lẽ nào để anh làm phó. Chi bằng hãy tạm bái làm khách khanh, đợi có công hạ thần sẽ xin nhường chức, chịu ở dưới quyền. Huệ Vương chuẩn tâu.Khách khanh nghĩa là coi như khách.Bàng Quyên dần dần tâu lên Huệ Vương, rằng Tôn Tẫn


Trần Bảo Anh 267có lòng muốn phản nước Ngụy theo Tề. Rồi đề nghị Huệ Vương trừng phạt.Huệ Vương giao cho quân sư là Bàng Quyên xử tội.Bàng Quyên liền sai đao phủ trói Tôn Tẫn lại, chặt bỏ hai xương bánh chè ở hai đầu gối. Tẫn kêu rú lên một tiếng rồi ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, hồi lâu mới tỉnh. Quyên lại bảo dùng kim châm vào mặt Tẫn 4 chữ tư thông ngoại quốc rồi lấy mực bôi vào.Tôn Tẫn đã thành phế nhân đem nhốt Tẫn vào chuồng lợn.Có người sẽ hỏi: “Nghe nói Tôn Tẫn giỏi hơn BàngQuyên rất nhiều, tại sao lại để đến nỗi bị như vậy?” Xin thưa: “Giỏi là do cái trí. Còn tử tế là do cái tâm.”Tôn Tẫn bản tính thuần lương. Cho nên không bao giờ nghi ngờ người đàn em của mình.Đã thế Bàng Quyên mỗi lần ghé thăm Tôn Tẫn đều nói là đã hết sức tâu xin với Huệ Vương như thế nào để mong gỡ tội cho Tôn Tẫn, cho nên nhà vua đã không hạ lệnh xử tử lập tức.Thật ra thì không phải là Bàng Quyên không muốn giết Tôn Tẫn. Nhưng vì biết Tôn Tẫn có một kho binh pháp ở trong đầu, cho nên muốn giam một chỗ, sau khi đã làm cho tàn phế. Rồi mỗi ngày Bàng Quyên xin Tẫn viết xuống cho một vài chương. Bàng Quyên vốn định bụng khi Tẫn viết xong hết thì sẽ hạ thủ liền. Tẫn không biết đến tâm địa này. Trong ngôn ngữ Việt Nam có câu: “To đầu mà dại”, chính là trường hợp Tôn Tẫn vậy.Cuối thời Chiến Quốc có một Triết Học Gia, và là nhân vật chủ yếu đại biểu cho Pháp Gia, tên là Hàn Phi, xuất thân quý tộc Hàn Quốc. Cùng với Lý Tư là học trò của Tuân Tử.


268 Thế Sự Thăng Trầm Hàn Phi có tật nói lắp không biện thuyết được, nhưng lại giỏi trước tác.Hàn Phi có đề nghị lên Vua Hàn nhiều biện pháp để làm cho nước mạnh, nhưng không được Vua Hàn quan tâm tới.Có người đem sách của ông đến nước Tần. Tần Thủy Hoàng đọc các thiên Cô Phẫn và Ngũ Đố rất thích, bảo: nếu quả nhân được gặp người này, giao du với ông ta thì chết cũng không ân hận!Lý Tư tâu rằng: “Tác giả những thiên đó là Hàn Phi.”Nhân chuyến du hành đi sứ sang nước Tần, Hàn Phi ở lại Tần.Vua Tần thâu dụng ông. Nhưng Lý Tư, lúc đó ở cái thế rất cao, là đang giữ chức Tể Tướng. Thấy Tần Thủy Hoàng có thể rồi đây sẽ nghe lời Hàn Phi, và Phi sẽ được trọng dụng.Lý Tư tự biết tài mình thua kém Hàn Phi, bèn gièm pha ông, cho nên ông bị hạ ngục.Lý Tư cho người đem thuốc độc tới, bắt ông uống.Trong cuốn Từ Điển Nhân Danh, Địa Danh và Tác Phẩm Văn Học Nghệ Thuật Trung Quốc của Bác sĩ Hoàng Xuân Chỉnh có bài thơ về Hàn Phi như sau:Dù cho nức tiếng bậc anh tài Quý tộc Hàn bang vẫn tả tơi Nước loạn, tấm thân khôn ẩn náu Trời sinh số phận đã an bàiVâng lời Tần chúa, bầy mưu lược Bị gã phản đồ gán họa taiĐáng trách Lý Tư phường bất nghĩa Khiến bác Hàn Phi uổng cuộc đời. Thái Cuồng


Trần Bảo Anh 269Khi đắc thế, người ta cứ thường dựa vào cái thế của mình để làm những điều tàn ác. Trước nhất là để thanh toán người giỏi hơn mình, dù là bạn. Sau là trổ những thủ đoạn ác độc của mình để thỏa mãn thú tính, và sau chót là để củng cố địa vị.Số lượng người đắc thế mà có những hành động như trên, thường nhiều trong lịch sử cũng như ở ngoài cuộc đời. Tuy nhiên điều này không có tính cách tuyệt đối.Những người có tấm lòng vị tha, có nhân nghĩa, cũng không ít. Thời Chiến Quốc hay thời nào cũng có. Đem hết sức và tấm lòng của mình ra để hỗ trợ, giúp đỡ làm sao cho bạn cùng lên ngang hàng với mình, mà không hề lo ngại là như vậy quyền lực mình sẽ bớt đi, công danh mình sẽ giảm xuống hay tiền bạc mình sẽ mất nhiều.Cách cư xử này được thấy ở hai người học trò khác của Quỷ Cốc Tử. Đó là Tô Tần và Trương Nghi.Quỷ Cốc Tử dậy cách biện thuyết cho họ. Hai người học trò này cũng rất thân với nhau lúc ở trên núi học với thầy.Tô Tần và Trương Nghi cùng xuống núi.Tô Tần đến thuyết vua Triệu, đưa kế hợp tung, là 6 nước gồm Tề, Sở, Ngụy, Hàn, Yên và Triệu kết thân với nhau, cùng hợp sức chống Tần. Vua Triệu tin theo, bèn giao ngay ấn tướng cho Tô Tần, cho ở nhà lớn, lại cho trăm cỗ xe, nghìn dật hoàng kim, trăm đôi bạch bích, gấm vóc nghìn tấm.Sau đó Tô Tần lần lượt đi gặp vua 5 nước kia, ai cũng theo thuyết đó. Kết quả là Tô Tần được đồng thời làm Tướng của cả 6 nước, được phong làm Tung Ước Trưởng, kiêm đeo Ấn Tướng 6 nước, bài vàng gươm báu, thống hạt


270 Thế Sự Thăng Trầm thần dân 6 nước.Điều chúng ta cần xem ở đây là lúc vừa đắc thế ở Triệu, Tô Tần đã đối xử với Trương Nghi như thế nào?Tô Tần tự cho mình là không bằng Trương Nghi. Lúc đó Trương Nghi đang ở nước Ngụy, sống nghèo khổ. Biết như vậy, Tô Tần sai người sang nước Ngụy tìm Trương Nghi mà nói rằng:_Thầy trước quen với Tô-Tần. Nay Tần đã cầm quyền, sao thầy chẳng sang chơi, để nhờ giúp cho chí nguyện mình. Thế là Trương Nghi sang Triệu, đưa thiếp xin vào ra mắt Tô Tần. Tô Tần bèn dặn bọn môn hạ đừng thông báo hộ. Lại làm cho đi không được, đến mấy ngày. Rồi đó mới tiếp Nghi, cho ngồi ở dưới thềm, cho ăn như bọn đầy tớ, nàng hầu, rồi mắng nhiếc rằng:_Lấy tài năng của ngươi mà tự để mình khổ nhục đến thế! Ta nào phải không có thể nói cho ngươi được giầu sang! Nhưng ngươi không đáng dùng!Rồi từ tạ mời ra!Trương Nghi khi đến, tự cho là người quen đến nhờ giúp, lại bị nhục, giận… Tự nghĩ chư hầu chẳng vua nào đáng thờ. Chỉ có nước Tần có thể làm khó dễ cho nước Triệu, bèn sang Tần.Tô Tần sau đó bảo người nhà rằng:_ Trương Nghi là người giỏi ở đời, ta có lẽ không bằng! Nay ta may đắc dụng trước, mà kẻ có thể cầm được quyền nước Tần chỉ có Trương Nghi là đáng thôi! Thế nhưng nghèo, không có cách gì để tiến thân. Ta sợ hắn ham lợi nhỏ mà không được toại chí, cho nên triệu đến, làm cho nhục, để trêu cho hắn tức! Anh giúp ngầm hắn hộ ta!Bèn nói với Vua Triệu, xuất vàng, lụa, xe, ngựa sai người ngầm theo Trương Nghi, cùng chung nhà trọ; dần dần tới gần, đưa dâng xe, ngựa, vàng, bạc. Phàm những


Trần Bảo Anh 271món muốn tiêu dùng, đều trang trải giúp mà không nói. Vì thế, Trương Nghi được vào ra mắt Tần Huệ Vương. Huệ Vương cho làm khách khanh, cùng mưu tính việc đánh chư hầu.Người nhà của Tô Tần bèn từ giã ra về. Trương Nghi nói:_ Nhờ ông tôi được vẻ vang. Đương sắp đền ơn, cớ sao ông lại về?Người nhà nói:_Không phải tôi biết được Ngài. Biết Ngài là ông Tô …Lại cho rằng phi Ngài không ai cầm được quyền nước Tần. Cho nên trêu tức Ngài, và sai tôi ngầm theo hầu, cấp giúp Ngài. Dùng hết mưu kế của ông Tô, nay Ngài đã được trọng dụng, xin về để thưa lại.Trương Nghi nói:_Trời ơi! Thế ra ta bấy lâu nay ở trong cái thuật của Tô Tần mà ta không biết.Ta thực không bằng Tô Tần xa lắm! Phiền ngươi đa tạ Tô Tần dùm. Suốt đời của Tô Tần ta không dám nói đến hai chữ “đánh Triệu” để báo lại cái ân sâu Tô Tần đã ngọc thành cho ta.Lời bình của Lâm Tây Trọng trong cuốn Sử Ký, có viết: “cái khéo của Tô Tần là ở chỗ ngoài mặt thì làm cho sỉ nhục mà ngấm ngầm thì giúp đỡ cho”.Trong thời Việt Nam Cộng Hòa cũng có một truyện tương tự.Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng tuy là Bộ Trưởng Kế Hoạch, nhưng đã trở thành Cố Vấn Đặc Biệt cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Rất thân cận.Tiến Sĩ Hưng, mời một người bạn học là Nhạc Sĩ Cung


272 Thế Sự Thăng Trầm Tiến, cũng là một chuyên viên kinh tế, vào làm việc chung với mình.Tiến Sĩ Hưng không hề ngại cái thế rất cao của mình có thể sẽ bị giảm xuống, hay chức vụ quan trọng của mình sẽ mất đi.Hành động này đáng trọng, cũng như trường hợp Tô Tần đã tìm cách giúp đỡ cho Trương Nghi vậy.Dưới đây là một cách giúp khác.Người có cái thế để giúp là Bác Sĩ Thân Trọng An (Đương kim Chủ Bút Tập San Y Sĩ).Tháng 8-1974, Bác Sĩ An, đang cùng lúc giữ 3 chức vụ:1_Y Sĩ Trưởng Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long2_Giám Đốc Bệnh Viện Phối Hợp Quân Dân Y Bình Long 3_Trưởng Ty Y Tế Bình Long.Đầu năm 1975, một đàn em sau ông hai lớp là Bác sĩ Hoàng được chuyển tới, dưới quyền điều động của ông. Bác Sĩ An kể:Sau khi mất Ban Mê Thuột, và khi Pleiku bị bỏ ngỏ…ngày 28-3-1975, Bệnh Viện Tiểu Khu Bình Long được bốc về Lai Khê, tái phối trí tại Long Bình, trong khi chờ đợi, được tăng phái cho Bệnh Viện Tiểu Khu Biên Hòa.Đùng một cái,Y Sĩ Đại Tá Lương Khánh Chí, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 73 Quân Y, gọi tôi vào gấp và trực tiếp ra lệnh tôi phải gởi (vào chỗ chết) một Y Sĩ tăng phái cho Chơn Thành.Tôi thương xót các bạn đàn em nên tình nguyện


Trần Bảo Anh 273nhận nhiệm vụ này.Đại Tá Chí nhìn tôi một lúc lâu rồi nói: “Đây là lệnh, anh chỉ định Y Sĩ nào ít thâm niên nhất.”. Trở về đơn vị mình, tôi tập họp tất cả anh em Y Sĩ, trình bầy rõ lệnh, và Hoàng can đảm nhận lệnh, lên trực thăng bay vào Chơn Thành cùng với hai y tá…Hai tuần sau, tôi ra tận mặt trận phía Bắc Lai Khê đón đoàn quân đang mở đường máu rút từ Chơn Thành về, không thấy Hoàng và hai bạn y tá đâu cả, nên buồn thúi ruột. (6).Dù thương đàn em đến đâu đi chăng nữa, Bác sĩ An cũng không thể nào nhất quyết làm theo ý mình. Cưỡng lại lệnh trên sẽ bị đưa ra tòa án quân sự.Bác sĩ An, đang ở thế cao, là cấp chỉ huy ba đơn vị.Thế mà tự ý quên mình, sẵn sàng giúp đàn em.Chỉ có những người có một tấm lòng cao cả mới giúp bạn trong lúc mình đang đắc thế.*****Khi đắc thế, hành động của một người thường là do ân oán, nhân nghĩa hay quyền lợi.Thế nhưng khi sắp thất thế, hay đã thất thế, thì động cơ thúc đẩy hành động của một người nhiều khi lại là lương tâm. Đây không chỉ nói đến cái thế của những người giữ những chức vụ cực cao, nhưng nói chung đến cái thế của bất cứ một người nào, nhỏ hay lớn, trong vị trí làm việc của mình.


274 Thế Sự Thăng Trầm Thí dụ: Một bác sĩ, trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng lúc sắp mất nước. Ta hãy xem hai trường hợp điển hình:1. Bác Sĩ Bạch Thế Thức .Cuối tháng 3-1975, cả thành phố Đà Nẵng, cực kỳ náo loạn. Trẻ con, người lớn, chạy xuôi chạy ngược, kêu khóc như ri. Người lành chạy nhanh. Người đã bị thương, bò, hay đi khập khễnh. Mọi loại xe giành đường nhau, và giành cả với người nữa. Công chức, thường dân túa hết ra biển. Gặp tầu, thuyền nào cũng ùa lên.Các đơn vị quân đội hết đạn, tan rã cả.Bác Sĩ Bạch Thế Thức, một Y Sĩ Trung Úy vừa mới ra trường, đang ở những ngày cuối cùng trong Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng.Ông không chạy. Do lương tâm thôi thúc, ông đã tự buộc mình vào trong cái thế, phải ở lại, để chữa cho số thương binh đang tăng lên gấp bội, tới mức tràn ngập. Bấy giờ những cặp chân của thiên hạ chỉ dủng để chạy. Còn đôi chân của Bác Sĩ Thức lại chỉ đứng. Đứng trong phòng mổ, liên tục cả 18-20 tiếng mỗi ngày, trong khi tay ông cầm máu, khâu vá các vết thương cho thương binh và cho cả những thường dân bị thương nữa.2. Bác Sĩ Trần Mộng Lâm, Y Sĩ Đại Úy.Ngày 30-4-75 ông đang ở Sài Gòn. Vừa nghe Dương Văn Minh đầu hàng, thay vì dành thì giờ tìm kiếm mọi cách để chạy thoát, ông lại đi xe đò xuống ngay Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ, là đơn vị của mình.Ông đã nghĩ, ai cũng phóng đi, tan tác tứ phương, thì đám thương binh sẽ lọt vào cái thế, là phải tàn phế trầm trọng, hoặc chết hết vì thương tích trên cơ thể.Nói về sinh mạng con người, thì thương binh là những


Trần Bảo Anh 275người thất thế nhất vào lúc mất nước.Ông tự biết mình, là Quân Y Sĩ, tức là ở trong cái thế phải lo cho họ, phải giúp đỡ họ trước nhất.Sau đó, ông bị Việt cộng nhốt nhiều năm trong những trại tập trung ở vùng U Minh.Những trường hợp tiêu biểu kể trên đã chứng tỏ rằng trong những lúc thất thế, vẫn có những người lo cho những người khác, dù biết trước chính mình có thể bị lâm nguy.Ta đã nói về cái thế của mỗi người, lúc đắc, lúc thất.Nhưng còn cái thế của một nước thì thế nào. Nước Việt Nam Cộng Hòa trên thực tế kể từ đầu 1969, đã ở trong hoàn cảnh sắp thất thế.Tổng thống Mỹ Johnson cố ép Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải cử một phái đoàn tham dự hội nghị Paris. Rồi thì lập tức Mỹ rút ra liền.Ngày 1-11-1968 Tổng thống Mỹ Johnson ngưng oanh tạc Bắc Việt. Việc này cốt để giúp Phó Tổng Thống Humphrey đang ứng cử, có hy vọng thắng được đối thủ là Nixon.Nếu Humphrey, với lập trường chấm dứt chiến tranh mà thắng, Miền Nam sẽ mất ngay, 20 triệu dân miền Nam sẽ lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt lập tức.Nước Việt Nam Cộng Hòa đã bất chợt trở thành một con bệnh thập tử nhất sinh.Nixon ứng cử với lập trường đem lại hòa bình.Thật ra cả hai đều cùng một duộc cả. Họ tranh nhau chức Tổng Thống, nhưng cả hai đều không muốn viện trợ quân sự cho Miền Nam nữa.Tổng Thống Thiệu đã biết rõ như vậy, và nghĩ: “…còn


276 Thế Sự Thăng Trầm nếu Nixon thắng, thì ít ra cũng còn có hy vọng” (7)Tổng Thống Thiệu, ở trong cái thế phải cứu. Nếu không chữa được cho khỏi chết, thì ít nhất là cũng kéo dài tính mạng của người dân miền Nam, được thêm ngày nào hay ngày đó.Ông cân nhắc kỹ. Phải liều. Không thể để cho Humprey thắng cử. Bằng cách tuyên bố một điều quan trọng trước Quốc Hội .Ông Thiệu biết rằng, nếu kế hoạch “ngầm phá hoại cơ hội thắng cử của Humphrey”(7) này bị lộ ra, ông có thể bị ám sát bất cứ lúc nào, hay bị đảo chính. Nhưng Ông quyết thi hành.Ở Mỹ, ngày bầu cử là 5-11-1968.Trong bài diễn văn ngày lễ Quốc Khánh 1-11-1968, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói:… “ Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris.”(7)Cả Quốc Hội nghe đến đó đều đồng loạt đứng đậy vỗ tay thật lâu (7).Sau này, chính tổng Thống Johnson đã xác định trong hồi ký của Ông: “Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho ông Humphrey thất cử.”(7)Nixon thắng. Nhưng chính Tổng Thống này và Ngoại Trưởng Kissinger của ông, sau cũng liên tục ép Việt Nam Cộng Hòa, kèm theo những đe dọa, là phải tham dự hòa đàm Paris.


Trần Bảo Anh 277Sau cùng, Hiệp định Paris đã được ký ngày 27-1-1973.Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trước con bệnh đang bị đẩy đến chỗ bất đắc kỳ tử là miền Nam, đã dùng trí khôn ngoan của mình để chữa trị. Hết sức tận tụy.Ông đã là một thầy thuốc giỏi, cùng với những thang thuốc mạnh là các Quân, Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã duy trì được mạng sống của miền Nam, thêm được sáu năm nữa cho tới tận ngày 30-4-1975.Sau này Kissinger đã viết một cuốn sách.Ông đã viết một lá thư riêng cho Tổng Thống Thiệu vào năm 1980, trong đó có dòng dưới đây:“…My book praises you repeatedly for your courage and decency and acknowledges, in essence, that you were right.” (7).Cuốn sách của tôi không ngớt ca tụng lòng can đảm và tư cách của Ngài, và công nhận rằng, trong chủ yếu, Ngài đã đúng.(7)và đoạn kết:“I do not expect to convince you. I can at least try to assure you of my continuing regret, and respect.”(7)Tôi không trông đợi sự thuyết phục được Ngài. Ít nhất, tôi có thể cố gắng xin Ngài tin tưởng ở lòng hối hận, và kính trọng vẫn còn của tôi (7). Henry A. Kissinger


278 Thế Sự Thăng Trầm Bác Sĩ Nguyễn Thanh Bình, người đã hai lần giữ chức Chủ Bút của Tập San Y Sĩ (là tờ báo sống lâu nhất tại hải ngoại cho tới hiện nay, 2022), đọc cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhiều lần, đã nói:“Tôi thấy thương Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quá. NGƯỜI đã làm hết sức, hết mình cho nước Việt Nam Cộng Hòa.”Sách tham khảo:1. Đông Chu Liệt Quốc_ Phùng Mộng LongNguyễn Đỗ Mục dịch2. Đông Lai Bác Nghị_Lữ Đông LaiBác Sĩ Dương Tấn Tươi dịch.3. Sử Ký_Tư mã Thiên-Nhượng Tống dịch.4. Từ điển nhân danh, địa danh và tác phẩm văn học nghệ thuật Trung Quốc- Bác Sĩ Hoàng Xuân Chỉnh.5. Hàn Phi Tử_Nguyễn Hiến Lê-Giản Chi.6. Thương Mảnh Chiến Bào _Bác Sĩ Thân Trọng An.7. Khi Đồng Minh Tháo Chạy_Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng.


Trần Bảo Anh 279


280 Thế Sự Thăng Trầm Mục Lục1. Đẹp Và Xấu .....................................................072. Thời Gian Hiện Tượng Và Sự Tái Diễn ......... 223. Từ chối.............................................................464. Ngô Văn Định, Lữ Đoàn Trưởng,Lữ Đoàn 258 Thuỷ Quân Lục Chiến...................... 625. Chiến Thắng Phượng Hoàng ...........................756. Ảnh Hưởng Của Lời Nói................................. 877. Nói Chuyện Anh Hùng .................................. 1028. Tôi Và Ý Trời ................................................ 1199. Những Chuyện Can Đảm Cổ Kim..................16510. Cách Suy Nghĩ Của Một Người Công Chức. 184 11. Lương Tâm và Lòng Tận Tuỵ.........................19412. Bằng Trời Bằng Bể........................................ 20713. Yêu Và Rất Yêu............................................. 22714. Đang Ở Nơi Khác........................................... 25015. Đắc Thế, Thất Thế, Và Tư Cách..................... 263Email liên lạc:Bảo Anh Trần: [email protected]


Trần Bảo Anh 281


282 Thế Sự Thăng Trầm


Trần Bảo Anh 279Nhận Định Của Độc Giả


280 Thế Sự Thăng Trầm Nhật Ký Của Một Nữ Hộ Sinh. Bác sĩ Trần Mộng Lâm Chiến tranh Việt Nam 1954-1975, dù gọi tên là gì chăng nữa, Nội Chiến, Chiến Tranh Xâm Lăng, Chiến Tranh Ủy Nhiệm, Chiến Tranh vì lý tưởng, vì chủ nghĩa....thì chẳng qua, đối với nhiều người, đó chỉ là một cơn bão tố, làm chết người, lôi cuốn ra biển khơi những nạn nhân vô tội, làm tan vỡ những giấc mộng, những mảnh đời một cách rất tức tưởi. Thế là có những éo le trong cuộc sống, luật sư đi làm bếp, làm nhà hàng, bác sỹ đi làm bố thắng, giáo sư chạy taxi...v.v.... Mấy ai trở lại được với những giấc mộng mà mình nuôi dưỡng, và tâm tình những người bất đắc chí đó, nào ai hay??. Sau 75, nhiều hồi ký đã xuất hiện. Có những người trong quân đội nói về các trận đánh, có những cựu học sinh nói về mái trường của mình, có Chu Văn An, có Petrus ký, có Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm, có Y Khoa, có Dược Khoa, nhưng có một cái trường mà thú thật, đây là lần đầu tiên tôi được thấy, tôi được đọc ..., đó là trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia. Mọi người ít để ý, vì trường này tương đối nhỏ, chỉ thâu nhận có khoảng 50 học sinh mỗi năm. Điều này làm tôi rất ngạc nhiên, vì người Việt Nam không phải là ít, mấy chục triệu. Tại


Trần Bảo Anh 281sao sự đào tạo các nữ hộ sinh ít thế, có đủ cung ứng cho nhu cầu không, và khoảng trống giao cho ai ??? hay ở các tỉnh nhỏ, tại các nơi hẻo lánh, thì đàn bà \"đi biển một mình\" . Nhưng thôi, tạm gác lại câu hỏi đó để đọc lại cuốn hồi ký mới xuất hiện năm 2022. Tôi vừa nhận được từ tác giả cuốn sách đó. Cuốn sách mang tên Thế Sự Thăng Trầm. Tác Giả là Trần Bảo Anh. Thoạt nhìn tên, người ta nghĩ rằng tác giả phải là một người đàn ông đã chín chắn, đã có một kinh nghiệm nào đó với cuộc đời, bởi đã dám đề cập tới thế sự. Bởi những lẽ đó, khi đọc xong, ngạc nhiên được biết tác giả là một phụ nữ, một cựu học sinh của trường Nữ Hộ Sinh. Thế sự thì nhiều vô kể, nhiều mặt, nhiều lãnh vực. Thế nhưng thế sự quan trọng nhất đối với một con người là thế sự liên quan đến họ và sau đó mới tới thế hệ của họ, nói chung. Vì thế, cuốn Thế Sự Thăng Trầm làm tôi có cảm giác đây là hai cuốn sách ghép lại với nhau. Cuốn thứ nhất liên quan đến vận mệnh của một người Nữ Hộ Sinh, học và ra trường, hành nghề tai Miền Nam trong các thập niên 60.70, trước và sau khi Sài Gòn xụp đổ. Cuốn thứ hai liên quan đến Miền Nam, đến những người công chức, quân nhân, đến những mẩu chuyện đời, xưa và nay đối chiếu. Kể cũng lạ, vì nữ giới ít đề cập tới đề tài này. Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia năm cạnh Bảo Sanh Viên Từ Dũ, nơi mà sau này Việt Cộng đổi tên thành xưởng đẻ Từ Dũ cho xứng với danh xưng \"đỉnh cao nhân trí tuệ\" của bọn chúng. Từ bảo sanh viện, ta có thể đi bộ sang trường này dễ dàng. Hồi đi học, tôi đã có nhiều năm tháng miệt mài tập sự nơi nhà thương này, nhưng ít để ý tới sự sinh hoạt của các nữ


282 Thế Sự Thăng Trầm sinh nơi đây, xem họ sinh hoạt ra sao. Nay mới có dịp đi sâu vào cái \"thế giới đàn bà\" đó. Nhờ sự tiết lộ của tác giả, ta biết rằng thời gian huấn luyên là ba năm sau Tú Tài, bằng thời gian của Võ Bị Đà Lạt nếu tôi không lầm, (hay có lầm, cũng chút chút thôi). Về ăn ở, sinh hoạt, kỷ luật, thì cũng như một quân trường, rất nghiêm ngặt, có các huấn luyện viên, gọi là các “mô”(monitrice) giám sát. Về chuyên môn, thì việc đào tạo và thực tập không khác trường Y, nhưng hạn chế trong một môi trường giới hạn hơn. Tác giả đã mô tả một cách rất tỉ mỉ về ngôi trường, các nhân vật nay đã đi vào dĩ vãng, những ông thầy, những nhân viên, những người gác gian, tất cả. Có khi dễ thương, có khi khó chịu, nham hiểm, nhưng họ cũng đã để lại những dấu vết khó quên. Một năm. Hai năm. Rồi 3 năm, người đọc được tác giả dẫn dắt cho tới khi ra trường, vào nghề...Thời tác giả lên đến năm cuối cùng, thì cũng là năm mà giáo sư Trần Anh bị ám sát...nói thế để mọi người hình dung được đó là thời chiến tranh đang diễn ra tàn bạo tại đất nước mình. Khuôn khổ của bài viết này không cho phép tôi đi vào chi tiết nhưng những trang hồi ký thì nếu đọc kỹ, ta sẽ thấy việc đào tạo các nữ hộ sinh bài bản đến thế nào. Không bao giờ có chuyện nhờ chuyên tu, nhờ quen tay mà sống lâu lên lão làng, từ một người học lực lớp ba trở thành nữ hộ sinh được, trừ bọn Cộng Sản !!! Ra trường, người sage femme đó (khi còn được huấn luyện trong trường, họ được gọi là sage fille), dù đậu cao, tình nguyện đi xuống Miền Tây phục vụ. Và kỳ lạ thay, bà đã chọn


Trần Bảo Anh 283nhiệm sở đầu tiên là Quân Y Viện Long Xuyên- Phải chăng nghề nhiệp của hai người anh đã ảnh hưởng bà, nhất là người anh thứ hai, một Bác Sỹ Thủy Quân Lục Chiến, người đã viết câu : Chửi đích danh mày, Hồ Chí Minh, mà tôi rất tâm đắc. Anh là ai, chắc khỏi phải nói tên anh ra ở đây. Vào thời điểm đó, tôi còn ở trong quân đội, và cũng phục vụ tại Miền Tây, tỉnh Cần Thơ, cách Long Xuyên không xa. Những gì tác giả nhìn thấy tại Long Xuyên cũng là những gì tôi nhìn thấy tại Cần Thơ, những thương binh, những chết chóc, những đổ vỡ, máu và nước mắt,.... và Chiến tranh...Khác hơn là sau đó tác giả thuyên chuyển về Từ Dũ trong khi tôi ở lại đến ngày định mệnh. Rồi ngày 30 tháng tư năm 1975 đến với người dân Miền Nam như một tai họa trên trời rớt xuống. Tác giả phải miễn cưỡng ở lại với quân thù, phục vụ trong hàng ngũ họ mấy năm trời, nạn nhân của những cán bộ xuất thân là các \"phu quét đường\". Làm như quét đường mãi thì thành nữ hộ sinh lãnh đạo, không cần học Anatomie, không cần học Physiologie !!!. Trong bối cảnh đó, nhờ người anh Thủy Quân Lục Chiến, bà vượt biên và định cư ỏ Mỹ, đến nay đã được mấy chục năm, dĩ nhiên không trở lại với nghề nghiệp của mình được, tuy không bao giờ quên được mộng ước của thời son trẻ, thời của một sage fille. Thời gian cứ lạnh lùng trôi, Ngày nay bà đã ở vào một giai đoạn \"không phải lo đến cơm áo\" nữa nên có cơ hội nhìn lại đời mình, có cơ hội viết về thế sự thăng trầm. Những gì đọc trong cuốn sách đó là những chuyện nhiều khi đã biết, nhiều khi chưa, về những người sống tại Miền Nam, quân, cán,


284 Thế Sự Thăng Trầm chính...đủ các hạng người.Mẫu số chung của họ là lòng can đảm, là sự lương thiện. Nhưng ỏ đây có một nhận xét là những người ở trong quân chủng Thủy Quân Lục Chiến được ưu tiên hơn các người khác. Những gì đã được viết ra, đáng để tác giả đạt danh hiệu \"Người Binh Nhì Danh Dự của Thủy Quân Lục Chiến\". Dĩ nhiên không thể quên sự uyên bác của tác giả khi so sánh những nhân vật ngày nay với những nhân vật của một thời xa xưa, của những truyện Tầu mà chúng ta say mê khi còn nhỏ. Mấy chục năm ở Mỹ, nằm nhà Mỹ, ăn cơm Mỹ mà tác giả viết rất ít về quãng đời sau. Hình như những năm tháng đó đối với tác giả mới là giá trị, mới là đáng nhớ, tuy nó rất ngắn ngủi. Tác Giả cho biết khi chấm dứt phần hồi ký: Chỉ tiếc rằng không có cơ hội làm sage femme trở lại, vì tôi luôn luôn nghĩ rằng \" deliver a baby\" là cả một nghệ thuật.. Âu cũng là ý trời…Vâng, âu cũng là ý trời, cả nước Việt Nam cũng thế! Bác sĩ Trần Mộng Lâm


Trần Bảo Anh 285 Thế Sự Thăng Trầm Vài cảm nghĩ thô thiển sau khi đọc BS Thân Trọng An Đang ở Quận Cam dự buổi Hội Ngộ 50 năm tốt nghiệp rồi sau đó anh em tản mác khắp 4 vùng chiến thuật đến nay mới gặp lại nhau thì tôi được một tin vui từ Montreal cho hay là được tặng một tựa sách đang ra lò nóng hổi, kèm thêm 20 cuốn để gây quỹ cho HYSVNC.Vài ngày sau về lại nhà thì đến Saigon Graphics nhận quà. Ngay trước khi nhận sách thì đã thấy BS Trần Mộng Lâm khen tặng quyển Thế Sự Thăng Trầm của Trần Bảo Anh một cách chân thành nồng nhiệt qua lối hành văn độc đáo của anh, một cung cách rất ư là “Trần Mộng Lâm”. Anh Lâm ít khi viết tán thưởng một tác giả nổi tiếng, đủ biết là sách hay đến độ nào, làm tôi càng háo hức nhưng cũng phải tự nhủ “đọc từ từ” cho cảm nhận được đầy đủ hơn. Dù đã tự bảo phải đọc từ từ mà khi lỡ đọc vài trang đầu là tôi quên hết, say sưa đọc luôn một mạch cho hết 280 trang


286 Thế Sự Thăng Trầm đến gần 3 giờ sáng mới buông ra nổi vì sách quá hấp dẫn và lôi cuốn. Bìa trước và bìa sau như tranh thủy mạc, trích 4 câu thơ của Vũ Hoàng Chương luận chữ “về” khiến tôi liên tưởng đến quyển “Sống Chẳng Còn Quê” của anh Trần Xuân Dũng là bào huynh của tác giả, Sách không “lời nói đầu”, không “lời bạt” chứng tỏ tác giả không câu nệ hình thức kiểu “ước lệ phải đạo”. Cách bàn đến 15 tiểu đề, như 15 tiểu luận, nói chung rất hợp với tâm tư “người tử tế thời VNCH” chúng ta được nuôi dưỡng và lớn lên trong đạo nghiã và nhân văn. Cách nhìn và so sánh hết sức độc đáo, tôi chưa hề thấy qua. Có thể vì tôi chưa đủ quảng bác. Nếu lịch sử là những “chuyện lập đi lập lại” (tái diễn) của nhiều biến cố dù có hơi khác nhau vì thời gian hay vì thời thế, thì ta có thể nhận định Thế Sự Thăng Trầm là một quyển sách tản mạn rất nhiều chi tiết lịch sử. Mà là lịch sử từ Á sang Âu, từ Việt Nam sang Pháp, sang Mỹ, từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, hay thời Hán Sở-Tam Quốc, từ Saigon sang Hoa Thịnh Đốn, Từ Long Xuyên đến San Francisco… cũng như tác giả có lúc đi khắp thế giới. Sách trích dẫn cũng khá độc đáo, từ Kinh Phật đến Kinh Thi, từ Khi Đồng Minh tháo chạy, Văn Học Quân Đội đến Tân Liêu Trai …


Trần Bảo Anh 287Thời gian so sánh những sự kiện “giống nhau” cũng ly kỳ. Có khi cách nhau cả nghìn năm, cả thế kỷ, nhưng cũng có lúc chỉ vài tháng, vài thập niên! Vinh danh anh hùng hay nữ anh hùng thì có đủ danh nhân Việt, Pháp, Tàu… mà đâu cần phải là tướng tá hay sĩ quan cao cấp, lính trơn hay hạ sĩ quan cũng lắm người “rất anh hùng”. Đâu ai mang thành bại mà luận anh hùng được. Viết về cá nhân và gia đình mình, tác giả kể sơ sài thời thơ ấu, lúc hàn vi vì chiến tranh, tả phớt qua cảnh thiếu tình mẫu tử vì mồ côi mẹ lúc 3 tuổi đời nhưng được hai anh bảo bọc tận tình, những khó khăn và cố gắng vượt bực lúc học nghề như phần đông thế hệ trung lưu chúng ta. Vì không có lý lịch “ba đời bần cố nông” nên tác giả đã khổ ải dưới thời cộng sản. Gấp quyển sách lại, tôi thấy bồi hồi vì sống lại một phần thời niên thiếu của mình, dù hoàn cảnh cá nhân tôi may mắn hơn chút đỉnh. Rất cám ơn tác giả Trần Bảo Anh đã viết ra và tặng một quyển sách mà tôi trân quý. Rất cám ơn tấm lòng của chị Tường Vi, theo gương anh Trần Xuân Dũng, yểm trợ tài chánh cho TSYS một cách tế nhị. Montreal, 18 tháng 10, 2022 BS Thân Trọng An


288 Thế Sự Thăng Trầm BS Thân Trọng An chuyểnNhà Thơ Nguyễn Bá Dĩnh viết:. Quý Thầy, Từ lâu, BD rất ít đọc sách in trên giấy mà chỉ đọc các versions electroniques vì sự tiện lợi của loại thứ hai nầy Hôm nay, được thầy An cho tập sách Thế Sự Thăng Trầm, BD xem vài trang và không ngờ nội dung hấp dẫn, lôi cuốn quá nên BD đọc đến hơn 2/3 tập sách. Phải công nhận tác giả có một văn phong rất authentique, trong sáng và cuốn hút! Phái nữ mà viết về chiến trận một cách sống động với những so sánh xưa và nay một cách chính xác, không thua những đại tác giả nam nhi đã dấn thân vào cuộc chiến. ,,,,,,,,Đọc sách chị viết, BD rất mến phục, không chỉ nội dung, văn phong mà còn tư cách làm người thẳng thắng của chị. Xin bội phục! Xin cảm ơn Thầy An! ……. Kính cô Tường Vi,Tôi phải cảm ơn cô đã viết một tập sách tuyệt vời cho chúng tôi được đọc, tuy là một tập vừa nhận định, vừa hồi ức nhưng bên cạnh cũng có giá trị của những sử liệu với người thật, chuyện thật. Tôi nghĩ rằng những người viết sử sau nầy về cuộc chiến Quốc-Cộng của nước VN chúng ta cũng nên tham khảo tác phẩm “Thế Sự Thăng Trầm” của cô Tường Vi.Mong cô sẽ cho ra mắt nhiều tác phẩm nữa trong tương lai. Cảm ơn Thầy An đã không quên tặng tôi TSTT.


Trần Bảo Anh 289Kính chào. Bá Dĩnh / bádĩnhYên Ba Thâm Xứ. Bác Sĩ Nguyễn Thanh Bình Hạ tuần tháng mười, vừa đi du lịch về, tôi nhận được cuốn sách Thế Sự Thăng Trầm của Trần Bảo Anh do tác giả gửi tặng. Thấy tựa sách là tôi nhớ ngay tới hai câu đầu trong bài Uống Rượu Tiêu Sầu của Cao Bá Quát: Thế sự thăng trầm quân mạc vấn, Yên ba thâm xứ hữu ngư châu. (Thế sự thăng trầm anh chớ hỏi, Nơi xa khói sóng có thuyền câu) Cái tựa mới đầu làm tôi thắc mắc, nhưng sau khi đọc xong cuốn sách thì tôi hiểu, những gì tác giả viết thật phù hợp với câu “cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng” trong bài thơ của Chu Thần. Trong mấy ngày, tôi đọc đi đọc lại cuốn sách tới 3 lần.


290 Thế Sự Thăng Trầm Điều làm tôi ngạc nhiên, thích thú và thán phục nhất là tác giả có kiến thức rất uyên bác về lịch sử, danh nhân, điển tích của Trung Hoa và Việt Nam. Những nhân vật lừng danh như Gia Cát Lượng, Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Kinh Kha, Lưu Bang thì nhiều người biết, đến như Quý Trát, Công Tôn Át, Can Tương, Mạc Gia cũng được nhắc tới.. Phái nữ thì có tứ đại mỹ nhân Điêu Thuyền, Tây Thi, Dương Quý Phi, Chiêu Quân, kể cả cả Bao Tự, Chung Vô Diệm, Triệu Phi Yến. Về phía Việt Nam thì Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Quang Trung, Nguyễn Thái Học…được nêu danh. Bà nhắc nhân vật xưa, so sánh với những người ở thời chúng ta để minh chứng quan niệm của mình. Chẳng hạn như bên Tầu có Tôn Bính, thuộc Nghĩa Hoà Đoàn, quyết tâm diệt bọn xâm lăng da trắng, Khi bị bắt, nhất định không chịu khuất phục, cam tâm chịu chết vì Đàn Hương Hình, thì bên ta có Y Sĩ TQLC Vũ Đức Giang, bị VC bắt, cũng không khuất phục, không chịu nhục, thà tự tử để giữ khí tiết. Lưu Bang đi đánh Hung Nô để ở nhà Lã Trĩ giết Hàn Tín; Mao Trạch Đông và Lâm Bưu đi Hàng Châu để ở Bắc Kinh, để Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai bị thủ hạ của Mao, Lâm và đám hồng vệ binh bắt nhốt, đánh cho thừa sống thiếu chết, con cái bị đầy đi mỗi đứa một nơi. Lưu và Mao đã dùng chứng cớ vắng mặt để chạy tội, thì ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng dùng mưu kế ấy, ở Hà Nội, lén sai Nguyễn Lương Bằng vào Huế để giết Phạm Quỳnh và cha con Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân. Gia Cát Lượng thì ai cũng biết là vị thừa tướng tài trí của Tây Thục, đã cúc cung tận tụy vì việc nước trong 2 đời vua,


Trần Bảo Anh 291thì ở Việt Nam, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã cố gắng vận động, dùng mưu kế để mong cứu vãn VNCH, họ đã cúc cung tận tụy mà không thành công, cũng như Khổng Minh không giữ nổi nước Thục. Điều ngạc nhiên thứ hai là tác giả rất ái mộ, kính trọng Quân lực VNCH. Khi nói về Cẩm Mã Siêu, một trong ngũ hổ tướng vừa tài giỏi, vừa đẹp trai của Tây Thục, bà hỏi Việt Nam có ai như vậy không, và tự trả lời: Có chứ. Người này đi đóng góp xương máu cho quốc gia Việt Nam Cộng Hoà,Người này oai phong lẫm liệt,Khuôn mặt người này, nghĩ tới, ai cũng hãnh diện, nhìn thấy, ai cũng kính trọng, gặp được, ai cũng yêu quý,Và cuối cùng, nhớ tới, ai cũng xót thương…Đó là khuôn mặt Người Lính Việt Nam Cộng Hoà đẹp trong sử Việt.Rất đẹp. Đẹp một cách vĩnh viễn.Thật vậy, một phần lớn của cuốn sách viết về lính, và những nét đẹp của họ. Tác giả nhắc tới các vị tướng đã tuẫn tiết, không chịu chạy và không chịu đầu hàng quân giặc: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vĩ, Trần Văn Hai, tới Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã hiên ngang không sờn lòng khi bị xử bắn, nào có kém gì Nguyễn Thái Học ngày xưa.. Ngoài ra, còn nhiều nhân vật anh hùng thể hiện cái hùng của mình một cách khác nhau: Lý Tống, phi công lái khu trục A 37, bị bắn rơi, bị tù, trốn trại. Ông là người ngang tàng, không coi VC vào đâu cả, chỉ vì không có thời mà cuộc đời trôi nổi.


292 Thế Sự Thăng Trầm Đại Uý Biệt Kích Nguyễn Hữu Luyện, nhảy dù vào lòng địch, bị bắt tù, bị hành hạ trên 2 thập niên mà lúc nào cũng cao ngạo, giữ được khí phách ngang tàng, bất khuất. Y Sĩ Trung Uý Bạch Thế Thức, dù Đà Nẵng trong cơn hấp hối, vẫn kiên trì làm việc tại Tổng Y Viện Duy Tân để cứu chữa thương binh. Y Sĩ Đại Uý Trần Mộng Lâm, ngày 30 tháng tư còn đi xe đò trở lại đơn vị là Quân Y Viện Phan Thanh Giản. Y Sĩ Đại Uý Lê Thành Ý liều mình mổ lấy trái đạn 79 Mà còn kẹt trong người một thương binh…. Những người con đi lính thì cha mẹ của họ, nhất là người mẹ có cảm nghĩ ra sao..? Tác giả đã viết: Những người mẹ có con phục vụ trong QLVNCH thường rất hãnh diện, nhưng đồng thời luôn luôn có mối lo lớn, canh cánh bên lòng.Họ lo con bị thương, bị tàn tật, bị địch bắt, bị tử trận, có khi mất tích, biệt vô âm tín, để người mẹ mỏi mòn chờ đợi dù với một chút hy vọng rất mong manh. Có lẽ vì chịu ảnh hưởng của người anh thứ hai là Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng, Thuỷ Quân Lục Chiến, nên tác giả viết rất nhiều về bình chủng này, Chẳng hạn những chiến thắng lẫy lừng như giải tỏa Sài Gòn vào dịp tết Mậu Thân, tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Chiến Dịch Phượng Hoàng… Tên tuổi và chiến công của TQLC được nhắc tới nhiều lần, từ Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh, tới Đại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó, Đại Tá Tôn Thất Soạn, Đại Tá Phạm Văn Chung, Đại Tá Ngô Văn Định, Thiếu Tá Tô Văn Cấp, Thiếu Tá Phạm Cang, Thiếu Tá Lê Quang Liễn… Với một quân lực hùng hậu và thiện chiến, với những binh chủng tuyệt vời như Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Thiết Giáp, với 10 Sư Đoàn Bộ Binh, Địa Phương


Trần Bảo Anh 293Quân, Nghĩa Quân, với các binh chủng Không Quân, Hải Quân…mà rốt cuộc mình mất nước. Ai cũng biết, mình thua không phải vì thiếu can đảm, thiếu tài năng, thiếu tình thần mà vì đám truyền thông thiên tả, đã dẫn dắt dư luận của Mỹ, gây phong trào phản chiến, khiến chính phủ cắt viện trợ. Chúng ta không còn phương tiện để chiến đấu, trong khi cộng sản được viện trợ dồi dào. Cộng Sản và ta như hai võ sĩ lên đài, họ được ăn thịt cá, ta thì chỉ có rau cỏ cầm hơi, thì phải thua thôi. Thế là dậu đổ, bìm leo: thua trận rồi thì đương nhiên không thể là anh hùng nữa. Họ dùng luận điệu này để chê bai QLVNCH, chê từ cấp chỉ huy xuống tới hàng binh sĩ.(hết trích) Tác giả đã đem truyện Jeanne D’arc, Napoléon Bonaparte, Hai Bà Trưng, Nguyễn Thái Học ra để chứng minh rằng những nhân vật đó, tuy thua mà ai cũng phải công nhận là họ anh hùng. Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả. Cổ nhân đã từng nói, chớ lấy thành bại mà luận anh hùng. Trong 15 chương của cuốn sách, tác giả đề cập tới nhiều đề tài, thí dụ như đẹp và xấu, thời gian hiện tượng và sự tái diễn, từ chối, nói chuyện anh hùng, những chuyện can đảm cổ kim, lương tâm và lòng tận tụy… Tuy để từng chương khác nhau, nhưng những chi tiết nhiều khi trùng hợp, lẫn lộn, liên quan mật thiết, khó mà phân biệt được một cách rõ ràng, minh bạch, chẳng hạn anh hùng và can đảm: anh hùng thì mới có can đảm, và ngược lại. Chương thứ 8, Tôi Và Ý Trời là một tập hồi ký thu gọn: Phần đầu, tác giả nói về gia thế. Cô là con út trong gia đình, với 2 anh trai. Mẹ mất sớm, cha tục huyền, nên cô có một số em cùng cha khác mẹ.


294 Thế Sự Thăng Trầm Cô không mấy hạnh phúc với cuộc sống như vậy, vì các anh tuy thương cô nhưng không có quyền, chỉ ông nội là yêu thương và bảo vệ cô, nên khi cụ qua đời thì cô mất chỗ dựa, lúc 11 tuổi. Một nỗi khổ nữa: “bà nội bị ốm nặng, nằm liệt giường, tiêu tiểu tại chỗ, chỉ một mình tôi có bổn phận lo cho bà, không một ai phụ đỡ”. Sau khi bà nội mất thì: “Tôi bước vào một khốn khổ khác, vừa đi học, vừa đi chợ, nấu cơm, lau chùi nhà cửa, giặt quần áo và bế em con bà mẹ kế trên lòng, vừa học bài thi mà vẫn bị ăn đòn”. Với cuộc sống khổ sở như vậy mà cô vẫn thi đỗ tú tài thì thật đáng cho mọi người ngưỡng mộ. Nhờ sự giúp đỡ tài chính của hai anh, và theo lời khuyên của người anh thứ hai là Bác Sĩ Trần Xuân Dũng, cô thi đậu vào trường Nữ Hộ Sinh, và xin ở nội trú tại đây. Phần thứ hai là viết về cuộc sống thời sinh viên. Trường Nữ Hộ Sinh có chương trình học rất khó khăn, đủ các môn như trường y, dù đơn giản hơn, và có kỷ luật rất khắt khe, nhưng vì chịu khổ đã quen nên cô sống rất thoải mái. Vốn chăm chỉ, hiền hoà, lại cư xử lịch sự nên cô được một số thầy và huấn luyện viên yêu mến, chỉ dẫn tận tình. Nhưng cô cũng bị một số bạn ghen tị, làm antenne nói xấu và tố cáo một vài hành động mà họ cho là sai trái với cấp trên. Tôi không muốn đi vào chi tiết, nhưng những gì cô viết đã gợi cho tôi rất nhiều kỷ niệm. Tôi đi thực tập nhiều lần ở nhà thương Từ Dũ, nhưng chưa bao giờ qua thăm trường Nữ Hộ Sinh, nằm trong khuôn viên của bệnh viện, giờ nghe cô kể tôi mới được biết. Những thầy như Trần Anh, Nguyễn Văn Hồng, Hồ Trung Dung, Nguyễn Bích Tuyết…cũng là thầy của tôi. Ngày đó, tôi làm các trại Hồi Sức, Hậu Giải Phẫu, Nhiễm Trùng….như các cô sinh viên Nữ Hộ Sinh, có thể đã gặp nhau mà không biết. Tôi nhớ nhiều nhất khi làm tại phòng sanh


Trần Bảo Anh 295(Salle de Travail), lúc nào cũng kề cận với các cô Nữ Hộ Sinh, hoặc Sinh Viên Nữ Hộ Sinh, nhưng các nàng mang mũ che tóc và đeo mặt nạ, lại thêm găng tay nên chỉ thấy được những đôi mắt đẹp mê hồn gây nhiều rung động và cảm xúc… Phần thứ ba kể về chuyện hành nghề. Tuy ra trường với hạng cao, tác giả không chọn chỗ gần mà lại chọn Quân Y Viện Long Xuyên, có lẽ do lòng yêu lính như tôi đã nói lúc đầu. Tại đây, cô sống rất thoải mái, liên hệ với nhân viên rất thân thiện, kiểu huynh đệ chi binh. Anh Bác Sĩ Trương Ngọc Tích, tôi có biết, là người hiền lành, chắc chắn không làm khó dễ nhân viên. Cô làm việc chăm chỉ, tận tâm, nhiều khi còn làm quá trách nhiệm của mình, như đã săn sóc thương binh với công việc của y tá, khi QYV bị quá tải. Một lần nữa, tác giả và tôi lại có cùng kỷ niệm: cô nhắc tới trường Thoại Ngọc Hầu, là nơi tôi đã học 3 năm đệ lục, ngũ và tứ năm 1956,57,58. Ngày đó chưa có QYV, nhưng đường Gia Long, cầu Hoàng Diệu, rạp Thanh Liêm trên đường Thành Thái vẫn còn. Không biết cô có nhớ món bánh mì ba tê, giò heo nổi tiếng ở đây? Khi trở lại Từ Dũ thì tác giả không được như ở Long Xuyên, vì có ghen tị, kèn cựa, kể cả bị thù vặt. Ông Giám Đốc Phạm Trọng nào đó, gọi cô vào trình diện mà ngồi ngả lưng trên ghế bành, gác chân lên bàn, đã bị cô sửa lưng rất nặng..Tôi rất cảm phục lòng can đảm, thẳng thắn của cô, nhưng cũng hơi sợ…. Thời gian làm việc dưới chế độ CS, dĩ nhiên là cô bị đì, bị chèn ép, nhưng cô vẫn khí khái, giữ tư cách của mình, không chịu khuất phục. Cô vượt biên tháng 8 năm 1978, yên ổn tới Phi Luật Tân sau 7 đêm 6 ngày.


Click to View FlipBook Version