The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-19 19:30:36

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

Bốn Mươi
Sáu Năm
Trong
Chức Vụ

MS Lê Văn Thái

Thư Viện MS Christian Le PhD

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 2

MỤC LỤC

LỜI TỰA 3

CHƯƠNG 1: TỪ TỐI QUA SÁNG 7

CHƯƠNG 2: NHỮNG DIỄN TIẾN TRONG CHỨC VỤ 20

CHƯƠNG 3: HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP VÀ GIÁO HỘI 54
TIN LÀNH ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 4: CAO TRÀO PHỤC HƯNG GIÁO HỘI VÀ NHỮNG CHUYỂN 95
BIẾN LỊCH SỬ

CHƯƠNG 5: CHIỀU HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI TRONG GIAI 135
ĐOẠN CHUYỂN TIẾP

CHƯƠNG 6: KẾ HOẠCH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG CƠ SỞ HẠ 160
TẦNG CỦA GIÁO HỘI

CHƯƠNG 7: THỜI KỲ VỀ HƯU 190

2
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 3 3

LỜI TỰA

Như những dòng nước sống mang tình yêu tuôn tràn vào sa mạc, ân sủng và
tình yêu thương của Cứu Chúa Jêsus Christ đã đến với dân tộc Việt Nam thật rất dư
dật và lạ lùng. Chỉ trong một thời gian ngắn, ảnh hưởng của Tin Lành đã lan rộng
khắp ba miền Trung, Nam, Bắc và điều đáng ngợi khen Chúa hơn hết là sự hiện
diện của Hội Thánh Ngài trên phần đất bé nhỏ nầy như là một phép lạ- vì từ một
số người ít ỏi, bé nhỏ Hội Thánh đã tiến nhanh đến chỗ có thể kết hợp được một
tập thể rộng rãi, đông đảo như ngày nay.

Nói như thế không có nghĩa là những nhà truyền đạo tiền phong cũng như
những người nối tiếp trách nhiệm thực thi sứ mệnh thánh, có thể hoạt động dễ
dàng trong một bối cảnh lịch sử cởi mở và khách quan, được chính quyền thông
cảm và được quần chúng ủng hộ. Sự thật hoàn toàn trái ngược. Tin Lành được
truyền đến Việt Nam tính đến nay (1970) đã gần 3 phần tư thế kỷ. Trong khoảng
thời gian đó, các đầy tớ của Chúa đã phải hoạt động song song với những sự ngăn
trở. Ngày nay, chúng ta tương đối được dễ dàng trong việc rao truyền ơn cứu rỗi,
nhưng ngày xưa - Hội Thánh đã phải chiến đấu gian khổ để trưởng thành trong
những hoàn cảnh hết sức bi đát, cô đơn cùng cực - nếu không có sự gìn giữ và bảo
hộ của Chúa, thì chắc rằng không thể nào tồn tại được. Thái độ của Chính quyền
Pháp Việt lúc bấy giờ rất khắt khe đối với Tin Lành. Thêm vào đó là nạn kỳ thị tôn
giáo do một số đồng bào thủ cựu chủ xướng. Cho nên Giáo sĩ luôn luôn bị ngược
đãi và những nhà truyền đạo đầu tiên phải thường xuyên sống trong sự đe dọa, bắt
bớ và tù đày. Tuy nhiên, tạ ơn Đức Chúa Trời, vì trên hết mọi điều đó - có cánh tay
của Chúa giơ ra và Hội Thánh của Ngài vẫn sống.

Ngày nay, nhìn trở lại những chặng đường đã qua trong chức vụ, tôi tự nhận có
thể ngẩng đầu lên, lớn tiếng ngợi khen và tôn vinh Ba Ngôi Đức Chúa Trời về những
việc mà Ngài đã làm trên đất nước chúng ta. Và đó cũng là một trong những lý do
khiến tôi viết lại tập Hồi ký nầy. Mong rằng quý độc giả có thể xem đây như là một
nhân chứng của lịch sử. Sau hơn bốn mươi năm hầu việc Chúa, tôi muốn được
cùng quý vị ôn lại quá trình hoạt động của Hội Thánh từ những ngày đầu tiên, để
quy vinh Danh Chúa, và đồng thời cũng để nhớ lại những tấm gương sáng chói của
những bậc đàn anh - là những người đã đi trước chúng ta và cũng đã hi sinh trọn
vẹn cho công cuộc rao truyền Tin Lành.

Làm công việc nầy, tôi nhận thấy là khó có thể tránh được những thiếu sót,
nhất là đối với việc sưu tầm và san định những tài liệu lịch sử liên quan trực tiếp
đến vận mệnh Giáo hội, vì sự hạn hẹp của ký ức gây nên, nhưng mục đích chính
của tôi qua tập Hồi ký nầy là - góp một phần rất nhỏ trong việc tổng hợp những tài
liệu lịch sử, làm bàn đạp cho những nghiên cứu bao quát, sâu sắc hơn - ngỏ hầu có
thể tiến đến việc soạn thảo một quyển “Lịch Sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam” đầy
đủ và súc tích.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 4

Tôi cũng xin chân thành cám ơn cố Giáo sĩ E. F. Irwin về những tài liệu liên
quan đến công cuộc truyền giáo của Hội Phước Âm Liên Hiệp tại Đông Dương,
cùng tất cả quý vị Mục sư, Truyền đạo và tín hữu xa gần đã giúp tôi những tài liệu
thiết thực, bổ túc cho những thiếu sót trong việc thực hiện công tác nầy. Cầu xin
Đức Chúa Trời Toàn Năng ban phước lại trên quý vị cách dư dật. A-men.

Nha Trang, ngày 1 tháng 5 năm 1970
Mục sư LÊ VĂN THÁI

Mục Sư Lê văn Thái

4

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 5

Ba Giáo sĩ trong những Giáo sĩ đầu tiên
Từ trái sang phải:

I. R. STEBBINS, D. I. JEFFREY, E. F. IRWIN

5
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 6

MS Lê Văn Thái và gia đình
Hà Nội 28.09.1948

6

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 7 7

CHƯƠNG 1: TỪ TỐI QUA SÁNG

TIN LÀNH đã được truyền giảng tại Đà Nẵng từ năm 1911. Nhưng lúc bấy giờ
mọi người trong gia đình chúng tôi đều ở trong sự TỐI TĂM đúng như lời Thánh
Kinh đã chép: “Sự sáng đã soi trong tối tăm, song tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng”(Gi
1:5).

Chúng tôi không quan tâm đến Chân lý của Lời Sự Sống. Nhưng thật ra đó
không phải là quan niệm riêng của chúng tới mà là khuynh hướng chung của tất cả
mọi người trong mọi thời đại - điều mà Thánh Kinh đã dự ngôn từ ngàn xưa: “Thế
gian đã làm nên bởi Ngài, nhưng thế gian chẳng từng nhận biết Ngài, Ngài đã đến trong xứ
mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy”(Gi 1:10,11). Lý do của sự khước từ ấy cũng đã
được Thánh Kinh giải bày minh bạch: “Sự sáng đã đến thế gian mà người ta ưa sự tối tăm
hơn sự sáng vì việc làm của họ là xấu xa” (Gi 3:19).

Về sau, khi đã trở nên môn đồ của Chúa, tôi mới có dịp suy nghĩ - hậu quả việc
làm của gia đình tôi lúc bấy giờ chẳng qua chỉ là một chiếc áo nhơ nhớp ở trước
mặt Chúa mà thôi.

A. GIAI ĐOẠN CHỐNG ĐỐI CƠ ĐỐC GIÁO

Năm 1914 chiến tranh giữa Đức và Pháp bùng nổ. Người Pháp không muốn cho
người Mỹ ở Đông Dương, nên các Giáo sĩ phải bán lại vật liệu xây cất để về đất
nước. Nhờ đó tôi có dịp giao thiệp với họ để mua các vật liệu ấy về xây cất nhà.
Tình hình chiến sự ngày càng khẩn trương, nên nhằm đề phòng mọi mưu toan
khuynh đảo – khoảng tháng 12 năm 1915, toàn quyền Đông Pháp ở Hà Nội cho
ban hàng Sắc lệnh cấm chỉ việc truyền bá Gia-tô giáo tại Đông Dương.

Bởi giao thiệp với các Giáo sĩ và đọc được những sách báo của các nhà Truyền
giáo, tôi được biết từ ngữ Gia-tô Cơ Đốc là JÊSUS CHRIST – tên của vị Chúa mà các
Giáo hội Thiên Chúa đang thờ phượng hết sức cung kính. Khi đã phối kiểm và đã
biết chắc được điều đó là đúng, thì lòng căm thù của tôi đối với Cơ Đốc giáo lại
càng gia tăng bội phần.

Lý do của sự căm thù nầy là vì một vài biến cố lịch sử hàm chứa những sắc thái
chính trị lẫn tôn giáo xảy đến cho gia đình chúng tôi. Theo lời ông thân tôi kể lại thì
đêm 4-7-1885 tức 22-5 năm Ất Dậu, sau khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm
Nghi phải chạy ra Cam Lộ, Quảng Trị. Một số người theo vua, một số người phải bỏ
kinh thành đi lánh nạn. Trong số người rời bỏ kinh thành đi lánh nạn. Trong số
người rời bỏ kinh thành Huế có gia đình chúng tôi.

Ông thân tôi đưa người mẹ già (tức bà nội tôi) vào tá túc trong nhà thờ Phú
Cam (Huế) gần 6 tháng. Sau đó lại đưa bà vào Đà Nẵng tìm người chị bị lưu đày biệt
xứ bởi tội gia đình làm cách mạng trong đời vua Tự Đức.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 8 8

Ngần ấy sự kiện, nào là chuyện kinh thành Huế thất thủ nào là chuyện tá túc
trong nhà thờ Phú Cam, nào là chuyện có người trong gia đình làm cách mạng thời
Tự Đức phải bị phân thây hoặc bị tù đày biệt xứ gây cho tôi lòng căm thù Cơ Đốc
giáo không tưởng được. Tinh thần ái quốc vùng dậy mãnh liệt trong tôi. Những
truyền thống lâu đời của tổ tiên cần được triệt để bảo vệ. Không ai có quyền phá
hủy di tích của tiền nhân để đem vào đất nước nầy những “mê hoặc” của ngoại
bang. Xin nói rõ là gia đình tôi lúc bấy giờ theo thờ Ông Bà, một hình thức tôn giáo
mang tính chất thuần túy Phương Đông. Tôi nhận thấy mình có nhiệm vụ phải bảo
vệ những truyền thống tinh thần của dân tộc, nên mỗi khi nghe giảng đạo Gia-tô,
phân phát sách báo Gia-tô hoặc gặp phải những người theo đạo Gia-tô, tôi liền
chống trả mãnh liệt. Tôi đã áp dụng tất cả mọi phương tiện để đối phó ngay cả việc
ném đá vào đầu các Giáo sĩ tôi cũng không từ nan.

Chẳng những thế thôi, ròng rã mấy năm, tôi vẫn cứ theo tranh luận với các
Giáo sĩ và phá tán những người rao truyền Tin Lành, chung quy chỉ vì lý do huyền
thoại “Vì đạo mà mất nước” (ám chỉ một giáo hội lớn tại Việt Nam).

Nhưng lạ lùng thay, ân sủng và lòng yêu thương vô lượng của Chúa đã chuẩn bị
cứu tôi. Khởi điểm khiến tôi đi sâu vào việc nghiên cứu chân lý Tin Lành và tìm
được ơn cứu rỗi, là do vấn đề một ông truyền đạo nêu lên sau đây: “TIN THEO ĐẠO
TIN LÀNH BỎ ÔNG BÀ, HAY KHÔNG THEO ĐẠO TIN LÀNH BỎ ÔNG BÀ?” Vấn đề
có vẻ thích thú. Tôi bắt đầu suy nghĩ, cố tìm những luận cứ vững chắc, sắc bén ngỏ
hầu có thể bẻ gãy dễ dàng những lý lẽ của “đối phương.” Tôi tin chắc rằng tôi sẽ
thắng.

Một đêm kia, tại tòa giảng Hải Châu ông Truyền đạo nầy quả quyết: “AI KHÔNG
THEO TIN LÀNH, KHÔNG TIN NHẬN ĐỨC CHÚA JÊSUS, KHÔNG THỜ ĐỨC CHÚA
TRỜI LÀ BỎ ÔNG BÀ.” Để chứng minh, ông đọc luôn một câu chữ Hán: “Mộc hữu
bổn, thủy hữu nguyên, nhân sanh hồ tổ.” Rồi ông lớn tiếng giải thích: “Cây có cội,
nước có nguồn, người có tông có tổ. Cây không cội, nước không nguồn, người
không có tông tổ thì sao gọi là có ông bà được? Đức Chúa Trời dựng nên loài
người, nhưng người không thờ phượng Ngài. Thánh Kinh chép rằng: “Đức Chúa Trời
dựng nên loài người… Ngài dựng nên người nam cùng người nữ” (Sa 1:27), không tin nhận
Đức Chúa JÊSUS là Con Đức Chúa Trời và không tin theo Tin Lành của Ngài thì
khác nào cây mất cội, nước mất nguồn, người mất ông bà!” Ông cứ theo cái đà ấy
mà giải thích thao thao bất tuyệt. Rồi ông lại đặt câu hỏi: “QUÝ VỊ BIẾT MÌNH THỜ
ÔNG BÀ MẤY ĐỜI KHÔNG?” Chúng tôi chưa kịp phản ứng thì ông lại bắt sang vấn
đề phổ hệ thờ ông bà, cách biên mục lục trên bài vị đặt ở bàn thờ để thờ ngũ đại
mai thần chủ tức là ông CAO, TẰNG, TỔ, KHẢO, HIỂN. Ông giải thích: Khi có một
người trong tộc qua đời, muốn giữ cho đúng câu NGŨ ĐẠI MAI THẦN CHỦ phải sửa
lại bài vị, tức nhiên là phải xóa tên ông CAO, đem tên ông TẰNG vào chỗ ông CAO
ông KHẢO vào chỗ ông TỔ, đem tên ông HIỂN vào chỗ ông KHẢO và biên tên ông

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 9 9

mới qua đời vào chỗ ông HIỂN. Như vậy là bỏ ông bà chứ không phải thờ ông bà.
Nhìn vào thính giả ông tiếp tục đặt một câu hỏi khác: “Như vậy muốn thờ ông bà
phải làm sao?” Rồi ông lại giải thích: “Muốn thờ ông bà cho thật đúng nghĩa phải
giữ nguồn, tìm gốc, tưởng nhớ và tôn kính đấng sinh thành mình mãi mãi. Đức
Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa dựng nên loài người, nên hễ ai tìm kiếm Ngài tức là tìm
nguồn giữ gốc, là thờ Tông thờ Tổ vậy.

Ngồi trong nhà giảng nghe những lời nầy, đầu tôi nóng bừng lên. Tâm can tôi
sục sôi như lửa bốc, vì mọi người trong gia đình tôi đều theo thuyết thờ cúng ông
bà rất mực cung kính. Không ai có quyền xúc phạm đến một hình thức thờ phượng
đã ăn sâu vào lòng dân tộc, phỉ báng đạo giáo của tổ tiên là một điều sỉ nhục
không thể tha thứ được. Sự căm tức của tôi càng lúc càng lên cao. Tôi muốn đứng
lên tranh luận với ông Truyền đạo nầy, nhưng tôi ngần ngại không biết ông trưng
dẫn có đúng hay không. Nếu đúng thì sao? Tôi tự nhủ không cần phải gấp, đợi
giảng xong về hỏi lại ông thân tôi xem gia đình chúng tôi thờ được mấy đời, rồi sẽ
“chỉnh” ông ta sau.

Về đến nhà, ông thân tôi đã ngủ. Nhưng không thể đợi sáng hôm sau được, tôi
bèn đánh thức ông cụ dậy và hỏi ngay: “Thưa thầy, gia đình ta thờ ông bà được
mấy đời?” Ông thân tôi vừa khó chịu vừa lấy làm lạ hỏi lại: “Mầy làm cái gì mà gấp
vậy?” Tôi bèn thuật lại cho ông cụ nghe tất cả những điều ông truyền đạo đã giảng
giải về sự thờ cúng tổ tiên. Cụ bảo: “Tao không nhớ phổ hệ gia đình ta ghi chép
phải thờ ông bà mấy đời. Chờ ít lâu nữa sẽ có ngày GIỖ TỔ tại Huế, về xem mới
biết được.”

Tôi cũng xin nói thêm là trước đó không lâu, gia đình tôi có nhận được một
quyển sách nhan đề: TRUNG HỌC TRI THỦ PHẬN,” không biết của ai gởi tặng. Tác
giả quyển sách là Pierre Lục, in tại nhà in Quy Nhơn, xuất bản 27-11-1908. Nội
dung sách gồm 9 chương, luận về đạo hiếu của con cái đối với ông bà. Chương I có
bốn tiết mục như sau:

1 - Con cái phải yêu mến cha mẹ

2 - Con cái phải tôn kính cha mẹ

3 - Con cái phải vâng lời cha mẹ

4 - Con cái phải giúp đỡ cha mẹ.

Tôi xin trích nguyên văn một đoạn, để chúng ta cùng hiểu qua đại ý: “Sách vở
thánh hiền để lại, đều chỉ việc hiếu thảo làm trọng nhứt: Như có lời rằng: Thiên
kinh, vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên.” Nghĩa là ngàn cuốn sách chép muôn vạn thiên,
thì cũng lấy việc hiếu thảo làm đầu nhứt. Lại trong đại học rằng: “Vi nhơn tử chỉ ư
hiếu” nghĩa là đạo làm con, thì phải lấy sự hiếu thảo cha mẹ làm gốc.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 10

Vả lại sách vở cũng kể tội thất hiếu là tội nặng lắm, chẳng có hình phạt nào cho 10
cân xứng mà phạt tội ấy, dầu xử trảm quyết là chém đầu, dầu xử lăng trì là bó chai
rái làm đèn mà đốt sống, dầu xử bá đao là phân thây ra trăm tấm, thì cũng chưa
cân xứng tội quái gở ấy. Theo như lời Phu Tử rằng: “NGŨ HÌNH CHI THUỘC TAM
THIÊN, TỘI MẠC ĐẠI Ư BẤT HIẾU,” nghĩa là giống tội trọng phải luật phạt theo ngũ
hình, thì kể hơn ba ngàn giống tội, mà chẳng có tội nào hơn tội bất hiếu” (trang 8
THTTP).

Gia đình chúng tôi rất quý trọng những tư tưởng chứa đựng trong quyển “Trung
Học Tri Thủ Phận” nầy. Những lời đã được trích dẫn trên đây kể như khuôn vàng
thước ngọc cho đời sống chúng tôi. Bởi đó, hễ ai đụng đến sự thờ cúng ông bà thì
chúng tôi quyết định chống đối đến cùng, nhất là đối với những người giảng đạo
Gia-tô Cơ Đốc. (Thật chúng tôi là những người mù đang dò dẫm trong bóng tối).

Sau khi ông thân đi dự ngày Giỗ Tổ ở Huế về, có đem theo bản SAO LỤC PHỔ
HỆ tộc LÊ VĂN của chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy điều ông
truyền giảng nói về việc biên bài vị đặt trên bàn thờ, về Ngũ – Đại – Mai – Thần –
Chủ là đúng, nhưng đối với bản Gia phả tộc Lê Văn chúng tôi ghi mười đời chứ
không phải năm đời như ông Truyền đạo đã nói.

Thế là chúng tôi tin chắc mình có những lý lẽ vững chắc để đánh đổ ông Truyền
đạo. Tôi liền sửa soạn những câu hỏi “hóc búa” và đi ngay đến nhà giảng. Khi gặp
ông Truyền đạo tôi liền vào đề ngay: “Thưa ông, ông nói theo đạo Tin Lành, nhận
Đức Chúa Jêsus và thờ Đức Chúa Trời là có nguồn gốc, có căn nguyên là tìm được
Tông được Tổ, tại sao không thấy người Tin Lành đặt bàn thờ để thờ phượng?” Ông
Truyền đạo liền giở quyển sách đang cầm trên tay ra, và đọc cho tôi nghe một câu
thế này: “Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết… Khi
những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng… Đức Chúa Trời là thần,
nên ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy Ngài” (Gi 4:22-24). Ông nhắc lại
những điểm quan trọng, nào là “CÁC NGƯƠI THỜ LẠY SỰ CÁC NGƯƠI KHÔNG
BIẾT,” nào là “Phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.” Rồi ông vặn lại tôi: “Vấn đề
không phải là đặt ra bàn thờ và bày lễ cúng tế, mà là hiểu biết, tôn kính, vâng giữ
lời giáo huấn. Thờ phượng thật là lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ, tôn kính và vâng
lời răn dạy của Đấng mình thờ, thầy có thờ như vậy hay không?” Tôi không trả lời,
nhưng lại hỏi một câu khác: “Ông nói Đức Chúa Trời dựng nên vạn vật, dựng nên
loài người, như vậy thì ai dựng nên Đức Chúa Trời?” Ông Truyền đạo lại giở và đọc
một câu khác trong quyển sách đang còn cầm nơi tay: “Đức Chúa Trời phán rằng: Ta
là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” (Xu 3:14). Để tôi có thể hiểu rõ hơn, ông giải thích: “Tự
Hữu Hằng Hữu nghĩa là Ngài tự nhiên mà có, có từ trước vô cùng và nhất là còn
đến đời đời vô cùng. Bởi đó, Ngài là Chủ tể của trời đất muôn vật. Ngài dựng nên
trời đất muôn vật, nhưng không ai dựng nên Ngài cả, vì như tôi đã nói (lời ông
Truyền đạo) sự hiện hữu của Ngài ở ngoài thời gian.”

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 11

Tôi lại đặt câu hỏi thứ ba: “Ông bảo là thờ ông bà theo mục lục của bài vị thì 11
chỉ có năm đời thôi, nhưng thực sự gia phổ của tộc tôi ghi tới mười đời kia mà?”
Sau câu hỏi nầy tôi đinh ninh ông Truyền đạo sẽ bí lối và không thể nào trả lời
được. Tôi tin chắc thế nào cũng thắng. Nhưng ông Truyền đạo tươi cười và hỏi lại
tôi một câu: “Được rồi, gia đình thầy thờ mười đời, vậy cái tên thứ mười một ở
đâu?” Tôi không trả lời được. Tôi không ngờ ông Truyền đạo đã đưa tôi vào thế
“kẹt” như vậy. Phải, CÒN ÔNG THỨ MƯỜI MỘT Ở ĐÂU? Tôi bàng hoàng cả người,
đành phải đánh lãng ra về…

Từ đó, tôi cứ bâng khuâng mãi… Tâm hồn tôi luôn luôn bị dày vò câu thúc đối
với những vấn đề ông Truyền đạo đã đặt ra. Đâu là sự thật, đâu là chân lý? Tôi bắt
đầu suy nghĩ, cố gắng đi sâu vào dòng sinh hóa của vũ trụ và vạn vật. Nếu có Tổ
thứ mười thì phải có ông thứ mười một rồi đến ông cao hơn, đến dòng giống, đến
thân tộc và nhân loại. Như vậy phải có một Đấng dựng nên loài người, Đấng ấy
chính là Đức Chúa Trời của đạo Gia tô. Khi đạt đến ý nghĩ Đức Chúa Trời là nguồn
gốc của muôn loài, vạn vật, linh hồn tôi như đang nhận được ánh sáng của chân lý
cứu rỗi. Nhưng trong chính giờ phút ấy, bằng một tâm linh bàng hoàng xúc động,
tôi nhận thấy quá khứ mình như trở lộn về với bản ngã trần trụi đầy dẫy những ô
uế, xấu xa, giả dối, ôm ấp dục vọng và tội lỗi thấp hèn. Làm thế nào có thể thờ
phượng Đức Chúa Trời cho được? Tôi hết sức lo âu gần như hoảng hốt trong trạng
thái tinh thần đau khổ và căng thẳng cùng tột ấy. Tôi tự hỏi: Phải làm sao để được
tha tội? Làm sao để được cứu rỗi? Làm sao để được thuận hòa cùng Đức Chúa
Trời?

Ánh sáng chân lý đã đến với tôi, sau những năm tháng dò dẫm trong bóng tối.
Vào mùa xuân năm 1919, tại nhà giảng Hải Châu (Đà Nẵng), tôi đã quỳ gối tin nhận
Đức Chúa JÊSUS làm Cứu Chúa của đời mình, vì Ngài đã gánh vác tội lỗi tôi và chết
trên cây thập tự giá vì tôi.

Lúc ấy, có Giáo sĩ E. F. Irwin là người mấy năm trước đã bị tôi ném đá, chứng
kiến.

B. NHỮNG CHẬP CHỮNG TRONG ÁNH SÁNG CỦA LỜI CƠ ĐỐC

Tôi đã thực sự trở nên người mới trong Chúa. Gã thanh niên lúc trước ương
ngạnh, thường hay làm ồn ào giữa đám đông, khuấy rối cản trở bằng mọi cách
không cho người khác vào nghe giảng hoặc cãi vã la lối làm mất trật tự mỗi khi rao
giảng xong - bây giờ trở nên sốt sắng đến dự các buổi giảng Tin Lành - thường ngồi
ở hàng ghế thứ hai trong các buổi nhóm cầu nguyện hoặc thờ phượng. Gã thanh
niên ấy chính là tôi. Tay tôi không còn lăm le những đá, nhưng chỉ có một quyển
Tin Lành Giăng lúc nào cũng kề cận bên mình, (vì lúc bấy giờ những sách khác chưa
được phiên dịch sang Việt ngữ).

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 12

Từ ngày công khai trở lại cùng Chúa, tôi được người ta gán cho một cái tên mới: 12
“Thầy Gia-tô”… “Anh Gia-tô”… có khi “Thằng Gia-tô.” Tại miền Trung, lúc bấy giờ
người ta gọi các Giáo sĩ giảng Tin Lành là ông Gia-tô… người theo đạo Tin Lành là
người Gia-tô, bởi JÊSUS CHRIST được dịch sang Hán văn là Gia-tô Cơ Đốc. Trong
khi giảng, nhiều lúc các Giáo sĩ cũng sử dụng từ ngữ “Gia-tô Cơ Đốc”… hoặc “Đạo
Gia-tô” có quyền cứu rỗi” v.v... (Sau nầy tôi tự nghĩ, người ta gọi tôi là “NGƯỜI GIA-
TÔ” cũng không có lạ, vì trong đời các sứ đồ - tại thành An-ti-ốt - người ta cũng bắt
đầu gọi những người theo Chúa là “Chrétien” (Cong 11:26).

Ở miền Bắc, trái lại người ta gọi Tin Lành là “Đạo Rối.” Đi đến đâu cũng đều
nghe dân chúng áp dụng một lối gọi như vậy. Nguyên nhân có lẽ do ác ý của một
nhóm người bảo thủ, có thành kiến – muốn đánh lạc chân lý của Tin Lành, dùng
hai chữ “Đạo Rối” để xuyên tạc gây một tiếng vang không tốt đối với đạo Chúa giữa
các giới đồng bào chăng?

Khác với miền Trung và miền Bắc, đồng bào miền Nam gọi Đạo Tin Lành là
“Đạo Hoa Kỳ.” Không hiểu bởi lý do nào mà họ đã Mỹ hóa đạo Chúa như vậy, mặc
dù những tấm bảng treo trước các phòng giảng đều được đề là Hội Thánh Tin Lành
hoặc Eglise Evangelique. Có lẽ họ thấy phần đông các Giáo sĩ giảng Tin Lành đều là
người Hoa Kỳ, nên đã gọi như vậy cũng nên.

Ngay từ buổi đầu, việc xưng hô danh hiệu của Tin Lành đã gặp nhiều khó khăn.
Ba miền dùng ba từ ngữ khác nhau, mà mỗi từ ngữ đều mang ít nhiều tính chất
khinh thường hoặc châm biếm, xuyên tạc sự thật. Những người có ác ý với Giáo hội
Tin Lành lợi dụng triệt để tình trạng bất lợi ấy để gieo rắc nghi ngờ, chia rẽ nhằm
mục đích bất chính là ngăn trở công việc đầu tiên của Chúa ở Việt Nam. Nhưng
Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã sắp đặt cách lạ lùng cho Hội Thánh Ngài, “Hội
Thánh chỉ có một Thánh Linh, Đức Chúa Trời tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được
ích chung” (ICo 12:7 IICo 12:4).

Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây, để trình bày rõ hơn tại sao Hội Thánh Chúa tại Việt
Nam lại được Đức Chúa Trời ban cho một cái tên kỳ diệu là “Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam” như ngày nay.

Trong khoảng thời gian từ năm 1912 đến 1928, người Pháp gọi Hội Truyền giáo
là La Mission Evangelique; do đó các phòng giảng hoặc nhà giảng phải treo tấm
bảng với hàng chữ: MISSION EVANGÉLIQUE hoặc EGLISE EVANGÉLIQUE. Đến
năm 1928, Hội Thánh chúng ta đã trình bảng Điều lệ lên Hoàng đế Việt Nam, để xin
thành lập Hội Thánh riêng. Bản điều lệ đó đã được dịch chữ Eglise Evangélique du
Vietnam ra chữ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Từ đó, từ ngữ Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam được phổ biến và trở nên quen thuộc chẳng phải chỉ đối với mọi người
trong nước mà cả hải ngoại nữa.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 13

Thật Chúa đã chọn tên đó cho Hội Thánh của Ngài tại Việt Nam, khác hẳn với 13
hai mươi ba xứ mà Hội Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp đã đến để rao truyền Tin
Lành. Hội Thánh tại những quốc gia này đều mang chung một tên là Hội Thánh
Liên Hiệp. Năm 1957, khi tôi đến New York, có một nhân viên của Hội Truyền giáo
tại đó hỏi tôi: “Sao Hội Thánh tại Việt Nam không lấy tên chung là Phước Âm Liên
Hiệp, mà lại lấy tên là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam?” Tôi trả lời rằng: “Tôi cũng
không biết nữa. Nhưng chắc Chúa biết, vì từ trước đến nay không có một Hội đồng
nào hoặc một Ban Trị sự nào quyết nghị đặt tên đó cho Hội Thánh Việt Nam.”

1. Tạm Rời Gia Đình

Bây giờ tôi xin trở lại những ngày đầu tiên tôi mới tin nhận Chúa. Thật, khi đức
tin vừa chớm nở và niềm hy vọng đang lên, thì những sự bắt bớ cũng từ khắp nơi
tràn về nhằm ngăn cản và phá tan những mầm mống ấy.

Sự bắt bớ khởi đi từ bạn bè tôi lúc trước đã từng sống chung trong tính hư tật
xấu, đến những người trong họ ngoài làng. Tôi đi đâu cũng nghe người ta xầm xì to
nhỏ: “Cậu Thái trước chống báng Gia-tô dữ lắm mà bây giờ lại theo Gia-tô rồi. Tại
sao nó lại theo đạo nhỉ? Nó có biết theo đạo là bỏ ông bà không nhỉ? Nó có biết
dân tộc mình vì đạo ấy mà vong gia thất quốc không nhỉ? Thật tội nghiệp cái gia
đình đó. Tội nghiệp ông cụ già có hai thằng con trai bất hiếu, chúng theo đạo hết,
sau nầy ai cúng giỗ ông bà? Nhà vô phước!.” Đó là đại khái những câu nói thường
nhật nơi cửa miệng của những người trong thành phố hoặc trong xóm tôi ở.

Trong thời gian ấy, tại vùng tôi ở có một thanh niên tên H. mới trở lại cùng
Chúa, cũng bị gia đình bắt bớ nặng nề. Ban đầu ông thân sinh anh nầy không cho
đi nhà giảng. Nhưng anh cứ trốn đi nghe giảng và thờ phượng Chúa. Anh bị đánh
đập nặng nề và ông cấm không cho đọc Thánh Kinh. Nhưng anh cứ tìm cách đi nhà
thờ và đọc Thánh Kinh. Vì thế, anh bị đánh nặng hơn. Hai tay bị trói chặt bằng dây
gai vào cột nhà để anh không được đi ra ngoài. Tuy nhiên, dù thân thể bị bầm giập,
anh vẫn cứ tin kính Chúa bằng cách cầu nguyện và hát thơ thánh. Ông thân sinh
anh càng giận hơn. Ông lấy ra một con dao, đoạn nói với anh bằng một giọng
quyết liệt: “Bỏ đạo hay phải chết.” Sau trận đòn thập tử nhất sinh đó mấy ngày,
chúng tôi nhận được tin anh H. đã bỏ nhà trốn đi biệt xứ. Nhận được tin ấy, một
mặt chúng tôi rất buồn vì không còn thấy bóng người bạn chung đức tin, nhưng
một mặt chúng tôi mừng cho anh H. thoát khỏi được hình phạt nặng nề của gia
đình. Chúng tôi cầu nguyện xin Chúa nâng đỡ anh, che chở và gìn giữ đức tin anh
trong ơn Chúa. Tuy nhiên, càng nghĩ đến anh, chúng tôi càng lo sợ cho số phận
của chúng tôi.

Khi anh H. đi rồi, sự bắt bớ trong vùng trút vào gia đình tôi tất cả. Ông cụ Đ.
thân sinh anh H. là bạn thân của cha chúng tôi, nên bất cứ chuyện gì xảy ra trong
gia đình, cụ ấy cũng đều đem đến bàn luận cùng ông thân chúng tôi. Việc anh H.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 14

theo đạo thế nào, cụ ngăn cấm, đánh đập ra sao, bắt anh H. phải bỏ đạo hay chết 14
cách nào, nhất nhất cụ đều kể hết cho ông thân chúng tôi nghe. Cụ nói một cách
quả quyết: “Bây giờ nó bỏ đi, tôi kể như nó chết rồi. Chứ nó còn sống mà theo đạo
thì thế nào tôi cũng giết nó.” Rồi cụ lại hỏi ông thân tôi: “Còn anh nghĩ sao về hai
thằng con anh?”

- Ông thân chúng tôi buồn rầu nói từng tiếng một “Tôi cũng buồn lắm nhưng
chưa biết tính sao! Từ ngày chúng nó theo đạo, tôi thấy chúng nó không làm gì bậy
bạ như trước. Chúng nó thường ngồi xem sách. Đôi khi thấy chúng nó quỳ gối nói
cái gì lầm thầm trong miệng, tôi cũng không rõ. Chúng không đi đánh bạc, không
xem hát cũng không hút thuốc lá nữa. Tôi có lòng mừng nhưng phiền một cái là
chúng theo đạo. Tôi đang theo dõi hành động của chúng và nghĩ cách đối xử đây
chú ạ!”

- Ông cụ Đ. lại tiếp: “Chắc anh nghe rồi, vụ thằng H. của tôi đó. Nó trốn đi tôi
không tìm kiếm làm gì cho mệt. Nó đi đâu mặc kệ, tôi không muốn thấy nó nữa.
Thà nó chết cho khuất mắt tôi, chứ sống mà theo đạo thì không được. Tôi dứt
khoát như vậy.”

Chúng tôi chẳng dám hé môi nói một lời nào, chỉ âm thầm thưa với Chúa. Xin
Chúa bảo vệ chúng tôi, cứu ông thân và gia đình chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy
mừng và hy vọng, vì ông thân chúng tôi ít ra cũng đã thấy một phần nào quyền
năng của Chúa đổi mới đời sống chúng tôi.

Nhà chúng tôi ở rất xa nhà thờ, nên việc đi nhóm lại thờ phượng Chúa thật vất
vả. Chúng tôi phải đi thật sớm mà về thì luôn trễ. Có khi tới mười giờ đêm mới về
đến nhà. Những lúc như vậy thường phải nhịn đói không có cơm ăn. Người nhà
chúng tôi bảo rằng: “Chúng nó theo đạo có Chúa no rồi, để cơm làm gì!” Chúng tôi
cố gắng chịu đựng. Một tối mùa đông, anh em chúng tôi về trễ, cổng đóng kín
không vào nhà được, phải ẩn mình trong bụi cây chịu đói chịu lạnh cả đêm.

Tuy nhiên, không gì làm chúng tôi đau khổ bằng những ngày gia đình có cúng
giỗ ông bà, nhất là cúng giỗ mẹ chúng tôi. Các chị tôi sắm sửa cỗ bàn, thắp đèn
hương, đoạn vừa khóc vừa kể lễ: “Mẹ ơi mẹ, mẹ sinh hai thằng con trai, nay chúng
nó đã theo đạo bỏ ông bỏ bà, không cúng giỗ để hương tàn khói lạnh, mẹ ơi!” Mỗi
lần cúng giỗ hai ba ngày, là mỗi lần như diễn lại một đám tang trong gia đình. Nhìn
nét mặt buồn phiền của ông thân chúng tôi, chúng tôi hết sức chua xót. Chúng tôi
biết ông đau khổ lắm. Chúng tôi thấy rõ những băn khoăn của ông trước những áp
lực của bạn hữu và người trong xóm làng.

Bởi đó, ngoài việc gia tăng thì giờ cầu nguyện đặc biệt xin Chúa cưu ông thân
tôi và gia đình, tôi nài xin Chúa mở đường cách nào, để tôi khỏi nhìn thấy cảnh đau
lòng hằng ngày và có thể giữ được đức tin. Tôi thiết tha xin Chúa giúp tôi tạm rời
khỏi gia đình ít lâu. Trước là để tránh sự bắt bớ của bạn hữu xóm làng, sau để khỏi

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 15

nhìn nét mặt buồn phiền của ông thân tôi. Nhiều đêm nước mắt tôi hòa với mồ hôi 15
trong những giờ cầu nguyện. Trước khi đi, tôi lặp đi lặp lại câu này với Chúa: “Xin
Chúa giúp đỡ con, gìn giữ và dẫn dắt con trong lúc còn tuổi trẻ phải lìa gia đình để
vững đức tin.”

Vào lúc năm giờ chiều ngày 28-5-1919 tôi xuống tàu thủy đậu ở bến Đà Nẵng.
Tám giờ sáng hôm sau tôi đến Huế. Mặc dù ở Huế có nhiều bà con, nhưng tôi
không đến nhà một người nào cả. Tôi cương quyết chỉ nhờ cậy sự giúp đỡ của
Chúa và theo sự dẫn dắt của Ngài mà thôi. Lên khỏi tàu, trong khi đang rảo bước
về hướng chợ Đông Ba (Huế), thì một người lạ đến bắt tay niềm nở mời tôi về nhà
chơi. Vừa theo người ấy, tôi vừa suy nghĩ không biết ông ta là ai. Về đến nhà, nhờ
sự giải thích của ông, tôi mới biết ông là một nhà thầu khoán. Ông có một người
cháu đã làm việc với ông thân của tôi rất nhiều năm nên rất quen biết tôi. Khi thầu
được công trường xây cất trường trung học Khải Định (Huế), chú cháu bàn với nhau
mời tôi cộng tác, và họ đã viết thư cho người vào Đà Nẵng gọi tôi. Khi gặp tôi tại
Huế, họ tưởng tôi đã nhận được thư rồi, nên đón tiếp rất niềm nở. Lúc bấy giờ tôi
chỉ nói được một câu: “CÁM ƠN CHÚA,” vì tôi biết rằng: “CHÚA, Đức Chúa Trời chỉ
dẫn các bước của tôi” (Ch 16:9b).

Từ đó chẳng những Chúa giúp tôi giải quyết được những khó khăn của vấn đề
tài chánh, nhưng Ngài còn cho tôi có cơ hội phát triển sung túc nữa là khác. Sau
giờ làm việc, tôi vẫn cầu nguyện và xem đi xem lại quyển Tin Lành Giăng, quyển
sách duy nhất mà tôi có. Vào những ngày Chúa nhật tôi nhớ rất kỹ những giờ thờ
phượng tại nhà thờ, đến nỗi hằng đêm tôi thường nằm mơ thấy vị Giáo sĩ đã giảng
dạy mình khi trước. Tâm linh tôi buồn bã trước những thú vui đời nầy và luôn luôn
cảm thấy cô quạnh giữa một xã hội náo nhiệt. Do đó, tôi quyết định rời bỏ công
trường mà công việc làm ăn đang thịnh vượng để đi tìm một công trường khác -
công trường thuộc linh.

Tôi sắp đặt công việc trao trả cho chủ thầu và trở lại quê nhà sau gần một năm
xa cách. Chúa giúp đỡ tôi thi hành mọi sự đều được may mắn. Chúa nhìn thấy mọi
ước vọng của lòng tôi, đúng như lời Ngài đã phán cùng Sa-mu-ên khi được sai đi
xức dầu cho Đa-vít: “Loài người xem bề ngoài, nhưng CHÚA, Đức Chúa Trời nhìn
thấy trong lòng.” Vâng, Chúa biết lòng tôi tha thiết muốn đưa nhiều người đến với
Ngài. Chúa biết tôi nặng lòng đối với công trường thuộc linh hơn là công trường thế
gian, nên khi tôi đi cũng như lúc tôi về, Ngài đều giúp đỡ tôi luôn luôn được may
mắn và dễ dàng.

Khi về đến nhà, tôi được mọi người vui mừng tiếp đón. Tuy nhiên, giữa cảnh
vườn cũ nhà xưa, cái vẻ lạnh lùng chống đối sự tin kính vẫn còn. Nhưng dù gặp khó
khăn, tôi vẫn không chán nản - trái lại rất vui thỏa phấn khởi, mạnh tiến trên đường
đức tin. “Lời Chúa (đã) là ngọn đèn cho chơn tôi, ánh sáng cho đường lối tôi.” Giữa giao
điểm cuối cùng của sự tối tăm và khởi điểm của sự sáng, tôi cương quyết xây lưng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 16

lại với màn đêm dày đặc, mắt nhìn thẳng vào khung trời đầy hy vọng của tương lai. 16
Bình minh đã hiện ra với những tia nắng ấm áp, trong trẻo. Tôi phấn khởi đọc lại
những câu nầy trong Tin Lành Giăng: “Sự sáng soi trong nơi tối tăm, tối tăm chẳng hề
nhận lấy sự sáng... Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian, soi sáng cho mọi người.
Ngôi Lời ở thế gian và thế gian đã dựng nên bởi Ngài. Nhưng thế gian chẳng từng nhận biết
Ngài. Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. Nhưng hễ ai đã nhận
Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin
danh Ngài” (Gi 1:5,9-12).

Khi đọc đến chuyện người mù tên Ba-ti-mê được Chúa chữa cho sáng mắt, tôi
sung sướng nghĩ rằng Ba-ti-mê đã bắt gặp một dịp tiện quý hơn vàng. Ông không
bỏ lỡ. Ông đã kêu xin sự thương xót của Chúa vừa lúc Ngài đi ngang qua chỗ mình
ngồi. Khi nghe Chúa hỏi: “Ngươi muốn ta làm chi cho ngươi?” Ông chỉ thưa một
điều: “XIN CHO TÔI ĐƯỢC SÁNG MẮT.” Thật đúng như Lời Chúa phán, đức tin ông
đã cứu ông! Tôi rất cảm động, trình xin với Ngài: Lạy Chúa, con là Ba-ti-mê (ngày
nay). Xin Chúa mở mắt con, cho con ra khỏi địa vị tội lỗi, khỏi sự tối tăm của ma
quỷ, khỏi lễ giáo sai lầm và khỏi những sự thờ phượng mà mình không biết.”

Sau những lần thử nghiệm, đức tin, tôi trở nên vững chắc hơn trong ánh sáng
của Lời Sự Sống. Bởi ơn yêu thương và sự dẫn dắt của Chúa, tôi có thể cùng nói
như Đa-vít rằng: “Chúa thắp ngọn đèn tôi, CHÚA, Đức Chúa Trời tôi soi sáng sự tối tăm”
(Thi 18:28).

2. Học Phước Âm Yếu Chỉ.

Bước đầu trong cuộc hành trình theo Đức Chúa JÊSUS của tôi là trở lại học
“Phước âm yếu chỉ” để chịu báp-tem. Tôi hành động như những người thuở trước,
sau khi nghe Phi-e-rơ giảng đã cảm động nên hỏi: “ Chúng tôi phải làm chi?” Phi-e-rơ
trả lời rằng: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu báp-tem để được tha tội
mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho của Đức Chúa Trời”(Cong 2:37-38). Tôi muốn được tha
tội. Tôi ham thích sự ban cho của Đức Chúa Trời, bởi đó, hằng tuần tôi đều để thì
giờ đi học giáo lý.

Quy tắc học Phước âm yếu chỉ của các Giáo sĩ lúc bấy giờ là: Mỗi học viên phải
học liên tục mười hai tuần lễ, sau đó, qua ban khẩu vấn, xong rồi mới được nhận
làm báp-tem. Ai không theo liên tục mười hai tuần, nếu muốn chịu phép báp-tem
phải học lại từ đầu. (Thí dụ, một học viên theo học được năm tuần rồi nghỉ một
tuần thì tuần tiếp theo đó kể như là tuần thứ nhất, thay vì là tuần thứ sáu. Năm
tuần học trước kể như bỏ). Tôi đã bị xóa một kỳ sau khi đã học bảy tuần vì lý do
nêu trên nên tôi lo lắm. Lần thứ hai nầy tôi cố gắng đi học liên tục mười hai tuần,
không gián đoạn một tuần nào cả. Sau khi được Ban Trị sự hỏi về yếu lý, tôi được
nhận cho làm báp-tem. Lễ báp-tem của tôi do cụ Giáo sĩ I. R. Stebbins cử hành ở
bờ biển Đà Nẵng ngày 4-7-1920.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 17

Sau khi chịu báp-tem, tôi như người mù Ba-ti-mê vừa sáng mắt, nhìn thấy cái gì 17
cũng đẹp, cái gì cũng lạ, nhất nhất mọi sự đều vui thích đối với tôi.

Nhưng liền trong tuần lễ đó, có một việc xảy đến nhằm thử thách đức tin chúng
tôi. Số là mỗi tuần lễ như vậy, Hội Thánh đều có tổ chức hai buổi giảng Tin Lành tại
nhà giảng nhánh bên Hà Thân vào mỗi thứ ba và thứ sáu. Từ Đà Nẵng muốn đến
nhà Hà Thân phải qua một cái đò gọi là đò Hàng. Chúng tôi thường đi với các Giáo
sĩ để giúp đỡ sắp xếp buổi nhóm và làm chứng cho người chưa biết Chúa. Một tối
nọ vừa ra đến khỏi sông thì giông gió nổi lên, nước tràn vào đò, mọi người đều sợ
hãi. Trong đêm tối, có những tiếng kêu la thất thanh. Phần đông những người đi
chuyến đò nầy đều chưa tin Chúa. Chúng tôi khuyên ai ngồi chỗ nào cứ ngồi yên
chỗ nấy. Riêng tín đồ thì cầu nguyện và hát thơ thánh số 4. Nội dung bài hát như
sau:

TỪ TỐI QUA SÁNG:

“Jêsus đưa tôi là sự rất vui

Là sự yên ủi lòng tôi không thôi

Không cứ đi đâu không cứ làm gì

Có tay Đức Chúa Trời thường đưa tôi đi.

Điệp khúc:

Jêsus đưa tôi, Jêsus đưa tôi

Chính tay Cứu Chúa Jêsus đưa tôi.

Muốn làm môn đồ trung tín mà thôi

Vì chính tay Chúa luôn luôn đưa tôi.

Có khi gặp nhiều đường lối khốn khổ,

Có khi được cả những sự vui thú

Bước theo nước lặng hoặc qua sông sóng nổi

Cũng là tay Cứu Chúa đưa tôi.”

Khi chúng tôi đang hát, thì nghe tiếng của những người chèo đò la hoảng: “Chết
rồi, đứt một quai chèo rồi!” Nhưng chúng tôi cứ hát cho đến khi thuyền tấp vào bờ,
cách xa đến độ trăm thước. Thuyền đầy ắp nước gần chìm. Mọi người nhìn chúng
tôi đều ướt như chuột, nhưng tạ ơn Chúa gìn giữ, tất cả đều bình an. Sau đó có
bốn người đi cùng chuyến đò ấy đã trở lại tin nhận Chúa. Thật Chúa đã dùng cơn
bão làm tăng thêm đức tin chúng tôi và làm sáng danh Ngài.

3. Một Người Tin Cả Nhà Được Cứu

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 18

Tháng 5-1924 có một Hội đồng nhóm tại Đà Nẵng, được mệnh danh là Hội 18
đồng Phục hưng lần thứ nhất. Diễn giả chính là Mục sư Hoàng Nguyên Tố, người
Trung Hoa. Lúc bấy giờ tôi hầu việc Chúa ở Hội An, còn anh tôi hầu việc Chúa ở
Châu Đốc. Nhơn dịp nầy, chúng tôi đều về để dự nhóm.

Từ trước đến nay, ngoài sự khẩn thiết cầu xin Chúa cứu ông thân chúng tôi và
gia đình, chúng tôi còn nhờ Hội Thánh và các ông bà đã tin Chúa tìm đủ mọi cách
để dẫn dắt gia đình chúng tôi trở lại với Chúa. Nhân lúc có Hội đồng do Mục sư
người Trung Hoa giảng, chúng tôi nhờ một người quen đến mời ông thân tôi đi
nghe. Cám ơn Chúa, ông cụ nhận lời. Và chúng tôi lại có cớ để ngợi khen Chúa hơn
nữa, ấy là bài giảng và cách giảng của Mục sư Hoàng Nguyên Tố hôm đó như giảng
riêng cho ông thân chúng tôi. Đề mục của ông là: “TỘI LỖI.” Ông viết chữ NHÂN
lên bảng đen, sau khi đọc câu “nhân chi sơ tánh bổn thiện.” Ông giải thích rằng
bản tính nguyên thủy của con người là tốt lành, đó là bản tính do Đức Chúa Trời
dựng nên, nhưng “cập tương cận tánh tương viễn” - gần với tội lỗi và gian ác nên
cái tính lành dần dần mất đi. Tửu, Sắc, Tài, Khí, đã phá hủy cái bản tính tốt đẹp
nguyên thủy của con người. Bốn thứ vây chặt lại làm thành bốn bức tường, khiến
cho chữ NHÂN bị nhốt vào trong chữ KHẨU thành ra chữ TÙ.

Hiền nhân quân tử từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây - có ai đã nhảy qua khỏi
bốn bức tường nầy không? - Xin thưa rằng không? Bốn bức tường đã được xây cao
đến tận trời, và mọi người đều bị nhốt dưới tội lỗi. Không ai tự cứu lấy mình. Chỉ có
Chúa từ trên trời là Đấng vô tội, đến thế gian chịu chết đền tội cho chúng ta mà
thôi. Để dẫn chứng, ông đọc một câu Thánh Kinh: “Đức Chúa Jêsus đã đến trong
thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà
nhận lấy.” Đến phần kết luận, ông tiếp tục khuyên thính giả hãy tin nhận Chúa
Jêsus làm Cứu Chúa của đời mình để được tha.

Sau giờ giảng, chúng tôi cùng ông cụ về nhà ăn cơm tối. Trong bữa ăn, chúng
tôi cố tình nhắc lại bài giảng để dọ ý ông cụ thế nào? Ông cụ gật đầu tỏ ý thán
phục: “Họ nói phải lắm” “Nghe câu ấy chúng tôi rất mừng rỡ nên hỏi lại: “Thưa,
thầy đã nhận là họ nói phải lắm, vậy thầy tưởng có nên làm theo không?” Ông cụ
suy nghĩ hồi lâu mới lên tiếng: “Làm theo cách nào?” Chúng tôi trình bày thêm để
ông cụ rõ là bất cứ hễ ai tin nhận Đức Chúa Jêsus làm Cứu Chúa thì tội lỗi được tha
và linh hồn được cứu. Sau đó, chúng tôi cũng đọc cho ông cụ nghe Lời Chúa phán:
“Nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó (Đấng đến thế gian cứu người khỏi tội) thì sẽ chết
trong tội lỗi các ngươi” (Gi 8:24). Ngài đã nói cách quả quyết cùng mọi người rằng: “Quả
thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta thì được sự sống đời
đời, và không đến sự phán xét song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (Gi 5:24). Đó là một sự
kiện chắc chắn, vì “hễ ai tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép để trở nên con cái Đức
Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Gi 1:12).

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 19

Cụ lại hỏi: “Tin là làm sao?” Chúng tôi giải thích: Tin là lấy lòng thành kính quỳ
gối xuống cầu nguyện, nhận mình là người có tội, và bằng lòng tiếp nhận Jêsus
Christ làm Cứu Chúa để tội ấy được tha và nhận lãnh sự yêu thương của Đức Chúa
Trời. Cụ bằng lòng quỳ gối giữa nhà. Anh tôi là mục sư Lê Văn Long và tôi cầu
nguyện cho cụ tin nhận Chúa.

Sau khi cầu nguyện và hát ngợi khen, chúng tôi nhìn thấy nét mặt cụ rạng rỡ và
đôi mắt sáng ngời. Cụ muốn nghe nói thêm về Thánh Kinh. Chúng tôi liền phân tích
để ông cụ hiểu rõ về câu chuyện thế nào là thờ phượng thật và thế nào là không
thật mà Chúa nói với người đàn bà Sa-ma-ri. Chúng tôi nhắc lại câu: “Đức Chúa
Trời là thần nên ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy,” để xin cụ
cất bỏ bàn thờ trong nhà đi. Cụ tươi cười bảo: “Bây muốn làm gì thì làm.” Chúng
tôi hết sức ngợi khen Chúa và bắt tay vào việc ngay. Tất cả những đồ thờ phượng
bằng gỗ trên ba bàn thờ lớn giữa ba căn đều được dọn ra ngoài sân. Nội trong đêm
đó chúng tôi đập bễ và đốt hết, đến hơn mười hai giờ khuya mới xong. Trở vào nhà
chúng tôi rất sung sướng cầu nguyện tạ ơn Chúa. Đó là lần cầu nguyện đầu tiên
trong gia đình không bị ngăn trở bởi bàn thờ. Ha-lê-lu-gia!

Đức tin của ông thân chúng tôi ngày càng thêm mạnh mẽ, dù gặp nhiều khó
khăn thử thách, nhưng vẫn cứ kiên định cho đến khi về nước Chúa.

Tiếp theo đó, bà kế mẫu chúng tôi cũng tin nhận Chúa qua cơn bạo bệnh. Sau
khi đã uống nhiều thuốc của hai ông đông y, bà được đưa vào bệnh viện để được
chữa bằng thuốc tây, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Tất cả mọi người
trong gia đình đều thất vọng. Trong khi đó thì chúng tôi âm thầm cầu xin Chúa cứu
mẹ chúng tôi. Và quả thật, bởi ơn của Chúa, bà được chữa lành một cách lạ lùng.
Do đó bà vui lòng tiếp nhận Chúa. Bởi phép lạ ấy, có mấy người trong họ ngoại
chúng tôi cũng thức tỉnh ăn năn. Các chị và các em chúng tôi đều lần lượt trở lại
với Chúa và dâng mình hầu việc Ngài, cho đến ngày nay vẫn còn đứng vững trong
chức vụ cách đầy ơn. Thật đúng như Lời Chúa phán: “Một người tin cả nhà được cứu.”

19

Ngôi nhà giảng đầu tiên của HTTLVN thiết lập tại Nà Nùng (Trung Việt) 1913

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 20

CHƯƠNG 2: NHỮNG DIỄN TIẾN TRONG CHỨC VỤ 20

A. TRƯỜNG THÁNH KINH VÀ CHỨC VỤ ĐẦU TIÊN TẠI HỘI AN

Vào năm 1920, Hội Truyền giáo bắt đầu mở lớp dạy Thánh Kinh tại Đà Nẵng.
Anh tôi (Mục sư Lê Văn Long) tình nguyện theo học lớp Thánh Kinh đầu tiên ấy.
Lớp gồm có tám học viên phần đông đã có tuổi và có gia đình. Phòng học là một
nơi trước kia dùng làm chỗ để xe ngựa.

Lúc ấy tôi đang giúp ông thân tôi xây cất công sở vô tuyến điện của thành phố
Đà Nẵng. Công trường nầy nằm trên con đường đi ra bãi biển gần với nhà giảng và
cơ sở truyền giáo là nơi anh tôi đang theo học Thánh Kinh nên lúc đi làm, thỉnh
thoảng tôi có ghé lại thăm anh tôi. Đôi khi ngồi nán lại nghe các Giáo sĩ giảng bài
cả tiếng đồng hồ. Tôi rất ham thích học Lời Chúa, nhưng vì công việc quá bề bộn,
tôi phải thường xuyên có mặt tại công trường ông thân tôi mới thầu, nên ít có giờ
rãnh.

Công việc đang tiến hành tốt đẹp, thì mùa đông năm ấy một trận bão biển rất
dữ dội thình lình xảy đến tàn phá gần hết thành phố Đà Nẵng. Gió thổi mạnh và
nước dâng cao với một tốc độ khủng khiếp. Sau một đêm kinh hoàng, bộ mặt
thành phố trở nên hết sức thê lương. Nhiều cây cổ thụ trốc gốc nằm ngổn ngang
đầy đường. Phần nhiều nhà tranh đều sụp hoặc bị cuốn trôi theo dòng nước. Nhà
ngói hoặc nhà lầu cũng bị hư hại nhiều. Ghe thuyền, tàu thủy trôi tấp la liệt trên
các đồi cao. Nhiều xác chết nằm ngổn ngang khắp các bờ sông bãi biển. Những
người may mắn sống sót ngồi ủ rủ bên lề đường hoặc dưới gốc cây. Tang tóc bao
trùm thành phố.

Chúng tôi cố gắng đi thăm công trường đang xây cất dỡ dang. Trong số bốn
nhà đã xây xong, thì hai nhà bị sụp đổ. Một ngàn thùng xi măng chứa trong kho bị
nước tràn vào làm hư cả, (lúc bấy giờ xi măng được đóng trong thùng bằng gỗ).
Trong khuôn viên xây cất, có hai xác chết của đồng bào chài lưới trôi vào chưa
được thân nhân mang đi. Sau những bức tường chưa đổ, những người còn may
mắn sống sót run rẩy ngồi núp gió.

Trong khi chúng tôi yên lặng đứng nhìn quang cảnh đổ nát do thiên tai gây nên,
thì một chiếc xe kéo từ xa chạy đến, trên xe có một thùng cháo. Người kéo xe đi
chậm rãi và một người khác luôn tay múc từng bát cháo đưa cho những nạn nhân
đang ngồi bên lề đường, dưới gốc cây hoặc những bức tường chưa đổ, để họ dùng
tạm cho ấm lòng. Tôi nhìn kỹ người kéo xe và người múc cháo, thì ra chính họ là
những người thường đi với các Giáo sĩ, đôi khi họ đã tự động phân phát sách báo
Tin Lành cho đồng bào. Những nạn nhân lãnh từng bát cháo nóng cách vồn vã.
Sau cơn bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa - họ không còn gì. Bát cháo nóng trở
nên quý giá. Họ cám ơn rối rít và ăn rất ngon lành.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 21

Phòng học Thánh Kinh đầu tiên của HTTLVN

Đứng trước cảnh bơ vơ cùng khốn của đồng bào, tôi bỗng nhiên xúc động. Một
“CƠN BÃO THIÊNG LIÊNG BẮT ĐẦU NỔI DẬY TRONG LÒNG TÔI.” Tôi nghĩ đến vô
số đồng bào chưa biết lẽ thật, đang bơ vơ trên đường đời, linh hồn đói khát chân
lý, suốt đời mang tâm trạng buốt lạnh cô độc vì thiếu tình yêu của Đức Chúa Trời.
Họ phải lê lết trên đường như người mù Ba-ti-mê ngày xưa. Cơn bão thuộc linh thổi
càng lúc càng mạnh, làm lay chuyển ý định muốn trở nên một thầu khoán danh
tiếng của tôi. Tôi muốn vứt bỏ tất cả mọi ràng buộc vị kỷ để dấn thân vào con
đường hầu việc Chúa - vì tôi nghĩ rằng danh vọng đời nầy chỉ là ảo ảnh mà thôi.

Tuy nhiên, mãi đến cuối năm 1922 tôi mới thu xếp xong công việc để vào
trường Thánh Kinh. Lớp học của tôi chỉ có 11 người: 6 người từ miền Nam ra và 5
người từ miền Trung đến. Lúc bấy giờ thì Hội Thánh Đà Nẵng đã cất xong một cái
phòng ở sau nhà thờ để làm phòng học, còn chỗ ở của học sinh thì tạm thời thuê
các phòng nơi nhà những tín đồ ở gần nhà thờ.

Các Giáo sĩ là giáo sư. Họ dùng tiếng Anh vừa đọc, vừa dịch. Chúng tôi thì vừa
nghe, vừa viết. Có người nghe giọng Giáo sĩ không rõ chép không được. Có người
chép không kịp phát khóc trong lớp. Để giúp đỡ nhau, tối nào chúng tôi cũng
nhóm lại, người nào chép đầy đủ thì đọc cho anh em khác chép lại để bài học khỏi
thiếu sót. Riêng tôi cảm thấy rất được phước đối với bài học về đời sống và chức vụ
của tiên tri Giê-rê-mi.

21

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 22

Nhà giảng đầu tiên của HTTL tại Hội An, 1924
(Thuê của một người Hoa Kiều)

Tháng 6-1924, sau khi mãn khóa học tôi được bổ nhiệm chức vụ Truyền đạo
đầu tiên tại Hội Thánh Hội An. (Hội An là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ).
Trước khi nhậm chức, tôi làm lễ thành hôn với một nữ sinh trường Thánh Kinh là cô
Công Tôn Nữ Tú Oanh ngày 30-5-1924 tại nhà thờ Đà Nẵng. Cám ơn Chúa đã chọn
cho tôi người vợ quý, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong chức vụ, yên lặng một cách
vững vàng trên đường tin kính và tận tụy phục vụ Chúa.

Toàn tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ chỉ có một nơi giảng là Hội An. Nhà giảng tọa
lạc giữa thành phố. Nếu từ Chùa Cầu đi vào thì nó nằm phía tay trái và chỉ cách đó
mấy căn. Cơ sở rất rộng rãi mà tiền thuê lại rất rẻ, vì có tin đồn là trong ngôi nhà ấy
có một người tự tử, nên không ai dám ở. Tín đồ trong Hội Thánh phần đông là
những người cao tuổi, đức tin rất vững vàng và sốt sắng hầu việc Chúa. Trái lại,
chúng tôi thì còn trẻ thiếu từng trải, nên rất e ngại nếu không bảo là sợ sệt. Nhưng
tạ ơn Chúa, chúng tôi và Hội Thánh cùng gặp nhau trong tình yêu thương và sự
chân thật của Ngài. Bởi ơn Chúa giúp đỡ, chúng tôi và các con cái Chúa hằng được
“ĐẦY ĐỦ MỌI SỰ CẦN DÙNG Y THEO SỰ GIÀU CÓ CỦA NGÀI.”

22

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 23

Nhà thờ Hội Thánh Hội An, 1950 23

Trước khi bắt tay vào việc, chúng tôi cùng Ban Trị sự Hội Thánh dành hai tuần
lễ để nhóm họp cầu nguyện xin Chúa bày tỏ ý chỉ của Ngài đối với công việc tại
đây. Tiếp theo đó, chúng tôi cùng nhau thảo chương trình hoạt động mỗi tuần lễ
như sau:- - Chúa nhật: Sáng dạy bài học trường Chúa nhật, trưa giảng cho Hội
chúng và chiều thì đi thăm viếng, giảng dạy tại những vùng có tín đồ hoặc những
nơi có chỗ nhóm trong nhà các tín đồ, như Phong Thử, Hạ Nông, Nông Sơn, Lạc
Thành, Ngọc Trâm, An Tế, Trường An, Đại An, Hà Tân, Hà Dục, Hà Nha, An Điềm,
Non Tiên… Có khi đi Bà Rén, Duy Xuyên và Tam Kỳ, v.v… Tối đến sẽ giảng một
chỗ trong các nơi đó.

- Ngày thứ hai: Tiếp tục đi thăm viếng tín đồ và chứng đạo những nơi mới hoặc
chỗ có người mời đi.

- Ngày thứ ba: Về Đà Nẵng coi sóc việc xây cất cho trường Thánh Kinh. Dãy nhà
mới cất nầy được gọi là Tịnh tâm và Thanh tu.

- Ngày thứ tư: Từ Đà Nẵng trở về Hội An để lo cho buổi nhóm cầu nguyện tối
thứ tư. Tất cả những cuộc di chuyển như vậy phần nhiều là dùng xe đạp, thỉnh
thoảng dùng thuyền cho những địa điểm không thuận tiện cho việc đi bộ.

- Ngày thứ năm: Tổ chức chương trình giảng dạy nhi đồng, vì ngày thứ năm học
sinh ở các trường công và tư đều được nghỉ.

- Ngày thứ sáu: Đi chứng đạo trong thành phố. Chúng tôi chia thành phố ra làm
nhiều khu vực và hỏi thăm cho biết tên và địa chỉ của từng người một. Mục đích
của chúng tôi là gởi sách báo đến biếu cho họ trước, rồi sau đó mới đến thăm để

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 24

cắt nghĩa Tin Lành, đồng thời mời họ đến nhóm lại tại nhà thờ và khuyên họ tin 24
nhận Chúa.

- Ngày thứ bảy: Cầu nguyện đặc biệt và soạn bài giảng cho chương trình ngày
Chúa nhật.

Trải qua mười lăm tháng phục vụ tại Hội An, tuần lễ nào chúng tôi cũng hoạt
động đều đặn như vậy. Bởi sự giúp đỡ và dẫn dắt của Đức Thánh Linh, Hội Thánh
đã gặt hái được những thành quả hết sức tốt đẹp. Chúa đã giấu chúng tôi trong ơn
quyền của Ngài. Trong khi thi hành chức vụ, chúng tôi luôn luôn nương theo lời
nhắn nhủ của Phao-lô đối với Ti-mô-thê: “Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ
cho đến chừng ta đến. Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri, nhơn hội
trưỡng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên
hạ thấy sự tấn tới của con. Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con, phải bền đỗ trong
mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu” (ITi 4:13-16).

1. Sự Tin Nhận Chúa Của Một Nhà Giáo Và Chàng Thanh Niên Da Trắng

Trong những ngày hầu việc Chúa tại Hội An, có những việc xảy ra rất lạ lùng
đến nỗi chúng tôi phải sửng sờ ngợi khen Chúa vì biết đó chính là quyền năng của
Ngài. Một trưa Chúa nhật nọ từ Hội An lên huyện Đại Lộc thay vì dùng xe đạp, tôi
lại dùng thuyền vì nghĩ rằng có hai chỗ trong vùng Phong Thử và Ái Nghĩa dùng
thuyền ghé thăm thuận tiện hơn. Khi thuyền vừa qua khỏi Ái Nghĩa, tôi thấy phía
sau có chiếc đò nhỏ chèo theo, kế có tiếng người hỏi: “Có phải thuyền ông truyền
đạo đó không?” – Tôi trả lời: “Phải,” đoạn bảo người chèo thuyền chậm lại một
chút để chờ chiếc thuyền nhỏ ấy đến. Trên thuyền đó có một người đàn ông, ông
ta vừa đứng lên vừa nói: “Tôi muốn gặp ông.” Tôi mời ông ta qua thuyền. Trong khi
chúng tôi đàm đạo với nhau thì thuyền vẫn tiếp tục chèo trên dòng nước ngược.
Qua vài câu đối đáp tôi được biết ông là một giáo viên tư thục, đang dạy học tại
nhà một ông phú hộ ở làng Đại An. Nhờ hỏi thăm tín đồ, ông biết được Chúa nhật
đó tôi lên huyện bằng thuyền nên thuê đò ra sông đón tôi để hỏi cho biết tường
tận những điều ông đang thắc mắc. Ông yêu cầu tôi giải thích về: “Về căn nguyên
của Tin Lành - phương pháp cứu chuộc và cách thức thờ phượng Đức Chúa Trời.”

Thể theo những câu hỏi ấy, tôi lần lượt giải bày cho ông biết căn nguyên của
Tin Lành là bởi Đức Chúa Trời yêu thương thế gian. Phương pháp cứu chuộc là sự
chết đền tội của Đức Chúa Jêsus trên thập tự giá. Cách thức thờ phượng là phải lấy
tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng. Vì Đức Chúa Trời là Thần. Hình ảnh Ngài không
thể được biểu thị bằng bất cứ một hình thức ngẫu tượng nào cả. Cách thờ phượng
duy nhất mà Ngài chấp nhận là phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thôi. Trước khi
thuyền đến bến, ông giáo nầy bằng lòng quỳ gối tin nhận Jêsus Christ làm cứu
Chúa. Ha-lê-lu-gia!

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 25

Liền sau đó ông mời tôi đến làm chứng cho gia đình ông chủ điền là sáng lập 25
viên ngôi trường mà ông đang dạy đó. Tôi đến nhà ông chủ điền nầy thì trời vừa
tối. Chúng tôi bắt đầu làm chứng về Tin Lành cho gia đình ông. Những người ở gần
đó kéo nhau đến xem và nghe có trên 20 người. Kết quả có 7 người tin nhận Chúa
mà đứng đầu trong số đó là ông phú hộ giàu có nổi tiếng trên đây. Riêng về phần
ông giáo, sau khi tin nhận Chúa ít lâu, đã xin đi học Thánh Kinh và trở nên chứng
nhân đắc lực cho nhà Chúa. Ông hoạt động rất hăng say, dẫn dắt nhiều người đến
với Ngài. Còn 7 người tin Chúa tại nhà ông điền chủ thì vẫn đứng vững. Họ rất sốt
sắng lo công việc Chúa. Có thể bảo đó là những cột trụ Hội Thánh. Họ đã tình
nguyện gia nhập Ban Trị sự và khởi công xây cất nhà thờ đầu tiên tại Đại An.

Sáng hôm sau qua làng Hà Tấn, tôi giảng tại nhà ông Phan Nhứt Thuyên, cựu
chánh tổng nổi danh thời đó. Số người đến nghe rất đông. Trong khi giảng tôi thấy
ngoài sân có một người thanh niên ngồi trên lưng ngựa, vừa cho ngựa rảo bước vừa
nghe giảng nhưng một lúc sau thì người ấy cho ngựa dừng lại bên hiên cửa và theo
dõi rất chăm chú. Khi giảng xong, tôi bước ra tiếp, mới hay anh ta là người da
trắng. Tôi mời anh ta vào nhà. Anh thảo luận rất gay go về những vấn đề như: Tin
kính, linh hồn bất diệt và tương lai của nhân loại. Rồi đó, mặc dù trời đã tối, anh
vẫn nằng nằng nhất quyết mời tôi về nhà anh ở An Điềm để làm chứng Tin Lành
cho những người trong vùng đó. Nhận thấy không thể từ chối, nên sau khi cầu
nguyện cho 14 người mới tin Chúa tại nhà ông Phan Nhứt Thuyên, tôi liền đến An
Điềm để thăm cơ sở đồn điền của chàng thanh niên này, đồng thời để làm chứng
Tin Lành. Kết quả có hai người tin nhận Chúa, mà người thứ nhất là chàng thanh
niên chủ đồn điền, ngồi trên lưng ngựa nghe giảng hồi sáng và một người khác
trong vòng bà con bên vợ của anh. Về sau cả hai đều cảm động xin đi học trường
Thánh Kinh và trở nên hai vị mục sư đầy ơn, đã từng dự phần vào nhiều công việc
lớn lao của Hội Thánh và trung tín trọn đời trong chức vụ.

2. Những Giai Thoại Bên Dòng Sông Ái Nghĩa

Ngoài câu chuyện ông giáo Tấn tìm gặp Chúa cách lạ lùng, dòng sông Ái Nghĩa
còn mang tính chất đặc thù của nhiều giai thoại, cho đến ngày nay vẫn còn được
lưu truyền trong vòng tín đồ tại tỉnh Quảng Nam. Số là ông Biện Toản (một tín đồ
trung tín trong vùng đó) có hai đứa con đi tắm sông bị chết trôi, ông Biện Toản
nóng lòng nhảy xuống cứu con nên cũng chết luôn. Cái chết của ba cha con ông
Biện Toản trên sông Ái Nghĩa là dịp tiện để cho những người không ưa Tin Lành
cũng như không ưa gia đình ông bịa chuyện, làm thơ đặt vè, cố ý làm hại lòng tin
kính của những người còn lại trong gia đình ông Toản và những tín đồ trong vùng
đó. Có người độc ác mượn lời vợ ông Biện Toản để làm bài thơ xuyên tạc như sau:

“Theo đạo chồng tôi thật rất mầu

Báp-tem làm lễ dưới sông sâu

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 26

Đường trời lặn lội nên quên thở 26

Nước thánh mênh mông rưới một bầu

Đáng phận Tin Lành khôn trách đó,

Lỡ duyên cầu nguyện biết gì đâu,

Phải chi Chúa giúp đôi mươi nữa

Khỏi quỷ Sa-tan đến đụng đầu.”

Ông Phan Nhứt Thuyên là một tín đồ trung kiên tại làng Hà Tâm (thuộc huyện
Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) liền họa lại bài ấy và gửi lại cho gia đình ông Biện Toản.
Bài họa như vầy:

“Muốn học Mô-se hóa phép mầu

Dắt dìu con đỏ khỏi làn sâu

Mở lòng hà hải thêm ba thước

Thâu lụy tan thương lại một bầu

ÁI NGHĨA thêm trong dòng nước đó,

Anh hùng nào phụ núi sông đâu,

Gẫm thương mấy kẻ chìm trên cạn

Ngọn sóng trần ai phủ lút đầu.”

Cho đến ngày nay, bài thơ Ái Nghĩa trên đây vẫn còn truyền tụng giữa vòng tín
đồ vùng Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Nhắc lại bài thơ này tôi bỗng nhớ lại một bài thơ
khác- bài TƠI NÓN cũng do cụ Phan Nhứt Thuyên tức Chánh Tuận cảm tác tại nhà
Bá Giám ở Non Tiên. Ngày nọ tôi từ Hội An lên huyện Đại Lộc thăm Hội Thánh và
giảng Tin Lành, cụ Chánh Tuận liền mời tôi đến Non Tiên để làm chứng cho nhà cụ
Bá Tiên. Dọc đường trời mưa lớn nên chúng tôi đều bị ướt. Đến nơi, cụ Chánh Tuận
liền nói: “Vì tôi mà ông ướt hết.” Tôi cười và trả lời: “Tôi cũng có thể nói vì tôi mà
ông Chánh ướt hết”… Thôi thì chúng ta có thể nói: “Vì những linh hồn chưa biết
Chúa mà chúng ta ướt hết.” Ông Chánh ứng khẩu đọc bài thơ “ TƠI NÓN” sau đây:

“Xưa từng ẩn dật chốn thâm san

Mưa nắng vì ai phải đảm đang

Thiết thực đành hơn trăm áo ấm

Vinh hoa chỉ kém một cây tàng

Mặc ai xe ngựa thường coi rẻ

Miễn lũ bùn lầy khỏi thở than

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 27

Đằng đẵng bốn mùa gìn một tiết

Biết chăng kẻ đội với người mang.”

Tôi hỏi đùa ông Chánh: “Có lẽ ông Chánh muốn khỏi ướt…” và tôi nói thêm:
“Sự thật chúng ta mong mỏi tất cả những linh hồn tội nhân đều khỏi bị lấm ướt vì
cớ tội lỗi.”

Chúa đã ban ơn cách lạ lùng cho công việc Ngài tại tỉnh Quảng Nam. Càng lúc
càng có thêm nhiều người trở lại với Chúa, trong số đó có nhiều nhà trí thức giàu
sang có địa vị trong xã hội bằng lòng tiếp nhận Tin Lành nên có nhiều Hội Thánh
nhánh được mở thêm như: Phong Thử, Lạc Thành, Trường An và Đại An. Những nơi
nầy lần lượt khởi công xây cất nhà giảng và đi lần tới chỗ tự trị, tự lập. Một số
những nhà trí thức có danh vọng và địa vị tin Chúa trong lúc đó, dâng mình đi học
Thánh Kinh để hầu việc Chúa. Họ đã trở nên những Mục sư, Truyền đạo đầy ơn.
Lớp đầu có các ông Duy Cách Lâm, Lê Nguyên Anh, Trần Mai, Nguyễn Tấn và lớp
kế tiếp có các ông Lê Tấn Đặng, Nguyễn Ưng, Nguyễn Đốc, Đỗ Phượng, Nguyễn
Đích, Trần Tủng. Hội Thánh Chúa tại những nơi nầy trưởng thành rất nhanh chóng
và đứng vững cho đến ngày nay. Tạ ơn Chúa!

B.CHỨC VỤ TẠI HỘI THÁNH MỸ THO

Tháng 9-1925, tôi phải sắp xếp công việc để trở lại nếp sống của một học viên
trường Thánh Kinh. Khóa này năm thứ nhất có 25 người, và năm chúng tôi vẫn 11
người như cũ. Trường bấy giờ tương đối đông đảo nên vui hơn trước nhiều. Lớp
chúng tôi được học thêm hai thư Cô-rinh-tô, môn học này giúp chúng tôi hiểu sâu
hơn về tình trạng chung của Hội Thánh trong thời sứ đồ Phao-lô.

Khóa học mãn vào cuối tháng 4-1926, chúng tôi được bổ nhiệm hầu việc Chúa
tại Hội Thánh Mỹ Tho (miền Nam). Ngày 2-5-1926 chúng tôi phải lên đường đi
nhậm chức, vì có nhiều việc bất ngờ xảy ra trong Hội Thánh và vì ông Trần Xuân
Phan bị bệnh nặng. Sau một ngày đi xe hơi từ Đà Nẵng vào Nha Trang, và một ngày
đi xe lửa từ Nha Trang vào Sài Gòn, năm giờ chiều ngày 5-5-1926 chúng tôi đến
thành phố Mỹ Tho.

Khi đi, bà con tín hữu Hội Thánh Hội An, túc trực tại Đà Nẵng từ đêm đến sáng
để tiễn chúng tôi lên đường trong sự yêu thương, luyến tiếc bùi ngùi bao nhiêu, thì
khi đến ga xe lửa Mỹ Tho chúng tôi lại rơi vào sự bỡ ngỡ, buồn tẻ, lạnh nhạt bấy
nhiêu. Nhìn quanh chẳng thấy ai đến đón chúng tôi cả, mặc dù Hội Thánh Mỹ Tho
là Hội Thánh đông tín đồ nhất miền Nam lúc bấy giờ.

27

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 28

Nhà giảng đầu tiên ở miền nam Việt Nam tại chỗ của Mỹ Tho 1927 28

Đến tư thất, tôi gặp ông Trần Xuân Phan đang nằm trên giường (ông bị bệnh
thương hàn nặng). Bà Phan đi chợ, nhưng có việc xô xát xảy ra ngoài chợ, thành
thử những tín đồ trong thành phố đến tư thất sửa soạn ra ga đón chúng tôi, phải
đổ xô ra ngoài chợ để can thiệp. Sáu giờ sáng ngày 6-5-1926, gia đình ông Trần
Xuân Phan rời Mỹ Tho lên Sài Gòn. Quang cảnh tại sân ga sáng ngày 6-5-1926 tiễn
đưa gia đình ông Trần Xuân Phan cũng như quang cảnh đón tiếp chúng tôi hồi năm
giờ chiều hôm trước (5-5-1926). Chúng tôi không bàn giao, không tiếp đón cũng
không tiễn đưa gì cả.

Trưa thứ sáu ngày 7-5-1926, tôi gặp ông Giáo sĩ G. C. Ferry, dù chưa biết đủ
tiếng Việt , nhưng ông cũng bập bẹ nói với tôi: “Chào thầy mạnh giỏi, thầy Phan đi
rồi. Chúa nhật thầy giảng, Chúa ban phước thầy.”

Tôi không ngờ lời cầu chúc đơn sơ của Giáo sĩ G. C. Ferry lại hiệu nghiệm rất
nhiều. Tín đồ các nơi tề tựu đông đủ từ chiều thứ bảy. Họ đi thuyền từ các địa điểm
như: Kinh Ông Lớn (Gò Công), Long Hựu, Quới Sơn, An Hữu, Lộc Thuận, Bình Đại,
An Hóa, Phú Thành, Giao Long, Giao Hòa, Rạch Miễu, Tân An, Bến Tranh, Cai Lậy,
Chợ Gạo. Đến sáng Chúa nhật vẫn có người rải rác kéo về Mỹ Tho. Họ đi từng gia
đình, từng đoàn, từng nhóm như đi trảy hội, đem theo đầy đủ thức ăn cho ba ngày:
Thứ bảy đi, Chúa nhật ở lại nhóm và thứ hai về. Cứ tới mỗi chiều thứ bảy là ghe

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 29

thuyền tín đồ các nơi tới tấp nập đậu đầy mé sông phía cầu Quây, hướng về Chợ 29
Gạo. Do đó cả thành phố đều bàn ra tán vào về những người theo đạo Tin Lành
(lúc bấy giờ họ thường gọi là đạo Hoa Kỳ - đạo Mỹ).

Nơi giảng là một ngôi nhà lớn, thuê của một hãng buôn, có chỗ ở cho Giáo sĩ,
có nơi biệt riêng để thờ phượng rất rộng, và một dãy dùng làm tư thất. Chúa đã
ban ơn cách lạ lùng cho buổi nhóm Chúa nhật đầu tiên của chúng tôi tại Hội
Thánh Mỹ Tho. Sáng hôm đó có hơn một ngàn người đến nhóm. Tôi đã giảng một
bài giảng với đề mục đơn sơ là “Hội Thánh của Đức Chúa Trời.” Nhiều người nhận
được Lời Chúa, thổn thức nghẹn ngào trong phòng nhóm cho đến quá trưa.

1 Chương Trình Hoạt Động Trong Khu Vực Trách Nhiệm.

Phạm vi hoạt động truyền giáo của chúng tôi lúc bấy giờ rất rộng. Chẳng những
tại thành phố Mỹ Tho mà còn bao gồm cả tỉnh Định Tường, Tân An và Gò Công. Số
người đã tin nhận Chúa có hơn một ngàn ở rải rác nhiều nơi. Trong số đó, phần
đông có lòng thành thật tin kính rất tốt, biết kính sợ Chúa, ham mến Lời Ngài và
quý trọng những ân tứ thuộc linh. Trái lại, một số theo đạo vì ưa thích những sự
mới lạ. Chỉ cái tên “đạo Hoa Kỳ - đạo Mỹ” thôi, cũng là một chiêu bài hấp dẫn lôi
cuốn những người hiếu kỳ gia nhập Hội Thánh. Có người gia nhập giáo hội vì mục
đích chính trị với đôi kính đen cố hữu, nguyên do mọi tưởng tượng và nghi ngờ!
Nhưng sau khi đi sâu vào giáo lý của Tin Lành và chủ trương của giáo hội, đối đầu
với tất cả mọi khía cạnh của Hội Thánh, họ không bắt gặp một sắc thái chính trị
nào cả. Đạo Tin Lành không phải là một hình thức đảng phái trá hình với những
chủ trương mờ ám. Bởi đó, họ trở nên những người lạc lỏng trong một thế giới xa
lạ, ngỡ ngàng trước những đổi mới trong đời sống tín đồ và quyền năng sinh động
của Thánh linh. Họ chưa tìm được lối thoát - dù có tên trong giáo hội - nhưng hoàn
toàn xa lạ với Chúa Jêsus. Có thể bảo đó là những tội nhân bị vây trong cái lưới vô
hình của Tạo hóa.

Những người nầy đã nhiều lần đến tranh luận với tôi, họ cố dùng những quan
niệm sai lầm của mình để bóp méo chân lý của Thánh Kinh, nhằm chủ trương sửa
đổi mọi hình thức sinh hoạt của giáo hội. Nhưng lần nào cũng vậy, tôi chỉ nương
theo Lời Chúa đã dùng Phao-lô để dạy cho Ti-mô-thê ngày xưa mà xử sự với họ:
“Hãy cự những lời biện luận điên dại và trái lẽ, vì biết rằng chỉ sanh ra sự tranh cạnh mà thôi.
Vả tôi tớ của Chúa không nên ưa tranh cạnh, nhưng phải ở tử tế với mọi người, có tài dạy dỗ,
nhịn nhục, dùng cách mềm mại, sửa dạy những kẻ chống trả, mong rằng Đức Chúa Trời ban
cho sự ăn năn để nhìn biết lẽ thật và họ tỉnh ngộ mà gỡ mình khỏi lưới ma quỷ, vì đã bị ma
quỷ bắt lấy đặng làm theo ý nó” (IITi 2:23-26).

Phương cách hoạt động của chúng tôi ở Mỹ Tho lúc bấy giờ là làm thế nào
hướng dẫn những người đã tin Chúa trở lại với đức tin thuần túy của Tin Lành. Làm
công việc ấy, chúng tôi chỉ nương trên Lời của Chúa nhất là các thư tín của Phao-lô

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 30

và nhờ sự soi sáng của Thánh Linh, vì khi ấy Địa hạt chưa thành hình, Tổng Liên 30
Hội chưa tổ chức, chưa có điều lệ hoặc quy tắc chỉ đạo nào cả. Quyển giáo mục
cũng chưa được in.

Tín đồ rất đông lại ở rải rác khắp ba tỉnh, thành thử chúng tôi phải cậy ơn Chúa
hoạch định một chương trình bốn điểm để hoạt động nhằm giúp đỡ tín đồ nâng
cao trình độ thuộc linh và lập nền tảng cho Hội Thánh. Chương trình đó được tóm
tắt như sau:

1- Chia những nơi có người tin Chúa ba tỉnh (Định Tường, Gò Công, Tân An)
thành mười hai khu vực. Cứ mỗi khu vực cử một người làm đại biểu với tư cách
chấp sự của Hội Thánh để thăm viếng và giúp đỡ tín đồ. Những người nầy họp lại
với chúng tôi mỗi tuần một lần để cầu nguyện, học Thánh Kinh và thảo luận kế
hoạch giúp đỡ tín đồ trong khu vực mình.

2- Dành riêng chiều và tối thứ bảy làm giờ cầu nguyện chung và dạy Thánh Kinh
Tiết Yếu rút trong các bài Thánh Kinh Bửu Huấn. (Lúc bấy giờ chưa có Phước Âm
Yếu Chỉ).

3- Trong các bài giảng hoặc bài dạy Thánh Kinh, chúng tôi đều cậy ơn Chúa
hướng dẫn cách ăn nết ở của các tín đồ theo tinh thần của Co 3:1-15. “Vậy nếu anh
em được sống lại trong Đấng Christ, hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên
hữu Đức Chúa Trời. Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất, vì anh
em đã chết, sự sống mình đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời. Khi nào Đấng Christ
là sự sống của anh em sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển.
Vậy hãy làm chết các chi thể của anh em ở nơi hạ giới tức là tà dâm, ô uế, tình dục, ham muốn
xấu xa, tham lam, tham lam chẳng khác gì thờ hình tượng. Bởi những sự ấy cơn giận của Đức
Chúa Trời giáng trên các con không vâng phục, lúc trước anh em sống trong những nếp xấu đó,
và ăn ở như vậy. Nhưng bây giờ anh em nên từ bỏ hết những sự đó, tức là sự thạnh nộ, buồn
giận và hung ác. Đừng nói hành ai, chớ có một lời tục tĩu nào ra từ miệng anh em. Chớ nói dối
nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó. Mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới
theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn. Tại đây không
còn phân biệt người Gờ-réc hoặc người Giu-đa, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì,
người dã man hoặc người Sy-the. Người tôi mọi hoặc người tự chủ, nhưng Đấng Christ là mọi
sự trong mọi sự. Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời là người thánh và rất yêu dấu
của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn
nhục. Nếu một người trong anh em có sự phàn nàn với kẻ khác, thì hãy nhường nhịn nhau và
tha thứ nhau, như Chúa đã tha thứ anh em thế nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy.
Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy sự yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành.
Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã
được gọi đến đặng hiệp nên một thể, lại phải biết ơn.”

4- Xúc tiến việc xây cất một giảng đường mới, vì nhà đang thuê sắp bị đòi lại.
Chúa cho chúng tôi thuê được một miếng đất rộng tại chợ cũ (Mỹ Tho), nhờ đó có

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 31

thể cất được một nhà thờ dài hai mươi tám thước, rộng mười một thước bằng gỗ 31
lợp ngói, đủ chỗ cho bảy trăm người ngồi. Có người nhìn ngôi nhà vừa cất xong liền
ví nó như một kho chứa lúa, lời mô tả có tính chất mỉa mai đó có lẽ cũng không sai
mấy. Nó giống như một kho chứa lúa, thật đúng, vì đó là kho chứa những hạt giống
sống của Tin Lành. Đây là nhà giảng thứ nhất tại miền Nam được dựng nên do sự
quyên góp của tín đồ.

Ở An Hóa (Định Tường), lúc đầu, giảng tại nhà ông Trần Văn Phương, về sau bởi
sự chung lưng đâu cật của tín đồ, một nhà giảng riêng biệt đã được xây cất tại đó.
Phú Thành cũng vậy, lúc đầu giảng trong nhà ông Bồi Kiền, nhưng lần lần cũng
được một nhà giảng riêng. Ở Tân Thạch, các buổi giảng dạy được tổ chức tại nhà
ông Võ Văn Tụy.

Riêng tỉnh Gò Công ngoài việc thuê một nhà giảng tại tỉnh lỵ, chúng tôi còn
thường xuyên tổ chức giảng dạy tại nhà ông Lê Tập ở làng Long Hựu nữa. Mỗi tuần
vào chiều thứ năm, tôi đến Gò Công phân phát sách báo và mời đồng bào tối đến
nghe giảng. Tại đây kết quả rất tốt, có nhiều người trở lại với Chúa, trong số ấy có
người dòng Thích Lý rất sốt sắng, bà đã đưa nhiều người khác đến với Chúa. Vị Mục
sư đầu tiên của chi hội Gò Công lúc mới bắt đầu tự trị là ông Lê Đình Tươi.

Ở Tân An vì chưa có nhà giảng, nên phải giảng tạm ở nhà bà Tư tín đồ. Thỉnh
thoảng chúng tôi đến thăm Bình Đại, Lộc Thuận và giảng tại nhà bà Lầu. Ngoài ra
chúng tôi cũng cố gắng tìm những chỗ giảng mới tại nhà Thủ Thừa và Bến Lức.

Tất cả những bài giảng của tôi trong giai đoạn nầy đều nhằm mục đích làm thế
nào cho tín đồ thoát khỏi những tập quán cũ, những thành kiến sai lạc và những ý
tưởng viễn vông huyền hoặc trói buộc từ nhiều năm qua.

2. Phát Huy Ý Thức Thuộc Linh Mới.

Sau khi hầu việc Chúa trong Hội Thánh Mỹ Tho ít lâu, quan sát tình hình và
nhận định thực trạng tín đồ, tôi nhận thấy có một số, sở dĩ gia nhập vào Hội Thánh
lúc đó chỉ vì bài giảng dạy rất quyến rũ của một vị Mục sư. Phần nhiều các bài giảng
của ông đều dựa vào một vài câu trong thư Thê-sa-lô-ni-ca I và II, nói nhiều về
ngày Chúa tái lâm, khi nghe giải thích Thánh Kinh, số người ấy lại nghĩ đến những
đường lối mờ ám của thế gian và ma quỷ - vì như tôi đã nói một số không nhỏ
những người nhập hội lúc đầu chỉ vì cái tên “đạo Hoa Kỳ - đạo Mỹ,” và một phần vì
những tư tưởng chính trị mà thôi.

Mỗi tối thứ bảy sau khi nhóm cầu nguyện và học Thánh Kinh anh em thường
nghỉ đêm tại nhà giảng. Một tối nọ có hai đại biểu khu vực, cũng là chấp sự của Hội
Thánh, nằm gần tôi. Thình lình hai ông nầy hỏi: “Thầy Năm ơi (đây là cách xưng hô
thân mật của anh em tín đồ đối với tôi) thầy có biết chuyện xảy ra ở Lộc Thuận
không? Tôi hỏi chuyện gì, thì họ kể: “Tại nhà một tín đồ nọ có mấy con gà đang ấp,
chủ nhà bỗng nhiên lấy ổ trứng xuống luộc ăn hết. Nhà khác thì đốn mấy buồng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 32

chuối già nấu ăn. Họ không đợi gà nở hoặc chuối chín vì sợ Chúa tái lâm phải đi, 32
bỏ lại không ai ăn” (tôi có nghe chuyện xảy ra nhiều như thế, nhưng chỉ cắt nghĩa
và sửa sai cho những người kể, mà không thuật lại cho người khác nghe, bởi đó họ
tưởng tôi không biết). Tôi trả lời hai ông nầy là tôi có nghe chuyện đó, tôi đã giúp
đỡ anh em bằng cách sửa sai cho họ rồi. Trông đợi Chúa tái lâm là một việc tốt
nhưng hành động như vậy là sai.

Hai ông vẫn chưa hiểu nên sau khi nghe kể thêm một vài chuyện lầm lẫn nữa,
liền hỏi tôi: “Thầy Năm ơi! Thầy làm ơn cho em biết ngày nào Chúa giáng lâm,
thầy?” Tôi bảo là tôi đâu có biết. Họ năn nỉ: “Tội nghiệp chúng em mà thầy, thầy
truyền đạo mà không biết thì ai biết, thầy nói giùm em, cám ơn thầy nhiều lắm.”
Tôi phải ngồi dậy lấy Thánh Kinh đọc Cong 1:7 cho họ nghe Lời Chúa Jêsus phán:
“Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đã tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết.” Tôi
đọc đi đọc lại nhiều lần câu Thánh Kinh nầy và cắt nghĩa cho họ biết, đó chính là
lời tuyên bố của Chúa Jêsus trước khi thăng thiên đối với những người cật vấn Ngài
về ngày tái lâm. Tôi cũng đọc tiếp cho họ nghe câu 8: “Nhưng khi Đức Thánh Linh
giáng trên các ngươi thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-
sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri cho đến cùng trái đất.” Nương theo sự dạy dỗ của câu
Thánh Kinh nầy, tôi khuyến khích họ hãy sửa soạn lòng nhận quyền phép của Đức
Thánh Linh để làm chứng Tin Lành cho tất cả mọi người. Tiếc thay, họ không vui,
không ham thích quyền năng của Đức Thánh Linh, cũng như không muốn làm
chứng Tin Lành cho người khác.

Nhưng tạ ơn Chúa, đã có một số nhận được PHẦN GIỐNG TỐT, lớn lên bởi
quyền năng của Thánh Linh, can đảm bước ra khỏi sự tối tăm để hướng về ánh
sáng của sự sống mới. Bằng chứng là gia đình của hai ông Trần văn Chuông và Trần
văn Bi cảm động dâng mình hầu việc Chúa. Về sau, cả hai đều trở nên hai vị Mục sư
đầy ơn. Tiếp theo đó, có nhiều thanh niên khác tình nguyện theo học Thánh Kinh,
hiện nay một số đã trở nên Mục sư đang dự phần vào các công việc quan trọng của
Giáo hội như Mục sư Võ Thạnh Thời, Mục sư Phạm Văn Thâu, Mục sư Trương Văn
Tốt, Mục sư Nguyễn Văn Long v.v...

Nhà giảng Mỹ Tho lúc bấy giờ thường bị những người xung quanh gọi một cách
mỉa mai là cái lẫm lúa hoặc kho lúa, nhưng Đức Chúa Trời đã biến những sự mỉa
mai xuyên tạc ấy thành ích lợi cho công việc nhà Ngài. Chẳng khác nào tại quốc gia
Ai Cập thời xưa, một quốc gia theo đa thần giáo mà Chúa lại đưa Giô-sép lên làm
tể tướng, và biến đất nước đầy tội lỗi đó trở thành một kho lúa nuôi cả thế gian.
Hội Thánh Mỹ Tho đã là nơi xuất phát của nhiều người hầu việc Chúa, và những
người tín đồ đầu tiên của Hội Thánh nầy đã trở nên cột trụ của những Hội Thánh
nhánh tự trị, tự lập khác như: Hội Thánh Long Hựu, Hội Thánh Bến Tre, Hội Thánh
An Hóa, Hội Thánh Quới Sơn, Hội Thánh Tân Thạch, Hội Thánh Bình Đại, Hội
Thánh Tân An, Hội Thánh Thủ Thừa. Tuy nhiên sau thời “cực thịnh,” Hội Thánh Mỹ

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 33

Tho đã lui vào cảnh lu mờ, đến nỗi có người cho rằng “MỘT MẸ ĐÃ SINH BẢY CON
RỒI MẸ GIÀ SỨC YẾU.” Nhưng hiện nay khi tôi viết những dòng chữ nầy (20-11-68),
Hội Thánh Mỹ Tho đã lấy lại được phong độ cũ, tự trị tự lập rất vững vàng, Hội
Thánh đã gầy dựng được một cơ sở Cô Nhi viện và một trường trung tiểu học. Nhà
thờ được kiến trúc rất tráng lệ tọa lạc giữa trung tâm thành phố. Tạ ơn Chúa.

Nhà thờ Hội Thánh Mỹ Tho, xây cất 1968 33

C. TRỞ LẠI TRƯỜNG THÁNH KINH ĐÀ NẲNG

Đầu tháng 5, 1927 chúng tôi nhận được tin tháng 8 phải trở về Đà Nẵng để học
khóa tốt nghiệp khai giảng vào thượng tuần tháng 9 năm 1927. Hội Thánh dao
động nhiều. Ban Trị sự chi hội gởi thư yêu cầu lưu nhiệm chúng tôi vì lý do nầy
hoặc lý do khác, nhưng không được chấp thuận. Cuối cùng, trưa thứ hai ngày 15-8-
1927 chúng tôi rời Mỹ Tho để trở về trường cũ. Ban Trị sự Hội Thánh tổ chức một
buổi lễ trọng thể để tiễn đưa chúng tôi và tiếp rước ông bà Mục sư Lê văn Long
(được bổ nhiệm thay thế chúng tôi). Sau khi bày tỏ lòng chân thành luyến tiếc
chúng tôi và hoan nghinh ông bà Lê Văn Long tân mục sư, Hội Thánh đã tặng
chúng tôi một tấm trướng thêu hình Phước Lộc Thọ trên có đề ba chữ SỐNG CHO
CHÚA và dưới bảy chữ: ĐỨC TIN, TRÔNG CẬY, TÌNH YÊU THƯƠNG, (ICo 13:13).
Hành khách trên chuyến xe lửa Mỹ Tho Sài Gòn trưa ngày 15-8-1927 đều lấy làm lạ,
vì trên sân ga đông nghẹt tín đồ đưa tiễn chúng tôi, khác hẳn với quan cảnh tiêu
điều chiều ngày 5-5-1926 khi chúng tôi mới đến.

Trưa hôm ấy, trời đang nắng bỗng mây đen kéo đến và tiếp theo là một cơn
mưa ào ào đổ xuống, ngay khi con tàu bắt đầu chuyển mình trên đường sắt. Những
người tiễn đưa chúng tôi vẫn đứng yên trên sân ga, mặc cho những hạt mưa tới tấp
rơi trên tóc, trên áo, mắt đăm đăm hướng về phía con tàu, lúc lúc lại đưa tay lên
đầu xoa những hạt mưa và gạt những dòng lệ chảy dài trên má. Chúng tôi hết sức

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 34

bùi ngùi cảm động. Xe lửa đã chạy đến Trung Lương nhưng chúng tôi vẫn còn đứng 34
nhìn về phía Mỹ Tho, thành phố thân yêu mà chúng tôi đã từng sống với nhiều kỷ
niệm đẹp. Tai chúng tôi như vẫn còn nghe tiếng hát êm đềm của những người bạn
tiễn đưa chúng tôi trên sân ga: “Anh em ta chia tay, mong sẽ gặp nhau. Yêu thương
không phai, tâm linh giao cảm, xin Cha chăn nuôi anh em ta cả. Nguyện nguồn
phước thêm đượm nhuần linh hồn hoài. Nơi chân Chúa sẽ thấy nhau luôn cho thỏa
lòng nầy. Nơi chân Chúa sẽ thấy nhau. Dẫu ta chia tay tạm biệt nhưng lại gặp” (Thơ
Thánh số 238).

Trường Thánh Kinh khai giảng vào thượng tuần tháng 9 năm 1927. Khóa nầy
gồm có năm dự bị, năm thứ nhất, năm thứ hai và năm tốt nghiệp nên số học sinh
đông hơn và rộn rịp hơn. Phương tiện của nhà trường lúc bấy giờ cũng khả quan
hơn những năm trước. Trường đã có cư xá cho học sinh gồm ba dãy Thanh Tu, Tịnh
Tâm và An Lạc. Chúng tôi ở dãy An Lạc. Ngoài ra, một nhà ăn cũng được xây trong
khuôn viên nhà trường đẹp đẽ và khang trang. Một lễ đường cũng sắp được dựng
lên để dùng làm nơi thờ phượng và nhóm họp hàng ngày cho học sinh.

Lúc bấy giờ các Giáo sĩ muốn cách tổ chức của nhà trường phải giống như cách
tổ chức của các trường Thần học ngoại quốc, nên chỉ định một ban trật tự lo về ẩm
thực của học sinh, một ban vừa là giám thị vừa có nhiệm vụ sắp đặt học sinh có
công việc làm phù hợp khả năng để làm quen với công việc, đồng thời có tiền chi
tiêu hoặc phụ thêm vào phạn phí của nhà trường. Chỉ vì cách phân công này mà
nhiều người cười ra nước mắt. Năm chúng tôi học tốt nghiệp có một ông chủ tiệm
trữ âu dược (Dépôt de Pharmacie) xin vào học năm thứ nhất. Ông đã đóng đủ phạn
phí lại có dư tiền tiêu nên không chịu làm việc gì cả, mặc dù theo nguyên tắc của
nhà trường, tất cả học sinh ngoài giờ học đều phải làm việc. Thấy vậy ông Đốc học
bèn sắp cho ông này công tác lau dọn nhà thờ chiều thứ tư và chiều thứ bảy. Khi
mới bắt tay vào việc ông khóc ròng, nhưng vì ham thích học Lời Chúa nên ông đã
cố ở lại cho đến hết niên khóa.

Bắt đầu niên học này, ban giáo sư được tăng cường đông hơn trước. Giáo sĩ J.
D. Olsen được cử làm Đốc học. Nhiều môn mới cũng được bổ sung. Lớp chúng tôi
phải học thêm các môn như: Hê-bơ-rơ, Sử ký Hội Thánh cận đại, Khải Thị và cuối
năm thêm triết lý cứu thục. Mọi người trong lớp chúng tôi đều nhận được nhiều ơn
phước.

Nhưng đến cuối khóa học ma quỷ đã tạo nên một đám mây mù để làm rối nhà
trường và đánh lạc mục tiêu chúng tôi. Nguyên nhân là khi khóa học sắp mãn có
nhiều sự hiểu lầm xảy ra và tiếp theo đó có vài hành động thiếu tự trọng và kém
ngay thẳng. Tôi cảm thấy buồn và hết sức chán nản. Trong khi đó, có nhiều thư và
điện tín của những người quen gởi đến mời tôi cộng tác việc này việc nọ. Ý muốn
trở thành một nhà thầu danh vọng lại trở về với tôi. Tôi muốn bỏ trường Thánh

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 35

Kinh để trở về gây dựng một sự nghiệp mới, nhưng cám ơn Chúa - bởi câu: Quyết 35
noi theo Cứu Chúa, sống chết với Ngài mà chúng tôi đã đắc thắng.

D. CHỨC VỤ TẠI HỘI THÁNH HÀ NỘI

Khóa học mãn vào cuối tháng 4, 1928. Tôi phải ở lại nhà trường để coi sóc việc
xây cất Lễ Đường. Ban Trị sự chung nhóm lại tại Đà Nẵng. Lúc bấy giờ chúng tôi
chưa biết được chỉ định hầu việc Chúa ở đâu. Có người thì nói rằng chúng tôi sẽ trở
lại Mỹ Tho vì Ban Trị sự Hội Thánh đó có thư xin tôi (sự thật chúng tôi cũng nhận
được một thư viết từ Mỹ Tho, người viết đã cố tình nhắc lại một câu trong bài hát
khi từ biệt chúng tôi tại ga xe lửa Mỹ Tho trưa ngày 15-8-1927: “Dầu Ta Chia Tay
Tạm Biệt Nhưng Lại Gặp”). Có người thì lại nói rằng chúng tôi đi Đà Lạt, vì trên đó
đang kiến thiết cơ sở truyền giáo và xây cất trường học cho các con Giáo sĩ. Có
người nói chúng tôi đi Hà Nội.

Tôi không thích Hà Nội, nên tôi không muốn nghe bất cứ một ai nói về Hà Nội.
Cho nên khi cái tin ông Lê Văn Thái đi Hà Nội được tung ra từ văn phòng Ban Trị
sự, chúng tôi hết sức sửng sốt. Tôi không bao giờ nghĩ đến điều ấy. Không thể có
một hoạch định trái ngược như vậy. Tôi không muốn đi. Ngay trưa hôm ấy, chúng
tôi liền nhóm lại quỳ gối cầu hỏi ý Chúa, xin Chúa đổi ý Ban Trị sự, xin thương xót
cách nào để chúng tôi khỏi đi, vì chúng tôi thấy mình không xứng hiệp với Hội
Thánh Hà Nội và nhất là đối với công việc Chúa tại miền Bắc.

Gần cả tuần lễ đó, chúng tôi cầu nguyện nhiều lần, nài xin, trình bày, giải thích,
thảo luận, tỏ bày duyên cớ, nhưng bất cứ giờ phút nào tâm linh tôi cũng luôn được
nhắc nhở một câu trong Es 55:8-9 “Ý tưởng Ta chẳng phải ý tưởng các ngươi… đường lối
ngươi chẳng phải đường lối Ta. Vì các từng trời cao hơn đất bấy nhiêu, thì ý tưởng Ta cao hơn
ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.”

Cuối cùng, chúng tôi không thể làm cách nào khác hơn là vâng phục ý Chúa.
Chúng tôi phải đi con đường mà chính mình không muốn đi. Lúc bấy giờ thay vì
cầu nguyện xin Chúa đổi ý Ban Trị sự, thì trái lại, với một tâm trạng khắc khoải, tôi
van xin Chúa cho tôi có đủ khả năng, thích hợp với Hội Thánh Hà Nội và với miền
Bắc thân yêu theo ý muốn Ngài. Xin Chúa ban ân tứ và đồng công với tôi trong mọi
sự đúng như tinh thần câu nói của Thánh Phao-lô trong thư IICo 6:1 “Chúng tôi làm
việc với Chúa.” Kể từ giờ phút ấy, hình ảnh Hà Nội cả ngày lẫn đêm chiếm trọn tâm
hồn tôi. Tôi miên man nghĩ đến cảnh trí hùng vĩ của Thăng Long thành. Nào chùa
Một Cột nằm ở phía Tây thành phố, nào Hồ Tây ở phía Bắc, nào hồ Hoàn Kiếm ở
phía Đông. Tôi hình dung đến gò Đống Đa một thắng tích oai hùng của thời Quang
Trung Nguyễn Huệ, cầu Long Biên nước chảy xuôi dòng…

Rồi bỗng nhiên tôi suy nghĩ đến “CẢNH TIÊU ĐIỀU CỦA ĐẾ THIÊN ĐẾ THÍCH”
(sách của Lê Văn Chương), với những hoang tàn cỏ mọc rêu phong. Thành quách,
cung điện theo thời gian đi vào lịch sử. Những vần thơ hoài cổ của bà Huyện Thanh

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 36

Quan đem đến cho tôi ít nhiều xúc động bùi ngùi. Thăng Long ơi, còn đâu nữa 36
những hình ảnh oai hùng và thơ mộng của một thời vàng son trong lịch sử. Tất cả
chỉ còn là dĩ vãng xa xôi, lắng chìm ngưng đọng:

“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”

Hiện tại chỉ còn là đau khổ chết chóc. Tội lỗi đang tàn phá tâm hồn của con
người. Tôi bàng hoàng nghĩ đến thực trạng của đồng bào miền Bắc. Còn biết bao
người đang sống trong tối tăm, thiếu ánh sáng của Lời Sự Sống. Ai sẽ đem Tin Lành
đến cho họ? Chúng tôi quỳ gối xuống cầu nguyện, khóc với Chúa và sau đó sửa
soạn lên đường…

Bảy giờ rưỡi sáng ngày 1-8-1928 chúng tôi đến ga xe lửa Hà Nội bằng một
chuyến tàu suốt khởi hành từ Đà Nẵng chiều hôm trước. Đến nơi, có ông Nguyễn
Duy Tiếu vừa là chấp sự của Hội Thánh Hà Nội vừa là nhân viên cao cấp của sở
Hỏa xa tiếp đón chúng tôi, đưa chúng tôi về tư thất tại số 2 đường Ngõ Trạm. Tư
thất là một cái nhà một mái, dài mười hai thước rộng bốn thước chia làm ba căn.
Căn bốn thước vuông vức dùng làm phòng đọc sách. Căn bốn thước là tư thất mục
sư và phần còn lại để cho ba cậu thanh niên ở vừa đi học vừa làm việc cho nhà in.
Chúng tôi quét dọn thu xếp chỗ ở độ một giờ thì xong. Chiều hôm ấy có hai bà cụ
tín đồ đến thăm và chào mừng chúng tôi. Hai cụ là người hiền đức phúc hậu và có
lòng tin kính tốt. Trong suốt thời gian phục vụ ở Hà Nội, nhờ có hai bà cụ nầy và
ông Nguyễn Duy Tiếu mà chúng tôi được an ủi nhiều. Tối đó chúng tôi nhóm cầu
nguyện. Buổi nhóm đầu tiên trong chức vụ chúng tôi tại Hà Nội gồm có năm người:
Hai bà cụ, ông Tiếu và vợ chồng chúng tôi.

1. Xúc Tiến Chương Trình Cá Nhân Chứng Đạo.

Nhà thờ Hà Nội lúc ấy tọa lạc tại một vị trí rất đẹp ở góc đường Phạm Phú Thứ
và Ngõ Trạm. Tuy chỉ là một ngôi nhà nhỏ dài mười một thước rộng sáu thước
nhưng rất ấm cúng. Sáng Chúa nhật ngày 5-8-1928, Giáo sĩ W. C. Cadman giới thiệu
chúng tôi với Hội Thánh. Hôm ấy chỉ có hai mươi bốn người kể cả lớn nhỏ nhóm
lại. Tuy ít ỏi, nhưng phần lớn anh em trong Hội Thánh là những người có địa vị
trong xã hội, như ông Nguyễn Đức Thục giáo sư trường Trung học Mỹ thuật (Ecole
des Beaux Arts), ông Giáo Đức giáo sư trường Trung học Hà Nội, ông Trịnh Văn Nhi
thủ ngân cho Ngân hàng Đông Dương (ông ít nhóm), ông Nguyễn Duy Tiếu Phán sự
sở Hỏa xa (từ Vinh mới đổi ra Hà Nội…)

Đây là Hội Thánh đầu tiên tự trị tự lập và là Hội Thánh duy nhất tại miền Bắc,
do đó, tôi là Mục sư đầu tiên và duy nhất được bổ nhiệm hầu việc Chúa tại miền
này. Mỗi ngày tôi sắp đầy một cặp da sách, lên xe đạp đi khắp thành phố để làm
chứng và phân phát cho những người trên đường, trong các cửa hàng, trong quán

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 37

ăn, nơi bến xe đò, ga xe lửa, các phòng sở và ngay cả trong các khách sạn. Vừa 37
phân phát tôi vừa cầu xin Chúa cho Lời Ngài gieo ra được kết quả tốt.

Ở Hội An, năm 1924 tôi có chương trình bảy ngày cho mỗi tuần lễ. Ở Mỹ Tho
năm 1926 tôi có kế hoạch bốn điểm để hướng dẫn tín đồ theo nếp sống mới và đặt
nền tự trị tự lập cho Hội Thánh. Nhưng đến Hà Nội, vì phải vâng phục theo ý Chúa
ĐI CON ĐƯỜNG MÀ MÌNH KHÔNG MUỐN, nên tôi không có chương trình kế
hoạch gì cả, chỉ có một tấm lòng kiên quyết phục vụ Chúa và bám lấy lời hứa của
Ngài. Tôi luôn luôn khẩn nguyện: “Xin Chúa giúp đỡ con và làm việc với con tại Hà
Nội và cả miền Bắc.”

Đến cuối năm 1928 ở Hà Nội và cả miền Bắc chỉ có hai vợ chồng chúng tôi là
người Việt Nam giảng Tin Lành (hai cụ Quốc Phục Hòa và Dương Tự Ấp đã đi trường
Thánh Kinh). Chắc hẳn mọi người chúng ta đều biết rằng vài con én không thể nào
làm nên mùa Xuân. Vả lại én là loài chim không thể nào sống ở những vùng cực Bắc
nơi có khí hậu quá lạnh! Vợ chồng chúng tôi cầu xin Chúa cho chúng tôi một “nơi
ở” tại Hà Nội hoặc nếu Chúa kể chúng tôi là đôi chim én thì xin Chúa cho một “chỗ
để sanh nở con” đúng như lời phán dạy của Ngài trong Thi 84:3 “Con chim sẻ tìm được
một nơi ở, và chim én tìm được một ổ đặng đẻ con nó, tức là bàn thờ của Chúa.” Chúng tôi
tha thiết cầu xin Chúa ở với chúng tôi, giúp đỡ chúng tôi, làm việc với chúng tôi và
che chở chúng tôi dưới bóng cánh toàn năng của Ngài. Chúa đã sai chúng tôi đến
đây, chắc chắn Chúa không để chúng tôi bơ vơ, và nếu có Ngài đồng công với
chúng tôi thì hai linh hồn bé bỏng này, sẽ có chỗ ở tại Hà Nội - đôi chim én đó
nhất định sẽ có “chỗ đẻ con” ở Bắc Việt. Lòng chúng tôi rất phấn khởi khi nghiên
cứu sách Ê-sai, nhất là khi đọc đến câu: “Nầy ta sắp làm một việc mới, việc này sẽ
hiện ra ngay, các ngươi há chẳng biết sao? Ấy là ta sẽ vạch một con đường trong
đồng vắng, và khiến những sông chảy trong sa mạc.” Chúng tôi tin chắc Chúa sẽ
làm thành ý định Ngài tại miền “băng lạnh” đông đúc dân cư này.

Sau chúng tôi, Ban Trị sự chung đã bổ nhiệm thêm hai gia đình nữa ra Bắc, đó
là ông Nguyễn Xuân Diệm đi làng Tự Nhiên, thuộc phủ Thường Tín (tỉnh Hà Đông)
và ông bà Đặng Ngọc Cầu đi Hải Phòng. Như vậy, kể luôn gia đình chúng tôi, có tất
cả ba gia đình người Việt Nam giảng Tin Lành cho toàn miền Bắc. Chúng tôi cảm
thấy bớt cô đơn hơn.

Nhưng cảnh trạng mỗi tối thứ tư chỉ có ba người nhóm cầu nguyện kéo dài đến
tuần lễ thứ sáu sau ngày nhậm chức đã làm cho chúng tôi cảm thấy lạnh lẽo, nhất
là vào mùa đông. Giờ cầu nguyện tương giao với Chúa sao vắng vẻ quá. Đã từng
nhóm trong nhà thờ đông người, nên đứng trước cảnh này, tôi thấy tâm hồn nao
nao tê buốt làm sao ấy. Buồn quá, tôi bèn dời chỗ nhóm từ nhà thờ sang phòng
xem sách để buổi nhóm ấm cúng hơn. Cám ơn Chúa, thật vậy, căn phòng nầy dần
trở nên cái lò sưởi cho Hội Thánh Hà Nội giữa mùa đông. Sau đó không lâu, số
người nhóm cầu nguyện mỗi tối thứ tư tăng lên từ bảy đến mười lăm rồi hai mươi

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 38

người. Đến nỗi phòng đọc sách không còn đủ chỗ nhóm, chúng tôi lại phải dời lên
nhà thờ. Bắt đầu từ đấy, có nhiều biến chuyển mới đầy ơn trong Hội Thánh, vì Lời
Chúa đã sưởi ấm và bùng cháy trong lòng anh em. Ngọn lửa thuộc linh bộc phát
nhanh chóng. Tất cả tín đồ đều sốt sắng làm chứng về Chúa nên đã đưa được hai
thanh niên làm việc tại Viện Viễn Đông Bác Cổ trở về với Ngài. Sau đó, ba thanh
niên khác làm việc tại một Cơ xưởng trong thành phố cũng nhận được ánh sáng
của chân lý và bằng lòng quỳ gối ăn năn. Phòng xem sách lúc bấy giờ còn là chỗ để
mọi người đến nghiên cứu Lời Chúa, nhất là một số anh em tín đồ ở xa thành phố,
trưa đi làm và ghé lại đọc Thánh Kinh, cầu nguyện và nghỉ ngơi.

Vì cớ lòng sốt sắng của nhóm thanh niên mới trở lại tin Chúa, chúng tôi thành
lập ban chứng đạo đầu tiên cho Hội Thánh Hà Nội. Đó khởi điểm của cao trào
chứng đạo tại miền Bắc. Từ khi thành lập được ban chứng đạo, mọi người trong Hội
Thánh dường như cảm thấy nguồn sống mới. Tình yêu mến Chúa thấm nhuần trên
mỗi đời sống mỗi tín đồ từ trong gia đình đến các buổi nhóm thờ phượng.

Ban chứng đạo đầu tiên của Hội Thánh Hà Nội, 1930 38

Cũng trong thời gian này, có những phép lạ liên tiếp xảy đến khiến chúng tôi
hết sức phấn khởi, nức lòng ngợi khen Chúa. Lúc ấy vào khoảng thượng tuần tháng
11-1928. có một người từ Gia Thượng, huyện Gia Lâm ở bên kia cầu Long Biên
thình lình đến nhà thờ tìm tôi. Ông tự giới thiệu ông tên là Hoàng Văn Ngô, muốn
đến nhờ tôi can thiệp giùm cho việc gia đình ông. Ông kể cho tôi biết, ông có một
người em gái bị bà gia bức tử phải nhảy xuống giếng chết, ông đến tìm sự an ủi nơi
Chúa và xin sự giúp đỡ của Mục sư. Tôi an ủi ông và lấy lời Thánh Kinh giải bày cho
ông rõ về lẽ đạo cứu rỗi, và luôn tiện báo cho ông hay là linh hồn ông đang bị ma
quỷ bức bách, cố đẩy vào hố sâu của tội lỗi. Nhận thức được tình yêu thương của

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 39

Chúa, ông Ngô bằng lòng tin nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa của mình. Sau đó 39
ông chỉ đường cho tôi đến nhà ông (vì nhà ông ở trong làng nên không có địa chỉ
rõ rệt).

a) Cứ điểm làng Gia Thượng

Qua ngày sau, tôi đạp xe đạp qua cầu Long Biên, rẽ vào con đường đê đến làng
Gia Thượng để tìm nhà ông Hoàng Văn Ngô, người tín đồ vừa mới tin nhận Chúa.
Trong lúc đi tìm, tôi lại gặp một bô lão trong làng, tôi dừng lại hỏi thăm thì cụ ân
cần mời tôi về nhà cụ để hỏi thêm về đạo Chúa.

Nếu ông Hoàng Văn Ngô không đến Hà Nội mời tôi, thì biết đến bao giờ tôi mới
có dịp đến làng Gia Thượng. Đến nhà cụ thì trời đã chiều, tôi liền lấy Thánh Kinh
giải bày Tin Lành và chân lý cứu rỗi cho gia đình cụ nghe. Cụ hăng hái đem luân lý
Khổng Giáo và triết lý Phật giáo ra thảo luận với tôi. Tôi bèn đọc và cắt nghĩa Ro
6:23 cho cụ rõ: “Vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” và
“Tiền công của tôi lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống
đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.” Sau một hồi thảo luận, cuối
cùng tôi hỏi cụ: “Đức Chúa Jêsus là Tin Lành, là ơn cứu rỗi đối với gia đình cụ. Vậy
cụ có bằng lòng tin nhận Chúa không?” Cụ tỏ ý bằng lòng và hôm ấy chín người
trong gia đình cụ đều quỳ gối cầu nguyện tin nhận Chúa. Cụ già đây chính là cụ
Nguyễn Thiện Đạo thân sinh của các Mục sư Nguyễn Thiện Mân, Mục sư Nguyễn
Thiện Sỹ và là nhạc phụ của Truyền đạo Đặng Đức Thụ sau này. Sự kiện xảy ra trên
đây thật chẳng khác nào câu chuyện Chúa sắp đặt đưa Phi-e-rơ đến thành Sê-sa-rê
để gặp gia đình Cọt-nây vậy.

Chúng tôi ngợi khen Chúa và sau đó từ giã gia đình cụ để về Hà Nội vì trời đã
tối. Trên đường đê qua cầu Long Biên, dù bị gió ngược, nhưng tôi cảm thấy như có
người đẩy, nên đạp xe không biết mệt. Sáng Chúa nhật ngày 18-11-1928, sau giờ
giảng tôi thuật lại cho Hội Thánh nghe câu chuyện trên đây. Tất cả đều phấn khởi
nhất là đoàn thanh niên trong ban Chứng đạo, họ sốt sắng đòi đi thăm gia đình cụ
Nguyễn Thiện Đạo ngay buổi chiều hôm đó. Chúng tôi liền tổ chức xe cộ để đi, mỗi
người một chiếc xe đạp.

Cuộc viếng thăm chiều hôm ấy ít ra cũng tạo được hai lợi điểm cho công việc
Chúa tại Hà Nội. Về phần tín đồ khi nhìn thấy dinh cơ của cụ, nhận biết ngay cụ là
bô lão có uy tín trong làng và nhất là nghe cụ tin nhận Chúa, khiến mọi người đều
phấn khởi, mừng rỡ nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc phân phát sách
báo chứng đạo. Về phần gia đình cụ Nguyễn Thiện Đạo, khi thấy đoàn người đến
thăm cụ là những học sinh trung học, phán sự, giáo sư, thương gia, những người
từng sống trên nhung lụa lại có lòng chiếu cố lặn lội đến thăm cụ, khiến cụ rất cảm
động và nhận thấy tình yêu của Chúa thể hiện trong con người. Từ đó, sáng Chúa
nhật nào gia đình cụ Nguyễn Thiện Đạo cũng trung tín vượt con đường dài hơn

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 40

năm cây số để đến Hà Nội nhóm thờ phượng Chúa. Đôi khi cũng đến dự các buổi 40
nhóm cầu nguyện vào tối thứ tư nữa.

Câu chuyện gia đình cụ Nguyện Thiện Đạo làng Gia Thượng theo đạo Tin Lành
đồng một lúc với những người trong các làng khác, đã trở nên một biến động
không những người trong làng trong huyện mà còn lan ra cả tỉnh Bắc Ninh và thành
phố Hà Nội. Mỗi tuần hai lần, chúng tôi qua Gia Thượng giảng và chứng đạo. Chúa
đã gọi một số người trong vùng đó đến với Ngài. Trước tiên là các bô lão, rồi kế
đến là ông Lý Trưởng làng Gia Thượng, ông Tham tá điền địa và bà mẹ, cụ Mai Hiên
vị lương y nổi tiếng trong vùng, ông Ngô Thạch Đính giáo học và là em ruột nhà văn
nổi tiếng Ngô Tất Tố, cùng một số cựu quân nhân cầu nguyện tin nhận Chúa. Về
sau có người trở nên nhà truyền đạo rất đầy ơn. Tiếp đến, các ông Hội đồng xã lân
cận đến nghe và tất cả đều tiếp nhận Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ.

Nhà cụ Nguyễn Thiện Đạo bấy giờ trở nên nhà giảng tạm. Hai cụ Nguyễn Thiện
Đạo và Lê Văn Khánh thì trở nên hai nhà truyền đạo không có bổ chức và không
lĩnh lương tại vùng Gia Lâm lúc đó (tôi rất vui mừng viết những dòng nầy nhắc lại
công việc Chúa tại quê hương cụ Nguyễn Thiện Đạo và cụ Lê Văn Khánh. Hiện nay,
gia đình cụ Nguyễn Thiện Đạo đang sống ở Khánh Hội và gia đình cụ Khánh cũng
đang ở Sài Gòn).

Sỡ dĩ công việc có kết quả mau chóng và lớn lao như vậy là vì một biến động
xảy ra trong gia đình cụ Nguyễn Thiện Đạo. Ấy là cụ cố, thân sinh cụ Nguyễn Thiện
Đạo qua đời sau khi cụ Nguyễn Thiện Đạo tin Chúa hai tuần lễ. Chiều Chúa nhật
hôm đó trong chương trình thăm viếng thường lệ, chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy
trong nhà cụ có rất đông người lại có các nhà sư đang tụng kinh và có quan tài đặt
giữa nhà. Cụ Nguyễn Thiện Đạo chạy ra tiếp đón chúng tôi và cho biết cụ cố qua
đời trưa thứ sáu. Cụ chưa biết thể lệ Hội Thánh ra sao. Cụ định cất đám chiều nay
theo thể lệ cũ, có họ hàng làng xóm đưa đón và các sư sãi tụng kinh. Sau khi thay
mặt Hội Thánh có lời chia buồn cùng gia đình, tôi xin phép tang gia cùng quý vị sư
được nói vài lời. Mọi người đồng ý. Tôi liền tiến đến cạnh bàn thờ, trước mặt các vị
sư ngồi tụng kinh để giảng một bài giảng ngắn. Tôi dùng Ro 6:10-11, lấy ba chữ
“NGÀI ĐÃ CHẾT” làm đề mục, nhằm giải bày cho tang gia cùng mọi người đến dự
về ý nghĩa sự chết của Chúa Jêsus. Ngài đã chết cho tội lỗi một lần đủ cả, nhưng
hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời. Cụ cố đây đã chết, chúng ta mỗi
người rồi đây cũng chịu chung một hoàn cảnh như cụ, không ai có thể thoát khỏi.
Tôi nài xin tất cả mọi người hiện diện hôm ấy hãy kể mình như chết đối với tội lỗi
bởi đức tin, tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Đức Chúa Trời hằng sống. Hãy dứt
bỏ tội lỗi, để sống một đời sống xứng hiệp với mệnh lệnh và dạy dỗ của Ngài. Sau
bài giảng mọi người đều lo đưa đám nên không ai tin Chúa nhưng những ngày kế
tiếp có nhiều người lần lượt đến với Ngài.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 41

Khi đã có nhiều người trong vùng tin nhận Chúa thì ngôi nhà của cụ Nguyễn 41
Thiện Đạo trở nên nhà giảng đầu tiên của huyện Gia Lâm. Nhưng đó cũng chính là
khởi điểm của phong trào bắt bớ đạo Chúa. Số là sau cuộc cách mạng chống Pháp
do Nguyễn Thái Học bùng nổ, nhà cầm quyền lúc bấy giờ trở nên dè dặt nghi ngờ,
nhất là đối với những cuộc hội họp ban đêm. Trong khi đó tất cả các tín đồ đều
hăng say phục vụ Chúa, nên các buổi nhóm ngày càng đông. Dân làng lời ra tiếng
vào thấu đến tay huyện đường rồi đến công sứ tỉnh Bắc Ninh. Chính quyền địa
phương muốn ngăn cản việc giảng đạo tại làng Gia Thượng bằng cách áp dụng sắc
lệnh của toàn quyền Đông Dương ký vào thượng tuần tháng 11-1915. Sắc lệnh này
nhằm mục đích cấm các Hội Truyền giáo hoạt động giữa người bản xứ. Người trực
tiếp thi hành lệnh cấm đó tại làng Gia Thượng không ai ngoài ông lý trưởng. Vì ông
lý trưởng đã cầu nguyện tin Chúa rồi, nên chúng tôi cứ tổ chức giảng chiều Chúa
nhật và tối thứ năm như thường. Một tối nọ, tôi giảng cho một nhà gần nhà ông lý
trưởng có rất đông người đến dự (đông hơn thường lệ). Khi giảng xong tôi bỗng
nghe có tiếng tù và thổi và tiếp theo đó có tiếng mỏ và tiếng trống. Tôi đang suy
nghĩ không biết chuyện gì thì có bốn người cầm gậy và dây đến nói với tôi: “Ông lý
mời ông lên trên điếm (tức điếm canh).” Đến nơi tôi thấy có rất đông người tề tựu,
có nhiều người cầm gậy và dây đứng vòng tròn. Ông Lý trưởng đang ngồi trên bộ
ván giữa. Tôi đi thẳng vào chào ông và hỏi: “Sao tối nay ông không đi nhóm thờ
phượng Chúa?.” Ông ngồi yên không trả lời. Tôi ngồi trên ván đối diện với ông (dù
ông không mời tôi ngồi), ông Lý có vẻ tức lắm nên hỏi tôi: “Ông là ai?” - Tôi trả lời:
“Tôi là mục sư Tin Lành ở Hà Nội và bạn ông Lý Phát.” Ông Lý có vẻ càng tức hơn
nên hỏi vặn tôi:

- Ông có biết lệnh quan Tổng đốc và quan Công sứ cấm không được giảng đạo
trong làng không?

- Tôi có nghe, nhưng lệnh đó không cấm tôi. Ông ngạc nhiên:

- Sao vậy?

Tôi giải thích cho ông rõ, lệnh đó chỉ cấm người ngoại quốc và bảo hộ chứ
không cấm dân thuộc địa Pháp, mà tôi là dân thuộc địa Pháp. Tôi đưa cho ông xem
giấy thông hành của tôi, sinh trưởng tại Tourane (Đà Nẵng). Tourane lúc bấy giờ là
nhượng địa của Pháp (Terre de concession Francaise). Như vậy tôi là dân thuộc địa
chứ không phải dân bảo hộ (Protectorat). Do đó giấy thông hành của tôi được
hưởng quy chế hành chánh rộng rãi hơn, không quá lệ thuộc vào triều đình Huế.
Đây là lần thứ nhất – như Phao-lô ngày xưa – tôi dùng quyền công dân của mình để
phủ nhận cách thức thi hành luật lệ của ông Lý trưởng làng Gia Thượng. Ông Lý
không biết làm cách nào khác hơn nên nói: “Vậy ông phải về Hà Nội chớ không
được ở đây.” Rồi quay sang dân làng, ông ra lệnh: “Anh em đưa ông ra khỏi làng
đi.” Lúc đó hơn mười một giờ đêm. Tôi đứng dậy bắt tay ông Lý và nói: “Rất cám ơn
ông, bây giờ tôi về. Thứ năm sau tôi đến giảng, mời ông đi nhóm.”

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 42

Tối hôm đó, các cụ già và một số anh em tín đồ cùng đi Hà Nội với tôi, sáng
hôm sau mới trở về làng. Trước khi đi ngủ tất cả chúng tôi đều nhóm nhau để cầu
nguyện cho ông Lý Phát và những người nghe giảng.

Anh em Hội Thánh Hà Nội đi thăm làng Gia Thượng 42

Như thường lệ, thứ năm sau chúng tôi trở lại làng Gia Thượng để giảng. Không
ai ra mặt bắt bớ, nhưng họ ngầm ngăn trở không cho đồng bào đến nghe. Nhưng
thói thường, hễ cái gì cấm đoán thì người ta lại thích, nên đồng bào lén lút đến
nhóm ngày càng đông hơn. Lúc bấy giờ không biết nghĩ sao, nhà cầm quyền lại
khuyên chúng tôi nên giảng chỗ nào đã có tín đồ và giảng nơi có nhà giảng riêng
chứ không được mỗi tuần giảng một nơi khác nhau. Do đó, chúng tôi phải cất một
cái nhà riêng trong vườn cụ Nguyễn Thiện Đạo để mỗi chiều Chúa nhật chúng tôi
đến giảng và tổ chức các buổi nhóm cầu nguyện. Nhưng mỗi lần như vậy đều có
lính khố xanh do người Pháp điều khiển phái đến coi chừng. Sự kiện đó đã khiến
cho dân làng ở những vùng lân cận e ngại không dám đến nghe giảng nữa.

Một buổi chiều Chúa nhật nọ, không biết các mật báo viên báo cáo với quan
trên thế nào mà lính khố xanh đến rất đông, dân làng cầm dây và gậy đến vây nhà
giảng. Chúng tôi nghe họ xầm xì với nhau là ông đồn trưởng người Pháp từ Bắc
Ninh sẽ đến. Nhưng không biết ai cho ông Giáo sĩ Cadman hay, nên ông từ Hà Nội
đến bảo tôi: “Ông để tôi giảng hôm nay.” Khi Giáo sĩ Cadman đang giảng, tín đồ
chăm chú ngồi nghe, thì dân làng và lính khố xanh vây quanh nhà giảng, còn ông
đồn trưởng người Pháp thì đến đứng ngay cửa ra vào. Khi giảng xong, chúng tôi đến
chào ông thì ông hỏi: “Số người ngồi trong nhà giảng hết thảy là tín đồ phải
không?.” Chúng tôi trả lời phải. Ông lại hỏi: “ Những người đứng quanh nhà giảng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 43

có phải là tín đồ không?.” Chúng tôi trả lời không. Ông quay ra bảo họ: “Không
phải tín đồ thì đi chỗ khác, về nhà - đứng đây làm gì.” Tức thì lính khố xanh dồn lại
một góc, dân làng cầm gậy và dây ra về. Ông Lý Phát đứng gần ông đồn trưởng vẻ
mặt tư lự . Tôi nhận thấy ông đang ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nếu
bước vào nhà giảng để tỏ mình là tín đồ thì sợ làng, sợ dân, sợ quan huyện cất
chức. Ông nhìn tôi và khi nghe ông đồn trưởng người Pháp ra lệnh ai là tín đồ vào
nhà giảng, còn ai không phải đi về, ông bước ra đi luôn tôi buồn rầu nghĩ đến
chuyện người trai trẻ chép trong Mat 19:22: “Khi người trẻ nghe xong lời này, thì đi vì
chàng có của cải nhiều lắm.” Hai người này tuy có cùng một trường hợp nhưng nguyên
nhân khác nhau: Một người vì của cải và một người vì quyền lợi.

b) Nới rộng vùng hoạt động.
Sau đó ít lâu, Hội Thánh mướn một căn nhà tại phố Gia Lâm, để cho việc giảng
Tin Lành được phổ biến rộng rãi hơn, và anh em tín đồ trong những vùng lân cận
giao thông với nhau cũng dễ dàng hơn. Hai cụ Nguyễn Thiện Đạo và Lê Văn Khánh
phụ trách thăm viếng và chứng đạo, mỗi tuần chúng tôi qua giảng hai lần. Ít lâu
sau, Ban Trị sự chung bổ nhiệm ông bà mục sư Nguyễn Thiện Sỹ đến làm mục sư
cho Hội Thánh này một thời gian.
Bấy giờ Chúa biết công việc ở Hà Nội cần được phát triển hơn nữa, nên Ngài
chuẩn bị đưa bà H. H. Dixon đến. Lúc đầu Hội truyền giáo gởi bà H. H. Dixon sang
Việt Nam làm giáo sư dạy Giáo sĩ Đà Lạt. Được biết Đức Thánh Linh đang nhen lại
ngọn lửa giữa đống tro tàn tại miền Bắc nên bà ra thăm Hà Nội. Khi đến nơi bà
bỗng cảm động và tình nguyện ở lại giúp đỡ chúng tôi phục vụ Chúa. Năm lần bảy
lượt, và hết viết thư cho Hội Truyền giáo ở Đông Dương, lại viết cho văn phòng Hội
Truyền giáo ở NewYork. Rốt cuộc, Ban Trị sự phải chấp thuận theo ý Chúa, vì bà
quyết ở lì tại Hà Nội và không về Đà Lạt nữa.

43

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 44

Lớp Thánh Kinh Tiểu Học do bà Homera Homer Dixom mở tại Hà Nội 44

Từ đó, cái lò sưởi của Hội Thánh Hà Nội (giờ cầu nguyện) như được tăng thêm
củi, ơn Chúa gia tăng gấp bội không những đủ sức ấm cho Hà Nội mà còn có thể
lan ra khắp các tỉnh miền Bắc nữa. Mùa thu năm 1929, bà H. H. Dixon khởi sự lo tài
chánh để mở các nhà giảng nhánh tại thành phố Hà Nội, thuê một nhà giảng mới ở
phố Route de Huế gần nhà diêm nằm ở phía Nam thành phố, một nhà ở Hàng
Than phía Bắc, một nhà ở phố Ô Cầu Giấy phía Tây và mở một phòng đọc sách ở
phòng tín đồ cạnh bờ sông phía Đông Hà Nội. Rồi bà lại mở một nhà giảng khác ở
phố Khâm Thiên (Khu phố ăn chơi nhất Hà Thành) nằm về phía Tây Nam Hà Nội và
một nhà giảng nữa tại phố Hàng Bột cũng thuộc vùng này.

Như vậy, chúng tôi có cả thảy một nhà thờ, tám nhà giảng và hai phòng đọc
sách. Tại những địa điểm trên đây, mỗi tuần phải mở cửa giảng hai lần và một lần
cầu nguyện. Như vậy, trung bình chúng tôi có cả thảy (9x3=27) 27 buổi nhóm.
Công việc thật bề bộn, mà chúng tôi chỉ có hai người - bà H. H. Dixon và tôi - nên
phải nhờ Ban chứng đạo và những người làm việc trong nhà in phụ giúp.

Về sau, Hội Thánh bổ nhiệm ông truyền đạo Đặng Đức Thụ đi Route de Huế.
Chúng tôi nhờ cụ Lê Văn Cúc phụ trách ở phố Hàng Than, cụ Lê Văn Khánh ở Khâm
Thiên, ông Đỗ Như Bảo ở Cầu Giấy một thời gian. Còn tôi và bà H. H. Dixon thì đi
giảng mỗi đêm. Có đêm phải giảng hai chỗ, chỗ này từ bảy đến bảy rưỡi, nơi khác
từ tám đến tám rưỡi. Vì thời gian eo hẹp nên bài giảng của chúng tôi chỉ từ hai
mươi đến hai mươi lăm phút. Kết quả thật quý báu, hạt giống Tin Lành được gieo ra
khắp thành phố đến các vùng ngoại ô hẻo lánh như Gia Lâm, Bạch Mai, Ô Cầu

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 45

Giấy, Ô Yên Phụ, Thái Hà Ấp, Ô Cầu Đền và Hà Nông. Nơi nơi đều có hạt giống Tin 45
Lành và có nhiều người trở lại tin nhận Chúa.

Nhà thờ Hà Nội ở góc đường Phạm Phú Thứ và Ngõ Trạm Mới (Bourret cũ)
không còn thích hợp với tình trạng mới của Hội Thánh. Mỗi Chúa nhật các tín đồ
đến nhóm đông đảo đến nỗi không còn chỗ đứng. Chúng tôi đề nghị nới rộng nhà
thờ. Mọi người đều hưởng ứng cách vui vẻ. Chúng tôi quyết định mở sổ lạc quyên
và đồng thời khởi sự bắt tay vào việc bằng cách đập phá bức tường phía sau chỗ
đứng giảng, làm một ngôi nhà mới chiều dài mười thước, chiều rộng bảy thước,
thành thử nhà thờ lúc bấy giờ có hình thập tự giá rất đẹp - phần dưới sáu thước x
mười thước, phần trên bảy thước x mười thước (đây là lần nới rộng đầu tiên). Khi
công việc hoàn tất cụ Mục sư Hoàng Trọng Thừa viết thư chúc mừng, trong thư cụ
nhắc lại lời nói của tôi trong ngày tôi thụ phong Mục sư tại Hà Nội, ngày 28-11-
1928. Số là sau lễ phong chức, ban Hội đồng còn đang đứng trong nhà thờ nói
chuyện thì có một người hỏi tôi: “Nhà thờ hẹp quá, nếu có thêm tín đồ thì ông tân
Mục sư nghĩ sao?” Tôi trả lời: “Nới rộng nhà thờ.” Cụ Thừa nhắc lại câu hỏi ấy, và
tiếp: “Chúa đã làm thành sự ước nguyện của ông.”

Trong thời gian ấy, cụ Mục sư Nguyễn Xuân Diệm đến hầu việc Chúa tại làng Tự
Nhiên, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Đến mùa đông 1929 cụ đi Nam Định để thuê
một căn nhà ở phố Hàng Đồng để làm nhà giảng vì có một số người mới tin Chúa.
Những người này tiếp nhận chân lý, một phần do các người bán sách và làm chứng
trên tàu thủy đường Nam Định - Hải Phòng, một phần có người nhà là tín đồ nên
thúc đẩy họ đến với Chúa như gia đình làm việc ở nhà bác Cổ, thư ký sở hỏa xa Hà
Nội hoặc phán sự tòa sứ Quảng Yên.

c) Phát động phong trào truyền giáo tại Bắc Việt

Vào cuối tháng 6-1929, tôi được đề cử giữ thêm chức vụ Phái viên Trung Bắc
Hạt. Công việc đã đa đoan lại còn phải góp thêm vào nhiều thì giờ với các Ban Trị
sự để mở mang các chi hội trong Hạt.

Tháng 5-1931, Hội đồng Tổng Liên Hội lần thứ 9 nhóm và biểu quyết chia Trung
Bắc Hạt ra làm hai Hạt vì sự lớn mạnh nhanh chóng của các chi hội. Cách thức
phân chia lúc bấy giờ là làm thế nào để hoạt động cho thuận tiện chớ không theo
địa dư hành chánh, nên tỉnh Thanh Hóa (miền Trung) lại tùy thuộc phạm vi hoạt
động của Bắc Hạt. Tôi (Mục sư Lê Văn Thái) được cử làm Chủ nhiệm Bắc hạt trong
kỳ Hội đồng này.

Như chúng ta đã biết, tháng 8-1928 chỉ có hai người Việt Nam được giáo hội bổ
chức giảng Tin Lành cho cả miền Bắc. Nhưng tạ ơn Chúa, từ cuối năm 1929 đến
đầu năm 1933 có đến bốn mươi gia đình Mục sư Truyền đạo được giáo hội sai phái
ra Bắc để rao truyền chân lý của Tin Lành. Kết quả sơ khởi của đoàn người này, vào
tháng 7-1934 đã khai trình trước Hội đồng Tổng Liên Hội lần thứ 12 nhóm tại

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 46

Tourane là năm trăm bảy mươi người tin Chúa sau bốn năm hoạt động tích cực. Sự
kiện này đương nhiên nói lên ý nghĩa của câu: “Những bàn chân kẻ rao truyền Tin Lành
tốt đẹp biết bao” (Ro 16:15). Chúng tôi thật sự được khích lệ trong công tác rao truyền
Tin Lành. Lúc bấy giờ, sinh lực của Hội Thánh như tuôn tràn bất tận. Tất cả mọi
người đều hăng say phục vụ, kiên nhẫn và tha thiết với công việc nhà Ngài.

Quang cảnh Đại hội đồng Tổng Liên, nhóm tại Hà Nội, tháng 4 năm 1936 46

Sau hai khóa hầu việc Chúa tại Hà Nội và nhất là sau khi nhận lãnh trọng trách
của Địa hạt, chúng tôi được Chúa ban khải tượng mới. Hội Thánh Hà Nội lúc bấy
giờ đã vững về cả hai phương diện: tự trị và tài chánh. Trong khi đó thì tôi nhận
thấy đồng bào miền Bắc chẳng khác nào một trũng hài cốt khô, có da, có thịt, có
gân chỉ cần hơi thở nữa là sống (Ê-xê-chi-ên 37), nên tôi tình nguyện biệt riêng để
giảng Tin Lành cho đồng bào miền Bắc và mở Hội Thánh mới (lúc bấy giờ ông Mục
sư Huỳnh Văn Ngà đã được biệt riêng để giảng Tin Lành cho miền Nam).

Được chấp thuận, chúng tôi liền rời Hà Nội để đi Bắc Giang (năm 1933). Lúc
đầu, chúng tôi thuê một căn nhà ở phố Nghĩa Long nằm khoảng giữa dinh Tổng
đốc và dinh Công sứ. Khởi sự, chúng tôi mở giảng bố đạo liên tiếp hai tuần lễ vào
mỗi tối. Một số đông đồng bào trong tỉnh và những vùng phụ cận đến dự thính,
trong số đó có cả mật thám và nhân viên chính quyền. Phòng giảng Tin Lành tại
đây trở nên chỗ thảo luận rất thoải mái về giáo lý, luân lý, tín ngưỡng cùng cách
thờ phượng của đạo Tin Lành. Trong dịp này, đặc biệt có ký giả Minh Tước viết báo
ở Hà Nội, mỗi lần về thăm gia đình ở phủ Lạng Giang đều ghé với chúng tôi vài
ngày. Có lần ông đã mời nhà văn Nhất Linh đến thăm chúng tôi. Gia đình nhà văn
Lê Văn Chương cũng mới về Bắc Giang ở gần nhà giảng nên thường tới lui đàm đạo
với chúng tôi luôn.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 47

Sau ba tháng giảng Tin Lành, kết quả có bảy mươi hai người tin nhận Chúa. 47
Trong số đó có mười lăm người thích xem Thánh Kinh, biết cầu nguyện và khởi sự
dâng tiền hầu việc Chúa - trong đó có ký giả Minh Tước. Lúc bấy giờ một mặt tôi
xúc tiến chương trình đi giảng phục hưng và bố đạo, một mặt lo củng cố Hội Thánh
Bắc Giang. Nhận thấy công việc Chúa quá bề bộn, nên giáo hội bổ ông Trần Viết
Dụ đến Bắc Giang phụ tá cho tôi lo việc giảng dạy và chăm nom phòng sách.
Chúng tôi quay sang xúc tiến việc mua đất để cất nhà thờ. Lúc bấy giờ cụ Đô Kỳ
thân sinh nhà văn Lê Văn Chương có một khoảng đất rất tốt, rộng hai mươi bảy
thước và dài ba mươi lăm thước nằm dọc theo đường Nghĩa Long cùng phố với căn
nhà chúng tôi đang thuê để giảng. Vì là chỗ quen biết nên chúng tôi đến điều đình
xin mua rất dễ dàng. Cụ bằng lòng bán giá tượng trưng cho Hội Thánh. Chúng tôi
khởi sự xây cất nhà thờ trên khoảng đất mới ấy.

Tuy nhiên, trọng tâm của tôi lúc bấy giờ là làm thế nào thực hiện cho kỳ được
chương trình khai quật “TRŨNG ĐẦY HÀI CỐT” (Exe 37:1-3) để đem sinh lực thuộc
linh đến cho những thân người bất động của miền này. Thế là tôi hoạch định một
chương trình để hoạt động. Chương trình ấy có thể giản lược như sau: Tôi đi liên
tiếp suốt bốn tuần lễ để giảng phục hưng và bố đạo tại bốn tỉnh giáp liền nhau như
Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên và Hải Dương. Ban ngày cầu nguyện và giảng cho
tín đồ, ban đêm giảng cho người chưa tin Chúa. Tỉnh nào có một hoặc hai nhà
giảng nhánh thì phân chia thì giờ nhóm chung lại một chỗ để vừa phục hưng vừa
bố đạo. Sau bốn tuần đi các tỉnh trên đây, tôi trở lại Bắc Giang một tuần, rồi lại đi
bốn tuần nữa theo một hướng khác như: Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Thái
Bình. Tuần tự như vậy tôi đến Lạng Sơn, Cao Bằng, Nước Hai, Tiên Yên rồi trở về
Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh. Công việc tiến hành đều đặn, như vậy gần hai
năm thì nhà thờ Bắc Giang cũng vừa xây xong. Ban Trị sự Tổng Liên Hội liền bổ
nhiệm ông Lưu Văn Mão đến làm mục sư tại đây. Cám ơn Chúa.

Đến cuối mùa hạ năm 1935 tôi được lệnh phải trở về Hà Nội vì Hội Thánh ở đây
có thư mời, hơn nữa có nhiều việc phải giải quyết. (Đây là lần thứ hai tôi làm mục
sư tại Hà Nội). Như vậy, một mình tôi kiêm nhiệm ba công tác vừa lo công việc cho
Địa hạt, vừa truyền đạo lưu hành vừa là mục sư Hội Thánh Hà Nội. Chờ khi tình
hình Hội Thánh được ổn định, tôi lại tiếp tục xúc tiến chương trình đã được khải
tượng “TRŨNG ĐẦY HÀI CỐT KHÔ.” Kiểm điểm lại quá trình sau mấy năm hoạt
động truyền đạo lưu hành, tôi nhận thấy Chúa đã ban ơn rất nhiều. Từ Hà Nội theo
đường Gia Lâm, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An đến Quảng Yên giáp biển đều có
nhà giảng và tín đồ ở rải rác. Nếu theo hướng Bắc Ninh, Đấp Cầu, Bắc Giang, Đồng
Mô, Lạng Sơn, Cao Bằng lên đến Nước Hai tiếp giáp Trung Hoa thì cũng gặp nhà
giảng và những người tin Chúa. Còn từ Hà Nội theo quốc lộ vào Nam, qua Thường
Tín, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa đến Bái Thượng tiếp giáp dãy Hoàng
Sơn đều có nhà thờ và tín đồ. Giảng đường mọc lên như nấm dọc theo đường Cầu
Giấy, Đền Voi Phục, Sơn Tây, Hưng Hóa. Từ Hà Nội đi Chùa Hương thì có nhà giảng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 48

ở Hà Đông, Chợ Bờ, [1]. Chỉ còn lại con đường rẽ từ cầu Sông Đuống qua Yên Viễn, 48
Đông Anh qua Nội Duệ, Cổ Loa Thành đến Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái,
Lao Kay, Sa Pa là chưa có nhà giảng và chưa có người tin Chúa, (ngoại trừ ba người
ở làng Nội Duệ làm việc tại ga Gia Lâm, và ngôi nhà của bà H. H. Dixon dùng làm
nhà giảng cho người Mèo, ở Sa Pa).

Ngày nọ, chúng tôi tìm dịp đến thăm mấy anh em trong làng Nội Duệ rồi sau đó
lên thẳng Yên Bái thuê nhà để giảng. Nhìn thành phố Yên Bái tôi bỗng nhớ lại
những chiến tích oai hùng của thời cách mạng năm 1930. Yên Bái đã đi vào lịch sử.
Yên Bái đã đi vào lòng người với những cảm tình rất đậm không bao giờ phai. Khi
xe lửa về đến Đông Anh, nhìn về hướng tây, tôi bỗng thấy một gò đất cao nổi lên
giữa cánh đồng bao la bát ngát, đó là nền của thành Cổ Loa ngày xưa. Nhìn những
di tích lịch sử, tôi bỗng nhớ lại cảnh tượng “Điêu Tàn Của Đế Thiên Đế Thích” cảnh
tượng mà Chúa đã cảm động lòng tôi, bắt buộc tôi phải đi Hà Nội để truyền “SỰ
SỐNG CHO NHỮNG BỘ XƯƠNG KHÔ TRONG TRŨNG HÀI CỐT.”

Lịch sử trở về với tôi bằng những hình ảnh hào hùng, kích thích từng tế bào
trong mạch máu. Đất nước tôi, dân tộc tôi, nòi giống tôi! Tôi sung sướng sống
trong niềm kiêu hãnh đó, nhưng linh hồn tôi không thể lìa xa con đường dẫn đến
Gô-gô-tha. Con đường Thập tự giá, con đường của sự chết để được sống. Tôi thích
bài ca của Mục Sư Tống Thượng Tiết vị bác sĩ bằng lòng vứt bỏ tất cả những mảnh
bằng để theo Chúa Jêsus. Bài đoản ca nhưng có đủ năng lực để thúc đẩy tôi tiến
trên con đường mà tôi đang đi:

“Đông hư không,

Tây hư không,

Nam hư không,

Bắc hư không,

Thay thảy luống hư không

Chỉ linh công còn hoài.”

Đến giữa năm 1935-36, bỗng nổi lên một phong trào thật sôi động mệnh danh
là phong trào Phục Hưng miền Bắc. Nơi đây xảy ra biến cố nằm giữa hai tỉnh Hà
Đông và Sơn Tây, ngay chỗ có dòng nước xoáy con sông Hát (tức sông Hát Giang).
Tục truyền rằng Hai Bà Trưng đã tự ải tại đó. Gần đấy là làng Hát Môn – giữa làng
có một nhà giảng Tin Lành với sáu, bảy gia đình tín đồ, thỉnh thoảng họ đi Hà Nội
hoặc Sơn Tây để nhóm. Làng nầy ở vùng ngoại đê nên không có gì bảo đảm đối với
mực độ nước lên xuống bất thường tại miền Bắc. Cho nên, mùa nước nầy thấy cả
một làng trù mật đó, thì mùa nước sau có lẽ sẽ biến thành ruộng dâu cồn bắp cũng
nên. Vì thế, dân làng luôn luôn sống trong phập phồng lo sợ. Phần đông là những
người dân cần cù lam lũ nên rất dễ bị lợi dụng lừa bịp.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 49

Nhận thấy trong vùng đó, tại những làng Thọ Lão, Thượng Mỗ và Hạ Mỗ có 49
người tin Chúa khá đông, nên một số người ở các làng lân cận tự động đứng lên tổ
chức dựng rạp, treo cờ, bày hương án rồi đi mời Giáo sĩ W. A. Pruett ở Hà Nội đến
giảng. Trong vòng ba tháng họ đưa ra một bản danh sách hơn ba trăm người cầu
nguyện tin Chúa. Có điều mờ ám là không hiểu họ lợi dụng hoặc tuyên truyền cách
nào mà mỗi người dân trong hạn tuổi đóng thuế thân đều nộp cho họ hai đồng để
nhờ đóng hộ. Lúc bấy giờ chính quyền thu thuế thân mỗi người hai đồng ba cắc
thay vì hai đồng, nên dân chúng được lời ba cắc lại khỏi phải đến làng xã mất công,
nên họ sốt sắng nộp tiền không cần suy nghĩ thiệt hơn gì cả. Thu tiền xong, thay vì
đem đóng thuế cho chính quyền theo luật định, những tay hoạt đầu tôn giáo nầy
lươn lẹo với nhau, bằng cách đến nhờ Giáo sĩ can thiệp với viên Công sứ Pháp xin
miễn thuế cho “tín đồ” với lý do nước dâng cao, hoa màu bị thiệt hại.

Ông Đỗ Phương lúc bấy giờ là truyền đạo ở Sơn Tây rất vất vả về vụ nầy. Hay
tin, tôi đã về đó nhiều lần, một mặt khuyên giải anh em, mặt khác tuyên bố không
công nhận bản danh sách tín đồ do họ đưa ra. Tôi xin mỗi người hãy tin nhận Chúa
cách cá nhân – nếu ai thật sự biết mình có tội và bằng lòng lìa bỏ tội bởi tiếp nhận
Đức Chúa Jêsus làm Cứu Chúa và thờ phượng Đức Chúa Trời thì chúng tôi cầu
nguyện cho và biên tên vào danh sách mới. Còn việc đóng thuế chúng tôi không
thể lo, nhưng mỗi người tự lo lấy bằng cách đóng thẳng cho chính quyền. Sau khi
nghe chúng tôi giải thích rõ ràng, những người đã lỡ đưa tiền liền đi tìm những
người kia để đòi lại. Không ăn được tiền, còn bị bẻ mặt, những người nầy đâm ra
tức, do đó họ lập mưu để giết tôi bằng cách cho người đón tôi trên đê. Họ biết
chắc mỗi tháng tôi đều về thăm và giảng trong vùng đó, và hơn nữa họ còn biết rõ
chương trình từng giờ của tôi, nên tổ chức ám sát không có gì khó khăn cả.

Sáu giờ chiều hôm đó, tôi giảng ở Thọ Lão. Đến bảy giờ rưỡi ông Đỗ Phương và
tôi định sẽ dùng xe đạp để đến Hạ Mỗ khánh thành phòng giảng tại nhà một ông
nguyên chánh tổng. Nhưng khi giảng gần xong thì một cơn mưa to ào ào trút
xuống. Chúng tôi đợi một giờ rưỡi, hai giờ đồng hồ – mãi đến chín giờ tối mà trời
vẫn còn mưa lớn. Vì đã hứa với cụ chánh tổng ở Hạ Mỗ nên chúng tôi quyết phải
đi, nhưng thay vì đạp xe theo đường đê, chúng tôi lại vác xe lội băng đồng từ Thọ
Lão đến Hạ Mỗ. Ông Phương đi trước tôi đi sau té tới, té lui bì bỏm giữa mưa và
nước, nhưng chúng tôi không chán nản, trái lại lòng cảm thấy rất hân hoan, nên
chúng tôi vừa đi vừa hát: “Đi từng bước, bước thẳng đi, có Chúa nữa không can
chi...” Mãi tới mười giờ đêm chúng tôi mới đến nhà ông Chánh Tổng. Nghe tiếng
chúng tôi, mọi người trong nhà đều chạy ra ôm lấy chúng tôi với nét mặt sợ hãi, hỏi
chúng tôi đi bằng cách nào. Nhìn thái độ mọi người, tôi rất ngạc nhiên không hiểu
có chuyện gì xảy ra. Cụ Chánh Tổng liền thuật lại âm mưu của bọn người rắp tâm
ám sát tôi. Họ đã cho nhiều người mai phục với đầy đủ dao mác trên đường đê từ
Thọ Lão đến Hạ Mỗ, chỗ phía dưới điếm canh một chút. Tôi hỏi sao cụ biết, thì cụ
nói các cháu định đến Thọ Lão để nhóm. Khi đi qua điếm canh, chúng tôi thấy

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 50

nhiều người núp sẵn sau điếm canh dao mác hẳn hòi, bảo là chờ Mục sư Lê Văn
Thái đi qua thì ra tay. Sắp nhỏ, chúng hỏi dân làng, họ cũng cho biết như vậy. Nghe
xong câu chuyện chúng tôi thật cám ơn Chúa. Chúa đã cho cơn mưa để bảo vệ đầy
tớ Ngài.

Dù kết quả tại các nhà giảng nhánh trong thành phố rất khiêm nhường, nhưng
cũng đủ để khiến cho các buổi nhóm Chúa nhật tại nhà thờ Hà Nội diễn lại cảnh
trạng của năm 1930 – nghĩa là tín đồ đến không có đủ chỗ đứng. Chúng tôi bèn đề
cập đến việc nới rộng nhà thờ lần thứ hai (1935). Các con cái Chúa ủng hộ nhiệt
liệt, nhất là anh em trong ban Chứng Đạo. Chúng tôi liền xúc tiến công việc theo đề
án đã được dự liệu, cho đến năm 1936 thì nhà thờ mới hoàn thành. Hai bức tường
trước được phá bỏ, đưa ra mỗi bên hai thước thành ra bề rộng mười thước. Trong
khi đó thì bề sâu cũng tăng thêm bảy thước. Như vậy sau hai lần nới rộng, nhà thờ
Hà Nội có kích thước mới: rộng mười thước, sâu hai mươi bốn thước và một tháp
chuông. Dưới tháp chuông là một phòng sách, cửa mở ra đường Ngõ Trạm Mới và
Hà Trung. Nhà thờ đó cho đến ngày nay vẫn còn nguyên vẹn giữa lòng thành phố
Hà Nội. Theo Thánh ý của Chúa, dường như cho phép dừng lại để rồi tiến lên mạnh
hơn.

Hội đồng Địa hạt Bắc nhóm tại Hà Nội 1937 50

Trong khi công việc đang tiến hành hết sức tốt đẹp, thì tôi bị bệnh đau phổi rất
nặng. Sau khi chiếu điện, bác sĩ Paterson bảo tôi phải nghỉ việc ngay, ông nói riêng
với Giáo sĩ Cadman là tôi sẽ qua đời trong ba tháng. Thật là một bất ngờ riêng cho
chúng tôi và cũng là một sự thử thách chung cho cả địa hạt. Hội Thánh một mặt
cầu nguyện đặt biệt xin Chúa chữa bệnh phổi cho tôi, một mặt sắp đặt cho chúng
tôi nghỉ mát một tháng ở biển Sầm Sơn (Thanh Hóa). Ra dến nơi, nhà cửa rất khó
tìm, nên chúng tôi thuê một chỗ ở trong căn nhà của đồng bào chài lưới dùng để

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]


Click to View FlipBook Version