trần mộng tú
vườn măng cụt
truyện ngắn và tản văn
Copyright 2011 Trần Mộng Tú
Published by Kệ Sách eBook Publishing Center
Smashwords Edition
ISBN: 978-1-4524-6252-3
Smashwords Edition, License Notes
This ebook is licensed for your personal enjoyment only.
This ebook may not be re-sold or given away to other
people. If you would like to share this book with another
person, please purchase an additional copy for each
recipient. If you’re reading this book and did not purchase
it, or it was not purchased for your use only, then please
return to Smashwords.com and purchase your own copy.
Thank you for respecting the hard work of this author.
Tác giả giữ bản quyền sách điện tử này. Mọi hình thức xuất
bản, sao chụp, phân phối dưới dạng in ấn hoặc văn bản điện
tử, phát tán trên mạng Internet, nếu không có sự cho phép
của tác giả, là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền
lợi của tác giả.
Mục lục
Phần I: truyện ngắn
Phần II: Tản mạn, tùy bút & ký
Phần III: Truyện thật ngắn
mở
Bao giờ cũng bắt đầu bằng một điều gì rất thật trong đời
sống, chúng đến, nở tung ra từng cánh. Những cánh đó có
mầu xám tro than hay mầu hồng phấn hoặc có khi chỉ là
những đốm không mầu, rơi xuống vai tôi.
Tôi nhặt chúng xuống, đặt trong lòng bàn tay, mang chữ
vào, mang theo tâm cảm, trí tưởng tượng, hư ảo, mơ mộng,
trăn trở riêng tư, niềm tin, tình yêu quê hương, tiếng cười,
giọt lệ. Như người thợ hồ, tôi trộn tất cả vào nhau.
Xin mở những cánh cửa giấy, bước vào ngôi nhà làm bằng
chữ A, chữ B, chữ C, và bằng nhịp đập trái tim của một
người phụ nữ Việt Nam xa xứ.
trần mộng tú
truyện ngắn
vợ chồng
Người đàn bà gõ lên cánh cửa mấy tiếng, rồi đứng đợi.
Không thấy tiếng động nào. Bà gõ thêm mấy tiếng nữa,
nghiêng tai một giây nghe ngóng, rồi mở chiếc túi xách lấy
chìa khóa mở cửa. Bà thò đầu vào trong nhà lên tiếng gọi:
- Ông có nhà không ?
Chẳng nghe tiếng nói, bà biết là ông đã đi vắng. Bà quay ra
xe đem mấy cái túi chợ vào trong bếp, rồi đi rửa tay, đun
nước tự pha cho mình một ấm trà trước khi bắt đầu nấu
nướng.
Bà đến nấu cho họ vài món, cất vào tủ lạnh sẵn đủ cho
nguyên tuần. Cô con gái đã hai mươi nhưng còn đi học, ở
với bố đâu có biết nấu nướng gì. Hai bố con thay nhau, ai
có nhà giờ nào tiện, thì chỉ việc đặt nồi cơm, luộc thêm
chút rau hay cho rau vào bát canh và ăn với những món
mặn bà nấu sẵn. Hôm nay bà có mua dưa về muối, bà biết
ông thích ăn dưa muối còn cay với thịt kho tầu.
Bà loay hoay nấu nướng cũng mất hơn một tiếng. Đang thu
dọn để về thì ông bước vào nhà. Ông lên tiếng trước:
- Sao hôm nay bà đến sớm thế? Tôi đi uống cà phê với ông
Thành, nghĩ là bà sẽ đến vào buổi chiều như mọi khi.
Bà không nhìn lên, vẫn cúi lau cho sạch những vết mỡ bắn
trên mặt bếp.
- Tôi đến sớm, vì chiều nay có cái hẹn với Nha sĩ.
Lau dọn xong, bà bưng tách trà mới đặt trước mặt ông hỏi:
- Ông đã giữ vé về Việt Nam chưa?
- Có, tôi đã giữ rồi, mình sẽ về vào đầu tháng hai, nóng
đấy. Nhưng tôi muốn về ăn Tết, bà có bằng lòng không?
- Về lúc nào cũng được, tùy ông. Bà biết là ông chỉ hỏi cho
lịch sự, chứ bao giờ mà ông chẳng là người quyết định sau
cùng.
Bà nhìn trước nhìn sau, dọn dẹp những tờ báo, lau bụi cái
bàn thờ nhỏ của hai cụ nội, thay khăn giường cho ông.
(Buồng cô con gái thì bà để cô tự lo lấy). Bà xếp lại chiếc
gối cho ngay ngắn. Cái giường một, cái gối đơn. Chiếu
chăn không ấm người nằm một. Đã hai năm nay, ông dọn
ra ở riêng với con gái, có khi nào ông thấy trống trải trong
giấc ngủ không?
Bà thì thấy rất rõ những buổi sáng thức dậy một mình hai
bàn chân lành lạnh không biết ủ vào đâu. Hồi còn trẻ ở Đà
Lạt, những buổi tối trước khi đi ngủ bà thường làm nũng
chồng, đưa hai bàn chân sang để ông xoa cho ấm. Có khi
ông buồn ngủ quá, thì ông giấu vội bàn chân bà vào giữa
lòng ông, và bà nhiều khi nghiêng người lâu quá về một
bên, cũng không dám rút chân ra sợ làm ông thức giấc. Bây
giờ thì cả hai không có người bên cạnh trong giấc ngủ để
chiều nhau. Chuyện bàn chân ấm lạnh đã thuộc về cổ tích.
Khi ở trong buồng tắm, cầm chiếc khăn lau cái gương soi,
lòng bà rưng rưng nghĩ đến những lúc ông soi trong đó. Bà
gỡ mấy sợi tóc bạc ngắn của ông vướng ở răng lược vứt
vào thùng rác, rửa cái lược cho ông. Ngẫm nghĩ thế nào, bà
lại cúi xuống nhặt mấy sợi tóc bạc, gói vào miếng giấy
mỏng cất vào túi. Bà nhớ là ông hói từ khi còn rất trẻ, và
hay bị lạnh đầu. Sống ở Đà Lạt, nên ông đội mũ thường
xuyên. Món quà đầu tiên bà tặng ông là một chiếc mũ dạ.
Bây giờ ông còn giữ, thỉnh thoảng vẫn đem ra dùng. Bà
nhớ đến một bài thơ nói về sợi tóc, trong đó có đoạn:
Sợi tóc mỏng của một thời thơ dại
Của một thời tình ngủ giữa chiêm bao
Của một thời xô động cả trăng sao
Biển căng ngực và núi rền tiếng thở
Đời mới lớn vừa mở tung cánh cửa
Tóc đã trượt chân ngã xuống vai nhau
Tình trượt chân nên chẳng giữ được nhau
Sợi tóc mỏng vẫy hoài gương lược cũ
(Trần Mộng Tú)
Tiếng ông hỏi bà từ nhà ngoài:
- Bà có cần đi ngay thì cứ để đấy tôi làm lấy.
Tiếng bà vọng ra, nghe nhẹ như tiếng người đang trong cơn
buồn ngủ.
- Không sao, tôi làm xong rồi.
Bà vừa nói vừa đi ra, ngồi xuống cái ghế trong căn bếp nhỏ.
Ông ngồi ở buồng khách, họ nhìn thấy nhau nhưng không
đối mặt nhau. Câu thơ vẫn lâng lâng trong đầu bà.
Đã từ lúc nào họ không đối mặt nhau, họ không nhìn vào
mắt nhau nữa? Không phải từ lúc ông dọn ra ở với cô con
gái, và bà ở lại với người con trai. Nó bắt đầu từ lúc nào, cả
hai cùng không nhớ rõ. Có phải từ lúc ông bà dắt nhau sang
Mỹ, thả đời vào một xã hội mới. Có phải từ lúc ông không
còn muốn nghe những lời cằn nhằn của bà về một đời sống
không như ý, ông không muốn gặp mặt những người bạn
của bà, không muốn đi cùng bà đến chùa, không muốn làm
một công việc mà bà kiếm cho ông. Bà không muốn cả
ngày ông không nói một câu, và khi nói là ông gắt gỏng,
ông không học lấy một cái nghề mới cho thích hợp với xã
hội mới, nhất là lúc nào ông cũng bất mãn. Khi sang đây,
mặc dù là sang sau các bạn, nhưng lúc đó ông mới ngoài
năm mươi tuổi, đối với bà chưa gọi là già được. Sao ông
không chịu hội nhập như những người đàn ông khác!
Đồng ý hay bất mãn. Cuối cùng ông bà cũng phải bương
chải, phải sống như mọi người, phải kiếm việc làm, nuôi
con khôn lớn. Họ ít nói với nhau hơn, họ đánh mất từ từ
những thói quen âu yếm, họ như hai người góp gạo thổi
cơm chung, mỗi người làm theo ý thích của mình, họ chỉ
nói với nhau khi có vấn đề liên quan đến tài chánh của cả
gia đình. Họ đã quên hẳn cái khoảng thời gian còn ở quê
nhà, cái khoảng thời gian tâm đầu ý hiệp hồi mới yêu nhau.
Việc chăn gối vợ chồng cũng theo đó mà nhạt dần, nhạt
dần.Họ đi làm, rồi vào tuổi hưu trí. Họ vẫn không biết làm
thế nào để người kia chịu cùng có một quan điểm như mình
trong cái môi trường xã hội lúc nào cũng như còn mới này,
họ biết là họ đã chịu đựng nhau quá lâu. Và khi con cái đã
trưởng thành, thì sự sống chung chỉ còn là một gắng gượng
không cần thiết. Ông đề nghị dọn ra ở riêng với cô con gái.
Mới đầu bà thở phào một cái thật nhẹ nhõm. Nhưng khi
ông dọn ra ở riêng rồi, cả hai ông bà đều thấy hụt hẫng.
Mặc dù bao nhiêu năm sau này cả hai không còn đồng tâm
hợp ý, bà vẫn có thói quen được săn sóc ông, và được ông
giúp đỡ. Cậu con trai đã lớn có thể thay ông làm hộ những
việc bà cần, nhưng vẫn không thể nào giống như cách bà đã
quen với ông làm cho mình.
Còn ông thì ăn ngủ gì cũng thấy như đang ở vào một đời
sống khác. Mà đúng là một đời sống tự ông lựa chọn để
được khác đi. Một đời sống không có bà bên cạnh. Ông
thấy thật nhẹ nhõm, tự do đi về, tự do suy nghĩ và làm
những điều mình muốn. Nhưng có những buổi sáng thức
dậy, ông thấy thèm được nghe tiếng động trong bếp, tiếng
reo của cái ấm nước đun sôi, tiếng dép khe khẽ của bà đi
qua đi lại. Ông biết là bà đang sửa soạn ấm trà buổi sáng.
Những thói quen đó không có ở căn nhà mới.
Cô con gái còn ở tuổi đi học, chỉ biết ghé chợ Việt Nam
đem về cho bố những bữa ăn nấu sẵn. Mới đàu, ông thấy
thật là tiện, cả hai bố con đều tấm tắc “Cũng ngon đấy
chứ!” Nhưng chỉ độ một tháng là hết còn ngon, thức ăn
hôm nào cũng thừa. Thỉnh thoảng bố con dắt nhau đi ăn
tiệm, ăn tiệm mãi cũng ngán, cô con gái bảo bố:
- Hay là mỗi ngày mình về bên mẹ ăn cơm?
Ông tự ái, đời nào chịu. Sáu tháng sau, cả hai bố con đều
xuống cân. Cô con gái đề nghị với bố:
Hay là nhờ mẹ nấu hộ, con đi học về con ghé lấy.
Ông im lặng một lúc, cô biết là bố đã xiêu lòng, cô gọi mẹ.
Bà cũng chỉ chờ có thế. Trong lòng bà, bà vẫn không an
tâm về việc ăn ở của cả hai bố con, nhưng chắc chắn bà
không lên tiếng trước. Con bé có hôm đi học về trễ, ông
phải đợi con đem cơm về, thật là đói! Nhưng ông nhất định
không than tiếng nào. Bà chọn vào hôm sinh nhật ông, gọi
điện thoại, nói nhỏ nhẹ: “Hôm nay sinh nhật ông, để tôi và
thằng Tâm đến ăn cơm chiều.”
Ông im lặng, bà đoán là ông cảm động, bà nhớ sinh nhật
mình, cuối cùng ông ừ nhẹ một tiếng. Chiều hôm đó bà
đem đến món giả cầy, là món ông thích ăn nhất.Trước đây,
bà vẫn hay nấu cho ông vào ngày sinh nhật. Trong bữa ăn,
hai đứa con để ý thấy bố mẹ có nói chuyện với nhau, cô
con gái tinh ý hơn thấy hai người vẫn không nhìn nhau khi
nói.
Sau ngày sinh nhật đó của ông, cô con gái đưa cho mẹ một
cái chìa khóa nhà, dặn:
Con đã hỏi bố rồi. Mẹ cứ đến đây nấu để bố khỏi bị đói vì
chờ con.
Thế là mỗi tuần, bà có thêm một việc để làm trong tuổi về
hưu. Bà đi chợ nấu ăn cho cái gia đình bốn người ở hai nhà
khác nhau. Bà tự động dọn dẹp nhà cửa cho ông. Mới đầu
thì ông khó chịu lắm, vì thấy như mình vẫn lệ thuộc vào bà,
ông tránh mặt mỗi khi biết bà sắp đến, nhưng ba, bốn tháng
sau thì ông thấy thoải mái hơn khi bà đến bất chợt gặp ông
ở nhà. Họ chào hỏi nhau, nói những điều cần thiết, tránh
tranh luận để đi đến chỗ phải khó chịu nhau như khi còn ở
chung. Dần dần ông thấy mình thản nhiên hỏi tuần này bà
sẽ cho bố con ông ăn gì? Bây giờ thì họ nói đến chuyện
cùng nhau về Việt Nam thăm quê hương họ hàng.
Cả hai đều biết. Khi về Việt Nam, họ sẽ không bao giờ cho
họ hàng, bạn bè biết là họ không còn sống chung với nhau
dưới một mái nhà. Làm sao mà những người bên quê nhà
hiểu được cái điều kỳ lạ này! Ngay cả chính hai người, đôi
khi họ cũng không thể hiểu được cái tình trạng của mình.
Ông nhớ lại thời hai người yêu nhau. Họ có thể chia xẻ với
nhau đủ mọi phương diện. Từ văn chương cho đến đời
sống. Cô sinh viên thông minh đó ông chưa nói hết câu đã
bụm miệng cười. Ông chưa kịp cau mặt, cô đã lái câu
chuyện sang hướng khác. Cô mơ mộng và lý tưởng, cô
thuộc bao nhiêu là thơ, cô đã từng gửi cho ông câu thơ tình
cầu kỳ lãng mạn của Shakespeare, thuở mà những người
yêu nhau mới biết tặng nhau thơ của Nguyên Sa, Đinh
Hùng. Ông vẫn còn nhớ câu thơ đó đến ngày nay:
This bud of love, by summer’s ripening breath,
May prove a beauteous flower when next we meet
Trong đêm đầu tiên của đời sống vợ chồng, ông đã đọc lại
câu thơ này và gọi cô dâu là “hồng nhan tri kỷ”.
Bây giờ họ sẽ đóng vai một cặp vợ chồng may mắn, hạnh
phúc ở xa về thăm quê. Trong mắt những người bạn hữu
xưa, mối tình của hai người mấy mươi năm về trước vẫn
đẹp như một vầng trăng. Ông bà không nỡ làm mọi người
thất vọng vì một vầng trăng méo mó.
Ông nhìn theo bà bước vào xe, cái bóng gầy gầy của bà
thời con gái vẫn không đẫy hơn chút nào khi lớn tuổi. Ông
thấy lòng rưng rưng, ông biết trong thâm tâm ông vẫn yêu
bà. Nhưng điều làm ông đau đớn là cái xã hội mới này đã
lấy mất đi của ông một “hồng nhan tri kỷ” của ngày nào.
Bà quay chiếc xe vòng cung trong cái hẻm cụt, truớc khi lái
thẳng ra đường lộ. Bà ngừng lại một chút, cho tay vào túi
áo lấy ra cái gói có mấy sợi tóc bạc của ông. Bà mở gói,
cầm một sợi trắng phau lên ngang mặt, ngẩn người ra ngắm
một giây rồi lại gói cẩn thận cất vào túi sách. Bà quay đầu
lại, nhìn theo cái lưng ông khuất sau cánh cửa.
Mắt bà mờ đi.
2003
lá thư
Trong chồng thư tôi đem vào nhà hôm nay, có một lá thư
đến từ Việt Nam, tên người nhận và người gửi đều lạ hoắc.
Chỉ có họ Trần là giống họ của tôi. Địa chỉ trên phong bì,
số nhà viết là 207, nhân viên bưu điện gạch chéo một cái,
rồi sửa là 237 cho đúng với số nhà tôi.
Tôi xoay ngang, xoay dọc lá thư một lúc, định viết mấy chữ
“Not belong to this address” rồi bỏ vào thùng thư trả lại
cho bưu điện, nhưng lại ngập ngừng vì thấy những con tem
Việt Nam dán trên phong bì, tên phụ nữ Trần thị Nga, địa
chỉ người gửi tận một làng xã hẻo lánh nào thuộc miền
Trung, không có số nhà, chỉ có xã và ấp, rồi đến chữ cuối là
Việt Nam. Người nhận là Trần văn Tâm. Bây giờ lá thư này
bị gửi lại Viêt Nam thì cũng mất ít nhất là cả tháng, chưa
nói là có thể thất lạc trên đường về nhà cũ.
Khu xóm tôi ở, ngoài tôi ra, chắc toàn người Mỹ, tôi không
thấy người Á đông nào trong những lần tản bộ. Nhưng lá
thư này chỉ có số nhà sai còn tên đường, tên thành phố, tên
tiểu bang đều đúng cả. Tôi bỗng dưng thương cho người
gửi quá! Tôi cầm lá thư, tự nhủ ngày mai sẽ làm việc của
người đưa thư.
Cả buổi tối, thay vì đọc sách như thường lệ, tôi để lá thư ở
bàn ngủ đầu giường, rồi cứ nhìn ngắm nó, như nhìn ngắm
một người Việt Nam, một người không phải là bạn, nhưng
đúng là một người cùng quê. Cái phong bì vàng không ra
vàng, trắng không ra trắng, giấy mỏng tanh, mềm xèo, âm
ẩm, chẳng khác gì cái áo cánh của mấy người đàn bà gồng
gánh lam lũ ở miền quê. Thỉnh thoảng tôi lại cầm phong
thư lên, nhìn từng chữ trên phong bì, rồi hình dung ra người
viết chắc là một phụ nữ và ít học, vì tên người nhận và
người gửi có nhiều chữ sai, như chữ ấp mà viết thành ất,
phố viết thành phớ. Địa chỉ bên Mỹ thì không biết xuống
hàng ở chỗ nào, số zip code viết trước tên tiểu bang, nét
chữ mềm mại nhưng nguệch ngọac và rời xa nhau, chữ nào
cũng to gần bằng hạt đậu phọng. Tôi bỗng tò mò không biết
có phải thư của một cô gái quê nào đang chờ chồng Việt
kiều bảo lãnh, hay thư của em gái viết cho anh, của mẹ viết
cho con xin trợ cấp tiền bạc hay không?
Trưa hôm sau, tôi theo địa chỉ trên phong bì đi tìm nhà. Tên
đường, tên thành phố thì đúng rồi, nhưng cả dẫy không có
số nhà của phong bì ghi. (Vì nếu có ông đưa thư đã không
bỏ vào thùng thư nhà tôi.) Chỉ còn một cách tôi đảo vị trí
của ba con số đó đủ kiểu khác nhau, 207 thành 270, 720,
702, để may ra đúng nhưng vẫn hoàn toàn thất vọng, không
có số nhà nào đúng với cái số tôi đổi cả. Tôi làm thêm một
điều kỳ cục nữa là ghé mắt nhìn vào cửa sổ của một vài căn
nhà xem có nhà nào cách chưng bầy đồ đạc có vẻ Việt Nam
hay không? Có tiếng Việt nào nói vang ra ngoài mình nghe
được không? Giờ này ít có ai ở nhà, nên không nghe thấy
tiếng, cũng chẳng có nhà nào có vẻ Việt Nam cả, trừ nhà
tôi. Tôi đành chặc lưỡi “Thư của mình chứ còn của ai nữa,
mình họ Trần mà”. Nhưng tôi đâu có tên là Trần văn Tâm.
Tôi giữ lá thư mấy hôm liền, và trong mấy hôm đó, mỗi
buổi trưa tôi lại đi làm việc của người đưa thư. Tôi hy vọng
sẽ tìm ra người nhận trong khu xóm này, vì tên đường và
tên thành phố biên đúng trên phong bì. Tôi không dám kể
chuyện này cho chồng tôi nghe, sợ bị la vì giữ thư của
người khác là phạm luật.
Đến ngày thứ ba, cầm lá thư lên bỗng thấy nặng trĩu hơn
mấy ngày trước và thấy buồn buồn như có ai tin cậy nhờ
mình một việc mà mình làm không trọn vẹn. Tôi đi lấy
chiếc phong bì mới, đề tên người gửi là tên và địa chỉ của
mình trên phong bì, cho lá thư Việt Nam vào đó, ngày mai
tôi sẽ gửi trả lại cho cô/bà Nguyễn thị Nga. Đặt lá thư ngay
dưới chân chiếc đèn ngủ, nhìn tần ngần một lúc mới tắt đèn
lên giường.
Lá thư thứ nhất:
anh tâm thươn nhớ,
em nhớ anh ghê lắm em Đang có bầu đây anh biết không,
đêm nào con nó cũng đạp trong bụng khiến em nhớ anh quá
chừng mà anh đi đâu từ đó đến giờ mà không tin không tứt
gì cho em cả. Anh có nói anh qua bên đó là thư cho em và
làm giấy bão lãnh em ngay mà em chờ đỏ con mắt em
Khóc nhớ anh mà sáu tháng rồi em không nghe tin tứt chi
hết, hay anh hết thươn em rồi, mà hết thươn thì con Hai
Đứa mình ba tháng nửa ra đời rồi làm sao nuôi con em
không còn tiền bạt chi hết cả
bà con chòm xóm cứ hỏi hoài em mắc cở nên nói láo với họ
là anh có gửi thơ về và làm giấy rồi chừng vài tháng là đi
mỹ, ai cũng nói em có pước có đưa nên được lấy chồng việt
kiều về cưới, họ nói việt kiều mỹ có tiền hơn việt kiều út,
đám cưới mà tốn 3 trăm đồng tiền mỹ là rất là sang trọn, lại
còn được anh cho đi chơi chỗ này chỗ nọ như con dà dàu
có và em rất vui sướn mà cho nên em thêm mắc cỡ hoài,
à quên nói cho anh biết hai trăm anh cho mạ bữa đám cưới
mạ mua được hai con heo giốn và sửa cái mái nhà
em có lên ủy ban Nhân dân Xã để hỏi thăm mấy lần, thấy
em cứ hỏi Hoài họ nói họ không có biết, họ còn nói mà em
nói lại anh đừng la em gnhe, họ nói mấy thằng việt kiều là
việt dan đem mấy trăm dồng Bạc về lừa gái quê con nhà
lành đem đi xài cho đã rồi bỏ trốn rồi, em nói anh đàn hoàn
anh không việt dan đâu, anh sẽ về đem em qua mỹ và đem
mạ qua luôn cho mạ sướng
em có viết cho anh Mấy cái thơ gửi mà rồi anh có nhận
được không mà im re em còn nhờ người đi sài Gòn gửi
thêm thư mà anh vẫn im re, anh ở đâu hay là tụi mỹ Nó
không Biết đọt tiếng việt Mình nên hắn Dụt đi nên anh
không nhận được
anh tâm Ơi em nhớ anh hết sứt anh nhớ nhận đưọt Thư này
là làm giấy liền nghe, em chờ anh đêm Ngày, em Khóc Đỏ
con mắt hoài, mạ nói đừng khóc mà cái thai Nó ảnh Hưởng
mà làm sao mà không khót không nhớ cho đượt, anh ơi.
vợ Của anh trần Thị NGa
Lá thư thứ hai
Anh hai.
Lâu quá anh hai khôn gửi thư gửi tiền về nhà em nghe nói ở
bên đó đi làm cả bạc ngàn mà nhà mình nghèo quá, mà cả
ba năm nay chỉ nhận được có một trăm đô của anh. Cha
mất vào đúng cơn bão tới nước ngập lụt nguyên vùng mình
muốn trôi cả nhà đi giường phản trôi bềnh trong nước luôn
khôn có đất chôn cha trong nhà Không còn đủ một chén
gạo, củi lửa cũng khôn. em viết thư ngay cho anh mà khôn
nhận được thơ trả lời có phải lũ lụt đã trôi hết thư của xã
mình mạ bây giờ đang ốm nặng em có xin thuốc lá của chú
năm cho mạ uống mà không thấy êm, Mấy người nói đem
mạ ra tĩnh chữa, mà em đâu có tiền em chắc mạ rồi cũng
theo ông bà theo cha nữa hôm Chôn cha phải bó chiếu cái
chiếu ngắn cha thò chân ra ngoài em kéo xuốn thì lại thòi
đầu kia ra, chôn ngay ở một gò đất mà em không biết được
bao lâu coi chừn nước kéo cha đi luông em cũng hết sức
rồi. em cầu trời ngày đêm cho anh nhận được thư này về
thăm mạ cho mạ tiền trước khi mạ chết
mà này có phải bên đó anh làm được tiền ngàn khôn
em nga
Lá thư thứ ba:
con trai Tâm của mạ
Mạ không biết chữ nên phải nhờ con bé bán chuối nhà hàng
xóm viết hộ thư này để cầu cứu con bà con chòm xóm mình
đây ai cũng nghèo khổ như nhà mình nên mạ không biết
xin tiềng ai. con Liên bây giờ 15 tuổi hồi con ở nhà nó lên
5 nó không có đi học nữa mạ khôn có tiềng con cho môt
trăm mỹ hết từ hai năm nay rồi nhà mình nghèo quá, hai
năm nay mạ mới nhận được một trăm con gửi về ăn thì
chẳng bữa nào đủ no có Người thương nói đem em con lên
Xềgòn cho đi ở mướn mạ thấy mừn chỉ làm việc nhà, đuợc
ăn no và mặc quần áo lành có tiềng gửi về cho mạ nữa và
em cũng mừn bây giờ mới biết là không phải đi Xềgòn mà
đi mãi tận cam bô chia không biết làm gì mà phải đi xa thế
lại nghe có người nói em con bị bán sang đó làm gì mạ
cũng không biết mà nó thì đáng đồng xu têng nào mà bán
gì đâu khơn biết nhưng đi xa quá nhỡ không có tiền đi xe
đò về mấy ngày tết thì mạ nhớ nó lắm Mạ không có tiền đi
xềgòn tìm em ai đưa mạ đi cam bô chia bây giờ, Con nhận
được tin này thì thu xếp về ngay để sang cam bô chia lấy
em về khi hôm mạ nằm mớ thấy em con mạ khóc quá. nếu
con khôn về được thì rán gửi cho mạ ít tiềng để mạ đi tìm
và chuộc em về tiềng cứ gửi về chỗ ông trưởn xã mìnhchắc
ông không lấy của mạ là mạ nhận được
mạ của con
bà Cụ ngA
Sáng nay, tôi thức dậy trong một trạng thái lơ mơ, đầu nằng
nặng. Tôi không biết tôi đã đọc những lá thư trên trong giấc
ngủ hay là trước khi ngủ. Chiếc phong bì tôi mới viết còn
nằm dưới chân đèn ngủ. Tôi cầm phong bì lên, ngắm nghía
một lúc, đi sang phòng làm việc, mở thư ra, cho vào đó
mảnh giấy nhỏ có viết mấy chữ:
“Địa chỉ của ông Trần văn Tâm sai, nên thư không có
người nhận. Nếu cô/bà Nga cần gì xin viết thư cho tôi về
tên và địa chỉ trên phong bì. Tôi cũng họ Trần, cũng người
trong gia đình. Xin đừng ngại gì cả. Nhớ đề tên và địa chỉ
rõ ràng tôi mới liên lạc được”
Tôi dán lại phong bì, mang thư ra tận bưu điện gửi cho yên
lòng. Hy vọng lá thư này đến tay người phụ nữ khốn khổ ấy
bên kia trái đất.
9/06
Tuệ Quân
Gửi Đào Mỹ Lệ
Erik mất vào đúng đêm rằm tháng tám. Mấy ngày liền, Tuệ
Quân lái xe chạy đi chạy lại giữa nhà và bệnh viện bất kể
ngày đêm. Xe lái trong đêm qua những đường trăng, ánh
trăng vằng vặc chạy hối hả theo cô mà sao cô không nhận
ra được là đêm đang sửa soạn vào rằm, có lạ không? Tuệ
Quân không nhận ra được sự có mặt của trăng nữa, cô đã
lái xe đi trong những vũng tối, những vũng tối ngay cả giữa
ban ngày. Mặt trăng, mặt trời nhìn thấy cô, nhưng cô không
thấy mặt trăng, mặt trời . Mãi đến sau khi Erik mất, Tuệ
Quân xem lịch mới biết là Erik đã chết giữa đêm rằm.
Chao ôi! Tại sao Erik lại chết giữa đêm rằm? Anh tự chọn
cho anh hay Trời xếp đặt cho anh? Tuệ Quân bỗng nhớ lại
từ khi biết nhau, yêu nhau, cho đến khi Erik ngã bệnh,
không có đêm rằm nào mà cô và Erik không theo dõi trăng,
thưởng thức trăng, chỉ trừ khi trăng bị che khuất vào một
đêm nhiều mây hay một đêm mưa vào những tháng Đông.
Trong khu vườn sau của hai người có bộ bàn nhỏ với hai
chiếc ghế kê ngay dưới một khóm trúc. Vào những đêm
trăng, sau bữa ăn tối, họ thường ra sân uống trà và uống cả
những giọt trăng rơi trên tóc, rơi trong mắt nhau. Tuệ Quân
hay nói về những bức tranh vẽ bằng bồ hóng và nước (tranh
thủy mặc) của gia đình cô ngày trước, những bức tranh có
cành trúc vắt ngang một mặt trăng, những bức tranh đặc
biệt Trung Hoa. Hai người thong thả uống trà quên đi một
ngày vừa đi qua với những công việc và tiếng động, Tuệ
Quân cất tiếng hát nho nhỏ bài hát về bông hoa mầu trắng,
mầu đỏ của tuổi thơ, bài hát Erik thích nhất.
Trong vườn có bông hoa nhài nhỏ, cánh trắng mong manh,
hãy hái cho em đi an !
Trong vườn có bông hoa mầu đỏ, hãy hái cho em đi anh,
hãy hái cho em đi anh!
Trong thời gian bệnh, có những lúc Erik không muốn ra
khỏi giường, Tuệ Quân thường nói:
- Để em gọi “room service” nghe.
Rồi cô mở toang hai cánh cửa sổ cho trăng tràn vào chăn
gối của anh, cô pha trà mang tới, hai người nhâm nhi từng
ngụm trà nhỏ, cô hát nho nhỏ từng câu của bài ca. Erik nửa
nằm nửa ngồi, mơ màng nghe cô hát. Tuệ Quân giấu thật
sâu những cảm xúc của mình trong lồng ngực, cô hát bằng
giọng hát trầm bổng, nụ cười trên môi, ánh trăng trong mắt,
cô vừa nhìn Erik vừa say sưa hát. Erik uống từng lời ca trên
môi cô cùng với ánh trăng. Trong căn phòng nhỏ chỉ có mặt
của hạnh phúc và trăng. Bệnh hoạn đứng thật xa ngoài
khung cửa sổ, trong một khoảng tối tăm nào đó ở góc vườn.
Trong hai năm chống trả với bệnh ung thư, Erik cố sống
thản nhiên với nó. Anh thay đổi cách ăn uống, uống thuốc
và theo dõi bệnh cùng với bác sĩ, anh làm việc bán thời
gian, anh tin là anh sẽ thoát. Nhưng sức khỏe càng ngày
càng giảm, anh phải nghỉ hẳn. Tuệ Quân vừa đi làm vừa
săn sóc anh. Cô cũng cố giữ mình như một bông huệ trước
mắt Erik, không cho anh nhìn thấy cái héo hắt của mình.
Một buổi tối anh bỗng thấy khó thở, Tuệ Quân gọi xe cấp
cứu đưa anh vào bệnh viện. Anh cũng chỉ nghĩ sau một hai
ngày, anh sẽ lại về nhà ngay, anh vừa thở vừa nói với Tuệ
Quân trong lúc được cáng vào xe cấp cứu:
- Nhớ đem vào cho anh cái quần dài để anh mặc khi về
nghe. (Lúc đó anh đang mặc quần cụt).
Nhưng anh không bao giờ trở về nhà nữa. Nước vào phổi
và không rút ra được. Tuệ Quân đứng bất lực nhìn những
chiếc ống luồn vào trong lồng ngực anh, nó không cứu
được Erik nữa, hơi thở đang bay từ từ ra khỏi lồng ngực
anh. Cái khung hình biểu đồ tim đặt ở đầu giường Erik với
đường chỉ nhấp nhô lên xuống, hình như đang cố tình kéo
căng thẳng ra. Trong cái thinh lặng của phút giây sinh tử,
giữa những người thân của gia đình anh, Tuệ Quân bỗng
cất tiếng hát. Cô hát bằng tiếng Trung Hoa, tiếng mẹ đẻ của
cô, những câu hát nằm trong tiềm thức của cô từ thời thơ
dại bỗng lại nở bung ra như những bông hoa rơi từng cánh,
từng cánh, xuống thân thể thoi thóp thở bằng máy của Erik.
Trong vườn có bông hoa nhài nhỏ, cánh trắng mong manh,
hãy hái cho em đi anh!
Trong vườn có bông hoa mầu đỏ, hãy hái cho em đi anh,
hãy hái cho em đi anh!
Gia đình Mỹ của Erik đứng chung quanh im lặng, lắng
nghe từng tiếng hát của Tuệ Quân rơi xuống theo những
giòng lệ trên má cô, họ không hiểu ngôn ngữ của cô, nhưng
họ hiểu đó là những cánh hoa cuối cùng Tuệ Quân có thể
tặng cho Erik.
Erik nằm thở từng hơi rất nhẹ, rất nhẹ! Âm thanh êm ái đó
dắt anh vào vườn hoa, những câu hát thân quen này Tuệ
Quân vẫn hay hát cho anh nghe trong những khi hai người
ngồi dưới ánh trăng, tiếng hát khe khẽ của Tuệ Quân
thường làm rung cả ánh trăng đang chẩy trên mặt trên vai
hai người. Erik nuốt vào thanh quản của mình những câu
hát như những cánh hoa trăng đó, anh thả nó trôi bồng bềnh
trong lồng ngực của mình, lồng ngực sũng nước của anh
như một chiếc hồ nhỏ đang nhận từng cánh hoa trăng nhẹ
nhàng rắc xuống. Erik thở hơi cuối cùng khi nhận cánh hoa
cuối rơi xuống từ thanh quản Tuệ Quân. Cô phủ phục trên
ngực Erik, nước mắt của cô tan ra, trút xuống như những
cánh hoa trăng.
Những ngày sau này, Tuệ Quân vẫn không hiểu bằng một
thúc đẩy nào mà cô lại có thể hát những câu hát tiếng Hoa
giữa một gia đình Mỹ của Erik trong hoàn cảnh như thế?
Tiếng hát tự nó bật lên, bài hát mà Erik thích nhất. Tuệ
Quân nhớ lại, trước đây cô có hát cho anh nghe một vài bài
tiếng Hoa khác, nhưng bài nào anh cũng lắc đầu, chỉ có bài
hát bông hoa trắng, bông hoa đỏ của tuổi thơ này là anh
khen hay mỗi khi cô cất tiếng hát trong vườn trăng. Có lẽ
tại ánh trăng trộn lẫn vào tiếng hát làm cho nó hay hơn
những câu hát khác, vì Tuệ Quân thỉnh thoảng cũng có hát
bài này trong lúc đứng nấu ăn hay ngay cả lúc đi bộ với
nhau, thì không thấy Erik khen chê gì cả.
Gia đình Erik lo mọi việc tang ma. Hai đứa con riêng mười
bẩy và hai mươi tuổi của Erik ở xa được gọi về. Mười lăm
năm gắn bó với nhau, trước sau gì Tuệ Quân vẫn chỉ là một
người tình, cô lui về căn nhà nhỏ của hai người chờ những
lời gọi. Họ đã hỏa táng Erik và Tuệ Quân không được gọi
tới trong ngày đó. Không sao! Cô mất Erik bằng xương
bằng thịt chứ không phải bằng một nắm tàn tro.Với Tuệ
Quân, đời sống sẽ không còn như cũ nữa, cô như người
bước hụt, hai chân đứng không vững. Tuệ Quân xin nghỉ
việc dài hạn, không lương.
Cô thu xếp chăn, giường, quần áo của Erik cho đi hết.
Nhưng sao, nhìn đâu cũng thấy anh còn hiện diện. Anh ở
ngay trên mấy cuốn sách, ở cái ly nước uống, ở bộ đồ trà, ở
cái ghế dưới chân giường hay ở cái ghế ngoài vườn. Tất cả
những thứ đó làm sao mà xóa được dấu tích của hai người
đã chạm tay vào, đã ngồi, đứng cùng nó trong bao nhiêu
năm dài. Tuệ Quân phải đi gặp đến hai người cố vấn tâm
thần. Họ lặng im nghe cô nói, cô thấy an ủi phần nào khi có
người biết nghe nỗi đau của mình. Có hôm Tuệ Quân thấy
cô thật bình tĩnh, nhìn xuống nỗi buồn như nhìn xuống hai
bàn tay mình với sự chấp nhận, nhưng chỉ một, hai hôm sau
thôi, cô lại khuỵu xuống tưởng như có ngàn thước đá đổ
trên vai, và chôn lấp cô ngay trong căn bếp nhỏ của mình.
Một tháng sau ngày Erik mất, gia đình anh tổ chức một
buổi tưởng niệm nhỏ cho anh trong một khu vườn Nhật ở
Seattle. Tuệ Quân được mời tham dự.
Mùa thu vỗ về nỗi đau của người còn lại bằng một ngày
nắng đẹp. Gia đình và bạn hữu của Erik khoảng hai mươi
người, Tuệ Quân được mời đến như bạn, cô đem theo vợ
chồng một người bạn thân của cô và Erik cho bớt chông
chênh.
Giữa khung cảnh vườn thu với hồ nước trong vắt, cá anh vũ
bơi lội, cỏ cây sắc đỏ chen với sắc vàng, trong một căn lều
dùng làm nơi nghỉ chân cho người ngắm cảnh, mọi người
tụ họp nhau lại, nhắc đến tên Erik, nhắc những kỷ niệm với
anh. Những tiếng cười khẽ bật lên có pha tiếng nấc, tiếng
khóc ấm ức của hai đứa nhỏ con anh, chúng đứng khóc trên
vai mẹ chúng. Tiếng rơi của những chiếc lá vàng, tiếng
quẫy đuôi của cá anh vũ, tiếng vỗ cánh của một con chim
vừa bay ngang. Tuệ Quân yên lặng nghe tất cả những tiếng
động đó, cô tập trung tư tưởng hình dung ra Erik đứng ở
góc nào trong căn lều này? Chắc anh đang ôm hai đứa nhỏ,
hay anh đang đứng sau lưng mấy người em, hay anh ngồi
ngay trước mặt người mẹ già của mình. Tuệ Quân biết dù
đứng ở đâu, chắc chắn anh cũng đang nhìn cô.
Bỗng dưng cô nghe thấy mình hát, bài hát có bông hoa
trắng, bông hoa đỏ bằng tiếng Hoa lại rung lên trong thanh
quản cô, cô chăm chú theo dõi tiếng hát. Tiếng hát rung lên
như những cánh hoa trăng đang rắc xuống trong khu vườn
tràn ngập nắng thu, rắc lên tóc, lên vai mọi người. Nhưng
Tuệ Quân biết, lần này chỉ có mình Erik và cô thưởng thức
bài hát trong thế giới vườn trăng của hai người.
Bất giác cô nhìn lại anh và mỉm cười.
10/ 2005
chuyện kể
Gửi anh Thái Hà Chung, để nhớ lại 40 năm Cung đã mất
Chuyện hôm nay chỉ còn là chuyện kể
Quãng đời qua hay là quãng chiêm bao
Tình yêu đó ta thắp bằng tim nến
Sao ai châm đuốc lửa đốt hai đầu. (tmt)
- Khi anh tìm được về nhà cũ, em và cả gia đình hai bên đã
đi rồi. Anh đau đớn quá, nhưng anh không muốn để sự thất
vọng giết nốt hồn mình, anh loanh quanh trong thành phố,
hy vọng em chưa đi hẳn, em còn tạm trốn ở một nơi nào đó,
đợi anh về, nên mấy chục năm nay anh vẫn ở lại trong xóm
cũ, dù biết, nhà của cha mẹ em đã có người khác dọn vào
lâu rồi.
Người đàn bà vóc vạc mảnh dẻ, đi như dựa hẳn vào lòng
người đàn ông, ông không cao lớn lắm, nhưng vững chãi
như một bức tường nhỏ, ấm áp. Tóc của bà đã hoa râm, dấu
thời gian đã vẽ những vết nhăn đậm nhạt trên vừng trán,
trên khóe miệng, trên đuôi mắt; nhưng ở người đàn ông, da
vẫn căng và nâu sậm khỏe mạnh, tóc không hề có một sợi
bạc, mái tóc xanh, cắt ngắn, của một người lính.
- Em lúc đó hoang mang, bối rối vô cùng, ông chánh văn
phòng ở chỗ em làm, bảo sao thì em làm vậy. Bên gia đình
anh cũng bỏ đi rồi, em đến nhà thì nhà hoang cửa trống, chỉ
có con bé giúp việc đang ngồi khóc. Em đi chung quanh
những căn buồng nhỏ, nhớ lại những kỷ niệm từ hồi còn
anh, những kỷ niệm như những cánh hoa ứa máu nhưng
vẫn còn thơm ngát. Biết là mình rồi cũng sẽ phải bỏ đi thôi.
Em xếp kỷ niệm chôn vào bóng nắng trong một góc vườn.
Vì em có một mình nên sở cho em mang bố mẹ đi với em.
Thế là nhà của bố mẹ cũng mất với người.
Hai người đi một vòng trong xóm cũ. Mọi nhà, mọi cảnh
đều thay đổi, người đàn bà không nhận ra ai trong xóm,
những khuôn mặt hình như đều được vẽ lại, xa lạ và lạnh
lùng như những người trong tranh. Những ngôi nhà thay
đổi đến ngạc nhiên, không cách nào nhận ra. Lần đầu tiên
bà về quê, bà phải đếm trong đầu, từng ngôi nhà một, để
định chỗ. Khi tìm được cây tầm ruộc, bà mới nhận ra ngôi
nhà cũ của mình. Người đàn ông dừng lại trước ngôi nhà,
ôm thân hình mảnh mai của người đàn bà trong đôi tay
khỏe mạnh của mình xót xa:
- Em gầy quá!
Người đàn bà cười nhẹ:
- Không phải em gầy đâu, tuổi già làm xương em xốp đi
đấy.
- Em nhìn kìa, nhà cửa thay mới nhưng họ vẫn không đốn
cây tầm ruộc này, nó bây giờ vẫn mỗi năm cho trái, mới lạ
chứ!
- Cứ hai năm em về một lần, lần nào cũng ghé qua nhìn
ngôi nhà của gia đình mình, sao mãi đến lần thứ tư này mới
gặp lại anh.
- Lạ thật đấy, anh thì qua lại đây thường xuyên, anh muốn
đến lúc nào cũng đến được, nhớ em quá đỗi, anh đến ngay.
Có những đêm trăng anh còn vào cả sau nhà, cây trứng cá
thì bị đốn rồi, ánh trăng bây giờ nằm từng vệt riêng rẽ trên
cái sân xi măng, trông cô đơn lắm.Tối nay rằm, hay mình ở
lại chờ trăng lên đi em.
- Dạ.
Tiếng dạ ngoan hiền ngày xưa âm âm trong trái tim người
đàn ông không thay đổi. Ông im lặng một lúc cho cái âm
của tiếng “dạ” như vang vào một cõi u minh.
Cha mẹ hai bên đã mất hết rồi, chỉ có chúng mình là không
bao giờ mất nhau, vì chúng mình yêu nhau quá, phải không
em? Nhưng này em, cái ổ gà to tướng ở ngay đầu ngõ vào
xóm mình bị lấp đi làm anh tiếc mãi. Em còn nhớ không?
Cái lần anh ở đơn vị về phép, mình đi ăn kem Givral, khi
về, trời mưa to, em cứ loay hoay không biết làm sao đi qua
cái vũng nước nằm ngang ngõ, mà không ướt giầy. Anh bế
bổng em lên, bước vào vũng nước, anh đi giầy nhà binh
mà. Mấy người trong xóm cười trêu mình, làm em ngượng
quá, em cứ giẫy trong tay anh đòi xuống, anh lại càng ôm
chặt, cuối cùng hai đứa ngã lăn kềnh trong vũng nước, mọi
người càng cười to. Hôm đó em xấu hổ giận anh nguyên
ngày, anh dỗ mãi không được. Nhưng khi anh sắp phải trở
về đơn vị, tự em lại làm hòa trước, em có nhớ không, em
còn nhớ không?
Làm sao mà quên được, người đàn bà mặt mũi đầm đìa
nước mắt, kín đáo giơ ngang ống tay áo lên chùi, không
cho người đàn ông biết mình khóc, nói khẽ:
- Dạ, (người đàn bà hay dạ trước mỗi câu nói.) Bây giờ em
chỉ muốn vẫn còn cái ổ gà to tướng đó, để được anh bế lội
qua.
Bà nói xong cúi nhìn xuống chân người đàn ông, ông vẫn
đi đôi giầy nhà binh cao cổ, đôi giầy mà lần đầu tiên sau
ngày cưới, ông trở về từ đơn vị, bà bắt ông tháo ra ngay để
bà mang vớ đi giặt, mang giầy ra rửa, rồi phơi nắng. Bà còn
nhớ lại cái cảm giác lúc giặt, rửa, giầy vớ cho chồng, cái
cảm giác nhói đau trong ngực người vợ trẻ, khi nghĩ đến
một ngày nào đó không được làm cái công việc mong manh
xúc động này.
Người đàn ông lại say sưa kể.
- Anh nhớ có một lần xe hư giữa đường, cái xe gắn máy lâu
ngày anh không dùng đến. Khi đó, về thăm nhà, anh chẳng
kịp thay quần áo, chở em đi uống cà phê ở phố Nguyễn Phi
Khanh, Đa Kao. (Có bốn ngày phép thôi mà, đã mất một
ngày đi, một ngày về rồi.)Trời mưa tháng sáu, nước ngập
đường, chẩy không kịp, chiếc xe chết máy, mình phải gửi
quán cà phê đi xích lô về. Trời ơi, anh sung sướng làm sao,
một người lính quần áo còn khét mùi khói, được ngồi
chung xích lô với cô vợ trẻ như chiêm bao trong một chiều
mưa. Chao ôi là lãng mạn! Em nhớ không, em còn nhớ
không?
Cứ kể xong một chuyện, người đàn ông lại nồng nàn hỏi.
“Em nhớ không? Em còn nhớ không?”. Làm sao mà quên
được, người đàn bà thầm thì trong đầu; “ trong chiếc xích
lô chật hẹp, em ngồi trong lòng anh, em ngửi được mùi tình
yêu, mùi vợ chồng, mùi bổn phận, mùi quê hương bốc ra từ
hơi thở anh, từ bộ đồ trận trên người anh, trộn vào không
gian ẩm ướt. Em lúc đó hoang mang, chẳng biết gọi cái mùi
đó là gì. Sau này nghĩ lại em mới biết, đó là: “Mùi Chiến
Tranh.”
Ánh trăng ở thành phố này bây giờ đã mờ đi, khói xe bốc
lên ô nhiễm không gian, nhòe vào vùng ánh sáng làm bóng
trăng rằm trở nên âm u. Hai người im lặng đi trong bóng
trăng như đi giữa một giấc mơ, người đàn bả thỉnh thoảng
lại kín đáo giơ ống tay áo lên, chùi những dòng nước mắt
đang nhòe vào ánh trăng trên mặt mình. Người đàn ông
muốn dắt vợ vào tận trong sân nhưng người đàn bà chùn
tay lại. Bây giờ đâu còn phải nhà mình nữa. Sau bốn mươi
năm, mọi sự đã thay đổi. Thành phố đổi tên, nhà đổi chủ,
ngay chính mình cũng đã thành vợ người khác. Người đàn
bà chưa dám nói cho chồng cũ biết điều đó, và người đàn
ông cũng không hỏi, hình như ông không để ý đến chuyện
đó, hình như ông vẫn nghĩ mình vừa sống sót, trở về nhà,
gặp lại vợ sau một cuộc hành quân. Ông nắm tay bà, vẫn
bàn tay ấm áp đầy sức mạnh của một người lính. Người đàn
bà bỗng nhớ (rất lơ mơ) là ở một nơi bên kia trái đất mình
cũng có một gia đình, có chồng, con đang mong đợi mình
(Em đi thăm Việt Nam nhanh lên rồi về nghe.)
Trăng rằm ở chốn xa xôi, nơi người đàn bà đang cư ngụ,
nếu không vào đêm mưa thì rực rỡ lắm, cái rực rỡ làm mỗi
khi bà nhìn trăng lại quặn thắt nhớ đến ngày xưa, người cũ.
Bây giờ đi bên người đàn ông cũ trong một đêm trăng ở
quê hương, bà cúi nhìn bàn tay đã bắt đầu khô, nhăn, của
mình đặt trong bàn tay khỏe mạnh trẻ trung của người đàn
ông, bà bỗng thấy có một điều gì rất lạ. Người đàn ông
không để cho ý nghĩ của người đàn bà đi xa quá, ông nói:
- Anh đưa em đến một chỗ này, thích lắm. Em sẽ gặp rất
nhiều người thân thiết của ngày xưa.
Người đàn bà cứ để nguyên bàn tay mình trong bàn tay
người đàn ông, mặc cho ông đưa bà đi. Đi lâu lắm, cuối
cùng người đàn ông đưa người đàn bà đến một vùng hoang
địa, người đàn bà đoán thế vì trong bóng đêm, mặc dù dưới
ánh trăng rằm, bà cũng thấy âm u, hoang lạnh, không đầm
ấm như xóm cũ của mình. Hai người bước qua một cái
cổng lớn xây gạch nhưng đã đổ nát, người đàn bà cứ phải
níu chặt cánh tay người đàn ông; bước cao, bước thấp, qua
những bụi gai, cỏ dại, mô đá, mô xi măng, mô đất. Thỉnh
thoảng người đàn ông dừng lại, hoặc cúi đầu chào những
người đàn ông khác đi qua họ. Người đàn bà cũng cúi đầu
chào theo, không nhìn rõ binh chủng và cấp bậc trên quân
phục của họ. Cuối cùng, người đàn ông kéo người đàn bà
ngồi xuống một mảng xi măng đã vỡ nhưng còn khá rộng,
nói:
- Đây là nơi những người bạn của anh cư ngụ, những
người ngày trước đã sinh ra, lớn lên, yêu và chết cho mảnh
đất này. Nếu thỉnh thoảng em có về, không gặp anh, em
cũng nhớ ghé qua đây thăm họ.
Hai người ngồi im lặng trong bóng trăng đã bắt đầu nhàn
nhạt, hình như mặt trời đang sửa soạn đi ra. Người đàn bà
nhìn vào khuôn mặt người đàn ông cũng đang nhàn nhạt
theo ánh trăng. Dưới ánh trăng mờ mờ, bà ngước nhìn lên
mái tóc dầy xanh thẫm, cắt ngắn, vầng trán phẳng, đôi mắt
buồn buồn, có mảnh trăng rơi vào loang loang như bóng
nước, lòng bà quặn thắt. Bà tránh cặp mắt, nhìn xuống bộ
quần áo ông đang mặc trên người. Bộ quần áo nhà binh, tối
xẫm vào bóng trăng thành mầu xanh đen, nhưng cái hoa
mai gắn trên vai vẫn đang lấp lánh, bà nhìn xuống đôi giầy
nhà binh, rồi nhìn vào từng vệt sáng của trăng trên mặt đất
hoang vu, đổ nát của một thành phố đổi chủ. Bà nhớ lại dần
dần, về mình, về người đàn ông, về ngôi nhà của cha mẹ
mà hai vợ chồng mới cưới còn ở, chưa kịp ra riêng. Bà nhớ
là mình lúc đó trẻ lắm, có một người chồng trong quân ngũ
như hầu hết những cô gái trẻ ở thời gian đó, ở quê hương
đó. Chao ôi! bà bỗng nhớ ra tất cả:
Người đàn ông đó chết rồi, chết rất trẻ; chết thế nào, cách
nào bà không biết rõ, nhưng anh chắc chắn đã chết như một
người lính chết cho quê hương.
30/4/2009
bông hồng nhung thứ tám
Bà Hằng liếc vội vào trong chiếc gương nhỏ, thoa chút
phấn hồng trên má, một mầu son thật nhạt. Bà không dám
trang điểm mạnh sợ trông già, bà đã kín đáo ăn mặc trẻ
trung hơn số tuổi của mình. Chỉ còn hai mươi phút nữa
máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, người đàn
ông trẻ hơn bà mười lăm tuổi sẽ đón bà bên dưới. Bà thấy
hồi hộp chen lẫn một chút ngượng ngùng.
Cả ba tháng nay bà đã gửi điện thư (e-meo), gửi ảnh, nói
điện thoại với Trí. Trí bằng tuổi em út bà, nhưng Trí rất lịch
lãm, nhìn trong hình thấy khá sáng sủa, Trí có giọng nói
ấm, không kiểu cách, Trí cho biết đang làm giám đốc một
công ty du lịch tư nhân, hùn vốn với hai người bạn. Trí sẵn
sàng làm người hướng dẫn viên, người yêu của bà Hằng
sau ba tháng hai người biết nhau nhưng chưa biết mặt. Trí
nói chưa lập gia đình bao giờ, bà Hằng vừa hoàn tất thủ tục
ly dị được sáu tháng, không phải nuôi con nhỏ.
“Thật là tuyệt!” Trí viết trong một điện thư: “Hằng hiểu là
tình yêu không có tuổi phải không? Hằng ở trong hình
không thể nào ở tuổi 55 được, ở ngoài chắc Hằng còn trẻ
nữa”
Hằng giao cửa tiệm One Hour Photo của mình cho một
người anh họ, về Việt Nam gặp Trí, với mọi người trong
gia đình bà giấu, chỉ nói là nghỉ về thăm quê, thăm họ hàng.
Trí đón bà Hằng với bó hồng nhung bẩy bông đỏ thẫm. Bà
Hằng hơi khựng lại một chút khi thấy Trí trẻ hơn trong hình
rất nhiều, người đàn ông Việt Nam ở tuổi 40 ăn mặc không
khác gì những người đàn ông Việt Nam có tiền ở Mỹ. Quần
xám đậm, áo xám nhạt ngắn tay, cà vạt vàng nhạt, hơi nới
lỏng (cố ý) một chút để khoe một cái cổ ngăm ngăm hồng,
khỏe mạnh.
Trí thuê một chiếc xe Camry còn mới, tự lái. Trí mở máy
lạnh tối đa trước khi bà Hằng bước vào xe. Trí nhìn rõ cái
bối rối của bà Hằng, Trí nhẹ nhàng trấn an bằng một câu
hỏi:
Hằng có biết tại sao lại là 7 bông hồng mà không là 8 hay
là 10?
Bà Hằng chưa kịp trả lời thì Trí mỉm cười, giọng ấm áp nói
tiếp:
Vì Hằng chính là bông thứ 8 rồi. Người Pháp không bao
giờ tặng hoa cho phụ nữ ở số chẵn cả, vì họ luôn luôn kể
nàng là một bông.
Bà Hằng lặng người đi một giây, từ lúc xuống máy bay đến
phút này, bà mới gật đầu chào Trí, chưa nói được tiếng nào.
Khi rời Mỹ, bà rất tự tin, bà nghĩ dầu sao bà ở Mỹ lâu năm,
tiếp cận đời sống văn minh hơn, nói tiếng Mỹ khá hơn và
trẻ hơn những người đàn bà khác cùng tuổi bà ở Việt Nam
rất nhiều, Trí sẽ thán phục, và mê bà rất nhanh.
Trí đã lấy sẵn buồng trong Continental cho bà, sau khi làm
thủ tục giấy tờ, Trí không hấp tấp nhận phòng, anh cất chìa
khóa của bà vào túi áo mình. Với cử chỉ lịch lãm, tự nhiên,
anh nâng nhẹ khuỷu tay bà Hằng nói:
Hằng cần uống một chút gì cho mát trước khi lên phòng.
Bà Hằng gọi một ly nước dừa tươi, trong khi Trí uống bia.
Hai người im lặng nhìn nhau. Đây là lúc cả hai cùng định
giá kể đối diện. Trí uống một ngụm bia, nheo mắt nhìn bà
Hằng một giây, khẽ mỉm cười, rồi ngửa cổ ra đằng sau hơi
duỗi người ra một chút trên ghế, chiếc sơ mi mỏng cho khí
hậu nhiệt đới bám sát vào mình chàng, cho bà Hằng nhìn rõ
thân thể còn quyến rũ của người đàn ông trẻ, bà bối rối
nhìn vào cây hoa bông giấy qua vai Trí. Trí như đọc được
tư tưởng của bà Hằng, nói một câu vừa khen vừa trấn an:
Hằng trẻ hơn tôi hình dung nhiều.
Bà Hằng tuy hài lòng, nhưng bắt đầu cảm thấy hơi bất an.
Khi đưa Hằng lên phòng, Trí có cái phong cách của một
người đàn ông đưa người tình vào khách sạn. Anh thản
nhiên đến bên giường, ghé ngồi xuống, tháo giầy tháo vớ,
rồi đến bên bà Hằng xoay mặt bà đối diện với anh. Bà
Hằng chưa kịp phản ứng thì Trí đã khóa bà lại trong tay anh
và hôn tới tấp trên mặt trên cổ bà. Khi bà vừa kịp nhập vào
đà cuốn hút của Trí, thì lại đúng lúc Trí buông bà ra. Anh
cúi xuống đi vớ đi giầy, nói nhẹ nhàng với bà:
Em nghỉ một chút cho thoải mái. Tôi sẽ trở lại đón em
chiều nay, mình đi ăn, đi chơi.
Chữ “em” Trí gọi bà, làm bà quên bẵng đi cái khoảng cách
mười lăm năm giữa bà và Trí.
Bà Hằng ở lại Việt Nam hai tuần, bà tiêu đến đồng mỹ kim
cuối cùng của số tiền tám ngàn mang về. Trong đó có tiền
khách sạn, tiền du lịch, tiền may sắm cho người tình trẻ. Bà
không hối hận, bà tự nhủ “ Nếu như Trí có quên bà ngay,
sau khi bà rời Việt Nam thì cũng là chuyện tất nhiên, bà
nhiều tuổi hơn Trí quá, bà chẳng trông mong gì một mối
tình lâu dài. Đây là một sự trao đổi lịch sự. Cả hai cùng biết
giá của món hàng mình phải trả”
Nhưng thật sự bà Hằng có hạnh phúc trong hai tuần lễ đó
không thì chỉ có mình bà trả lời được. Cách đây 3 năm, ông
Tâm chồng bà, đã về Việt Nam lấy một người con gái hơn
con gái đầu lòng của ông bà hai tuổi. Ông Tâm lấy lén lút,
và tìm cách cứ vài tháng lại về du lịch Việt Nam một mình.
Bà Hằng biết được, ông Tâm ra điều kiện li dị hẳn hay chấp
nhận cho ông một cảnh hai quê. Bà Hằng vì tự ái, chọn giải
pháp li dị.
Để trả thù, bà đi mỹ viện chỉnh trang lại nhan sắc, đi ghi tên
tập thể dục thẩm mỹ, đi học khiêu vũ, và cuối cùng bà nghe
lời bè bạn, vào internet tìm bạn phương xa. Phong trào về
Việt Nam tìm bạn trai trẻ tuổi hơn mình không còn là vấn
đề phải tránh né khi đề cập đến. Đã có nhiều bà bạn hơn bà
5, 6 tuổi. Nghĩa là đã sáu mươi vẫn kiếm được người yêu,
người bồ kém mình mười tuổi rất thường. Các bà quan
niệm đàn bà sống lâu, trẻ dai hơn đàn ông, nhất là đàn bà
sống ở Mỹ. Tiền bạc và những tiện nghi vật chất đã giúp
các bà không những có bề ngoài trẻ trung mà trong tâm họ
cũng quên đi một số năm tháng đã đi qua đời mình.
Trong hai tuần ở Việt Nam, bà Hằng được Trí chiều
chuộng hết sức, coi bà như một người tình bé bỏng. Khi Trí
dưa bà lên núi thì bà tưởng chàng là Sơn Tinh, vì chàng
vừa leo dốc vừa đỡ bà mà không biết mệt, khi chàng đưa bà
xuống biển thì bà ngỡ chàng là Thủy Tinh vì chàng bơi giỏi
quá, thân thể chàng còn đẹp quá! Bà mơ màng nghĩ kiếp
trước có thể bà là Mỵ Nương con của vua Hùng Vương thứ
18 nên kiếp này mới gặp Trí. Chỉ khi Trí tiêu tiền của bà thì
bà hơi hốt hoảng, nhưng bà vội nhủ lòng. “Tiền bạc mà làm
gì, lúc chết đâu đem theo được, hãy tận hưởng mối tình
cuối đời, ta đang mua hạnh phúc mà”
Bà Hằng ngồi trên máy bay trở về Mỹ, nhìn qua khung cửa
sổ nghĩ đến Trí đang đi tìm mua một bó hồng nhung 7 đóa
để đón một người đàn bà khác trong chuyến bay sắp tới. Bà
hình dung ra nét cười nhẹ, cử chỉ lịch lãm, giọng nói ấm áp
của Trí khi nói về bông hoa thứ 8 với một người đàn bà ít
ra cũng hơn chàng cả 10 tuổi.
Phi đạo xa dần, nhà cửa bé lại, cây cỏ mờ nhạt. Tất cả bỗng
biến mất chỉ còn lại những từng khí quyển chồng lên nhau
như ngàn chiếc dù trắng, xóa sạch cả núi của Sơn Tinh, cả
biển của Thủy Tinh… Bà Hằng ôm ngực kêu lên trong
cuống họng:
Ôi Mỵ Nương!
2002
chiếc phong linh
Sương phải đi hai chuyến xe buýt và đi bộ băng qua hai ngã
tư mới đến được nơi cư ngụ của họa sĩ Hồng Ngự. Muốn
đến làm người mẫu cho họa sĩ lúc mười giờ sáng, Sương
phải đi chuyến xe buýt đầu tiên ở gần nhà cô lúc bảy giờ
bốn mươi lăm. Chờ đợi buýt và đi bộ hai ngã tư, qua một
công viên, khi ngồi nghỉ chân xuống cái băng đá nhìn sang
bên kia đường là đúng hai tiếng đồng hồ. Cô nhìn lên cái
phong linh treo ở tầng lầu ba của dãy chung cư bên đó, cái
phong linh được treo lên, đang leng keng trong gió là dấu
họa sĩ Hồng Ngự có nhà. Cô băng qua đường, đi vào phía
trong chung cư, leo lên ba tầng cầu thang chân, gõ cửa
phòng họa sĩ.
Sương gặp Hồng Ngự trong một cuộc triển lãm tranh của
ông. Cô chẳng biết gì về hội họa, cũng không có khiếu về
thưởng ngoạn, cô chỉ theo cha mẹ nuôi của cô đi xem tranh
và họ chỉ cũng vừa đến Mỹ được một tháng theo diện con
lai. Cha mẹ nuôi đã xuống tận Long Khánh trả cho mẹ
Sương hai lạng vàng để mua cô. Hôm chia tay mẹ đẻ theo
cha mẹ nuôi lên Sàigòn. Mẹ con cô đã khóc hết nước mắt.
Mẹ nói:
Mẹ không đi được với con vì không nỡ để bà ngoại lại một
mình. Con sang bên đó thì có cơ hội cho con được đi học,
có đời sống khá hơn, mẹ không muốn tương lai con chôn
trong túp lều chật hẹp, nghèo khó này. Con lại lai Mỹ, đời
sống bên đó sẽ chấp nhận con dễ hơn.
Sương chỉ biết khóc và vâng lời. Khi mẹ đưa tay nhận vàng
của hai người xa lạ đó Sương biết đời cô đã rẽ sang một
ngã khác.
Cha mẹ nuôi Sương không cho cô cái tình phụ mẫu chân
thật, nhưng cũng đối xử với Sương công bằng trong cuộc
đổi chác. Coi Sương như họ hàng xa, quan tâm đến Sương
một cách vừa phải mặc dù họ không có con. Khi đặt chân
đến Mỹ, bà đã nói với cô:
Theo như ở bên Mỹ này khi đã quá tuổi mười tám thì tùy
con muốn ở với cha mẹ thì ở, muốn ra riêng ngay cũng
được.
Có lẽ cái nhan sắc lồ lộ của một thiếu nữ lai mới ngoài hai
mươi làm bà hơi e dè. Cha nuôi của Sương mới bốn mươi
tuổi. Hôm họa sĩ Hồng Ngự ngỏ ý muốn thuê Sương làm
người mẫu thì bà sốt sắng nhận lời ngay không cần hỏi ý
kiến cô. Sương mừng rỡ vì có một công việc nhàn hạ mà lại
không cần Anh ngữ mặc dầu số tiền lương trả rất khiêm
nhường. Nhà họa sĩ Hồng Ngự không mắc điện thoại. Hôm
đầu đưa địa chỉ và hướng dẫn Sương cách lấy xe buýt để
đến nhà, ông đã căn dặn Sương với một giọng ngọt ngào
nhưng không kém rành mạch:
Em nhớ là khi nào em đến trước chung cư, nhìn thấy chiếc
phong linh của tôi treo ở bao lơn thì em hãy lên. Nếu không
thì em đừng có lên, tôi không có ở nhà hoặc không muốn
vẽ ngày hôm đó, em sẽ mỏi chân và cửa sẽ không mở.
Ông cười nhẹ nói tiếp:
Nhưng hiện tại thì cái phong linh đó sẽ treo ngày một, vì ít
nhất tôi cũng phải vẽ em trong vòng vài tháng.
Thế là sáng sáng, Sương dậy sớm, tắm gội, ăn điểm tâm
qua loa rồi ra trạm xe buýt đến nhà Hồng Ngự. Sương ngồi
trên xe buýt lẫn lộn với người da đen, da trắng, người Mễ,
người Lào. Cô lắng nghe những tiếng nói khác lạ, không
cùng một ngôn ngữ, ngửi cái mùi hôi, mùi nước hoa từ thân
thể họ toát ra Sương thấy thật lạ lẫm, nó khác mùi hôi, mùi
thơm của những người Việt Nam trên quê nhà. Cả cái sang
trọng và cái nghèo nàn nhem nhuốc của những con phố trên
hai chuyến xe đi qua cũng mang đầy vẻ dị biệt. Sương cứ
hắt hơi hoài và không biết đến bao giờ thì mình mới hít hà,
mới thân thiện được ngần ấy thứ. Sương nhớ khi mới sang
Mỹ được hơn một tuần, gia đình Sương gặp một vài gia
đình khác đã sang Mỹ hơn hai chục năm, họ trò chuyện với
cha mẹ nuôi cô. “Mình cứ tưởng là mình sẽ hòa đồng được
sau một thời gian dài và cái nỗi nhớ quê nó cũng sẽ phai đi.
Nhưng càng ở lâu lại càng thấy mình chẳng hội nhập được
gì cả, cứ thấy mình mỗi ngày càng bị đẩy lùi ra xa cái phần
đất mà mình sống và sẽ chết trên đó. Mới đầu thì thấy cái gì
cũng hay, cũng lạ, cũng thơm tho sạch sẽ, đẹp đẽ, mình
nghe ngóng, học hỏi, thâu thập, có thêm kiến thức về công
việc làm. Bắt đầu nghĩ đến tạo dựng sự nghiệp, học thêm
lấy bằng cấp, mua xe, mua nhà. Suy nghĩ giống như người
Mỹ, sinh hoạt giống người Mỹ. Nhưng khi mọi thứ đã gần
như đâu vào đấy rồi, con cái trưởng thành, có học, có công
ăn việc làm rồi, mình không còn tất bật, chạy đôn chạy đáo
nữa. Vào một buổi sáng nào đó mình ngồi xuống, tịnh tâm
mới thấy mình vẫn hoàn toàn là mình của mười mấy, hai
mươi năm về trước, vẫn thấy lạc lõng, cô đơn, thấy cái
mình kiếm được trong tay ở xứ người không bao giờ bù
đắp nổi cho cái mất mát ở quê nhà.”
Khi Sương nghe những lời nói đó thì cô cứ nghĩ chắc ông
ta là một người khó tính, và có lẽ khi còn ở Việt Nam chắc
ông phải giầu lắm cho nên mới kêu lên là không bù nổi cái
mất mát, còn Sương thì đâu có gì để mà so sánh. Đối với
Sương thì sống ở đâu cũng hơn là sống ở Việt Nam. Cái
tâm hồn giản dị và đời sống nghèo nàn của Sương làm sao
hiểu nổi có những cái mất mát không cách nào chạm tay
thu lại được. Nó không phải là cái nhà, cái xe, nữ trang
v.v... Nó chỉ là một làn hương, một giấc mộng, một kỷ
niệm. Có khi nó là một nỗi đau mà người ta muốn nhớ,
muốn giữ suốt đời.
Mỗi ngày đi qua cái công viên này, những lúc ngồi xuống
cái băng đá nhìn chung quanh mình cô khám phá ra được
nhiều điều mới lạ trên cái thảm cỏ xanh mướt đó. Từ bông
hoa bé xíu mới tinh vừa mọc, những cái răng cọp màu vàng
nằm ngay bên cái túi ngủ, có một người quấn tròn trong đó
chỉ nhô ra một cái đỉnh đầu tóc tai bù xù không biết đàn
ông hay đàn bà, cho đến con sóc nâu ngơ ngác nhẩy tung
tăng quanh cái hình thù lạ lẫm đó. Sương còn gặp sáng
sáng một ông già trông thật là cũ kỹ như một món đồ cổ,
hay dắt con chó trắng đi dạo. Ông ta thường dừng lại như
muốn làm quen với Sương, nói năng chỉ chỏ lung tung cô
chẳng hiểu gì cả. Sương giơ tay chỉ lại ông cái phong linh
bên kia đường cố cắt nghĩa bằng tiếng Việt về việc làm của
mình. Cô cũng đoán là ông chẳng hiểu gì cả. Những lúc đó
Sương ao ước phải chi ông ta là một người đồng hương để
cô có dịp kể cho ông nghe về bà ngoại, về mẹ mình ở quê
nhà, khoe với ông cô là người mẫu cho một họa sĩ nổi
tiếng. Và Sương bắt đầu cảm nhận được cái lạc lõng của
một người sống trên một mảnh đất không phải là quê
hương mình.
Hơn một tháng nay, Sương đã làm mẫu cho họa sĩ vẽ đủ
kiểu: đứng, ngồi, nằm mà bức tranh nào cũng dở dang.
Hồng Ngự lúc nào cũng ngọt ngào với cô. Ông sửa đổi thế
đứng, thế ngồi, kéo tóc mai, vuốt lại áo cho cô, nhất cử nhất
động đều dịu dàng, âu yếm. Ông bắt cô thay áo ngắn, áo dài
luôn. Ông có cả tủ quần áo phụ nữ đem ra cho Sương ướm
thử. Tuần trước, ông đưa cho Sương một cái áo không có
cổ, khi cô mặc vào thì cái áo trễ xuống nửa lưng cô và phía
trước thì thấy cả một phần ngực, Sương ngượng muốn đổi
cái áo khác thì ông bảo:
Em cứ để thế cho tự nhiên.
Khi vẽ thì ông hỏi han gia cảnh, Sương thấy ông còn già
hơn cha mẹ nuôi của cô thì cô cũng thực tình kể cho ông
nghe là cha mẹ nuôi đã mua cô bằng hai lạng vàng. Ông tỏ
ra rất quan tâm. Sang tuần lễ thứ sáu những bức tranh vẫn
chưa xong bức nào. Chỉ toàn là những bức phác họa, chưa
đi vào chi tiết. Hồng Ngự hỏi cô:
Em có muốn ở lại đây luôn với tôi để khỏi mỗi buổi sáng
dậy sớm?
Sương không trả lời và ông cũng không hỏi tiếp. Mỗi sáng
cô vẫn dậy sớm ra đi. Qua công viên, cô vẫn ngồi xuống cái
băng đá nhìn lên cái bao lơn bên kia đường có treo cái
phong linh và leo lên ba từng lầu cầu thang. Ông họa sĩ có
đưa cô hai trăm đồng, bảo là tạm trước, Sương đem về cho
mẹ nuôi một trăm đồng, còn để tiền đi xe buýt. Cô đoán
còn lâu ông họa sĩ mới vẽ xong.
Một hôm ông họa sĩ mời cô đi ăn cơm chiều. Ông phải đưa
cô ra chỗ điện thoại công cộng gọi về nhà. Mẹ nuôi cô bảo:
Không sao. Con muốn ở lại đến sáng mai cũng được.
Tối đó ông họa sĩ giữ cô lại. Ông nói ông yêu cô và cô đã
nằm yên để ông thực hành lời nói đó. Cô hỏi ông:
Ông có định lấy em làm vợ không?
Lấy chứ, nhưng không thể ngay bây giờ được.
Từ đó, thỉnh thoảng Sương vẫn được ông họa sĩ giữ lại qua
đêm. Ban ngày, cô vẫn ngồi cho họa sĩ vẽ. Ban tối, sau khi
yêu nhau, Sương vẫn hỏi:
Ông có định lấy em làm vợ không?
Lấy chứ.
Sương đi đi về về chung cư đã được bốn tháng. Những bức
tranh vẫn chưa hoàn tất. Bức thì có cái mặt chưa có mắt,
chưa có miệng. Bức thì chưa có tay, có chân. Cô vẫn đứng,
vẫn ngồi theo ý ông họa sĩ uốn nắn. Chiếc phong linh vẫn
treo ở bao lơn, lanh canh trong gió và họa sĩ thì quên không
trả tiền cho người mẫu nữa. Sương cũng không dám hỏi.
Cô hy vọng một ngày nào đó ông họa sĩ sẽ lấy cô làm vợ để
cô khỏi bận tâm về việc tại sao ông không trả tiền lương.
Sương muốn viết thư về Việt Nam hỏi mẹ xem cô phải đối
xử trạng huống của cô như thế nào bây giờ? Nhưng lại sợ
mẹ buồn. Hôm ra đi, mẹ cô chỉ dặn sang Mỹ để đi học, mẹ
không nói gì về trường hợp làm người mẫu cho họa sĩ, mẹ
cũng không nói nếu lấy chồng thì phải làm điều gì trước,
điều gì sau. Khi ở Việt Nam, Sương chỉ được học đến lớp
ba, rồi ở nhà cơm nước, trông nom bà ngoại cho mẹ đi
kiếm ăn. Cô cũng ít được ra ngoài chơi với bạn bè cùng
tuổi vì bị mặc cảm con lai Mỹ không có cha. Sương chỉ có
mẹ là người duy nhất cho cô trò chuyện và chỉ bảo cho cô
những điều thắc mắc mà bây giờ thì mẹ ở quá xa.
Một buổi sáng, sau khi băng qua công viên, cô ngồi xuống
băng đá nghỉ chân, nhìn lên bao lơn bên kia đường không
thấy cái phong linh lanh canh trong gió, cô nhớ lại lời dặn
lúc đầu của họa sĩ, cô quay về. Liên tiếp cả tuần lễ, ngày
nào Sương cũng đến, cũng nhìn lên bao lơn, rồi quay về.
Hôm nay cũng vậy, cái bao lơn trống vẫn không thấy chiếc
phong linh được treo ra, cô không muốn quay về nữa.
Sương muốn lên gõ cửa phòng Hồng Ngự xem có thật ông
vắng nhà không? Hay là ông đau ốm? Cô tự hỏi: Nếu ốm
thì ông cần được cô săn sóc chứ sao lại đem phong linh cất
vào. Cô nhất định leo lên ba từng cầu thang. Cửa phòng
họa sĩ đóng chặt. Cô đập tay lên cửa gọi nhiều lần:
Ông họa sĩ mở cửa cho em.
Tiếng Sương vang lên suốt dãy hành lang. Có một vài
người hé cửa ra nhìn cô, rồi khép cửa lại. Cánh cửa cô gõ
vẫn im lìm. Sương chợt rùng mình, không biết hơi lạnh từ
đâu đưa tới, câu cô vẫn thường hỏi ông họa sĩ mỗi lần ông
yêu cô xong bỗng vang lên trong đầu cô: “Ông có định lấy
em làm vợ không?” “Lấy chứ”. Hai cái đầu gối cô run rẩy,
nước mắt cô ứa ra, cô úp mặt vào cánh cửa nức nở:
Hồng Ngự! Hồng Ngự!
Bà Mỹ già, quản lý chung cư nghe tiếng động, đi lên với
một chùm chìa khóa trong tay, có lẽ đã quen nhiều lần với
cảnh này, vỗ vỗ lên vai cô, không nói một lời nào, tìm
chiếc chìa khóa của gian buồng.
Cửa mở, một luồng gió từ bao lơn đã mở từ lúc nào phà
vào mặt hai người. Căn phòng trống trơn, chỉ có những bức
tranh vẽ cô dựng ngổn ngang ở bốn bức tường. Bức chưa
có mặt, bức chưa có tay, chưa có chân, bức trên mặt chưa
có mắt, chưa có miệng. Những bức tranh đứng nhìn nhau
câm lặng. Chiếc phong linh vứt giữa buồng mang dáng
những con chim bằng sứ màu trắng xâu vào một sợi dây
đang nằm dãy chết, những con chim không có mắt, không
có chân, không có mỏ. Bà quản lý chung cư quay ra, vừa đi
xuống cầu thang vừa lẩm bẩm:
Lại thêm một con chim nhỏ xâu vào cái phong linh.
Sương cúi xuống nhặt xâu chim, chạy vụt ra khỏi căn
phòng đầy gió, cô lao xuống lầu, băng qua đường, chân cô
run rẫy, bụng cô quặn thắt. Cô chạy bổ, gục đầu vào thành
chiếc băng đá, hai tai cô ù đặc, cô nôn thốc, nôn tháo. Bức
tranh trong bụng cô, họa sĩ vẫn chưa hoàn tất. Nó chưa có
mắt, chưa có miệng, chưa có tay, chưa có chân. Nó mới là
một bệt màu đặc quánh. Sương cầm chiếc phong linh vứt
mạnh ra mặt lộ. Những con chim bằng sứ bị cán nát dưới
bánh xe. Sương đứng thẳng dậy, đặt tay lên bụng nói rõ
từng tiếng:
Mẹ sẽ hoàn tất bức tranh này, một mình.
12/1996
đồng vọng
(Gửi về Phước Huệ Thiền Tự
Tacoma, tiểu bang Washington)
Tìm chuông chỉ thấy mái không
Đêm qua ai chở qua sông mất rồi (tmt)
Nhà sư trở về sau một chuyến đi xa. Ông trở về trời tối lắm
rồi, mái chùa và những hàng cây đã nhòe trong bóng đêm,
ông cũng nhòe trong bóng đêm, dò dẫm đi nhẹ nhàng
không gây tiếng động tìm về phòng mình. Người trông
chùa đã yên ngủ. Ông thay quần áo, rũ bỏ bụi bậm đường
xa, rửa mặt, rủa tay sạch sẽ, lên chánh điện thắp nhang tạ
Phật trước khi đi ngủ.
Gọi là chùa nhưng thực ra chỉ là một căn nhà cũ trong một
khu đất rộng. Sư rước Phật vào, nhang đèn, hoa, quả, câu
kinh tiếng kệ, rồi thiện nam tín nữ đến. Sư đặt cho ngôi nhà
một cái tên. Có chuông thu không, có mõ nhịp tụng, có
cơm chay, ngôi nhà dần dần thành ngôi chùa. Khu đất rộng
mênh mông, nhà sư dự tính sẽ xây một ngôi chùa mới, lớn
hơn, sẽ có nhiều gian thờ khác nhau, sẽ có dẫy nhà ngang
cho khách phương xa, sẽ có nhiều tượng, nhiều tranh hơn
nữa. Sư dự tính một chương trình to tát trong đầu, có thể to
tát hơn cả sức sư làm được. Nhưng lo gì, đã có thiện nam
tín nữ bốn phương trời, mười phương phật góp sức vào.
Sư đặt mình nằm xuống giường, mùi nhang bên chánh điện
còn bay phảng phất đưa vào tận căn buồng nhỏ của sư, sư
chưa ngủ được, tâm trí sư còn để cả vào dự án xây chùa, sư
nghĩ đến những bức tượng đúc bằng đá xay tận quê nhà
đang được dần dần chở sang, chất ngang dọc một góc
vườn, những chiếc thùng đóng khung gỗ trong để những
tượng phật có chiều cao gấp rưỡi một người thường, phật
La Hán, phật Di Lạc, phật Quan Thế Âm, càng nhiều phật
càng tốt. Trong chùa đã có phật gỗ sơn son thiếp vàng, phật
ngoài sân chùa phải bằng đá đúc mới đẹp, trong chùa có
tranh Đức Bồ Đề Đạt Ma, có tượng tạc bằng gỗ, thì ngoài
sân cũng phải có hình ngài bằng tượng đá. Một cặp lân thật
to sẽ để ngay hai bên cổng vào chùa. Chiếc hồ nhân tạo đã
được đào phía phải trong sân theo hình bản đồ nước Việt từ
Nam Quan đến mũi Cà Mau. Một chiếc cầu nhỏ được bắc
ngang hồ ngay vị trí chia hai đất nước.
Sư xoay nghiêng mình tìm giấc ngủ, bỗng hình như một
tiếng chuông vừa rung lên trong đêm, tiếng chuông rất khẽ,
kéo cái âm dài trong thính giác của sư, sư hơi nhỏm mình
dậy, tiếng chuông này nghe xa xăm lắm, ở đâu vọng về chứ
không phải tiếng của chiếc chuông trong khu vực chùa, mà
quanh đây khoảng mười lăm dặm làm gì có ngôi chùa nào!
Sư lại nằm xuống, xoay mặt vào tường tìm giấc ngủ, tiếng
chuông lại u u vang vang vọng về, ở lại trong đầu, tiếng
vang từ xa xa, tiếng vọng về gần gần. Nhà sư mơ mơ màng
màng không biết mình còn thức hay đã ngủ.
Sáng mờ mờ chưa nhìn tỏ những cánh lá của chậu hoa lan
trong góc buồng ngủ. Nhà sư thức dậy với tiếng chuông
không rõ rệt trong đầu, ông bỏ chân xuống đất, nhưng chưa
đứng lên hẳn, dụi mắt, nhìn kỹ cành lan, với những bông
hoa mong manh, hình như nó vừa rụng xuống một bông
trong đêm qua, ông ngắm nghía bông hoa nhợt mầu, heo
héo nằm bình thản, tĩnh lặng dưới gốc chậu trong không
gian còn trong suốt của buổi sáng, khác nào một vị thiền sư
vừa mới ra đi.
Người làm công quả trông chùa cho sư khi vắng mặt cũng
dậy thật sớm, hình như anh ta vừa ở ngoài đi vào buồng sư,
trên vai còn mang theo những giọt sương của cành tùng
trước cửa.
Thưa thầy quả chuông của chùa đã bị mất cắp.
Nhà sư nhìn anh hỏi lại:
- Quả chuông đó mà có người vác được lên vai ư?
- Thưa chắc tên trộm không vác lên vai. Anh ta đã mang
xe cần trục đến trục đi trong khi thầy đi xa và con vắng
mặt.
Nhà sư không nói gì thêm, ông ra sân tìm chỗ vẫn để
chuông, chỉ còn lại khoảng trống, cả cái giá để treo chuông
cũng bị mang theo cùng với quả chuông. Sư lẳng lặng đi
vào chánh điện thắp nhang lễ phật.
Ngày hôm đó và rất nhiều ngày sau đó, rất nhiều tháng sau
đó, mỗi tinh mơ sư vẫn nghe thấy tiếng chuông rung trong
đầu, rung rất rõ rệt, tiếng kêu boong boong ròn rã, rồi cái
âm kéo dài ra rung cả lồng ngực sư, sư uống từng ngụm
chuông, nằm im nghe ngóng, cho tiếng chuông thấm khắp
thân thể mình, tiếng chuông thấm cả vào vạt áo sư. Rồi sư
trỗi dậy bắt đầu một ngày của mình. Nhưng có những buổi
trưa vắng vẻ, nhìn mưa rơi trên những chùm lá trúc, hay khi
hoàng hôn xuống, chập choạng bóng nắng trên mấy thân
tùng, tiếng chuông ở đâu bỗng lại vọng về với sư thật mơ
hồ: lúc có, lúc không, lúc dồn dập, lúc buông lơi. Có lúc
nhà sư nghe thấy tiếng chuông như tiếng thở của một lữ
hành đi bộ cả ngàn dặm, vừa bước tới của chùa, ngồi thở
hắt ra rồi cứ yếu dần đi, làm sư buồn nguyên ngày. Nhưng
khi khác sư lại nghe như tiếng cầu kinh thầm thì bên tai
mình, rất khẽ nhưng rất rõ, thanh thản nhưng không ủ rũ,
cho sư một niềm an nhiên thơ thới tâm hồn.
Lâu dần sư có thói quen, khi nào nhìn thấy giữa ngày,
những bụi trúc bỗng xao động, lá trúc rối rít vẫy gọi nhau
hay là nhìn thấy nắng chiều nhấp nhánh đổi chỗ trên những
cành tùng là sư biết tiếng chuông sắp về, sư vào chánh điện
thắp nhang ngồi thiền tịnh đợi nghe tiếng chuông rung.
Trong bao nhiêu ngày, tiếng chuông đồng vọng đó bỗng trở
thành thân thiết, như một người bạn giấu mặt cùng tu tập
với sư, như tín hữu, đến thăm không hẹn trước, cứ gõ cửa
chùa, bước vào, ngồi xuống.
Cho đến khi có người mang đến cúng chùa một quả chuông
khác, sư vẫn không hề lẫn lộn tiếng chuông cũ và tiếng
chuông mới vào nhau. Vì tiếng chuông mới, khi được đánh
vang lên ở những buổi lễ, cái âm rung không kéo dài ra,
không thấm vào sư, không đi theo sư nguyên ngày, làm
rung cả vạt áo sư. Khi tiếng chuông đánh lên, tiếng của nó
bay đi như một con chim vỗ cánh, bay vào rừng, không để
lại dấu vết gì.
Một buổi sáng sư đi chung quanh khu đất, nhìn công trình
xây cất bắt đầu, tìm chỗ thuận tiện để đặt vị trí cho những
pho tượng, chỗ cao nhất chắc sẽ dùng để dựng một cái mái
chuông, và làm thế nào để đừng ai có thể mang xe trục hay
thậm chí đến ghé vai khênh chuông đi được. Đang loay
hoay với những xếp đặt trong đầu, nhà sư bỗng nghe thấy
những tiếng động nhỏ nhưng rất rõ rệt ngay dưới chân
mình, nhìn xuống thì hóa ra một chú sóc nhỏ đang tha một
trái thông, trái thông khá to so với vóc của chú sóc, chú tha
trái thông đi băng băng qua mấy hòn đá, qua mấy cái rễ cây
trồi trên mặt đất rất nhanh nhẹn, nhưng khi kéo quả thông
đi, mất hút vào một bụi cây rồi, chú vẫn để lại những tiếng
động rất mơ hồ của quả thông trong không gian. Tiếng
động nhỏ nhưng kéo dài âm hưởng. Sư tự hỏi, nếu chú sóc
kéo quả thông khác thì có để lại tiếng động đó hay không?
Có thể có, có thể không?
Nhà sư chợt bàng hoàng ngộ ra tiếng chuông mơ hồ trong
không gian của quả chuông đã mất mà bấy lâu nay vẫn
vang trong đầu mình. Kẻ trộm chỉ mang được quả chuông
đó đi nhưng tiếng chuông thì phải để lại.Cái xe cần trục chở
được quả chuông nặng nề kia nhưng không chở được tiếng
chuông nhẹ hẫng. Nhà sư gật gù bằng lòng với bài học
mình học được sáng nay từ chú sóc nhỏ.
Hai năm sau, do một cơ duyên nào đó, quả chuông đã mất
được một người mang về chùa cũ, nhà sư hớn hở ra đón
vào. Hơn ai hết, sư hiểu, quả chuông đi tìm lại tiếng chuông
của chính nó, tiếng chuông không bao giờ kẻ trộm mang
được ra khỏi sân chùa.
Từ lúc chuông cũ trở về, hình như nắng không còn đổi chỗ
trên những cành tùng, và những bụi trúc không còn xao
động nữa, thoảng có gió đến những chùm lá chỉ chao nhẹ đi
một chút, không gây tiếng động nào và nhà sư bỗng nhớ
quá tiếng chuông đồng vọng. Có hôm sư để nguyên ngày đi
tìm con sóc.
3/2008
* Quả chuông của Phước Huệ Thiền Tự- Tacoma, WA. bị