Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 101
nền tảng cho bài giảng. Khi tôi đang đọc đến câu: “ĐẾN NỖI ĐẤNG CHRIST NHƠN 101
ĐỨC TIN MÀ NGỰ TRONG LÒNG ANH EM,” bỗng nghe có những tiếng khóc từ các
hàng ghế nổi lên rồi lần lần lan rộng khắp nhà thờ. Một cô truyền đạo trẻ tuổi bước
ra khỏi chỗ ngồi tiến về phía tòa giảng, vừa khóc vừa tháo đôi bông tai đặt lên bàn,
nói trong màn lệ: “Tôi xin dâng vật tốt nhất mà tôi có thể góp phần hầu việc Chúa
ở Bắc hạt.” Quang cảnh cảm động khóc lóc giữa Hội đồng Cần Thơ mấy hôm trước
đây bây giờ lại tái diễn tại Hội đồng Đức Phổ. Tôi sửng sờ không biết nói gì khác
hơn là nức lòng ngợi khen quyền năng cao cả của Chúa Thánh Linh. Từng loạt
người đứng lên, chen lấn nhau trong tiếng khóc. Những đôi giày, những cái khăn,
cái áo, những đồng hồ, nón nỉ, va-li được toàn thể anh em tín hữu tình nguyện hiến
dâng cho công việc Chúa tại miền Bắc. Chúa đang giục giã lòng anh em. Tất cả đều
nôn nả sốt sắng. Lửa Thánh Linh cuồn cuộn dâng cao. Tình yêu thương thật tràn
ngập tâm hồn mọi người.
Tối thứ tư, ngày 25-2-42 tôi giảng tại trường Thánh Kinh Đà Nẵng. Chúa nhắc
nhở tôi một đoạn ngắn trong thư IITi 1:13-14, rồi tôi dùng hai câu Thánh Kinh nầy để
làm nền tảng cho bài giảng. Chúa giúp đỡ tôi khai triển đầy trọn ý nghĩa mệnh đề
sau đây: “HÃY LẤY LÒNG TIN VÀ YÊU TRONG ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST MÀ GIỮ
LẤY MẪU MỰC CỦA CÁC SỰ DẠY DỖ CÓ ÍCH” Tôi đã trình bày với tất cả nhiệt
thành. Lời Chúa do đó đã đâm thấu vào lòng toàn thể anh chị em sinh viên, học
sinh. Cũng như tại Hội đồng Linh tu Đức Phổ, trong khi tôi đang giảng bỗng có
tiếng khóc từ giữa lễ đường vang lên, rồi một học sinh đứng dậy tiến về phía tòa
giảng, cởi chiếc đồng hồ đeo tay đặt lên bàn, vừa khóc vừa nói: “Tôi dâng vật này
để góp phần hầu việc Chúa ở Bắc hạt.” Tiếp theo đó, người này vừa đi xuống, người
khác tiến lên, kẻ dâng đôi giày, người dâng cái nón, kẻ dâng chiếc nhẫn cưới, người
dâng chiếc vòng hứa hôn. Có người chạy ngay về phòng trọ mang cây đàn, người
khác lại mang chiếc va-li và cả những bộ quần áo đem dâng cho Chúa. Đức Thánh
Linh làm việc rất lạ, đến nỗi người cư ngụ gần trường Thánh Kinh có dịp vào nghe
giảng cũng cảm động, chạy về nhà lấy tiền bạc và đồ vật đến dâng. Mọi người nhìn
nhau, ánh mắt ngời lên trong một niềm tin yêu thông cảm hết sức đậm đà. Trong
giờ phút vui mừng tột độ ấy, tôi không biết làm gì khác hơn cúi đầu thầm nguyện:
“LẠY CHÚA, XIN CHÚA LÀM VIỆC THEO THÁNH Ý NGÀI.” Sau đó tôi giao cho một
ủy ban lo kiểm kê các tặng vật, niêm phong cẩn thận và gởi ra Hà Nội ngày 27-2-42
chung với một bản kê khai đầy đủ các món đã dâng, như tôi đã làm mấy hôm trước
ở Cần Thơ và Đức Phổ. Ngày hôm đó (27-2-42) cũng là ngày tôi lên xe lửa về Hà
Nội.
Đến sáng Chúa nhật, ngày 1-3-42, sau khi thờ phượng Chúa và giảng Thánh
Kinh, tôi bắt đầu tường thuật cho Hội Thánh Hà Nội nghe những biến động trong
cuộc hành trình vào Nam vừa qua của tôi. Những việc lạ lùng Chúa đã làm ở Cần
Thơ, Đức Phổ cũng như ở trường Thánh Kinh Đà Nẵng. Tức thì như có một luồng
điện mạnh chạm vào lòng tất cả những con cái Chúa đang dự nhóm trong nhà thờ.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 102
Tâm hồn họ như tan vỡ, và bừng cháy bởi sự kính mến Chúa và tình yêu thương 102
linh hồn đồng bào. Những tiếng NGỢI KHEN CHÚA vang lên hòa lẫn trong tiếng
khóc. Sự xúc động dâng trào mãnh liệt. Có thể bảo LỬA THÁNH LINH đã phát khởi
ở Cần Thơ, rồi sau đó cháy lan ra khắp các miền Đức Phổ, Đà Nẵng rồi đến Hà Nội
một cách hết sức nhanh chóng.
Đa số anh em tín đồ đều nôn nóng muốn nhìn tận mắt những vật mà con cái
Chúa khắp nơi đã dâng, nên chúng tôi tổ chức một buổi nhóm ngay vào tối hôm
đó. Để có thể sắp xếp và kê khai đầy đủ, chúng tôi đề cử ngay một ủy ban để lo
kiểm điểm những vật từ các nơi gởi về, để riêng ra từng loại và ghi rõ xuất xứ ở Cần
Thơ, Đức Phổ hay Đà Nẵng. sau đó, bày tất cả những của dâng ấy lên tòa giảng.
Tối nhóm lại, sau khi hát Thánh ca và cầu nguyện tôi thuật lại một lần nữa
chuyến đi Nam của tôi với những chi tiết đầy đủ hơn, Tôi nói rõ cho Hội Thánh biết
lý do tại sao tôi phải vào Nam và những gì đã xảy ra lúc chuẩn bị, khi đi cũng như
lúc trở về. Hội Thánh cũng biết sơ lược về việc Hội Trưởng Mục sư Lê Đình Tươi
đau, nên tôi nói thêm là lần thứ nhất ông chủ nhiệm Nam hạt gởi điện tín mời tôi
đến chủ tọa và giảng cho Hội đồng thay cho Mục sư Lê Đình Tươi, nhưng tôi không
muốn đi vào và đã gởi điện văn từ chối. Nhưng một điện tín khác lại gởi ra với nội
dung rất thành khẩn, thêm vào đó Mục sư Truyền đạo lại khuyên giục tôi nên đi…
Không biết phải quyết định ra sao, tôi bèn đem mọi việc ấy trình bày với Chúa và
xin Chúa cho tôi biết ý định của Ngài. Kết quả, sau khi cầu nguyện đọc Thánh Kinh
và chờ đợi, tôi đã nhận được khải tượng lạ lùng của Chúa. Chúa cho tôi thấy
CHIÊM BAO…
Trong CHIÊM BAO tôi thấy mình đang giảng cho Hội đồng, trong khi đang
giảng, bỗng có một chàng thanh niên tiến lên phía tôi vừa đi vừa khóc nức nở. Anh
cởi chiếc áo ngoài đặt lên bàn rồi nói giọng nghẹn ngào: “Tôi xin dâng vật này để
góp phần hầu việc Chúa tại Bắc hạt.” Người thanh niên quay gót trở xuống thì một
thiếu phụ tiến lên, cởi đôi bông tai đặt lên bàn nói trong màn lệ: “Tôi cũng xin dâng
vật này để dùng vào công việc Chúa tại Bắc hạt.” Tiếp theo đó, nhiều người khác
chen lấn nhau đem dâng cho Chúa những vật tốt nhất mà mình hiện có…
Khi tỉnh giấc tôi không chú ý về những việc đã xảy trong chiêm bao. Do đó
những ngày kế tiếp vì công việc bận rộn nên tôi quên phứt đi. Mãi đến khi vào Cần
Thơ giảng cho Hội Đồng, chứng kiến việc làm của chàng thanh niên và thiếu phụ
trên đây, tôi liền nhớ lại đúng là dáng điệu của hai người mà tôi đã thấy trong
chiêm bao, từ quang cảnh Hội đồng đến màu áo và ngôn ngữ của họ đều y hệt,
chẳng khác nào tôi được xem lại một khúc phim chiếu lại lần thứ hai.
Khi thuật chuyện, tôi cầm cái áo chàng thanh niên và đôi bông tai của người
thiếu phụ đưa cao lên cho mọi người thấy. Tức thì một biến động xảy ra ngay trong
lúc đó. Hội chúng đồng loạt khóc to lên vì cảm động và một số người nhận được sự
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 103
thúc giục mãnh liệt của Chúa nên cởi nào áo, bông tai, vàng vòng, bút máy, đồng 103
hồ, tiền bạc đem dâng cho Chúa để phát triển công việc nhà Ngài. Thậm chí có
những cụ già sẵn sàng hiến dâng cả cây gậy, chiếc dù đang cầm trên tay. Lúc đó
đang còn lạnh nhưng vẫn có người hăng hái dâng luôn cả tấm áo ngự hàn độc nhất
của mình bất chấp mưa sa gió lạnh. Tinh thần cương quyết hy sinh cho công việc
chung đồng một lúc lan tràn từ Nam chí Bắc. Thánh Linh thật sự thăm viếng từng
cá nhân tín đồ. Ngọn lửa yêu thương ngùn ngụt dâng cao. Có thể bảo đây chính là
giai đoạn vàng son nhất, phước hạnh nhất trong lịch sử giáo hội. Sự hợp nhất của
toàn thể tín hữu ba miền hoàn toàn tự nhiên, không màu mè, không giả tạo. Mọi
người không ai nhìn ai mà tất cả đều nhìn về một hướng, theo đuổi chung cùng
một mục đích với cùng một ý thức, trách nhiệm là phải làm thế nào rao truyền Lời
Sự Sống cho toàn cõi Việt Nam trong một thời gian ngắn nhất.
Quyết tâm đó của toàn thể tín hữu được thể hiện bằng những hành động tiêu
biểu sau đây của Hội Thánh Hà Nội. Số là sau khi nhận được những tặng phẩm từ
các nơi gởi về để cứu trợ cho công việc Chúa tại miền Bắc, Hội Thánh Hà Nội liền
phát động phong trào mua các vật đã dâng để tặng lại cho người dâng. Tín hữu
khắp các vùng lân cận đều nhiệt liệt hưởng ứng. Họ sẵn sàng tranh nhau mua
nhưng món đồ rất tầm thường với giá rất đắt. Nhờ đó, Hội Thánh có được một
ngân quỹ tương đối dồi dào để cung ứng cho những đòi hỏi cấp thiết của tình hình.
Công việc bán đấu giá lạ lùng này phải kéo dài nhiều đêm mới xong. Mọi người hăm
hở chen lấn nhau, mong mỏi sao cho hành động của mình được gần với những tấm
lòng đã hy sinh vì công việc Chúa. Nhất là chiếc áo của chàng thanh niên, đôi bông
tai của cô Truyền đạo Đức Phổ và chiếc đồng hồ đeo tay của bà Jeffrey, ai ai cũng
muốn giành nhau mua cho kỳ được. Rốt lại, một bà cụ giàu lòng bác ái đã bằng
lòng trả một số tiền cao nhất để nhận chiếc áo của chàng thanh niên. Bà rất sung
sướng đối với nghĩa cử cao đẹp của mình, và liền sau đó, bà gởi tặng lại chiếc áo
đó lại cho chàng thanh niên trên đây. Thật Chúa đã dùng chàng thanh niên này để
khơi mào cho công cuộc phục hưng lớn trong toàn cõi Việt Nam. Có thể bảo lửa
Thánh Linh đã ngún cháy tại Cần Thơ, lan rộng ra miền Trung và cuối cùng bốc
cháy mãnh liệt tại Hà Nội. Chính chàng thanh niên trên đây về sau đã trở thành
một Mục sư đầy ơn và đã làm Đoàn trưởng Thanh niên trong nhiều năm. Trong khi
tôi viết những dòng nầy thì Mục sư Nguyễn Sơn Hà đang là Chủ tọa của một Hội
Thánh lớn tại miền Nam.
Khi giai đoạn bán đấu giá vừa xong, đến giai đoạn giao hoàn tặng vật cũng được
phát động hết sức sôi nổi. Của ai đã dâng đều được tặng lại đúng cho người ấy,
nhưng có ít món không được như ý. Sự kiện nầy lại gây một biến động lớn và sâu
rộng trong toàn thể Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Người này truyền miệng cho
người kia những việc lạ lùng mà Chúa đã làm. Chẳng bao lâu tất cả tín hữu từ thành
thị đến thôn quê đều biết rõ: Người dâng món đồ trong trường hợp đặc biệt nào và
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 104
người mua để tặng lại ra làm sao. Khi nghe câu chuyện nầy, ai nấy đều hết lòng 104
ngợi khen Chúa. Bắt đầy từ đó, mọi người hết lòng hết sức góp phần hầu việc Ngài.
Lúc bấy giờ, Bắc hạt có mười chín chi hội kể từ Thanh Hóa đến Cao Bằng,
nhưng chỉ có hai chi hội tự trị tự lập là Hà Nội và Nam Định. Những chi hội còn lại
do Hội Truyền giáo trợ cấp. Đến năm 1942, quân đội nhật tràn sang Đông Dương,
các Giáo sĩ lần lượt bị đưa vào trại giam ở Mỹ Tho. Tiền tiếp tế hàng tháng bị đình
chỉ, do đó, mười bảy chi hội tân lập không được trợ cấp nữa. Về phương diện tài
chánh thì lúc bấy giờ Bắc hạt yếu kém hơn các Hạt khác, vì phần đông các Hội
Thánh đều mới mở.
3. Tinh Thần Tương Trợ Tiếp Tục Lan Rộng.
Do biến động nầy, các Hội Thánh Chúa ở Nam, Trung và Bắc đồng loạt thức
tỉnh, tất cả đều ý thức được trách nhiệm của mình là phải làm sao cho Hội Thánh
được tự trị tự lập cách bền vững. Trong dịp nầy một số con cái Chúa ở Nam và
Trung hạt được Thánh Linh cảm thúc nên vui lòng dâng một số tiền hằng tháng để
cung cấp cho Mục sư Truyền đạo ở miền Bắc trong suốt thời gian gần bốn năm kể
từ tháng 6, 1942 đến tháng 4, 1946. Sau giai đoạn nầy, Hội Truyền giáo mới bắt
đầu trợ cấp trở lại. Trong khi tín đồ ở Nam và Trung hạt cố gắng giúp đỡ công việc
Chúa tại miền Bắc, thì tín đồ Bắc hạt lại càng cố gắng bội phần hơn. Đối với họ, số
tiền một phần mười quá ít nên đã bằng lòng dâng từ mười lăm đến hai mươi phần
trăm hoặc hơn nữa để giúp đỡ cho các tôi tớ Chúa. Thậm chí có người sau khi khấu
trừ các chi phí cho gia đình, đem dâng tất cả số tiền còn lại để phát triển Hội
Thánh. Vả lại, tinh thần của Mục sư Truyền đạo lúc bấy giờ rất cao, bằng lòng chấp
nhận mọi hy sinh gian khổ để duy trì Hội Thánh và rao truyền Tin Lành.
Mẫu đối thoại ngắn sau đây có thể xem như là một điển hình cho sự quyết tâm
ấy. Có một truyền đạo trẻ nhận được thư mẹ từ miền Trung gởi ra, trong đó có câu:
“mẹ nghe vợ chồng con và các cháu khổ, mẹ thương lắm. Mẹ không muốn con và
các cháu đói khổ. Con đem các cháu về đây mẹ nuôi. Chúa cho nhà ta cũng đủ
ăn.” (Ông truyền đạo liền viết ngay một phúc thư cho mẹ:) “Thưa mẹ, con đọc thư
mẹ con rất cảm động biết mẹ rất thương vợ chồng con và các cháu, nhưng con
không thể bỏ Hội Thánh mà về. Chúa thương chúng ta, mẹ ạ. Hội Thánh ở đây
thương chúng con và chúng con thương Hội Thánh….”
Hai bức thư trên đây, tôi được hân hạnh đọc trước bữa ăn tối tại tư thất Hà
Nội. Tôi rất cảm động, do đó quyết định kiêng ăn bữa tối hôm ấy, dùng thì giờ để
cầu nguyện và tạ ơn Chúa về tinh thần của Mục sư Truyền đạo và của toàn thể tín
hữu trong những giờ phút khó khăn đen tối nhất lịch sử Giáo hội.
Đến tháng 2, 1944 Hội Đồng Bắc hạt được tổ chức họp tại Thái Bình và Mục sư
Kiều Công Thảo, Chủ nhiệm Nam hạt là giảng giả. Lúc bấy giờ, nền kinh tế tại miền
Bắc bị khủng hoảng kinh khiếp. Nạn đói thường xuyên đe dọa mọi người. Chính vì
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 105
thế mà Hội Thánh miền Bắc phải trải qua những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Nếu 105
không có sự che chở và đùm bọc bởi ơn thần hựu của Chúa thì không thể nào
đứng vững và tồn tại cho đến ngày nay. Sự kiện ấy chẳng những làm cho người đời
ngạc nhiên, và ngay cả các đầy tớ của Chúa cũng phải lấy làm lạ. Trong thì giờ biệt
riêng nhóm với các Mục sư, Truyền đạo miền Bắc, ông Mục sư Kiều Công Thảo đã
thành thật bày tỏ sự “thắc mắc” của mình. Ông nhìn thẳng các vị Mục sư, Truyền
đạo rồi nói: “Tôi có một sự khó hiểu, xin hỏi thật anh em. Lúc còn ở trong Nam, tôi
nghe ngoài Bắc đói khổ và thiếu thốn lắm. Tôi đã hết sức khuyên Hội Thánh trong
Nam dâng tiền giúp Hội Thánh ngoài nầy, nhưng khi ra đến đây tôi thấy tất cả anh
em đều khỏe mạnh, quần áo đàng hoàng quá, khiến tôi không hiểu tại sao?” Có
một vị Mục sư vui vẻ đứng lên trả lời: “Cảm ơn Chúa, câu hỏi của ông rất đúng.
Chính chúng tôi cũng tự hỏi như vậy, vì không biết tại sao chúng tôi có thể sống và
có đầy đủ đến ngày nay.” Nghe sự trình bày của người bạn không đủ yếu tố để làm
cho người ngoại cuộc có thể hiểu được tường tận, một vị Mục sư khác đứng lên
tường thuật lại cách thức Chúa dùng để nuôi gia đình mình với một giọng cảm
động như sau: “Một ngày kia gia đình tôi không còn gì để ăn. Chúng tôi không biết
nhờ đâu để có gạo ăn qua ngày. Đám con chúng tôi đói lã. Đến trưa không biết
phải làm cách nào khác hơn, chúng tôi đi cầu nguyện. Một lúc sau, có tiếng người
gõ cửa. Khách của chúng tôi là một bà tín đồ từ tỉnh khác đến. Theo bà có một
người với một gánh nặng trên vai. Gặp chúng tôi bà nói ngay: Tôi có chút việc qua
đây nhân tiện ghé thăm ông bà và mua gánh BÚN biếu ông bà và các cháu. Chúng
tôi hết sức mừng rỡ và cảm tạ ơn Chúa. Trong suốt hai ngày, gia đình tôi sống bởi
gánh bún mà Chúa đã sai “ CON QUẠ” của Ê-li ngày xưa và của chúng tôi ngày nay
mang tới. Rồi ông chỉ ngay vào mình và nói: “Như bộ đồ tôi đang mặc đây cũng do
một con quạ khác đem đến hai tuần trước.”
Buổi nhóm họp bỗng trở thành một cuộc làm chứng đầy ơn. Các vị Mục sư
Truyền đạo hiện diện luân phiên nhau thuật lại sự giúp đỡ, nuôi dưỡng của Chúa
đối với gia đình mình. Những “con quạ” của Đức Chúa Trời luôn luôn đến kịp lúc để
giải tỏa những khó khăn và cung cấp mọi nhu cầu cho đời sống ngoài sức tưởng
tượng của họ. Chúng tôi vui mừng nhìn nhau, hát Ha-lê-lu-gia, ngợi khen Chúa.
Ngài đã dự bị cho Hội Thánh xưa cũng như nay, một đàn quạ tiếp trợ, chớ không
phải một đàn quạ chỉ chuyên tìm xác chết.
B. CUỘC HÀNH TRÌNH LỊCH SỬ SAU CÁCH MẠNG 1945
Bắt đầu giữa năm 1945, tình hình đất nước trở nên sôi động vì những chuyển
biến bất ngờ. Âm vang của cuộc chiến tại Việt Nam không còn ở trong phạm vi
quốc nội, trái lại ngày càng lan rộng khắp các quốc gia láng giềng vì ảnh hưởng
cuộc tranh chấp quốc tế giữa chủ nghĩa “phát xít” và của phe Trục và chủ nghĩa tự
do của phe Đồng minh. Do đó Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một lần nữa lại phải
đối đầu với những khó khăn mới, trong đó vấn đề liên kết hay không liên kết. Lúc
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 106
bấy giờ tôi và toàn thể quý vị Mục sư trong Ban Trị sự Tổng Liên Hội hết sức lo lắng 106
vì nhận thấy Hội Thánh của Đức Chúa Trời đang bị đặt trong tình trạng tiến thoái
lưỡng nan. Tuy nhiên, có nhiều điều nâng đỡ đức tin chúng tôi trong những hoàn
cảnh như vậy, chúng tôi và toàn thể tín hữu mới thấy rõ sự bảo vệ trọn lành của
Chúa. Chúa không bao giờ để cho Hội Thánh Ngài bị sa lầy, nếu chúng ta thật sự
quyết tâm nhờ cậy Ngài.
1. Hội Kiến Tại Bắc Bộ Phủ.
Sau hai vụ nổ bom nguyên tử tại Okinawa và Nagasaki, ngày 15-8-1945, nước
Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Chế độ quân phiệt suy tàn cùng
với giấc mộng thôn tính toàn cõi Đại Đông Á của con cháu Thái dương Thần nữ.
Nhân cơ hội nầy, ngày 23-8-1945 mặt trận Việt Minh đứng lên cướp chính
quyền trong tay người Nhật. Đến 2-9-1945 tại công viên Ba Đình, ông Hồ Chí Minh
với tư cách chủ tịch, đã tuyên bố Việt Nam Độc Lập. Thế là, lịch sử quốc gia lại bắt
đầu một giai đoạn mới với những thể chế khác biệt hơn. Trong những ngày đầu,
toàn dân hân hoan đều chào mừng chiến thắng. Cuộc tranh đấu trường kỳ giành
độc lập kể như đã thành công. Lúc bấy giờ, cũng như những đoàn thể tôn giáo
khác, vào ngày 8-9-1945, tôi cùng ông Mục sư Trần Văn Đệ và ông Bùi Hoành Thử
đại diện cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đến chào mừng cụ Hồ tại Bắc bộ phủ.
Trong buổi tiếp xúc đầu tiên với vị chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, vấn
đề sau đây đã được đem ra thảo luận: “HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM CÓ NÊN
LẬP TIN LÀNH CỨU QUỐC HAY KHÔNG VÀ CÁC NHÀ THỜ TIN LÀNH CÓ PHẢI
TREO CỜ HAY KHÔNG?” Ngay từ lúc đầu cụ Hồ Chí Minh đã nhìn thẳng vào tôi và
nói: “Ông nên lập Tin Lành Cứu Quốc trong Hội Thánh.” Tôi nhận thấy đề nghị đó
không thể chấp nhận được vì không hiệp với tôn chỉ của Hội Thánh, nên đã trình
bày đại để như sau: “Toàn thể tín đồ đều hòa mình với dân, họ thuộc đoàn thể nào
xin cứ để họ giữ nguyên đoàn thể ấy. Chẳng hạn như thanh niên, lao công, thợ
thuyền, công chức, giáo giới, mỗi tổ chức đều có đoàn thể cứu quốc riêng. Nếu
chúng tôi lập Tin Lành Cứu quốc, thì phải rút những người tín đồ trong các giới kia
ra, như vậy e có phần xáo trộn và phân tán chăng? Vả lại tôn chỉ của Hội Thánh Tin
Lành Việt Nam là Tin Lành phải thuần túy không có màu sắc chính trị, không dung
nạp chính trị và không chịu ai tuyên truyền chính trị.” Cụ Hồ hỏi tại sao? Tôi liền
thưa “Vì lịch sử đã chứng minh, nếu tôn giáo đi đôi với chính trị thì khi tôn giáo
mạnh, sẽ chi phối chính trị và ngược lại, chính trị mạnh sẽ chi phối tôn giáo. Trong
hai cái đó, luôn luôn có cái nầy hoặc cái kia chi phối nhau. Thí dụ như nước và lửa,
nhân loại đều cần cả hai, nhưng phải tách riêng ra chứ không để chung nhau được,
vì nước đổ trên lửa thì lửa tắt mà lấy lửa nấu nước thì nước khô.
Cụ Hồ chăm chỉ nghe tôi trình bày và sau cuộc hội kiến nầy, ông đồng ý cho
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được giữ nguyên tình trạng cũ. Chúng tôi thật vui
mừng tạ ơn Chúa!
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 107
Nhân cơ hội nầy, tôi cũng trình cụ Chủ Tịch bức điện tín của Hội Trưởng Giáo sĩ 107
E. F. Irwin mời tôi vào Mỹ Tho gấp (vì ông đã được trả tự do và sắp về Mỹ) để xin cụ
cấp cho một giấy thông hành từ Bắc vào Nam. Cụ vui vẻ nhận lời và mấy hôm sau
tôi nhận được một giấy phép của Bộ Nội vụ, nội dung như sau: “Mục sư Lê Văn
Thái, Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được phép đi từ Bắc vào Nam lo
công việc của Đạo Tin Lành.” Nhờ tấm giấy thông hành này và bởi ơn Chúa tôi đã
vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn nguy hiểm rồi trở về bình an.
2. Tình Trạng Di Chuyển Trong Thời Chiến.
Sau khi dự đêm Trung thu năm Ất Dậu (20-9-1945) tổ chức tại Hồ Hoàn Kiếm
rất tưng bừng với những trận giặc giả dành riêng cho thanh thiếu niên chơi, bằng
cách dùng vỏ bưởi làm đạn đánh đắm các chiếc tàu bằng giấy từ giữa hồ tiến vào
mệnh danh là tàu xâm lăng. Sáng ngày 21-9-1945 tôi lên đường vào Sài Gòn để sau
đó xuống Mỹ Tho gặp ông Hội trưởng Giáo sĩ E. F. Irwin bàn công việc Hội Thánh
thời hậu chiến.
Trong thời bình, đi Hà Nội đến Mỹ Tho nhiều lắm chỉ mất ba ngày. Nhưng lúc
đó mất mười bảy ngày tôi mới đến Mỹ Tho. Vì chiến tranh vừa chấm dứt, quân đội
Nhật phần lớn còn ở trên đất Việt. Đường sá chưa được khai thông sau bao năm bị
tàn phá. Đồng minh đang bận rộn với vấn đề tiếp thu. Ngày 15-9-1945 quân đội
Trung Hoa do tướng Lữ Hán cầm đầu tới Vân Nam kéo qua Lạng Sơn để tiến vào
Hà Nội giải giới quân đội Nhật. Và sau đó, ngày 19-9-1945 quân đội Anh cũng đổ
bộ Sài Gòn. Việc đi lại, vì thế trở nên hết sức khó khăn. Việt Minh vừa nắm chính
quyền, hệ thống hành chánh chưa được ổn định, các ủy ban hành chánh địa
phương chỉ làm việc theo sáng kiến của họ, vì vậy việc di chuyển từ Bắc vào Nam
hồi đó thật là chuyện thiên nan vạn nan. Xe lửa cũng chỉ bán vé từng đoạn đường
ngắn mà không bán vé suốt như trước vì không bảo đảm hôm sau có xe tiếp tục.
Trong chuyến đi này tôi chỉ có một va-li hành lý và một cặp da lớn hồ sơ của
Tổng Liên Hội và các Địa hạt. Bảy giờ sáng ngày 21-9-1945, tôi bỏ Hà Nội vào Vinh
rồi ở đó đến mười giờ sáng hôm sau mới có chuyến đi Huế. Nhưng đến cầu Đồng
Hới phải sang xe vì cầu hư. Qua bên kia cầu, đợi mãi đến bốn giờ chiều mà xe từ
Huế vẫn chưa ra, hành khách đành phải tìm quán hoặc thuyền để nghỉ đêm tại đó.
Nhân dịp nầy tôi gặp ông Nguyễn Đình Thuần người Hà Đông là một nhà thầu kiêm
họa sĩ và cũng là một thương gia ở Hà Nội. Tôi cắt nghĩa và biếu sách cho ông xem.
Từ đó hai chúng tôi luôn luôn đi chung, ăn và nghỉ chung tại các trạm nghỉ. Cho
đến sáu giờ chiều ngày 27-9-1945, chúng tôi mới đến ga Đà Nẵng. Đêm đó, chúng
tôi nghỉ tại nhà cụ Đốc học Trường Thánh Kinh là Mục sư Ông Văn Huyên. Suốt
đêm và cả ngày hôm sau nữa, tôi và cụ Huyên hiệp nhau thảo luận cặn kẽ về tình
hình Hội Thánh và những chương trình dự liệu trong tương lai. Sáng 29-9-1945, tôi
và ông Thuần từ giã cụ Huyên để đáp xe lửa đi Nha Trang. Cùng đi trong cuộc hành
trình dài, chúng tôi có dịp nói chuyện nhiều về tình yêu thương của Chúa, nên khi
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 108
đến Nha Trang, ông Nguyễn Đình Thuần bằng lòng tiếp nhận Jêsus Christ làm Cứu 108
Chúa của mình. Đêm đó, tôi đã cầu nguyện cho ông tại Nha Trang. Sáng hôm sau
chúng tôi đáp xe lửa đi Phan Thiết, nhưng khi tôi vừa trình vé xe và giấy thông hành
xong, bước ra khỏi cửa thì bị một người cướp cái ví đựng tiền và tất cả giấy tờ của
tôi. Tôi thấy người ấy chạy nhưng không theo được vì cửa ga đã đóng. Tôi đành
phải dừng lại vì giấy thông hành mất thì không thể đi được.
Sau khi cầu nguyện, tôi và ông Thuần bắt tay từ biệt nhau, ông tiếp tục hành
trình đến Sài Gòn, còn tôi trở lại tư thất Hội Thánh Nha Trang đợi Chúa mở đường,
khi có giấy tờ sẽ đi. Khi gặp ông Mục sư và một vài người trong Hội Thánh, tôi
thuật lại câu chuyện và xin họ cầu nguyện: “NẾU CHÚA CHO TÔI ĐI, XIN CHO TÔI
ĐƯỢC LẠI GIẤY PHÉP ĐÃ MẤT BẰNG KHÔNG, TÔI SẼ TRỞ VỀ HÀ NỘI.” Tôi xin họ
tha thiết khẩn nguyện với Chúa, nhưng ông Mục sư và anh em tín hữu ai nấy đều
không để ý. Vì hôm đó (30-9-1945) là ngày ông Trần như T… tuyên bố Chúa tái
lâm. Phần đông tín đồ đều say mê thuyết ấy. Những ai có tài sản đều viết sẵn giấy
dán ngoài cửa, đại khái: “Khi tôi đi, nhà nầy dâng vào… hoặc chúng tôi về trời, nhà
đất này dâng vào cơ quan… v.v..” Đêm 30-9-1945 họ nhóm cả tại nhà thờ để cầu
nguyện và chờ đợi Chúa đến. Theo dự đoán của họ, thì đúng một giờ sáng ngày 1-
10-1945 Chúa sẽ tái lâm. Đêm ấy tôi trú tại tư thất Hội Thánh Nha Trang, số 57
đường Hoàng Tử Cảnh, nay vẫn còn đó. Khoảng mười giờ đêm, trong tư thất Mục
sư, ngoài tôi ra, không còn có một người nào cả. Tôi biết họ lên nhà thờ cầu
nguyện và chờ đợi Chúa đến, nhưng tôi không tin, bởi vì ngay từ phút đầu tôi đã
phản đối thuyết nầy bởi nó sai hẳn với Thánh Kinh. Đến bốn giờ sáng ngày 1-10-
1945 vẫn không có gì xảy ra. Tôi nghe tiếng thở dài của vị Mục sư và có tiếng người
đi vội về nhà lo gỡ những tấm giấy đã dán trước cửa. Trong quá trình của lịch sử
giáo hội, đây là một đổ vỡ thê thảm nhất đối với những người chủ trương tà thuyết
xác định ngày giờ Chúa tái lâm và những người lầm lẫn tin theo thuyết ấy. Cũng xin
nói rõ là trước ngày rời Hà Nội vào Nam, tôi nhận được điện tín của một vị Mục sư
Chủ nhiệm Địa hạt gởi cho tôi, nội dung: “kính gởi cụ Mục sư Lê Văn Thái, xin cụ
tuyên bố ngày 1-10-1945 Chúa tái lâm, nếu không, huyết của người sa ngã đổ trên
đầu cụ.” Tôi trả lời: “Tôi không tin. Nguyện Chúa giúp người theo tà thuyết trở lại
con đường của Ngài.” Nguyên nhân phát sinh tà thuyết này sẽ trình bày rõ hơn
trong những chương kế tiếp. Bây giờ, tôi xin trở lại với cuộc hành trình vào Nam.
Khoảng bốn giờ chiều ngày 2-10-1945, trong khi tôi đang ngồi tại tư thất Hội
Thánh Nha Trang, có một phu xích lô bước vào và hỏi: “Có Mục sư Lê Văn Thái ở
đây không?” Tôi nói “có.” Ông ta đưa cái ví rồi hỏi tôi: “Cái này có phải của ông.”
Khi thấy cái ví bị đánh cướp của mình đang nằm trong tay người phu xích lô, tôi
mừng rỡ khôn tả xiết, chỉ nói được một lời: “Chúa ôi, tạ ơn Chúa.” Giấy thông hành
của bộ Nội vụ còn nguyên vẹn. Tôi nắm lấy tay người phu xích lô và hết lời cảm ơn
anh ta. Chúa đã đáp lời tôi, Ngài thật sự trả lời tôi, sau hai ngày tôi tha thiết cầu
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 109
nguyện. Vấn đề đã được giải quyết, bởi ý định của Chúa, tôi tiếp tục hành trình bất 109
chấp mọi hiểm nguy.
Sáng ngày 3-10-1945 từ Nha Trang lên Thành để đón xe lửa đi Phan Thiết. Trên
khoảng đường dài mười cây số này, đã phải dùng cả ba thứ xe đạp, xe ngựa, và xe
xích lô, còn phải vượt qua những trạm gác của quân đội Nhật, dân quân tự vệ và
lính Việt Minh rất khó khăn. Đến Phú Vinh, phải chờ tại ga Cây Cày tới ba giờ rưỡi
chiều mới có chuyến xe lửa quân sự đi Phan Rang. Chuyến tàu này không chở hành
khách và thường dân, nhưng nhờ giấy phép của ông Đặng Phúc Thông Giám đốc
Hỏa xa Việt Nam cấp, cho phép tôi được di chuyển bằng xe lửa dân lẫn quân sự, vì
thế người trưởng xa cho tôi đi. Trên xe, tôi có dịp làm chứng đạo Chúa cho anh em
quân nhân. Đến Phan Rang, xe lửa nghỉ đêm tại đó.
Sáng hôm sau (1-10-45) tôi đáp chuyến xe lửa khác đi Phan Thiết. Khoảng
đường này bị kiểm soát rất gắt gao. Có người được cho lên xe rồi nhưng sau lại bị
bắt xuống và giữ lại để điều tra. Chính tôi cũng bị xét tới ba lần và bị vặn hỏi tại sao
tôi có được giấy của Bộ Nội vụ. Tôi phải giải thích năm lần bảy lượt mới được cho
đi. Sở dĩ có chuyện hỏi lôi thôi vì chính quyền ở đây bắt được tin là hình như có
một đoàn quân từ Lào hay Cao Miên do Phan Lượng kéo về đóng ở ngoại thành
Phan Thiết, mà chưa biết đoàn quân ấy thuộc quyền sử dụng của ai, và khuynh
hướng nào. Để ngăn ngừa trường hợp nội tuyến hoặc nối giáo cho giặc, chính
quyền ở đây ra lệnh kiểm soát thật kỹ lưỡng những hành khách vào Phan Thiết. Đại
khái lý do được viện dẫn là như vậy, tôi không rõ đúng hay sai.
Bốn giờ chiều hôm ấy, xe đến ga Ma Lâm, tôi phải dùng xe ngựa vào Phan
Thiết. Trên đường vào thành phố, nghe dân chúng bàn tán xôn xao về đoàn quân
của Phan Lượng, đồng thời thấy nhiều dân võ trang để kháng chiến. Khi đến tư thất
Hội Thánh thì ông Mục sư Lê Khắc Hòa đi Mũi Né. Hỏi thăm đường đi, thì đường
giao thông Phan Thiết - Biên Hòa bị gián đoạn. Biết như thế, nhưng tôi không chán
nản. sau khi cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ phương tiện cho ngày mai, tôi đi ăn tối.
Đang lúc ngồi trong tiệm ăn, tôi gặp một người bạn đồng hương mà tôi bặt tin từ
năm 1928 (năm tôi đi Hà Nội). Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng, anh bạn hỏi
tôi: “Anh định đi đâu vậy?” Tôi cho anh hay là mình đi Biên Hòa. Anh bạn cho hay
không có cách nào cả, ngoại trừ trường hợp ngoại giao với ông trưởng xa chuyến
năm giờ sáng mai, đi từ Phan Thiết đến Biên Hòa để rước phái đoàn chính phủ. Tôi
nghĩ rằng đã mười giờ rưỡi đêm rồi làm sao gặp trưởng xa được, đành để bốn giờ
rưỡi sáng mai tôi ra ga đón. Đúng bốn giờ rưỡi ngày 5-10-45 tôi đến ga Phan Thiết,
được người bạn giới thiệu, đồng thời tôi cũng trình giấy phép của Giám đốc Hỏa xa
Việt Nam cho trưởng xa để xin một chỗ trên xe đó. Ông trưởng xa ngần ngại hồi
lâu, nhưng sau cùng ông ta cho tôi lên xe. Đoàn xe này có sáu toa gồm hai toa
hạng nhất, hai toa hạng nhì, một toa giường ngủ và một toa phòng ăn. Không một
hành khách nào cả. trước khi lên giường ngủ, tôi đã quỳ gối cầu nguyện: “Tạ ơn
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 110
Chúa đã dự bị đoàn xe nầy cho con và cũng đã giúp con đi đến đây kịp thời. Xin 110
Chúa giúp con từ bước nầy đến Mỹ Tho bình an. Cảm ơn Chúa.” Đến ga Xuân Lộc
tôi giật mình thức giấc, bước xuống khỏi giường và đi dạo một lượt suốt sáu toa xe.
Đoàn tàu chỉ có bốn nhân viên hỏa xa và tôi. Tất cả đều yên lặng mỗi người một ý
nghĩ.
Khoảng sáu giờ chiều ngày hôm ấy, đoàn xe dừng lại ở sân ga cuối cùng. Tôi
bước đi cảm thấy nhẹ nhàng thơ thới. Vào đến tư thất Hội Thánh Biên Hòa, tôi gặp
ngay ông Mục sư Trần Văn Chuông và anh em trong Hội Thánh, chúng tôi vui mừng
lẫn lo sợ quấn quýt lấy nhau, hàn thuyên đủ điều. Ai nấy đều hỏi thăm rối rít: “Sao
ông đi được?” “Ông đi bằng cách nào?” Tôi từ tốn trả lời: “Chúa cho tôi đi, đi từng
bước bởi Chúa dẫn dắt.” Sau một lúc chuyện trò với nhau, tôi bày tỏ ý định của
mình cho ông Mục sư Chuông và anh em trong Hội Thánh để xin cầu nguyện và tìm
cách giúp tôi đến Mỹ Tho. Đêm ấy cả Hội Thánh cầu nguyện, nhưng xem chừng ai
nấy tỏ vẻ lo ngại vì không có cách nào đi được. Có người thẳng thắn khuyên tôi
đừng đi, e nguy đến tính mạng, vì quân đội Anh đã đổ bộ Sài Gòn, vùng ven đô thị
quân đội Nhật vẫn còn chiếm đóng. Trong khi đó Việt Minh cũng đang ráo riết võ
trang nhân dân để chuẩn bị cướp chính quyền, bằng chứng là đoàn quân do ông
Trần Văn Giàu chỉ huy đã võ trang đầy đủ và hiện đóng bản doanh tại Chợ Đệm
(Ngoại ô Chợ Lớn).
Sáng ngày 6-10-45, anh em trong Hội Thánh Biên Hòa vẫn họp nhau cầu
nguyện như thường lệ. Sau đó, phần đông đều khuyên tôi không nên đi trong lúc
hổn quan hổn quân nầy. Trước sự can gián tận tình của anh em tôi không biết phải
làm sao nên tỏ ý muốn gặp ông chủ tịch Ủy ban Hành chánh để hỏi ý kiến. Chủ
tịch Ủy ban Hành chánh Miền tây lúc đó là ông Dương Bạch Mai, hiện có mặt tại
Biên Hòa. Tôi định chín giờ sáng hôm ấy đến gặp ông. Ông Mục sư Chuông cùng đi
với tôi. Trước khi đi chúng tôi tha thiết cầu xin Chúa sử dụng chúng tôi theo ý
muốn Ngài: “Nếu Chúa muốn cho con tiếp tục hành trình, xin Chúa mở đường,
bằng không xin ngăn trở. Xin Chúa cũng đặt những lời xứng hiệp và đầy quyền năng
trong miệng con đồng thời lấy vinh quang Ngài bao phủ chúng con, khi chúng con
gặp đại diện chính quyền.”
Sau đó chúng tôi đến văn phòng ông Chủ tịch, lúc bấy giờ đóng tại dinh Công
sứ Bảo hộ. Ông Dương Bạch Mai vui vẻ đón tiếp chúng tôi và vồn vã hỏi thăm tin
tức miền Bắc, miền Trung và cách nào chúng tôi đi vào trong nầy. Theo thứ tự, tôi
tường thuật cho ông từng chi tiết và luôn tiện tôi cũng tỏ cho ông biết mục đích tôi
đến đây là để xin phương tiện đi Mỹ Tho. Vừa nói tôi vừa xuất trình cho ông xem
giấy thông hành của Bộ Nội vụ cấp luôn cả điện tín của Giáo sĩ E. F. Irwin. Sau khi
suy nghĩ, ông trả lời là không có cách nào đi cả. Ông cũng nói thêm là muốn giúp
lắm nhưng hiện không có phương tiện. Bàn qua nói lại khá lâu, cuối cùng định từ
giã, thì Chúa đặt những lời này vào miệng tôi rồi tôi nói ngay: “Nếu ông Chủ tịch
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 111
không thể giúp phương tiện đến Mỹ Tho, thì tôi sẽ tìm nhờ quân đội Nhật hoặc 111
quân đội Anh. Nhưng ông Chủ tịch nhận cho rằng tôi có đến xin ông giúp phương
tiện mà ông không thể giúp, chớ không phải tôi là Việt gian lén đi nhờ quân đội
ngoại quốc.” Ông Dương Bạch Mai nhìn tôi hết sức chăm chú, sau mấy giây yên
lặng, ông mời chúng tôi ngồi để ông xem. Đoạn ông nhắc điện thoại lên, tôi nghe
ông hỏi: “Cái xe của anh Nâu từ Mỹ Tho đến còn đó không…? Nhờ giữ xe ấy lại cho
tôi có việc cần.” Rồi quay sang tôi, ông nói: “Thôi Mục sư về nghỉ, một giờ chiều sẽ
có xe đến nhà thờ đón Mục sư.” Tôi cảm thấy nhẹ nhỏm lạ lùng nên hết lời cảm ơn
Chúa và ông Chủ tịch Uỷ ban Hành chánh. Nhân dịp nầy ông Mục Sư Trần Văn
Chuông cũng muốn cùng đi với tôi đến Mỹ Tho, tôi tỏ ý đó thì được ông Chủ tịch
chấp thuận. Về đến nhà, cả Hội Thánh nghe tin ấy đều mừng rỡ reo lên cảm ơn
Chúa.
Đúng mười ba giờ, như đã hứa, xe đến nhà thờ đón ông Mục sư Chuông và tôi.
Tôi chỉ đem theo một ít hành lý, còn va-li, sổ sách và tài liệu của Tổng Liên Hội và
các hạt đều để lại Biên Hòa. Ra khỏi thành phố, xe đi đường Lái Thiêu, ngoại ô Sài
Gòn - Chợ Lớn vì lúc bấy giờ quân đội Anh đã chiếm đóng thủ đô Sài Gòn và kiểm
soát thành phố rất chặt chẽ. Có đi như vậy mới biết lời ông Dương Bạch Mai nói là
đúng. Tất cả cầu cống trên đường đã bị dỡ phá hết. Tại mỗi địa điểm chướng ngại,
đều có dân quân tự vệ canh gác. Khi xe chúng tôi đến những chỗ có cầu, cống bị
phá hủy đó, thì anh em liền chạy ra để chận lại. Người hướng dẫn phải xuống xe
trình bày sự việc và giấy tờ cho họ xem. Khi người trưởng trạm cho đi thì có một
toán người ráp cầu ván và gỗ cho xe qua, khi xe qua khỏi cầu, cống, họ lại tháo gỡ
đem chôn cất. Từ Biên Hòa đến Chợ Đệm, chúng tôi qua sáu trạm như vậy.
Khoảng mười tám giờ cùng ngày, chúng tôi đến Chợ Đệm, nơi đặt Tổng Hành
dinh của quân đội nhân dân do ông Trần Văn Giàu lãnh đạo. Họ đưa chúng tôi
xuống đò và khi vào đến giữa rừng thì vừa tối. Người hướng dẫn cho chúng tôi biết,
ông Trần Văn Giàu mời chúng tôi dùng cơm tối, rồi sau đó xe cho người đưa chúng
tôi đến Mỹ Tho. Nửa giờ sau, chúng tôi gặp ông Trần Văn Giàu, ông tiếp chúng tôi
rất vui vẻ. Ông hỏi thăm tin tức Miền Bắc và miền Trung cùng cách nào chúng tôi đi
từ Bắc vào v.v… Sau đó, ông cho biết cụ Tôn Đức Thắng sẽ đưa chúng tôi đến Mỹ
Tho đêm nay, và ông cũng cho hay là tình hình nghiêm trọng lắm, cho nên ngoài cụ
Tôn Đức Thắng thì không ai có thể đưa chúng tôi đi được.
Bữa cơm vừa xong thì cụ Tôn Đức Thắng cũng vừa đến. Cụ rất vui vẻ, ân cần
mời chúng tôi lên xe. Tôi xem đồng hồ thấy đã hai mươi hai giờ mười lăm (6-10-45).
Ra đi trong đêm, nên tôi không biết đường hướng, chỉ phân biệt được một điều là
chiếc xe hơi nầy khác với chiếc xe đã đưa chúng tôi đi lúc ban chiều.
Đến không giờ ba mươi ngày 7-10-45, chúng tôi mới vào thành phố Mỹ Tho. Vì
đã quá khuya nên chúng tôi tìm đến khách sạn của người Trung Hoa gần ga xe lửa
để nghỉ tạm. Lúc trước có dịp vào Mỹ Tho tôi đều đến trọ tại đây. Đêm đó, cụ Tôn
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 112
Đức Thắng cũng nghỉ chung với chúng tôi một phòng trong khách sạn. Trước khi
ngủ, tôi đọc cho cụ nghe một đoạn trong Ê-phê-sô (4:1-16) rồi giải nghĩa rõ cho cụ
về Hội Thánh của Chúa, về đức tin và Thánh Linh, đồng thời giải thích cho cụ rõ là
chỉ có một Chúa duy nhất cho mọi người. Sau đó chúng tôi đồng quỳ gối cầu
nguyện. Khi đứng lên, cụ Tôn Đức Thắng vui vẻ nói: “Trong đời tôi, đêm nay tôi cảm
thấy vui thỏa và lòng nhẹ nhàng.” Chúng tôi hứa sẽ cầu nguyện để cụ biết nhiều
hơn về Chúa.
Sáng ngày 7-10-45 tôi đến giảng tại nhà thờ Mỹ Tho vì hôm ấy là Chúa nhật.
Gặp lại nhau trong hoàn cảnh đặc biệt nầy, ai nấy đều hết sức vui mừng lẫn cảm
động. Dù phải sống trong những giờ phút ngột ngạt của chiến tranh, nhưng đức tin
của hầu hết con cái Chúa vẫn không có gì thay đổi. Họ vẫn vui vẻ trong hoạn nạn
và hết lòng nhờ cậy Chúa.
Khi giảng xong, ông Mục sư Bùi Trí Hiền (Chủ tọa Hội Thánh Mỹ Tho) đưa ông
Mục sư Trần Văn Chuông và tôi về khách sạn. Lúc ấy cụ Tôn Đức Thắng cũng vừa
đến cho chúng tôi biết là ông Chủ Tịch Nam bộ Phạm Văn Bạch mời chúng tôi ăn
cơm vào sáu giờ chiều. Tôi hết sức từ chối nhưng cụ Tôn cho biết đó là ý muốn của
ông Chủ Tịch Nam bộ. Bữa ăn đặt tại khách sạn Mỹ Tho. Hiện diện về phía “chủ”
gồm có ông Phạm Văn Bạch, cụ Tôn Đức Thắng, ông Hoàng Quốc Việt, về phía
“khách” có ông Mục sư Bùi Trí Hiền, Mục sư Trần Văn Chuông và tôi. Những mẫu
chuyện qua lại trong bữa ăn phần lớn đều xoay quanh vấn đề rao truyền Tin Lành.
Nhân cơ hội này tôi đã cố gắng trình bày thật rõ về sinh hoạt của Hội Thánh Tin
Lành Việt Nam - trong mọi tương quan xã hội và chính trị - đều theo đúng đường
lối của Thánh Kinh.
112
Khách sạn Mỹ Tho nơi Ùy ban tổ chức bữa tiệc ngày 7-10-45
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 113
Tôn chỉ đã được quy định trong bản Điều lệ của Giáo hội, và bản Điều lệ đó do
Hội đồng lập pháp của Giáo hội biểu quyết, được chính quyền Pháp cũng như triều
đình Huế công nhận. Mục đích của chính quyền lúc bấy giờ là muốn tìm hiểu Hội
Thánh, nên khi nghe chúng tôi trình bày rành mạch từng chi tiết một, họ đã tỏ ra
rất thông cảm và hiểu biết. Sau này, khi tôi đã về được Hà Nội và cụ Tôn Đức
Thắng có dịp ra Bắc, tôi có mời cụ đến nhà chúng tôi ở số 1 đường Nguyễn Trãi (Hà
Nội), dùng cơm để đáp lễ hôm ấy Giáo sĩ W. C. Cadman cũng có mặt và chúng tôi
cũng nhân cơ hội này để giải bày rõ hơn về Tin Lành. Có người nghe tin này liền
gán cho tôi là Việt Minh, cũng như khi tôi nhờ quân đội Anh đưa lên Biên Hòa để
lấy sổ sách và hồ sơ của Tổng Liên Hội và của các Hạt, thì có người cũng gán cho
tôi là Việt gian. Đối với hai nguồn dư luận trái ngược nầy, tôi chỉ trả lời: “Tôi không
là Việt Minh mà cũng không là Việt gian, chỉ là người Việt yêu mến Chúa và phục vụ
Chúa mọi nơi mọi cách.”
Chiều ngày 9-10-45, tôi thả bộ ra bờ sông trước bưu điện Mỹ Tho hóng mát,
nhìn khung cảnh quen thuộc này tôi bỗng nhớ lại trước đây một năm, Chúa đã cứu
tôi thoát chết một cách hết sức lạ lùng. Tại chỗ này, tôi bị hiến binh Nhật bắt vì
đưa tiền tiếp tế cho các Giáo sĩ. Nguyên do là vì lúc bấy giờ các Giáo sĩ trong trại
giam đã hết tiền tiêu, cụ E. F. Irwin (Hội trưởng Hội Truyền giáo) và cụ W. C.
Cadman nhờ tôi thông báo cho ban quản trị nhà in ở Hà Nội, bảo họ bán cái máy
in do cụ Cadman sắm rồi gởi tiền vào cho các Giáo sĩ dùng. Cái máy bán được
mười sáu ngàn đồng, họ giao tiền cho tôi đem vào cho các Giáo sĩ. Để có đủ giấy
tờ chứng minh hợp lý theo thủ tục hành chính, họ cũng nhờ tôi xin các Giáo sĩ một
biên nhận để lưu vào hồ sơ. Tôi trở vào Mỹ Tho để trao số tiền ấy cho cụ Irwin và
trong khi chờ lấy biên nhận, tôi đến ngồi ở bờ sông như đã nói trên. Khi trao giấy
cho tôi xong, cụ Cadman trở về trại thì hai chiến binh Nhật đi xe đạp từ hai ngã
đến bắt tôi. Họ buộc tôi phải theo họ vào Hiến binh. Tôi lạnh cả người, hai đầu gối
run lên cầm cập, bước đi cơ hồ như không vững. Họ đã từng cấm chúng tôi không
được đưa thư từ hoặc tiếp tế gì cho Giáo sĩ. Nếu bắt được ai tiếp tế gì cho Giáo sĩ
thì họ sẽ xử tử bằng cách mổ bụng. Bởi thế tôi bước đi giữa hai người Nhật mà trí
thì nghĩ là mình sắp được về với Chúa. Sự chết chắc chắn sẽ đến với tôi. Hai lần
trước cũng bị quân Nhật bắt nhưng tôi không sợ hãi vì không làm điều gì trái luật,
nhưng lần này thì khác. Vừa bước đi, tôi thầm nguyện trong lòng: “Lạy Chúa, xin
Chúa cứu con, ban cho con sự bình tĩnh và ở với con trong giờ này. A-men.” Liền
đó, chân tôi bỗng thấy hết run và tôi cảm thấy bình tĩnh, dạn dĩ hơn bao giờ hết.
Thi Thiên 23 đã làm cho tinh thần phấn khởi và đức tin tôi mạnh mẽ: “Dù khi tôi đi
trong trũng bóng chết cũng sẽ chẳng sợ tai họa nào vì Chúa ở cùng tôi.”
113
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 114
Tôi bị Hiến binh Nhật bắt tại chỗ nầy sau khi Giáo sĩ W. C. Cadman giao giấy nhận tiền 114
Khi đến văn phòng hiến binh Nhật, một đại úy ra tiếp tôi. Họ vẫn thường làm
như vậy và sau đó giao qua cho phòng điều tra để khám xét. (Lần trước tôi đã bị họ
lật cả giày, vớ và lộn cả bâu áo ra xem. Họ đã khen tôi tốt vì không tìm được gì cả).
Đại úy hiến binh mời tôi ngồi và nói chuyện rất tử tế. Ông hỏi tôi đến ngày nào, Hà
Nội ra sao cùng công việc Hội Thánh. Ở đây bao lâu rồi sau đó sẽ đi đâu v.v... Khi
đang vui với câu chuyện thì chuông điện thoại reo vang. Ông nầy ngừng nói rồi bốc
điện thoại lên nghe. Không biết có chuyện gì xảy đến mà gương mặt ông biến đổi
khác thường. Ông ta đứng lên có vẻ vội vã rồi nói với tôi: “Thôi được, mời Mục sư
về giờ khác tôi sẽ gặp lại Mục sư.” Đoạn ông gọi những người trong văn phòng và
nói bằng tiếng Nhật tôi không hiểu gì cả. Những người có nhiệm vụ khám xét chỉ
tôi vào phòng khám, ông khoác tay bảo không, để Mục sư ra về. Thế là tôi thoát
nạn một cách dễ dàng không thể nào ngờ trước được. Ngoài sân những người lính
đang vội vã chuẩn bị súng đạn, tiếng còi tập hợp ré lên. Tôi bước đi giữa họ mà
lòng cảm thấy nhẹ nhàng thơ thới ngợi khen Chúa. Về tới khách sạn tôi thấy hai cụ
Irwin và Cadman đang đứng đợi, thấy tôi hai người liền chạy đến hỏi thăm. Tôi
thuật lại đầu đuôi câu chuyện, từ khi bị bắt đến lúc được tự do ra về cho hai cụ
nghe. Không ai có thể ngờ sự kiện có thể dễ dàng như vậy, nên đồng dâng lời ngợi
khen và tạ ơn Chúa đã cứu tôi cách lạ lùng. Vài ngày sau chúng tôi biết hôm đó có
đoàn quân Nhật di chuyển từ Chợ Lớn đến Mỹ Tho, khi qua khỏi cầu Tân An bị Việt
Minh phục kích, nên họ xin viện binh Mỹ Tho đến giải vây. Về phần tôi, tin chắc
rằng Chúa đã dùng cơ hội nầy để giải cứu tôi khỏi tay người Nhật và đưa tôi về bình
an.
3. Cuộc Đổ Bộ Của Quân Đội Anh Tại Mỹ Tho
Chiều ngày 10-10-45, các ông Mục sư Kiều Công Thảo và Nguyễn Tấn Lộc từ Sa
Đéc đến thăm tôi thì tối hôm đó quân đội Anh đổ bộ chiếm Mỹ Tho. Qua mười hai
giờ đêm tiếng súng nổ vang khắp nơi và chừng một giờ sau đó, tôi nghe tiếng chân
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 115
người dồn dập trên đường. Người chủ khách sạn đến cho tôi biết quân đội Anh đã
chiếm thành phố và bây giờ họ đang lùng bắt những người khả nghi và lục soát các
khách sạn. Do đó, khách sạn nầy cũng phải mở cửa cho họ vào. Trong khi ấy thì
tiếng súng vẫn nổ dữ dội tại nhiều nơi cho đến khoảng năm giờ sáng ngày 11-10-45
mới yên dần. Tôi đứng trên lầu khách sạn nhìn xuống, thấy quân đội Anh đang di
chuyển từng toán nhỏ trong thế sẵn sàng chiến đấu. Những chiếc xe còn đậu ngoài
đường đều bị họ bắn bể các lốp nên không thể chạy được, trong số đó có xe của
hai ông Mục sư Kiều Công Thảo và Nguyễn Tấn Lộc đến thăm tôi lúc ban chiều.
Một toán lính Anh vào lục soát khách sạn, tôi mở toang các cửa. Nhưng có điều rất
lạ là họ không vào phòng tôi. Mặc cho mọi biến chuyển của tình thế, tôi bình thản
ngồi đọc Thánh Kinh và cầu nguyện xin Chúa gìn giữ và giúp đỡ tất cả con cái Chúa
trong giai đoạn nhiễu nhương nầy.
Nơi giam các Giáo sĩ tại Mỹ Tho trong thời Nhật, 1945 115
Đến tám giờ sáng, hai cụ Irwin và Cadman ra tìm tôi và đưa tôi vào trại tập
trung tù binh ở Mỹ Tho để sống với họ. Mãi đến ngày 15-1-46 tôi mới quá giang
một tàu đổ bộ của người Anh về Sài Gòn. Như vậy, tôi được hân hạnh ngồi tù với
các Giáo sĩ trong trại giam tù Đồng minh tính từ 11-10-45 đến 15-1-46 là ba tháng
sáu ngày. Trong chuyến đi từ Mỹ Tho lên Sài Gòn lần nầy, có ông bà cụ Irwin, ông
bà Cadman, cụ Jeffrey, ông Franklin, ông bà Huỳnh Minh Ý và tôi.
Khi về đến Sài Gòn, thành phố vẫn còn hoang vắng, nhà thờ không ai nhóm lại.
Có lần tôi đến thăm Mục sư Trần Xuân Hỉ tại nhà thờ Sài Gòn, chúng tôi đang ngồi
nói chuyện thì quân đội Anh đi bố ráp tràn vào nhà thờ, thấy chúng tôi họ toan
bắn. Chúng tôi la lên cho họ biết đây là nhà thờ và chúng tôi là Mục sư. Chừng ấy
họ mới chịu khám xét giấy tờ rồi rút đi. Có lần chúng tôi đi từ khoảng đường
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 116
Gallienie (Trần Hưng Đạo) đến chợ Bến Thành mà không gặp một người nào cả. 116
Một lần khác, tôi và ông Huỳnh Minh Ý đi từ nhà hội ở đường Võ Tánh đến Chợ Lớn
quang cảnh cũng thê lương như vậy, thỉnh thoảng nghe tiếng súng bắn trả lại bằng
những tràng dài.
Tôi rất nôn nả muốn trở về Hà Nội, nhưng không thể nào đi được. Khi tìm được
phương tiện ở Sài Gòn thì lại bị Hà Nội làm khó dễ, nên cứ phải chờ ngày nầy qua
ngày khác. Mãi đến ngày 22-2-46 mới có một máy bay Hồng thập tự quốc tế đi Hà
Nội, tôi xin tháp tùng và may mắn được chấp thuận như vậy tôi phải chờ ở Sài Gòn
tất cả là một tháng bảy ngày mới đi được. Máy bay đến phi trường Gia Lâm lúc bốn
giờ chiều. Tại đây tôi thấy toàn là quân đội Trung Hoa, không thấy một người Việt
nào cả. Một chiếc xe Hồng thập tự chạy đến, tài xế là người da trắng, tôi đoán là
người Anh. Ông ta đưa tôi đến cầu Long Biên rồi bỏ tôi tại đó. Sau khi nói mấy lời
cảm ơn, tôi xách hành lý đến chợ Đồng Xuân rồi gọi xe xích lô về nhà. Cửa nhà tôi
lúc bấy giờ đang khép kín. Tôi đẩy cửa bước vào, vợ con tôi chưng hửng la lên, họ
ngỡ là chiêm bao. Thật sự, họ hết sức cầu nguyện cho tôi được về với gia đình và lo
công việc Chúa, nhưng khi Chúa đưa tôi về với người bằng xương bằng thịt thì vợ
tôi, con tôi đều bỡ ngỡ khó tin. Hoàn cảnh chúng tôi chẳng khác gì câu chuyện
được chép trong Cong 12:1-19. Phi-e-rơ bị cầm tù trong khám. Hội Thánh cầu nguyện
cho người luôn, nhưng khi Phi-e-rơ về, con đòi Rô-đơ tuy hết sức mừng rỡ, nhưng
lại bỏ chạy không dám mở cửa, còn Hội Thánh tưởng nàng Rô-đơ lãng trí nên la
hoảng chớ làm gì có chuyện “lạ lùng” như vậy. Hiện tượng bất định nầy có thể do
lòng thương nhớ quá đổi gây nên chớ gì. Họ tiếp tục đưa ra nhiều giả thuyết, nhưng
sự thật thì Phi-e-rơ đã về. Chúa đã giải cứu con người bằng xương bằng thịt của
ông bằng một phương thức huyền nhiệm và đưa ông về với Hội Thánh bình an.
Tôi rời Hà Nội sáng ngày 21-9-45, mãi đến chiều ngày 22-2-46 mới trở về. Trong
khoảng thời gian hơn năm tháng ấy gia đình tôi và Hội Thánh Bắc hạt không hề
nhận được một tin tức nào cả. Họ đã nghe ông Nguyễn Đình Thuần là người đã
cùng đi với tôi từ Hà Nội đến Nha Trang rồi chia tay kể lại, ngoài ra không biết
thêm gì khác nữa. Do đó, trong suốt thời gian tôi vắng mặt, có nhiều phỏng đoán
được nêu lên. Có người cho rằng tôi đã bị Việt Minh bắt. Có người tưởng tôi bị giết
chết trên đường vào Sài Gòn, vì lúc đó tại Phan Thiết có loạn lớn. Cũng có người
đoán tôi còn sống nhưng không biết hiện ở đâu v.v... Ngần ấy giả thuyết được lặp
đi lặp lại ngày nầy qua ngày kia làm cho vợ và con tôi rất đau khổ, không biết tôi
sống chết ra sao. Trong khi ấy cũng có người khuyên vợ con tôi nên thu xếp để về
quê hương, vì ở bên cạnh cha mẹ dù sao cũng được an ủi và đỡ buồn phần nào. Vợ
tôi phân vân không biết nên liệu tính thế nào… Tuy nhiên, vì chờ mãi không thấy
tôi về, đã bán lần các món đồ dùng của tôi. Thậm chí những sách vở của tôi cũng
đã có người đặt mua nữa.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 117
Khi thình lình tôi trở về thì cả nhà đều chưng hửng tuy không nói ra nhưng mọi 117
người trong gia đình đều đinh ninh tôi chết rồi. Vợ tôi muốn ngất đi vì mừng rỡ.
Con tôi cũng vậy. Ai nấy đều xem tôi như người chết SỐNG LẠI, hiện về từ cõi hư
vô. Mà thật cũng gần đúng như vậy, so với hoàn cảnh đặc biệt lúc bấy giờ, tôi
chẳng khác nào người chết được sống lại. Nhờ đó, mà tôi đã hiểu được rất nhiều về
“nhân tình thế thái.”
Kể lại chuyến đi nầy, mục đích của tôi là để nhắc lại ơn dẫn dắt của Chúa đối
với riêng tôi, và sự bảo bọc của Ngài đối với toàn thể Hội Thánh trải qua những giờ
phút hết sức khó khăn của lịch sử đất nước. Chúa ở mọi nơi, Chúa biết tất cả, đó là
nguồn an ủi vô biên của hết thảy những ai kính mến Ngài.
TIN LÀNH ĐẾN CỐ ĐÔ HUẾ
Mặc dù khi các Giáo sĩ vừa đặt chân đến Việt Nam đã chú ý đến cố đô Huế,
nhưng Tin Lành đến cố đô nầy rất chậm. Nguyên nhân sự chậm trễ nầy một phần
do óc bảo thủ cực đoan của đồng bào địa phương, một phần do sự ngăn trở của
chính quyền. Chúng ta không lấy làm lạ, vì từ trước đến nay cố đô Huế vẫn được
xem như thành trì của những tập quán cũ, Phật giáo gần như là quốc giáo, cho nên
tất cả mọi hình thức du nhập khác đều bị quyết liệt chống đối.
Tuy nhiên, chúng tôi không ngã lòng. Càng gặp nhiều khó khăn chúng tôi càng
phấn khởi, vì tin chắc rằng bên cạnh chúng tôi còn có sự hiện diện của Chúa. Đến
tháng giêng năm 1928, trường Thánh Kinh Đà Nẵng phái tám Truyền đạo vừa tốt
nghiệp đi Huế để làm chứng và phân phát sách báo Tin Lành cùng những truyền
đơn giải luận chân lý cứu rỗi của Chúa Jêsus. Đây là lần đầu tiên có một số người
Tin Lành đông đảo nhất vào cố đô Huế để làm chứng về Chúa và cũng để trắc
nghiệm thái độ của chính quyền Pháp Việt và quan niệm của đồng bào địa phương
đối với Tin Lành ra sao.
Tám anh em chúng tôi đến cố đô Huế trên một chuyến xe lửa sáu giờ chiều và
suốt đêm ấy chúng tôi tha thiết cầu nguyện với Chúa để cho toàn bộ kế hoạch
được thực hiện tốt đẹp. Sáng hôm sau, theo chương trình đã được ấn định, chúng
tôi phân từng toán hai người với hy vọng trong vòng năm ngày có thể đi qua một
lượt từ thành ngoại đến thành nội để mọi nơi đều có dịp nghe Tin Lành và biết có
bàn chân của những kẻ rao truyền Tin Lành đến Huế.
Năm ngày trôi qua, tạ ơn Chúa cho chúng tôi thành công và bình an. Lòng mỗi
người đều rất phấn khởi. Chúng tôi đã bán hết những sách Tin Lành mang theo. Có
nhiều người chăm chỉ nghe chúng tôi làm chứng về Chúa mặc dù họ có vẻ sợ sệt
người khác nhìn thấy. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người không muốn nghe nên khi
thấy chúng tôi liền tránh đi chỗ khác hoặc xô đuổi một cách khéo, chẳng hạn như:
“Chúng tôi bận việc qua mời thầy đi chỗ khác.” Điều khiến cho Hội Thánh Đà Nẵng
và chúng tôi lo ngại nhất khi đi đã không xảy ra. Không ai có một thái độ khiếm
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 118
nhã nào đối với chúng tôi như bắt giữ hoặc kêu cảnh sát mặc dù họ có thể làm như 118
vậy mà chúng tôi không có quyền phản đối, vì tại Huế lúc bấy giờ chính quyền
không cho phép mở phòng giảng Tin Lành và hơn nữa đây là kinh đô của Triều
đình, không ai có thể khinh xuất làm khuấy động sự yên tĩnh của nhà Vua. Chúng
tôi đinh ninh chính quyền sẽ không để cho tự do, nhưng cảm ơn Chúa, Ngài đưa
chúng tôi đi và dẫn chúng tôi về không gặp một sự khó khăn nào cả.
Suốt năm ngày tại đó chúng tôi có dịp nghe tận tai những tin đồn thất thiệt từ
các nơi đưa đến nhằm loại trừ ảnh hưởng của Tin Lành, gây hoang mang trong
quần chúng để dễ bề khuynh đảo. Chẳng hạn như họ tuyên truyền rằng Tin Lành là
đạo Phản thệ, và tệ hại hơn nữa, họ dựng đứng những sự kiện không có thật cùng
cắt nghĩa sai lệch về nhà cải chánh Martin Luther. Ngoài ra, một số người còn cho
rằng Tin Lành là đạo của Mỹ, ai theo đạo sẽ được cấp hai mươi dollars (Mỹ kim). Tin
nầy đã khiến cho những người tử tế trọng danh dự khinh dễ và xa lánh Tin Lành,
gây ngăn trở không ít cho công việc rao giảng Lời Chúa. Với chủ tâm phá hủy tận
gốc mọi mầm mống của đức tin tín đồ, nên song song với những tin đồn bất lợi
trên đây họ lại cố gắng tận dụng mọi khả năng để phát huy chiến dịch tuyên truyền
rỉ tai: Tin Lành là đạo quốc cấm, rồi họ trưng bằng cớ là có ba vị Mục sư trong tỉnh
Quảng nam bị bắt giữ và bị đưa ra tòa với bản án bị sáu tháng khổ sai (sự thật này
xảy ra trong thời ông Ngô Đình Khôi làm tổng đốc Quảng Nam, óc kỳ thị cá nhân
hơn hơn là chủ trương của nhà nước). Họ còn xuyên tạc một cách trắng trợn rằng
những người theo đạo Tin Lành toàn là hạng nghèo khổ, theo Mỹ để nhờ nuôi sống
rồi để được đưa về Mỹ làm đầy tớ. Mặc dù bấy giờ đã có một số nhân vật hữu danh
sinh trưởng tại Huế trở lại với Chúa như cụ Trần Dĩnh và cụ Trần Ích, một người
theo Nho học và một người theo Tây học, đang làm Phán sự Sở Hỏa xa. Ngoài ra
cũng có một người khác là cụ Hoàng Trọng Thừa một nho sĩ nỗi tiếng bằng lòng
đầu phục Chúa và đang làm giáo sư Việt văn cho các Giáo sĩ. Về phía hoàng tộc,
cũng có mấy người theo Tin Lành như các bà Công Tôn Nữ Thị Hầu và Công Tôn
Nữ Tú Oanh là hai cháu nội của vua Minh Mạng, những người đương thời đều biết
cả. Nhưng vì hai người trên đây so với những nhân vật hoàng tộc khác thì họ không
có quyền hành, không có thế lực cũng như không giàu có nên người ta cố ý ém
nhẹm để dễ bề bôi lọ Đạo Chúa. Bao nhiêu đó cũng cho chúng ta thấy đa số người
dân cố đô lúc bấy giờ chỉ nghĩ đến người có quyền thế và giàu sang mà không quan
tâm đến những người có lòng tìm kiếm chân lý và phương pháp cứu rỗi linh hồn
đồng bào.
Mãi đến năm 1931, Huế mới được phép mở một phòng nhóm cầu nguyện. Hội
Thánh thuê một căn nhà lầu bên cầu Đông Ba sát đầu đường Gia Hội. Bên kia sông
là chợ Đông Ba. Địa điểm nầy rất tốt vì là nơi thị tứ có đông người qua lại ngày
đêm. Hội Thánh cử cụ Hoàng Trọng Thừa là Mục sư lão thành và cũng là người
Thừa Thiên đảm nhiệm chức vụ Mục sư tại Huế. Hội Truyền giáo cũng cử ông bà D.
I. Jeffrey làm Giáo sĩ tại đó. Đà Nẵng lúc bấy giờ được xem như là một trung tâm
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 119
truyền giáo lớn, nên thỉnh thoảng phái các Mục sư đầy ơn đến Huế tổ chức những 119
buổi giảng đặc biệt. Có nhiều người trở lại tin nhận Chúa, nhưng có lẽ họ tin để mà
tin hoặc để dò xét Tin Lành đó có thật đúng với những tin đồn mà tôi đã tóm lược
trên đây hay không, thế thôi. Cho nên số tín đồ tại Huế chẳng khác nào câu
chuyện về người gieo giống mà Chúa đã kể ba phần mất đi chỉ còn lại một. Nhưng
tệ hại hơn, Huế không còn lại được một phần trăm!
Năm 1933 ông bà Mục sư Ông Văn Huyên được Hội Thánh cử đến thay cụ
Hoàng Trọng Thừa làm Mục sư tại Huế. Tôi từ Hà Nội vào và lưu lại một tuần để
hợp tác giảng Tin Lành cho đồng bào. Nhân dịp nầy, chúng tôi tìm cách đến thăm
một số nhân vật trong hoàng tộc một số thương gia, quan lại và một vài nhà chí sĩ
tại cố đô Huế để làm chứng về Chúa và mở rộng phạm vi rao truyền Tin Lành.
Nhân vật hoàng tộc đầu tiên mà chúng tôi có dịp tiếp xúc là ông Ưng Khoa giữ
chức vụ Trợ Quốc Khanh trong hoàng triều. Sau đó tôi cùng ông nầy đến thăm
Quận công Hường Oai ở phủ Hòa Thạnh Quận Vương, cuối đường Gia Hội. Cụ là
cháu nội của vua Minh Mạng. Khi chúng tôi đến biếu sách và nói về Chúa cho cụ
nghe thì cụ rất lấy làm lạ. Cầm quyển sách trong tay, cụ vui vẻ nói: “tôi chưa hề
được nghe một Tin Lành cứu chuộc đơn giản như thế.” Mặc dù trong gia đình đã có
mấy người cháu gọi cụ bằng chú đã tin nhận Chúa rồi, nhưng chưa có ai dám nói về
Tin Lành cho cụ nghe cả.
Buổi sáng ngày hôm sau, cụ Huyên và tôi sắp đặt chương trình để làm chứng
đạo Chúa cho cụ Huỳnh Thúc Kháng, là một chí sĩ hiện đang điều khiển tờ báo
Tiếng Dân tại phố Hàng Bè, Huế trong dịp này cụ Giáo sĩ Stebbins cùng đi với
chúng tôi. Chúng tôi gặp ngay cụ Kháng tại văn phòng tòa soạn. Cụ rất vui tiếp
chúng tôi, nhưng khi biết qua mục đích cuộc thăm viếng nầy là chỉ để làm chứng về
Tin Lành cứu rỗi, thì thái độ của cụ bỗng đổi khác. Từ cách nói chuyện đến cách cụ
nhìn khói thuốc bay tỏa trong văn phòng không mấy rộng, khiến chúng tôi có cảm
nghỉ rằng cụ cho chúng tôi ngây thơ quá chỉ làm phí thì giờ của cụ. Nhận thấy
không thể nói thêm trong lúc nầy, chúng tôi tặng vài quyển sách rồi từ giã. Ra
đường, tôi và cụ Huyên đã nói với nhau: “Ông già thật kiêu hãnh!.” Nhưng vẻ kiêu
hãnh đó không còn nữa trong những lần gặp gỡ sau, nhất là vào khoảng năm 1946-
47, tôi thường có dịp tiếp xúc với cụ Huỳnh Thúc Kháng khi cụ làm Bộ trưởng Nội
vụ tại Bắc bộ phủ. Trong những lần như vậy, tôi thường nói chuyện với cụ về Tin
Lành và ơn cứu chuộc của Chúa Jêsus. Tôi cũng đã biếu cụ một bộ Thánh Kinh Tân
Cựu Ước, rồi ít lâu sau gặp lại, tôi hỏi cụ có xem không, thì cụ cho hay là đang xem
và rất vui khi xem Thánh Kinh. Hồi nầy thái độ kiêu hãnh của ông già trong tòa
soạn báo Tiếng Dân khi xưa không thấy nữa. Hiện diện trước mặt tôi là một nhà chí
sĩ, một cách mạng gia lão thành khiêm nhường khả kính. Tôi đã cầu nguyên thật
nhiều để Lời Chúa trở nên ánh sáng cho đường lối của cụ.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 120
Chiều hôm đó, cụ Huyên và tôi đến thăm cụ Phan Bội Châu để tặng Thánh Kinh 120
và làm chứng Tin Lành. Đồng bào ở Huế thời đó thường gọi cụ là ông già Bến Ngự,
vì sau khi bị bắt và bị kết án, người Pháp đã quản thúc cụ Phan trong một chiếc
thuyền lớn trang bị đầy đủ tiện nghi và thuyền nầy thường đậu tại Bến Ngự. Nhưng
sau đó ít lâu họ không để cụ ở dưới thuyền nữa mà dời lên một căn nhà trên đường
đi Nam Giao gọi là đường Ba Dốc (Huế). Nhà nầy cũng do người Pháp xây cất để cụ
ở, lương thực cũng do họ cung cấp và dĩ nhiên mọi hoạt động của cụ đều có người
theo dõi cẩn thận. Vì tính cách biệt cư đó, cho nên đồng bào không mấy ai dám
giao thiệp với cụ. Tôi và cụ Huyên vì vô tình nên không hay cớ sự như vậy. Vả lại
mục đích của chúng tôi là đem Tin Lành đến cho cụ Phan mà thôi. Mọi chi tiết khác
đều không đáng kể.
Khoảng ba giờ chiều chúng tôi đến căn nhà nói trên, được cụ Phan ra tiếp. Nhìn
quanh nhà không thấy ai khác ngoài cụ. Nhưng khi ngồi xuống nghế thì một người
đàn ông lực lưỡng mang súng lục từ ngoài bước vào. Cụ Phan giới thiệu: “Đây là
người bạn ngày đêm ở gần tôi theo lệnh của người Pháp, vì họ kể tôi như là một
thứ vi trùng hay lây nên sợ ai đến gần sẽ bị lây.” Trong khi ấy thì anh chàng nầy
thản nhiên tay cởi súng đặt lên bàn, miệng nói: “Tôi ở đây giúp cụ và hầu chuyện
cho cụ vui.” Chúng tôi tự giới thiệu là Mục sư Tin Lành xin đến thăm cụ và tặng cụ
quyển Thánh Kinh có lời của sự sáng và cũng có lời của sự sống. Cụ Phan đứng lên
hai tay đưa ra nhận quyển Thánh Kinh và nói: “Trong đời lưu vong của tôi, tôi chỉ
có một người có thể gọi là bạn, là một vị Mục sư Trung Hoa khi tôi ở bên Quảng
Tây, vị Mục sư ấy cũng có đọc Thánh Kinh cho tôi nghe.”
Chúng tôi giãi bày Lời Chúa là Lời Sự Sống và cũng là Lời Sự Sáng cho cụ. Thái
độ của cụ rất khiêm tốn và những câu hỏi của cụ tỏ ra cụ đang muốn tìm con
đường giải thoát. Sau khi trình bày cặn kẽ về sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự
giá và quyền năng phục sinh của Ngài cho cụ, chúng tôi từ giã cụ ra về.
Cụ tiễn chúng tôi ra ngoài sân, thấy tôi chăm chú nhìn ngôi mộ mới ở góc
vườn. Dường như cụ đã đoán được tôi đang để ý ngôi mộ mới ấy. Cụ chỉ tay vào
ngôi mộ rồi nói: Đây là cái mộ của con chó Vá của tôi chết vài tuần nay. Tôi có bài
thơ định viết trên lòng bia để nhớ nó, nhưng chưa có bia, tôi đọc để cụ nghe, rồi cụ
đọc:
“Vì có dũng nên liều chết phấn đấu.
Vì có nghĩa nên trung thành chủ.
Nói thời dễ, làm thực khó.
Người còn vậy, huống gì chó!
Ôi! Con Vá nầy đủ hai đức đó.
Há như ai kia, mặt người lòng thú
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 121
Nghĩ thế mà đau.
Dựng bia mộ nó.
PHAN BỘI CHÂU
Tôi ghi lại đây để nhớ cuộc gặp gỡ của chúng tôi với cụ Phan.
Rồi cụ tiếp: Con chó Vá của tôi nó rất trung tín mặc dù chủ nghèo! Tôi chưa có
dịp mô tả tính nết của nó trên bia. Đang khi nói, cụ nhìn người công an với cái nhìn
đầy ý nghĩa. Chúng tôi nghĩ thật là mỉa mai, một nhà chí sĩ cách mạng như cụ Phan
Bội Châu, suốt đời vào tù ra khám, đến lúc tuổi già lại phải sống biệt cư. Người ta
đày ải cụ chỉ vì lòng cụ thiết tha yêu nước. Cái bia của con chó Vá cũng là ý nghĩa
của sự tận trung. Cụ Phan đã đặt quê hương lên trên mạng sống. Chúng tôi rất kính
phục cụ và hằng ngày cầu nguyện xin Chúa giúp cụ tìm được ánh sáng của sự cứu
rỗi qua lời Thánh Kinh.
Năm 1940 phòng giảng Tin Lành được dời về căn nhà lầu trước vườn hoa chợ
Đông Ba. Thật là một địa điểm lý tưởng cho việc rao truyền Tin Lành. Nhưng kết
quả tại Huế rất khiêm nhượng. Số người tin rất đông nhưng số người đứng vững,
trung tín nhóm lại thì rất ít.
Năm 1950 Hội Thánh mua được một ngôi nhà đẹp đẽ và khang trang, ở số 14
đường Ngự Viên Huế cùng với một sở đất khá rộng. Bắt đầu từ đó, Hội Thánh Huế
như nhận được những luồng sinh khí mới, anh em phấn đấu tinh thần và số tín đồ
nhóm lại mỗi Chúa nhật ngày càng đông hơn. Đến năm 1964, Hội Thánh khởi xây
cất một nhà thờ mới trên cơ sở nầy. Đường Ngự Viên nay được đổi tên là đường
Nguyễn Du, tuy nhiên số 14 vẫn giữ như cũ. Đây chính là nhà thờ Hội Thánh ngày
nay.
121
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 122
Nhà thờ Huế, 1963 122
C. NHỮNG BIẾN CỐ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN HỘI THÁNH
1. Tà Thuyết Chúa Tái Lâm.
Trong khi công việc Chúa ở khắp mọi nơi đang trên đà tiến triển tốt đẹp thì một
số biến cố nhỏ nhưng rất đặc biệt bỗng xảy ra trong Hội Thánh, đó là tà thuyết
định ngày và giờ Chúa tái lâm. Có thể bảo đây là một đổ vỡ đáng buồn trong lịch
sử Giáo hội, vì ảnh hưởng của nó đã làm giao động tinh thần một số khá đông tín
hữu vốn nhẹ dạ, dễ tin và đồng thời cũng gây một tiếng vang không tốt đối với Tin
Lành giữa vòng dân chúng lúc bấy giờ.
Trong phần ghi lại cuộc hành trình năm tháng từ Hà Nội vào Nam ngang qua
Nha Trang, tôi có dịp đề cập đến biến cố nầy một cách sơ lược với những hậu quả
chua xót, tuyệt vọng xảy ra trong Hội Thánh. Nay xin được trở lại một lần nữa với
những chi tiết đầy đủ hơn để quý độc giả có thể nhận thức tường tận về thực chất
của lý thuyết nầy ngay từ khởi điểm đến giai đoạn kết thúc.
Có thể bảo đây là một lầm lẫn hết sức tai hại, bắt nguồn từ những luận lý thuần
túy hoàn toàn chủ quan, đi ra ngoài sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Thật ra, sự kiện về
Chúa tái lâm là một điều chắc chắn, một chân lý cố hữu không ai có thể chối cãi,
nhưng trình bày về thuyết tái lâm như một bài toán khẳng định dựa vào những dẫn
chứng phi thực thì không thể chấp nhận được, nếu không bảo là vô cùng nguy
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 123
hiểm chẳng khác nào một thứ độc dược cực mạnh có năng lực phá hủy tất cả mọi 123
mầm mống, mọi sinh lực của đức tin.
Người chủ trương tà thuyết này là ông Trần Như Tuân, một truyền đạo trẻ tuổi
có học thức rộng. Ông đã từng chứng tỏ khả năng suy luận bén nhạy của mình
trong các buổi giảng và trong những lúc giải bày giáo lý cho những người chưa tin.
Thường nhật ông rất sốt sắng lo công việc Chúa, cũng như rất ham thích nghiên
cứu Thánh Kinh qua những sách giải nghĩa, nhất là sách viết bằng tiếng Anh. Ông
có dịp làm quen với các nhà thần học tân phái và lần lần trở nên say mê họ vì
những biên khảo về Cơ Đốc giáo lý rất hấp dẫn của họ mà ông cho là chính xác
nhất, thực tế nhất khác hẳn với những luận giải rườm rà, đầy dẫy những “sự kiện
không thể hiểu được” của những nhà thần học cổ điển, chuyên dùng Thánh Kinh
để giải nghĩa Thánh Kinh và dùng Thánh Kinh để làm nền tảng cho đức tin. Ông
Tuân không muốn bị gò bó trong một khuôn khổ “cố định” như vậy, nên sau khi đã
nghiền ngẫm những tư tưởng tân kỳ của những nhà thần học tân phái tây phương,
ông liền xoay qua nghiên cứu Sấm Trạng Trình, vì ông cho rằng Sấm Trạng Trình, có
những tương quan lạ lùng đối với những lối tiên tri trong Thánh Kinh.
Thế là sau khi phân tích từng tiếng từng chữ những lời sấm hiểm hóc của
Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông không ngần ngại bước sang giai đoạn tổng hợp, bằng
cách áp dụng những phương thức suy luận của các nhà thần học tân phái và những
ẩn ngữ trong Sấm Trạng Trình để khảo cứu Thánh Kinh. Đó là một việc làm cực kỳ
nguy hiểm, nhưng ông Tuân bất chấp mọi cản ngăn, ông cương quyết bảo vệ lập
trường của mình vì ông tin rằng với phương pháp biên khảo vừa kể, ông có thể
thấu triệt được tất cả những lẽ mầu nhiệm của Thánh Kinh. Ông chắc chắn mình có
thể tuyên bố đúng ngày và giờ mà Chúa Jêsus sẽ tái lâm.
Để bắt đầu cho giai đoạn lập thuyết, ông viết một tập sách nhỏ, trong đó trình
bày tóm lược những khám phá của ông dựa theo Sấm Trạng Trình và một số lời
tiên tri trích trong Cựu Ước. Sau khi đã dẫn chứng những mấu chốt lịch sử trải qua
các thời đại ông liền công bố: “CÓ LẼ NGÀY 7-9-1944 CHÚA TÁI LÂM.”
Lúc bấy giờ có rất nhiều tín đồ giữ vững được đức tin đến khuyên ông Tuân
đừng giảng Thánh Kinh theo cách ấy, cũng đừng lấy Sấm Trạng Trình mà đoán định
ngày Chúa tái lâm. Chẳng những ông không nghe lời khuyên, mà sau ngày 7-9-1944
Chúa chưa tái lâm, ông lại tuyên bố tiếp: “CHẮC NGÀY 30-9-1944 CHÚA TÁI LÂM.”
Nhưng rồi đến ngày 30-9-1944 Chúa vẫn chưa tái lâm. Qua hai lần thất bại đáng lẽ
ông thức tỉnh, ăn năn trở lại nẻo chánh, nhưng ông vẫn tiếp tục giữ vững lập trường
và tuyên bố đại khái như thế nầy: “CHÚA TÁI LÂM RỒI NHƯNG CÒN Ở TRÊN
KHÔNG TRUNG, CHƯA RƯỚC HỘI THÁNH LÊN.”
a. Những Vùng Bị Ảnh Hưởng Trực Tiếp.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 124
Phần đông tín đồ trong toàn quốc không quan tâm đến tà thuyết nguy hại nầy. 124
Chỉ có những Hội Thánh gần nơi ông Tuân ở, bị ảnh hưởng bởi những bài ông quây
ronéo cùng với những bản đồ các THỜI ĐẠI mà ông đã gởi cho, nên một số người
nhẹ dạ tin theo, một số người hưởng ứng nghiên cứu, gây nên những cuộc tranh
luận cãi vã hết sức sôi nổi. Có vài vị mục sư ngã theo tà thuyết nầy. Nhưng tai hại
hơn cả có một vị Chủ nhiệm một Địa hạt bị mê hoặc, xem ông Tuân như là thần
thánh và những lý thuyết do ông nầy đặt ra chẳng khác nào chân lý của sự cứu rỗi,
nên đã gởi cho tôi một điện tín nội dung như sau:
“Xin ông tuyên bố ngày 30-9-1944 Chúa tái lâm, nếu không làm, huyết vô tội đổ
trên đầu ông.”
Tôi liền trả lời: “Tôi không tin ngày 30-9-1944 Chúa tái lâm. (Cong 1:7). Cầu Chúa
cứu ông và anh em khỏi tà thuyết.”
Đáng lẽ sau ngày 30-9-1944 Chúa chưa tái lâm, những người lầm lạc có dịp
thức tỉnh, ăn năn hối lỗi quay về với Chúa để suy ngẫm những lời mà Ngài đã phán
với các môn đồ ngày xưa: “kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đã kỳ hạn định lấy, ấy là việc các
ngươi chẳng nên biết” (Cong 1:7). Nhưng như trên đã nói, ông Tuân không cho đó là
một sự cảnh cáo của Chúa đối với mình, nên lập trường của ông càng ngày càng
cứng rắn hơn. Mục sư truyền đạo trong các vùng phụ cận có người bảo trái, kẻ bảo
phải, gây nên những cuộc cãi vã liên tiếp từ ngày nầy qua ngày kia. Công việc Chúa
do đó bị đình trệ, và tín đồ bị hoang mang không ít.
Theo tin tức nhận được, chúng tôi biết chắc Hội Thánh tại Vinh đang ráo riết
học tập tà thuyết nầy, vì lúc bấy giờ ông Trần Như Tuân là đương kim chủ tọa tại
đây. Nhận thấy không thể để cho mầm mống nguy hại lan tràn xa hơn, có thể đầu
độc tinh thần tín hữu, nên tôi tức tốc từ Hà Nội vào và cụ Mục sư Lê Văn Long - đại
diện cho Trung hạt - từ Đà Nẵng ra Vinh cùng một ngày. Mục đích của chúng tôi -
với tư cách nhân viên Tổng Liên Hội - là muốn gặp ông Tuân cầu nguyện, khuyên
lơn và giải thích những sai lầm của ông. Mặc dù có gởi điện tín báo tin là chúng tôi
sẽ đến bằng xe lửa. Nhưng khi tàu đến ga chúng tôi vẫn không thấy một ai đến đón
cả. Chúng tôi liền tìm xe để đến tư thất Hội Thánh Vinh, tại đây có người cho chúng
tôi biết ông bà truyền đạo đang tổ chức nhóm họp tại một địa điểm mới. Chúng tôi
đi ngay đến đó thì thấy có độ 20 người nhóm lại. Ông truyền đạo lấy cớ đang phải
bận giúp đỡ tín hữu học tập các THỜI ĐẠI trong Thánh Kinh nên từ chối, không
chịu tiếp rước chúng tôi. Nhưng chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi để gặp ông. Với tất cả
tình và lý, chúng tôi tha thiết khuyên ông hãy trở lại với sự dạy dỗ chân chính của
Thánh Kinh. Ông không muốn nghe, nhưng chúng tôi vẫn đọc thư ITe 5:1-11 IITe 2:1-
17 Cong 1:7 và Mac 13:32 để đoan chắc Chúa tái lâm. Đó là một lẽ mầu nhiệm vượt
quá sự hiểu biết của con người.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 125
Nhưng trước sau ông Tuân vẫn nhất quyết không nghe chúng tôi. Và hơn thế 125
nữa, ông còn cho biết là ông sẽ tuyên bố một ngày khác và lần này ông tin quyết
điều mình suy tính chắc chắn sẽ đúng. Đêm đó ông Tuân lấy cớ bận việc không
tiếp chúng tôi và cũng không tỏ ý không muốn một gia đình tín đồ nào ở Vinh tiếp
đón chúng tôi cả, do đó, chúng tôi buộc lòng phải trở về thành phố Vinh để tìm
phòng trọ mặc dù lúc ấy đã hơn 10 giờ đêm. Về đến nơi thì đã gần 11 giờ. Chúng
tôi cố gắng đi tìm một nơi trú ngụ qua đêm, nhưng phần nhiều nhà trọ trong thành
phố đã hết phòng, còn một vài nơi có phòng nhưng chúng tôi thấy không tiện ở.
Không biết tính sao, nhưng từ chiều tới giờ chưa ăn gì nên Mục sư Long và tôi vào
quán để ăn tối. Trước khi dùng bữa, chúng tôi cầu nguyện tạ ơn Chúa về những
thức ăn trước mặt và xin Ngài chỉ dẫn một chỗ trọ qua đêm. Khi đang ăn, chúng tôi
bỗng thấy Vũ Đăng Chinh từ ngoài cửa bước vào. Gặp chúng tôi ông chào mừng rối
rít, hỏi thăm đến hồi nào và nghỉ ở đâu .v.v... (Ông Chinh lúc trước có đi hầu Chúa
và hiện đang làm việc thu phát thư trên xe lửa). Tôi cho biết ông Mục sư Long từ Đà
Nẵng ra và tôi từ Hà Nội vào để gặp ông Tuân về vụ “tái lâm” ăn xong chưa biết
phải nghỉ ở đâu. Ông Chinh liền vui vẻ mời chúng tôi lên xe lửa nghỉ với ông. Đây là
lần đầu tiên trong chức vụ, chúng tôi được hân hạnh trải chiếu nằm ngủ trên sàn xe
lửa.
Sáng hôm sau, ông Mục sư Lê Văn Long về Đà Nẵng và tôi trở ra Hà Nội. Tâm
thần chúng tôi rất nặng nề, nên trước khi chia tay đã nói với nhau: “Phải cầu
nguyện thật nhiều cho ông Tuân và anh em để họ khỏi vấp ngã vì quá tự tin vào
kiến thức của mình.”
Ít lâu sau, ông Tuân phổ biến một lời tuyên bố thứ ba lần nầy ông xác định
chắc chắn ngày giờ, năm tháng Chúa sẽ đến. Nội dung lời tuyên bố ấy như thế nầy:
“CHẮC CHẮN 1 GIỜ NGÀY 1 THÁNG 10-1945 CHÚA TÁI LÂM.” Sự xáo trộn đức tin
sau một thời gian lắng dịu bỗng khuấy động trở lại, khiến cho những người có lòng
lo cho công việc Chúa và Hội Thánh không khỏi buồn. Chúng tôi chỉ biết cầu
nguyện nài xin Chúa giúp đỡ để Hội Thánh tránh khỏi tình trạng sa lầy nguy hiểm,
có thể làm sụp đổ lâu đài đức tin vốn được vun quén từ nhiều năm qua.
Ảnh hưởng của tà thuyết trên đây đã gây đổ vỡ nhiều nhất tại các Hội Thánh
Tam Kỳ, Huế và Nha Trang. Hầu hết tín đồ tại các nơi nầy đều say mê đến độ mù
quáng. Có nhiều người đã tính từng ngày từng giờ để rồi sau đó đi báo cáo cho bà
con, xóm làng là còn mấy ngày nữa Chúa đến, chắc chắn như thế không thể nào
lầm lẫn được. Ngay chiều ngày 30-9 khoảng 7 giờ tối mà cũng còn có người đến gõ
cửa nhà bạn hữu cam đoan là còn 5 tiếng đồng hồ nữa Chúa tái lâm. Người người
đều nôn nả chuẩn bị ráo riết. Nhà cửa họ được niêm lại cẩn thận, trước cửa dán
sẵn những tấm giấy đại khái như: “Đất và nhà nầy tôi dâng vào cơ quan Cứu tế xã
hội Tỉnh,” hoặc “Nhà nầy tôi tặng cho…” v.v…
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 126
Có người lại dắt cả gia đình đi chào từ giã bà con quen biết, khóc lóc khuyên 126
họ mau mau tin nhận Chúa kẻo chết mất. Trong số người quá sốt sắng nầy có bà
cụ L.T.C, bao nhiêu của cải gom góp đều đem phân phát cho người ta hết, còn đôi
vòng và bông tai thì đem cho con dâu để kỷ niệm. Bà chỉ mặc vỏn vẹn một bộ đồ
mà bà cho là đẹp nhất để đến nhà thờ chờ đợi Chúa tiếp ruớc.
Đêm 30-9 rạng ngày 1-10-1945 tất cả những người tin theo thuyết nầy đều có
mặt đầy đủ tại nhà thờ hoặc tại một địa điểm nào đó để cầu nguyện, đọc Thánh
Kinh và hát Thánh ca trong tư thế sẵn sàng đi với Chúa…
b. Hậu Quả
Nhưng rồi sự phải đến đã đến thời gian ấn định cho một biến động vĩ đại nhất
lịch sử trên đây, lại trôi qua một cách bình thường như muôn ngàn đêm khác. Bao
nhiêu người hồi hộp trông chờ, nhưng từ đầu hôm cho đến sáng không có một
hiện tượng nhỏ nhặt nào xảy ra chứng tỏ Chúa tái lâm. Hy vọng trong khoảnh khắc
đã trở thành thất vọng. Lần trắc nghiệm sau cùng này đã đem lại cho họ nhiều đỗ
vỡ đau thương. Khoảng bốn giờ sáng ngày ấy, không thấy gì nên nhiều người đã
chạy vội về nhà gỡ tấm giấy dán trước cửa và phần đông đều ra về lúc trời chưa
sáng. Khi đã thực sự bừng tĩnh. Nhận thấy lý thuyết của ông Tuân chỉ là một tà
thuyết nguy hại thì sự việc đã lỡ cả rồi. Sự hổ thẹn đã khiến cho một số người
không dám xuất hiện. Vùng Tam Kỳ có nhiều việc buồn xảy ra và một số mục sư
truyền đạo vì hậu quả của tà thuyết này đã phải gián đoạn chức vụ một thời gian.
Riêng ông Trần Như Tuân bắt đầu sa ngã hẳn từ đó và cho đến khi sắp từ giã cõi
đời, ông vẫn giữ lập trường của mình và cho rằng Thánh Kinh có nhiều dữ kiện
không thật…
Ngày 1-10-1945 tôi có mặt tại Nha Trang và đã phải chứng kiến những cảnh
trạng đau lòng của Hội Thánh. Trước đó tôi đã cố gắng cản ngăn bằng mọi cách
trưng dẫn hầu hết những câu Thánh Kinh liên quan đến sự kiện Chúa tái lâm nhưng
không ai nghe, tiếng nói của tôi như chìm vào sa mạc… Đến 5 giờ sáng thì sự thất
vọng và chán nản đã hiện rõ trên mặt mọi người. Tôi nghe được tiếng thở dài của vị
Mục sư và đã tha thiết cầu nguyện cho ông cùng tất cả anh em trong Hội Thánh.
Cầu xin Chúa gúp đỡ họ thức tỉnh và giữ vững được đức tin sau biến cố nầy.
Trưa ngày 2-10-1945 có nhiều người đã đến với tôi, trong số đó có bà cụ
L.Th.Ch trên đây. Nhà cửa của bà cụ đã có người khác ở nên khi bà trở về họ không
cho vào, đôi vòng và bông tai của bà, người con dâu cũng không trả lại, do đó bà
cụ phải bơ vơ một thời gian. Không riêng gì bà cụ Ch, mà có nhiều người khác cũng
đồng một hoàn cảnh như vậy. Tôi đã phải hết sức an ủi khuyên lơn và dùng Lời
Chúa để giục lòng họ trong đức tin.
Tôi chép lại bài của Tiến sĩ G. Campbell Morgan đề tài:
Sứ điệp hiện tại cho Hội Thánh là gì? Để chúng ta cùng suy ngẫm
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 127
Sứ điệp hiện tại cho Hội Thánh là gì? “Này, Ngài đến” (ITe 4:1). Chúng ta cần hiểu 127
biết cái thật sự rằng thái độ chính xác của Hội Thánh đã được Phao-lô tuyên bố khi
ông viết thư tín thứ nhất cho tín đồ Thê-sa-lô-ni-ca, và nói rằng họ là kẻ đã xây bỏ
thần tượng để hầu việc Đức Chúa Trời và chờ đợi con Ngài. (ITe 1:9-10). Đó là ba
thật sự và thái độ của Hội Thánh và thái độ của mọi người thật lòng tin Chúa Jêsus.
“Trở lại cùng Đức Chúa Trời, bỏ hình tượng đặng thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chân
thật đặng chờ đợi Con Ngài từ trên trời” (ITe 1:9-10a). Con Đức Chúa Trời hiện đến lần
thứ hai, đó là biến cố sắp xảy ra trong lịch sử thế giới. Anh em tưởng Ngài gần tái
lâm chăng? Trong ngữ vựng của tôi, chẳng có danh từ nào luận về các phương thức
Đức Chúa Trời là gần hay xa, chính lúc đem quyển niên giám hoặc quyển lịch vào
vấn đề nầy thì anh em làm hại tinh thần và ý định của nó. Thí dụ, anh em có thể
chứng minh tuyệt đối chắc chắn với tôi rằng Chúa Jêsus tái lâm một năm sau đây,
theo lịch của loài người, thì tôi sẽ nài xin anh em đừng bảo tôi như vậy, vì tôi chẳng
muốn sự tái lâm của Chúa mình bị dời lại 12 tháng. Tôi mong chờ Ngài ngay bây giờ
vì Ngài truyền bảo tôi như vây. Ôi! Sự sáng chói lọi trên trời khi có một người thấy
điểm này! Anh chị em hỏi “Ông có thất vọng vì Ngài chẳng ngự đến, không?”
Không, tôi sung sướng là khác. Tại sao vậy? Vì Ngài chưa ngự đến và Ngài biết
chính xác hơn hết. Tôi sung sướng nếu Ngài ngự đến, và cũng sung sướng nếu Ngài
trì hoãn. Đó là thái độ xứng đáng đối với sự tái lâm của Chúa. Hỡi anh em, là người
lo lắng về Chúa tái lâm đến nỗi luôn luôn nghĩ tới, viết về và nói đến biến cố ấy
nhưng chẳng làm chi hết để cứu người đời, hãy nghe sứ điệp của các thiên sứ
truyền cho mình: “Hỡi người Ga li lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi?
Ngài sắp tái lâm. Hãy đi làm công việc Ngài để lại cho mình làm.” Phương pháp
chánh đáng để chờ Chúa tái lâm là trong “khoảng ngắn ngủi mong đợi,” hãy lo rao
giảng Tin Lành, để dắt đem người ta đến cùng Đấng Christ. Tôi chẳng ngần ngại nói
rằng sứ điệp cuối cùng của chế độ Cựu Ước là: “Này, Ngài đến” và “mặt trời” thể
nào tôi cũng thể ấy, sứ điệp cuối cùng của chế độ Tân Ước là: “Này, Ta đến mau
chóng và đem phần thưởng theo với Ta” (Kh 22:11). Tôi xin hiến một cách thử nghiệm rất
sâu sắc để tìm ra mối liên quan của anh em với Đấng Christ. Chúa Jêsus phán với
anh em, là con cái yêu dấu của Ngài rằng: “Này, Ta đến mau chóng.” Anh em trả lời
thế nào? Nếu nói: “Phải lạy Chúa, tôi muốn Ngài ngự đến, nhưng xin đừng đến
ngay. Tôi muốn giảng thêm mấy lần nữa, hoặc làm việc này việc kia trước đã,” thì
anh em chưa gần Ngài như đáng phải gần. Nếu chẳng ước muốn đợi chờ và hy
vọng Ngài ngự đến và khuấy động mình lúc làm việc hoặc lúc chơi, thì chúng ta
chưa có thái độ chính đáng. Dầu hết thảy chương trình chúng ta bị bị tan vỡ và kế
hoạch bị hư hỏng, nhưng nguyện chương trình Ngài tiến hành và kế hoạch Ngài
được thực thi! Ôi! Ánh sáng chói lọi chiếu trên đường lối nếu chúng ta hiểu rằng
Ngài sắp tái lâm!
G. Campbell Morgan
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 128
2. Hội Thánh Sau Ngay Hiệp Định Genève Ký Kết 128
Trong khi toàn thể con cái Chúa từ thành thị đến thôn quê đang phấn khởi
trước những thành quả rất tốt đẹp của Hội Thánh về phương diện xã hội cũng như
giáo dục, thì ngày 20-7-1954 Hiệp Định Genève được ký kết giữa Pháp và Việt Minh
khiến mọi người bàng hoàng ngơ ngác. Thiết tưởng không có gì làm cho người dân
Việt lúc bấy giờ đau lòng hơn là phải chứng kiến thảm trạng đất nước bị chia đôi.
Lịch sử Quốc gia cũng như lịch sử Giáo hội đã đi vào một ngõ rẽ quan trọng.
Trong cuộc di cư vĩ đại năm 1954 gần một triệu người đã quyết định lìa bỏ nơi chôn
nhau cắt rốn tại Miền Bắc để vào Nam. Hội Thánh của Đức Chúa Trời cũng bị xáo
trộn rất nhiều vì những biến chuyển của thời cuộc. Cảm thông được điều ấy nên
trước ngày di cư, Tổng Liên Hội đã phổ biến một bảng thông báo khẩn cấp đại thể
như sau:
1. Xin quý vị Mục sư, Truyền đạo và tín hữu hãy để nhiều thì giờ tĩnh tâm cầu
nguyện đặc biệt cho dân tộc, cho đất nước và cho Hội Thánh sắp bước vào những
ngày phân chia đau buồn.
2. Mỗi vị Mục sư, Truyền đạo cũng như mỗi tín hữu, hãy thiết tha cầu nguyện
xin Chúa cho biết rõ ý muốn mình di cư hoặc ở lại. Khi đã nhận biết rõ ràng ý muốn
của Chúa và quyết định dứt khoát cho tương lai của mình xong (di cư hoặc ở lại),
xin cho Tổng Liên Hội biết ngay. Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện cho quý vị và sẽ
hết sức giúp đỡ quý vị theo những phương tiện mà Tổng Liên Hội có.
Sau thông báo ấy, chúng tôi nhận được bảng danh sách 17 gia đình Mục sư,
Truyền đạo tình nguyện ở lại miền Bắc. Chúa đã dùng các đầy tớ của Ngài ở lại đó
để duy trì công việc, nhờ đó Tin Lành vẫn được rao truyền ở Miền Bắc ngay trong
lúc tình hình đất nước căng thẳng nhất.
Có thể bảo năm 1954 và những năm kế tiếp là thời kỳ có nhiều chuyển biến hết
sức quan trọng trong lịch sử. Hội Thánh bị thử thách rất nặng nề, nhưng tạ ơn Đức
Chúa Trời vì trên hết mọi điều đó, cánh tay của Chúa vẫn hằng giơ ra để cứu giúp
toàn thể tôi tớ, con cái Ngài trong những giờ phút nghiêm trọng nhứt, chẳng khác
nào CHÚA, Đức Chúa Trời đã dẫn đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập thời xưa.
Họ bước đi trong sự dìu dắt của Chúa, cả đoạn đường chỉ toàn phép lạ. Sự
thành tín của Ngài được thể hiện từng giờ từng phút, do dó dù phải gặp nhiều khó
khăn, phải đối đầu với biết bao mưu kế của ma quỷ, thì chung quy Hội Thánh vẫn
đắc thắng.
a) Một vụ án không thành án.
Câu chuyện “ Cười ra nước mắt “ sau đây có thể xem như là điển hình của một
trong muôn ngàn âm mưu nhằm làm lũng đoạn tinh thần đoàn kết gắn bó giữa Mục
sư, Truyền đạo cùng toàn thể con cái Chúa trong Hội Thánh. Mục đích của hành
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 129
động đó là để phá hoại công việc Chúa ngay trong những giờ phút nghiêm trọng 129
nhứt của đất nước. Đối với lịch sử Gíáo Hội, đây là một hành động vô trách nhiệm
không thể tha thứ được của những tâm hồn vị kỷ, và đối với riêng tôi là một kỷ
niệm buồn trong đời sống chức vụ.
Câu chuyện được khởi đầu bằng những sự kiện sau đây: vào khoảng tháng 3
năm 1955, chúng tôi nhận được tin Tiến sĩ Mục sư Van Beyna ở Genève có gởi giúp
cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một số tiền là 160.000$00, số tiền này thoạt tiên
được gởi cho Mục sư Bertrand de LUZE thuộc Hội Thánh Tin Lành Pháp tại Sài
Gòn, nhờ chuyển cho ông D. I. Jeffrey Hội Trưởng Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên
Hiệp để giao cho Ông Tư Hóa Tổng Liên Hội, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam lúc bấy
giờ là Mục sư Duy Cách Lâm. Lịch trình chuyển tiếp số tiền ấy đã được thực hiện
đúng như đã hoạch định và không có gì đáng tiếc xảy ra. Đến tháng 9 năm 1955,
Hội Đồng Tổng Liên Hội nhóm lại tại Gia Định và Ban Trị sự đã phân phối số tiền ấy
đồng đều cho toàn thể các Chi Hội tại Miền Nam Việt Nam thể theo ý muốn của
Hội Thánh Genève (Thụy Sĩ).
Vấn đề vỏn vẹn chỉ có thế, nên khi phân phối xong chúng tôi vui mừng như vừa
làm xong một sứ mệnh. Nhưng không ngờ lúc ấy có một tín đồ tu nghiệp ở Pháp có
dịp qua Genève, và khi về thuật lại thế nào chúng tôi không rõ khiến có đôi người
tín đồ đến hỏi thẳng chúng tôi: “Nghe nói Hội Thánh Genève có gởi một số tiền để
giúp tín đồ Bắc Việt di cư, sao không thấy Tổng Liên Hội phân phát?”
Chúng tôi rất đổi ngạc nhiên không hiểu tại sao có chuyện như vậy. Hồ sơ phân
phối còn đó, chúng tôi có làm gì gian dối đâu. Nhưng một số tín đồ không tin, họ
cứ nằng nặc cho rằng Hội Thánh Genève có gởi một số tiền giúp đỡ anh em người
Bắc di cư. Do đó, một số anh em mới từ Bắc vào muốn được chia tiền nên đến hỏi
Ban Trị sự Tổng Liên Hội. Chúng tôi liền trả lời chung cho tất cả là Hội Thánh
Genève có gởi 160.000$00 để giúp cho toàn thể Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, chứ
không phải giúp riêng cho tín đồ Bắc di cư. Số tiền ấy Ban Trị sự Tổng Liên Hội đã
phân phối đúng theo ý muốn của người gởi tiền là Tiến sĩ Van Beyna rồi.
Nhưng những anh em này không bằng lòng và bảo Tổng Liên Hội đã làm sai.
Chúng tôi cố gắng trình bày và chứng minh đủ mọi cách, nhưng làm thế nào thì
làm, anh em vẫn không chịu hiểu. Sự bất bình càng lúc càng dâng cao. Cuối cùng
họ phát đơn kiện với chính quyền đòi chia số tiền đó. Thậm chí có những người
quá nóng nảy, thiếu bình tĩnh đã nói những lời mất cả tình yêu thương trong Chúa.
Trong số ấy có thể kể ông Nh… đã hành động một cách mù quáng, xách dao đến
nhà thờ Nguyễn Tri Phương đòi giết Hội Trưởng trong khi ông đang giảng khai mạc
Hội Đồng Địa hạt vào hạ tuần tháng 2 năm 1956 tại đó.
Nhưng rồi hậu quả của toan tính ấy một lần nữa chứng thực quyền năng siêu
việt của Chúa để bảo vệ Hội Thánh Ngài. Khi ông ấy cầm dao đến nhà thờ thì Hội
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 130
Trưởng đang giảng trên tòa giảng. Ông ta đứng ngoài cửa nghe một hồi lâu rồi 130
không hiểu sao lại quay trở về nhà lên giường nằm ngủ. Hôm ấy Chúa cho phép
ông ngủ luôn. Bà vợ đi chợ về, lo nấu cơm mời ông dậy dùng thì thấy ông đã chết
rồi. Chắc Chúa thương ông nên tiếp về trong nước của Ngài để ông khỏi lầm lạc.
Nhưng đó là một điều quá bất ngờ cho bà. Khi được tin cấp báo, anh em trong
Hội Thánh chẳng những không ghét bỏ mà còn tận tình lo mai táng ông trong tình
yêu thương của Chúa. Sau vụ nầy, một số người vì lời xuyên tạc trên đây đã hiểu sai
việc làm của Tổng Liên Hội, trở nên thức tỉnh và đặt lòng tin cậy Hội Thánh có sự
hiện diên của Đức Chúa Trời Ba Ngôi.
Tuy nhiên đơn kiện của anh em nơi chánh quyền vẫn chưa xong, và người bị
kiện là Hội Trưởng Tổng Liên Hội phải ra tòa. Đứng trước vấn đề nầy chúng tôi
không biết phải làm cách nào khác hơn là cầu nguyện xin Chúa làm sáng tỏ mọi
việc để cho những đám mây mù tan đi. Đồng thời cũng cầu xin Chúa cho nhân viên
công quyền có dịp biết nhiều hơn về Hội Thánh Ngài và cho những người lầm lạc
được trở lại con đường sáng.
Trong câu chuyện này ma quỷ thật rất mưu mô và khôn khéo, dùng trăm
phương nghìn cách để phá hoại công việc nhà Đức Chúa Trời. Trước ngày 1-8-1956
là ngày Hội Đồng Tổng Liên Hội tại Đà Nẵng khai mạc một số người lợi dụng những
tín đồ xác thịt đòi chia số tiền của Hội Thánh Genève trên đây, thuê năm tờ báo
hằng ngày đăng tin ông Hội Trưởng Tổng Liên Hội biển thủ 160.000$00 (có tờ còn
đăng 1.600.000$00) của tín đồ di cư. Tung ra nguồn tin thất thiệt nầy, mục đích của
họ là làm rối Hội Đồng Tổng Liên Hội và phá hủy tận cùng mọi mầm mống đức tin
của một số người.
Chúng tôi rất đau lòng trước hành động thiếu suy nghĩ của anh em. Sự ganh tị
và ghen ghét đã làm cho họ trở nên mù quáng. Ca-in ngày xưa chỉ vì ghen tức với
A-bên mà đã đi đến chỗ giết người. (Sa 4:1-16). Ma quỷ muốn dùng lời nói sai của
một người để tạo nên nhiều ý nghĩ bất chánh nhằm làm hại chức vụ của những đầy
tớ Chúa và công việc Hội Thánh.
Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng hằng sống. Ngài biết tất cả mọi sự và do đó, Ngài
có thể dùng sự ganh ghét của mọi người để làm vinh hiển danh Ngài giữa Hội
Thánh và cũng để làm sáng tỏ công việc mà các tôi tớ Ngài đã làm đối với các Hội
Thánh bạn và chánh quyền.
Sự kiện trên đây giúp chúng ta có được một bài học kinh nghiệm rất quý báu:
“NGHE KHÔNG RÕ, THUẬT LẠI KHÔNG ĐÚNG, SUY NGHĨ KHÔNG CHÍNH CHẮN
mà đã hành động thì chẳng những làm hại cho mình mà còn tổn thương đến Hội
Thánh của Chúa nữa.”
b)Thông cáo của Tổng Liên Hội và các cơ quan liên hệ
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 131
Để có đủ tài liệu tham khảo về vụ án không thành án nầy, tôi xin mạng phép 131
chép lại nguyên văn bản thông cáo của Tổng Liên Hội (gồm ba thông cáo của
những cơ quan có liên hệ đến vụ nầy).
THÔNG CÁO VỀ VỤ VU KHỐNG ÔNG HỘI TRƯỞNG MỤC SƯ LÊ VĂN THÁI BIỂN
THỦ SỐ BẠC MỘT TRĂM SÁU CHỤC NGÀN ĐỒNG DO MỘT SỐ NGƯỜI VU KHỐNG
MÀ CÁC BÁO ĐÃ ĐĂNG.
Chúng tôi xin nhắc lại và thanh minh cho toàn thể con cái Chúa được rõ:
Số bạc 160.000$00 ấy do Hội Thánh Tin Lành Quốc Tế Genève ở Thụy Sĩ gởi
đến cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam qua tay ông Mục sư Hội Thánh người Pháp ở
Sài Gòn là ông BERTRAND DE LUZE chuyển lại ông Hội Trưởng Giáo sĩ D. I.
JEFFREY trao qua cho ông Tư hóa Tổng Liên Hội Mục sư DUY CÁCH LÂM để sử
dụng theo ý muốn của Hội Thánh Genève gởi đến Ban Trị sự Tổng Liên Hội và theo
quyết nghị của Hội Đồng Tổng Liên Hội họp tại Gia Định vào hạ tuần tháng 9-1955.
Tuyệt nhiên ông Hội Trưởng Mục sư LÊ VĂN THÁI không nhận một xu nào trong số
bạc nói trên, vụ nầy ông Tư hóa Tổng Liên Hội là Mục sư DUY CÁCH LÂM đã gởi
bài đính chính trên các báo. Lời đính chính ấy như sau:
“Tôi, Mục sư DUY CÁCH LÂM ở Hội Thánh Tin Lành tại Đà Lạt là Tư hóa Tổng
Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam gởi lời thanh minh sau đây, xin quý báo vui
lòng cho đăng tải. Tôi xin thành thật cảm ơn trước:
Về số tiền 160.000$00 của Hội Thánh Tin Lành cứu tế ở Genève (Thụy sĩ) gởi
đến chúng tôi qua tay ông Mục sư BERTRAND DE LUZE (Hội Thánh người Pháp) ở
Sài Gòn. Ông DE LUZE giao qua cho ông Giáo sĩ D. I. JEFFREY ở Sài Gòn rồi ông D.
I. JEFFREY giao lại cho tôi là Tư hóa của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam phân phát ra
theo ý muốn của Hội Thánh Genève và theo quyết nghị của Hội Đồng Tổng Liên
Hội họp tại Gia Định vào hạ tuần tháng 9-1955. Ông Hội Trưởng Mục sư LÊ VĂN
THÁI không hề cầm đến một đồng bạc nào trong số ấy. Nội vụ chúng tôi đã giao
cho một trạng sư ở Sài Gòn, mọi người sẽ biết rõ sự thật. Con ông VŨ CHÂN HIỀN
không phải là đại diện của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và ông ấy cũng không phải
là tín đồ chính thức của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.”
Ông Hội Trưởng D. I. JEFFREY đã gởi lời đính chính sau đây:
“Tôi, Giáo sĩ D. I. JEFFREY, Hội Trưởng Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp ở
Việt Nam xin đính chính như sau đây:
Số tiền một trăm sáu chục ngàn đồng (160.000$00) của Hội Thánh Tin Lành
GENÈVE, gởi đến cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam qua ông Mục sư DE LUZE (Hội
Thánh Tin Lành Pháp tại Sài Gòn). Số tiền tôi đã nhận và trao lại cho ông Tư hóa
Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam là Mục sư DUY CÁCH LÂM để chia ra
theo ý của Hội Thánh bên GENÈVE và theo quyết nghị của Hội Đồng Tổng Liên Hội
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 132
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhóm tại Gia Định vào hạ tuần tháng 9 năm 1955.
Còn ông Hội Trưởng Mục sư LÊ VĂN THÁI không nhận số tiền ấy, đó chỉ là lời vu
khống mà thôi.
Nội vụ chúng tôi đã trình tất cả hồ sơ cho Công an đặc vụ và đã ủy thác cho
một Trạng sư ở Sài Gòn, mọi người sẽ biết rõ sự thật.
Đúng theo đạo luật 1881 về báo chí, xin ông cho đăng lại lời đính chính nầy
cùng trang nhất và cùng một thứ chữ với bài báo ra ngày 24-7-1956.”
Ông Mục sư DU MARTHERAY Đại Diện Hội Thánh Tin Lành Quốc Tế ở GENÈVE
và Ông Mục sư BERTREND DU LUZE Hội Thánh Tin Lành Pháp ở Sài Gòn đã gởi lời
đính chính trên các báo như sau đây:
“Nhân danh Đại Diện Hội Thánh Tin Lành toàn quốc Việt Nam, chúng tôi xin
trân trọng trình bày rõ nỗi ngạc nhiên của chúng tôi sau khi đọc bài đăng trong quý
báo ngày 24-7-1956 về việc ông LÊ VĂN THÁI, Hội Trưởng Hội Thánh Tin Lành,
biển thủ tiền bạc và bị thưa trước biện lý cuộc. Quý báo còn quan trọng hóa vấn đề
và tuyên truyền cho một việc thất thiệt và hoàn toàn vu khống.
Theo quyết định của Ủy Ban Lãnh Đạo Hội Tin Lành Quốc Tế, chúng tôi có gởi
cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam món tiền là 160.000 đồng bạc. Số tiền nầy đã
được sử dụng theo đề án của Uỷ Ban đệ trình và đã được Hội Nghị thông qua. Như
vậy sự kết tội và vu khống cho ông LÊ VĂN THÁI hoàn toàn vô căn cứ, và chỉ làm
tổn thương đến sự hỗ tương giữa các Hội Tin Lành trên toàn cầu và nước Việt Nam.
Kính thưa Ông Chủ Nhiệm,
Chúng tôi khẩn thiết yêu cầu ông cho đăng trên quý báo mấy lời đính chính
nầy, vào đúng chỗ mà quý báo đã đăng lời kết tội vu khống kể trên.
Chúng tôi xin ông nhận nơi đây tấm lòng thành thật biết ơn của chúng tôi.”
C) Án Lệnh Miễn Tố của Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn.
Nội vụ trên đây đã được công lý làm cho sáng tỏ, và sau đây là bản sao nguyên
văn Án Lệnh Miễn Tố của Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn, ngày 30-10-1956:
VIỆT NAM CỘNG HÒA
BẢN SAO
Cấp Cho Hội Thánh TRÍCH LỤC BẢN ÁN PHÒNG LỤC SƯ
Tin Lành Việt Nam TÒA SƠ THẨM SÀI GÒN
SÀI GÒN ÁN LỆNH MIỄN TỐ 132
VỤ SỐ 7658 B.L. 50 DT1
Chúng tôi NGUYỄN HUY ĐẪU, Dự Thẩm (Phòng nhứt) Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn;
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 133
Chiếu hồ sơ Công Tố Viện kháng vô danh bị truy tố về tội sang đoạt; 133
Chiếu án lệnh thông tri của chúng tôi ngày 4-9-1956 và quyết tố án lệnh trạng
của ông Biện lý sở tại ngày 24-10-1956; chiếu chỉ ông LÊ VĂN THÁI là Hội Trưởng
Hội Tin Lành Việt Nam; nhân có cuộc di cư đại quy mô từ Bắc vào Nam sau
Genève, Uỷ ban tế trợ di cư các nhà thờ Tin Lành trên thế giới (World Council of
Churches Division of Interchurch Aid and Service to Refugees) tại Genève có tặng
một món quà 4.000 đô la Mỹ cho các đồng bào Việt Nam; số bạc đó giao cho Mục
sư B. DE LUZE, Mục sư Tuyên Uý nhà thờ Tin Lành Pháp ở Việt Nam qua Ông
JEFFREY, Mục sư Gia Nã Đại, là người đã làm trung gian để quyên món tiền đó từ
Gia Nã Đại để chuyển cho ông LÊ VĂN THÁI là Hội Trưởng Hội Tin Lành Việt Nam;
Chiếu chỉ một nhóm người có đạo không được chia tiền nên ganh tị, có viết thư
qua Genève hỏi hoặc tìm kiếm các nhà chức sắc tại Sài Gòn cật vấn, rồi sau chót
tố cáo ông LÊ VĂN THÁI đã biển thủ món tiền đó đáng lẽ về phần họ được hưởng;
Chiếu chỉ xét ra điều nầy rất vô lý, tiền giúp của Hội nầy cho Hội khác trên thế
giới, việc phân phối là do Hội nhận lãnh định đoạt với sự thỏa thuận của các người
tặng, chớ không phải do các cá nhân đồng đạo;
Chiếu chỉ các ông DE LUZE, JEFFREY điều ra khai trước tòa là mọi việc đều làm
hợp thức, cả đến ông DU MARTHERAY là đại diện Hội Thánh (Conseil Ecumenique
des Eglises) phải về nước trước ngày ấn định ra khai tại bản phòng cùng viết thơ để
lại quả quyết LÊ VĂN THÁI bị vu cáo;
Chiếu chỉ xét kỹ vụ nầy là vụ tranh giành ảnh hưởng và chức vị trong nhà thờ,
lợi dụng chính trị của một nhóm người muốn mượn tay Tòa án để loại trừ những
đạo hữu đương tại chức;
Chiếu chỉ chính cơ quan bỏ tiền ra trợ giúp cũng đã đồng ý việc đưa tiền cho
ông LÊ VĂN THÁI và về CÁCH SỬ DỤNG 4.000 đô la trên, (xem thư của World
Council of Churches ngày 27-6-1956 của ông Uh. Van BEYNA, Secretary Countries
Outside Europe, gởi cho Ô. DU LUZE, trong có câu: “let me assure you that we
entirely agree with you giving the funds to Mr. LÊ VĂN THÁI, and not only that but
we approve the use that is made of the funds”;
Chiếu chỉ như vậy xét không đủ tội chứng và suy định rằng tại Sài Gòn Chợ Lớn,
trong vòng năm 1956 vô danh đã sang đoạt của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một
số bạc 160.000$00; nghĩ nên miễn tố vô danh về tội sang đoạt nầy;
Bởi các lẽ ấy:
Tuyên cáo
Miễn tố vô danh về tội sang đoạt của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một số bạc
160.000$00 và ra lịnh tồn trử hồ sơ vụ nầy tại phòng Lục sư Tòa Sơ Thẩm sở tại.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 134
Làm tại Sài Gòn, ngày 30 tháng 10 dl 1956
DỰ THẨM
Ký tên: NGUYỄN HUY ĐẪU
SAO Y BẢN CHÍNH
Sài Gòn, ngày 7 tháng Giêng dl 1957
Chánh Lục sự
Ký tên: không rõ (đóng dấu)
PHÊ Y:
Sài Gòn, ngày 7 tháng Giêng dl 1957
TM. BIÊN LÝ
PHÓ BIỆN LÝ
Ký tên: không rõ (đóng dấu)
134
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 135
CHƯƠNG 5: CHIỀU HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI 135
TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP
Thể theo quyết nghị của Đại Hội Đồng thường niên lần thứ 19, bắt đầu từ tháng
tám, năm 1942 tôi được chính thức đắc cử giữ chức Hội Trưởng Tổng Liên Hội, thay
thế Mục sư Lê Đình Tươi đang lâm trọng bệnh, cần nhiều thời gian nghỉ ngơi. Đây là
lần đầu tiên tôi cảm thấy run rẩy trước một nhiệm vụ quá to lớn mà Chúa và Hội
Thánh đã giao phó. Công việc Chúa riêng tại miền Bắc đã đa đoan, bây giờ phải
gánh luôn cho cả nước thì thật không thể nào kham nổi. Hơn nữa, vùng lãnh thổ
trách nhiệm của Giáo Hội lúc bấy giờ không chỉ có ba miền Trung, Nam, Bắc nhưng
bao gồm Ai Lao và Cao Miên nữa, nên tôi và toàn thể anh em trong Ban Trị sự rất
lo âu.
Lúc mới nhậm chức vụ nầy, tôi đinh ninh là mình chỉ tạm giữ trong vòng một
năm thôi. Sau thời gian đó sẽ có người khác thay thế. Nguyện ước của tôi là muốn
dùng hết thì giờ mình có để phát triển công việc Chúa tại Hà Nội và các vùng phụ
cận. Trong ba miền thì miền Bắc tương đối gần gũi với tôi hơn vì nơi đây tôi đã đổ
rất nhiều mồ hôi và nước mắt. Nhưng Chúa không cho phép tôi toại nguyện, vì thế
tôi đã phải đảm nhiệm chức Hội Trưởng liên tục từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 8
năm 1960, là mười tám năm tất cả. Trong suốt thời gian dài đăng đẳng ấy, có biết
bao biến chuyển xảy ra trong Hội Thánh. Toàn thể con cái Đức Chúa Trời phải chịu
chung số phận với vận nước ngữa nghiêng. Có biết bao giai đoạn thăng trầm phong
ba bão táp. Tôi chỉ biết nương nhờ ơn và quyền của Chúa và bước đi với Ngài từng
phút từng giây. Mặc cho những khó khăn dồn dập, đức tin tôi luôn luôn hướng về
Chúa và lòng tôi vẫn như Vua Đa Vít, không ngớt ngợi khen Ngài: “…Miệng tôi hết sức
cảm tạ CHÚA, Đức Chúa Trời, ngợi khen Ngài ở giữa đoàn dân, vì NGÀI ĐỨNG BÊN HỮU
NGƯỜI THIẾU THỐN” (Thi 109:30-31a). Trong mọi cảnh ngộ, tôi hằng nhắc đi nhắc
lại câu: “Ngài đứng bên hữu người thiếu thốn,” để hầu việc Chúa với tất cả tấm
lòng, vì tôi thật biết mình “THIẾU THỐN.” Nhưng đồng thời tôi cũng biết chắc Chúa
sẽ giúp đỡ tôi, hướng dẫn tôi trong công trường thuộc linh của Ngài.
A. THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN ĐẠO SÂU RỘNG
Trọng tâm mọi hoạt động của tôi sau ngày nhậm chức Hội Trưởng Tổng Liên
Hội và cũng là mục tiêu của con cái Chúa sau Hội Đồng Tổng Liên Hội năm 1942 là
phải làm thế nào để các chi hội được vững mạnh và việc truyền bá Tin Lành được
rộng rãi hơn.
Lúc bấy giờ cuộc phục hưng từ Bắc chí Nam do Tiến sĩ Mục sư Tống Thượng
Tiết phát khỏi từ cuối năm 1938 còn đang lan rộng. Nhưng theo kinh nghiệm chung
của Hội Thánh thì cơn phục hưng nào cũng có lúc kết thúc, như chúng ta đã có dịp
chứng kiến trong lịch sử quốc gia Do Thái, và gần đây hơn cơn phục hưng ở Cao Ly
(Đại Hàn) trong thời Tiến sĩ Jonathan Goforh chẳng hạn. Cho nên ước vọng của
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 136
chúng tôi là phải làm thế nào để Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được như NGƯỜI 136
NỮ ĐỒNG TRINH luôn luôn sẵn sàng chờ đợi Tân lang đến đón (Mat 25:4), nghĩa là
chẳng những giữ được sức nóng của cơn phục hưng vừa qua không tàn, mà còn có
thể làm cho nó bùng cháy khắp mọi nơi, không riêng ở Việt Nam, mà lan rộng ra
các quốc gia láng giềng nữa.
Có thể bảo, tinh thần truyền giáo đã quật khởi mãnh liệt giữa vòng tín đồ trong
giai đoạn nầy. Muôn người như một, ai nấy đều nhận thức được tầm quan trọng
của việc đem Tin Lành đến cho đồng loại, bởi đó Hội Đồng Tổng Liên Hội năm
1942 đã thỏa thuận và biểu quyết những điểm sau đây:
Khoản 20. “Biểu quyết: Ủy quyền cho Ban Trị sự (Tổng Liên Hội) sẽ hiệp với ba
hạt lo chấn chỉnh lại BAN CHỨNG ĐẠO trong Hội Thánh. Xin ông Hội Trưởng tạm
quyền chức Tổng Trưởng ban, nhân tiện những lúc đi hành chức, Hội Trưởng hiệp
với 3 Chủ nhiệm để lo lập Đại Trưởng ban cho các chi hội v.v... Nếu bất tiện thì tìm
cách hợp tác bằng thư từ để các Ban Chứng Đạo trong các chi hội sớm được chấn
chỉnh. Cũng gắng tìm các phương tiện giúp cho việc ấy. Trình lại Hội Đồng năm tới
quyết định.”
Nội dung quyết nghị trên đây cho chúng ta thấy rằng chẳng những hiện nay mà
ngay từ năm 1942, Hội Thánh đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề Chứng Đạo. Hội
Đồng đã biểu quyết đặc cử ông Hội Trưởng Tổng Liên Hội tạm quyền chức vụ Tổng
Trưởng ban Chứng Đạo, như vậy chẳng khác nào biến cả Tổng Liên Hội (tức toàn
thể Hội Thánh) thành ban TRUYỀN ĐẠO SÂU RỘNG rồi.
Phong trào đáng khích lệ nầy sở dĩ có được, như trên đã nói, một phần lớn là
do công lao phát khởi và duy trì của Mục sư Tiến sĩ Tống Thượng Tiết. Do đó thiết
tưởng chúng ta cũng cần đề cập đến vài nét đặc biệt về con người lạ lùng nầy.
Mục sư Tống Thượng Tiết là người Trung Hoa, sanh ngày 27 tháng 9 năm 1901
tại làng Hon Chek, tỉnh Phúc Kiến. Ông lớn lên trong một gia đình thế phiệt với rất
nhiều cao vọng. Ngày 10 tháng 2, 1920 ông từ giã quê hương xuống tàu sang Hoa
kỳ du học. Trong những năm phiêu bạc xứ người, ông đã chứng kiến nhiều sự việc
ly kỳ, nhưng điều ly kỳ nhất đối với ông là ông gặp được Cứu Chúa. Ban đầu ông
theo học hóa học, nhưng cuối cùng ông lấy được bằng Tiến sĩ Thần Khoa, ngày 30
tháng 8, 1927. Hơn một tháng sau, tức ngày 4 tháng 10, 1927 ông xuống tàu trở về
Thượng Hải. Trong những ngày lênh đênh trên biển cả ông rõ được tiếng Chúa gọi,
nên khi tàu gần cặp bến ông xuống phòng mở va-li và lấy những văn bằng cao học,
những huy chương đã thâu đạt trong các khóa học cùng chiếc chìa khóa vàng thân
hữu đem liệng tất cả xuống biển. Ông chỉ giữ lại ít tiền và cái bằng Tiến sĩ Thần
Khoa. Về đến nhà, việc đầu tiên khiến cha mẹ ông ngạc nhiên là cách phục sức của
ông. Ông chẳng giống bất cứ một người Trung Hoa nào đi du học ngoại quốc về.
Ông chỉ mặc vỏn vẹn chiếc áo dài trắng kiểu Trung Hoa và không có gì thay đổi.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 137
Trong khi gia đình ông băn khoăn không hiểu tại sao có những biến chuyển lạ
lùng như vậy, thì ông yên lặng lấy bằng Tiến sĩ Thần Khoa tặng cho cha mẹ, đoạn
trao cho vợ con một ít tiền và nói: “CÒN THÂN HỒN TÔI DÂNG CHO CHÚA ĐỂ
PHỤC VỤ NGÀI.” (Song thân ông rất thất vọng vì nguyện ước của họ là mong ông
có thể trở thành một giáo sư khoa học để phục vụ cho Trung Hoa).
Bắt đầu từ đấy, Mục sư Tiến sĩ Tống Thượng Tiết chẳng những hầu việc Chúa
kết quả rất lớn tại Trung Hoa mà cả ở Việt Nam nữa.
Tiến sĩ Tống Thượng Tiết
137
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 138
Ban chứng đạo do TS Tống Thượng Tiết thành lập tại Hội Đồng TLH tại vĩnh Long năm 1936 138
Mỗi khi ông giảng đều có một bài hát ngắn, được hát đi hát lại nhiều lần trong
giờ giảng để làm nổi bậc đại ý bài giảng đồng thời thúc đẩy người nghe. Tôi xin sưu
tập một số những bài hát ngắn của ông sau đây:
1. Hãy kíp về, mau mau về
Lạc lối mãi làm chi
Đức Chúa Cha mong anh về nhà
Dang tay tiếp rước anh.
2. Tôi yêu nhà trên trời về nhà Cha
Chừa ham mê thế gian
Tôi yêu nhà trên trời về nhà Cha
Thôi yêu chuộng đời nầy
3. Muôn tội lăn xa ta tràn nước sóng
Đấng Christ đổ huyết cứu ta
Đổi mới tâm tôi bửu huyết Jêsus
Rửa tội tôi được sạch trong
4. Quyết sống cho Christ
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 139
Quyết sống cho Ngài 139
Vì Ngài đã cứu linh hồn tôi
Quyết sống cho Christ
Quyết sống cho Ngài
Vì Ngài đã cứu linh hồn tôi
5. Mau mau sanh lại nên mới
Mới mới hết bởi ơn Chúa
Quả thật, quả thật này là lời ta nên ghi nhớ
Hãy tái sanh ngay bây giờ.
6. Thập giá Chúa, thập giá Chúa
Vinh hiển tôi muôn muôn đời
Cho đến qua bên kia bờ rồi
Ngày đêm hoan lạc thảnh thơi
Cuối năm 1938, Tiến sĩ Mục sư Tống Thượng Tiết đến Việt Nam. Những bài
giảng của ông có năng lực đâm thấu vào lòng người. Những bài hát ngắn trên đây
cũng đã được phần nhiều Hội Thánh phổ biến trong các buổi nhóm thờ phượng
Chúa, bằng cách viết trên khung vải treo trước tòa giảng, để hội chúng có thể hát
đi hát lại nhiều lần
Vấn đề chứng đạo được ông quan tâm đặc biệt. Nên sau mỗi buổi giảng ông
đều kêu gọi những người đã thức tỉnh, những người đã ăn năn về lỗi lầm của mình
cùng những người có lòng yêu thương linh hồn người hư mất, hãy quy tụ lại để lập
thành một ban chứng đạo. Đoạn ông phát cho ban viên mỗi người một lá cờ hình
tam giác trắng có thập tự đỏ ở giữa và khuyên mỗi người nên cắm lá cờ đó chỗ
xứng đáng nhất trong nhà mình. Ngoài ra, mỗi khi chứng đạo có thể mang lá cờ ấy
theo để dạn dĩ tỏ cho người khác biết mình là chứng nhân của Tin Lành.
Sau khi thiết lập được ban chứng đạo tại Hội Đồng Vĩnh Long rồi ông liền chia
ra những ban chứng đạo của các Địạ hạt và những ban của các Chi hội song song
với những ban trong khu vực. Mỗi nơi đều cử ra một trưởng ban để đôn đốc việc
nhóm lại cầu nguyện cùng phân phối các ban viên đến các địa điểm chỉ định để
làm chứng và phát sách, đồng thời khuyến khích thêm người gia nhập vào ban.
Điều khoảng 20 trong bản quyết nghị của Đại Hội Đồng Tổng Liên Hội lần thứ
19 tại Đà Nẵng (từ 15-19 tháng 8 năm 1942) trên đây nhằm mục đích khích lệ các
ban chứng đạo sốt sắng phất cao lá cờ thập tự giá mà mình đã lãnh, qua khắp các
nẻo đường đất nước. Công việc truyền giảng Tin Lành không những được phát
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 140
động cho người Việt Nam mà luôn cả những bộ lạc Thượng Du nữa. Bởi đó, ngoài 140
điều thứ 20, còn những khoảng khác như sau:
Khoảng 10. “Biểu quyết thuận y cho các ông Truyền đạo Thượng Du mỗi năm
nhân cơ hội thuận tiện nhóm (Hội Truyền giáo thượng du) một lần trước Tổng Liên
Hội mấy ngày, để trao đổi ý kiến giúp nhau về công việc truyền giáo được thêm
may mắn.”
Khoảng 11. “Biểu quyết xin mỗi Chi hội trong Đông Dương hằng năm để riêng
một kỳ đặc biệt trong Hội Đồng thường niên mà cổ vũ cho công cuộc truyền giáo
trên các bộ lạc, gọi là ngày Hội Đồng về việc Chúa trên Thượng Du.”
Khoảng 12. “Biểu quyết xin các Mục sư Truyền đạo trong Đông Dương để riêng
ít nhất là mỗi ba tháng một lần giảng khuyến khích về truyền giáo giữa các bộ lạc.”
Khoảng 13. “Biểu quyết thuận y xin mỗi chi hội trong Đông Dương lập một ủy
ban hoặc một tư hóa lo riêng về tài chánh cho công việc Thượng Du.”
Khoảng 14. “Biểu quyết thuận y xin các Giáo sĩ Hội Truyền giáo trong địa
phương cùng Chủ Nhiệm Địa Hạt tìm gặp, thăm viếng, giúp đỡ các anh em truyền
giáo Thượng Du nhiều hơn.
Khoảng 15. “Biểu quyết thuận y xin các Ban Trị sự tìm cách giúp đỡ thêm cho
các anh em truyền giáo Thượng Du nào là tiền mướn giáo sư dạy tiếng, phụ cấp
khu vực, cứu tế bệnh nhân mùa Đông và nuôi học sinh Thượng Du v.v..”
Đọc xong sáu khoảng biểu quyết nầy và khoảng thứ 20 của Hội Đồng Tổng Liên
Hội năm 1942, chắc hẳn chúng ta điều thấy tinh thần của Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam trong giai đoạn này, chẳng những muốn duy trì cơn phục hưng cuối năm 1938
mà còn ước mong cho các Ban Chứng Đạo thành lập sau đó, được phát triển mạnh
mẽ hầu cho lửa Thánh Linh có thể bùng cháy lan tràn khắp Đông Dương, như ý
nghĩa của bài hát mà Mục Sư Tống Thượng Tiết sáng tác và ông thường hát trong
các buổi giảng:
Tôi xin gió Thánh Linh
Gió Thánh Linh vô lòng
Tôi xin hơi thở từ Đấng Christ cho sống
Tôi xin gió Thánh Linh
Gió Thánh Linh vô lòng
Tôi xin hơi thở từ Đấng Christ vào lòng
Ban Trị sự Tổng Liên Hội ngoài việc để thì giờ cầu nguyện đặc biệt cho công
việc truyền giáo tại Thượng Du, còn lo chọn các vị Mục sư và Truyền đạo thích hợp
để bổ nhiệm đến các nơi như: Sơn La, Lai Châu, Đồng Mổ, Đồng Khê (Bắc Việt); An
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 141
Điền, Pleiku, Cheo Reo, Ban Mê Thuột, Di Linh, La Ba v.v… Công cuộc truyền giáo 141
lúc bấy giờ phát triển hết sức mạnh mẽ. Một phần lớn công tác của các Mục sư,
Truyền đạo tại các Chi hội đều xoay quanh vấn đề nầy. Mỗi Hội Thánh đều có đóng
một cái hộp treo chỗ dễ nhìn thấy nhất trong nhà thờ, trên hộp có đề hai chữ
“THƯỢNG DU” để tín đồ muốn dâng tiền đặc biệt cho công cuộc truyền giáo cho
đồng bào Thượng có thể bỏ vào đó. Mỗi tháng ông chủ tọa cùng tư hóa Thượng Du
mở hộp tiền ấy ra rồi gởi về cho ủy ban truyền giáo Thượng Du để sử dụng vào
công việc đặc biệt của Thượng Du. Trong khi đó, cũng có người viết bài đăng báo
cổ động, hoặc sáng tác những bài thánh ca khích lệ anh em tín đồ dâng tiền bạc
cũng như đời sống cá nhân cho công cuộc truyền giáo. Một trong những bài thánh
ca phổ thông nhất là bài của Cố Hội Trưởng Mục Sư Lê Đình Tươi mà tôi đã nhờ bà
Mục Sư Phạm Văn Năm chép lại nguyên tác như sau:
1. Kìa người khốn khổ ở nơi non cao
Cùng một huyết tánh giống như ta nay
Khuất lấp bóng tối biết đâu tương lai
Chung với cầm thú sinh nhai
2. Kìa tình cảnh ấy có ai lưu tâm
Đồng lòng quyết chí kiếp lên sơn lâm,
Đốt đuốc thiêng lên soi nơi âm u
Bao quãng đường sá nguy nan.
Điệp Khúc:
Ai lên Thương Du cứu giùm,
Vô số người đang khổ đau
Nửa sống nửa chết cả thân cùng hồn.
Ta nở đành bỏ hay sao?
Cảm ơn Chúa thật đúng như lòng mong ước của toàn thể tín hữu, cơn phục
hưng ấy đã được duy trì và lan rộng giữa xứ sở chúng ta từ miền đồng bằng đến các
miền hoang vu trên cao nguyên. Ngày nay, có thể bảo Tin Lành đã đi sâu vào lòng
dân tộc. Biên cương của đạo Chúa không chỉ quy định cho người Việt Nam mà là
chung cho tất cả. Để quý vị độc giả có thể nhận định rõ hơn về những tiến triển
của công cuộc truyền giáo cho các bộ lạc Thượng, tôi xin trích một đoạn ngắn
trong bài thuyết trình của ông Mục Sư Truyền Giáo Trương Văn Tốt tại Thần học
viện vào tháng giêng, 1969:
“Y như Lời Chúa đã phán hứa và thực hiện cho Giô-suê xưa: “phàm nơi nào bàn
chân các ngươi đạp đến thì ta ban cho các ngươi” (Gios 1:3), thì Ngài cũng đã thành toàn
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 142
lời hứa ấy cho những bàn chân xinh đẹp nói trên, khi họ đạp đến những vùng núi 142
cao rừng rậm của cao nguyên Đà Lạt, khiến cho những bàn chân xinh đẹp kia trở
thành những bàn chân đắc thắng.
Những bàn chân tiền phong đạp lên vùng cao nguyên Đà Lạt là vào năm 1926,
tức đã được bốn mươi năm nay. Trong những năm đầu họ gặp ngăn trở một ít,
không được phép đi truyền giáo trong các thôn ấp xa xôi, chỉ làm chứng cho những
người Thượng đến Đà Lạt làm xâu buôn bán mà thôi. Chúa đã đưa những người
Ngài chọn đến Đà Lạt để tin nhận Ngài, dâng mình cho Ngài và chuẩn bị ra đi làm
chứng nhân cho Ngài. Chỉ trong vòng có năm năm mà trường Thánh Kinh Kơho Đà
Lạt được thành lập với mười gia quyến học sinh như quý ông Ha Sol, Ha Sao A, Ha
Kar, Ha Chu A, Ha Bang A v.v... Để cho họ bước những bước đắc thắng trong chức
vụ truyền giáo, Chúa cho họ một trải phấn hưng và nhận được quyền năng của
Thánh Linh. Việc nầy xảy ra vào cuối năm 1938, khi trường Thánh Kinh Đà Lạt được
điều khiển bởi cụ Giáo sĩ H. A. Jackson và ông Mục Sư Truyền Giáo Nguyễn Văn
Tầm. Số học sinh gồm mười gia quyến như đã nói trên. Do chức vụ của Tiến sĩ
Tống Thượng Tiết, Chúa có ban phấn hưng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, nhất là
về phương diện chứng đạo. Giáo sĩ Jackson và Mục sư Nguyễn Văn Tầm về thuật lại
cho học sinh nghe thế nào Chúa đã thăm viếng và phấn hưng Hội Thánh Việt Nam.
Mười gia quyến học sinh nói trên rất khao khát được Chúa viếng thăm nên họ để
rất nhiều thì giờ cầu nguyện và tìm kiếm Chúa. Sau ba ngày cầu nguyện họ khởi sự
ăn năn tội, xưng ra và cứ cầu nguyện xưng tội cho đến ngày thứ năm. Ai nấy khóc
lóc đến nỗi sưng cả mắt lên. Qua ngày thứ sau họ đem trả đồ vật không thuộc về
mình, họ đã ăn cắp hoặc đã lượm được. Giáo sĩ Jackson đọc Ma 3:10b: “Khá thử ta,
CHÚA, Đức Chúa Trời vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi và đổ
phước cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng.” Họ cứ tiếp tục cầu nguyện xưng tội
hoặc đền bù hoặc trả lại những vật không thuộc về mình. Các học sinh trường
Alliance và Hội Thánh Việt Nam Đà Lạt nghe tin Chúa thăm viếng trường Thánh
Kinh thì họ cũng đến nhóm chung và một bà Việt Nam cũng xưng tội và trả lại tiền
bạc bà đã ăn cắp. Sau khi họ đã xưng hết tội và trả lại tất cả những vật không
thuộc về họ rồi thì họ không cầu nguyện khóc lóc nữa, nhưng họ khởi sự hát thánh
ca ngợi khen Chúa và ai nấy đều vui mừng cả thể. Một học sinh đứng lên nói:
“Chúa ơi, xin đừng ban ơn thêm nữa, đã đủ rồi, chúng con không thể nhận lãnh
thêm nữa.” Thật là ơn phước không chỗ chứa. Một Giáo sĩ nói: “Lúc đó cả khu đất
của trường Thánh Kinh đã trở nên đất Thánh, ai nấy đều cảm biết có sự hiện diện
của Chúa khắp nơi.” Qua ngày sau họ cầu nguyện đuổi quỷ ra khỏi một người Việt
Nam trong xóm gần trường Thánh Kinh và đến ngày Chúa nhật sau một buổi nhóm
đầy phước hạnh họ xin phép về làng để rao ra ơn Chúa. Chỉ trong vòng một tháng,
họ đã đem hơn hai trăm người đến với Chúa và họ khởi sự bước những bước đắc
thắng trong việc truyền giáo từ lúc đó, lúc họ đã nhận lãnh được quyền năng của
Đức Thánh Linh…
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 143
B. QÚA TRÌNH TRUYỀN GIÁO CỦA HỘI PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP VÀ HỘI THÁNH 143
TIN LÀNH VIỆT NAM
1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Những Vùng Cao Nguyên
Khu vực cuối cùng mà đoàn truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp phải tiến vào là
các vùng cao nguyên.
Từ nhiều thế kỷ trước, thổ dân tại những vùng nầy đã bị đẩy lên núi, khi người
Việt Nam vì muốn xa lánh ảnh hưởng của người Trung Hoa nên tiến lần về phương
Nam. Toàn xứ có tất cả tám mươi bộ lạc và mỗi bộ lạc đều có những phong tục tập
quán riêng, cho nên từ cách ăn mặc đến ngôn ngữ của họ đều mang những sắc thái
rất đặc biệt. Có thể bảo là một trong số những dân tộc, Đức Chúa Jêsus đã phán:
“Trước hết Tin Lành phải được rao cho mọi dân.” Nói như thế chắc hẳn có nhiều người
không đồng ý vì cho rằng những bộ lạc nầy không đủ lớn để có thể gọi là những
dân tộc. Nhưng trong Kh 5:9 Chúa cho chúng ta biết rằng những đoàn thể tụ hợp
quanh ngai khi Ngài mở ấn quyển sách sự phán xét sẽ trút xuống đất và sẽ đến “Từ
mọi bộ lạc mọi tiếng, mọi dân, mọi nước.” Trong số đồng bào Thượng sống rải rác
trên các miền cao nguyên Việt Nam, gồm có nhiều chi phái khác nhau với những
đường lối cai trị riêng biệt dựa theo những quy luật của núi rừng. Họ có những
ngôn ngữ riêng và những đời sống riêng.
Khi đoàn truyền giáo bắt đầu hoạt động ở Đông Pháp đường đi đến các bộ lạc
nầy rất khó khăn, vì họ không thuận phục ai cả. Cuộc sống của họ hoàn toàn tự do
và hoang dã. Ánh sáng văn minh chưa đến những vùng nầy, nên dù là con người,
nhưng trình độ của họ rất thấp kém, nếu không bảo là rừng rú dã man. Làng mạc
được dựng lên tại những nơi rất hiểm trở và thường xê dịch luôn nên người ngoài
cuộc khó có thể theo dõi được. Chỉ có những người Thượng chính cống mới biết
được nhựng lối đi nhỏ hẹp từ làng nầy sang làng kia nhưng đi như vậy rất nguy
hiểm vì rừng đầy dẫy rắn độc và thú dữ, đó là chưa kể trường hợp bị tấn công vì
hiểu lầm.
Phương tiện rất hữu hiệu dùng để di chuyển qua rừng lúc trước là voi. Tại nhiều
bộ lạc, thổ dân bắt voi rừng về nuôi dạy lâu ngày và chúng trở nên rất thuần thục.
Nhưng về sau, người Pháp đã mở cửa xứ Thượng bằng cách cho những nhà trồng
tỉa đến lập nghiệp như mở đồn điền trà, cà phê, đồng thời cũng cho phép các nhà
săn bắn chuyên nghiệp từ khắp các nơi đến họ bắt đầu thiết lập những đường sá
rất tốt cho nên việc đi đến các bộ lạc ở Trung Kỳ, Nam Kỳ, và Cam-bốt tương đối
dễ dàng hơn. Lúc bấy giờ họ cũng đang phóng một con đường sang Lào. Nhờ con
đường ấy mà các Giáo sĩ ấy có thể đến để tiếp xúc với các bộ lạc cô lập. Nhưng nói
như thế không có nghĩa là đã hết khó khăn đâu. Trái lại những nguy hiểm và
chướng ngại thiên nhiên vẫn dày đặc khi họ muốn đến với các bộ lạc tại những
vùng xa xôi hẻo lánh hơn.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 144
Lần đầu tiên là cuộc tiếp xúc giữa đoàn truyền giáo với các bộ lạc ở vùng núi 144
đồi phía sau Tourane. Có một vị Mục sư tự cảm thấy được Chúa kêu gọi đến thăm
xứ người Thượng. Sau một cuộc hành trình đầy khó khăn, ông đến được một làng
nọ. Tại đó ông gặp một người biết nói tiếng Việt Nam nên có thể nhờ làm thông
ngôn. Trong lần tiếp xúc đó, ông đã nói cho họ tình yêu của Đức Chúa Trời dự bị
cho nhân loại để mọi người có thể trở thành con cái Ngài bởi đức tin nơi Chúa
Jêsus. Những người Thượng có mặt hôm ấy lắng nghe rất chăm chỉ, sau buổi giảng,
người tù trưởng đứng lên phát biểu ý kiến: “Nếu ông biết rõ Đức Chúa Trời như ông
nói, ông có thể xin Ngài ban mưa cho vùng chúng tôi không? Năm vừa rồi hạn hán
nên chúng tôi mất mùa lúa núi. Năm nay tới bây giờ vẫn chưa có mưa. Nếu không
có mưa sớm chúng tôi sẽ chết đói.”
Đó là một thử thách to lớn mà nhiều tín đồ Cơ Đốc có thể sẽ lưỡng lự trong
một hoàn cảnh như vậy. Lúc bấy giờ là ban đêm. Đêm trong rừng như trầm hẳn
xuống với một sự tĩnh mịch buốt lạnh. Trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên, niềm tin
của con người có thể bị hóa giải vì mặc cảm tự thấy mình quá bé nhỏ. Hoàn cảnh
của ông Mục sư này cũng vậy. Nếu cầu nguyện mà không kết quả thì dân chúng sẽ
cho rằng ông lừa gạt họ, và như vậy nếu không bị giết thì cũng tức tốc bị đưa đi ra
khỏi làng làm mồi cho thú dữ. Đức tin ông đang được trắc nghiệm, để quyết định
sự thành bại của Tin Lành. Trong giờ phút cực kỳ nghiêm trọng ấy, ông nhớ lại lời
hứa của Chúa và tinh thần ông trở nên phấn khởi vì ông biết chắc rằng Chúa là
Đấng thành tín.
Để đáp lại lòng mong mỏi của dân làng, vị Mục sư liền quỳ gối xuống cầu
nguyện, xin Chúa tỏ chính mình Ngài ra và làm thỏa mãn nhu cầu của những người
nầy bởi vì chính Chúa đã phán: “Nầy, ta hằng ở cùng các ngươi luôn,” nên dù là
một làng mạc xa xôi, cũng xin Chúa đoái thương.
Quả đúng như vậy, Chúa không bao giờ thất tín. Ngài đã từng phán: “Các ngươi
cầu xin bất cứ đều gì hãy tin sẽ được,” ông Mục sư Thừa đã tin, vâng, vị Mục sư
trên đây chính là Mục Sư Hoàng Trọng Thừa và Chúa đã làm trọn. Đêm đó trời mưa
to và mưa tiếp tục luôn trong nhiều ngày. Mưa nhiều đến nỗi khi cụ Thừa trở về Đà
Nẵng đường xá trở nên lầy lội khó đi. Mặc cho những vất vả gian nan, cụ ôm trọn
niềm vui trong lòng. Ba mươi ba người Thượng được chứng kiến quyền năng Chúa
đêm ấy bằng lòng tin nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa.
Rồi bẵng đi một thời gian, hai năm sau mới có người trở lại làng cũ. Nhưng khi
đến nơi thì cả làng gần như bị tiêu diệt vì bệnh đậu mùa. Trong số những người
quay về với Chúa chỉ còn bốn người sống sót và họ vẫn trung thành với Chúa.
Những người kia dĩ nhiên là đã đi trước để nhập vào đám đông hội họp chung
quanh Ngai khi Chúa mở quyển sách có ấn thứ bảy.
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 145
Vòng truyền giáo thứ hai được thực hiện tại một bộ lạc ở miền Nam. Một Giáo 145
sĩ và một nhân viên Việt rời Sài Gòn để đến thăm một bộ lạc ở vùng Xuân Lộc gần
biên giới Việt Miên. Dân chúng ở đó đã tỏ ra ham thích Lời Chúa và cũng có người
ăn năn tin nhận, nhưng công việc phải bỏ dở trước khi thu hoạch được những kết
quả lâu dài. Nguyên do là những làng trên đây nằm trong nhượng địa của người
Pháp để lập đồn điền cao su, người quản lý đồn điền rất ghét công cuộc truyền
giáo nên đã ra lệnh cho đoàn phải ra khỏi lãnh thổ ông ta. Các Giáo sĩ khiếu nại với
viên thống đốc Nam Kỳ, nhưng được trả lời rằng các nhượng địa nầy là những vùng
đất tư, nếu người quản lý không cho phép giảng Tin Lành ở đó, thì chỉ có cách là
tránh xa đi. Ở đồn điền nầy cũng như những đồn điền khác, thái độ của các ông
chủ đều giống nhau. Họ có quyền kiểm soát sinh hoạt của dân Thượng trong toàn
lãnh thổ đã được quy định.
Năm 1929, một chi nhánh truyền giáo được mở giữa vòng người Thổ, ở Lạng
Sơn. Đây là thành phố miền Bắc mà trước kia các Giáo sĩ Hoa Nam có dịp đến
thăm bằng cách vượt biên giới. Họ có ý định đưa Giáo sĩ vào Việt Nam bằng con
đường nầy, nhưng việc không thành. Thành phố Lạng Sơn nằm kế cận biên giới Việt
Hoa. Là nơi đồn trấn nên chính quyền Bảo hộ đã cử một trung đoàn lính Pháp đến
đóng tại đó để bảo vệ toàn vùng khỏi nạn giặc Tàu. Đó cũng là một trung tâm
thương mại của miền Bắc. Dân chúng phần đông là người Việt và người Pháp, nên
đây là một địa điểm thuận tiện cho các Giáo sĩ để làm bàn đạp “chiến lược” xâm
nhập bộ lạc Thổ, một bộ lạc rất đông dân số tại Đông Dương.
Ban đầu mọi hoạt động đều quanh quẩn giữa vòng người Việt, nhưng ít lâu sau
lan rộng đến người Thổ. Những người nầy từ các vùng chung quanh đến buôn bán
các sản phẩm thủ công nghệ. Các Giáo sĩ có nhiều dịp tiếp xúc với họ ngoài đường
phố hoặc trong nhà thờ. Nhưng vấn đề không chỉ có thế. Mục đích của đoàn
truyền giáo là phải làm thế nào đi sâu vào các làng mạc của họ. Nhờ có những
cuộc tiếp xúc ngắn ở nhà thờ mà mục đích nầy có thể đạt được. Có nhiều người
Thổ được nghe Tin Lành, nên ít lâu sau trở lại mời các Giáo sĩ đến giảng tại làng
của họ cách đó hàng chục cây số.
Trong bản phúc trình của một Giáo sĩ ở Lạng Sơn, có kể lại trường hợp sau đây:
“Từ lâu, chúng tôi đã cầu nguyện xin Chúa mở đường để giảng Tin Lành tại Đồng
Mổ. Một đêm kia sau buổi nhóm tại nhà thờ Lạng Sơn, có một người Thổ muốn tin
nhận Chúa Jêsus Christ. Ngày hôm sau, ông ta trở lại Đồng Mổ kể cho vợ con nghe
sự vui mừng của mình khi được tha tội. Ít lâu sau, ông trở lại và hỏi chúng tôi có
thể đi đến nhà ông để giảng giải cặn kẽ hơn về con đường cứu rỗi không? Chúng tôi
sung sướng nhận lời. Khi đến nơi chúng tôi rất ngạc nhiên thấy có độ năm mươi
người đã tụ họp, nóng nảy nghe Tin Lành. Họ chăm chỉ nghe trong hơn hai tiếng
đồng hồ và cuối cùng buổi nhóm có mười hai người tiếp nhận Chúa. Họ đã mời
chúng tôi ở lại hàng tuần và chúng tôi trung tín nói về Chúa cho họ. Người chủ nhà
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 146
dâng ngôi nhà ấy để làm nhà thờ và đồng thời cũng đẳng gỗ làm ghế dài, ghế dựa 146
cho người đến nhóm được ngồi thoải mái hơn, thay vì phải ngồi bệt dưới đất như
thưở trước. Đây là một nhà thờ lý tưởng có thể chứa được chừng một trăm người.
Số dự nhóm trung bình là sáu mươi người.”
Đến tháng 10-1932, một chi nhánh truyền giáo khác được mở cửa tại Hòa Bình
(Bắc Việt) cho người Mường và các bộ lạc lân cận. Vùng nầy khí hậu rất độc địa.
Nhưng tạ ơn Chúa công việc truyền giáo vẫn tiến hành đều đặn và trong năm đầu
đã có nhiều người trở lại với Chúa. Mùa hạ năm 1934, khi các Giáo sĩ về nghỉ hạn
thì một Truyền đạo sinh Việt Nam, được đề cử đến phụ trách công việc tại đó. Đến
năm 1963 các Giáo sĩ trở lại thì chẳng những làng nầy mà các làng phụ cận cũng
đều được nghe Tin Lành và có nhiều người trở thành môn đồ Đấng Christ. Nhìn
chung, trong mười sáu làng chung quanh địa điểm truyền giáo đều có gia đình tín
đồ.
Mục tiêu kế tiếp đó là Đà Lạt, một nơi nghỉ mát nổi tiếng thuộc Cao Nguyên
Lang-bi-an, nằm trên cao độ một ngàn năm trăm thước so với mặt biển, đây là một
thành phố văn minh, có đường tráng nhựa, điện nước và các tiện nghi tân thời. Có
thể bảo đây là một kiệt tác của những kỹ sư người Pháp. Những con đường đi từ Đà
Lạt vào Nam hoặc ra Trung đều rất rộng rãi, đẹp đẽ bên cạnh những khung cảnh
thiên nhiên hết sức thơ mộng ít khi thấy được ở những nơi khác. Những loại tre,
dừa và những thứ cây nhiệt đới um tùm của vùng rừng đồng bằng lần lần biến đổi
dọc theo con đường quanh co tiến lên cao nguyên. Diện tích vùng nầy rất rộng lớn
với những loại thảo mộc đặc biệt như cây thông, cây ngô và cỏ cao rất thích hợp
với các loại thú lớn. Ngay trên cao nguyên và một vài vùng thấp hơn là nơi ở của
nhiều bộ lạc chưa hề nghe danh Chúa Jêsus. Họ là những người có một thân hình
rất đẹp, rắn chắc, thích hợp với đời sống hoang dã. Tánh tình họ rất ngang ngược
không chịu khuất phục bất cứ một luật lệ nào từ đâu đến. Quanh năm họ sống
bằng nghề săn thú rừng.
Trong khi lên xuống Đà Lạt để xúc tiến chương trình xây cất trường học, các
Giáo sĩ tự cảm thấy có trách nhiệm đối với nhu cầu tâm linh của những người
Thượng mà họ có dịp gặp gỡ hằng ngày. Trong số đó có một Giáo sĩ thấy rõ ơn kêu
gọi đặc biệt phải đến với những người nầy để đem ánh sáng của Lời Sự Sống cho
họ. Mặc dầu đang hoạt động có kết quả tại miền Nam, nhưng ông tin rằng Đức
Chúa Trời sắp dẫn ông vào một chức vụ mới. Sau đó, con ông bị đau gan, khiến
ông phải lìa vùng đồng bằng nóng bức để đến một vùng khí hậu mát mẻ hơn. Đối
với ông, đây cũng là một dấu hiệu Chúa chỉ hướng về Đà Lạt. Nên năm 1930 ông
xin Hội Truyền giáo thuyên chuyển ông đến vùng mới nầy. Ban đầu Hội Đồng rất
lưỡng lự vì chức vụ của ông giữa vòng người Việt rất có kết quả, nhưng sự hướng
dẫn của Chúa rõ rệt quá, nên cuối cùng ông được bổ nhiệm đến đó. Như vậy, từ
giờ phút ấy, Đà Lạt là trụ sở chính thứ hai được mở cho người Thượng ở Đông
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 147
Dương nhưng cũng có thể gọi là trụ sở Truyền giáo thứ nhất cho người miền núi vì 147
người Thổ ở Lạng Sơn tương đối văn minh.
Chúa sớm đóng ấn cho công việc mới nầy bằng cách đem về cùng Ngài một
thanh niên để dự bị làm nhà truyền đạo đầu tiên cho người Thượng Du. Vâng, chỉ
có Chúa mới có thể tìm được giữa vòng người man rợ trần trụi sống cuộc đời hoang
dã trong chốn rừng núi - một người biết được năm thứ tiếng. Một trong những thứ
tiếng mà chàng thanh niên Thượng Du nầy biết được là tiếng Việt. Nhờ đó Tin Lành
đến với chàng. Sau đó chàng trở nên một viên thông ngôn và là thầy dạy tiếng Việt
cho các Giáo sĩ. Kế tiếp một trường Thánh Kinh được thành lập và và chàng trở
thành một học viên đầu tiên. Thế là chưa đầy bốn năm sau ngày lìa bỏ rừng rậm,
chàng thanh niên yêu quý nầy là Ha Sol có thể tự đứng lên để giảng Tin Lành cho
đồng bào mình.
Chính cuộc sống đổi mới và lời làm chứng hùng hồn của ông ta đã đem nhiều
người Thượng đến quy đạo, trong đó có cha mẹ ông. Đây là một điều lạ, vì kinh
ngiệm cho biết rằng đối với những người Thượng trẻ tuổi việc theo dõi và tin nhận
đạo còn đôi chút hy vọng, chứ những người già cả thì là một việc khó có thể thực
hiện được vì gần hết quãng đời của họ dành cho rừng rú, nên tâm hồn trở nên chai
đá lì lợm không còn cảm xúc gì nữa. Ông cụ già lắm, có lẽ đã hơn sáu mươi tuổi
bằng lòng nhận Jêsus làm cứu Chúa. Không ai có thể biết được tuổi thật của người
Thượng là bao nhiêu, vì họ không biết cách tính tuổi, nhưng có điều chắc chắn là
đời sống họ đã thực sự thay đổi và tâm hồn tràn ngập niềm vui.
Chẳng bao lâu tại đó có một Hội Thánh với hơn hai mươi tín đồ Thượng. Sự
tương phản rõ rệt giũa hai lối sống của họ với những người Thượng lân cận khác,
chứng tỏ rằng vai trò của nhà truyền giáo chẳng những đem cho nhân loại chân lý
của sự cứu rỗi mà còn có nhiệm vụ khai hóa dân trí. Người quy đạo đầu tiên xử lý
chức vụ Mục sư tại Hội Thánh nhỏ nầy. Trong đó cũng có những trưởng lão và chấp
sự. Trong số người nầy có một người đàn ông thân hình vạm vỡ đẹp đẽ và uy nghi
như một cây kè, tên ông ta là Krai. Lần đầu tiên đến trụ sở Truyền giáo, ông ta chỉ
đóng một chiếc khố và đầu búi tóc ngược có dắt một ống điếu bằng thân cây bắp.
Vỏn vẹn chỉ có thế thôi, nhưng trông ông có vẻ uy vệ lắm. Công việc của ông ta lúc
bấy giờ là đánh xe bò đi lấy nước cho trường. Trong một thời gian khá lâu, ông Krai
chẳng để ý gì đến Tin Lành, nhưng theo nội quy của nhà trường, tất cả những người
làm việc trong khuôn viên Hội Truyền giáo đều phải dự các buổi nhóm mỗi ngày
hai lần. Do đó họ có dịp nghe nhiều lần sứ điệp của Chúa. Quả thật, lời Ngài ban ra
chẳng trở về luống nhưng, Chúa luôn luôn làm trọn điều Ngài ưa thích. Tâm hồn
ông Krai ngày càng được dầm thấm bởi ân sủng và tình thương nên ít lâu sau ông
bằng lòng quỳ gối ăn năn tiếp nhận Chúa. Phong thái của ông vẫn chửng chạc uy
nghi, nhưng trên khuôn mặt lạnh lùng trước kia, nay đã phản chiếu được niềm vui
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 148
tươi và hy vọng. Chỉ trừ vẻ kiêu hãnh không thể xóa bỏ được, vì đó chính là một 148
đặc tính của những người miền núi.
Công việc truyền giáo Thượng Du ngày càng phát triển mạnh mẽ. Một học viên
trường Thánh Kinh Việt Nam cảm thấy được Chúa kêu gọi đem Tin Lành đến cho
những bộ lạc thiểu số, nên năm 1935 ông đến Đà Lạt để hợp tác làm việc với một
Giáo sĩ. Và hai người này nhờ sự cộng tác của ông Ha Sol truyền đạo Thượng hợp
chung nhau đặt chữ cho một thứ tiếng Thượng và phiên dịch sách Tin Lành Mác ra
thứ tiếng đó. Nhờ vậy, Lời Chúa được phổ biến nhanh chóng. Lần lượt hết tù
trưởng nầy đến tù trưởng khác đến với Giáo sĩ yêu cầu giảng Tin Lành cho đồng
bào họ.
Trong khi đó thì vấn đề phép tắc hoạt động tại các bộ lạc Thượng vẫn dằng dai
chưa ngã ngũ. Viên toàn quyền pháp miễn cưỡng đồng ý trên nguyên tắc nhưng
buộc mỗi chương trình hoạt động đều phải được sự chấp thuận của chính quyền
địa phương. Đó là một điều khó cho Giáo sĩ, vì chính quyền có thể đưa ra lý do nầy
hoặc lẽ khác không cho phép hoạt động.
Tại Đà Lạt lúc đầu các Giáo sĩ cũng chỉ được phép giảng trong thành phố. Về
sau được nới rộng cho đi thăm vài buôn Thượng, nhưng không được phép mở chi
nhánh.
Lúc đó có một số người tin Chúa cư ngụ chung quanh đồn lính Pháp ở Djiring.
Các Giáo sĩ xin phép mở một nhà thờ tại đó, nhưng viên chức địa phương nhất
quyết từ chối. Các Giáo sĩ thử đến xin nhiều lần, nhưng lần nào kết quả cũng như
nhau.
Tuy nhiên, Chúa có đủ cách để phát triển công việc nhà Ngài, nên dù kẻ thù có
quỷ quyệt cách mấy cũng không thể nào ngăn cản được. Một lần nọ, vì có một
cuộc họp được triệu tập ở Đà Lạt, nên ông Hội Trưởng Giáo sĩ cùng với gia đình lái
xe từ Sài Gòn lên. Khi đi hơn một trăm rưỡi cây số đường núi rừng, họ phải dừng lại
để mua xăng tại một trạm xăng trước khách sạn của người Pháp ở Djiring. Nơi đây
là địa điểm duy nhất có đầy đủ tiện nghi trong khoảng đường bảy cây số. Khi xăng
nhớt đầy đủ, vị Giáo sĩ định tiếp tục hành trình, nhưng máy không nổ. Sau khi xem
xét cẩn thận, mới hay một bộ phận quan trọng trong máy đã bị gãy mặc dù suốt
đoạn đường rừng núi vắng vẻ nó vẫn chạy rất tốt. Không có cách nào để sữa chữa
ngoài việc phải thay cái mới, nên ông phải đánh điện tín cho người bạn đem xe
xuống đón.
Trong lúc chờ đợi, họ ăn bữa tối tại khách sạn Pháp. Lúc họ mới vừa ngồi vào
bàn thì có một người Pháp bước vào. Vài phút sau họ được biết đó là ông chủ một
xưởng sửa xe duy nhất ở Đông Pháp có thể thay được bộ phận hư trong xe. Ông ta
hứa sẽ gởi lên ngay. Quả thật là một dự trù kỳ diệu trong lúc cấp bách. Nó xảy ra
đúng chỗ, đúng lúc mà Chúa đã sắm sẵn cho con cái tôi tớ Ngài một lối thoát lạ
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 149
lùng. Tuy nhiên, câu chuyện chưa kết thúc. Hôm ấy là ngày thứ sáu mà bộ phận ráp 149
vào xe sẽ được gởi lên Djiring vào ngày thứ hai theo lời người kia đã hứa. Nhưng,
khi vị Giáo sĩ bị hư xe và người bạn từ Đà Lạt xuống, thì mới hay chiếc xe chở đồ
phụ tùng bị hỏng máy dọc đường, đợi đến ngày hôm sau mới tới. Như vậy hai người
phải chờ ít nhất hai mươi bốn tiếng đồng hồ nữa trong khách sạn nhỏ ở miền núi,
số chi phí phải trả quá nhiều so với túi tiền của họ.
Nên sau khi bàn định, vị Giáo sĩ ở Đà Lạt đề nghị lợi dụng thì giờ đó đến thăm
một chủ đồn điền cà phê người Pháp ở cách đó mười cây số. Khi đến, họ thấy ông
đang cầu nguyện. Sự kiện rất bất ngờ đối với các Giáo sĩ, vì các chủ đồn điền
không phải là hạng người cầu nguyện. Khi biết được khách đến thăm mình có sứ
mệnh đặc biệt, chủ đồn điền nầy dâng lời tạ ơn Chúa vì Ngài đã nhậm lời cầu
nguyện của ông. Các Giáo sĩ lúc ấy hay ông chủ đồn điền đã cầu nguyện xin Chúa
mở đường để trên sáu trăm người Thượng làm công trong sở của ông có thể nghe
Tin Lành. Ông cũng cho hay là có bốn làng người Thượng nằm trên khu đất tư của
ông, vì vậy, chính quyền có cấm đoán cũng không được.
Hai Giáo sĩ hết sức mừng rỡ. Họ sắp đặt cứ hai tuần lễ thì có một Truyền đạo
Thượng từ Đà Lạt đến thăm đồn điền. Ông chủ đồn điền lo tất cả phí tổn, đồng
thời cho công nhân nghỉ việc ngày Chúa nhật để nhóm khi có ông Truyền đạo đến
giảng. Như vậy Tin Lành vẫn được giảng ở Djiring mặc dù chính quyền từ chối. Đó
là cách Chúa mở cánh cửa đã bị đóng và giá duy nhất phải trả là số tiền khách sạn
khoảng mười Mỹ kim và thay một bộ phận bị hư trong xe của Giáo sĩ. Vài năm sau,
lệnh cấm của chính phủ được bãi bỏ, một ngôi nhà thờ khiêm tốn liền được dựng
lên ở Djiring.
Song song với đà tiến triển ấy, hội đồng Trung hạt năm 1929 phái ông bà
Truyền giáo Ngô Văn Lái đến bộ lạc Katu ở phía Tây Bắc kinh thành Huế. Viên khâm
sứ đồng ý cho bổ nhiệm, nhưng nói rằng họ chưa được phép giảng đạo ít nhất là
một năm. Ông ta đề nghị họ đến một địa điểm nào đó để học tiếng, cho đến khi
nào quen biết nhiều với dân chúng, lúc ấy có lẽ sẽ được phép thường xuyên. Trước
tình thế như vậy, việc đài thọ phí khoản để mở một trụ sở truyền giáo thật không
có lợi ích gì. Tuy nhiên, vì cảm thấy Chúa dẫn dắt nên ông bà nầy cứ đi đến nơi và
ngụ tại Khe Sanh mấy ngày trước ngày lễ của chính phủ Pháp. Viên chức địa
phương người Việt dự định tổ chức một lễ long trọng, mướn gánh hát bội và mời
tất cả người Katu đến dự.
Nhưng đến ngày lễ, gánh hát bội không đến. Trong khi đó đồng bào Thượng
họp về rất đông. Viên chức ở đây lính quýnh chẳng biết làm cách nào giúp vui cho
họ. Biết tìm ai thay thế? Cuối cùng ông đến mời vị truyền đạo của chúng ta. Qua
trung gian của một người thông ngôn, ông Lái đã giảng kiên tiếp trong ba ngày. Ba
ngày ấy Tin Lành được rao truyền cho dân Katu dưới sự bảo trợ của chính quyền
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]
Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 150
địa phương. Đó chính là một trong những cách Chúa dùng để giới thiệu sứ giả của
Ngài.
Kết quả trong ngày đầu, nhà của vị truyền giáo Việt Nam đã đầy những người
hỏi đạo và trong sáu tháng đã có một số người trong bộ lạc được Chúa biến cải.
Một Hội Thánh nhỏ được thành lập mặc dù vị truyền đạo chưa được phép tổ chức
nhóm họp thường xuyên. Trong khi đó thì các Giáo sĩ cũng tích cực hoạt động
không kém. Họ đã nhiều lần đến thăm một bộ lạc khác tại vùng nầy. Tuy nhiên,vẫn
còn nhiều bộ lạc trong khu vực Huế và xa hơn về phía tây, vẫn chưa được nghe về
danh Chúa Jêsus.
Các Giáo sĩ tại Kratie (Cam-bốt) thì lo cho người Mnông. Bộ lạc Mnông sống
giữa biên thùy Việt Miên và chuyên nghề săn bắn. Có một Giáo sĩ đã chiếm được
cảm tình của họ. Với cây súng, ông bắn được nhiều thú rừng hơn người Mnông chỉ
dùng cung tên. Khi săn được nhiều thịt ông liền đem tất cả cho Thổ dân, nhờ đó
ông được phép đi vào làng của họ. Bằng cách ấy ông có dịp nói về tình yêu thương
của Cứu Chúa và nhiều người đến nghe ông cách thích thú. Vì những làng nầy ở xa
Kratie, nên năm 1933 ông và gia đình được thúc giục trở về Ban Mê Thuột tại đây
có thể bảo là trung tâm của bộ lạc Mnông. Tuy nhiên, Ban Mê Thuột cũng là giang
sơn của những bộ lạc khác nữa. Viên Khâm sứ Pháp sẵn lòng cho mở trụ sở truyền
giáo tại đây và lúc đầu viên chức địa phương cũng tỏ vẻ sốt sắng. Nhưng viên chức
nầy bị đổi đi trước khi vị Giáo sĩ đưa gia đình đến Ban Mê Thuột. Người kế nhiệm
không có thái độ thân thiện với Tin Lành nên ra chỉ thị cấm giảng đạo. Ngoài ra,
việc tìm nhà ở cho các Giáo sĩ cũng bị làm khó dễ đủ cách. Cuối cùng họ phải cất
một nhà tranh để ở cho đến khi về nghỉ hạn. Trong thời gian nầy, Giáo sĩ không
làm được gì khác hơn là tiếp tục học tiếng và phiên dịch ra Thổ ngữ một vài phần
sách Tin Lành.
Đầu năm 1936, khi các Giáo sĩ trở qua thì tình thế đã đổi khác. Chúa đã làm
việc cho họ trong thời gian họ vắng mặt. Một tín đồ Pháp xây một ngôi nhà theo
kiểu tây phương rồi dành cho họ một căn. Lệnh cấm giảng đạo cũng được bãi bỏ.
Con đường trước mắt họ ngày càng mở rộng, họ sẵn sàng phóng những đợt tấn
công mới vào những lực lượng của ma quỷ. Trên cao nguyên ĐăkLăk còn nhiều bộ
lạc, họ tha thiết cầu xin Đức Chúa Trời cho Tin Lành sớm được rao truyền tại những
bộ lạc ấy. Không phải chỉ cho thiểu số nầy mà thôi, nhưng cho cả dân tộc trong
toàn cõi Đông Pháp. Đó là một sứ mệnh quan trọng, không kém phần khó khăn
nhưng họ tin rằng luôn luôn kề cận bên họ có Đức Chúa Trời là Đấng hằng sống.
150
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]