Một vườn măng cụt đổ ập xuống giấc mơ của ông trong
đêm.
11/2008
Tản mạn,Tùy bút
&
ký
mẹ và ngôn ngữ
Tháng Năm lại về, những người con tấp nập mua hoa, gửi
thiệp cho người mẹ thân yêu của mình. Người ta cũng nghe
thấy nhiều tiêng xôn xao gọi mẹ, từ bốn phương tám
hướng. Gọi mẹ bằng ngôn ngữ riêng của “Tiếng Nước
Mình” Yêu mẹ bao nhiêu thì yêu tiếng mẹ đẻ bấy nhiêu.
Người mẹ nào cũng thích được con nổi tiếng” Con nhớ mẹ,
con yêu mẹ” bằng chính ngôn ngữ của bà, cái ngôn ngữ
làm bà rung động nhất. Ngôn ngữ đầu tiên bà dùng để cảm
thông với con. Tôi nhớ khi tôi có đứa con đầu lòng, tôi ôm
con cho bú trong cái ghế xích đu, vừa cho con bú vừa nhịp
ghế, ru nhè nhẹ:
Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.
Một phần cám cảnh tha phương vì di tản, một phần vì tôi
yêu thích Chinh Phụ Ngâm nhất, nên hầu như thuộc lòng cả
tác phẩm này. Mỗi lần ru con đem ra một đoạn:
Xin vì chàng thay bào cởi giáp
Xin vì chàng rũ áo nhung yên
Vì chàng tay chuốc chén vàng
Vì chàng điểm phấn soi gương mỗi ngày
Có khi đổi sang ru con bằng Kiều:
Khi tựa gối khi cúi đầu
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!
Thấy éo le quá, sợ vận vào thân cả mẹ lẫn con, tôi thay
bằng những câu hát mang âm hưởng ca dao.
Sao tua hai cánh nằm chồng
Thương em từ thủa mẹ bồng trên tay
Sao tua bốn cánh nằm dài
Thương em từ thuở nghĩa ngoài tình trong
Sao tua năm cánh nằm ngang
Thương em từ thuở mẹ mang đầy lòng
Bao nhiêu bài tiếng Việt đem theo trên đường di tản mang
ra kể lể hết cho đứa con đỏ hỏn nghe. Nói với con mà như
nói với chính mình. Tôi yêu tiếng Việt như yêu mẹ tôi. Mẹ
tôi mất cả gần hai mươi năm rồi, tôi vẫn nhớ xót xa, tôi
thấy mẹ tôi cần thiết như dấu phẩy, dấu chấm trong một bài
tản văn. Bây giờ mẹ mất, nên câu văn đôi khi không mạch
lạc.
Tôi sống ở bên ngoài nước Việt đã mấy chục năm dài, tôi
vẫn đọc, viết, ăn, ngủ với tiếng Việt mỗi ngày. Thức ăn bầy
trên bàn chỉ có gọi tên bằng tiếng Việt mới thấy rõ ràng, thí
dụ như món “cá kho” dịch sang tiếng nước nào cũng khó
quá, cũng không nói lên được cách nấu nướng như thế nào?
Thành ra mình ăn cái tiếng Việt trước khi mình ăn miếng
cá. Khi ngủ, trong những giấc mơ nhiều người chắc vẫn mơ
toàn giấc mơ ở quê nhà. Và trong mơ, ta thế nào ta cũng
nói tiếng mẹ đẻ. Như cuốn phim cũ cứ quay chầm chậm lại
bằng âm bản.
Tiếng nước mình chính là mẹ mình, làm sao quên mẹ được.
Có bỏ mẹ đi xa ngàn dặm, vẫn thấy mẹ quanh quẩn bên
mình.
Nhưng người cầm bút ở hải ngoại cứ lo lắng mãi về chuyện
“hội nhập” với trong nước. Một trong những mối lo, (có
thể) là nếu không hội nhập thì chỉ đến thế hệ thứ ba, ở hải
ngoại sẽ hết người viết, đọc, và nói tiếng Việt. Điều này
chưa chắc đúng hoàn toàn.
Nếu chúng ta có được tình yêu của mẹ và con thì không
bao giờ chúng ta mất tiếng mẹ đẻ. Vì tình mẹ con không
bao giờ mất được. Nó không hề bị phụ rẫy, hay phản bội
giống như tình trai gái yêu nhau, có thể xẩy ra. Chẳng có
nhan sắc, vật chất nào cám dỗ thay vào tình mẹ con được.
Rabgyai Basang một nhà thơ thuộc trường phái mới của
Tây Tạng, sinh năm 1935. Thơ của ông nói nhiều đến lòng
yêu quê hương và quốc gia mình. Ông từng là một quân
nhân trong Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Hoa,
một thông dịch viên, một nhà giáo. Ngay từ nhỏ, ông đã có
khuynh hướng tìm kiếm hướng mới cho thơ Tây Tạng.
Năm 1958, ông bắt đầu xuất bản thơ mình. Một trong
những bài thơ tượng trưng cho thơ mới của ông có nhan đề
“Mẹ”. Với ông, mẹ và quê hương là một.
Khi tôi còn là đứa trẻ măng sữa
tôi chẳng hề nghĩ đến những con búp bê bằng đất,
hay chơi đi trốn đi tìm,
chẳng nghĩ đến trời cao hay đất thấp
nhưng tôi đã có ấn tượng mơ hồ
“Không có gì trên thế giới này
lại ngọt ngào bằng vòng ôm quê mẹ.”
Từ vùng hẻo lánh xa xôi
tôi vượt cả sông Dương Tử tôi băng ngang sông Hồng Hà:
dẫu tôi chưa đến được dãy núi Changbai
tôi đã thì thầm với trái tim mình
“Không có gì trên thế giới này
lại ngọt ngào bằng vòng ôm quê mẹ.”
(Tibetan Culture & poems)
Chính tình yêu mẹ đã duy trì tiếng mẹ đẻ trong lòng thi sĩ.
Thi sĩ có tha phương ở chân trời góc biển nào, khi nhớ về
mẹ là nhớ về tiếng mẹ đẻ của mình. Không ai nhớ mẹ bằng
một ngoại ngữ.
Người Inuit sinh sống nhiều ở vùng Alaska, Mỹ. Những bà
mẹ cũng ru con và truyền tiếng mẹ đẻ cho con bằng những
lời ru:
Ngôi nhà tĩnh mịch quá,
ngôi nhà thật êm ả
bão tuyết kêu bên ngoài
những con chó giấu mũi
dưới những cái đuôi dài.
Con trai nhỏ của tôi
đang nằm trên bậu cửa
ngửa mặt lên trần nhà
ngủ vùi trong hơi thở
miệng con hơi hé mở
bụng con phập phồng cong
Ôi thật là lạ lùng
nếu bây giờ tôi khóc
với niềm vui ngập lòng!
(Thơ của người Inuit)
Đứa bé lớn lên, đi xa lắm, sống trong một thế giới khác
hẳn, nói một ngôn ngữ xa lạ. Nhưng khi nhớ về mẹ, con
người đã trưởng thành này, không dịch tình mẹ sang một
ngôn ngữ khác đươc. Anh ta phải nhớ lại hoàn toàn bài ru
bằng tiếng của người Inuit. Hình ảnh của chính mình nằm ở
bậu cửa trong một ngôi nhà nhỏ chôn trong tuyết mà mẹ đã
nhắc trong lời ru, những giọt nước mắt hạnh phúc của mẹ
không dịch sang tiếng nào được ngoài tiếng Inuit.
Còn tình yêu của mẹ là còn tiếng mẹ đẻ. Còn quê hương.
Có một bộ tộc không thuộc một nước nào. Họ không có hải
phận, không phận, lãnh thổ, không có quốc kỳ. Họ sống du
canh du cư giữa Lào, Cam Bốt và Thái Lan. Họ gọi họ là
người “Yeow” (phát âm Ynoo). Họ chạy giặc,giống như
người Việt chạy Cáp Duồn và di tản sang Mỹ, cũng được
nước Mỹ nhận như nhận người Việt Nam di tản. Họ không
có chữ viết (written language), không có sách, không có
trường học, tiếng nói của họ truyền khẩu cho nhau. Thỉnh
thoảng nghe thấy trong một câu nói dài, có pha một tiếng
Lào, hoặc Cam Bốt và Thái Lan. Nhìn họ thì khó phân biệt
đươc là Cam Bốt hay Lào. Khi hỏi thì họ lắc đầu không
nhận. Họ nói, chúng tôi là người Yeow.
Họ nhận ra nhau bằng tên họ, tên này chỉ viết xuống theo
phát âm khi sang định cư ở một nước khác, bắt buộc phải
có căn cước, và khi hỏi nơi sinh thì họ nhận đại là sinh ở
Cam Bốt, Thái hoặc Lào. Vậy mà bao nhiêu năm họ không
hề mất tiếng nói. Nhìn đứa trẻ lên mười, vừa đi học về,
quăng cái cặp sách vào góc tủ, ngồi phệt xuống sàn bếp với
bà cụ già 90 tuổi người Yeow, trong một căn nhà ở Mỹ.
Hai bà cháu vừa bốc xôi nếp ăn vừa có thể nói chuyện với
nhau bằng ngôn ngữ “Yeow” , thật đáng yêu làm sao!
Seangkha Keoimpha nhận anh là người Yeow. Anh nhớ
được ngôn ngữ là nhờ những bài ca của mẹ hát cho anh
nghe từ nhỏ. Bài hát ru con, anh viết xuống bằng mẫu tự
tiếng Anh theo cách phát âm. Bài hát kể chuyện một con
chim cú trắng, ngã lộn tùng phèo từ cây xuống đất:
Ok ehh yo
Ehh no nok keow
Hean nok keow
Gohk mai tup thoum
(Bài Hát của Bà Mẹ/Vô Danh)
Anh yêu mẹ và gia đình lắm. Anh làm việc ở Seattle,
nhưng vào những ngày lễ, tết anh luôn luôn tìm về với gia
đình ở Long Beach (California) nơi có đơng người Cam
Bốt, Lào và một số ít người Yeow sinh sống. Anh khoe:
“Về đó tha hồ nói tiếng Yeow”. Một ngôn ngữ hầu như
không ai biết đến ngoài họ. Họ không hề có một cuốn sách,
tìm ngay cả trong Wikipedia cũng không có.
Tình yêu của người mẹ chính là căn bản để duy trì ngôn
ngữ của một sắc dân.
Người Yeow chưa hề viết một cuốn sách nào, vì họ không
có chữ viết. Thế mà tiếng nói của họ không hề mất. Không
hề bị coi là tử ngữ.
Còn mẹ là còn ngôn ngữ. Đứa bé ngay từ khi nằm trong
bụng mẹ, đã mỗi ngày nghe được tiếng nói của người đang
cưu mang nó. Khi sinh ra, tiếng được nghe đầu tiên cũng
vẫn là tiếng nói của người mẹ. Bà nói tiếng nước nào, con
bà hấp thụ ngay tiếng nước đó cho tới khi được gửi đến
trường.
Có người đàn bà nào, vừa sinh con ra trong một phần đất
khác với quê mình mà vội vàng đi học ngôn ngữ của nước
đó để nói với con đâu? Bà dùng ngay ngôn ngữ của bà để
nói với con. Trí óc đứa trẻ lớn lên, thẩm thấu từng ngày
bằng “tiếng mẹ đẻ”
Người con đi xa, nói thông thạo ngoại ngữ, sống ở một
mảnh đất người mẹ không thể hình dung ra được. Khi nhớ
mẹ, gọi về, chắc chắn sẽ gọi mẹ bằng cái ngôn ngữ đầu đời
thơ dại của mình.
Mẹ và ngôn ngữ là một. Chúng ta không bao giờ mất
“Tiếng mẹ đẻ” được, vì chúng ta yêu mẹ.
5/2008
những bức tường
Chúng ta ở trước mặt, ở sau lưng những bức tường, ở trong
những bức tường mỗi ngày. Có bao giờ chúng ta nhìn vào
những bức tường nghĩ đến sự liên hệ giữa ta và tấm vách
vô tri đó? Bức tường, bức vách, bức mành, hàng rào, bờ
giậu, chấn song, vân vân... Là những rào cản, ngăn cách,
hay che chở giữa người với người, người với vật. Những
tiếng đó, tưởng như khi đọc lên chẳng để lại một âm thanh
nào, nhưng thật sự những “bức tường” đã giữ biết bao
nhiêu dấu tích của kỷ niệm vui, buồn, thăng trầm của lịch
sử, lãng mạn của văn thơ .
Trong một bài thơ viết về chiến tranh, một nhà thơ Ý, có
nhắc đến những bức tường:
Không còn gì cả
trong những ngôi nhà
những bức tường bị bào nát ra, ở lại.”(1)
Tưởng tượng hình ảnh một ngôi làng sau chiến tranh, đồng
hoang, nhà trống, tất cả tan tác sụp đổ, không có tiếng gà
gáy, tiếng chó sủa, tiếng chân trẻ em và tiếng ho của người
già. Một ngôi làng bỏ trống chỉ còn lại những bức tường đã
sụp đổ tơi tả, rơi ra từng mảnh.
Khi vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam Bắc nước Việt, một
“Bức Màn Tre” được dựng lên, đã thấm bao nhiêu máu và
nước mắt của người Việt cả hai miền. Bức màn tre đã hạ
xuống nhưng trong lòng người Việt cho đến bây giờ một
bức tường vô hình vẫn rơi ra từng mảnh.
Bức tường ngăn đôi ở Đông, Tây Đức sụp đổ, cả thế giới
hân hoan và nhỏ lệ. Những người dân hiền lành chẳng hề
nghĩ xa xôi gì về “chính trị” chôn dưới chân tường. Được
gặp lại những người thân yêu, được đi lại tự do một phần
nào trên chính đất nước mình, đó là hạnh phúc thật sự mà
họ chạm được tay vào, như khi nhặt mảnh tường đập vỡ cất
đi. Nhưng du khách đến đây, ai cũng muốn mua một miếng
gạch vỡ để làm chứng tích mình đã đến bức tường lịch sử:
Lịch sử bán hạ giá
Một mảnh chỉ có hai mươi mỹ kim (2)
Một bức tường đá đen được dựng lên cận kề tòa Bạch Ốc ở
Hoa Thịnh Đốn, ghi ơn hơn năm mươi ngàn quân nhân đã
chết cho chiến tranh Việt Nam. Biết bao du khách đã đến
đây đặt những vòng hoa dưới chân bức tường. Người ta còn
đem những bài diễn văn về hòa bình, về chiến tranh đọc
trước bức tường cho vong hồn tử sĩ khỏi quên, và có những
bà mẹ, từ những tiểu bang thật là xa, đã chân thấp, chân
cao, lòng đau như cắt đến đặt bàn tay run rẩy trên một hàng
chữ mang tên con như đặt tay lên vừng trán thân yêu của
con mình. Chao ôi, sao lạnh quá!
và với đôi mắt nhắm chặt
vết thương của nỗi chết dâng lên trong lòng
bà đặt những ngón tay run rẩy
trên vừng trán lạnh như nước đá của con trai.(3)
Đàng sau những chấn song sắt của một bức tường trong
nhà tù, một buổi tối người ta nghe thấy tiếng thỏ thẻ:
“Mẹ đến nằm cạnh con và đọc sách cho con.” Đó là giọng
nói của một cậu bé sáu tuổi, cậu ở trong tù cùng với mẹ và
em gái của cậu, mới ba tháng tuổi. Mẹ cậu bị bắt vào đây
(đang lúc có mang đứa con thứ tư)vì tội dùng ma túy nhiều
lần. Ở chung sau bức tường với những chấn song này có
những bà mẹ và những đứa trẻ khác, trong một hoàn cảnh
tương tự như mẹ con cậu bé. Ai đó đã nhân đạo tạo một
không khí cho những bà mẹ quên đi việc xử dụng ma túy
và chú tâm vào săn sóc con cái sau những bức tường.(4)
Ngồi nhìn đăm đăm vào bức tường trước mặt, năm này
sang tháng khác, thậm chí không ăn, không ngủ, như vậy
được gọi là “diện bích” là tham thiền nhập định. Vị thiền sư
nọ, một ngày bỗng “ngộ” ra:
Sự thức tỉnh thật là giản dị. “Khi tôi bước, tôi bước. Khi tôi
ăn, tôi ăn. Khi tôi ngủ, tôi ngủ.”(5) Suy nghĩ nữa làm gì, để
rơi lại vào chỗ tối tăm. Các phi hành gia chụp hình từ trên
cao xuống mặt đất, không nhìn thấy gì, ngoài một vệt dài
cong queo, xám ngắt như những âm hồn lặng lẽ dắt nhau đi
trong sương khói. Không đoán được là cái gì, khi về lại mặt
đất mới biết đó là: Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc,
là những bức tường nối tiếp nhau, một kỳ quan của thế
giới, một bức tường dài đã chôn vùi biết bao nhiêu sinh
mạng mới hoàn thành.
Có người lên mặt trăng nhìn xuống
Xa lắc nhân gian chẳng thấy gì
Chỉ thấy Trường Thành ngơ ngác dắt
Một dải linh hồn lặng lẽ đi (6)
Không phải bức tường nào cũng đem đến những buồn bã
như thế .Có rất nhiều bức tường cũng đem đến mơ mộng
nữa chứ. Nếu mở lại những trang sách cũ, ta thấy biết bao
nhiêu câu thơ óng ả, trữ tình nói về “bức tường”:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn. (7)
Bức tường này thơ biết bao, loang xanh vào cả hồn thi sĩ,
chắc thi sĩ muốn cái hàng dậu xanh rờn này ở mãi đây để
chàng còn tưởng tượng, viết thêm cả trăm câu thơ khác.
Nếu cắt đi bức tường tòan bằng lá xanh này là cắt đi mất
cái bí mật ở bên kia bức tường, làm sao thi sĩ còn “đoán”
được là “Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi”
Em ngồi trong khung cửa
Anh đứng dựa tường hoa
Nhìn nhau mà lệ ứa
Một ngày một cách xa. (8)
Là những câu thơ đẹp dành cho những bức tường, dành cho
những người yêu nhau. Người ta mong mỏi cho thi sĩ và
giai nhân cứ cách nhau một bức tường để bài thơ kéo dài vô
tận.
Thử đọc câu thơ:
Trải vách quế gió lùa hiu hắt
Mảnh xiêm y lạnh ngắt như đồng.
Vách quế là bức tường trong phòng của các cung nữ ngày
xưa có dát quế cho ấm mùa đông. Những bức tường quế
thơm tho này đã giam giữ bao nhiêu trái tim bi lụy, bao
nhiêu giấc mộng, và thấm bao nhiêu giọt lệ của các nàng
cung nữ. Ngay cả những âm mưu thầm kín để được lọt vào
sổ của quân vương cũng được toan tính sau những bức
tường này.
Trong Kiều của Nguyễn Du, bức tường cũng được đem vào
rất nhiều lần. Hai lần được chú ý nhất, là tả tâm trạng của
Kim Trọng bắt đầu tương tư đi tìm Kiều, thuê được một
căn nhà ngay cạnh nhà Kiều, để:
Song hồ nửa khép cánh mây
Tường đông ghé mắt ngày ngày trông sang.
Và Nguyễn Du cũng dùng “bức tường” để tả tình yêu sôi
nổi của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng, khi Kiều lợi dụng
cha mẹ vắng nhà, sửa soạn thức ăn mang sang nhà Kim
Trọng để cùng thù tạc, bức tường bỗng nhiên thành nhân
chứng:
Thời trân thức thức sẵn bầy
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường.
Có những tình yêu đằm thắm như thế này rơi ngay ở chân
tường:
Hoa vàng hoa rụng quanh tường
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần.
Những bông hoa vàng rụng trong đêm sương, gợi lòng nhớ
mong của người vợ có chồng đi vào nơi gió cát của trận
mạc. Làm sao mà đếm được hoa rụng mấy lần!
Nếu đem so sánh những bức tường nổi tiếng làm nên dấu
tích lịch sử và làm đẹp cho những áng văn đó với những
bức tường ta sống đằng sau nó mỗi ngày ta có thấy khác
biệt gì không?
Những tiếng rì rầm của các con trong phòng ngủ bên cạnh,
lọt qua bức tường đến tai cha mẹ, cha mẹ nhắm mắt lại yên
tâm các con còn ở chung dưới một mái nhà; những tiếng ho
yếu ớt của cha mẹ giữa đêm khuya bên kia bức tường cho
con hiểu cha mẹ đã thực sự già yếu. Bốn tường bỗng trở
thành vòng tay thân yêu của căn nhà để ta gọi là “gia đình.”
Bức tường ngăn cách ta với nhà hàng xóm, ta vẫn thân yêu
gọi là “sát vách” đó, đôi khi nó phải nghe hết những bất
bình của cả hai phía. Bức tường vô hình được dựng lên
giữa vợ chồng, giữa cha mẹ với con cái, các cháu với ông
bà làm cho chúng ta ngộp thở ngay trong một căn buồng
cửa mở. Phần nhiều những bức tường có đôi tai rất thính,
nó có thể mang sự bí mật của ta sang tận một nước khác, ta
nên cẩn thận khi nói thầm.
Bức tường đáng yêu nhất là tấm lòng của ta mà người bạn
nào cũng có thể dựa vào trong lúc cần một chỗ an ủi.
9/07
Ghi Chú:
1.Giuseppe Ungarette ; 2-3.William Marr; 4.California’s
Family Foundation; 5.Thiền Sư khuyết danh; 6. Trần Mộng
Tú; 7. Nguyễn Bính; 8.Lưu Trọng Lư; và Cung Oán Ngâm
Khúc, Kiều, Chinh Phụ ngâm.
triệu triệu giọt nước
Buổi sáng trong như ly nước lọc
Lòng thấy hiền như một miếng khoai. (tmt)
Sáng sớm ngửa cổ uống ly nước lã trong suốt vào ngực,
như rót cả một bình minh hiền hòa trong lành chưa có một
hạt bụi vào cái bình thân thể. Tại sao lại gọi là “nước lã”
nhỉ? Có phải tại nó không mùi, không vị, chưa ai cho chút
muối, chút đường hay bất cứ một cái gì lạ vào trong nước.
Mỗi ngày ta sống, ta thở đều lệ thuộc vào nước. Mất nước
trong người là nguy hiểm đến mạng sống, tuyến nước mắt
cạn gây ảnh hưởng hư hao cho cả thân lẫn tâm. Thử tưởng
tượng buồn muốn khóc, mà không có nước mắt; đứng trước
một cảnh tử biệt sinh ly, hay đọc một cuốn tiểu thuyết, xem
một phim xúc động, trái tim bóp lại, nhưng hai mắt khô
ran, thì khó chịu biết bao! Khi khổ quá người ta hay than:
“Khóc hết nước mắt rồi.” Nhưng sự thật nước mắt làm sao
hết được, trừ khi cơ thể bị bệnh, phải dùng nước mắt giả.
Chung quanh ta là nước, ngay cả ta đang đi đứng trên mặt
đất khô ráo. Nước ở trong độ ẩm của không khí, trong gió,
trong những giọt mưa rơi xuống thình lình, ngã rẽ trước
mặt có thể sẽ là một con sông, một cái hồ, hay là đường ra
biển, hoặc một con thác cách đấy không xa. Nước trong
suối, suối trong rừng, rừng trong cây, nước trong từng thân
cây, từng cuống lá. Những giọt nước mưa trên lá vẽ ra
những dòng nhạc chẩy. Kể làm sao cho hết trên một trang
giấy tên những bài thơ, bản nhạc gợi hứng từ chữ “nước”
đơn sơ này.
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn (Đinh Hùng)
hay:
Ta yêu người như yêu ly mước lạnh (tmt)
“Con nước về”. Ngư phủ chạy theo con nước như chạy theo
chính đời sống của nình, nước cung cấp nguồn sống, rồi
cũng chính nước lấy đi nguồn sống. “Thằng Bò, cái Nhớn,
cái Bé. Không, anh phải sống” (Khái Hưng) để em chìm
xuống nước.
Một giọt nước thì rất hiền lành, triệu triệu giọt nước sẽ
thành lụt, thành những cơn thủy triều dâng, thành tsunami
(sóng thần), cuốn đi trăm, ngàn đời sống. Người dân miền
Trung của nước Việt hiểu thấu đáo cái nghiệt ngã của nước
mang lũ lụt về hơn ai hết. Lũ đơn, lũ kép, lũ ngâm, là
những tiếng quen thuộc ta than về nước.
Nhưng:
Làm sao những giọt nước hiểu được mình sẽ thành sông?
(Antoine de Saint-Exupery)
Nước không hình, không sắc, ở thể lỏng, nhẹ hẫng, vốc lên
được bằng tay, nhưng đẩy được thuyền đi và cũng làm đắm
được thuyền. Người ta cũng có thể chết đuối trong một
vũng nước, hay trong cái bồn tắm nhỏ nếu không được cứu
đúng lúc.
Người không được ở cận kề với nước, thích đem nước đến
gần mình. Xây hồ bơi trong vườn, hồ thả cá trước hay sau
nhà, thậm chí còn làm những cái thác nhân tạo nhỏ để nghe
tiếng nước chẩy róc rách ngay trong phòng đọc sách, phòng
khách hay phòng ngủ.
Trong đời thường, hai người đang tha thiết với nhau, rồi
bỗng lạnh nhạt với nhau thì nghe trách là “tình của ai bây
giờ nhạt như nước lã.” Để rồi ,“nước lã ra sông”
Nhưng giao tế với nhau thân mật, chừng mực để giữ được
lâu bền kiểu con cháu cụ Khổng ngày trước, được hiểu là:
“Quân tử chi giao đạm nhược thủy.” Chữ đạm nhược thủy
này tức nước lã đấy.
Chữ nước tràn ra, ngập trong các thành ngữ, ca dao tiếng
Việt. Giận, tức quá gọi là tức sôi lên được, cũng hiểu ngầm
là nước đang sôi. Tức mà không nói ra lời được sẽ than
“Hết nước rồi, không còn gì để nói” chắc rồi sẽ đi tới “Tức
nước vỡ bờ.” Khi người mẹ rơi vào trạng thái “Nước vỡ
nguồn trong mẹ” thì mới đem con vào đời được, nước chưa
vỡ, phải làm cho vỡ (vỡ nước đầu ối.)
Hy vọng của con người cũng đem vào trong nước “Còn
nước, còn tát.” Anh em thương nhau thì nước chẳng có giá
trị gì nữa. “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã.” Trai gái yêu
nhau, nụ hôn đôi khi được so sánh với ngụm nước muối.
“Hôn giống như uống nước muối vậy, anh càng uống anh
càng khát (Ngạn ngữ Trung Hoa) Đối với một thi sĩ Trung
Hoa, nước thật là thơ mộng:
Cúc thủy nguyệt tại thủ
Lộng hoa hương mãn y
(Vũ Lương Sư)
(Khi nước được vốc đầy đôi bàn tay, ánh trăng sẽ lấp lánh
trong đó, khi nâng niu những đóa hoa, mùi hương của
chúng đã vương vào xiêm áo)
Nước cam lồ, nước cành dương của nhà Phật, hay nước lã
biến thành rượu ở tiệc cưới Cana, của Thiên Chúa Giáo là
những thứ nước không nhìn thấy bằng mắt, nhưng được
nhìn thấy bằng đức tin của nhiều người.
Triệu triệu giọt nước tạo nên hồ, nên sông, nên biển. Ở
dưới đáy của những giọt nước đó cất giấu bao nhiêu bí ẩn,
bao nhiêu kỳ quan, trên mặt nước đó bao nhiêu thăng trầm,
dâu bể của loài người diễn ra hằng ngày. Từ hiền hòa như
ngày rằm tháng bẩy thì bơi thuyền ra thả đèn hoa sen cầu
cho các vong hồn, thả cá xuống sông gọi là “phóng đăng”
thả tro than người qua đời (như ở sông Hằng) để thủy táng.
Đến những trận chiến hãi hùng bom đạn, cướp sông, cướp
biển chém giết nhau trên mặt nước chỉ có Trời ở trên nhìn
xuống nước mới biết rõ nguồn cơn.
Nhưng Nước còn mang một ý nghĩa cao trọng khác nữa.
Chữ Hán đầu tiên ngày xưa được thầy dậy: “gia” là nhà,
“quốc” là nước
Chữ Nước đó thiêng liêng biết là bao! Khi nói: “Nước tôi”,
người nói đã đem cả địa lý, lịch sử, văn hóa, trách nhiệm,
niềm hãnh diện của dân tộc mình trong một câu ngắn đó
với người khác nước. Tiếng “Nước mình” của hai người
bạn nói với nhau, chất chứa bao nỗi ngậm ngùi của những
kẻ xa quê. Thủa nhỏ đi học lần đầu tiên tập vẽ bản đồ nước
mình, chắc học trò của bất cứ một nước nào cũng thấy sao
quan trọng thế. Tô đi tô lại, đem về nhà khoe mẹ, khoe cha.
Thế nào cũng được cha mẹ chỉ cho biết quê nội, quê ngoại
ở phần nào trên bản đồ nước mình. Cậu bé hay cô bé học
trò đó bây giờ dù lưu vong ở bất cứ nước nào và đã trở
thành ông nội, bà ngoại, thì tấm bản đồ “nước mình” vẫn in
rõ nét trong tâm khảm.
Câu nói “Bây giờ đất nước thanh bình rồi” được hiểu là quê
hương không còn loạn lạc, binh đao nữa. Đất đã hiền, Nước
đã lành nhưng còn lòng người đã thật sự yên? Có ai đó đã
thốt lên: “Sao người dân nước mình khổ lâu thế!”
Thử đọc một câu thơ như sau:
Đất nước mình cởi áo cho nhau
(Phan Đức Chính)
Bây giờ chữ nước không còn là một dung dịch lỏng nữa,
nước được hiểu là quê hương xứ sở, tình của nước là tình
người, mới cởi áo cho nhau được. Chỉ có người Việt mình
mới nao lòng khi nghe câu thơ như thế, làm sao mà dịch
được hết nghĩa của chữ nước cởi áo này sang một ngôn ngữ
khác.
Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu.
(Phan Đức Chính)
Câu thơ đọc lên mà khóc được. Giọt đàn là giọt nước hay
giọt lệ? Làm sao mà nghe tiếng đàn bầu rơi thành giọt
nước, rồi thành “nước tôi” Chắc chỉ có cái tai của người
Việt mới nghe ra như vậy!
Rồi “nước non ngàn dặm ra đi”chỉ có Huyền Trân mới thấu
hết cái khổ của chữ nước này. Chỉ có Khắc Trung mới đau
với chữ nước non này.
Biển Thái Bình Dương đã cuốn đi bao nhiêu đời sống của
người Việt sau năm 1975, nước đã mang trôi đi theo nước
bao nhiêu phụ tử, mẫu tử thâm tình, nuớc làm cho phu thê
oan khốc, nước dập nát bao tuổi thanh xuân. Nước mắt
khóc cho những tai nạn oan khiên xẩy ra trên mặt nước đó
không chỉ chẩy xuống biển, mà chẩy giọt gianh, rỉ rả suốt
đời còn lại của gia đình nạn nhân.
Những giọt nước ở trong hai vùng biển Hoàng Sa, Trường
Sa bây giờ đang khóc nhớ ai?
Những giọt nước mắt nào còn thấm trên mặt đất vùng con
thác Bản Giốc thân yêu đó.
Tất cả những người chết ngoài mặt trận ở bất cứ phần đất
nào trên thế giới cũng đều được tưởng nhớ, ghi ơn là hy
sinh cho Nước, ngay cả khi chết cho một “Nước Khác”
không phải là đất nước mình. Không ai có quyền nói người
lính chết cho phần đất nước này, cao cả hơn là chết cho
phần đất nước kia.
Triệu triệu giọt nước trên trời rơi xuống, dưới đất đưa lên,
thành suối, thành sông, thành biển, tạo khỏang cách, ranh
giới, lãnh thổ, ngăn chia người với người. Nhưng hai tiếng
“Nước tôi” thì không bao giờ hao mòn, khuyết đi dù một
mảnh rất nhỏ trong tâm những người xa nước.
2006
phụ nữ Việt và chiến tranh
Mỗi năm vào ngày mồng 8 tháng 3 là ngày Phụ Nữ Quốc
Tế. Trong ngày này người phụ nữ các nơi trên thế giới của
mọi lãnh vực được ca tụng, vinh danh và cám ơn bằng
những phương tiện khác nhau. Việt Nam đang trên đà tiến
triển văn minh hội nhập, người phụ nữ trong một vài môi
trường nào đó cũng đang được đề cao, tưởng thưởng.
Nhưng đồng thời trong một góc khuất vắng mà rất gần với
đời thường, một số phụ nữ Việt vẫn úp mặt vào hai bàn tay
che khuất những tủi nhục của riêng mình.
“Trời Ơi, đi chiến tranh đã làm tôi già nua đến thế nào!”
Đó là tiếng than của một trong 500 phụ nữ ở Ninh Bình,
những người đã tham gia ở trong cuộc chiến được gọi là
“Chống Mỹ Cứu Nước”
“Tôi trở về sau chiến tranh, tôi tìm cho mình được một
người yêu. Anh ấy muốn lấy tôi, nhưng cha mẹ anh ấy ngăn
cản vì tôi là một phụ nữ bệnh hoạn yếu đuối, tôi sốt rét và
suy dinh dưỡng, tôi cũng khuyên anh ấy chẳng nên lấy tôi,
vì tôi nghĩ mình không có khả năng sinh đẻ nữa.” (1)
Chiến tranh thực sự đã hủy diệt hết tuổi xuân của những nữ
cán bộ miền Bắc( Những người tải đạn, làm đường, tháo
gỡ, phá mìm trong thời chiến) khi họ trở về từ mặt trận.
Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, họ chỉ là những
thiếu phụ già nua, xác xơ bệnh tật ở tuổi hai mươi tám, ba
mươi. Họ tìm đâu ra một tình yêu, một người chồng?
Một số phụ nữ khác sau ba mươi năm đã quá năm mươi
tuổi, thiếu thốn và mang trên người hai căn bệnh không bao
giờ chữa hết: sốt rét và suy dinh dưỡng. Họ sống cô đơn
trong những ngôi làng nhỏ bé ở Quảng Bình, cả làng chỉ có
người già, phụ nữ và trẻ nhỏ, không hề một bóng đàn ông,
cái tên làng đọc lên với tất cả nỗi ngậm ngùi: “Làng Không
Chồng” (2)
Năm 1975, những người chồng miền Nam bị lùa vào những
trại tù dưới danh nghĩa “Cải Tạo.” Họ là những người đã
từng dùng cả một đời tuổi trẻ của mình để bảo vệ lãnh thổ
niềm Nam Việt nam. Bây giờ dù họ còn ở lại Việt Nam hay
đã ra nước ngoài sống thì những trang sử họ đã đóng góp
vẫn không thể nào phía Bắc có thể xóa trắng được. Những
người vợ của họ, có người chồng chết không được chôn, có
người vì chính sự sống còn của chồng con, phải phụ chồng
lấy cán bộ Bắc Việt, có người may hơn ôm con thủ tiết, có
người ôm con lao vào biển. (Chồng đi tù về mới hay vợ con
đang nhặt “tự do” dưới biển sâu!)
Người phụ nữ Việt ra khỏi nước, sống thong thả hơn về
phương diện vật chất nhưng có rất nhiều người đã là nạn
nhân đau khổ (hơn những người khác) trong cuộc chiến
này. Họ bị bầm dập tâm hồn, thể xác. Cái hậu quả của
những cuộc hải trình bi thảm đi tìm tự do luôn luôn là
những tiếng kêu leng keng khôn nghỉ trong đầu họ như
những chiếc phong linh treo trong đầu gió.
“Đã mấy chục năm, tôi không thể nào quên được chồng,
em trai, em chồng tôi bị giết quăng xác xuống biển Đông.
Tôi không thể nào quên được em gái tôi, em gái chồng tôi,
tôi và mẹ chồng tôi đều bị hải tặc hiếp ngay trên sàn tầu.
Chúng tôi sống sót, và chúng tôi tiếp tục sống. Con cháu
chúng tôi trưởng thành và lập gia đình ở đây. Nhưng chúng
tôi vẫn có mối tủi nhục trong hồn.” (Phát biểu của một nạn
nhân hải tặc Thái Lan, 1979-1980)
Hơn ba mươi năm sau những người đàn bà này có thể đã
sống trong những viện dưỡng lão ở Mỹ, ở Pháp hay ở bất
cứ nơi nào không phải quê hương họ. Họ ngồi đó nhớ lại
những bất hạnh đã trải qua, chấp nhận và im lặng. Họ đợi
chờ từ giã cuộc đời và niềm đau sẽ được chôn theo đất,
hay đốt thành tro, nhưng nhất định không bao giờ kể lại cho
con, cháu. Họ sống can đảm và chết trong tự trọng. Giọt lệ
nào nhỏ xuống cho những niềm đau cao cả của những phụ
nữ này.
Những người phụ nữ Việt trong nước thì ngoài sự héo úa,
thất vọng tinh thần, đời sống hàng ngày thiếu thốn làm cho
họ thành những người đàn bà cay đắng.
Chúng tôi là những cô gái Trường Sơn
Tóc đã bạc và hồn đầy kỷ niệm
(Trần Thị Bình)
Có người đã vào chùa gửi đời mình dưới chân Phật. Năm
1980, thể chế nhà nước đổi mới chấp nhận cho những
Người Mẹ Không Chồng, hai mẹ con cũng được coi như
một gia đình, được cấp cho miếng ruộng để cấy cầy kiếm
gạo ăn. Đã có hàng ngàn phụ nữ được hưởng thể chế này.
Họ là những cựu chiến sĩ Trường Sơn, đã tham gia vào
chiến dịch “Người chồng một đêm” trong thời chiến. Phải
chăng trước cái tương lai thăm thẳm của ngày về không còn
tuổi trẻ để hy vọng làm vợ, làm mẹ, trước cái thiếu thốn
của âu yếm, mặn nồng trao xương gửi thịt hay chỉ thuần
nhất muốn có đứa con để không phải cô đơn trong tuổi già?
Họ đã làm “Người vợ một đêm” giữa những chặng đường
máu lửa. Có lẽ cả hai.
Cơ Quan Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) (3) cho
biết, ở Việt Nam đổ đồng, mỗi ngày có bảy phụ nữ mang
thai, hay vừa sanh con thiệt mạng. Có tám mươi hai trẻ sơ
sinh chết non. Chưa kể đến những trường hợp nạo hút hay
phá thai. Hậu quả của chương trình Kế Hoạch Hóa Gia
Đình, để thi hành chính sách cấm sinh đứa con thứ ba của
nhà nước. Những người phụ nữ vẫn là những nạn nhân cho
những vụ phá thai ở một bệnh viện miễn phí hay rẻ tiền.
Ở một số phụ nữ Việt khác trong nước, sinh ra và lớn lên
sau 1975, cho đến lúc này, sau hơn ba mươi năm đất nước
thanh bình vẫn tìm cách chạy ra khỏi nước bằng cái sức
mạnh duy nhất mình có, cái sức mạnh dán nhãn hiệu “Đàn
Bà” . Họ tự nguyện đi tìm những cuộc hôn nhân ngàn dặm.
Huyền Trân ngày trước đem về được hai châu Ô, Lý (Hai
Châu Ô, Lý vuông ngàn dặm/ Một gái Huyền Trân đẹp mấy
mươi) Huyền Trân ngày nay đem về cho gia đình được mấy
ngàn Mỹ kim, mà hầu hết bị lừa, thay vì làm vợ của một
người chồng, họ làm nô lệ tình dục cho tất cả người đàn
ông trong gia đình đó, một số khác bị mua đi, bán lại nhiều
lần.
Con số phụ nữ lấy chồng Đài Loan lên đến 60,000 người
(4). Những dịch vụ môi giới hôn nhân đem đến một mớ
(như mớ rau, mớ cá) phụ nữ Việt cho người đàn ông Đài
Loan lựa mua. Ở làng quê phía nam Đài Loan, những
quảng cáo dán trên cột điện: “Cô dâu Việt Nam còn trinh.
Nếu cô bỏ trốn được đền cô khác.” (5)
Nhân phẩm của người phụ nữ bị hạ ngang hàng với hàng
hóa và thú vật.
Hơn ba mươi năm sau ở Việt Nam những nạn nhân của
thuốc khai quang (Agent Orange) vẫn còn kiện chính phủ
Hoa Kỳ đòi bồi thường cho những hình hài bị tàn phá và
những hậu quả cho chất độc của bột da cam gây ra. Đó là
những bà mẹ trẻ dị hình sinh ra những đứa con dị dạng, tâm
thần.(6)
Ôi nhưng người đàn bà trong chiến tranh! Những người
đàn bà sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Đã bao nhiêu thế hệ
qua đi, từ người bà, người mẹ, người dì, rồi đến chính
mình, họ đã sống từng ngày vật vã với chiến tranh của cả
hai phía. Tiếng khóc nhiều hơn nụ cười, chịu đựng nhiều
hơn hưởng thụ. Hơn ba mươi năm rồi. Người Việt của cả
hai phía vẫn hô những khẩu hiệu đả đảo lẫn nhau, không ai
nghĩ đến những người đàn bà này một cách cụ thể. Những
người Việt hải ngoại theo chân nhau về nước chỉ chú tâm
trợ giúp giáo dục, y tế cho thanh thiếu nữ. Không ai nghĩ
đến băng bó những vết thương tâm hồn những phụ nữ lỡ
thời này. Họ quá bận bịu lo cho tương lai của thế hệ trẻ mà
quên bãng mất nhữõng phụ nữ bất hạnh đang đi về phía
mặt trời lặn. Ở Bắc hay ở Trung những phụ nữ này cũng
sống trong những thôn xóm nghèo nhất, xa thành phố. Hình
bóng họ ngồi trước những ngôi nhà lụp xụp nhìn bâng quơ
về một chốn vô định trong hoàng hôn là những bức vẽ tĩnh
vật buồn, không ai muốn mua về trưng bầy trong những
ngôi nhà mới.
Có phải ba mươi năm sau, hình như một điều mà chúng ta
cần nhớ đến nhất thì chúng ta lại quên trước tiên: “Những
người phụ nữ Việt đáng thương và đáng kính trọng của cả
hai miền.”
3/ 2007
Ghi chú:
(1) LA Times/David Lamb phỏng vấn phụ nữ Việt trở về
sau chiến tranh.
(2) Theo báo Thanh Niên (trong nước)
(3) UNICEP Phổ biến ngày 7-4-05
(4) Zone-Thế Giới
(5) Zone-Thế Giới
(6) 79 triệu lít Agent Orange đã thả xuống trong thời gian
1961-1971 vào những khu rừng tình nghi là có Cộng Sản
ẩn núp.
thư tình và người đưa thư
Đường vào nhà em số chồng lên số
Người đưa thư vất vả lúc đưa thư
(Hà Huyền Chi)
Đó là hình ảnh những con đường hẻm ở Việt Nam, với
những ngõ ngách như một chiếc bàn cờ không biết lối ra,
với những số nhà có bao nhiêu cái gạch xéo ( / ). Phải là
người Việt mới biết đọc một số nhà (thí dụ) thế này: Số
12/45B/207/Hẻm 37/ phường 8/ quận Gò Vấp/thành phố
Sài Gòn,Việt Nam. Như vậy là số chồng lên số, và nếu
người đưa thư mới vào nghề, khó lòng tìm được đúng địa
chỉ để giao thư. Có khi vào trong hẻm, đi lòng vòng một
lúc thấy mình ra đường cái ở một lối ra khác với lối vào.
Những con hẻm đó, biết bao người, đã một thời tuổi thơ để
lại, như một chuỗi bong bóng nước mưa rơi xuống từ mái
lá, mái tôn trước hiên nhà cứ phập phồng mãi suốt một đời;
như thời tuổi ngọc ôm đầy những giấc mộng lớn nhỏ và
tưởng giấc mộng nào cũng thành sự thật; như thời trưởng
thành mới biết lơ mơ về tình yêu đã lạc lõng lúc tìm nhau.
Các con hẻm nghèo nàn vẽ những đường ngoằn nghèo
trong những thành phố quê nhà đã để lại trong lòng những
người xa xứ như những bức phù điêu chưa hề bị lấy mất
bao giờ.
Với người đưa thư thì những con hẻm quanh co đó chẳng
khác gì những đường chỉ trong lòng bàn tay ông. Ông biết
nhà nào có một cô gái, hai con mắt trong veo, mỗi lần nghe
ông gõ cửa, cô nhẩy bật ra sau cánh cửa, đưa bàn tay như
một bông hoa trắng ra nhận lá thư trên phong bì có chữ
KBC (1), gửi về. Hai má cô đỏ hồng lên, cô mấp máy nói
lời cám ơn trên đôi môi chưa cần đến mầu son (ông nguyện
thầm trong lòng, lúc nào cũng chỉ đem tin vui đến cho cô).
Ông biết nhà nào có bà mẹ, chờ hoài tin con từ mặt trận, để
ông cứ phải né tránh khi đi qua cửa vì không có tin thư cho
bà.
Người đưa thư năm này sang tháng khác là một hình ảnh
thân thiết mỗi ngày hòa vào đời sống người Việt, nhất là
trong những năm tháng chiến tranh. Cái dáng gầy còm trên
cái xe đạp cũng không kém trơ xương với hai cái túi vải
treo hai bên sườn xe, đi vào những ngõ hẻm để đưa một lá
thư tình cho hai kẻ yêu nhau, hay hai vợ chồng trẻ mà
người nhận ở hậu phương, người gửi ở tiền tuyến; đưa một
bức điện tín báo tin mừng con được về phép mấy ngày ăn
tết với cha mẹ hay một tin thật buồn, con về từ mặt trận
bằng nến thắp hai hàng. Làm thế nào quên được!
Tôi nhớ lại (dù lúc đó còn bé lắm) sau 1954, một thời gian
đầu sau cuộc phân chia đất nước, khoảng sáu tháng hay
một năm, những tấm bưu thiếp vẫn được chuyển qua vĩ
tuyến 17, giữa hai vùng Nam- Bắc, để thân nhân trao đổi
tin nhà. Một buổi trưa mẹ tôi nhận được bưu thiếp từ miền
Bắc gửi đến căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi ở miền
Nam, trong hẻm 73, xóm nhà thờ Thị Nghè, Sài Gòn. Tôi
đi học về thấy mẹ cứ xụt xịt lau nước mắt, tôi nghĩ mẹ nhớ
gia đình, họ hàng còn lại. Mãi đến tuần sau, mẹ nói cả nhà
đi lễ phát tang cho ông ngoại, lúc đó mới biết tin dữ gửi
đến từ tấm thiệp. Sau nỗi buồn đó, chúng tôi không còn
nhận được bất cứ một lá thư, tấm thiệp nào từ miến Bắc
qua bưu điện nữa.
Sau 1975, gia đình tôi lại có một cuộc di tản thứ hai. Ở tuổi
nào chăng nữa khi phải rời bỏ quê hương, cũng tan tác như
nghé mất đàn, như gà mất mẹ. Người đưa thư vẫn là người
mang thông điệp tin yêu, hy vọng cho cả nhà. Người đưa
thư ở Mỹ không đưa thư trên chiếc xe đạp gầy còm; ông lái
xe hơi, ông không ướt lắm khi trời mưa, và không phải đội
nón khi trời nắng. Ông đem đến những lá thư cho chúng tôi
từ Việt Nam gửi qua bưu điện ở Pháp hay ở một nước thứ
ba nào đó. Những lá thư mang những dòng chữ của gia
đình anh tôi còn ở lại. Những lá thư chao ôi ngô nghê đến
lạ lùng. Cả nhà cứ phải đem hết thông minh ra để đoán hiểu
trong lá thư đó muốn nói điều gì. Đọc những lá thư hồi đó,
cho tôi cảm tưởng những người thân của chúng tôi đang ở
lại một quốc gia không có trên bản đồ thế giới, vì tên
người, tên địa danh đều được đổi đi để tránh bị kiểm duyệt.
Nhiệm vụ của người đưa thư bây giờ hình như sự quan
trọng vẫn còn cho những công việc có tính cách hành
chánh nhưng bớt mất đi sự cảm động và nét lãng mạn. Vào
những dịp lễ, người ta vẫn tặng hoa, tặng quà cho nhau
nhưng hình như người ta quên mất chuyện “viết một lá thư
tình.” Những tấm thiệp với những dòng chữ in sẵn, chỉ ký
tên vào không thể gọi là thư tình. Nó giống như một món
fast food, cứ mở ra ăn, không cần hâm nóng hay cả đến
không cần một cái đĩa để bầy ra cho tươm tất. Có thể gọi là
fast love không nhỉ?
Ngày xửa ngày xưa, ở Việt Nam, thời tuổi trẻ hình như ai
(nhất là phái nam) cũng ép hoa, ép bướm cho khô, rồi đặt
trang trọng vào lá thư gửi cho người mình yêu hay người
mình đang muốn tỏ tình. Có khi bỏ cả tuần để nắn nót viết
lại một bài thơ tình tuyệt vời của ai đó, rồi gửi kèm theo với
mấy lời ngây ngô của mình tự sáng tác. Có người viết thư
tình hay lắm, có người viết rất vụng về. Nhưng đã là thư
tình thì dù xuất sắc hay vụng về tôi nghĩ, đều hay cả.
Anh chỉ có một tình yêu duy nhất
Anh cho em kèm với một lá thư
Em không lấy là tình anh đã mất
Tình đã cho không lấy lại bao giờ
(Xuân Diệu)
Ông đưa thư là một sứ giả của tình yêu, ông đem hạnh phúc
cũng như nước mắt đến cho những người yêu nhau. Nhưng:
Có những bài thơ đau đớn nhất
Là thơ làm chẳng gửi cho ai
Năm năm rồi, đến mười năm nữa
Vẫn gối trên tay giấc mộng dài
(Huy Cận)
Ông đưa thư chẳng làm sao mà cứu vớt được những tình
thư giấu dưới gối như thế này.
Người ta còn nói: “Lá thư tình hay nhất của người đàn bà
luôn luôn được viết cho người đàn ông nàng sẽ phản bội.”
(Lawrence Durrel). Như thế chẳng hóa ra chỉ có đàn ông
mới viết thư tình chung thủy hay sao!
Nã Phá Luân (Napoleon) của nước Pháp, vị tướng đánh
giặc nổi tiếng và là người có tên trong danh sách những
người viết thư tình hay trên thế giới, ông cũng có đến hơn
một mối tình. Không kể những mối tình trên đường ra trận,
ông có cả bẩy người phụ nữ có tên tuổi rõ rệt trong danh
sách người yêu (2). Thư tình gửi cho Désirée được xếp
trong danh sách những lá thư tình hay nhất thế giới. Hãy
đọc hai đoạn thư tình của tráng sĩ gửi cho giai nhân:
Mọi việc ở đây đều tốt đẹp; nhưng trái tim anh thì nặng nề
không tả được. Em đang bệnh và ở xa anh quá. Hãy vui lên
và thật bảo trọng, với anh em còn giá trị hơn cả vũ trụ này.
(3)
Ở một lá thư khác ông viết:
Josephine! Joshepine! Em có nhớ, có lần anh đã nói với
em. Thiên nhiên đã phú cho anh sự cứng rắn nam nhi, và
tính cương quyết. Còn em, thiên nhiên đã dệt em bằng sợi
ren và mỏng nhẹ như tơ. Liệu em có thể ngưng yêu anh
không…? (4)
Nghe ngập tràn lãng mạn!
Những lá thư tình của người Việt Nam viết cho nhau không
thấy có trong danh sách, vì người Á đông vốn kín đáo,
không ai mang thư tình của mình ra chỗ công cộng cho
người khác đọc. Nhưng tôi biết có nhiều những lá thư
đó.Vì nếu không, thì đâu có những dòng thơ sau:
Không có anh lấy ai đưa em đi học
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau nước mắt khi em khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
(Nguyên Sa)
Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo
Tình thì buồn như tất cả chia ly
Xếp khuôn giấy để hoài trong túi áo
Xé trăm lần, viết mãi mới đưa đi.
(Xuân Diệu)
Hai đoạn thơ trên cho ta thấy “thư tình” được viết, nhưng
không phổ biến ra công chúng như “thơ tình”. Đọc tiểu
thuyết ngày xa xưa, cũng chỉ thấy người trong truyện gửi
thư cho nhau bằng cách bỏ quên lá thư trong cuốn sách nào
đó, rồi nhờ cô em, cậu em đem về cho chị. Không thấy tả
những nhân vật này đem thư ra bưu điện gửi. Mãi đến sau
này thời Tự Lực Văn Đoàn mới thấy có những lá thư được
gửi qua bưu điện trong văn chương.
Các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Du, Tản Đà, Phan Khôi có
làm những bài thơ gửi cho người yêu, nhưng chưa hề được
đọc một lá tình thư nào của các thi sĩ này viết ra. Tôi nghĩ,
nếu họ viết, (chắc chắn có nhưng không phổ biến) những lá
thư tình đó cũng tuyệt vời không kém gì những lá thư tình
của các danh nhân trên thế giới.
Những lá thư hình như đã có từ thiên cổ, bắt đầu được
chuyển đến bằng những con chim đưa thư (nên còn gọi là
tin nhạn). Rồi thay bằng người; người đưa thư phải đi
thuyền, đi đò, cưỡi ngựa ngày đêm, đi qua bao nhiêu con
sông, bao nhiêu cánh rừng, bao nhiêu sa mạc để mang đến
một tin thư. Có khi người trở về trước thư tới; hay tin vui,
tin buồn đến trước tin thư. Vì sự di chuyển đó nếu gặp
giông bão hay loạn lạc, thư có khi không bao giờ đến tay
người nhận.
Mỗi lá thư hình như có một số phận riêng của nó. Ngày 23
tháng 12 năm 1914 một tấm thiệp Giáng Sinh in hình ông
già Noel và một cô gái được gửi đi từ Alma, Nebraska đến
Oberlin, Kansas và đến 93 năm sau, Giáng Sinh 2007, tấm
thiệp mới tới nơi. Cả người nhận và người gửi đã qua đời
từ lâu. Hình như đó là một tấm thiệp của hai người bà con
gửi chúc Giáng Sinh cho nhau. Cho đến nay vẫn là điều bí
mật tại sao tấm thiệp đó còn tồn tại và vẫn được gửi đi.(5)
Nhân loại càng ngày càng tiến triển trong lãnh vực di
chuyển, vận tải. Thư đã được theo những tầu lớn, những
chuyến máy bay trên toàn thế giới. Ở trong cùng một quốc
gia, có những dịch vụ chỉ qua một đêm thư được giao đến
tận nhà.
Nhưng thật sự người ta có cần đến một người đưa thư nữa
không?
Thời đại điện toán này, trong những ngày lễ Cha, lễ Mẹ,
ngày sinh nhật, ngày lễ Tình Yêu, Giáng Sinh, Năm Mới và
các ngày kỷ niệm hôn phối người ta nếu không gửi cho
nhau những tấm thiệp in sẵn những hàng chữ hoa mỹ vô
hồn, người ta gửi điện thư cho nhau. Chỉ một cái bấm
(click) hàng chữ chúc mừng được gửi cho cả một danh sách
bạn đến hàng chục người với cùng một thông điệp. Không
còn gì trân trọng, riêng tư nữa.
Tuần đầu năm dương lịch, khi ông đưa thư ghé vào tận cửa
nhà tôi để giao chồng báo xuân của tòa báo Người-Việt từ
California gửi tới, tôi vội vàng chạy ra với một chai bồ đào
(red wine) tặng ông, nói lời cám ơn và chúc mừng năm
mới.
Trong mắt tôi, mỗi lần nhìn thấy người đưa thư ở Mỹ, lái
xe, mặc bộ đồng phục, tôi lại nao nao nghĩ đến những
người đưa thư ôm ốm và chiếc xe đạp gầy gầy ở quê nhà.
Những người đó đã để lại trong tôi biết bao kỷ niệm thân
yêu.
Valentine, 2/09
Ghi chú:
KBC: Khu Bưu Chính
Bẩy người tình rõ tên của Napoleon: Joshepine
Beauharnais; Marie Louse of Austria; Marie Walewska;
Desiree Clary; Pauline Foures; Mademoiselle Georges;
Giuseppina Grassini.
(3) Things are going well here; but my heart is
indescribably heavy. You are ill and far away from me. Be
gay and take great care of yourself, you are worth more
than all the universe to me...
(4) Josephine! Josephine! Remember what I have
sometimes said to you: Nature has endowed me with a
virile and decisive character. It has built yours out of lace
and gossamer. Have you ceased to love me...?
(5) Tin từ báo Người-Việt
tuổi hạc
Bạn có bao giờ ngắm kỹ một con hạc trắng chưa? Nó trông
thật mảnh mai, chân dài, người mỏng, trong một bộ lông
trắng muốt. Trông nó thanh cao như một người luống tuổi
mà vẫn giữ được phong cách ung dung. Con hạc được coi
là một con vật sống lâu cho nên người ta gọi tuổi của các
cụ là tuổi hạc.
Đầu tháng năm vừa qua, tôi sang chơi với vợ chồng người
anh ở bên Vienna, DC. Đằng sau nhà anh tôi có một con
đường mòn dẫn tới một công viên. Con đường mòn vào
cuối xuân chớm hạ thật là đẹp. Suối róc rách chẩy, cây cỏ
xanh mướt, những bông hoa núi nở trắng xóa. Chúng tôi
mỗi buổi sáng dắt theo con chó đi bộ, vừa đi vừa trò truyện.
Tôi bất giác hỏi:
Sao con người không giống cây cỏ, vào mùa đông héo, úa,
rụng, đến xuân, hạ lại hồi sinh nhỉ?
Anh tôi cười, nói:
Cứ giữ mãi được xuân, hạ trong lòng mình là tốt rồi.
Chúng ta những người ở lứa tuổi đang bước vào tuổi gìa
hay đã già. Tinh thần và thể xác không còn như hai mươi
năm, mười năm về trước hay thậm chí như mới năm ngoái
nữa.
Thông thường bất cứ người mang quốc tịch nào, sinh sống
ở phần đất hay hòan cảnh nào thì khi về già hay ngồi gậm
nhấm lại quá khứ. Chúng ta là những người từ một quê
hương mất mát đến ở trọ một quốc gia khác, chúng ta còn
nhiều điều gậm nhấm hơn nữa.
Ở tuổi già, không có phương tiện di chuyển, bị trở ngại
ngôn ngữ đã làm một số người sống một cuộc sống tẻ nhạt,
từ tẻ nhạt đưa tới trầm cảm, khép kín. Từ đó sinh ra bao
nhiêu bệnh, và khi có bệnh, sự chạy chữa xem chừng không
có hiệu quả lắm cho những người này.
Bác sĩ Ornish, tác giả cuốn sách Love & Survival, nói rõ:
Tách lìa tinh thân gia đình và bạn bè là đầu mối cho mọi
thứ bệnh từ ung thư, bệnh tim đến ung nhọt và nhiễm độc.
Tình thương và tinh thần là gốc rễ làm cho chúng ta bệnh
hay khỏe.
Ba mươi năm trước mà nghe ai nói cô đơn sinh ra các
chứng bệnh thì người ta sẽ chỉ cười nhẹ. Nhưng bây giờ
điều này đã được nhiều bác sĩ công nhận là đúng.
Những buổi tĩnh tâm chung, có cầu nguyện, có tịnh niệm
(tùy theo tôn giáo của mỗi người) chia sẻ những buồn vui,
lo lắng của mình cùng người khác cũng giúp khai thông
được những tắc nghẽn của tim mạch như là ăn những thức
ăn rau, đậu lành mạnh vậy.
Nếu không nói ra được những gì dồn nén bên trong thì
chính là tự mình làm khổ mình. Khi nói ra, hay viết ra được
những khổ tâm của mình thì hệ thống đề kháng được tăng
cường, ít phải uống thuốc. Theo bác sĩ Ornish, khi bị căng
thẳng cơ thể sẽ tiết ra một hóa chất làm cho mọi sinh hoạt ứ
đọng, ăn không ngon, đầu không suy nghĩ, mạch máu trì
trệ, mất sức đề kháng, dễ cảm cúm.
Như vậy sự cô đơn cũng là chất độc như cholesterol trong
những thức ăn dầu mỡ, mà chỉ có tình thương mới cứu rỗi
được.
Nếu bạn không mở tâm ra cho người khác thì bác sĩ bắt
buộc phải mở tim bạn ra thôi.
Tuổi như thế nào thì gọi là già, chúng ta biết khi một người
qua đời ở tuổi sáu mươi thì được gọi là “hưởng thọ”. Vậy
sau tuổi sáu mươi mỗi ngày ta sống là một bonus, phần
thưởng của Trời cho.
Chúng ta nên sống thế nào với những ngày “phần thưởng”
này. Lấy thí dụ một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập,
không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào
cũng đi đến chỗ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột
và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh.
Trong “Những lời Phật dậy” có câu: Sai lầm lớn nhất của
đời người là đánh mất mình/ Phá sản lớn nhất của đời
người là tuyệt vọng. Chắc trong quý vị không ai muốn rơi
vào hoàn cảnh này.
Gặp gỡ bè bạn thường xuyên trong những sinh hoạt thể
thao là điều tốt lành nhất cho thể lý. Đi tập thể thao như Tài
Chi, Hồng Gia, Nhẩy Nhẹ Theo Nhạc, Tắm Hơi, Bơi Lội.
v.v đã giúp cho người lớn tuổi giữ được thăng bằng, ít ngã,
và nếu có bệnh, uống thuốc sẽ công hiệu hơn, mau lành
hơn.
Gặp bạn, nói được ra những điều phiền muộn cho nhau
nghe, ngồi tĩnh tâm, đến nhà thờ, chùa cầu nguyện giúp
được làm chậm lại sự phát triển của bệnh. Bác Sĩ Jeff Levin
giáo sư Đại Học North Carolina khám phá ra từ hàng trăm
bệnh nhân, nếu người nào thường xuyên đến nhà nguyện
họ có áp suất máu thấp hơn những người không đến nhà
nguyện, ông bỏ ra hàng đêm và nhiều cuối tuần để theo dõi,
tìm hiểu những kết quả cụ thể của ‘Tín Ngưỡng và Sức
Khỏe”. Cuốn sách ông phát hành gần đây nhất có tên là
God, Faith and Health. Trong đó ông cho biết những người
có tín ngưỡng khỏe mạnh hơn, lành bệnh chóng hơn, ít bị
nhồi máu cơ tim, gặp sự thăng trầm trong đời sống họ biết
cách đối diện, họ luôn luôn lạc quan.
Lạc quan là một cẩm nang quý vị nên luôn luôn mang theo
bên mình. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là “Tôi già rồi, tôi
không giúp ích được cho ai nữa” hoặc “Tôi vụng về, ít học,
chẳng làm gì được”
Tôi xin kể câu chuyện Hai Con Ngựa của thầy phó tế
George A. Haloulakos:
Cạnh nhà tôi có một canh đồng cỏ, hàng ngày có một cặp
ngựa, con nọ lớn hơn con kia một chút thong thả ăn cỏ ở
đấy. Nhìn từ xa chúng là đôi ngựa binh thường giống
những con ngựa khác. Tuy nhiên nếu bạn đến gần, bạn sẽ
khám phá ra là có một con mù.
Chủ nhân của nó chắc thương nó không nỡ bỏ đi ,mà còn
cho nó một chỗ ở an toàn. Chính điều này đã thành một câu
truyện tuyệt vời.
Đứng bên chúng, bạn chợt nghe có tiếng chuông rung, phát
ra từ cái đai nhỏ vòng quanh cổ con ngựa nhỏ hơn, chắc là
một con cái. Tiếng chuông báo cho con bạn mù của nó, biết
là nó đang ở đâu mà bước theo. Quan sát kỹ một chút bạn
sẽ thấy cái cách con ngựa sáng chăm sóc con ngựa mù, bạn
nó chu đáo như thế nào. Con ngựa mù lắng nghe tiếng leng
keng mà theo bạn, nó bước chậm rãi và tin rắng bạn nó
không để nó bị lạc. Trên đường trở về chuồng mỗi chiều,
con ngựa nhỏ chốc chốc lại ngoái cổ lại nhìn bạn, muốn
biết chắc bạn mù của nó vẫn đi theo tiếng chuông của nó để
lại đằng sau.
Cũng giống như chủ nhân của đôi ngựa có lòng nhân từ,
Thượng Đế không bao giờ vứt bỏ bạn vì bạn kiếm khuyết,
hoạn nạn hay gặp khó khăn. Nguời luôn luôn đem đến cho
chúng ta những người bạn khi chúng ta cần đuợc giúp đỡ.
Đôi khi chúng ta là con ngựa mù, được dẫn dắt bởi tiếng
chuông mầu nhiệm mà Thượng Đế đã nhờ ai đó rung lên
cho chúng ta. Những khi khác chúng ta là con ngựa dẫn
đường, giúp kẻ khác nhìn thấy.
Bạn hiền là như vậy. Không phải lúc nào ta cũng nhìn thấy
họ, nhưng họ thì luôn hiện diện đâu đó. Hãy lắng nghe
tiếng chuông của nhau. Hãy tử tế hết sức mình, bởi vì có
một người mà bạn gặp trên đời, biết đâu cũng đang ở trong
một hòan cảnh khó khăn nào đó họ phải phấn đấu để vượt
qua.
Không gì hơn là tuổi già nương dựa vào nhau trong tình
bạn. Luôn luôn nghĩ bao giờ mình cũng có cái cho đi mà
người khác dùng được. Trong một lần đến thăm Viện
Dưỡng Lão, tôi thấy một cụ ông bảy mươi tuổi, đút thức ăn
cho một cụ bà tám mươi tuổi. Hỏi ra thì họ không có liên
hệ gì với nhau cả. Chỉ là một người có khả năng cho và một
người vui vẻ nhận.
Tính hài hước, làm cho người khác cười cùng với mình là
những liều thuốc bổ. Nữ thi sĩ Maya Angelou vào sinh nhật
thứ bảy mươi bảy, trong trương trình phỏng vấn của
Oprah , hỏi về sự thay đổi vóc dáng của tuổi già, bà nói:
“Vô số chuyện xẩy tới từng ngày…Cứ nhìn vào bộ ngực
của tôi xem. Có vẻ như hai chị em nó đang tranh đua xem
đứa nào chạy xuống eo trước”. Khán giả nghe bà, cười
chẩy cả nước mắt.
Sinh, lão,bệnh, tử. Con đường đó ai cũng phải đi qua.
Nhưng đi như thế nào thì hầu như 80% chính mình là người
lựa chọn.
Những vấn đề chính ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn qua
tinh thần là:
Sự cảm thông giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với các
cháu.
Tinh thần chấp nhận và lạc quan
Nghĩ đến những điều vui nhỏ mỗi ngày
Tham gia những sinh hoạt nào phù hợp với sức khỏe
Làm việc thiện nguyện
Nhóm bạn : Đọc sách, kể chuyện, đánh cờ, chơi bài (không
phải ăn thua)
Tham gia các lớp thể dục: Như Yoga, lớp dậy Hồng Gia,
ngồi thiền, khí công v.v. Và ngay cả chỉ đi bộ với nhau ba
mươi phút mỗi ngày cũng giúp cho tinh thần sảng khoái,
sức khỏe tốt hơn là ở nhà nằm quay mặt vào tường.
Hãy thỉnh thoảng đọc lên thành tiếng câu ngạn ngữ này:
“Một nét mặt vui vẻ mang hạnh phúc đến cho trái tim và
một tin vui mang sức khỏe cho xương cốt.”
(2008)
Tài liệu: Tin Vui Thời Điểm
Spiritual Health for Elderly
bản hòa âm sinh tử
Gửi Trần Viết Minh Thanh, đã mất.
Cô bạn gái của tôi mới qua đời, cô còn khá trẻ, trên cáo phó
ở cạnh tuổi cô, có viết hai chữ “hưởng dương,” có nghĩa cô
chưa bước vào tuổi sáu mươi. Gia đình mới hỏa táng cô
sáng nay. Tôi ở xa cô mấy chục ngàn dậm bay, không đến
dự, tôi ngồi ở nhà nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn cây cỏ co ro
đang từ từ chết trong mùa đông, nghĩ đến cô, nhớ nụ cười,
tiếng nói, liên tưởng đến tro than. Đầu óc tôi trôi bềnh bồng
giữa đôi bờ sinh tử, bỗng tôi nhớ đến những lời của Đức
Đạt Lai Lạt Ma:
“Chết là một phần tự nhiên của sự sống, mà tất cả chúng ta
chắc chắn sẽ phải đương đầu không sớm thì muộn. Theo tôi
thì có hai cách để xử với cái chết trong khi ta còn sống.
Hoặc là ta tảng lờ nó, hoặc là ta chạm trán với viễn ảnh cái
chết của chính mình, và bằng cách tư duy sáng suốt về nó,
ta cố giảm thiểu những khổ đau mà cái chết có thể mang
lại. Tuy nhiên, trong cả hai cách, không cách nào chúng ta
có thể thực thụ chinh phục được sự chết.” (1)
“Tảng lờ với cái chết,” nghe thật lạ lùng. Một người đang
khỏe mạnh, yêu đời, gia đình êm ấm, công danh thành đạt,
bỗng một ngày đi khám sức khỏe tổng quát, bác sĩ phát
hiện ra một căn bệnh hiểm nghèo. Thế là đất trời bỗng mù
sương; mặt trời hình như không sáng nữa, ngày tháng
không còn phân biệt thu, đông. Những âu yếm nghe như
gượng gạo, nụ hôn cho người thân nhuốm chút ngậm ngùi.
Đi chụp hình, siêu âm, thử máu, trị liệu, thậm chí nghỉ hẳn
công việc đang làm, các giao tế từ từ thưa thớt rồi ngưng
hẳn; các chuyến du lịch, đi trong hồi hộp với một va-li đầy
thuốc rồi cũng phải chấm dứt. Bây giờ ra khỏi nhà chỉ còn
có nghĩa là đi đến phòng mạch hoặc vào bệnh viện. Liệu ta
có “tảng lờ với cái chết” được không?
Cái chết của con sóc nhỏ. Tôi đi lang thang trên một con
đường mòn, đi tản mạn trong buổi sáng, để hít thở trời đất
thơm tho vào lồng ngực, hai mắt ngước nhìn những bụi dâu
dại bên đường mòn, chân tôi xém chút nữa giẫm phải một
con sóc nhỏ nằm giữa lối đi. Tôi cúi xuống nhìn nó, nó
chưa chết, hai con mắt nhỏ trong veo nhìn lại tôi. Tôi thấy
nó có mấy vết thương nhỏ trên lưng, nhưng một vết thương
to trước bụng, và cái chân sau của nó hình như đang muốn
rời hẳn ra khỏi cái thân bé bỏng. Nó đang hấp hối. Chắc nó
bị một con raccoon (mèo rừng) nào đó tấn công, chạy thoát
được ra đến đây thì kiệt sức. Con đường mòn buổi sáng
chưa đông người “bộ hành” lắm. Tôi ngồi hẳn xuống với
nó, tôi muốn cứu nó mà biết không làm gì được. Tôi cứ
nhìn vào hai mắt nó, và nó nhìn tôi.
Chắc nó biết là mình đang chết, chắc nó hi vọng tôi sẽ cứu
nó. Tôi hoàn toàn bất lực. Tôi ngồi với nó không lâu lắm và
chứng kiến nó thở hơi cuối. Tôi đặt tay lên đôi mắt đã
nhắm của nó, giống như ai đó vừa vuốt mắt một người
thân, nó có cảm thấy cái chạm tay của một người đang thở
không nhỉ? Tôi tìm được một cái lá to nhất tôi có thể tìm
thấy trong những bụi cây, rồi thu hết can đảm kéo được
một phần nào cái thân bé bỏng của nó vào chiếc lá, đầu và
chân nó vẫn thò ra. Tôi kéo nó thật sát vào gốc một bụi hoa
hồng dại, tìm một cành cây, xới một lũm đất nhỏ, đặt nó
xuống, lấy lá khô đắp lên cho nó thành một nấm mồ. Bây
giờ đang cuối đông, mưa lạnh, tôi hy vọng thân xác tí teo
này sẽ mau chóng tan vào đất. Kiếp sau (nếu nó có kiếp
sau) nó còn muốn được làm con sóc bé bỏng nữa hay
không? Trong lúc đang thoi thóp chết nó nghĩ gì? (Tôi tin
các con vật đều biết nghĩ.)
Cái chết của một dòng sông. Tôi nhớ lại trong một lần về
Việt Nam, tôi có qua bên kia sông Bạch Đằng (Sài Gòn),
Thủ Thiêm. Tôi về để tìm lại những kỷ niệm thân yêu thời
còn trung học, những lần qua phà sang nhà người bạn gái.
Bạn tôi không biết thất tung phương nào. Những hàng
quán, dấu vết cỏ cây để tìm vào con ngõ nhà bạn ngày
trước đã bị xóa sạch, như có ai kéo xuống cả một ngôi làng
cũ thân yêu, rồi dựng lên đó một con phố mới, không cây,
không cỏ, chỉ với những bức tường gạch, vữa, nhô ra thụt
vào, mầu vàng, mầu đỏ. Tôi đi lang thang nguyên một
ngày, hỏi han tung tích của bạn mình, hỏi tên con hẻm cũ.
Tôi nhận được những cái lắc đầu lạnh nhạt, hoặc có ai đó
nói vu vơ rằng cô đó cũng bỏ đi rồi, cô đó hình như chết
rồi. Tôi thẫn thờ tìm đường ra lại bờ sông. Con sông sao
nước bỗng đổi mầu, đen đến thế! Nó chở trên cái thân mềm
yếu, những chuyến tầu máy thả khói nặng nề, những đám
rác bốn phương chụm lại, thỉnh thoảng xác xơ, lạc lõng,
ngơ ngác một vài cọng lục bình, trôi theo những vật phế
thải.
Chao ôi, cô bạn của tôi, cô còn sống hay cô đã chết! Tôi hy
vọng được gặp lại cô, ở đâu đó dù cả hai chúng tôi còn
sống hay đã chết.
Chao ôi, con sông Bạch Đằng thân yêu của tôi! Nó đang
sống hay đang đi dần vào cõi chết. Tôi tin con sông của tôi
có linh hồn; nó sống ở đó bao nhiêu năm rồi. Nó chứng
kiến sự sống, sự chết của lịch sử, của cả một quốc gia hưng
vong, nó chở qua sông biết bao nhiêu kỷ niệm thanh xuân,
bao mảnh đời cơ cực, bao nhiêu lần một chiếc áo quan có
phủ quốc kỳ; và con người thay nhau thả xuống lòng nó
bao điều dị biệt. Con sông sống lâu quá! Thượng đế cho nó
một đời sống dài quá! Kiếp sau nó còn muốn làm con sông
Bạch Đằng nữa, hay không?
Cái chết của một cây thông.Tôi ngắt một bông hoa dại bên
đường, đặt lên nấm mộ mới. Ngồi xuống chiếc băng gỗ
nghỉ chân, xoa hai bàn tay lạnh vào nhau, một lúc sau, hai
bàn tay ấm lại, tôi nhìn xuống gan lòng bàn tay, thấy có
mầu hồng hồng, à thì ra máu đã luân lưu vào đó nhiều hơn
khi được chà xát. Tôi đang sống! Tôi đang ngồi trên một
cái băng gỗ, những thanh gỗ tôi đang ngồi với nó được lấy
ra từ một thân cây thông tràn đầy nhựa sống. Nó đang véo
von ca hát trong rừng mỗi bình minh, hay ngâm bài thơ ngũ
ngôn mỗi khi chiều xuống. Một hôm người ta muốn nó
chết, nó chết ngay từ phát rìu đầu tiên chém xuống, nó
không tự định đoạt đời sống mình. Loài người là thượng đế
của nó. Tôi đang ngồi với một đời cây. Giữa tôi và nó là
một bản hòa âm sinh tử.
Tôi đang sống hay tôi đang chết? Chắc phải nói tôi đang
chết thì chính xác hơn. Mỗi ngày tôi thức dậy, đặt chân
xuống đất chào đón một ngày, tức là tôi đã từ giã ngày hôm
qua. Tôi cộng thêm một ngày vào tuổi, tôi đi dần về phía
bên kia sợi dây đời sống. Khi tôi sinh ra, tôi bắt đầu hao đi
ngày thứ nhất của sợi dây đời sống, khúc dây đó mỗi ngày
tôi lấn một khúc nhỏ. Tôi không biết sợi dây trời cho dài
ngắn bao nhiêu, nhưng biết chắc chắn tôi làm nó ngắn đi
từng ngày, vì tôi không đi ngược lại ngày đã qua. Tôi đi về
phía trước như thế, có nghĩa là tôi đi gần đến một chỗ tôi
chưa hề biết (ai đó gọi là thiên đàng hay niết bàn). Tôi
không biết tôi sẽ gặp điều gì, gặp ai, ở thành phố nào, quốc
gia nào hay chỉ là một cõi mù sương phía trước, nếu tôi
không có một tín ngưỡng để vin vào. Nhưng tôi, giả dụ có
là một người vô thần thì tôi cũng biết rất rõ những gì tôi bỏ
lại. Tôi bỏ lại những người ruột thịt của tôi: Chồng, con,
cha mẹ, anh em, bạn thân, người quen biết, cái nhà đang ở,
cái xe đang đi, mảnh vườn nhỏ tôi chăm bón bốn mùa, con
chim thỉnh thoảng đậu ở trước hiên nhà, những hàng cây
hai bên đường, thay lá từng mùa; người hàng xóm khó tính
bên tay phải, người hàng xóm dễ thương bên tay trái. Tôi
bỏ lại những cuốn truyện trên kệ sách, những tác giả tôi
thích nhất, những cuốn sách cần thiết như những vị thầy, bỏ
lại bài thơ vừa mới viết xong, bài văn đang viết nửa chừng,
bỏ dòng nước lững lờ trôi trước cửa, dẫy núi trải dài trên
cao, bầu trời nhiều mưa hơn nắng. Tôi bỏ lại tất cả, bỏ dần,
bỏ dần từng ngày, thế mà tôi đâu có lúc nào để ý đên việc
mình đang từ bỏ. Cho đến một hôm“Cái chết đến như kẻ
trộm.” Chắc lúc đó tôi mới nhận thấy và hoảng hốt hay
điềm tĩnh đối diện.
Bây giờ, người bạn trẻ của tôi, hôm nay đã hóa thành một
nắm tro, nằm thinh lặng trong một chiếc bình. Chị đã đi đến
cuối sợi dây đời sống trời trao cho chị từ lúc mới sinh ra,
sợi dây không dài lắm. Chị đi như thế nào nhỉ? Và tôi nữa,
tôi tự hỏi: “Chúng ta đi trên sợi dây đời sống như thế nào
nhỉ?” Từ lúc sinh ra được cha mẹ thương yêu, nuôi lớn
khôn, ăn học, đi làm việc, lập gia đình cho tới khi từ bỏ
cuộc đời, chúng ta quay đều như một hạt cát bám vào bánh
xe. Bánh xe đời sống quay đến đâu, chúng ta quay theo đến
đó, hình như không có lúc nào nghĩ ra rằng, ta có nên bảo
nó ngưng lại cho ta nghỉ trong chốc lát hay không? Take a
break. Tôi rất thích chữ break này. Bẻ thời gian ra thành
nhiều mảnh, nhặt lấy một mảnh nhỏ, ngồi xuống thở, chơi.
Tôi chỉ sống có một đời. Dài hay ngắn đều do cách tôi suy
nghĩ, nhưng tôi sống với những điều tôi tin là tốt đẹp, dù
đôi khi tôi phải trả cái giá tốt đẹp này bằng những giọt lệ.
Một đời như thế, chắc cũng sống đủ lắm rồi.
Có người đã nói: “Nhìn cái chết là đoạn cuối của cuộc đời,
chẳng khác nào bạn nhìn đường chân trời bảo đấy là điểm
cuối của đại dương” (2)
Hôm nay, tôi thở, tôi sống, tôi làm thơ, cùng với người bạn,
con sóc, dòng sông, cây thông đã qua đời. Một bản hòa âm
sinh tử.
Ngày mai thuộc về ngày mai.
1/2009
(1)- Lời tựa của Dalai Lama cho “The Tibetan Book of
Living and Dying- Sogyal Rinpoche.” Thích Nữ Trí Hải
dịch.
(2)- David Searls- Seeing death as the end of life is like
seeing the horizon as the end of the ocean.
chiếc nôi trước công viên
Ba người và con chó Lasa đi bộ trên con đường mòn dọc
theo kênh đào C&O Canal. Con kênh dài gần hai trăm dặm,
chạy song song với dòng sông Potomac. Anh tôi chỉ tay về
phía trước nói, mình có thể cứ đi thẳng đây sẽ đến
Georgetown. Chúng tôi chắc là không đi xa đến thế. Vì vừa
đi vừa quay lại sẽ mất khoảng hai tiếng.
Mỗi lần tôi đến Vienna (Virginia) chơi với gia đình, anh tôi
lại dắt tôi đi bộ trên con đê này. Chúng tôi có thể đến đây
mỗi buổi sáng mà không bao giờ thấy chán. Hình như mỗi
lần đi cho tôi một cảm giác khác nhau, cũng con đường đất
cũ, kênh đào cũ và cả ba chúng tôi đều cũ, nhưng sao hồn
lại mới thế, đất trời lại mới thế. Cái tinh khôi của một mùa
hạ mới, từng chiếc lá như vừa được đem sơn lại, từng
nhánh cây như có ai vừa đánh bóng, từng bụi cỏ như vừa
được lau bằng khăn ướt, hơi đất nồng nàn như hơi thở của
một đàn bò đang tuổi lớn, vừa thơm tho vừa ngai ngái. Tất
cả trộn lẫn vào nhau làm sao phân biệt!
Con đường đất nện, giống như một con đê rộng ở quê nhà.
Con đê nhô lên bề ngang khoảng ba thước, đủ cho người đi
bộ và người dùng xe đạp tránh nhau. Buổi sáng của chớm
hè, gió thỉnh thỏang lay nhẹ những khóm hoa kim ngân hai
bên đường đi, đưa lên một hương thơm man mác. Mỗi lần
đi đến quãng nào, nghe anh tôi kêu lên, thơm quá, tôi lại
cúi xuống tìm hoa kim ngân nở những bông mầu vàng nhạt,
dịu dàng nấp trong những đám cỏ, phải để ý mới nhìn thấy.
Tôi cúi xuống hái một hai bông, đưa chuyền tay nhau, hít
nhè nhẹ cái mùi hương êm ả đó. Hai bên đê, một bên là
kinh đào, nước chẩy lặng lẽ, đục mầu bùn, thỉnh thỏang có
những thân cây khô gẫy trong một mùa đông nào đó, nằm
vắt ngang kênh, một đàn bốn năm con rùa rủ nhau trèo lên
khúc cây nằm chờ nắng, một con cá quẫy mạnh cái đuôi
dưới nước, một con chim hạc bay ra từ một lùm cây cao,
soải dài hai chiếc chân thanh mảnh ngang mặt kênh , trông
thấy người, hạc lại bay vào một bụi cây khác. Không gian
bát ngát, thanh bình quá! Thỉnh thoảng có người đi ngược
chiều, hay đi vượt chúng tôi, hai bên cùng mỉm cười, nói
một lời chào ngắn, người đi xe đạp thì phải lên tiếng ngay
khi chúng tôi chưa nhìn thấy họ; Những chiếc xe đạp mang
theo nó một người rắn rỏi, khỏe mạnh, đang cúi rạp lưng,
khoe hai bắp chân săn chắc trên bàn đạp, lao trên đê, không
cẩn thận lao vào người đi bộ dễ dàng. Mồ hôi lâm tâm trên
trán, âm ẩm trên lưng, chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện,
tiếng nói chuyện hòa vào tiếng nước chảy róc rách của bên
kia bờ đê, cái lạch do con sông Potomac chảy len lỏi vào.
Gọi là lạch vì giữa những chỗ nước len lỏi là đá, là những
cù lao cỏ, cây cao, với những thân rễ to tướng nhô lên vì
nước soi mòn đất chung quanh nó. Bãi bên này thoai thoải,
chúng tôi dắt Lasa xuống, con chó thấy nước là lao ngay
vào bơi bì bõm vài cái, rồi lại chạy lên bãi, nằm xoài ra lấm
lem đất cát nhưng trông nó thật thỏa mãn.
Chúng tôi đứng giữa sông nước, hoa cỏ, hưởng tất cả ân
huệ của đất trời. Ngồi trên một thân cây đổ, nhìn con nước
quẩn quanh giữa mầu xanh xám của đá, mầu nâu hồng của
đất, mầu xanh ngọc của cỏ cây tôi bỗng nghĩ đến cái xe trẻ
con bỏ lại trước lối vào kênh đào.
Một cái xe trẻ em mầu xanh dương đậm còn rất mới, đã hai
ngày hôm nay chúng tôi thấy bỏ ở phía ngoài công viên,
chỗ cây dầy như một bìa rừng. Ngày đầu chị em tôi tưởng
ai đó bỏ quên, chắc là sẽ quay lại lấy, nhưng đến ngày thứ
hai thì bao nhiêu câu hỏi về chiếc xe còn mới đó được