The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by Tuongvi Tran, 2026-05-25 13:20:11

Thế Sự Thăng Trầm - Bảo Anh Trần Tưởng Vi- Second Edition 2024

Memorial and Education

150 Thế Sự Thăng Trầm Quân Y Viện. Mỗi khi Quân Y Viện có việc đi Sàigon, tôi đều có sự vụ lệnh đi chung Jeep để về Saigon thăm nhà, như vậy không bị kẹt ở Bắc Vàm Cống và Mỹ Thuận.Tuy nhiên tôi cũng rất tận tuỵ làm tất cả mọi việc khi cần.Có một đêm thương binh về nhiều quá, mà số quân nhân trực phòng mổ làm không xuể. Lúc 12 giờ đêm, tôi đang ngủ, nghe tiếng gõ cửa khẩn cấp tiếp theo là tiếng của Y Sĩ Trưởng gọi, tôi ra, thấy ông không trong bộ quân phục thường nhật, ông bảo tôi lên giúp phòng mổ gấp. Thương binh về nhiều quá.Ảnh chụp trên đường vào Bắc Mỹ ThuậnNghe vậy, tôi không kịp thay quần áo chỉ khoác vội áo blouse vào là chạy lên phòng mổ. Thấy thương binh nằm ngồi la liệt ở hành lang phòng mổ, máu me bê bết thấm đẫm trên những bộ áo trận, mà không hề rên la. Tôi nhìn tổng quát thật nhanh để xem ai cần làm trước, ai làm sau.Tôi đo máu, bắt mạch và xem vết thương,Tôi xin Y Sĩ Trưởng cho một ông lính đem dung dịch Dextrose bông băng, phixohex,


Trần Bảo Anh 151alcool, thuốc khử trùng, kìm kéo đã khử trùng đến cho tôi, rồi phụ giúp tôi, khi cần nâng đỡ người thương binh. Tôi truyền nước biển, truyền máu để tình trạng cấp cứu tạm ổn định, và sửa soạn sẵn cho những người cần phải mổ. Xong quay ra tôi làm khử trùng vết thương, băng bó, truyền nước, truyền máu và chích thuốc cho các thương binh khác. Sau đó nếu ai có thể cho về trại thì cho họ về nằm dưỡng thương.“Ê kíp” mổ không ngừng tay. Và thương binh vẫn tiếp tục được chở đến.Tôi làm chung với một ông lính, nhờ ông ấy đỡ người thương binh khi cần. Tôi làm liền tay suốt đến 8 giờ sáng hôm sau. Khi nhân viên phòng mổ vào làm việc đầy đủ, tôi giao lại. Ông lính làm chung với tôi nói với mấy ông mới vào: “Cô ấy chích veine nhuyễn lắm, băng bó thật gọn nhẹ mà rất lẹ. Chạy theo phụ cổ muốn bá thở, Đại Sư Phụ đó!.” Tôi cười nhẹ, rồi về lại trại Sản Khoa.Vừa về đến trại Sản Khoa thì thấy Bác Sĩ Chất, Trưởng Trại, đã đến, đang khám bệnh. Ông quay ra thấy tôi hãy còn mặc pyjama mà khoác áo blouse.Ông cười và nói:” Hôm nay trông Tường Vi giống đầm quá.”Tôi nói: “Đầm gì mà đầm, em lên phòng mổ làm suốt đêm. Đêm qua thương binh về nhiều quá. Bác Sĩ Tích gọi em lên phụ. Bây giờ mới xuống.” Vậy nói là giống đầm còn không chịu. Tôi vẫn không hiểu. Ông cười: “Tường Vi giống đầm cư là đừ căm đó hiểu chưa.” Thế là tôi cười nhẹ vì cái ngớ ngẩn của mình.Tôi đã làm việc ở Quân Y Viện trong tinh thần cởi mở như vậy đó!Nhưng điều này không còn có nữa, khi tôi đổi về làm tại Bênh Viện Từ Dũ, một Bào Sanh Viện lớn nhất hồi đó ở Saigon.


152 Thế Sự Thăng Trầm Quân Y viện Long Xuyên ở ngay bên Giòng sông An Giang và đối diện với Trường Nữ Trung Học Thoại Ngọc Hầu.Khi vừa nhận nhiệm sở tại Quân Y Viện, Chỉ HuyTrưởng Quân Y Viện là Y Sĩ Trung Tá Trương Ngọc Tích đã cho tôi một phòng để ở, trong Quân Y Viện, ngay khu Sản Khoa bên cạnh phòng làm việc. Nên sau giờ làm việc tôi thường ra ven sông ngồi chơi.Vào một buổi chiều, sau giờ tan sở của Quân Y Viện cũng là giờ tan học của Trường Nữ Trung Học Thoại Ngọc Hầu, khoảng 5 giờ chiều, tôi vừa ra ngồi chơi ở ven sông, thì thấy một máy bay L 19 trên đà lao xuống giòng An Giang. Một cảm giác quái dị và ao ước giá mà có thể giơ hai tay ra đỡ được cái máy bay này. Tôi la lớn cầu cứu. L19 chìm xâu vào giòng nước, nhưng có một người văng được ra ngoài và đang nổi giữa giòng. Người trong Quân Y Viện đem xuồng ra vớt. Đó là một Thiếu Uý. Còn một Trung Uý bị kẹt lại và chìm theo máy bay vào giòng sông. Theo như câu trả lời đầu tiên của ông Thiếu Uý thì ông Trung Uý định biểu diễn lái máy bay chui qua gầm cầu Hoàng Diệu, cho người tình học trò Thoại Ngọc Hầu coi, không may đụng phải “cột điện nông thôn” nên bị tai nạn.Tôi tự hỏi, không biết cô em có biết chuyện và đã nghĩ gì về trò chơi mất mạng này, mà để anh ta làm như vậy!?Sau nhiều giờ tìm kiếm, đội cứu cấp của Mỹ và Đại Hàn phối hợp, mãi đến trưa hôm sau mới kiếm được L19 kéo về Quân Y Viện và đem anh ra. Chắc vì máy bay khi lao xuống đã truồi theo giòng nước, trôi quá xa so với chỗ anh lao xuống.Tôi nhìn thấy thi hài anh trong bộ đồ bay màu đen, hẳn là đô con lắm, nên nằm đầy cái brancard hay vì đã bị chìm trong nước gần một ngày.


Trần Bảo Anh 153Giã từ Quân Y Viện Long Xuyên với một niềm lưu luyến khó tả, bởi sự tử tế của các Bác Sĩ và nhất là gia đình Y Sĩ Trưởng Trung Tá Trương Ngọc Tích.Trong sân Quân Y Viện, bên Giòng An GiangCầu Hoàng Diệu


154 Thế Sự Thăng Trầm Tháng 9 năm 1970 tôi về Từ Dũ trình diện, chỉ gặp bà Nữ Hộ Sinh Trưởng, Cô Ba Minh, và Nữ Hộ Sinh Phó, Cô Hai Hạnh chứ không gặp Bác Sĩ Giám Đốc. Tôi đã biết ông khi còn là Sage fille, Bác Sĩ Nam. Ông là một người dễ tính, vui vẻ.Hai bà Trưởng và Phó là trực tiếp điều hành với Nữ Hộ Sinh. Cô Ba Minh xếp cho tôi đi luân phiên tất cả các trại bệnh của nhà thương trong một tháng. Hết tháng cô hỏi tôi muốn làm chỗ nào. Tôi trả lời: “Thưa chỗ nào cũng được tuỳ Cô Ba.” Bà nói thấy tôi nhanh nhẹn và chuyên môn vững, tôi có muốn làm ở phòng Cấp Cứu Nhận Bệnh không? Tôi đồng ý. Bởi vì tôi hiểu, đó chỉ là cách nói, nhưng đã chỉ định rồi.Những tưởng làm ở đây sẽ bình an và thảnh thơi, vì mỗi tour de garde chỉ có hai Sage Femme và một Sage Fille năm thứ ba. Chị Trưởng Phòng ngồi ở phòng nhỏ phía ngoài, như vậy sẽ ít đụng chạm, tôi nghĩ vậy, khi mà tôi là người rất trọng kỷ luật, có trách nhiệm và chăm chỉ, cùng tự hào là chuyên môn vững, nhưng không hẳn, vẫn có “politique” thấp thoáng đó đây.Vào khoảng năm 1973, Từ Dũ có Giám Đốc mới: Bác Sĩ Phạm Trọng về thay thế Bác Sĩ Nam. Tôi được biết như vậy. Nhưng chưa gặp bao giờ nên không biết mặt ông. Bởi Bác Sĩ Giám Đốc hình như làm về hành chánh, chứ không trực gác như các Bác Sĩ khác trong bệnh viện. Sau đó một thời gian ngắn thì có tin đồn là “VỢ HAI” Bác Sĩ Giám Đốc đã vào bệnh viện để sanh. Nhân viên lũ lượt rủ nhau đến thăm “BÀ”. Chị Mau, Trưởng Phòng, hỏi tôi có đi không. Tôi trả lời: “Không, vì cả bệnh viện thăm, nhiều quá rồi. Thêm em cũng vậy thôi.” Thế là chị đi với mấy cô garde khác, có người phải từ nhà vào đi chung. Tôi không đi thăm, vì tôi không muốn. Sau khi sanh xong, “BÀ” xuất viện.


Trần Bảo Anh 155Phải chăng có ai “đẩy cây” sau đó? Vào một ngày đẹp trời, lúc 10 giờ sáng, chị Trưởng Phòng nhận điện thoại của Cô Ba Minh, Nữ Hộ Sinh Trưởng, bảo tôi lên gặp cô Ba ở phòng Giám Đốc. Linh tính cho tôi biết đây là kết quả của sự không đi thăm “VỢ HAI” Giám Đốc. Trên đường đi, tôi tự nhủ, cùng lắm là đẩy tôi đi tỉnh hoặc không tăng lương hàng năm, nên tôi rất bình tĩnh sẵn sàng để trả giá. Tôi đã từng làm việc ở Quân Y Viện Long Xuyên với nhiều Bác Sĩ. Tôi thấy ông Giám Đốc này đã sai ngay từ căn bản.Sau khi gõ cửa, nghe tiếng cô Ba Minh nói, vào đi em. Tôi mở cửa bước vào, rồi đóng cửa lại, thấy vẻ mặt cô Ba Minh không vui, ngồi đối diện với Bác Sĩ Phạm Trọng. Còn ông ngồi trên cái ghế bành ngả lưng ra phía sau, gác hai chân lên bàn, xoay qua xoay lại. Tôi nghiêng đầu chào nhưng không cong lưng. Dĩ nhiên là không ai mời ngồi.Bác Sĩ Phạm Trọng lên tiếng ngay: “Tôi đi ngang phòngNhận Bệnh nhiều lần, mà không bao giờ thấy cô cười.”Vì đã sẵn sàng nhận lãnh sự trả thù hèn hạ của một Bác Sĩ Giám Đốc. Thay vì giải thích là không biết mặt thì ngay tức khắc tôi trả lời:“Xin lỗi Bác Sĩ, tôi là Nữ Hộ Sinh, nên không phải gặp ai cũng cười. Tác phong của Bác Sĩ ngồi, giống như ở quán BAR, nơi đó Bác Sĩ dễ dàng nhìn thấy những nụ cười của gái làng chơi! chứ không phải phong thái của Bác Sĩ Giám Đốc trong phòng làm việc, khiển trách nhân viên.Chào Bác Sĩ!” Tôi buông trống không thêm: “Nó lú nhưng chú nó khôn.” Tôi quay ra chào cô Ba Minh, rồi ra khỏi phòng. Đóng cửa lại.Cả hai người có lẽ quá ngỡ ngàng về phản ứng của tôi, không ai kịp nói tiếp gì được nữa!Tôi trở lại phòng Nhận Bệnh với vẻ mặt thản nhiên. Thấy chị Trưởng Phòng đang nói chuyện với Cô Ba Minh


156 Thế Sự Thăng Trầm trên điện thoại. Sau khi buông máy, Chị Trưởng Phòng hỏi: “Có gì không em?” (Chị đã dư biết vì vừa nói chuyện với cô Ba Minh, tôi nghĩ thế.) Tôi nói: “Đây là kết quả của sự không đi thăm “VỢ HAI” của ông Giám Đốc. Em sẵn sàng đợi sự trả thù hèn mọn!” Trong lòng tôi đã bất cần, nếu chị Mau có nói lại. Đằng nào cũng chết, cho chết luôn. Tôi tự nhận thấy là tôi chẳng làm gì sai cả, nhưng dùng quyền lực để bắt phục tùng cá nhân thì tôi không làm đấy thôi. Tới đâu thì tới! Chứ tôi có cổ cánh gì đâu.Có lẽ không kiếm được lỗi chuyên môn hay kỷ luật của tôi, nên đã bắt lỗi một cách vô duyên!Phòng Cấp Cứu Nhận Bệnh lối vào, lối ra thông thương, không có cửa đóng. Hàng ngày, cả chục người đủ loại từ Nữ Hộ Sinh, Sinh viên Nữ Hộ Sinh, Sinh Viên Y khoa, Dược Tá và Y Công mặc đồng phục từ trong và ngoài bệnh viện đi ngang qua. Họ chẳng chào hỏi ai, cứ thản nhiên đi như chỗ không người. Bọn cô garde cũng chẳng cần để ý hay thắc mắc.Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, nhưng cả năm sau, tôi vẫn không nhận được giấy thuyên chuyển hay giấy phạt, không ai nhắc nhở đến vấn đề đó nữa. Không biết có phải câu nói của tôi như một cảnh tỉnh ông Giám Đốc không, thêm vào đó, ông còn thấy tôi lái xe hơi đi làm mỗi ngày, mà ông chột dạ chăng? Bởi chỗ tôi đậu xe, ngay tầm nhìn, nếu đứng từ văn phòng của ông.Ngoài một số Bác Sĩ, chỉ có mình tôi là Nữ Hộ Sinh lái xe hơi ngày đó mà thôi. Dẫu chỉ là xe Ladalat.


Trần Bảo Anh 157Tôi và xe Ladalat, ảnh chụp tại nhà khi đi làm về (1971)


158 Thế Sự Thăng Trầm Rồi tiếp theo là 30/04/1975. Tôi đang ngồi ở phòng Nhận Bệnh (không phải giờ garde của tôi) vì bà chị dâu tôi vừa sanh một cháu gái lúc 5 giờ sáng. Một sinh viên Y Khoa Nội Trú bước vào nói với tôi: “C’est la vingt- cinquième heure”. Dương Văn Minh vừa hạ lệnh buông súng! Chúng tôi bàng hoàng. Như, một Nữ Hộ Sinh, đang trong tour de garde đứng lên đi vào phòng thay quần áo, vài phút sau trở ra với băng đỏ chót nổi bật trên tay áo blouse trắng.Hỡi ơi! Một người mà chúng tôi luôn khen là hiền lành lại là một Việt Cộng nằm vùng. Bọn “Ba Mươi” chồi ra mọi ngõ ngách.Cùng lúc đó Bác Sĩ Giám Đốc Phạm Trọng bước vào, nhờ gọi điện thoại ra ngoài, nhưng mọi đường giây đều bị bận. Cũng như chúng tôi Ông hoàn toàn mất bình tĩnh. Ông loay hoay, trong phòng Nhận Bệnh, nửa muốn ra ngoài, nửa không. Thấy thế, tôi nói với ông: “ Bác Sĩ lên “terrace” trên phòng mổ, xem tình trạng trước rồi hãy đi ra, vì ở ngoài đang hỗn loạn lắm. Ông lẳng lặng rời phòng Nhận Bệnh. Tôi cũng rời phòng Nhận Bệnh về phòng bà chị dâu tôi đang nằm nghỉ.Sau đó tôi không thấy ông nữa, không biết ông có đi thoát ngày đó không?Bệnh viện tiếp tục hoạt động bình thường được thêm vài ngày với tâm trạng bất ổn, và tất cả mọi người đã e dè nhìn nhau!Ba, bốn ngày sau, có ba Nữ Cán Bộ đến “tiếp quản” bệnh viện với quần đen ngắn trên mắt cá chân và áo Bà Ba màu xám vào phòng Cấp Cứu trong tour de garde của tôi. Đó là chị Ba Thương, Chị Tư Đáng, khoảng ngoài 40 tuổi, tập kết trở về và chị Miền người Bắc khoảng ngoài 30 tuổi. Chị Ba Thương bắt tay tôi và hỏi: “Có chuyện gì bất ổn, sao tay em lạnh thế?” Tôi trả lời tay chân em luôn luôn như vậy, nhưng không bệnh hoạn gì cả! Chị Tư Đáng, vẻ mặt đanh ác nhìn tôi soi mói. Chị Miền


Trần Bảo Anh 159không nói gì. Các chị chỉ coi qua phòng khám rồi đi sang khu vực khác.*****Khoảng một tuần sau, có một mụ Việt Cộng nằm vùng tên Vân vốn là nhân viên quét đường trong thời Việt Nam Cộng Hoà, (mụ hãnh diện về điều này vì là “bần cố nông chân chính, hồng nhiều hơn chuyên”) đến phòng Nhận Bệnh với danh xưng Trưởng Phòng, ngồi đó từ 8 sáng đến 4 giờ chiều mỗi ngày để rình rập. Cho điểm.Dĩ nhiên là tôi đã bị tố khổ, bởi vì ngày 18 tháng 4 tôi bỏ nhiệm sở 5 ngày, cả nhà thương đều biết, ra Vũng Tầu dự định sẽ rời Việt Nam khi Việt Cộng vào. Vì trục trặc kỹ thuật không đi được. Tôi trở lại, cô Hai Hạnh, Nữ Hộ Sinh Phó, có lẽ hiểu vấn đề, nhẹ nhàng bảo tôi về phòng Cấp Cứu làm việc như cũ.Lại có chiêu lấy điểm ngầm ở phòng Nhận Bệnh. Tôi vẫn là tôi thủa nào. Sau một thời gian, 7 cô gác vào “biên chế”, trừ tôi. Lời giải thích vì nhà tôi có nhiều Mỹ Nguỵ, tôi cần phải “phấn đấu, tiến bộ” nhiều hơn!Từ đó các nhân viên bắt đầu bị thay đổi chỗ làm việc, từ phòng này sang phòng khác. Trừ tôi. Có lẽ cần để mụ Vân theo rõi hay vì một lý do nào khác, không biết.Chúng tôi, Nữ Hộ Sinh cùng các Bác Sĩ, trong bệnh viện, lần lượt phải đi lao động cuốc đất trồng khoai trên Long Khánh. Vì không có áo Bà Ba, tôi lấy áo lính Thuỷ Quân Lục Chiến mặc khi đi lao động. Bác Sĩ Thuần làm chung group với tôi, nhìn tôi ái ngại!Ít lâu sau phòng Nhận Bệnh lại có thêm một nữ bộ đội tên Biên, trong bưng ra, trình độ như trẻ học lớp ba trường làng, mặc áo blouse trắng vào ngồi đó không biết để làm gì, có vẻ hiền lành hơn mụ Vân. Chỉ ít ngày sau, giữa hai người này đã có sự hiềm khích. Mụ Vân bị đổi đi phòng khác. Không khí


160 Thế Sự Thăng Trầm phòng Nhận Bệnh nhẹ nhàng hơn. Bộ Đội Biên phụ giúp đưa bệnh nhân lên các trại bệnh khi cần. Và không có vẻ sắt máu như mụ Vân.Chúng tôi phải dự một buổi học chính trị do Cán Bộ tên Tám Én hướng dẫn trong bệnh viện. Tôi đã hỏi hắn một câu:“Đến khi nào các Sĩ Quan Chuyên Môn Cấp Tá được thả về, vì khi gọi tập trung nói chỉ đi một tháng mà tính đến nay đã gần 8 tháng rồi?”Hắn trả lời:” Bao nhiêu năm để trở thành một sĩ quan cấp tá thì bấy nhiêu năm phải trả nợ máu”.Hắn cũng kết tội tất cả nhân viên của bệnh viện là có tội với “Nhân Dân”. Lý do của hắn: “Chúng tôi đã trông nom săn sóc những bệnh nhân, là vợ con của các quân nhân, như thế các quân nhân yên lòng đi chống lại “Nhân Dân”. Cho nên tôi rất “dị ứng” với bọn Cán Bộ Việt Cộng.*****Vào một buổi sáng sớm, tháng sáu năm 1978. Tôi vừa nhận garde xong, thì một cán bộ, đội nón cối, bế vào một người quấn cái chăn của quân đội Mỹ sũng máu. Mạch rất yếu không đếm được, áp huyết chỉ được 05/? (Theo lối Pháp chỉ dung hai số bách phân). Vội vàng truyền nước biển ngay lập tức để giữ veine, cấp cứu. Cùng lúc nhờ điện thoại viên (vì tổng đài đặt ngay trong phòng Cấp Cứu) gọi nhân viên phòng thí nghiệm sang thử máu gấp, đồng thời mời Y Khoa Nội Trú và Bác Sĩ đến thẳng phòng mổ gấp, rồi chuyển lên phòng mổ vì bệnh nhân bị rách “Cul de sac” mất máu quá nhiều. Tôi vừa đi theo bệnh nhân lên phòng mổ vừa làm hồ sơ. Từ lúc vào phòng Cấp Cứu Nhận Bệnh, đến lúc tới phòng mổ là 7 phút. Có giờ chuyển bệnh và nhận bệnh. Bệnh nhân đã được mổ kịp thời và hồi phục.Hai tuần sau, tên cán bộ đăng báo than phiền là không tiếp


Trần Bảo Anh 161đãi thân nhân bệnh nhân tốt. Và kết luận đó là sự trả thù của Mỹ Nguỵ!Khi vào đổi garde, tour trước đưa cho tôi coi tờ báo. Chỉ cho tôi coi tên bệnh nhân trên sổ nhập viện. Tôi vội chạy sang phòng lưu giữ hồ sơ, mượn hồ sơ xem. Rồi bình tĩnh trở lại phòng Cấp Cứu Nhận Bệnh làm việc, chờ xem điều gì sẽ xẩy ra.Đến 9 giờ 45, cô Ba Minh, Nữ Hộ Sinh Trưởng cũ xuống phòng Nhận Bệnh hỏi tôi có nhớ gì về bà bệnh này không? Tôi đưa cho bà xem hồ sơ, sổ nhận bệnh và sổ chuyển bệnh, giờ phòng mổ ký nhận bệnh. Trong trường hợp này thì còn giây phút nào để tiếp đãi thân nhân được tốt. Thật ra Cô Ba Minh cũng là nhân viên cũ, cho nên chẳng làm gì được nếu có lòng muốn bênh vực tôi. Xem xong, bà bảo tôi đi với bà lên gặp chị Ba Châu là Phó Giám Đốc, Bác Sĩ tập kết trở về từ miền Bắc.Cô Ba Minh và tôi vào gặp chị Ba Châu. Chị Ba Châu đưa tôi đọc tờ báo và hỏi tôi muốn “báo cáo” điều gì không? Tôi đưa hồ sơ bệnh lý, có ghi đầy đủ, cho chị đọc từng phần một. Giờ nhận bệnh, giờ đo áp huyết và mạch, giờ truyền nước biển, cùng lúc nhờ Điện Thoại Viên gọi thử máu gấp và đồng thời mời Bác Sĩ và Nội Trú đến thẳng phòng mổ, Giờ bệnh nhận rời phòng Nhận Bệnh, tôi đi theo bệnh nhân lên phòng mổ, trong khi di chuyển bệnh lên phòng mổ. Viết hồ sơ bệnh. Tổng cộng chỉ có 7 phút, thì còn giây phút nào tiếp đãi thân nhân bệnh nhận cho được tốt.Tôi nói: “Theo như trên em đã trình bầy, xin chị Ba và cô Ba cho em biết, từ nay trở đi, không cần tình trạng của bệnh nhân ra sao. Điều kiện tiên quyết phải là tiếp đãi thân nhân bệnh nhân cho tốt, còn bệnh nhân thì hạ hồi phân giải, tính sau. Cho em xin quyết định, em sẽ triệt để tuân theo.”Cũng may, chị Ba Châu có vẻ là người hiểu biết lý lẽ nên nói với tôi: “Vì thấy “phản ánh” trên báo thì phải “làm việc”


162 Thế Sự Thăng Trầm với em. Thôi em cứ làm việc tốt là được. Em xuống làm việc đi.”. Chị nói đề hồ sơ bệnh lại, Chị Ba Minh sẽ đưa lại cho em sau.Đêm 01 tháng 8, 1978, tôi đến đổi garde thì tour trước đưa cho tôi một Bằng Ban Khen. Sáng 2 tháng 8, 1978 tôi ra garde sáng, đem theo bằng khen về nhà đưa cho em tôi, nói rằng dù thoát hay không thoát cũng đem “lộng kiếng” nói lái lại là liệng cống.Ngày đó ảnh của tên Hồ Chí Minh bán đầy ở chợ, vì gia đình nào cũng bị bắt buộc treo. Những người bán, chào hàng, rao: “Mua hình bác về lộng kiếng đi bà con cô bác ơi.” Không biết vô tình hay cố ý sỉ nhục!Ba giờ chiều hôm ấy tôi đi vượt biên tại Phú Xuân - Nhà bè, mà sự chết lên đến 99% vì không thức ăn, không nước uống, không dầu và gặp bão lớn, nhưng còn may mắn không bị cướp. Sàn tầu đã bắt đầu vỡ chỉ còn đáy tầu. Sau 7 đêm sáu ngày, tôi đã đến được bến bờ Tự Do Philippines.Tầu chúng tôi cặp vào đảo Pag Asa, một đảo quân sự của Hải, Lục, Không Quân-Philippines. Ba ngày sau được đưa về Puerta Princessa rồi một tuần sau đó lại chuyển đến Mandaluyong, ngoại ô của Manila, một trung tâm đã có một số người tỵ nạn đang ở đó. Rất ô hợp và phức tạp.Bẩy tháng sau tôi được đi định cư ở North California, Hoa Kỳ.Những ngày đầu đến Mỹ cũng gặp những điều bất như ý. Nhưng vẫn được quý nhân linh thiêng phù trợ, nên xin làm Thông Dịch Viên với United States Catholic Conferrence (USCC) là được ngay.Vì nhờ có bằng Sage Femme d’Etat mang theo. Một năm sau, tôi chuyển được sang làm Medical Coordinator với Intergovernmental Commitee for European Migration (ICEM) mà Headquarters ở Genève. Khoảng năm 1989 tên này đổi là


Trần Bảo Anh 163ICM khi người tỵ nạn Âu Châu không đến nữa, rồi lại đổi thành IOM (International Organization for Migration). Từ khi được công việc này, tôi phải đi công tác liên miên. Tôi bay nhiều hơn là lái xe. Ở trên trời nhiều hơn là dưới đất. Đi khắp các tiểu bang của Hoa Kỳ, ra cả ngoại quốc. Chỉ trừ có Las Vegas, Tiểu Bang Nevada là chưa đến đó bao giờ. Đúng là luôn luôn ngược đời, vì ai cũng thích đến đó mà tôi thì không!Ngày cuối, trước khi rời Manila-Philippines đi định cư-1979Vì đi bay nhiều quá, một người bạn có “boat” rủ đi “trên nước” sailling vào một ngày cuối tuần trên vịnh San Francisco. Nên tôi đi sailling để nhớ lại cái cảm giác kinh hoàng khi vượt biển tìm Tự Do khác như thế nào.Đây là một cái tầu nhỏ, nhưng to gấp đôi cái tầu tôi vượt biên, có động cơ, chỉ mở máy để rời bến đậu, và vào trở lại bến đậu thôi. Sau khi ra khỏi cái deck một đoạn thì tắt máy tầu,


164 Thế Sự Thăng Trầm kéo 2 cánh buồm lớn lên, rồi cho tàu chạy bằng sức gió với hai cánh buồm. Người bạn tôi điều khiển hai cánh buồm bằng tay tuỳ theo chiều gió với những sợ giây cáp. Có những lúc tầu nghiêng với góc 45 độ mà nói là normal. Cũng sợ nhưng chỉ một hai phút chứ không khủng khiếp như lần vượt biên kéo dài 7 đêm 6 ngày với những ngọn sóng bạc đầu ập liên tục vào con tầu nhỏ (11x2.5 mét)Làm được 20 năm với “ICEM” thì Station ở San Francisco đóng cửa. Tôi định về hưu, nhưng sợ không làm gì thì mụ người đi, nên sau đó lại đi làm Executive Director cho NonProfit Organization của San Francisco City thêm 15 năm nữa.Chỉ tiếc rằng không có cơ hội làm Sage Femme trở lại, vì tôi luôn nghĩ rằng“deliver a baby” là cả một nghệ thuật!Âu cũng là ý trời! Đó là tôi.Sailing on San Francisco Bay, California, USA -1981


Trần Bảo Anh 165 Những Chuyện Can Đảm Cổ KimI_Trong dòng sử của Việt Nam, có nhiều bậc anh hùng. Mỗi người can đảm một cách.Trước khi có chế độ Cộng Sản, ngay ở bậc tiểu học, các học sinh, đã được học về sự can đảm của Danh Tướng Trần Bình Trọng khi bị lọt vào tay giặc, đã cư xử ra sao.Năm 1284, Nhà Nguyên cử Thoát Hoan đem 50 vạn quân sang xâm lấn nước ta. Trần Bình Trọng là một Danh Tướng Nhà Trần, đã tổ chức cuộc đánh chặn ngay tại bãi Thiên Mạc vào tháng Giêng 1285. Do sự chênh lệch quá lớn về quân số, Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan cố thuyết phục Ông đầu hàng nhà Nguyên, và hứa là Ông sẽ được Vua Nguyên, Hốt Tất Liệt, phong Vương.Ông can đảm trả lời ngay: “Ta thà làm quỷ Nước Nam, chứ không thèm làm vương Đất Bắc”.Thất bại trong việc muốn thu phục một tướng giỏi, giặc Nguyên bèn hành quyết Ông. Khi đó, Trần Bình Trọng mới 26 tuổi.Trong sử Tầu, Kinh Kha, một kiếm sĩ can đảm đi tìm cách giết ông vua Tần cực kỳ tàn ác.


166 Thế Sự Thăng Trầm Kinh Kha, người nước Vệ, sau sang nước Yên, ham đọc sách, đánh gươm. Thái Tử nước Yên là Điền Đan cử Kinh Kha cầm bản đồ đất Đốc Cang, sang dâng vua Tần, để có thể đến gần mà hành thích.Vua Tần tiếp Sứ Giả, bảo: “Đưa địa đồ lên đây!” Kinh Kha dâng lên. Vua Tần liền giở địa đồ. Đến cuối địa đồ, trật ra con dao trủy thủ của Kinh Kha đã dấu sẵn trong đó. Kha liền tay trái nắm áo vua Tần, tay phải cầm trủy thủ chĩa vào. Chưa chạm tới mình, vua Tần hoảng, giằng ra vùng đứng dậy. Tay áo đứt, rút gươm. Gươm dài và chặt, không sao rút được ngay. Kinh Kha đưổi vua Tần, chạy vùng quanh cột. Sau vua Tần rút được gươm ra, chặt đứt được đùi bên trái của Kha. Kinh Kha què, cầm con trủy thủ ném. Không trúng, cắm vào cột. Vua Tần lại đâm Kha.Kha bị tám vết chém, tự biết việc không xong, tựa cột mà cười, ngồi xếp bằng tự mắng mình rằng:“Việc sở dĩ không xong, chỉ tại muốn bắt sống, lấy được giấy cam đoan về, để trả lời Thái Tử.”*****Can đảm gốc từ chữ Hán. Can là lá gan, đảm là túi mật.Nói theo cách của quần chúng, người can đảm được kể là to gan lớn mật.Tại sao lại nói là to gan lớn mật? Chữ to gan, không rõ điển tích. Nhưng lớn mật, do một khám phá ngẫu nhiên liên quan đến một nhân vật thời Tam Quốc là Khương Duy.Khương Duy văn võ toàn tài, đa mưu túc trí, bị bệnh tim kinh niên. Phò Hán, vừa làm quân-sư, vừa làm tướng. Can đảm vô cùng. Các tướng Ngụy rất kinh sợ mỗi khi phải đối trận với Ông. Nếu không chết dưới ngọn kích


Trần Bảo Anh 167của Khương Duy, thì cũng bị hãm vào tử địa bởi mưu trí của Ông. Gặp những lúc phải rút quân, Khương Duy luôn luôn cầm kích, tự mình đi đoạn hậu.Khi vận nhà Hán đã hết, quân Ngụy từ bốn phương tám hướng, dồn vào Thành Đô như ong vỡ tổ.Bấy giờ Khương Duy một mình tuốt gươm cầm tay, tả xung hữu đột trên điện. Các tướng Ngụy sợ, không ai dám tới gần. Đúng lúc đó, Duy bị cơn đau tim tái phát. Đau xé lồng ngực.Duy ngửa mặt lên trời, thét lớn rồi cầm gươm tự đâm cổ mà chết.Quân sĩ, tướng tá Ngụy đều căm hờn Khương Duy vô hạn. Bấy giờ họ tranh nhau mổ bụng Duy để trả thù, thì thấy quả mật của Duy lớn bằng quả trứng gà.II_Trong cuộc chiến bảo vệ Tự Do cho Miền Nam, những gương can đảm của các quân nhân rất nhiều, từ hàng binh sĩ lên đến cấp sĩ quan, trong mọi quân, binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.Sau mỗi trận đánh, thành tích của họ thường được ghi lại bằng cách tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh, với 4 cấp từ thấp lên cao là: với Ngôi Sao Đồng, với Ngôi Sao Bạc, rồi tới với Ngôi Sao Vàng, và cao nhất là với Nhành Dương Liễu.Hoàn cảnh và tình thế thay đổi tùy thời, tùy chỗ, nhưng lòng can đảm, tựu trung vẫn phát xuất từ một cái ý là coi cái chết “nhẹ như lông Hồng ”.Sự can đảm có thể bộc phát trong khoảng một thời gian ngắn, kéo dài vài tiếng đồng hồ, liên tục trong nhiều năm, hay trường kỳ một, hai thập kỷ. Xin mời xem vài trường hợp tiêu biểu.


168 Thế Sự Thăng Trầm 1- Bác Sĩ Lê Thành Ý.Trong cuốn Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, xuất bản năm 2000, có bài tường thuật về trường hợp Bác sĩ Lê Thành Ý thuộc Biệt Kích Dù, đã mổ lấy ra một quả lựu đạn M79 nơi bắp chân của một binh sĩ.Một binh sĩ người Thượng, còn trẻ, bị lãnh nguyên một quả đạn lựu đạn M79 nơi bắp chân trái, được võng về trại. Đã xin tản thương bằng trực thăng về Quân Y Viện, nhưng bị từ chối, vì ai cũng sợ đạn sẽ phát nổ trong lúc di chuyển.Bác sĩ Ý nghĩ: phải làm một phòng mổ dã chiến với một bức tường bằng bao cát có “khung cửa sổ”. Khung cửa sổ vừa tầm tay để anh có thể cầm dao mổ và đặt một cái bàn cho thương binh nằm cạnh khung cửa sổ này ở phía bên kia bức tường.Nhiều thùng gỗ pháo binh và bao cát được thay nhau mang đến, lính Biệt Kích làm thật nhanh chỉ thoáng chốc là đã xong cái khung.Trong lúc chờ cái phòng mổ dã chiến của mình hoàn tất, anh đi bách bộ trong sân trại nghĩ cách đặt người thương binh nằm thế nào, gây tê làm sao?Viên sĩ quan trợ y chạy đến báo đã làm xong mọi việc, kể cả cái cán dao mổ mà anh vẽ kiểu. Ðó là cán dao bằng gỗ hình chữ L mà lưỡi dao mổ sẽ được cột chặt vào nơi cạnh ngắn.Vào đến phòng mổ dã chiến hoàn tất. Bức tường bao cát màu xanh đậm càng làm tăng không khí lạnh lùng, qua khung cửa sổ ánh sáng đèn mổ chói chang.Bác sĩ Ý đến bên khung cửa sổ, thử đi thử lại với con dao mổ cho nhuần nhuyễn. Người thương binh được khiêng lên bàn mổ từ từ. Ðôi mắt mở lên nhìn


Trần Bảo Anh 169anh, muôn ngàn lời nói. Anh mỉm cười và vỗ vai để anh ta yên lòng. Hai chân được cột chặt vào chân bàn mổ, tất cả thân người đã được phủ áo giáp trừ nơi chân bị thương.Thật cũng buồn cười, thay vì phải mặc “blouse” khử trùng, mang (găng) gants khử trùng, anh phải khoác một áo giáp, cổ áo giáp vén cao để bảo vệ cái cổ của mình. Anh lại thử cán dao qua khung cửa để thuần tay. Chân bị thương được khử trùng... Gây tê bắt đầu. một giây cao su “garrot” được cột phía trên vết thương...Mọi việc tiến triển tốt đẹp...Anh xin mọi người rời khỏi phòng, trừ Bác Sĩ Xuân và Y Tá Trưởng. Chung quanh yên lặng theo dõi anh. Khi biết thuốc gây mê đã thấm, anh gật đầu ra hiệu, Ðại Úy Giác ra lệnh các khẩu pháo ngừng bắn.Không gian đột nhiên im như tờ. Anh nghe tim mình đập mạnh và nhanh. Hít thật sâu và tập trung tư tưởng. nhìn cái chân phồng lên qua khung cửa nhỏ.Không nhìn thấy mặt mình lúc này, anh nghĩ chắc là tái xanh. Mồ hôi rịn khắp người lạnh toát, nhưng anh quyết định thực hành ngay. Lấy hơi và nín thở. Dao mổ đi một đường nhẹ, một tiếng “cách” nhỏ khi lưỡi dao đụng vào đầu đạn làm anh toát mồ hôi. Ngưng lại một giây chờ đợi, không có gì xẩy ra, làm mình thêm vững chí. Tiếp tục nhấn mạnh lưỡi “scalpel” và rạch vết mổ cho rộng thêm. Quả đạn M79 nằm tròn đây rồi - đầy đe dọa - được từ từ gắp ra với cái kẹp nước đá.Anh thở phào trong tiếng reo mừng của toàn thể anh em có mặt. Quả tạc đạn được đặt ngay trong thùng đạn đại liên đã lèn đầy bông băng, trao cho chuyên


170 Thế Sự Thăng Trầm viên tháo gỡ đạn dược mang ra sân sau trại cho nổ.Mọi người đến bên anh bắt tay chúc mừng. Anh Giác đến trao cho anh một điếu Quân Tiếp Vụ. Anh “rít” một hơi, sao mà nó ngon quá!Anh thương binh nhìn anh cười thật tươi như lời cảm ơn. Vết thương được cầm máu, rửa sạch và băng lại.Mọi người cười nói ồn ào, vui vẻ khác hẳn mấy tiếng đồng hồ trước kia.(Trích Pleime, hè 71_ Lê Thành Ý)*****Những trường hợp cá nhân can đảm không sao để hết được, họ đến từ mọi quân binh chủng như: Nghiã Quân, Địa Phương Quân, Bộ Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp, Hải Quân, Không Quân, Biệt Kích Dù/Biệt Cách Dù, Biệt Động Quân, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Quân Y.Khi hai phe đối địch, nếu cái thế, cái lực, và vũ khí ngang nhau, ‘một chín một mười’, thì sự can đảm, dễ biểu lộ ra từ mỗi người trong cuộc. Bởi rằng, sự can đảm được yểm trợ bởi phương tiện có trong tay, và bởi những chiến hữu đang sát cánh.Thế nhưng, nếu có sự chênh lệch rõ rệt, thì một trường hợp can đảm từ phía yếu thế, phải được coi là rất đáng phục và rất đáng ghi vào sử sách.2- Trung Sĩ Lượm .Ngày 30-3-1972, Cộng Sản Bắc Việt xua 30,000 (ba chục ngàn) quân chính qui, với 200 xe tăng T54 vượt vùng phi quân sự, tiến đánh Quảng Trị. Bên ta, Sư Đoàn 3 Bộ Binh, bị tổn thất nặng. Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến được điều động đến giữ Đông


Trần Bảo Anh 171Hà.Chiếc xe tăng đầu tiên của địch vừa chồm lên đầu phía bắc cầu Đông Hà, thì Trung Sĩ Lượm, tại đầu cầu phía nam, nhô lên khỏi hố cá nhân, dương súng Law M.72, nhắm bắn ngay. Quả đạn bay vụt cao, trượt khỏi mục tiêu. Chiếc T-54 tiếp tục. Khoảng cách đôi bên là 250 m. Như vậy chỉ trong vòng 10 giây là chiếc xe tăng này sẽ vượt hết cây cầu. Địch bắn như mưa, đủ lọai súng, Đại Bác, Đại Liên. Trung Sĩ Lượm can đảm, nhanh như chớp, lại nhô lên, bắn viên M.72 thứ nhì. Viên đạn trúng ngay chỗ pháo tháp gắn vào thân xe. Khói bốc lên.Trục tiến của đoàn xe tăng Bắc Việt bị chặn lại.Trung Tá Turley, Trưởng Toán Cố Vấn Mỹ, đã ví đây là sự đối đầu của một “David” Á Châu.Theo sách của Samuel, thuộc bộ kinh thánh Cựu Ước, David là một cậu bé thuộc quân Israelites, không có kiếm và cũng chẳng có áo giáp. Cậu đã dùng một viên đá sỏi để bắn trúng được vào đầu gã khổng lồ đã mặc áo giáp kín khắp người, là Goliath trong đội quân Philistines.Tên này ngã sấp mặt. David xông lên, lấy cái kiếm của gã khổng lồ rồi cắt đầu hắn.Trung sĩ Lượm, với trọng lượng cơ thể khoảng 50 ký, nhô lên hụp xuống để đối đầu với 40 tấn thép là T-54. Và Trung Sĩ Lượm đã thắng. Nhờ lòng can đảm.3- Thiếu Tá Tô Văn Cấp và Gia Đình.Thông thường, nếu một người có thân nhân đã tử trận thì thế nào họ cũng hơi chùn bước. Điều này hợp lẽ thường. Không ai nỡ trách.Nhưng nếu một gia đình, có một hay vài người


172 Thế Sự Thăng Trầm đã hy sinh vì tổ quốc, mà những người con trai khác không sờn lòng, vẫn can đảm muốn phục vụ trong một binh chủng “Sống Hùng Sống Mạnh”, thì không ai là không cảm phục. Đó là trường hợp gia đình Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Tô Văn Cấp.Người bị thương đầu tiên là anh rể của ông Cấp, tên là Nguyễn Duy Xướng, một Trung Đội Phó, thuộc Tiểu Đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến. Ông bị thương trong trận Mỏ Cầy, vào năm 1956.Sau khi lành vết thương, Ông vẫn tiếp tục chiến đấu.Tiếp tục bị thương nhiều lần nữa. Lần sau cùng, Ông bị cắt 1/3 lá phổi. Lẽ ra với cấp độ tàn phế như thế, thì Ông là thương phế binh, có thể xin giải ngũ. Người vợ năn nỉ Ông điều này.Nhưng Ông gắt lại: “Nếu có chết, thì phải chết trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến”.Người chót thuộc gia đình này đã đóng góp xương máu cho quốc gia là Đại Úy Tô Thanh Chiêu, Đại Đội Trưởng Đại đội 3, Tiểu Đoàn 4 Thuỷ Quân Lục Chiến.Anh hy sinh trong lúc giao tranh từ cửa Thuận An đến cửa Tư Hiền vào ngày 25-03-1975.Liên tục suốt 20 năm, 5 anh em họ Tô và 3 người cháu, thi nhau vào Thủy Quân Lục Chiến, dù đã thấy người trước từng bị thương từ nhẹ tới nặng mấy lần, hoặc đã tàn phế hay chết không tìm được xác.8 người phục vụ dưới cờ Thủy Quân Lục Chiến thì tử trận hết 7. Ắt phải có một dòng máu can đảm đã chẩy trong huyết quản của họ.Thật đáng phục và đáng kính thay!Có người sẽ hỏi: Riêng ông Cấp thì sao?Xin đáp ngay là: Theo học khóa 19 Sinh Viên Sĩ


Trần Bảo Anh 173Quan, Võ Bị Quốc Gia Việt Nam năm 1962. Sau khi mãn khóa vào năm 1964, tốt nghiệp Thiếu Úy, tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến. Ông về Tiểu Đoàn 5, rồi sau đó được chuyển sang Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên.Trong trận Việt Cộng phục kích tại Phò Trạch 29-6- 1966, Thiếu Uý Cấp đã bị thương. Chỉ trong khoảng thời gian 3 năm, tính từ ngày này, Tô Văn Cấp đã bị thương 5 lần.Lần chót vào ngày 19-6-1969, trong một trận đánh ở kinh Cán Gáo, Chương Thiện, Tô Văn Cấp bị thương nặng. Sau khi bình phục, với cấp độ tàn phế cao, Ông có thể được trở về đời sống dân sự.Nhưng ông đã không xin giải ngũ.Ông rất tự hào, nhất là đã có 5 Chiến Thương Bội Tinh (Ngôi Sao Đỏ. Ông rất hãnh diện về điểm này. Đã đổ máu cho quốc gia, 5 lần trong suốt đời quân ngũ.)Lại có người hỏi tiếp: Ông có chạy thoát được vào ngày 30-4-1975 không? Nếu không, chắc Việt Cộng bắt được ông, chúng sẽ hành hạ dữ lắm?Xin thưa: Thiếu Tá Tô Văn Cấp không bao giờ có ý định chạy cả. Nếu muốn yên thân, thì ông đã giải ngũ từ 6 năm trước. Đâu cần đợi đến ngày mất nước, mới lo cho mạng mình. Cho đến giờ phút chót, trước khi Dương Văn Minh hạ lệnh đầu hàng, Thiếu Tá Tô Văn Cấp vẫn còn giữ chức vụ Chỉ Huy Phó Căn cứ Sóng Thần. Binh sĩ dưới quyền thật “hùng dũng và kỷ luật, vẫn sẵn sàng tiếp tục chiến đấu.” Vị Tư Lệnh Phó đáng kính của binh chủng là Đại Tá Nguyễn Thành Trí, khi đưa quân từ chiến trường phía Đông về tới đây, đã nhận xét như vậy.


174 Thế Sự Thăng Trầm Sau ngày mất nước ông Cấp bị tù gần 10 năm trong các trại tập trung:1- Long Giao, Suối Máu (ở trong Nam)2- Rồi Lào Kai, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang,Vĩnh Phú (ở ngoài Bắc)3- Xong lại được trở về Nam ở Hàm Tân, Xuân Lộc Z30D.III- Một người, khi sa cơ thất thế, không còn gì trong tay, và đang lọt vào tay kẻ thù, mà vẫn can đảm, thì đó là những can đảm phi thường .Dưới đây là một số trường hợp điển hình. Xin mời đọc1. .Bác Sĩ Vũ Đức Giang.Tháng 3-1975, Y Sĩ Trung Úy Vũ Đức Giang, thuộc khóa 21 Quân Y Hiện Dịch, là Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 7 Thuỷ Quân Lục Chiến.Sáng ngày 26 tháng 3, 1975 Bác Sĩ Giang đã di chuyển các thương binh lên chiếc LMC đầu tiên xong. Vì danh dự của một cấp chỉ huy, anh lại trở xuống. Cuối tháng 3 Miền Trung mất. Bác Sĩ Giang bị bắt .Dưới đây, xin trích vài đoạn của Bác Sĩ Phạm Anh Dũng, một Y Sĩ thuộc Sư Đoàn 3 Bộ Binh, vốn là bạn thân của Bác Sĩ Giang đã viết về lòng can đảm của Giang:…Và cũng trong “Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975” của Phạm Huấn về Vũ Đức Giang: “……Cuối năm 1976, lại một lần nữa, muốn bảo vệ danh dự của một Quân Y Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, anh đã tự tử chết trong trại tù ở phi


Trần Bảo Anh 175trường Ái Tử, ngoài Đông Hà, Quảng Trị”.Cuối cùng thư của chị Nga viết từ Saigon, ngày 10 tháng 6, 1988. Vũ Đức Giang vẫn cương quyết, bất khuất*****Giang đã lựa chọn cách bày tỏ thái độ phản đối hành động của Cán Bộ Việt Cộng cai tù. Nguyên văn đoạn viết về Giang trong thơ của người chị: “ Trường của chị bán căng tin ở Thủ Đức, có ông bác của Giang làm Bảo Vệ, nhắc về cái chết của Giang ở trong trại. Giang đòi hỏi về Nhân Quyền, bọn cán bộ mới hăng máu quá đã đánh Giang và bắt quì. Giang không quì. Họ nhốt kín và Giang đã tự tử chết. Chị đã buồn mãi khi nghe chuyện và rất nhớ Giang, những ngày Dũng đi vắng đã đến tận nhà chích thuốc cho chị khi chị bị yếu phổi. Giang rất hiền và tốt. Sao số lại tàn nhẫn quá!. ”.2. Thiếu Tá Phạm CangTháng 3 năm 1974, ông được chỉ định giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến cho đến ngày 27-3-1975, ông bị bắt tại cửa Tư Hiền (Huế).Ông đã trải qua 12 năm 8 tháng trong các nhà tù Cộng Sản.Khi sa cơ thất thế, Ông vẫn giữ được tư cách và phong thái anh hùng. Tiểu Đoàn Trưởng Phạm Cang và Tiểu Đoàn Phó Lê Quang Liễn của Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến đã cùng 7 người khác, chỉ huy toàn thể tù nhân vùng dậy.Cuộc bạo động đó xẩy ra ngày 20-4-1979 tại phân trại 04, thuộc trung tâm cải tạo Bình Điền, tỉnh Thừa Thiên .Sau vụ này nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách tàn bạo đến gẫy xương, trào máu, bầm gan tím ruột.


176 Thế Sự Thăng Trầm Thiếu Tá Phạm Cang liền bị 3 năm 4 tháng biệt giam.3. Thiếu Tá Lê Quang LiễnSuốt 10 năm, từ 1965-1975, ông luôn luôn phục vụ trong Thủy Quân Lục Chiến. Từ khi mang cấp bậc Thiếu Tá, ông lần lượt được giữ chức vụ Tiểu Đoàn Phó của 3 đơn vị: Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 9 và Tiểu Đoàn 7.Ngày 26-3-1975, khi có một tầu LCM, vào gần bờ để bốc thương binh, Thiếu Tá Liễn ôm xác người em trai, bơi ra tầu. Vừa kịp lúc tầu kéo bửng lên, nên cả hai anh em Liễn, người sống và người chết lăn vào trong tầu. Vừa khi tầu lui ra, thì Liễn nhẩy xuống biển, bơi trở lại vào bờ đế tiếp tục chiến đấu cùng đồng đội, và rồi bị bắt cùng đồng đội.Ngày 27-3-1975, ông bị bắt tại cửa Tư Hiền. Ông bị giam trong những trại tập trung từ ngày đó.Bất cứ ai, khi sa cơ thất thế, mà vẫn giữ được tư cách và tiết tháo của mình, đều đáng trọng. Giữ được tiết tháo mà còn lại tiếp tục phong thái anh hùng thì lại càng đáng khâm phục hơn nữa. Đó là trường hợp Tiểu Đoàn Trưởng Phạm Cang và Tiểu Đoàn Phó Lê Quang Liễn của Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến đã cùng 7 người khác, chỉ huy toàn thể tù nhân vùng dậy.Bọn công an liền đánh đập họ một cách tàn nhẫn. Nhiều sĩ quan đã nằm la quằn quại trên những vũng máu rồi chết trong tù sau những trận đòn dã man vô nhân đạo.Sau đó, Thiếu Tá Lê Quang Liễn bị biệt giam 4 năm 7 tháng 24 ngày. Ông từng bị cùm bởi nhiều thứ cùm quái ác.Tổng Cộng thời gian ông bị nhốt trong trại tập trung là 12 năm 11 tháng.


Trần Bảo Anh 1774. Phi Công Lý TốngLý Tống là một Phi Công A 37 của Không Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.Ngày 5/4/1975 ông nhận nhiệm vụ phá hủy cây cầu tên là Ba Ngòi, vùng Cam Ranh. Máy bay của Ông bị trúng hỏa tiễn SA7. Ông nhẩy dù xuống, thoát chết. Rồi bị bắt. Cuộc đời tù của ông kéo dài 6 năm liên tiếp qua nhiều trại.Tháng 10-1975 Lý Tống trốn khỏi trại, nhưng sau vài ngày bị bắt lại, giải về địa ngục trần gian, rồi bị nhốt vào conex 6 tháng.Ông bị tra tấn.Việt cộng dùng kìm rút từ từ những móng chân của Lý Tống. Ông thản nhiên chịu, không kêu la.Ông nghĩ: “Các người chỉ rút được móng chân ta, nhưng không bao giờ rút được ý chí sắt đá đã đúc thành khối vững chắc trong đầu ta!”Trong suốt những năm ở trong tù, Lý Tống bị hành hạ, tra tấn đủ mọi cách. Kể cả bị cùm chân trong cùm gỗ khổng lồ. Nhưng chưa bao giờ Việt cộng thành công trong việc bắt nổi Ông quỳ.Ông kể lại:… “Ngày hôm sau, tôi bị dẫn vào gặp trưởng trại, y ra lệnh cho tất cả vệ binh ra khỏi phòng rồi bảo tôi:— Tôi biết anh đã từng bất tuân lệnh quỳ của Cán bộ tại các Trại... Ở đây, không có ai. Nếu anh chịu quỳ trước ảnh Hồ Chủ Tịch, tôi sẽ bỏ qua mọi tội lỗi của anh và tha anh về Trại ngay lập tức.Tôi lắc đầu bảo:— Cám ơn thành ý của ông. Ở đây không có ai nhưng còn có ông, có tôi, có Trời, có Đất và có lương tâm của tôi. Tôi thà trở lại nhà kỷ luật hơn làm chuyện hèn hạ, nhục nhã đó.Nói xong, tôi tự động bỏ về nhà cùm.”


178 Thế Sự Thăng Trầm Lý Tống gan dạ, cương quyết, thông minh và rất mưu trí nên cuối cùng ông vượt thoát được khỏi trại tù A30. Sau vài ngày ông về đến vùng Tuy Hòa, men ra quốc lộ. Vượt sang được đất Thái Lan, tưởng đã tới xứ tự do, nhưng không.Ông lại bị nhốt một lần nữa.Sau 10 tháng, ông lại vượt ngục Thái Lan, rồi băng rừng vượt núi thoát sang Mã Lai. Cuối cùng đến trạm biên giới gần Singapore, Ông bơi vượt eo biển Johore Strait, đầy cá mập, vào ban đêm.Tới Mỹ, Ông ghi tên theo học Đại Học. Ông đậu Cử nhân, rồi Tiến Sĩ.Sống trên đất Mỹ, với đầu óc hướng thượng, nhắm tới Vì Hạnh Phúc và Tự Do của đồng bào, Lý Tống hai lần bay về Việt Nam, thả truyền đơn xuống, thúc giục đồng bào vùng dậy diệt Cộng Sản. Lần đầu thả hết 50,000 (50 ngàn) truyền đơn xong, nhẩy dù xuống. Ông bị bắt, bị tù 6 năm. Lần thứ hai, hoàn tất sứ mệnh, lại bị Thái Lan giam giữ 7 năm.5. Nguyễn Hữu LuyệnTrong bài Người Tù Kiệt Xuất, tác giả Phan Lạc Phúc đã viết lại:..…Trên nguyên tắc trại Thanh Phong K1 đặt dưới quyền chỉ huy của trại trưởng, Trung Tá Công An Thùy “mồi”, nhưng trên thực tế anh em Biệt Kích Dù suốt 20 năm tù đày gian khổ, vẫn tuân hành tuyệt đối mệnh lệnh của vị chỉ huy của họ, Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện. Đây là một con người huyền thoại. Chúng tôi nghe đến tên anh từ lâu nhưng chưa bao giờ được gặp, vì anh không đi lao động ở ngoài. Anh em Biệt Kích Dù đều tỏ ra rất nghiêm trang, rất kính cẩn mỗi khi nhắc đến “Ông Thầy” của họ. Truyện về Đại Úy Biệt Kích Dù này khá nhiều, đầy vẻ hoang đường, truyền


Trần Bảo Anh 179thuyết. Đây là người sau 20 năm bị bắt vẫn còn tuyên bố:“Tôi Nguyễn Hữu Luyện, Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa… tôi chưa thua các anh. Tôi mới thua một trận, chưa thua cuộc chiến này”. –Bắt Nguyễn Hữu Luyện đi lao động, anh nói: “Các anh có thể giam tôi, bắn tôi, nhưng danh dự của một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không cho phép tôi làm những công việc mất nhân cách. Quy chế sĩ quan không cho phép tôi làm như vậy”.Anh đã bị kiên giam nhiều năm tại rất nhiều trại rùng rợn, dã man nổi tiếng nhưng Nguyễn Hữu Luyện trước sau vẫn là Nguyễn Hữu Luyện, không thay đổi, không khiếp sợ, không khuất phục……Trong món đồ hàng ngày đi tắm của Nguyễn Hữu Luyện có một vật rất lạ, rất ít có ở đây.Tù đi tắm thì cứ thế cởi truồng, vục tay xuống suối mà kỳ cọ, tắm rửa. Hoặc buổi sáng có ra giếng rửa mặt thì cũng chỉ mang cái thùng kéo nước với bàn chải đánh răng là cùng. Nguyễn Hữu Luyện đi tắm khác với người ta, mang theo một cái chậu men xanh thật đẹp. Màu men óng ả chói ngời…tương phản rõ rệt với màu cố hữu của trại tù là màu xám xịt. Tôi mới hỏi Nguyễn Hữu Luyện: “Ở đâu mà có cái chậu men xinh đẹp vậy?”. Nguyễn Hữu Luyện trả lời: “Tôi cũng không ngờ là tôi lại nhận cái chậu này. Của tên trại trưởng trại “Mục Xương” ở Cao Bằng tặng cho tôi đấy. Cao Bằng giáp với biên giới Trung Hoa nên vẫn có hàng lậu đi từ Trung Quốc sang. Cái chậu này là đồ làm từ Quảng Châu có nhãn hiệu chỉ rõ. Dạo cuối thập niên 70, tên Trại Trưởng Thiếu Tá Công An nó hành tôi ghê lắm. Nhất định nó bắt tôi đi lao


180 Thế Sự Thăng Trầm động. Tôi thì nhất định không đi. Nó liền cùm chân. Cùm chán rồi đem xuống hầm tối. Rồi bắt nhịn ăn. Mùa lạnh nó còn đổ nước xuống hầm nữa. Tôi người Công giáo nên tôi cầu Đức Mẹ Maria, trong cơn thập tử nhất sinh, tôi cũng cầu luôn Phật Bà Quan Âm nữa. Nó hành tôi mãi năm này sang năm khác mà cuối cùng tôi vẫn còn sống. Nhưng mà chết thì thôi, tôi nhất định không đi lao động. Không chịu thua chúng nó”. “Như vậy thì tên trại trưởng này nó hận anh ghê lắm, tại sao nó lại tặng anh cái chậu này?” “Tôi cũng không biết nữa, hắn hành tôi luôn mấy năm, nhưng cuối cùng hắn thả tôi ra khỏi hầm kiên giam.Một bữa hắn cho gọi tôi lên. Hắn nói: “Tôi sắp đổi đi trại khác, có phải anh ưa tắm rửa lắm phải không? Tôi tặng anh cái chậu Trung Quốc này”. Tôi từ chối nhưng hắn ta cứ để cái chậu lại, rồi bắt tay từ biệt. Chẳng đặng đừng, tôi phải giữ cái chậu men xanh này, mà tôi cũng không hiểu tại sao hắn lại làm như thế”.Muốn hiểu hành động của tên trại trưởng này xin mời đọc phần dưới đây.Trong cuốn sách Still, thuộc loại truyện rợn người (thriller), của tác giả người Đức Zoran Drvenka, xuất bản năm 2014, có một câu chuyện tương tự.Một nhóm 4 tên có máu sát nhân, cứ đến mùa đông, khi tuyết bắt đầu rơi là chúng bắt cóc một số bé gái, khoảng từ 7-13 tuổi. Cũng đôi khi có cả bé trai nữa. Chúng nhốt chung tất cả dưới hầm kín, không có ánh mặt trời. Không ai nhận được mặt ai. Cứ một, hai ngày, một khuôn cửa nhỏ ở trên nóc hầm được mở ra,


Trần Bảo Anh 181rồi một cánh tay thò xuống, nắm tóc hay đầu của một đứa bé lôi lên. Như cái cách thò tay vào chuồng gà, bắt một con đem giết. Trúng đứa nào, đứa nấy chịu. Rồi đóng cửa hầm lại.Bọn sát nhân, thích săn bắn, chọn nơi này, quanh năm không có người bước tới. Một căn nhà, một cánh rừng, và một cái hồ. Và mùa đông tuyết rất dầy, cao tới một hoặc hai thước, ngập trời đất.Chúng sẽ thả đứa trẻ vừa bị lôi lên cho nó tuỳ ý chạy hay trốn, trong rừng, dưới hồ, hay trong các hang hốc băng tuyết. Đứa trẻ trở thành con mồi. Cả tiếng đồng hồ sau đó, 4 tên mới chia nhau ra, sách súng đi tìm bắn.Lucia và đứa em trai là Niklas đều bị bắt. Rồi em cô ta bị lôi lên trước. Vài ngày sau, đến lượt cô ta được thả cho trốn. Trên đường trốn chạy, cô đã thấy 3 đứa chết trên tuyết, và 4 đứa chết dưới băng. Trong số này, không thấy em trai cô. Cô tin tưởng, nó còn sống. Cô nhẩm tính, kể cả mình, có 5 đứa chưa bỏ mạng.Cô đang đứng, chợt thấy lạnh gáy. Quay nhìn, thấy một đứa bé gái khác, đang đứng nhìn mình. Lucia tưởng ma, thì cô kia quay mình đi chạy mất. Lát sau, cô kia lại hiện ra, hỏi tên của Lucia và tự sưng tên là Kaja. Hai cô gái lủi trong rừng tuyết. Luica chợt thấy trên một cành cây, trong một cái hốc, đứa em trai mình. Đứa bé trai leo xuống. Hai chị em ôm chặt lấy nhau. Rồi một đứa bé trai nữa, tên Tim cũng nhô ra. Mấy đứa cùng đi, tìm cách thoát khỏi bọn sát nhân.Một đêm, Niklas mắc tiểu. Cô chị mệt. Kaja tình nguyện dắt nó đi. Mới chỉ cách chỗ nằm một khoảng ngắn, Lucia nghe tiếng em kêu thét lên. Lucia chạy tới, trước bụng đứa em, có một con dao cắm ngập tới


182 Thế Sự Thăng Trầm chuôi. Nó gục xuống chết. Kaja nói: “Tôi chẳng nhìn thấy gì cả.”Ai ngờ Kaja là con gái của 1 tên sát nhân trong bọn, và đã được huấn luyện bởi cha nó để giết người. Kaja lẩn quất trong rừng, và khi gặp đứa bé nào đang lẩn trốn, thì sẽ đóng vai là đã từng bị bắt cóc và cũng đang tìm cách thoát thân, rồi thừa cơ ra tay giết.Hôm sau Kaja lại đâm chết được Tim, rồi cầm dao đưổi theo Lucia. Lucia chạy nháo nhào, nhẩy xuống một hố băng. Kaja lao xuống theo. Vật lộn trong nước đá lạnh buốt, một mất một còn. Kết quả, Lucia xiết cổ Kaja cho đến chết.Nàng chạy thoát được về thành phố. Rồi được điều trị trong bệnh viện. Thật ra, thì ngay sau đó bọn sát nhân, đã tìm ngay được phòng của Lucia, và sẵn sàng hạ thủ.Nhưng bố của Kaja nói: “Tôi kính phục Cô Bé ấy”.Cô ấy là người độc nhất sống sót…Bọn sát nhân, đã tranh luận rất lâu. Có đứa nhấn mạnh: “Nó đã giết chết Kaja là con gái mày”. Nhưng cuối cùng cả bọn, kể cả tên thủ lãnh, đã phải theo ý người bố của Kaja, là không hạ sát Lucia nữa.IV_Một hội chứng mới về tâm lý.Có một biến chuyển tâm lý được biết tới vào năm 1973, tại Stockholm, Thụy Điển. Bốn người bị một bọn cướp nhà băng bắt giữ làm con tin trong 6 ngày. Khi nhóm con tin được giải cứu, họ lại toan tính bảo vệ bọn cướp, vì trong lòng họ đã phát sinh ra một tình cảm bạn bè với chúng.Biến chuyển tâm lý này được đặt tên là Hội chứng Stockholm. Nạn nhân có cảm tình với kẻ đã hành hạ hoặc


Trần Bảo Anh 183manh tâm giết họ.Nhưng trường hợp của Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện và nhân vật Lucia hoàn toàn trái ngược hẳn .Họ là nạn nhân của mọi đối xử tàn ác. Nhưng tên cai tù Việt cộng đã tự biết rằng mình đã thua Đại Úy Luyện về mọi mặt, từ dũng khí đến tính bền bỉ. Trong bụng, gã đã rất kính phục Ông. Món quà gã nhất định để lại tặng Đại Úy Luyện, là một lời tạ lỗi và thú nhận tôi xin cúi mình trước sự can đảm trường kỳ và bất khuất của ông.Gã sát nhân trong cuốn sách Still cũng vậy. Kaja, con gái của gã bị Lucia giết. Nhưng gã tự biết, chính gã đã thua, và nói rõ cho đồng bọn biết: “Tôi kính phục Cô Bé ấy”.Tôi rất mong rằng, các Bác sĩ sẽ đặt cho hiện tượng biến chuyển mới này về tâm lý một tên gọi. Thí dụ như Hội chứng Người Tù Kiệt Xuất, trong đó những kẻ cực ác hay có máu sát nhân, trong đầu chúng, tự biết là mình đã thua những nạn nhân can đảm phi thường của chúng, rồi phát sinh ra lòng kính phục.Tài liệu tham khảo:1. Người Tù Kiệt Xuất - Phan Lạc Phúc.2. Nửa Đường - Tô Văn Cấp.3. Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà - Trần Xuân Dũng, 2000.4. Still- Zoran Drvenkar, 20145. Sử Ký Tư mã Thiên-Nhượng Tống dịch.6. Tam Quốc Chí-La Quán Trung-Tử Vi Lang dịch.7. The Easter offensive 1972-Col G.H. Turley USMCR, 1985.8. Văn Học Quân Đội-Trần Xuân Dũng, 2019.


184 Thế Sự Thăng Trầm Cách Suy Nghĩ Của Một Người Công ChứcThời xưa, trong một nước như bên Tầu hay Việt Nam, chỉ có hai giới: Một bên là vua, bên kia là dân. Tay chân của vua là giới quan lại. Quan là những người thi hành mệnh lệnh của vua. Và chính vì giữ những chức vụ này nên họ có nhiều quyền hạn hay lợi lộc. Bởi thế mới của câu “Một người làm quan cả họ được nhờ.”Quan có nhiều quyền sinh sát tại địa phương.Dân thì làm 4 nghề: dậy học, cầy cấy, làm thợ hay buôn bán. (sĩ, nông, công, thương.)Chỉ từ khi người Pháp vào Việt Nam, thì có thêm một nghề nghiệp mới là Công Chức. Pháp lập ra hệ thống cai trị, với các bộ, hay sở, đứng đầu là người Pháp. Lẽ dĩ nhiên, cũng còn nhiều người đồng chủng làm chung. Nhưng họ không thể nào đủ nhân lực, để làm hết tất cả mọi việc. Họ phải tuyển một số người Việt vào những cơ sở này. Và cho hưởng tiền lương cao hơn so với mức kiếm được của những người khác. Ở giai đoạn giao thời này, những người đã đỗ đạt các kỳ thi trong hệ thống khoa cử của nước ta đã không còn được


Trần Bảo Anh 185dùng nữa. Họ hoá ra đói khổ. Bởi thế cho nên đã có tiếng than lên rằng:Còn có ra chi cái chữ nhoÔng nghè, ông cống cũng nằm co Chi bằng đi học làm thầy phán, Tối rượu sâm banh sáng sữa bò.Cả hai món sâm banh và sữa bò chưa bao giờ có trên đất Việt, trước khi Pháp đến.Bò miền quê Việt Nam cũng giống như trâu, chỉ để kéo cầy, hiếm lắm mới có khi đem ra giết thịt.“Thầy phán” là một trong những chữ, được dùng để chỉ những người mới, được gọi là công chức, do Pháp thu dụng.Họ có đời sống rất ổn định. Không bao giờ mất việc. Chẳng có gì là vất vả. Lại còn được mặc quần áo tây, thường thường là màu trắng. Đi giầy da, đen hoặc trắng. Những người sang hơn một bậc nữa, thì đi giầy mầu vàng, gọi là giầy giôn (jaune)Đã được làm công chức, mọi thứ kể như vững. Không cần làm việc gì khác, không phải lo nghĩ gì thêm. Không một chút âu lo nào cho sinh kế. Chẳng bao giờ còn lâm vào cảnh ăn bữa nay, lo bữa mai. Và cũng không cần nghĩ gì đến tương lai, vì mọi thứ sẽ đều đặn, kéo dài cho tới lúc chết.Đời sống trở nên dễ dãi, nhàn tản.Câu thơ: “Sáng cắp ô đi tối cắp về.” thoạt đầu được dùng chỉ những người, ngày ngày đi tìm việc mãi mà chẳng có, sau lại được áp dụng rộng ra dùng để tả cảnh ung dung của một người công chức. Khi được hỏi tới làm việc gì, người công chức, có khi trả lời một cách khiêm nhường, pha một chút hài hước, nhưng cũng đúng, rằng tôi làm nghề “cạo giấy”.Ở Việt Nam, trước năm 1945, từ học sinh, sinh viên, cho tới những thư ký, công chức, mỗi khi viết đều phải dùng


186 Thế Sự Thăng Trầm một cái bút chấm mực đựng trong những cái bình mực gọi là godet. Bút gồm hai phần, một cái quản và một cái ngòi bút bằng sắt. Khi viết, đầu ngòi bút đi soàn soạt trên giấy, nghe như tiếng một mũi dao nhỏ và cùn, đang cạo trên giấy vậy.Suốt thời Pháp thuộc, cho tới thời Việt Nam Cộng Hòa, công chức đều được bảo đảm về công ăn việc làm, tới mức như vậy.Dần dần, dân chúng nói chung, nhìn những người công chức với một vẻ hơi muốn coi thường. Vì họ nghĩ những người này chẳng bao giờ phải vật lộn với đời. Khi đề cập tới giới này họ thường dùng chữ làm công chức quèn.Để hiểu thêm về sự đúng sai của khuynh hướng coi thường người công chức. Xin mời đọc câu chuyện dưới đây của Nhiếp Ảnh Gia Vũ Ngọc Hiến, ở Montréal, Gia Nã Đại.Bố tôi tên là Vũ Đình Kỳ. Trước năm 1954, ông làm công chức trên Chapa, người đồng thời gọi ông là Ông Thừa Kỳ, sau đó ông chuyển về làm ở tỉnh Hưng Yên….Hiệp Định Genève được ký kết, Bố mẹ tôi đã mang 7 anh chị chúng tôi xuống tàu há mồm đi vào Nam tìm Tự Do, tôi được may mắn hơn các anh chị vì được mẹ cho vào cái thúng để quảy theo, không như các anh chị tay thì xách áo quần, đồ dùng lục tục chạy theo bố mẹ, vì lúc đó tôi chỉ chập chững biết đi….Vào Nam, bố tôi tiếp tục con đường công chức, ông làm việc tại Phòng Nhân Viên, thuộc Bộ Nội Vụ cho đến lúc về hưu. Trong suốt hơn 45 năm làm việc, ngày về hưu, ông nhận được một phần thưởng tinh thần quý giá đó là Huy chương Hành Chánh Bội Tinh Cao Cấp, huy chương này là bằng khen cho những công chức trung cấp, trong suốt quãng đời làm việc


Trần Bảo Anh 187rất gương mẫu, rất tận tâm ….Thời gian qua nhanh, khi còn ở Saigon, tôi ít dịp gần gũi với Bố Mẹ, nhưng tôi biết, tôi rất được cả hai thương yêu, tuy sự biểu lộ có khác nhau….Mỗi lần được về phép, Bố tôi thường không “hài lòng” khi Mẹ thường dúi cho tôi ít tiền đi chơi với bạn bè, còn Bố thì lúc nào cũng nói: “Được ít giờ phép, không ở nhà với Bố Mẹ, anh chị em mà lại đi la cà….,” Ngược lại, mẹ tôi cũng “cằn nhằn” Ông à, con nó sống nay, chết mai, lằn tên mũi đạn nó vô tình…con nó thích gì thì cứ để nó làm…Ngày 28 tháng 4 năm 1975, vì thương con, Mẹ tôi đã cho người lên đơn vị nói dối với tôi là bà đau nặng, phải về gấp….Trong thời điểm đó, tôi không thể nào bỏ đơn vị mà đi. Tôi đang là Thiếu úy, Phân Chi Khu Phó, thuộc Quận Phú Hòa, Tỉnh Bình Dương. Trung Uý Đức, Phân Chi Khu Trưởng, khuyên tôi nên về thăm bà rồi trở về đơn vị cùng anh em. Tôi không đồng ý, nhưng Trung Uý Đức cứ nằng nặc khuyên, nên tôi đồng ý về và hứa là sẽ quay trở lại, không bỏ anh em…Về đến nhà, quả như tôi dự tính, bà không đau ốm gì cả, Bà lại gạt tôi lần thứ 2. Lần đầu, trước đó hơn 1 tuần, bác Chánh, bạn của mẹ tôi, có người con trai lớn ở trong Hải Quân, anh ta dự tính “đào ngũ”, nên bác Chánh hỏi mẹ tôi có muốn cho tôi đi không?. Mẹ đã cho người lên gặp tôi và kêu tôi về, và tôi đã từ chối không tham gia cuộc “đào ngũ” này….Mặc dầu biết Mẹ gạt, nhưng tôi không giận mà còn lại thương bà vô cùng, hình ảnh bà đội nón lá đi xe ôm lên Phú Hoà Đông, nơi đóng quân thăm tôi, và mang nhang đèn, hoa trái lên cúng vái Thần Đình


188 Thế Sự Thăng Trầm xã Tân Thạnh Đông lúc tôi về đó giữ chức vụ Phân Chi Khu Phó hiện ra rõ mồn một…. Tắm rửa, ăn cơm với gia đình, ngủ lại một đêm….Sáng sớm 29, tình trạng Thiết Quân Luật được ban hành.. Đeo ba lô lên vai, sau khi kiểm soát lại khẩu Colt 45 đã lên đạn, tôi nói lời từ giã Bố Mẹ để trở về đơn vị. Mẹ đang ngồi têm trầu, còn Bố thì hút thuốc lào. Lời từ giã của tôi khiến bà bật oà lên khóc và nói với bố bằng giọng hốt hoảng: “Ông, sao ông nỡ để con đi vào cõi chết….” rồi bà khóc oà lên.Ngược lại. trong lúc đó, Bố rất trầm tĩnh nói với tôi: “Bố không có gì để nói với con cả. Đây là giây phút của con quyết định. Sự quyết định này sẽ làm cho con sau này con có thể ngước mắt nhìn anh em, binh lính của mình mà con không hổ thẹn….” Lời ông nói như một nguồn năng lượng làm bừng nóng chạy dài theo suốt cột xương sống.Tôi cắm đầu bước nhanh ra khỏi cửa, không đủ cam đảm quay lại nhìn Mẹ tôi.Tôi được may mắn sống với những năm tháng cuối đời của ông, những năm tháng mà cặp mắt của ông hầu như không còn nhìn được ánh sáng…Tôi thường dẫn ông đi bộ, ra park ngồi nghỉ ngơi, ông thường kể cho tôi nghe những việc ông làm lúc trước, như việc khi còn làm việc trên Chapa, khi được dân bản địa báo cáo có án mạng xảy ra ở vùng sâu, ông đã một mình đi điều tra án mạng trong khi thượng cấp từ chối vì sợ đường xa, cố tình bỏ qua thủ phạm. Tôi có hỏi lý do tại sao Bố lại đi một mình, ông trả lời vì đó là bổn phận của mình….Ông kể có lần ông bị mật thám Tây “bắt nhầm”, đem giam, một hôm ông được cho ra ngoài lao động, tình cờ ông Quận đi ngang


Trần Bảo Anh 189nhìn thấy, ông Quận hỏi có phải anh Thừa Kỳ đó không? Bố tôi trả lời dạ đúng tôi. Ông Quận nói tiếp sao anh không lên gặp tôi, bố tôi nói gặp anh để làm gì? Ông làm việc, ông phải biết việc của nhân viên mình làm, họ làm gì đúng, làm gì sai, mình phải có trách nhiệm việc quản lý nhân viên của mình. Sau đó ông Quận cho điều tra thì biết là họ bắt nhầm bố tôi, thay vì một ngưòi cùng tên nhưng làm thầy giáo làng theo Việt Minh.Việc ông dạy bảo những nhân viên làm việc trong phòng lương bổng cho Cô Nhi Quả Phụ ở quận 3, Saigon, khi chị Chi tôi lên làm hồ sơ vì chồng tử trận trong phi vụ với cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh đã bị làm khó dễ, đòi hối lộ. Ngày hôm sau, ông cùng chị Chi quay lại phòng Cô Nhi Quả Phụ, trong phòng người ngồi chờ đợi đông nghẹt, nhân viên phụ trách thì làm việc tà tà, người thì ngồi giũa móng tay, người thì ngồi cắn bút ngó mơ màng, nhìn cảnh trái tai gai mắt này, bố tôi cố dằn cơn giận tiến tới và nói với một cô nhân viên: “Cô có biết những người ngồi kia là ai không? Không đợi cho cô ta trả lời, ông nói tiếp, họ là những người kém may mắn, họ là những người chồng chết, con chết…để bảo vệ tổ quốc, tại sao các cô lại không biết ơn họ mà còn làm khó dễ họ, nhờ họ mà các cô cậu mới có việc làm…Cô thư ký ngắt ngang lời bố tôi và nói bằng giọng hằn học, quát mắng: “Tôi không cần ông dạy, ông đi ra nếu không tôi kêu người tống cổ ông ra…” Vẫn thái độ bình tĩnh, ông cười to rồi nói: Vậy cũng được, nếu tôi nói với cô không được thì để tôi kêu ông Phó Quận của cô ra để chỉ dạy nhân viên của mình, và ông kêu đích danh ông Phó Quận Hành Chánh Quận 3 ra giải


190 Thế Sự Thăng Trầm quyết mỗi câu chuyện ông kể mang lời nhắn nhủ, mang một thông điệp riêng của nó và tôi đã được bố truyền tải những đức tính đó vào huyết mạch.Hôm nay viết vài hàng về Bố. Bố ơi, nơi suối vàng, chắc Bố cũng nở nụ cười mãn nguyện vì con của bố lúc nào cũng:Ngước thẳng vào đời không hổ thẹn Hiếu Trung trọn vẹn với lương tâm.Con của Bố Mẹ: Vũ Ngọc HiếnĐọc hết bài, có người sẽ hỏi: Sao Ông Vũ Đình Kỳ hồ đồ thế ?Vào ngày 29-4-1975. Ông ngồi hút thuốc lào, và bà vợ ngồi têm trầu. Hình ảnh này rất nhàn tản, nhưng chỉ hợp với thời bình.Vẫn cái cung cách nhàn hạ cố hữu của một người công chức.Năm 1954 biết dắt cả gia đình gồm một vợ và 7 con chạy vào trong Nam.Sao vào tháng 4-1975, tức là mới chỉ có 21 năm sau, ông đã thay đổi hẳn. Không những không lo chạy, mà nhà đã có người quen ở trong Hải Quân, sẵn sàng giúp phương tiện cho đi, cũng vẫn không đi, là tại sao?Xin thưa: Thật ra nếu nghĩ kỹ, ông Kỳ cả hai lần đều đã quyết định rất chính xác, phù hợp với hoàn cảnh cũng như cái thế của đất nước.Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève được ký kết. Số phận của Việt Nam đã bị sắp xếp, là phải chia đôi. Ngày đó ông đã là công chức, nghĩa là không có súng đạn gì trong tay, và bẩy đứa con vừa trai vừa gái, đều chưa tới 18 tuổi. Phải dắt chúng chạy.


Trần Bảo Anh 191Tháng 4/1975, Ông cũng chẳng có súng đạn gì trong tay. Nhưng con cháu Ông, không hề muốn bỏ trốn. Do đó, Ông quyết định không cần tìm chỗ nào để chạy cả. Con trai Ông đang ở trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và quyết tiếp tục chiến đấu.Làm trong phòng nhân viên tại Bộ Nội Vụ, công việc của ông liên quan đến việc thuyên chuyển các Phó Tỉnh Trưởng, Phó Quận Trưởng và Trưởng Ty. Nếu ông có máu tham nhũng thì không thiếu gì những người có các chức vụ đó chèo kéo mời tới nhà để cơm gà cá gỡ, hoặc là mời ông đi dự ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn. Nhiều người cầu cạnh, nhưng ông rất trong sạch, luôn luôn từ chối mọi hối lộ.Ông nghĩ : Miền Nam cần phải được giữ lại nguyên vẹn. Liêm khiết trong các cơ quan hành chánh và kỷ luật trong mọi đơn vị quân đội.Lại có người hỏi: “Chắc Ông Kỳ nghĩ, đi lính cũng giống như làm công chức. Chỉ khác là lính mặc đồng phục, rồi thỉnh thoảng nhân dịp lễ thì đi diễn hành cho dân chúng xem. Vì thế, nên Ông mới để người con trai trở lại đơn vị.Xin thưa: không phải thế. Ông biết rất rõ những mối hiểm nguy luôn luôn đến với sinh mạng của quân nhân.Ông có người con rể, là Đại Úy Phi Công Trần Kỳ Giang, lái trực thăng, phục vụ tại phi trường Cần Thơ.Ngày 2 tháng 5 năm 1970, anh Giang được đến kỳ đi nghỉ phép. Anh nói với vợ là Chi, thay quần áo cho hai đứa con là Loan và Dũng để anh ấy vào phi trường lấy giấy phép xong sẽ đưa cả nhà về Saigon thăm bố mẹ. Tới phi trường, lo giấy tờ xong, thì anh thấy ông Thiếu Tá Chỉ Huy đang chạy đôn chạy đáo kiếm 2 ông phi công để đưa Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh đi thị sát mặt trận. Vì chuyến đi của Tướng Thanh bất ngờ, nên Phi Đoàn không sắp xếp được sẵn. Anh Giang thấy vậy, nên nói với ông Thiếu Tá là để anh bay thế. Ông


192 Thế Sự Thăng Trầm Thiếu Tá lúc đầu không đồng ý, vì biết giới Không Quân sợ nhất là bay thế, anh Giang cũng biết vậy, nhưng nói với ông Thiếu Tá là không sao, cứ để anh bay. Khi đang thị sát mặt trận, thì chiếc máy bay của Tướng Thanh bị một chiếc trực thăng Huey Cobra của Mỹ đụng vào phần đuôi của chiếc trực thăng, và chiếc trực thăng cắm đầu xuống đất như con vụ. Chi tiết này được anh Trung Sĩ xạ thủ, người sống sót duy nhất kể lại: Chiếc trực thăng rơi xuống còn khoảng 10 mét, thì Đại Úy Giang tỉnh dậy và cố cứu lấy Tướng Thanh và phi hành đoàn, nhưng không kịp, anh Trung Sĩ nọ nhẩy ra ngoài được cứu sống và được anh em không quân bảo vệ rất kỹ. Về sau, ông Thiếu Tá kể lại là lính đang hành quân ở dưới đất báo có vụ đụng phi cơ, các anh em phi công lái những chiếc trực thăng gần đó đã đáp xuống đất và chạy lại chỗ phi cơ lâm nạn, họ đập phòng lái lôi anh Giang và Trung Uý Phi Công phụ ra ngoài. Tuy đã chết nhưng cả 2 không bị cháy, Tướng Thanh kẹt lại trong phi cơ nên bị chết cháy.Chịu một sự mất mát lớn như vậy, nên ông Kỳ hiểu rõ những bất trắc đối với các chiến sĩ .Ông không làm thơ. Nhưng ông rất thuộc một số câu trong bài thơ Anh hùng vô danh của Thi Sĩ Đằng Phương, thời tiền chiến:Họ là kẻ khi quê hương chuyển động Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng Đã xông vào khói lửa quyết liều thân Để bảo vệ tự do cho tổ quốc.Những kẻ xâm lăng bây giờ là Cộng Sản Bắc Việt. Gọi chúng là xâm lăng bởi vì hiệp định Genève năm 1954, đã chia đôi rõ ràng Việt Nam thành hai nước. Thế mà Bắc Việt liên tục tìm cách chiếm miền Nam, mở các trận đánh lớn tại Bình Giả, Đồng Xoài…, rồi Tết Mậu Thân, Quảng Trị.


Trần Bảo Anh 193Ngày 27-1-1973 hiệp định Ba Lê được ký kết. Không còn đánh nhau nữa. Nhưng kể từ tháng 3-1975, Bắc Việt lại xua toàn bộ lực lượng xuống miền Nam.Vùng II đã mất. Vùng I tiếp theo. Vùng III đã mất Xuân lộc. Người con trai Ông Kỳ, là Thiếu Uý Vũ Ngọc Hiến đang giữ chức vụ Phân Chi Khu Phó, nhất định không chịu đào ngũ, quyết ở lại chiến đấu.Ông Vũ Đình Kỳ không khuyên con ở lại nhà vào ngày 29-4-1975. Ông để con tự quyết định cho hợp với danh dự.Vũ Ngọc Hiến giắt súng, cất bước lên Bình Dương là chỗ phân chi khu của mình, để cùng sống chết với binh sĩ dưới quyền.Cả ông Kỳ lẫn người con trai, đã hoàn toàn đúng trong quyết định của mình.Tôi xin thêm: Ai cũng đã từng nghĩ công chức là những người nhàn hạ, suốt đời an thân, đầu óc không suy nghĩ gì, và có vẻ như lười biếng.Điều này không đúng.Thật ra, họ cũng như mọi người khác đã sống ở miền Nam. Tuy họ không được trực tiếp chiến đấu, nhưng lối suy nghĩ và cách giáo dục trẻ con trong nhà, đã đưa đến những kết quả cao vời.Đó là nền tảng tạo nên những binh sĩ can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Rất anh hùng, mà tiếc thay nay không còn nữa!


194 Thế Sự Thăng Trầm Lương Tâm Và Lòng Tận TụyKhi mới tới được một nước Âu Mỹ, một trong những điều mới lạ người tỵ nạn được nghe biết, là hệ thống làm giờ phụ trội.Mỗi lần làm thêm một giờ ngoài số giờ đã ấn định sẵn, tiền lương trả cho giờ đó sẽ gấp rưỡi hoặc gấp đôi, tùy theo hãng hay công ty mình làm, và tùy theo ở quốc gia nào.Có lần, một cô gái mới tới Mỹ, nói chuyện với một bà Mỹ về công ăn việc làm.Khi được hỏi ngày xưa ở Việt Nam, cô làm nghề gì. Cô gái trình bày công việc trong thời gian trước là Y tá. Giờ giấc ra sao, lương bổng thế nào. Và còn nói rõ hệ thống lương Việt Nam, là phát mỗi tháng một lần.Rồi nhân vui câu chuyện cô còn kể thêm lắm khi bất ngờ, các bác sĩ, y tá, hay nữ hộ sinh đã phải làm 2, 3 ngày liên tiếp không ngủ. Và nếu có ngủ thì chia nhau mỗi người chợp mắt ba, bốn tiếng đỗng hồ, rồi lại vùng lên làm việc tiếp.Bà Mỹ ngạc nhiên hỏi: “Nếu làm thêm nhiều giờ như vậy thì tiền sẽ nhiều lắm phải không? Chắc là các bác sĩ, y tá đều nhà cao cửa rộng, tiền chất như núi rồi?”


Trần Bảo Anh 195Thưa: “Không phải như thế. Nhân viên y tế, trong bệnh viện sự dân sự hay quân sự, khi làm việc không nghĩ đến số giờ mình bỏ ra, mà chỉ nghĩ làm sao cho người bị thương, bị bệnh thoát khỏi hiểm nghèo. Cho người dân hay người lính thoát được cái chết. Và cuối tháng tiền lương vẫn nhất định, không thêm gì cả. Không ai nghĩ, đây là một thiệt thòi, mà thường lại hân hoan kể cho nhau nghe những điều mình đã làm được cho những người lâm nạn.”Bà Mỹ chợt hỏi: “Tôi có một thắc mắc? Làm sao mà số bệnh nhân có thể nhiều đến như vậy?”Đáp: “Nước chúng tôi ở trong tình trạng chiến tranh hai mươi mốt năm. Tuy nhiên Cộng Sản mở trận đánh lớn đầu tiên vào 28-12-1964, tại Bình Giả.Dân chúng bị thương, quân nhân, Y Sĩ bị thương, tử trận, nhân viên y tế bận rộn chữa trị.Kể từ đó, Bắc Việt liên tục mở những trận đánh lớn khác, cường độ tăng dần, tới mức khủng khiếp ở nhiều nơi. Ngoài ra còn bất chợt pháo kích vào các thành phố hay thị xã đông dân. Số quân nhân và thường dân bị chết tăng lên, và số bị thương cũng tăng gấp bội.Đó là lý do tại sao, các nhân viên y tế quân sự và dân sự rất bận, luôn chân luôn tay. Một cách bất ngờ!”Hỏi: “Tại sao lại bất ngờ?”Thưa: “Giờ giấc Việt Cộng mở cuộc tấn công hay pháo kích, không ai biết trước được. Và ngay cả những lúc hai bên đã giao ước tạm ngưng không đánh nhau vài ngày để cho dân chúng được ăn Tết, chúng cũng vẫn vi phạm. Cố tình vi phạm.Thí dụ như Tết Mậu Thân 1968. Hai bên sẽ hưu chiến ba ngày, nhưng chính Hồ Chí Minh đã quyết định dùng dịp này để tấn công chiếm chọn miền Nam. Và đã có mật lệnh, khi nào nghe bài diễn văn của ông ta trên làn sóng điện của Bắc Việt vào lúc giao thừa thì tất cả mọi đơn vị Cộng Sản sẽ đồng loạt


196 Thế Sự Thăng Trầm tiến đánh. Và đúng như vậy, 41 tỉnh và thị xã ở Miền Nam đã bị tấn công. Dân chúng chết nhiều. Con số bị thương trên toàn quốc là hai mươi lăm ngàn (25,000) nạn nhân.Ở bất cứ tỉnh nào, các bệnh viện, kể cả các Bảo Sanh Viện cũng có những người bị thương được đưa tới nữa.”Hỏi:“Tại sao lại đưa người bị thương vào Bảo Sanh Viện?”Thưa: “Trong chương trình học khi khởi đầu của Nữ Hộ Sinh đã phải học những điều căn bản của Y Tá, như băng bó, tiêm chích, truyền máu,nước biển, các Nữ Hộ Sinh đương nhiên đã rất quen với việc chữa những trường hợp mất máu gần chết do sinh nở, thì họ cũng giúp được những người bị súng đạn làm thương tổn, mất máu đang hấp hối.Và trong Bảo Sanh Viện còn có các Bác Sĩ nữa.”Nhân viên Y Tế chúi đầu vào việc cứu chữa, quên cả ngày giờ. Không nhớ tới nghỉ ngơi. Nếu mệt quá mà gục xuống, thì người khác gắng thêm, cho người ấy chợp mắt đi vài tiếng.Họ là những người thuộc vào một giới vô cùng tận tụy tại Miền Nam trước 1975.*****Điều kiện tiên quyết để một người có sự tận tụy, là trước hết người đó phải có lương tâm và một tấm lòng vị tha. Người chỉ biết vị kỷ sẽ không bao giờ có được một hành động gì có thể được gọi là tận tụy cả.Lòng tận tụy của một người sẽ được thể hiện ra, khi có sự tổn hại đến một người khác. Hay một sự nguy hiểm cho nơi mình ở, hoặc cho quốc gia. Trong một hoàn cảnh không có những chuyện đó thì dù một người có lương tâm và lòng tận tụy đến đâu, cũng không có dịp hành động.Và còn cần thêm một yếu tố nữa, là cái thế, cái vị trí hay trạng thái của hoàn cảnh.


Trần Bảo Anh 197Có thể nói, tinh thần trách nhiệm cũng có góp một phần trong hiện tượng tận tụy, và cả sự trọng danh dự cũng vậy.Thành ra trong một hành động tận tụy, con người đó có đầy đủ mấy đức tính: có lương tâm, trọng danh dự, rất vị tha, và biết trách nhiệm.Chúng ta hãy xem hai trường hợp tiêu biểu:1. Thừa Tướng Gia Cát Lượng.Đọc Tam Quốc Chí ai cũng phải thấy rằng con người tận tụy nhất đối với nhà Hán là Gia Cát Lượng. Vốn biết là khí số nhà Hán đã hết, ông vẫn cố sức cứu giúp. Ông giữ chức Thừa Tướng, kiêm Quân Sư, mà đích thân liên tục nhiều năm, 6 lần đem quân ra Kỳ Sơn, lao tâm khổ tứ biết là bao nhiêu, để mong vớt vát cơ đồ nhà Hán.Ông thức khuya dậy sớm, mọi việc lớn nhỏ ông đều xem xét tận mắt. Ăn uống thì mỗi ngày chỉ vài lưng cơm cũng xong. Tư Mã Ý là kẻ đối địch thống lĩnh cả Quân đội Trung Nguyên, nghe biết được chuyện này đã bảo các tướng rằng:_Gia Cát Lượng ăn ngủ ít, lại lo làm nhiều thì chẳng sống được bao lâu nữa đâu!Dương Ngung bên Hán, can Gia Cát Lượng:_Nay Thừa Tướng, đích thân coi sóc cả đến những việc tỷ mỉ, mồ hôi đầm đìa suốt ngày, lao tâm lao lực biết bao!Mong Thừa Tướng thu xếp lại…Gia Cát Lượng đáp:_Đâu phải ta không hiểu như thế. Chỉ sợ phó mặc mọi người, thì không ai hết lòng như ta, nên ta phải cố sức như vậy!Chỉ ít lâu sau Khổng Minh ốm nặng, thổ huyết không ngừng, mê man bất tỉnh lạnh cả tay chân rồi trút hơi thở cuối cùng.2. Tổng Trưởng Nguyễn Tiến Hưng


198 Thế Sự Thăng Trầm Thời Việt Nam Cộng Hòa, từ 1973 Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng giữ chức Tổng Trưởng Kế Hoạch.Sau hiệp định Ba Lê 27-1-1973, tình trạng tiếp liệu trở nên nguy ngập. Khoảng giữa năm 1974,Việt Nam sắp bị Mỹ cắt hết viện trợ. Giữa tháng 5-1974 Tiến Sĩ Hưng được Tổng Thống Thiệu cử sang Washington, để tìm cách cứu vãn tình thế. Đại sứ Martin, là vị Đại Sứ Mỹ rất có cảm tình với Việt Nam, muốn giúp. Ông dặn Tiến Sĩ Hưng, là khi tới nơi thì phải cố xin gặp cho bằng được Thượng Nghị Sĩ Kennedy là người lãnh đạo phong trào cắt xén viện trợ của miền Nam.Biết được điều này Ông Hưng cũng hy vọng.Ông Hưng và Kennedy vốn đã biết nhau khi cùng là hội viên trong một hội Sinh Viên Công Giáo. Ông Hưng nghĩ, vì tình bạn, Kennedy sẽ cho ông gặp. Ông Hưng, liên lạc với người phụ tá của Kennedy để xin một cái hẹn.Đúng ngày giờ hẹn, Tiến sĩ Hưng tới.Nhưng hỡi ôi! Vốn là bạn bè cũ của nhau mà Kennedy tiếp đón Ông Hưng một cách rất đặc biệt: “Nhạt như nước lã ao bèo.”Mặc dầu đã xin được một cái hẹn, Kennedy chỉ gặp Tiến Sĩ Hưng một thời gian rất ngắn. Ông Hưng xin đừng cắt viện trợ nữa. Nói được mấy câu thì ông Kennedy nói: “ Tôi phải đi họp ngay một phiên họp khác .”Chẳng lẽ để xôi hỏng bỏng không. Ông Hưng suy nghĩ rất nhanh. “Cách sông nên phải lụy đò”. Ông phải xin phép đi theo một quãng để trình bày thêm.Rõ ràng là có ý muốn cự tuyệt, khi đang rảo bước qua hành lang Thượng Viện, ông Kennedy lại bước đi nhanh hơn. Ông Hưng phải cố theo cho kịp, vừa đi vừa trình bày.Tôi cảm thấy thân phận mình, như một người đi cầu xin, lẽo đẽo đi theo một anh nhà giầu! (3)Tới gần phòng họp, Kennedy cũng dừng lại cho thêm vài


Trần Bảo Anh 199phút. Ông Hưng nói gì thì nói, Kennedy vẫn không thay đổi!Nhân danh là Tổng Trưởng Kế Họach của một nước đồng minh, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, đã phải bỏ hết tự ái cá nhân và bỏ luôn cả tự ái dân tộc, đế cố lẽo đẽo chạy theo sau như một kẻ ăn mày.Biết là nhục lắm chứ, nhưng tự ái cá nhân có nghĩa lý gì nếu hy sinh đi, mà có thể khiến kẻ cầm đầu việc cắt viện trợ của Việt Nam thay đổi ý kiến. Và nếu được, từ đó Miền Nam sẽ được sống thêm một thời gian. Dù là ngắn. Nhưng được ngày nào hay ngày nấy.Ông thật đã tận tụy hết mình trong công việc.*****Vào ngày 14-4-1975, Tiến Sĩ Hưng lại được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử sang Mỹ, để vận động sao cho Quốc hội Mỹ:1- Không bỏ phiếu chống việc tăng quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa.2- Cho vay 3 tỷ đô la, trong thời hạn 3 năm, chia ra mỗi năm 1 tỷ.Kế họach của Ông Hưng là sẽ đăng cả một trang cầu cứu SOS trên hai tờ Washington Post và New York Times. Phí tổn là 6,000 (6 ngàn) đô-la cho mỗi tờ. Và thêm 8,000 (8 ngàn) đô-la dùng cho việc chi tiêu và ngoại giao hành lang như hội họp, chiêu đãi.Tổng cộng 20,000 (20 ngàn) đô- la.Tổng Thống Thiệu chấp thuận ngay.Số tiền này sẽ được trao cho ông Hưng bởi cơ quan tiếp vận Vinopo đặt trong Toà Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà, tại Hoa Thịnh Đốn.Tới nơi, Ông Giám Đốc Vinopo đi công tác chưa về. Ông Hưng nhờ ngay một người bạn là mục sư Edward Nelson, bắn tin với Quốc Hội về việc Việt Nam Cộng Hòa muốn Vay. Ông


Click to View FlipBook Version