chúng tôi đem ra bàn cãi. Chị Lan nói, chắc là có tai nạn gì
xẩy ra cho đứa bé, nên người ta không muốn đem cái xe trẻ
về nhà nữa. Đầu óc tôi đi xa hơn một chút nữa nói, hay là ai
bỏ con trong xe, rồi đi luôn, hay là đứa nhỏ bị bắt cóc. Anh
Sơn thì bảo, vắn tắt là “Quên”, thế thôi. Tôi chợt nhớ đến
câu hát của Phạm Duy: “Người đi trong nhân gian nhịp xe
cuốn vòng tử sinh, chiếc xe tang ngoại ô, chiếc nôi trong
vườn hoa…”
Chiếc nôi trong vườn hoa! Hình ảnh thật hứa hẹn, đẹp đẽ đi
bên cạnh chiếc xe tang ngoại ô. Cũng một cái xe mang chở
một con người nằm trong đó, cũng có bốn bánh, và cũng
chở duy nhất một người. Chỉ khác, cái nôi chở một kiếp
người vào đời với bao nhiêu ước vọng của người thân và xe
tang chở một kiếp người bỏ đi, để lại tất cả những gì mà
người đó đã kiếm tìm được cho ước vọng đó trong một chu
kỳ làm kiếp con người.
Đời sống là những nhịp xe cuốn vòng tử sinh, không sao
tránh được. Chỉ có thiên nhiên là tồn tại. Cây cỏ tàn héo,
chết đi trong mùa đông, tái sinh trong mùa xuân, bừng
bừng sức sống trong mùa hạ.
Cái nôi, một hình ảnh hạnh phúc, một con người vừa được
sinh ra, hòa nhập vào đời sống, bao nhiêu ước mơ, tương
lai của một kiếp người. Cha mẹ đặt kỳ vọng vào hình hài bé
nhỏ đó, những điều gì cha mẹ ấp ủ thủa xa xưa chưa thực
hiện được, bây giờ đem đặt cả vào cái nôi trước mặt mình.
Đứa bé lớn lên may mắn đạt được giấc mơ hộ cha mẹ thì
được khen là ngoan ngoãn hiếu đễ, nhưng chẳng may nó có
một lý tưởng riêng, đi ngược lại cha mẹ thì không biết bao
nhiêu phiền muộn giữa cha mẹ và con cái.
Đứa bé nhỏ xíu, mới khóc oe oe, nhiều cha mẹ đã đặt sẵn
một con heo tiết kiệm, một cái quỹ để có đủ tiền cho đứa bé
đó thực hiện giấc mơ “cao đẳng” giống mình hoặc giấc mơ
mình hụt mất. Cái quỹ chỉ được dùng để vào những đại
học, và phải trở thành những nhân vật được trọng vọng
trong xã hội (theo ý nghĩ của cha mẹ.) Nhưng nếu đứa bé
trong nôi đó muốn sống một đời khác, một cuộc sồng du
mục, cuộc sống nghệ sĩ với cây đàn, cây cọ, lang thang từ
thành phố này đến thành phố khác chẳng hạn thì không bao
giờ được chạm tay vào quỹ đó. Tội nghiệp đứa bé trong nôi
quá! Không hiểu sao nhiều cha mẹ thương con như thế mà
bắt con mình mang vác trách nhiệm nặng nề như thế.
Cái nôi để quên trước cửa công viên cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi
nhớ lại cái nôi của ông Mose trong Cựu Ước. Ông là đứa
bé sơ sinh của dân Do Thái (thời đó, đang là nô lệ cho Ai
Cập, và người Ai Cập ra lệnh cho giết tất cả các trẻ sơ sinh
nam Do Thái,) mẹ ông biết là trước sau con mình sẽ bị vua
Ai Cập bắt đi, bị giết nên bà giấu con được đến tháng thứ
ba, thì phải bỏ ông vào trong một cái nôi (cái sọt đan bằng
tre ) rồi giấu trong đám lau sậy của sông Nile. Người của
vua Pharaoh vớt được đứa bé trai Do Thái thì tính mang đi
giết nhưng vợ vua Pharaoh không có con, đòi giữ đứa trẻ
lại nuôi. Bà nói với chồng, đứa bé lớn lên sẽ trở thành
người Ai Cập và ta có thể dùng nó để giết lại người Do
Thái.
Tôi không nghĩ cái nôi để quên trước cửa công viên mang
một câu truyện tương tự trong Cựu Ước. Nhưng hình ảnh
một cái nôi còn mới tinh, nằm trước cửa công viên chúng
tôi đã nhìn thấy hai ba hôm liền, trông vừa thương vừa
buồn buồn. Chắc ai nhìn thấy cũng phải bâng khuâng,
không biết số phận đứa bé bây giờ thế nào? Cha mẹ nó có
phải là những người có đầu óc bình thường không? Và sau
hết mẹ của đứa bé có phải là cô bé mới vào tuổi vị thành
niên (teenager)) không? Thôi, tôi nên thưởng thức con kênh
C&O trong mùa hè tuyệt vời như thế này! Quên đi cái nôi
trước cửa công viên, quên cái nôi Moses trong Cựu Ước và
cả bánh xe tang ngoại ô trong bài hát của Phạm Duy.
Những bông hoa kim ngân mầu vàng nhạt, thơm ngát;
những khúc cây vắt ngang con kinh với đàn rùa nằm phơi
nắng; tiếng một con cá bỗng quẫy đuôi trên mặt nước;
tiếng cánh hạc đập bay ra từ một lùm cây và tiếng trái tim
đập thanh thản, hiền hòa trong lồng ngực chúng tôi. Trong
khoảnh khác này không còn điều gì có thể hạnh phúc hơn
nữa!
2006
đời cây
Gửi anh Sơn,chị Lan để kỷ niệm
chuyến du ngoạn từ Montana sang Wyoming
Nói về loài người, có một thi sĩ Việt Nam đã viết: “Kiếp
sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữ trời mà
reo” (1)
Đọc câu thơ, liên tưởng đến đời cây thẳng tắp, cành lá thơm
tho, nhẹ rung trong gió, tượng trưng cho người quân tử.
Người đời sao hiểu được đời sống nào mà cây phải vác
mang! Từ lúc được sinh ra và lớn lên trong rừng, chúng tôi
đã được cha mẹ chúng tôi chuẩn bị cho chúng tôi hiểu thế
nào là một Đời Cây
“ Con càng lớn nhanh, càng đẹp đẽ, con càng bị người ta
đốn trước.” Đó là lời mẹ tôi dăn dò mỗi buổi sáng khi tôi
mới cao bằng một gang tay.
Khi tôi bước vào tuổi trưởng thành, đứng cao gần bằng
ngực cha tôi, người gọi tôi ra nói:
“Có thể con may mắn được ở lại khu rừng này suốt đời cây
như cha mẹ, hay có thể con sẽ bị ngả xuống làm vật dụng,
thân thể con sẽ thành cái ghế, cái giường cho người ta nằm,
ngồi mỗi ngày, cái bàn cho con người xử dụng, cái kệ sách
đựng những cuốn sách thơm tho, cái kèo, cái cột hữu ích
trên một mái nhà, cái thân tầu trôi nổi giữa một đại dương
hay chiếc thuyền nhỏ bé quanh quẩn trên những dòng sông
nhỏ, cái nôi cho em bé hay thậm chí cái áo quan cho người
chôn theo vào đất. Hãy sẵn sàng đón nhận, đó là phận số
của Đời cây. Chúng ta cũng giống loài người thôi, không ai
tự định đọat được phận số mình.”
Nhưng có một điều mà cha mẹ tôi quên hay cố tình không
nói cho tôi biết đó là đời cây trong những đám cháy rừng.
Cứ mỗi lần mùa hạ đến cả lâm quốc của chúng tôi sống
trong lo sợ, hồi hộp. Từng khu rừng của mỗi miền chuẩn bị
cho tang tóc, hư hao, mất mát. Những thân già lo cho con
cháu mình, chưa đủ khôn lớn để thưởng thức từng nốt nhạc
rung lên trong tiếng suối róc rách, tiếng thác đổ hoan ca,
tiếng thở rền của những dẫy núi; chúng chưa kịp sống đời
chạy nhẩy, cười đùa với bầy thú rừng, chưa làm nhân
chứng cho những cuộc hẹn hò trai gái, chưa được nhận
những vết nhăn trên vừng trán khôn ngoan, chúng đã làm
mồi cho những ngọn lửa tàn bạo. Trong khi đó, chúng tôi,
những cây thân trẻ thì lo cho thân già, mong manh, nhẹ
hẫng, là miếng củi nhóm mồi ngon nhất cho ngọn lửa hung
hãn. Rồi đây, lấy ai dậy bảo cho chúng tôi những kinh
nghiệm khôn ngoan của rừng thẳm.
Những ngọn Santa Ana winds hà vào rừng như hơi thở của
những con khủng long, những tia chớp xẹt đến bất ngờ như
ái tình trên một ngọn cây, đốt thân cây như đuốc mồi hay
một chút vô ý trong cái bếp nhỏ của người dựng lều cắm
trại, bỏ quên một thanh củi đang cháy trước khi đi. Đám
hướng đạo sinh đốt lửa trại nhẩy múa hát ca, rồi ôm nhau
ngủ. Một nhạc sĩ du ca, choàng vai một nàng du mục nào
đó, đi qua, tiện tay ném thản nhiên mẩu thuốc lá đang cháy
vào bìa rừng cho một cái hôn dài. Tất cả những nguyên
nhân đẹp đẽ đó làm nên những đám cháy rừng, đốt chúng
tôi tàn rụi.
Bạn có bao giờ nhìn thấy một đám cháy rừng chưa? Đó là
một đại dương lửa, cháy âm ỉ ngày này sang ngày khác,
thiêu hủy từng ngàn mẫu rừng, dập tắt đám lửa đó phải mất
bao nhiêu công của và ngay cả sinh mạng của con người.
Chúng tôi vừa quặn mình than khóc, vừa lo bảo vệ đám thú
rừng, chúng đang chạy nhốn nháo tìm nơi ẩn núp ngay dưới
chân mình. Những con nai ngây thơ, những con thỏ dại khờ
mới đáng thương làm sao, chúng thất lạc mẹ cha nào có
khác chi con người chạy loạn!
Sau những đám cháy rừng kinh hoàng đó chúng tôi chỉ còn
là những bãi đất đen đủi hoang vu, chúng tôi khánh tận.
Ngay cả những thân cây thông quân tử từng đứng thẳng tắp
reo trong gió những bài hát thanh cao, những cây bạch
dương khoe hết vẻ đẹp mỹ miều của thân hình thanh khiết,
những cây phong với áo gấm thay mầu. Tất cả đã thành tro
bụi. Suối cạn kiệt, chỉ còn những viên sỏi cô đơn nằm cạnh
nhau, như những nhà hiền triết thông thái đã vào chốn thiên
thu chỉ còn lời khôn ngoan cho hậu thế. Như ca sĩ không
còn tiếng hát, những con chim đã cháy thành than hay đã
bay đi. Hươu, nai, thỏ, gấu, không một dấu chân in lại.
Nhưng thật là một ngạc nhiên đến bàng hoàng, Có những
cánh rừng, thân cây bị cháy đen thui, không còn ngọn, còn
cành, còn lá, vẫn đứng thẳng băng, không hề ngã xuống.
Có ai đó đã đặt ra lời hát “Anh yêu em như rừng yêu thú
dữ, Anh yêu em như tình cây với gió”. Xin hãy đến trước
cửa những cánh rừng này để hát lại câu hát đó như một lời
ai điếu cho chúng tôi.
Loài người ơi! Hãy cho chúng tôi có dịp hồi sinh. Nếu một
vài năm sau, bạn có dịp đi qua những cánh rừng đã cháy đó
ở Montana, ở Wyoming, bạn sẽ thấy giữa những thân cây
cháy đen không ngọn, không cành, không lá đó những cây
non chồi lên từ tro than đã cao bằng đứa trẻ lên mười, nõn
nà xanh mướt, mọc chen kẽ với cây đã chết rất thẳng hàng.
Chúng tôi bắt đầu một Đời Cây mới. Mầu xanh từng mảng,
từng mảng, loang xa, loang xa. Vào một ngày thật đẹp, một
thiếu nữ bước vào giữa chúng tôi, cô đứng ngước mắt nhìn
lên sườn đồi xanh thoai thoải, một giải nước lóng lánh như
bạc từ trên cao chẩy xuống, tan vào con suối bên dưới, trái
tim cô bật lên tiếng gọi, cô gọi tên người yêu trong lồng
ngực, mà tiếng kêu vô thanh đó vang dội cả khu rừng mới.
Rừng cây xanh
Rừng cây xanh
một con rắn bạc lượn quanh xuống đồi
một tôi đứng giữa đất trời
bỗng tan thành suối
gọi người, vô thanh (2)
Chúng tôi biết là “rừng đã phục sinh”. Khi rừng đã phục
sinh, khi đời cây trở lại chúng tôi mang về bao nhiêu mơ
mộng ,yêu thương cho loài người. Nhờ chúng tôi, loài
người có thi sĩ, thi sĩ yêu cây như yêu bạn thiết, như yêu
tình nhân. Một thi sĩ đã phải thú nhận:
“Tôi thường dẫm trong những vũng tuyết sâu nhất, đi cả
tám, mười dặm để giữ cái hẹn với cây sồi, hay cây bulô,
trong đám thông thân quen cũ.”(3)
Phải chăng, cây chính là tình nhân của thi sĩ?
Chúng tôi phủ bóng mát cho những con đường xuyên bang,
mang không khí trong lành cho làng xóm, Mỗi mùa rừng
mang một vẻ đẹp riêng trên những chiếc áo rừng, nhưng cái
hạnh phúc thực sự con người được hưởng từ rừng không
phải là những chiếc áo rừng khoác trên mình. Khi bước vào
rừng con người sẽ cảm nhận được những điều huyền bí,
thiêng liêng rừng cất giữ. Một buổi sáng tinh mơ buớc vào
rừng, nghe tiếng cưa của người thợ cắt gỗ, đang cắt những
cây thông thẳng tắp, kẻ vào rừng có xót xa, có liên tưởng
thân này sẽ xẻ ra, sẽ đóng vào đó những chiếc đinh để làm
một cây thập giá, có nghe nhói lên trong hồn?
Sáng vào rừng xem đốn cây
vai chưa ghé đã hồn đầy dấu đinh
môi thầm ngậm nửa lời kinh
tưởng như thập giá ẩn mình trong sương (4)
Một buổi trưa đi dạo trong rừng, nhìn một gốc cây cổ thụ
của cha ông chúng tôi, với những chiếc rễ già nua vươn ra
thanh thản trên mặt đất, chắc con người sẽ hình dung thấy
hình ảnh Đức Phật đang ngồi trước mặt mình, lòng bỗng
muốn “trở về”:
Thưa cha con đã trở về
Dưới chân cha cội bồ đề ngàn năm. (5)
Tôi còn muốn kể ra bao nhiêu điều tốt đẹp nữa của rừng,
bao nhiêu phúc lộc con người được hưởng từ một đời cây.
Nhưng, tiếc rằng con người, số đông, chưa đối sử công
bằng với rừng. May mắn thay, có những thi sĩ biết ca tụng
rừng, biết thưởng thức hết vẻ đẹp của cây, họ biết nhận ra:
“Những khu rừng nhỏ là những ngôi đền đầu tiên của
Thượng Đế” (6)
Chúng tôi, sẵn sàng hy sinh “Đời Cây” của chúng tôi cho
loài người, nhưng chỉ xin loài người:
“Hãy giữ một cái cây xanh trong tim anh, có thể, một con
chim sẽ tìm đến ca hát” (7)
9/2007
Theo thứ tự, thơ của: 1.Nguyễn Công Trứ, 2. tmt, 3.Henry
Thoreau, 4.tmt, 5.Nghiêmx.Cường, 6.William Bryant,
7.Ngạn ngữ Trung Hoa.
giọt lệ giấu đi
Một ngày cuối năm Tây Bắc, bầu trời xám, mưa nhỏ giọt,
hai bàn chân lạnh, hai bàn tay ướt, tôi đi dự đám tang. Đám
tang của một cụ bà chín mươi tuổi, cụ định cư ở Mỹ lâu
năm, con cháu đông đủ, bạn bè nhiểu nên đám tang tươm
tất và ấm cúng. Chỉ buồn có một điều là cụ ông vẫn còn
sống, nhưng không có mặt. Mặc dù sức khỏe cụ ông tốt, và
đầu óc khá minh mẫn. Các con của hai cụ giấu bố, sợ báo
cho bố biết, bố có thể bị sốc mà ngã bệnh. Bấy lâu nay bố ở
trong Nhà Già, vì sức khỏe của bố tương đối tốt. Mẹ thì yếu
quá nên ở nhà, một cô con gái độc thân chăm sóc mẹ. (Nếu
cả hai cụ cùng ở nhà thì thật hơi nhiều việc cho con.) Bây
giờ cụ bà mất, số đông các con quyết định không báo cho
bố biết, sợ bố buồn, ngã xuống theo mẹ.
Tôi nhớ cách đây mấy năm khi dì tôi còn sống, lúc đó cụ
gần chín mươi tuổi, em họ tôi chết ở Việt Nam, cả nhà
giấu, tưởng là giấu được vì ở xa cả nửa trái đất. Nhưng hình
như cái linh tính của người mẹ, linh tính của tình thương
ruột thịt, dì tôi thỉnh thoảng hỏi con gái ở bên cạnh: “Sao
lâu quá không nhận được thư của anh Tòng?.” Mặc dù cô
em tôi có lừa cụ bằng cách vẫn nói chuyện về anh, như là
anh còn sống. Cho đến một ngày, khi chúng tôi nói chuyện
về Tòng, thì cụ không nghe nữa, cụ im lặng nhìn vào
khoảng trống trước mặt, một cõi mông lung, không tham
dự câu chuyện, cụ không hề hỏi thêm một tiếng. Cụ biết
chúng tôi giấu cụ một điều gì đó về Tòng, một chuyện to tát
và buồn, một chuyện gần như cái chết. Cụ im lặng, và cho
đến khi cụ mất, cụ không được khóc con. Hoặc cụ có khóc
mà chúng tôi không nhìn thấy. Chúng tôi hối hận, không
biết việc giấu như thế là đúng hay sai. Nhưng biết rõ chúng
tôi đã lấy mất đi cái quyền của người mẹ không được công
khai đau khổ khóc thương con mình.
Đã lâu lắm trong thời chiến tranh ở quê nhà, tôi được biết
chuyện một người vợ trẻ, cũng bị gia đình nhà chồng, vì
thương quá, giấu tin chồng chị tử trận, khi chị đang có
mang bẩy tháng. Họ chôn cất người chồng, chờ chị sanh
xong mới báo. Chị phẫn uất, đau đớn vì cách giấu giếm
này. Rồi chị nhớ lại cách nhà chồng cư xử với chị trong
thời gian anh mất. Tự nhiên chị thấy cả nhà cư xử với chị lạ
lùng, mắt ai cũng tránh nhìn vào mắt chị, ai cũng tránh
chạm mặt chị ngay từ buồng nọ sang buồng kia ở giữa nhà,
mọi người đang nói chuyện, thấy chị đi ngang bỗng im bặt.
Chị biết có điều gì nghiêm trọng xẩy ra nhưng không đoán
được. Anh thì trong quân đội, có khi tin tức mỗi tuần, có
khi cả mấy tháng lặng thinh, tùy theo anh đang đóng ở đâu.
Chị về nhà mình nói cho cha mẹ biết, cha mẹ chị cũng tỏ ra
bối rối không giúp được gì chị. Chị thấy cô đơn, bơ vơ và
hụt hẫng. Mắt chị lúc nào cũng mở to, nhìn những người
chung quanh mình để bắt được điều mình nghi ngờ, tai lúc
nào cũng lắng nghe những tiếng thầm thì khả nghi sau cánh
cửa. Chị đặt những câu hỏi mà phần nhiều được trả lời
không rõ rệt, hay bằng sự im lặng. Bây giờ, sau khi anh đã
được chôn xuống đất cả mấy tháng, chị mới biết tin anh tử
trận. Chị giận họ nhà chồng, giận luôn cha mẹ mình, đến
nỗi cả năm sau, chị không mang con về bên nội, bên ngoại.
Chị nói, dù đau đớn thế nào tôi cũng muốn được đi chôn
chồng tôi, cũng muốn được nhìn mặt chồng trước khi chôn
xuống đất. Không ai có quyền nhân danh tình thương lấy đi
cái đau khổ đó.
Có người đồng ý với chị. Có người cho chị trách như vậy
không đúng, vì ngoài chị, gia đình hai bên còn muốn bảo vệ
cho đứa con trong bụng chị.
Một người anh của bạn tôi, có người vợ trẻ chết thình lình
trong một tai nạn lưu thông, người chồng sau khi chôn vợ
trở về nhà, thấy tủ, giường trống rỗng. Hình ảnh, quần áo,
giầy dép, phấn son, của người vợ được mang biến đi, thậm
chí trên giường chỉ còn trơ một gối. Anh đứng ngơ ngác
giữa nhà, nhìn quanh bốn bức tường trống, có cảm tưởng
như vừa có một cơn lốc đi qua trong ngôi nhà nhỏ của
mình, cuốn mất đi của anh cả người lẫn của. Ai đó đã vội
vàng xóa hộ những kỷ niệm đau buồn của người còn lại.
Người còn lại thấy mình như bỗng nhiên bị xóa sổ, tay
trắng, đến một hơi hướm thân mật cũng không còn. Anh
không biết giận ai bây giờ, vì anh hiểu chỉ vì thương anh
mà những người thân đã tước đi cả cái quyền đau khổ của
mình. Có những lần, trong đêm tối, đôi khi anh mò dậy,
ước gì được úp mặt vào những vạt áo dài của vợ vẫn treo
trong tủ mà khóc một hơi cho vơi buồn. Chẳng còn vạt áo
nào sót lại! Về sau anh trở thành một người lúc nào cũng
ngơ ngơ, ngác ngác, đi tìm một vật gì, đã mất. Những
người thân của anh lúc đó mới hiểu rằng: đau khổ không dễ
gì xóa bỏ ngay được, cần có thời gian, người bên ngoài
không mang vết thương đó ra khỏi anh được, phải để cho
anh tự chăm sóc vết thương của mình.
Giấu một người mẹ về cái chết của con, có đúng không?
Người mẹ bao giờ cũng muốn biết về đời sống con mình.
Bất cứ ở tuổi nào, nếu còn minh mẫn, bà vẫn luôn luôn
muốn được nghe những tin tức về con mình. Bà thà nhận
được tin con chết, còn hơn không nhận được tin gì về con
cả.
Có bà mẹ trong thời chiến nhận được tin con mất tích. Bà
lồng lên đi tìm con. Với bà một cái tin như thế này, không
nói lên được điều gì cả. Chưa nhìn thấy con chôn xuống đất
bà chưa yên tâm. Một là con bà chết, hai là con bà sống, nó
không thể mất tích, chưa đi nhận xác con không có nghĩa là
con bà chưa chết. Bà cho là người ta đã giấu nhẹm tin con
bà “chết thật” chỉ nói là “mất tích” cho bà còn hy vọng.
Thật ra đây là chuyện chiến tranh, mất tích, đồng nghĩa với
tử trận. (Hi hữu lắm, mới có chuyện sống sót trở về).
Nhưng phản ứng của bà, hình như nhắc cho ta hiểu: con
người đủ khả năng đương đầu với đau khổ, biết rõ nỗi đau
của mình, hơn là sống trong một đám sương mù. Quyền
được đau đớn cũng ngang với quyền được sung sướng.
Hai vợ chồng già, lấy nhau đã mấy chục năm, dù buồn khổ,
chắc người chồng hay người vợ vẫn muốn tiễn đưa nhau,
nếu một người đi trước. Cho dù trái tim già nua có trĩu
xuống như sợi dây, rồi đứt đánh bựt một cái, họ cũng hài
lòng. Không báo tin buồn, không cho nhìn mặt lần cuối, có
lỗi hay không? Rồi đây mỗi lần bố hỏi thăm mẹ thì vẫn nói
dối là mẹ bình thường được mãi hay sao! Có phải các con
giấu tin mẹ mất, một phần cũng vì chính quyền lợi tinh thần
của mình, hơn vì bố. Họ không muốn đã mất mẹ rồi, lại
mất bố nữa thì sao? Ai cũng sợ đối diện với mất mát.
Những người giấu đi những tin buồn này, ai cũng tin mình
làm điều tốt cho người còn lại. Mỗi gia đình, một cách giải
thích riêng, lo lắng cho những người ở lại một cách khác
nhau. Có bao giờ ai biết: người bị đặt vào cảnh “nghi ngờ”
mình bị mất người mình thân quý đôi khi còn khổ gấp mấy
lần người đối diện với sự thật.
Giọt lệ thanh tẩy trái tim và giúp tôi hiểu những bí mật của
đời sống và những điều giấu giếm trong đó.*
Tôi hay đọc thầm trong ngực câu thơ này, mỗi lần đi đám
tang của bất cứ ai.
(2006)
* A Tear and A Smile (Kahlil Gibran- 1883-1931)
phất phơ bay
Cô được đưa vào một căn buồng nhỏ, đèn mờ, người đưa
cô vào, nói:
Cô bỏ hết quần áo ra, nằm vào trong chăn, úp mặt xuống.
Nói xong, người đó khép cửa lại, bỏ đi ra ngoài. Cô làm
theo, bỏ cái áo cuối cùng trên thân, treo lên cái móc ở trên
tường, luồn mình dưới hai lớp chăn mỏng, úp mặp xuống
cái gối có hình dạng như chiếc bánh donut. Cô nhích lên,
nhích xuống một chút cho khuôn mặt mình vừa khít vào
khuôn vòng tròn của gối, rồi nhìn xuống sàn nhà, và thở hắt
ra, xuôi dọc hai tay theo thân mình. Chăn trên người cô đủ
ấm, nhưng cái cảm giác nằm trong một căn phòng nhỏ, đèn
mờ, cửa khép, ở một chỗ hoàn toàn xa lạ khiến tấm chăn
khi chạm vào thân thể không có quần áo làm cô khẽ rùng
mình, tưởng như đang sắp rơi vào một cuộc phiêu lưu thể
xác rất lạ.
Hai bàn chân cô lạnh ngắt, cô cụp ra cụp vào mấy ngón
chân, nghe ngóng cảm giác trần truồng của thân thể mình
đưa lên từ móng chân, rồi đến bàn chân, cổ chân. Hai ống
chân úp sát vào nệm, nhưng bụng chân lại ngửa lên, tấm
chăn ôm sát vào như có bàn tay ai vuốt từ bụng chân, qua
đùi, lên đến mông. Cảm giác đó làm cô cong người lên một
chút như né tránh. Bàn tay chạy dọc, miết theo hai bên
xương sống, vuốt lên, vuốt xuống, rồi ngưng ở mông, hình
như ngón cái và ngón trỏ mở ra đặt ngay bên dưới khớp
mông của cô, ấn mạnh như nâng cái mông lên cao, rồi lại
buông ra. Bàn tay rời mông, chuyển lên cao một chút rồi ấn
ở đốt xương cùng. Cô nghe một hơi ấm chạy từ lưng qua
phía trước bụng, đụng vào rốn rồi lan xuống tận bên dưới.
Bàn tay ngưng lại ở đốt xương cùng, một luồng điện lại
chạy ngược lên đến tận đốt xương gáy cô, tỏa sang hai vai,
truyền qua cánh tay, xuống đến bàn tay, những ngón tay cô
cuống quít cong lại, chúng không biết nắm vào đâu. Cả
thân thể cô phừng lên như thắp đuốc, hơi thở cô bỗng trở
nên dồn dập, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương, thân thể
đang nằm sấp của cô cong lên, hai đầu gối của cô chống
xuống nệm, cô cong như cái cung, không bắt kịp hơi thở
của mình nữa.
Cô bỗng nghe có tiếng thở rất nhẹ bên tai mình, tiếng thở
như dắt tiếng thở của cô đi theo, cô thở ra một hơi thật dài,
rồi từ từ hạ xuống. Cả người cô mềm ra như một giải lụa,
một giải lụa phất phơ bay.
Tấm chăn trên người cô như bàn tay của một nhà ảo thuật
lại ôm sát cô và lật cô ngửa lên, cô thở nhẹ theo từng nếp
gấp nhấp nhô của chăn, trí óc cô bỗng bơi ra biển, rồi cả
thân thể cô bơi ra biển, những đợt sóng nhấp nhô từ cằm
lan xuống cổ chạy ngang sang hai vai, rồi lại chạy vào,
sóng bỗng đổ xô lại vỗ về chung quanh hai vú cô, cô không
cưỡng nổi, đầu vú cô nóng lên như hai đốm nhang. Mỗi lần
sóng vào, cô nghe đuợc cả tiếng vỡ oà của sóng khi rút ra.
Cô cong mình lại như một con tôm bị nhúng vào nước
nóng, vừa cong vừa đỏ rực. Những nếp chăn lại vuốt cô ra,
kéo cô nằm thẳng lại. Chăn như mọc ra những ngón tay
trên thân thể cô, xoa xoa vùng bụng cô, để thật lâu trên rốn
cô, cô thở từng hơi thở nhẹ, cố nương theo những ngón tay.
Nhưng thân thể cô mẫn cảm quá, xương sườn hai bên như
muốn chuồi ra ngoài da cô, bảo mấy ngón tay đó tạm
ngừng ve vuốt, nó bắt không kịp nữa. Nhưng mấy ngón tay
vô hình nó không nghe, nó cứ ôm, cứ thả, khi mạnh, khi
nhẹ, trườn trên mình cô từ cổ xuống tới ngón chân. Nó đem
theo lửa, nước, hoa trái, âm nhạc, ngũ ngôn, lục bát. Có lúc
nó làm cô chơi vơi, chao đảo, một chút thốn đau, cái đau rất
lạ. Có lúc nó cho cô êm ả, thư thái, bình an. Cô không làm
chủ được mình nữa. Cô bềnh bồng trôi, cứ sóng trước dồn
sóng sau mang cô đi, đi đâu? Chắc là xa lắm!
Bây giờ thì bàn tay hình như đang đứng ở dưới chân
giường, vuốt ngược từ bàn chân cô lên, qua ống chân,
ngưng lại ở đầu gối, hai cái đầu gối cuống quít không biết
chạy đi đâu khi những ngón tay bấm chung quanh nó. Rồi
cả hai bàn tay một lúc, đặt vào phía trong đùi cô, cọ sát
mạnh vào đùi, chỗ da thịt mềm mại nhậy cảm nhất trên
thân thể, chỗ gửi tín hiệu cho thân thể ngay lập tức khi bị
nóng hơn một chút, hay lạnh hơn một chút. Cô muốn khép
chặt hai đùi lại mà không nhấc chân lên được, bàn tay đó
ngưng lại một chút, và nghỉ ngơi ngay trong đùi cô. Cô
buông mặc, cô thở, cô thở nhẹ.
Hình như cô và bàn tay cùng ngủ một giấc dài, giấc ngủ sau
khi thân thể đuợc hạnh phúc.
Khi cô mơ màng giữa thức và ngủ, thì những nếp chăn lại
bắt đầu chuyển động, tấm chăn như cái hoa trước gió, làm
từng cánh nhẹ nhàng rơi xuống. Bây giờ cô không thấy như
những ngón tay nữa mà chỉ thấy một cơn gió nhẹ, cơn gió
đang rời đùi cô, thổi hồn nhiên trên vùng bụng cô, đi qua
vùng xuơng chậu, gió len vào tận dạ con, để lại cho cô
những mầm sống. Gió đi trên thân thể cô như gió đang dạo
trên một thảo nguyên. Cứ thế gió thong thả đi ra, đi vào, đi
lên đi xuống trên thân thể cô. Cô nhắm mắt lại, thở nhẹ,
nghe gió rắc hạnh phúc vào thân thể mình.
Bây giờ hai bàn tay lại trở về, mười ngón tay như mười tên
phù thùy tí hon, chúng luồn vào trong gáy cô, vuốt ngược
lên đỉnh đầu, kéo từng nắm chân tóc, vòng ra trán, ấn mạnh
cuối chân mày, kéo ra phía sau mang tai. Cô rụt cổ lại, rùng
mình. Những ngón tay đang bắt đầu tấn công vào một vùng
nhậy cảm khác. Cả người cô lại bắt đầu râm ran như có
kiến bò. Cô lấy lại hơi thở dài, và thở hắt ra một tiếng.
- Xong rồi.
Người đàn bà Đại Hàn vừa nói vừa vỗ nhẹ lên trán cô như
đánh thức cô dậy.
- Bây giờ thì cô có thể ra ngồi ngâm mình trong Hot Spa.
Cô mở choàng mắt ra, thấy cơ thể mình thật là đã sau một
màn tẩm quất, xương cốt như được hồi sinh lại.
(2004)
mùa hạ đom đóm và dế mèn
Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn
mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với
anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh
thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi
lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì
thế? “Đom đóm”.Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy
ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động.
Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả,
chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái
tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới
tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi
ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm
với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi
năm tôi không được nhìn thấy những đốm lửa thân yêu này.
Chao ôi, những con đom đóm của thời tản cư về Thái Bình,
Nam Định! Chúng tôi lúc đó còn bé lắm, vào những ngày
đầu mùa hè, chúng tôi được mấy chị trong làng khi làm
bếp, để dành cho chúng tôi những chiếc vỏ trứng mà các
chị đã khéo léo chỉ lấy đi một phần vỏ nhỏ ở chóp quả
trứng, gượng nhẹ rửa sạch, lau khô, đợi tối đến, các chị bắt
đom đóm cho vào những chiếc vỏ trứng đó, đặt vào tay các
em bé tỉnh thành. Chúng tôi kêu lên “Một cái đèn kì diệu!”
Không có món đồ chơi nào có thể đẹp hơn thế nữa. Trong
bàn tay bé xíu của chị em chúng tôi, cái vỏ trứng sáng rực
lên. Chúng tôi cúi nhìn xuống cái khối lân tinh úp giữa hai
lòng bàn tay, đi từng bước lom khom rón rén trong sân, chỉ
sợ đánh rơi nó xuống đất, chỉ sợ ánh sáng bỗng tắt phụt đi
giống như ngọn nến khi có gió bay qua. Thỉnh thoảng mấy
chị lại bắt được thêm một con, chúng tôi tranh nhau đưa vỏ
trứng của mình ra để được cho vào. Những ngày chạy loạn
về quê, ban tối bỗng trở nên hấp dẫn cho đám trẻ thành
phố. Chúng tôi chỉ mong nhìn mặt trời lặn và ăn cho nhanh
bữa cơm chiều để được chơi với cái đèn kì diệu, được theo
các chị lớn tuổi ra bờ ao, bụi cây ẩm ướt là nơi nhiều đom
đóm lập lòe nhất. Nhưng vào những đêm có trăng sáng thì
đom đóm thường không bay ra, có lẽ những con côn trùng
nhỏ bé này không dám ganh đua ánh sáng với chị Hằng.
Các chị lại bầy cho những thú chơi khác với bóng trăng.
Sau những ngày đầu mùa hè ở quê, chúng tôi học được một
điều là “Cái đèn kì diệu” đó không bao giờ thắp sáng được
giữa ban ngày. Lớn lên mới hiểu ra rằng, cũng giống như
ký ức đẹp đẽ, người ta hay ngồi nhớ lại nó trong bóng tối.
Xa quê mấy mươi năm, chiếc đèn kì diệu đó thỉnh thoảng
vẫn rọi sáng một bên gối tôi trong những giấc mơ.
Hình như ở Sài Gòn, sống trong thành phố nhiều ánh điện,
tôi ít có cơ hội được gặp đom đóm. Không biết ở ngoại, hay
những vùng quê có đom đóm hay không? Sang Mỹ, định
cư ở California mười ba năm, ở giữa thành phố khô và ồn,
tôi không bao giờ thấy đom đóm trong mùa hè, dọn đến
Seattle hơn hai mươi năm, rừng sau nhà, núi, hồ trước mặt,
luôn luôn mưa lạnh lại càng không phải là nơi cho đom
đóm trú ngụ. Những nơi nóng và ẩm mới có đom đóm.
Nhưng người nào may mắn ở những thành phố ấm hơn,
thích đom đóm họ phải chịu khó không cắt cỏ, và hạn chế
dùng những phân bón có hóa chất cho cây cối, hạn chế
dùng đèn trong sân, để giảm ánh sáng, cố tránh tiếng động
để yên tĩnh cho đom đóm tìm nhau sinh sản. Ở Mỹ, đom
đóm cũng không xuất hiện vào những đêm trăng tròn như ở
Việt Nam.
Đom đóm là một trong những loại sâu bọ phát ra ánh sáng.
Có loại không bay được và có loại bay được. Đom đóm cái
không có cánh nên không bay được, chúng nằm sát mặt đất,
phát ra ánh sáng, để gọi con đực tới, con đực nhìn thấy, bay
đến gần, gần hơn một chút nữa, nếu thấy dấu hiệu của mọi
chuyện tốt đẹp thì chúng ôm lấy nhau, sinh sôi nòi giống.
Sự phát quang rất quan trọng, vì mục đích của ánh sáng là
hấp dẫn con khác phái. Ngay như trứng của chúng cũng
phát quang.
Từ Hà Nội, ba mẹ ôm các con chạy về Thái Bình, Nam
Định; rồi hồi cư Hà Nội, ba chuyển xuống làm việc ở Hải
Phòng, lại chạy vào Sài Gòn, chạy sang đến nước Mỹ xa
lắc xa lơ. Bây giờ đang ở đâu đây? Chao ôi, di chuyển suốt
nửa đời người, cuộc hành trình sao mà dài thế !
Tôi đã không còn có được trong tay những con đom đóm
và cái đèn kì diệu trong đời mình. Thay vào đó các con của
tôi, lúc còn nhỏ bắt đầu biết chơi với những chiếc đèn pin.
Chúng thích trùm chăn kín mít rồi bật đèn pin lên soi vào
người nhau. Hoặc là buổi tối, chúng tắt đèn trong buồng
ngủ, chơi đi trốn, rồi cầm đèn pin rọi vào tủ áo, vào gầm
giường cũng lấy làm sung sướng lắm rồi. Nhưng lúc nhìn
thấy thế, tôi lại ước ao, chúng được sống ở một vùng có
đom đóm bay trong đêm ở những lùm cây như tôi được
hưởng thời thơ ấu.
Làm sao tìm được đom đóm ở Seattle bây giờ!
Kỷ niệm thời thơ dại càng đơn sơ bao nhiêu càng đẹp bấy
nhiêu. Những đồ chơi điện tử, hay những giải trí trên máy
vi tính trẻ em đang có trong thế giới high-tech ngày nay,
làm sao có thể để lại những kỷ niệm đến nao lòng mỗi khi
nhớ tới.
Mùa hè còn một loại côn trùng đáng yêu của kí ức nữa. Đó
là con dế. Các cậu bé Việt Nam làm sao quên được đã có
hơn một lần nào đó trong đời đứng say mê xem các anh lớn
hơn mình chơi “đá dế”. Rồi các cậu cũng đòi cha bắt cho
bằng được những con dế trống, nhốt trong những bao diêm
để đầu giường nghe nó ca hát suốt đêm. Ban ngày đi học
về, xuống bếp xin mẹ một cọng giá cho nó ăn, xin chị một
sợi tóc để quơ quơ trước đầu nó, huấn luyện cho nó thành
những con dế hung hăng “dế đá”.
Dế có hai loại bài ca: “Bài ca mời gọi” của con trống, giọng
cao thánh thót, các con mái nghe thấy như những bản nhạc
tình quyến rũ trong khi những con trống khác biết đó là tín
hiệu từ chối, không được lại gần. Bài ca thứ hai giọng trầm
hẳn xuống, được gọi là “Bài ca trầm lặng” hát lên khi con
mái đã đến gần. Dế có hai tai ngay phía dưới khuỷu của hai
càng phía trước để nghe nhạc của nhau. Dế cái “yêu” cuối
hạ, đẻ trứng mùa thu, trứng nở vào mùa xuân, có thể nở
hàng loạt đến hai nghìn cái.
Dế là những miếng mồi ngon cho loài ếch, nhái, thằn lằn,
và là những món nhậu tuyệt vời cho loài người (Á Đông và
Phi Châu). Dế còn được đi vào những tác phẩm văn học
như “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài hay Cricket
Magazine, một tờ báo của trẻ em ở Mỹ.
Trong cuốn phim The Last Emperor, ông vua Phổ Nghi, vị
hoàng đế cuối cùng của triều đại vua chúa bên Trung Hoa,
sau bao nhiêu năm thất tung, khi trở về cung điện ngày xưa,
bấy giờ đã trở thành hoang phế, ông ngơ ngác bước vào
một cung đình lạnh lẽo, trống trải, không cờ, không trống,
không quan, không lính, không tiếng tung hô. Ông đi về
phía cái ngai vàng ông ngự từ hồi còn rất trẻ, ông không
chạm tay lên những cái vẩy rồng trạm trổ trên ghế, để tìm
lại âm hưởng hoàng triều mà luồn tay tìm cái hộp nhỏ dưới
gầm ghế, nơi ông ngày trước đã giấu cái hộp nhỏ có con dế
trong đó, để tìm lại thời thơ dại của mình. Con dế cổ tích
đó nằm trong tay ông vẫn dương cong đôi cánh lên thẳng
thốt gáy mừng.
Chao ôi, đây có phải là con dế năm xưa! Hay chỉ là ảo
tưởng về kỷ niệm ấu thơ, kỷ niệm giản dị và đẹp đến nao
lòng!
Trong suốt mấy chục năm, đi suốt dọc con đường của đời
mình, tôi đã tiếp tục đi, qua bao nhiêu làng mạc, thành phố,
quốc gia này đến quốc gia kia.Qua bao cánh đồng thời gian.
Những cọng mạ xanh non,đã trổ cao, thành xanh lá ngọc,
thành lúa vàng ròng, rồi thành những gốc rạ bạc mầu nâu.
Hình như bằng một phép lạ nào đó (hay chỉ là tưởng
tượng), tôi vẫn cầm chắc trong tay chiếc vỏ trứng với mấy
con đom đóm bên trong.
Cái đèn kì diệu đó không bao giờ tắt trong những giấc mơ!
6/2008
thư cho con gái ngày đính hôn
Con gái yêu của mẹ.
Tháng sáu, những cánh hoa bông goòng bay hoang mang
như tuyết lạc trong bầu trời mùa hạ. Hoa bông bay cả vào
trong cửa xe, bám trên tóc trên vai áo mẹ. Lòng mẹ xôn xao
bay lạc giữa những vui buồn.
Tháng sáu, mẹ lái xe đi vào tiệm vải, tiệm bánh, tiệm rượu,
tiệm trà. Mẹ đi sắm sửa cho một ngày lễ hội hân hoan và
trọng đại cho mọi người trong gia đình mình. Hôm nay, mẹ
vừa làm xong những tấm thiệp, mẹ lái xe ra bưu điện, mang
gửi đi báo tin và mời họ hàng, bạn hữu của gia đình mình
đến dự Đám Hỏi của con vào ngày hai mươi tháng bẩy sắp
đến.
Từ mùa hè năm ngoái, khi mẹ nhận được điện thoại của
bạn trai con, lịch sự báo tin cho mẹ biết, cậu ta sẽ ngỏ lời
cầu hôn với con chiều hôm đó, mẹ buông điện thoại xuống
mà nước mắt trào ra. Mẹ chưa biết rõ là vui hay buồn
nhưng mẹ biết là mẹ xúc động đến run rẩy, bối rối và mẹ
chạy đi tìm cha con để khóc.
Cô con gái duy nhất của mẹ sắp lập gia đình. Sắp bước vào
cuộc đời của một phụ nữ với bao nhiêu bổn phận trước mặt.
Con sẽ vui, buồn, theo buồn vui của chồng, của những đứa
con, của gia đình bên chồng. Con không còn chỉ thuộc về
riêng con nữa.
Cha con trấn an mẹ, nói với mẹ là cha tin vào sự chọn lựa
của con, và nhắc mẹ phải tin vào sự chọn lựa của Thiên
Chúa dành cho mỗi người.
Đời sống hôn nhân là một cuộc đời tự nhiên, và tất có của
hầu hết mọi người trên mặt đất. (Không kể những nhà tu
hành và người chọn ở độc thân). Nhưng ai cũng biết có
may mắn và rủi ro trên định mệnh đặc biệt này.
Mẹ nhớ lại cuộc hôn nhân dị chủng giữa cha và mẹ. Cha
con, một người đàn ông Mỹ trẻ chưa hề biết gì về văn hóa,
về phong tục của cái xứ sở xa xăm thuộc về người phụ nữ
mà mình muốn kết hôn. Mẹ,một phụ nữ Việt Nam di tản,
mới định cư trên xứ sở này hơn một năm, hãy còn hoang
mang trên đất lạ. (Giống như một người lênh đênh trên
sông nước, vừa tắp vào bờ, còn một chân trên bến, một
chân dưới thuyền).Cả cha con và mẹ chắc đều là mối lo
lắng cho hai bên gia đình. Ông bà nội, ông bà ngoại của
con thế nào cũng có những đêm không ngủ.
Vậy mà cha mẹ đã ở với nhau hơn ba mươi năm. Cũng có
những con sóng nhỏ, có những ngày mưa, ngày gió. Nhưng
chiếc thuyền hôn nhân vẫn trôi êm ả nhờ có ba đứa con
ngồi trong đó nên thuyền không bị chao đi.
Mùa hè năm ngoái mẹ đi Yellow Stone với vợ chồng người
anh họ. (Chương trình có cả cha con, nhưng đến phút chót
cha con không đi được). Khi lái xe từ Seattle đến Montana,
ở lại đó một đêm, mẹ bồi hồi nhớ lại đã bao nhiêu lần mẹ
về đây. Những lần đưa các con về quê nội mỗi mùa hè.
Thành phố Helenna của tiểu bang Montana, nơi nổi tiếng
về bầu trời cao xanh, về những dẫy núi sừng sững và những
con ngựa núi đẹp đến ngất ngây, không phải là nơi định cư
đông đảo của người Á Đông, nên thực phẩm Á Đông rất
hiếm. Mỗi lần về, mẹ mang theo một thùng thực phẩm đặc
biệt như: bún, nước mắm, miến và các thứ gia vị như sả, ớt,
v.v để làm thức ăn cho mọi người. Mẹ đã gửi gắm (hay nói
một cách khác, mẹ muốn chứng tỏ) cái văn hóa đông
phương của mình cho người bản xứ. Và chính cái văn hóa
ẩm thực này đã kéo mọi người gần gũi nhau hơn.
Bây giờ thì ông bà nội đã qua đời, các con thì như chim bay
tứ tán vào những khoảng trời khác, xa vời cha mẹ, và căn
nhà cũ của ông bà nội, bây giờ cũng đã có người khác ở.
Nhớ lại lần đầu tiên mẹ về đó ra mắt nhà chồng vào dịp lễ
Giáng Sinh của năm 1976. Lúc đó mẹ có mang anh con
được hơn một tháng. Ông bà nội con mời họ hàng và lối
xóm đến để giới thiệu cô con dâu mới. Trước khi khách
đến, ông nội con cho mẹ uống một ly nước trái cây có pha
rượu, mẹ bị say ngất ngư. Khi khách đến đầy nhà, mẹ vẫn
nằm bẹp trên gác không xuống được, cha con lên gọi mẹ,
và nói:
- Em ráng xuống đi, mọi người đang muốn xem có phải cô
dâu Việt Nam có ba mắt, hai mũi không?
Đó là một câu nói đùa của cha con cho mẹ cười, nhưng
cũng cho mẹ hiểu rằng, ngoài cha con ra, những người ở
trong bàn tiệc hôm đó sẽ rất tò mò về mẹ: một cô dâu thuộc
về bên kia trái đất, nơi người ta chưa bao giờ đặt chân đến.
Bây giờ con cũng lấy một người chồng thuộc về một phần
đất khác. Cũng có những phong tục, tập quán khác. Nó
không quá khác biệt như Đông với Tây. Nhưng con cũng
phải bay mười mấy tiếng mới tới phần đất có gia đình nhà
chồng. Mẹ cũng lo lắng, cũng hoang mang như ông bà
ngoại ngày trước, và mẹ cũng đã có nhiều đêm không ngủ.
Mấy tháng nay sắm sửa khăn áo cho con. Đi chọn áo cô
dâu với con. Đi mua trà, mua bánh, mua rượu. Mỗi lần đi
về mẹ lại khóc. Mẹ cũng không hiểu “Tại Sao” lại khóc.
Chắc bà mẹ nào có con gái sắp lấy chồng cũng khóc như
mẹ. Người Việt Nam (hay người Á Đông) thường nói:
“Khóc như cô dâu ngày về nhà chồng” (Khấp như thiếu nữ
vu quy nhật). Nhưng mẹ thấy là “Khóc như mẹ của cô
dâu”, thì đúng hơn. Vì cô dâu của thế kỷ này không khóc
nữa, nhưng mẹ của cô dâu thì thế kỷ nào cũng vẫn là bà mẹ
cô dâu, bà mang môt trái tim thổn thức trong ngực mình khi
con gái mình về nhà chồng.
Đối với các bà mẹ, con gái mình là chuỗi ngọc trai, là chiếc
vòng cẩm thạch, là hoa mẫu đơn, là ly nước suối, là miếng
bánh thơm tho.Con gái bà là tất cả phần gia bảo mình có.
Bây giờ bà đứng nhìn cái phần gia bảo đó đang chuyển
sang nhà người khác. Làm sao mà ngăn được nước mắt ứa
ra!
Trong đời sống đầy đủ vật chất này, mẹ chẳng biết món quà
nào mang ý nghĩa xứng đáng cho con, một cô gái có trái
tim mẫn cảm, một tấm lòng nhân hậu, và một đầu óc vừa
thực tế vừa lý tưởng. Mẹ tìm cho con một món quà giản dị.
Mẹ mua tặng con hộp kim chỉ, mẹ biết bây giờ không còn
ai may cắt quần áo ở nhà. Tất cả đều mặc quần áo may sẵn.
Mẹ chỉ muốn gửi gấm tặng con lời dặn dò trong món quà
đó:
“Với tình yêu và sự kiên nhẫn ai cũng có thể vá được
những miếng rách nhỏ, khâu lại những cái khuy bị đứt, có
thể có, trong đời sống vợ chồng.”
Nói một cách khác, đừng nghĩ đến thay hôn nhân như thay
áo. Hãy mặc cái áo hôn nhân đẹp đẽ ngày hôm nay. Nó
không cần phải lúc nào cũng mới nhưng hãy giữ cho nó
tinh tươm, lành lặn bằng tất cả tình yêu và sự kiên nhẫn của
một người vợ.
Phần còn lại đặt vào trong tay Thượng Đế.
Mẹ yêu con.
Tháng 7/2008
một ngày khác mọi ngày
Không phải ngày nào thức dậy, ta cũng có một ngày giống
nhau đợi ta trước mặt. Như những người đang ở tuổi đi
làm, có một thời khóa biểu nhất định từ thứ hai đến thứ sáu.
Sáng dậy mấy giờ phải ra khỏi giường, nằm uốn éo như
con mèo ngái ngủ được mấy phút, vệ sinh, ăn sáng hay
không ăn sáng; uống ngay một ly cà phê pha lấy, hay dậy
sớm hơn nửa tiếng pha bình trà nhâm nhi một chung nhỏ,
rồi mới ra khỏi nhà. Người trẻ hơn có thể hấp tấp sửa soạn,
chạy vù xuống nhà xe, lái đến Starbucks, mua một ly, vừa
uống vừa lái xe đến sở. Công việc ở sở năm ngày như nhau
hay mỗi ngày một khác nhau, cũng vẫn là việc sở. Sáng đi
chiều về, thế thôi.
Người đã tuổi hưu trí, mấy giờ ra khỏi nhà đi tập thể dục,
đến Gym hay hội cao niên, giờ nào ngồi vào ghế trước máy
điện tử, đọc báo, viết thư. Hay chẳng cần giờ giấc nào; ăn,
ngủ, thức tùy theo nhu cầu thân thể đòi hỏi, thúc giục. Nửa
đêm thức dậy, đọc mấy trang sách, uống ly sữa ấm, rồi lại
vào giường. Cứ thế ngày qua, ngày qua, tháng qua, rồi năm
qua, ta tưởng như chẳng có gì thay đổi. Một ngày như mọi
ngày.
Nhưng có thật thế không?
Những người sống ở vùng Tây Bắc Mỹ, nếu buổi sáng dậy
thấy hai bàn chân hơi lành lạnh, nhìn ra ngoài cửa sổ thấy
những chùm lá bắt đầu ửng vàng, biết ngay là mùa thu đang
đến. Thế là có một khoảng thời gian hơn hai tháng thức,
ngủ với thu. Trong đầu hình dung ra những bức tranh toàn
mầu vàng, cam, đỏ; những bức tranh có từng đàn cá Hồi
(Salmon) bụng đầy trứng đang rủ nhau từ biển trở về suối
(creek) để sanh đẻ. Rồi đàn cá nòng nọc đó, được nuôi cho
lớn hơn một chút, đánh dấu trên mình, thả ra biển, sang
năm chúng lại thành cá mẹ, quay về. Mùa thu với cá Hồi là
lễ hội “Về Nguồn”, là mùa phục sinh của loài cá này.
Người Tây Bắc còn tuổi đi làm (cuối tuần thế nào cũng
phải bỏ ra một vài giờ ) hay người ở tuổi hưu trí, đều hân
hoan đi dưới mưa thu, dưới nắng mật ong, đi dưới những
cơn gió bất chợt kéo đến trận mưa lá đỏ, rồi những hạt mưa
lãng mạn cứ lộp độp trên nóc dù, như tiếng gõ cửa của
người thân quen. Buổi sáng thức dậy, khăn áo thật ấm, xỏ
chân vào giầy đã nghe tim đập nồng nàn theo hơi thu thở.
Mở cửa ra để hưởng ân huệ của đất trời. Nhìn qua bên kia
hồ, những cây phong vàng úa, pha nâu, pha đỏ chen chúc
với thông xanh như một bức gấm thất thể được ai đó tung
ra phủ kín cả ngọn đồi. Đi bộ trong mùa thu, hai tay giấu
túi áo, ngước mắt nhìn đám khói sương mơ hồ vắt ngang
mỏm núi như tấm khăn san mỏng trên cổ, đang phất phơ
theo cơn gió nhẹ, khẽ khẽ đọc một câu thơ mùa thu của Tản
Đà, không còn gì hạnh phúc hơn nữa:
Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.
Rồi lá thu rụng kín mặt đường như những dòng sông nhỏ
mầu vàng pha sắc đỏ len lỏi vào thành phố, những cây bắt
đầu trơ lá, giơ những cánh tay khẳng khiu lên cao như
muốn với tới bầu trời xám đục. Mùa đông đang đến từng
bước một. Buổi sáng ra khỏi giường, chén trà bắt buộc
thành một thói quen đầu tiên. Khói nhẹ nhàng bốc lên
ngang mặt một mùi hương mộc mạc, làm mờ đôi mắt
nhưng vô cùng quyến rũ. Chiếc tách nhỏ thân ái ôm lọt
trong hai lòng bàn tay, vừa uống vừa nghe thời gian hình
như đang chăng trong gan ruột mình bằng một sợi chỉ rất
mơ hồ. Ra khỏi nhà phải có thêm khăn quàng ấm, có thêm
găng cho mười ngón tay gầy, giầy cao cổ đế bằng cho bước
đi vững chắc. Mùa đông trên cao của bầu trời, mùa đông
dưới thấp của đời người đi song song với nhau, núi trước
mặt tuyết bắt đầu phủ, tóc trên đầu có sợi điểm sương. Cứ
thế, ngày mưa nhỏ ra khỏi nhà, ngày mưa to đốt lò sưởi, rót
một ly rượu nho vơi vơi, đọc một bài thơ Đường, chữ quên,
chữ nhớ, của mấy ông thi sĩ Trung Hoa; hoặc một câu thơ
của tác giả nào ở tận nước Ba Tư xa lắc xa lơ, nhớ lơ mơ
trong đầu. Nhớ thơ, không nhớ rõ tên tác giả, nhưng chắc
thơ hay.
Ai nói một ngày như mọi ngày được nhỉ ?
Có một buổi sáng của thứ ba hay thứ năm, mùa hè thì phải ,
ngày mưa hay nắng không nhớ rõ, vừa lái xe qua khúc
quành của con dốc xuống phố, đang lơ mơ với một câu lục
bát điên điên của Bùi Giáng:
Anh về từ cuối nguyệt hoa
Nhìn em như mộng mị xa xa dần
Em đi sương bóng vô ngần
Nhìn anh như ngó một lần người điên.
Bỗng nghe một tiếng “rầm”, người dội về phía sau, bật lại
phía trước, không mạnh đến nỗi ngực đập vào tay lái,
nhưng cũng đủ chao đi, hoảng vía. Xe mình bị ai đó tông
vào? Không, chính mình lạc tay lái tông vào cái cột điên
thoại ở bên đường, đầu xe dúm một góc. Gọi ai bây giờ, có
cần làm biên bản không?
Thất thần đến mấy ngày hôm sau, không dám lái xe ra
đường. Khi bắt đầu lái xe lại, nhìn thấy cột đèn, hay cột
điện thoại có ngay cái cảm tưởng sắp tông vào. Lúc nào
cũng mơ hồ như sắp sửa nghe một tiếng rầm. Cái ám ảnh
“thơ và tiếng rầm” này ở với mình lâu lắm.
Ai nói một ngày như mọi ngày được nhỉ?
Có đêm vừa vào giường, thiêm thiếp ngủ, nghe ai nói sáng
mai đổi giờ, sớm hơn một tiếng. Như vậy có nghĩa là xuân
đã về. Buổi sáng thức dậy, nhìn qua cửa sổ cái cành cây
gầy như cánh tay gầy kia bỗng phủ kín những mầm xanh
biếc rất bé. Chỉ cần một hai cơn nắng ấm áp lóe lên, những
mầm bé xíu đó sẽ nở ra thành chùm lá xanh ngọc, trong vắt,
tinh khiết đến rùng mình. Rồi những cánh hoa đào, hoa
mận, hoa mai mong manh từ từ nở ra cho ta biết bao hình
ảnh đẹp. Người Nhật ví hoa anh đào mầu trắng tượng trưng
cho vẻ đẹp thanh cao của tâm hồn, mầu hồng là tình yêu
của người phụ nữ, nhưng hoa mận đỏ được dành cho vẻ
đẹp thân thể, sức khỏe và tình dục của nàng.
Hoa xuân tung những đám mây hồng, mây trắng trước cửa,
trong vườn mỗi nhà, công viên, sân trường, phố thị, cho ta
cái cảm tưởng đời sống mình được chúc phúc bởi trời. Cái
âm hưởng “Vang vang trời vào xuân” chưa thưởng thức
hết, bỗng một buổi trưa mưa xuân lác đác, tiếng điện thoại
reo. Một người bạn báo tin người bạn khác vừa khám phá
ra bị ung thư, người bạn khác nữa vừa qua đời. Những
cánh hoa tự nhiên lã chã rơi xuống thành những giọt lệ mầu
xám giữa bầu trời mùa xuân.
Từ đó cứ mỗi lần xuân về, hoa nở, nghe tiếng reo của
đường giây điện thoại, tim lại đập thấp thỏm trong bộ ngực
gầy.
Ai nói, một ngày như mọi ngày được nhỉ?
Hoặc có một ngày, không rõ tháng, không rõ mùa, một
ngày không biết nắng hay mưa, ta ngồi trước màn ảnh nhỏ,
nhận được những bức hình của thủa rất xa xưa. Hình ảnh
của Mùa Hè Đỏ Lửa, Mậu Thân, của An Lộc, Mỹ Lai, của
30 tháng 4, của ngày 9-11, của sóng thần Tsunami, của bão
miền Trung, của mưa lũ Hà Nội, của Thương Phế Binh, của
Nghĩa Trang Quân Đội…như những cuốn phim được chiếu
lại nhiều lần. Giữa tắt máy và mở máy thêm bao nhiêu điều
khác biệt: tin Hoàng Sa, Trường Sa mất, tin gái Việt chết ở
Đại Hàn, trẻ em Việt bán đi ở Cam Bốt. Linh Mục bị tù,
Thượng tọa bị bắt…Chưa hết đâu, ai đó còn gửi cho những
bài viết làm đau lòng nhau, những bài viết của người cùng
một phía, cùng yêu thương tôn trọng một mầu cờ, đọc lên
lặng người đi vì xấu hổ, những bài viết làm ngỡ ngàng,
hoang mang, đến nỗi đôi khi không muốn là chính mình
nữa. Lá cờ vá trong hình của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc
Hạnh hình như chỉ tuột một đường may, lá cờ quốc gia ở
hải ngoại bị giành giật quá, mỗi người nắm trên tay một
mảnh, theo chính nghĩa của riêng mình, nên không ai chịu
buông ra, làm sao chắp, vá lại bây giờ? Một ngày như thế,
làm nhức nhối thịt da, làm ngơ ngáo hồn trí.
Ai nói, một ngày như mọi ngày được nhỉ?
Ước chi được là một chiếc lá thu, một cánh hoa xuân, một
giọt mưa mùa hạ, một cơn gió mùa đông; mong manh, bình
thản, sống hết mình trong mỗi khoảnh khắc hiện diện với
đời bằng bất cứ công việc tầm thường nào Thượng Đế trao
cho.
Mặc dù không ngày nào giống nhau cả.
11/2008
mùi thời gian
Người tiếc than cho đôi mắt ngọc
Bây giờ không ngắm được sao rơi
Niềm phế thải len từng chân tóc
Lửa thời gian đốt bó củi đời (tmt)
Tôi đã đến thăm nhiều “nhà già” trong những thời gian và
địa điểm khác nhau. Dù ở thành phố nào hay vào mùa nào
những nhà già hình như đều có chung một cái mùi đặc biệt,
tôi không biết tả mùi đó như thế nào. Đôi khi tôi tự hỏi có
phải mắt nhìn của mình tạo nên cái mùi đó không?
Khu nhà dù cũ hay mới, những bức tường dù vừa được sơn
lại, vườn hoa đang xén tỉa, nở rực rỡ dưới nắng trưa của
một mùa xuân hay bình minh của mùa hạ, hoặc lất phất
dưới mưa thu. Ở bên ngoài có thơm tho, tươi, sạch thế nào,
thì khi tôi vừa đẩy hai cánh cửa kính bước vào trong, tôi
ngửi ngay được một cái mùi lạ lắm; cái mùi đó òa vào mũi,
chạy ngay xuống ngực, nó làm cho tôi lập tức thấy mình
hồi hộp, những hình ảnh trước mắt hình như trộn lẫn vào
cái mùi đó làm cho tôi thấy mình như chao đi vì nhịp tim
hối hả đập.
Cái thảm lót ở lối đi bao giờ cũng là vật đập vào mắt trước
tiên. Cái thảm không nhìn thấy rác, sạch như vừa được hút
bụi xong, nó không cũ lắm, nhưng cái mầu của nó trông tẻ
nhạt, buồn bã, pha trộn giữa mầu nâu và mầu xám, thỉnh
thoảng có những vết ố đã được tẩy sạch, chỉ còn để lại một
vài cái khoanh loang, đặc biệt những tấm thảm này hay có
in hoa, nhưng bông hoa nhòe đi không còn nhìn rõ cánh
nữa. Hai bên tường treo những bức tranh in phong cảnh núi
tuyết, hay vườn hoa ở những cái khung cố làm ra giống cổ.
Dọc theo hai bên lối đi, bao giờ cũng có một, hai cụ già
ngồi trên xe lăn như đang chờ ai đến. Có thể cụ chờ xe đến
đón đi khám bệnh, hay chờ người thân đến thăm, và có khi
không chờ ai cả, chỉ muốn ra đó để được nhìn qua cửa
chính, nhìn thế giới khỏe mạnh, trẻ trung bên ngoài. Có cụ
tỉnh táo thấy người thì cất tiếng chào trước làm quen, có cụ
mặt lạnh như băng, cúi chào cụ, cụ không trả lời (hay có
khi cụ không nghe được, hoặc không nói được)
Những người giúp việc ở quầy phần đông là người Á Châu
trong những nhà già có đông người Á Châu vào ở, người
Phi bao giờ cũng chiếm đa số, kể cả những lao công quét
dọn. Họ bận rộn, đi lại, chỉ kịp chào khách một tiếng, hỏi
khách có cần chỉ buồng hay không? Nếu khách biết rồi, thì
họ để cho khách tìm lấy, họ không có thời giờ tiếp chuyện,
trừ những trường hợp đặc biệt.
Trong khi đi tìm vào tới buồng người mình muốn đến thăm,
mắt tò mò không sao tránh được nhìn vào những chiếc
giường không kéo màn che hoặc những căn buồng cửa hé
mở.
Thế nào tôi cũng thấy, một cụ bà đang ngồi ngủ gật trên
ghế, những sợi tóc bạc phơ, mảnh dẻ còn sót lại ngơ ngác
trên đầu cụ, thân thể bé nhỏ chỉ còn xương da, bọc trong
một cái áo len xanh lè, hay một cái áo thung dầy, mầu đỏ
đã cũ có chữ Merry Christmas từ năm nào, (chắc con cháu
mua để cụ mặc trông cho vui mắt) cụ ôm thêm cái gối nhầu
nhĩ đặt trong lòng. Ở buồng khác, sẽ có một cụ ông đang
nằm ngủ thiêm thiếp với chiếc TV trên tường đang có mục
quảng cáo Victoria Secret, hay một trận đá banh đang
muốn làm nổ tung màn ảnh.
Bỗng đôi khi, từ đâu đó, một cụ ông hay một cụ bà bước tới
bằng cái khung sắt (walker frame) ra chào tôi niềm nở hỏi:
“Are you Chinese?” hay “Are you Japanese?”
Tội nhiệp các cụ, các cụ cần người đồng hương để có dịp
nói chuyện, có dịp khoe ngày xưa tôi sống thế nào, tôi có
bao nhiêu con đã thành đạt. Có dịp kể lại những giấc mơ
các cụ thực hiện được, và cả những giấc mơ không bao giờ
thành. Có cụ còn hỏi: Tuần tới có đến nữa không? Cho dù
cụ chẳng biết tôi là ai.
Tháng trước tôi đến vào một bữa ăn trưa ở nhà già (điều
hành bởi người Nhật) ở Seattle. Đến thăm bố chồng của cô
cháu, cụ 90 tuổi và đang ở trong đó. Tôi vào buồng ăn, nơi
các cụ người Nhật (phần đông) người Hoa và người Việt
Nam đang ăn trưa. Nhà già cho ăn theo công thức bổ dưỡng
của Mỹ, các cụ được xếp trước mặt: súp, rau, thịt xay, trái
cây. Nhưng cụ nào có con cháu đến thăm thế nào cũng
được một, hai món ăn cổ truyền của quê nhà trước mặt. Cô
cháu tôi đem vào cho bố chồng mấy miếng chả và một ít
xôi. Tôi thấy hai mắt cụ sáng lấp lánh hẳn lên, cụ ông
người Nhật ngồi trước mặt, im lìm với thức ăn Mỹ, cứ cúi
xuống nhìn đĩa thức ăn , không muốn chạm tay vào. Phía
xa xa hơn chút nữa, một bà cụ nhìn đăm đăm sang với đôi
mắt lạnh lùng, ghen tị. Cô cháu tôi nói nhỏ:
Cụ đó người Việt Nam, con cháu nhiều, nhưng chẳng ai
đến thăm cả.
Tôi xẻ một chút xôi, gắp miếng chả mang sang bàn mời cụ.
Cụ nói cảm ơn, một tiếng ngắn, lạnh lùng. Thấy thương
quá!
Tôi ở lại sau bữa trưa, hai cô cháu đưa cụ ông về buồng. Đi
qua những hành lang trải thảm, những căn buồng không
kéo màn, những căn buồng cửa hé mở. Những hình ảnh của
các cụ như những cuốn phim, xem đi xem lại lần nào cũng
thế, cũng vẫn những diễn viên đó, vẫn cảnh diễn giống
nhau, vẫn những thân hình bé lại, gầy guộc với thời gian,
những đôi mắt mệt mỏi, buồn vời vợi nhìn vào khoảng
trước mặt, hoặc nhìn người qua lại mà như không nhìn gì
cả. Tôi cúi nhìn cái thảm nâu pha xám dưới chân, và cái
mùi lạ lùng, khác biệt của nhà già lại ùa vào mũi tôi, làm
trái tim tôi đập hối hả.
Tôi nhớ, cả hai mươi năm rồi, tôi có đến thăm một nhà già
ở Helena, Montana, nơi bố chồng tôi ở.
Nơi này chỉ toàn người già (nhưng không bệnh tật) Vì là
tỉnh nhỏ nên các cụ phần đông ngày trước cùng ở chung
phố, hoặc học chung một trường trung học. Khi trưởng
thành, vào đại học, hay lập gia đình phân tán các nơi, có
người dọn hẳn sang tiểu bang khác. Bây giờ về già, chồng
hoặc vợ đã qua đời, con có gia đình riêng, các cụ tìm về
một nơi ở chung với nhau. Như trường hợp cha chồng tôi,
sau khi cụ bà mất, cụ bán nhà và dọn vào đây, chúng tôi
mời thế nào cụ cũng không chịu về ở với chúng tôi, cụ nói:
Thành phố của các con ồn ào quá, ở đó bố không có bạn,
hơn nữa bố không muốn các con phải bận tâm chăm sóc
thêm một người già khi các cháu còn bé.
Năn nỉ thế nào cũng không được, thỉnh thoảng cụ đến chơi
một hai tuần với các cháu, và chỉ về ở với chúng tôi những
khi cụ đau ốm, cần săn sóc kỹ, khi khỏe lại, cụ đòi về nhà
già của cụ ngay, cụ nhớ bạn cũ. Tôi nhớ lần cụ ở lâu nhất là
hai tháng. Nhóm của cụ bắt đầu hơn mười người, sau mất
dần dần còn lại ba, bốn cụ.
Khi bố chồng tôi mất chỉ còn lại ba cụ cùng trường. Những
cụ khác không ở trong nhóm cũng già nua, đơn chiếc, các
con tứ tán mười phương.
Dù không khí buồn hay vui, khi vào nhà già với những
mảnh thảm trải gần như cùng mầu, với những bức tranh
treo trên tường, (hình như chỉ dành riêng cho nhà già,) với
hình ảnh các cụ đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cười hay thinh
lặng như những cành hoa vải, hoa nhựa, bao giờ cũng cho
tôi một nỗi ngậm ngùi. Khi tôi ôm giã từ những thân thể đó
trong vòng tay, dù chỉ năm ba giây, tôi ngửi được một cái
mùi rất đặc biệt, rất lạ lùng, và nó ở lại trong ngực tôi hoài,
dù tôi có lên máy bay trở về một thành phố khác.
Tôi không biết đặt tên cho cái mùi lạ lùng đó thế nào cho
đúng. Nó là phối hợp của cái không khí bao trùm cả tòa
nhà, của những khuôn mặt nhăn nheo, những đôi mắt mệt
mỏi, buồn bã, những thân thể mong manh, nó nhắc tôi nhớ
cha, nhớ mẹ, nhớ những hình ảnh của người thân tôi được
chúng kiến tuổi già của họ, nhắc tôi nghĩ đến một cây cầu
chưa rõ nét tôi sẽ phải đi qua.
Và mỗi khi tôi bước vào đó nó ùa vào mũi tôi nằm trong
lòng ngực của tôi, chồng chất lên nhau. Nó có phải là thời
gian không nhỉ?
Tôi gọi nó là “Mùi Thời Gian”
4/2008
Thư cho con gái sau lễ Tạ Ơn
Angie yêu quý,
Sáng nay khi mẹ đứng trước cửa nhà nhìn con kéo chiếc va
li khuất sau cánh cửa xe, lòng mẹ vừa vui vừa buồn.
Mẹ biết cô thiếu nữ thanh tân kia là con gái của mẹ, cô vừa
ôm từ giã mẹ một cái ôm ấm áp thương yêu, nhưng cô cũng
là một ai đó, một ai đã trưởng thành bước qua ngưỡng cửa
gia đình vào đời sống riêng cô.
Mẹ khép cánh cửa với trái tim thổn thức, lên lầu, và con
biết gì không? Mẹ đã chui vào trong giường của con, ở
dưới chăn, hơi ấm của con còn nguyên, mẹ hít cái mùi thân
thể con vào lồng ngực, và cái hơi hướm của con thời thơ ấu
chợt trở về với mẹ, mẹ nhắm mắt tìm cho mình một giấc
ngủ trong hương thơm đó.
Khi mẹ tỉnh dậy, căn nhà yên ắng, mẹ bước xuống giường
và trong khi làm giường mẹ nhặt được một sợi tóc dài, mẹ
cầm lên, đó là một sợi tóc rất mảnh có mầu hạt dẻ, sợi tóc
của con. Mẹ cầm sợi tóc lên ngang mắt, nghĩ đến những sợi
tóc mẹ đã tìm thấy trên những cái giường trong nhà mình.
Sợi tóc dài bạc như cước của bà ngoại Trần; sợi tóc mảnh
và xám của ông nội Pease; sợi tóc nhỏ trắng quăn của bà
nội Pease; sợi tóc ngắn mầu lúa mạch của cha con, đen và
rất thẳng của em trai con, Phillip; mầu mật ong của anh
con, Jean Paul. Tất cả những sợi tóc này đã trở thành kỷ
niệm, (chỉ trừ tóc của cha con thỉnh thoảng vẫn tìm thấy
trên gối của mẹ) Có những sợi tóc đã đi rất xa, thoảng xuất
hiện trên gối, thoảng mất hút sau cánh cửa, có những sợi
tóc đã đi theo tổ tiên của con và trở thành huyền thoại.
Trong một buổi chiều sau ngày lễ Tạ Ơn, mẹ một mình
đứng trong buồng con, đứng với sợi tóc của con trên tay,
mẹ bỗng nhận ra là mẹ không thể nào giữ được tóc của tất
cả những người thân yêu trong lòng tay mình mãi mãi.
Theo thời gian bằng cách nào đó, về một nơi nào đó, tóc sẽ
bay đi nhưng những sợi tóc này sẽ ở lại mãi trong tim mẹ.
Trái tim của mẹ là chiếc gối cho những sợi tóc ngả vào.
Một ngày nào đó con sẽ lập gia đình, sẽ trở thành người mẹ
(của những đứa con đã trưởng thành,) một người con có bố
mẹ đã qua đời. Con sẽ thấy mình đứng trong một căn
buồng với một sợi tóc trên tay, con sẽ hiểu không có gì trên
đời này giá trị hơn sợi tóc của người thân.
Yêu con,
Mẹ
những điều lạ
Cô con gái đón tôi tối thứ tư ở phi trường San Diego. Thứ
bẩy tới này là cưới con, tôi đến trước mấy hôm để có thời
giờ làm quen với gia đình chú rể từ bên Úc sang.Căn nhà
cô thuê cho cha mẹ ở gần trường đại học công giáo USD,
nơi cô đã học, và sẽ làm lễ cưới trong ngôi nhà nguyện ở
đó. Chúng tôi từ Seattle nên cần nhà để vừa ở, vừa tiếp
khách. Căn nhà cô thuê một tuần cho cha mẹ ở trên một
con dốc cao, trông xuống cả thành phố chấp choáng dưới
ánh đèn đêm.
Cô mở cửa nhà xe, tôi đã thấy chất đầy trong đó những
thùng rượu đỏ, rượu trắng, bia, nước và một dẫy những
chiếc thùng khác, có ghi chữ trên từng thứ phải đem ra nhà
thờ, nhà hàng, v.v Cô mang va li vào cho mẹ, xong đi bật
đèn từng phòng, nhà trên, nhà dưới, buồng tắm, bếp. Dặn
mẹ nước uống, thức ăn trong tủ lạnh đã có sẵn. Cô hỏi:
- Tối nay, bố chưa đến, mẹ ở một mình được không?
Tôi biết, con còn rất nhiều việc phải làm vào phút chót nên
vội vàng gật đầu:
Được, mẹ ở một mình được, mẹ quen với bố hay đi làm xa
rồi.
Cô hôn vội vàng lên má mẹ, rồi dặn dò:
- Khóa cửa tuần này mang số 3131, mẹ đi ngủ đi, mai con
đến sớm.Tối mai có thêm bố nữa.
Đây là một căn nhà Summer House, con tôi thuê trên mạng
Internet, đầy đủ tiện nghi như khách sạn, có thêm bếp và
bát đĩa, nồi, xoong, nên rất tiện cho người ở xa đến. Tôi
đến trước, chồng tôi phải làm việc nên đến sau một ngày.
Chúng tôi sẽ tiếp những người khách lạ, lần đầu tiên gặp ở
đây. Họ là gia đình của nhà trai.
Tôi nhìn theo chiếc đuôi xe của con khuất ở một khúc
quành, mất hút vào bóng đêm. Căn nhà hai tầng, năm, sáu
buồng sau lưng tôi, bỗng mênh mông như dải ngân hà với
những vì sao xanh, vàng đỏ chen chúc nhau hắt lên của ánh
đèn đêm trước mặt. Tôi bỗng thấy như lạc vào một hành
tinh lạ.
Trong hai tuần nay, tâm, trí tôi chao động giữa sống chết,
giữa vui buồn. Mới thứ sáu tuần trước tôi phải bay lên
Virginia dự đám tang của vợ người anh họ, chúng tôi thân
nhau như anh em ruột nên việc một người thân bỗng tan
thành tro, chen vào việc cưới hỏi của con làm cho lòng ruột
tôi căng ra như một sợi dây cung.
Bây giờ còn lại mình tôi đứng trên ban-công của căn nhà lạ,
trong một thành phố lạ, bất giác tôi nghĩ đến người chị vừa
mới qua đời tuần trước. Chị chắc cũng đang ở trong một
căn nhà lạ, một thành phố lạ. Vùng trời nơi đó thế nào nhỉ?
Tôi bâng khuâng tự hỏi? Chị có đang nhìn tôi, đang đọc
những điều tôi nghĩ trong đầu? Tôi mong là chị đang vui.
Bây giờ một mình tôi đứng trên ban-công của căn nhà lạ,
những lùm cây nhỏ bên dưới kia hình dáng cũng thật lạ với
tôi, tôi mới nhìn thấy lần đầu mà, làm sao mà quen được.
Tâm trí tôi chia ra giữa những việc đã đi qua tuần trước và
những việc hai ba ngày sắp tới. Trong đêm tối, tôi không
biết mình là một ánh đèn hắt lên từ bên dưới kia, hay như
một vì sao nhỏ xíu chấp chới trên nền trời đêm.
Tôi lan man nghĩ đến đám cưới của con gái trong hai ba
hôm nữa. Thời tiết có đẹp hay không? Đài Khí Tượng nói
sẽ mưa lác đác, liệu có ướt áo cô dâu không? Cái áo trắng
toát, đuôi dài với khăn voan đó làm sao mà giữ cho tinh
khiết dưới mưa được?
Tôi sẽ bối rối đến thế nào? Chắc là cả hai vợ chồng tôi
cùng ứa lệ. Buổi tiếp tân liệu có chu đáo không, khi cô dâu
sống xa nhà phải lo tổ chức một mình? Mặc dù biết những
người trẻ bây giờ rất giỏi, và họ có ý thích riêng của họ,
khác với sở thích cha mẹ, nhưng thấy con phải lo nhiều
việc, tôi vẫn thương quá! Con gái tôi lấy chồng, con tôi sẽ
đi về ở một căn nhà mới, nhà lạ, với một người lạ. Dù
người đó là người cô đã thân quen, đã yêu bao nhiêu ngày,
tháng chăng nữa, cũng vẫn là người lạ khi cô bắt đầu đời
sống vợ chồng. Mỗi người là một thế giới riêng biệt, một
tinh cầu lạ, một căn nhà lạ. Cô sẽ phải dò dẫm, khám phá
ngôi nhà lạ đó. Có cái cô thích, có cái cô không thích. Tôi
cầu xin cho cô dọn vào một ngôi nhà, cô tương đối hài
lòng.
Rồi một, hai năm sau tôi sẽ có cháu, có một đứa bé mũm
mĩm trên tay, nghe nó cười, nó khóc. Tôi sẽ làm quen với
sinh vật mới lạ này của Thượng Đế đem đến. Biết đó là
hạnh phúc, là tương lai, nó sẽ lớn lên thành cây cao với
chùm lộc biếc. Rồi tôi được nhìn thấy cái cây đó trong bao
nhiêu lâu? Làm sao biết được! Và một ngày nào đó, con tôi
lại sẽ là tôi bây giờ. Sẽ đứng bâng khuâng ở một thành phố
lạ nào đó nhìn lên bầu trời, thổn thức giữa vui, buồn của
người mẹ. Đời sống là một vòng tròn bánh xe, xoay chung
quanh cái trục thời gian. Thỉnh thoảng bánh xe ngưng lại
cho kẻ lên, người xuống.
Tôi vẫn đứng một mình trong đêm, từ ban-công nhìn xuống
những ngọn đèn đường bên dưới, tĩnh lòng, nhớ lại những
diễn tiến tuần trước. Hôm thăm viếng lần cuối chị Ngọc
Lan, tôi nhìn thấy khuôn mặt chị an bình, cặp mắt nhắm,
hai tay xuôi. Chị để lại chồng, con và tất cả những gì chị có
cho người ở lại. Nhớ lại chúng tôi đứng chung quanh chị,
thương yêu và bất lực. Chiếc áo quan đơn sơ mở nắp có chị
nằm trong đó, đi vào cửa bên này của chiếc lò sắt một cách
bình thản, đi ra cửa bên kia thành một vốc tàn tro.
Một vốc tàn tro nằm ngoan, hiền như chính con người của
chị, được anh và con trai đựng trong chiếc bình men xanh
phủ giữa những cánh ngọc lan cho bạn bè thăm viếng lần
cuối.
Nhớ lại, sau đám tang, mấy chị em gái chúng tôi ngồi sắp
xếp, chia nhau những quần áo, giầy, dép của chị. Tôi nghĩ
chắc là chị sẽ vui vì có người thân mặc áo, quàng khăn, đi
giầy của mình. Nhưng những chiếc áo, những đôi giầy đó
chắc cũng không vui khi cảm được những bàn tay lạ chạm
vào. Anh tôi thỉnh thoảng ghé mắt nhìn, làm sao tránh khỏi
nao lòng, dù chính đó là ước muốn của anh, anh không
muốn những người lạ mặc áo, đi giầy của chị.
Những chiếc tủ mở toang hai cánh nhỏ
Áo khăn em tay lạ chạm trên vai
Anh đứng nhìn mầu len trên từng chiếc
Nghe nao nao trong ngực hương em bay
(tmt)
Câu thơ của vua Tự Đức khóc Bằng Phi “Đập cổ kính ra
tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hương” đã bị mấy bà
chị, và mấy cô em làm xô lệch cả rồi.
Chị bây giờ đang ở trong một thành phố lạ, ngôi nhà lạ. Chị
chắc cũng mặc trên mình những khăn áo lạ, dệt toàn bằng
trăng sao.
Anh bây giờ ở lại trong căn nhà cũ của hai người, chắc
bỗng nhiên thấy ngôi nhà trở thành xa lạ vì vắng đi một
người. Rồi anh sẽ tập quen dần với những cái lạ mới đến
với mình.
Chúng tôi lần lượt từ giã anh bay trở về nhà mình, rồi cả họ
lại bay đến California dự đám cưới con gái tôi.
Bây giờ tôi ngồi đây, viết lại những dòng chữ này. Tai như
còn văng vẳng những tiếng nhạc vui của đám cưới, mắt vẫn
ghi lại hình ảnh con gái mình, đằm thắm như một nhánh
anh đào trong chiếc áo cưới trắng toát bước lên từ dưới nhà
thờ trong cánh tay cha cô. Hình ảnh cô và chú rể mặc áo,
khăn, cổ truyền Việt Nam đứng giữa bốn cô phù dâu mặc
áo dài đỏ, trông như những người trong tranh ngày trước.
Vợ chồng mới đang đi chơi ở một thành phố lạ, trong một
quốc gia lạ. Tất cả sẽ là những khám phá, những ngạc
nhiên, như đời sống là một chuỗi dài từ ngạc nhiên này đến
ngạc nhiên khác.
Trong cả hạnh phúc và khổ đau, Thượng Đế bao giờ cũng
đem đến cho nhân loại những điều rất lạ.
Tháng 10/ 2008
buôn gánh bán bưng
Gửi Cường, Mai, Quân, Kiên
Trăm dân no đủ thì trẫm lo gì không no đủ. (Trần Thái
Tông)
Hình ảnh đẹp nhất của Việt Nam là hình ảnh những người
buôn gánh bán bưng và những hàng quán bầy bán ngay trên
vỉa hè, ngay lối đi trên đường phố, không có một trật tự
nào, của cả ba miền Bắc, Trung, Nam.
Trong suốt một tháng ở Việt Nam, tôi thích nhất ngắm
nghía những quang gánh, xe ba bánh, xe đạp, xe thồ bán
hàng trên hè phố. Thích nghe những tiếng rao, tiếng mời
chào của người bán hàng. Thỉnh thoảng xen vào đó tiếng
một thanh niên mời đánh giầy, một cụ già, hay một em bé
mời mua vé số. Không về Việt Nam thì làm sao được ngẩn
người ra mà xúc động trước những hình ảnh này. Ta xúc
động không vì ngắm nghía hình ảnh, ta còn được nghe
những mẩu chuyện của đời sống những người buôn gánh
bán bưng này. Những người “tha phương cầu thực” ngay
trên chính đất nước mình.
Ở Sài Gòn, trong một con hẻm khá sạch sẽ ở khu Tân Thái
Sơn, khi chuông nhà thờ đổ bốn giờ sáng, tôi thức dậy,
đứng trên hiên của từng lầu hai nhìn xuống. Hai vợ chồng ở
nhà đối diện sửa soạn nồi bún bò bán ăn sáng. Người chồng
lo xếp bàn ghế ra cả lối đi của ngõ; người vợ lo nồi bún.
Một mẹt bún cao ngất ngưởng trắng tinh, một mẹt rau xanh
ngắt cao không kém, để bên cạnh. Ống đũa, ống tăm, chai
ớt, hũ mắm, tô chanh cắt miếng, nồi nước lèo tỏa khói lên
cao, mùi thơm tung hoành bay trong không gian. Tất cả sãn
sàng cho người khách đầu tiên. Họ chỉ bán từ bẩy giờ sáng
đến chín giờ là hết nồi bún khổng lồ. Đây là chỗ ăn sáng
tương đối tươm tất cho người trong xóm ghé ăn trước khi
đi làm, giá một tô bún chắc là phải vừa túi tiền với người
bình dân. Đi xuôi xuống xóm một chút có bà bán bánh
cuốn nóng, ngay trước cửa nhà mình. Hàng của bà bầy trên
mặt đất. Nồi tráng bánh bên trong, bát, đũa, mắm, ớt trên
một cái bàn nhỏ bầy phía ngoài, ghế đẩu năm ba cái, người
ăn ngồi chung quanh, chờ bà tráng bánh nóng, ăn ngay tại
chỗ. Khách của bà phần đông là các cụ già, ăn cho lành
bụng và con nít chín, mười tuổi ăn trước khi đi học. Không
ra sớm thì cũng tám giờ là sắp dẹp hàng. Nhưng đã có hàng
rong đang cất tiếng rao chen vào rồi. Xôi, bánh giò, bánh
khúc, bánh mì, đang được cắp bằng cái thúng nhỏ bên cạnh
sườn hay thồ trên xe đạp, bà bán bún riêu, gánh nguyên
một gánh, nồi, bát, rổ rá, kĩu kịt trên vai, ghé ngồi xuống
đâu cũng được, kéo mấy cái ghế nhỏ mắc ở hai bên quang
ra là thành ngay một tiệm ăn lưu động.
Vào trung tâm thành phố Sài Gòn thì cũng không thiếu gì
hàng quà vặt bầy ngay trên đường Đồng Khởi, Lê Lợi. Bàn
thấp, ghế đẩu dành cho Tây Ba Lô và những người địa
phương. Du khách Tây,Úc, Nga, Việt Kiều sáng giá cứ việc
lách qua mấy hàng quà này, để vào những gian hàng mua
bán, hay tiệm ăn, sang trọng đắt tiền. Những gánh trái cây
thì nhan nhản khắp nơi. Nhiều nhất là phía bên ngoài các
chợ.
Mỗi miền, mỗi gánh quà, mỗi gánh hàng bán rong rau trái,
mang một sắc thái riêng. Gánh quà của thành phố Sài Gòn
coi tươm tất, đầy đủ hơn cả. Trái cây nặng trĩu, nồi bún, nồi
chè trông bắt mắt người ăn. Người bán hàng đon đả mời,
giọng nói tự tin, phấn chấn với món hàng mình bán. Ra đến
Huế, gánh hàng vơi đi thật rõ ràng. Hai cái thúng chỉ có trơ
một, hai nải chuối, hoặc mấy mớ rau, mấy củ khoai luộc,
trông cũng bé lắm. Người bán hàng ôm ốm, giọng nói nhỏ
nhẹ như mấy củ khoai gầy trên cái mẹt thấm nước mưa, cái
mẹt cũng tưa ra, không được nguyên lành. Mấy con cá to
nhất chỉ bằng cườm tay đứa trẻ lên ba, thoi thóp thở trong
cái thau nhôm móp mép, người bán hàng gầy guộc, co ro
ngồi dọc bên bờ sông Hương. Thương cho cả con cá lẫn
người ngồi bán dưới mưa. Đi xa hơn nữa lên đến Bình
Điền, khu Kinh Tế Mới, cách Huế chừng 20 cây số, thì chỉ
thấy những quán chợ xiêu vẹo, không thấy hàng rong nữa.
Nghèo quá, chắc không có ai ăn hàng vặt!
Ở Hà Nội, một giờ sáng có tiếng rao “bánh khúc nóng
đây”, tiếng rao hàng xa dần, xa dần rồi lẫn vào tiếng xe tải
chạy trong đêm. Ngày không biết bắt đầu từ mấy giờ cho
những người bán rong, chỉ biết khi tỉnh dậy, xuống đường
thì các hàng quà đã đầy hai bên phố.
Hà Nội không biết có phải là nơi hàng rong nhiều nhất
Đông Nam Á không? Chỉ thấy chỗ nào cũng có gánh, có
thúng, có mẹt. Họ gánh trên vai, cắp ngang hông hay thồ
trên xe đạp. Cái xe đạp này ngoạn mục lắm! Ta không nhìn
thấy khung, yên, hay thậm chí cả hai bánh xe. Chỉ thấy một
người bé nhỏ cầm tay ghi (tay lái) thồ xe đi theo mình.
Không thấy thân xe, vì tất cả một cửa hàng hoa, một sạp
trái cây, một tiệm bán bát đĩa, hay hiệu bán quần áo phủ
trùm lên cái xe đó. Đôi khi ta đứng ở phía bên kia, ta không
nhìn thấy cả người đang thồ xe nữa. Chen vào những người
bán thức ăn, hoa trái, quần áo, bát đĩa có những người chỉ
có quang gánh với một xấp giấy, báo, thùng cũ xé ra, hoặc