Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 151
Đoàn Truyền giáo hội kiến với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và thảo luận
công việc truyền giáo ở Cao Nguyên đang bị trở ngại trong năm 1956
Quả đúng như vậy, Đức Chúa Trời toàn năng đã ở cùng đoàn tuyền giáo tại các
bộ lạc. Điển hình cho những thành quả tốt đẹp tại những vùng Cao Nguyên, bản
phúc trình năm 1968 của Thượng hạt được chép lại sau đây:
HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM
ĐỊA HẠT THƯỢNG DU
KHAI TRÌNH
Công việc Chúa năm 1967-1968
I. Số Hội Thánh:
1. Hội chánh 109
2. Hội nhánh 35
Cộng: 144
II. Số người hầu việc Chúa
1. Mục sư 19
2. Truyền đạo 42
3. Truyền đạo sinh 44
Cộng: 105
III. Sản nghiệp: 151
1. Nhà thờ tôn ván 92
2. Tư thất tôn ván 62
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 152
3. 92 nhà thờ trị giá 10.498.878 đ 152
4. 62 tư thất trị giá 1.835.444 đ
5. Khí mệnh nhà thờ 1.576.742 đ
6. Khí mệnh tư thất 265.700 đ
Cộng: 14.176.764 đ
IV. Số tín đồ:
1. Cuối năm 1966 có 19.518 người
2. Năm 1967 đến 1968 dứt phép 3 người
3. Năm 1967 đến 1968 qua đời 366 người
4. Cuối năm 1968 có 29.901 người
5. Số thêm lên trong 2 năm 1967 10.842 người
đến 1968
(Số thêm nầy gồm có số người mới 5.579 người
tin, số trẻ con mới sinh 256 người
Và số tín đồ khai sót trong mấy năm 9.156 người
trước) 1967-1968 3.833 người
V. Số tín đồ đã chịu báp-tem:
1. Cuối năm 1966 có 119 lớp
2. Trong năm 1967-1968 qua đời 3.182 người
3. Cuối năm 1968 có 3.025 người
4. Số thêm lên trong năm
VI. Trường Chúa nhật: 330 ban
1. Số lớp 98 làng
2. Số học viên 10.808 người
3.Số thường nhóm 1.000 cuốn
VII. Ban chứng đạo:
1. Số ban
2. Số ban viên
3. Số lần đến
4. Số người nghe
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 153
5. Số sách phát
VIII. Ban thanh niên:
1. Số ban 64 ban
2. Số ban viên 3.797 người
3. Số thường nhóm 2.046 người
IX. Các khoảng khác:
1. Phép giao (hôn phối) 59
2. Số dâng con 704
3. Hội đồng Bồi Linh 24
4. Học sinh Trung Tiểu học 924
5. Học sinh Trường Thánh Kinh Đà 124
Lạt Và Ban-mê-thuột
X. Tiền Dâng:
1. Tổng số thu 3.110.904 đ
2. Tổng số xuất 3.102.168 đ
3. Còn lại 8.736 đ
Nay khai trình
Đà Lạt, ngày 27 tháng 1 năm 1969
Chủ nhiệm
(ấn ký)
Mục sư Y HĂM
2. Truyền Gáo Cho Người Cam-Bốt
Tại Cam-bốt, Phật giáo được chọn làm quốc giáo và Quốc Vương là nhà sư
Thượng Phẩm. Khi đặt nền bảo hộ tại Cam-bốt nhà cầm quyền Pháp vẫn duy trì
tình trạng nầy. Cho nên tuy có rất nhiều hội Truyền Giáo cố gắng xin phép đặt căn
cứ trên lãnh thổ Cam-bốt, nhưng tất cả đều bị nhà Vua từ chối không chấp nhận.
Lúc bấy giờ có một Giáo sĩ cảm biết, được kêu gọi đi Cam-bốt để rao truyền Tin 153
Lành, nên đã trình bày nguyện vọng với Hội Truyền giáo. Năm 1922, ông được hội
đồng Giáo sĩ Phước Âm Liên Hiệp chấp nhận cho sang Nam Vang để tìm cách thiết
lập căn cứ. Một Giáo sĩ khác cũng đi với ông đến viên Khâm sứ để xin cấp chiếu
khán. Viên Khâm sứ tỏ vẻ không thích chút nào cả, ông ta cố làm nản lòng hai Giáo
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 154
sĩ, nhưng không hiểu sao, cuối cùng ông lại bảo, nếu các Giáo sĩ khăng khăng đòi
đến Nam Vang thì ông không thể ngăn trở. Đây quả thật là một việc lạ vì các viên
Khâm sứ trước kia đã nhiều lần bác bỏ lời yêu cầu của Hội Truyền Giáo Phước Âm
Liên Hiệp và các Hội Truyền giáo khác.
Thế là khoảng tháng 2, 1923, ông bà Giáo sĩ Daniel Ellison dọn đến Nam Vang
và mở căn cứ phổ biến Tin Lành đầu tiên tại Vương Quốc Cam-bốt. Tiếp đến tháng
10 năm ấy, ông bà Giáo sĩ A.L. Hammond được phái đến Battambang, cách thủ đô
Nam Vang một trăm tám mươi dặm về phía Bắc, để mở căn cứ Truyền giáo thứ hai.
Hai nhà Truyền giáo nầy không bị các nhà cầm quyền làm khó dễ chi cả.
Tại Campuchia một chi hội đã được thành lập ở Kompongcham năm 1950 154
Mãi nhiều năm sau, các Giáo sĩ mới biết vì sao Chúa mở cửa giảng Tin Lành cho
họ một cách dễ dàng như thế tại một quốc gia có thể bảo là “thành trì của Phật
giáo” như vậy. Số là một thời gian trước khi hai Giáo sĩ Hội Phước Âm Liên Hiệp
trên đây đến đặt căn cứ tại Nam Vang, có một nhân viên Thánh Kinh Hội Mỹ Quốc
tại Bangkok (Thái Lan) đến xin nhà cầm quyền Cam-bốt cho phép hoạt động tại xứ
nầy. Nhưng ông đã bị từ chối quyết liệt. Không biết làm cách nào khác hơn nên
ông đã gởi đăng trong bản thông tin của Thánh Kinh Hội lời kêu gọi Hội Thánh Đức
Chúa Trời trên toàn thế giới hãy cầu nguyện xin Chúa sớm mở cửa giảng đạo tại
Cam-bốt. Liền sau đó có một con cái Chúa đang đau nằm liệt trong phòng tại miền
Nam tiểu bang California tình nguyện đáp ứng lời kêu gọi ấy và ông đã chuyên tâm
cầu nguyện cho đến khi Chúa nhậm lời.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 155
Sau khi ông về với Chúa, vợ ông có dịp gặp một Giáo sĩ Hội Phước Âm Liên 155
Hiệp. Họ có dịp nhắc lại câu chuyện ấy và đem so sánh ngày tháng với nhau thì
thấy rằng “ngày người chiến sĩ cầu nguyện cảm thấy gánh nặng về Cam-bốt được
cất khỏi lòng mình” chính là ngày mà Giáo sĩ Hội Phước Âm Liên Hiệp được phép
đặt chân lên lãnh thổ quốc gia ấy.
Khi đã học vừa đủ tiếng Cam-bốt, các Giáo sĩ liền bắt tay vào việc phiên dịch
Thánh Kinh. Công tác nầy được thực hiện song song với việc tổ chức giảng Tin
Lành cho khối dân cư đông đúc tại thủ đô. Hai giảng đường lần lượt được thiết lập,
một cho người Cam-bốt và một cho người Việt. Tổng Liên Hội cử một truyền đạo
Việt đến hợp tác với các Giáo sĩ trong kế hoạch rao truyền Tin Lành. Lúc bấy giờ
cũng có một tín đồ Cam-bốt ở biên giới Việt Miên, trong phạm vi lãnh thổ Châu
Đốc. Tuy mới tin Chúa nhưng hoạt động rất sốt sắng, ông ta giúp đỡ các Giáo sĩ rất
đắc lực. Nhờ đó, nhiều người Miên có dịp nghe Tin Lành và tiếp nhận Jêsus Christ
làm Cứu Chúa.
Mặc dù viên Khâm sứ đã quả quyết rằng các Giáo sĩ đừng hòng thu hoạch được
kết quả trong vòng người Cam-bốt, nhưng thật sự trái hẳn, chẳng những có nhiều
người tin Chúa tại Nam Vang mà các đô thị, làng mạc cũng được nghe Tin Lành do
sự sốt sắng của một số đông tín hữu người bản xứ. Nhiều nhà thờ được mọc lên tại
thủ đô và các vùng lân cận. Ngay tỉnh Kampot, một tỉnh lẽ ở miền cực Nam vương
quốc cũng có nhiều người tin Chúa và chẳng bao lâu trở thành trụ sở chính yếu của
đoàn truyền giáo.
Khoảng tháng 2, 1927 có hai vợ chồng người Miên, là H. Hênh đến Đà Nẵng
học Thánh Kinh với nguyện ước có thể trở về giảng Tin Lành tại Nam Vang. Sau đó
vì nhu cầu cán bộ, năm 1931 các Giáo sĩ bắt đầu mở trường Thánh Kinh tại thủ đô
nầy. Mấy năm sau đó, cung cấp mười gia đình Mục sư Truyền đạo người Miên. Thể
theo những điều kiện địa lý lúc bấy giờ, quốc gia Cam-bốt được xem như là một
Hạt của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Hạt Cam-bốt cũng có chủ nhiệm và văn
phòng. Ban Trị sự được đặt tại Nam Vang.
Trong khi công việc đang tiến hành tốt đẹp thì vào năm 1945, quân đội Nhật
tràn đến rồi chiến tranh khốc liệt xảy ra. Các Giáo sĩ phải rời khỏi xứ mình đang
phục vụ và công việc Chúa vì thế bị ngăn trở. Phần đông các nhà truyền đạo rút lui.
Chỉ còn một gia đình Giáo sĩ, một gia đình Truyền đạo người Miên và một gia đình
Mục sư người Trung Hoa.
Về phần Hội Thánh của Việt kiều trên đất Miên từ năm 1927 đã có truyền đạo
người Việt đến giảng tại Nam Vang, sau đó hai chi nhánh khác được mở tại
Battambang và Takeo. Đến năm 1950, Hội Thánh tại Battambang đã có khá đông
tín đồ và bắt đầu lo tự trị tự lập.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 156
Khi các Giáo sĩ rút khỏi Cam-bốt thì anh em tín đồ tại Nam Vang hiệp nhau kẻ 156
công người của để duy trì công việc Chúa. Đức tin con cái Chúa nhờ đó được nâng
đỡ nhiều trong hoàn cảnh hết sức khó khăn. Bởi lòng sốt sắng lo cho Hội Thánh dù
thiếu thốn, anh em vẫn thắt lưng buộc bụng quyên góp tiền bạc để thuê nhà giảng
và cung cấp cho truyền đạo. Công khó của anh em được Chúa ban phước nhiều,
còn Hội Thánh lớn lên rất nhanh chóng. Số tín đồ ngày càng đông nên Ban Trị sự
Hội Thánh đã đứng ra xin chính phủ Cam-bốt cho phép mua đất xây cất nhà thờ.
Chúa đã giúp đỡ chương trình ấy được hoàn thành tốt đẹp. Đây là nhà thờ duy
nhất thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam tọa lạc trên đất Miên. Hiện nay Hội
Thánh Nam Vang đã được tự trị tự lập và đang trên đường phát triển.
3. Truyền Giáo Cho Người Ai Lao
Trong các xứ thuộc Pháp tại Đông Dương chỉ có vương quốc Lào là có Giáo sĩ
Tin Lành đến hoạt động trước khi Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đặt chân
đến.
Hội “Anh em Thụy Sĩ” đã lập ba căn cứ truyền giáo tại miền hạ Lào. Trong lúc
ấy Giáo sĩ Hội Trưởng lão ở Thái Lan cũng sang thăm viếng và truyền giáo tại
“Vương quốc Luang Brabang.” Đã có mấy trăm người Kha (một sắc tộc ở Lào) tin
nhận Chúa. Tuy nhiên còn rất nhiều vùng rộng lớn và nhiều bộ lạc chưa hề nghe
Tin Lành.
Năm 1929, ông bà Giáo sĩ G. E. Roffe đến Luang Brabang để học tiếng và làm
chứng về Chúa đến năm 1932 đã có một số Việt kiều tại Ai Lao tiếp nhận Chúa. Vợ
của người lãnh đạo nhóm tín hữu nầy là người Lào. Bà nầy tin nhận Chúa rồi sau đó
dẫn người em gái đến với Ngài. Đây là hai người Lào tin nhận Chúa trước tiên kể từ
khi Hội Phước Âm Liên Hiệp đến Ai Lao.
Năm 1933, một Truyền đạo người Lào (thuộc hội truyền giáo anh em Thụy Sĩ)
cùng vợ từ Savannakhet đến Luang Brabang để giúp đỡ các Giáo sĩ trong công
cuộc truyền giáo. Các tôi tớ Chúa bắt đầu mở một phòng nhóm và tổ chức các
buổi giảng Tin Lành, nên có thêm nhiều tín hữu mới. Một “trường Thánh Kinh”
được mở riêng cho một thầy cô Ttruyền đạo Lào. Đến mùa thu năm 1934, khi các
Giáo sĩ phải trở về nước nghỉ hạn, thì thầy cô ấy đã tiếp tục xúc tiến công việc
Chúa cách tốt đẹp.
Trong thời gian nầy Chúa đã dùng một người Lào là ông Saly Kounthapanya
cách đặc biệt. Ngay sau khi trở lại với Chúa, ông bắt đầu làm chứng về lòng yêu
thương của Ngài với gia đình ông. Chính ông đã thể hiện được quyền năng đổi mới
của Chúa. Bằng chứng mạnh nhất là cách ăn nết ở giữa vòng đồng bào ông. Họ
nhận thấy ông thật đổi mới, nên có nhiều người đến tin nhận Chúa. Ông nầy về sau
trở thành một vị Mục sư đầy ơn. Sau đây là những cảm nghĩ của ông đối với công
việc Chúa tại Lào từ lúc mới bắt đầu cho đến những năm cận đại:
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 157
“Khi suy nghĩ về sự bành trướng của đạo mà các Giáo sĩ đã đem đến và truyền 157
bá, thì tôi nhớ lại, ban đầu các Giáo sĩ cư trú tại Luang Brabang và Vạn Tượng. Năm
1931, khi các Giáo sĩ mới bắt đầu nói được tiếng Lào, họ yêu cầu Giáo hội anh em
ở hạ Lào cộng tác với họ bằng cách phái một số anh em đến giúp đỡ mở mang
công việc truyền bá Tin Lành. Giáo hội ở miền Nam liền phái hai Truyền đạo lên
Luang Brabang để phụ giúp trong ba tháng. Đó là hai thầy Nai Sita và Nai Saly. Trên
đường đến Luang Brabang họ ghé lại Vạn Tượng và ở lại với các Giáo sĩ tại đó. Họ
nhận thấy chỉ có một số ít người mới tin Chúa mà các Giáo sĩ thì chưa nói được
tiếng Lào. Những tín đồ hầu hết là người giúp việc trong nhà các Giáo sĩ. Những
buổi nhóm chỉ có cầu nguyện và hát. Hai gia đình đó là gia đình của Nai Si và Chan
None.
“Tại Luang Brabang, có một tín đồ tên là Chao Souvana Phalom. Người nầy đã
tin Chúa ngay từ ban đầu lúc các Giáo sĩ ở Mương Nan đi qua khu vực ấy để giảng
Tin Lành. Dường như lúc ấy hai nơi có tín đồ; có vài ba làng ở vùng Mương Sai và
một làng ở khu vực Sayaboury. Vùng nầy toàn là những dân tộc thiểu số.
Qua hai năm sau, năm 1933, một vài truyền đạo ở hạ Lào quay lên thượng Lào
để giúp các Giáo sĩ tại Luang Brabang. Khi những truyền đạo nầy giảng Tin Lành
cho dân chúng, họ gặp sự chống trả mãnh liệt. Đại đa số dân chúng từ chối không
chịu nghe giảng. Chương trình hoạt động chỉ có thể tập trung trong thành phố và
những buổi nhóm bắt đầu mỗi tối: đồng thời ban ngày cũng đi ra để tiếp xúc với
dân chúng tại các vùng phụ cận. Trong khi thi hành chức vụ thì các anh em truyền
đạo nầy cũng học hỏi Lời Chúa vì những đôi vợ chồng nầy đều son trẻ cả.
Công việc cứ tiếp tục tiến hành trong bốn năm năm nhưng rất ít người xưng
nhận Chúa và phần đông họ là khách qua đường, chỉ ra phố để tìm việc làm. Cũng
có một số ít làng ở những miền quê chung quanh xưng nhận Chúa, mà đa số họ là
những dân tộc thiểu số. Chỉ có một số rất ít người Lào tin nhận Chúa vì hễ ở đâu
có người xưng nhận đức tin của mình tức thì bà con của người ấy sẽ tìm hết cách
bắt bớ cho đến khi bỏ Chúa.
Khoảng thời gian độ mười năm qua, Hội Truyền giáo phái thêm Giáo sĩ đến để
mở mang công việc bằng cách lập cơ sở tại Xiêng Khoang. Đồng thời (năm 1939)
một trường Thánh Kinh được khởi lập tại Vạn Tượng. Đến cuối năm 1940, trường
Thánh Kinh vẫn chưa dạy xong khóa thứ hai vì chiến tranh bùng nổ giữa Thái Lan
và Ai Lao. Lúc đó trong trường có hai mươi học sinh và vì tình hình khó khăn nên
mỗi người chạy về làng mình. Khi chiến tranh kết thúc họ lại tiếp tục học, lần nầy
tới học tại Luang Brabang. Hội Truyền giáo mở rộng công việc bằng cách phái
những học sinh ra hầu việc Chúa trong những tháng họ nghỉ hè, vì nhà trường
không dạy luôn trọn năm.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 158
Không thể nói đã có một Hội Thánh xây cất tại thành phố. Hễ nơi nào Mục sư 158
Truyền đạo ở thì có tổ chức những buổi nhóm lại thường. Các tôi tớ Chúa cũng cố
gắng sắp đặt để có thể giảng tại mỗi làng trong thành phố dầu kết quả không có gì
khả quan. Hơn nữa nơi nào có tổ chức những buổi lễ long trọng, thì nơi ấy cũng có
tổ chức những chỗ bán sách và giảng Tin Lành. Cũng có những cuộc đi giảng
thường thường trên các sông rạch và phân phát sách Tin Lành.
Khi chiến cuộc với Nhật Bản bùng nổ phần đông Giáo sĩ phải về xứ, tuy nhiên,
vẫn có một số ở lại và chịu bao nỗi khó khăn. Các học sinh và Truyền đạo đều
quay trở về làng của mình. Sau khi chiến tranh kết thúc, các Giáo sĩ trở lại Ai Lao,
trường Thánh Kinh cũng mở cửa trở lại và có những Giáo sĩ mới cùng qua mở trụ sở
tại Xiêng Khoang. Trong vài ba năm sau, công việc tiến bộ khả quan. Tại Vạn Tượng
và Luang Brabang dường như có nhiều gia đình tin Chúa bởi nhiều làng có nhà thờ.
Lúc đó các học sinh thường được phái ra với tư cách như Truyền đạo. Kết quả
của việc bán sách và làm chứng của một thanh niên truyền đạo, ấy là năm 1950 có
nhiều người tin Chúa tại Xiêng Khoang. Trong khoảng thời gian đặc biệt ấy, các
Giáo sĩ đã qua Đà Lạt nghỉ hè và nhóm hội đồng Giáo sĩ thường niên. Khi họ trở lại
Ai Lao thì được tin một nhóm đông người kể cả hàng ngàn trong nhiều làng đã tin
nhận đạo Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ.
Giáo sĩ phụ trách khu vực ấy bèn yêu cầu Giáo sĩ Hội trưởng phải trở lại những
nơi truyền đạo để tổ chức sự giảng dạy và trông nom săn sóc những người mới tin
Chúa. Cuối năm 1950, công việc dường như không có đầu đuôi chi cả, vì lẽ những
người tin Chúa là người Mèo một dân tộc sống trong vùng sơn cước. Họ không có
thói quen nhóm họp chung với nhau. Họ thường sống cách biệt, ít có sự liên hiệp
với nhau, ai lo phần nhà nấy. Khi tin Chúa họ chỉ thích có một điều ấy là Jêsus
Christ, Đấng đã đắc thắng mọi tà thần. Họ muốn được giải thoát khỏi ách tôi mọi
các tà thần, vì đó, họ bằng lòng tin nhận Chúa. Nhưng họ mù tịt đối với những giáo
lý về Đức Chúa Trời, lẽ đạo căn bản của đức tin. Kết quả chỉ có vài ba người đến
nhóm trong ngày Chúa nhật hoặc các buổi nhóm cầu nguyện, thật rất khó tổ chức
những buổi họp thờ phượng Chúa hay là giảng dạy.
Thứ nữa, có sự khó khăn về ngôn ngữ. Người phụ trách giảng cho họ, luôn luôn
phải có một thông ngôn kể cả lúc thăm viếng. Trước đó khá lâu, có một số đông
người sơn cước trong nhiều làng đã trở lại cùng Chúa. Hai chi phái khác nhau nầy
có nhiều phong tục tương đồng; họ nói thứ tiếng cổ lỗ, ít người biết đọc và viết.
Đối với họ, nhất là đàn bà, rất khó trong sự học hỏi bằng tâm trí.
Sau hai năm, Hội Truyền giáo đã mở được trường Thánh Kinh hàng tỉnh tại
Xiêng Khoang, mục đích để tuyển trạch trong số những tín đồ nầy, những học sinh
để đào tạo cho sự hầu việc Chúa. Hiện nay số tín đồ Đấng Christ tại Xiêng Khoang
đã tăng lên cách rất khả quan, có hơn bốn ngàn người, số đã chịu báp-tem cũng
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 159
lên đến gần một ngàn người. Hơn hai mươi làng có nhà thờ và có tín đồ ở trong
tám mươi làng.
Khoảng đầu năm nay (1955) đã tổ chức được một Hội Thánh hàng tỉnh (tại
Xiêng Khoang). Có hy vọng một ngày gần đây cũng có thể sẽ tiến những bước
tương tự trong tất cả các tỉnh tại thượng Lào. Ở khắp nơi số tín hữu đều tăng lên
rất nhanh chóng và trong nhiều tỉnh khác có những tập sự được đào tạo để giúp đỡ
việc truyền bá Tin Lành.
Chúng tôi tin với một niềm hy vọng quả quyết không chút nghi ngờ rằng chính
Đức Chúa Trời là Đấng Nguyên Thủ Thuộc Linh của thánh đạo, sẽ làm cho dễ dàng
bằng mọi cách để dự định nầy có được những tiến triển trường cửu”
Mục sư Saly Khounthapanya
Cho đến nay (1969), số tín đồ tại Lào có hơn mười ba ngàn người. Toàn thể các
chi hội tại Lào đều tự trị tự lập. Phần đông thuộc chi phái người Mèo. Người lãnh
đạo Hội Thánh Lào hiện nay là Mục sư Seng Pao Thao, cũng thuộc chi phái người
Mèo: năm 1962 Hội Thánh Tin Lành Việt Nam cử ông bà Mục sư Nguyễn Hậu
Nhương sang truyền giáo tại Vạn Tượng. Công việc Chúa tiến triển rất tốt đẹp. Cầu
xin Chúa ban phước nhiều cho chương trình truyền giáo của Hội Thánh chúng ta tại
vương quốc nầy.
159
Thánh dường HTTLVN kiến thiết tại Vạn Tượng (Ai Lao) khoảng 1969-1970
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 160
CHƯƠNG 6: KẾ HOẠCH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN 160
NHỮNG CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA GIÁO HỘI
Sau khi Hội Thánh Tin Lành Việt Nam có hơn bốn mươi ngàn tín đồ chịu báp-
tem và hơn một trăm gia đình Mục sư Truyền đạo hoạt động rải rác trong toàn xứ
thì vấn đề tổ chức Hội Thánh không chỉ đơn thuần trong phạm vi truyền giáo mà
còn bao gồm nhiều lãnh vực khác nữa như văn hóa, giáo dục và xã hội để giúp đỡ
và nâng cao đời sống tín hữu. Nói như thế không có nghĩa là việc rao truyền Tin
Lành bị xếp thành thứ yếu, trái lại mọi công tác khác đều hỗ trợ cho công cuộc
truyền giáo để Lời Chúa sớm được mọi người Việt Nam nhận biết.
Trong khi thi hành chức vụ chung của Hội Thánh, việc thiết lập chương trình
cho những mục tiêu cấp bách trên đây luôn luôn đè nặng tâm hồn tôi. Làm thế nào
để có thể thành lập cho Giáo hội một Cô Nhi viện để nuôi dưỡng những đứa trẻ
mồ côi? Làm thế nào để ít ra trong một thời gian ngắn, Hội Thánh sẽ được một
trường Trung Tiểu học cho con em tín hữu và đồng bào đến học. Chúng tôi nhận
thức được sự hữu ích của chương trình nầy một cách rõ rệt, nhưng muốn thực hiện
phải cần có sự hợp tác của toàn thể tín hữu. Cái khó lúc bấy giờ là làm thế nào gây
được một ý thức sâu rộng trong Hội Thánh vì phần đông đều có những quan niệm
rất thiển cận, nên chẳng những không hưởng ứng mà còn tỏ ra chống đối quyết liệt
với những lời lẽ hết sức chua chát nặng nề! Tuy nhiên, tôi không ngã lòng, nguyện
ước của tôi còn xa hơn nữa, ấy là phải làm thế nào nâng trường Thánh Kinh Đà
Nẵng lên ngang hàng với các Thần Học Viện ngoại quốc. Để có thể đạt được mục
đích, một mặt tôi khẩn thiết cầu xin sự giúp đỡ của Chúa, một mặt tôi đưa các vấn
đề ấy ra thảo luận với các vị Mục sư, Giáo sĩ mà tôi nhận thấy có lòng cho tương lai
Hội Thánh trên đất nước Việt Nam.
A. NHỮNG CƠ QUAN TỪ THIỆN VÀ CỨU TRỢ XÃ HỘI.
1. Cô Nhi Viện Tin Lành
Tại sao Hội Thánh cần có những cơ quan cứu tế và những tổ chức xã hội từ
thiện? Hỏi tức là đã gián tiếp trả lời: vì lúc bấy giờ có nhiều gia đình con mất cha,
vợ mất chồng và những trẻ thơ vô tội phải sống côi cút thiếu người chăm sóc. Đã
có nhiều đêm tôi không thể chợp mắt được khi nghĩ đến những đau khổ tang tóc
mà con cái, tôi tớ Chúa phải chịu. Chắc hẳn không ai có thể dững dưng được trước
sự gục ngã vì bom đạn, của ông bà Truyền đạo Trần Mỹ Bê tại Hội Thánh Châu Đốc
(Nam hạt), để lại một cháu gái tuổi còn măng sữa. Trên đường chức vụ, Mục sư
Trịnh An Mẹo (Thượng hạt) phải hy sinh mạng sống, để lại cho bà Mẹo một gánh
nặng gia đình và một đàn con thơ nheo nhóc. Rồi đến ông bà Truyền đạo Lê Thiện
Thị, ông bà và người con trai đầu lòng bị sát hại khi chiến cuộc tràn đến làng Thanh
Quýt, Điện Bàn Tỉnh Quảng Nam nơi ông bà đã hầu việc Chúa, để lại ba cháu gái
còn thơ dại. Ngoài những tai nạn do chiến tranh gây ra, một số đông con cái tôi tớ
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 161
Chúa vì đau yếu bệnh tật sớm từ giã cõi đời như ông bà Truyền đạo Đặng Đức Thụ 161
chẳng hạn, ông bà về với Chúa để lại hai cháu nhỏ. Và còn nhiều nhiều lắm chẳng
những con cái của Mục sư Truyền đạo, mà con cái của tín đồ và đồng bào cũng
chịu chung sự khắc nghiệt của chiến tranh. Cho nên sự giúp đỡ vì thế trở nên tối
cần thiết. Trách nhiệm nuôi dưỡng và dạy dỗ những mầm non bé bỏng trên đây
được đặt trên vai chúng tôi là những người lãnh đạo Giáo hội.
Lòng mến Chúa yêu người không ngớt thúc giục chúng tôi thi hành sứ mệnh
cao đẹp ấy, mặc dù ngân quỹ của Tổng Liên Hội lúc bấy giờ kể như không có gì cả.
Mọi sự được bắt đầu bằng đức tin.
Vào năm 1950 chúng tôi chính thức đặt vấn đề thành lập một Cô Nhi viện và
một trường Trung Tiểu học Tin Lành với Hội Thánh và xin hỗ trợ bằng sự cầu
nguyện đặc biệt để công việc sớm bắt đầu. Chúng tôi cố gắng bằng mọi cách nhằm
gây một ý thức mới trong vòng tín hữu vì như trên đã nói, phần đông tín hữu lúc
bấy giờ có những quan niệm rất thiển cận nếu không bảo là sai lầm, luôn luôn
khước từ hoặc chống đối tất cả những đề nghị hợp lý, thực tiễn, chỉ chăm tìm và
thực hiện những sinh hoạt tâm linh có tính cách thiêng liêng. Cho nên để có thể
gieo vào lòng tín hữu trong Hội Thánh một khái niệm mới mẻ về những vấn đề xã
hội, cô Lê Thị Hồng Ân (nay là Mục sư Nguyễn Châu Chánh) đã liên tiếp viết bài
trên Thánh Kinh Báo để khích lệ về việc nầy. Tiếng kêu của chúng tôi không vang
vào sa mạc. Chính bài “MỘT VIỄN ẢNH CÔ NHI VIỆN HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT
NAM” đã gây xúc động nhiều con cái Chúa. Hội Thánh có dịp nhìn thấy rõ hơn về
sự cần thiết của những tổ chức xã hội bên cạnh những hoạt động truyền bá Cơ
Đốc Giáo.
Sau ba năm cầu nguyện, cổ động và chờ đợi, Chúa cho cơ hội lập Cô Nhi viện
xảy đến. Số là Hội Thánh vừa mua được sở đất rộng hơn bảy mẫu tây tại Hòn
Chồng Nha Trang, một mặt nằm dọc Quốc lộ I và mặt kia tiếp giáp với bờ biển.
Thửa đất nầy thoạt tiên có ý định dùng để xây cất một chỗ dưỡng sức cho các Mục
sư Truyền đạo nhưng một số vị ở miền Nam không đồng ý vì xa quá. Anh em muốn
có một chỗ dưỡng sức tại Vũng Tàu, gần và tiện lợi hơn. Xin nói rõ là số tiền mua
miếng đất ấy là do Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp dâng bốn mươi ngàn
đồng. Nên sau đó, ban giám đốc Cô Nhi viện phải trả bốn mươi ngàn đồng cho
Nam hạt để mua một miếng đất khác tại Vũng Tàu thay cho miếng đất trên đây.
Đã có đất nhưng đào đâu ra tiền để tiếp tục công tác? Chúng tôi tiếp tục cầu
nguyện và một lần nữa Chúa lại dự bị cách lạ lùng. Ông bà Giáo sĩ W. C. CADMAN
là công dân Anh quốc, nhưng suốt đời hầu việt Chúa tại Việt Nam. Ông bà đã xuôi
ngược suốt từ Nam chí Bắc. Đôi bàn chân đẹp của hai kẻ truyền giáo Tin Lành nầy
đã trải khắp Đông Dương. Ông bà chỉ có một con gái qua đời lúc 12 tuổi xác gởi tại
nghĩa trang thành phố Hà Nội. Năm 1946 bà CADMAN qua đời tại Sài Gòn và thi
hài của người nữ truyền giáo khả kính này được gói ghém trong lòng nghĩa địa Mạc
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 162
Đỉnh Chi. Hai năm sau, vào ngày 7-12-1948, ông CADMAN lại theo bà để về cùng 162
Chúa, thân xác cụ được gởi tại nghĩa trang thành phố Đà Lạt. Để tỏ lòng biết ơn
một vị Giáo sĩ đã sống cho Việt Nam và chết cũng cho Việt Nam, Tổng Liên Hội đã
xuất tiền để xây mộ cho cụ. Mộ chí được khắc những hàng chữ sau đây: “Cụ W. C.
CADMAN, sinh ngày 4-4-1883, ngủ yên trong Chúa ngày 7-12-1948.” Phía dưới có
được ghi thêm “NGƯỜI TRUNG TÍN CHO ĐẾN CHẾT.” Cho đến ngày nay, những
bậc lão thành trong Hội Thánh chắc hẳn không ai có thể quên được những hình
ảnh khả kính ấy. Tôi còn nhớ có người đã bảo, ông bà cụ CADMAN lúc sống có
tinh thần chung lo phục vụ Hội Thánh Việt Nam, khi chết, ba người trong gia đình
chia ra nằm ba xứ (con nằm ở Bắc, bà cụ ở miền Nam và ông cụ ở miền Trung).
Lúc sanh tiền, ông bà CADMAN có một ít tài sản riêng tại Hà Nội có bốn gian
nhà nhỏ tại đường Ngõ Trạm và ba gian tại đường Hòa Mã. Ông bà đã làm di chúc
là sau khi chết sẽ để tài sản nầy lại cho Hội ThánhTin Lành Việt Nam do ông Mục
sư Lê Văn Thái nhận và quản nhiệm.
Giấy tờ vỏn vẹn chỉ có thế, nhưng khi Hội Thánh muốn chính quyền thực hiện
đúng theo di chúc của người quá cố, thì lại gặp không biết bao nhiêu là những
chuyện trở ngại khó khăn. Chẳng hạn như luật của nhà nước Anh cho phép người
viết di chúc có thể đánh máy và ký tên nhưng luật của nước Pháp thì tờ di chúc
muốn có giá trị phải viết bằng tay và ký tên. Đó là chưa kể trường hợp khi bà cụ
CADMAN qua đời, ông cụ lại tục huyền với một người khác cũng người Anh. Như
vậy phải vận động cách nào để cho tòa Đại sứ Anh ở Ba Lê, tòa Đại sứ Pháp ở Luân
Đôn và viên toàn quyền Đông Dương tại Hà Nội hợp thức hóa tờ di chúc trên đây.
Chúng tôi phải tốn rất nhiều công cũng như thì giờ mới lo xong được thủ tục.
Nhưng tiếp đó lại vướng phải một trở ngại khác, đó là bà kế hiện còn sống. Liệu bà
ta có tranh dành những tài sản nầy hay không? Luật pháp bắt buộc nếu bà ưng
thuận thì phải làm tờ cam kết là sẽ không đòi và vui lòng đặt thuộc quyền sử dụng
của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vĩnh viễn.
Sau đó tất cả giấy tờ từ các tòa Đại sứ được gởi hết về tòa án Hà Nội để ban án
lệnh. Thể theo bản án ngày 11-5-1957 của tòa án, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam
được phép nhận di sản của hai cụ W. C. CADMAN qua tên Mục sư Lê Văn Thái.
Khi việc chuyển giao hoàn tất, ước tính tổn phí nội vụ khoảng ba mươi mốt
phần trăm, vì tất cả những việc qua lại giữa các tòa Đại sứ, giữa Hội Truyền giáo và
các tòa án, chúng tôi đều nhờ luật sư lo. Ngoài ra theo luật lệ hiện hành, người
hưởng di tặng phải đóng thuế từ hai mươi hai đến năm mươi bảy phần trăm giá trị
của tài sản như vậy Hội Thánh chỉ còn hưởng được khoảng mười hai phần trăm mà
thôi, một số lợi tức quá ít so với sự lao nhọc quá nhiều. Cho nên có người đề nghị
với tôi là nên xin Chính phủ miễn thuế thụ hưởng di sản trên đây. Nhận thấy đề
nghị hợp lý, nên sau khi cầu nguyện, tôi liền đến xin yết kiến Thủ tướng. Thủ tướng
chính phủ lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Tâm. Thủ tướng Tâm vui lòng ủng hộ
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 163
nguyện vọng xin miễn thuế nầy, nhưng buộc phải dùng tiền ấy vào việc cứu tế xã
hội mới được. Tôi liền xuất trình dự án xây cất Cô Nhi viện Tin Lành trên sở đất Hội
Thánh đã mua tại Nha Trang. Sau khi xem xét cẩn thận, Thủ tướng Tâm tỏ ý chấp
thuận và ông nói thêm là sẽ làm giấy tờ cho đánh thuế tượng trưng từ hai đến bốn
phần trăm mà thôi.
Mộ phần cố Giáo sĩ Cadman tại Đà Lạt, Giáo sĩ đã nghỉ yên ngày 7-2-48. 163
Tổng Liên Hội xây mộ nầy để tỏ lòng kính trọng vị Giáo sĩ đã tận tụy với
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và cả gia đình đều qua đời tại đất Việt.
Thế là việc đối ngoại kể như tạm xong. Để tranh thủ thời gian, tôi trình ngay kế
hoạch nầy cho Ban Trị sự Tổng Liên Hội để lấy biểu quyết, kết quả tất cả nhân viên
đều đồng ý. Quyết nghị trên đây được Hội Đồng Tổng Liên Hội lần thứ 22 nhóm tại
Sài Gòn tháng 7-1952 thông qua. Như vậy trên nguyên tắc, tôi được phép dùng số
tiền phát mãi tài sản của cố Giáo sĩ W.C.CADMAN (phần lớn do chính phủ miễn
thuế) hiệp với Hội Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế để xây cất Cô Nhi viện Tin Lành tại
Hòn Chồng (Nha Trang).
Ngay khi tin nầy được tung ra, chúng tôi liền gặp phải phản ứng của hai luồng
dư luận trái ngược, một bên thì mừng và hoan nghinh, còn một bên thì buồn và
chống đối. Chúng tôi yên lặng làm việc. Để tăng cường nhân lực, Tổng Liên Hội liền
cử hai ông Mục sư Duy Cách Lâm và Trần Trọng Thục vào Ban Quản Trị xây cất cơ
sở, vì lúc bấy giờ tôi đang ở Đà Lạt. Thoạt tiên, chúng tôi có ý định xây bốn nhà
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 164
nhỏ, mỗi nhà được 12 giường và một phòng dành riêng cho người coi sóc. Ước 164
vọng ban đầu của chúng tôi là có thể thu nhận bốn mươi tám em. Ngoài ra chúng
tôi cũng định xây một nhà ăn, nhà này có thể vừa làm chỗ cho các em học vừa để
nhóm lại thờ phượng Chúa và một căn nhà khác làm văn phòng cho ban Giám Đốc.
Việc xây cất được thực hiện rất nhanh chóng bởi sự tận tâm của Ban Quản trị
và những anh em tín hữu phụ trách công trường. Trong khi ấy, để cho mọi hoạt
động được liên tục, tôi liền ra thông cáo để nhận cô nhi. Về phía con các Mục sư,
Truyền đạo thuộc Bắc Trung hạt quy tụ tại Đà Nẵng được mười một em, vùng Đà
Lạt có mười ba em. Riêng Hà Nội có hai và Cà Mau có một em. Như vậy, cô nhi con
Mục sư Truyền đạo gồm có hai mươi bảy em tất cả. Về phía tín hữu có mười một cô
nhi. Cộng chung là ba mươi tám em nhập viện lần đầu tiên ngày 4-9-1953.
Nhận được tin nầy hầu hết các Hội Thánh đều hoan nghinh và nhất là quý vị
Mục sư Truyền đạo phần lớn tỏ ra khích lệ đối với thành quả buổi đầu. Con cái của
những người hy sinh hầu việc Chúa cũng như của những tín hữu không đến nỗi bị
bỏ quên khi gặp hoạn nạn. Do đó ai nấy đều vui mừng ngợi khen Chúa và phấn
khởi cầu nguyện cho cơ quan từ thiện đầu tiên này của Hội Thánh ngày càng đem
lại nhiều kết quả tốt đẹp cho việc rao giảng Tin Lành.
Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng tôi không bị chống đối, trái lại
trong khi làm công việc nầy chúng tôi đã bị một số không nhỏ có tư tưởng thiển
cận phiền trách, xuyên tạc. Có người lại còn viết thư cho tôi với những lời lẽ rất hằn
học như: “Cha chúng nó đây chưa biết sống chết ra sao, sao không lo mà lo cho
con làm gì.” Sở dĩ có sự chống đối như thế buổi đầu giữa Hội Thánh, nguyên do là
vì ảnh hưởng của Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp. Hội Truyền Giáo Phước Âm
Liên Hiệp là hội chuyên rao giảng Tin Lành khắp thế giới mà không lo việc xã hội và
giáo dục. Giáo sĩ của hội nầy không bao giờ đề cập đến vấn đề xã hội và giáo dục.
Một số người bị ảnh hưởng, nên không ủng hộ chương trình do chúng tôi đề ra.
Trước những phản ứng bất lợi ấy, chúng tôi không biết phải làm cách nào khác hơn
là đặt đoàn trẻ thơ trước mặt Chúa và cầu nguyện: “Xin Chúa thương xót các em,
cho Viện được đủ dùng và ban phước cho các em lớn khôn trong Lời của Chúa để
đời sống các em trở nên hữu ích cho nhà của Ngài.” Cảm ơn Chúa đã nhậm lời cầu
xin của chúng tôi, Cô Nhi viện được cải thiện lần lần và số cô nhi nội trú ngày càng
đông hơn. Cho đến ngày 1-7-1968 là ngày tôi bàn giao chức vụ Giám đốc Cô Nhi
viện, số cô nhi nội trú đã lên đến hai trăm bốn mươi hai em, không kể những em
xuất viện và những em sống ở ngoài. Cơ sở gồm có mười nhà cho các em ở, một
nhà thờ, bốn nhà cho nhân viên, một văn phòng, một nhà cho Giám đốc, một nhà
ăn, một hội trường cũng là cho thường ngày dùng làm nơi cho các em chơi thường
ngày, hai dãy nhà phụ thuộc, một trường ốc hai dãy mỗi dãy tám lớp và một văn
phòng trường Bết-lê-hem. Ngoài ra còn có ba biệt thự cho thuê lấy lợi tức nuôi cơ
nhi. Cầu xin Chúa là Đấng an ủi những kẻ mồ côi và người góa bụa giúp đỡ Hội
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 165
Thánh chúng ta để mọi người đều ý thức được trách nhiệm của mình đối với những 165
kẻ kém may mắn.
2. Trường Trung Tiểu Học Bết-Lê-Hem.
Sau khi tạm hoàn tất dự án xây cất Cô Nhi viện trên đây, chúng tôi bắt tay ngay
vào việc tạo dựng một trường Trung Tiểu học lấy tên là trường BẾT-LÊ-HEM. Ngôi
trường nầy cũng tọa lạc trên phần đất của Cô Nhi viện cạnh Quốc lộ 1, nên rất tiện
lợi cho các em ở trong cũng như ngoài Viện.
Chẳng bao lâu, số học sinh nội trú tăng lên năm mươi hai em cộng với trên năm
mươi học sinh từ ngoài vào học, vị chi trường có trên một trăm học sinh tất cả.
Viện cũng có được một nhà thờ riêng, nên ngoài những giờ học truyện tích Thánh
Kinh tại lớp, mỗi sáng Chúa nhật các em còn có dịp nhóm lại để thờ phượng
chung. Nhờ đó Lời Chúa ngày càng đi sâu vào trong những bộ óc non nớt. Nếp
sống của các em ở trong cũng như ở ngoài Viện đều thực sự được đổi mới. Cách
thức tổ chức Hiệu đoàn cũng như những hình thức sinh hoạt tự trị đã được Viện và
trường Bết-lê-hem áp dụng từ năm 1953 và gặt hái được những thành quả rất tốt
đẹp. Tên tuổi của Cô Nhi viện cũng như của trường Trung Tiểu học Bết-lê-hem ngày
càng được nhiều người biết đến. Học sinh của trường đã khép mình trong kỉ luật tự
giác ngay từ tuổi thơ. Nên chẳng những tại khu vực Hòn Chồng mà cả thành phố
Nha Trang nữa, các em đều nhận được những cảm tình rất đặc biệt của đồng bào.
Mỗi khi đi du ngoạn trong thành phố hoặc ngoài bãi biển, các em đều mặc đồng
phục do Viện cấp phát các em gái mặc áo trắng quần trắng và các em trai áo trắng
quần đùi xanh với phù hiệu Cô Nhi viện bằng đồng hình quả tim đeo trước ngực,
nên không thể lầm lẫn với những học sinh của những trường khác. Vả lại mỗi khi
xuất viện các em đều đi có hàng lối theo người hướng dẫn, nên từ đằng xa người ta
có thể nhận ra ngay đó là đoàn học sinh của trường Bết-lê-hem. Nhưng đều đáng
ngợi khen Chúa hơn hết là nếp sống của các em. Các em đã sớm tỏ ra mình thực
sự được đổi mới vì luôn luôn chăm chỉ học hành.
Khi Cô Nhi viện và trường Bết-lê-hem được tám tuổi thì đã có một số cô nhi và
học sinh ngoại trú đậu bằng Trung học. Hai năm kế tiếp lại có một số đậu tú tài
bán phần và đến khi trường được mười ba tuổi thì đã có một số cô nhi vào Thần
Học Viện, một số khác tốt nghiệp bằng khả năng sư phạm và trở thành những giáo
học cấp bổ túc tại các trường công lập trong nước. Ngoài ra còn một số em đến
tuổi động viên nên đã vào trường bộ binh Thủ Đức. Một số khác chọn binh nghiệp
và đã trở thành sĩ quan Hải quân, không quân. Đó là chưa kể những cựu cô nhi
đang du học ngoại quốc và những tình nguyện ở lại làm giáo viên và nhân viên cho
Viện.
Kiểm điểm lại những thành quả đã thu lượm được từ ngày Cô Nhi viện và trường
Bết-lê-hem được thành lập, chúng tôi thật không đủ tiếng để ngợi khen những ân
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 166
huệ lạ lùng mà Chúa đã ban cho. Riêng về phần những em cô nhi có thân thể yếu 166
đuối, kém thông minh hoặc không được may mắn trong việc học hành, chúng tôi
không bao giờ quên cầu nguyện cho các em. Xin Chúa ban tình thương dồi dào và
ân tứ cách đặc biệt trên các em, để các em có đủ năng lực và sự thông sáng trên
bước đường phục vụ Chúa. Tôi cầu mong sao cho cơ quan từ thiện đầu tiên nầy
cũng như những cơ quan kế tiếp của Hội Thánh luôn được tồn tại và phát triển mãi
cho đến ngày Chúa đến.
Đó là hoài bão của chúng tôi ngay từ lúc mới bắt đầu chức vụ. Nên khi nhắc lại
quá trình hoạt động của trường Trung Tiểu học Bết-lê-hem, cơ quan giáo dục văn
hóa đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, tôi không thể quên dự án xây cất
trường Trung Tiểu học THIÊN PHƯỚC tại Vinh vào những năm 1928-1929. Lúc bấy
giờ tôi đã quy tụ được một số anh em có lòng nghĩ đến tương lai Hội Thánh và
cũng là những người có hằng sản như ông Mục sư Duy Cách Lâm, ông Mạ Nhặc,
ông Tư Hiên, ông Lê Khắc Tương, ông Mục sư Lê Khắc Hòa (lúc ấy hầu việc Chúa
tại Vinh): Trường ốc, bàn ghế đã được lo xong tất cả, chỉ còn chờ giáo sư BÙI HUY
THÊM từ Hà Nội vào đứng tên làm hiệu trưởng nữa là có thể khai trương. Nhưng
một việc bất ngờ, ông Bùi Huy Thêm không vào Vinh được vì trường Gia Long ở Hà
Nội mời ông ở lại dạy. Ông Thêm là tín đồ ở Hà Nội, việc đi vào Vinh đối với ông có
nhiều bất tiện nên sẵn việc nầy ông từ chối không đi. Thế là mọi cố gắng của chúng
tôi bị tan vỡ, vì tìm một người đủ điều kiện đứng tên làm hiệu trưởng trong những
năm nầy không phải là chuyện dễ. Hơn nữa nhân tài trong Hội Thánh lúc bấy giờ
cũng rất hiếm, mà chúng tôi thì muốn người làm hiệu trưởng phải là tín đồ mới
được. Nguyện ước lần đầu không đạt được, nhưng chúng tôi không chán nản cứ
chờ đợi và cầu nguyện. Ít năm sau có ông Phạm Khắc Minh một giáo sư trung học
đã từng làm hiệu trưởng và bà cũng là giáo viên trường công tại Sài Gòn. Chúng tôi
tưởng cơ hội đã đến bèn bàn với nhau xúc tiến công việc mở trường một lần nữa
không phải tại Vinh mà là tại Sài Gòn. Trong số người sẵn sàng tham dự gồm có
ông bà Phạm Khắc Minh, ông Phạm Đình Khương, ông Trần Hà Thanh, ông Huỳnh
Minh Y, ông Nguyễn Đình Khoan v.v… chúng tôi hăng hái chuẩn bị ráo riết. Nhưng
rồi, trường Trung Tiểu học Tin Lành tưởng như sắp được mở cửa đến nơi một lần
nữa lại không thành vì những lý do ngoài ý muốn.
Chúng tôi lại phải cầu nguyện chờ đợi Chúa ban cho cơ hội khác. Mãi đến gần
hai mươi năm sau (1953) trường Trung Tiểu học Tin Lành đầu tiên của Hội Thánh
Tin Lành Việt Nam mới được chính thức thành lập song song với Cô Nhi viện. Trở
ngại của những lần đầu đã được vượt qua. Hội Thánh chẳng những có người đủ
điều kiện đứng tên làm hiệu trưởng mà số nhân viên giảng huấn cũng được trang bị
đầy đủ.
Thời gian đã lần lượt đào thải tất cả những gì không thích hợp với nhịp sống
của nhân loại. Nên công việc của giáo hội và những tổ chức của Hội Thánh cũng
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 167
không thể vượt ra ngoài định luật thiên nhiên ấy. Sở dĩ tôi có thể quả quyết như 167
vậy, vì cho đến nay (1969) Hội Thánh chúng ta đã có gần sáu mươi trường văn hóa
gồm cả trung lẫn lẫn tiểu học, bốn Cô Nhi viện và bốn chẩn y viện. Những tổ chức
xã hội nầy chẳng những được tín hữu mà ngay cả đồng bào trên toàn quốc cũng
nhiệt liệt hoan nghinh và khuyến khích mở nhiều thêm nữa. Ngày nay, việc thực
hiện những công tác xã hội, thiết tưởng không có gì khó khăn, nhưng trước đây
không lâu, vẫn có thể coi là những trở ngại đáng kể. Vào năm 1957 vẫn còn có
Giáo sĩ đứng giữa nhà giảng Sài Gòn tuyên bố; “Chúa Jêsus không mở nhà trường,
không lập Cô Nhi viện, cũng không lo chẩn y viện. Ngài chỉ giảng Tin Lành.”
Sự kiện nầy không ai chối cãi nhưng nếu xét cho kỹ thì đương nhiên có những
vấn đề cần phải được thương xót. Ấy là khi Đức Chúa Jêsus thi hành chức vụ giảng
Tin Lành Ngài không chỉ nói suông mà còn mở mắt cho người mù được sáng, chữa
cho kẻ què được đi, kẻ câm được nói và hóa bánh cho người đói được no lòng.
Trong Ngài quyền năng và tình thương được thể hiện một cách trọn vẹn. Chính vì
mục đích ấy mà thánh Gia-cơ đã cáo giác những người chỉ lý thuyết suông mà sự
thực không làm một điều gì cả. Thánh Kinh đã chép: “Sự tin đạo thanh sạch không vết,
trước mặt Đức Chúa Trời Cha chúng ta, là: thăm viếng kẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn
khốn khó của họ và giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian” (Gia 1:27). Đức tin phải được xác
chứng bằng hành động đó là điều cần thiết, cho nên thánh Gia-cơ cũng đã nhắc
nhở thêm: “Hỡi anh em nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì có ích gì
chăng, đức tin cứu người ấy được chăng? Ví thử có anh em hoặc chị em nào không có quần áo
mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, và một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi bình an,
hãy sưởi cho ấm, hãy ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác thì có ích gì
chăng? Về đức tin cũng một thể ấy; nếu đức tin không sinh ra việc làm, thì tự mình nó chết…
hoặc có kẻ nói: ngươi có đức tin còn ta có việc làm. Hãy chỉ đức tin của ngươi không có việc làm
rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta” (Gia 2:14-18)
Dựa trên nền tảng ấy, chúng tôi đã mạnh dạn xúc tiến mọi việc, mặc cho những
xuyên tạc chống đối và những tuyên truyền bất lợi của một số người bảo thủ, có
những quan niệm hẹp hòi và thiển cận. Tạ ơn Chúa do lòng cương quyết ấy Hội
Thánh đã gặt hái được những thành quả tốt đẹp như ngày nay.
3. Chẩn Y Viện Tin Lành.
Khi những hoạt động của Cô Nhi viện và trường Trung Tiểu học Bết-lê-hem
được điều hòa và công việc xây cất kể như tạm hoàn tất, chúng tôi liền nghĩ ngay
đến việc thiết lập một chẩn y viện cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Chung quanh
khu vực Hòn Chồng lúc bấy giờ tuy dân cư đông đúc nhưng chưa có một cơ quan y
tế nào cả. Bởi đó, việc thực hiện công tác nầy chẳng những giúp ích rất nhiều cho
cô nhi và học sinh nghèo mà còn có một mục đích cao cả hơn, ấy là đem tình
thương của Cứu Chúa và tiếng nói chân thật của Tin Lành đến với những đồng bào
đau khổ ở vùng duyên hải này.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 168
Bên cạnh Cô Nhi viện, lại còn một khoảng đất của Hội Thánh khá rộng, rất
thuận tiện cho việc xây cất một cơ sở y tế, nên tôi liền đem dự án nầy thảo luận với
ông Hội trưởng Hội Mennonite Central Committee và bác sĩ John B. Dick của Hội
nầy, yêu cầu họ hợp tác với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam lập một chẩn y viện tại
Nha Trang. Sau một năm nghiên cứu tỉ mỉ, chương trình hoạt động và trách nhiệm
quy định cho mỗi bên, chúng tôi ký với nhau một thỏa ước, đồng ý thiết lập tại
Hòn Chồng Nha Trang một chẩn y viện. Đó là chẩn y viện đầu tiên của Hội Thánh
Tin Lành Việt Nam. Thỏa ước trên đây được ký tại Sài Gòn ngày 1-3-1960 giữa Đại
diện Ban Trị sự Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Mục sư Lê Văn Thái,
Hội Trưởng và Đại diện Hội Mennonite Central Committee là ông Glenn B. Stolzfus
Giám Đốc Hành Chánh và Bác sĩ John b. Dick, Giám Đốc y tế.
Hình nhà thờ riêng của Viện
168
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 169
Khuôn viên Cô Nhi viện từ trên phi cơ chụp xuống
Lễ bản giao Cô Nhi viện, trên toà giảng tại nhà thờ, nguyên Giám đốc, Mục sư Lê Văn Thái
và tân Giám đốc, Mục sư Nguyễn Văn Đê (người ẵm một cô nhi)
169
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 170
Cơ quan trên đây chính thức hoạt động kể từ ngày 9-7-1961 và tiếp tục tiến 170
mạnh cho đến ngày nay như tất cả các con cái Chúa đều biết.
B. NHỮNG CƠ QUAN PHÁT HUY VÀ PHỔ BIẾN GIÁO LÝ
1. Tin Lành Qua Các Làn Sóng Điện.
Mãi đến năm 1950, vấn đề ghi âm, thu phát thanh, phóng thanh đối với Hội
Thánh Tin Lành Việt Nam vẫn còn là một vấn đề xa lạ, nếu không bảo là hoàn toàn
mới mẻ. Tình trạng chậm tiến ấy một phần vì sự thiếu tích cực của Hội Truyền Giáo
Hiện nay, đứng trước những tiến bộ vĩ đại của khoa học, nhất là khoa học
không gian, hình thức của chiếc máy thu thanh hoặc vô tuyến truyền hình đối với
chúng ta thật không có gì mới lạ, nhưng vào khoảng năm 1951, ông là Giáo sĩ
Chester Travis đến Đà Lạt với chiếc máy ghi âm đã làm ngạc nhiên nhiều người.
Ông quy tụ được một số thanh niên, tổ chức các ban hát Thánh Ca và mời Mục Sư
đến giảng. Ông thu tất cả vào băng nhựa và sau đó đem phát giữa đám đông khiến
ai nấy đều thích thú.
Khái niệm đầu tiên về công cuộc rao truyền Tin Lành qua các làn sóng điện
được mạnh dạn từ lúc ấy. Trong khi ông Giáo sĩ Travis bận rộn trong việc thu và
phát thanh bằng chiếc máy ghi âm, thì Chúa cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một
dịp tiện lớn lao hơn, rộng rãi hơn. Ông John. C. Proger, Giám đốc đài phát thanh
Tin Lành Viễn đông tại Ma-ní viết thư mời tôi và Giáo sĩ Travis qua Phi Luật Tân để
bàn về vấn đề phát thanh trên đài nầy, đồng thời để sắp xếp chương trình phân
phối thì giờ sao cho thuận tiện tùy theo địa phương.
a) Hội nghị Ma-ní.
Hội nghị nầy khai mạc vào ngày 1-10-1951 và kéo dài đến ngày 7-10-1951, gồm
có đại diện của chín quốc gia tham dự, đó là Miến Điện, Hồng Kông (Trung Hoa),
Việt Nam, In-đô-nê-si-a (Nam Dương), Nhật Bản, Mã Lai, Phi Luật Tân, Lào, và Thái
Lan. Đề tài tổng quát của hội nghị dựa tên Gi 8:32,36: “CÁC NGƯƠI SẼ BIẾT LẼ THẬT
VÀ LẼ THẬT SẼ BUÔNG THA CÁC NGƯƠI… VẬY NẾU CON BUÔNG THA CÁC
NGƯƠI, CÁC NGƯƠI SẼ THẬT ĐƯỢC TỰ DO.”
Trong bảy ngày thảo luận, toàn thể đại biểu đều nhận thức một cách sâu xa
rằng chỉ có Đấng Christ mới là nguồn cứu rỗi của nhân loại, chỉ khi nào Ngài tha tội
thì loài người mới được tự do. Kết thúc hội đồng là một quyết nghị gồm những điều
căn bản sau đây:
Đài phát thanh Ma-ní sẽ tăng cường mạnh gấp ba lần.
Giờ phát thanh của mỗi thứ tiếng đều được tăng thêm.
Mỗi Quốc gia phải có chương trình riêng và gởi người của Hội Thánh mình đến
Phi Luật Tân để điều hành và cũng làm xướng ngôn viên cho Giáo hội tại đó, (Thể
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 171
theo tinh thần của quyết nghị nầy. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã gởi người qua 171
Ma-ní ngay sau đó để điều hành chương trình và công việc vẫn được liên tục cho
đến ngày nay).
Đến giờ chót của cuộc hội thảo, vị Mục Sư chủ tọa đã đọc một câu trong Cac
17:6 “Trong lúc đó không có Vua nơi Y-sơ-ra-ên, mọi người cứ làm theo ý mình tưởng là phải.”
Đoạn ông tiếp tục giải thích: nói về Vua Y-sơ-ra-ên thì có nhiều phương diện,
nhưng tất cả đều có chung một hình bóng là Đấng Christ là Đấng Mê-si và cũng là
Vua vị lai của cả nhân loại. Chúng ta đang lo giới thiệu Đấng Christ cho thế gian để
mọi người biết Ngài và rước Ngài làm Vua lòng mình, hầu cho đời sống họ được TỰ
DO. Nhưng một vấn đề khác được đặt ra ở đây là chúng ta phải tự xét lấy mình để
xem chúng ta thực sự tự do chưa? Đấng Christ đã làm Vua trong đời sống chúng ta
chưa?
Trước khi chia tay, đêm 7-10-1951 ban tổ chức đã thiết lập một lễ Tiệc Thánh
long trọng cho toàn thể đại biểu tại phòng Khách tiết của một khách sạn lớn nhất
thủ đô, nằm cạnh bờ biển Manille. Trong căn phòng lộng lẫy nầy, một bức hình
Chúa Jêsus rất lớn được treo cao trên tường với hàng chữ nổi: “CHRIST FOR ASIA”
(Đấng Christ cho Á châu), khiến cho vẻ trang nghiêm của căn phòng lại càng trang
nghiêm hơn, giữa phòng là một chiếc bàn dài phủ khăn trắng, ban tổ chức đã cẩn
thận sắp xếp bảng tên của những quốc gia có đại biểu tham dự Hội nghị, sau bảng
tên có đặt sẵn một cây đèn cầy chưa thắp. Các đại biểu lần lượt đứng vào chỗ có
tên của Quốc gia mình. Khi mọi người tề tựu đông đủ thì cây đèn trong phòng tắt
hết và cây đèn nơi chân dung Chúa bắt đầu sáng lên. Sau đó vị chủ tọa tự tay thắp
sáng cây đèn của mình và toàn thể đại biểu đều lần lượt làm theo y như vậy. Sau
đó tất cả đồng loạt đứng lên cùng đọc chung ICo 11:24-26 và đồng nói: “ LÀM ĐIỀU
NÀY ĐỂ NHỚ CHÚA.” Không khí trong căn phòng trở nên yên lặng khác thường,
ánh sáng của những ngọn đèn bạch lạp chỉ đủ cho mọi người nhìn thấy chân dung
Chúa Jêsus mà thôi. Giữa khung cảnh trang nghiêm ấy, bỗng có những tiếng khóc
nhè nhẹ nổi lên từ cuối phòng và truyền đi rất nhanh. Mọi người đều cảm động khi
để lòng mình hướng về Chúa. Những vướng bận thường nhật được lắng đọng để
nhường chỗ cho tình thương và tinh thần nhất quyết rao truyền Tin Lành. Dưới
chân Cứu Chúa trong giờ phút ấy biên cương của quốc gia và chủng tộc không còn
nữa. Toàn thể đại biểu có mặt trong buổi lễ đều nhận thức được nhiệm mạng trọng
yếu của mình đối với Chúa và đối với đồng bào…
Hội nghị đã gặt được những thành quả to tát ngoài sức tưởng tượng. Đêm tiệc
thánh kéo dài đến khuya và ba chữ CHRIST FOR ASIA đối với riêng tôi là một ấn
tượng không thể nào quên được trong đời hầu việc Chúa. Trải qua gần hai mươi
năm rồi, nhưng đến nay tôi vẫn nhớ và nhớ rất rõ chân dung Chúa Jêsus trong đêm
Tiệc Thánh ấy cùng với những khải tượng mà Chúa đã truyền cho tại hội Ma-ní năm
1951.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 172
b) Một dịp tiện bằng vàng cho việc truyền giảng Tin Lành. 172
Sau ngày đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chính thức mở chiến dịch giảng Tin
Lành qua các làn sóng điện. Một ủy ban được đề cử để xúc tiến việc thu băng các
bản thánh ca, những bài giảng luận và giải nghĩa Thánh Kinh gởi qua Ma-ní. Một
phòng ghi âm tạm thời được thiết lập sau tòa giảng Hội Thánh Gia Định và mang
tên là phòng Ghi Âm J. D. OLSEN, để kỷ niệm cụ cố Giáo sĩ J. D. Olsen, là một trong
những vị Giáo sĩ tiền phong tại Việt Nam, hoạt động rất tích cực và có rất nhiều
công khó trong việc thiết lập và điều khiển trường Thánh Kinh Tourane. Cụ đã về
với Chúa vào mùa hè năm 1954 trong một tai nạn xe hơi tại góc đường Biên Hòa và
tỉnh lỵ Gia Định. Về sau, phòng ghi âm nầy dược dời ra Nha Trang và thiết lập trong
khuôn viên Thánh Kinh Thần Học Viện cho đến ngày nay (1969).
Chương trình phát thanh Tin Lành tại các đài phát thanh quốc nội cũng được
thực hiện song song với công cuộc trên đây. Thoạt tiên Chính quyền chấp thuận
cho Hội Thánh mỗi tuần ba mươi phút trên đài phát thanh Sài Gòn để giảng Tin
Lành. Rồi tiếp đến các đài địa phương như Đà Lạt, Nha Trang, Huế, Quy Nhơn, Cần
Thơ cũng sẵn lòng dành cho Hội Thánh một số giờ phát thanh. Hầu hết các
chương trình hàng tuần trên đây đều dùng băng thu sẵn tại phòng ghi âm Nha
Trang. Ngoài việc giảng Tin Lành qua các làn sóng điện, Hội Thánh còn xúc tiến
việc vận động với các phòng thông tin địa phương để mượn phương tiện phóng
thanh các bài giảng Tin Lành cho đồng bào trong các khu phố. Nhờ sự giúp đỡ của
chính quyền về phương diện nầy, nên một số đông đồng bào có dịp nghe Tin Lành
và thức tỉnh ăn năn trở lại đầu phục Chúa.
Sau đây tôi xin trích một đoạn trong bản phúc trình của Mục sư PHẠM VĂN
NĂM tại Hội Đồng Tổng Liên Hội năm 1964 về việc giảng Tin Lành qua các làn sóng
điện:
“Chúng ta nên lớn tiếng hết lòng ngợi khen Chúa vì Ngài đã và đang ban cho
chúng ta có thể thực hiện sứ điệp của Cứu Chúa và trả nợ yêu thương cho đồng
bào bằng sự giảng Tin Lành cứu rỗi trên mười lăm đài phát thanh Việt Nam Cộng
Hòa cách miễn phí (trong khi tại các nước khác, Hội Thánh phải trả một số tiền khá
lớn). Ấy là chưa kể sự phát thanh mỗi ngày ba mươi phút trên đài vô tuyến Viễn
Đông Ma-Ní và phóng thanh hàng tuần trên hơn mười lăm phòng thông tin ở các
tỉnh và quận. Mỗi đài phát thanh quốc gia dành riêng cho chương trình phát thanh
Tin Lành ba mươi phút hàng tuần. Số thính giả mỗi tuần được nghe Tin Lành trên
các làn sóng điện khắp nơi từ năm mươi đến tám mươi ngàn người. Các thư từ ban
chúng ta nhận được, thì phần đông thính giả là thương gia, công chức, quân nhân,
học sinh và sinh viên. Một chương trình đặc biệt cho thanh niên được phát thanh
mỗi tuần đầu tháng do Mục sư Lê Hoàng Phu phụ trách, thu hút một số thính giả
thanh niên đáng kể.” Và sau đây là:
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 173
DANH SÁCH CÁC ĐÀI QUỐC GIA VIỆT NAM 173
PHÁT THANH CHƯƠNG TRÌNH TIN LÀNH
1. Tân An
2. Quy Nhơn
3. Hội An
4. Sài Gòn
5. Ba Xuyên
6. Tuy Hòa
7. Huế
8. Quảng Ngãi
9. Đông Hà
10. Kiến Hòa
11. Đà Lạt
12. Nha Trang
13. Ban Mê Thuột
14. Quân Đội Sài Gòn
15. Mỹ Tho
16. Viễn Đông Ma-ní
Với những thành quả đã thu lượm được trong những năm qua, chúng tôi thật
có cớ ngợi khen Chúa. Trong lúc tình hình đất nước đang nghiêng ngửa vì nạn
chiến tranh, việc giảng Tin Lành trên các làn sóng điện thật rất cần thiết. Bằng
phương tiện nầy, Lời của Chúa có thể đến tận những nơi mà các nhà truyền đạo
của chúng ta không thể đến được, và sự bình an của Ngài có thể sưởi ấm sự buốt
lạnh của lòng người. Chắc hẳn mọi người chúng ta đều tin rằng đây là một chương
trình tốt đẹp và trong niềm tin tưởng ấy, xin Hội Thánh cứ cầu nguyện thật nhiều
về việc giảng Tin Lành qua làn sóng điện được tiến triển mạnh hơn và được kết quả
khả quan hơn.
2. Đoàn Tuyên Úy Tin Lành
Thể theo chính sách phát huy và phổ biến giáo lý, nhu cầu về việc thiết lập một
ĐOÀN TUYÊN ÚY TIN LÀNH trong quân đội ngày càng trở nên cấp thiết song song
với đà tiến triển của Hội Thánh và nhất là khi số thanh niên tín đồ đến tuổi quân
dịch càng ngày càng thêm nhiều.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc truyền giảng Tin Lành trong các đơn
vị quân đội và việc nâng đỡ tinh thần anh em tín hữu trong quân ngũ, nên vào
khoảng đầu năm 1951, Ban Trị sự Tổng Liên Hội đã gởi văn thư đến Quốc Trưởng
và Thủ Tướng Chính Phủ để xin thành lập một đoàn Tuyên Úy Tin Lành trong quân
đội. Ít lâu sau, chúng tôi được văn phòng Quốc Trưởng Bảo Đại trả lời cho biết là
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 174
hiện chưa có quy chế về Tuyên Úy Tin Lành Trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, 174
thành thử vấn đề trên đây rất tiếc không thể chấp thuận được.
Gặp trở ngại như vậy, chúng tôi liền đến thảo luận sự việc với ông Lê Tài
Trường, Đổng lý Văn phòng của Quốc Trưởng Bảo Đại và ông Phan Huy Quát, Bộ
Trưởng Quốc Phòng lúc bấy giờ để xin xuất tiến việc soạn thảo quy chế Tuyên Úy
Tin Lành. Sau đó một ủy ban hỗn hợp được thành lập. Tổng Liên Hội biểu quyết đề
cử cụ Mục sư Ông Văn Huyên, thư ký Tổng Liên Hội và ông Victor Phạm, sinh viên
luật, hiệp với nhân viên của Bộ Quốc Phòng trong ủy ban soạn thảo quy chế đoàn
Tuyên Uý Tin Lành Việt Nam.
Sau mấy tháng làm việc ráo riết, quy chế trên đây được lập xong vào cuối năm
1952. Chúng tôi liền đệ trình lên chính quyền và chờ đợi. Nhưng không hiểu tại sao
nó vẫn nằm ỳ một chỗ không nhúc nhích. Chúng tôi đi lại năm lần bảy lượt thường
xuyên theo dõi và nhắc nhở tất cả những nơi liên hệ, nhưng kết quả đâu vẫn vào
đó, không có một chút tiến bộ nào đáng kể.
Tuy nhiên, chúng tôi không ngã lòng, vẫn cứ cầu nguyện xin Chúa can thiệp để
quy chế Tuyên Uý sớm được ban hành. Đồng thời cũng tha thiết xin Chúa lựa chọn
một vị Tuyên Úy Trưởng xứng hiệp và đầy ơn để đại diện cho Hội Thánh trong Quân
đội, ngỏ hầu có thể giảng Tin Lành và nâng đỡ đức tin anh em quân nhân. Đây có
thể bảo là một vấn đề khó cho Tổng Liên Hội lúc bấy giờ (1952), tuy nhiên, chúng
tôi tin rằng Đức Chúa Trời của chúng ta là CHÚA, Đức Chúa Trời Di-rê, Ngài đã dự
bị cho Áp-ra-ham một con chiên để làm của lễ trên núi Mô-ri-a (Sa 22:13-14) thì
chắc chắn Ngài cũng sẽ dự bị cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một đoàn Tuyên
Uý và một Tuyên Uý Trưởng xứng hiệp khi cần.
Quả đúng như vậy, hai năm sau Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ký sắc lệnh số
51-QP. Ngày 8-6-1945 nhằm thiết lập các đoàn Tuyên Uý trong Quân Lực Việt Nam
Công Hòa. Và tiếp theo đó, ngày 8-12-1954, Thủ Tướng Chính Phủ lại ban hành
nghị định số 1103-QP. Về việc tổ chức và điều hành các đoàn Tuyên Uý.
Thể theo tinh thần hai sắc lệnh và nghị định dẫn thượng, Nha Tuyên Úy Tin
Lành chính thức được thành lập do sự vụ lệnh văn thư số 680-TTM-I-MK ngày 8-3-
1955 của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và thông tư số 3225-
VP-QP-BB ngày 21-7-1955 của Bộ Quốc Phòng. Như vậy, kể từ ngày vận động cho
các vị Mục sư có thể phục vụ Chúa giữa anh em quân nhân tín hữu và binh sĩ Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi nhận được văn thư cho phép thành lập ĐOÀN
TUYÊN ÚY TIN LÀNH là bốn năm có dư. Một thời gian quá dài cho sự mong đợi, tuy
nhiên, sự kiên nhẫn trong đức tin đã không trở thành luống nhưng. Chúa là Đấng
Thành Tín và chúng tôi đã thành công bởi ơn và quyền của Ngài.
Quả thật đúng như Lời Chúa phán, ai trông đợi CHÚA, Đức Chúa Trời không hề
hổ thẹn. Chẳng những Ngài cho phép đoàn Tuyên Uý Tin Lành được thành hình mà
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 175
trong buổi giao thời, Ngài còn dự bị một người từ phương xa trở về để nhận lãnh 175
chức vụ Tuyên Uý Trưởng. người ấy là ông Đoàn Mười. Ông Đoàn Mười tin nhận
Chúa ở bên Pháp, có bằng Cử nhân văn chương và đã từng tình nguyện làm Mục sư
Tuyên Uý trong đoàn quân viễn chinh Việt Nam tại Pháp. Gia đình ông mới về nước
vài năm trước đó. Khoảng năm 1948-1949 tôi có dịp gặp ông ở Hà Nội và năm
1951 và tôi lại gặp ông ở Đà Lạt. Lúc bấy giờ ông đang làm việc tại văn phòng Quốc
Trưởng Bảo Đại ở Đà Lạt cùng với ông Nguyễn Đệ. Chính ông Đoàn Mười đã giúp ý
kiến chúng tôi rất nhiều trong việc soạn thảo quy chế Tuyên Úy.
Sau thời gian cầu nguyện xin Chúa lựa chọn một vị Tuyên Úy Trưởng, Tổng Liên
Hội nhận thấy ông Đoàn Mười có đủ tư cách để nhận lãnh chức vụ nầy. Tôi liền
đem vấn đề nầy bàn với ông, thì ông vẫn giữ sự dè dặt thường lệ và trả lời là xin
cầu nguyện để biết rõ ý Chúa. Chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi và ít lâu sau, ông tỏ ý
thuận nhậm chức vụ Tuyên Úy Trưởng do Hội Thánh giao phó. Chúng tôi vui mừng
ngợi khen Chúa và đệ trình Bộ Quốc Phòng tên ông Đoàn Mười trong chức vụ
Tuyên Úy Trưởng. Ông là vị Tuyên Úy Trưởng đầu tiên của Đoàn Tuyên Úy Tin Lành
với cấp bậc Thiếu tá đồng hóa, được bổ dụng bởi quyết định số 1083-QP-NV ngày
30-12-1955 của Bộ Quốc Phòng do ông Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung
Dung ký.
Chúng tôi rất mừng tưởng công việc kể như tạm xong và gánh nặng tinh thần
đối với anh em quân nhân tín hữu đã có người gánh vác, nhưng không ngờ trong
khi ông Đoàn Mười lo xúc tiến việc thiết lập văn phòng và tuyển chọn Tuyên Úy thì
một sự ngăn trở khác lại xảy ra. Chính quyền đề cử ông Đoàn Mười kiêm nhiệm
chức vụ giám đốc phòng Thính thị Anh ngữ ở đường Thành Thái Chợ Lớn và ít lâu
sau, ông lại nhận được lệnh thuyên chuyển lên Đà Lạt để làm giáo sư Anh ngữ tại
trường Võ Bị Quốc Gia.
Thế là mong ước của Hội Thánh một lần nữa kể như không thành, mặc dù đã
hết sức cầu nguyện và lo lắng từ bao năm qua. Tuy đã nhận lãnh chức vụ Tuyên Úy
Trưởng, nhưng với một hoàn cảnh như vậy ông Đoàn Mười cũng như Ban Trị sự
Tổng Liên Hội không thể làm cách nào khác hơn.
Trước khi ông Đoàn Mười rời chức vụ trên đây, tôi có được một người đến cho
biết rằng: “Tổng Thống đã bổ nhiệm ông Đoàn Mười làm giáo sư Anh văn tại trường
Võ Bị Đà Lạt, ông Hội Trưởng hãy tìm người khác thay thế ông Đoàn Mười đi.” Nghe
được tin nầy tôi liền đến gặp ông Bộ trưởng phụ tá Quốc Phòng Trần Trung Dung
và được ông cho biết là; “văn phòng Tổng Thống muốn như vậy.” trở về, tôi liền
trình ngay việc nầy với Ban Trị sự Tổng Liên Hội và xin cầu nguyện để Chúa chỉ định
người khác thay thế. Sau một thời gian khá lâu dò hỏi ý Chúa, toàn thể Ban Trị sự
Tổng Liên Hội đều đồng ý đề cử ông Mục sư Nguyễn Văn Tống giữ chức vụ Tuyên
Úy Trưởng Đoàn Tuyên Uy Tin Lành thay thế ông Đoàn Mười.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 176
Thi hành quyết định ấy của Ban Trị sự Tổng Liên Hội, tôi đệ trình tên Mục sư
Tống lên Bộ Quốc Phòng và trong khi chờ đợi lệnh bổ nhiệm của Chính Phủ, chúng
tôi tha thiết cầu nguyện xin Chúa cho việc thành lập đoàn Tuyên Úy Tin Lành sớm
hoàn tất trong ý chỉ thánh của Ngài. (Thi Thiên 37) giúp chúng tôi bình an và tâm
hồn không còn bồn chồn lo lắng. Mọi sự tin chắc rằng Chúa sẽ lo. Chúng tôi phó
thác trọn vẹn cho Ngài. Lúc bấy giờ chúng tôi quyết noi theo gương của vua Đa-vít:
“Chớ phiền lòng về kẻ làm dữ cũng đừng ghen tị kẻ tập tành sự gian ác. Hãy tin cậy nơi
CHÚA, Đức Chúa Trời và làm điều lành; khá ở trong xứ và nuôi mình bằng sự thành tín của
Ngài. Cũng hãy khoái lạc nơi CHÚA, Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho các ngươi điều lòng
mình ao ước. Hãy phó thác đường lối mình cho CHÚA, Đức Chúa Trời nhờ cậy nơi Ngài thì
Ngài sẽ làm thành việc ấy” (Thi 37:1-5). Ngày xưa, vua Đa- vít đã gặp nhiều trở ngại và
ông đã phó thác mọi sự cho Chúa. Ngày nay chúng tôi cũng vậy. Cchúng tôi quyết
định giao phó mọi việc cho Ngài.
Sau hơn một năm kể từ ngày ông Đoàn Mười giã từ chức vụ Tuyên Úy Trưởng,
chúng tôi nhận được một Quyết định khác của Bộ Quốc Phòng số 2944-QP-NV-LQ
ký ngày 15-11-1957 nội dung như sau; “Mục sư Nguyễn Văn Tống, tình nguyện gia
nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc Thiếu Tá đồng hóa để giữ chức vụ
Tuyên Úy Tin Lành Việt Nam.”
Thể theo Quyết định ấy, một mặt ông Mục sư Tống lo tổ chức văn phòng và
một mặt lo tuyển chọn các vị Mục sư Tuyên Úy vùng để đệ trình Bộ Quốc Phòng
ban hành quyết định bổ dụng. Một năm sau, các ông Mục sư Dương Kỳ, Trần Trọng
Thục và Đặng Văn Lục chính thức được chấp thuận gia nhập đoàn Tuyên Úy Tin
Lành với cấp bậc Đại Úy đồng hóa, bởi quyết định số 620-QP ngày 28-1958. Ba vị
Tuyên Úy đầu tiên trên đây sau khi được Bộ Quốc Phòng chấp thuận cho gia nhập
quân đội lại phải lo hoàn tất giấy tờ và thủ tục nhập ngũ đến cuối năm 1958 mới
xong. Như vậy, kể từ lúc thai nghén (1951) cho đến khi Đoàn Tuyên Úy thực sự
được thành hình (1958), Hội Thánh phải chịu dựng một thời gian vừa vặn tám năm
tất cả.
176
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 177
Ảnh Đoàn Tuyên Uý đầu tiên 177
Hầu hết tín hữu lúc bấy giờ đều mừng rỡ khi hay tin Hội Thánh có được một
Đoàn Tuyên Úy trong quân đội. Có gì sung sướng hơn sau những ngày hành quân
vất vả hoặc những lúc phải trấn giữ những tiền đồn hẻo lánh xa xôi, anh em quân
nhân được vị Mục sư Tuyên Úy của mình đến thăm để an ủi và nâng đỡ đức tin
bằng tình thương và lời sự sống. Ngoài ra, anh em cũng đinh ninh rằng vị Mục sư
Tuyên Úy còn có thể đem Tin Lành đến cho các đơn vị trong quân đội, một công
tác rất cấp thiết mà các vị Mục sư dân sự trước đây thiếu hẳn phương tiện để hoạt
động cho nên từ anh lính quân trường đến những gương mặt sạm nắng thuộc tất
cả những Quân Binh Chủng, hễ là tín đồ Tin Lành thì hết thảy đều có chung một
hoài vọng là chờ đợi những chiến công thuộc linh đầu tiên.
Tuy nhiên, với một số người quá ít ỏi, bốn vị Mục sư Tuyên Úy trên đây không
thể đáp ứng đúng mức nhu cầu quá to lớn của quân đội nên có rất nhiều dự án
chưa thể hoặc không thể thực hiện được. Do đó có nhiều anh em quân nhân phàn
nàn là ít được gặp các vị Mục sư Tuyên Úy, còn các vị Mục sư Tuyên Úy thì than thở
là không thể làm trọn nhiệm vụ quá bao quát, trong khi mọi phương tiện đều
không có hoặc nếu có thì cũng bị hạn chế đến mức tối đa. Hội Thánh tỏ vẻ không
vui vì Đoàn Tuyên Úy không thực sự hữu hiệu đúng như lòng mong ước.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 178
Dầu vậy tình trạng trên đây cũng được kéo dài trên mười năm (từ ngày 15-11- 178
1957 đến 13-4-1968). Trong khoảng thời gian ấy, mặc dù có thêm bốn vị Mục sư
Tuyên Úy khác như các ông Mục sư Phạm Xuân Hiển, Nguyễn Lĩnh, Nguyễn Văn
Thái, Phan Văn Phùng tăng cường, nhưng kết quả vẫn không thấm vào đâu cả.
Nhận thấy tình thế không thể kéo dài thêm nữa, nên đại Hội Đồng thường niên
Tổng Liên Hội lần thứ 35 nhóm lại tại Đà Nẵng vào tháng 5 năm 1967, đã thảo luận
sôi nổi về vấn đề nầy. Hầu hết các đại biểu tham dự Hội Đồng dường như có chung
một nhận định là: “NẾU CÓ MỘT ĐOÀN TUYÊN ÚY NHƯ VẬY THÀ KHÔNG CÓ THÌ
HƠN.”
Vấn đề được đặt ra để biện minh là những ngăn trở. Phải chăng Đoàn Tuyên Úy
Tin Lành khởi thủy được thành lập trên sự ngăn trở, rồi tiếp đến hoạt động trên sự
ngăn trở và luôn luôn phải đối đầu với những ngăn trở, chúng ta tin rằng Chúa biết
và trên tất cả mọi sự, chương trình và ý định của Ngài phải được hoàn thành. Nhắc
lại việc nầy, tôi bỗng nhớ lại câu chuyện xin lập hội cũng như xin chính quyền thừa
nhận thành phần Ban Quản Trị đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Đơn gởi
đi từ năm 1928 mà mãi đến ngày 19-1-1941 Hội Thánh mới nhận được văn thư
chính thức của toàn Quyền JEAN DECOUX trả lời chấp thuận. Nhìn lại những chặng
đường Hội Thánh đã đi qua, tôi nhận thấy thật đúng với tinh thần của bài thánh ca
sau đây:
“Đi tường bước, bước thẳng đi
Có Chúa nữa, không can chi
Đi từng bước, Chúa cũng đi,
Cho đến mãi, vô tận kỳ.”
Tạ ơn Chúa, bởi sự kiên trì và cương quyết của Hội Thánh, Đoàn Tuyên Úy Tin
Lành đã được cải tổ với những thành phần rộng rãi hơn. Ông Mục sư Dương Kỳ
được cử giữ chức vụ Tuyên Úy Trưởng và được bổ dụng bởi nghị định số 230- ND
ngày 13-4-1968 của Bộ Quốc Phòng, thay thế Mục sư Nguyễn Văn Tống. Tiếp theo
đó, các ông Mục sư Bùi Khương, Nguyễn Thành Mác, Nguyễn Hữu Tươi đồng loạt
được bổ nhiệm chức Trưởng Phòng Tuyên Úy vùng chiến thuật thay thế các Mục sư
xuất ngũ do nghị định số 060-QP-ND ngày 28-1-1968. Binh chủng hải quân cũng
bắt đầu có Tuyên Úy và vị Hải Quân Tuyên Úy đầu tiên là Mục sư Nguyễn Châu
Chánh, được bổ nhiệm hoạt động bên cạnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Ngoài ra cũng
có một số Truyền đạo Tuyên Úy được phái đến tận các Khu Chiến Thuật để phục
vụ bên cạnh các sư đoàn Bộ Binh. Trong tương lai, nếu được Chúa cho phép, số
Tuyên Úy Tin Lành trong Quân Đội sẽ tăng thêm để cung ứng cho nhu cầu đang đòi
hỏi tại hầu hết các Khu Chiến Thuật và Tiểu Khu. Hiện nay, trong khi chờ đợi bổ
sung quân số đầy đủ, Bộ Tổng Tham Mưu tạm thời chấp thuận cho phép các vị
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 179
Mục sư dân sự có thể vào thăm các Quân trường, Quân lao, Quân xá… để thăm 179
viếng các anh em quân nhân tín hữu và rao truyền Tin Lành.
Công việc của Đoàn Tuyên Úy hiện nay đang tiến hành tốt đẹp và người ngoài
cuộc có thể nhìn vào với một cái nhìn lạc quan hơn. Mọi khó khăn đã vượt qua.
Những đám mây mù không còn nữa. Hội Thánh đang đứng trước một bình minh
đầy hứa hẹn và sự kiện ấy là một trong những nguyên động lực nhắc nhở chúng ta
nhớ lại Lời Chúa phán: “HÃY PHÓ THÁC ĐƯỜNG LỐI MÌNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA,
THÌ NGÀI SẼ LÀM THÀNH VIỆC ẤY.”
C. SƠ LƯỢC VỀ CHUYẾN DU HÀNH QUAN SÁT TẠI MỸ QUỐC
Vấn đề du hành quan sát để học hỏi nằm trong chính sách chung của Giáo Hội,
nên thể theo lời mời của Ban Trị sự Trung Ương Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên
Hiệp Tại Nữu Ước, ngày 21-4-1957, tôi lên đường sang Hoa Kỳ để dự Đại Hội
Truyền Giáo thường niên tổ chức tại Charlotte và cũng để thăm viếng một số Hội
Thánh Chúa tại Mỹ Quốc. Mục đích chính của tôi trong chuyến công du nầy là để
thu thập kinh nghiệm, trao đổi quan điểm với những nhà lãnh đạo Hội Thánh bạn,
ngỏ hầu có thể phục vụ Chúa tại nước nhà một cách hữu hiệu hơn. Cho nên song
song với việc giảng dạy và làm chứng về ơn phước Chúa đối với Hội Thánh Việt
Nam tôi đã cố gắng thực hiện nguyện ước của mình bằng cách thăm viếng thật
nhiều và quan sát thật kỹ những phương thức tổ chức cũng như những từng trải
thuộc linh trong đời sống tín hữu tại quốc gia văn minh nầy.
Trong suốt thời gian ba tháng tại Mỹ Quốc, tôi có dịp đi và hầu việc Chúa
chung với ba vị Giáo sĩ. Người thứ nhất là ông HERMAN H. HAZLETT, đã từng làm
Giáo sĩ ở Việt Nam và dạy tại Trường Thánh Kinh Đà Nẵng. Khi tôi sang Mỹ thì ông
HAZLETT đang làm giáo sư tại một trường cao đẳng thần học ở San Francisco.
Người thứ hai là ông J. J. VAN HINE, một Giáo sĩ kỳ cựu ở miền Bắc Việt Nam. Lúc
bấy giờ ông là nhân viên trong văn phòng Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp tại
Nữu Ước. Và người thứ ba là Giáo sĩ P. E. CARLSON, một trong số những Giáo sĩ
thân mến nhất tại Việt Nam, đang về nước nghỉ hạn.
Nhờ sự cộng tác đắc lực của những vị Giáo sĩ nầy, nên kết quả của chuyến công
du thật rất tốt đẹp. Đây là những người đã biết nhiều về Việt Nam và có thể diễn
đạt tư tưởng tiếng Việt Nam một cách trôi chảy, nên ngoại trừ những cuộc tiếp xúc
riêng rẽ, tôi luôn luôn dùng tiếng Việt Nam và ba vị Giáo sĩ nầy đã nói tiếng Anh
thay tôi như A-rôn đã nói thay cho Mô-se. Báo chí Mỹ nhất là những tờ báo có
khuynh hướng Cơ Đốc Giáo đã nói nhiều về chuyến công du nầy. Có nhiều phóng
viên đến gặp tôi sau buổi giảng và tôi có dịp nói cho họ biết về sự bình đẳng của
con người trước mặt Đức Chúa Trời và đồng loại. Ân sủng cũng như sự cứu chuộc
được thực hiện bởi quyền năng từ trên cao và tình yêu đích thực không phân biệt
chủng tộc. Tôi đã loại ra ngoài tất cả những câu hỏi liên quan đến chính trị, vì tôi
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 180
nghĩ rằng chính trị và tôn giáo không thể đi đôi với nhau. Tôi không muốn bị chụp 180
mũ cũng không muốn bị hiểu lầm. Tuy nhiên, những câu trả lời gần như không trả
lời gì cả của tôi đã gây một tiếng vang không nhỏ trên các báo phát hành tại Mỹ
Quốc.
Sau khi trở về nước, có nhiều người ở xa viết thư hỏi thăm và xin tôi tường
thuật lại chuyến công du ấy. Tôi rất muốn trả lời tất cả nhưng số thư đến nhiều quá
thành thử không thể thực hiện được đúng như lòng mong ước. Chắc anh em thông
cảm mà thứ lỗi cho tôi rồi. Nay nhân tập Hồi ký nầy, tôi xin chép lại nguyên văn
những bản phúc trình (cho Văn Phòng Hội Truyền Giáo tại Nữu Ước) của ba vị Giáo
sĩ từng hầu việc Chúa chung với tôi trong suốt thời gian ở bên Mỹ để tặng bạn đọc.
Mong rằng với những tài liệu chân thật và khách quan ấy, các bạn có thể hiểu rõ
hơn về những phước hạnh mà Chúa đã dành cho cuộc thăm viếng nầy.
1. Lịch Trình Thăm Viếng
Lịch trình thăm viếng và giảng dạy của tôi trong suốt thời gian ba tháng tại Mỹ
Quốc được tóm lược trong những bản phúc trình sau đây:
a. Phúc trình của Giáo sĩ Herman H. Hazlett
“Lịch trình thăm viếng Mỹ Quốc của ông Mục sư Lê Văn Thái từ ngày 24-4 đến
ngày 25-5-1957:
26-4 Tại Lễ Đường Trường Thánh Kinh Simpson.
Cử tọa:160 người
“Chính các ngươi hãy cho họ ăn.” (Mac 6:37).
Một bài giảng hay, nhấn mạnh về trách nhiệm của tín đồ Đấng Christ phải đem
hoặc truyền Tin Lành cho những người đang đói khát Bánh Hằng Sống.
28-4 Berkeley, Hội CMA (tức Phước Âm Truyền Giáo Hội)
Cử tọa: 33 người
(Ro 12:1-2). Nhấn mạnh về sự dâng mình.
Piodmont (Oakland). Cử tọa: 200 người
“Năng lực của tình thương yêu.” Câu gốc (ICo 13:13).
1-5. North Seatle: Cử tọa: 83 người
“Trong tay ngươi cầm vật chi” (Xu 4:2)
Chỉ điều gì chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời sẽ được ban lại cho chúng ta để
sử dụng với năng lực của Ngài và vì sự vinh hiển của Ngài.
2-5 Portland: Cử tọa: 150 người
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 181
“Quyền năng kèm theo đức tin” (IIVua 4:1-7). Chúng ta ngăn trở Chúa bởi sự vô 181
tín của chúng ta. Quyền năng ngưng lại khi chúng ta không còn đủ để chứa nữa.
Trong buổi nhóm nầy có đại biểu từ Silverton, Salem, Dallas và Bend đến dự.
Hai ngày trước khi ông Thái đến đây đã có một cuộc họp báo của các nữ Giáo sĩ
trong khu vực, nên có báo cáo trước về tin ông Thái sẽ đến. Do đó, có nhiều người
đến thăm.
5-5 Sacramento: Cử tọa: 127 người
“Lữ khách và kiều dân” (IPhi 2:11).
Ông Thái nhấn mạnh rằng vì đây không phải là đất trường cửu của chúng ta,
nên chúng ta phải “kiêng cử tư dục của xác thịt, là điều tranh chiến với linh hồn.”
San Jose. AYF.
Sự quan hệ của việc đặt lời Đức Chúa Trời vào lòng ta đang khi ta còn thanh
xuân. (IITi 3:15).
San Jose. Cử tọa: 200 người
“Chính các ngươi hãy cho họ ăn.” (Mac 6:37). Đề mục rất giống với bài giảng đầu đã
giảng cho Trường Thánh Kinh Simpson, nhưng đã rất khéo đổi thành ra thích hợp
và Hội Thánh hơn là với các Sinh viên Trường Thánh Kinh. Ông có một sự nhận
thức thuộc linh rất sáng suốt, nên có nhiều ý kiến hay. Khi được biết có một số
người chưa tin Chúa trong nhà thờ tức thì cuối bài giảng ông khẩn thiết kêu gọi họ
đến cùng Chúa, dùng thí dụ chứng minh cụ thể về việc nhân loại đang tiến nhanh
đến cái chết, là cái mà người ta không thể tránh, và đến cuối cùng nó sẽ bắt lấy
mọi người không tha một ai cả!
8-5 American Canyon Alliance Church (giữa Vallejo và Napa)
Cử tọa: 25 người
Đây là địa điểm nhỏ hơn hết trong các nơi đến thăm. Hội chúng phải nhóm lại
trong nhà Mục sư vì nhà giảng mới đang xây cất. Tín đồ làm việc suốt ngày thứ bảy.
Có 25 người hiện diện. Một công tác đáng khuyến khích trong một thị trấn chưa có
nhà thờ.
Ông dùng chuyện tích Đức Chúa Jêsus được xức dầu tại Bê-tha-ni (Gi 12:1-9) mà
giảng một bài giảng rất hiệp nghi, đề cập đến sự kiện Đức Chúa Jêsus thích làng
nhỏ nầy hơn là kinh thành Giê-ru-sa-lem. Ông cũng nhấn mạnh rằng, ngày nay
thiên hạ sẽ kéo đến xem những cuộc đời được đổi mới, cũng như ngày xưa người
Do Thái kéo đến xem La-xa-rơ sống lại.
10-5 Trường Thánh Kinh Simpson, buổi nhóm của ban Truyền Giáo.
Cử tọa: 250 người.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 182
Đây là một ngày dành riêng để thăm viếng nhà trường, có chừng bảy mươi 182
thanh thiếu nhi học trong các trường trung học và đại học đến nhóm. Đề mục:
“Mang thập tự.” Đây là một bài giảng rất hay. Ông nhắc lại sự qua đời mới đây của
một vị Mục sư Việt Nam trong trận giặc tại Việt Nam, và sự qua đời của Tiến sĩ
Jaffray trong trận thế giới đại chiến thứ nhì để nêu gương sáng của những người đã
liều bỏ mọi sự để mang Thập tự giá và theo gót Chúa Jêsus. Có tám sinh viên dự
nhóm, mà một vài người trong bọn họ đã chống lại tiếng kêu gọi của Chúa trong
suốt những buổi nhóm đặc biệt trước lễ Phục sinh, khi nghe ông kêu gọi đã tiến lên
trước tòa giảng.
12-5. Glendale: Cử tọa:175 người
“Quan điểm thuộc linh.” (Mat 6:22). Ba thí dụ trong Thánh Kinh:
Áp ra ham nhìn thấy những sự vật chính đáng. Lót thì không thấy.
Y sác đã làm một việc rất sai lầm. Ấy là khi mắt đã mờ, người bèn vận dụng
thính giác để bổ cứu cho thị giác.
Ê-li-sê đã cầu nguyện để đầy tớ người được thấy đạo binh của Đức Chúa Trời
sai đến để bảo vệ cho hai thầy trò khỏi tay của quân Si-ri.
Pasadena: Cử tọa:250 người
“ Giô-na-than và Đa-vít.” (ISa 18:1-4 20:12-17 23:14-18 IISa 1:26). Ông đặc biệt
nhấn mạnh sự kiện, dầu Giô-na-than đã lập một giao ước lạ lùng với Đa-vít, người
vẫn không chịu bỏ cuộc đời nhàn hạ trong cung điện để đồng hành với Đa-vít trong
những nỗi cơ cực; bởi cớ đó ông đã chết với Sau-lơ ngoài chiến trường thay vì trở
nên Thủ Tướng của vua Đa Vít. Chỉ những tín đồ nào đồng chịu khổ với Đấng Christ
thì mới được đồng trị với Ngài.
Bình Luận:
Theo ý tôi, cuộc hành trình giảng dạy này có rất nhiều ích lợi. Tôi rất thích
những bài giảng mà anh em chúng ta (tức ông Thái ) đã giảng. Ông chỉ giảng trùng
đề mục có một lần. Ngoài ra ông luôn nhờ cậy Đức Thánh Linh giúp đỡ để có thể
giảng những bài mới hoặc soạn lại những bài giảng cũ cho thích hợp với từng hoàn
cảnh. Thật tôi rất vui mà thấy rằng nơi nào ông Thái đến thì cũng được đón tiếp
cách niềm nở. Nhiều người lấy làm lạ thấy một người ngoại quốc mà lại giảng hay
đến thế. Một bà già nói: “Tôi đoán rằng mọi người trong các ông học thuộc lòng
bài giảng ngắn, rồi cứ tới đâu cũng bổn cũ soạn lại.” Tôi rất sung sướng mà trả lời
cho bà biết rằng cho đến ngày ấy, ông Thái chưa nói trùng lần nào. Ông rất thận
trọng giữ đúng giờ mà các vị Mục sư yêu cầu (theo một thời hạn nào đó). Được hầu
việc Chúa bằng cách thông ngôn cho ông ta, tôi tự kể là một vinh hạnh thực sự
vậy.”
Herman H. Hazlett
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 183
b. Phúc trình của Giáo sĩ J. J. Van Hine 183
26-5 Nyack, N. Y. và White Plains, N. Y.
29-5 Chatam, N. Y.
1-6 Hội kiến với nhân viên của Quốc Tế Cơ Đốc Thanh Niên Đoàn (YMCA) tại
trụ sở của họ NYC.
2-6 Giảng buổi tối tại Hội Thánh của Tiến sĩ Tozer. (có lẽ tại Hội Thánh Aurora
vào buổi sáng).
3-6 Thăm khu vực Chicago.
4-6 Từ giã Chicago.
5-6 Đến Omaha
6-6 Giảng trong Hội Thánh của Tiến sĩ Brown tại Omaha, và cũng có dịp giảng
tại Lincoln.
7-6 Giảng tại Hội Thánh Dayton.
8-6 Từ giã Dayton đến Toledo.
9-6 Giảng buổi sáng tại Hội Thánh Toledo, buổi tối trong Hội Thánh của ông
Thompson.
10-6 Khu vực Toledo, Opeu, windsor, Canada.
11-6 Giảng tại Hội Thánh Royal Oaks.
12-6 Giảng tại Hội Thánh Claussen, Hội Thánh Michigan.
13-6 Giảng tại Wyndotte, Mich.
14-6 Giảng tại Akron, Hội Thánh Ohio ông Kenyon là Mục sư
15-6 Từ giã Akron, đến Pittsburgh.
16-6 Giảng buổi sáng trong Hội Thánh của ông Paul, buổi tối trong Hội Thánh
của ông Fraser.
17-6 Thăm viếng một vài Hội Thánh nhỏ trong khu vực Pittsbourgh.
18-6 Từ giã Pittsbourgh đến Nữu Ước.
19-6 22-6 Ở tại Nữu Ước.
23-6 Mt. Vermon, N. Y. và Brooklyn, N. Y. London.
25-6 Paris.
26-6 Rome.
27-6 Sài Gòn.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 184
Được tham dự chương trình chuẩn bị cho ông Lê Văn Thái thực là một thích 184
thú. Làm thông ngôn cho ông chẳng khác nào đem tôi đến gần Việt Nam một lần
nữa. Chúng tôi không thể trở lại xứ này, nhưng qua ông Thái, xứ này lại đến với tôi.
Tôi có cảm tưởng như sống trở lại những ngày cùng hầu việc Chúa với ông.
Dầu ông Thái không biết trước phải giảng trong những Hội Thánh nào, nhưng
những bài giảng của ông luôn luôn rất hiệp nghi, chứng tỏ Chúa thật có dẫn dắt
ông. Mọi người không lấy sự thông dịch làm khó chịu. Họ nói luôn luôn rằng thời
giờ qua mau quá, tôi thấy họ nghe rất chăm chỉ. Bất cứ nơi nào chúng tôi đi đến
đều biết rõ có sự hiện diện của Chúa, và mỗi lòng đều được phước.
Cuộc thăm viếng các Hội Thánh của ông Lê Văn Thái đã làm cho mọi người cảm
xúc một tinh thần sốt sắng truyền giáo mới mẻ và đức tin được nâng đỡ bằng cách
cầu nguyện. Hiện nay họ đã thấy tận mắt kết quả mỹ mãn những sự hy sinh trước
đây của các nhà truyền giáo. Ông Thái đã căn cứ trên Lời Chúa để giảng, sự kiện ấy
đã khiến cho họ cảm biết rằng trong khi hầu việc Ngài, chỉ có Lời Chúa là đáng kể
mà thôi.
Tất cả các Mục sư đều nói rằng cuộc thăm viếng của ông Thái rất bổ ích, đã
phấn khởi hội chúng càng hầu việc Chúa nhiều hơn, và đã đem về cho họ một
tiếng gọi cao cả mới mẻ về những nhiệm vụ của Phước Âm Truyền Giáo Hội.
Trên đây chỉ là một vài cảm tưởng mà tôi thiết nghĩ sẽ bổ ích cho các bạn và
nhiều người khác.”
J.J. VAN HINE
c. Phúc trình của Giáo sĩ P.E. Carlson:
“ Việc đưa ông Mục Sư Lê Văn Thái, Hội Trưởng của Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam, qua dự Hội đồng thường niên của chúng ta tại Charlotte ở Mỹ Quốc, đã hoàn
toàn đạt được mục đích của nó, càng thắt chặt mối tình thân hữu giữa Hội Thánh
nhà và các Hội Thánh hải ngoại. Nếu phước hạnh rõ ràng do sự thăm viếng này là
một tiêu chuẩn đặc biệt, thì thiết tưởng năm tới nên tái diễn sự thí nghiệm ấy, để
cho một vị Hội trưởng bản xứ của một nước khác đến nhóm với tư cách một đại
biểu có quyền bỏ phiếu và nhắc chúng ta về phạm vi bao la cả hoàn cầu của Phước
Âm Truyền Giáo Hội.
Sự kiện ông Thái được hoan nghinh tại Hội đồng không chi khác hơn là một sự
hiển nhiên. Có vô số lần chúng tôi cố chen lấn giữa đám đông để hướng dẫn ông,
thì ông bị ngăn lại bằng những câu: “Tôi mừng quá vì được gặp ông” hoặc “Tôi chỉ
muốn được hân hạnh bắt tay ông.” Sau khi ông Thái giảng ở Hội Đồng thì ông càng
được mọi người hâm mộ hơn nữa, và thật khó làm thỏa lòng tất cả những người
đang ao ước mời ông Thái đến viếng Hội Thánh mình.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 185
Cuộc hành trình của ông Thái đã đưa ông đến 5 tiểu bang và chừng mười sáu 185
Hội Thánh. Trong tất cả những Hội Thánh ấy ông đều giảng những bài giảng duy
nhất bằng tiếng Việt Nam do Giáo sĩ P. E. Carlson thông dịch. Mọi lòng ở mọi nơi
đều sung sướng khi họ được nghe nhân vật này vốn là một sản phẩm của công
cuộc truyền giáo của chúng ta ở xứ mà trước đây được mệnh danh là Đông Pháp.
Là một sinh viên tốt nghiệp trường Thánh Kinh Đà Nẵng, ông Thái đã chứng minh
trong các bài giảng của ông sự huấn luyện chu đáo về Thần đạo học, cũng như
truyền đạo pháp. Ít người quên được sự giải bày rất linh động của ông về Thi Thiên
23, hoặc sự ứng dụng mới mẻ về câu chuyện Giô-na-than và Đa-vít. Người ta đã nói
rất đúng rằng chức vụ của ông Lê Văn Thái là một bằng chứng hùng biện về sự
công hiệu của sự đào tạo trong trường Thánh Kinh Việt Nam của chúng ta.
Ông Thái có dịp tiện tiếp xúc với các nhà báo, đạo cũng như đời. Tại Chicago
ông đã tiếp chuyện với bộ biên tập báo Christan Life Magazine và cũng đã được
ông chủ bút của báo Moody Monthly phỏng vấn. Phóng viên của nhiều tờ báo
trong nhiều thành phố cố tìm gặp ông để phỏng vấn ông về nhiều vấn đề. Những
phóng viên thì luôn luôn săn những tin tức sốt dẻo, cho nên họ cố tìm cách gợi
cho nhân vật đến từ Việt Nam tuyên bố một vài điều về các vấn đề như: Chủ Nghĩa
Cộng Sản, Giáo Hội Công Giáo,v.v… nhưng họ thấy ông không phải ngây thơ như
họ tưởng. Những câu ông Thái trả lời luôn luôn được một thượng vị thuộc linh, đôi
khi làm cho các nhà báo phỏng vấn ông phải ngạc nhiên. Đáp lại câu hỏi: “Đại đề
của những bài giảng của ông là gì?,” ông đã thuyết trình một bài giảng ngắn cho họ
về Đức Chúa Jêsus, Cứu Chúa chúng ta, là Đấng làm cho nên thánh, Đấng chữa
lành và là Vua Vị Lai. Chẳng có lúc nào mà một nhà báo có thể thành công trong sự
đánh lừa để đưa ông đến chỗ tuyên bố một lời có phương hại đến công cuộc
truyền giáo của bổn hội. Trước những câu trả lời hóc búa, ông vừa sáng ý nhận
thấy lại vừa trả lời cách khôn khéo, sự ấy chứng tỏ ông không tự cậy sự khôn ngoan
của mình, mà là nhờ cậy sự khôn ngoan từ Thiên Thượng.
Biết bao lần người anh em chúng ta được hỏi đi hỏi lại rằng cái gì đã làm cho
ông cảm xúc nhất tại Mỹ Quốc. Câu trả lời không thay đổi của ông là: không phải
những đô thị lớn, những tòa nhà chọc trời, những đại lộ những cầu cống và những
nông trại rộng lớn bao la của chúng ta, mà chính là cuộc nhóm họp của một số rất
đông những con cái chân thực của Đức Chúa Trời. Chúng ta tin chắc rằng cảm
tưởng này của ông Thái sẽ được đề cập đến trong lúc ông phúc trình lại cho các
Mục sư, Truyền đạo của ông khi ông trở về Việt Nam. Vậy chúng ta hãy cầu nguyện
cho mối tình hữu nghị giữa chúng ta và ông Thái (xin đọc tên ông là TIE có nghĩa là
sợi dây), có thể là sợi dây để thắt chặt những tâm hồn của anh em chúng ta tại Mỹ
Quốc cũng như Việt Nam trong chuỗi dây yêu thương của Đấng Christ.
P. E. CARLSON
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 186
2. Những Kỷ Niệm Sâu Đậm Nhất Trong Chuyến Công Du. 186
Ba bản phúc trình đặc biệt trên đây của ba vị Giáo sĩ, thiết tưởng cũng tạm đủ
để nói lên những gì đáng nói. Đó là những lời làm chứng vắn tắt, nhưng phản ánh
rất trung thực những thành quả tốt đẹp mà chúng tôi đã thâu hoạch được trong
suốt cuộc hành trình dài ba tháng tại Mỹ Quốc.
Bên cạnh những buổi thuyết trình và làm chứng ơn Chúa tại Hội Đồng cũng như
tại các Hội Thánh thuộc năm tiểu bang, chúng tôi còn có dịp tổ chức những cuộc
thăm viếng, tiếp xúc riêng với các Giáo sĩ và các nhà truyền giáo Mỹ. Chính những
lần tiếp xúc, thăm viếng như vậy, đã ghi lại trong tôi những kỷ niệm khó quên.
a. Xuyên đường hầm sang Gia Nã Đại.
Ngày 10-5-1957, sau khi giảng hai lần tại nhà thờ của Mục sư Paul và Praser ở
tiểu bang Detroit, tôi được Giáo sĩ Jean Fune mời sang thăm gia đình của ông ở
Windsor (Canada).
Tôi vui vẻ nhận lời vì chẳng những Giáo sĩ Jean Fune đối với tôi là chỗ quen biết
cũ mà phương tiện di chuyển bằng đường hầm đến Gia Nã Đại là điều khiến tôi ưa
thích. Từ Mỹ muốn sang Canada nếu di chuyển bằng đường xe phải xuyên qua
đường hầm dưới lòng sông Detroit, thật là một công trình kiến tạo kỳ diệu.
Ngồi trên xe với Giáo sĩ P. E. Carlson, nhưng tâm trí tôi cứ miên man suy nghĩ.
Không hiểu người ta làm cách nào mà khiến nước không tràn hoặc thấm vào hầm
trong khi sông rất rộng và lòng sông rất sâu; trên sông lại có những tàu lớn qua lại
không ngớt. Đường hầm rất rộng, xe chạy hai chiều và quang cảnh cũng náo nhiệt
như trên mặt đất, thỉnh thoảng cũng có những ông cảnh binh, cảnh sát lảng vảng
hai bên lề đường một cách thản nhiên. Tâm trí tôi xoay tròn chung quanh những
vấn đề sáng tạo, phát minh do sự khôn ngoan của loài người, nên xe đến lãnh thổ
Canada lúc nào cũng không nhớ rõ.
Gia đình Giáo sĩ Jean Fune tiếp đón chúng tôi rất niềm nở, nhưng vì thời gian có
hạn nên không lưu lại được lâu. Lúc trở về chúng tôi vẫn phải chui qua đường hầm
ấy. Trong khi đó, tôi bỗng nhớ lại Lời Chúa phán trong Xu 14:29 “Dân Y-sơ-ra-ên đi
giữa biển như đi trên đất khô; nước làm thành vách ngăn bên hữu và bên tả.” Quyền năng
của Chúa thật vô cùng cao diệu. Ngài có thể gom trọn vũ trụ trong lòng bàn tay.
Nên khi xuyên qua đường hầm, tôi rất phấn khởi nghĩ về ý nghĩa của Thi 77:19 “Con
đường của Chúa ở trong biển, các lối của Chúa ở trong nước sâu. Còn các dấu Chúa không ai
biết đến.”
Đứng trước sự toàn bích vĩ đại của Đức Chúa Trời, khả năng của loài người trở
nên quá nhỏ nhen. Con đường hầm kia chẳng qua chỉ là phản quang của một tia
sáng nhỏ trong vầng hào quang rực rỡ của Chúa. Tâm trí tôi bình thản trở lại, và
lòng tôi lúc ấy chỉ muốn nói như tác giả Thi Thiên: “Hỡi CHÚA, Đức Chúa Trời, xin hãy
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 187
chỉ dạy cho tôi biết đường lối Ngài, thì tôi sẽ đi theo sự chân thật của Ngài. Xin khiến tôi một 187
lòng kính sợ danh Ngài.” (Thi 86:11)
b. Buổi nhóm cầu nguyện tại Madison Square Garden (N. Y.)
Thể theo chương trình đã được hoạch định, tôi lưu lại Nữu Ước mấy ngày để
cùng ông bà Giáo sĩ J. J. Van Hine đi thăm trường Thánh Kinh Nyack và Hội Thánh
White Plains của Mục sư Gorden Cathay. Lúc bấy giờ (tháng 5-1957) chiến dịch
giảng Tin Lành của Mục sư Billy Graham đang phát động mạnh mẽ ở New York.
Nhân cơ hội ấy, tôi được hân hạnh quen Mục sư Billy Graham qua sự giới thiệu của
Giáo sĩ V. Van Hine. Sau đó chúng tôi có dịp thảo luận với nhau về nhiều vấn đề, và
ngày 15-5-1957 tôi được Tiến sĩ Billy Graham mời dự buổi nhóm cầu nguyện tại
MADISON SQUARE GARDEN cùng với sáu người trong ban cầu nguyện của ông.
Điều làm tôi cảm động nhiều nhất là trước giờ Mục sư Billy Graham giảng, tôi được
mời lên tòa giảng để làm chứng về công việc Chúa tại Việt Nam. Nhân cơ hội ấy tôi
đã tường thuật sơ lược lịch sử Hội Thánh nhà và làm chứng về những ơn phước đặc
biệt mà Chúa đã ban cho Hội Thánh trong những năm qua trước hai mươi bốn
nghìn người tham dự buổi nhóm. Tôi cũng không quên kêu gọi Hội Thánh Quốc Tế
hãy cầu nguyện cho Việt Nam sớm có hoà bình, cho Hội Thánh Việt Nam được
thịnh vượng và cho toàn thể tín hữu có lòng sốt sắng để đem thật nhiều linh hồn
về với Chúa.
c. Bức chân dung Chúa từ bên kia bờ Thái Bình Dương.
Ngày 26-5-1957, trong khi tôi đang ở tại văn phòng của Hội Truyền Giáo, thì
Tiến sĩ Harry L. Turner (Hội Trưởng Hội Phước Âm Liên Hiệp lúc bấy giờ) bước vào
báo tin ông J. H. Revelle vừa đắc cử chức vụ HỘI TRƯỞNG đoàn Truyền Giáo tại
Việt Nam. Gặp tôi, Tiến sĩ Turner rất mừng rỡ và ngồi lại thảo luận rất lâu về công
việc Chúa. Cuối cùng, trước khi bắt tay từ giã, ông bỗng hỏi tôi nghĩ thế nào đối với
việc một thanh niên vừa đắc cử Hội Trưởng. (xin nói thêm là Tiến sĩ Turner lúc bấy
giờ đã ngoài 70 tuổi). Tôi liền trả lời ngay: “Hiện nay là thời đại của tuổi trẻ, và
những người trẻ tuổi thường nghĩ rằng họ có thể đưa hai cánh tay ra ôm trọn quả
đất và sức họ có thể bưng nổi quả đất lên. Nhưng khi bắt tay vào việc, họ mới thấy
mình nhỏ bé quá và họ quay nhìn lại những người già.”
Tiến sĩ Turner liền đứng lên lấy một số tiền (tôi không biết là bao nhiêu) để tặng
cho câu trả lời mà ông cho là rất DUYÊN DÁNG VÀ ĐẦY Ý NGHĨA ấy. Tôi từ chối
không nhận tiền, nhưng vui lòng nhận những lời khen ngợi của ông.
Về sau, khi tôi đã trở lại Việt Nam, Tiến sĩ Turner có gởi qua tặng tôi bức chân
dung Chúa Jêsus có đèn thắp sáng ban đêm. Tôi rất thích bức chân dung ấy. Cho
đến nay tôi vẫn còn dùng để treo trong nhà và tôi vẫn thắp đèn sáng chẳng những
để tưởng nhớ Chúa mà còn để kỷ niệm cái tình tri kỷ của Tiến sĩ Turner.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 188
d. Thăm mộ Tiến sĩ A. B. Simpson.
Sáng ngày 27-5-1957, tôi đến thăm trường Thánh Kinh Nyack (lúc bấy giờ ông
Mục sư Lê Hoàng Phu đang học tại đó). Đây là cơ hội giúp tôi có thể đi thăm mộ
chí Tiến sĩ A. B. Simpson, vị Mục sư có công sáng lập Hội Truyền Giáo Phước Âm
Liên Hiệp.
Mục sư Simpson có thể bảo là người được ơn Chúa cách đặc biệt, chẳng những
ông đã nhận được những khải tượng sâu rộng về truyền giáo, mà còn có đặc ân viết
những bài giảng luận Thánh Kinh rất súc tích. Ngoài ra ông cũng còn xuất bản
nhiều sách biên khảo hữu ích để lưu lại cho người đời sau.
Phần mộ của Tiến sĩ được xây trên một ngọn đồi trong khuôn viên trường
Thánh Kinh Nyack. Quang cảnh nơi đây tuy đơn sơ nhưng hùng vĩ. Dưới chân đồi,
một dòng suối nhỏ lượn quanh hai dãy nhà lầu ấm cúng của trường. Ngôi mộ được
kết thành bởi hai mươi bốn tảng đá sắp liền nhau. Mỗi tảng đá đều có khắc tên
Quốc gia mà Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đã đem đạo cứu rỗi của Chúa
đến nơi đó, chẳng hạn như Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân, v.v….
Tôi chụp tại đây một tấm hình để làm kỷ niệm nơi an nghỉ tạm thời của vị anh
hùng đức tin đã có nhiều công lao đối với nhân loại, trong đó có dân tộc thân yêu
của chúng ta.
Hình ngôi mộ của Tiến sĩ A B Simpson 188
e. Ngôi nhà chọc trời và lá thư từ quê hương.
Ngày 19-6-1957, tôi trở lại New York lần thứ hai để chuẩn bị đi Luân Đôn (Anh
Quốc) thăm trụ sở của Thánh Kinh Hội, trung tâm ấn hành Thánh Kinh cho toàn
thế giới. Lần thứ nhất đến New York, tôi đã có dịp đến thăm trụ sở Thanh niên Cơ
Đốc Quốc Tế (YMCA) và cũng đã thảo luận nhiều với những nhà lãnh đạo của họ về
việc thiết lập một chi nhánh tại Việt Nam, công việc tiến hành rất tốt đẹp. Hiện nay
văn phòng của Hội được đặt tại số 8 đường Trần Nhật Duật, Tân Định Sài Gòn.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 189
Trở lại New York lần này, tôi được một người bạn hướng dẫn đi quan sát tổng
quát ngôi nhà chọc trời sừng sững cao vút ở giữa lòng thành phố Nữu Ước. Đứng
trên tầng thứ 102 nhìn xuống đất, tôi nhận thấy con người chẳng khác gì đàn kiến li
ti đang di chuyển một cách vội vã trên vỉa hè. So với khung trời bao la trước mắt thì
thân phận con người đúng như lời Pascal đã nói là một cây sậy không hơn không
kém. Sự xúc động bỗng tràn ngập tâm hồn tôi khi tôi suy nghĩ về tình thương vô bờ
bến của Chúa. Ơn cứu chuộc đến với con người không phải bởi những kỳ công vĩ
đại mà là bởi tình thương của Đức Chúa Con, một thứ tình thương vô điều kiện.
Về đến văn phòng Hội Truyền Giáo, tôi vui mừng nhận được bức thư của ĐOÀN
CÔ NHI từ Nha Trang gởi sang. Thư viết ngày 25-5-1957. Nội dung bức thư chỉ vỏn
vẹn mấy dòng chữ nguệch ngoạc như sau: “Kính Ông, chúng con kính lời thăm ông,
cầu Chúa thêm sức cho ông. Vắng ông lâu quá chúng con nhớ ông lắm và rất buồn.
Chúng con mong ông mau về. Cầu Chúa ở cùng ông. Kính thư.”
Lòng tôi bỗng nhiên cảm động. Sức mạnh của tình thương và ý thức trách
nhiệm đối với ĐOÀN TRẺ, khiến tôi không muốn kéo dài cuộc công du thêm nữa.
Chiều hôm đó, tôi tuyên bố hủy bỏ chuyến đi Luân Đôn và quyết định trở về Sài
Gòn ngày 26-6-1957 mặc dầu vé đi Luân Đôn đã mua rồi.
189
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 190
CHƯƠNG 7: THỜI KỲ VỀ HƯU 190
Trong chuyến công du ba tháng tại Mỹ Quốc năm 1957, tôi được hân hạnh
cùng Giáo sĩ Herman H. Hazlett đến thăm thành phố Washington North, kinh đô
miền Bắc nước Mỹ. Tại đây, chúng tôi có dịp lưu lại hai ngày trong nhà DƯỠNG
LÃO, cơ quan từ thiện của Giáo Hội dành riêng cho các Giáo sĩ Ngoại quốc khi về
hưu không có chỗ ở hoặc không có thân nhân cấp dưỡng. Trại dưỡng lão nầy trước
kia là một viện bài lao của thành phố, tọa lạc trên một ngọn đồi thật đẹp với bốn
tòa nhà lớn, giữa có nhà thờ và nhà ăn. Dọc triền đồi lại có những dãy nhà xinh xắn
xen lẫn với những hàng cây râm mát.
Nơi đây giờ giấc được chia đều cho mỗi ngày. Cứ 8 giờ sáng có một hồi chuông
mời điểm tâm, 12 giờ có hồi chuông ăn trưa và 6 giờ chiều lại có hồi chuông ăn tối.
Ngày nào cũng đều đặn như vậy. Sống hai ngày hai đêm tại đây, tôi có dịp quan sát
rất kỹ về những bữa ăn, những chỗ ngồi, thì giờ tiêu khiển cũng như thì giờ thờ
phượng Chúa của các cụ ông, cụ bà Giáo sĩ về hưu. Tiếng chuông thay cho lời mời.
Tôi đứng trên lầu nhìn xuống, thấy các cụ từ những dãy nhà dưới triền đồi cắp tay
nhau bước lên những bực thang để tiến đến nhà ăn, người thì tay chống gậy, bước
đi trong dáng điệu hết sức mệt nhọc. Quãng đường từ chỗ trọ đến nhà ăn tuy
không xa lắm, nhưng dường như được chia làm hai đoạn. Họ phải dừng lại nghỉ mệt
vài phút dưới gốc cây rồi mới tiếp tục đi.
Trước giờ ăn chiều, tôi lại thấy các cụ dìu nhau từng đôi một ra ngồi trên những
chiếc ghế đá dưới bóng cây như để nhìn trời, nhìn chim bay, nhìn lá rụng, nhìn hoa
tàn, nhìn tuyết rơi… Để mà nghĩ về thân phận mình! Cũng có cụ ngồi một mình,
tay run run mở Thánh Kinh ra đọc.
A. NHỮNG ÁM ẢNH VỀ HIỆN TƯỢNG GIÀ NUA TRONG CUỘC SỐNG
Hình ảnh tiều tụy của những cụ già trên đây đã lưu lại trong tôi những nét hằn
rất đậm không thể nào tẩy xóa được. Lòng tôi nao nao, tâm tư tôi luôn luôn vướng
bận khi suy nghĩ về hiện tượng cằn cỗi trong cuộc sống. Đành rằng đã là con người
thì không ai có thể thoát khỏi sự chi phối của định luật thiên nhiên này, nhưng
không hiểu sao tôi vẫn cứ băn khoăn mãi. Ngay trong lúc thiếu thời, tôi vẫn thường
thố lộ với bạn bè là rất sợ sống trong tuổi già, vì khi ấy những người cùng nhịp sống
với mình đã lần lượt đi vào cõi đời đời, còn những người đang sống với mình thì lại
không có cùng một tâm trạng như mình. Có lẽ chính vì thế sứ đồ Phao-lô trong lúc
tuổi già đã nói: “Tôi muốn đi ở với Chúa là hơn.”
Năm 1963, tôi được nghe anh em thuật lại lễ hưu trí của cụ Mục sư Nguyễn Văn
Trình do Tổng Liên Hội và Nam hạt tổ chức tại nhà thờ Phan Thanh Giản Sài Gòn
ngày 30-5-63, tôi tự hỏi, lễ hưu trí là gì nhỉ? Phải chăng đó là một an ủi, hoặc một
khích lệ có tính cách nhất thời đối với những người đã từng lao nhọc trong công
trường Thuộc Linh của nhà Chúa? Hay là nó chỉ mang một ý nghĩa thông thường
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 191
như là bắt đầu giai đoạn không làm việc nữa, sống để dưỡng già chờ chết, hay là hư 191
trí cũng có nghĩa là hưu trí như lời nói đùa của một Giáo sĩ mà tôi có dịp nghe.
Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa thì tuổi già cũng là một đày ải của thân phận.
Thời gian của tuổi già là một thời gian để thọ ơn. Chính vì thế mà tôi không thích
sống trong tuổi già, không thích hưu trí. Mùa thu năm 1922 tôi đã tình nguyện vào
trường Thánh Kinh Đà Nẵng để học biết lẽ thật, để sống theo lẽ thật và làm chứng
về chân lý cứu rỗi cho đồng bào một cách hăng hái thế nào, thì cho đến ngày nay
(1969), tâm trí tôi vẫn còn sốt sắng và nóng nảy như vậy. Mặc dù sức khỏe có kém
đi, nhưng lòng ham thích học Lời Chúa và làm chứng về Chúa vẫn không thay đổi.
Có thể bảo còn trội hơn nữa là đằng khác. Trong tác phẩm LES MISERABLES của
văn hào Victor Hugo, nhân vật mà tôi thích nhất là anh chàng Jean Valjean. Lương
tâm và cuộc đời con người cần phải được đổi mới và như vậy, hễ còn sống trên đất
ngày nào thì tôi phải sống cho đúng nghĩa ngày nấy, có như thế, cuộc đời mới đẹp.
Trước khi buông xuôi hai tay, lão Ngư ông của Earnest Heminway vẫn còn thừa
năng lực để chiến đấu và chiến thắng… “Thuyền về đến bến đã khuya, Ngư ông vác
các vật cần thiết về nhà, ngủ rồi không thức dậy nữa.” Một hình ảnh như vậy thật
hào hùng biết bao! Suy nghĩ về những câu chuyện trên đây tôi thấy mình có thêm
lý do để không thích sống trong tuổi già hoặc sợ sống trong tuổi già cũng thế.
Tuy nhiên, sợ là một lẽ mà buộc phải đối đầu với định luật bất di bất dịch này
lại là một lẽ khác. Cho nên những khi đọc những tạp chí hoặc sách báo, nếu gặp
những bài CẢO LUẬN liên quan đến vấn đề này, chẳng hạn như: CHUẨN BỊ CHO
TUỔI GIÀ, PHẢI BIẾT SỐNG TRONG TUỔI GIÀ, PHẢI THỰC TẾ BIẾT MÌNH GIÀ.
v.v… Tôi đều cắt và dán lại thành một tập để nghiên cứu và nhớ ơn Chúa giúp
mình trong cuộc sống hiện tại. Chính quyển “Một Quan Niệm về Sống Đẹp” của
Nguyễn Hiến Lê dịch từ nguyên tác Anh ngữ của nhà văn nổi tiếng Lâm Ngữ Đường
đã đem lại cho tôi nhiều khích lệ. Những tư tưởng của ông rất có giá trị, vì đó chính
là những kinh nghiệm sống. Tôi rất hâm mộ nhà văn lão thành này, nhưng dù nói
thế nào đi nữa thì tôi vẫn không thích hưu trí. Những từ ngữ HƯU TRÍ, TRÍ SỰ, VỀ
HƯU, NGHỈ VIỆC hoặc HƯ TRÍ (mặc dù đùa bỡn) đối với tôi vẫn là một xúc phạm,
hay nói đúng hơn đó là một mặc cảm không tốt đẹp. Tôi không muốn bị đặt bên lề
cuộc sống như một thừa thãi đối với tất cả mọi sinh hoạt của Giáo Hội và của cuộc
đời. Tôi không muốn sống chỉ để thụ hưởng hoặc chỉ để nhận lãnh những sự cung
phụng của người khác. Chính vì thế mà tôi không thích nghe đến hai chữ Hưu Trí
cũng như không thích nói đến hai chữ HƯ TRÍ. Tôi mang nặng một thành kiến
không mấy đẹp đối với hai chữ này.
Nhưng khi học lại sách Dân Số Ký, nhất là những đoạn nói về cuộc hành trình
dài bốn mươi năm trong đồng vắng của dân Y-sơ-ra-ên đến Đất Hứa, về mười điều
răn trên núi Si-nai và vấn đề phân nhiệm công tác cho mười hai chi phái đóng trại
chung quanh đền tạm, tôi bỗng nhận được những sự dạy dỗ mới, Thánh Kinh chép:
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 192
“CHÚA, Đức Chúa Trời phán cùng Mô-se rằng: Này là luật định về người Lê-vi. Từ hai mươi 192
tuổi sắp lên, người Lê-vi phải đến nhập ban trong công việc Hội mạc. Nhưng đến năm mươi
tuổi, người sẽ ra ban, chẳng làm công việc nữa; người phải giúp đỡ anh em mình trong Hội
mạc, coi sóc việc chi đã giao cho, nhưng không nên làm công việc nữa. Ngươi phải đối cùng
người Lê-vi, mà làm như vậy về chức phận của họ.” (Dan 8:23-26). Đây là luật lệ Chúa đã
dành cho người Lê-vi, Chi phái được biệt riêng cho đền tạm để lo việc thờ phượng
và Môi se có nhiệm vụ thi hành đứng đắn mệnh lệnh ấy. “Hai mươi tuổi vào ban
làm công việc, năm mươi tuổi ra ban không làm công việc nữa. Nhưng phải cứ giúp
đỡ anh em trong Hội mạc,” như vậy không phải là hoàn toàn không làm công việc
nữa, mà chỉ không nắm giữ quyền hành, không tiếp tục chức vụ lãnh đạo nữa mà
thôi. Người “hưu trí” trong trường hợp này có nghĩa là trở về với vai trò phụ giúp
hoặc coi sóc việc chi mà người khác đã giao cho mình.
Nhận được sự dạy dỗ này lòng tôi rất vui thích, tuy nhiên, không phải vui thích
vì thời gian phục vụ Chúa của người Lê-vi mà là vui thích “ngươi phải cứ giúp đỡ
anh em mình trong Hội mạc, coi sóc việc chi đã giao cho, nhưng không nên làm
công việc nữa.” Câu Thánh Kinh ngắn ngủi này đã giải đáp những thắc mắc của tôi
nhiều năm qua. Tâm trí tôi không còn băn khoăn khi nghĩ đến lúc phải về hưu nữa
trái lại, lòng rất thỏa mãn với ý nghĩa của sự HƯU TRÍ trong Dân Số Ký đoạn 8 trên
đây.
Thế là sau nhiều ngày suy nghĩ và cầu hỏi ý Chúa, tôi nhận thấy đã đến lúc
mình xin về hưu để nhường chỗ cho người khác. Tuy nhiên, để công việc khỏi bị
đình trệ, một mặt tôi trình bày vấn đề này với ban Giám Đốc Cô Nhi viện và ông
Hội Trưởng Tổng Liên Hội Mục sư Đoàn Văn Miêng (Ông Mục sư Miêng đã chính
thức thay thế tôi trong chức vụ Hội Trưởng kể từ năm1960), một mặt tôi viết thư
cho Tiến sĩ Kemp, Chủ Tịch Hội CCF (Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế) và thảo
luận với ông V. J. Mills, đại diện của CCF tại Việt Nam để xin thu xếp những công
việc liên quan đến Viện. Sau đó, tôi gởi một văn thư chính thức lên Ban Trị sự Tổng
Liên Hội (vào khoảng cuối năm 1965) để xin HƯU TRÍ.
Trong khi chờ đợi quyết định của trung ương, tôi vẫn vui với những công việc
thường nhật. Hơn hai trăm khuôn mặt trẻ thơ trong Viện là nguồn an ủi to tát đối
với tôi trong lúc tuổi già. Có thể bảo đây là một tổ ấm của những con chim non côi
cút không cha không mẹ thiếu vắng tình thương. Mỗi khi nhìn chúng tung tăng
chạy nhảy tôi cảm thấy như lòng mình trẻ lại. Lạy Chúa xin Chúa cho đoàn trẻ thơ
này lớn lên trong ý muốn Ngài!
Đến tháng 3-1966 một cuộc nhóm đặc biệt cho các Mục sư Truyền đạo được tổ
chức tại Đà Lạt (từ 28-2 đến 4-3-1966). Diễn giả trong dịp này là Tiến sĩ O. J.
Sanders hơn 70 tuổi, có Quốc tịch Anh và hiện đang làm Giáo sĩ tại Tân Tây Lan.
Tôi rất sung sướng được đến để nghe ông giảng. Suốt chương trình 5 ngày, ngoài
những bài giải nghĩa Thánh Kinh rất sâu nhiệm về lẽ đạo Ba Ngôi, Mục sư Sanders
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 193
còn đề cập nhiều đến tư thế của Mục sư trong chức vụ và chương trình phục vụ 193
Chúa của Mục sư trong Hội Thánh.
Trong phần nói về tư thế của Mục sư trong chức vụ, ông đã nhận định: “người
cao tuổi phải rút lui, nhường chỗ cho những người trẻ. Nhưng rút lui, nhường chỗ
không có nghĩa là bỏ việc, nghỉ việc, không làm việc nữa, mà là phải đứng ra phía
sau để cầu nguyện, giúp ý kiến cho đàng hậu tiến và sẵn lòng đảm nhiệm những
chức vụ giao phó mà mình tự cảm thấy có đủ khả năng. Mục sư truyền đạo phải có
ý thức rõ rệt về chức vụ của mình đối với Hội Thánh. Hãy cầu nguyện xin Chúa cho
chúng ta biết TIẾN đúng lúc và cũng biết THOÁI đúng lúc. Có nhiều người thi hành
chức vụ lúc đầu có vẻ như đắc lực nhưng sau cũng thất bại, chính vì không nhận
thức được tình thế, hành sự không đúng lúc. Nếu mỗi người chúng ta đều có một
nhãn quan Thuộc Linh bén nhạy, biết khi nào nên làm và khi nào không nên làm
thì hậu trường của Hội Thánh sẽ mạnh và vui, vì chúng ta biết huy động nhân lực
một cách tương xứng trong công trường của nhà Chúa.” Nghe được diều ấy, tôi liền
lớn tiếng A-men nhiều lần trong giờ giảng. Khi thấy tôi làm như vậy, thì một số anh
em Mục sư Truyền đạo liền nhìn tôi với một NỤ CƯỜI. Sự thật, họ đâu biết được tôi
vốn có ý nghĩ như vậy từ lâu nhưng chưa có dịp nói ra.
Sau khi ở Đà Lạt về, vào cuối tháng 3 năm 1966 tôi gởi một văn thư khác cho
Tổng Liên Hội để nhắc lại đơn xin hưu trí của tôi trước đây. Trong văn thư này, một
lần nữa tôi tha thiết xin Ban Trị sự Tổng Liên Hội cho phép tôi được về hưu bắt đầu
từ ngày1-7-1968, đồng thời cũng xin Ban Trị sự Tổng Liên Hội đề cử người khác
thay thế tôi trong chức vụ Giám Đốc Cô Nhi viện kể từ ngày nói trên. Sở dĩ tôi phải
dự trù một thời gian khá dài như vậy là để cho Ban Trị sự Tổng Liên Hội và Cơ quan
Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế có đủ thì giờ lo liệu công việc.
B. LỄ HƯU TRÍ VÀ BÀN GIAO CHỨC VỤ GIÁM ĐỐC CÔ NHI VIỆN
Y theo đơn xin, ngày 21-5-1968 Ban Trị sự Tổng Liên Hội nhóm lại và đồng ý
chấp thuận cho tôi được về hưu do biên bản số 3-68-TLH-167, đồng thời đặt cử
ông Mục sư Trần Văn Đệ giữ chức vụ Giám đốc Cô Nhi viện thay tôi. Khi nhận được
biên bản ấy, tôi liền mời ban Giám Đốc Cô Nhi viện nhóm lại để kiểm điểm sổ sách,
tiền bạc và soạn thảo văn thư bàn giao giữa tôi và Mục sư Tân Giám đốc. Lễ bàn
giao chính thức được tổ chức tại nhà thờ Cô Nhi viện lúc 16 giờ chiều ngày 30-6-
1968 do Mục sư Trần Trọng Thục Chủ nhiệm Địa hạt Nam Trung phần chủ tọa.
1. Diễn Từ Của Mục sư Phó Hội trưởng Tổng Liên Hội.
Ông Mục sư Vũ Văn Cư Phó Hội Trưởng Tổng Liên Hội thay mặt Mục sư Hội
Trưởng Tổng Liên Hội trình bày đại cương về việc thành lập Cô Nhi viện và tuyên
đọc biên bản của Tổng Liên Hội, nguyên văn như sau:
Kính thưa quý vị quan khách.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 194
Được một khải tượng về công việc của Chúa là một đặc ân của Ngài. Biến khải 194
tượng thành một thực sự ấy là công việc của đức tin neo mình trong tay Chúa cùng
với ý chí quyết theo sự dẫn dắt của Thánh Linh.
Đang khi chúng ta ngồi trong nhà thờ của khu cô nhi viên, hãy hồi tưởng đến
khoảng thời gian 15 năm trước đây, khuôn viên nầy chỉ là một miếng đất hoang
vắng và lạnh lẽo như cái nghĩa địa ở bên kia Quốc lộ số 1 đối diện với nó. Lúc ấy cụ
Mục sư Lê Văn Thái giữ chức Hội Trưởng của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, đã
được khải tượng về công tác mới của Hội Thánh, công tác xã hội, để bày tỏ các
thực tế của Cơ Đốc Giáo cho đồng bào. Năm 1952-1953, cuộc chiến tranh Việt
Pháp đang hồi quyết liệt, gieo tang tóc cho nhiều gia đình tín hữu. Hình ảnh các
em thiếu nhi không cha, thiếu mẹ, nheo nhóc, đã gây xúc động cho đầy tớ Ngài khi
đi thăm đây đó. Đức Chúa Trời đã dùng những hình ảnh sống động ấy mà ban cho
cụ khải tượng về sự thành lập một Cô Nhi viện. Để thúc đẩy đầy tớ Chúa trong
công tác nầy Ngài đã cảm động Cố Giáo sĩ W. C. Cadman, trước khi qua đời để lại
một chúc thư, di tặng tài sản của mình cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Chính tài
sản ấy đã được dùng để xây cất những cơ sở đầu tiên của Cô Nhi viện. Buổi đầu
của một công tác mới thì tránh sao cho khỏi những khó khăn ngăn trở từ bên ngoài
lẫn bên trong! Nhưng với ý chí cương quyết và lòng tin vững vàng, cụ đã vượt qua
mọi chặng đường ấy. Sau 15 năm kiên trì hoạt động của cụ, chúng ta đều thấy Cô
Nhi viện đã được mở mang đồ sộ như ngày nay về phần cơ sở cũng như số lượng
các em cô nhi. Thật, cụ Mục sư Lê Văn Thái đã gây đựng cho Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam một tài sản đáng giá hàng chục triệu đồng, để lại cho chúng ta một
gương sáng về tinh thần hầu việc Chúa, hướng theo một mục đích cao cả, rất khích
lệ chúng ta.
Hiện nay tuổi cụ đã cao, sức khỏe không được thường, cụ đã gởi đơn lên Ban
Trị sự Tổng Liên Hội xin nghỉ chức vụ Giám Đốc Cô Nhi viện và hồi hưu. Trong kỳ
họp từ ngày 21-25 tháng 5 năm 1968, Ban Trị sự đã đồng thanh chấp thuận để cụ
nghỉ chức Giám đốc và hồi hưu. Vậy, thay mặt cho Ban Trị sự Tổng Liên Hội tôi xin
tuyên đọc biên bản:
Biên bản số 3-68-TLH-167, nhóm từ ngày 21-25 tháng 5 năm 1968.
Khoản 6. Biểu quyết chấp thuận đơn của cụ Mục sư Lê Văn Thái đề ngày 20-3-
1968, xin nghỉ chức Giám Đốc Cô Nhi viện Tin Lành Nha Trang kể từ đầu tháng 7
năm 1968. Thông qua.
Khoản 7. Biểu quyết chấp thuận đơn của Mục sư Lê Văn Thái đề ngày 20-3-
1968 xin hưu trí kể từ đầu tháng 7 năm 1968. Thông qua.
Khoản 8. Biểu quyết thuận cử Mục sư Trần Văn Đệ giữ nhiệm vụ Giám Đốc Cô
Nhi viện Tin Lành Nha Trang một nhiệm kỳ 2 năm kể từ đầu tháng 7 năm 1968 thay
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 195
cho Mục sư Lê Văn Thái xin nghỉ. Đồng thời Mục sư Đệ kiêm nhiệm chức vụ trưởng 195
ban phát thanh Tin Lành cho đến khi có sự sắp đặt mới. Thông qua.
Trước khi cụ Mục sư Giám Đốc từ giã chức vụ, tôi thay mặt cho Ban Trị sự Tổng
Liên Hội chân thành cảm ơn cụ đã để lại cho Hội Thánh một công tác thật tốt đẹp.
Chúa hẳn chẳng khi nào quên công khó của cụ. Theo hình thức tổ chức của Hội
Thánh chúng ta thì nhiệm vụ của cụ sắp chấm dứt, song theo tinh thần phục vụ
Chúa thì tôi tin rằng cụ chưa được nghỉ cho đến khi Chúa chấp thuận.
Thưa ông Mục sư tân Giám Đốc Cô Nhi viện, tôi thay mặt cho Ban Trị sự Tổng
Liên Hội, vui mừng hoan nghinh ông vào chức vụ mới, một chức vụ không thiếu
khó khăn và cần sự tế nhị. Nguyện Chúa ban trên ông ân sủng dồi dào để hoàn
thành nhiệm vụ. A-men.
Nha Trang, Chúa nhật 30 tháng 6 năm 1968
2. Lời Tri Ân Của Một Em Cô Nhi.
Sau khi ông Mục sư Phó Hội trưởng dứt lời, một em bé cô nhi từ tốn bước ra
đứng trước chúng tôi và đọc những lời tri ân sau đây với một giọng nhỏ nhẹ cảm
động:
Kính thưa cụ Giám Đốc,
Thưa ông bà rất quý mến của chúng con,
Hôm nay là lễ HƯU TRÍ của ông và cũng là ngày ông bàn giao chức vụ Giám
Đốc. Chúng con vô cùng bùi ngùi cảm xúc. Không phải giờ phút này, chúng con
mới thấy nỗi buồn nhớ của chúng con. Nhưng từ mấy tháng nay nghe ông sắp về
hưu, lòng chúng con đã bối rối và buồn rầu vô hạn.
Chúng con được biết rằng, nơi đây xưa kia chỉ là một bãi cát hoang; thế mà,
ông đã cậy ơn Chúa, với bao công lao khó nhọc và lo lắng, xây dựng cho Viện mỗi
ngày một phát triển thêm. Nhờ đó mà ngày nay, Viện mới có được quang cảnh tốt
đẹp như vậy. Trải 15 năm qua, ông bà đã hao tâm, tổn trí, lo lắng xây dựng cho biết
bao anh chị cô nhi chúng con, trong số đó đã có nhiều người đã thành gia thất và
đã chiếm được những địa vị khả quan trong xã hội. Ông bà lại còn luôn lo lắng cho
chúng con từng li từng tí, nào là áo cơm, nào là nơi ăn chỗ ngủ, nơi thờ phượng
Chúa, chỗ học. Nhưng không phải ông bà chỉ lo cho chúng con có vậy thôi đâu,
chúng con còn nhận nơi ông bà một tình thương mà chúng con không tìm đâu
thấy, một tình thương làm ấm áp lòng chúng con, một tình thương làm sống lại nơi
chúng con là những trẻ xấu số, một niềm hy vọng tươi mới.
Hàng ngày thấy bóng dáng ông, lòng chúng con cảm thấy vững vàng, trí chúng
con được tươi vui.
Thưa ông bà quý mến của chúng con.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 196
Tuổi trẻ chúng con thường hay mắc lỗi lầm, ưa làm trái kỷ luật, nhưng khi nghĩ 196
đến ông bà, chúng con lại sợ ông bà buồn, nên chúng con thường bảo nhau, cố
gắng sống ngoan ngoãn để ông bà vui trong tuổi già mà lo lắng cho chúng con.
Một vài ngày vắng bóng ông, thiếu nụ cười hiền hòa của ông, lòng chúng con đã
cảm thấy trống vắng quá nhiều. Thế mà nay ông lại nghỉ luôn, thì kể sao cho xiết
nỗi nhớ thương của chúng con được. Chúng con là những kẻ thiếu cha, mất mẹ,
Chúa đã thương chúng con, cho chúng con sống trong Viện đây, và chúng con cảm
thấy được hưởng tình thương ấm áp như trong một gia đình. Ông bà chính là cha
mẹ, là ông bà của chúng con, nhưng chúng con biết rằng, thời gian trôi qua không
ngừng, và chúng con có sức gì để níu kéo thời gian lại. Thật vậy, tuổi ông bà mỗi
ngày một cao, và bao nhiêu năm ông bà đã tận tụy lo gây dựng công việc nhà
Chúa, hơn nữa, những năm sau này, ông bà đã để hết tâm lực lo lắng cho đoàn cô
nhi chúng con. Bây giờ là lúc ông bà đáng phải được nghỉ ngơi, với niềm vui là nhìn
thấy những hạt giống của ông bà đã gieo ra được mọc lên, và đương đâm bông kết
quả tốt đẹp cho nhà Chúa. Ông chính là người đã sáng lập ra Viện này, tinh thần vị
tha và lòng yêu thương cao quý của ông bà sẽ là ngọn lửa bất diệt bừng sáng mãi
nơi đây. Vì vậy, con xin thay lời cho các anh em cô nhi đã xuất viện, cho anh chị
em chúng con hiện đang sống tại Viện, và những lớp cô nhi sẽ vào sống trong Viện
sau này. Chân thành nói lên lòng biết ơn vô bờ bến của chúng con đối với ông bà
rất quý mến của chúng con. Để tỏ lòng biết ơn ông bà, chúng con chỉ biết gắng sức
học hành, hết lòng kính sợ Chúa, để trở nên người ích lợi cho nhà Chúa và mai sau.
Chúng con biết ông bà chỉ mong ước nơi chúng con có vậy mà thôi.
TÔ THỊ NHỎ
Đọc tại nhà thờ Cô Nhi viện
Ngày 30-6-1968
3. Những Lời Chúc Mừng Của Anh Em Tín Hữu Và Các Bạn Hữu Đồng Lao.
Trong buổi lễ bàn giao hôm ấy, cụ Mục sư ÔNG VĂN HUYÊN, Viện Trưởng
Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang có cảm tác một bài thơ tặng tôi với tư cách
một người bạn đồng song và đồng lao, ý thơ của cụ chân thành và cảm động. Mặc
dù cùng một lúc, tôi đã nhận được rất nhiều thư từ, điện tín của quý vị Mục sư
Truyền đạo, tín hữu và thân nhân của các em Cô nhi từ khắp nơi gởi về chúc mừng,
nhưng tôi chỉ xin mạn phép chép lại bài thơ của cụ Huyên để gọi là đặc biệt kỷ
niệm một tình bạn. Hơn bốn mươi năm trước (1922), chúng tôi đã cùng nhau bước
chân vào trường Thánh Kinh Đà Nẵng để học hỏi Lời Chúa, và từ ngày ấy đến nay
chúng tôi luôn luôn kề cận bên nhau trong những giờ phút khó khăn nhất của lịch
sử Giáo Hội. Cụ tiễn tôi với giọng bùi điệu bùi ngùi và tôi bắt tay cụ với những mối
cảm hoài không tả được. Sau đây là nguyên văn bài thơ của cụ:
“LỄ HƯU TRÍ cảm tạ ơn Cha,
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 197
BÀN thạch tay thiên vững nếp nhà. 197
GIAO hối trẻ côi ÂN đức trọng,
GIÁM minh son sắt CHÁNH trung hòa.
ĐỐC đôn mười lẽ năm năm trọn
CÔ đãi năm nay bảy chục già.
NHI ấu bùi ngùi nhìn núi THÁI.
VIỆN tiền ĐỆ tử tủi mừng ca.”
Đồng song và đồng lao
Mục sư ÔNG VĂN HUYÊN.
Sau lễ bàn giao chức vụ Giám Đốc trong phạm vi Cô Nhi viện ngày 30-6-1968,
Địa hạt Nam Trung phần và Tổng Liên Hội quyết định chính thức lễ HƯU TRÍ của
chúng tôi tại nhà thờ Hội Thánh Tin Lành Nha Trang vào lúc mười sáu giờ ngày 8-8-
1968. Đây là một ưu ái, một danh dự đặc biệt mà Hội Thánh đã dành cho chúng
tôi. Buổi lễ hôm ấy do ông Mục sư Trần Trọng Thục Chủ nhiệm Địa Hạt Nam Trung
phần chủ tọa.
Chúng tôi bước vào nhà thờ dự lễ hưu trí, lòng hân hoan như ngày lãnh bằng
TỐT NGHIỆP tại trường Thánh Kinh Đà Nẵng (27-4-1928) Hơn bốn mươi năm qua
rồi, cái bằng tốt nghiệp bằng giấy của tôi, vì chiến tranh nó đã thất lạc nơi nào tôi
cũng không còn nhớ nữa. Nhưng tôi tin chắc rằng không có gì mất đi trước mặt
Chúa. Ngài đã ghi tất cả trong quyển sách rồi. Khi Chúa đến, QUYỂN SÁCH ấy sẽ
mở ra.
Quang cảnh buổi lễ hôm ấy tuy đơn sơ nhưng không kém phần long trọng.
Trong những ngày còn lại trên đất này, đối với tôi đây chính là một trong những kỷ
niệm khó quên. Quá khứ đã trở về với tôi một cách êm đềm và lặng lẽ. Nhìn lại
những đoạn đường đã qua, tôi thật có cớ để ngợi khen sự gìn giữ và bao bọc của
Chúa. Đại cương buổi lễ đã được ông Lạc Giao ghi lại như sau:
Lễ Hưu Trí của cụ Mục sư Lê Văn Thái.
Chiếu theo quyết nghị Tổng Liên Hội vừa lúc đề cập đến một nghi lễ cần được
cử hành để TẠ ƠN CHÚA và sau là để tôn quý các vị Mục sư Truyền đạo đã đáo
hạn và đủ điều kiện, khi các vị ấy xin Hồi Hưu như câu khẩu hiệu có IN ở chương
trình buổi lễ hôm nay:
“Nếu ai hầu việc TA thì CHA TA ắt tôn quý người” (Gi 12:26)
Địa hạt Nam Trung phần, lần này chiếu theo quyết nghị đó mà cử hành lễ HƯU
TRÍ cho cụ Mục sư LÊ VĂN THÁI. Tuy nhiên, cụ Mục sư THÁI không phải làvị hồi
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 198
hưu đầu tiên ở Nam Trung hạt, nhưng lễ HƯU TRÍ này là lần đầu tiên, vì buổi lễ 198
được cử hành ngay sau khi có quyết nghị Tổng Liên Hội ban hành.
Lễ cử hành tại nhà thờ chi hội Nha Trang vào lúc mười sáu giờ ngày 8-8-1968
và đặt dưới quyền chủ tọa của Mục sư TRẦN TRỌNG THỤC chủ nhiệm Nam Trung
phần.
Bên ngoài nhà thờ chiều nay, bỗng trở nên rộn rịp đông đảo khác thường. Và
bên trong được trang trí tôn nghiêm. Ngay trước giảng đài, một tấm băng màu
trắng chạy suốt bề ngang, viết bằng chữ màu đỏ “LỄ HƯU TRÍ CỦA CỤ MỤC SƯ LÊ
VĂN THÁI.”
Khung cảnh nhà thờ nghiễm nhiên đứng trong tư thế huy hoàng náo nhiệt.
Nhưng hình như bầu không khí bao trùm đâu đây… thấm đượm những nỗi ngậm
ngùi, khó tả. Gần hết các vị Mục sư, Truyền đạo của Nam Trung phần về đủ. Có sự
hiện diện của các quý ông Hội Trưởng Tổng Liên Hội, Hội Trưởng Truyền Giáo, các
quý ông bà trong ban Giáo sư Thần Học viện, các quý ông Giám Đốc Cô Nhi viện,
Chẩn y viện, Mục sư đại diện Hội Thánh Mỹ Tho, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Tin
Lành…
Về các ban hát của biệt lễ ca như ban thanh niên Nha Trang, Cô Nhi viện và
Mục sư, Truyền đạo trong hạt. Rồi một thiên bút ký lược trình về chức vụ của Mục
sư LÊ VĂN THÁI do thư ký địa hạt tuyên đọc. Bản lược trình, đã rút gọn, thể theo
lời, thời gian hữu hạn của buổi lễ, nhưng cũng vừa đủ để nói lên đại ý một cuộc
đời, vừa sâu đậm vừa uẩn khúc đã lướt qua bao độ thăng trầm! Một cuộc đời từng
hiến dâng cho Đức Chúa Trời để phục vụ Hội Thánh, quả là một cuộc đời đẹp đẽ
biết bao!...
Suốt trong bốn mươi sáu năm đằng đẵng của chức vụ, lại xen vào một khoảng
khá lâu dài của thời chinh chiến, Tổ Quốc lâm nguy, thời thế tô đậm màu lửa,
máu!!.
Không thể quên rằng cụ Mục sư LÊ VĂN THÁI đã từng là Truyền đạo, là Mục sư,
là Chủ Nhiệm, là Hội Trưởng (suốt mười tám năm) là Giám Đốc, sáng lập Cô Nhi
viện (liên tiếp cả mười lăm năm). Cụ là một chiến sĩ lão thành của Thập Tự Giá, đã
từng gan dạ, xông pha trên các mặt trận, giong ruổi trên linh trình, đã gót nửa thế
kỷ như mới thoáng qua!!
Ông thư ký chấm dứt bản lược trình, thì có những lời chúc mừng, bày tỏ cảm
tưởng kính mến đối với cụ là một người được Chúa đại dụng, do các quý ông Hội
Trưởng Tổng Liên Hội, Chủ Nhiệm Nam Trung Phần, các quý Giám Đốc Cô Nhi viện
và Chẩn y viện, quý ông Viện Trưởng Thần học viện và nhất là những lời luyến tiếc
nồng nhiệt của đàn trẻ mồ côi cũng như thố lộ tâm ý cách não nùng để tiễn đưa cụ
Giám Đốc sáng lập Cô Nhi viện về hưu. Chính cụ Mục sư Lê Văn Thái, nhân dịp này
cũng bày tỏ tâm sự, khiến ai nấy nghe qua, cũng phải ngậm ngùi mến phục.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 199
Rồi đến số đông tín hữu xa gần từ Sài Gòn và các nơi có mặt cũng ngõ lời tri ân 199
sâu xa với Cụ, đã có công dắt dìu họ từ lâu.
Rồi các tặng phẩm, lần lượt kính tặng cụ để làm món quà kỷ niệm của các cơ
quan như Tổng Liên Hội, Địa hạt, Thần học viện, Cô Nhi viện, cùng các tín hữu tư
nhân…
Một số khá nhiều các điện tín, thư, thiệp gởi đến chúc mừng cụ Mục sư trong
buổi lễ này.
Sau hết là một vòng hoa Danh Dự, tượng trưng cuộc chiến thắng do đại diện
của Tổng Liên Hội là Mục sư Phạm Văn Năm choàng ngang lên vai và cổ của vị
Lãnh Đạo Tinh Thần đã tận tụy hiến dâng đời sống để phục vụ Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam.
Tất cả Hội trường đứng dậy, chào mừng và buổi lễ chấm dứt trong tiếng ca
vang, tôn vinh danh Chúa. Sau khi vị Giáo sĩ Hội Trưởng E. R. IRWIN giơ tay chúc
phước vào lúc mười bảy giờ hai mươi ngày tháng như trên.
Lạc Giao ký thuật.
Cũng như trong buổi lễ tổ chức tại nhà thờ Cô Nhi viện hơn tháng trước, lần
này thư từ và điện tín từ khắp các nơi gởi về nhiều quá, tôi không thể trả lời cũng
như không thể chép hết lại được. Để lưu niệm, xin phép quý vị độc giả cho tôi được
chọn mỗi thành phần một bài mà thôi. Đó là những bài thơ tiêu biểu của những
người đã từng “góp mặt” với tôi trong những quãng đường dài hầu việc Chúa, với
chủ tâm đó, nên trong giới bạn hữu biết nhau từ thuở nhỏ, tôi hân hoan ghi lại đây
bài thơ của ông Nguyễn Văn Hạng, người đã cùng tôi sống chung trong một Hội
Thánh lúc thiếu thời và cùng gia đình bị bắt bớ khủng khiếp. Cảm ơn Chúa ông đã
giữ vững được đức tin và điều vui sướng hơn hết là cho đến ngày nay ông và tôi vẫn
thường có dịp gặp nhau chung trong một nhà thờ. Tôi rất cảm động nhìn thấy ông
có mặt trong buổi lễ HƯU TRÍ. Ông đã sốt sắng đến dự và chúc mừng tôi với những
lời lẽ chân thành. Riêng về các con cái Chúa, tôi xin chọn bài thơ của cụ Nguyễn
Thiện Đạo, một tín hữu lão thành quê quán ở miền Bắc, hiện cư trú tại miền Nam.
Cụ Đạo là người đã từng cộng tác đắc lực của tôi trong việc rao truyền Tin Lành
cho đồng bào miền Bắc như tôi đã có dịp đề cập đến nhiều lần ở những phần
trước. Trong giới phụ nữ, có bài thơ của bà Mục sư Phạm Văn Năm hiện hầu việc
Chúa tại Thánh Kinh Thần học viện Nha Trang. Và sau cùng là bài thơ của cụ Mục
sư Ông Văn Huyên đọc trong bữa ăn chung sau lễ HƯU TRÍ. (Đây là bài thơ thứ hai
cụ Huyên đã cảm tác để tặng tôi).
Bài thơ ứng khẩu của cụ Mục sư Ông Văn Huyên
“Mừng anh HƯU TRÍ trí chưa HƯU
Cùng bạn đồng lao cộng lạc ưu
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 200
Tiệc lớn cười kêu vang núi THÁI 200
Nghìn thu ơn Chúa sử di lưu.”
Bạn, Mục sư Ông Văn Huyên
Bài thơ của ông Nguyễn Văn Hạng
“Chúc mừng hai cụ sống cho Ngài
Phước Chúa xưa nay đã láng lai
Gia đình các cháu càng nẩy nở
Tuổi tác ông bà vẫn bền giai
Chức vụ thành tâm không thiếu sót
Ơn trên thỏa mãn chẳng hề sai
Nay còn nguyện Chúa ban thêm sức
Để được tùy theo ý muốn Ngài.”
Nguyễn Văn Hạng
Tín đồ Nha Trang
Bài thơ của cụ Nguyễn Thiện Đạo
“Hai cụ LÊ VĂN THÁI Mục sư
Hy sinh phục vụ Chúa nhân từ
Thánh Kinh cõi Việt rao truyền khắp [6]
Cô viện Hòn Chồng vững lập như [7]
Bốn sáu năm trường, công tác trọn
Bảy mươi tuổi thọ phúc phần dư
Triều thiên mão đội ca khen Chúa,
Vạn thuở danh còn tại thánh thư.”
Khánh Hội ngày 1-8-1968
Chân sinh Nguyễn Thiện Đạo kính tặng
Bài thơ của bà Mục sư Phạm Văn Năm.
“Đường trời trải bước lắm gian nan!
Noi dấu Chiên Con thật vẻ vang
Bốn sáu năm trường trong trận chiến,
Bảy mươi tuổi thọ vẫn an toàn
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]