The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-05 01:37:57

Vườn Măng Cụt Trần Mộng Tú

Vườn Măng Cụt Trần Mộng Tú

quang gánh của một hũ dưa chua, một hũ cà muối, vài
miếng đậu hũ.

Những bạn hàng ngồi nguyên một chỗ cũng chật vỉa hè, đi
đến đâu cũng phải nhìn xuống chân, phải lách hoặc phải đi
vòng xuống đường xe chạy. Ngay trên miệng cống, một
hàng bánh cuốn có tiếng là ngon, bầy la liệt thúng mủng,
bát đĩa, một chậu nước nhỏ đựng nước rửa bát. Hai ba
chồng bát đĩa bẩn (dơ) cao ngất ngưởng, chờ nhúng vào đó.
Người ngồi, kẻ đứng hân hoan gọi phần ăn uống. Sát đó,
một tiệm sửa xe gắn máy cứ việc gõ gõ, đập đập, thử đề
máy xe. Mùi dầu, mùi săng xả vào những đĩa bánh và
khách ăn mù mịt. Chung quanh những rác là rác. Rác ở đâu
ra nhanh thế. Lúc năm giờ sáng, tôi ngó ra đường hai bên
phố sạch bong, phu rác đã quét sạch tối qua. Thế mà mới
khoảng chín giờ sáng, đứng giữa phố có thể hát được bài ca
“Hà Nội…rác”

Những thanh niên đánh giầy, cũng đươc coi như người bán
hàng rong. Cửa hàng của họ vỏn vẹn một cái túi nhỏ. Trong
đó có một đôi dép cao su, kim chỉ, dao kéo, đế giầy và xi
đánh giầy. Ai biết đâu còn món gì quan trọng hơn cho cái
tiểu công nghệ này cất ở trong cái túi nhỏ đó. Họ tinh mắt
lắm, liếc nhìn rất nhanh xuống đôi giầy họ biết ngay khách
là Việt Kiều, là Đại gia (tiếng chỉ những người giầu nồi ở
Việt Nam bây giờ) hay là những quan chức nhà nước. Khi
được khách bằng lòng, họ đưa cho khách đôi dép cao su,
cầm đôi giầy của khách lên, đề nghị:

- Con sẽ làm cho chú một đôi giầy mới, giầy của chú đắt
tiền nên còn tốt lắm!

Thế là chưa đợi bằng lòng giá cả (phần đông người đã bằng
lòng cho đánh giầy không có hẹp hòi với giá) anh lật ngay

đế giầy lên, cắt cắt, khâu khâu, rồi đánh xi. Tất cả không
quá mười lăm phút, là có ngay một đôi giầy mới tinh đặt
trước mặt khách.

Ông anh cùng đi với tôi, vừa ngắm nghía anh thanh niên
làm vừa hỏi chuyện. Anh ta cho biết, cũng như phần đông
những người buôn gánh bán bưng ở cả ba miền, họ đến từ
Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Quy Nhơn, Cà Mau,
Rạch Giá v.v để kiếm tiền gửi về quê. Do đó, mà dân số Sài
Gòn, Hà Nội tăng lên vùn vụt. Anh ở Thái Bình lên Hà
Nội, vợ con ở lại quê nhà. Tết anh về quê một lần, vì ở quê
muốn làm cũng không có việc, làm ruộng thì cũng không
có ruộng mà làm. Ruộng của nhà nước chia cho dân theo
chính sách “bình quân”. Tám năm chia ruộng một lần, chia
theo số người trong gia đình. Tính theo số sanh và tử trong
năm. Nếu vừa chia ruộng xong mà vợ đẻ thì tám năm sau
em bé mới có phần ruộng. Hoặc có người già qua đời thì
tám năm sau mới bị bớt đi phần ruộng. Mỗi người được
một sào, sào miền Bắc có 360 mét vuông. Trồng loại lúa
xấu, lúa không ngon thì một sào cho một tạ sáu lúa, sàng
sẩy xong cho ra khoảng một tạ gạo (tức là một yến = 100
cân). Anh nông dân chống cuốc, tính công anh làm cỏ, cầy
bừa và tiền mua phân bón cho ruộng tương đương với tiền
mang đi mua bấy nhiêu gạo đã làm sẵn. Như vậy nghề
nông không có lợi, cho dù anh muốn làm thêm ruộng cũng
không có mà làm. Anh bỏ đi lên tỉnh kiếm việc làm khác.

Ban ngày anh đi đánh giầy, chiều đi ăn cơm bụi (cơm gánh
vỉa hè) xong về nhà trọ, ngủ một giấc chín giờ tối, đến ba
giờ sáng dậy đi làm phu bốc dỡ (khuân vác). Ở đâu thuê,
anh đi, bất kể khuân vác nặng nhẹ thế nào. Nếu anh ăn cơm
ba bữa với giá mười lăm ngàn một ngày (16.000 đồng =
một đô la), tằn tiện, cuối năm anh có hai triệu gửi về nhà

cho cha, mẹ, vợ, hai con nhỏ, hai đứa em tiêu trong một
năm.

Anh cười, nói tiếp:

- Nhưng chú ơi, con bốc dỡ, mệt lắm, nhiều hôm đói quá,
con phải ăn đến hai mươi ngàn đồng mới đủ no.

Chị gánh cam đi bán rong ở phố cổ Hà Nội cũng từ Thanh
Hóa vào, chị ngủ ở nhà trọ ngay chân cầu Long Biên. Chị
mời:

-Trời tối quá rồi, cô mua nốt hộ con mấy kí cam, bây giờ
con đem về chỗ ngủ trọ, thì sáng ra ngủ dậy mất trộm hết.

Tôi hỏi:

- Chỗ nhà trọ đó, nhiều người các nơi đến ngủ chung buồng
à?

- Vâng, toàn ở quê ra cả. Cứ quây một cái màn chung
quanh giường là thành một buồng. Đàn ông riêng, đàn bà
riêng, nhà tắm chung. Không cẩn thận thì cái gì cũng mất,
mất thì thôi, chứ có kêu rát cổ cũng không lấy lại được.

Tôi chợt nhớ một câu thơ của Bùi Giáng, khi ông sống lang
thang bị người lang thang khác lấy trộm cái gói quần áo
của ông.

Những tưởng đầu đường thương xó chợ
Ai ngờ xó chợ chẳng thương nhau.
Tôi mua nốt gánh cam cho chị.

Một tháng trời, đi qua ba miền đất nước, tôi đã gặp không

biết bao nhiêu người tha phương cầu thực. Ở Sài Gòn là
những anh tài xế taxi, những anh phu hồ nói giọng Bắc Bùi
Chu, giọng Hà Tĩnh; ở Hà Nội là những người Nam Định,
Thái Bình, Thanh Hóa vào làm đủ mọi nghề. Đi thăm làng
Bát Tràng, tôi gặp người đàn bà nắm than cho lò gốm, quê
ở Bắc Ninh. Tôi tự hỏi như thế có đáng buồn không nhỉ? Vì
tôi vừa ở Nam Định về, tôi gặp hai người em họ (ba chúng
tôi cùng chung một cụ nội), một người giầu nhất Nam
Định, cả hai vợ chồng mới qua tuổi năm mươi, làm chủ ba
ngôi nhà năm từng, còn người kia ngoài sáu mươi vẫn đi
đạp xích lô, nghèo xơ nghèo xác. Sài Gòn và Hà Nội luôn
luôn có sự tương phản như thế. Ngay bên cạnh ngôi nhà
mục nát, chễm chệ một căn hộ bốn, năm từng, cửa sắt,
tường hoa. Trước một cửa hàng sang trọng, một gánh hàng
gần như chỉ có thúng, mẹt không với một người mặt xanh,
má hóp ghé ngồi (coi chừng bị đuổi bây giờ!). Thỉnh
thỏang lang thang trên phố một mình, tôi gặp một ông lão
mù, khua chiếc gậy cong queo; hay một em bé đang tuổi đi
học, bán vé số; một cụ bà tóc trắng xóa, ngồi nhẫn nại với
bình trà tươi, mấy chiếc ly nhỏ cáu đen dưới gốc cây, ngay
gần miệng cống.

Buổi chiều về gặp cô học trò thanh nhạc của em tôi (em tôi
dậy dương cầm), mới hai mươi lăm tuổi. Cô nói, cháu
muốn đi du lịch bên Mỹ, cháu có hai mươi ngàn đô để đóng
tiền ký quỹ, nhưng vì trẻ quá nên khó đi, bên Mỹ chỉ nhận
người già theo diện du lịch.

Một cô gái trẻ có ngần ấy tiền, nghe thật lạ lùng!

Mỗi năm về một lạ, một khác. Cái lạ, cái khác này không
làm mình vui, mình an tâm.

Không biết đến bao giờ thì những người lãnh đạo đất nước

nhắc lại được câu nói của vị vua Trần đầu tiên: “Trăm dân
no đủ thì trẫm lo gì không no đủ”.
Câu nói đó thốt lên nghe mà nhỏ lệ!

11/2007

mầu đỏ trong sân

Hai chiếc xe van đậu lại trong sân nhà thờ. Thả xuống sân
những cụ ông và cụ bà , người tóc muối tiêu, người tóc
trắng như cước, người lưng còn thẳng, người đã phải nhờ
gậy trúc đưa đi. Hôm nay họ mặc toàn một mầu đỏ. Có
người áo khoác dạ đỏ, có người áo len đỏ, có người quàng
khăn đỏ, có cụ bà không mặc áo đỏ thì bôi son có mầu rất
tươi của trái anh đào chín (bright red cherry). Họ đến ăn
bữa cơm trưa vào ngày thứ ba của tuần lễ thứ hai trong
tháng. (Bữa ăn, một tháng một lần, cung cấp bởi một nhóm
phụ nữ của họ đạo, ở tuổi hưu trí làm thiện nguyện.)

Cuối tuần này có lễ Valentine, nên hôm nay nhóm tổ chức
tiệc Valentine cho các cụ.

Mười chiếc bàn cho tám mươi người ngồi, được trải khăn
bàn đỏ, đặt hoa đỏ. Món tráng miệng hôm nay cũng là
những lát bánh có kem hoa hồng đỏ.

Thức ăn chính và món tráng miệng, chúng tôi đã chia nhau
nấu nướng sẵn ở nhà, mang tới. Từ mười giờ sáng, tụ họp
nhau, đặt bàn, pha cà phê, nước trà, hâm nóng thức ăn. Các
cụ lần lượt đến trước bữa ăn khoảng nửa tiếng. Cụ bà nhiều
hơn cụ ông, có vài người còn đủ cặp, nhưng phần đông lẻ
bạn.

Hôm nay tôi và năm người nữa phụ trách ở ngoài phòng ăn,
chúng tôi đưa các cụ vào bàn, sau khi dán bảng tên lên áo
cho mỗi người. Tôi cầm những bàn tay có hình dáng của
những nhánh gừng khô; tôi đi chậm, theo chân người đi
chậm, tôi thở nhẹ, theo tiếng người thở nhẹ, tôi kéo ghế, tôi

trải khăn ăn trên lòng cho cụ nào không tự làm lấy được;
tôi nhìn những sợi tóc mỏng xám bạc, những chiếc kính
gọng nhỏ móc hờ trên tai, nằm ngơ ngác trên sóng mũi với
cặp mắt nhìn chậm chạp dưới hai chiếc vòng kính tròn. Tôi
thấy tôi trong tròng kính đó. Mầu đỏ của những chiếc áo,
khăn bàn và hoa hồng ánh lên mặt mọi người, giúp các cụ
tươi hẳn lên. Các cụ nói chuyện với nhau nhỏ nhẹ, thỉnh
thoảng phải nghiêng hẳn đầu vào nhau để nghe cho rõ. Tôi
nhìn các cụ thân mật, thì thào vào tai nhau. Tôi lắng nghe
họ nói về ngày lễ “Tình Yêu” cuối tuần này. Những người
ở chung một nhà già hứa sẽ rủ nhau ngồi chung một bàn.
Rồi họ nhắc lại những cái hẹn Valentine của ba mươi, bốn
mươi năm, thậm chí năm mươi năm về trước (nếu còn nhớ
được) Những tên tiệm ăn, những con đường hò hẹn, chén
rượu nào đã rót ra, nàng mặc áo mầu gì, chàng đi xe hiệu
gì? Những chiếc thiệp với lời tỏ tình, những bài thơ vụng
về của thi sĩ mới viết bài thơ thứ nhất. Họ nghiêng xuống
nhau những khuôn mặt nhầu như những nếp lụa bị xếp lâu
ngày, những cặp mắt hấp háy sau tròng kính, những nụ
cười với hàm răng thẳng tắp, đều đặn.

Bà Sarah, ngoài bẩy mươi, nói:

- Valentine đáng nhớ của tôi, khi tôi được bốn mươi tuổi.
Lúc đó chúng tôi còn ở Los Angeles, Mark đã đưa tôi đến
khách sạn Bonaventure ăn ở từng lầu có tường kính và cả
phòng ăn hình tròn quay chung quanh thành phố khi chúng
tôi ngồi ăn.

Bà Pat chen vào:

- Khi tôi mười tám, tôi được một bạn trai cùng lớp mời đi
dã ngoại (picnic) ở bờ biển Dana Point, California trong
ngày Valentine.

Ông Tom cầm tay vợ hỏi khẽ:

- Bà có nhớ ngày Valentine đầu tiên khi chúng mình mới
cưới nhau được một năm không?

Bà Daisy rụt cổ lại cười, những nếp nhăn trên mặt bà cũng
cười theo, nói:

- Ông đưa tôi đi sanh, và mình đã đặt tên cho con trai là
Valentine.

- Bà nhớ đúng không đấy?

Bà Daisy im bặt tiếng cười, nhìn ông như dò hỏi, bà không
biết bà nhớ có đúng không. Nhưng rõ ràng bà có một người
con tên là Valentine mà.

Những người còn lại ngồi im lặng, họ chưa nghĩ ra được
trong đời họ có ngày Valentine nào “đáng nhớ” hay không?

Ở một bàn khác hình như chẳng ai nhắc đến ngày “Lễ Tình
Yêu”. Có người hỏi, không biết chiều nay có mưa không?
Có người trả lời ngày mai là ngày Lễ Giáng Sinh. Có người
hỏi chị đã uống thuốc ho sáng nay chưa? Vâng, tối nào tôi
cũng uống thuốc an thần.

Tôi rót cà phê, nước ngọt, dặn thật kỹ ly nào là nước, tách
nào là cà phê. Nhắc cụ bà Pam nhớ cụ đã uống hai tách cà
phê rồi; nhắc cụ ông John đừng cho sữa vào ly coke và tiêu
muối trên bàn không cần rắc lên bánh ngọt.

Có một bàn gợi mắt tò mò của tôi nhất, cả tám người ngồi
đó hình như là bốn cặp. Duy chỉ có một cặp là chung một

họ (last name) nhưng ba cặp kia xem ra cũng âu yếm lắm.
Tôi thấy họ cũng chạc tuổi giữa bẩy mươi đến tám mươi,
nhưng ăn mặc rất tươm tất, nếu không nói là rất thời trang.
Áo và khăn quàng cho các bà, mũ nỉ cho các ông, cả đến
cặp kính trên mắt cũng kiểu mới nhất, họ là những người
già, nhưng còn minh mẫn và sức khỏe khá tốt. Họ nói năng
rõ ràng, và trao đổi khá hiểu biết trên những vấn đề thời sự
mới nhất. Tôi nghe họ nói đến bữa tiệc “Tình yêu” ở một
nhà hàng khá nổi tiếng họ sẽ đi với nhau vào cuối tuần này.
Họ còn yêu đời và yêu người, tuổi tác hầu như không can
thiệp được vào những sinh hoạt của nhóm người già trong
bàn này.

Chiếc bàn cuối tôi mang bánh ngọt ra, tôi mới bất chợt thấy
một cụ ông Á Đông, tóc bạc phau, nhưng còn khá nhiều;
dáng gầy gầy, mặt nhỏ nhưng không thấy hốc hác, không
đeo kính, hai mắt khá sáng. Tôi nhìn vào bảng tên thấy chữ
“Dat Pham” tôi cúi chào cụ, cụ Đạt cho biết cụ theo người
bạn Mỹ đến đây lần đầu. Cụ ở một mình trong khu
Housing, chỗ cụ ở không thấy người Việt, cụ nói:

- Bên mình trước đây làm gì có ngày Lễ Tình Yêu, bây giờ
nghe đâu Việt Nam cũng ăn mừng ngày này đấy.

Cụ nói xong mỉm cười, nói tiếp:

- Càng vinh danh tình yêu rầm rộ, càng li dị nhanh, bà nhỉ.

- Dạ.

Tôi nghĩ cụ có lí, nhưng tôi vẫn nói tiếp:

- Cháu chắc ngày nào cũng là ngày tình yêu rồi, nên không
cần ăn mừng nữa.

- Bà lạc quan quá, thật ra người mình coi nặng cái “nghĩa”
hơn “tình”, thế thôi.

Tôi rót thêm trà vào tách cụ, im ắng một giây, để cụ hiểu là
tôi đồng ý với cụ. Tôi mời cụ tháng tới tiếp tục đến với
chúng tôi, và cụ nhận lời. Tôi phụ giúp chương trình này cả
hai năm, lần đầu tiên mới gặp một người đồng hương, tự
nhiên thấy việc làm nhỏ nhoi của mình vui hẳn lên.

Tôi đi tới đi lui từ trong bếp ra tới những bàn tiệc. Nhìn
ngắm các cụ ngồi ăn và các bà trong nhóm thiện nguyện
đang loay hoay với công việc (và nhìn cả chính tôi). Mỗi
người một vẻ, người nhanh nhẹn cứng cáp, kẻ chậm chạp
yếu ớt. Người có khả năng cho, người có nhu cầu nhận,
những mái tóc muối tiêu hay bạc phơ như cước, những cặp
mắt còn tinh anh hay đã mờ đục. Họ đã đi qua bao ngày Lễ
Hội Tình Yêu, qua bao cơn hồng thủy của đời sống.

Bây giờ các cụ ngồi đây, trong căn nhà Hội của nhà thờ, ăn
bữa trưa thanh đạm cung cấp bởi những người làm công tác
thiện nguyện cũng già gần bằng họ, một bữa ăn được trang
hoàng để ăn mừng cho ngày Lễ Tình Yêu; họ còn nhớ lại
được những gì, họ có nuối tiếc không?

A, tình yêu như thế nào nhỉ? Còn ai trong chúng ta nhớ rõ
cái cảm giác đó không? Nó ào ào như mưa rào nhiệt đới, nó
hung hãn như ngày biển động, nó huy hoàng như mặt trời
mọc hay nó ấm áp và nồng nàn như một vạt nắng đầu xuân;
nó là ngụm rượu đầu tiên, là nụ hôn vội vã, là vòng tay
vụng dại, là đam mê bồng bột, hay nó là….là gì nhỉ, có ai
còn nhớ không?

- Cho tôi xin ly nước lạnh, nước cam sẽ làm tôi xót ruột

- Tôi không ăn được bông cải xanh, nó làm tôi đầy hơi
trong bụng

- Ly cà phê uống vào buổi trưa, sẽ làm tôi mất giấc ngủ
ngày đấy.

Có ai còn nhớ lại “Một thời để yêu, một thời đời chết”. Có
ai còn nhớ để nhắc lại cho nhau một lời nói của Valentine
thời trẻ dại: “Rồi chúng ta sẽ cùng già đi, rồi chúng ta tiếp
tục đổi thay theo tuổi tác, duy có một điều sẽ không bao giờ
thay đổi…Em luôn mãi để lòng mình yêu anh. (1)

Tôi không còn trẻ dại nữa, nhưng giữa khoảng không gian
ửng đỏ của khăn bàn, của hoa, của áo khăn cho ngày Lễ
Tình Yêu chúng tôi tổ chức cho những người ở tuổi “cổ lai
hy” này, tôi bỗng thấy lòng rung lên một câu thơ:

Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu
Bốn phương mây nước trời đôi ngả
Hai chữ tương tư một gánh sầu. (2)
Không biết có ai “tương tư” mình trong “Ngày Tình Yêu”
này không nhỉ?

Lần tới, gặp lại cụ Đạt, tôi sẽ đọc câu thơ này cho cụ nghe,
đố cụ nhớ là thơ của ai. Rồi tôi sẽ hỏi cụ xem hồi trẻ cụ có
“đa tình” không hay chỉ toàn là “nghĩa” với nhau thôi.

(Valentine 2009)

(1)As we grow older together, As we continue to change

with age, There is one thing that will never change. . . I will
always keep falling in love with you. (Karen Clodfelder)(2)
Tản Đà

một ngày Hà Nội

Hai tuần ở Hà Nội, tôi ở nhà cậu em ngay góc đường Hòa
Mã và Ngô Thì Nhậm, tạm được gọi là một địa
điểm“xuống phố” thuận tiện. Có những hôm, cả hai em tôi
đi dậy học từ sáng sớm, tôi một mình xuống phố. Từ cái
cầu thang nhỏ cũ kỹ, gạch long, vôi lở phía sau căn gác,
qua một lối đi chung của bốn gia đình, mở chiếc cổng xanh
có sợi giây xích, tôi xuống phố.

Hàng quà đầu tiên ngay dưới chân khi mở cổng ra là hàng
xôi, hàng cháo hay hàng chuối, hàng hoa. Họ bầy bán ngay
trên lối đi, ngay trên mặt cống, trước các cửa tiệm - nếu
không bị đuổi- . Tôi bước dọc trên lề đường tìm một tiệm
cafe-net vào đọc và gửi thư .Tôi vừa đi vừa đếm những con
ngõ nhỏ chen giữa những ngôi nhà bốn, năm từng. Sao mà
nhiều ngõ thế, cứ cách vài nhà lại có một cái ngõ, bề ngang
ngõ rộng khoảng từ tám mươi phân đến một thước hai.
Nhìn kỹ thì không phải ngõ! Vì nhìn lên đầu không thấy
bầu trời mà là cái trần bên dưới tầng lầu của một ngôi nhà.
Sau tôi được biết do chính sách chia nhà đất kỳ bao cấp vào
năm 1954 khi cộng sản vào Hà Nội, ai có nhà rộng phải
chia cắt ra nhiều mảnh cho người khác đến ở. Vì cần có lối
đi bên ngoài tạo ra một cái lối để đi chung, nên người ta tạo
ra những cái ngõ như vậy. Sau đó họ xây cất thêm, chỉ việc
tiếp tục lên lầu cho cao, cái ngõ trông càng có vẻ hẹp lại.
Ngay nhà của em tôi cũng phải chia ra làm ba, bốn hộ nên
cũng có một lối đi chung như thế.

Cafe-net ở trên đường Trần Xuân Soạn, ngay góc đường
Ngô Thì Nhậm. Gọi là cafe-net nhưng không bán cà phê,
tiệm có khoảng hai mươi cái máy vi tính, hầu như cái nào

cũng rất cũ, bàn đánh chữ đã mòn, nét chữ nhòe mất cả.
Tôi, một người không chuyên nghiệp, phải vừa đánh vừa
đoán xem chữ A, chữ H ở nốt nào. Vào giờ trưa hay vào
ngày cuối tuần học trò nghỉ học thì không còn chỗ cho
người lớn. Các em nhỏ tuổi từ mười đến hai mươi vào đây
chơi game. Có một lần tôi ngồi chung với các em, tôi học
được bao nhiêu điều lạ lẫm. Những em khoảng mười một,
mười hai tuổi vừa chơi game vừa nói chuyện với nhau về
trò đang chơi. Em nọ cắt nghĩa cho em kia bằng những chữ
tôi nghe chẳng hiểu gì cả dù các em nói tiếng Việt. Tôi
đoán đó là những tiếng “lóng.” Nhưng có những chữ tôi
nghe được của các em lớn hơn, tuổi mười tám, hai mươi lại
là những tiếng văng tục rất to và rất tự nhiên. Các em nói
ồn ào, văng tục, hút thuốc ngay trong một gian phòng
khoảng bốn, năm thước vuông, có trên dưới hai mươi
người, như ở chỗ không người. Tôi nghe một cậu khoảng
mười bẩy, mười tám, gọi cô bé thu tiền cho tiệm:

Thuốc lá của anh đâu, gọi từ nẫy giờ sao chưa có?

Cô bé vội mở ngăn kéo lấy ra hai điếu thuốc đưa cho
khách.

Đ.M, em mà chậm chạp thế này thì ngày mai anh đi chỗ
khác.

Văng tục xong, cậu mồi lửa châm thuốc, phà khói vào ngay
người ngồi hai bên cậu. Vừa chơi game cậu vừa chửi những
nhân vật trong máy bằng những câu thô lỗ oang oang. Ở
cuối phòng, mấy người bạn của cậu cũng không chịu kém
phần, dùng cùng một thứ ngôn ngữ với cậu. Mỗi câu nói
phải đệm theo một chữ Đ.M. Đây chắc là một thói quen
không thay đổi được. Tôi vội vàng viết nhanh mấy chữ cho

các con rồi bỏ về, cũng may thư gửi đi chỉ có chữ, không
thu được tiếng vang vào máy.

Tôi đi vòng lên phố Thi Sách, góc đường có một tiệm, đề
bảng: CHO THUÊ TRUYỆN. Tiệm rất nhỏ, trông như một
cái quán, chỉ đủ chỗ cho một người đứng bán. Một người
đàn ông khoảng bẩy mươi, đầu lưa thưa vài sợi tóc bạc,
chiếc kính lão trễ trên sống mũi, mặc một cái áo thun trắng
đã ngả mầu vàng ố, cổ áo và cửa tay áo đã sờn, đang lúi cúi
xếp sách. Những cuốn sách cũ, xếp sát lên đến trần, vây
bọc chung quanh một người trông cũng “cũ”, có sức hấp
dẫn kỳ lạ. Tôi dừng lại chào, gợi chuyện, rồi hỏi han ông
chủ cho thuê sách, ông vui vẻ kể:

Trước năm 1954, một người khác là chủ tiệm này. Tôi làm
chủ từ năm 1970. Lúc đó tôi chỉ được phép cho thuê những
truyện dịch của Pháp, Nga, truyện cổ điển của Trung Quốc,
còn những truyện có “ái tình hay tình dục” như Kim Bình
Mai thì hoàn toàn cấm kỵ. Năm 1988, được cho thuê sách
của các tác giả như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn
Công Hoan…..Sách của Tự Lực Văn Đoàn rất hạn chế.
Năm 1991, bắt đầu được đọc chưởng của Kim Dung.

Ông cười, tiếp:

Nhưng bây giờ thì tha hồ, muốn cho thuê sách gì cũng
được.

Tôi hỏi ông, sách của tác giả nào và loại nào hiện cho thuê
nhiều nhất?

- Sách bằng tranh của Nhật, Hàn Quốc đang chiếm lãnh thị
trường. Tác giả Yoshihi Nakamura có nhiều người thuê
nhất.

- Ông có đủ sống không?

Lại cười:

Biết thế nào là đủ. Bà lão nhà tôi (vợ ông) bị tai biến mạch
máu não mấy năm nay, cũng trông vào lợi tức của tiệm cho
thuê sách này. Đây không phải là một nghề làm giầu được.
Tiệm sách từ năm 1954 đến nay trải qua bao nhiêu dâu bể.
Chuyền tay nhau cố giữ lấy một tập quán đẹp, thế thôi.

Là người yêu chữ, tôi thấy quý mến ngay ông chủ tiệm
sách này.Tôi từ giã ông, với một chút buồn buồn, mong
ông giữ mãi được cái đẹp cho thành phố này. Tôi tiếp tục
lang thang, ngắm nghía những gánh hàng rong, những mẹt
trái cây, những rổ hoa cúc, nải chuối, củ khoai, bó rau,
những ổ bánh mì trên hè phố. Có lúc, đứng khựng lại nhìn
người phu khênh từng chồng gạch trên lưng trước một ngôi
nhà đang lên tầng, hay nhìn người thợ sửa xe gắn máy đang
cắm cúi làm ở một ngã tư.

Tôi bắt đầu mua hàng: ba ổ bánh mì không nhân, ba ngàn;
nải chuối, mười ngàn; túi rượu nếp (cơm rượu), hai ngàn;
tờ báo Thanh Niên, hai ngàn. Thêm bốn ngàn trả cho cafe-
net, tổng cộng sáng nay tôi tiêu hết hai mươi mốt ngàn.
(Một đô la đổi được mười sáu ngàn đồng.) Vừa mua bán
vừa trò chuyện. Biết chị bán chuối quê ở Thanh Hóa, cô
bán hoa gốc ở Hà Đông, bà bán rượu nếp gánh từ bên kia
cầu Long Biên vào, anh thợ nề từ Nam Định lên, anh thợ
sửa xe nhà ở tận Yên Bái.Mỗi người cho tôi một câu
chuyện nhỏ. Chuyện của họ bắt đầu khác nhau, nhưng nội
dung câu chuyện giống nhau, cũng cơm hàng, cháo chợ, mì
gói, nước trà, thuốc lào, ngủ qua đêm trong những nhà trọ
tập thể, hàng tháng gửi tiền về cho gia đình. Một năm về

quê một lần thăm chồng hay vợ, các con, cha mẹ đang làm
ruộng ở quê nhà. Người nào may mắn một năm để dành
được khoảng hai triệu đồng mang về, coi như sự hy sinh
sống xa gia đình, ăn ngủ kham khổ được đền bù.

Tôi cầm những gói quà mang về nhà, leo lên cái cầu thang
già nua, tường long, vôi lở. Con mèo con chạy ra kêu meo
một tiếng, theo tôi vào nhà. Cháu đi học, hai em đi dậy
chưa về. Nhà vắng, tiếng xe dưới phố vọng lên, hòa vào
tiếng loa phát thanh của phường đang kêu gọi người dân đề
phòng dịch tả, kêu gọi người dân cứu trợ lũ lụt miền Trung.
Tôi ngồi mở gói chuối ra nhai với bánh mì giữa những âm
thanh đó. Nhai và ngẫm nghĩ những điều tai nghe, mắt thấy
vừa qua dưới phố, nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy lòng mình
chùng xuống như những sợi giây điện bên ngoài rối tung từ
nóc nhà nọ sang nóc nhà kia. Miếng chuối nuốt xuống
nghẹn ngang cuống họng.

Em tôi là giáo sư dương cầm cho Nhạc Viện Quốc Gia. Tôi
về đúng vào dịp Hà Nội đang rầm rộ mừng 90 Năm Cách
Mạng Tháng Mười Nga. Nước Cộng Sản Việt Nam, nơi có
đặt tượng Lenin, người lãnh đạo cuộc cách mạng lật đổ
Nga Hoàng và lập ra nước Cộng Sản Nga vào năm 1917,
chắc chắn phải cùng ăn mừng dịp lễ long trọng này. Nhà
Hát Lớn Hà Nội tổ chức chương trình “Âm Nhạc Cổ Điển
Nga” có ca sĩ thanh nhạc, và nhạc trưởng Nga sang trình
diễn. Em tôi có vé, mời tôi đi nghe.

Nhà hát lớn Hà Nội chứa khoảng năm trăm người, ngồi kín
rạp. Phần đông là những quan chức cao cấp, các nhà ngoại
giao, các giáo sư âm nhạc có vé mời. Giữa buổi hòa nhạc,
tiếng phôn tay vẫn reo, có cả tiếng trả lời và trò chuyện qua
điện thoại, trẻ em sáu bẩy tuổi cũng được cha mẹ mang
theo, chạy ngang chạy dọc.Trong khi đó thì một phụ nữ

Nga ngồi cạnh tôi, không dám ho (tôi thấy bà lấy tay bưng
miệng). Tôi đoán bà này chắc cũng thuộc bộ ngoại giao,
hay ít ra cũng là người có trình độ.

Từ buổi hòa nhạc ra, tôi đề nghị đi bộ về nhà. Chúng tôi thả
bộ dọc theo bờ hồ, tôi cứ phải nắm chặt tay em tôi mỗi khi
sang đường, Nhưng đáng sợ nhất là gặp cảnh đua xe gắn
máy ban đêm của thanh niên. Đây là giờ biểu diễn của họ.
Mặc dù Hà Nội, mỗi ngã tư đều treo một tấm bảng có ghi:
“Cấm các xe gắn máy: luồn, lách, đánh võng, nằm dài trên
yên, đứng trên yên, chạy xe quá tốc độ, chạy xe bằng một
bánh, đứng nghiêng một bên lái xe. Tiền phạt từ 500 ngàn
đến hai triệu.”

Chuyện phạt, cấm, hình như không có hiệu quả. Từ mười
giờ đêm đến ba, bốn giờ sáng, tiếng bánh xe vẫn rít trên
mặt đường, tiếng máy xe vẫn nổ ầm ầm trong không gian.
Bắt vào rồi lại thả ra, toàn là con quan lớn hay là những con
của đại gia.

Tôi đi ngủ, hai mắt mở, nhìn lên trần nhà, đợi nghe tiếng
rao lúc nửa đêm về sáng, tiếng rao ẩn nhẫn, trầm buồn của
một giọng đàn ông: “Bánh khúc nóng đây…”. Lại một con
vạc ăn sương!

Hà Nội, 11/2007

những người lính cũ

Hai người phụ nữ chở nhau trên chiếc xe gắn máy đi vào
thành nội Huế, dưới cơn mưa đầu tháng 11. Nước ngập
ngang xe, người chở xe là một Ma xơ trẻ, quay đầu lại nói
với người ngồi phía sau:

Cô à, mình xuống dắt xe đi bộ, kẻo nước vô trong máy xe,
tắt máy bây giờ thì khổ lắm.

Cả hai xuống xe, trời tối, mưa trên đầu, nước lụt ngang bắp
chân, hai người đàn bà vừa đi vừa tìm số nhà.

Ma xơ, người địa phương, còn trẻ lắm, và tôi đến (hay về)
từ một nơi bên kia địa cầu. Ma xơ chắc đã quen với mưa lũ,
và đường phố nên đi nhanh hơn trong khi tôi vừa lạnh vừa
dò dẫm trong nước, bước hụt vào một cái ổ gà hay vấp vào
vỉa hè, chao đi xuýt ngã mấy lần. Cuối cùng chúng tôi cũng
tìm được số nhà muốn tìm. Có người đàn bà đang tát nước
ra ngoài lối đi. Tôi hỏi bà:

- Thưa có phải nhà của ông Hồng không ạ?

- Dạ phải, mời bà vào.

Bà mở cổng, chúng tôi vào một lối đi dài, bên phải là mặt
chính của nhà, bên trái có năm ba bụi cây cao thấp, trời tối
quá không nhìn rõ những chiếc lá, bóng tối làm bụi cây
trông như những cái dù to mầu đen. Bà chủ nhà như được
báo trước sẽ có khách, mời khách đi thẳng vào cuối nhà,
chỉ tay lên chiếc gác lửng:

Em tôi ở trên đó, bà cứ leo lên.

Bà nói xong đi ra, tiếp tục cúi xuống tát nước từ trong nhà
ra ngoài đường. Ma xơ ở bên ngoài trông xe, tôi đứng tần
ngần nhìn chiếc cầu thang, rồi rụt rè leo lên những bực gỗ
nhỏ. Một người đàn ông đang ngồi trên đó đón tôi bằng
khuôn mặt rạng rỡ:

- Em có nhận được phôn từ hai hôm nay ở Sài Gòn, nói là
sẽ có người ở bên đó đến thăm (Anh dùng chữ bên đó để
chỉ người ở nước ngoài về).

Tôi xin lỗi đến trễ một hôm, tôi đã lỡ chuyến máy bay Sài
Gòn-Huế hôm trước vì phi trường Phú Bài ngập nước, máy
bay không hạ cánh được và chúng tôi mới đến chiều nay.
Sau khi lấy phòng ở khách sạn tôi đã may mắn nhờ ngay
được một Ma xơ còn trẻ, nhanh nhẹn tìm nhà hộ, nếu
không thì chắc sáng mai mới tới được.

Tôi ngồi xuống sàn gác đối diện với anh, hai chân tôi
vướng víu vì dài quá và ống quần bị ướt sũng. Trước mặt
tôi là người đàn ông trung niên, khỏe mạnh, tươi tỉnh, cụt
cả hai chân sát đến thân, ngồi giữa những đồ dùng cá nhân
của anh, tôi không nhìn kỹ và nhớ anh có những gì chung
quanh, hình như có mấy cuốn sổ lớn nhỏ, cái bình thủy,
bình trà, cái radio, quần áo, chăn gối và cái điện thoại cầm
tay. Thế giới của anh thu gọn trên gian gác khoảng ba
thước vuông. Người lính Thủy Quân Lục Chiến này, không
may mắn bị thương tháng 1 năm 1975. Vì mất cả hai chân
nên anh không “được” đi cải tạo, vì không được đi cải tạo
nên anh không vào được danh sách H.O. Tôi hỏi thăm gia
cảnh, được biết anh ở đây với gia đình người chị, anh bị
thương khi còn trẻ quá chưa có cơ hội lập gia đình. Anh

cho tôi một danh sách của những người bạn cùng hoàn
cảnh như anh, so với danh sách tôi nhận được ở Sài Gòn thì
có một vài tên khác nhau. Anh nói, phải cẩn thận vì có thể
họ không phải là những người Thương Phế Binh thật. Tôi
nói, không sao cả miễn là những người này cần được giúp
đỡ. Tôi chia tay anh, hẹn trưa ngày mai sẽ gặp mặt mọi
người. Anh cầm điện thoại, mở sổ, liên lạc ngay với các
bạn, giọng anh dồn dập, gọi từng người:

Trưa mai, một giờ nghe, đến nhận quà, có người bên đó qua
thăm.

Tôi và Ma xơ lội nước về khách sạn. Tin tức khí tượng cho
biết cơn lũ vẫn tiếp tục dâng. Lũ năm nay là lũ ngâm, có
nghĩa là hết cơn nọ, tiếp cơn kia, nên nước không rút kịp,
cứ giữ hoài một mực ở những nơi trũng và ở sông Hương.
Nước sông Hương đục ngầu vì pha đất bùn. Cả thành phố
Huế gầy gò, run rẩy trong mưa lũ, tôi đi ngủ thấy mình
bồng bềnh trong câu hát: Quê hương em nghèo lắm ai ơi!
Mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn. Trời hành, Trời làm
cơn lụt mỗi năm….

Cả đêm trời mưa, đến sáng đổ xuống một cơn mưa lớn,
nước trôi phăng phăng trên đường Đống Đa, trước cửa
khách sạn. Tôi mặc áo dài, trùm áo mưa, bối rối lội nước đi
lễ ở nhà thờ Dòng Thánh Tâm trên đường Phan Đình
Phùng, đi trong nước và gió, tưởng như sắp bị cuốn xuống
con nước sông Hương đã dâng mấp mé mặt đường. Nhưng
may quá, đến trưa mưa tạnh, nước rút bớt ở một vài con
phố. Tôi nhờ Ma xơ chở lại căn nhà hôm qua.

Đến nơi tôi thấy ở gian trước, đã có năm bẩy người đàn ông
đang ngồi chung quanh chiếc bàn nhỏ chờ tôi tới. Mới
thoáng nhìn tất cả mọi người, tôi biết ngay là họ phải có

thân nhân chở tới chứ không thể tự di chuyển được. Thấy
tôi đến, họ bối rối không biết mời tôi ngồi đâu, tôi đề nghị
ngồi cả xuống sàn nhà cho rộng, tôi bỏ giầy vào ngồi chung
với họ. Ngồi trước mặt họ, tôi thấy có điều gì không ổn,
hình như đối với những người đang quây quần nơi này, tôi
là người dị tật. Tôi dư hai cái chân. Tôi lúng túng không
biết để hai cái chân thừa này vào đâu. Bẩy người bạn này,
không ai có chân cả, có người lại mất thêm một cánh tay,
có một người mù. Chúng tôi nói chuyện với nhau.Tôi hỏi
han từng người. Các anh cho biết, phần đông bị thương vào
Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), có người bị thương ngay đầu năm
1975, lúc đó đang nằm ở Quân Y Viện bị đuổi ra đường.
Tôi ngập ngừng hỏi:

Làm sao mà các anh sống còn cho đến bây giờ, nhất là
trong thời gian những năm ngay sau ngày 30 tháng 4/1975.

Các anh cười (đặc biệt lúc nào họ cũng có nụ cười trên
miệng). Một anh nói:

Khổ lắm chị ơi! Nhưng chúng em nhất định sống, người thì
nương vào vợ con, người thì nương vào cha mẹ, anh chị.
Thế rồi chúng em cũng qua được hết. Vài năm mới đây, các
anh em ở Saigon nhận được quà của các anh chị bên đó gửi
về trước, rồi đến chúng em ở Huế. Mỗi lần lễ tết chúng em
có quà cũng có bữa tiệc nhậu nhẹt với nhau, vui lắm, nhưng
vẫn phải giữ gìn, kín đáo.

Anh cụt một tay, đưa mẩu tay cụt gần đến khuỷu ra khoe
với tôi:

Em không có hai chân, cụt một tay em vẫn làm thợ lò rèn
được, em cuốn dây thép ngay vào chỗ này, để cái phần thép

dư ra trên cái đe, tay còn lại em cầm búa đập cho dẹp ra.
Cũng kiếm được hai chén cơm một ngày.

Tôi không nói được câu nào, nhìn xuống phần quắt queo
của cái tay gẫy, tưởng tượng ra sợi thép to bản quấn nghiến
vào đó, ngậm ngùi, thán phục.

Đang nói chuyện thì có một anh đi xe lăn đến, anh bị liệt từ
lưng trở xuống. Anh không xuống xe, anh ngồi yên trước
cửa nhà. Cũng không thấy ai có ý đỡ anh xuống đất ngồi.
Anh nói ít, nét mặt buồn buồn, những người bạn khác cho
biết. Anh phải nhờ giúp đỡ hoàn toàn về lên, xuống xe,làm
vệ sinh, vì anh không thể nào tự đứng lên trên hai chân
được. Tụi em tuy cụt cả hai chân, nhưng lê trên hai mông
và khỏe hơn anh, nên tự túc vệ sinh cá nhân được.

Tôi ngồi ngắm họ. Tám người đàn ông này, vào năm 1975,
họ còn trẻ lắm (người lớn tuổi nhất sinh năm 1939, người
trẻ nhất sinh 1954), họ mất cả hai chân, có anh còn mất
thêm một cánh tay, có anh vừa không chân vừa mù. Làm
sao mà họ sống còn được với cơn lốc hậu chiến! Ngay cả
người lính còn đủ mắt, mũi, chân tay đã điêu đứng lắm rồi!

Vậy mà sau bao nhiêu khổ nhục họ vẫn tìm đến nhau, dựa
lưng vào nhau để tồn tại.

Đây là những câu thơ họ viết cho nhau đọc:

Tháng tư gẫy súng hao gầy
Vòng tay khói thuốc tháng ngày hư hao
(Hồng Trần)

Cũng đôi lần đi qua đường cũ
Núi rừng xưa loang lổ chừ đã xanh cây

Rừng xanh lá còn đời tôi héo úa
Cũng đôi lần đi qua thành phố cũ
Vết chiến tranh chừ đã tân trang
Phố vươn mình thay da đổi thịt
Riêng đời tôi cứ mãi cơ hàn
(Nguyễn Nghệ)

Tôi thương cảm và kính phục họ, trong hoàn cảnh khốn
cùng nhất, bằng cách nào đó, họ vẫn đứng vững (không cần
chân) và duy trì được tinh thần đồng đội, thái độ bất khuất
của những người lính.

Tôi tặng mỗi người một phong bì, một phần thuốc bổ. Khi
tôi trao vào tay từng người món quà nhỏ đó lòng tôi thật
rưng rưng, nước mắt ứa ra (mặc dù tôi cố cầm lòng).

Tôi không biết mình muốn nói lời gì để cảm ơn những
người lính này? Họ là dấu tích, là niềm tự cao của một thời
hòa bình bên này; hay là huy chương, là tinh thần anh dũng
của một thời chiến tranh bên kia. Người Việt Nam đứng ở
hai bên vĩ tuyến 17, xác định bên này, bên kia theo tiêu
chuẩn nào?

Tôi trao đổi địa chỉ với những người bạn mới này, xin số
phôn liên lạc và danh sách của những anh em ở Quảng Trị.
Khi ra về, tôi hứa sẽ không quên họ (?).

Sáng hôm sau trời vẫn còn mưa tầm tã, tôi liên lạc, hẹn gặp
được với anh Sự ở Quảng Trị và thuê xe đi La Vang,
Quảng Trị. Trên đường từ Huế ra La Vang nước sông dâng
cao, có chỗ mấp mé mặt đường, có chỗ ngập tràn tóe nước
trên bánh xe chạy. Nhà cửa ruộng vườn hai bên ở thụt
xuống nên nước ngập cao cả thước, thỉnh thoảng có một
chiếc thuyền chở mấy đứa nhỏ từ trong nhà lên mặt đường,

chúng ướt như mấy con thỏ nhỏ vừa bị tuột lông, trông
thương quá! Giữa vùng nước bát ngát tôi đọc được trên một
tấm bảng dài, sơn đỏ, kẻ chữ vàng :“Việt Nam Dân Chủ
Ấm No Quang Vinh Hạnh Phúc” Tấm bảng đứng ngơ ngáo
như một kịch sĩ ra trình diễn không đúng lúc.

Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa, ngôi giáo đường La
Vang bị tàn phá nặng nề, tượng Đức Mẹ thương tích đến
xót xa. Tôi đứng trước tượng, bức tượng nhợt nhạt trong
mưa, những thương tích còn y nguyên, đôi mắt Mẹ buồn bã
cúi nhìn. Tôi biết Đức Mẹ đã hiểu lòng tôi, tôi không cầu
nguyện gì riêng cho mình cả, tôi đã dư đến hai cái chân,
làm sao dám xin thêm một thứ gì nữa.

Tôi cũng ngạc nhiên là mình không bị cảm lần này. Lại đi
trong mưa, trong gió, ghé vào Quảng Trị. Vùng đất Quảng
Trị nơi người dân Việt có cuộc sống hẩm hiu nhất, vừa
nghèo, chó ăn đá gà ăn muối, vừa hứng chịu những trận
đánh khốc liệt. Nơi mỗi tấc đất đều thấm máu người trong
thời chiến tranh huynh đệ.

Anh Sự hẹn tôi ở khúc đường, cách cầu Thạch Hãn 200
thước. Anh đứng trong mưa, trùm chiếc áo mưa đỏ cho dễ
nhận. Khi xe dừng lại anh cho biết đã hẹn những anh khác
đang đến. Trời vẫn đổ mưa, không vào nhà anh Sự ở sâu
trong ngõ được, tụ tập ngay ở quán cà phê bên đường, quán
này cũng lại vừa là một cái chợ nhỏ, có người mặc chiếc áo
mưa vàng, trên lưng in chữ CATP ghé vào. Anh Sự hơi lộ
vẻ lo lắng trên mặt, chữ đó có nghĩa Công An Thành Phố,
nhưng ông công an này chỉ ghé vào mua một trái mướp nhỏ
trong khi đang công tác, rồi đi.

Lần lượt những chiếc xe ôm thả tám người vào quán. Tôi
theo họ vào, họ không mất hai chân như các anh ở Huế,

nhưng mỗi người có một bàn chân gỗ thò ra dưới ống quần
nhầu nhĩ. Họ trông thảm hại, thiếu thốn quá! Chắc lúc khô
ráo đã thảm hại rồi, mưa ướt còn làm tăng thêm nỗi nghèo
khổ. Họ không được lạc quan như các anh ở Huế. Có anh
mang theo cả Chứng Minh Thư có số quân của ngày tháng
cũ. Tôi thấy đau lòng quá. Tôi cũng chẳng nói gì với họ
được lâu, vì còn phải quay lại Huế, trời thì mưa, lạnh, chỗ
đứng trong quán chật hẹp, người ra vào mua bán, và hình
như họ cũng không dám tụ họp lâu. Trông họ bồn chồn
quá! Tôi ghi tên họ xuống (chỉ lấy tên, không lấy họ). Có
hai thanh niên trẻ đi nhận quà cho cha mình. Tôi có địa chỉ
và điện thoại của anh Sự rồi. Tôi hứa với lòng là sẽ gọi một
vài người bạn rất thân ở ngoài nước giúp những người bạn
trong nước này có cái quần, cái áo ấm hơn trong những
ngày mưa lụt, có miếng thịt miếng cá to hơn trong ngày lễ
tết.

Khi quay xe ra về, tôi nói anh tài xế cho tôi ngừng lại ít
phút ở cầu Thạch Hãn. Nơi đây, Mùa Hè Đỏ Lửa đã là mồ
chôn của bao nhiêu người lính của cả hai miền Bắc Nam.
Một tượng đài được dựng ngay bên cầu Thạch Hãn có mô
hình những giọt máu đỏ đang chẩy xuống. Tôi hy vọng khi
treo những giọt máu này lên tượng đài, ai đó đã hiểu là
những giọt máu này không phân biệt Bắc Nam, và chắc
chắn một điều, nước dòng sông Thạch Hãn đã hòa máu,
nước mắt của dân, quân cả hai miền.

Anh tài xế nói, vụ đánh mùa hè 1972, nơi đây không còn gì
sót lại. Không nhà, không chó, không mèo, không người,
một vùng đất chết. Tôi nhớ đến câu thơ của Giuseppe
Ungarette (Thi sĩ Ý 1888-1970) viết về một ngôi làng bị tàn
phá trong chiến tranh. Những bức tường bị cào nát, người
thân chết hết.

But in my heart
No cross is missing
My heart is the most tortured village

(Không còn gì cả ngoài thánh giá trong tim/ Trái tim tôi là
một ngôi làng bị tra tấn nặng nhất.)

Tôi trở về Mỹ mang theo hình ảnh và địa chỉ của những
người lính cũ. Trái tim tôi có phải là một ngôi làng đang
được chúc phúc hay không?

Huế và Quảng Trị 1/2007

một mình

- Gửi anh Sơn

Người đàn ông sửa soạn một chuyến đi xa. Đây là lần đầu
tiên ông đi du lịch một mình sau hơn bốn mươi năm hôn
phối. Vợ ông mới qua đời hơn hai tháng. Ông thực hiện
chuyến đi này theo ý của người vợ, bà đã dự tính sẽ làm
một chuyến đi cuối đời, từ miền đông đến miền tây bắc, nơi
có mấy người em họ rất thân của ông, rồi bay xuôi xuống
nam Cali thăm anh, chị, em ruột bên ông trước khi về Việt
Nam ăn tết với gia đình bà. Mấy tháng cuối cùng của căn
bệnh, bà biết mình không đủ sức thực hiện được, nhưng
vẫn phác họa cuộc hành trình. Bây giờ ông thực hiện
nguyện vọng của vợ, một mình.

Trước đây dù sức khỏe của bà kém, mỗi năm, ông bà vẫn
cùng nhau đi xa, đi tận chân trời, góc biển, đi đến sơn cùng,
thủy tận. Ông nghĩ mang bà đi như thế, bà sẽ không để hết
tâm trí lo lắng về bệnh tật, sẽ phấn đấu, và mỗi lần đi sẽ
tăng thêm phần tự tin cho cả hai vợ chồng. Quả thật, nghị
lực của bà mạnh hơn ông nghĩ. Bà cầm cự được hơn bẩy
năm với căn bệnh hiểm nghèo. Đi đâu ông cũng chỉ lo việc
mua vé, bà lo quần áo, thuốc men, thông hành, chiếu khán.
Bây giờ có một mình, ông tung bừa mấy ngăn tủ, tìm mãi
mới đủ áo trong, áo ngoài; giấy tờ, sổ chích tìm cả trên gác
dưới nhà, cuối cùng, mới nghĩ ra được là bà cất sổ thông
hành trong ngân hàng.

Ông ngồi trên máy bay, chuyến bay trong nước, thẳng từ
miền đông sang miền tây bắc hơn năm tiếng, ông bỗng nhớ

vợ vô cùng. Chiếc ghế bên cạnh ông, bên phải hay bên trái
nhỉ? Bên nào cũng là một người lạ. Ông chẳng để ý họ đen
hay trắng, đàn ông hay đàn bà. Nhất định không phải vợ
ông, để ý làm gì. Ông nhắm mắt lại cố ngủ, nhưng không
ngủ được, ông giơ tay vuốt mặt mình. “No one ever told me
that grief felt so like fear” (C.S Lewis.) Ông khẽ rùng mình,
một nỗi sợ hãi vu vơ ở đâu chợt đến với ông. Có phải cái
cảm giác chông chênh, trống trải chung quanh làm ông sợ.
Chao ôi! Làm sao ta phân biệt được giữa đau thương mất
mát và sự sợ hãi. Hình như cả hai là một.

Một tuần ông ở vùng tây bắc, gặp mấy gia đình, các em,
các cháu; gặp ai, nói chuyện gì cũng làm ông nhớ vợ. Cái
buồng ngủ này, cô em vẫn dành riêng cho ông bà, mỗi lần
ông bà đến; bây giờ trên giường chơ vơ một cái gối. Cô em,
một, hai hôm, lại hỏi:

- Anh có lạnh không? Em lấy thêm chăn nữa nhé!

- Không, đủ ấm rồi, chăn lông ngỗng mà.

Cô em quay ra, ngậm ngùi thương ông anh, nói khe khẽ
trong ngực mình:“Chiếu chăn không ấm người nằm
một/Thương bạn chiều hôm nằm gối tay”(*)

Ông sẽ nằm gối tay hoài. Cô em biết thế, thỉnh thoảng lại
nhắc ông anh:

- Anh đừng cưỡng lại, buồn cứ buồn, muốn khóc cứ khóc.
Đừng nghĩ đàn ông không nên khóc. Khóc được rất tốt, đó
là sự lành mạnh cho tinh thần, thời gian sẽ là những viên
thuốc tốt nhất, sẽ từ từ chữa lành mọi vết thương.

Cô để ý, thỉnh thoảng thấy anh đang nói, cười, bỗng ngồi

thừ người ra. Những lúc đó cô nhìn đi chỗ khác, biết là anh
đang nhớ đến chị. Để im cho anh ấy nhớ, cô đứng lên cắt
quả cam hay pha ấm trà mới, mang đến cho anh. Cô nghĩ
đến cái bánh xe đời sống, vợ chồng ai rồi cũng sẽ rơi vào
cảnh huống đó, một người đi trước, một người đi sau. Đi
sau bao lâu? Ai đi trước? Ai đi sau? Đó là những câu hỏi
không có câu trả lời. Chỉ biết người ở lại cần một thời gian
thích nghi với hoàn cảnh bỗng dưng mọi sự thay đổi quanh
mình.

Ít hôm nữa ông về Sài Gòn ăn tết với gia đình vợ. Ở đó có
những người gọi ông là “dượng,” không phải là “chú” hay
“cậu” như gia đình người Bắc bên ông. Ông và bà cả hai
người cùng là sinh viên du học của thập niên 60, họ gặp
nhau ở Mỹ. Hồi xa xưa đó, ông là một thanh niên gốc Hà
Nội di cư, bà là cô thiếu nữ đặc Sài Gòn. Cả hai cùng nói
tiếng Việt nhưng cách pháp âm hoàn toàn khác nhau. A, cái
điều này quả thực hấp dẫn! Họ cùng nhau tìm hiểu đời sống
trên đất khách, và mỗi người lại còn phải khám phá ra cái
thế giới rất lạ của người cùng nước, nhưng khác miền.
Chính điều này là đầu mối của tình yêu. Rồi họ lấy nhau,
con trai của họ gọi cha mẹ là “bố” và “má”. Họ hàng bên
ông có người gọi bà bằng “mợ”, bên bà có người gọi ông
bằng “dượng”. Chao ôi, ngôn ngữ Việt Nam sao mà tuyệt
vời như thế nhỉ!

Ông nhớ lại lần đầu ngỡ ngàng khi về Việt Nam thăm bên
vợ. Đã lấy nhau rồi, nên ông không còn phải ở trong cảnh:
“Chuột kêu rúc rích trong rương, anh đi cho khéo, kẻo đụng
giường má hay (Ca Dao.) Nhưng cách thức ăn uống, nói,
cười, cái gì ông cũng thấy lạ. Gia đình bên vợ khá đông anh
em, vợ ông là con thứ nên ông được anh vợ, chị vợ, và
những người cháu của vợ kêu ông bằng “Dượng Năm.” kêu

theo thứ bực của bà. Cái tên mới này bắt đầu ông thấy
ngượng ngập, sau nghe quen tai, ông thấy thân tình quá.

Bây giờ “Dượng Năm” về ăn tết một mình, mang trong va-
li quần áo một cuộn phim quay hôm tang lễ của “cô Năm.”
Ông biết khi gặp lại gia đình vợ, ông khó mà cầm được
nước mắt. Cả một gia đình đang đợi ông về để cùng khóc.
Ông tự nhủ sẽ cố “Tìm an ủi người hơn được người ủi
an”(Kinh Hòa Bình-St.Francis).

Đang vào đông, nhưng Seattle mấy hôm nay có nắng. Có
hôm nắng nguyên ngày, có hôm nắng sáng từ tinh mơ, hay
nắng đến giữa trưa. Bầu trời lúc nào cũng xanh ngắt một
mầu; gió lạnh vừa đủ để xuýt xoa; nắng vừa đủ để quyến rũ
mọi người ra đường đi bộ. Chồng cô em ở sở làm, gọi về
nhà rủ vợ và ông lái xe đến đậu ở bãi đậu xe của sở mình,
rồi cả ba cùng bách bộ một tiếng vào giờ ăn trưa.

Họ đi qua những công viên, giẫm trên những thảm cỏ xanh
ngọc, ướt đẫm sương, làm sũng cả giầy; những con đường
mòn, đất xốp như đang bước trên miếng bọt biển, có cả cái
hồ nho nhỏ tên là “Phantom Lake” với những ngôi nhà phía
bên kia hồ, mờ mờ, tỏ tỏ, đẹp như trong tranh vẽ; họ đi qua
những xóm, những nhà; vườn hoa nhà ai đang nở nốt
những bông cuối đông, như một hạnh phúc còn lưu lại; cây
hồng (persimmon) nhà ai còn xót một vài trái trên cành như
những chiếc lồng đèn treo chờ lễ hội; họ ngước nhìn một
người thợ xẻ đang chót vót trên một ngọn cây thông, cắt
từng khoanh cây, vứt xuống trông rất ngoạn mục; tất cả
những hình ảnh đó được vẽ ra trong một bầu trời trong vắt,
xanh biếc, một không gian thơm ngát mùi thông, nắng như
mật ong chảy xuống vai ba người. Ông bật kêu lên:

- Đẹp quá!

Họ vừa đi vừa ngước nhìn bầu trời, vừa cúi nhìn cây cỏ,
thanh thản giữa đất trời. Nhưng lòng ông có thực sự thanh
thản đâu. Trên đường lái xe về nhà, chỉ còn hai anh em. Cô
em hỏi:

- Anh còn chê Seattle của em nhiều mưa nữa không? Nếu
không có đủ nước mưa rơi xuống, làm sao anh có một thiên
nhiên thơm tho, đẹp đẽ và tinh khiết đến thế này!

Ông chậm rãi nói:

- Tôi chẳng thấy cái gì đẹp cả nữa.

Cô em biết ông anh đang tủi phận góa bụa của mình. Cô im
lặng. Vết thương của ông còn mới quá, nó không làm độc
nữa nhưng chưa kịp khô. Mới nửa tiếng trước ông thấy đất
trời đẹp, nửa tiếng sau, nỗi buồn lại ập xuống âm u. “Đau
đớn về tử biệt không chia xẻ cho ai được. Ai cũng phải
mang vác một mình gánh của họ, theo cách riêng của
họ.”(Ann M. Lindbergh)

Tiễn anh ra phi trường để xuống Cali, rồi chuẩn bị cho cuộc
hành trình về Việt Nam với gia đình bên vợ. Nhìn theo cái
lưng anh khuất sau cánh cửa kính, cô thấy thương anh, héo
ruột.

Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
(Nguyễn Bính)

(11/2008)

(*) Không rõ tác giả

bên kia bên này

Gửi em Cường ở quê nhà

Hai chị em mỗi người nằm một giường, cái cao cái thấp,
nói chuyện mỗi tối trước khi đi ngủ. Chuyện ngày thơ dại,
ngày chia hai đất nước, chuyện tình yêu tuổi trẻ, chuyện ai
mất ai còn, chuyện chiến tranh, chuyện hòa bình, tiếng cười
và nước mắt.

Tối nay mình nói chuyện gì hả em? Chuyện họ hàng ở Yên
Bái, chuyện anh Chính, anh Hưng, con bé Hòa, thằng Hợi
đã nói rồi. Hay mình nói chuyện “Bên Này, Bên Kia” đi.
Hai chữ bên này bên kia thật là phức tạp và hoang mang.
Chị nhìn sang em thì chị nói bên kia, em nhìn sang chị thì
em cũng gọi là bên kia nữa. Trong khi hai chị em cùng một
chi tộc họ nội, một quê quán, một quốc gia.

Chị về thăm nhà đã mấy lần rồi, mà chưa bao giờ em có dịp
nói chuyện với chị về những ngày đi “sơ tán”, đi “thâm
nhập thực tế”. Những chữ đó chắc chị chẳng thế nào hiểu
hết tận cùng cái nghĩa của nó đâu. Chị cần ở lại Hà Nội với
em ít nhất là một tháng, chẳng đi đâu may ra mới đủ thời
giờ nghe những chuyện trong thời chiến tranh này.

Chuyện chiến tranh nói một tháng được hả em? Cả hai
miền Bắc Nam con số người chết lên đến hàng triệu, nói
vài chục phút, mỗi tối trước khi đi ngủ trong một tháng, hết
được hả em? Thôi, tại sao lại gọi là sơ tán?

Em xin nói về chữ sơ tań theo thiên̉ ý cuả em. Sơ là tạm,

taṃ thơì , qua loa, sơ saì ... giống như trong sơ bô,̣ sơ cưú .
Tań giôń g trong ly tán, khuếch tán, nghiã là chia ra, tan̉ ra,
tać h ra, làm vụn ra như bột... Vậy sơ tań là “tạm lánh”. Em
đoań có lẽ thế thôi chứ chưa ai giaỉ thić h hai chữ ấy ca,̉
duǹ g là cứ dùng thôi. Em nghĩ chắc đuń g, vì nó khác với
tản cư hay di tan̉ , người ta phải ở hẳn lại một chỗ trong một
thời gian nào. Sơ tań thì vẫn đi đi, về về nhà cũ của mình
mỗi tuần, chẳng có ai chiếm nhà của mình như thời tản cư
cả. Chỉ là tránh xa ra một chút (về không gian hay về thời
gian).

Chị ơi! Chị cứ hình dung ra một cảnh thành phố chết dựng
trong phim trường đi. Thành phố vắng hoe, không tiếng xe
cộ, tiếng người lớn mua bán hay tiếng trẻ con nói cười, cả
tiếng chó gâu gâu, tiếng meo meo của mèo cũng không, vì
chó, mèo cũng theo chủ nhà đi lánh bom. Chỉ khác là thành
phố chết trong phim họ có để tiếng nhạc, còn thành phố
chúng em bỏ đi là thành phố câm. Maý bay băt́ đâù bỏ bom
miền bắc ngày 5-8-1964. Lúc đó em mới hai mươi tuổi,
cũng là năm sơ tań bắt đâù .

Năm 1964 hả em? Lúc đó chính phủ Ngô Đình Diệm đã
hết, chính phủ mới bỏ chính sách Ấp Chiến Lược, nên bên
kia len lỏi sang bên này rất dễ. Trong Nam không ai phải đi
sơ tán cả. Nhưng miền Tây Nam Việt thì người dân không
được sống yên ổn, nhất là những xã, ấp. Ban đêm người
bên kia về thâu thuế dân, bắt những thanh niên của bên này
đem đi thủ tiêu, hoặc giết rồi vứt xác trước cửa chợ. Người
bên kia lấy danh nghĩa “giải phóng” giết ấp trưởng, giết xã
trưởng. Nếu được thả về thì sáng hôm sau người dân lại
(đôi khi) bị chính bên này bắt lên hỏi xem đêm qua đi đâu?
Có phải là người của bên kia không? Tội cho dân lành lúc
nào cũng ngơ ngác sống chết giữa bên này và bên kia.
Không biết mình phải sống thế nào?

Chị ơi! Sơ tań khać với tan̉ cư. Chị còn nhớ những năm tản
cư thời giặc Phaṕ , lúc đó còn có tiêǹ tuyến và hâụ phương,
coǹ trań h máy bay thì chỉ có về các vùng nông thôn heỏ
lánh, càng xa các nhà máy, cầu cống, cać khu quân sự càng
tốt, cốt sao cho khỏi tập trung nhiều dân ở môṭ nơi, chứ thâṭ
ra, chỗ naò cũng có thể ăn bom ca,̉ nếu máy bay muốn thả
bom. Hôì ấy, moị người đi theo cơ quan (sở lam̀ ) của mình,
nên nhiều nhà bố đi môṭ nơi, mẹ môṭ nơi, cać con một nẻo
(vì mỗi người ở một sở khać nhau, con thì đi theo trường
học). Khổ nhât́ là phải mua thêm chăn chiếu, cà-meǹ (gà
mên), bát đũa, để chia ra cho mỗi người trong gia đình,
khoản tốn kém đó đâu có ai đỡ cho, vì ai cũng nghèo như
nhau cả. Thời kì sơ tán phố xá văń g hoe, ít ngươì ở laị ,
nhưng cuối tuâǹ vâñ đông người. Thực ra công sở tránh
bom, mọi người phải đi theo công sở để làm việc thôi, chứ
không phải để trań h bom cho cá nhân mình. Nên cuôí tuâǹ ,
được nghỉ lam̀ là mọi người lại keó về thành phố đông
nghịt. Trừ thời gian mười tám ngaỳ cuối năm 1972 thì ác
liệt nhất, Hà Nội bị dội bom vào tận trong nội thành, nhưñ g
người gan lì nhất cũng phaỉ taṃ lań h ra ngoaị ô hay tin̉ h
khác, không daḿ ở laị thành phố để mà làm bia đaṇ .

Em biết không? Như vậy các em còn may mắn đấy. Chị ở
bên này, những cây cầu bị giật mìn ban đêm. Xe đò gặp mô
đắp giữa đường, để bắt thanh niên, những người buôn gánh
bán bưng vô cùng sợ hãi mỗi khi thấy những người bên kia.
Có những chiếc xe đò bị mìn bên kia giật tung, nhặt ra toàn
xác đàn bà, trẻ con. Tội lắm, em ơi! Người dân quê làm
ruộng, làm rẫy, mang ngô rau lên tỉnh bán. Sáng ra đi,
chiều có người gõ cửa mang xác về nhà.

Người bên kia chẳng hiểu sao mà dựng lên cái chiêu bài
“giải phóng miền Nam” rồi bằng mọi cách mang người

sang bên này. Đang sống yên ổn người dân bên này bỗng
phải đối đầu với không biết bao nhiêu vấn đề: pháo kích, du
kích, đặc công, tấn công, khủng bố, nằm vùng cộng thêm
đảo chánh, biểu tình nội bộ. Tất cả đổ lên đầu lính, đầu dân.

Cũng may sau đó không lâu thay đổi đường lối chính trị.
Thời kì sơ tań thực sự châḿ dứt sau khi kí Hiêp̣ định Paris
ngày 27-1-1973. Nói kỹ hơn một chut́ thời kì 1969-1971
cuñ g có nhiêù cơ quan trở về Hà Nội làm việc vì lúc đó là
Nixon xuôń g thang chiến cuôc̣ , tạm ngưǹ g ném bom.
Nhưng sau đó những trận bom lại tiếp tục đổ xuống.
Năm1972, chiến tranh ać liệt trở lại, cać cơ quan laị lục tục
đi sơ tań lần thứ hai. Chị thấy không, suốt thời gian bắt đầu
1964 đến 1973 chỉ có đúng một năm, người dân Hà Nội
không phải chạy sơ tán.

Không phải chỉ miền Bắc chịu ảnh hưởng ném bom đâu.
Một bà hàng xóm bên Mỹ của chị, trước ở Bến Tre cho chị
biết là con trai của bà được sinh dưới hầm trú bom, và trú
luôn hai tháng dưới đó. Anh bị thủng màng nhĩ tai và trở
nên ngờ nghệch. Anh được theo cha sang Mỹ (diện HO)
được hưởng trợ cấp tàn tật. Bây giờ mỗi lần gặp anh ta, nói
chuyện chị phải cao giọng, và cắt nghĩa những điều rất đơn
sơ anh ấy vẫn không hiểu được. Chiến tranh hết rồi, nhưng
trông anh ta như giọt mực đen, còn đọng lại. Giọt mực
loang từ bên này sang bên kia, loang qua cả Thái Bình
Dương.

Em kể chị nghe. Môĩ lâǹ đi như thế rât́ vất va,̉ vì phaỉ đem
đi baǹ ghế tủ giả, tài liệu học tập của mỗi cơ quan và phải
tim̀ nơi mơí , vì điạ phương cũ không thić h miǹ h đêń nưã .
Họ bảo :

- Cać cô, các chú đi đến đâu là máy bay theo đêń đâý .

Như thế có nghĩa là làm vạ lây cho họ. Em đang học piano
ở Nhạc Viện Quốc Gia nên khổ nhất, vì những caí đaǹ
piano, khuân lên khuân xuống có ai đâu, trông vào mấy cậu
học sinh chân yếu tay mềm như em lúc đó, khiêng đàn đêń
chai tay, bật maú , coǹ đâu sự mềm maị để mà đań h đaǹ nưã
cơ chứ! Hồi đó, cả miêǹ Bắc đêù chỉ đi lại băǹ g xe đap̣ ,
Chẳng nhà nào có xe gắn máy. Thế mà cứ cuôí tuần, haǹ g
đaǹ haǹ g lũ xe đạp nối đuôi nhau trên đường, cać h Hà Nội
hàng trăm cây số, kéo nhau đi, kéo nhau về là laị phải lên
trươǹ g, thế mà em vẫn đi về đêù đặn như vâỵ .

Em à, Bắc Hàn, Nam Hàn, Đông Đức, Tây Đức họ cũng
phân chia nhưng họ có cần “giải phóng” cho nhau bằng
mạng sống của hàng triệu người như mình đâu. Bên nào
sống ở bên đó, vì không “giải phóng” nên người dân không
chết oan ức.

Em có biết là đi sơ tán còn có thời gian chạy xuống hầm trú
bom, chứ người dân miền Nam những năm bị pháo kích thì
có thể chết tan xác thật tình cờ. Gia đình cô em dâu bên họ
ngoại của chị ở miền Tây, đang ngồi ăn cơm, trái pháo 112
ly rơi vào giữa mâm. Mẹ và em cô ấy chết tung ra như
pháo nổ, thịt xương người lẫn cả vào xương thịt ở trên mâm
bắn tóe khắp nhà, nồi cơm bỗng như được pha phẩm đỏ.
Đau đớn này theo cô ấy suốt một đời.

Ngay ở Sài Gòn, đang ngồi trong rạp hát cũng chạy toán
loạn lên vì có bom nổ chậm gài dưới một cái ghế nào đó.
Một buổi tối chị đi ăn cưới với mấy người bạn về, đi qua
một cái sạp bán báo, đã đóng cửa.Vừa đi qua một quãng thì
một tiếng nổ lớn phát ra tại đó. Bọn chị chạy tán loạn. Hóa
ra có ai đó bên kia, gài plastic dưới gầm sạp. Chỉ đi chậm
mấy bước thì chắc thế nào cũng có người bị thương. Những

phá hoại nằm vùng của bên kia sang bên này khiến người
dân thành phố lúc nào cũng sống trong bất an.

Không biết thời sơ tán ngươì ta thương yêu nhau hơn bây
giờ hay tại vì lúc đó mình coǹ tre,̉ mà lúc này đây kể lại
thời kì đó, mình lại thấy nên thơ, lañ g mạn. Nhưñ g cực khổ
của lúc đó dươǹ g như bị quên đi, chứ thực ra luć đó khổ hết
chỗ noí : ăn cơm độn sắn, khoai. Có khi là mì sôń g (Trung
Quốc viện trợ), năḿ một năḿ để lên trên nồi cơm (tiêu
chuẩn nhà nươć ). Lúc ăn, bắc ra cục mì nhão nhoet́ bên
ngoaì , bên trong vâñ coǹ nguyên bột; cũng có khi cuc̣ bột
mì cưń g như đá, không làm sao ăn nôỉ , neḿ cho cho,́ chó
chạy, nếu trúng con cho,́ có khi nó lăn ra chết, không chết
thì cũng sưng bươu đâù (là em đoań thế chứ cũng chưa ném
trúng con chó naò ). Chuyện về thơì kì sơ tán thì còn nhiêù
lăḿ , chị phải “ba cùng" vơí nhà em hàng thań g trời mới có
thơì gian kể hết được.

Em có biết vào thời điểm đó chuyện gì xẩy ra không? Trời
ơi, sợ nhất là năm Mậu Thân. Quân dân miền Nam thành
thật quá, cứ tin là mấy ngày đầu năm cả hai bên cùng đình
chiến. Chỉ trừ những người đồn trú xa xôi quá, còn thì
những người trấn đóng gần nhà, có lệnh cấm trại vẫn “dù”
về. Quan cũng như lính, không hề nghĩ đến bên kia đơn
phương xé bỏ thỏa hiệp đình chiến, đem tang tóc đến cho
dân lành ngay trong khoảng thời gian thiêng liêng dành cho
trời đất và tổ tiên này. Cha mẹ lợi dụng vài ngày đình
chiến, gọi con cái về cúng giỗ ông bà. Khi súng nổ tưởng là
tiếng pháo nổ. Cứ đứng giữa trời mà “cúng thiên.” Kết quả
là mồ chôn tập thể, là “Giải khăn sô cho Huế.”. Khói hương
trên bàn thờ bị tan vào khói súng, xác pháo nhuộm máu
người. Chị biết người Việt của cả hai bên, ai cũng nhớ cái
tết này. Chỉ khác là cách nhớ mỗi bên khác nhau thôi.

Chị ơi! Luć mơí đi sơ tán, chúng em coǹ rất tre,̉ phâǹ lớn là
con caí nhà tiểu tư sản (tiểu tư sản mới học đàn piano chứ),
chưa xa bố mẹ bao giờ. Nay về nhà quê, chiụ bao khó khăn.
Đầu tiên là lối sống nhà quê phaỉ làm quen: đi chào về
chaò , chaò cả người không quen. Nếu không sẽ bị kêu là ăn
cháo hêń . (Ý chỉ miệng đâu sao không chào). Chúng em ở
trong những ngôi nhà tranh vać h đất, nằm phản, năm̀ chõng
tre. Đêm đêm thăṕ đèn dâù . Tắm ngay cạnh giêń g ăn,
chẳng có nhà tăḿ gì cả. Múc tưǹ g gâù lên mà dôị . Muà hè
coǹ đỡ, mùa đông thì ret́ căt́ ruột vâñ dôị nươć lạnh vì vùng
quê này thiếu cái đun. Muà gặt còn có rơm rạ mà đun nấu,
hết rơm rạ thì đi quet́ lá cây mà đun. Nhà chủ coǹ không đủ
thì sao mình dám. Môĩ nhà thường là có hai học sinh ở nhơ.̀
Hôì mơí đi sơ tań , chúng em coǹ mặc aó trăń g, sau phaỉ
nhuôṃ xanh nhuôṃ nâu tất cả, vì sợ máy bay trông thấy.
Máy bay Mỹ thường xuyên bay trên đâù nơi chuń g em ơ.̉
Nó bay sát mái nhà, và bay vơí tốc độ siêu âm, thành ra khi
nó bay qua rồi mới nghe thấy tiếng gầm rú cuả nó. Ngày
xưa chỉ nghe tiếng máy bay cánh quaṭ , chưa nghe tiếng
máy bay phản lực bao giơ,̀ nên dạo đầu hay lẫn tiêń g máy
bay vơí tiêń g sấm. Nhiêù lúc các bà (nơi miǹ h ở nhờ) bảo
trời năń g thế mà có sâḿ nhi?̉ Mỗi khi máy bay đến thì việc
đâù tiên là cất tât́ cả quâǹ áo phơi trên dây vaò nhà (sợ máy
bay nó nhiǹ thấy), nhât́ là quâǹ aó trăń g. Chính vì thế mà
sau này chuń g em nhuôṃ hêt́ thành maù xanh, nâu, tím...
cho nhà chủ khỏi kêu.

Tưởng cać bà cać cụ sợ bóng sợ vía thế thôi, hoá ra về sau
máy bay Mỹ bay vaò rât́ thâṕ , nhiǹ rõ phi công ngôì trong
buôǹ g laí , mình nhìn thấy họ, tức là họ cũng nhiǹ thấy rõ
miǹ h, đuń g thôi. Chỉ có điều máy bay, bay đêń rất êm,
không thấy tiêń g động, chỉ thấy tôí cả một góc sân laị trong
giây lát. Đêń luć bay qua rôì , tiêń g rít như tiêń g sét của nó

mơí tơí làm giật nảy ngươì lên. Và moị người cuôń g cuồng
chui xuôń g hố (tăng xê). Em buôǹ cười bảo mọi ngươì :

- Mình đã nghe thấy tiếng máy bay tưć là nó đã đi rât́ xa
rôì , vì tiêń g động đêń châṃ hơn nó. Nêú nó định bỏ bom
nơi miǹ h ở thì chăć là miǹ h "ngoẻo” trước khi miǹ h biết.

Những thảm sát thường dân trong Tết Mậu Thân bên Mỹ
không hề được biết, nên năm 1974, khi hai trăm người lính
Mỹ ở Fort Benning, Georgia được xem cuốn phim Mậu
Thân, họ đã thú thật: “Nếu được biết vụ thảm sát dã man
này, thì chắc chắn chúng tôi sẽ hành xử khác (act
differently) khi chiến đấu ở Việt Nam.” Cũng vì không biết
nên mới có những vụ biểu tình phản chiến của sinh viên
Mỹ.

Em thầm cảm ơn ông hiêụ trưởng đã tìm ra nơi heỏ lań h,
nghèo khổ này để tạm cư, nhưng cũng không quá xa cać
cây cầu để coǹ có dịp xem máy bay, bay qua neḿ bom vaò
cać cây cầu ấy, và cũng được xem trận mưa đạn cao xạ của
bộ đôị bắn lên, trông giống như pháo hoa đêm giao thưà .
Hoăc̣ khi máy bay bên này lên nghênh chiêń thì máy bay
hai bên bay tit́ trên cao, giống như những ngòi but́ bằng
theṕ lâṕ lań h trên bâù trời năń g găt́ , quần đaỏ , lộn
voǹ g... đẹp mắt lăḿ . Đuń g là tuôỉ trẻ, chẳng biêt́ sợ, lại lấy
thế làm vui. Caí sợ nhât́ ở nơi sơ tań không phaỉ là máy bay
neḿ bom (máy bay nó them̀ ném bom caí làng xać xơ này
lam̀ gì), mà là man̉ h đạn phaó cao xạ của chiń h bộ đôị miǹ h
bắn lên, rớt xuôń g đầy đồng. Từ đó nhà trươǹ g băt́ hoc̣ sinh
đan mũ rơm đội lên đâù môĩ khi ra khỏi nha,̀ nhưng mà
chuń g em đội lấy lệ thôi, vì nó năṇ g và noń g lắm, không
quen. Nhất là bọn con gái, sợ xâú . Mà cũng chưa thâý ai
trúng mảnh đaṇ nên cũng chủ quan, mặc dù mảnh đạn thì
nhiêù người nhăṭ được.

Ừ, nhưng này em. Em có nghe đến tên thành phố An Lộc
bao giờ chưa? Cái thành phố mà năm 1972 trong vòng hai
tháng đã nhận hai trăm ngàn quả đạn đủ loại của bên kia
bắn sang. Trung bình cứ hai mươi mét vuông thì bị một quả
pháo kích.

Em biết không? Trận đánh An Lộc số tử vong lên đến bốn
ngàn người, vừa binh sĩ vừa thường dân. Nhưng quân đội
bên này rất hãnh diện khi họ lấy lại được thành phố đó
bằng máu và nước mắt.

Câu hát: “Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân
yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu.” (1) Bây giờ sau
mấy chục năm sống ở nước người, mỗi lần nghe lại câu hát
này chị vẫn ứa nước mắt, thấy đau buốt trong ngực, câu hát
như câu kinh nhuộm bằng máu. Chị là phụ nữ, sống ở giữa
thành phố Sài Gòn, nên kinh nghiệm về chiến tranh của chị
dù có đau thương cũng không thấm gì so với những người
lính đích thân tham dự vào cuộc chiến, những người dân
quê phải sống ở những vùng “xôi đậu” ( Ban ngày quốc
gia, ban đêm cộng sản).Chị làm sao thấu hiểu hết những
đau khổ của chiến tranh. Bây giờ sau mấy chục năm kết
thúc cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn” bằng súng đạn
này, người dân Việt đã thực sự có được sống một cuộc
sống bình đẳng, hiền hòa, no cơm ấm áo không?

*

Tôi nằm ngước mặt nhìn lên cái trần nhà hoen loang lổ
những vệt nước mưa dột. Câu hát “Rồi anh sẽ dựng căn nhà
xưa, rồi anh sẽ đón cha mẹ về….Ta lại gặp ta, còn vòng tay
mở rộng, thương mến bao la…”(2) tự nhiên vang lên trong

đầu tôi. Mỗi chữ là một nỗi ngậm ngùi, dù súng đạn giữa
bên này bên kia không còn nữa, giấc mộng đơn sơ đó xa lắc
xa lơ tưởng như không bao giờ với tay vào được. Em tôi
nói: “Chị ơi, đừng có lo trần rơi từng mảng xuống đầu, vết
tích của mấy mươi năm cũ đó, bây giờ hết dột rồi. Lần tới
chị về em sơn lại.”

Tất cả chúng tôi, hai vợ chồng người em, đứa cháu trai 16
tuổi, bà chị từ Mỹ về chơi, ngủ chung một căn buồng mỗi
bề sáu thước. Vừa là buồng sinh hoạt gia đình, vừa là
buồng học, buồng ngủ. Buồng có hai giường nên cháu trải
chiếu nằm dưới đất, nhường giường cho bác.

-Chị ơi! Còn câu “thâm nhập thực tế” nữa chứ. Câu đó áp
dụng cho những người cầm bút như chị đấy. Vì hồi cải
cách còn gọi là đi “ba cùng” nghĩa là cùng ăn, cùng ở, cùng
làm với nông dân để lấy tài liệu mà viết. Nhưng không ai
muốn hiểu như vậy, những nhà văn đó hiểu ra họ bị đi “cải
tạo tư tưởng”, để gột rửa đầu óc tiểu tư sản, để thấy lao
động là vinh quang.

-Em ơi! Mấy hôm nay chị ăn, ở trong căn nhà này, ngủ
chung một buồng với cả gia đình em, có phải chị đang “ba
cùng” với em không?

- Đúng rồi chị ạ. Nhưng đây là “Được” không phải “Bị”

- Phải nói là “Bốn Cùng” mới đúng, vì chị em mình vừa kể
lại những mảnh chiến tranh bên kia và bên này, những
mảnh chị em mình không nhìn, không nghe thấy bao giờ.

Nhưng, em ơi mùa này hoa sữa có nở không?

- Chị ơi! Thôi ngủ đi, sao tự nhiên lại hỏi đến hoa sữa, hoa

sữa hết rồi. Sơ tán hết rồi, pháo kích cũng hết rồi. Sang
năm hoa sữa lại về, nhưng sơ tán, pháo kích không bao giờ
về nữa.

- Nhưng em ơi, những người thuộc về miền Nam cũ, thuộc
về bên này như chị; những chữ Mậu Thân, An Lộc, Tháng
Tư là những cánh bướm đen bay bồng bềnh trong trí nhớ,
một đời!

1/2008

Tài Liệu: Wikipedia; Người Lính Già Seattle.
(1) Nhạc Ngân Khánh; (2) Nhạc Nguyễn Đức Quang

thế giới của Mợ

Gửi chị Nga và Lan Hương

Chiều hôm nay con mang thức ăn đến cho Mợ, Mợ không
nhận ra con. Thật ra lâu lắm rồi, Mợ đâu có nhận ra bất cứ
ai nữa. Mợ ngoan hơn cả một em bé. Em bé còn biết đòi cái
này, vứt cái kia, còn Mợ thì không. Khi bón thức ăn thì Mợ
há miệng rồi ngậm miếng ăn, không nhai, không nuốt ngay
nhưng không nhè, không phun ra. Mợ không khóc, không
phàn nàn, không theo ai và không vòi vĩnh điều gì. Mợ lơ
mơ trong một giấc mơ dài, một thế giới riêng biệt mà con
không có quyền vào. Mắt Mợ nhìn nhưng Mợ có thấy gì
không? Tai Mợ nghe nhưng Mợ không đáp lại. Mợ ngồi
dậy được nhưng con phải đỡ Mợ thì Mợ mới ra ghế ngồi
cho con bón, còn không thì Mợ vẫn chỉ nằm nghiêng quay
mặt về bên phải, nhìn vào bức tường, Mợ nằm bất động
dưới cái chăn mầu tím.

Tôi nằm nhìn vào bức tường trước mặt, tôi nhầm rồi, không
phải bức tường. Đó là một dòng sông mùa xuân, tôi thấy
một bầy cá mầu vàng và những người đàn bà mặc áo tím,
họ cùng bơi với nhau trong sông dưới những bụi dương xỉ
Tôi nghe thấy bầy cá cất tiếng hát, những người đàn bà hát
theo, họ vừ hát vừa bắt đầu bắc chảo xào cốm, làm những
chiếc bánh gói lá chuối xanh biếc. Tôi và con gái tôi cùng
đến phụ làm. Chúng tôi vừa làm bánh vừa hát và bơi chung
với bầy cá vàng, tiếng hát vang vang trong dòng sông mùa
xuân đó.

Chiều nay Mợ tỉnh táo hơn một chút, khi con vào, con thấy

Mợ nằm co người lại, con gọi khẽ: Mợ, Mợ ơi! Mợ mở mắt
ra nhìn, và hình như Mợ nhận ra con vì con thấy Mợ cố
gắng ngồi dậy, Mợ hơi mỉm cười độ một hai giây rồi cặp
mắt lại lạc thần trở lại. Con đỡ Mợ ngồi dậy và ôm chặt Mợ
vào hai cánh tay con, Mợ làm con ngạc nhiên khi trả lời câu
con hỏi Mợ có đói không? Bằng câu “Không đói.” Đã lâu
lắm rồi con đâu được nghe Mợ nói. Nhớ ngày con còn nhỏ
bị Mợ la mắng, nói hoài không hết lời. Con không muốn
nghe, vẫn phải nghe. Giờ đây con chờ đợi từng câu Mợ nói
như người ta chờ bẫy một con chim. Con nghe Mợ nói
được hai tiếng là con hạnh phúc lắm rồi, khác nào bắt được
một lúc cả hai con chim. Mợ lại đưa hai tay ra ôm lấy trán
con, kéo mặt con sát vào mặt Mợ, rồi Mợ hôn lên trán con,
làm con muốn ứa nước mắt, nhưng con làm gì có nước mắt
mà ứa. Mợ biết con bị bệnh khô mắt đã lâu, Mợ tha lỗi cho
con nghe Mợ.

Rồi con lại nghe Mợ nói: Chị ơi, em mừng quá.

Mùa xuân, buổi chiều thong thả xuống, rung nhẹ những
khóm hoa xanh bên ngoài phòng Mợ, con ngồi ôm Mợ như
thế, vuốt tóc Mợ và nói chuyện để Mợ nghe, đột nhiên Mợ
giơ cả hai tay ra ôm choàng lấy con, nói: “Em nhớ chị
quá.”

Buổi chiều sẫm lại bên ngoài rồi, Mợ và con ngồi ôm nhau
như thế, chỉ còn mình con nói, Mợ đã trở nên thinh lặng.
Khoảng thời gian từ chiều đến tối, con ôm Mợ như ôm một
con búp bế nhồi bông, con búp bế không nghe, không nói,
không nhìn.

Tôi bước vào chợ, ngôi chợ xây trên một vùng núi, ở đó
mỗi người ngồi bán hàng trên một đỉnh ngọn núi. Tôi dắt
hai đứa con gái ra bờ sông, ở sông cũng có người bán hàng,

tôi mua cho hai con tôi những chiếc áo may bằng cầu vồng
nên có mầu sắc rất đẹp, tôi mua cho tôi một đôi giầy làm
bằng hoa hướng dương. Ba mẹ con tôi uống một thứ nước
mầu hồng trong những chiếc ly mầu tím. Chúng tôi ăn
những phần bánh cốm còn sót lại trong chảo. Một đám mây
mầu xám bỗng từ đâu kéo tới. Tôi đi tìm những bông hoa
mầu tím cho hai cô con gái nhỏ của tôi, tôi tìm mãi không
có bông hoa nào, chỉ nhặt được những cụm mây tròn mầu
xám, tôi cài trên tóc hai con, chúng bây giờ trông như
những cái nấm biết đi. Cả ba chúng tôi bồng bềnh trôi, trôi
đi, trôi đi.

Con biết Mợ có thế giới riêng của Mợ, con không thể nào
bước vào được. Con đứng ở ngoài nhìn vào, đôi khi con
muốn theo vào với Mợ, xem thế giới của Mợ ra sao, nhưng
con lại sợ sệt nhìn cánh cửa đó. Nếu cánh cửa đó thật sự
mở ra, liệu con có dám bước vào? Con để Mợ ở trong đó
một mình, chắc là Mợ cô đơn lắm. Mợ tha lỗi cho con. Con
không vào nhưng con luôn nhớ là Mợ ở sau cánh cửa đó.
Mợ có vui trong thế giới đó không hả Mợ? Bây giờ, đôi khi
con tự hỏi thế giới của Mợ, và thế giới của con đang sống
bây giờ, cái nào là thật, cái nào là giả. Mợ ở trong đó nhìn
ra, có thương xót cho con như con đang xót xa cho Mợ hay
không?

Tôi nhìn thấy bên ngoài cánh của mở rộng đó có một ngôi
mộ, ngôi mộ đó thật là cao, đắp sẵn cho ai đó. Tôi không
vào đâu “Chị ơi, đừng để em chết nhé.” Tôi đang đi mua
bán trong phố thế này, tôi đâu có muốn bước vào ngôi mộ
đó. Ở phố này người ta bán chăn, những tấm chăn có mầu
tím làm bằng rong biển, mỗi lần tôi đắp vào là tôi bơi được,
có tấm làm bằng lông chim, cũng mầu tím nữa, tôi mà ôm
cái chăn này vào lòng là tôi bay được. Tôi quấn cả ba mẹ

con tôi vào những tấm chăn làm bằng lông chim. Chúng tôi
bay, bay mãi, bay mãi, bay vào bầu trời cũng mầu tím.

Mợ ơi, con lại vào với Mợ đây. Con đỡ mợ ngồi dậy, con
kể cho Mợ nghe về giấc mơ đêm qua của con, Mợ có nghe
thấy gì không? Con mằm mơ thấy mình đi trên một con
đường nhỏ, phía trước mặt con có hai cánh cổng sắt hé mở,
con lách mình vào lại thấy một cánh cổng khác nữa, con đi
như đi trong một buổi chiều, con không biết là có nhìn thấy
hoa cỏ, cây lá gì trên đường hay không? Nhưng ánh sáng
vàng vọt của buổi chiều cho con thấy Mợ đi phía trước, con
chạy theo gọi Mợ ơi! Mợ ơi! Nhưng Mợ hình như không
nghe con gọi, Mợ bước đi và đi thật nhanh, con chạy theo
kịp Mợ nhưng con lại không tìm thấy bàn tay Mợ. Mợ như
đi vào một nơi vô định. Con không thấy nét sợ hãi trên mặt
Mợ, nhưng Mợ ngơ ngác thất thần như người đi lạc, Mợ
cũng không tỏ vẻ muốn tìm kiếm một vật gì, nhưng hình
như Mợ cũng không muốn quay lại. Mợ cứ loanh quanh đi
mãi, không đói, khát, không mỏi mệt.Thế giới chung quanh
Mợ không một bóng người, không có chim bướm, không
cả chó mèo, không cây cỏ. Chỉ mình Mợ bềnh bồng trôi
trong một không gian mầu xám. Con thương Mợ quá, trong
mơ mà con cũng nhận thức được cái thế giới của Mợ thật là
buồn bã! Mợ đi mỗi lúc một về phía trước và bỏ con rơi lại
đằng sau. Con hốt hoảng kêu lên Mợ ơi! Mợ ơi! Mình đi về
thôi.Tiếng kêu làm con tỉnh dậy

Đó là giấc mơ của con. Con đi tìm Mợ, Mợ đi tìm cái gì?
Chỉ có buồn tẻ và một mầu xám ngắt.

Có người mang đến cho tôi bao nhiêu là thức ăn, những
thức ăn làm toàn bằng những sợi chỉ vàng óng ánh, tôi
thong thả ăn những sợi chỉ vàng, tôi không tìm thấy trong
bát của tôi chiếc bánh cốm mầu xanh. Tôi bỏ đi về phía

trước, tôi bước vào một cánh rừng có rất nhiều nắng, tôi
nhặt được hơn một trăm mảnh, mỗi mảnh nắng có một mầu
khác nhau, những mảnh nào có mầu tím thì tôi sẽ đắp lên
mình khi ngủ. Ở đây sao không có ban đêm, lúc nào cũng
sáng trưng, tôi xòe bàn tay ra thấy tay mình trong suốt,
những ngón tay như nhữõng chiếc đũa thủy tinh. Người ta
lại cho tôi ăn, tôi cứ ăn hoài thế này thì làm sao mà bay
được. Hai cô con gái của tôi đâu rồi? Tôi nghiệp hai đứa
nhỏ chúng phải ở trong một thế giới toàn mầu xám buồn
bã.

Mợ ơi, Mợ có biết là Mợ đang ở đâu không? Đây là nơi
canh giữ và chăm sóc cho những người bị mất trí nhớ. Hơn
sáu năm rồi, trí nhớ của Mợ mỗi ngày bị xóa đi dần dần,
bây giờ chỉ còn là một trang giấy trắng. Con không biết làm
thế nào giúp Mợ để biến trang giấy này thành trang giấy
hữu dụng ghi nhận được một điều gì. Cũng may, nó không
ghi xuống cái mới, nhưng cũng không giữ lại những cái cũ.
Mợ đã quên hết tất cả. Quên Mợ là người mẹ độc thân
trong mấy chục năm trời, quên những chảo cốm xanh trong
quá khứ Mợ nuôi chúng con ăn học, quên Mợ từ phương
trời xa tắp đến đây nằm trong căn phòng quạnh hiu này cho
một người lạ trông nom. Thế giới của Mợ và thế giới của
con không còn là một nữa. Người đứng bờ bên này thương
người ở bãi bên kia. Có lúc nào Mợ hỏi con về mầu sắc của
bầu trời con đang ở. Còn con, con chỉ muốn nhuộm hồng
không gian xám đục của Mợ mà con đã bước vào trong một
cơn mơ.

Ôi, Mợ thân yêu, con biết có một thế giới mà hai mẹ con ta
cùng có thể buớc vào. Đó là thế giới tinh khôi của bảy
ngày đầu tiên Thượng Đế tạo dựng cho loài người. Mợ và
con sẽ có đầy đủ sao hôm, sao mai, mặt trăng, mặt trời,

biển, cây cỏ, súc vật, và côn trùng. Chúng ta không còn
điều gì phải lo buồn cho nhau nữa.

4/06


Click to View FlipBook Version