The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-05 01:37:57

Vườn Măng Cụt Trần Mộng Tú

Vườn Măng Cụt Trần Mộng Tú

đánh cắp, hai năm sau có người tìm được, mua lại đem về
chùa.

puzzle

Trong ánh nắng vàng vọt của buổi chiều hắt qua cửa sổ, mụ
trông thật thảm hại, bộ đồng phục lao công vừa đi làm về,
nhầu nhĩ như mụ. Mặt xanh lè, hai mắt thâm quầng, mụ
đứng giữa phòng đăm đăm nhìn gã đàn ông, hai tay không
biết vứt đi đâu, cũng không dám túm lấy hắn đánh được,
nên thỉnh thoảng mụ lại vung vào khoảng không cùng với
giọng nói cố giữ bình tĩnh:

Mang hết tiền cho con quỷ cái rồi phải không?

Gã không trả lời câu hỏi, thản nhiên ngửa cổ uống hớp bia,
nói như ra lệnh:

Đi nấu ăn đi, tôi đói rồi.

Mụ ức lắm, nhưng vẫn chân thấp chân cao vào bếp làm
cơm. Mụ nhẩm tính trong đầu. Phải nhịn, phải nhịn thôi, hy
vọng hắn chưa bị con quỷ cái moi hết tiền. Mụ cần hắn, nếu
không có hắn đứng chung danh sách bảo đảm tài khoản thì
mụ không thể nào hoàn tất hồ sơ bảo lãnh cho một đàn, vừa
con, vừa cháu gần mười đứa sắp sang đến nơi.

Mụ ở với hắn cũng hơn mười năm nay rồi. Tuy chẳng được
thanh cao như “Trai lỡ phong vân gái lỡ thì” cũng là “Rổ rá
cạp lại” Mà cái rá, cái rổ này cạp lại cũng vài ba lần rồi,
gần tung hết cả lạt, không cạp ngay, khéo lại đến quăng vào
thùng rác cả hai. Số mụ long đong nên bỏ chồng sống,
chồng chết đều có cả. Ba chục năm trước, mụ mới bốn
mươi, sức khỏe tốt, nhanh nhẹn, tháo vát, có chút nhan sắc.
Giải phóng về, mụ cũng chạy đôn chạy đáo, làm đủ mọi

việc kể cả việc thỉnh thoảng phải bán thân để nuôi được
đàn con bẩy đứa. Bỏ chồng thì bỏ mấy ông, mụ cũng chẳng
nề, nhưng bỏ con thì nhất định không. Chúng không được
ăn ngon, mặc đẹp, không sao! Nhưng nhất định không để
chúng đói rách. Mụ đã thấy những đứa trẻ ăn mày rồi, trông
chẳng ra hình thù một con người hay con vật nào nữa. Một
loại thú mới, có linh hồn, đi vất vưởng trong một thành phố
vừa hết chiến tranh. Không, các con của mụ nghèo cũng
được, nhưng ít ra còn phải trông giống con người. Giữa
một cái xã hội lộn tùng phèo, không một chữ làm vốn, mụ
cũng đã cầm cự giỏi hơn nhiều người. Mỗi ngày mụ chạy
phờ phạc trong cái mảnh đất đổi chủ này tìm mọi cách để
mang thực phẩm về cho các con. Mụ như một con kiến thợ
tha bất cứ cái gì về tổ cho sự sống còn của cả nhà. Mua đầu
này bán đầu kia, mua tối bán sáng, đi sớm về khuya, có khi
hai ba ngày đàn trẻ không thấy mụ, chúng cũng quen rồi,
thế nào mẹ cũng về. Mẹ về có khi xơ xác, trắng tay, rũ
xuống như một tầu lá chuối rách bươm sau cơn bão, có khi
đầy ắp hai túi tiền, mặt mày rạng rỡ. Bằng cách nào mẹ
cũng về. Mẹ người khác có thể chết vì nghèo,vì bệnh,
nhưng mẹ của chúng thì gần như không bao giờ chết.

Thấy người ta vượt biển, vượt biên mụ chỉ đứng thèm
thuồng, ganh tị vì tiền ít, con đông làm sao gửi đi, làm sao
xuống tầu được. Rồi người ta lại lũ lượt ra đi theo diện
H.O, mụ cũng không chịu thua. Bói đâu ra được ông chồng
cải tạo bây giờ? Mụ lại chạy đôn chạy đáo vừa mua bằng
tiền vừa dụ bằng xác một ông đi tù về còn độc thân, tưởng
là bắt được rồi, nhưng thấy gánh con của mụ đông quá, ông
ta sợ nhỡ sang Mỹ rồi mụ không buông ông ta ra thì chết
toi, chả dại. Thế là mụ lại hụt. May cho mụ, khi diện các
con lai được đi thì mụ đã có ngay trong nhà một đứa để làm
vốn rồi. Cái quá khứ nhăng nhít của mụ trước kia, hóa ra
được việc. Chẳng ai biết đứa trẻ đó là con mụ giấu giếm ở

đâu hay mụ mới đi mua về. Chỉ biết nó gọi mụ bằng mẹ và
mụ nghiễm nhiên là mẹ một đứa con lai giá trị cả mấy cây
vàng thời đó. Bấy giờ khối kẻ nhìn mụ với con mắt thèm
thuồng. Thế là mụ đem theo được bốn đứa nhỏ, ba đứa lớn
có gia đình nên phải ở lại. Đứt ruột đấy, nhưng từ từ mụ sẽ
nối lại sau, cứ đi được đứa nào hay đứa đó. Nghĩ đến các
con ở lại thương quá! Chín đứa con của mụ, mụ thương
chúng như chó cái thương con. Mụ nhớ khi thằng Bốn bị
đụng xe chết, mụ chôn nó với giấy khai sinh của thằng Hai,
rồi cho thằng Hai dùng giấy tờ của thằng Ba, thằng Ba
dùng giấy tờ của thằng Bốn. Nhờ thế mà mấy thằng con trai
trốn được mấy năm đi nghĩa vụ bên Cam Bốt. Nhưng
không phải chỉ tráo khai sinh mà xong, mụ còn phải tạ ơn
các ông công an, các ông Xã, ông Ty nữa chứ. Ông nào chê
tiền ít thì mụ đem thân bù vào. Thằng công an khu vực là
chó nhất, nó hôi như một con heo, hôm đó mụ tưởng là
ngày hôm sau mụ sẽ rình chém cho nó vài nhát. Nhưng trời
thương, tánh mụ mau quên, ra sông nhẩy ùm xuống một
cái, hay ra giếng xối ào ào vài gáo nước là sạch ngay ấy
mà. Con trai không phải sang Cam Bốt là mụ sung sướng,
quên ngay việc mình vừa phải làm, quên ngay những nhát
dao định chém...

Mụ sang Mỹ làm đủ mọi việc lao động. Ngày tám tiếng,
làm lao công quét dọn trong siêu thị Mỹ, trong khu chợ Á
Đông, chiều về mụ làm thêm ở khách sạn, cọ buồng tắm,
đổ rác, hút bụi, làm giường cho đến tối mịt mới về. Cuối
tuần nếu khách sạn có việc gọi là mụ chạy bổ ra ngay khỏi
giường, đi làm thêm. Tám tiếng đồng hồ phải làm xong
mười một buồng, chỉ được nghỉ nửa tiếng ăn. Có hôm, cuối
ngày, mụ thở không ra hơi, cứ nói, thôi lần tới không làm
cuối tuần nữa, nhưng lần tới mà không thấy xếp gọi, buồn
lắm, mụ lại kiếm việc khác làm. Mụ đi lượm lon, tay nắm
cái bao, tay cầm một chiếc kẹp dài bằng sắt, đi lục các

thùng rác, lượm lon, đem về đập bẹp xuống, bán lại cho
chỗ tái chế. Mụ không bỏ phí một giờ nào, nếu giờ đó kiếm
được ra tiền.

Mấy đứa con mang sang đây chúng nó từ từ có gia đình, đi
ở chỗ khác, khi nào cần tiền thì về móc túi mẹ. Lúc nào mụ
cũng là cái ruột tượng không đáy. Mụ vừa chửi té tát chúng
vừa móc tiền cho.

Cha mẹ chúng mày, lấy hết tiền của bà, bà còn phải gửi về
Việt Nam nuôi mấy đứa ở nhà nữa chứ!
Chửi thì chửi. Đứa mở tiệm Nail, đứa mở tiệm sửa xe cũng
toàn vốn ở túi mụ cả, tiền nhặt lon đấy, tiền cọ buồng tắm,
cầu tiêu của mụ đấy.

Tội nghiệp mụ, cũng muốn giữ nhan sắc về chiều cho tươm
tất để gã không phải đi tìm những “Con Quỷ Cái.” Mụ
nhuộm tóc, xâm lông mày nhưng vẫn không che hết vẻ mệt
mỏi trên mặt. Bước thấp bước cao, lưng bắt đầu vẹo sang
một bên, vẫn đi làm đủ bẩy ngày một tuần, vẫn tiền trăm,
tiền nghìn gửi về quê nhà nuôi con. Bây giờ lại lo đến
chuyện bảo lãnh những đứa con còn lại. Tám năm làm giấy
tờ bảo lãnh, mụ vẫn đi đi, về về, đem đồng tiền nhặt nhạnh
bằng tất cả sức lực của mình về Việt Nam sửa nhà, mua đất
cho con. Ai mách ở đâu lo lót được là mụ tìm đến mua
chuộc. Mụ chỉ con chạy chọt giấy tờ chỗ này, chỗ kia; giấy
tờ sắp xong, chỉ con bán đất, bán nhà, còn giỏi hơn cả
người ở trong nước. Mụ lo xa cả đến đem tài liệu thi viết
của bằng lái xe tiếng Việt về Việt Nam cho con học trước,
sửa soạn cho chúng sẵn sàng thi lái xe khi qua Mỹ. Có cái
chân mới kiếm tiền được chứ. Tiền bán nhà, bán đất mang
sang thì lo gì không có xe đi làm.

Gã đàn ông ở với mụ thế mà cũng trên mười năm rồi, hai

người bắt đầu chỉ “Góp gạo thổi cơm chung”. Hắn trả tiền
nhà, mụ cung phụng hai bữa ăn. Hồn của ai nấy giữ. Lâu
ngày thành nhân ngãi, lâu nữa thành vợ chồng không hôn
thú. Mụ cũng ghen lồng lên khi gã mèo chuột, khi gã đem
tiền (của gã) cho mấy Con Quỷ Cái, trẻ đẹp hơn mụ. Chắc
Trời cho mụ cái lòng dài đến cả mười thước trong bụng,
nên mụ yêu con và yêu mọi người. Gã ở lâu quá với mụ thì
mụ nghĩ gã thuộc về mình, mụ phải săn sóc thôi. Làm tối
mắt tối mũi như vậy mụ vẫn lo hai bữa cơm nóng, canh
ngọt cho gã. Người ngoài nhìn vào nói gã lợi dụng mụ,
nhưng quả thật mụ cũng chẳng thiệt thòi lắm. Hắn đã đứng
tên chung trong danh sách bảo lãnh con mụ về bảo đảm tài
khoản, gã đi theo mụ chở từng cái ghế cũ, cái giường cũ về
sửa soạn cho ba gia đình của các con mụ sắp sang. Mụ thuê
sẵn ba gian chung cư cho ba gia đình, đồ đạc cái đi xin ở
nhà thờ, cái khách sạn thải ra, còn mới chán! Mỗi căn hộ
mụ xếp vào ba bao gạo, một thùng nước mắm, muối,
đường, nồi xoong, bát đĩa, tạm đủ những cái cần dùng cho
một gia đình mới đến.

Trước hôm các con sang một ngày, mụ đi làm về, vào từng
gian chung cư vừa thuê xong, xem thiếu đủ gì không? Mụ
đứng đó lòng rưng rưng nghĩ đến từng đứa con, từng đứa
cháu, nhẩm đọc tên chúng, chỉ sợ già rồi lẫn tên đứa nọ vào
đứa kia, tội nghiệp. Mụ lủi thủi đếm mấy bao gạo, đếm
từng chai nước mắm. Trong cái rã rời thể xác của một ngày
lao động trộn vào cái hồi hộp đoàn tụ, mụ ngồi phịch xuống
mép giường, úp mặt vào hai tay vỡ òa nước mắt. Mụ khóc
ngon lành, khóc một hồi, nước mắt trào ra như mưa đầu
mùa ở quê nhà. Mụ cũng không hiểu tại sao mình khóc,
khóc vì sắp gặp lại con cháu, hay khóc tủi phận mình? Cái
này lạ đấy! Vì lâu lắm rồi mụ đâu có biết nước mắt là gì.
Lo lắng, vất vả, tủi nhục đến đâu mụ cũng chỉ khóc khô,
nhưng khóc mà có nước mắt chẩy ra, thấy nhẹ người thật!

Mụ nghĩ, hay là thỉnh thoảng mình nên khóc một trận cho
hả?

Mụ chạy chọt xin việc sẵn cho con. Việc lao động cần gì
bằng cấp. Con trai, con dâu sang tuần trước, tuần sau mụ đã
giắt vào làm việc ở ngay khách sạn mụ đang làm cuối tuần.

Một buổi chiều cuối đông, tôi sang nhà người anh chơi. Tôi
gặp người mẹ 70 tuổi đó lúc bà vừa đi làm về.(Bà ở cùng
dẫy chung cư với anh chị tôi.) Nhìn người đàn bà lom
khom bước ra khỏi xe, gương mặt mệt mỏi, nhăn nhúm, hai
con mắt như lạc hẳn đi, nhưng nhìn kỹ trong cái tàn tạ đó
vẫn còn dấu vết của hồng nhan. Tôi vừa thương cảm vừa ái
ngại. Chị tôi bảo: “Bà ấy đấy, đi làm về đấy. Giỏi lắm, mới
mang một đàn con sang đó.”

Tôi đã nghe kể bao nhiêu chuyện về người mẹ này. Có
người nói với tôi đó là một người đàn bà dại trai, già rồi
còn nuôi không một gã đàn ông. Người khác nói mụ đó
tham tiền, tham việc quá! Người nói (với giọng khinh
miệt): Mụ này giỏi, giỏi và bụi đời từ khi còn ở quê nhà,
sức vóc và chịu đựng hơn cả một người đàn ông.

Tôi ráp nhưng mẩu chuyện đó vào nhau, như gép hình
puzzle, nhìn theo cái lưng vẹo của bà khuất sau cánh cửa,
tôi ráp được một tấm hình: “Người Mẹ”

Ngày Hiền Mẫu 5/2008

truyện tình

Cô cầm khay thuốc nhỏ đến khu C, khu biệt giam của
những người tù mặc áo đỏ. Trước khi đến phòng giam, cô
nhìn nhanh vào chiếc gương nhỏ cất trong ngăn kéo bàn
giấy, tô lại chút son môi, chút má hồng, hai con mắt xanh
biếc của cô bóng lên trong một giây, rồi lại dịu ngay
xuống. Sáng nay, khi sửa soạn đi làm, trong căn phòng tối
như mù, cô đã lần mò một nắm phấn son cho vào túi xách,
cô đã lựa cho mình một chiếc áo hở cổ, và thật sát vào
người. Cô biết chiếc áo không cài khuy khoác ngoài của y
tá không thể che được vóc dáng nẩy nở của mình, và trưa
nay nhan sắc của cô sẽ được cặp mắt sâu thăm thẳm đó
chiêm ngưỡng. Bất giác, cô khẽ rùng mình.

Một nhân viên an ninh đi theo cô đến phòng 15. Sau khi
mở khóa, anh ta đứng ở một khoảng cách vừa đủ để vừa
không chú ý đến việc làm của người y tá, vừa đủ kịp phản
ứng bảo vệ cô nếu có chuyện gì xẩy ra. Vì những người tù
mặc áo đỏ là những người phải cẩn trọng đề phòng. Người
tù chậm chạp đi ra. Cô không phải là một người nhỏ bé, thế
mà nếu đứng đối mặt với nhau thì cô phải nhìn lên, tầm
mắt mới chạm đến ngang vai anh ta. Hắn bước hẳn ra
ngoài phòng, tiến đến chiếc bàn dài gần đó , nhưng không
chịu ngồi ngay xuống. Hắn đứng ngắm nghía cô y tá hấp
dẫn, cái nhìn của hắn là cái nhìn của một con thú đực lâu
ngày mới vừa ngửi thấy mùi con thú cái. Đợi cho cô y tá
kéo cái ghế ngồi xuống trước, hắn mới tiến lại để có thể
nhìn từ phía trên xuống cái ngực lấp ló sau chiếc áo choàng
trắng. Cô dư biết như vậy, nhưng cô lờ đi, cô đưa mắt nhìn
người giữ an ninh, anh ta ra lệnh cho hắn ngồi xuống phía
bên kia bàn. Cô mở tập hồ sơ, hỏi giọng lạnh lùng:

- Anh còn mất ngủ không ?

- Còn.

Hắn trả lời ngắn, mắt vẫn không rời cô. Hắn nhìn cô từ môi
xuống cổ, rồi từ cổ xuống cái ngực lấp ló dưới cái cổ áo
khoét sâu. Cô cúi xuống vừa tiếp tục hỏi vừa ghi hồ sơ, hỏi
xong cô gấp hồ sơ lại. Hai con mắt xanh bóng của cô nhìn
thẳng vào mắt hắn, cô đưa lọ thuốc cho hắn, khi hắn xoè
tay ra, cô ấn mạnh lọ thuốc vào gan bàn tay hắn, rồi xoáy
mạnh một cái bằng cử chỉ khiêu khích. Cả người hắn rung
lên, hắn bặm chặt môi lại, hai con mắt tóe lửa, hắn nắm như
muốn bóp bể lọ thuốc trong tay, hắn đứng bật dậy, chồm về
phía cô.

Nhân viên an ninh lập tức tiến đến phía hai người, xô hắn
ra khỏi cái bàn, bẻ quặt hai tay hắn về đằng sau, kéo vào
phòng giam. Cánh cửa sắt đóng ập lại, nhưng cũng để cho
hắn kịp nhìn cái nhếch miệng khiêu khích của cô. Mồ hôi
hắn vã ra như tắm.

Trung tâm này chỉ là nơi tạm giam chờ ngày mang ra xử.
Những người bị nhốt ở đây đủ mọi thành phần. Từ trộm
cắp nhỏ nhặt, hút ma túy ở một góc đường đến giết người,
hiếp dâm. Nhà tù chia cấp bậc nhẹ hay nặng bằng mầu áo
mặc khác nhau. Nhẹ nhất là áo vàng, rồi đến áo xanh và sau
cùng là áo đỏ. Những tù nhân mặc áo đỏ thường phải biệt
giam, vì ngoài vấn đề nguy hiểm cho cá nhân tù phạm
khác, họ cũng không thể sinh hoạt chung với tù nhẹ tội
được. Một tù nhân áo đỏ như “Hắn” làm sao mà sinh hoạt
được với mấy tay cậy cửa xe, ăn cắp vặt. Những cái tội của
đám áo vàng chỉ là cái tội của con nít mới lớn, hoặc của

những tên thiếu tiền và thiếu cả tư cách. Hắn coi thường
chúng ra mặt. Hắn bị bắt về tội giết người.

Cô làm ở bên y tế, cô chỉ có hồ sơ về tình trạng sức khỏe
của tù nhân. Hình như hắn bị bắt vì tội giết vợ, hồ sơ bên y
tế không có nói rõ về chi tiết của bên hình sự. Hắn bị giam
ở đây cả mấy tháng rồi, cái vết thương dài từ cổ xuống
bụng hắn chưa lành hẳn nên bên tòa chưa đem ra xử. Trong
hồ sơ y tế có ghi vết thương đó là do hắn cầm dao rạch
bụng để tự vận mà không chết. Hiện tại, hắn cũng đang
được chữa về tâm thần. Bác sĩ nào đến phiên chẩn bệnh cho
hắn cũng gặp khó khăn vì hắn không hợp tác. Hắn không
muốn trả lời bất cứ một câu hỏi nào. Chỉ có cô mới cậy
được cả mắt lẫn miệng tù nhân này. Và cô đã ngầm dùng
đôi mắt sâu thăm thẳm của hắn như một tấm gương để soi
ngắm thân thể mình. Hắn là người duy nhất biết đang bị cô
mê hoặc.

Cô làm việc cả ở Bệnh Viện Green Villes , nên hắn đã là
bệnh nhân của cô trước khi họ chuyển hắn vào tù. Cô đã
chú ý tới cái mã cao lớn, tay dài vai rộng cùng với bộ mặt
đằng đằng sát khí, và nhất là cặp mắt thăm thẳm. Cặp mắt
mầu ve trai trong suốt có pha một chút nâu nâu, nằm bên
dưới đôi lông mày rậm kéo ra đến thái dương nối liền với
hàm râu quai nón. Khi hắn nhìn ai, mắt cũng như muốn tóe
lửa. Tất cả các thứ ấy cộng vào một thân hình cao lớn,
hừng hực nam tính của hắn đã thu hút cô. Lần đầu tiên khi
thay những miếng băng tẩm thuốc trên ngực hắn, cô đã cố
ý làm rất chậm. Cô vừa lấy ngón tay ấn ấn lên chỗ da thịt
không đau của hắn vừa mỉm cười mà không nhìn vào mặt
hắn. Hắn ở bệnh viện độ hai tuần thì biết là cô y tá này
đang muốn giở trò với mình. Nhưng khi hắn định tỏ thái độ
đáp ứng thì cô ta lại giở mặt đóng vai của một chị y tá khó

chịu. Cô ta vờn hắn như một con mèo vờn con chim vừa vồ
được.

Cái buồng giam biệt lập chỉ vừa đủ chỗ cho một chiếc
giường nhỏ, môt cái cầu tiêu không quây kín. Tù nhân biệt
giam không được phép đi vớ và không được mặc đồ lót (cô
không biết tại sao). Hắn mằm co như một con tôm vừa
luộc xong, hãy còn nóng và vỏ đỏ hỏn, hắn đang lên cơn
sốt không rõ nguyên do. Cả người hắn rung lên như sợi
giây điện cao thế. Cuống họng hắn khô ran, hắn đang muốn
đập phá một cái gì. Hắn nhìn xung quanh chẳng thấy một
cái gì cầm lên được, hắn nắm bàn tay lại cứ thế đấm vào
tường cho đến lúc những người gác mở cửa vào còng tay
hắn lại.

Cô được gọi đến để băng bó lại bàn tay đang chẩy máu. Hai
người phụ trách an ninh đứng kèm hai bên. Cô mặt lạnh
như nước đá chăm chú làm công việc của một y tá, không
nói một câu. Cô dư biết cảnh khiêu khích vừa rồi của cô đã
làm cho hắn lên cơn sốt tình dục. Nếu không có hai người
gác đeo súng đứng đó chắc hắn đã xông tới bẻ cái thân thể
hấp dẫn đó ra làm hai ba mảnh, khi nhìn thấy cái cười
nhếch mép của cô.

Chị mở cửa vào nhà. Đây là một trong những căn chung cư
dành cho những người khiếm thị. Khu chung cư này do
thành phố cung cấp, có khoảng hai mươi nhà Những người
ở đây vừa có gia đình, vừa độc thân. Những căn nhà một
từng xây vòng tròn chung quanh một cái sân khá rộng. Vì
là khu cho người khiếm thị nên chiếc sân xi măng để trống,
không có một chậu cây, một khóm hoa, hay một vật trang
trí nào để có thể làm vấp váp, cản trở sự giao thông. Những
gian nhà có đủ cửa sổ hứng nắng để tránh ẩm thấp, nhưng ít
khi thấy được mở. Ở hành lang phía trước của những căn

nhà, cứ năm mười thước lại có một chiếc băng gỗ dài kê
sát vào tường. Cha mẹ thường ra đó ngồi trò chuyện với
nhau hay ngồi chờ nghe tiếng chân trẻ đi học về.

Người chồng nghe tiếng động của chìa khóa biết là vợ về,
anh lên tiếng trước:

Sao hôm nay em về sớm thế ?

Anh vừa nói, vừa mở chiếc đồng hồ tròn đặt trong lòng bàn
tay, vừa sờ lên mặt những con số. Mới có 4 giờ 20.

Hôm nay em xin về sớm. Anh sửa soạn đi chợ với em.
Chị cầm tay chồng dắt vào buồng trong cho anh thay áo,
chị cầm tay anh như một thói quen mà thôi, vì điều này đâu
có cần thiết với anh. Chị cũng cần thay đôi giầy đi bộ. Từ
nhà họ chỉ cần băng qua đường là có siêu thị. Trong buồng
tối hù vì các cánh cửa điều đóng, đối với anh không thành
vấn đề, vì đóng hay mở cũng thế thôi. Nhưng đối với một
người sáng mắt như chị thì chắc cũng phải thấy khó chịu.
Thế mà chị cũng cứ thản nhiên lần mò trong bóng tối thay
giầy. Chị biết đôi giầy chị cất ở đâu. Chị lấy anh ba năm
nay rồi. Khi về ở với anh chị đã tự tập cho mình sống trong
bóng tối. Cả việc chải đầu, đánh phấn trước khi đi làm, chị
cũng có thể làm trong bóng tối. Cái bóng mờ mờ của một
căn nhà đóng hết các cửa vào ban ngày, hay cái bóng đen
đặc của ban đêm thì chị cũng coi như nhau.

Họ đi sóng đôi với nhau ra đường, những người hàng xóm
đang đứng ở chiếc sân chung, nghe bước chân của hai
người đi đến, họ ngoảnh mặt lại cất tiếng chào. Chẳng bao
giờ chị nghe thấy họ nhầm lẫn tên hai vợ chồng chị bằng
tên người khác. Những đứa trẻ, con cái của họ chạy chơi
quanh đó. Cha mẹ chúng cũng chỉ cần nghe tiếng chân

chạy, tiếng cười đùa và tiếng khóc của chúng là họ biết
ngay đứa nào là con nhà nào. Chị nhìn bằng mắt còn nhầm
con nhà này với con nhà khác, nhưng những người chỉ
nghe bằng tai này thì không bao giờ nhầm.

Điều làm cho chị thán phục những người ở trong khu
chung cư này là họ không bao giờ lẫn lộn giữa hai thằng bé
sinh đôi bên hàng xóm. Trông chúng giống nhau như hai
viên kẹo bột. Vì họ không nhìn thấy chúng nên họ dùng tai
để phân biệt tiếng u ơ của hai đứa nhỏ này ngay cả lúc
chúng chỉ mới biết khóc oe oe, hay nghe tiếng động của cặp
chân khi chúng mới biết bò. Trong khi đó thì chị phải dùng
hai con mắt của mình để nhìn cho thật kỹ một dấu vết khác
trên nét mặt hay trên thân thể hai đứa bé để phân biệt.
Nhưng vào mùa đông khi cha mẹ chúng mặc những bộ
quần áo che kín mít chỉ lộ hai con mắt với cái miệng thì chị
phải nhờ chồng lắng nghe và phân biệt hộ. Khi chị về ở với
anh thì hai đứa trẻ hàng xóm mới lên hai, bây giờ đã được
năm tuổi. Chúng rất thích chị, vì chị là một trong ba người
đàn bà sáng mắt ở khu này, và chị lại vừa trẻ nhất vừa săn
sóc, yêu thích trẻ con theo cung cách của một y tá.

Người chồng đi bên cạnh vợ, anh không cần vịn vào chị.
Anh cầm chiếc gậy trắng, thỉnh thoảng anh đưa tay sang
đẩy nhẹ vào lưng vợ như hướng chị đi theo mình. Cả hai
đứng lại đợi sang đường. Anh nghiêng tai lắng nghe tiếng
nhạc phát ra ở cột điện. Khi tiếng nhạc nhẹ nhàng phát ra là
lúc anh đứng lại mà nghe, khi nhạc đổi sang dồn dập là lúc
phải sang đường. Tiếng nhạc thay cho đèn xanh đỏ dành
riêng cho người khiếm thị. Tất cả các ngã tư trong vòng
nửa dậm đều có nhạc sang đường này. Đôi khi để khỏi
nhàm chán những khúc nhạc được đổi theo mùa. Và có lần
anh đã được thưởng thức một đoạn “Singing in the rain”
của Herb Brown và Arthur Freed vào cuối Thu.

Anh hỏi vợ:

- Sao tự nhiên trời tối sập xuống vậy, có phải sắp mưa
không ?

Chỉ cần một ngọn gió khác thổi qua vai, là anh có thể đoán
được trời đang nắng chang chang sẽ kéo đến một cơn mưa.
Chị bảo:

- Chắc vậy, mình cần mua nhanh lên để chạy về nhà cho
kịp.

- Em đừng có lo, anh cuộc với em là cho đến lúc mình ăn
cơm chiều xong thì mưa mới bắt đầu rơi xuống.

Họ vào chợ mua thức ăn. Hôm nay anh muốn nấu món mì
Ý và họ cùng đồng ý là chỉ dùng toàn rau thay vì ăn với xúc
xích. Anh chọn thức ăn rất kỹ, nên trước khi bỏ vào túi cái
gì chị cũng phải đặt vào tay anh trước. Cứ mỗi lần chị đưa
quả cà chua cho anh, anh lại bỏ xuống. Quả thì anh chê
chín quá, quả thì anh chê hơi xanh. Củ hành cầm không
chắc tay (vì nhổ đã lâu) hay chắc quá (tức là còn non) anh
cũng bỏ xuống. Theo anh, củ hành tây mà xốp hay chắc quá
đều không thể nào ngọt thịt được, quả cà xanh hay chín quá
cũng không ngon. Chẳng khác gì da thịt phụ nữ, nó chỉ đẹp
nhất ở giữa tuổi ba mươi đến bốn mươi. Cũng có vài trường
hợp ngoại lệ, nhưng cái đó thì rất hiếm.

Buổi chiều ăn cơm xong. Anh đang ngồi nghe máy phát
thanh ở trong bếp thì cơn mưa ập xuống đúng như anh
đoán. Tiếng mưa bắt đầu nhè nhẹ rồi mỗi lúc một dồn dập,
nghe hồ như tiếng nhạc ở góc phố giục sang đường. Bỗng
anh đứng lên đi về phía vợ đang đứng rửa bát, kéo tay chị

vào phòng ngủ. Chưa qua khỏi cửa buồng anh đã ấn lưng
chị sát vào cánh cửa. Anh đặt tay lần mò trên vai, trên ngực
chị. Hơi thở anh dồn dập theo những ngón tay. Chị nhắm
mắt lại rên rỉ trong đầu. Chao ôi! Nếu mà anh ấy sáng mắt,
nếu mà anh ấy được nhìn thấy mình, nhìn thấy từng phân
vuông trên da thịt mình thì anh ấy chắc sẽ sung sướng hơn
nhiều và mình cũng thỏa mãn biết chừng nào! Người đàn
bà cần được chiêm ngưỡng, cần được nhìn thấy mình trong
mắt người khác chứ!

Chị lần mò trong bóng tối lấy ra cái hộp đựng đồ cuộn tóc,
cuộn mớ tóc của mình. Ngày mai chị sẽ có một mái tóc
bồng bềnh rất đẹp, và chị sẽ mặc chiếc áo mùa hè mới mua
tuần trước, chiếc áo trắng ngắn tay có in những bông cẩm
chướng mầu tím nhạt, chị có cây son cùng mầu với cánh
hoa này. Ngày mai, ít ra là sẽ có một đôi mắt biết thưởng
thức cả áo và son của chị Chị vừa cuộn tóc vừa nghiêng
mình lắng nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên mái gỗ. Trong
tiếng động nhẹ nhàng của hạt mưa chị nghe được cả tiếng
đập của tim mình.

Cô hé mở cánh cửa phòng giam. Hắn nhoài người ra nắm
lấy cái cổ tay tròn lẳn kéo mạnh vào trong phòng, đóng sập
cửa lại. Cả người cô lọt hỏn vào trong lòng hắn. Hắn hôn
ngấu nghiến lên miệng cô. Cô không chống cự , cô đứng
yên đợi cho hắn thao túng. Nhưng không, hắn không hành
động hung hãn như gương mặt của hắn, (gương mặt với
hàm râu quai nón đỏ như râu bắp, cô đoán có đến cả tháng
chưa cạo) Hắn dắt tay cô đẩy ngồi xuống cạnh giường, hắn
đi bật sáng tất cả các bóng điện trong phòng. Hắn quay lại
trước mặt cô. Hắn từ tốn cởi chiếc áo y tá khoác bên ngoài
của cô, gấp gọn gàng để lên giường. Sau cùng hắn tháo
chiếc giây chuyền ở cổ. Đèn trong phòng vẫn sáng trưng,
hắn đứng yên lặng thưởng thức cô với hai mắt mở lớn

không nói một tiếng nào. Hắn đứng một lúc lâu không biết
là bao nhiêu phút, hắn nhìn từ chân tóc cô xuống vầng trán,
từ trán xuống khuôn mặt, hai con mắt của hắn đọng lại ở
mắt cô, làm cô bất giác rùng mình. Cô thấy âm ấm ở bờ
vai, tê tê trên đầu vú như có bàn tay hắn đặt lên đó.

Nhưng không phải, hắn vẫn đứng cách cô một khoảng cách
và nhìn cô bằng hai con mắt thăm thẳm. Hai con mắt đó nó
không còn hung hãn nữa mà nó trong suốt như hai mảnh
gương cho cô nhìn thấy phản chiếu tất cả vẻ đẹp của mình,
cái vẻ đẹp rực rỡ thanh xuân ở tuổi ba mươi mà mấy năm
nay chỉ được chồng cô nhìn bằng tay trong bóng tối. Cái
ánh sáng lấp lánh của hai mảnh gương đó như những lưỡi
thủy tinh sắc cắt thân thể cô ra làm nhiều mảnh, rồi cũng lại
cái ánh sáng đó dịu xuống, mềm mại như một giải băng âu
yếm quấn thân thể cô liền vào với nhau như cuộn một vết
thương, làm cho cô ngây ngất như người vừa được chích
một mũi thuốc gây mê. Óc cô lâng lâng, trái tim cô nôn
nao, cồn ngực cô bồng bềnh như những mảng bông trắng
nõn đang bay lượn trong phòng. Hắn chiêm ngưỡng thân
thể cô mà không vồ vập, níu kéo.Hắn đi chung quanh chiếc
giường, bắt đầu bằng những bước từ từ, rồi nhanh dần,
nhanh dần giống như cái bóng trong chiếc đèn kéo quân
làm cô chóng mặt. Cô nhắm nghiền hai mắt lại, cô nghe
tiếng nước chảy róc rách ở phiá cái bồn tiểu bị hư, cô nhìn
thấy những viên thuốc trong chiếc lọ nhỏ lăn tứ tung trên
mặt đất, cô với tay muốn nhặt những viên thuốc thì hình
như cô lại chạm tay vào chiếc sẹo dài trên một bộ ngực rắn
chắc. Hình như cô không còn ngồi trên giường, cô đang
đứng, lưng dựa vào tường, cô nghe thấy tiếng thở thật
nhanh cuống quít vào nhau, rồi cô ngửi thấy mùi ngai ngái
của người đàn ông. Nhưng là một mùi đàn ông rất quen
thuộc. Căn phòng tối xầm lại.

Người đàn bà cầm tay chồng đặt lên ngực mình, thầm thì
vào tai anh:

Đây, đây.

Mặc dầu anh không cần nhìn bằng mắt, nhưng chị theo thói
quen bao giờ cũng đưa tận tay chồng những gì chị muốn.
Anh ngắm nghía thân thể vợ bằng bàn tay khéo léo của
mình. Anh đang chọn những phần ngon trên thân thể vợ
như anh đang chọn trái cây trong siêu thị. Vỏ mỏng của trái
cà vừa chín tới thật là tươi mát, mùi hăng hăng của củ hành
mới hái thật là quyến rũ. Đặt tay trên lưng chị, có khác nào
đặt tay trên một lá rau cải vừa được tưới nước. Cái mũi có
đầu nhòn nhọn vừa phải như một trái ớt Mễ thật khiêu gợi,
anh hôn môi vợ mà tưởng đang ăn trái anh đào tháng tám.
Cặp núm vú nhỏ xíu của chị, anh đoán khi được âu yếm nó
sẽ đỏ rực lên như mầu đỏ của trái thanh lương trà (*). Anh
nhớ đến một đoạn văn trong tiểu thuyết của Pasternak. Khi
bác sĩ Zhivago chạy vào rừng để trốn tránh đám quân
xanh, thấy những cành thanh lương trà phủ tuyết, ông nhớ
đến cánh tay trắng của Lara, ông nhìn cây thanh lương trà
kêu lên “Ôi ! Tình yêu của ta, nữ hoàng cuả ta, cây thanh
lương trà của ta.” Cây thanh lương trà này ít có người biết
đến. Trái của nó chỉ nhỏ như những viên hạt trai và có mầu
đỏ, cây của nó thì cao chứ không phải một loại bụi như
những bụi dâu khác, người ta dùng nó để làm mứt ăn bánh
mì, rất thơm ngon. Anh đã may mắn được mẹ anh cho ăn
món mứt này thời niên thiếu, lúc đó khi mắt chưa bị hỏng
hoàn toàn anh đã được thưởng thức cái vẻ đẹp của những
trái dâu tròn mầu đỏ trong tay. Bây giờ anh đang đuợc
ngậm trái thanh lương trà còn tươi trong miệng.

Hắn bị đem ra tòa án xét xử khi vết thương đã khá lành.

Tòa buộc một bản án 20 năm về tội giết vợ. Người ta
chuyển hắn đến nhà giam cho tù trọng phạm.
Một tháng sau khi hắn bị giải đi, cô y tá xin thôi việc tại
khu tạm giam Correction Center. Cô đã nhận việc mới và
người ta không biết cô dọn đi đâu.

8/01

* Thanh lương trà: Rowanberry

kịch bản

Buổi chiều đang xuống trên đảo San Juan Island, mặt trời
lấp lánh chút nắng cuối ngày trên cảng Friday Harbor.
Cảng chính để phà mang khách từ bên Seattle sang đảo cặp
bến. San Juan là một quần đảo, có những đảo nhỏ hơn vả
mỗi đảo đều có cảng cho thuyền vào như: Friday Harbor,
Orcas, Roches Harbor và nhiều đảo khác nhỏ hơn nữa.

Họ ngồi ăn trong một nhà hàng nhìn xuống cảng. Cốc rượu
rót đầy, uống cạn làm nàng choáng váng, hơi men bốc lên
tạo cho nàng cảm giác các lỗ chân lông trên da mặt mình
như mở hết ra, như nghe cả được sự chuyển động của máu
từ mặt, cổ, chảy lan xuống hai cánh tay, rồi chạy xuống tận
hai bàn tay. Nàng xòe bàn tay quơ quơ trên ngọn nến nhỏ ở
bàn ăn, nói với chồng:

Em say rồi, em phải vào vốc nước lên mặt một chút.

Em đi nổi khồng?

Được mà.

Nàng kéo ghế, đứng dậy, bước lơ mơ vào nhà vệ sinh, thấy
thân thể nhẹ hẫng. Nước lạnh vốc lên mặt giúp nàng tỉnh
táo hơn. Nàng nhìn mình trong gương thấy đồng tử trong
hai mắt mình cũng có mầu đỏ. Rượu trong người vừa đủ để
nàng lơ mơ nhưng không gục xuống. Nàng thích nhất cái
cảm giác say không say, tỉnh không tỉnh này. Người đàn bà
đứng ở bên cạnh nàng cũng đang soi gương chải lại mái
tóc. Họ nhìn nhau trong gương mỉm cười làm quen. Người
đàn bà hỏi nàng:

- Tóc tôi trông được chưa?

Nàng ngắm nghía người đàn bà một giây, rồi gật đầu.

Đẹp rồi.

Người đàn bà bỗng tỏ ra bối rối, nói hấp tấp:
Tối nay, tôi hẹn đi ăn với con riêng của vị hôn phu. Cậu ta
19 tuổi, tôi hồi hộp quá!

Con trai mười chín tuổi à? Cái tuổi đáng ngại thật! Chắc
nếu vào địa vị nàng, nàng cũng sẽ bối rối giống người đàn
bà này thôi. Bất giác nàng nhìn kỹ hơn người đàn bà trong
gương. Còn trẻ, trạc gần bốn mươi, người nhỏ bé so với các
phụ nữ Mỹ trung bình, ăn mặc hợp thời trang. Nhìn chung
toát ra vẻ dịu dàng, quyến rũ. Nàng trấn an:

Đừng lo, mười chín tuổi dễ dụ lắm. Cứ vuốt ve tự ái, khen
cậu thông minh, đẹp trai là lấy được cảm tình ngay.

Hai người đàn bà nhìn nhau cười trong gương. Khi cả hai
cùng bước ra khỏi phòng vệ sinh, nàng thấy người đàn bà
thật bối rối, bước cả lên chân nàng. Nàng nói khẽ vào tai
người đàn bà trong cái lâng lâng buông thả của rượu:

Dùng sự quyến rũ của mình mà chinh phục chú bé. Thế nào
cũng thành công.

Buổi chiều đã xuống hẳn. Nàng giục chồng đứng lên, hai
chân nàng bước chập vào nhau, anh phải đỡ ngang eo nàng.
Họ sẽ đi bộ đến rạp hát xem kịch tối nay, rồi từ rạp hát sẽ
đi bộ về chỗ Bed and Breakfast của hai người trọ không xa
lắm. Lúc ra đây ăn họ cũng đã đi bộ. Nàng có thói quen

mỗi khi du lịch đến một thành phố nhỏ nào đều rủ chồng
tìm rạp hát xem kịch của thành phố đó. Nàng nói với
chồng: Đời sống là một kịch bản mà! Chỉ cần đến xem kịch
ở một rạp hát địa phương là biết rõ đời sống ở đó như thế
nào. Cách họ chọn kịch bản và kịch sĩ từ xa đến hay những
vở kịch của địa phương trình diễn, đều nói lên được đời
sống của dân cư nơi đó.

Nàng vừa bước lơ mơ vừa kể lại cho chồng nghe chuyện
người đàn bà trong phòng vệ sinh bối rối với con riêng của
vị hôn phu mình như thế nào. Chồng nàng cười bảo:

Chắc ông ta làm chủ một trong những cái du thuyền ở cảng
Roches Harbor hôm qua mình mới ghé chứ gì.

Chỉ có thế mới làm bà ta bối rối quá vậy.

Nàng hình dung lại cảng Roches Harbor với những chiếc
du thuyền cao ngất ngưởng, trắng toát, sạch bong xếp hàng
đậu kín truớc cửa cảng, chúng phô hết vẻ đẹp của sự giầu
sang trên từng cột buồm, bánh lái, và những sợi giây bện.
Những chiếc du thuyền của các nhà triệu phú rủ nhau ghé
về đậu trên cảng này, một hải cảng khuất gió được bao bọc
bởi những hòn đảo nhỏ chung quanh. Những nhà tư bản di
chuyển từ Seattle đến chỗ du thuyền đậu bằng những máy
bay cá nhân.

Ừ nhỉ, có thế mà sao nàng không nghĩ ra. Mỗi chiếc du
thuyền đó giá bốn, năm triệu một cái, người làm chủ nó
chắc phải có gấp năm, bẩy lần hay hơn nữa số tiền đó. Bà
ấy lo lắng không chinh phục được chú bé cũng là sự tự
nhiên thôi.

Họ đi trong bóng tối của hòn đảo. Ở đây không có đèn

đuờng, dân đảo ở rải rác nhà cách xa nhau. Họ lạc hai, ba
lần rẽ, nàng níu chặt tay chồng không dám bỏ ra, trách anh
không chịu lái xe, rủ nàng đi bộ để bây giờ hơi sợ vì trời tối
mà cả đảo đã đi ngủ. Bất giác trong cái nhá nhem giữa ngày
và đêm, nàng cúi nhìn bốn bàn chân đi cạnh nhau. Hai
chiếc giầy rất to của anh và hai chiếc giầy nhỏ xíu của
nàng.Trong choáng váng của hơi men còn hừng hực nàng
bỗng quay đầu nhìn lại biển, hỏi mình. Ô hay sao mình lại
ở tận hòn đảo xa xôi này nhỉ? Một người đàn bà Việt sanh
ra ở dất nước tít mù khơi đó sao tối nay lại có mặt chốn
này? Sao nàng lại đi cạnh anh? Không phải là một người
đàn ông Việt, mà nàng đã đi với anh trong ba mươi năm rồi
cơ, nào có ngắn ngủi gì? Và nàng còn đi với anh bao lâu
nữa? Chắc cuối đường, chắc ở ngã rẽ tử sinh. Lạ thật nhỉ?
Tại sao chuyện này lại có thật được nhỉ. Không biết rượu
hỏi hay nàng hỏi. Nhưng đích thực là những câu hỏi không
có câu trả lời. Có ai ép buộc nàng đâu? Đôi khi nàng thấy
đời sống như một vở kịch, Thượng Đế viết ra những
Scienario khác nhau rồi trao cho mỗi người một bản. Diễn
kịch ở đâu? Đóng vai nào? Đã có sẵn rồi, không có quyền
chọn lựa. Có khác chăng ở kịch, có người chuyên đóng đào
thương, có người chuyên đóng vai hài, còn ở đời sống,
Thượng Đế đôi khi cho con người đóng cả hai vai trong
một lúc. Nàng đi theo tay dắt của chồng, như đi theo tay dắt
của định mệnh (Cứ nói thế đi cho nó có vẻ văn chương mà
mình lại không bị trách nhiệm) Nàng nghe anh nói chuyện;
nói bông lơn, so sánh những chiếc du thuyền đắt tiền với
cái xe truck cũ vài ngàn bạc anh vừa mới mua, hình như
anh nói cái xe của anh đẹp và hữu ích hơn vì nếu có người
đàn bà nào muốn lấy anh bây giờ, chắc sẽ không phải bối
rối với mấy đứa con của anh. Nàng cứ bước theo anh, nghe
tiếng anh cười trộn vào những suy nghĩ riêng trong đầu
khiến cho câu chuyện của anh cũng chập chờn say tỉnh.
Thỉnh thoảng nàng hỏi anh một câu, nhưng nàng không nhớ

rõ câu trả lời. Có phải nàng đã hỏi như thế trong mấy chục
năm nay, và những câu trả lời nghe yên tâm nhất vẫn
thường thường là của chính nàng. Họ kéo nhau đi lạc mấy
vòng trong bóng đêm của hải đảo. Nhưng cuối cùng họ
cũng tìm được đến rạp hát.

Tuần lễ này đúng vào dịp Friday Harbor giới thiệu những
thành quả nghệ thuật mùa hè. Quầy rượu và bánh ngọt bận
rộn với khách đến xem kịch. Nàng đi len lỏi cúi xuống xem
những sản phẩm đồ gốm, ngước xem những tranh vẽ trên
tường được trưng bầy phía ngoài rạp hát. Chồng nàng đem
đến một ly rượu trắng cài vào giữa những ngón tay nàng.

Em chưa đủ say hay sao? Nàng tròn xoe mắt hỏi.

Vacation mà, không sao đâu!

Nàng ngửa cổ uống một hớp rượu, uống cả cái không khí
lâng lâng buổi tối của hòn đảo nhỏ vào lồng ngực. Họ cầm
cả hai ly rượu vào trong rạp hát. Tỉnh nhỏ thật là thú vị.
Muốn làm gì thì làm, những người chung quanh nàng hình
như ai cũng dễ dàng, cũng mỉm cười với nàng. Nàng thấy
những nụ cười của họ lấp lánh, sóng sánh trong đáy cốc.

Trên sân khấu đạo diễn đang giới thiệu những diễn viên của
đảo San Juan đã được tuyển chọn, những diễn viên này mới
xuất hiện lần đầu trên sân khấu.Theo lời đạo diễn, khán giả
sẽ thấy họ diễn xuất thật tuyệt vời, không kém gì những
diễn viên ở những sân khấu Nữu Ước.

Nàng vừa nhâm nhi ly rượu vừa xem kịch.

Thiếu phụ đóng vai bà mẹ kế tương lai rất bối rối, rất hay.
Người đàn ông nàng sắp lấy là một triệu phú, con riêng của

chồng là một cậu chưa bước vào tuổi hai mươi, thật khó
chịu. Bà phải chìu chuộng hết mình vẫn không lấy được
cảm tình của cậu. Cuối cùng người đàn bà đó phải đem
nhan sắc chín muồi của mình ra chinh phục con chồng như
chinh phục tình nhân. Kết quả cả hai cha con cùng yêu một
người đàn bà. Đoạn kết bỏ lửng, tùy khán giả kết thúc.

Hai người bước ra khỏi rạp hát. Uống hai ly rượu trong một
buổi chiều làm nàng say khướt nhưng nàng cũng nhớ mang
máng khuôn mặt người đàn bà đóng vai bà mẹ kế tương lai.
Hình như nàng có gặp ở đâu rồi. Nàng hỏi chồng:

Anh có thấy nữ diễn viên đó quen không? Hình như mình
có xem bà ta trước đây.

Anh nói ngay:

Không đâu.

Nàng quả quyết:

Quen, quen lắm! Nhất định là em có xem bà ta ở đâu rồi.

Và nàng cố nhớ. Nhưng đầu óc nàng bây giờ lơ mơ quá,
chẳng cho nàng một cái gì thật rõ nét. Bỗng nghe anh nói:

Hay là, hay là, đó là người đàn bà em gặp trong nhà vệ sinh
ở tiệm ăn?

Nàng ngẩn người ra:

- Đúng rồi anh ơi! Anh thông minh thật. Đúng là cô ta rồi.
Cô ta đã diễn kịch ngay với em. Và em cũng đã đóng một
vai phụ xuất sắc. Chẳng lẽ ...chẳng lẽ...

Nàng vừa nói, vừa dựa hẳn vào chồng. Vì còn say nên
đoạn đường từ rạp hát về chỗ trọ chỉ có ba ngã tư mà nàng
thấy dài vô tận. Nàng đi theo cánh tay anh kéo, đầu óc lâng
lâng. Bất giác như ngộ ra điều gì, nàng tỉnh hẳn rượu, nói:

À người ta có thể đóng kịch ngay trong đời sống, hay người
ta có thể đem đời sống vào trong kịch.

Chồng nàng nghe không rõ hỏi lại:

Em vừa nói gì thế?

Không có câu trả lời.

Đêm mùa hè trên đảo, đầy gió!

Tháng 9/06

một nửa người đàn ông

Cô chăm chú sửa lại bản thảo của cuốn tiểu thuyết một lần
chót trước khi mang sang nhà in. Làm công việc sửa đổi
văn chương bản thảo cho nhà xuất bản, không lúc nào mà
cô rảnh rỗi được. Trong tháng này có năm cuốn truyện dài
sẽ được in, và cả năm cuốn đều là sách của tác giả có sách
xuất bản lần đầu.

Cô nghe tiếng gõ cửa, rồi chiếc đầu của người tùy phái ló
vào:

Thưa cô, có một bà muốn gặp cô.

Ai vậy, ông có hỏi tên hộ tôi không?

Tôi có hỏi, bà ấy nói tên là Lan.

Cô cố nhớ tên của các tác giả mới trong đầu. Không có ai là
Lan cả, họ đều là phái nam. Cô nói với người tùy phái:

Ông mời hộ bà Lan vào văn phòng ngoài đó, tôi sẽ ra.

Cũng sắp đến giờ tôi đi ăn trưa rồi.

Đợi cho người tùy phái khuất sau cánh cửa, cô quay điện
thoại gọi anh:

Hôm nay em muốn đi ăn mì ở Hải Ninh, em sẽ đến đó độ
20 phút nữa, em có một người khách đang chờ. Nhưng em
sẽ tiếp họ năm phút thôi.

Người đàn bà khoảng ngoài bốn mươi, ăn mặc giản dị
nhưng lịch sự, nét mặt khô nhưng trí thức. Bà ta ngồi yên,
không đứng lên khi cô xuất hiện. Cặp chân mày hơi cau lại
một chút, bà chờ cô tự giới thiệu trước.

Cô hơi khựng lại một giây,nhưng tự chủ được ngay, cô
quen với những người đến gặp cô để nhờ vả, nên cô hỏi với
giọng không được vồn vã lắm:

Tôi là Tâm, bà cần gặp tôi có việc gì?

Người đàn bà nhìn thẳng vào mặt cô, nói chậm và ngắn.

Tôi là vợ của ông Minh.

Cô đứng lặng, nghe như có một đường nước mưa lạnh vừa
chẩy từ cổ áo xuống lưng. Cô biết chuyện này rồi thế nào
cũng đến, nhưng cô không thể đoán trước là nó đến vào
buổi trưa hôm nay. Cô biết rất rõ mình phải nói gì với bà
Lan. Cô lấy lại bình tĩnh, kéo một chiếc ghế ngồi đối diện
với vợ của người yêu mình (hay người mình yêu, cũng thế.)

Cô ngồi yên, thở một hơi thật sâu, quan sát một bà vợ. Vợ
của người đàn ông mình đang liên hệ. Cô muốn biết chắc
người đàn bà này sẽ hiểu những điều mình sắp nói.

Cô đi thẳng vào vấn đề hộ người đàn bà:

Chắc bà đến đây để cho tôi biết là anh Minh đã có gia đình.
Thưa bà, tôi biết điều này đã lâu, và không bao giờ tôi có ý
định kéo anh Minh ra khỏi gia đình của anh ấy.” Cô nói
luôn một hơi dài.

Người đàn bà ngạc nhiên về sự bình tĩnh của cô, bà ngẩn ra
một lúc ngắm tình địch của mình. Trước mặt bà là một phụ
nữ trẻ (chắc chỉ lớn hơn con gái lớn của bà bốn, năm tuổi.)
Hai con mắt sáng trên một khuôn mặt nhỏ, cắt tóc ngắn,
mặt không phấn chỉ thoa một chút son mầu san hô nhạt,
cùng mầu với chiếc sơ mi, chiếc quần jeans đen sát vào
người, cô hơi gầy. Cả người cô toát ra vẻ vừa thông minh
vừa bướng bỉnh. Bà tự hỏi: “Cái vẻ nào của người con gái
này đã quyến rũ chồng mình?”.

Bà hỏi lại với giọng hơi ngập ngừng:

Cô không bao giờ có ý định kéo anh Minh ra khỏi gia đình
của anh ấy thì tại sao cô đi lại với anh ấy cả hai năm nay,
có điều gì bảo đảm là cô sẽ không lấy anh ấy một ngày gần
đây?

Cô điềm đạm:

Thưa bà đã hai năm nay, từ khi anh Minh có liên hệ với tôi,
ngày nào anh Minh cũng có mặt ở nhà một bữa ăn. Hôm thì
về ăn trưa, hôm thì ăn cơm chiều, buổi tối, anh Minh ngủ ở
nhà, lương đem về không thiếu một đồng. Như thế không
chứng tỏ được là tôi sẽ chẳng bao giờ muốn chiếm đoạt anh
ấy của bà hay sao?

Người đàn bà ngẩn ra vài giây trước lý luận lạ lùng của cô.
Bà ta chưa biết phải nói gì thì cô đã tiếp, cô nói như cô
đang tâm sự với một người bạn thân hay có thể cô đang viết
một trang tiểu thuyết thì cũng thế.

Xin bà cứ an tâm. Anh Minh kết bạn với tôi là một sự an
toàn cho hạnh phúc gia đình của bà. Thú thực với bà, tôi đã

hơn ba mươi tuổi. Nhưng không bao giờ tôi có tư tưởng
muốn lệ thuộc, hay muốn làm sở hữu chủ nguyên một
người đàn ông. Tôi xin lỗi bà khi phải nói điều này. Tôi
không hiểu được tại sao phần đông những người đàn bà
trên mặt đất này lại có thể đặt mình lệ thuộc vào một người
đàn ông nguyên một ngày, rồi những ngày đó kéo ra cả
suốt đời mình. Hay có người đàn bà muốn làm chủ một
người đàn ông như làm chủ một ngôi nhà, một cái thuyền,
một chiếc xe. Rồi khi không ưng ý cũng không làm sao mà
đem cầm, đem bán đi được như cái xe, như ngôi nhà. Đành
đợi đến ngày họ chết mới đem chôn xuống đất. Tôi chỉ có
thể ăn một bữa trưa với anh Minh, hoặc một bữa chiều, gặp
mặt vài tiếng trong một ngày. Nếu bây giờ anh Minh đòi
hỏi tôi phải là của anh ấy 24 giờ trong một ngày, phải buộc
vào một tờ văn tự như giấy chủ quyền động sản, hay bất
động sản, thì chắc chắn là tôi sẽ chấm dứt sự liên hệ lập
tức. Bà không mất mát gì cả. Anh Minh là người đàn ông
đào hoa, anh ấy không có tôi, anh ấy sẽ đi với người khác.
Lúc đó bà mới nên lo ngại. Nếu tôi không có anh Minh, dĩ
nhiên cũng rất nhiều người đàn ông khác muốn đến làm
bạn với tôi. Vì họ biết tôi không bắt họ cưới hỏi, không lệ
thuộc vào họ, cũng không muốn làm chủ họ, tôi không
nhận quà tặng, khi đi ăn, đi chơi thì tôi cũng thay phiên trả
tiền.

Người đàn bà ngắt lời cô bằng một cái khoát tay, trước khi
nói:

Thế cô cho là cô chỉ gặp anh Minh có mấy tiếng một ngày,
không phải là chiếm đoạt hay sao ?

Thưa bà, tôi xin hỏi lại. Trong một ngày của bà, bà nghĩ
đến bà bao nhiêu tiếng? Bà nghĩ đến anh Minh bao nhiêu
tiếng? Chúng ta, ai cũng có thế giới riêng của mình, và ai

trong một lúc nào đó chắc cũng muốn người khác để cho
mình được yên thân. Những lúc bà không cần có anh Minh
bên cạnh, thì việc anh ấy đi đâu và làm gì có quan trọng
lắm không? Tôi biết bà đang nghĩ gì trong đầu. Chắc bà
cho tôi là một người mất thăng bằng. Hay có thể là bà cho
tôi đang tìm cách lừa bà, để một ngày nào đó tôi sẽ chiếm
đoạt nguyên cả anh Minh. Không, không bao giờ tôi cần
nguyên một người đàn ông cả, tôi chỉ cần một nửa thôi. Có
nhiều người phải uống nguyên một ly trà mới thấy vị ngon,
phải ăn nguyên một trái táo mới hài lòng, phải đến được
chân núi, hay trèo lên đỉnh núi để thưởng thức thì mới mãn
nguyện, sông thì phải đi hết dòng mới thỏa chí, phải được
lấy nguyên một ông chồng và được gọi là vợ thì mới cho là
sung sướng. Tôi thì trà uống một ngụm, táo cắn một
miếng, núi nhìn một góc, sông yêu một khúc, đàn ông
hưởng một nửa. Suốt đời chỉ là người tình thì cũng đã thấy
mình dư thừa hạnh phúc. Bà cứ an lòng ra về.

Người đàn kéo ghế đứng lên, bà thấy không cần phải nghe
thêm nữa. Bà biết có nói gì cũng vô ích. Minh sẽ không bao
giờ buông được người con gái đầy quyến rũ lạ lùng mà
không ai phải cưu mang này. Và cô ta là người sống với
những sản phẩm của tưởng tượng đó thì cũng sẽ chẳng bao
giờ muốn thế chỗ của bà. Bà ra về. Họ không chào nhau.
Nhưng người tình đứng nhìn theo cho đến lúc cái bóng của
người vợ khuất ở một ngã rẽ.

Bà không an lòng chút nào như lời khuyên của cô. Bà vừa
đi vừa nghĩ về những câu nói của tình địch, bà phân vân tự
hỏi. Cô ta là nhà văn, cô làm việc cả ngày với chữ, là
những tưởng tượng của riêng cô và của thiên hạ trộn chung
vào với nhau. Những điều cô nói ra là mặt thật của đời
sống, hay chỉ là một chương sách cô vừa đọc hoặc cô sắp
viết? Nhưng thật hay không, đời sống hay tiểu thuyết,

những lời đó làm bà phải lưu ý. Gần ba chục năm nay tại
sao bà lại để mình lệ thuộc vào nguyên một người đàn ông
như thế? Nếu bà biết sớm suy nghĩ như cô ta, chỉ cần giữ
một nửa thôi, thì cuộc sống sẽ thanh thản biết bao !

Cô đổi ý định ra ngoài ăn trưa, cô nhờ người tùy phái ra
mua thức ăn đem về sở. Cô gác ống điện thọai ra ngoài.
Một nửa người đàn ông hôm nay cô cũng không thấy hấp
dẫn nữa.

9/01

ngựa hoang

Người đàn bà giắt Lâm đi qua một cái sân cỏ khá rộng.
Mùa đông hãy còn để dấu vết trên lối đi. Cỏ ẩm ướt và
cành khô còn ngang dọc, thỉnh thoảng người đàn bà lại
giẫm bừa lên, tiếng cành gẫy dòn tan dưới đôi giầy da cao
cổ, cả hai dừng lại trước một chuồng ngựa trống. Người
đàn bà khẽ nghiêng đầu, cong môi huýt nhẹ một tiếng sáo.
Lâm nghe thấy tiếng vó ngựa gõ trên mặt đất, rồi không
biết từ đâu một con ngựa lừng lững hiện ra. Trước mặt Lâm
là một con ngựa ô đẹp tuyệt vời. Lông nó ngắn ôm sát vào
thân hình lực lưỡng, chiếc bờm dựng thẳng , bụng thon,
mông cong, bốn chân đẹp như bốn thân cây giang trồng
vững chãi trên mặt đất. Hai con mắt dài thuôn hình lá, đen
bóng ướt rượt, đuôi nó rất dầy và dài gần chấm đất. Nó tiến
đến sát bên chủ.

Người đàn bà đặt bàn tay lên mình ngựa, bàn tay với những
sợi gân và mầu da sẫm nắng gió. Bà vỗ vỗ lên lưng nó, nói:

- Thưa ông, vâng chính nó đây. Tên nó là Black Sand, Jr.
Nó là con ngựa quý nhất của thành phố này, không thể tìm
đâu được một con thứ hai nào nữa. Cha của nó là Black
Sand, Sr. đã chết ở tuổi già. Chúng tôi chỉ có nó là con
ngựa giống duy nhất. Người ở đây cũng định gây lại cái
giống này. Nhưng xem chừng không phải dễ.

- Tại sao vậy ? Lâm tò mò hỏi.

Người đàn bà ngập ngừng một giây.

- Vì chính tôi không muốn cho mượn giống.

Cả hai cùng im lặng. Hình như chung quanh đây các tiếng
động đều im lặng. Bãi đất rộng, hoang vắng như không
được dùng đến lâu ngày, hàng rào chung quanh bãi xiêu
vẹo, đứng không vững như người lớn tuổi. Cây cỏ trong
vườn không mọc thứ tự, thỉnh thoảng lại có một đống cỏ
khô phơi mục dưới thời tiết của mùa đông vừa đi qua, chiếc
chuồng ngựa có đến mười gian, chỉ còn một con duy nhất.
Thế mà bây giờ chủ nhân nó sắp giao vào tay Lâm. Người
đàn bà như đọc được trong mắt Lâm những điều chàng
đang nghĩ. Bà dắt ngựa vào lại trong chuồng, cho một ít
thức ăn vào máng, đóng cửa chuồng lại, rồi mời khách lên
nhà.

Chị khóa khóa cửa lại cẩn thận rồi mới sửa soạn cho con đi
ngủ. Ba mẹ con nằm chung một giường. Nhà không có máy
truyền hình nên chuyện đi ngủ sớm cũng không khó lắm.
Chị khóa cửa lại cẩn thận rồi mới sửa soạn cho con đi ngủ.
Sáng mai chị phải dậy thật sớm, đem hai đứa nhỏ đi gửi,
người giữ trẻ sẽ đem hai con nàng đến trường lúc chín giờ,
và sẽ đón chúng ở trường về. Chị sẽ đón con khi ở hãng ra
lúc năm giờ chiều.

Đời sống của bà mẹ độc thân không phải dễ. Hoàn cảnh của
mẹ con chị còn khó khăn hơn. Trong ba năm nay chị phải
đem con đi vào núi ở, họ chạy trốn người đàn ông làm chủ
gia đình. Lúc mới đem con vào núi chị không biết làm gì
ngoài việc đi chăn ngựa thuê. Chị học được một đời sống
khác, ngoài đời sống của loài người. Chị thuộc tính nết của
từng con ngựa trong đàn ngựa chín con người chủ trại giao
cho chị. Mỗi con cũng có một cá tính riêng. Có con điềm
đạm chậm chạp như một nhà hiền triết, có con lúc nào cũng
muốn lồng lên với đời sống, có con không hiền không dữ
nhưng chỉ muốn đứng một mình, có con thì phải làm cho

nó nổi giận nó mới chịu ganh đua. Tất cả những điều này
thì có khác gì loài người lắm đâu. Chỉ có một điều duy nhất
là chị thấy ngựa thuộc giống nào cũng giống nhau ở một
điểm chung thủy với chủ và nhớ chuồng của nó. Chị đã
chứng kiến một con bạch mã thật đẹp còn đang sung sức,
thế mà nó chết trong vòng mười ngày, sau khi người chủ
già của nó qua đời . Nó nhịn đói cho đến chết. Chị cũng đã
khóc biết bao nhiêu nước mắt khi nhìn nó lả dần trong tay
chị.

Rồi ở một trang trại khác, có con ngựa đã bán đi thật xa vẫn
tìm đường về. Cứ thế hai, ba lần. Cuối cùng người chủ phải
trả tiền lại cho người mua. Chị nhớ cứ mỗi lần nó bị bán đi
chị lại hồi hộp, mong ngóng từng ngày. Lần đầu thật bất
ngờ sau hai hôm bán nó. Buổi sáng chị còn nằm trên
giường, chị nghe một tiếng hí nhẹ trước hiên nhà, rồi tiếng
móng quen thuộc gõ gõ trên mặt đất. Chị biết ngay là nó.
Lần thứ hai, người chủ lại bán nó đi (vì giá nó cao). Nó lại
tìm về vào lúc mặt trời vừa lặn, lúc chị đang cho những con
khác vào chuồng, nó lặng lẽ nối đuôi theo vào. Và lần thứ
ba, khi trở về, nó không tìm đến chị nữa, nó tìm đến ông
chủ của nó ngay ngoài cánh đồng cỏ. Nó đến sát bên ông,
cọ chiếc mõm còn lấm tấm những giọt mồ hôi vào tay ông.
Nó chính là con Black Sand, Sr.

Từ đó, ngoài hai đứa con, chị gắn bó đời mình vào những
con ngựa. Nhiều đêm chị trăn trở suy nghĩ giữa người
chồng của chị và những con ngựa. Chị và hai đứa con đã
phải sống ẩn vào giữa những dẫy núi, giữa những đàn
ngựa, đi thật xa phố thị văn minh, để tránh một người
chồng mang trên lưng hai ba chứng chỉ cao học và bệnh
nghiện rượu. Đang là một người có công việc làm của
những nhà khoa bảng, anh trở thành thất nghiệp vì bệnh
nghiền rượu. Hai đứa bé nhiều lần nhìn thấy cha đập phá

nhà cửa trong cơn say, chúng trở thành những đứa trẻ
mang bệnh sợ hãi. Và chị lúc nào cũng sống trong trạng
thái căng thẳng. Cái đáng thương nhất là anh rất yêu vợ
con. Khi không có rượu thì anh đi tìm họ bất cứ họ trốn ở
đâu, và anh không chịu ly dị. Anh chỉ như con ngựa nhớ về
tầu và chủ cũ khi tỉnh rượu lúc tàn canh. Con ngựa hơn anh
ở chỗ nó không biết uống rượu, nên khi quay về nó vẫn
được thương yêu. Chị ứa nước mắt đêm đêm, ước ao anh
biến thành con ngựa.

Để trốn tránh người chồng, chị đã đi làm ở những trang trại
khác nhau trong miền núi. Và cuối cùng thì chính chị cũng
được làm chủ một con ngựa. Chị đem hai con và Black
Sand về ngôi làng Frenh Town ở Missoula sống. Chị tìm
được một việc làm cho xưởng làm giấy với đồng lương rất
thấp. Người chú ruột độc thân của chị ở Trout Creek hàng
tháng phải bù đắp cho mẹ con chị bằng tiền dậy học của
ông.

Công việc của chị là những buổi sáng thật sớm. Khi gỗ
được đóng bè trôi về trên sông Blackfoot, lúc rẽ vào khúc
quành của hãng giấy thì chị sẽ theo những người thợ vớt gỗ
lên bờ, kiểm tra số gỗ. Vào mùa đông thì chị hoàn toàn
sống vào đồng lương chăn ngựa, vì lúc đó gỗ không về. Gỗ
đã được dự trữ trong suốt mùa hè. Mỗi lần nhận việc cho
một chủ trại ngựa mới, chị cũng xin được đem con Black
Sand đến trại ở cùng với mẹ con chị. Bất cứ ông chủ ngựa
nào nhìn thấy nó cũng không nỡ từ chối. Ngoài cái khỏe
mạnh của một con ngựa núi, ngựa giống, nó còn hội đủ
điều kiện của một con ngựa đẹp. Trông nó như một người
đàn ông nghệ sĩ , hào phóng và đa tình (biết uống rượu
nhưng không nghiện). Hai đứa con của chị thì coi nó như
một người bạn thân, ở trường về chúng quanh quẩn suốt
ngày với nó, chỉ tiếc con Black Sand không có cái vốn chữ

nghĩa nào để dậy các con chị làm bài vở ở trường thay cha
chúng.

Khi chị nói đem con đến làm ở một trang trại khác thì ông
Tom, người chủ trại nơi chị đã ở được sáu tháng nay, ngỏ
lời cầu hôn với chị. Ông cầm hai bàn tay thô nhám của chị
nói:

- Một trong những lý do tôi muốn lấy em, là cả em và con
Black Sand đều khó tìm thấy ở đâu vào thời buổi này. Cả
hai điều hoang dã, hiếm và quý. Chuyện em cứ phải đem
con trốn vào những dẫy núi để tránh xa người chồng nghiện
ngập và chuyện con Black Sand ba lần bán đi vẫn tìm
đường về làm cho tôi cảm động.

Ngừng một lát, ông nói tiếp:

- Tôi hy vọng cái đời sống giản dị chỉ có săn bắn, câu cá và
chăn ngựa của tôi sẽ giúp em ở mãi nơi này. Em sẽ không
phải dời đổi nữa. Người chồng khoa bảng của em, biết em
lấy một anh chăn ngựa thì chắc sẽ không làm khó dễ gì.

Mà thật, khi biết chị lấy Tom, người chồng cũ không còn
tìm kiếm nữa, anh ta đã nhắn với người chú của chị là anh
bằng lòng ký giấy ly dị, để cho chị có một đời ở yên trong
núi. Từ đó chị không đi làm cho hãng giấy nữa. Chị giúp
người chồng mới trong việc chăn ngựa, săn bắn và câu cá.
Họ có một đàn ngựa muời hai con, một chiếc thuyền máy
và một xe vận tải nhẹ. Mùa hè, mùa săn thì họ mang
thuyền, mang súng đi câu, đi săn. Cá, thịt nai, thịt hoẵng và
gà rừng chị bán cho những gia đình lân cận và những trại
ngựa khác ở xa. Ông Tôm rất giỏi trong việc gây giống
ngựa, nên họ kiếm đủ sống. Đặc biệt là con Black Sand ông
chỉ cho đi giống một lần. Ông bảo:

Nó nguyên thủy là ngựa hoang, mà lại là con ngựa quý tôi
không muốn có nhiều phó bản.

Chị sống êm đềm, bình thản với người chồng mới và bầy
ngựa. Hai đứa bé được gửi lên tỉnh học, cuối tuần mới về
nhà. Thỉnh thoảng chúng được cha đón về bên nội cho
được tiếp thụ đời sống văn minh của những đô thị lớn. Chị
đã quên hết những đoạn thơ óng ả mà thuở mới yêu nhau
người chồng trí thức đọc cho chị nghe, chị quên cái cảm
giác êm ái khi đặt tay vào một vạt áo lụa, những buổi tối
ăn mặc diêm dúa đi nghe hòa nhạc của cái xã hội trung lưu.
Chị không tiếc rẻ. Tất cả những cái phù phiếm đó đã bốc
theo men rượu tan đi lâu lắm rồi.

Bây giờ hạnh phúc của chị là một khoang thuyền nhỏ với
những vẩy bạc lấp lánh của cá, một thùng xe với hai con
nai và dăm con gà rừng, hay hạnh phúc là được nhịn đói
nguyên ngày, ngồi ở trong chuồng ngựa để chờ đỡ một chú
ngựa con sắp chào đời. Chị thoải mái với cái quần jeans
bạc phếch đã nhiều năm nay và quen với mùi mồ hôi có
pha mùi ngựa, mùi cỏ của cả hai vợ chồng.

Chị ở với ông Tom được bẩy năm. Ông mất vì một cơn
cảm lạnh sau khi đi săn về. Chị cứ ân hận mãi là hôm đó
không cùng đi săn với chồng. Chị sẽ không cho ông ngồi
nán lại trong mưa. Ông Tom là một người thợ săn rất kiên
nhẫn. Khi biết đích xác là con mồi sẽ đi vào khu đó, ông có
thể ngồi đợi nguyên ngày, bất chấp mưa lạnh.Ông mất
được ba măm, chị biết là sức một mình không thể nào làm
hết được công việc của ông. Chị bán thuyền, bán xe và bán
dần dần những con ngựa. Mỗi một thứ bán đi mang theo nó
một mảnh linh hồn của chị, nhất là những con ngựa. Chúng
đã chẩy nước mắt chia tay với chị, chị đứng nhìn theo

những cái đầu ngựa ngoái nhìn chuồng cũ mà hai chân
mình muốn khuỵu xuống.

Bây giờ đến phiên con Black Sand, Jr. Chị đã phỏng vấn
năm người đến mua ngựa. Chị muốn nó được vào tay người
chủ nào biết thương yêu nó, và cũng biết yêu đời sống
hoang dã như nó. Nó là nòi giống của một loại ngựa hoang
quý, nó phải được sống ở gần núi. Người ta không thể mua
nó về rồi huấn luyện nó thành con ngựa ở trường đua như
những con ngựa khác. Mặc dầu chị biết nó là một con ngựa
rất thông minh, nó có thể học phóng rất nhanh. Nhưng thật
là tội nghiệp, nếu một con ngựa núi hoang mà bị phóng
giữa tiếng reo hò và những đồng bạc tung ra.

Lâm đón ly nước trà ở bàn tay bà chủ con Black Sand, jr.
Anh nhấp một ngụm, vị trà rất lạ. Anh không hỏi nhưng
đoán là trà trồng ở miền núi. Bà chủ nhà rất tinh ý, nhìn
khách nói:

- Vâng, trà hái ở trên núi. Còn sót lại sau những lần chúng
tôi đi săn.

Bà ngừng một lúc đợi cho Lâm uống hết tách trà:

- Thưa ông, đó là tất cả những điều ông muốn biết về con
ngựa này. Chuyện của nó là chính chuyện của tôi. Chúng
tôi là những phần tử nhỏ nhoi còn sót lại và không có phó
bản. Cả hai chúng tôi đều cần đến một người chủ biết yêu
thương và chấp nhận cái hoang dã của mình. Xin ông đừng
bắt nó sống xa núi, đừng buộc nó vào một sợi cương. Đó là
tất cả những gì tôi đòi hỏi cho nó ở một người chủ mới.

(1990)

French Town near by Missoula.
Blackfoot river in Missoula
Missoula & Trout Creek ( Montana)

đứa con

Gió lùa qua cửa sổ, lật nhẹ tấm chăn đang đắp trên người
A Sây. Thằng bé đang nằm co trên tấm ván ngủ trưa. Mùa
đông ở Bắc Kinh thật là lạnh.Người mẹ kéo chăn đắp lại
cho con. Cái cửa sổ cũ kỹ lúc nào hai cánh cũng như muốn
rơi ra, suốt buổi sáng chị đóng đi, đóng lại cả bao nhiêu lần
rồi, chị có lấy sợi dây buộc lại, mà nó vẫn cứ tung ra. Chắc
lại con bé đó đến phá, chứ còn ai vào đây nữa.

Con bé độ sáu, bảy tuổi, nhà nó chắc cũng không xa lắm,
nên nó hay đến nhà chị chơi. Nó muốn đến lúc nào thì đến.
Sáng sớm tinh mơ khi chị vừa mở cửa ra quyét sân, hay trời
chập choạng tối, khi chị ra xem lại cửa ngõ. Lúc nào nó
cũng đói, nhà chị cũng đâu dư ăn, chị phải chia một phần
ăn của A Sây cho nó. Chị hỏi nó nhà ở đâu, thì nó chỉ tay ra
ngoài đường, chị chẳng biết hướng nào. Nó nói tên nó là A
Múi. Hỏi tên cha mẹ, nó không biết. Thường con nít ở tuổi
này không biết tên cha mẹ, nên chị không hỏi nữa. Nó và A
Sây rất hạp với nhau. Thằng bé lên năm không bao giờ thấy
ganh tỵ hay ghen ghét khi mẹ chia phần ăn của mình cho
con bé.

Người đàn bà khoảng sáu mươi, đội một chiếc khăn đen cũ,
trùm ra phía trước, che gần hết nửa mặt. Bà ta từ lúc vào
nhà không nói một câu nào, bà tự kéo cho mình chiếc ghế
đẩu ra ngồi ở một góc phòng. Đó là A Phồ. Cả làng này hầu
như những bà mẹ trẻ điều cần đến bà ta.

Trong chiếc phòng nhỏ, tối đen, còn hôi mùi thuốc Bắc,
người mẹ vạch vú ra cho con bú. Người bố đứng bên cạnh
bồn chồn, chân tay anh thừa thãi không biết cất vào đâu.

Cái trán hẹp của anh cau lại, những vết nhăn hằn sâu
xuống, hai bên má anh hóp vào, nhưng cằm anh lại bạnh ra
như anh đang nghiến răng cắn một miếng gì rất cứng trong
miệng. Anh đứng nhìn vợ cho con bú, thỉnh thoảng lại đưa
tay ra muốn bế lấy đứa bé, nhưng thấy vợ vẫn cúi xuống
ôm chặt con, anh lại co tay vào.

Căn buồng im phắc, chỉ nghe thấy tiếng thở của những lá
phổi lép xẹp.

A Phồ cởi chiếc khăn trùm đầu ra, giũ một cái, xong lại đội
lên đầu. Đó là thói quen của bà trước khi bắt tay vào việc.
Bà làm công việc này mười năm, mười sáu năm nay rồi, bà
biết phần đông thân chủ của bà đợi cho bà làm hành động
cuối cùng. Bà đứng lên đi vào buồng sản phụ.

Căn buồng tối như bưng, nhưng bà biết rất rõ vị trí của
chiếc giường. Bà đi thẳng đến, lạnh lùng cúi xuống xốc
đứa bé ra khỏi tay người mẹ. Người mẹ không giằng lại,
hai cánh tay chị mền nhũn ra, rồi cả thân thể chị rũ xuống
như một chiếc chăn mục. Người bố chạy a lại vừa lúc giơ
tay đỡ người mẹ ngã xuống, anh nhìn theo người đàn bà ôm
đứa bé bước ra như một cơn gió.

A Phồ đem đứa bé về nhà mình, đặt đứa bé vào một cái
chậu. Bà đi nhóm lửa hâm một chén cháo ăn cho ấm bụng.
Bà nghĩ đến những khoảng đất trống ở sau những ngôi
chùa. Khu nào còn chỗ, khu nào không, hình như khu nào
cũng đã kín cả rồi. Chắc lần này phải đem ra bãi đất cạnh
bờ sông.

Ăn xong bát cháo, A Phồ ra đổ nước tắm cho đứa bé. Đứa
bé được ngâm trong nước với nguyên cả quần áo và khăn
quấn. Nó quẫy nhẹ lên một cái như con cá nhỏ, rồi nằm im.

Nước bao quanh và phủ kín nó. A Phồ để nó nằm đó, đi
ngủ trưa một giấc đã. Bát cháo hành có thêm quả trứng
thật là bổ, làm cho đầu óc A Phồ lâng lâng.

Trong cơn ngủ chập chờn của A Phồ , bà thấy có rất nhiều
đứa trẻ đến vây quanh giường. Chúng toàn là con gái. Đứa
khóc oe oe, đứa nhẩy ầm ầm. A Phồ xua tay đuổi chúng,
chúng không chịu đi. Bà quát to lên:

- Hãy về mà quấy phá cha mẹ bay.

- Không phải lỗi ở tao.

Bà càng quát tháo, chúng đến càng đông. Cuối cùng bà hét
lên một tiếng thật to rồi vùng dậy ra khỏi giường. Bà ôm
xốc đứa bé đang ngâm trong chậu nước, quơ tay với cái
xẻng dựng ở góc nhà, chạy như bay về phía bờ sông.

Con sông mênh mông, nước đen ngòm. Buổi tối không
trăng sao, nhưng gió thổi mạnh quá! Tiếng gió chạy rào rào
trên những bụi cây gai ở bãi đất hoang, thỉnh thoảng lại có
tiếng đập cánh kèm theo một tiếng kêu quác quác của loài
chim đêm nào đó bay vụt ra từ những gò đất ở bên dướí,
làm kinh động cả những đứa bé đang ngủ trong những căn
nhà sát bờ sông. Những đóm lửa đom đóm nhấp nháy trên
đầu những ngọn cỏ là những ngọn đèn giúp cho A Phồ tìm
được một chỗ nằm cho đứa bé đang bế trên tay. Bà dùng
một chiếc xẻng đã gẫy cán mà trong lúc hấp tấp ra khỏi nhà
đã quơ vội theo, đào một cái hố nông choẹt. Bà đặt đứa bé
còn ướt sũng xuống đó, dùng hai chân đá đá vội vàng chỗ
đất vừa đào lên, một mảnh khăn quấn của đứa bé còn lòi ra
trên mặt đất. Trong bóng tối, chéo vải mầu trắng trông như
chính cái vạt aó của A Phồ đang mặc, làm bà sợ hãi. Bà hấp
tấp bẻ một cái cành ngay bụi cây gần đấy phủ lên cái mầu

trắng đó, dùng chân dậm dậm thật nhanh trên mô đất. A
Phồ ra về.

Nhưng A Phồ không về ngay được. Vừa chân cao chân
thấp chạy chưa được dăm bước, A Phồ vấp ngay phải một
đám trẻ con gái dắt tay nhau chặn bà lại. Chúng làm thành
một vòng tròn quay chung quanh bà. Cái vòng thật là khít
khao, không một khe hở, và cứ càng lúc càng thu nhỏ lại.
Rồi bỗng nhiên đám trẻ con gái đó trở thành một sợi giây
thừng kiên cố, trói nghiến A Phồ lại. Khi A Phồ ngã lăn
quay trên mặt đất, thì sợi giây lại bật tung ra, A Phồ chưa
kịp ngồi dậy, những đứa trẻ lại xuất hiện. Chúng đem tới
một cái chậu thật to, đầy nước, rồi xúm lại khênh A Phồ đặt
vào trong chậu. A Phồ cố vùng vẫy nhưng không thể nào
thoát ra khỏi những bàn tay nhỏ xíu đó. Mỗi lần A Phồ
muốn ngóc đầu lên, thì lại có một bàn tay nhỏ xíu ấn đầu
xuống. Chúng vừa tắm A Phồ trong nước vừa ca hát, thỉnh
thoảng lại có tiếng trẻ khóc chen vào cùng tiếng hát.
A Phồ quẫy nhẹ một cái cuối cùng như con cá, rồi nằm
luôn trong chậu. Những đứa con gái để A Phồ nằm đó.
Chúng rũ nhau đi nhóm lửa nấu một nồi cháo ăn cho ấm
bụng.

Con bé tối nay lại đến. Trời lạnh thế này mà cha mẹ nó để
cho nó lêu lổng, chắc tại con gái nên không thiết. Ở caí xứ
sở này nếu chỉ có một đứa con gái, là nỗi bất hạnh cho cha
mẹ. Mẹ A Sây đi lấy môt chén cơm cho nó ăn, nhà chẳng
còn gì, có cơm trắng là may lắm rồi. Chị rắc rắc một chút
nước tương vào cơm cho nó. Nó ăn có một chút rồi bỏ đôi
đũa xuống, nhìn quanh. Chắc nó muốn tìm A Sây, A Sây
tối nay đi theo cha nó sang bà nội. Nhà chỉ có một mình,
bất giác chị muốn giữ con bé ngủ lại với chị. Con bé ít nói,
nó chỉ nói với A Sây, và hay gật hay lắc đầu với chị. Hình
như đọc được ý chị, con bé tự đi vào nhà sau một mình, nó

đi thẳng đến chiếc giường ngủ của mẹ con chị như đang ở
nhà nó vậy. Nó ngồi lên giường, bỏ thõng hai chân đong
đưa, ngước hai con mắt đen láy nhìn chị. Chị đi lấy cái lược
chải đầu cho nó, tóc nó rối bù. Chải tóc xong, chị bỗng
muốn ôm nó vào lòng mà cứ ngập ngừng mãi, không dám.
Hình như nó biết chị muốn gì, nhưng nó không có cử chỉ
nào khuyến khích chị, nên chị lại thôi. Trong mắt nó hình
như vừa có vẻ tha thiết, lại vừa có vẻ giận hờn. Chị không
đoán được.

Chị đi giăng mùng, rồi lấy cái gối của A Sây đem vào cho
nó. Nó ngoan ngoãn nằm xuống cạnh chị, chị quàng tay
sang ôm nó. Trong bóng tối nhờ nhờ của ngọn đèn ngủ, chị
thấy nó mỉm cười, hai mắt nhắm lại. Một nỗi êm ả đến cảm
động lan khắp thân thể chị. Bất giác chị ứa nước mắt, nhớ
đến đứa con gái chị bắt buộc phải bỏ đi, vì xã hội chị đang
sống chỉ cho chị có một đứa con và chị phải chọn giữ đứa
bé trai lại để nối giòng.

Nửa đêm, người mẹ chợt thức, chị quơ tay sang bên cạnh,
không thấy con bé đâu cả. Chị ngồi dậy thắp sáng ngọn
đèn. Trong giường, bên cạnh chiếc gối của A Sây, chỉ thấy
một bộ quần áo trẻ sơ sanh sũng nước.

2000

vườn măng cụt

Người con gái ra đón ông Thành ở ngay khu đậu xe của
chung cư. Cô hồn nhiên nắm tay ông, cái nắm tay không
phải dắt ông cho khỏi vấp ngã, nhưng tỏ sự thân tình. Cô
vừa đi vừa nói:

- Lâu quá rồi bác cháu mình không gặp nhau. Con xem
đồng hồ áng chừng giờ bác đến, thế mà đúng. Con vừa ra
chưa được năm phút đã nhìn thấy xe bác rẽ vào. Bác trông
còn khỏe quá!

Rồi cô thấp giọng:

- Mẹ con đang chờ bác.

Ông Thành nhìn cô con gái của bạn, nhớ lại ngày cô còn bé
tí, nay đã gần bốn mươi rồi, không trách mình già. Ông xiết
chặt tay cô, nhớ đến người đã đi biền biệt.

Ông Thành là bạn thân từ thời còn rất trẻ của cha mẹ cô,
ông là bạn học của ông Lâm từ thời trung học. Họ cùng
trưởng thành, ra đời làm việc, lập gia đình, gần như lúc nào
cũng có nhau. Họ cùng di tản, tham dự ngày con cái nhau
ra trường và cưới hỏi. Cách đây năm năm, ông Lâm qua
đời, rồi bà Thành cũng chỉ còn là một nắm tro than. Ông
Thành sức khỏe bắt đầu hơi kém đi theo tuổi tác. Sắp tám
mươi rồi, còn trẻ trung gì nữa, ông làm biếng đi ra ngoài,
sự liên lạc cũng thưa thớt dần giữa hai nhà.

Tuần trước cô cháu Lan, gọi bác Thành thăm hỏi và nói
thêm:

- Mẹ con mấy hôm nay không hiểu sao cứ mong gặp bác,
nhắc bác hoài, bác có thể ghé qua xơi một bữa ăn trưa với
mẹ con và con không?

Ông ngại đi quá, nhưng nghe cô cháu gọi đến lần thứ ba,
ông không nỡ chối từ. Hơn nữa gặp lại vợ con của một
người bạn thân đã qua đời, sẽ gợi nhớ cho mình bao nhiêu
kỷ niệm thân tình cũ cũng là một điều nên làm.

Cô Lan đưa ông vào căn chung cư của mẹ, mẹ cô ở đây từ
sau khi cha cô mất được một năm. Bà ở rất gần các con
nhưng không muốn ở chung. Con cháu thay nhau gọi điện
thoại, và ghé qua, khi sáng, lúc chiều. Thỉnh thoảng một
người thu xếp đến ăn trưa với mẹ, không kể những tụ họp
gia đình cuối tuần, nên tuy bà ở một mình ở tuổi bẩy mươi
các con vẫn yên tâm.

Bà Lâm hôm nay có trang điểm nhẹ nhàng một chút, trông
cho tươm tất tuổi già, chắc để tiếp khách Ông Thành để ý
đến những bông hoa nhỏ tím đậm trên chiếc áo len mỏng
mầu xám bà mặc, mầu sắc trông rất hài hòa.

Bà Lâm vồn vã đón ông:

- A, anh Thành. Anh trông khỏe mạnh quá, chẳng khác
thời tôi mới gặp anh lần đầu. Anh còn nhớ lần đó không?
Anh Lâm và tôi đón anh đi Lái Thiêu, đi thăm vườn trái
cây. Chúng mình mua bao nhiêu là măng cụt.

Ông Thành lắc lắc cái đầu bạc trắng của mình, cố nhớ lại
lần đầu tiên gặp bà. Tại sao lại ở vườn măng cụt nhỉ?

- Anh quên rồi à, chúng mình cùng đi trong cái xe Renault
đen của ba anh Lâm?

Chịu, ông không thể nào nhớ ra được. Trí óc của mình sao
có thể tệ đến thế nhỉ? Đã tám mươi đâu?

Cô Lan dọn bữa ăn trưa lên chiếc bàn nhỏ. Mấy món ăn
nhẹ cho ba người. Bà Lâm hình như không chú ý đến thức
ăn, Lan tiếp thức ăn vào chén của bác Thành, nhắc mẹ hai
ba lần bà vẫn chưa cầm đũa.

Bà Lâm đang hứng khởi nói về dĩ vãng:

- Anh nhớ chứ. Mình ăn trưa ở Búng. Món nem chua ở đó
cũng khá ngon. Sau đó mình vào vườn măng cụt, vườn
chôm chôm, vườn dâu ở Lái Thiêu. Lúc đó tôi chưa lấy
chồng, lần đầu tiên gặp tôi, anh đã yêu tôi ngay. Cả hai anh
cùng yêu tôi. Anh nhớ không?

Cô Lan nhìn mẹ, không hiểu mẹ đang muốn nói gì? Ông
Thành cũng sững người ra nhìn bà. Ông có yêu bà thời trẻ
à? Không, làm gì có chuyện đó. Thủa đó họ chơi chung với
nhau, cả hai cặp. Thành,Tuyết và Lâm, Liên, sau đó cả hai
cặp đều thành vợ chồng.

Bà Lâm hồn nhiên nói tiếp:

- Mấy cái vườn trái cây khi được mùa mới hấp dẫn làm
sao! Những chùm trái dâu, trái chôm chôm nặng trĩu chạm
mặt đất. Măng cụt đỏ tím cả khu vườn. Muốn vào trong
vườn phải rẽ cành hai bên mà đi. Anh nhớ không, anh dắt
tôi vào đó, ở một chỗ vừa che mất anh Lâm, và anh đã tỏ
tình.

Ông Thành thần mặt ra, hoang mang không hiểu những lời
bà Lâm đang nói có thật hay không? Cô Lan có lẽ biết, đã
đến lúc nên rút lui để cho hai người bạn già cũ nói chuyện
quá khứ. Cô khe khẽ thu bát của mình, im lặng bước vào
phòng ngủ của mẹ. Căn chung cư nhỏ, chỉ có nơi đó, cô có
thể tránh mặt hai người.

Ông Thành nhíu mày lại, cố hình dung ra hình ảnh khu
vườn trái cây, nơi ông đã mang người yêu của bạn vào đó
tỏ tình. Không cách nào ông nhớ ra được. Trí óc mình lú
lẫn rồi! Ông than thở trong đầu.

Bà Lâm nheo cặp mắt đã có thật nhiều vết nhăn kéo dài ra
đến thái dương nhìn ông, từ tốn nói:

- Tôi để cho ông hôn tôi, nhưng tôi từ chối tình yêu của
ông, vì lúc đó anh Lâm đã ngỏ lời cầu hôn trước ông. Chắc
ông còn nhớ, hôm đó tôi mặc chiếc áo dài có những bông
hoa mầu tím đỏ. Ông bảo mầu hoa trên áo đẹp giống mầu
vỏ măng cụt, rồi ông bửa một trái măng ra chia cho tôi ăn
một nửa, mầu vỏ tím hồng nhuộm mấy ngón tay ông, ông
quệt lên má tôi, nói: “ Em không cần thoa má hồng nữa,
anh thoa cho em rồi”

Chi tiết đến thế này thì chuyện chắc phải có thật, mình
không nhớ ra được thì ngày mai mình nên làm cái hẹn gặp
bác sĩ. Tuổi tám mươi chắc bước vào tuổi mất trí nhớ rồi!
Cả một dĩ vãng lãng mạn nên thơ như vậy, người đàn bà
nhớ được, mình lại quên bẵng như đầu óc được nhúng vào
một dung dịch hóa chất thì tệ thật. Ông không chối nữa,
ông nhìn người đàn bà trước mặt, nhìn hai con mắt, mí đã
sụp xuống nhưng tròng đen vẫn lóng lánh pha một chút tinh
nghịch. Ông hạ mắt nhìn xuống cặp môi, cặp môi đều đặn,

hơi cong, thoa một lớp son mỏng mầu hồng. Ông cố hình
dung ra cặp môi thời còn trẻ của bà, cặp môi chắc tươi như
bông hoa mận, căp môi theo như bà nhớ, ông đã cúi xuống
hôn trong vườn măng cụt (Chắc là vội vàng lắm, vì hôn
trộm người yêu của bạn mình)

Bà không để ông có thời giờ thả đầu óc về những hình ảnh
bà nhắc nhở ông, bà uống một ngụm nước, nói tiếp:

- Sau đó tôi lấy anh Lâm, nhưng không thể quên mối tình
của ông. Hôm đám cưới chúng tôi, ông làm rể phụ. Ông
đẹp trai và rất xứng với tôi, nên có người đã nói, để ông
làm chú rể thì đẹp đôi lắm. Mấy chục năm sống với ông
Lâm, sanh mấy đứa con, nhưng chẳng lúc nào tôi không tơ
tưởng đến ông. May mà chúng mình chưa hề xa nhau ngày
nào cho đến khi anh Lâm mất hẳn. Bây giờ thì chắc chắn
không còn ai ngăn trở mình nữa. Ông có nghĩ mình nên dọn
vào ở chung không?

Thế này thì nguy quá rồi. Bà Lâm nhắc lại dĩ vãng cốt để
nối hiện tại vào. Nhưng ông không hề nhớ được một chi
tiết nào cả. Tuổi già thật khó chịu, nó xóa hết cả dĩ vãng,
rồi dựng lên một tương lai huyễn hoặc. Ông cúi xuống
uống nốt ngụm trà trong chén, cất tiếng gọi:

- Lan ơi! Bác về nghe con.

Ông kéo ghế đứng lên. Ông không trả lời về đề nghị của bà
Lâm vội, ông chỉ nói nhỏ nhẹ, và hứa một lời rất bâng quơ:

- Tôi về nghe chị. Sẽ trở lại thăm chị khi nào trí óc sáng
suốt thêm một chút.

Lan tiễn bác Thành ra chỗ đậu xe. Cô ở trong buồng ngủ,

sát vách, nên đã nghe hết lời của mẹ kể. Hai bác cháu yên
lặng đi bên nhau không nói năng gì. Ông Thành đã ngồi
vào xe, trước khi mở máy, ông quay kính xuống nói như
tâm sự với Lan:

- Chắc bác cần đi khám lại cái đầu của mình. Những điều
mẹ con nói hôm nay, bác không làm sao hình dung ra được
một dĩ vãng vừa thơ mộng, lãng mạn, vừa tội lỗi của tuổi
trẻ. Bác có mất trí nhớ tồi tệ đến thế không? Bác nhớ là cả
ba con và bác cùng lớn lên ở Đà Lạt. Những kỷ niệm của
bốn người: Lâm, Liên, Thành,Tuyết có với nhau hồi đó là:
Cà phê Tùng, Nhà thờ con gà, Đồi Cù, trường Võ Bị Đà
Lạt, và những trại mận. Rồi ngày ba mẹ con đám cưới, bác
đang tu nghiệp võ bị ở Mỹ, làm sao bác phù rể được nhỉ?

Ông nói xong, ngẩn người ra như không tin những điều
mình nhớ, ông đợi Lan trả lời câu hỏi của mình.

Lan cho hẳn đầu cô vào trong cửa xe, gục đầu lên vai bác
Thành, cô ngửi được mùi già nua trên cổ bác phả ra, mùi
của ba cô ngày trước, làm cô khóc nức lên:

- Bác ơi! Không phải bác mất trí nhớ đâu. Mẹ con đấy, mẹ
con bị alzheimer nặng lắm rồi. Mẹ con quên hết dĩ vãng
thật của mình, và ngày nào cũng vẽ ra một câu chuyện mẹ
con tin là đã xẩy ra trong đời mình.

Tối hôm đó, ông Thành trằn trọc trên giường, không sao
ngủ được. Ông cứ nhớ mãi câu nói của cháu Lan. “Mẹ con
vẽ ra một câu chuyện, mẹ con tin là đã xẩy ra trong đời
mình.”

Ông bâng khuâng: Liên mất trí thật, hay Liên yêu mình từ
trẻ mà mình không biết?


Click to View FlipBook Version