The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-19 19:30:36

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

46 Năm Trong Chức Vụ Mục Sư Lê Văn Thái

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 51

vá lưới. Căn nhà đó ở ngay bờ biển. Đêm đầu tiên tại một nơi vắng vẻ, chỉ có vợ
chồng chúng tôi và cháu Hồng Ân, chúng tôi thắp đèn sáp để cầu nguyện và đọc
Thi Thiên 31. Tôi ghi nhận câu Đa-vít nói để an ủi mình: “Kỳ mạng tôi ở nơi Chúa…
Chúa giấu tại nơi ẩn bí ở trước mặt Chúa, cách xa mưu kế của loài người, Chúa che khuất họ
trong một cái lều cách xa sự tranh giành của lưỡi.”

Chúng tôi yên lặng nhờ cậy Chúa, mỗi ngày cầu nguyện đọc Thánh Kinh, ăn
uống và đi tắm biển. Sau ba tuần lễ, tôi trở về thăm Hà Nội và nhờ bác sĩ khám lại.
Sau khi chiếu điện, ông tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi tôi có uống thuốc gì không, có đi bác
sĩ nào khác không. Tôi trả lời không. Ông bảo như vậy là một phép lạ, vì hai cái lỗ
thủng trong phổi tôi bắt đầu liền lại. Ông chụp hình, rồi sau đó lấy tấm hình trước
và sau đưa lên chỉ cho chúng tôi chỗ đau và chỗ lành. Tạ ơn Chúa. Tôi trở lại Sầm
Sơn nghỉ hai tuần nữa rồi về Hà Nội khám bệnh và chiếu điện lại. Lần này bác sĩ la
lên là bệnh tôi đã lành hẳn rồi, tốt lắm. Lòng tôi hết sức vui thỏa vì biết rằng:
“Không việc gì Jêsus không làm được, không có ai như Ngài.” Tôi xin in hai bức hình
sau đây để minh xác quyền năng chữa bệnh của Chúa.

Bị Bệnh Phổi(1937) Lành Bịnh Phổi (1938) 51

Bởi ơn Chúa, công việc Địa hạt về một khía cạnh đã tiến bộ rất nhiều, tuy
nhiên, chưa phải là thỏa mãn. Hội Thánh cần phải được cải thiện một cách hữu
hiệu hơn về cả hai phương diện thuộc linh và tổ chức. Bởi đó, chúng tôi khởi sự bắt
tay vào việc bằng cách thăm viếng, giảng phục hưng, bố đạo, khích lệ các Mục sư
Truyền đạo rán sức khuyên nhủ tín đồ đọc Thánh Kinh và củng cố nền tự trị tự lập
cho Hội Thánh. Câu Thánh Kinh: “Chúng nó sống và đứng dậy trên chân mình” (Exe
37:10) trở thành câu kinh nhật tụng trong các giai đoạn đó.

Tuy nhiên, muốn xúc tiến chương trình này một cách hữu hiệu, Chủ nhiệm cần
phải có thì giờ, nên năm 1939 Hội Thánh Hà Nội mời ông Trần Văn Đệ làm phó
Mục sư để đảm trách công việc thường xuyên của Hội Thánh. Từ đó, chương trình
của Hội Thánh Hà Nội và chương trình của Địa hạt đều được Chúa ban phước.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 52

Nhà thờ Hội Thánh Hà Nội sau khi trùng tu lần thứ hai, năm 1938 52

Năm 1940, Chủ nhiệm chính thức ra riêng để có đủ thì giờ lo cho Địa hạt. Hội
Thánh Hà Nội mời ông Trần Văn Đệ làm Mục sư. Công việc Chúa đang tiến hành tốt
đẹp bỗng nhiên sức khỏe tôi lại sút hẳn đi. Bác sĩ khuyên tôi cần phải nghỉ ngơi để
bồi dưỡng. Sau thời gian cầu nguyện thăm hỏi ý Chúa, chúng tôi quyết định cứ lo
công việc Địa hạt và giảng lưu hành, nhưng dọn nhà vào Thanh Hóa (1941) để gần
với bãi biển Sầm Sơn, hầu cho tôi vừa làm việc vừa có thì giờ ôn lại bài học năm
1937- nhờ quyền năng của Chúa trừ tiệt bệnh phổi trong tôi. Chương trình này đẹp
ý Chúa, nên công việc Địa hạt được phước nhiều và chúng tôi cũng nhận được
nhiều ơn như lời sứ đồ Giăng nói với Gai-út: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện
cho anh em được thạnh vượng trong mọi sự và được khỏe mạnh phần xác anh
cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy. Vì tôi rất lấy làm vui vẻ
mà thấy anh em đến đây, làm chứng về anh yêu mến lẽ thật, và về cách anh làm
theo lẽ thật ấy thế nào” (IIIGi 1:2-3).

Trong thời gian này việc giảng Tin Lành phát triển mạnh về các vùng quê như:
làng Hoành Nha, Hoàng Nhị (tỉnh Nam Định), làng Khả Cảnh (tỉnh Thái Bình), làng
Hoàng Dương (tỉnh Hà Nam), làng Đồng Yên (tỉnh Hưng Yên), làng Tứ Ky (tỉnh Hải
Dương), làng Thượng Trang (tỉnh Kiến An), làng Thọ Lão, Thượng Mỗ (tỉnh Hà Đông
và Sơn Tây).

Giữa năm 1941 và 1942 quân đội Nhật từ Trung Hoa tràn qua chiếm Lạng Sơn,
nên có nhiều biến chuyển xảy ra. Hội Thánh cần sự có mặt của tôi ở Hà Nội. Chúng
tôi vâng lời thu xếp hành lý lên đường… Một lần nữa, trong tinh thần Áp-ra-ham,
chúng tôi đi mà không biết mình đi đâu.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 53

e) Đảm nhiệm chức vụ Hội trưởng Tổng Liên Hội
Ngày 19-8-1942 Hội đồng Tổng Liên Hội lần thứ mười chín nhóm tại Đà Nẵng,
tôi được đắc cử giữ chức vụ Hội trưởng Tổng Liên Hội, kiêm cả Chủ nhiệm Bắc Hạt.
Tôi sợ hãi không dám nhận vì cảm thấy trách nhiệm quá nặng nề. Chỉ lo cho một
hạt cũng là quá đuối sức rồi nay gánh cả công việc Tổng Liên Hội thì làm thế nào
kham nổi. Chức vụ Hội trưởng lúc bấy giờ phải trách nhiệm cả Đông Dương (gồm
có Nam, Trung, Bắc, Cao Miên và Ai Lao). Tôi hết sức từ nan, nhưng Hội đồng
khuyên tôi nên nhận chức vụ một năm vì ông Mục sư Lê Đình Tươi (đương kim Hội
trưởng) đang thọ trọng bệnh. Không thể làm cách nào khác hơn, tôi phải đứng ra
gánh vác công việc nương cậy ơn và quyền của Chúa. Sau khi cầu nguyện xin Chúa
giúp đỡ, tôi đọc được những lời an ủi này: “Người nào để trí mình nương dựa nơi
Ngài, Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn.”
Sau khi Hội đồng bế mạc, tôi bắt tay ngay vào công việc Tổng Liên Hội. Trong
lúc ngồi trong phòng chờ nhân viên Ban Trị sự đến họp, tôi dở Thánh Kinh và đọc
được những lời khích lệ quý báu này: “Đừng sợ, vì ta ở với ngươi, chớ khinh khiếp vì ta là
Đức Chúa Trời ngươi. Ta sẽ bổ sức cho ngươi, phải, ta sẽ giúp đỡ ngươi” (Es 41:10). Linh hồn
tôi như đượm nhuần sức mới. Tôi cúi đầu thầm nguyện: “Lạy Chúa, vì danh vinh
hiển của Ngài và vì cớ Hội Thánh mà Ngài đã mua chuộc bằng huyết, xin giúp con,
nâng đỡ con, hướng dẫn con như Lời Ngài đã hứa với dân Y-sơ-ra-ên và chọn Gia-
cốp vào công cuộc thuộc hậu tự Ngài. Bởi đức tin con vâng lời Chúa dạy và chỉ
nương nhờ Ngài. Xin Chúa ban ơn và quyền của Ngài trên con, để con làm trọn
công việc lớn và khó mà Hội Thánh đang đợi chờ. A-men!”

53

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 54

CHƯƠNG 3: HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP 54
VÀ GIÁO HỘI TIN LÀNH ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM

Sứ điệp cuối cùng của Đức Chúa Jêsus trước khi Ngài thăng thiên đã được chép
trong Mac 16:15 như sau: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người.” Trải qua
gần hai mươi thế kỷ, mệnh lệnh ấy cũng ngày càng ăn sâu vào tâm thức những
người truyền giáo nói chung và Tiến sĩ A. B. Simpson, người sáng lập nên Hội
Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp (CMA) nói riêng. Ông thiết tha với hoài vọng làm
thế nào đem Tin Lành đến miền đất Việt Nam xa xôi này. Lòng Tiến sĩ A. B.
Simpson chua xót không ít khi nghĩ đến hàng ngày có biết bao nhiêu linh hồn chưa
nhận được ánh sáng của Lời Sự Sống, nối tiếp nhau ngã gục xuống vì cớ tội lỗi.
Đồng một lúc ông cũng nghĩ đến lời cảnh cáo của Thánh Kinh: “Họ chưa tin Ngài thì
kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thế nào mà tin? Lại nếu chẳng ai được sai đi
rao giảng thể nào” (Ro 10:14-15).

Cho nên ông quyết định dân tộc Việt Nam phải được cứu rỗi. Người Việt Nam
phải nhận được ánh sáng của Tin Lành. Khải tượng về một cuộc Truyền giáo tại
Đông Dương đã làm cho tâm hồn Giáo sĩ bùng cháy. Họ không thể thờ ơ nín lặng.
Con đường truyền giáo chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng tất cả đều ý thức
rằng “bàn chân kẻ rao Tin Lành là tốt đẹp.” Nhóm người lãnh đạo Hội Phước Âm
Liên Hiệp một mặt “cầu xin Chúa mở cửa Truyền giáo tại Đông Dương, một mặt
vận động phương tiện và cơ hội để gởi Giáo sĩ sang truyền giáo.

A. QUÁ TRÌNH CỦA HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC ÂM LIÊN HIỆP

1. Giai Đoạn Đầu Tiên Từ Năm 1880-1915

Để quý độc giả có thể hiểu rõ hơn giai đoạn chuẩn bị cho công cuộc truyền
giáo tại Việt Nam, tôi xin trích một đoạn trong quyển WITH CHRIST IN INDOCHINA
của Giáo sĩ E. F. Irwin, một trong những Giáo sĩ tiền phong tại Việt Nam, như sau:

“Tiến sĩ W. M. TURNBULL, Phó Hội trưởng Hội Phước Âm Liên Hiệp đã có lần
nói rằng: Bất cứ nơi nào mà việc truyền giảng bị khóa chặt, nghĩa là một nơi chưa
được nghe rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, thì sẽ thấy Giáo sĩ thuộc Hội Phước
Âm Liên Hiệp đến đóng trại trước ngạch cửa để chờ đợi, hễ có cơ hội là bước vào,
câu nói đó rất đúng với trường hợp nước Việt Nam. Tại Đông Dương thuộc Pháp,
Việt Nam là mục tiêu đầu tiên của Tiến sĩ A. B. Simpson ngay từ khi ông mới sáng
lập Hội Phước Âm Liên Hiệp. Các Giáo sĩ của Hội Phước Âm Liên Hiệp ở miền Hoa
Nam (Trung Hoa) luôn luôn hướng tầm mắt vào Việt Nam.”

Năm 1887 Tiến sĩ A. B. Simpson đã viết trong tờ tạp chí “Word and World” như
vầy: Miền Bán đảo Đông Nam Á đã bị lãng quên từ lâu. Quốc gia Việt Nam cần
được soi sáng Tin Lành của Đấng Christ. Tại sao những người phục vụ Chúa không

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 55

đặt Việt Nam ngang hàng với Tây Tạng, thiết lập chiến trường thuộc linh mới, hầu 55
tranh thủ nhiều linh hồn tội nhân về với Ngài.

Mùa hè năm 1893, Tiến sĩ David Leclaccheuz, cộng sự viên của Tiến sĩ A. B.
Simpson đến thăm Sài Gòn. Trên đường về ngang qua Tân Gia Ba, ông gặp Tiến sĩ
Simpson và cho biết cánh cửa tại Việt Nam cũng như toàn xứ Đông Dương thuộc
Pháp đã mở cho việc giảng Tin Lành. Bắt đầu từ đó, danh từ Việt Nam như đã nhập
tâm Tiến sĩ Simpson, trong các thư từ và tác phẩm của ông đều nhắc đến Việt
Nam. Năm 1894, trong một bài xã thuyết đăng trên tuần báo “Christian Alliance
and Foreign,” ông cho rằng Sudan, Tây Tạng và Việt Nam là ba địa hạt truyền giáo
quan trọng chưa được khai thác để quy sự vinh hiển về cho Cứu Chúa.

Tuy nhiên, mãi đến năm 1897 mới chỉ có một Giáo sĩ của Hội Phước Âm Liên
Hiệp được phép bước chân vào Đông Dương thuộc Pháp để thăm viếng và chỉ vỏn
vẹn thăm viếng mà thôi, không được truyền giáo. Đó là Giáo sĩ C. H. Reeves, từ
Long Châu vượt biên giới Hoa Nam (Trung Hoa) vào Bắc Kỳ rồi đến Lạng Sơn. Khi
trở về ông đã phúc trình với giáo hội: “Tôi được các sĩ quan và binh sĩ Pháp tiếp đãi
rất lịch sự. Họ ở đây (binh sĩ Pháp) rất đông, nơi nào có độ một trăm người dân thì
có một đồn lính. Trong suốt thời gian ở Bắc Kỳ, tôi được các binh sĩ Việt Nam và
Pháp hộ tống.”

Năm 1889, Giáo sĩ R. A. Jaffray tuy là tân Giáo sĩ ở Hoa Nam, nhưng lại đóng
một vai trò rất đắc lực trong việc mở mang rao giảng Tin Lành tại Đông Dương.
Giáo sĩ R. A. Jaffray cũng vượt biên giới Hoa Việt theo cách của Giáo sĩ Reeves, đi
tàu thủy theo sông Hồng Hà xuống tận thủ đô Hà Nội. Nhưng ông cũng chưa đặt
được điểm tựa nào cho công cuộc truyền giáo. Năm 1901 về nghỉ hạn ở Mỹ Quốc,
ông tìm gặp ông bà Lylvan Dayan người Gia Nã Đại thuộc Pháp, với hy vọng đề cử
ông bà này sang Việt Nam, vì người nói tiếng Pháp vào xứ thuộc Pháp dễ dàng hơn
người nói tiếng Anh. Sau đó Hội Truyền giáo sai phái ông bà Lylvan Dayan qua Việt
Nam. Năm 1902 họ vào hải cảng Hải Phòng với kế hoạch nhằm mở một trụ sở
giảng Tin Lành tại Bắc Kỳ, nhưng không gặp thời, năm sau họ phải trở lại Hoa Nam.

Năm 1905 tỉnh Long Châu được địa hạt Hoa Nam dùng làm trung tâm truyền
giáo. Họ hy vọng trạm nầy có thể dùng làm bàn đạp để đưa Tin Lành vượt biên giới
Hoa Việt vào miền Bắc Việt Nam. Nhưng về sau Hội Truyền giáo nhận thấy cách
nầy chỉ có thể giảng Tin Lành cho những người di cư sang lập nghiệp ở Trung Hoa,
chứ không giảng trực tiếp cho dân tộc Việt Nam được. Vả lại người Pháp cũng
không thích để Hội Truyền giáo đi vào cửa sau bằng cách ấy, nên họ đã cho phép
Giáo sĩ vào một trong các hải cảng lớn ở Việt Nam.

Mùa xuân năm 1911 một cuộc hành trình mới bắt đầu cho các Giáo sĩ. Các ông
R. A. Jaffray, Paul M. Hosler và G. Lloyd Huglers đến hải cảng Tourane, ở Trung
Phần Việt Nam. Họ mua được một sở nhà góc đường Khải Định, số 66 và đường

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 56

Nguyễn Hoàng, số 67 để làm trụ sở truyền giáo. Đây là trụ sở đầu tiên của Hội 56
Truyền giáo Phước Âm Liên Hiệp tại Việt Nam. Sau khi hoàn tất công tác họ trở lại
Hoa Nam. Ông R. A. Jaffray không được phép làm Giáo sĩ thường xuyên tại Việt
Nam, nên tất cả hy vọng đều đặt nơi hai ông Hosler và Huglers. Nhưng đến mùa hè
năm ấy (1911) ông Huglers được gọi về Nữu Ước để lãnh nhiệm vụ cao trọng hơn,
nên chỉ còn Giáo sĩ Hoslers trở lại Đông Dương một mình. Ông Hosler khởi sự học
tiếng Việt và cũng đồng thời bắt đầu giảng Tin Lành.

Câu chuyện lý thú sau đây tỏ ra ơn dự bị của Chúa và óc sáng kiến của đoàn
truyền giáo tiền phong, nhờ đó mà ông R. A. Jaffray và các bạn không trễ mất hai
tuần lễ tăng thêm tổn phí ăn ở tại Tourane sau khi hoàn tất công tác.

Số là chiếc tàu thủy chở thư của Pháp chạy thường xuyên giữa Pháp Quốc và Á
Đông cứ hai tuần lễ ghé lại Tourane một lần. Khi đã làm xong nhiệm vụ, các Giáo sĩ
được biết sắp có chuyến tàu sắp ghé Tourane rồi đi Hồng Kông, nên họ sắp đặt
mua vé để đi chuyến tàu ấy. Họ được báo tin tàu nhổ neo vào buổi chiều. Họ cũng
được cho biết chắc rằng họ có đủ thì giờ để ăn trưa. Xin nói rõ là tại hải cảng
Tourane lúc đó các tàu lớn thường đậu cách bờ chừng năm cây số. Hành khách ra
vào bằng xà-lúp. Và từ chỗ xà-lúp đậu đến chỗ các Giáo sĩ ăn trưa là ba cây số.

Vào khoảng mười một giờ trưa họ bỗng ngạc nhiên nghe tiếng còi tàu nên chạy
ra nhìn về phía hải cảng thì thấy chiếc tàu đang sửa soạn nhổ neo. Họ liền gọi xe
kéo chạy đến cầu tàu thì chiếc xà-lúp đã đi rồi. Các Giáo sĩ nhìn quanh tìm phương
cách để ra tàu. Họ thấy chỉ còn một cách là mướn chiếc thuyền gỗ. Muốn bắt kịp
chiếc tàu đã nhổ neo mà làm cách này thật khốn đốn không ít. Nó chỉ là một chiếc
thuyền nhỏ có gió thì chạy bằng buồm, không gió thì chèo. Lúc đó trời đứng gió
mà nước thủy triều lại ngược, tuy nhiên, họ cố gắng đi, vì ông Jaffray thường có một
câu châm ngôn là: “Tôi đi đúng đường thì Chúa sẽ giúp đỡ và dẫn dắt tôi.” Trong
khi họ hơi tuyệt vọng vì chiếc thuyền quá chậm chạp, thì chiếc xà-lúp quay trở lại
bờ. Họ ra dấu xin trả năm đồng nhờ đưa tàu. Người trên xà-lúp thấy họ là người da
trắng, hơn nữa cũng có ít tiền trà nước nên bằng lòng. Nhưng khi các Giáo sĩ qua
xà-lúp thì gặp một trở ngại khác làm cho họ gần tiêu tan hy vọng vì chiếc tàu đã nổ
neo mà xà-lúp lại thiếu hơi không thể chạy nhanh. Tiếng còi càng lúc càng nhỏ
dần. Họ nghĩ rằng chỉ còn có quyền năng của Chúa giúp đỡ mới hy vọng kịp tàu.
Thế rồi họ phân công nhau, ông Huglers xuống hầm xúc than cho vào lò để có
thêm sức nóng, ông Hosler quỳ gối cầu nguyện, ông Jaffray ngồi kéo còi xà-lúp.
Công việc của họ lúc đó chẳng khác nào những người xây vách thành Giê-ru-sa-lem
trong đời Ê-xơ-ra.

Khi viên thuyền trưởng trông thấy chiếc xà-lúp có cắm cờ Pháp của viên công
sứ thành phố Tourane phóng theo hết tốc lực và tiếng còi ré vang ông tưởng là có
việc gì quan trọng nên cho tàu dừng lại. Khi chiếc xà-lúp đến sát mạn tàu, một
chiếc thang thả xuống. Ba Giáo sĩ bước lên trình bày cái vé hạng nhì trước vẻ ngạc

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 57

nhiên tột độ của viên thuyền trưởng. Riêng đối với ba Giáo sĩ, đó là việc Đức Chúa 57
Trời bắt chiếc tàu dừng lại cho họ đi đúng với chương trình đã định.

Lúc mới mở khu vực truyền giáo, Việt Nam được coi như là chi nhánh của Hoa
Nam (Trung Hoa). Bốn năm sau (1915) ông Tổng thư ký ngoại vụ truyền giáo là Tiến
sĩ H. Glover đến thăm Đông Dương và khi số Giáo sĩ ở Việt Nam được chín người,
họ liền mở một nơi giảng là Faifo (Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam, ở phía Nam Đà
Nẵng).

Sau đó, một Hội đồng khu vực truyền giáo ở Việt Nam được tổ chức. Giáo sĩ
Issac Hess chủ nhiệm của trụ sở truyền giáo Hoa Nam được bầu làm chủ nhiệm địa
hạt mới này. Thành phần các Giáo sĩ được phân phối như sau. Bốn người ở tại
Trung Kỳ lo cho cơ sở Tourane và Faifo, năm người đi Bắc Kỳ lo cơ sở mới, trước
tiên là Hải Phòng rồi đến Hà Nội.

Việc tổ chức tạm hoàn tất. Hầu hết các Giáo sĩ đều biết nói tiếng Việt bập bẹ và
sẵn sàng đem ánh sáng Tin Lành vào những vùng tối tăm. Nhưng mọi sự không
phải dễ dàng đâu, vì đúng như Lời Thánh Kinh: “Chúng ta đánh trận không phải
cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế
gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở miền trên trời vậy.” Cho nên khi các Giáo sĩ
rộn rịp trang bị, thì Satan cũng bận rộn không kém.

Vào khoảng đầu thế chiến thứ nhất (1914). Chính quyền Pháp rất nghi ngờ
những người ngoại quốc ở Đông Dương. Giáo sĩ luôn luôn bị mật thám theo dõi và
các cuộc giao thiệp với người bản xứ đều bị canh chừng chặt chẽ. Sự kiện này riêng
đối với cá nhân đoàn truyền giáo không có nghĩa gì, vì họ không có gì để giấu diếm
cả, chỉ công bố Tin Lành cứu rỗi của Chúa Jêsus thôi. Tuy nhiên, ngay lúc đầu tình
trạng không được tốt đẹp, kẻ thù của Tin Lành tung ra nhiều tin đồn thất thiệt rất
tai hại. Họ bảo các Giáo sĩ là gián điệp của Đức Quốc, lời vu khống ấy càng được tô
đậm hơn khi có một Giáo sĩ sinh tại Đức Quốc. Sự thật ông ấy là công dân Hoa Kỳ,
đã rời bỏ nước Đức đến Hiệp chủng quốc sinh cơ lập nghiệp với cha mẹ từ thuở ấu
thơ. Nhưng người Pháp lúc bấy giờ không cần tìm hiểu lai lịch cặn kẽ, khi xét giấy
thông hành thấy ông sinh tại Đức thì cho ông là gián điệp. Nhiều người khác, dù là
công dân Hoa Kỳ chính cống, nhưng nếu mang một cái tên có vẻ Đức thì sớm
muộn cũng bị nghi ngờ.

Hậu quả của sự ngờ vực ấy là sắc lệnh cấm các Giáo sĩ hoạt động truyền giáo
giữa người bản xứ, do Toàn quyền Đông Dương ký vào tháng chạp năm 1915. Các
nhà thờ bị đóng cửa. Các Giáo sĩ có tên trong sổ bìa đen phải lập tức rời khỏi Việt
Nam. Do đó có bốn trong số chín người phải đi. Còn lại năm người cũng không
được phép tiếp tục hoạt động nữa. Ngoại cảnh lúc đó thật đen tối, nhưng các Giáo
sĩ luôn luôn nhớ Lời Chúa phán: “Nầy ta thường ở cùng các ngươi luôn,” nên không
nản chí sờn lòng…

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 58

2. Giai Đoạn Thứ Hai Từ Năm 1915-1929 58

Sau khi sắc lệnh trên đây được ban hành, việc truyền giảng Tin Lành trở nên
khó khăn hơn. Chính quyền Pháp Việt luôn luôn rình rập các Giáo sĩ. Họ quyết tâm
làm thế nào ngăn trở không cho Tin Lành truyền bá ở Việt Nam và Đông Dương
bằng cách dựa vào Hòa ước Việt-Pháp ký ngày 6-6-1884, trong đó có khoảng cho
phép giáo hội La Mã truyền giáo tại Việt Nam. Mặc dù hòa ước ấy không đá động gì
đến giáo hội Tin Lành, nhưng họ lý luận cách méo mó là cho phép giáo hội La Mã
truyền giáo có nghĩa là không cho phép Giáo hội Tin Lành vì chỉ cho phép một
mình Giáo hội La Mã mà thôi. Thâm ý của họ là muốn bóp nghẹt Tin Lành cứu rỗi,
nhưng ý định đó không thành, vì một số người tin nhận Tin Lành đầu tiên - bởi Đức
Thánh Linh - đã làm ứng nghiệm những Lời đã được chép trong Thánh Kinh: “Nhưng
hễ ai nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời là ban cho những
kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục hoặc bởi ý người,
nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời” (Gi 1:12-13). Đức tin của họ rất vững chắc. Tôi xin trích
một đoạn nói về “Đức tin của tín đồ đầu tiên” trong quyển ĐẤNG CHRIST TẠI
ĐÔNG DƯƠNG của cụ Irwin để được chứng thực điều ấy: Đức tin tín đồ đầu tiên rất
lớn nơi Đức Chúa Trời. Họ lìa bỏ hình tượng và sự sợ hãi đối với ma quỷ để trở về
thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng Hằng Sống. Chúng ta (các Giáo sĩ) cần phải có
đức tin như vậy đối với Chúa.”

Người Việt Nam biết và tin có ma quỷ. Khi đã tiếp nhận Chúa họ vẫn còn tin và
biết có ma quỷ, nhưng họ biết rằng Đức Chúa Jêsus đã chiến thắng ma quỷ. Ngài
lớn hơn bất cứ tà thần nào nghịch với tín đồ. Đức tin ấy xứng hiệp với lời của thánh
Giăng đã nói: “Đấng ở trong anh em lớn hơn kẻ ở trong thế gian.” Người tín đồ đầu
tiên tin những lời ấy, nên họ không sợ Satan và không thờ lạy nó nữa. Họ chỉ tin
cậy vào quyền năng của Chúa Jêsus.

Những việc lạ lùng như đã chép trong sách Công Vụ thường xảy ra giữa chúng
ta. Không phải đức tin của các Giáo sĩ, mà là bởi đức tin của những “hài nhi Việt
Nam này trong Đấng Christ.” Đó là những người mới tìm được Cứu Chúa duy nhất,
Đấng có quyền lớn hơn ma quỷ - kẻ thù của họ.

Một lần nọ, có một tín đồ chưa chịu báp-tem, đến cho Giáo sĩ hay là con gái
của ông đang hấp hối, thầy thuốc đã bó tay, không còn hy vọng gì nữa. Ông xin
Giáo sĩ cầu nguyện cho con gái mình. Giáo sĩ bảo: “Chúng tôi sẽ đến nhà ông.”
Nhưng ông ta đáp: “Không cần đến nhà, chúng ta cầu nguyện tại đây, Chúa sẽ làm
việc ở đó.” Rồi ông nhắc lại câu nói thầy đội trưởng thưa với Chúa Jêsus như sau:
“Xin thầy chỉ phán một lời thì đầy tớ tôi sẽ lành.” Cầu nguyện xong ông đi làm việc
(ông ta là thư ký của sở Hỏa xa). Trưa về đi ngang qua nhà Giáo sĩ nhưng ông
không ghé lại. Qua ngày sau cũng thế, đi làm rồi về thẳng nhà. Giáo sĩ rất phân vân
không biết tình trạng của em bé ra sao. Sự phân vân đó chứng tỏ đức tin của Giáo
sĩ và đức tin của “hài nhi trong Christ” thật quá cách biệt. Với năm ba khúc sách

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 59

Tin Lành, người tín đồ này có đủ đức tin để tin rằng quyền năng của Chúa từ trước 59
đến giờ vẫn sung mãn không hề thay đổi. Vị Giáo sĩ trên đây thì trái lại, rất băn
khoăn, cuối cùng phải ra đường đón ông tín đồ để hỏi thăm em bé ra sao. Người
tín đồ tỏ vẻ rất ngạc nhiên đáp: “Nó khỏi hẳn rồi, ông không biết sao? Tôi tưởng
khi lấy đức tin cầu nguyện thì ông biết chắc cháu đã được chữa lành rồi chứ.”

Giai thoại trên đây cho chúng ta một khái niệm về đức tin. Vâng, “đức tin là sự
biết chắc của những điều mình chưa xem thấy.” Với lòng tin tưởng đơn sơ nhưng
chân thật ấy mà có nhiều người đau yếu được chữa lành, nhiều kẻ bị tà ma ám ảnh
được đuổi ra khỏi, nhiều người điên, bởi quyền năng của Chúa được bình thường.
Nhiều phép lạ đã được tỏ ra trong vòng Hội Thánh đầu tiên.

Trở lại vấn đề truyền giáo của Hội Phước Âm Liên Hiệp tại Việt Nam, chúng ta
có cớ để ngợi khen sự thành tín của Chúa và lòng hăng say hoạt động của các Giáo
sĩ tiền phong. Giai đoạn dò dẫm nghi ngờ của chính quyền Pháp và của Hoàng
triều đã qua. Bắt đầu từ năm 1916 việc cấm đạo đã bớt khắc nghiệt. Các Giáo sĩ
xung phong hoạt động trở lại tại các tỉnh miền duyên hải và các đô thị nhượng địa
như Tourane, Hải Phòng, Hà Nội. Bằng mọi cách họ quyết đem Tin Lành ánh sáng
của Lời Sự Sống vào những vùng tăm tối của quốc gia Việt Nam.

Ngôi nhà thờ nhỏ bé bằng tranh cất năm 1913 tại Tourane đã xơ xác mái,
nhưng những người tin Chúa lúc ban đầu vẫn vững vàng, trầm lặng lớn lên trong
đức tin. Giáo sĩ mặc dù được phép trở lại Việt Nam nhưng mọi hoạt động của họ
đều bị hạn chế. Họ chỉ được tự do rao giảng Tin Lành trong thành phố Đà Nẵng
thôi, không được ra khỏi Châu Thành. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh đã làm một việc
rất lạ, là khi nhà thờ ở Châu Thành được mở cửa lại thì dân chúng trong các vùng
ngoại ô đến nghe giảng rất đông, viên thị trưởng thành phố Đà Nẵng lúc bấy giờ tuy
là người Pháp nhưng rất có thiện cảm với các Giáo sĩ, ông đã dùng hết quyền hạn
của mình để giúp đỡ cho việc truyền giảng Tin Lành được kết quả tốt đẹp.

Lúc bấy giờ tuy các Giáo sĩ đã nói tiếng Việt khá hơn nhưng vẫn chưa có thể
giảng một cách thông suốt, do đó khó lôi cuốn được thính giả. Viên thị trưởng đã
phải giúp đỡ bằng cách ra lệnh cho Cảnh sát trưởng hễ khi nào thấy nhà thờ mở
cửa thì giúp đồng bào vào nghe giảng. Thật Chúa đã dự bị mọi cách để phát triển
Tin Lành trong giai đoạn nầy. Ngài cũng đã sửa soạn và trang bị cho mọi người,
ngay khi ông này còn là tín đồ ngoại giáo, trở nên môn đồ đắc lực lúc bấy giờ. Đó
là vị giáo sư riêng của các Giáo sĩ. Ông thuộc gia đình khá giả, đã theo học chữ Hán
mười lăm năm, nên rất quen thuộc với các pho sách Hán học. Môn thuyết giáo học
mà ông có dịp nghiên cứu rất kỹ trước khi trở thành môn đồ Đấng Christ đã giúp
ông rất nhiều trong chức vụ hầu việc Ngài.

Lúc đầu ông dạy tiếng Việt cho các Giáo sĩ, đến khi trở nên tín đồ và quyết
dâng mình hầu việc Chúa thì các Giáo sĩ lại giúp ông làm bố cục bài giảng để giảng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 60

trong các buổi nhóm họp. Ông là nhà truyền đạo đầu tiên gây dựng công việc Chúa 60
tại Đà Nẵng. Mỗi buổi nhóm do ông chủ tọa đều có rất đông người đến dự, trong
số đó cũng có rất nhiều nhà trí thức. Tâm trạng của họ chẳng khác nào tâm trạng
của người Pha-ra-si trong thời Chúa Jêsus. Họ thích đặt nhiều câu hỏi “hiểm hóc”
để hạ nhục Chúa. Nhưng bao giờ họ cũng giải đáp cách dễ dàng và thỏa đáng. Kết
quả là những người tự kiêu, những kẻ hay chế nhạo lần lần thức tỉnh phục thiện,
bằng lòng cầu nguyện tin nhận Chúa. Sau ba tháng làm việc như vậy, Chúa đã đồng
công nên có mười tám người trở lại với Ngài và cũng từ đó Hội Thánh Tourane
được khai sinh. Nơi đây cũng là chi hội tự trị tự lập đầu tiên của Hội Thánh Tin
Lành Việt Nam kể cả Đông Dương.

Trong số hơn hai mươi thuộc viên của Hội Thánh bé nhỏ đầu tiên này, có bốn
người thuộc hoàng tộc Việt Nam, ba người là phán sự của chánh phủ Pháp và ba
người là nhân viên quan thuế. Nhắc lại việc này, chúng tôi không có ý phân biệt
giai cấp, vì những nhân vật này về sau có liên quan mật thiết với những biến
chuyển dồn dập của Hội Thánh.

Hội Thánh Chúa tại miền Trung phát triển rất mau. Số tín đồ tăng gấp đôi hằng
năm và chẳng bao lâu thì số tín đồ tại Tourane và các vùng lân cận lên đến số một
ngàn người. Thật chẳng khác nào cơn DỊCH TIN LÀNH truyền nhiễm vậy. Người tín
đồ Tin Lành đi đến đâu thì có những cuộc thảo luận về Tin Lành đến đó. Phong
trào truyền giáo Tin Lành lúc bấy giờ hết sức sôi nổi. Hầu hết những ai chăm chú
thảo luận đều bị quyền năng Chúa bắt phục trở lại tin nhận Ngài.

Trong số tín đồ mới đó có một cụ bà thuộc gia đình khá giả ở Tourane. Bà cụ
này vốn là một nhà kinh doanh đã gầy dựng rất nhiều sản nghiệp. Lúc đầu nghe tin
các Giáo sĩ muốn mở một chi nhánh trong thành phố gần nhà bà cư trú để giảng
đạo. Sẵn có một miếng đất muốn bán nên bà thường tới lui giao thiệp với các Giáo
sĩ nhưng việc không thành, vì Giáo sĩ xin được một miếng đất tại làng Hải Châu
(quê hương của chúng tôi). Bù lại, bà được Chúa bắt phục để trở nên môn đồ Ngài
cách lạ lùng. Mặc dù gia đình cực lực phản đối nhưng bà cương quyết trung tín,
nhờ cậy Chúa đổi mới đời sống. Chẳng bao lâu cụ đưa cả gia đình hai mươi lăm
người gồm con trai, con gái, nàng dâu và các cháu chắt trở lại với Chúa. Những
người nầy sau khi lìa bỏ đời sống cũ liền hăng hái xông pha vào chiến trường thuộc
linh để làm chứng quyền năng của Chúa dẫn đưa những người khác đến với Ngài.
Chiến thuật “vết dầu loang” đã được áp dụng hết sức tự nhiên với tất cả nhiệt
thành nóng cháy. Do đó, có người cho rằng Tin Lành là một thứ Đạo “Cứu rỗi
truyền nhiễm.” Và cũng vì thế mà Tin Lành được truyền ra cách nhanh chóng và kết
quả mỹ mãn.

Trong số những người tin nhận Chúa đầu tiên, cũng có một người trước kia làm
nghề phù thủy. Ông ta cũng là thủ từ tại một ngôi miếu trong làng. Một ngày nọ,
ông cùng một số dân làng đến nhà nghe giảng Tin Lành, và sau khi nghe giảng, ông

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 61

chất vấn cặn kẽ về lẽ đạo cứu rỗi. Cuối cùng ông tin nhận Chúa trong khi đang say 61
rượu. Giáo sĩ nghĩ rằng hột giống khó bề bắt rễ trên miếng đất chưa sửa soạn này.
Nhưng ít lâu sau, ông được Chúa dạy dỗ và lần lần hiểu biết chân lý cứu rỗi. Ông
khởi sự làm chứng cho dân làng về quyền phép của Chúa Jêsus, trừ ma đuổi quỷ rất
phi thường hơn hẳn phù thủy. Đồng thời ông cũng chứng tỏ cho mọi người thấy
hình tượng chỉ là những vật vô tri không có quyền năng chi cả! Dân làng thách thức
ông phá hủy một hình tượng, ông không do dự đập bễ hàng loạt bỏ nằm ngổn
ngang mà không hề sợ hãi. Dân làng chờ đợi một hình phạt của thần thánh giáng
trên ông ta, nhưng một tháng qua ông vẫn khỏe mạnh và đời sống cảm thấy hạnh
phúc hơn bao giờ hết. Dân làng rất lấy làm lạ và từ chỗ ngạc nhiên ấy họ bắt đầu
thay đổi thái độ đối với ông. Chẳng bao lâu ông đưa đoàn đại biểu dân làng đến
nhà giảng, trong đó có viên Lý trưởng và các hào mục chức sắc. Những người này
thành thật xác nhận là họ đã nhận thấy bằng cớ chứng tỏ là Chúa Jêsus có quyền
năng hơn ma quỷ và thần tượng, hơn nữa nếp sống của người tín đồ Tin Lành rất
xứng đáng nên họ đến để tin nhận Chúa. Sau đó ít lâu, vị phù thủy này tình nguyện
theo học trường Thánh Kinh ở Tourane và trở nên một trong số những Mục sư đầu
tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

Ngoài ra còn có những năng lực đức tin rất lớn lạ trong Chúa, coi sự chết và
nghĩa địa là cái cửa trần gian bước vào thiên đàng. Một trong những dẫn chứng là
câu chuyện một chàng thanh niên mới trở lại tin Chúa tại Tourane. Người trai trẻ
này sau khi tin nhận được ân cứu rỗi, đã sống một đời sống mới, hàng ngày rất
ham mến Lời Chúa. Người quyết tâm dâng đời mình đi học Thánh Kinh với ý
nguyện trở thành con gặt. Nhưng bởi ý Chúa, sau một cơn bệnh sơ sài người qua
đời cách bất ngờ. Trước khi từ giã cõi đời, nét mặt người tươi sáng lạ thường, nói
năng bình thản như một người sắp đi xa, căn dặn vợ ở nhà hãy trung tín với Chúa:
“Tôi về với Chúa trước, rồi mình sẽ về sau – đừng buồn, nên vui mừng đón chào sự
chết.” Sau đó từ giã những người thân yêu, và anh em tín đồ với một giọng rất tự
nhiên: “Cửa thiên đàng đã mở, tôi đi.” Rồi tắt thở như người ngủ. Đám tang cử
hành theo nghi lễ Hội Thánh, có nhiều người đồng hương đến dự. Đấy là lần đầu
tiên họ chứng kiến một đám tang bao hàm ý nghĩa hy vọng chứ không phải tuyệt
vọng. Quan niệm nầy thật đúng như lời Phao-lô đã nói: “Đối với tôi sống là Đấng
Christ, và chết là ích lợi.” Người Cơ Đốc tin chắc sự chết chỉ là ngưỡng cửa bước
vào một cuộc sống mới bình an và không còn đau khổ. Sự chết chính là niềm sung
sướng cho những người trong Chúa, vì chết trong trường hợp nầy không có nghĩa là
vĩnh biệt mà là còn hy vọng để gặp lại nhau theo lời hứa của Thánh Kinh: “Trong
Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại”(ICo 15:22). Ngày xưa, ý nghĩa của cái chết như là
một đổ vỡ, tuyệt vọng, nhưng hiện nay trong Chúa, chết là phương tiện để được
sống. Sau đám tang nầy, có bốn mươi bốn người trong vòng bà con của chàng
thanh niên trở lại tin nhận Chúa.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 62

Lúc bấy giờ, những người Tin Lành đi đến đâu thì Tin Lành cứu rỗi như dồn đến 62
đó. Chỉ trong thời gian ngắn, một nhà thờ bằng tranh hoặc ngói sẽ mọc lên. Nhất
là trong các vùng Hòa Vang, Duy Xuyên, Đại Lộc và Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam.
Mặc dù các Giáo sĩ bị cầm chân trong các thành phố nhượng địa, nhưng Tin Lành
vẫn được truyền ra vì mỗi tín đồ là một chứng nhân đắc lực. Họ trung tín nhóm lại
thờ phượng Chúa mỗi Chúa nhật, sau đó trở về làng làm chứng ơn Chúa đưa dắt
nhiều gia đình đồng bào đến với Ngài. Làn sóng Tin Lành mạnh như thác lũ. Cách
ăn nết ở của tín đồ là những bài giảng sống đầy năng lực biện chứng cho đức tin.
Chỉ một thời gian ngắn tiếng nói của Tin Lành đã lan rộng toàn tỉnh Quảng Nam và
các vùng lân cận. Lửa Thánh Linh bùng cháy trong lòng mỗi cá nhân tín đồ. Ánh
sáng đã bừng lên trong đêm tối...

3. Tin Lành Trong Những Cơn Bắt Bớ.

Ánh bình minh vừa ló dạng thì những áng mây mù cũng lần lượt kéo đến mịt mù
trên nền trời giáo hội Việt Nam. Giữa những năm 1926-1928 nhà cầm quyền ra mặt
bắt bớ Tin Lành tại miền Trung, nhất là tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Định, Khánh Hòa. Viên Tổng Đốc tỉnh Quảng Nam ra lệnh triệt hạ một nhà thờ
đang xây tại huyện Quế Sơn trong khi anh em tín đồ đang sửa soạn lợp mái. Ông
truyền đạo có trát đòi đến huyện đường rồi sau đó được giải đến viên Công sứ tại
Faifo (Hội An) để thẩm vấn, ông đã bị làm khó dễ đủ điều. Đầu tháng 5, 1928 các
ông Mục sư Ông Văn Huyên và Truyền đạo Đặng Ngọc Cầu sau khi tốt nghiệp
trường Thánh Kinh liền đến cù lao Lý Sơn (tức cù lao Ré) để làm chứng và phân
phát Lời Chúa cũng bị viên Tổng Đốc Quảng Nam ra lệnh bắt đưa về giam ở nhà lao
Quảng Ngãi, sau đưa về nhà giam Quảng Nam với bản án ba tháng tù ở, vì lý do vi
lệnh. Nhưng hai ông đã bị giam hai tháng trước rồi nên tháng thứ ba được phép trả
tiền thục để ra.

Biến cố nặng nề nhất và cũng làm chấn động dư luận nhất là vụ cụ Mục sư
Phan Đình Liệu bị bắt tại Nha Trang Thành ( Khánh Hòa). Lúc đó toàn tỉnh Khánh
Hòa chỉ có một nhà giảng, thuê tại Nha Trang Thành và số tín đồ chỉ vỏn vẹn có ba
gia đình. Cụ mục sư Phan Đình Liệu đi làm chứng và thăm tín đồ, viên Tuần Vũ liền
cho lính bắt giải về nguyên quán ở tỉnh Quảng Nam. Tại đó, trước mặt các viên
chức chính quyền, cụ mạnh dạn đứng lên tự biện hộ cho mình. Cụ đã trình bày rõ
ràng về mục đích hoạt động của cụ chỉ nhằm làm chứng Tin Lành cứu rỗi và tình
yêu thương của Đức Chúa Trời đối với thế gian. Chính Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế,
bằng lòng chịu chết trên cây thập tự giá vì tội mọi người, nên hễ ai tin nhận Ngài
tức khắc trở nên người mới, thoát khỏi xiềng xích tội lỗi.

Thấy không có lý do để buộc tội cụ, họ liền thả cụ ra với lời đe dọa “không nên
giảng đạo nữa.” Nhưng khi về đến Nha Trang Thành cụ lại tiếp tục hoạt động rao
truyền ơn cứu rỗi và hăng hái làm chứng về Chúa Jêsus. Nhà cầm quyền càng căm
tức nhất là viên Tuần Vũ tỉnh Khánh Hòa nên tìm cách bắt và đưa về giam tại nhà

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 63

giam Nha Trang với bản án sáu tháng tù ở cũng vì lý do vi lệnh. Họ đối xử với cụ
như những thường phạm và hơn nữa cố bạc đãi như một trọng phạm để làm nhục
cụ. Nhưng cụ Mục sư Phan Đình Liệu chẳng buồn phiền chi cả, trái lại rất thản
nhiên vui sống với tất cả các tù nhân và tìm dịp làm chứng Tin Lành cho họ. Cụ sẵn
sàng làm tất cả những công việc nặng nhọc lao khổ mà chẳng hề phản đối.

Nơi giam giữ cụ Mục sư Phan Đình Liệu, ảnh của cụ ở góc trên 63

Nhưng cái tin một vị Mục sư bị kết án sáu tháng tù ở vì cớ giảng Tin Lành từ
miền Trung lan ra chẳng những làm xôn xao tín đồ Tin Lành tại Việt Nam mà còn
làm chấn động tín đồ Tin Lành thế giới nhất là tín đồ Tin Lành Pháp. Nhân dịp nầy
cụ Phan Nhứt Thuyên, một tín đồ Tin Lành ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam có
sáng tác một bài thơ như sau:

“Ma tha quan bắt nghĩ mà phiền
Cái kiếp phong trần khéo đảo điên

Hai chữ Tin Lành Âu, Á cũng,

Một cơn sấm sét đất trời riêng.

Nhớ ơn cứu rỗi quên gươm súng,
Nặng gánh yêu thương nhẹ xích xiềng.

Dầu tội dầu tù tuy cũng sướng,

Còn hơn nạn Phật với tai Tiên.”
Phan Nhứt Thuyên

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 64

Trong khi đó thì cụ Mục sư Phan Đình Liệu vẫn bình thản sống trong lao tù. Cụ 64
vui sướng được dự phần trong sự thương khó của Đấng Christ. Cụ không quên câu
chuyện Phi-e-rơ bị giam trong tù và sự cầu nguyện thiết tha của Hội Thánh. Cụ tin
chắc Hội Thánh đang cầu nguyện cho mình, do đó hằng ngày cụ kiên nhẫn làm
chứng về tình yêu thương của Đức Chúa Trời và ân sủng của Chúa Jêsus cho từng
tù nhân trong khám. Kết quả có mười chín người trong lao tin nhận Chúa, cụ sửa
soạn lập một Hội Thánh trong nhà giam. Việc đó đã làm cho nhà cầm quyền căm
tức hơn nhưng đồng thời điều đó cũng chứng tỏ cho họ thấy rằng họ có thể gông
cùm tay chân, nhưng không thể khóa miệng một người đã biết ơn cứu rỗi của
Chúa.

Trong nhà giam, cụ Mục sư Phan Đình Liệu đã cảm tác bài thơ sau đây:

Tra xem lịch sử trải nghìn thu

Mới thấy trong lao Hội Thánh tù [2]

Sở bãi [3] lui về ăn dưới cỏ

Ngủ rồi thức dậy tiểu trong lu [4]

Cùm săn chơn cứng vừa in khít

Cơm vắt [5] trời nuôi cũng mập ù

Cánh cửa lao lung dù khóa chặt

Khôn ngăn lòng đến Chúa Jêsus.

Ý nghĩa bài thơ nầy chứng tỏ không gì có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu
thương của Đấng Christ.

Ngày 15-10-1968 chúng tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn bằng xe hơi theo Quốc lộ I.
Tiện đường chúng tôi ghé lại lao xá thăm cụ Mục sư Phan Đình Liệu và trao tặng cái
“rề-xô” dầu, ngay trước cửa nhà lao. Khi tôi trao cái rề-xô cho cụ, thì bà W. C.
Cadman đứng bên kia đường chụp ngay được một tấm ảnh. Tấm ảnh đó làm bằng
chứng cho việc Tin Lành bị bắt bớ và vị Mục sư bị cầm tù tại Việt Nam. Về đến Sài
Gòn bà Cadman liền viết một bài tường thuật với đầy đủ chi tiết gởi cho một Nghị
Sĩ Quốc Hội Pháp kèm theo tấm ảnh bà đã chụp được. Ít lâu sau hồ sơ về vụ bắt
bớ nầy được đưa ra thảo luận sôi nổi tại Quốc hội Pháp. Nhiều câu hỏi được nêu
lên để chất vấn chính phủ, đại khái như: Tại sao Tin Lành bị bắt bớ tại Việt Nam?
Tại sao Mục sư bị giam cầm?

Sau cuộc tranh luận ấy tại Quốc Hội Pháp, ngày 5-12-1929 chính phủ Pháp và
Nam Triều ban hành một sắc lệnh mới. Sắc lệnh nầy nhằm thu hồi sắc lệnh của
Toàn Quyền Đông Dương đã ký vào tháng chạp, 1915. Như vậy, trên lý thuyết, Tin
Lành không còn bị ngăn cấm nữa, nhưng trên thực tế Mục sư Truyền đạo vẫn luôn
luôn bị theo dõi gắt gao. Nếu vấp phải một sơ hở nào thì liền bị bắt giữ hoặc làm

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 65

khó dễ ngay. Đơn xin cấp giấy phép cất nhà giảng hoặc mở phòng giảng phải chờ 65
hằng năm vẫn chưa được trả lời.

Theo án lệnh, thì cụ Mục sư Phan Đình Liệu phải ở tù sáu tháng, nhưng mới
hơn ba tháng cụ được “ân xá.” Vừa ra khỏi nhà tù cụ lại bị trục xuất khỏi vùng đất
bảo hộ, nghĩa là ra khỏi miền Trung. Cụ vào Nam tiếp tục giảng Tin Lành cho đến
năm 1935 mới được trở về quê quán.

3. Chứng Thực Quyền Chúa

(Của cụ Mục Sư PHAN ĐÌNH LIỆU) thuật lại việt cụ bị bắt bớ.

Kính gởi ông Nguyên Hội Trưởng

Mục sư Lê Văn Thái

Cuộc bắt bớ dữ dội và sự khó khăn của tôi tại miền Nam Trung phần như sau
đây:

- Tháng chạp năm 1927, mướn được một căn nhà tại thị tứ Ninh Hòa, sắm sửa
bàn ghế, tôi và các tín đồ nhóm lại cầu nguyện. Ông Cò (họ nói ông nầy xuất thân
từ nhà mồ côi Thiên Chúa Giáo) tay cầm gậy đập bàn giảng và đánh đuổi chúng tôi,
không cho họp tại đây nữa.

- Chúng tôi phải bỏ chỗ này, trở về nhóm tại nhà ông Thừa như cũ.

- Đầu năm 1928, có một người quen tên là Xã Lợi từ Phan Rí ra Nha Trang nghe
giảng rồi mời tôi vào đó giảng đạo Chúa cho nhiều người nghe, ở tại Phan Rí hai
ngày làm chứng và bán sách.

Ông Đồn Phan Rí (người Pháp) bắt tôi còng tay lại giao cho hai tên lính tập giải
vào Phan Thiết làm án, vì tôi đi chậm một chút thì hai tên lính đó lấy nịt da quất
ngang đầu cổ. Khi giải đến quan Công Sứ, coi tờ trình của quan Đồn rồi, quan sứ
cười rồi bảo lính mở còng cho tôi. Đoạn ông Sứ an ủi tôi rằng: Thầy ơi, người Pháp
không bao giờ bắt đạo Tin Lành đâu. Chuyện rắc rối nầy xảy ra vì Đạo ghét Đạo đó
thôi, thầy cứ an tâm trở về Nha Trang hành đạo.

- Mùa hè năm 1928, tại Nha Trang, tuy giảng đã năm rồi, nhưng quan Sứ cho
phép bằng miệng chứ không có minh văn đành rành. Thừa lúc ông Travis đi vắng,
quan huyện Vĩnh Xương và quan Bang Tá đồng đến nhà giảng hỏi tôi và bảo cho
coi giấy phép được thiết lập Hội Thánh Tin Lành tại Nha Trang. Tôi thưa, quan
Khâm Sứ cho phép Giáo sĩ Hội Trưởng Irwin mở giảng tại đây đã hai năm rồi, tôi
mới đến sau không có nắm giữ giấy phép (kỳ thực cho bằng miệng thôi).

Quan huyện: không có giấy phép thì phải dẹp bàn ghế đi và hạ tấm bảng Hội
Thánh Tin Lành xuống.

- Bẩm quan, tôi không có phép hạ tấm bảng đó xuống, vì lệnh quan Khâm Sứ
cho ông Irwin treo lên đã hai năm rồi.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 66

Hai ông nầy bắt ép tôi đủ cách phải hạ bảng xuống. 66

- Bẩm quan, tôi không dám hạ, vì là chẳng những phạm lỗi với Hội Thánh, mà
còn trái lệnh của quan Khâm sứ nữa.

Quan huyện sai lính giải tôi về giam trong lao hai ngày, ép tôi phải hạ bảng Hội
Thánh Tin Lành xuống, tôi cứ hát thơ thánh và cầu nguyện tại lao, kêu Chúa cứu
tôi, nước mắt sa dầm dề. Quan huyện cảm động, bảo tôi làm tờ khai: Đạo nầy từ
nước nào? Ai sai ông đến giảng tại đây?

Tôi khai rằng: Nguồn đạo từ Đức Chúa Trời và chính Ngài sai tôi đến đây giảng
Tin Lành để cứu linh hồn đồng bào ở Nha Trang.

Cuối tờ khai thường lệ phải viết rằng: “Vì thử tư tờ khai,” năm chữ ấy tôi thay vì
hai chữ “A-men.”

1. Quan huyện tức cười tha tôi về Nha Trang.

Trục Xuất Khỏi Phan Rang

Cùng lúc (1928) tôi vào đây thuyết giảng tại nhà tín đồ tên là Nguyễn Thanh
(thợ may, tín đồ Đà Nẵng). Quan Công Sứ kêu tôi vào phòng riêng kéo thập tự giá
đeo trong cổ đưa tôi xem và bảo rằng: tôi dù là người Thiên Chúa, mà tôi không bắt
Đạo Tin Lành. Thầy nghe rõ nầy: Ông Nguyễn Hữu Bài, viện trưởng Viện Cơ Mật ở
Huế, ông có sứ về cấm đạo Tin Lành, chính tôi là người dưới quyền Cơ Mật, nhưng
theo lương tâm của mỗi người Pháp, tôi không bắt đạo được. Thầy là người nước
Nam, không thể trái lệnh. Giờ tôi khuyên thầy vô Nam Kỳ giảng tự do hơn. Chúc
thầy mạnh khỏe.

2. Hai Lần Tù Tại Khánh Hòa Và Nha Trang

Dầu có sự bắt bớ tại Nha Trang và Ninh Hòa như ở trên đã nói. Từ mùa hè năm
1927, 1928 nhờ ơn Chúa mở được hai Hội Thánh mới tại chợ Thành, Phan Rang.
Chỗ nầy là một khu vực riêng của Đạo kia, vì cớ đó, tôi và ông bà Travis cùng sáu
tín đồ đang nhóm cầu nguyện buổi chiều. Thình lình tỉnh sai Quản Cơ đem một
tiểu đội đến vây, dùng roi mây đánh trên đầu chúng tôi, chỉ trừ ông bà Travis không
bị đánh. Họ giải tôi và sáu anh em tín đồ về lao. Tôi bảo họ, là tôi chịu trách nhiệm
vì Tin Lành, còn sáu anh em đây nghe tôi giảng mà tin Chúa. Vì vậy, tối lại họ trả tự
do cho mấy anh em tín đồ. Còn tôi bị giam luôn hai tháng. Quan tỉnh cắt hai tên
lính giải tôi về Quảng Nam! Sau đó một tháng, tôi cùng ông Mục sư Lê Văn Thái, cụ
Cadman (bấy giờ cụ Cadman là chủ nhiệm Thánh Kinh Báo, hợp tác với Thánh thơ
Công Hội do cụ Tôn Thất Thùy và làm Chủ Nhiệm Hội Truyền Giáo Liên Hiệp cùng
ông Jackson anh, cụ Van Hine và các Truyền Đạo Việt Nam đang tận tụy hầu việc
Chúa tại Bắc Việt) đi dự Đại Hội Đồng Tổng Liên tại Nam Phần, ghé lại Nha Trang
hai ngày. Ban ngày chúng tôi phân phát sách ngoài phố và làm chứng đạo. Tối lại,
tôi và cụ Cadman, ông Mục sư Lê Văn Thái giảng tại nhà giảng hơn một tiếng đồng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 67

hồ, lính áp lại bắt chúng tôi giải đến quan Công sứ. Ông Sứ thả cụ Cadman và ông 67
Mục sư Lê Văn Thái đi lại tự do. Còn tôi, họ giải lên tỉnh Khánh Hòa rồi tống giam.
Họ lên án vi lệnh, phạt giam tôi năm tháng khổ sai. Hai tháng đầu giam tại lao tỉnh,
tôi cầu nguyện suốt đêm, hát thánh ca lớn tiếng vang dội vô dinh các quan, có lẽ vì
mất giấc ngủ nên quan án ra lệnh giải Phan Đình Liệu xuống Nha Trang cho gần Hội
Thánh Tin Lành! Kỳ thật, họ muốn tống tôi xuống lao chính cho đội đề lao người
Thượng có tiếng hung dữ, để trị tội tôi cho bỏ ghét. Song đường lối của Chúa là
khác, Ngài đã dùng tôi ở đó để cứu mười hai phạm nhân, mỗi tuần chúng tôi
nhóm, giảng và cầu nguyện. Ở trong lao nầy thật như một Hội Thánh nhỏ ở đây vui
quá, bà đội đề lao và thầy đội dầu chưa có đức tin nhưng có vẻ kính sợ Chúa và
yêu mến tôi lắm. Khi tôi mãn tù ra, ông bà bảo tôi rằng: “Phải chi được phép, tôi
nguyện lưu ông Ha-lê-lu-gia (họ đặt tên tôi) ở lại đây ít tháng nữa cho đỡ buồn!
Thật mâu thuẫn đến tức cười. Tôi được ra, còn họ muốn lưu lại.”

Nghiệm xét lại sự tù đày ở đây, không phải tự tay người ta mà là do ý Chúa đặt
tôi ở đó để làm ba điều quan trọng sau đây:

1. Nếu tôi không vô lao ở bảy tháng, thì ai được phép vào đó mà giảng đạo. Dịp
nầy tôi làm chứng cho hai người lính và mười hai người tù tin Chúa. Cứ mỗi ngày
đều nhóm lại học Phước Âm Yếu Chỉ, và các ngày lễ cũng đều có nhóm họp thật
vui, thành ra một Hội Thánh nhỏ trong nhà lao.

2. Toàn cõi Việt Nam trước đây chưa có phép giảng Tin Lành tự do. Nhân dịp
tôi bị tống giam tại lao Khánh Hòa lần thứ hai, ông mục sư Lê Văn Thái tay bưng
chiếc đèn nấu nước (rề-sô) tặng tôi tại cửa lao, cụ Cadman chụp một tấm ảnh nầy
đăng lên các báo Pháp, Mỹ, Gia-nã-đại.

3. Tại Pháp, họ đem việc nầy đạt đến Thượng Nghị viện Pháp nên Thượng Nghị
viện Pháp biểu quyết xin chính phủ Pháp cho Hội Thánh Tin Lành được tự do giảng
đạo ở toàn Đông Dương, từ nay không còn ai được phép bắt bớ như trước nữa.

Tôi làm mấy bài ca số 68 và 329 để tập cho anh em trong lao hát và dịch bộ
Thần đạo học bằng chữ Hán ra chữ Quốc ngữ cho ông Đốc học Olsen tham khảo
đặng trước tác thành cho bộ Thần đạo học hiện đại.

Ngày 22 tháng 10, năm 1969

Mục sư Trí sự Phan Đình Liệu tường thuật

Câu chuyện bỏ tù một Mục sư Tin Lành An Nam và tinh thần kiên trung của ông
khi bị bắt bớ đã đến tai các nhà lãnh đạo Tin Lành ở Pháp. Lúc chúng tôi bị cấm
đoán ở Trung Kỳ, các anh em đó chưa đủ sức để bảo trợ công tác truyền giáo ở
ngoại quốc, nhưng Hội Thánh Tin Lành An Nam đã trở thành một yếu tố trong sự
phát triển Tin Lành. Họ đưa vấn đề ấy ra trước Quốc hội ở Paris và chẳng bao lâu,
Hoàng đế An Nam đã có một sắc thư như sau:

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 68

Chiếu Hiệp ước ngày 6-6-1884:

Điều 1- Các Mục sư Tin Lành Pháp không bị hạn chế trong việc thờ phượng và
truyền Tin Lành.

Điều 2- Một giấy phép sơ khởi sẽ được cấp cho các Hội Truyền giáo ngoại quốc
thuộc mọi tín ngưỡng và các hàng giáo phẩm ngoại quốc thuộc mọi tín ngưỡng.

Điều 3- Đơn xin phép sẽ do các đương sự đệ nạp cho Tòa Khâm sứ và được xét
tại cuộc họp của Viện Cơ mật để đệ trình lên Hoàng thượng duyệt xét, hay quan
Phụ chánh duyệt xét, nếu Hoàng thượng còn vị thành niên. Quyết định sẽ được
trao Tòa Khâm sứ ban hành.

Điều 4- Mọi thể thức đang áp dụng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với thể
thức nầy.

Điều 5- Thượng thơ Bộ Lễ và Đổng lý văn phòng Tòa Khâm sứ chiếu nhiệm vụ
thi hành sắc lệnh này. Sắc lệnh nầy tương đương với sắc chiếu của Hoàng Đế.

Đã đọc và chấp thuận:

Giám đốc

Huế, 5-12-1929 Huế, 4-12-1929

Ký tên Ký tên

TÔN THẤT HÂN JABOUILLE

B. DIỄN TIẾN CỦA CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO

Thể theo đà tiến triển ấy, cao trào truyền giảng Tin Lành cuồn cuộn dâng lên
như thác lũ. Công việc Chúa chẳng những phát triển mạnh ở miền Trung mà còn
tiến lần vào Nam với những thành quả rất đáng khích lệ.

Song song với sự hỗ trợ đặc biệt bởi ơn và quyền của Thánh Linh, tinh thần
hăng say hoạt động vì Chúa vì người của những Giáo sĩ tiền phong đã khiến cho
toàn thể các con cái Chúa thức tỉnh, sốt sắng tham gia công việc truyền giáo, cố
gắng vượt qua tất cả mọi đều khó khăn, gian khổ, với quyết tâm đem Tin Lành đến
toàn cõi Việt Nam trong một thời gian ngắn nhất. Ý chí ấy đã được Thánh Linh
nung nóng và bảo tồn cho đến ngày nay.

Để quý vị độc giả có thể biết rõ hơn về những hoạt động của đoàn truyền giáo 68
tiền phong, tôi xin trích thêm một đoạn trong quyển: “ĐẤNG CHRIST TẠI ĐÔNG
DƯƠNG” của cụ E. F. Irwin nhằm kể lại những diễn tiến của công việc Chúa cùng
với những giai thoại xảy ra tại miền Trung và miền Nam Việt Nam, sau khi hoàn
thành công tác tại Đà Nẵng và các vùng lân cận.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 69

1. Cứ Điểm Hội An: 69

“Các Giáo sĩ đến Hội An tìm địa điểm lập nhà thờ. Họ đã chuẩn bị một số tiền
khá lớn để thuê nhà, nhưng tìm kiếm khắp nơi trong nhiều ngày, vẫn không tìm
được một chỗ nào thích hợp. Cuối cùng khi sắp quay về Đà Nẵng, họ có dịp đi
ngang qua cổng ngôi nhà của một người Trung Hoa đang bỏ trống. Họ vào xem thử
và không thấy có ai ở đó cả. Nhà gồm ba căn: căn ngoài khá rộng, kế đó là một sân
lộ thiên, rồi đến một nhà lầu. Tầng dưới của căn này có thể làm một giảng đường
chứa được hai trăm người. Phía sau lại còn một căn nhà khác nữa với miếng vườn
khá rộng. Thật là một địa điểm lý tưởng cho công việc của giáo hội, có đủ chỗ để
làm một nhà thờ và nơi cư trú cho một gia đình truyền giáo.

Đây là ngôi nhà của một người Trung Hoa chuyên nghề nấu rượu; nhưng không
biết lý do vì sao ông ta thắt cổ tại đó. Người hàng xóm rất sợ căn nhà này bảo là
trong đó có ma. Khi các Giáo sĩ ngõ ý muốn thuê thì người chủ sẵn lòng với giá
tượng trưng. Toàn thể tín đồ khi hay tin đều lấy làm vui mừng, vì đây là dịp tiện
chứng tỏ cho bạn bè ngoài đạo của họ thấy rằng, họ không còn sợ ma quỷ nữa.
Hội Thánh lớn lên và phát triển mau lẹ. Cho đến khi mãn hạn sáu tháng và đến lúc
số tiền dự bị cho công việc mở mang ở đây đã cạn, thì các tín đồ đã đủ sức để trả
hết tất cả mọi chi phí.

Song song với công việc Chúa tại Hội An, một nhóm người khác trở về làng
Phong Thử (cách Hội An ba mươi cây số) để làm chứng về Chúa. Phần đông những
người này đều tiếp nhận Chúa tại Hội An khi có dịp đến nghe giảng. Lúc số tín đồ
tại đây lên đến năm mươi người, vị Giáo sĩ liền đến viên Khâm sứ để xin cho họ
được đặc ân nhóm lại thờ phượng Chúa tại làng của mình. Cũng như lần trước, viên
Khâm sứ thấy không có gì trở ngại nên bằng lòng cho phép ngầm, không có giấy tờ
chính thức. Các tín đồ hiệp lực xây cất nhà thờ, nhưng khi xong, dù phải đợi một
thời gian khá lâu, họ vẫn không được làm lễ khánh thành, vì viên chức sở tại không
có thiện cảm với Tin Lành, nên trong thời gian này họ cho phép một vị Linh mục
mở một nhà thờ Công giáo tạm ở đó. Khi các Giáo sĩ đến thông báo ngày mở cửa
nhà thờ, thì người này bảo là đã có một nhà thờ Công giáo ở đó rồi, không nên mở
nhà thờ Tin Lành ở chung một chỗ.

Vị Giáo sĩ liền trở lại gặp viên Khâm sứ để trình bày tất cả sự việc. Viên Khâm sứ
rất ngạc nhiên, ông bảo là có nghe nói về một nhà thờ mới ở Phong Thử và tưởng
đó là nhà thờ mà ông chấp thuận. Khi biết rõ đầu đuôi câu chuyện, ông rất bất
bình, nhưng chuyện đã dĩ lỡ rồi ông khuyên vị Giáo sĩ tốt hơn là nên khoan mở nhà
thờ Tin Lành tại đó một thời gian. Trong lúc đó thì vị Linh mục Công giáo cố thuyết
phục các tín đồ Phong Thử nhập vào nhà thờ ông ta, nhưng rốt cuộc ông ta phải
thất vọng vì không một ai chịu đổi ý cả. Họ cứ tiếp tục đi bộ hai mươi cây số để
đến nhóm họp thờ phượng Chúa mỗi Chúa nhật tại Hội An. Mãi đến hai năm sau,

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 70

họ mới được phép làm một nhà thờ riêng ở làng Lạc Thành kế cận chớ không được 70
lập ở Phong Thử.

Trong số tín đồ này có hai vợ chồng cụ già kia, chồng tám mươi mốt tuổi còn
bà vợ nhỏ hơn vài tuổi, cả hai rất trung tín. Mỗi Chúa nhật họ đi bộ ba mươi cây số
đến nhà thờ rồi khi thờ phượng Chúa lại trở về. Một Chúa nhật nọ, cụ già đến với vị
Giáo sĩ xin cầu nguyện đặc biệt cho cụ. Cụ nói: “Sáng Chúa nhật nào đến nhà thờ
tôi cũng cảm thấy mệt.” Vị Giáo sĩ nghĩ rằng sức mình còn trẻ cũng phải mệt nếu đi
bộ ba mươi cây số dưới trời nắng gay gắt. Tuy nhiên, các Giáo sĩ cũng hiệp nhau lại
cầu nguyện cho cụ. Sáng Chúa nhật tuần sau trở lại, cụ cảm tạ Chúa vì không thấy
mệt chút nào. Đức tin đơn thuần nhưng mãnh liệt như thế đã khiến chúng ta là
những tín đồ lâu năm phải hổ thẹn. Đó là niềm tin của một em bé và Chúa Jêsus
bảo một đức tin như vậy có thể dời núi được.

Khởi điểm từ Hội An, Chúa cũng đã cho phép mở một chi nhánh tại Tam kỳ,
cách Hội An chừng bảy mươi cây số về phía Nam. Tại đây Chúa dùng một bà cụ trở
lại với Ngài bởi lời làm chứng của một bà bán thuốc. Đầu đuôi câu chuyện như sau:
Một ngày nọ, trong lúc bà chủ tiệm đang trông coi cửa hàng, bỗng thấy một bà lão
đi ngang qua, dáng điệu rất bực tức pha lẫn buồn rầu. Những người quen biết qua
đường, hiếu kỳ đứng lại hỏi thăm. Bà cụ già liền than thở cho rằng mình bạc phước.
Số là bà có một người con trai, đã lấy của bà một số tiền lớn đem đi đánh bạc thua
hết, rồi trốn đi biệt. Cho nên bà đi tìm và hễ gặp ai bà liền bảo rằng nếu gặp thằng
con bất hiếu, bà sẽ đánh cho chết. Thâm tâm bà không có ý định giết cậu con,
nhưng nhất định sẽ đánh cho một trận nên thân. Xin nói rõ là cậu con trai ấy ít
nhất cũng đã hai mươi lăm tuổi, đã có gia đình và ở riêng.

Bà tín đồ liền mời bà cụ vào tiệm nghỉ chân và chăm chỉ nghe bà kể lể các
chuyện đau buồn xảy ra trong gia đình bà. Nhân cơ hội ấy, bà tín đồ liền kể cho bà
cụ nghe những sự buồn bã, hoạn nạn trong đời mình, nhưng sung sướng thay khi
đã tìm được Đấng giúp đỡ. Bà thuật lại đầu đuôi câu chuyện thể nào Chúa đã cứu
bà. Đây là lần đầu tiên bà cụ già nghe được một câu chuyện lạ lùng như vậy nên rất
chú ý. Cuối cùng bà cụ già tỏ ý muốn có một Cứu Chúa. Thế là hai bà liền quỳ gối
ngay trong tiệm thuốc để cầu nguyện. Ngay trong giờ phút ấy, bà cụ đã nhận được
tình yêu thương và sự tha thứ của Chúa Jêsus.

Sau một hồi chuyện vãn, người nữ tín đồ nói lại: “Bây giờ cụ đã là con cái của
Chúa, nên cụ có thể đem những công việc khó khăn trình với Ngài. Ngài sẽ lấy tình
Cha con mà giúp đỡ cho.” Hai người lại quỳ gối cầu nguyện xin cho người con trai
ấy trở về. Bấy giờ lòng bà mẹ không còn muốn đánh con nữa. Trái lại, bà muốn dẫn
cậu con đến gặp Chúa của bà, là Đấng có thể giải cứu cậu khỏi tội lỗi và cờ bạc.
Khi cầu nguyện xong, hai bà nhìn lên thì thấy người con trai đang đứng ngoài
đường. Bà cảm động thấy lời cầu nguyện của mình được nhậm một cách lạ lùng
như vậy, nên nói: “Đây mới thật là Đức Chúa Trời.”

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 71

Hai bà liền gọi người thanh niên vào nhà và kể cho chàng biết về Cứu Chúa mà 71
mẹ chàng đã gặp. Sau đó người thanh niên bằng lòng tiếp nhận Ngài. Rất có thể,
khi gặp mẹ, thấy bà không tỏ vẻ giận dữ nên chàng mới sẵn sàng tin nhận Chúa
như vậy. Nhưng sau đó chàng bị bắt phục bởi ơn của Chúa và hai mẹ con vui vẻ trở
về làng làm chứng về Đấng đã cứu mình và sẵn sàng nghe lời cầu xin của mình.

Mấy tuần sau, vị Giáo sĩ đặc trách vùng đó, vị Mục sư Hội Thánh Hội An cùng
người nữ tín đồ trên đây được mời đến Tam Kỳ để thăm gia đình bà cụ. Trong nhà
bà, những bạn hữu và thân nhân tụ tập rất đông đảo để nghe về Chúa Jêsus. Ở lại
hoạt động trong ba ngày và khi ba người trở về đã có năm mươi người nam và nữ
tiếp nhận Chúa. Họ hiệp nhau lại thành lập một Hội Thánh. Về sau, chính quyền
cũng cho phép ngầm để mở một chi nhánh tại đây.

Tiếp theo, một chi nhánh lớn khác được mở tại Đại An huyện Đại Lộc. Một chi
nhánh nhỏ hơn được mở tại Nam Ô gần Đà Nẵng. Các chi phí cho chi nhánh Nam
Ô đều do Hội Thánh Đà Nẵng đài thọ. Lúc bấy giờ Hội Thánh Đà Nẵng chẳng
những có thể gánh vác lấy mọi chi phí mà còn có thể tán trợ hữu hiệu cho công
cuộc truyền bá Tin Lành tại các vùng phụ cận. Sau đó ít lâu, ba chi nhánh khác
được mở tại Trung Kỳ, một chi nhánh ở miền cực Bắc là Vinh và hai chi nhánh ở
miền cực Nam là Nha Trang và Ninh Hòa. Tất cả các chi nhánh này được mở do sự
can thiệp trực tiếp của quyền năng Chúa, vì Hội Truyền giáo lúc đó vẫn còn bị cấm
hoạt động trong vùng đất bảo hộ. Mặc dù ngay từ lúc đầu, giáo hội được các viên
chức trong chính quyền chấp thuận ngầm, nhưng mãi tới khi tín đồ lên đến hơn hai
ngàn người mới được phép hoạt động chính thức.

2. Khu Vực Miền Tây Nam Phần

Song song với đà tiến triển nhanh chóng tại miền Trung và miền Bắc, công việc
Chúa tại miền Nam cũng đã gặt được những thành quả rất khả quan. Số tín đồ ở
các chi nhánh gia tăng đều đặn, do đó số chi nhánh cũng tăng theo gần như hàng
loạt. Tuy kết quả vượt bực như thế nhưng không phải là chẳng gặp những ngăn trở
khó khăn. Bất cứ nơi nào hễ có người quy đạo, họ thường bị bà con làng nước bắt
bớ dữ tợn lắm.

Một trong những trở ngại khác nữa là người Việt Nam lúc bấy giờ thường có
quan niệm sai lầm cho rằng Tin Lành là Đạo của người Mỹ. Do đó những kẻ thù
nghịch Tin Lành dựa vào lý do ấy để tuyên truyền rằng hễ ai tin nhận Đấng Christ
sẽ được tặng hai mươi Mỹ Kim và được gởi du học bên Mỹ. Chiến dịch tuyên truyền
này càng lan rộng, các Giáo sĩ càng gặp nhiều phiền phức. Vì huyền thoại về nước
Mỹ và vì tính ưa phiêu lưu để học biết những điều mới lạ của người bản xứ, lúc đầu
họ đến từng người, sau đó từng đoàn hàng chục người với những chiếc va-li hoặc
những gói hành lý sẵn sàng xuất dương. Các Giáo sĩ muốn điên đầu với họ vì không
biết đối phó cách nào. Họ tuyên bố sẵn sàng tin bất cứ thứ gì, sẵn sàng chấp nhận

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 72

bất cứ hình thức tín ngưỡng nào, miễn là có hai mươi đô-la và được đi Mỹ. Sự thật, 72
huyền thoại Mỹ Châu hùng vĩ đã được những người lính Việt Nam từng dự trận đệ
nhị thế chiến trở về thổi phồng lên khiến mọi người có tính hiếu kỳ say mê. Họ nghĩ
rằng “nước Mỹ” có nghĩa là “xứ đẹp.” Cho nên tất cả những gì của người Mỹ đều
hoàn toàn đẹp… Dĩ nhiên những người tin tưởng như vậy không phải thuộc phần
trí thức trong xã hội. Ngược lại, câu chuyện bịa đặt về các Giáo sĩ tung tiền mua
chuộc người ta đã khiến cho giai cấp thượng lưu có thành kiến không tốt đối với
Tin Lành.

Sau đây là một câu chuyện cười ra nước mắt: Có một vị Giáo sĩ đã yết trước cửa
nhà thờ một tấm bảng nội dung như sau: “Không biếu tặng cho người đến tin Chúa
một thứ gì cả.” Tác dụng của tấm bảng ấy đã chặn đứng được số người lũ lượt kéo
tới vì một niềm tin bất chính, nhưng lại là một dịp để cho những kẻ thù của Tin
Lành có cơ hội gây rối. Theo luật lệ hiện hành tất cả những bảng niêm yết như vậy
đều phải dán tem của nhà nước, nhưng vị Giáo sĩ không biết nên không thi hành
đúng đắn. Thế là có người ác ý đem việc đó báo cho một viên chức không có cảm
tình với Tin Lành. Sau cùng, việc đó tới tai viên Thống đốc miền Nam. Tấm bảng bị
gỡ xuống. Tuy được miễn nghị, nhưng vị Giáo sĩ này vẫn bị dân làng làm khó dễ, họ
tìm hết cách để tố cáo Giáo sĩ có những hành vi chống đối chính quyền. Thỉnh
thoảng khi nào muốn gây sự, họ lại đem câu chuyện này ra để nói.

Sự bắt bớ tiếp tục xảy ra dưới nhiều hình thức. Dân làng tìm hết cách để ngược
đãi những người vừa tin đạo Chúa, như trường hợp sau đây:

Tại Mỹ Tho, ngày nọ có người đến với vị Giáo sĩ và cho biết mấy năm trước ông
có nhận được một phần sách Tin Lành. Ông đã đọc thật kỹ và nhận thấy đoạn sách
ấy đã phản ánh đúng con đường sống thật. Ông có ý định tìm người để xem thử
cho biết thêm về Chúa Jêsus nhưng không có. Khi nghe nói nhà thờ Tin Lành đã
mở cửa, ông liền đến để xem thử có phải đúng là Tin Lành mà ông đã đọc trong
đoạn sách trước đó không. Ông rất mừng khi biết đó chính là Tin Lành mà ông đã
đọc. Ông vui vẻ tiếp nhận Chúa. Sau đó ông từ bỏ tất cả mọi hình tượng và trở nên
tín đồ chân thật trong Đấng Christ.

Cũng nên nói rõ ông này là người có nhiều thế lực và tiền của. Có thể bảo đây
là hạng người rường cột mà Chúa thường tìm kiếm khi khởi sự mở một chi nhánh
hay một nhà thờ mới. Ông cũng là một trong những nhân vật có địa vị cao khi dân
làng tổ chức những cuộc tế lễ. Và dĩ nhiên, ông phải gánh phần lớn những chi phí
về tiệc tùng ăn uống trong các cuộc lễ ấy. Khi trở thành tín đồ Đấng Christ, ông từ
chối tất cả những tham dự như cũ. Do đó, dân làng rất bất bình.

Họ tìm đủ cách để thuyết phục ông đừng theo những “người ngoại quốc.” Danh
từ này họ thường ám chỉ các Giáo sĩ. Khi nhận thấy ông cương quyết chối bỏ đời
sống cũ, họ liền kiện ông về tội trốn thuế. Họ lý luận rằng phần đóng góp vào các

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 73

nghi lễ tôn giáo cũng là một hình thức đóng thuế của dân làng: Ông không “đóng 73
thuế” họ có quyền bắt ông giam giữ và đánh đập. Họ giải ông từ nhà lao này đến
nhà lao khác. Mỗi lần đổi chỗ như vậy họ lại đánh ông thêm một trận. Cuối cùng,
nội vụ được đưa đến viên Chánh án người Pháp tại Mỹ Tho. Dĩ nhiên là ông được
trắng án, vì tin Chúa không phải là một tội đối với pháp lý. Nhưng sự bắt bớ không
dừng lại ở đó. Dân làng cố bới lông tìm vết để gây khốn khổ cho ông, nhưng nhờ
đó ông đã tìm được cuộc sống thuộc linh với Chúa trong một không gian cao hơn,
có thể giúp ông vượt qua tất cả mọi cảnh ngộ.

Ông là người được Đức Chúa Trời đại dụng để xây dựng Hội Thánh Ngài tại Mỹ
Tho. Ông đã dâng phần lớn tiền bạc cho công việc Chúa. Những tín đồ khác lần
lượt noi theo gương ông. Chẳng bao lâu họ xây được nhà thờ. Đó là nhà thờ đầu
tiên do người Việt Nam xây cất ở miền Nam. Hầu như bất cứ lúc nào người ta cũng
thấy ông ở nhà thờ cầu nguyện xin Chúa ban phước cho Hội Thánh. Do đó chúng
ta không lấy làm lạ khi thấy Hội Thánh phát triển nhanh chóng. Hội Thánh Mỹ Tho
đã nẩy nở thêm mười Hội Thánh khác là Tân An, Thủ Thừa, Gò Công, Long Hựu, An
Hóa, Phú Thành, Bình Đại, Quới Sơn, Tân Thạch và Cai Lậy, với số thuộc viên hơn
một ngàn người. Hội Thánh tại đây có nhà thờ riêng và tự trị về tài chánh, không lệ
thuộc vào Hội Truyền giáo. Trong các Hội Thánh tại miền Nam, có rất nhiều người
được Chúa chọn như ông ấy.

Chúng ta có thể gọi những người ấy là thành phần tuyển chọn vì chẳng những
họ là tín đồ tốt, mà còn được Chúa dùng làm rường cột để xây Hội Thánh Ngài.
Nhưng đôi khi cũng có những áng mây mù giăng mắc trên đời sống thuộc linh của
họ. Trong trường hợp tín đồ ở Mỹ Tho này cũng vậy. Ông sa sút một thời gian,
không đi nhà thờ đều đặn vì bất bình với Hội Truyền giáo về một vài vấn đề nào đó.
Có lẽ ông cầu nguyện ở nhà, nhưng không thấy ông cầu nguyện ở nhà thờ như
thường làm. Chẳng bao lâu ông sa ngã hẳn. Dầu vậy, Chúa vẫn thành tín và không
loại bỏ ông.

Chúa có sẵn một đoàn thiên sứ để bảo vệ con cái Ngài khỏi nanh vuốt kẻ thù,
nhưng đồng thời Ngài cũng có một con roi để sửa trị họ. Người tín đồ trên đây có
một chiếc đò máy để đưa khách qua sông Cửu Long. Không biết nghĩ sao ông cầm
ruộng cố đất để mua một cái máy mạnh hơn ráp vào đó. Khi máy được gởi tới thì
lại lớn quá nên ông phải đóng một chiếc thuyền khác cho thích hợp. Như vậy, là
ông có hai chiếc đò, nhưng số lợi tức thu ở bến đò không đủ để trang trải các chi
phí.

Sau đó ít lâu, có một toán cướp vào đánh cướp một làng kế cận. Cùng trong
đêm đó, một chiếc đò của ông biến mất. Nhưng rồi người ta tìm lại được cách đó
mấy cây số với một số đồ ăn cắp còn trên thuyền. Rõ ràng là bọn cướp đã chiếm
đoạt chiếc đò trong đêm ấy, nhưng những kẻ thù nghịch thấy đây là một cơ hội tốt
để làm khó người tín đồ này. Ông đã chứng minh là mình đi những chỗ nào trong

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 74

đêm đó và quả quyết mình không phải kẻ cướp. Nhưng các chức việc trong làng 74
vẫn bắt và giam giữ ông vì tình nghi. Có những bức thư nặc danh gởi thẳng cho các
vị quan cao cấp và cho viên chánh án người Pháp, đại ý nói rằng: Người này rất
nguy hiểm vì ngoài tội đang bắt giữ, ông ta còn phạm nhiều tội khác nữa. Hậu quả
của những lời vu cáo ấy là ông bị giam luôn mấy tháng không được xét xử.

Trong thời gian bị giam giữ tại lao xá, Chúa đã đến với ông và đem ông trở lại sự
thân hữu ngọt ngào với Ngài. Bởi đó lời làm chứng của ông rất có hiệu lực đến nỗi
có nhiều bạn đồng tù được cứu. Họ thường họp nhau lại thờ phượng và hát ngợi
khen Chúa trong nhà giam. Khi nội vụ được đem ra xét xử, tòa không tìm thấy một
bằng chứng nhỏ nhặt nào khả dĩ kết tội ông, nên ông được ra về.

Trong suốt thời gian ông bị giam giữ, chiếc đò nằm ụ một chỗ. Cái máy trước
đó ông mua rất đắt tiền, đến nay bị hư hỏng gần như vô dụng. Sự nghiệp ông kể
như tiêu tan. Về sau có lần ông đã làm chứng trước Hội Thánh: “Tôi chỉ còn đôi bàn
tay trắng, nhưng điều rủi ro này đã đem lại cho tôi cái may mắn khác, là nhờ đó tôi
trở lại cùng Cứu Chúa.” Bây giờ Chúa thực sự ở với ông. Ông đang ở trong một sự
tương giao không có gì so sánh được. Trong những ngày còn lại của cuộc đời, ông
đã góp phần rất đắc lực trong việc xây dựng Hội Thánh Tân Thạch, nhà thờ tọa lạc
trên vùng đất đối diện với Mỹ Tho bên kia bờ Cửu Long Giang. Điều an ủi sau cùng
đối với ông là ông vẫn được sống trên sản nghiệp mà ông đã cầm cố vì chủ nợ
thương tình nên không nở trục xuất.

Tại Sa Đéc, lúc đó cũng có một nông dân quê quán ở Cao Lãnh, cách xa thị
trấn này độ một ngày đường về phía thượng lưu sông Cửu Long. Ông ta có dịp đến
nghe các Giáo sĩ giảng Tin Lành và ông rất thích. Cho nên lần sau, ông trở lại và rủ
theo rất nhiều bạn bè thân hữu. Sau nhiều lần tiếp xúc để biết rõ hơn về chân lý
của Đạo Cứu rỗi họ bằng lòng tiếp nhận Jêsus làm Cứu Chúa của mình. Do những
người này, một chi hội tại Cao Lãnh được thành lập trước cả Sa Đéc. Ít lâu sau, chi
hội này trở thành Hội Thánh tự trị tự lập và được nhiều chi nhánh khác nữa. Một số
đông tín đồ tại Cao Lãnh cũng đã dâng mình hầu việc Chúa cách đầy ơn.

Tại Cần Thơ, có một người thợ vàng quy đạo, cùng với gia đình. Sau đó ông trở
thành một tín đồ nòng cốt góp phần đắc lực trong việc phát triển Hội Thánh vững
mạnh hơn hết tại miền Nam. Chính Hội Thánh này đã gây dựng được nhiều chi
nhánh khác. Tại một trong các chi nhánh ấy, có một tín đồ bị què một chân. Theo
như người thế gian, người này là bất hạnh, nhưng trái lại, bất cứ ai đến cùng ông
này đều nhận được nhiều ơn vì những lời làm chứng của ông. Bất cứ vị Giáo sĩ nào
đến giảng tại Cần Thơ đều cảm thấy phấn khởi vì những tiếng “A-men” của ông
luôn luôn phát ra từ góc nhà thờ.

Người tín đồ này đã có một kinh nghiệm rất đặc biệt. Trước khi nghe Tin Lành,
ông đã nhận được khải tượng về một người ngoại quốc giảng đạo mới. Giấc mơ

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 75

cho ông biết đó chính là Đấng mình nên thờ phượng. Ông tự ý loại bỏ tất cả hình 75
tượng và thực hiện đúng theo những điều đã được chỉ dẫn trong giấc mơ. Đến khi
gặp được vị Giáo sĩ đầu tiên đến mở Hội Thánh tại thị trấn này, thì ông nói ra ngay
rằng đây chính là người ông đã thấy trong giấc mơ. Ông sung sướng nghe theo theo
sứ điệp Tin Lành và trở thành một trong những tín đồ đầu tiên tại Tây Đô.

Tại thành phố Châu Đốc, công việc Chúa không tiến bộ mấy, nhưng ở Bình
Long - một làng cách đó hai mươi lăm cây số, có một ông thầy pháp tin nhận Chúa
và một Hội Thánh mới được thành lập tại đây. Sau đó, thầy thư ký của viên Tỉnh
trưởng Châu Đốc cũng trở lại cùng Đấng Christ. Người này ít lâu sau đã xin nghỉ
việc để theo học trường Thánh Kinh và đã trở thành một nhà truyền đạo. Cũng tại
Châu Đốc, Tin Lành được truyền bá cho người Miên sống dọc biên giới Miên - Việt.
Có một số người Việt gốc Miên được cứu và trong số này đã có người khi Tin Lành
mở cửa tại Cambodge đã cộng tác rất đắc lực với các Giáo sĩ để truyền ơn cứu rỗi
cho đồng bào họ.

Cùng với cao trào phát triển nhanh chóng đó, nhiều Hội Thánh được mở tại
Long Xuyên, Rạch Giá, Thủ Dầu Một, Biên Hòa cũng như tại Vĩnh Long và Bạc Liêu.
Tất cả những Hội Thánh đó đều sớm trở thành tự trị tự lập và gây dựng được rất
nhiều chi nhánh.

Ở Cà Mau, vùng cực Nam nước Việt, viên Công sứ Pháp không chịu cho phép
các Giáo sĩ đến giảng Tin Lành. Ông ta bảo rằng: “Đây không phải là chỗ để mở Hội
Thánh. Dân cư ở đây rất độc ác. Miền này lại nằm đối diện với đảo Côn Lôn, quê
hương lưu đày của người dân phạm pháp. Thỉnh thoảng có những can nhân tẩu
thoát bơi vào đất liền và biến mất trong vùng đầm lầy Cà Mau. Nhiều người trong
vùng lại là bà con hay là bạn bè của những tù nhân đang bị giam giữ trên đảo.” Vị
Giáo sĩ liền nói ngay cho viên Công sứ biết: “Đó chính là hạng người mà chúng tôi
cần đem Tin Lành đến cho họ. Vì Thánh Kinh chép rằng: “Đấng Christ đến trong thế
gian để cứu vớt những kẻ có tội.” Ngài không phải đến để lập một nhà thờ cho
những người công chính đến thờ phượng Đức Chúa Trời.” Về sau viên Công sứ miễn
cưỡng cho phép. Và khi Tin Lành được đem đến giữa vòng những người này, thì
Chúa tỏ ra quyền năng của Ngài, để chứng thật cho những lời mà Giáo sĩ đã nói.
Chỉ trong một thời gian ngắn Chúa đã đem nhiều người đến với Ngài. Đức Thánh
Linh đã hành động tại đây như Ngài đã hành động tại những tỉnh khác. Qua bao
nhiêu biến thiên của thời cuộc, Hội Thánh Chúa tại Cà Mau vẫn đứng vững và bành
trướng mạnh mẽ cho đến ngày nay.

3. Khu Vực Miền Đông Nam Phần

Trong khi công việc phát triển rất nhanh tại miền Tây Nam phần, thì trái lại - tại
khu vực miền Đông Nam phần, nhất là vùng Sài Gòn - Chợ Lớn, công tác truyền
giáo thật rất khó khăn. Đây là một thành phố lớn rất văn minh với tất cả những tiện

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 76

nghi xa hoa vật chất, nhưng lại không có Đấng Christ. Tình trạng văn minh mà 76
không có Đấng Christ thì thật nguy hại hơn tình trạng ngoại giáo sơ khai. Vì những
người ngoại giáo trong xã hội văn minh đã làm tăng thêm những cái xấu cố hữu của
mình và tình trạng sau này của con người còn bại hoại hơn tình trạng trước kia nữa.

Nhưng Chúa đã sắm sẵn cho Ngài những người ở đó. Tại một thành phố kế cận
có một điền chủ tin nhận Chúa. Có thể bảo ông là một trong số những người tín đồ
đầu tiên. Tại đây một Hội Thánh được dựng nên trước khi Hội Thánh tại Sài Gòn
được thành hình. Có một công chức trước kia là cai ngục ở Tourane và một người
thợ hớt tóc tin nhận Chúa trước tiên. Họ trở thành những chấp sự trong Hội
Thánh. Nhưng rất tiếc đời sống những người này chưa được nên thánh và Hội
Thánh chậm tiến vì cớ họ. Những người ngoại giáo đến với Chúa trong các thành
phố duyên hải - nơi văn minh và tội ác đã đi trước Tin Lành - là những kẻ cần được
tẩy sạch tội lỗi và cần được đầy dẫy Thánh Linh trước tiên. Thật sự, họ là những tín
đồ sốt sắng. Họ sẵn sàng chiến đấu vì lẽ thật, nhưng họ không sống trong khải
hoàn. Họ cãi vả với nhau và hay gây gỗ với những người vừa mới quy đạo. Đó là
điều những người hầu việc Chúa nản lòng hơn hết. Nhiều người đến hỏi đạo rồi bỏ
đi. Cũng có nhiều người đến tin Chúa nhưng trình độ thuộc linh của họ chẳng khác
gì những kẻ mà Chúa Jêsus đã phán trong bài ví dụ về người gieo giống: “Một số rơi
nhằm bụi gai, gai mọc lên và làm cho nghẹt ngòi.”

Nhưng một ngày nọ, có một thanh niên bước vào nhà thờ và tỏ ra rất chăm chú
về đạo lý. Người thanh niên này tên là Lê, trưởng Ga của công ty hỏa xa. Những lúc
rỗi rảnh, thầy hay đến thăm trụ sở của Hội Truyền giáo để hỏi cặn kẽ về đường sự
sống. Cuối cùng thầy bằng lòng đầu phục Chúa. Hội Thánh tổ chức một lễ báp-tem
với nhiều người khác. Thầy hầu việc Chúa rất sốt sắng. Nhưng ngày kia thầy Lê bị
cảm nặng không đi làm được. Các Giáo sĩ rất thất vọng. Họ cầu nguyện tha thiết
với Chúa cho thầy được chữa lành, nhưng bệnh đã không giảm lại còn nặng thêm.
Cuối cùng thầy phải đi nhà thương. Bác sĩ cho biết bị lao phổi. Đây là một bệnh
nan y. Nhưng các Giáo sĩ đã từng thấy Chúa chữa lành những bệnh hiểm nghèo
nên họ biết không có sự gì khó khăn đối với Ngài. Họ cứ tiếp tục cầu nguyện,
nhưng bệnh trạng của người thanh niên này ngày càng trầm trọng hơn. Các Giáo sĩ
nghĩ rằng dường như trong lúc này Đức Chúa Trời không cùng làm việc với họ.
Nhưng thật ra Đức Chúa Trời đang hành động cách kín nhiệm để bày tỏ quyền
năng Ngài.

Ít lâu sau người thanh niên này phải ra khỏi nhà thương vì bác sĩ đã chạy. Thầy
về ở với bà gia tại làng kế cận (Bình Trị Đông). Bà cụ này rất sùng kính thần tượng.
Bà cúng bái rất nhiều, với hy vọng nhờ đó rể bà được cứu khỏi. Bà cho rằng thầy đã
bị các thần trừng phạt vì đã lìa bỏ hình tượng để thờ một thần ngoại quốc.

Sau đó ít lâu, các Giáo sĩ được tin thầy Lê chết. Họ tự cảm thấy đây là một thất
bại. Họ đã phải chiến đấu gian khổ nhiều ngày. Người thanh niên này đến với tất cả

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 77

hứa hẹn đối với họ. Nhưng bây giờ, thay vì được thấy quyền năng Đức Chúa Trời tỏ
ra trong sự chữa lành chứng bệnh nan y - thì đau đớn thay chàng lại chết. Tuy
nhiên, có điều khích lệ là bà cụ già đến yêu cầu các Giáo sĩ cử hành lễ an táng cho
chàng theo nghi lễ Cơ Đốc giáo. Nhân cơ hội này họ có dịp giảng Tin Lành cho một
đám rất đông dân chúng, vì tất cả nhân viên sở hỏa xa, họ hàng thân thích và bạn
bè chàng đều có mặt ở đó.

Vài hôm sau đó bà cụ già sai người đến mời các Giáo sĩ và cho biết cả gia đình
bà đều muốn tin nhận Chúa. Bà cũng đã thuật lại trước khi thầy Lê chết, thầy đã
làm chứng về niềm vui, về sự bình an và niềm tin tuyệt đối về sự sống đời đời -
những vấn đề mà từ trước kia bà chưa từng biết. Trước khi chết, thầy đã nhìn thấy
Chúa và gọi cả gia đình lại để giải thích về tình yêu kỳ lạ của Ngài. Thầy khuyên mọi
người nên tiếp nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa mình. Rồi dường như thầy thấy sự
hiện diện của Chúa trong phòng. Mắt thầy ngời sáng và khuôn mặt phản chiếu
những tia vui mừng sẵn sàng lìa bỏ trần thế để về với Chúa đời đời.

Vị Giáo sĩ hết sức vui mừng vì cùng một lúc đã cử hành lễ báp-tem cho hai mươi
người trong làng đó. Và đó chính là khởi đểm của một giai đoạn mới - sáng sủa hơn
của Hội Thánh Sài Gòn. Ban đầu, mỗi sáng Chúa nhật họ đến nhóm tại nhà thờ
trong thành phố bằng một xe ngựa nhỏ. Nhưng ít lâu sau, họ quyết định lập một
nhà thờ riêng. Bà cụ bằng lòng dâng một miếng đất và những người khác thì dâng
công dâng của. Chẳng bao lâu, trong làng mọc lên một ngôi nhà thờ xinh xắn. Cả
làng đã nghe danh Chúa, vì những lời làm chứng nhiệt thành của thầy Lê trước kia
đã gây trong họ một ấn tượng. Hội Thánh ở đây lớn mau lẹ đến nỗi nhà thờ trở nên
quá nhỏ không đủ chỗ cho tín đồ ngồi. Họ phải dở ra để xây một nhà thờ lớn hơn,
lợp ngói rất khang trang, bên cạnh có cả tư thất cho Mục sư. Tổng Liên Hội đã phái
đến một vị Mục sư Việt Nam và chức vụ của ông tại đây được Chúa ban phước rất
nhiều. Bấy giờ mọi người mới nhận thấy rằng sự chết của thầy Lê có ý nghĩa hơn sự
sống của thầy. Chúa đã đem thầy về trong nơi vinh hiển. Sự chết của thầy đã khiến
mọi người đồng thời ước ao: “Chúng tôi không mong gì hơn là được như vậy.” Các
Giáo sĩ tưởng sự chết đó là một tai họa nhưng Đức Chúa Trời đã khiến nó trở thành
một nguồn phước lớn cho nhiều người.

77

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 78

Nhà thờ Hội Thánh Bình Trị Đông

Ngay lúc đầu, khi nhà thờ nầy mới mở, chính quyền địa phương không đòi hỏi
giấy tờ phép tắc gì cả. Nhưng về sau một nhóm công chức trong thành phố nghe
được tin đó, liền báo cáo việc thiếu giấy tờ cho chính quyền Pháp ở tỉnh. Họ là
những kẻ chống nghịch Tin Lành. Tại đây cũng như các nơi khác, tín đồ Đấng Christ
đều bị những kẻ không tin bắt bớ. Viên Công Sứ cũng là một người chống đạo, ông
ta lập tức gởi văn thư cho các Giáo sĩ bảo phải xuất trình đủ giấy tờ, bằng không
nhà thờ sẽ bị đóng cửa.

Vị Giáo sĩ tại đây không biết phải làm sao. Nhà thờ đã mở từ mấy năm rồi, có
gặp sự rắc rối như thế nầy đâu. Ông trải bức thư ra trước mặt Chúa và giao phó
việc ấy cho Ngài. Mấy hôm sau, ông vào dinh thì được tin Viên Công Sứ thù nghịch
kia đã bị đổi đi nơi khác, Viên Công Sứ mới là một người có lập trường khác hẳn. Vị
Giáo sĩ trình bày những khó khăn của mình với ông và nói tiếp là từ khi công cuộc
truyền giáo bắt đầu ở Nam Kỳ, Hội Truyền giáo chỉ được cấp một văn thư duy nhất
đại khái cho phép các Giáo sĩ hoạt động tại Sài Gòn và các vùng lân cận. Viên Công
Sứ liền cho biết ông chỉ cần một bản sao của văn thư trên đây thôi. Sau đó, ông
nầy gởi phó bản văn thư đó cho các chức viên địa phương và cho họ biết là mọi
việc đã được thu xếp ổn thỏa.

78

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 79

Nhà giảng Tin Lành tại căn phố góc đường Cống Quỳnh – Nguyễn Cư Trinh 1919

Trở lại vấn đề phát triển công cuộc truyền giáo, trước đó mấy năm có một Giáo
sĩ ở Sài Gòn cảm thấy cần phải làm thế nào để có thể truyền Tin Lành cho tất cả
mọi người ở trung tâm thành phố. Lúc bấy giờ nhà thờ ở một nơi khá xa, nên
những người không cố tâm tìm kiếm thì không thể đến được. Nhưng nhà ở trung
tâm thành phố Sài Gòn giá rất đắt, Hội Ttruyền giáo không có ngân quỹ để mua.
Mọi người đều cầu nguyện để nếu đẹp ý Chúa, xin Ngài sớm mở cho một con
đường. Ít lâu sau, bỗng có một ngân phiếu một nghìn Mỹ kim từ Mỹ gởi đến nhằm
mục đích xúc tiến công cuộc truyền giáo tại Sài Gòn. Nhận được tiền, Hội truyền
giáo liền tìm kiếm khắp nơi với hy vọng có một địa điểm thuận tiện cho việc giảng
đạo. Cuối cùng, họ thuê một địa điểm rất tốt, nằm đối diện với khu chợ trung
ương, gần bên nhà ga chính và bến xe buýt đô thành. Họ liền mở một Hội Thánh
trên địa điểm ấy. Tại đây, khách bộ hành không ngớt qua lại, khung cảnh rất náo
nhiệt. Luôn luôn có hàng trăm người túc trực chờ đợi xe buýt, xe lửa hoặc dạo phố.

79

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 80

Phòng giảng Tin Lành ở tầng lầu 2, góc đường Hàm Nghi – Phó Đức Chính, 1927

Phòng giảng Tin Lành là một nơi rất rộng rãi, thoáng khí, nằm trên tầng thứ nhì
căn nhà bìa của một khách sạn nửa tây nửa ta, tọa lạc nơi góc đường Hàm Nghi (số
141) và Phó Đức Chính. Phía dưới dùng làm phòng đọc sách và giải nghĩa đạo. Các
cuộc nhóm được tổ chức tại đó suốt bốn năm. Trong thời gian ấy, có mấy trăm
người nam lẫn nữ xưng nhận mình đã được cứu. Không đêm nào là chẳng có người
ngoại đạo đến nghe Tin Lành. Họ từ khắp các nơi đến thủ đô, có dịp nghe giảng về
tình yêu của Chúa, và thường trở về nhà với niềm vui vừa chớm nở trong lòng.
Chính những người ấy đã góp một phần không nhỏ trong sứ mệnh rao truyền Tin
Lành tại các vùng chung quanh.

80

Nhà thờ Tin Lành đầu tiên tại đường Trần Hưng Đạo số 155, xây cất năm 1934

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 81

Đến năm 1970, Nhà thờ được tái thiết như trên 81

Bằng chứng là một đêm nọ, có hai chàng thanh niên sang trọng, con nhà quý
phái. Sau khi nghe giảng, liền quy đạo và sốt sắng nhóm lại thường xuyên. Bỗng
một đêm họ biến mất. Trong mấy tuần lễ không ai nhận được tin tức của họ ở đâu
cả. Sau đó, có người từ Bạc Liêu, cách Sài Gòn hai trăm cây số về phía Nam, lên
cho biết hai chàng thanh niên nầy đã đem Tin Lành về quê nhà tại một làng gần
thành phố. Một trong hai người nầy thuộc trong gia đình rất giàu có nên đã dâng
một số tiền lớn để xây một nhà thờ cho người đồng hương. Hội Thánh tại đó đã
tăng trưởng rất nhanh chóng. Số tín đồ ngày càng đông.

Quyền năng cứu chuộc của Chúa không phân biệt một ai cả. Do đó, người bồi
bàn khách sạn cũng được cứu. Nhà hàng ở tầng lầu ba, ngay bên trên giảng đường.
Sứ điệp Tin Lành vang ra ngoài các cửa sổ nhà thờ và vọng vào nhà hàng. Một ngày
kia, người bồi đến phòng đọc sách và cho biết ý định muốn tin nhận Chúa. Ông kể
lại, chính ông đã nghe nói về Chúa mỗi đêm khi đứng phía trên cửa sổ nhà thờ. Sau
khi tiếp nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa, người nầy đã đem Tin Lành về làng mình,
cách Sài Gòn một trăm cây số phía hướng Tây. Chẳng bao lâu tại đó có một chi
nhánh mới được mọc lên.

Đúng ra số tiền một nghìn Mỹ kim trên đây chỉ đủ chi phí cho việc thiết lập
ngọn hải đăng năm đầu tiên tại Sài Gòn. Nhưng tạ ơn Chúa, suốt bốn năm tiếp
theo đó, không tháng nào là không có một món tiền đặc biệt được gởi đến để trả
tiền thuê nhà.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 82

Một trong những hình thức chứng tỏ Chúa luôn luôn giúp đỡ tài trợ cho công 82
việc nầy được kể lại như sau: Số là mỗi đầu tháng, các Giáo sĩ thường kiểm điểm
ngân quỹ để vừa trả tiền thuê nhà vừa chi phí các công việc linh tinh khác. Một
tháng nọ, sau khi kiểm điểm số tiền hiện có, các Giáo sĩ nhận thấy họ còn thiếu
mười tám đồng. Tình thế lúc đó rất khó khăn. Số tiền phụ cấp cho các Giáo sĩ
tháng ấy chỉ có năm mươi phần trăm. Họ chẳng biết phải làm cách nào khác hơn là
cầu xin Chúa giúp đỡ.

Cách đó mấy tuần, một người bạn của một vị Giáo sĩ đến nói rằng có một người
Pháp sắp bán hết dụng cụ ở đây để trở về Pháp, vì khủng hoảng kinh tế. Luôn tiện
ông cũng cho biết là trong các cuộc bán đấu giá tổ chức một tuần hai lần tại Sài
Gòn, nhiều cây đàn dương cầm được bán với giá gần như cho không. Các Giáo sĩ
hằng mong ước có một cây đàn dương cầm cho con cái học, nên dặn người bạn,
khi nào thấy giá rẻ như vậy thì mua giùm. Ngay tuần lễ họ đang hụt ngân quỹ, cạn
tiền thì bạn kia đến báo cho biết đã mua được một cây đàn với giá hai mươi đồng.
Giá thật rẻ, nhưng ngoài số tiền ấy, các Giáo sĩ còn phải trả thêm ba mươi tám
đồng nữa. Không có cách nào xoay trở, vì không đủ tiền, phải nhờ phòng đấu giá
bán cây đàn một lần nữa. Ít hôm sau, họ rất ngạc nhiên khi biết cây đàn bán được
bốn mươi hai đồng. Thế là sau khi thanh toán tiền hoa hồng mua và bán, họ còn lại
đúng mười tám đồng. Đó là một trong những cách Chúa dùng để quân bình ngân
sách thời buổi khó khăn.” (“With Christ in Indochina” trang 84).

C. SỰ HÌNH THÀNH CỦA HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM

Mức độ tín đồ tăng lên rất nhanh chóng trong toàn cõi Việt Nam. Cao trào
truyền giáo được phát động hết sức mạnh mẽ. Chiến thuật vết dầu loang từ thời tín
đồ Phao-lô đã được tín hữu Việt Nam áp dụng trở lại một cách rất tự nhiên. Người
nầy hăm hở làm chứng cho người kia. Nhất là những người mới tin nhận Chúa, cảm
xúc sâu xa về tình yêu kỳ diệu của Ngài nên đã không quản ngại khó khăn, cố gắng
bằng mọi cách để làm chứng Tin Lành cho những người quen biết. Nhờ đó công
việc Chúa đã tiến triển vượt bực trong thời gian ngắn. Chẳng bao lâu, hầu hết các
tỉnh trong nước đều có nhà thờ Tin Lành.

Những tín đồ đầu tiên lại rất sốt sắng đối với công việc chung. Đức tin họ tuy
đơn sơ nhưng thành thật, chẳng những vui lòng dâng công, dâng của để xây cất
nhà thờ mà hàng tháng lại còn trung tín dâng phần mười cách đều đặn để tài trợ
cho những chi phí cần thiết của chi hội. Trong số tín hữu đầu tiên ấy, cũng có
nhiều người được Chúa kêu gọi đặc biệt nên đã dâng mình vào học trường Thánh
Kinh tại Đà Nẵng. Sau khi tốt nghiệp một số người trong họ được các chi hội hân
hoan mời đến hợp tác hầu việc Chúa. Một số khác được đề cử đến những địa điểm
mới để tiếp tục công việc truyền giáo. Trong công trường thuộc linh nầy, họ đã tỏ
ra là những con gặt đầy ơn.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 83

Số tín đồ ngày càng đông đảo thêm nhiều khắp Trung Nam Bắc. Nhận thấy đã 83
đến lúc cần phải thống nhất mọi hoạt động của các chi hội, đồng thời chính thức
xác nhận sự hiện diện của mình trong tập thể quốc gia, nên toàn thể Mục sư,
Truyền đạo và Tín hữu quyết tâm nhờ cậy Chúa xây dựng cho mình một giáo hội
vững mạnh đầy đủ tư cách pháp nhân và hoàn toàn tự trị tự lập. Với chủ trương
không chịu lệ thuộc như vậy, nên ngay từ lúc đầu, thay vì lấy chung một tên là
Phước Âm Liên Hiệp như những quốc gia khác đã làm, toàn thể giáo hữu Việt Nam
đều đồng một lòng chung một ý, mặc nhiên chấp nhận danh hiệu của Giáo Hội là
HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM. Như tôi đã có dịp đề cập đến ở phần đầu tập
hồi ký nầy, đây là một danh hiệu lạ lùng do sự đặt để của Chúa vì Hội Thánh đã
thành hình trước khi có những văn kiện quy lập.

Để quý độc giả có thể biết rõ hơn về những cơ cấu sơ khởi của giáo hội, tôi xin
trình tóm lược những định thức căn bản làm nền tảng cho việc tổ chức Tổng Liên
Hội đầu tiên tại Việt Nam.

1. Từ Hội Đồng Bồi Linh Đến Hội Đồng Lập Pháp

Sau khi Tin Lành đã ăn sâu vào những thành phố, làng mạc khắp ba miền Trung
Nam Bắc và nhất là khi tình hình các chi hội đã được ổn định, giáo hội liền nghĩ
ngay đến việc tổ chức những kỳ hội đồng thường niên để tín đồ toàn quốc có thể
tham dự. Hội đồng đầu tiên được tổ chức năm 1924, lần thứ nhì, năm 1925 và lần
thứ ba, 1926. Cả ba lần đều nhóm tại Đà Nẵng và hoàn toàn có tính cách Bồi Linh
Hiệp Nguyện. Mục đích của sự nhóm lúc bấy giờ là để thờ phượng, đọc Thánh
Kinh, cầu nguyện và nghe giảng dạy Lời Chúa.

Hội đồng lần thứ tư cũng tổ chức tại Đà Nẵng, từ ngày 5 đến 13 tháng 3, 1927
và được chính thức gọi là Hội Đồng Tổng Liên Hội, vì ngoài sự thờ phượng, học
Thánh Kinh, cầu nguyện và nghe giảng Lời Chúa, Hội Đồng còn có phần thảo luận
và quyết nghị. Sau đây là năm điểm nghị quyết của Hội Đồng Tổng Liên Hội đầu
tiên.

1- Cử một thủ quỹ giữ tiền bạc và lo sổ sách chi thu của Hội Thánh (Tổng Liên
Hội).

2- Cử một ủy ban hiệp với các Giáo sĩ lo soạn thảo quyển Điều lệ của Hội
Thánh Tin Lành Việt Nam.

3- Cử một Ban Trị sự Tổng Liên Hội để điều hành công việc của Hội Thánh
chung và để ra mắt chính quyền đồng thời trình bản Điều lệ của Hội Thánh để xin
chính quyền công nhận.

4- Kiểm điểm tiền bạc đã dâng cho Hội Đồng.

5- Dự định xây cất trường Thánh Kinh và ký túc xá cho học sinh.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 84

Thể theo điều ba của bản quyết nghị trên đây, một Ban Trị sự lâm thời được đề
cử để lo công việc chung.

Năm sau, Hội Đồng Tổng Liên Hội lần thứ năm cũng nhóm tại Đà Nẵng, từ ngày
26 tháng 6 đến 5 tháng 7, 1928. Bản quyết nghị của Hội Đồng kỳ nầy gồm mười
khoản, trong đó có những khoản rất quan trọng làm nền tảng cho Tổng Liên Hội
cho đến ngày nay, như:

Khoản I.- Biểu quyết: Công nhận số chính thức là bảy mươi ba vị đại biểu của
các Hội Thánh tham dự Hội Đồng.

Khoản II.- Biểu quyết: Phân chia các hạt (mỗi hạt có một Ban Trị sự riêng và
Chủ nhiệm là người đứng đầu để lo công việc trong hạt).

Khoản VII.- Biểu quyết: Công nhận bản Điều lệ mà ủy ban đã soạn thảo và đã
trình Hội Đồng.

Khoản X.- Biểu quyết: Giao quyền quản thủ sản nghiệp của Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam cho một ủy ban chịu trách nhiệm.

Theo sự ủy thác của Hội Đồng, sau khi bế mạc, Tân Ban Trị sự Tổng Liên Hội
liền xin yết kiến Hoàng Đế Bảo Đại và trình bản Điều lệ của Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam để xin lập Hội.

84

Ban Trị sự Tổng Liên hội yết kiến Hoàng đế Bảo Đại và
trình Bản Điều lệ của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 85

2. Cơ Cấu Tổng Liên Hội 85

1. Chi Hội.- Bất cứ nơi nào có một số người Việt Nam tin nhận Đức Chúa Jêsus
Christ và thờ phượng Đức Chúa Trời Ba Ngôi theo sự dạy dỗ Thánh Kinh và tuân
theo Điều lệ của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam thì đều được công nhận là một chi
hội của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

Mục sư hoặc Truyền đạo chủ tọa của Chi Hội hiệp với Ban Trị sự Hội Thánh
điều hành những công việc của chi hội như: thăm viếng, dìu dắt tín hữu trên đường
tin kính và mở mang Hội Thánh.

Mỗi tín đồ đều được tham dự Hội đồng thường niên của chi hội, nhưng chỉ
những tín đồ chính thức mới được phép bầu cử và ứng cử các chức chấp sự hoặc
đại biểu. Thành phần Ban Trị sự Hội Thánh gồm có Thư ký, Thủ quỹ và các Nghị
viên do các chấp sự công cử bằng phiếu kín. Chức vụ đại biểu do Hội Đồng chi hội
ủy nhiệm dưới hình thức đầu phiếu đương nhiên được quyền bàn luận và biểu
quyết tại Hội đồng Địa hạt hoặc Tổng Liên Hội.

2. Địa hạt Liên Hội.- Tất cả những chi hội trong cùng một khu vực được tổ
hiệp lại thành Địa hạt Liên Hội. Ban Trị sự Địa Hạt Liên Hội gồm có: Chủ nhiệm,
Phó Chủ nhiệm, Thư ký, Tư hóa và Nghị viên do Hội Đồng Địa Hạt Liên Hội công cử
bằng phiếu kín. Nhiệm vụ của Ban Trị sự nầy là thi hành các quyết nghị của Hội
Đồng Địa Hạt, cai quản công việc Hội Thánh, soạn thảo kế hoạch, mỗi năm khai
trình thành tích hoạt động và kết quả thu lượm được lên Hội Đồng Địa Hạt. Nhiệm
kỳ các chức viên Ban Trị sự là hai năm, ngoại trừ trường hợp chức nghị viên, mỗi
năm phải bầu lại một lần.

3.Tổng Liên Hội.- Các Địa Hạt Liên Hội trong toàn quốc kết hiệp lại thành
Tổng Liên Hội. Đây là cơ quan đầu não của Giáo hội, có nhiệm vụ điều hành quản
trị tất cả những công việc của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Thành phần Ban Trị sự
Tổng Liên Hội gồm có: Hội Trưởng, Phó Hội Trưởng, Thư Ký, Tư Hóa và Nghị Viên
do Hội Đồng Tổng Liên Hội bầu cử bằng phiếu kín. Tổng số Nghị viên tùy thuộc
vào tổng số Địa hạt được phân định theo điều kiện địa lý. Chủ nhiệm của các hạt
cũng đương nhiên được sung vào thành phần Ban Trị sự Tổng Liên Hội. Nhiệm vụ
của Ban Trị sự được quy định theo Thánh Kinh và Điều lệ của Giáo hội, quản trị
tổng quát những công việc của Hội Thánh và chấp hành những quyết nghị của Đại
Hội Đồng thường niên. Đồng thời phải khai trình trước Đại Hội thành tích hoạt
động và kết quả thu hoạch được trong năm qua. Nhiệm kỳ của mỗi nhân viên Ban
Trị sự Tổng Liên Hội là hai năm, chỉ riêng các nghị viên là mỗi năm phải bầu lại một
lần.

Với hình thức tổ chức căn bản trên đây, chúng ta có thể kết luận: Tổng Liên Hội
là cơ quan đầu não nắm vai trò lãnh đạo tổng quát. Địa Hạt Liên Hội chịu trách
nhiệm từng Giáo khu và Chi Hội là phần địa phương nòng cốt của Hội Thánh.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 86

Sau khi đệ trình bản Điều lệ lên Hoàng đế Bảo Đại (năm 1928) để xin lập Hội, 86
Hội Thánh đã gởi nhiều văn thư kế tiếp cho chính quyền Đông Pháp lúc bấy giờ,
nhắc họ xét đơn của Giáo Hội. Nhưng mãi đến ngày 19 tháng 1, 1942, toàn quyền
Jean Decoux mới ký văn thư chính thức công nhận thành phần Ban Quản Trị của
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

Như vậy, đối với Hội Truyền giáo và đối với chính quyền, Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam đang tiến dần đến chỗ hoàn toàn tự trị tự lập. Quyền cao cả của Giáo Hội
ở trong tay của giáo hữu. Mỗi đại biểu tại các Hội Đồng đều có quyền biểu quyết
hoặc phủ quyết những dự thảo luật. Dĩ nhiên là nguyên tắc đa số tương đối vẫn
được áp dụng. Khi một dự án hoặc một đề nghị đã được Hội Đồng Tổng Liên Hội
biểu quyết, bản văn ấy liền được chuyển qua Ban Trị sự Tổng Liên Hội để thi hành.
Đại Hội Đồng Tổng Liên Hội mang tính chất của một cơ quan lập pháp và Ban Trị
sự Tổng Liên Hội giữ chức vụ hành pháp.

Về việc quản trị tài sản của Hội Thánh, Ban Trị sự Tổng Liên Hội đề cử một ban
quản trị riêng biệt chịu trách nhiệm trước giáo hội và chính quyền. Ban quản trị này
thay mặt Tổng Liên Hội đứng tên hoặc được sát nhập vào tài sản giáo hội bởi sự
lạc hiến của các tín hữu v.v... Về phương diện tài chánh cũng vậy, Hội Thánh Tin
Lành Việt Nam tuy không có những tổ chức kinh tài, nhưng mỗi Hội Thánh đều có
công quỹ riêng do lòng sốt sắng dâng giúp của mọi tầng lớp tín hữu yêu mến Chúa.
Tiền bạc trong Hội Thánh được giao cho viên Tư hóa có nhiệm vụ cất giữ, còn
quyền thu xuất do Ban Trị sự quyết định. Hình thức phân công nầy đã được thi
hành một cách đứng đắn từ trung ương đến địa phương. Nơi nơi đều thống nhất
trong hành động, mỗi người một trách nhiệm để phát triển công việc chung. Ngay
từ khởi điểm, tuy không có những văn kiện chính thức quy định, nhưng tất cả
chúng ta đều nhận thấy rằng chính thể của giáo hội (về phương diện tổ chức) là
chính thể dân chủ và chế độ của giáo hội là chế độ phân quyền. Thể chế nầy đã
được minh định rõ rệt dựa theo những truyền thống của Thánh Kinh và ý thức trách
nhiệm của toàn thể tín hữu.

Tóm lại, dựa theo những định chế căn bản trên đây, Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam được thành lập. Và sự thành lập Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đánh dấu một
khúc quanh quan trọng của giáo hội Cơ Đốc tại Việt Nam. Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam hoàn toàn tự trị tự lập về phương diện pháp lý, quy chế và tài chánh. Hội
Thánh hoạt động bên cạnh Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp, nhưng không
còn lệ thuộc Hội Truyền Giáo như trước nữa.

3. Chủ Quyền Trên Giáo Hội:

a) Đấng sáng lập Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

Về phương diện tổ chức, những quyết nghị liên tiếp của Tổng Liên Hội đánh
dấu sự thành hình của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Nhưng vấn đề đối với chúng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 87

ta - trong lúc ấy cũng như ngay bây giờ - ai là “Người” sáng lập Hội Thánh? Chắc 87
hẳn mọi người chúng ta đều quả quyết rằng: “Chính Thánh Linh của Chúa.” Tuy
những thắc mắc có thể có, nhưng bởi ơn của Chúa và bởi sự dạy dỗ của Thánh
Kinh, chúng ta có thể giải thích không có gì khó khăn.

Trong lúc Đấng Christ còn tại thế, Hội Thánh chưa được thành lập dù có số khá
đông người bằng lòng theo Ngài. Nhưng Ngài đã có sẵn một chương trình về việc
thiết lập Hội Thánh và ý định của Ngài là sẽ thiết lập Hội Thánh trên Vầng Đá của
các thời đại. Bởi ý định đó mà có lần Ngài đã phán cùng sứ đồ Phi-e-rơ: “Còn ta lại
bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy, cửa Âm Phủ chẳng
thắng nó được”(Ma 16:18).

Tuy nhiên, trọng tâm của sứ mệnh Ngài là đến thế gian chịu chết để cứu chuộc
nhân loại. Nên sau khi từ kẻ chết sống lại và trước khi thăng thiên, Ngài đã ân cần
dặn dò các môn đồ: “Chớ ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng hãy chờ đợi Đấng Cha đã
hứa... Các ngươi sẽ chịu báp-tem bằng Thánh Linh...” (Cong 1:4,5,8).

Những lời phán bảo của Ngài trên đây còn bao hàm một ý nghĩa ủy thác. Một
giai đoạn của sứ mệnh đã hoàn tất và bây giờ đến giai đoạn thứ hai. Đấng đảm
trách sứ mệnh trực tiếp trong giai đoạn nầy không phải là Jêsus Christ, Cứu Chúa
yêu dấu của chúng ta, mà là Đức Thánh Linh, Đấng Cha đã hứa... Đấng An ủi...

Giai đoạn mới thật sự bắt đầu trong ngày lễ Ngũ tuần. Khi tất cả môn đồ đồng
tâm hiệp lực nhóm nhau để khẩn nguyện thì Đức Thánh Linh giáng xuống trên họ.
Thánh Kinh kể lại rằng: “Vào ngày lễ Ngũ tuần, tất cả môn đồ nhóm lại một chỗ. Thình lình
có trận gió lốc thổi ào ào, đầy cả nhà họ ngồi. Lại có lưỡi như lửa hiện đến, chia nhau đậu trên
mỗi người trong họ. Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh khởi sự nói các thứ tiếng
khác, theo như Thánh Linh cho họ nói” (Cong 2:1-4). Thế là sau biến động, Hội Thánh
được thành lập. Chúng ta có thể bảo rằng ngày lễ Ngũ tuần cũng là ngày Hội Thánh
được khai sinh.

Hội Thánh được thành lập bởi Thánh Linh. Đó là điều rõ ràng không ai chối cải
được. Khởi điểm của đức tin bắt nguồn từ đó và nhờ đó, người Do thái hoặc ngoại
bang có thể đến tin nhận Đức Chúa Jêsus. Hàng triệu người nhập vào Hội Thánh,
được tái sinh và được công nhận làm con cái Đức Chúa Trời. Lẽ mầu nhiệm đó
được hiển lộ lần lần qua sách Công Vụ. Đến đoạn 5 câu 11, thì công việc thành lập
Hội Thánh kể như đã hoàn tất. Danh từ Hội Thánh tuy mới xuất hiện lần đầu tiên
qua câu: “Cả Hội Thánh đều sợ hãi quá đổi, cho đến người nghe tin cũng vậy”(2:11). Nhưng
ý nghĩa của nó đã bàng bạc từ trước. Trong nguyên văn Hy Lạp, hai chữ Hội Thánh
được mô tả bằng từ ngữ EKKLESIA có nghĩa là một nhóm người được kêu gọi ra
khỏi thế gian để làm tuyển dân cho Đức Chúa Trời. Để có thể tìm cho từ ngữ nầy
một định nghĩa chính xác, công việc đầu tiên của chúng ta là nghiên cứu câu Thánh
Kinh sau đây: “Si môn vừa thuật lại thế nào lúc ban đầu Đức Chúa Trời đã thăm người ngoại

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 88

bang, để từ trong họ lấy ra một dân cho danh Ngài” (Cong 15:14). Qua tinh thần của câu 88
Thánh Kinh trên đây, về một phương diện Hội Thánh có ý nghĩa như một cách biệt,
một giả từ đối với thế gian, đưa một số người từ trạng thái nầy (mù mờ) sang trạng
thái khác (trong sáng, cao khiết) bởi nhịp cầu thông cảm của thập tự giá. Ngoài ra,
Hội Thánh còn bao hàm ý nghĩa của một sự tôn vinh. Trong cá nhân tín hữu, dù
được tái sanh, được nên thánh, vẫn còn có chỗ bất toàn, nhưng trong tập thể của
những người được chuộc, sự toàn bích đương nhiên được thể hiện, và sự toàn bích
đó là một viên ngọc làm sáng danh Cha.

Sau biến động có một không hai của lễ Ngũ tuần, tinh thần truyền giáo cuồn
cuộn dâng lên như mây ngàn thác lũ. Từ giã kinh thành Giê-ru-sa-lem chật hẹp, các
sứ đồ bắt đầu ra đi. Các tín hữu nơi nơi đều sốt sắng làm chứng về Chúa. Âm
hưởng của Tin Lành bắt đầu lan dần khắp miền Tiểu Á Châu. Những vòng truyền
giáo đã đem lại rất nhiều kết quả. Thánh Linh đã cùng đi với họ, hành động bên
cạnh họ, do đó Hội Thánh được mọc lên khắp nơi.

Hai mươi thế kỷ qua, công việc của Đức Chúa Trời vẫn được tiếp tục và phát
triển nhanh chóng. Mục tiêu truyền giáo không còn giới hạn trong một phạm vi nhỏ
hẹp mà là hướng về toàn thể địa cầu. Công việc của Đức Thánh Linh vẫn không
thay đổi. Bởi vậy, khi Hội Truyền Giáo Cơ Đốc và các Giáo sĩ Liên Hiệp dự định đến
xứ nầy để truyền giáo thì Đức Thánh Linh đã đi trước để mở đường cho họ. Ngài đã
đồng công với họ trong đồng lúa tại Việt Nam và chính Ngài đã sáng lập nên Hội
Thánh Tin Lành Việt Nam.

Ngần ấy sự kiện đã chứng minh cho ta thấy rằng, chính Thánh Linh vừa là Đấng
sáng lập nên Hội Thánh vô hình và chính Ngài cũng là Đấng sáng lập nên Hội
Thánh địa phương. Trách nhiệm sáng tạo của Ngài có thể được hiểu qua ý nghĩa
của câu Thánh Kinh nầy: “Ấy chẳng phải bởi quyền thế, cũng không phải bởi năng lực, bèn
là bởi thần Ta, CHÚA, Đức Chúa Trời vạn quân phán vậy.” (Xa 4:6)

Thánh Linh đã sáng lập Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Ngài đã đồng công với
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam bắt đầu từ khởi thủy và chắc chắn Ngài đồng công
với chúng ta cho đến khi nào sự hiện diện của Hội Thánh trên thế gian không còn
cần thiết nữa.

4. Nền Tảng Của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam

Ý niệm về Đấng sáng lập Giáo hội đã được phác họa sơ lược ở phần trên. Về
phương diện hình thức, như thế cũng đủ tạm để chúng ta không bỡ ngỡ về sự xuất
hiện của Hội Thánh Chúa trên mặt địa cầu. Nhưng nếu nhìn xa hơn để truy tầm
nguồn gốc, tức động lực phát hiện hay là nền tảng căn bản để xây dựng giáo hội,
thì nếu dừng lại ở đây, chúng ta sẽ thiếu sót. Vì một tổ chức Giáo hội dù có những
lễ nghi trang nghiêm, hình thức nhóm lại dù có long trọng thế nào đi nữa, nhưng

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 89

không có một nền tảng vững chắc thì cũng không thể nào đứng nỗi trước những 89
tấn công dồn dập của ma quỷ và những cám dỗ của thế gian tội lỗi.

Do đó, nền tảng của Hội Thánh phải là cái nền bằng Đásống, không bị tàn phá
bởi thời gian, trái lại sẵn sàng đối phó với tất cả mọi hoàn cảnh. Thế đứng của Hội
Thánh phải là thế đứng vững mạnh, vươn lên cao và tỏa ra muôn vạn hào quang
rực rỡ. Nói cách khác, Hội Thánh phải có năng lực chủ động trong mọi tương quan
lịch sử, ở trong thế gian nhưng tách rời khỏi thế gian. Hội Thánh không thể bị chi
phối bởi thế gian, trái lại sự hiện diện của Hội Thánh còn làm cho thế gian khỏi bại
hoại hoàn toàn.

Trong Kinh Cựu Ước, có nhiều lần nói đến một Vầng đá là nơi ẩn náu của dân
Do Thái. Và Vầng đá đó chính là Đức Chúa Trời hằng sống. Bản chất “Tự Hữu Hằng
Hữu” của Ngài được mô tả như sự oai nghiêm sừng sững của một Hòn Đá. Không lệ
thuộc vào bất cứ một hiện tượng chuyển biến nào của thiên nhiên. Chính vì ý nghĩa
đó mà Mô-se đã nói: “Hãy tôn sự oai nghiêm cho Đức Chúa Trời chúng tôi. Công việc của
hòn đá là trọn vẹn” (Phu 3:3). Tiên tri Ê-sai cũng đã thuật lại lời CHÚA, Đức Chúa Trời
phán: “Nay ta đặt tại Si-ôn một hòn đá để làm nền, là đá đã thử nghiệm, là đá góc quý báu,
làm nền bền vững. Ai tin sẽ chẳng gấp rút” (Es 28:16).

Ngoài ra, hòn đá ấy còn là biểu tượng của một sự bao bọc che chở: “Ngài là nơi
bền vững cho kẻ nghèo, đồn lũy cho kẻ thiếu thốn trong lúc khó khăn, chỗ đụt cho khỏi bão, chỗ
bóng mát cho khỏi nắng, khi những kẻ cuồng bạo thổi hơi ra như bão, xông vào tường thành”
(Es 25:4).

Trong khi Cựu Ước mạc khải cho chúng ta biểu tượng về nền tảng của Hội
Thánh, thì chính Tân Ước đã làm ứng nghiệm ý nghĩa đích thực của lời tiên tri. Đức
Chúa Jêsus Christ đã đến thế gian và chính Ngài là Vầng Đá ấy. Ngài là nền tảng của
Hội Thánh. Thực thể của Jêsus Christ là hiện thân của CHÚA, Đức Chúa Trời ngày
xưa. Nói cách khác, Ngài là Đức Chúa Trời thành nhục thể. Trong các buổi giảng, sứ
đồ Phi-e-rơ luôn luôn sốt sắng kêu mọi người: “Hãy đến cùng Ngài là Hòn đá sống thật,
bị người ta loại ra, song đối với Đức Chúa Trời thì được lựa chọn và quý trọng” (IPhi 2:4). Và
cũng vì có cùng một quan niệm như vậy, nên thánh Phao-lô đã quả quyết rằng:
“Chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập là Jêsus Christ” (ICo 3:11). Jêsus Christ
là nền tảng của Hội Thánh vô hình và chính Ngài cũng là nền tảng của Hội Thánh
Tin Lành tại Việt Nam.

Chân lý này chẳng những đã được Thánh Kinh và các sứ đồ minh giải mà chính
Cứu Chúa chúng ta cũng đã xác nhận, như Lời Ngài đã phán với Phi-e-rơ: “Còn ta lại
bảo ngươi rằng: ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội Thánh ta trên Vầng Đá này, cửa Âm phủ
chẳng thắng nó được” (Mat 16:18). Câu Thánh Kinh trên đây đã có một số đông người
hiểu lầm, cho rằng Chúa lập Phi-e-rơ làm nền tảng Hội Thánh. Nhưng ý nghĩa đích
thực của nó không phải như vậy, Ngài không ám chỉ Phi-e-rơ, vì chữ Vầng Đá ở đây

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 90

là Vầng Đá lớn – nguyên văn Hy Lạp là Pétra – còn tên Phi-e-rơ, hiểu theo nguyên 90
ngữ là một “hòn đá nhỏ” (Pétros). Sỡ dĩ Chúa phán điều này, là vì trước đó Phi-e-rơ
đã xưng nhận Ngài là Đấng Christ, là Con Đức Chúa Trời hằng sống. Vì chỉ Con Đức
Chúa Trời hằng sống mới có thể là nền tảng của Hội Thánh thôi. Phi-e-rơ dù là một
sứ đồ được ơn nhiều, nhưng trước mặt Chúa, ông chỉ là một con người với tất cả
yếu đuối, lầm lẫn có thể có. Thật sự quá trình hoạt động của Phi-e-rơ đã chứng
minh cho chúng ta điều đó.

Đấng Christ chẳng những là nền tảng của Hội Thánh mà Ngài còn là đầu của
Hội Thánh nữa. Cho nên Hội Thánh Tin Lành Việt Nam dù trải qua biết bao giai
đoạn khó khăn, Tin Lành bị bắt bớ bằng nhiều hình thức, nhưng Đạo của Chúa vẫn
cứ tồn tại và vững mạnh cho đến ngày nay. Trong quá khứ có nhiều người đã vì
chân lý phải ngã gục xuống, nhưng liền theo đó có những cánh tay rắn chắc khác
vươn cao lên. Ngọn đuốc Tin Lành vẫn cháy sáng qua mọi thời đại và đức tin nơi
Christ của những môn đồ trung kiên vẫn không thay đổi. Ngoài Christ không ai có
đủ khả năng lãnh đạo Hội Thánh. Không ai có đủ tư cách đại diện cho Ngài ở trần
gian. Chẳng ai trong vòng các sứ đồ được cử làm đầu Hội Thánh. Trước khi thăng
thiên, Ngài chỉ ủy thác cho họ một sứ mệnh duy nhất là rao truyền Tin Lành. Vâng,
theo sứ mệnh nầy họ bắt tay ngay vào công cuộc truyền giáo và hai mươi thế kỷ
qua, nhiệm vụ cao quý nầy của họ vẫn được tiếp tục và chắc chắn sẽ được tiếp tục
mãi cho đến ngày Cứu Chúa Jêsus tái lâm.

5. Hội Thánh Thuộc Về Ai?

Với những kinh nghiệm thu thập được trong đời sống đức tin và bởi sự mạc khải
của Thánh Kinh, chúng ta biết chắc rằng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã được
Đức Thánh Linh sáng lập và Jêsus Christ, Chúa yêu dấu của chúng ta, là nền tảng.
Nhưng Hội Thánh thuộc về ai? Đó là điểm thắc mắc cuối cùng có thể có của những
người vừa mới bước chân ra khỏi vùng bóng tối, và cũng là một trong những điểm
tế nhị nhất của Thần Học Cơ Đốc. Huyền nhiệm về Đức Chúa Trời Ba Ngôi tuy vẫn
còn là một huyền nhiệm rất cao siêu mà trí óc hữu hạn của con người khó có thể
nhận thức thấu đáo được, nhưng về phương diện nầy trong tương quan giữa Ba
Thân Vị, và trong trật tự lãnh đạo tối thượng - sự phân nhiệm đã được minh định rõ
rệt.

Thánh Linh là Đấng sáng lập Hội Thánh và Jêsus Christ là Đầu Hội Thánh. Với tư
cách là Đầu Hội Thánh Ngài có thể ví chính mình như là gốc của một thân cây và
Đức Chúa Trời là Đấng trồng cây ấy. Chẳng những biểu tượng của chân lý nầy đã
được Ngài dạy dỗ nhiều lần bằng những ví dụ, mà chính Ngài cũng trình bày cặn kẽ
trong giờ tương giao trực tiếp với Cha: “Con đã tỏ danh Cha ra cho những người Cha
giao cho con từ giữa thế gian; họ vốn thuộc về Cha”(Gi 17:6). Danh từ “Cha” trong giao ước
trên đây của Christ là Thân vị của Đấng Sáng Tạo, Chủ tể của trời đất muôn vật và
loài người. Đó là một trong những lẽ thật bất di bất dịch mà Thánh Kinh đã nhiều

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 91

lần nhắc đi nhắc lại: “Muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài và hướng về Ngài. Vinh hiển cho 91
Ngài đời đời vô cùng” (Ro 11:36).

“Họ vốn thuộc về Cha.” Jêsus Christ xác nhận như vậy và Ngài cũng đã nói rõ
hơn: “Phàm mọi điều thuộc về Con tức là thuộc về Cha, mọi điều thuộc về Cha tức thuộc về
Con” (Gi 17:10). Tiêu đề của giao ước trên đây không phải là các thiên sứ hoặc thiên
sứ trưởng - mà là Hội Thánh tức “những người biệt riêng Cha ban cho Con” đã
được tách khỏi thế gian tội lỗi và mọi xiềng xích của ma quỷ. Dân sự của Đấng
Christ, thân thể của Đấng Christ là cơ nghiệp của Cha Ngài. Hội Thánh thuộc về
Đức Chúa Trời và chỉ một mình Đức Chúa Trời là chủ tể của Hội Thánh. Hội Thánh
không thuộc về thế gian hoặc một giáo chủ nào khác ngoài Ngài. Trong Ngài,
chúng ta thừa hưởng tất cả mọi phước hạnh, vì chúng ta là thân thể của Đấng
Christ thuộc về Đức Chúa Trời. Không có gì cao quý hơn Hội Thánh ở trước mặt
Chúa, kể cả những vương quốc tuyệt đỉnh, những vinh quang của thiên đàng và sự
uy nghi của các thiên sứ. Bởi đó, một nhà thần học Cơ Đốc trong khi nghiên cứu
những lời cầu nguyện của Chúa Jêsus, đã viết như sau: “Các thiên sứ được dựng
nên vì cớ Đấng Christ, không một thiên sứ nào có thể tung cánh trong khoảng
không vô tận theo đường lối của riêng mình, trừ phi Giê-hô-va muốn cho con Ngài
có những kẻ tùy tùng; trong trường hợp ấy Tân phụ vẫn quý trọng hơn những tùy
tùng gấp bội.” Dù cho Đấng Christ có thống lãnh mọi vương quốc, chiếm hữu mọi
quyền lực, cai quản trên tất cả mọi kẻ cầm quyền đi nữa, thì Ngài cũng sẽ ban cho
chúng ta được ngồi với Ngài trên ngôi, như chính Ngài đã thắng và ngồi với Cha
Ngài trên ngôi Ngài...

“Tất cả mọi sáng tạo khác đều bắt nguồn từ bên ngoài, nhưng Hội Thánh được
sáng lập từ bên trong bằng một đường lối rất huyền nhiệm được mạc khải lần đầu
tiên trong vườn Ê-đen. Khi A-đam - hình bóng về Đấng Christ - được Đức Chúa Trời
dựng nên, người được ban cho quyền bính trên mọi sinh vật, người đặt tên chúng
nó, “ nhưng về phần A-đam thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình
hết.” CHÚA, Đức Chúa Trời bèn khiến cho A-đam ngủ mê và trong khi người ngủ,
Ngài lấy ra một xương sườn để nắn nên một người nữ và ban nàng cho người. Do
đó, A-đam có thể nói: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Đây là
mầu nhiệm lớn trong tương quan giữa Đấng Christ và Hội Thánh.”

Cho đến hôm nay và mãi về sau, Chúa vẫn luôn luôn phò hộ gìn giữ những kẻ
thuộc về Ngài. Đó là niềm an ủi và sự khích lệ lớn đối với chúng ta. Lắm khi chúng
ta phải trải qua những giờ phút gần như tuyệt vọng nhất vì những ngược đãi của
người đời, xin hãy nhớ lại những lời hứa sắc son của Chúa: “Đừng sợ, vì ta đã chuộc
ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta
sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy,
ngọn lửa chẳng đốt ngươi”(Es 43:1-2).

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 92

Nhìn lại những đoạn đường Hội Thánh Chúa tại Việt Nam đã đi qua, chúng ta
có cớ để cảm tạ sự thành tín của Ngài. Chúa Jêsus hôm qua, ngày nay cho đến đời
đời không hề thay đổi, nên những lời hứa của Ngài cũng không đổi thay. Thiết
tưởng không có gì vui sướng hơn lúc phải sống trong những giờ phút đen tối nhất
lịch sử, tai chúng ta được nghe tiếng phán êm dịu của Ngài: “Ngươi chớ sợ, vì ta ở cùng
ngươi”(Gie 46:28). Có biết bao lời hứa tương tự như vậy đã được ra từ miệng của
Đấng Christ.

6. Trường Thánh Kinh Và Thánh Kinh Thần Học Viện

Mùa thu năm 1911 Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp đã được phép đặt cơ
sở Truyền giáo thứ nhất tại Việt Nam là Đà Nẵng. Tới tháng 9 năm 1921 các Giáo sĩ
mở lớp dạy Thánh Kinh tại Đà Nẵng, bắt đầu lớp học chỉ có 4 người, sau được 7
người, đến cuối niên học 1921-1922 số học viên là 9 người. Khi đó lớp học là một
cái phòng trước dùng để xe ngựa. Vì vậy đã có lời chế nhạo rằng: “Học sinh Trường
Thánh Kinh Tin Lành học trong chuồng ngựa.” Nhưng các học viên vẫn hãnh diện
mà đáp lại rằng “phải rồi, Chúa chúng tôi đã giáng sinh trong chuồng bò mà!”

Vị Đốc học của Trường Thánh Kinh là Giáo sĩ D. I. Jeffrey. (xem ảnh ở đầu sách)

Đầu năm 1923 đã có một phòng học khá rộng tọa lạc tại phía sau nhà thờ Đà
Nẵng. Phòng học này có đầy đủ chỗ cho 50 học viên. Tháng 12-1924 hoàn thành
thêm một phòng lớn hơn dùng làm lễ đường và 4 lớp học tọa lạc trong khuôn viên
Trường Thánh Kinh. Những phòng ốc này đã dùng để làm Trường Thánh Kinh liên
tiếp trong các niên học cho tới niên khóa chót của Trường Thánh Kinh tại Đà Nẵng
(1959-1960).

Lễ đường và phòng học Thánh Kinh tại Đà Nẳng 1924 92

Tháng 7 năm 1960 Trường Thánh Kinh được thiên di vào Nha Trang và đổi tên
là Thánh Kinh Thần Học Viện.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 93

Tạ ơn Đức Chúa Trời là Đấng Toàn tri, Ngài đã biết trước sự cần dùng của Hội 93
Thánh và biết rõ đường lối của loài người! Ngài đã dự bị công việc phổ biến Thánh
Kinh được tiến triển một cách kịp thời và đúng lúc. Sau đây là quá trình của Thánh
Kinh Thần Học Viện, do ơn Chúa chuẩn bị.

Vào khoảng năm 1948-1949, tôi cảm thấy công việc Chúa ở miền Nam càng
ngày càng phát triển mạnh, trái lại, công việc Chúa tại miền Bắc càng ngày càng
khó khăn hơn. Nên tôi cầu nguyện với Chúa và được sự thúc giục phải có Trường
Thánh Kinh ở giữa vùng có đông Hội Thánh. Sau một thời gian cầu nguyện, tôi đã
ngỏ ý này với cụ Mục sư Ông Văn Huyên lúc ấy đang là Giáo sĩ Trường Thánh Kinh
Đà Nẵng. Khi ý này được tỏ ra, thì liền gặp sự chống đối mãnh liệt và dai dẵng. Đến
nỗi có người tại Trường Thánh Kinh Đà Nẵng đã nói với tôi rằng: “Mỗi lần ông ấy về
đây (Đà Nẵng) là làm chúng tôi mệt trí thêm, tốt hơn ông đừng thăm chúng tôi nữa
(khi ấy tôi đang ở Hà Nội), vì mỗi lần ông đến là như ném lựu đạn vào chúng tôi.”

Tháng 5-1951 văn phòng Tổng Liên Hội từ Hà Nội dời vào Đà Lạt. Từ ngày ở Đà
Lạt, tôi thường gặp ông Ourgaud là người tín đồ Pháp làm đồn điền Di Linh. Ông
Ourgaud có miếng đất tại Nha Trang (hiện nay là Thánh Kinh Thần Học Viện) muốn
bán cho Hội Thánh để ông thu xếp về Pháp. Tôi lại đem ý thiên di Trường Thánh
Kinh bàn với cụ Mục sư Duy Cách Lâm và cụ Mục sư Ông Văn Huyên. Chúng tôi
đồng ý đưa vấn đề này cho Tổng Liên Hội thảo luận. Nhưng chúng tôi lại vướng
phải vấn đề vô cùng khó khăn là không có tài chánh. Trong khi đó, chúng tôi vẫn
tiếp tục cầu nguyện và chờ ý Chúa được nên trong công việc này. Trong thời gian
ấy, ông Ourgaud về Pháp, ông đã giao chủ quyền miếng đất lại cho ông Mục sư
Nguyễn Văn Tầm là vị truyền giáo tại Di Linh nơi làm việc của ông Ourgaud.

Vào khoảng cuối năm 1957, Giáo sĩ J. H. Revelle, lúc bấy giờ là Hội Trưởng Hội
Truyền Giáo, đến thăm Nha Trang. Tôi nhắc lại ý định thiên di trường Thánh Kinh
vào Nha Trang với ông và mời ông đi xem sở đất của ông Ourgaud, nơi mà chúng
tôi có ý định mua để thiên di trường Thánh Kinh vào. Ông Giáo sĩ J. H. Revelle sốt
sắng hưởng ứng và cổ động với thư ký Hải Ngoại là ông L. L. King. Ông King cũng
sẵn lòng tán trợ, tạ ơn Chúa, ý Ngài đã được nên. Chúng tôi liền xúc tiến mua
miếng đất mà ông Ourgaud đã hứa bán cho Hội Thánh. Mùa hè năm 1958 Thánh
Kinh Thần Học Viện khởi công xây cất dưới sự điều khiển của cụ Mục sư Duy Cách
Lâm và cụ Mục sư Ông Văn Huyên. Thánh Kinh Thần Học Viện đã khai giảng niên
khóa đầu tiên tại Nha Trang ngày 5-5-1960.

Lễ Khánh thành đã được cử hành ngày 9-7-1961.

Cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng dự bị mọi sự cần cho Hội Thánh của Ngài tại Việt
Nam.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 94

Thánh Kinh Thần Học Viện Tin Lành Nha Trang

94
Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 95

CHƯƠNG 4: CAO TRÀO PHỤC HƯNG GIÁO HỘI 95
VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN LỊCH SỬ

Như tôi đã có dịp trình bày cùng quý độc giả, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam
ngay từ lúc khởi đầu đã trải qua những giờ phút hết sức khó khăn. Nếu không có sự
gìn giữ và bảo hộ của Chúa, thì chắc chắn không thể nào đứng vững. Giữa năm
1941 và 1942 quân đội Nhật đổ bộ ở Lạng Sơn, gây nên nhiều biến chuyển mới.
Hội Thánh nhận thấy cần sự có mặt của tôi ở Hà Nội, nên tôi phải rời Thanh Hóa
để trở về dù công việc Chúa tại nơi đây đang tiến triển rất khả quan.

Trong giai đoạn này, công việc Hội Thánh tại Bắc hạt vẫn tiến triển đều đặn.
Nhiều hội đồng phục hưng liên tiếp được tổ chức khắp nơi. Tôi tha thiết cầu xin
Chúa sự giúp đỡ để có thể vừa phát triển vừa củng cố Hội Thánh, nuôi dưỡng tinh
thần anh em tín hữu bằng linh lực để có đủ khả năng ứng phó với những khó khăn
của tình thế. Trong khi chúng tôi đang dốc toàn lực cho miền Bắc, thì ngày 10-2-
1942 tôi bỗng nhận được thư của ông Mục sư Kiều Công Thảo, chủ nhiệm Nam hạt
mời tôi vào giảng cho Hội đồng Nam hạt nhóm tại Cần Thơ, thay cho Hội trưởng
Mục sư Lê Đình Tươi thọ bệnh bất ngờ. Thoạt tiên tôi nghĩ là không thể đi được vì
hai lẽ: Thứ nhất, tôi không thể rời Bắc hạt trong lúc ấy; thứ hai, tôi chưa chuẩn bị
và không biết ý Chúa muốn mình nói những gì với Hội đồng. Vả lại, ngày 14-2-1942
tôi phải có mặt tại Cao Bằng để giảng bố đạo và phục hưng tại đó, nên tôi trả lời là
không thể đi được.

A. THỜI KỲ PHỤC HƯNG TOÀN DIỆN

1. Khải Tượng Trong Chiêm Bao

Sau khi gởi điện văn từ chối không thể đến Cần Thơ, tôi liền nhận được một
điện tín khác từ Nam hạt gởi ra, nội dung hết sức ép nài, mong mỏi tôi đến bằng
mọi cách. Các Giáo sĩ và mục sư tại Hà Nội cũng khuyên giục tôi nên đi. Không thể
làm cách nào hơn, tôi liền trải bức thư của ông Chủ nhiệm Nam hạt trên giường
ngủ để cầu hỏi ý Chúa và xin Chúa giúp tôi quyết định hiệp ý muốn Ngài. Đêm ấy,
trong giấc ngủ, tôi nằm chiêm bao. Khải tượng trong giấc chiêm bao ấy và sự dạy
dỗ của Lời Chúa trong Sa 46:4 giúp tôi có một quyết định hợp lý là ĐI. Cũng xin nói
thêm là ngay khi mới bắt đầu chức vụ, tôi đã sắm sẵn một cái HỘP trong đó đựng
ba trăm sáu mươi lăm câu Thánh Kinh được chép trên ba trăm sáu mươi lăm miếng
giấy nhỏ có đề ngày tháng cẩn thận, dùng để làm kim chỉ nam cho trọn năm. Tôi
rút một miếng giấy nhỏ trong hộp ấy và đọc những lời này: “Chính ta sẽ xuống đến đó
với ngươi và chính ta cũng sẽ dẫn ngươi về chẳng sai” (Sa 14:4). Căn cứ vào ý nghĩa của câu
Thánh Kinh này, tôi gởi ngay tín điện cho ông Mục sư Kiều Công Thảo: Tôi sẽ đến
Cần Thơ 20-2-1942.

Câu chuyện về giấc chiêm bao trên đây, ít lâu sau, được đăng tải trên vài tờ báo
Anh bên Mỹ. Rồi một tờ báo Pháp cũng tường thuật lại với nhan đề: “Le Rêve du

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 96

Pasteur Thái.” Sở dĩ một giấc mơ thông thường như vậy được loan đi khắp nơi trên
thế giới, vì đó chính là khởi điểm của một biến động do Chúa cho phép xảy ra để
giúp đức tin tín đồ và nuôi sống Hội Thánh miền Bắc từ năm 1942 đến đầu năm
1946. để tiện việc nghiên cứu, tôi xin dịch bài báo Pháp trên đây đăng trong tờ “Le
Christianisme au XXe Siècle” số ra ngày 20-9-1945.

LE CHRISTIANISME

Chiêm bao của Mục sư Thái 96

Chiêm bao của Mục sư Thái, mới nghe như nhan đề của một câu chuyện đời
xưa được kể vào buổi tối. Nhưng đây là một câu chuyện thật chúng tôi muốn thuật
lại. Mục sư Thái hành chức tại Hà Nội và là một trong các vị Mục sư cao niên nhất
của Hội Thánh Việt Nam trẻ trung mà độc giả của báo này từng quen biết.

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 97

Khi nước Nhật khai chiến với Hoa Kỳ, các Hội Thánh xứ Đông Dương đang 97
chuẩn bị tổ chức Hội đồng thường niên tại Việt Nam, Mục sư Tươi Hội Trưởng Tổng
Liên Hội, được cử làm Chủ tọa và chủ tọa Hội đồng. Chẳng may, Mục sư Tươi mắc
bệnh bại nên Ban Trị sự ngỏ lời với Mục sư Thái, xin ông vui lòng đảm nhận trách
nhiệm ấy. Tình hình lúc ấy thật là nghiêm trọng, nhiều vấn đề quan trọng cần phải
giải quyết. Hội Thánh là thành quả của công lao mà các Giáo sĩ (Hoa Kỳ) sắp phải
trải qua những giờ khủng khiếp dưới quyền người Nhật Bản. Mục sư Thái cảm thấy
mình không đủ khả năng bèn từ khước. Ban Trị sự cố nài nỉ, Mục sư Thái ngần ngại
chưa dám quyết định.

Một đêm, ông ấy thấy chiêm bao: ông thấy mình đương giảng trước Hội đồng,
khi đang giảng, một thanh niên đứng dậy cởi áo choàng để trên bàn mà rằng: “Tôi
xin dâng món này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Tức thì một người thiếu phụ cũng
đứng dậy tiến về phía bàn, gỡ đôi bông tai vàng mà đặt trên bàn và nói: “Tôi xin
dâng món này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Sự cảm kích làm cho Mục sư thức
giấc và đến sáng, sau khi cầu nguyện, ông nhận lời của Ban Trị sự.

Hội Đồng được phước nhiều, nhất là phiên nhóm của thanh niên Hội Thánh.
Sau đó vào ngày chót, ông giảng cho toàn thể Hội Đồng. Đang khi ông giảng - tuy
không hề ngỏ lời kêu gọi xin giúp tài chánh cho Hội Thánh Bắc Kỳ - một thanh niên
đứng lên, tiến về phía bàn, cởi áo choàng đặt lên đó mà rằng: “Tôi xin dâng món
này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Tức thì một thiếu phụ đứng dậy, tiến về phía
bàn, lột đôi bông tai vàng nói như lời người thanh niên mà rằng: “Tôi xin dâng món
này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Ngạc nhiên, Mục sư Thái nhận biết đó là hai
người mình đã thấy trong chiêm bao. Các giáo hữu khác cũng theo gương họ, số
người dâng cứ tăng thêm mãi, đến nỗi phải mượn hai cái rương để đựng các lễ vật.

Trên đường về, Mục sư Thái ghé lại Hội đồng địa hạt chung việc. Ông cũng
giảng cho Hội đồng và cho trường Thánh Kinh Tourane. Cả hai nơi đều có một số
người tự động dâng hiến những lễ vật, Mục sư trở về Hà Nội với bốn va-li đầy.
Nhưng lễ vật này chính là một phần cứu trợ lớn lao cho Hội Thánh Bắc Kỳ trong hai
năm trường gian khổ.

Có phải Đức Chúa Trời bao giờ cũng dùng chiêm bao để bày tỏ ý muốn Ngài và
dẫn đường chỉ lối cho ta không? Chắc là không, nhưng câu chuyện ngắn này có
thật và được thuật đúng từng chi tiết, đã chứng tỏ rằng các chuyện tích trong
Thánh Kinh phù hợp với kinh nghiệm của loài người đến mức nào. Hoài nghi những
việc đã xảy ra với các nhân vật trong Thánh sử, trong khi Đức Chúa Trời vẫn còn tái
diễn những việc ấy cho những người đồng thời với ta thì thật là khinh bạc biết là
chừng nào.

G. Debot

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 98

(Trích dịch báo ‘Le Christianisme au XXe siècle’ ra nhằm ngày 20 tháng 98
Septembre năm 1946).

“Chiêm bao của mục sư Thái.” Mới nghe như nhan đề của một câu chuyện đời
xưa được kể vào buổi tối. Nhưng đây quả là một chuyện thật mà chúng tôi muốn
thuật lại. Mục sư Thái hành chức tại Hà Nội, là một trong những vị mục sư niên
trưởng của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trẻ trung mà quý độc giả đã từng biết qua.

Trong khi nước Nhật giao chiến với Hoa Kỳ, thì các Hội Thánh tại Đông Dương
lo chuẩn bị Hội đồng thường niên (danh từ địa phương gọi là Địa hạt Liên hội) tại
Cần Thơ, Mục sư Tươi, Hội trưởng Tổng Liên Hội được ủy nhiệm triệu tập và chủ
tọa Hội đồng. Nhưng chẳng may, Mục sư Tươi mắc bệnh bại. Ban Trị sự liền ngõ lời
với Mục sư Thái, xin ông vui lòng đảm nhận trách nhiệm thay cho. Tình hình lúc
bấy giờ đang nghiêm trọng, có nhiều vấn đề cần giải quyết. Hội Thánh - bông trái
lành của các Giáo sĩ (Hoa Kỳ) - sắp phải trải qua những giờ khủng khiếp dưới quyền
người Nhật. Mục sư Thái cảm thấy mình không đủ khả năng bèn từ chối. Ban Trị sự
cố nài, nhưng Mục sư Thái vẫn ngần ngại và chưa dám quyết định.

Một đêm kia nằm chiêm bao. Ông thấy mình đứng giảng trước Hội đồng. Trong
khi ông đang giảng thì có một người trẻ tuổi đứng dậy cởi áo choàng để trên bàn và
nói rằng: “Vì công việc Chúa ở Bắc Kỳ, tôi xin dâng món nầy.” Tiếp đến, một người
thiếu phụ cũng đứng dậy tiến về phía bàn, gỡ đôi bông tai vàng mà đặt trên bàn và
nói: “Tôi xin dâng món này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Sự cảm kích làm cho
Mục sư thức giấc và đến sáng, sau khi cầu nguyện, ông nhận lời của Ban Trị sự.

Hội Đồng được phước nhiều, nhất là phiên nhóm cho thanh niên Hội Thánh.
Sau đó vào ngày chót, ông giảng cho toàn thể Hội Đồng. Đang khi giảng - tuy ông
không hề tỏ lời kêu gọi xin giúp tài chánh cho Hội Thánh Bắc Kỳ – nhưng một
thanh niên đứng lên, tiến về phía bàn, cởi áo choàng đặt trên bàn và nói: “Tôi
muốn dâng món này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Tức thì một thiếu phụ cũng
đứng dậy, tiến về phía bàn, lột đôi bông bằng vàng và lập lại: “Tôi muốn dâng món
này cho công việc Chúa ở Bắc Kỳ.” Mục sư Thái rất ngạc nhiên vì nhận ra đó chính
là hai người mình đã thấy trong chiêm bao. Các giáo hữu khác cũng làm theo như
vậy, số người dâng cứ tăng thêm mãi, đến nỗi phải mượn hai va-li để chở các lễ vật.

Trên đường về, mục sư Thái cũng ghé lại Hội đồng Linh tu tại Địa hạt Trung Kỳ.
Ông có dịp giảng dạy ở đó và kế tiếp là ở trường Thánh Kinh Tourane. Khắp nơi đều
có một số người tự ý dâng lễ vật như vậy, và mục sư trở về Hà Nội với bốn va-li
đầy. Những tặng vật này thật đã là một phần cứu trợ lớn cho Hội Thánh Bắc Kỳ
trong bốn năm trường gian khổ...

Có phải bao giờ Đức Chúa Trời cũng dùng chiêm bao để bày tỏ ý muốn Ngài và
dẫn đường chỉ lối cho ta không? Chắc là không, nhưng câu chuyện ngắn này có
thật và được thuật đúng từng chi tiết, đã chứng tỏ rằng các chuyện tích trong

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 99

Thánh Kinh phù hợp với kinh nghiệm của loài người đến mức nào. Hoài nghi những 99
việc đã xảy ra cho các nhân vật trong Thánh sử, trong khi Đức Chúa Trời vẫn còn
tái diễn những việc ấy cho những người đồng thời với ta thì thật là khinh bạc biết
chừng nào.”

(Trích dịch báo ‘Le Christianisme au XXe siècle’ ra nhằm ngày 20 tháng 9 năm 1946).

Sau khi gởi điện tín cho ông Mục sư Chủ nhiệm Nam hạt, tôi sửa soạn để đi
giảng phục hưng bố đạo ở Cao Bằng, tổ chức liên tiếp hai ngày 14 và 15-2-1942.
Ngày 16-2 tôi đến Na Sầm. Tại đây tuy chưa có Hội Thánh nhưng đã có một phòng
đọc sách và một người tín đồ là ông Phán Hỏa là Trưởng ty Quan thuế, mới tin
nhận Chúa nhưng rất sốt sắng. Việc nhóm họp hàng tuần hoặc do Mục sư từ Lạng
Sơn đến hoặc chúng tôi từ Hà Nội lên. Theo chương trình, tôi định tối 16-2 nhóm
tại Hội Thánh Lạng Sơn và sáng 17-2 từ Lạng Sơn về Hà Nội, để đáp chuyến xe lửa
tối hôm ấy vào Sài Gòn (19-2) và đến Cần Thơ đúng ngày 20-2-1942.

Tôi cố gắng áp dụng đúng theo thời khắc biểu đã hoạch định, nhưng vào giờ
chót suýt chút nữa chương trình đã hỏng vì một tai nạn nhỏ. Nếu không có sự can
thiệp của Chúa thì không thể nào tôi đến Cần Thơ đúng ngày. Số là sáu giờ sáng
ngày 16-2, tôi bỏ Cao Bằng đến Na Sầm, định trưa, sau khi nhóm thờ phượng Chúa
với anh em xong, tôi sẽ đáp xe lửa từ Na Sầm về Lạng Sơn để nhóm tối. Nhưng sau
khi giảng và thăm viếng anh em, ra đến ga thì chuyến xe lửa chót đã chạy rồi, xe
hơi thì cũng hết. Không thể làm cách nào khác hơn, tôi liền mượn một chiếc xe
đạp của tín đồ để theo đường tắt về ga Kỳ Lừa với hy vọng đón được xe lửa. Đó là
phương cách duy nhất khả dĩ giúp tôi thành công. Muốn đến Kỳ Lừa phải vượt qua
một khoảng đường rừng với nhiều đồi núi. Không may chiếc xe đạp quá cũ, hành lý
cồng kềnh, khi xuống dốc xe đứt thắng đâm vào núi, tôi bị thương ở đầu và cánh
tay, nằm bất tỉnh giữa rừng. Khi tỉnh dậy, nhớ lại cảnh trạng vừa xảy ra, tôi hơi thất
vọng, vì xe lửa chắc đã chạy lâu rồi. Ngồi một hồi lâu, tôi cột lại hành lý. Xe đạp hư
không đi được đành phải dắt xuống núi. Đang khi đi, tôi bỗng nghe còi tiếng xe lửa.
Mừng quá, tôi cố vác xe đạp và hành lý lên vai chạy đến xe lửa thì trời vừa tối. Lên
xe tôi vừa thở vừa hỏi thăm mới hay, đáng lẽ chiếc tàu này đã qua khỏi đây một giờ
rưỡi rồi. Nhưng vì bị hỏng máy nên phải nằm ở ga Đồng Đăng một giờ rưỡi để sửa
chữa. Tôi lớn tiếng ngợi khen Chúa, vì biết chắc rằng Chúa đã giữ con tàu này lại
cho tôi. Chúa đã cứu mạng tôi khi gặp nạn và Ngài chuẩn bị mọi phương tiện cho
tôi đi. Nhờ đó, tôi đến Lạng Sơn kịp buổi nhóm. Sáng 17-2-1942 tôi về Hà Nội rồi
tối hôm đó tôi đáp xe lửa vào Sài Gòn. Sáng 19-2-1942 tôi đến Sài Gòn và đi ngay
xuống Cần Thơ để kịp dự Hội đồng Nam hạt ngày 20-2-1942 như đã hoạch định.

2. Lửa Thánh Linh Bùng Cháy

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]

Bốn Mươi Sáu Năm Trong Chức Vụ 100

Quang cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày Đại Hội cùng với vẻ tươi vui trong 100
tình yêu Chúa của toàn thể Mục sư, Truyền đạo và tín hữu làm cho lòng tôi thêm
phấn khởi.

Chiều hôm đó (19-2-1942) tôi dành thời giờ biệt riêng cầu nguyện trong phòng.
Tâm trí tôi xoay chung quanh hình ảnh: Con lừa con của con lừa cái, đưa Chúa đi
giữa sự hoan hô của đoàn dân đông. Tôi tự nhiên nhận thấy mình đơn sơ như con
lừa con và tôi đã cúi đầu thầm nguyện: “Lạy Chúa, nếu Chúa dùng, xin Ngài ngự
vào lòng con, cho con những ý tốt đẹp và những lời đầy ơn để nói với Hội đồng
hầu cho danh Chúa được vinh hiển.” Trong đêm tối, ý tưởng trên quấn quýt lấy tôi,
tôi không ngớt cầu xin với Chúa: “Con là con lừa ngây dại, nhưng xin Chúa dùng
con trong dịp này để tôn cao danh Ngài.”

Hội đồng qua một ngày với nhiều phước hạnh. Phần đông ăn nuốt Lời Chúa
cách sốt sắng lạ thường. Chiều hôm sau là giờ nhóm riêng cho thanh niên. Tôi
dùng Thi 119:9 để làm nền tảng cho bài giảng. Chúa giúp tôi khai thác sâu rộng ý
nghĩa của tiêu đề: “PHẢI LÀM SAO CHO ĐƯỜNG LỐI MÌNH ĐƯỢC TRONG SẠCH.”
Giải đề cho tiền đề trên đây là: “PHẢI CẨN THẬN THEO LỜI CHÚA.” Mục đích của
bài giảng này nhằm khuyến khích thanh niên đọc Lời Chúa và vâng giữ lời Ngài. Bổ
túc cho giải đề của tiền đề là tiêu đề của Vua Đa-vít: “TÔI ĐÃ GIẤU LỜI CHÚA
TRONG LÒNG TÔI, ĐỂ TÔI KHỎI PHẠM TỘI CÙNG CHÚA.”

Trong khi đang giảng, thì một thanh niên đứng lên khỏi ghế mình, tiến về phía
tòa giảng, nước mắt trào ra, cởi áo ngoài đặt lên bàn và nói: “Vì công việc Chúa tại
Bắc hạt, tôi xin dâng vật này.” Tiếp đến là một thiếu phụ tiến về phía tòa giảng vừa
đi vừa khóc, cởi đôi bông tai để lên bàn và lặp lại câu nói của người thanh niên: “Vì
công việc Chúa tại miền Bắc, tôi xin dâng vật này.”

Không phải như câu chuyện vua Nê-bu-cát-nết-sa thấy chiêm bao rồi quên hẳn
đi như đã được chép ở trong Đa-ni-ên đoạn 2. Nhưng, thật sự tôi đã quên lững
những gì tôi đã thấy trước khi vào dự Hội đồng. Bây giờ thái độ hành động của
thanh niên và thiếu phụ nầy bỗng nhắc tôi nhớ lại một đoạn phim đã được xem
qua… “trong giấc mơ.” Những người bằng xương bằng thịt đang đứng trước mặt
tôi, đây chính là những người tôi đã thấy trong khải tượng. Tiếp đó, người cởi giày,
kẻ cởi áo, bông tai, đồng hồ chen lấn nhau tiến về tòa giảng để dâng vật tốt lành
nhất mà mình đang có cho công việc Chúa ở miền Bắc. Trong số những người dâng
có trên đây, có bà Giáo sĩ D. I. Jeffrey dâng một cái đồng hồ đeo tay rất quý giá.

Những tặng vật trên đây tôi giao cho một ủy ban kiểm kê và lập phiếu trình gởi
ra Hà Nội. Sau cùng, chúng tôi phải dùng hai va-li lớn mới đựng hết những món đồ
cứu trợ này.

Sau Hội đồng Cần Thơ, tôi ra thăm các Hội Thánh Trung hạt và giảng cho Hội
đồng Linh tu tại Đức Phổ (Quảng Ngãi) ngày 24-2-1942. Tôi dùng Eph 3:14-19 làm

Thư Viện MS Christian Le PhD | [email protected]


Click to View FlipBook Version