Dàn nhạc ngũ âm do các chùa thành lập đã phụng sự đắc lực cho loại lễ
nhạc của người Khmer ở Nam Việt. Nhưng các thể ca bình dân được phát
triển mạnh mẽ không thua gì lễ nhạc, trước hết là thể hát đối gọi là ayay
ayang.
Cũng như tất cả các dân tộc sống bằng nghề nông, người Khmer ở Nam
Việt thường hay tổ chức các hội mùa, trong đó loại ayay ayang rất được
hoan nghênh. Đây là một điệu công thức dùng để chuyên chở bất cứ đề tài
nào, trên giai điệu nằm trong ngũ cung (do re fa sol la). Ayay ayang là bài
hát cột trụ của các tổ chức hát lưu động dù kê, một hình thức hát rong,
của nghệ sĩ không chuyên nghiệp, trong những tháng nhàn rỗi, đi trình diễn
những câu hát đối tại các chùa, các chợ, các làng, các sóc.
Truyện ca của người Khmer ở Nam Việt có một lối hát độc diễn gọi là
Châm Riêng. Nghệ sĩ vừa đánh đàn vừa kể truyện bằng thơ phổ nhạc.
Thơ Khmer có nhiều thể như brahma kith (ngũ lục), karkatés (tứ
ngôn), phouchong liléa (lục song tứ), pum nôi (lục tứ lục).
Đây là một ví dụ của thể brahma kith với đầu đề Cha khuyên con:
Kaun ơi ba kum thloy
Kum thlóp oy áp kê yós
Tham-đa kơt chéa prós
Oy réan rok chbáp méa-tra
Lok tha haw chhkuôt bei
Chhkuôt moy srei chhkuôt moy sra
Moy chhkuôt lbéng phéa léa
Leng pô béa thua kâm tat...
Nhà giáo Kiêm Rèm là người sưu tập nhiều thơ Khmer đã phóng tác bài
đó thành bài thơ lục bát Việt Nam như sau:
Nầy con con chớ xem thường
Chớ nên kết bạn những phường hư thân
Làm trai đứng ở cõi trần
Dồi mài kinh sử tu thân mới là
Chữ rằng: Tồi bại có ba[1]
Một là sắc dục hai là say sưa
Ba là bài bạc hơn thua
Những ngần ấy thói con chừa từ đây...
Thơ brahma kith thường được ngâm lên hay hát lên với giai điệu bay
bổng trong ngũ cung (re fa sol la do) và với nhịp đôi. Bài Cha khuyên
con nêu cao tinh thần đạo đức của những người Khmer trên đất Việt Nam.
Thơ karkatés, nghĩa đen là nhịp đi của con quạ, là loại thơ chuyên về
kể chuyện, kể việc. Đây là một ví dụ về thơ karkatés với đầu đề Ánh hào
quang:
Lok tha plơng phư
Méan pít mús rư?
Pum smơ sô-rya
Lok tha sơ seng
Cheng chăng huê ba
Nús pum smơ na
Brah dham brah Budh...
Nhà thơ Kiêm Rèm dịch là:
Người nói đèn sáng
Có thật chăng nào?
Cũng kém thái dương
Người nói ánh trời
Soi sáng mọi nơi
Cũng chưa sáng tỏ
Cho bằng Phật Tổ...
Thơ karkatés cũng được phổ nhạc với hệ thống ngũ cung (re fa sol la
do).
Dân nhạc Khmer trên đất Nam Việt, từ thể ca hằng ngày đi lên sân
khấu để thành ca kịch bình dân mang tên lokhom. Tổ chức của lokhom
cũng tương tự như gánh hát cải lương Nam Việt. Các tích xưa được đưa
vào hình thức hát tuồng với đầy đủ yếu tố âm nhạc, y trang, vũ điệu...
Người Khmer ở Nam Việt còn có một điệu dân vũ rất được mọi người
ưa thích. Đó là múa lâm thôn nghĩa đen là múa một mình. Lối múa này
rất giản dị, một trai một gái vờn nhau theo một điệu nhạc công thức (ngũ
cung), hai tay uốn éo nhưng không chạm vào thân thể. Điệu múa này được
phổ thông trong một số quốc gia có con sông Cửu Long chảy qua.
Tài liệu tham khảo
La musique des origines à nos jours. Edition Larousse Paris 1966.
Georges de Gironcourt: Recherche de Géographie musicale en
Indochine, BEFELO, 1940.
Kiêm Rèm: Tìm hiểu thi ca của đồng bào Việt gốc Miên, Luận Đàm, bộ
III, số 1.
Lê Hương: Người Việt gốc Miên, Thời Nay số 141.
Phạm Duy: Loạt bài Dân ca dẫn giải, Đài Tự do, Saigon 1965.
[1] Xem Đồ bản số 1.
PHẦN THỨ NHÌ
DÂN NHẠC VIỆT
DÂN CA
THƠ VÀ CA: DÂN CA
Trước hết, tôi quan niệm dân ca, dân nhạc Việt, trước khi âm nhạc
phổ thông loại mới thường được gọi là nhạc cải cách hay tân nhạc ra
đời, đã hoàn toàn là sự dung hóa của giọng nói địa phương và các thể
văn thơ bình dân hay bác học, do khối óc và con tim của cả hai giới sĩ và
nông tạo nên.
Nói một cách khác, dân ca Việt là những bài thơ: bốn chữ, năm chữ,
lục bát, hay song thất lục bát, được những giọng hát địa phương phổ
nhạc, rồi tùy theo công dụng hay thổ ngữ mà mang tên là ca, là hò, là lý...
Dù là một bài ru của người mẹ ôm con ở trong nhà, hoặc một bài hò
của người thợ cầy trên đồng ruộng, hoặc một bài hát rong của người mù
ngoài chợ, hoặc một bài ca của nghệ sĩ trên sân khấu, dân ca Việt là
những bài thơ hoặc văn vần do kẻ sĩ hay nông dân sáng tạo và hát lên,
rồi tùy theo nhu cầu mà có thêm nhịp điệu cần thiết cho sự sống còn của
giai điệu và lời ca.
Nghiên cứu dân ca Việt, phải nghiên cứu cả phần văn học bình dân và
bác học của nước ta, nhưng trong tiểu luận này, tôi chỉ xin đứng vào địa vị
của một nhạc luận gia để san định các bài hát địa phương và xin dành
phần đối chiếu văn học âm nhạc cho các bực thầy ở hiện tại và tương lai.
NGÂM (BÌNH), KỂ TRUYỆN (LẨY), NÓI THƠ, HÒ THAI
Khi cần đọc những lời thơ cho có âm điệu, người Việt miền Bắc, miền
Trung gọi đó là ngâm, trong khi người miền Nam gọi là nói thơ.
Ngâm hay nói thơ nghĩa là phổ nhạc những lời thơ mà chưa cần tạo ra
tiết điệu. Người ngâm hay nói thơ chỉ cần theo vận tiết của thơ. Thơ có
bao nhiêu chữ thì ngâm bấy nhiêu, không bắt buộc phải thêm những tiếng
lót, tiếng đệm.
Người miền Bắc dùng danh từ bình để chỉ định việc đọc những bài phú
(văn vần) cho có âm điệu.
Kể truyện cũng là một danh từ để thay thế ngâm thơ truyện. Truyện
Kiều đã tạo riêng một lối ngâm hay kể Kiều. Khi không ngâm cả một
truyện thơ mà chỉ kể lại một vài đoạn, người ta gọi lối trích truyện thơ ra
để ngâm như vậy là lẩy.
Tại miền Nam, truyện Lục Vân Tiên cũng cung cấp cho dân ca Việt
một lối hát kể truyện gọi là nói thơ Vân Tiên. Đồng thời một trò chơi
đánh lô tô ở đây đã sinh ra một lối ngâm những câu thơ chỉ định con số
gọi là nói lô tô.
Một trò chơi nữa ở Trung Việt mà các nho sĩ khi xưa hay bày ra là
ngâm những câu thơ đố chữ, đã tạo một lối ngâm nữa gọi là hò thai...
Ngâm thơ ở miền Bắc dùng nhiều điệu khác nhau.
Những bài thơ Đường thường được ngâm theo lối cổ phong với giai
điệu nằm trong hệ thống ngũ cung re fa sol la do, nét nhạc dựa vào ba
cung chính: la re fa.
Ngâm Kiều hay kể Kiều hay lẩy Kiều thì vẫn dùng ngũ cung nhưng có
hai nét nhạc: một chạy trên bộ do re fa sol la, một chạy trên bộ re fa sol la
do.
Ngâm sa mạc và bồng mạc là lối ngâm dành cho những bài thơ song
thất lục bát. Những câu lục bát ngâm theo giọng sa mạc thì chạy trong
ngũ cung re fa sol la do. Những câu song thất hay được ngâm theo giọng
bồng mạc, nét nhạc chuyển sang hệ thống ngũ cung khác là re mi sol la si
(hiện tượng métabole).
Nói thơ theo miền Nam, dùng giai điệu nằm trong ngũ cung hơi Nam
giọng oán với những cung bực khác với năm cung miền Bắc.
Ngũ cung hơi Nam giọng oán: do mi fa(già) sol la.
So với ngũ cung Bắc, cung thứ hai của miền Nam đã trở thành mi,
cung thứ ba già hơn cung fa thường.
Nói lô tô cũng dùng ngũ cung oán kể trên.
Miền Quảng Trị, Thừa Thiên với lối ngâm Huế và với lối ngâm những
câu thơ đồ (hò thai), dùng ngũ cung hơi Nam giọng ai. Năm cung ở đây
cũng thay đổi và không giống ngũ cung Bắc và ngũ cung hơi Nam giọng
oán.
Ngũ cung hơi Nam giọng ai: do re(non) fa(rung) sol la(non).
So với các ngũ cung Bắc và ngũ cung oán, hệ thống ngũ cung ở vùng
Huế đã khác hẳn: cung re bị lơ lớ, cung fa không ở một vị trí nhất định,
cung la cũng bị non đi.
Gần đây, các nghệ sĩ ngâm thơ trên các đài phát thanh đã pha trộn nhiều
lối ngâm để giới thiệu nhiều bài thơ. Họ dùng tất cả những lối ngâm cổ
phong, ngâm Kiều, ngâm sa mạc và bồng mạc, ngâm Huế, ngâm theo
hơi Nam giọng oán vừa kể, trong một chương trình Thi văn. Dân chúng
rất thích lối này và gọi đó là ngâm thơ theo kiểu Tao Đàn (tên một ban
ngâm thơ do cố thi sĩ Đinh Hùng và các nghệ sĩ Hồ Điệp, Hoàng Thư phụ
trách).
RU
Cũng như ngâm, bình, kể truyện, lẩy, nói thơ... Ru là một lối phổ
nhạc những bài ca dao lục bát nguyên thể hoặc biến thể. Tiết điệu của
ru là vận tiết của thơ, nhưng bây giờ để kéo dài câu ru, người ta thường
hát đệm những tiếng à ơi, ù ơ, á ơ, ạ ời ời…
Giai điệu của ru cũng tùy theo địa phương mà thay đổi. Ru có công
dụng ru trẻ ngủ, nhưng phụ nữ Việt thường hay mượn ru để nói lên thân
phận mình.
Phụ nữ miền Bắc ru trên giai điệu chạy suốt ngũ cung (do re fa sol la).
Sau đây là lời của bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em:
Bà ru cháu
Cái ngủ mày ngủ (í i a)
(Á a a) cho (à) lâu
Mẹ mày đi cấy (í i a)
(Á a a) ruộng sâu chưa (à) về
Bắt được con cá (í i a)
(Á a a) râu (à) trê
Nắm cổ (í i a) (á) lôi về
Cho cái (í i a)
(Á a a) ngủ ăn...
Mẹ ru con
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Có Bà Trưng, Triệu cưỡi voi bành vàng…
Chị ru em
Em ơi em ngủ cho rồi
Chị sang buồng cửi chị ngồi quay tơ
Năm nay tơ kén được mùa
Chị xin tiền mẹ chị mua mấy đồng...
Cũng vẫn ca dao lục bát hát với những tiếng đệm ơ ơ, sau đây là lối ru
ở miền Nghệ Tĩnh:
Ơ... ru em em ngáy cho muồi
Để mẹ đi chợ mua nồi nấu ăn
Ơ... mẹ em đi chợ đường trong
Mua em đốt mía vừa cong vừa dài
Ơ... mẹ em đi chợ đường ngoài
Mua em đốt mía vừa dài vừa cong...
Giai điệu của ru ở miền Nghệ Tĩnh chỉ nằm trong ba cung la re fa
(nhạc chuỗi, giọng thứ: arpège, gamme mineure).
Ru ở Quảng Trị, Thừa Thiên thì nằm trong âm giai tứ cung do re fa
sol với thể đảo sol do re fa:
À á ơ...
Chiều chiều ra đứng
Vườn sau
À á ơ...
Ngó về quê mẹ
À á ơ...
Ruột đau...
Chín chìu
À á ơ...
Người miền Trung thường gọi ru là hò ru con.
Phụ nữ miền Trung cũng có những bài ru nói lên tâm trạng của mình
như ở miền Bắc. Người mẹ, người vợ ở Quảng Nam ru như sau:
(Ú ụ ú u)
(Á) Ngó lên hòn kẽm đá chồng
Thương cha nhớ mẹ (ú ụ ú u)
Quá chừng bạn ơi!
(Ú ụ ú u)
(Á) Thương cha nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương cảnh (ú ụ ú u)
Nhớ quê thì đừng!
Chiều chiều mây phủ Ải Vân
Chim kêu gành đá ngẫm thân mẹ già...
Giai điệu ru ở Quảng Nam nằm trong nét nhạc sol mi sol fa, nghĩa
trong hệ thống ngũ cung hơi Nam giọng oán (do mi fa sol la). Nội dung
của ru ở đây hay đả động đến thân phận người đàn bà:
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh thương vợ nhỏ bỏ bè con thơ
Bữa nay lên giỗ bên chồng
Tay bưng quả nếp tay bồng con thơ
Mẹ già hai đứa nuôi chung
Đứa lo cơm cháo đứa dầm thuốc thang.
Miền Nam cũng ru theo giai điệu ngũ cung oán kể trên. Phần nhiều câu
ru của miền Nam bắt đầu bằng chữ ví dầu:
(Ù ơ) Ví dầu cầu ván đóng đanh
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi...
Và người phụ nữ ở miền Nam cũng mượn ru để nói chuyện tâm sự:
Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra...
Ví dầu kết chẳng đặng đôi
Làm thơ trái bưởi thả trôi sông này...
Ví dầu cậu giận cậu hờn
Đi theo cùng cậu kéo đờn cậu nghe
Cậu hờn thì kéo le te
Ú liêu xang xự xang xê liêu hò...
Các nho sĩ thời xưa cũng dùng ru để dạy trẻ:
Ạ ời ơi, ạ ời ời!
Nam nhi đứng ở trên đời
Thông minh tài trí là người trần gian
Tang tình tang tính tình tang
Em thơ chị ẵm em ngoan chị bồng
Bồng bống bông
Màn Đồng tử gối Ôn công
Nhớn lên con phải ra công học hành
Xinh ghê xinh gớm là xinh
Tình tính tinh
Sớm khuya Cửa Khổng Sân Trình
Dốc lòng nấu sử sôi kinh chớ rời…
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Văn Ngọc: Tục ngữ Phong dao, Nhà xuất bản Bốn phương,
Saigon 1952.
Trọng Toàn: Hương hoa đất nước, Nhà xuất bản Dân chủ, Saigon 1949.
Phạm Duy: Dân ca dẫn giải, Đài Phát thanh Tự do, Saigon 1965.
HÁT LÀM VIỆC, TÌNH CA
Những bài hát làm việc của người Việt thường gọi là hò. Chữ hò có
nghĩa là hô lên. Người ta vừa làm việc, vừa hô to những câu hát để trợ
hứng cho động tác lao động.
Nhưng ngay trong khi đang làm việc nặng nhọc như kéo gỗ, đẩy xe, bơi
thuyền, và cần có những câu hò để thúc đẩy việc làm, người Việt cũng đã
hát những lời ca rất trữ tình. Do đó, hò rất dễ dàng trở thành những khúc
tình ca.
Rồi từ hình thức một bài hát giao duyên giữa hai người, hát lúc đang
làm việc hay lúc nghỉ ngơi giữa công việc, hò tiến lên địa vị hát đám,
hát hội khi người ta hội họp nhau lại, chia ra hai phe nam nữ và hát đối
đáp, hát thi ăn giải…
Cho nên, ta có thể tạm chia hò ra ba loại:
1. Loại hò làm việc thuần túy, đi đôi với động tác lao động, trong đó
nhịp điệu và những tiếng đệm (dô ta, rố khoan...) rất là cần thiết.
2. Loại hò nghỉ ngơi mang tính chất hát chơi, hát giao duyên, nghĩa là
tình ca.
3. Loại hò hội với hình thức hò đối đáp, hò thi ăn giải...
Ngoài ra, ở một vài nơi trong nước, danh từ hò còn được dùng để chỉ
định hát thờ (hò đưa linh), hoặc để bao gồm mọi hình thức dân ca của địa
phương (hò Thanh Hóa, hò Nghệ An, hò Đồng Tháp…).
Trong mục này, chúng ta nghiên cứu hò làm việc và hò nghỉ ngơi (hò
chơi, hò giao duyên). Loại hò hội sẽ được đả động tới trong mục hát hội
hát đám.
Hò làm việc, hò nghỉ ngơi
Hò làm việc, cũng như ngâm, ru là những câu ca dao, bây giờ được
hát to lên theo nhịp điệu của công việc, với những câu đệm như dô ta, hò
khoan, rố khoan, hụ là khoan, hố khoan… Giai điệu của hò làm việc tùy
theo địa phương mà thay đổi.
Những tiếng đệm kể trên, theo nhà khảo nhạc Nguyễn Xuân Khoát, rất
là cần thiết vì nó nói lên động tác của công việc. Tiếng dô ta cho ta cảm
thấy động tác kéo hay giật. Tiếng hò khoan, hố khoan, rố khuầy gợi cử
chỉ khuấy một cái gì. Tiếng hời, hụi, nhắc nhở động tác nặng nhọc, hì hục,
lụi hụi...
Hò làm việc mang tính chất tập thể. Một người hò một đoạn rồi
những người cùng làm việc hò theo. Người hò đoạn chính được gọi là hò
cái; những người hò theo được gọi là hò con. Một bài hò lại thường được
chia ra các lớp: lớp trống (mâle) là đoạn hò của người hò cái; lớp mái
(femelle) là đoạn hò của người hò con.
Ở miền Trung, người ta gọi những đoạn hò chính là vế kể và thường
đoạn hò phụ là vế sô (hay vế xô).
Các nhà nhạc học lại còn chia hò ra hai loại: hò trên cạn và hò trên
nước. Người Việt có nhiều điệu hò trên nước hơn, có lẽ vì trước đây,
phương tiện xê dịch trong nước chỉ trông cậy vào những con thuyền và
những dòng sông.
Hò ở miền Bắc
Miền Bắc có hò kéo gỗ và hò đẩy xe là những điệu hò trên cạn được
dùng nhiều nhất. Tương đối, đó cũng là những điệu hò giản dị nhất. Gỗ
nặng chặt ở trên rừng được thả trôi sông về vùng xuôi, rồi được kéo từ bến
thuyền về nơi sử dụng. Thường thường người ta kéo gỗ để làm đình, và
vừa kéo gỗ vừa hò như sau:
Hò cái: Ta dô ta!
Hò con: Dô!
Hò cái: Ta kéo gỗ!
Hò con: Dô!
Hò cái: Gỗ làm đình!
Hò con: Dô!
Mỗi lần dô như vậy, tất cả mọi người đều ra sức kéo gỗ… Những câu ca
dao lục bát được cắt rời ra từng đoạn với những chữ láy hay đệm cần
thiết:
– Đình là đình!
– Dô!
– Bao nhiêu ngói!
– Dô!
– Ta thương mình!
– Dô!
– Nhiều bấy nhiêu!
– Dô!
Hò đẩy xe giống như hò kéo gỗ, cũng có hò cái dùng ca dao lục bát
cắt rời và hò con đệm chữ dô!
Giai điệu của hò đẩy xe và hò kéo gỗ nằm trong ba cung re fa la. Nhịp
điệu là nhịp một.
Chữ dô của hò kéo gỗ và hò đẩy xe được hò rất gọn, rất mạnh. Nguyên
âm ô lại còn cho phép người hò mở tròn miệng để đẩy thán khí ra và hít
dưỡng khí vào phổi. Nói đúng ra hò kéo gỗ, hò đẩy xe chỉ chú trọng đến
chữ dô và trong công việc nặng nhọc này, người ta chưa có cơ hội để biểu
lộ tình cảm qua lời ca và âm điệu.
Hò trên nước ở miền Bắc có điệu rố khoan rố khuầy cũng mạnh mẽ
như hò kéo gỗ, hò đẩy xe. Người hò cái cũng hô lớn những câu ca dao lục
bát và người hò con cũng hô theo những câu đệm rố khoan rố khuầy.
Điệu này được dùng trên những con thuyền chở khách từ vùng này qua
vùng khác, việc đẩy thuyền đòi hỏi nhiều tay chèo, suốt đêm dài vượt sông
rộng với điệu hò trợ hứng và giải lao:
Chồng chài là chài vợ lưới...
Rố khoan rố khoan rố khuầy!
Vợ lưới vợ lưới con câu...
Rố khoan rố khoan rố khuầy!
Sông Ngô là Ngô bể Sở
Rố khoan rố khoan rố khuầy!
Biết đâu biết đâu bến bờ...
Rố khoan rố khoan rố khuầy!
Chữ khuầy, như Nguyễn Xuân Khoát đã nói, chỉ định công tác khuấy
nước. Những người hò con, khi hát đến chữ này, cùng nhau khuấy nước và
đẩy thuyền đi...
Giai điệu của hò rố khoan rố khuầy nằm trong ngũ cung do re fa sol
la với thể đảo re fa sol la do.
Đa số hò trên nước là những điệu hò bơi thuyền.
Tuy nhiên hò bơi thuyền không hẳn chỉ là những điệu hò chở khách.
Người miền Bắc còn có điệu hò bắt cái hò khoan mà người ta thường cho
là hậu thân của điệu bắt cá hò khoan, một điệu hò đánh cá. Điệu hò này
cũng chỉ là ca dao lục bát, hò với tiếng đệm bắt cái hò khoan.
Bắt cái, bắt cái hò khoan!
Tôi là cô gái kẻ mơ...
Hò khoan!
Tôi đi bán rượu tình cờ gặp anh...
Hò khoan!
Tôi là con gái tráng sinh...
Hò khoan!
Tôi đi bán rượu qua dinh Ông Nghè...
Hò khoan!
Ông Nghè sai lính ra ve...
Ở một vài nơi trong miền Bắc người đánh cá buông một cái lưới rộng
rồi vừa hò điệu bắt cá hò khoan vừa gõ thuyền để xua cá vào mẻ lưới...
Hò khoan là tiếng đệm rất phù hợp cho việc chèo thuyền, nên người ta
thường dùng nó để đặt tên cho một số điệu hò trên nước khác ở miền Bắc.
Hò rố khoan rố khuầy, hò bắt cái hò khoan còn dính líu đến công việc
cho nên lời hô thường thiếu chất trữ tình. Những khi không cần phải đem
hơi sức ra để đẩy thuyền đi mau tới bến, người miền Bắc đã hò những câu
hát dài hơn, có nhiều ý tình hơn, và gần như không có câu đệm:
Khoan hò khoan
Thiếp như mía tiến vừa tơ
Chàng như mía tiến rật chờ đợi ai?
Núi cao sông hãy còn dài
Thương nhau đã dễ bằng ngày gặp nhau
Khoan hò khoan...
Câu hò rất trữ tình nhưng vẫn không xa lạ với hoàn cảnh và nghề
nghiệp:
Chiếc thuyền nho nhỏ
Ngọn gió hiu hiu
Nay nước thủy triều
Mai lại nước rươi
Sông sâu sóng cả em ơi!
Chờ cho sóng lặng buồm xuôi ta cùng
Trót đem nhau vào kiếp bềnh bồng
Xuống ghềnh lên thác ta quyết một lòng cho ngoan
Giang hồ khoan lại hò khoan...
Hò bơi thuyền ở miền Bắc thỉnh thoảng đã dùng những thể thơ bình
dân khác với thể lục bát. Sau đây là thơ bốn chữ, hò theo điệu hò khoan:
Hò khoan hò khuẩy
Hò khoan hò khuẩy
Ăn đã vậy
Múa gậy làm sao?
Chân thấp chân cao
Cho mau cho chóng
Năng khiếp năng dũng
Hữu khuất hữu thân
Cao tổ thời nhân
Hạng vương thời bạo
Nhân hiền tại mạo
Trắng gạo ngon cơm
Hò khoan hò khuẩy
Hò khoan hò khuẩy...
Qua bài hò này, ta thấy người chèo thuyền múa bơi chèo như múa gậy.
Với thế chân thấp chân cao, người bơi thuyền ví mình như Cao Tổ và Hạng
Vương...
Nhưng hò bơi thuyền cũng có nhiều câu hát rất đẹp, công việc đẩy
thuyền lướt nhẹ trong khung cảnh thần tiên đã tạo nên những câu hò mơ
mộng:
La hời la hỡi la hơi
Ai lên nhắn khách vườn đào
Nghĩa xưa còn nhớ chút nào hay chăng?
La hời la hỡi la hơi
Bây giờ đến chốn Đào Nguyên
Bao nhiêu là một con thuyền tiễn đưa...
La hời la hỡi la hơi.
Hò trên nước nhiều khi vượt khỏi nhiệm vụ hát làm việc để trở thành
hò nghỉ ngơi. Miền Bắc có bài hò khoan tỏ tình như sau:
La hố hò khoan
Ta chèo cất mái hò khoan
Thuyền Rồng Chúa ngự khoan khoan mái chèo
Lênh đênh duyên nổi phận bèo
Đã đành khi nước thủy triều đầy vơi
Lộ đồ giao viễn xa khơi
Thuyền tình chở một mình tôi nặng gì?
Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi
Giậm ra mắc tiếng thị phi với tình
Khách tình lại nhớ thuyền tình
Thuyền tình lại nhớ khách tình là duyên
La hố hò khoan…
Loại hò bơi thuyền tỏ tình này đã sinh ra một điệu hát ái tình gọi là
hát đò đưa:
Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi
Giậm ra ván nát thuyền thì long đanh
Đôi ta lên thác xuống ghềnh
Em ra đứng mũi để anh chịu sào.
Hát đò đưa sẽ được đưa vào hát chèo, hát ả đào để trở thành một bài
hát giao duyên:
Gió đánh ố mấy đưa đò đưa
Gió đập ố mấy đưa đò đưa
Sao cô là cô mình mãi lửng lơ mà chưa có chồng
Gió đánh ố mấy vông cành vông
Gió đập ố mấy vông cành vông
Hỏi cô là cô mình muốn lấy chồng là chồng hay chưa?
Gió đánh ố mấy sung cành sung
Gió đập ố mấy sung cành sung
Lấy chồng thì em cứ lấy nằm chung thì em chẳng nằm
Gió đánh ố mấy đưa đò đưa
Gió đập ố mấy đưa đò đưa
Nước chẩy tình chung mặc nước đò đưa mặc đò...
Hò trên cạn ở miền Bắc có hai điệu hò giã vôi và hò dứt chỉ, và theo
nhà khảo nhạc Nguyễn Xuân Khoát thì các điệu hò đó diễn tả rõ rệt quá
trình phát triển của công việc giã vôi và dứt chỉ.
Hò giã vôi chia ra ba đoạn, đoạn giữa nhịp điệu chậm lại, khi vôi bắt
đầu quánh.
Hò dứt chỉ thì ăn nhịp với động tác của người kéo chỉ, trước còn kéo từ
từ rồi dần dần kéo thật nhanh khi gần hết chỉ...
Hò ở miền Trung
Miền Trung có nhiều điệu hò nhất, so với hai miền Bắc và Nam. Hò ở
miền Trung có nhiều loại, nhiều điệu khác nhau. Ngoài những bài hò làm
việc, hò nghỉ ngơi, hò chơi, hò giao duyên, hò đối đáp... ở miền này,
người dân còn có những bài hò đưa đám, hò tế lễ nữa. Danh từ hò không
phải chỉ được dành riêng để chỉ định những bài hát làm việc, mà còn bao
gồm các loại tình ca, hát hội, hát thờ...
Tỉnh Thanh Hóa có điệu hò Sông Mã, tức là một loại hò trên nước,
dùng tên con sông chính của tỉnh này. Khi xưa, sự lưu thông trong tỉnh chỉ
trông cậy vào những con thuyền (đò dọc) và trong những chuyến đò, người
ta giết thì giờ bằng những bài hò chơi, hò giao duyên. Ở Thanh Hóa trên
con sông Mã, những bài hò trên những chuyến thuyền như vậy được gọi là
hò làn ai, hò xuôi dòng. Vẫn là thơ lục bát hát với giọng điệu của địa
phương (ngũ cung đúng) và không có tiếng lót, tiếng đệm:
Vắng anh có một chuyến đò,
Trầu ăn không có, chuyện trò thì không!
.......................
Về nhà cha đánh mẹ hò
Thì em cũng chẳng bỏ anh trai đò được đâu!
.......................
Thuyền em sông dưới ngược lên
Thuyền anh ở ngọn sông trên xuôi về...
Hò làn ai, hò xuôi dòng ở Thanh Hóa, là những bài hò chơi, hò giao
duyên hơn là hò làm việc...
Ở miền Nghệ An, Hà Tĩnh, có một loại dân ca bao gồm hầu hết các thể
hát làm việc, hát ru em, hát giao duyên, hát hội, hát rong... Đó là hát
giặm.
Chỉ có một hay hai điệu hát, khi thì hát với thơ năm chữ, khi thì hát
với thơ lục bát, song thất lục bát biến thể, hát giặm (Nghệ Tĩnh) được
dùng trong lúc làm việc, khi nghỉ ngơi hay hội họp. Và nó mang thêm
những cái tên hát ví, nói vè, hát đi đường...
Những người đi lấy củi ở miền này thường hát rằng:
Động Cơ Mai thì hốc
Động Trộ Đó thì dài
Ra đến động Hai Vai
Thậm chừng chi là khỏe
Chi thậm chừng là khỏe.
Sau khi người đi đầu hát như vậy, những người đi sau cùng hát khen:
Hạy chừa (hay chưa).
Nét nhạc giản dị nằm trong bốn cung re fa sol la, hát theo vận tiết của
thơ. Người địa phương gọi đó là hát ví (ví phường củi) nhưng ta có thể
cho vào thể hát làm việc.
Nghệ An, Hà Tĩnh còn có lối hát đi đường với những bài thơ song thất
lục bát biến thể, hát với những câu hát phụ ở cuối đoạn, trên giai điệu ngũ
cung:
Một người:
Ơ ơ Trai Đại Phong đã quyết lay rừng
Thì rừng kia phải chuyển
Ơ ơ Gái Đại Phong đã dốc lòng tát biển
Thì biển cũng phải lui
Ta đua nhau xẻ núi phá đồi
Bắt dòng sông Lam chảy ngược
Quyết chống trời thì trời thua.
Mọi người:
Dô hò – hò dô ta – hò dô ta
Lẳng mà nghe – lẳng mà nghe – mà nghe
Dô hò...
Tỉnh Quảng Bình có hò nhân nghĩa tức là những bài tình ca của địa
phương. Đó là những bài thơ song thất lục bát biến thể, hát với giọng
điệu của người vùng này (ngũ cung đúng, gần giống như hát giặm Nghệ
Tĩnh):
Cơm mô bát ăn bát để
Đũa mô đôi đứng đôi nằm
Ví dù thầy mẹ có đập chín chục một trăm
Đập rồi thiếp dậy, thiếp vẫn nhất tâm thương chàng
.......................
Mưa sa lả tả
Con thương một ngả
Thầy mẹ bán gả một nơi
Cực lòng em lắm anh ơi
Kiếm nơi mô bóng mát thiếp tỏ lời cho chàng hay…
.......................
Hỏi con cua con cua nói có
Hỏi con vọ vọ con vọ vọ nói không
Cớ chi mà có miếu giữa đồng
Để em thề cho hẳn dạ kẻo tấm lòng anh ngại nghi…
Hò ở miền Quảng Trị, Thừa Thiên có đầy đủ các loại hò trên nước và
hò trên cạn, các loại hò làm việc và hò chơi.
Hò làm việc có hò hụi tức hò nện của những người thợ đắp nền nhà,
dùng vồ đập đất để đánh nhịp cho điệu hò.
Hò cái cùng với hò con hợp ca lớp mái hay vế sô:
Hụ là khoan là hụ là khoan!
A lá khoan hò khoan là hụ là khoan!
Hò cái: Chim khôn...
Hò con: Hụ là khoan!
Hò cái: Đậu nóc nhà quan...
Hò con: Hụ là khoan!
Hò cái: Trai khôn tìm vợ...
Hò con: Hụ là khoan!
Hò cái: Gái ngoan tìm chồng
Hợp ca: Bớ hò bớ hụi!
Bớ i hụi hát hụi hò khoan!
A lá khoan hò khoan là hụ là khoan...
Người ta vẫn dùng ca dao lục bát cắt vụn và hát đệm những tiếng phù
hợp với công việc. Chữ hù cũng như chữ dô, cho phép người hò thở mạnh
ở những đầu nhịp. Giai điệu nằm trong hệ thống ngũ cung hơi Nam giọng
ai.
Nếu như hò hụi hay hò nện có một nhịp điệu mạnh mẽ và tương đối
nhanh, thì hò ô hay hò đạp nước ở miền Trị Thiên lại rất chậm rãi, thảnh
thơi. Công việc đưa nước vào ruộng ở vùng này được thực hiện một cách
dễ dàng qua một cái ô nước (guồng nước), có người ngồi lên dùng chân
đạp nước (như ta đạp xe đạp vậy). Người đạp nước không còn phải theo
một nhịp bắt buộc nào cả, khi khỏe thì đạp nhanh, khi mệt thì đạp chậm, vì
vậy điệu hò ô hay hò đạp nước đã không bị lệ thuộc vào nhịp.
Hò ô hay hò đạp nước vẫn là thơ lục bát, được chia ra hai phần: lớp
trống và lớp mái, cả hai lớp đều hát tự do (ad libitum):
Hò cái:
Ớ... a...
Em không nhớ lờ...
Khi mô khi à má úa..., à... ờ...
ơ... ơ... ơ...
Ruộng khô... ơ hợ...
Hò con:
ơ... a... à... ơ
ố... a... ơ... ôi...
Hò cái:
ơ... a...
Nay chự chừ em giậm chân
Giậm chân kêu một tiếng
Anh đạp nước bên ô...
à... ờ...
ớ... à... ề... ơ... à... ề...
Cũng phải về...
ơ... hợ
Hò con:
ơ... a... ê...
ơ... ô... à...
ô... ồ... hợ
Với hai câu lục bát ngắn ngủi, người hò ô đã hát rất dài, rất chậm, dùng
rất nhiều tiếng đệm... Tính chất của hò ô rất trữ tình. Nét nhạc rất rộng rãi,
tuy vẫn nằm trong ngũ cung hơi Nam giọng ai, nhưng đã vượt ra khỏi bát
độ.
Cũng vì một bài hò của người Việt thường được chia ra hai lớp: lớp
trống và lớp mái, cho nên chúng ta có thể giải thích được tên của các điệu
hò mái xấp, hò mái nhì, hò mái đẩy ở miền Trung.
Một số người vẫn hay hiểu chữ mái trong các điệu đó là mái chèo vì
cho rằng người hò trên nước phải có cái mái chèo để đẩy thuyền đi.
Nhưng hò mái xấp chẳng hạn không phải là điệu hò chèo thuyền, người
Quảng Trị, Thừa Thiên đã hò nó trong khi gặt lúa!
Tôi cho rằng những chữ xấp, nhì, đẩy... đặt sau hai chữ hò mái là
những ước lệ riêng của từng điệu.
Hò mái xấp có nghĩa là những lớp mái trong điệu hò được hát xấp
đôi nhanh hơn (chữ xấp còn có khi được thay bằng chữ sắp, cũng có
nghĩa là nhanh).
Hò mái nhì chỉ định rằng phải hát hai lần lớp mái:
Hò cái hò lớp trống:
Hơ... à à hơi à hơi!
Dầu lỗi hẹn hò...
Hò con hò lớp mái (lần thứ nhứt):
ơ... à... a... a... ơ... a... ơ!
Hò cái tiếp tục kể:
Trăm năm dầu lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ à
Bến cũ con đò...
Hò con hò lớp mái (lần thứ nhì):
ơ... à... a... a... ơ... a... ơ!
Hò cái:
ơ... đưa khác là đưa... hợ!
Hò mái đẩy có nghĩa là tới lớp mái thì đẩy thuyền tới. Người dân miền
Quảng Trị, Thừa Thiên còn điệu hò mái ba nữa, trong đó lớp mái được
hát sô đúng ba lần.
Hò giã gạo ở miền Quảng Trị, Thừa Thiên cũng vẫn theo đúng kỷ luật
của hò. Vẫn có vế kể, vế sô, vẫn có lớp trống, lớp mái, vẫn có hò cái, hò
con. Nhưng nhịp điệu thì rất rõ rệt: nhịp của một số người giã chầy xuống
cối. Giai điệu vẫn là ngũ cung hơi Nam giọng ai, nhưng lời ca thì rất trữ
tình. Hò làm việc, ở đây đã thiên qua hò đối đáp, hát giao duyên:
Có hai lối hò giã gạo. Lối thứ nhứt rất giản dị:
Hò cái: Khoan khoan mời bạn hò khoan
Hò con: ô… ô...
Hò cái: ơ... Bởi núi cao
Hò con: ô... ô...
Hò cái: ô mà chi lắm núi ơi!
Hò con: ô... ô...
Hò cái: ô... Núi che mặt trời
Hò con: Không thấy thương lờ người thương!
Hò giã gạo, với lối hò đối đáp đã trở thành những bài hò hội ngộ, với
những câu hò chào hỏi, trao đổi ý tình.
Hò cái:
Bước tới nơi đây
Cầm chầy giã gạo
Tôi xin chào lê chào lựu
Chào kẻ trự tông là người tông...
Hò con:
Hò ớ ơ... ơ hò!
Hò cái:
Trước tiên xin chào anh chị nông dân
Người trước tiên tôi chào à trước...
Hò con:
Hò ớ ơ... ơ hò!
.......................
Hò giã gạo có một số bài nói lên tình cảm của nông dân miền Quảng
Trị, Thừa Thiên và xứng đáng là những bài thơ bình dân hay nhất của nước
ta:
Đói lòng ăn nửa quả sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương
Người thương ở tận non xanh
Đóng thuyền nhẹ ván tìm quanh ngả nguồn...
Mãn mùa toóc rạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm.
Ở Thừa Thiên có một loại hò không thuộc thể hát làm việc mà là để
dùng trong một trò chơi của cổ nhân. Khi xa các nhà nho có lối đố bằng
thơ để dạy học trò hoặc để cùng vui trong ngày xuân. Các cụ làm thơ và
cho hò lên, theo ngũ cung hơi Nam giọng ai:
Rung rinh nước chẩy qua đèo
Bà già lật đật mua heo cưới chồng.
Và những cái trái lý như vậy được các cụ giải thích là quả mận (trái:
quả, lý: mận). Thai nghén một vật dụng là cái phản, các cụ hò thai:
Ngả lưng cho chúng lên ngồi
Chẳng thương lại đặt cho lời bất trung.
Lối hò thai này sẽ là động cơ thúc đẩy sự phát triển của một loại ca
nhạc ở Bình Định: hát bài chòi.
Cuối cùng, miền Quảng Trị, Thừa Thiên còn có một điệu hò đám ma,
gọi là hò đưa linh, khi xưa được hát lúc dùng thuyền chở quan tài đi chôn.
Hò đưa linh có nhiều đoạn: đoạn hò theo ngũ cung thường, đoạn hò theo
ngũ cung hơi Nam giọng ai:
Hò đưa linh an sàng
Cảm thương nỗi thân đen
Đoái trông dạ chừng
Hồn hóa theo mây
Đưa linh an sàng
Suối vàng mấy dặm...
Hò ở miền Quảng Nam, Bình Định vẫn là những bài thơ lục bát hò lên
với hò cái, hò con, lớp trống, lớp mái có những tiếng đệm phù hợp...
Quảng Nam có hò mái ngởi hát với giai điệu nằm trong ngũ cung hơi
Nam giọng oán. Hò mái ngởi có lẽ là nghỉ ngơi khi hò lớp mái. Sau đây
là một ví dụ về hò mái ngởi:
Hò cái: Là ơ bạn là ơ...
Hò con: ơ...ơ...ơ... à... ơ!
Hò mái:
Là rủ nhau đi bắt chuồn chuồn
Bạn là ơi!
Hò con: ơ...ơ...ơ... à... ơ!
Hò cái:
Là... khi vui nó đậu à ơ...
Khi buồn nó bay!
Hò con: ơ...ơ...ơ... à... ơ!
Vẫn là ca dao lục bát hò theo giọng địa phương. Hò mái ngởi có lẽ đã
thoát ra khỏi hò làm việc để trở thành hò chơi:
Tình thương ơ bạn mà ơi!
Quan cũng như nhà...
À ơ ớ lều tranh có ngãi
Lều tranh có ngãi
Cũng hơn tòa ngói câu.
Hò ở Quảng Ngãi, cũng giống hò ở Quảng Nam, vẫn là ca dao lục bát
hát với giọng oán!
Ơ xanh con chim xanh
Chim xanh ăn trái trái xoài xanh
Ăn no tắm mát lên cành nghỉ ngơi
Tội tình anh lắm em ơi
Tỉ như Kim Trọng gá nghĩa nơi Thúy Kiều
Anh với em duyên nợ ít nhiều
Ơ là ơ tỉ như Lý Đán Phụng Kiều thuở xưa
Ơ là ơ én nhìn thấy nhạn thảm chưa quá trời…
Hò ở đây được hát lúc nghỉ ngơi, nhiều hơn là hát khi làm việc.
Bình Định cũng có hò giã gạo và điệu hò làm việc. Ở đây cũng theo
đúng kỷ luật chung của hò, vẫn là thơ lục bát hò với giọng hò cái, hò con:
Hê hò hê...
Xăm xăm tôi bước tới sân lầu
Phá bia Hạng Võ qua cầu Kiền Khôn
Tôi ở xa tai tôi nghe thiên hạ nẫu đồn
Bên đông con phượng múa bên tây con rồng chầu
Bên nam có lão đón trâu
Bên bắc có ông Lã Vọng ngồi câu thạch bàn
Tai tôi nghe trường nội có nàng...
Hê hò hê...
Giai điệu nằm trong ngũ cung hơi Nam giọng oán, giống như hò mái
ngởi, hát bài chòi... Tiết điệu theo nhịp giã gạo.
Hò ở miền Nam
Hò ở miền Nam nước Việt là hò trên nước, vì ở đây hầu hết những
đường giao thông thông dụng nhất là các sông lạch... Tuy nhiên, hò miền
Nam không mang nặng tính chất hò làm việc. Sự chuyên chở hay xê dịch
trên những con sông hiền lành đã không đòi hỏi hò miền Nam phải có
những điệu hò mạnh mẽ như rố khoan rố khuầy của miền Bắc chẳng hạn.
Ngược lại, hò miền Nam có vẻ thanh nhàn và mang tính chất hò hội ngộ,
hò chơi.
Cũng vẫn là ca dao lục bát được hò lên với giai điệu nằm trong ngũ
cung hơi Nam giọng oán. Cũng vẫn lối kể và sô: hò cái hò một vế rồi hò
con hò theo...
Kể:
Hò ơ... Tôi là người đạo kiểng lê viên
Đến đây gặp khách thuyền quyên rủ hò ơ
Sô:
Hò xự xang hò xê cống
Là cống xê xang là xang xê hò
Là họ xự xang...
Kể:
Hò ơ...
Nước sâu sóng bủa láng cò
Thương anh vì bởi câu hò có duyên... ơ…
Mỗi địa phương đều có những điệu hò riêng, nhưng lời hò phần nhiều là
ca dao lục bát nguyên thể hay biến thể, hát hỗn hợp với các thể thơ 4, 5
chữ hoặc thất ngôn...
Hò ở miền Tiền Giang thường ngắn và giản dị hơn hò ở Hậu Giang.
Hò ở Bến Tre có câu hò mô tả cảnh vật như:
Hò ơ ơ...
Xứ nào vui cho bằng xứ Cù lao
Hò ơ ơ...
Tiếng muỗi kêu như ống sáo thổi
Bòng mọc như hàng rào sương ly ơ ơ ơ...
Những câu ca dao được hò lên và định rõ địa phương:
Ghe anh nhỏ mũi trảng lườn
Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em...
Quạ ô lại nói với diều
Ngã ba Bến Lức có nhiều cá tôm
Chẻ tre bện sáo cho dầy
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau
Giặc Tây đánh đến Cần Giờ
Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công.
Và nội dung đã phản ảnh rõ rệt một thời đại:
Sè-goòng mũi đỏ Gia Định súp lê
Giã hiền thê ở lại lấy chồng
Thuyền anh ra cửa như rồng theo mây.
Hò ở Hậu Giang dài và có nhiều tính chất nghệ thuật hơn nhất là ở miền
Cần Thơ, trung tâm văn hóa của miền Nam khi xưa. Hò ở miền Nam phát
triển mạnh mẽ, có mặt trong mọi sinh hoạt ở nông thôn như xay lúa, giã
gạo, tự tình, họp mặt, đám cưới.
Tình yêu dường như là đầu đề chính của hò miền Nam. Văn hò ở đây
rất táo bạo:
Tay cầm con dao sắc
Cắt củ hành hương
Dẫu ba má không thương
Hai đứa mình cũng rủ nhau xuống đường mương phân trần...
Hoặc rất thực tế nhưng không thiếu mơ mộng:
Đầu dòng có cây duối
Cuối đường có cây đa
Ngã ba đường có cây đại hồng
Con gái chưa chồng trong lòng hớn hở
Con trai chưa vợ ruột tợ trái chanh
Ngó lên mây trắng trời xanh
Thương ai cũng vậy thương anh cho rồi!
Hoặc rất vui nhộn như câu hò sau đây:
Sớm mai anh đi chợ Bà Chiểu
Mua một xấp nhiễu
Đem về cho con Hai nó cắt
Con Ba nó may
Con Tư nó đột
Con Năm nó viền
Con Sáu đơm nút
Con Bẩy vắt khuy
Con Tám nó níu
Con Chín nó trì
Ớ Mười ơi! Sao em để vậy còn gì áo anh?
Hò miền Nam cũng sẽ phát triển từ thể hò chơi tới hò đối đáp (coi
mục Hát đám, Hát hội).
Ngoài những điệu hò thuần nhất, nghĩa là phát sinh từ sinh hoạt của
nông thôn, hò miền Nam còn có thêm một vài điệu mới, xuất xứ từ hát cải
lương, tân nhạc, trò chơi mới...
Hò bá lý, một biến thể của điệu bá lý hề trên sân khấu cải lương được
phổ biến trong giới hò chuyên nghiệp, hát với ngũ cung oán, chuyên dùng
để kể truyện.
A li hò lờ, mới xuất hiện từ 10 năm nay, được dùng để hát với bất cứ
nội dung nào trên thơ lục bát, giai điệu chuyển từ ngũ cung đúng qua ngũ
cung oán.
Hò lô tô, vốn là một lối hát những câu thơ mô tả các con số trong trò
chơi Tây Phương nhập cảng, rồi trở thành một điệu hò bình dân chuyên
hát những chuyện thời sự. Hò lô tô hát trên giai điệu ngũ cung oán.
Tưởng cũng nên nói thêm rằng hò cấy ở miền Nam được hát giống như
các điệu hò chèo thuyền, hò đối đáp, nghĩa là với những câu ca dao lục
bát nguyên thể hay biến thể với những tiếng đệm hò ơ và với giai điệu
ngũ cung hơi Nam giọng oán.
Chúng ta đã thấy hò có hai công dụng: hát khi làm việc và hát khi
nghỉ ngơi. Người nông dân Việt hay biến bài hát lao động của mình thành
khúc tình ca. Cho nên hò thường mang thêm những cái tên hò giao
duyên, hát huê tình (như ở miền Nam)...
Tuy nhiên vì phát sinh từ động tác của công việc, hò giao duyên (vì
mang cái tên hò) vẫn còn nặng tính chất trợ hứng, và giải lao.
Muốn có riêng một loại dùng để hát tự tình giữa nơi đồng quê vắng vẻ,
trước kia lại còn dùng nó để hát giữa nơi công cộng, người Việt đã sáng
tạo những bài hát giao duyên, hát huê tình, nghĩa là những khúc tình ca
không còn dính dấp gì đến động tác lao động nữa.
Hát giao duyên, lý giao duyên
Hát giao duyên ở miền Bắc không phục vụ cho nhịp điệu của công
việc, mới đầu dùng những câu thơ bẩy chữ rất ngắn, không có tiếng đệm,
tiếng lót, tiếng láy:
Gặp nhau đây
Mới đầu trăng gió
Hỏi một lời:
Đã có chồng chưa?
Mối tình quê được giãi bày qua hát giao duyên không phức tạp, không
gay go, lời ca cũng mộc mạc như âm điệu (ngũ cung):
Ngồi xuống đây
Bẻ cây vạch đất
Cởi khăn trầu
Kết cấu lương duyên.
Dần dà người ta hát giao duyên với những tiếng gọi nhau và những câu
láy cho bài hát thêm đậm đà, triều mến:
Gặp nhau đây
Nắm tay cho chặt
Hỏi cô mình
Có thật yêu chăng?
Hỡi nàng nàng ơi!
Hỏi cô mình
Có thật yêu chăng?
Đôi chúng ta
Như cây bén rễ
Chẳng thương chàng
Há dễ thương ai?
Hỡi chàng chàng ơi!
Chẳng thương chàng
Há dễ thương ai?
Hát giao duyên ở miền Bắc, với thể thơ bẩy chữ, hát với câu đệm câu
láy như trên, được gọi là lý giao duyên ở miền Trung và lý giao dươn ở
miền Nam.
Người miền Trung gọi là lý là bài hát quê mùa (lý: làng) so với ca
Huế vốn là sản phẩm của giới phong lưu (hoàng phái, nho sĩ, quan lại).
Ngoài lý giao duyên là thơ bẩy chữ hát với câu đệm câu láy, tất cả những
dân ca ở hai miền Trung và Nam mà không phải là hò thì được gọi là lý.
Chúng ta sẽ thấy lý phát triển từ loại hát giao duyên tới hát nhi đồng, hát
chơi, hát chèo, hát thờ, ca Huế, hát bội, hát cải lương...
Lý giao duyên ở miền Trung được hát như sau:
Gặp nhau đây mới đầu trăng gió
Hỏi một lời tên họ là chi?
Hỡi nàng nàng ơi!
Hỏi một lời tên họ là chi?
Nàng trả lời:
Bạch lai thơ quê nơi Trang Lãnh
Thung huyên (cha mẹ) mất rồi muộn cảnh chồng con
Hỡi chàng chàng ơi!
Thung huyên mất rồi muộn cảnh chồng con...
Lý ở hai miền Trung và Nam, khi hát những lời mang nội dung nào thì
lấy ngay nội dung đó hoặc mấy chữ đầu câu để đặt tên cho điệu lý:
Gió mùa xuân rưng rưng nước mắt
Nhớ tới chàng ruột thắt héo don (héo hon)
(đệm và láy)
Gió mùa hè tiếng ve kêu dế
Mong nhớ chàng bóng xế trăng lu
(đệm và láy)
Gió mùa thu mẹ ru con lú (ngủ)
Cha con đà vui thú nơi đâu?
(đệm và láy)
Gió mùa đông nằm không thấy bạn
Nhớ thương chàng nhiều đoạn đắng cay
(đệm và láy)
Người miền Trung hát những lời đó với ngũ cung hơi Nam giọng ai:
do re(non) fa(rung) sol la(non) và gọi bài này là lý giao duyên bốn mùa
hoặc lý vọng phu.
Cũng với lời ca đó, có sửa đổi ít nhiều, người miền Nam hát trên ngũ
cung hơi Nam giọng oán: do mi fa(già) sol la và đặt tên cho điệu lý này
là lý bốn mùa hoặc lý ru con...
Từ một bài hát tự tình, hát giao duyên hay lý giao duyên sẽ trở thành
những bài hát tâm tình:
Giải sông Ngân mây rầu rầu chuyển
Một bước đường trời biển chia hai
Hỡi nàng nàng ơi!
Anh dặn một lời xin nhớ đừng quên
Cảnh phù tang gió vàng hiu hắt
Một bước đường như cắt lòng tơ
Hỡi nàng nàng ơi!
Em dặn một lời xin nhớ đừng quên...
Lý giao duyên được các nho sĩ thu dụng trong loại ca Huế (tức ca nhạc
phòng) với những lời ca như sau và với đầu đề Giao duyên mười hai
tháng:
Đầu tháng giêng mãn thiên xuân sắc
Ai nấy vui mừng thiếp bắt mặt trông
Qua tháng hai bông hoa nhài ướm nở
Thiếp luống trông chàng vừa trở gió đông
Qua tháng ba trăm hoa cảnh phát
Thiếp luống trông chàng bát ngát niềm tây
Qua tháng bốn mùi hương phảng phất
Thiếp luống trông chàng hạ bất hồng liên
Qua tháng năm ve kêu sầu oán
Thiếp luống trông chàng như đại hạn trông mưa
Tháng sáu trông già hòe im mát
Thiếp luống trông chàng phấn lạt hương phai
Tháng bẩy trông bắc cầu Ô thước
Qua khỏi Ngân hà mới thấy được phu nhân
Tháng tám trông gương trăng tròn vạnh
Thiếp luống trông chàng một gánh tương tư
Tháng chín trông gương trong đài trùng cửu
Ngày vắn đêm dài lấy cốc tửu giải khuây
Tháng mười bông hoa lài nhụy nở
Ngắm cảnh thêm buồn thêm nhớ thêm thương
Tiết dương sanh cây ngành tùng mai tươi tốt
Thiếp luống trông chàng tháng mười một vắng tin.
Tháng mười hai xuân lai bất tận
Tháng hết năm cùng lận đận theo anh.
Cũng vì lý giao duyên có những câu đệm ơi chàng chàng ơi! cho nên
có khi người miền Trung gọi nó là lý chàng ơi!
[1] Theo quan niệm của người Khmer thì trụy lạc có ba thứ: sắc, tửu và bài bạc.