The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-19 19:30:36

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 201

Linh công rực rỡ người ghi nhận 201

Mão miện huy hoàng Chúa sẵn ban

Mừng cụ HỒI HƯU tròn nhiệm vụ,

Đôi dòng sử liệu điểm thêm trang.”

Bà Mục sư Phạm Văn Năm.

Thần học viện Nha Trang.

C. SINH HOẠT TRONG NHỮNG NGÀY CÒN LẠI

Thắm thoát tôi đã về HƯU được hơn một năm. Trong thời gian này, một biến
cố hết sức chua xót bỗng xảy đến cho gia đình tôi; NHÀ TÔI QUA ĐỜI! Đây có thể
bảo là thử thách to lớn nhất đối với tôi trong những ngày còn lại trên đất.

Nhà tôi một người đàn bà mảnh khảnh, hiền hòa và chân thật, luôn luôn lấy sự
mình có làm đủ, kiên nhẫn, trung tín với Chúa và trung tín với mọi người. Bà đã
vượt lên trước tôi và đã chiếm được: “SỰ YÊN NGHĨ ĐỜI ĐỜI TRONG NƯỚC CHÚA”
lúc mười chín giờ ba mươi ngày 24-2-1969 tại nhà riêng ở số 80 đường Nguyễn
Hoàng, Nha Trang. Tang lễ cử hành lúc mười sáu giờ ngày 28-2-1969 tại nhà thờ
Hội Thánh Nha Trang do cụ Mục sư Ông Văn Huyên làm chủ lễ. Sau đó, thân xác
của nhà tôi tạm gởi trong lòng nghĩa trang Thần học viện Nha Trang.

Trước giờ di quan, cụ Mục sư Huyên đã mời ông Mục sư Vũ Văn Cư, với tư cách
một con cái Chúa ở Hà Nội, đã biết chúng tôi lâu năm nói vài lời về tiểu sử của bà
Lê Văn Thái. Tôi xin mạn phép ghi lại những lời của ông, để nhớ lại nhà tôi một
người đàn bà đã hy sinh trọn đời giúp đỡ tôi trong chức vụ hầu việc Chúa.

“Kính thưa quý vị,

Đức Chúa Trời đã đẹp lòng đem một người yêu dấu giữa chúng ta là cụ bà Mục
sư Lê Văn Thái về yên nghỉ trong nước của Ngài.

Cụ bà Mục sư Lê Văn Thái nhủ danh là Công Tôn Nữ Tú Oanh, một người thuộc
Hoàng phái, nhờ ơn thương xót của Cứu Chúa, đã sớm trở thành một “người nhà
của Đức Chúa Trời.” Đó là vào khoảng năm 1920, như vậy, chúng ta phải coi cụ
như một trong những tín đồ đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Sau khi tin
Chúa, cụ đã dắt đem người chị đến với Chúa. Đến năm 1921, cụ đi học trường
Thánh Kinh tại Đà Nẵng. Năm 1922 cụ ra Hà Nội hầu việc Chúa năm 1923 cụ về
học lại và chính tại đây cụ đã gặp cụ ông, sau đó hai người đã thành hôn năm 1924
và ra đi hầu việc Chúa lần đầu tiên tại Hội An năm 1925, Mỹ Tho năm 1926. Đến
năm 1927 cụ ông về học năm tốt nghiệp, rồi được bổ nhiệm ra Bắc hầu việc Chúa
từ năm 1928 đến năm 1951. Phần lớn thời gian này là làm Mục sư của Hội Thánh
Hà Nội. Hai cụ đã đến phủ Lạng Thương thành lập Hội Thánh tại đây rồi trở về Hà
Nội. Hình ảnh cụ bà như khó phai mờ trong lòng các con cái Chúa tại Hội Thánh

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 202

Hà Nội. Phải, làm sao họ có thể mau quên được cái dáng người dịu dàng hiền hậu, 202
cái nét mặt chân thành chất phát với tấm lòng chứa đựng tình cảm bén nhạy: vui
với người vui, buồn với người buồn, xót xa với người đau khổ,v.v… Cái hình ảnh ấy
tạo một không khí đầm ấm, chân thật đậm đà của cảnh một đại gia đình êm ấm.
Dẫu khi cụ ông đã ra khỏi Hội Thánh để lãnh chức vụ Chủ Nhiệm của một hạt thì
cái tình giữa cụ với các con cái Chúa ở Hà Nội vẫn không kém đầm thấm. Thêm vào
đó, trong cụ, chúng tôi cũng nhận thấy một mẫu người phụ nữ Á Đông, mặc dầu đã
chịu rất nhiều ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo: Lặng lẽ chăm sóc chồng, chăm nuôi
con, coi sóc gia đình là trọng hơn chính bản thân. Khi cụ ông lên chức Hội Trưởng
của Hội Thánh, cụ đã tâm tình rằng: “Tôi không thích ai gọi tôi là bà Hội Trưởng,
gọi tôi là bà Mục sư, tôi vui hơn.” Chính những tháng chót của đời cụ, cụ vẫn lo
lắng cho sức khỏe của cụ ông hơn là chính mình. Bởi vậy, trong chức vụ Hội
Trưởng, đầy khó khăn và đau khổ, cụ đã được an ủi rất nhiều từ nơi cụ bà.

Năm 1951 cụ cùng với cụ ông phải lìa Hà Nội để lên Đà Lạt vì cớ công việc
chung của Hội Thánh; việc này đã khiến cho cụ bà cảm xúc buồn bã như phải giã
từ quê hương yêu dấu với các người thân thích vậy. Vào năm 1960, cụ ông không
chịu ra ứng cử Hội Trưởng nữa, lui về giữ chức Giám đốc Cô Nhi viện, nên hai cụ đã
xuống Nha Trang để hầu việc Chúa. Dầu ở Hà Nội, Đà Lạt hay Nha Trang thì cụ bà
vẫn đóng vai trò “nội tướng” đảm đang, chia sẻ với cụ ông trong các công việc
chung cũng như ở gia đình riêng, khiến cụ ông được an lòng gánh vác công việc
Chúa. Vào mùa đông vừa qua như được linh tính báo trước những ngày ở trên đất
sắp chấm dứt, cụ đã có những lời trối lại cho cụ ông và con gái là bà Nguyễn Châu
Chánh. Sau ngày tết nguyên đán Kỷ Dậu, cụ thấy sức yếu hơn thường, dầu bác sĩ
đã tận tình chạy chữa, song vẫn không khả quan hơn, cứ suy nhược hơn! Anh em,
bà con thân thích nghe tin cụ đau nặng, đã đến thăm, cụ vẫn tỉnh táo nói chuyện
với mọi người. Thế rồi vào lúc mười chín giờ mười lăm, ngày 24 tháng 2 năm 1969
tức là ngày 8 tháng giêng năm Kỷ Dậu, cụ bà đã nghỉ yên trong Chúa, hưởng thọ
bảy mươi tuổi.

Cụ bà Mục sư Lê Văn Thái đã ra đi, còn để lại cụ ông, bà Nguyễn Châu Chánh là
con gái của cụ, hiện nay là hiệu trưởng trường Bết-lê-hem, rễ là Mục sư Tuyên Uý
Đại Uý Nguyễn Châu Chánh, hiện là Tuyên Uý Trưởng trong quân chủng Hải quân
của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với các cháu ngoại.

Cụ bà Mục sư Lê Văn Thái mất đi để lại một chỗ trống trong gia đình, một mối
tiếc thương trong quyến thuộc, cho thân hữu, và từ đây Hội Thánh cũng vắng bóng
một người thân yêu. Trong những nỗi bùi ngùi thương nhớ người đã khuất, chúng
ta cũng có những cớ để ngợi khen Chúa. Chúng ta ngợi khen Chúa vì đã ban cho
đầy tớ Ngài một giấc ngủ êm đềm trong cánh tay thương yêu của Ngài; từ đây,
những gì của trần tục này không con quấy rầy người nữa. Lòng trung tín của một
đầy tớ, tình thương yêu của người chăn, sự đảm đang của một người vợ, lòng hy

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 203

sinh của một người mẹ, lúc nào cũng quên mình vì người khác, quả đã để lại cho 203
chúng ta một gương tốt đẹp; đây là một sự kỳ diệu của ân sủng Đức Chúa Trời. Và
trong nỗi bùi ngùi đau xót của cảnh kẻ mất người còn, đồng thời cũng bùng lên
trong chúng ta một niềm hy vọng an ủi lòng chúng ta. Chúng ta sẽ gặp lại người
yêu dấu của chúng ta trong ngày Chúa lấy đại quyền đại vinh, ngự trên mây trời mà
xuống. Lúc ấy, hết thảy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.” A-men

Mục sư Vũ Văn Cư

D. BỨC THƯ BỎ NGÕ

Trước ngày bàn giao chức vụ Giám đốc Cô Nhi viện tôi cũng có gởi đến bạn
đồng lao và tín hữu trong cũng như ngoài nước một bức thư ngỏ nhằm mục đích
tôn vinh Chúa và cảm tạ sự ủng hộ nhiệt thành của hầu hết con cái yêu dấu của
Chúa đối với CÔ NHI VIỆN trong những năm qua. Trong bức thư ấy tôi đã kể lại sơ
lược từ những ngày đầu tiên thành lập Viện và bây giờ tôi xin ghi lại một lần nữa
chúng ta có dịp nhớ đến công lao của những người đã góp phần đắc lực trong việc
kiến tạo cơ sở từ thiện tốt đẹp này:

Nha Trang, ngày 20 tháng 6 năm 1968

Thư ngỏ của Mục sư Lê Văn Thái

Giám Đốc Cô Nhi viện Tin Lành Nha Trang

Kính gởi các bạn đồng lao, quý tín hữu trong nước và hải ngoại.

Suốt bốn mươi sáu năm trong chức vụ hầu việc Chúa (từ năm 1922 đến 1968),
vì tuổi cao, sức yếu, tôi xin Ban Trị sự Tổng Liên Hội nghỉ chức Giám Đốc Cô Nhi
viện và về trí sự. Vừa đây, tôi đã được Ban Trị sự Tổng Liên Hội chấp thuận cho tôi
được nghỉ chức Giám Đốc Cô Nhi viện tại Nha Trang, đồng thời cũng được về trí sự.
(Biên bản Tổng Liên Hội số 3-68-TLH-167 khoản 6 và 7 ngày 21 đến ngày 25 tháng
5 năm 1968).

Trước khi rời chức vụ Giám Đốc Cô Nhi viện tôi xin ghi lại nơi đây lòng biết ơn
sâu xa của tôi đối với Cụ Cố Giáo sĩ W. C. Cadman (các cơ sở đầu tiên của Cô Nhi
viện tại Nha Trang được kiến thiết do tài sản của hai cụ để lại), Mục sư V. J. R. Mills,
Cụ Cố Giáo sĩ E. F. Irwin, ông bà Giáo sĩ D. F. Irwin, cụ cố Mục sư Duy Cách Lâm và
ông Mục sư Trần Trọng Thục, là những vị đã đặc biệt giúp đỡ tôi trong những ngày
Viện mới thành lập.

Tôi cũng xin chân thành tri ân ông Hội Trưởng và Ban Trị sự Tổng Liên Hội, quý
vị Chủ Nhiệm và Ban Trị sự các hạt, quý vị Mục sư Truyền đạo cùng quý tín hữu
trong toàn quốc và hải ngoại đã nồng nhiệt ủng hộ tôi từ khi thành lập Cô Nhi viện
này và cứ tiếp tục ủng hộ về tinh thần cũng như vật chất trải suốt mười lăm năm
qua. Tôi cũng xin thành thật cảm ơn ông Tổng Trưởng Xã Hội, ông Tỉnh Trưởng
Khánh Hòa, ông Ty Trưởng Xã Hội Khánh Hòa, ông Quận Trưởng Vĩnh Xương, các vị

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 204

Đại diện Xã và Thôn, khu vực Cô Nhi viện các Bác sĩ Việt, Mỹ và Đại Hàn, các cơ 204
quan cứu tế xã hội các nước bạn đã nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ tôi trong những
năm qua.

Hiện nay số các em cô nhi đang sống tại viện là hai trăm ba mươi hai em, số
các em đã xuất viện trong mười lăm năm qua là hai trăm ba mươi tám em. Xin quý
vị cứ cầu nguyện và tiếp tục ủng hộ các em mồ côi của chúng ta đang sống tại Cô
Nhi viện Nha Trang hầu danh Chúa được vinh hiển mãi mãi.

Ban Trị sự Tổng Liên Hội đã cử ông Mục sư Trần Văn Đệ làm Giám Đốc Cô Nhi
viện Tin Lành Nha Trang. Vậy kể từ ngày1 tháng 7 năm 1968 quý vị chủ tọa các Hội
Thánh, thân quyến các em cô nhi và chính quyền có việc gì liên hệ đến Cô Nhi viện
Tin Lành Nha Trang, xin liên lạc với ông Mục sư Trần Văn Đệ, Giám Đốc Cô Nhi viện
Tin Lành Nha Trang, hộp thư 130, Nha Trang

Một lần nữa xin chân thành tri ân quý vị và xin trân trọng kính chào quý vị và
các bạn trong thân ái Cứu Chúa.

Nay Kính thư

Mục sư LÊ VĂN THÁI

80, Nguyễn Hoàng Nha Trang

Hiện nay tôi đang sống với vợ chồng người con gái duy nhất của chúng tôi là bà
Mục sư Nguyễn Châu Chánh cùng bốn cháu nhỏ trong ơn che chở của Chúa. Tại
đây tôi thường có dịp gặp gỡ và hàn huyên vui vẻ với những anh em Mục sư,
Truyền đạo cùng những bạn bè thân hữu trước kia. Chúng tôi có thể thông công
với nhau trong tình yêu thương và ân huệ của Chúa. Hằng ngày tôi vẫn nhận được
rất nhiều thư từ của các bạn ở trong cũng như ở ngoài nước ân cần hỏi han về sức
khỏe của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn nhiều lắm. Tuy nhiên, trong số ấy
cũng có nhiều người vị sợ tôi “thất nghiệp” nên hỏi thăm lâu nay tôi làm gì? Có thư
tôi đã trả lời rồi một cách vắn tắt, có thư chưa, xin các bạn thứ lỗi. Tiện đây tôi xin
mạn phép trả lời chung cho tất cả các bạn.

Từ ngày HƯU TRÍ đến nay, tôi vẫn không nghỉ việc. Có chăng chỉ thay đổi việc
làm mà thôi. Công việc thứ nhất mà tôi hăng say theo đuổi hằng ngày là đọc Thánh
Kinh để tìm kiếm những sự dạy dỗ mới cho linh hồn. Lời Chúa phán: “Ta sẽ dạy dỗ
ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải theo; mắt ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi”
(Thi 31:8). Tôi nắm chắc lấy lời hứa này và tự nhủ rằng nếu tôi không có thì giờ như
hiện nay thì đời sống tôi không thể nào nếm trải được phước hạnh của sự học Lời
Chúa.

Ngoài công tác trên đây, tôi vẫn không quên để nhiều thì giờ cầu nguyện đặc
biệt cho công việc Hội Thánh mà các đầy tớ của Chúa đang gánh vác trong hoàn
cảnh khó khăn hiện nay. Bởi sự dẫn dắt của Chúa, tôi tự nguyện sẽ đứng sau lưng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 205

những nhà lãnh đạo Giáo Hội và sẵn sàng góp ý kiến với họ trong tất cả những vấn 205
đề liên quan đến vận mệnh Hội Thánh, như tôi đã từng làm đối với những tôi tớ
Chúa tại Cô Nhi viện, Chẩn y viện, Thần học viện, Địa hạt và các Hội Thánh lân cận.
Với ý định đóng góp tích cực khả năng của mình cho công việc nhà Chúa, tôi đã
nhận dạy mỗi tuần vài giờ bài NGƯỜI TRUYỀN ĐẠO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI” tại
Thánh Kinh Thần học viện và thỉnh thoảng đi thăm các Hội Thánh để cùng học
Thánh Kinh chung với anh em. Viết xong tập hồi kí này tôi sẽ bắt đầu soạn bộ
“Lược giải Thi Thiên.” Đó là chương trình của tôi trong những ngày sắp tới.

Tâm trí tôi lúc nào cũng quyết hướng về Chúa và lòng tôi luôn luôn suy nghĩ về
Hội Thánh của Ngài. Nguyện ước của tôi trong giai đoạn này có thể được gom tóm
trong Phi 3:7-16 “Vì cớ Đấng Christ tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết
thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quý hơn hết, Ngài là Chúa
tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật tôi xem những sự đó như rơm rác, hầu cho
được Đấng Christ và được ở trong Ngài, được sự công chính, không phải công chính của tôi bởi
luật pháp mà đến, bèn là bởi tin Đấng Christ mà được, tức là công chính bởi Đức Chúa Trời và
đã lập lên trên đức tin, cho đến nỗi tôi được biết Ngài và quyền phép sự sống lại của Ngài, và
sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài, mong
cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết.

“Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đang
chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. Hỡi anh em, về
phần tôi không tưởng rằng đã đạt được mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lững sự ở
đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi
trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ. Vây, hễ những người trọn vẹn trong
chúng ta, phải có ý tưởng đó, và nếu anh em tưởng đàng khác, Đức Chúa Trời cũng lấy sự đó
soi sáng cho anh em. Duy chúng ta đã đạt đến bậc nào thì chúng ta phải đồng đi vậy.”

Hơn bốn mươi năm qua tôi đã đi với Chúa và Chúa đã đồng sống với tôi. Đức
Chúa Trời là THÀNH TÍN. Trong niềm tin tưởng đó, tôi xin kết thúc tập hồi ký này
bằng bài Thánh ca số 464 để thay cho lời cầu nguyện:

1. Trường nhật tôi với Jêsus cặp nhau

Đi mỗi bước không phân trước sau,

Ngài được theo dấu chân, vui vẻ bấy!

Qua hết cả khi khu thế đồ.

2. Mình được đi với Jêsus sợ chi,

Chân bước vững khỏi cơn hiểm nguy:

Ngày một, tôi náo nương trong cánh Chúa

Nay Chúa dẫn không kinh hãi gì.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 206
3. Từ một giây phút, Jêsus cặp theo,
Theo mỗi bước, chỗ ngay, khúc eo,
Dầu là không cánh, tôi bay bỗng tới
Chân Chúa dẫn đi, thong thả trèo.
4. Ngày một giây phút, Jêsus Ngài ôi,
Xin mỗi bước, dẫn tôi đến nơi
Hầu kịp chân Chúa đi theo mãi mãi.
Cho hết nẻo mênh mông cõi đời.
ĐIỆP KHÚC
Đi từ bước, bước thẳng đi
Có Chúa nữa, không can chi,
Đi từng bước, Chúa cùng đi,
Cho đến mãi, vô tận kỳ.”

206

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 207

Mục sư LÊ VĂN THÁI 207
(1890 - 1985)

Tóm tắt
- Mục sư Lê Văn Thái sinh năm 1890 tại làng Văn La, huyện Phú Lộc, tỉnh Quảng
Bình.
- 1919, tin nhận Chúa tại nhà thờ Hải Châu – Đà Nẵng.
- 1922, vào học tại Trường Thánh Kinh Đà Nẵng.
- 30/5/1924, lập gia đình với cô Công Tôn Nữ Tú Oanh.
- 6/1924, Truyền đạo, hầu việc Chúa tại Hội Thánh Hội An, Quảng Nam.
- 9/1925, về học tiếp tục tại Trường Thánh Kinh tại Đà Nẵng.
- 5/1926, hầu việc Chúa tại Hội Thánh Mỹ Tho.
- 8/1927, tiếp tục học trường Thánh Kinh tại Đà Nẵng
- 8/1928, hầu việc Chúa tại Hội Thánh Hà Nội (Hội Thánh đầu tiên tại miền Bắc
Việt Nam).
- 28/11/1928, thụ phong Mục sư tại Hà Nội.
- 6/1929, kiêm nhiệm chức Phái viên địa hạt Trung - Bắc Việt Nam.
- 5/1931, đảm nhiệm chức vụ Chủ nhiệm Địa hạt Miền Bắc.
- 1933, hầu việc chúa tại Bắc Giang.
- 1935, hầu việc Chúa tại Hội Thánh Hà Nội.
- 1941, chuyển đến Thanh Hóa, chuyên trách công việc Địa hạt miền Bắc.
- 1942, chuyển về Hội Thánh Hà Nội.
- 19/8/1942, đắc cử chức vụ Hội trưởng Hội Thánh Tin lành Việt Nam, kiêm Chủ
nhiệm địa hạt miền Bắc. Tổng Liên hội bao gồm các Hội Thánh Tin lành ở Cao
Miên và Ai Lao (tức Campuchia và Lào hiện nay).
- 1945, dẫn đầu Phái bộ Tin Lành Việt Nam hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh tại
miền Bắc.
- 1951, chuyển vào Đà Lạt, tiếp tục giữ chức vụ Hội trưởng, phụ trách công việc
Chúa chung của Việt Nam.
- 1953, đứng ra thành lập Cô Nhi Viện Tin Lành và Trường Trung Tiểu Học Bết-
lê-hem ở Hòn chồng Nha trang. Cô nhi viện Nha Trang hoạt động đến năm 1975.
- Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1957, tham gia và là diễn giả của Hội đồng
Thường niên của Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp tại New York (Hoa Kỳ).

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 208

- 1960, thôi giữ chức vụ Hội trưởng tại Hội đồng Tổng liên ở Vĩnh Long. 208

- 1960 - 1968, giám đốc Cô nhi viện Tin Lành Nha Trang.

- 7/1968, hưu trí và sống tại Nha Trang.

- 1970, xuất bản cuốn Hồi ký “Bốn mươi sáu năm chức vụ.”

- 1985, ông về nước Chúa.

Thời niên thiếu

Mục sư Lê Văn Thái gọi thời chưa biết và chưa tin nhận Chúa của đời mình là
“khoảng tối.” Chính từ “khoảng tối,” Thiên Chúa đã giúp ông nhận ra một “khoảng
sáng” rất khác, một con đường đến với Chúa Jêsus, tin nhận Chúa và đầu phục Ngài
đề rồi trở thành một con người trọn đời hiến dâng cho công việc truyền giảng Tin
Lành trên đất nước Việt Nam. Sự kiện tin nhận Chúa của ông xảy ra vào mùa Xuân
năm 1919 tại nhà thờ Hải Châu, Đà Nẵng.

Xã hội Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ XX vẫn còn bao rối ren, đầy
biến động. Trước cảnh bị ngoại xâm thống trị, nhiều sĩ phu yêu nước đã đứng lên
đấu tranh nhằm hướng đến một cuộc sống tự do. Người dân cũng đau đáu về một
cuộc sống không còn cảnh cơ hàn, lầm than. Chàng thanh niên Lê Văn Thái với
nguồn gốc của dòng họ thuộc kinh thành Huế với qua bao biến cố đã khắc ghi
trong lòng niềm căm hận đối với những gì được gọi là “ngoại bang.” Vì vậy, khi nghe
đến đạo Tin Lành, lúc bấy giờ gọi là Gia tô, nhìn thấy những con người truyền giảng
đạo ấy từ một đất nước xa lạ đến, chàng thanh niên Lê Văn Thái đã không từ những
hành động chống đối. Những việc làm thuở ấy theo chính ông cho biết là để “bảo vệ
những truyền thống tinh thần của dân tộc.” Ông đã không ngần ngại “làm ồn ào giữa đám
đông, khuấy rối bằng mọi cách không cho người khác vào nghe giảng hoặc cãi vã la lối làm mất
trật tự” khi có buổi rao giảng Tin Lành. Thậm chí, có những lúc ông đã chuẩn bị “tay
lăm le những đá” để sẵn sàng ném vào các giáo sĩ đang truyền đạo. Không những
thế, ông còn trang bị, thủ sẵn cho mình những kiến thức, triết lý nhằm bắt bẻ, hạ
bệ những người truyền đạo.

Thế nhưng, quyền năng của Đức Chúa Trời đã bắt phục chàng thanh niên đầy
cá tính Lê Văn Thái trong kế hoạch của Ngài để gieo hạt Tin Lành trên nước Việt
thân yêu. Lê Văn Thái trở thành một tín đồ Tin Lành – người của “Gia tô Cơ đốc”
trước những thử thách, bắt bớ, khinh miệt của gia đình, dòng họ, bạn bè và của
làng xóm lúc bấy giờ. Ông đã chứng kiến người bạn cùng niềm tin Cơ đốc của mình
chấp nhận những trận đòn thừa chết thiếu sống, bị nghe nguyền rủa thà chết đi
còn hơn để sống của thân sinh người ấy. Ông lẳng lặng chịu đựng tội bất hiếu với
“cảnh gia đình như có tang” khi bao người thân không tin nhận Chúa ai oán trách móc
khi trong nhà có tổ chức cúng tế. Trong hoàn cảnh như thế, thanh niên Lê Văn Thái
“cương quyết chỉ nhờ cậy sự giúp đỡ và theo sự dẫn dắt của Ngài mà thôi.” Đức tin của ông

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 209

được Chúa bù đắp. Trong thử thách gian nan, Ngài luôn che chở và gìn giữ ông trên 209
các bước đường theo Chúa. Trước tình yêu và sự quan phòng của Ngài, ông đã thốt
lên “Cám ơn Chúa - Đức Giê hô va đã chỉ dẫn các bước của tôi.”

Những năm tháng hầu việc Chúa

Tại Hội An – miền Trung

Năm 1922, đánh dấu một bước chuyển lớn trong tín đồ Lê Văn Thái. Cơn bão
thiêng liêng đã đánh động trong lòng ông về những đồng bào đang chìm trong biển
đời tội lỗi, chưa nhận thấy ánh sáng cứu rỗi từ Thiên thượng. Năm đó, ông vào học
trường Thánh Kinh tại Đà Nẵng.

30.5.1924, ông lập gia đình với người vợ yêu quý của ông là bà Công Tôn Nữ Tú
Oanh, một nữ sinh của trường Thánh Kinh. Trước khi vào chức vụ, ông đã thổ lộ:
“Cám ơn Chúa đã chọn cho tôi người vợ quý, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong chức vụ, yên lặng
một cách vững vàng trên đường tin kính và tận tụy hầu việc Chúa.”

Tháng 6.1924, ông được bổ nhiệm chức vụ truyền đạo tại Hội Thánh Hội An,
lúc bấy giờ là tỉnh lỵ Quảng Nam. Tại Hội An – truyền đạo Lê Văn Thái sốt sắng
trong việc chăn bầy của mình; đặc biệt quan tâm đến công tác truyền giáo. Ông đã
đẩy mạnh công tác chứng đạo trên khắp địa bàn chung quanh Hội An. Bằng xe
đạp, bằng thuyền, ông đã đến các vùng Phong Thử, Ái Nghĩa, Lạc Thành, Đại An,
Trường An… để làm chứng cho nhiều người tin nhận Chúa, mở thêm những những
Hội Thánh nhánh. Những lớp người đầu tiên tin nhận Chúa tại địa phương không
chỉ là người dân bình thường mà còn có cả những ông giáo, điền chủ, chánh
tổng… của xã hội thời bấy giờ. Nhiều người sau này trở thành mục sư, truyền đạo
tiếp bước theo con đường rao giảng Tin Lành.

Tháng 9.1925, ông lại về trường Thánh Kinh học tiếp.

Tại Mỹ Tho – miền Nam

Tháng 5.1926, sau một thời gian về trường Thánh Kinh, truyền đạo Lê Văn Thái
được bổ nhiệm hầu việc Chúa tại Hội Thánh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang),
một nơi thật xa xôi khác lạ so với miền Trung thân quen. Nhưng thuận phục ý
Chúa, ông sẵn sàng đến nơi Chúa kêu gọi. Dẫu rằng, những ngày đầu ở Mỹ Tho đầy
cám cảnh và không ít những bộn bề của tình thế xã hội. Hội Thánh Mỹ Tho đang
đối diện với tình hình số tín hữu tăng vọt do có nhiều người theo đạo vì hiếu kỳ và
theo đạo để quan sát, theo dõi. Thế nhưng, cậy vào sức Chúa, đặt niềm tin nơi
Ngài, ông “ngay thẳng trình bày Sứ điệp đơn sơ như thấy trongThánh Kinh, chối bỏ những
lời ám chỉ chính trị mà người đến trước ông đã khôn khéo gợi ý trong bài giảng mình.” Ông
cùng con cái Chúa cấp tốc mở các lớp học Thánh Kinh, duy trì sinh hoạt của Hội
Thánh với hàng ngàn tín đồ từ các nơi: Kinh Ông Lớn (Gò Công), Long Hựu, Qưới
Sơn, An Hữu, Lộc Thuận, Bình Đại, An Hóa, Phú Thành, Giao Long, Giao Hòa, Rạch

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 210

Miễu, Tân An, Bến Tranh, Cai Lậy, Chợ Gạo. Tinh thần nhóm lại của tín đồ ở Mỹ 210
Tho với hình ảnh “từng gia đình, từng đoàn, từng nhóm như đi trẩy hội,” đi từ thứ bảy, ở
lại nhóm Chúa nhật, sáng thứ hai mới về đã khích lệ ông rất nhiều trong chức vụ
hầu việc Chúa. Từ nhà giảng thuê ban đầu, Hội Thánh Mỹ Tho xây được nhà giảng
mới - đây là nhà giảng đầu tiên tại miền Nam, xây bằng gạch do tiền của con cái
Chúa trong Hội Thánh dâng. Sau đó là nhà thờ bằng gạch thứ hai, nhà thờ Bến
Tre.Nhiều địa bàn lúc ban đầu tổ chức nhóm tại nhà tín đồ lần hồi cũng xây được
nhà giảng riêng, thuận lợi cho công việc truyền giảng đạo của Chúa. Chỉ sau một
năm hầu việc Chúa tại Mỹ Tho đã có 565 người lớn chịu lễ Báp-têm, Hội Thánh
tách thành 3 Hội Thánh tự lập là Mỹ Tho, Bến Tre và Gò Công.

Tháng 8.1927, do phải về học tiếp tại trường Thánh Kinh, truyền đạo Lê Văn
Thái rời Mỹ Tho, chia tay con cái Chúa trong tình thương yêu, quyến luyến đầy cảm
động. Hội Thánh Mỹ Tho ghi dấu trong truyền đạo Lê Văn Thái “nhiều kỷ niệm đẹp.”

Tại Hà Nội – miền Bắc

1928, Hội đồng Tổng Liên chia xứ làm 2 địa hạt: Bắc Trung bộ (bao gồm Bắc kỳ
và Trung kỳ) và Nam bộ (bao gồm Nam kỳ và các Hội Thánh người Việt ở
Campuchia).

Tháng 8 cùng năm đó, sau khi tốt nghiệp trường Thánh Kinh, truyền đạo Lê Văn
Thái nhận lãnh trách nhiệm hầu việc Chúa tại Hội Thánh Hà Nội. Đây là Hội Thánh
đầu tiên tự trị tự lập và là Hội Thánh duy nhất tại miền Bắc lúc bấy giờ. Lúc ông
đến, Hội Thánh nhóm lại chưa đến 30 tín hữu. Ông đã được Chúa khải tượng biệt
riêng cho công việc rao giảng Tin Lành cho đồng bào toàn miền Bắc và mở nhiều
Hội Thánh mới. Tại đây, ông đã miệt mài làm công tác chứng đạo mỗi ngày. Ông đã
dùng “xe đạp đi khắp thành phố làm chứng và phân phát sách về Tin Lành cho những người
trên đường trong các cửa hàng, trong quán ăn, nơi bến xe đò, ga xe lửa, các phòng sở và ngay
cả trong khách sạn.” Hiệp cùng với con cái Chúa, được sự hỗ trợ từ các giáo sĩ của
Hội Truyền giáo, công tác làm chứng về Chúa mỗi ngày được đẩy mạnh. Hàng tuần
có đến 27 buổi nhóm được tổ chức tại nhà thờ chính, 8 giảng đường và 2 phòng
đọc sách ở các vùng phụ cận. Hội thánh Chúa tại Hà Nội phát triển thêm. Nhiều
địa bàn tại Hà Nội và các vùng ngoại vi mở được các điểm nhóm mặc dầu có không
ít sự ngăn cấm xảy ra.

Ngày 28.11.1928, ông được thụ phong Mục sư tại Hà Nội.

Tháng 6.1929, ông nhận lãnh thêm chức vụ Phái viên đặc trách địa hạt Bắc
Trung bộ.

Hội đồng Tổng Liên năm 1931 thành lập 2 Địa hạt riêng rẽ là Bắc kỳ và Trung
kỳ. Tháng 5.1931 Mục sư Lê Văn Thái được cử làm Chủ nhiệm Bắc Hạt kiêm nhiệm
Chủ tọa Hội Thánh Hà Nội. Công việc truyền giảng được Chúa ban phước phát
triển bội phần.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 211

Năm 1933, để toàn tâm toàn ý cho chức vụ Chủ nhiệm, ông xin từ chức chủ tọa 211
Hội Thánh Hà Nội và lên Bắc Giang, với sự hợp tác của các giáo sĩ, ông bắt đầu
một chiến dịch Tin Lành mạnh mẽ. Trong vòng 3 tháng, có 72 người trở lại cùng
Chúa và ông lập Hội Thánh mới. Sau khi xây được nhà thờ cho Hội Thánh, ông tiếp
tục đi ra giảng Tin Lành cho 4 tỉnh lân cận, cứ mỗi tỉnh 1 tuần. Sau mấy năm truyền
đạo lưu động, nhiều nơi như Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn Tây, Hải Dương,
Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Thường Tín, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình, Thanh
Hóa, Hà Đông, Sơn La, Lai Châu … thuộc địa phận miền Bắc đều có tín đồ, hình
thành các nhà giảng Tin Lành. Tính đến cuối năm 1934, đã có 38 Hội Thánh và
giảng đường.

Năm 1935 ông trở về Hội Thánh Hà Nội hầu việc Chúa. Từ giữa năm 1935 đến
năm 1936, tại miền Bắc nổi lên phong trào sôi động được mệnh danh là Phong trào
Phục hưng.

Năm 1941, ông dời vào Thanh Hóa chuyên trách công việc Địa Hạt miền Bắc.

Năm 1942, ông lại trở về Hội Thánh Hà Nội.

Ngày 19.8.1942, ông đắc cử chức vụ Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam,
kiêm Chủ nhiệm Địa hạt miền Bắc.

Năm 1945, ông dẫn đầu Phái bộ Tin Lành Việt Nam hội kiến Chủ tịch Hồ Chí
Minh tại miền Bắc để tỏ rõ Hội Thánh và đường lối của Hội Thánh.

Tại Đà Lạt và Nha Trang

Tháng 5 năm 1951, Văn phòng Tổng liên hội từ Hà Nội chuyển vào Đà Lạt. Gia
đình mục sư Lê Văn Thái cũng giã từ Hà Nội sau một thời gian dài gắn bó để vào Đà
Lạt. Hiệp với các đầy tớ Chúa, ông chuyên trách công việc Chúa chung của cả
nước. Ông tiếp tục được Chúa khải tượng về phát triển những cơ sở giáo dục, công
tác văn hóa xã hội chung của giáo hội trên đất nước Việt Nam trong tình hình mới.

Từ năm 1952, mặc dù gặp không ít khó khăn, ngăn trở lúc ban đầu nhưng ông
đã cùng các đầy tớ Chúa trong Tổng Liên hội và Hội Truyền giáo cậy sức từ nơi
Chúa thành lập cơ sở xã hội, giáo dục đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành là Cô nhi
viện Tin Lành và Trường Trung Tiểu học Bết-lê-hem tại Nha Trang, thành lập Đoàn
Tuyên úy Tin Lành để lo cho tín hữu trong quân đội lưu động đây đó, thực hiện các
chương trình truyền giảng trên sóng phát thanh.

Ngay từ năm 1958 ông đã cùng với các đầy tớ Chúa và các Giáo sĩ khởi động
việc xây dựng cơ sở Thánh Kinh Thần học viện khang trang và rộng rãi hơn. Đến
tháng 7.1960, Trường Thánh Kinh Đà Nẵng được dời vào Nha Trang và tiếp tục khai
giảng khóa đầu tiên vào tháng 9 năm 1960. Từ cơ sở này, công việc Chúa được đẩy
mạnh phát triển.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 212

Năm 1960, Mục sư Lê Văn Thái thôi giữ chức vụ Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành 212
Việt Nam tại kỳ Hội đồng Toàn quốc tổ chức tại Vĩnh Long. Chúa vẫn đại dụng ông
trong công tác chăm lo cho Cô Nhi viện Tin Lành tại Nha Trang trên cương vị giám
đốc cho đến khi hưu hạ vào tháng 7 năm 1968.

Khi hưu hạ, Mục sư Lê Văn Thái cùng gia đình sống tại Nha Trang.

Ngày 24 tháng 02 năm 1969, bà Mục sư Lê Văn Thái về nước Chúa. Ông mất đi
một nguồn an ủi lớn mà Chúa đã ban tặng cho ông “Nhà tôi – một người đàn bà mảnh
khảnh, hiền hòa và chân thật, luôn luôn lấy sự mình có làm đủ, kiên nhẫn, trung tín với Chúa
và trung tín với mọi người” trên cuộc đời tận hiến hầu việc Ngài.

Năm 1975, ông yếu nhiều và được con cháu đón sang Mỹ để chăm sóc. Sau đó,
Chúa đón ông về nước Ngài ngày 21.01.1985 tại San Gabriel, California, chấm dứt
95 năm gian khó trên đất.

Những trải nghiệm trong chức vụ

Khải tượng sống động và niềm tin nơi Chúa

Trên suốt con đường theo Chúa, mở mang vương quốc của Đức Chúa Trời trên
nước Việt, Mục sư Lê Văn Thái đã nếm trải cả niềm vui lẫn buồn khổ. Ông vui vì
công việc Chúa phát triển, đem lại nhiều linh hồn cho Chúa và trải nghiệm những
dấu kỳ, phép lạ mà Chúa ban cho. Thế nhưng, có những giai đoạn, thời khắc, ông
lâm cảnh buồn đau, đối diện với những khó khăn, thử thách, bắt bớ với những
hiểm nguy rình rập, phủ vây, cận kề cái chết.

Năm 1928, khi chuẩn bị kết thúc khóa học tại trường Thánh Kinh, ông đã “buồn
và hết sức chán nản, muốn bỏ trường Thánh Kinh để trở về gây dựng một sự nghiệp mới”
trước những biến cố chung quanh. Nhưng trong phút giây bi quan, với tấm lòng
“Quyết noi theo Cứu Chúa, sống chết với Ngài,” ông đã vượt qua được nỗi tuyệt vọng để
theo chân Cứu Chúa mà ông đã chọn cho cuộc đời mình.

Khi được điều động đến hầu việc Chúa tại Hà Nội, một nơi quá xa và lạ lẫm,
ban đầu, ông đã “cầu nguyện nhiều lần, nài xin, giải thích, thảo luận, trình bày duyên cớ”
để được ở lại. Rồi Chúa đã dạy dỗ, chỉ cho ông nhận biết ý chỉ cao cả trong kế
hoạch của Ngài. Ông vâng phục Chúa “đi con đường mà chính mình không muốn đi.” Và,
ông đã cầu xin Chúa cho bản thân “có đủ khả năng, thích hợp với Hội Thánh Hà Nội, với
miền Bắc thân yêu theo ý muốn Ngài.” Trên cánh đồng xa lạ này, ông mới hiểu được kế
hoạch cao cả mà Ngài giao cho ông. Ông không chỉ mang trên mình trọng trách
công việc nhà Chúa của Hà Nội mà cả miền Bắc rộng lớn với bao linh hồn chưa
nhận thấy chân lý, chưa nhận được sự cứ rỗi từ nơi Thiên thượng.

Năm 1942, lúc còn ở miền Bắc, đang chuẩn bị vào Nam tham dự Hội đồng tại
Cần Thơ, một khải tượng từ nơi Chúa đến với ông trong giấc chiêm bao về những
tín hữu dâng của cải cho việc phát triển nhà Ngài tại miền Bắc. Tại Hội đồng ở Cần

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 213

Thơ và cả miền Trung khi ông đến chia xẻ, làm chứng về công việc Chúa, đã dấy lên 213
một tinh thần dâng hiến cho công việc Chúa ở miền Bắc.

Trong bóng cánh của Đấng Toàn Năng

Bao nhiêu lần đối diện với bắt bớ, nhưng Chúa luôn ở bên và gìn giữ ông diệu
kỳ. Trước cảnh chỉ huy người Pháp, những lính khố xanh, dân làng với gậy gộc, dây
trói tại làng Gia Thượng, Hà Nội chực chờ trước nhà giảng, sẵn sàng xông vào bắt
trói người giảng Tin Lành, Chúa dự phòng cho ông một giáo sĩ “thay thế” để bảo
đảm sự bình yên cho con cái Ngài ngày đầu tin theo Chúa. Tại đây, Mục sư Lê Văn
Thái cũng từng chứng kiến những cảnh tượng đến nao lòng khi người tín hữu giữ
chức Lý trưởng ở làng Gia Thượng, Gia Lâm (Hà Nội) đã đầu phục Ngài lại quay gót
chối bỏ đạo khi bị cường quyền đe dọa.

Trên đường đê Thọ Lão - Hạ Mỗ của vùng Sơn Tây, nhiều người vì thành kiến và
cái lợi riêng đã cầm dao, mác phục sẵn trên đường đê đợi cơ hội hạ sát Mục sư Lê
Văn Thái. Chúa đã khiến một cơn mưa kéo dài ở vùng Sơn Tây khiến ông đổi lộ
trình đi theo một con đường khác để âm mưu sát hại tôi tớ Ngài bất thành. Nanh
vuốt của kẻ dữ giương ra, gài bẫy nhưng Chúa đã giải cứu đầy tớ Ngài một cách
diệu kỳ.

Năm 1936, khi công việc Chúa tại Hà Nội đang phát triển nhiều mặt, một cơn
bạo bệnh đã làm ông suy sụp sức khỏe. Ông bị bệnh phổi nặng đến nỗi bác sĩ
Paterson cho rằng ông sẽ qua đời trong vòng ba tháng. Thế nhưng, Chúa đã chữa
bệnh ông cách lạ kỳ đến mức y học hiện đại lúc đó không thể lý giải. Đó là một
trong những phép lạ của Chúa dành cho ông.

Năm 1945, với tư cách là người đứng đầu Giáo hội Tin lành, Mục sư Lê Văn Thái
đã nương cậy Lời Thánh Kinh và sự soi sáng của Thánh Linh để ngăn chặn những
tuyên bố về sự kiện đoán định được thời gian “Chúa tái lâm.” Tà thuyết này do ông
Trần Như Tuân khởi xướng đi ngược với Thánh Kinh, gây nên hậu quả khá nghiêm
trọng đối với những tín hữu không nắm vững Lời Chúa, làm ảnh hưởng nhiều đến
đạo của Ngài ở miền Trung. Sau khi đã dùng Lời Chúa để khuyên can, ông chứng
kiến được hậu quả là những cảnh trạng đau lòng của Hội Thánh.

Lo công việc Chúa, Mục sư Lê Văn Thái đã thực hiện chuyển hành trình Bắc -
Nam vào thời điểm đầy biến động ở Việt Nam sau biến cố lịch sử tháng Tám năm
1945. Đây là thời điểm đầy khó khăn đối với công việc Chúa. Khi thì đối diện với
chính quyền, các lực lượng vũ trang trong và ngoài nước trên chặng đường đầy thử
thách, ông đã nhờ cậy Chúa ban cho sự khôn ngoan để gặp gỡ các bậc cầm quyền,
đối đáp bày tỏ cách khôn ngoan về công việc của đạo để quy vinh hiển cho danh
Ngài. Khi thì mất giấy tờ tuỳ thân, giấy thông hành tại Nha Trang nhưng Chúa dự bị
cho người tìm lại được. Chúa dự liệu những điều mà chính ông không hề nghĩ tới
khi đưa ông đến Biên Hòa hay Mỹ Tho một cách an toàn. Lúc ông bị hiến binh

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 214

Nhật bắt tại Mỹ Tho, tưởng chừng như cái chết chực chờ nhưng Chúa giải cứu ông 214
ra khỏi một cách bất ngờ, bình an. Chúa đã đem ông về với gia đình, với Hội Thánh
tại Hà Nội sau “Chuyến đi lịch sử” kéo dài 5 tháng, khi mà mọi người tưởng chừng
như tuyệt vọng vì không nhận được một tin tức mảy may nào.

Khi công việc Chúa đang phát triển ở miền Nam, trên cương vị chức vụ Hội
trưởng, ông cũng trải qua bao lần bị vu oan, giá họa. Thế nhưng, Chúa cũng đã đưa
ông ra khỏi những đám mây u ám, bao quanh vì những sự không thông hiểu kỹ
càng. Đó là những câu chuyện mà ông gọi là “Cười ra nước mắt” và “Án không thành
án.” Trước những tình cảnh ấy, ông đã “Không biết phải làm cách nào khác hơn là cầu
nguyện xin Chúa làm sáng tỏ mọi việc để cho những đám mây mù tan đi. Đồng thời cũng cầu
xin Chúa cho nhân viên công quyền biết nhiều hơn về Hội Thánh Ngài và cho những người lầm
lạc được trở lại con đường sáng.”

Khi đọc Hồi ký “Bốn mươi sáu năm chức vụ” của cố Mục sư Lê Văn Thái, tôi
bỗng nhớ đến hình ảnh của Sau-lơ, một con người hung hăng từng bắt bớ những ai
tin Chúa, trấn áp đạo Cứu rỗi của Đấng Chirst đã bị Đức Chúa Trời bắt phục, trở
nên một sứ đồ tận tụy rao giảng Phúc âm của Thiên thượng. Thời niên thiếu của
chàng thanh niên Lê Văn Thái cũng có những việc làm giống như vậy trong thời còn
bầu nhiệt huyết chống đạo Cứu rỗi, khi được truyền bá đến Việt Nam. Nhưng, Đức
Chúa Trời của Tin Lành cứu rỗi có kế hoạch của Ngài. Người đã “bắt phục” chàng
thanh niên Lê Văn Thái trở thành một tín hữu trung tín, một người truyền đạo được
ơn và một mục sư cần mẫn trên con đường hầu việc Chúa tại Việt Nam.

Trên đất nước Việt Nam của thế kỷ XX, Chúa đã đưa dấu chân Mục sư Lê Văn
Thái - người hầu việc Ngài trải khắp từ miền Trung, miền Nam, miền Bắc thân yêu.
Đó là những cánh đồng thuở ban đầu mà những giáo sĩ truyền giáo, các tín hữu đầu
tiên, các truyền đạo, mục sư khi Tin Lành mới truyền đến Việt Nam đi “khai khẩn,
vỡ hoang và gieo hạt” trong nước mắt. Ngài đã tôi luyện ông trong mọi hoàn cảnh
để rồi trao cho ông những trọng trách lớn thực hiện kế hoạch gây dựng vương quốc
của Ngài tại Việt Nam.

Ông và gia đình đã trọn đời dâng hiến cho công việc của Chúa, cùng góp phần
để Tin Lành có những mùa gặt lớn trên những cánh đồng thuộc linh ở Việt Nam.
Chính sách của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đối với quốc gia có sự đóng góp vô
cùng quan trọng của Mục sư Lê Văn Thái. Khi đối diện với bao vấn đề nan giải, đầy
biến động nhưng vẫn giữ được nguyên vẹn của tinh thần truyền giảng thuần túy
đạo Cứu rỗi của Đấng Chirst, không can dự vào chính trị. Trên hành trình của chức
vụ, mục sư Lê Văn Thái đã “Vâng lời Chúa dạy và chỉ nương nơi Ngài” và ông “Đi với
Chúa và Chúa đồng sống” với ông.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 215
Tài liệu tham khảo
1. Lê Văn Thái. Hồi ký Bốn mươi sáu năm chức vụ. Tác giả xuất bản, giữ bản quyền,
năm 1970.
2. Lê Hoàng Phu. Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam 1911 – 1965. Chương trình
Thần học Phúc Âm, TEE, 1996.
3. http://www.mytnpa.org/index.
4. http://Wikipedia.
5. http://www.vietcampus.net/modules.
* Những chữ in nghiêng, đóng ngoặc kép của bài viết này được trích từ Hồi ký
của Mục sư Lê Văn Thái.
Đình Dũng

215

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]


Click to View FlipBook Version