Hát giao duyên với hình thức thơ bẩy chữ hát với câu đệm, câu láy như
trên, đã được dùng trên sân khấu Chèo trong nhiệm vụ của bài hát tự tình.
Nhưng người ta soạn cả những lời ca vui để hát giao duyên:
Gặp nhau đây
Nắm tay cho chặt
Anh hỏi nàng
Có thật yêu anh?
Hỡi nàng nàng ơi!
Anh hỏi nàng
Có thật yêu anh?
Gặp nhau đây
Mặt dày lắm nhỉ!
Em chẳng thương chàng
Em chỉ thương xu
Hỡi chàng chàng ơi!
Em chẳng thương chàng
Em chỉ thương xu...
Hát giao duyên và lý giao duyên có lẽ là tên của những bài tình ca có
lời thơ bẩy chữ. Còn những bài thơ lục bát, khi được dùng để hát tự tình,
thì người ta gọi là hát huê tình...
Lý giao duyên đã mở đầu cho loại lý là một thể dân ca rất thông dụng ở
miền Trung và miền Nam.
Điệu lý
Lý sẽ từ địa vị hát giao duyên, hát chơi, nhẩy vào ca Huế (ca nhạc
phòng), sân khấu chèo, hát bộ, cải lương… Trong giai đoạn hát chơi, bất
cứ câu ca dao nào mà người ta thích là có thể được đưa vào lý. Nội dung
hoặc mấy chữ đầu của câu ca dao, được dùng để đặt tên cho điệu lý.
Câu phong dao:
Ai đem con sáo sang sông?
Để cho con sáo xổ lồng bay xa...
Ở vùng Huế đã được hát như sau:
Ai đem con sáo sang sông?
Để cho để cho con sáo
Ơi người ơi!
Xổ lồng ơi người ơi!
Bay xa...
Xổ lồng ơi người ơi!
Bay xa...
Và người ta gọi đó là lý con sáo.
Cũng với câu phong dao này, người Quảng Nam hát theo lối khác và vì
vậy điệu lý mang cái tên lý con sáo Quảng:
Ai đem con sáo tình bạn sang sông
Ư ứ ư ư làm răng?
Để cho để cho con sáo
Ưứưư
Để cho để cho con sáo xổ lồng bay xa
Ư ứ ư ư làm răng?
Để cho để cho con sáo xổ lồng bay xa…
Lẽ dĩ nhiên nhạc điệu của lý con sáo sẽ tùy vùng mà thay đổi. Người
Huế hát với ngũ cung hơi Nam giọng ai do re(non) fa(già) sol la và
chuyển hệ fa(già) sol sib do re(non). Người Quảng Nam hát với ngũ cung
do re fa sol la...
Người miền Nam cũng hát lý con sáo khác người miền Trung:
Ai đem con sáo
Ải sông rồi lại sàng sông?
Kìa kia kía kỉa kìa kia!
Để cho nọ con sáo ơi xô xổ lồng nó bay...
Vì dùng ngũ cung hơi Nam giọng oán do mi fa(rung) sol la.
Khi hát lý con sáo và thay thế tất cả những câu đệm ơi người ơi bằng
những câu ơ tang tình tang thì người Huế lại gọi điệu lý này là lý tình
tang. Tưởng cũng nên nói rõ là người ta hát bất cứ lời ca dao lục bát nào
trên điệu lý con sáo.
Có khi người Huế hát lời khuyên trẻ trên điệu lý đó, rồi đặt lại tên là Lý
hoài xuân:
Ơi trò đi học nhà trường
Phải chăm để mà tới
Ơi trò ơi!
Kẻo đường ơi trò ơi còn xa (láy)…
Lý tình tang, khi hát những lời thơ sau đây thì lại được gọi là lý mười
thương:
Một thương tóc để đuôi gà
Hai thương hai thương ăn nói
Ố tang ố tang tình tang
Mà mặn mà duyên có duyên
Ố tang ố tang tình tang
Mặn mà có duyên...
Cái lối đặt tên vừa giản dị vừa phức tạp như vậy khiến cho người
nghiên cứu phải khó nhọc khi lập luận. Điệu lý cửa quyền sau đây, có lẽ
không phải là hát thờ mà là một bài hát chơi của một tác giả vô danh
vịnh ngôi nhà của một ông quan ở Huế:
Cửa quyền chạm bốn câu thai
Hai câu tình mà thơ phú
Aớa–aàa
Hai bài hai bài thơ ngâm
.......................
Cửa quyền chạm bốn bình phong
.......................
Cửa quyền chạm bốn con voi
.......................
Miền Nam có không biết bao nhiêu là lý... Những câu ca dao nào nếu
không được dùng trong hò thì lại được đưa vào lý. Nhạc điệu của mỗi lý
khác nhau (vì phải tùy theo lời thơ) nhưng nói chung, nét nhạc vẫn nằm
trong ngũ cung oán do mi(rung) fa(rung) sol la(già) với chuyển hệ fa la
sib do re. Lý chim khuyên là câu ca dao lục bát hát với nhịp điệu mới:
Chim khuyên guầy
Ăn trái guây
Nhãn lồng
Nhãn lồng ơ con bạn mình ơi!
Thia lia guầy
Quen chậu guây
Vợ chồng ơ con bạn quen hơi!
Lý bông lựu hay Lý cây bông có thêm những câu đệm bắt chước tiếng
đàn:
Bông xanh bông trắng bông vàng
Bông lê bông lựu đố nàng mấy bông
Đố nàng bông mấy bông đa
Xự xang xự xự xang xê xang xê cống hò
Lý chuồn chuồn ở miền Nam cũng dùng những lời tương tự như hò
Quảng Nam:
Nghĩa nhơn mỏng nhánh
Như cánh chuồn chuồn
Khi vui nó đậu
Khi buồn nó bay...
Lý chim chuyền dùng ca dao:
Chim chuyền nhánh ớt
Á lo rồi lại líu lo
Sầu ai nọ nên nỗi ơi!
Ôm ốm o gầy mòn
Ai ải ai...
Lý cây chanh và Lý cái phảng thì có vẻ hoạt động hơn:
Xăm xăm bước tới chanh tình cây chanh
Lăm tình le ơi! Muốn bẻ sợ nhành gai chông
Tình gai chông…
......................
Chú kia vác phảng đi đâu?
Phảng mua, phảng mướn, ơ ơ phảng nhà tôi ớ mà của tôi...
Bớ nàng ơi! Bớ nàng ơi!
Lý chè hương thì do hai chữ che hường của câu ca dao nói lái:
Trồng hường thì phải che hường
Hò ơ qua tu lới mà chè hương
Nắng che mưa đậy cho hường
Hò ơ qua tu lới mà trổ bông
Lý bỏ bìa là câu ca dao:
Trách ai ham giấy bỏ bìa
Khi vui vui vội khi lìa lìa mau
Miền Nam quả là kho tàng vô tận của lý. Các con vật hình như dễ được
cho vào ca dao và đưa vào lý. Lý ngựa ô, rất thông dụng ở miền Nam,
được hát với ngũ cung thường (re fa sol la do):
Khớp khớp con ngựa ô
Là khớp khớp con ngựa ô
Ngựa ô anh trắng
Anh thắng kiện vàng
Anh tra khớp bạc
Lục lạc đồng đen
Búp sen lá đậm
Dây cương nhuộm thắm
Cán roi anh bịt đồng thoa
Là anh í a đưa nàng
Anh í a đưa nàng
Đưa nàng là dinh í a về dinh.
Lý con khỉ đột là thơ bốn chữ, hát trên giai điệu ngũ cung (re fa sol la
do) có chuyển hệ sang (re mi sol la si). Và cũng như Lý che hường, lời ca
có những đoạn nói lái:
Ngó ngó lên chót vót
Bân rồi lại cây bân (cây bần)
Thấy có con khỉ đột
Nó ăn nó ăn trái bần
Bân rồi lại cây bân
Tang tích tịch tình tang.
Nguyên văn là:
Ngó lên chót vót
Thấy con khỉ đột
Nó ăn trái bần.
Ở miền trung du Bắc Việt, có một điệu hát từ thể tình ca hát giao
duyên, hát huê tình tiến tới hát hội, hát đám. Đó là hát ví!
Cô gái quê ở Phú Thọ hay Bắc Giang, thường hay hát ghẹo khách qua
đường bằng những câu hát ví:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời
Đi đâu vội mấy anh ơi!
Cái quần cái áo như người nhà ta
Cái ô em để trong nhà
Khen ai mở khóa đem ra cho chàng
Anh Hai đó ơi à…
......................
Đi đâu vội mấy anh ơi
Công việc đã có chị tôi ở nhà...
Và nếu khách qua đường là tay đáo để, khách sẽ hát ghẹo lại:
Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
......................
Cô kia cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây
Sang đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này: Có lấy anh không?
Hát ví không thể là bài hát làm việc được bởi vì người hát không cần
theo nhịp điệu nào cả, ngoài vận tiết của ca dao lục bát. Giai điệu nằm
trong ngũ cung khuyết (re la do). Cái tên hát ví có lẽ đã được đặt ra vì
người hát thường hay ví ví von von:
Cổ tay em trắng như ngà
Đôi mắt em sắc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
......................
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào vườn cấm hạt ra ngoài đồng...
Người hát tự tình khen nhau, hoặc nói đến cảnh ngộ của nhau, đều ví
mình với cảnh vật quen thuộc:
Ngựa hồng buộc búi cỏ tranh
Chim khôn chết mệt vì cành hoa ngâu
Đôi ta dan díu bấy lâu
Biết rằng có lấy được nhau mà chờ.
Tại miền Nghệ An, Hà Tĩnh, cũng có hát ví. Khởi sự, hát ví Nghệ Tĩnh
cũng là để hát một mình (Ví chăn trâu) hoặc hát cổ động nhau trong khi
làm việc (Ví phường củi) hoặc hát chơi với nhau khi đi xa bằng thuyền
(Ví đò đưa)… rồi sẽ (cũng như hát ví trung du Bắc Việt) trở thành cuộc
thi hát ví, tổ chức tại tư gia hay giữa nơi công cộng.
Hát ví ở Nghệ Tĩnh cũng là những bài thơ lục bát hát với nét nhạc re
sol la và với vận tiết của thơ. Nội dung rất trữ tình, so với loại hát đặc biệt
khác của địa phương là hát giặm.
Trong giai đoạn hát giao duyên, hát chơi, hát nghỉ ngơi, hát ghẹo…
hát ví Nghệ Tĩnh có nhiều điểm giống trung du Bắc Việt. Cũng tự tình
trong lời ca, cũng có câu đệm (như anh Hai đó ơi của miền Bắc).
Ơ bạn tình ơi…
Khi đi anh trước em sau
Giữ về đàng trẹ (rẽ)
Rọt (ruột) đau quằn quằn
Quen em chưa ráo mồ hôi
Chưa trưa buổi chợ
Đã chia đôi đường
......................
Năm ni em mắc chăn tru (trâu)
Vài năm chi nữa
Em về mần du (làm dâu) mẹ thầy
Ơ bạn tình ơi…
Ngay hát giặm ở vùng này, trước khi phát triển mạnh mẽ và bao gồm
đủ mọi loại (hát giặm vè, hát giặm nam nữ, hát giặm thời sự, hát giặm
đi đường, hát giặm ru em…) cũng đã được dùng để hát tự tình:
Sóng ngoài biển dồn vô
Mây rừng xanh cuộn lại
Gió ngọn nguồn cuộn lại
Mự (mợ) cũng có thằng cu rồi
Tôi cũng có con đĩ rồi
Mắc võng lên ta ngồi
Ru cu hời con đĩ hời
Ru cu hời con đĩ hợi…
Tuy nhiên, hát giặm đã vượt rất nhanh ra khỏi giai đoạn giao duyên để
trở thành hát hội, hát thi… Chúng ta sẽ gặp lại hát giặm trong các mục
sau.
Tài liệu tham khảo
Kim Lang, Khảo cứu hai điệu hát, báo Ánh sáng số ra ngày 8-10-1952.
Trần Văn Khê, Các loại nhạc Việt Nam, báo Bách khoa số 41.
Lê Văn Hảo, Vài nét về hò dân ca miền Trung, miền Nam, tạp chí Đại
học.
Thuần Phong, Ca Dao giảng luận, Á châu, Saigon 1957.
Sơn Nam, Tìm Hiểu đất Hậu Giang, Phù Sa, Saigon 1959.
Nguyễn Văn Ngọc, Tục ngữ Phong dao, Bốn Phương, Saigon 1952.
Trọng Toàn, Hương Hoa Đất Nước, Dân Chủ Saigon 1949.
Ngô Quốc Tính, Mã Giang Lân, Ngô Thảo, Nguyễn Văn Dinh, Hải
Đường, Lê Văn Hảo và Phạm Thị Tịnh Muội, Một số câu hò miền Trung,
tạp chí Nghiên cứu số 1, Huế 1966.
Phạm Duy, Dân ca dẫn giải, Đài Phát thanh Tự do, 1965.
HÁT ĐÁM – HÁT HỘI
Hát ví
Hát ví ở Bắc Việt khi trở thành bài hát công cộng thì mất dần tính chất
tự tình của đôi lứa để trở thành bài hát của đám đông.
Cũng vẫn hát với thơ ca dao lục bát nguyên thể và trên giai điệu ngũ
cung khuyết, lúc này hát ví chịu lệ thuộc kỷ luật của loại hát đám, hát
hội.
Theo tục lệ có từ thế kỷ thứ XIII, vào kỳ Tết Nguyên đán và Tết Trung
thu, người Việt ở miền Bắc thường hay tổ chức những cuộc hát hội, hát
đám... Hội đây là hội mùa xuân và hội mùa thu. Có lẽ cái tên hát soan
mà người vùng Phú Thọ đặt cho loại hát địa phương là những điệu hát
được dùng trong hội mùa xuân chăng? Và cái tên hát đúm ở vùng Hưng
Yên cũng có thể do chữ hát đám mà ra...
Trong những tổ chức hát đám và hát hội ở Bắc Việt người ta thường
hát ví, hát quan họ, hát trống quân...
Hát ví lúc này, cũng như hát trống quân và hát quan họ, được coi là
một môn hát thi giữa đám này với đám khác. Người hát ví phải hát những
câu chào hỏi:
Ở nhà tôi mới tới đây
Lạ thung lạ thổ tôi nay lạ nhà
Ba cô tôi lạ cả ba
Bốn cô lạ bốn biết là quen ai?
Đến đây lạ cả bạn trai
Lạ cả bạn gái biết ai mà chào
Bây giờ biết nói làm sao
Biết ai quen thuộc mà vào trình thưa?
Rồi hát mời trầu:
Trầu này trầu quế trầu hồi
Trầu loan trầu phụng trầu tôi lấy mình
Trầu này trầu tính trầu tình
Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình lấy tôi.
Và có cả hát đố, hát trả lời:
Cái gì thấp? Cái gì cao?
Cái gì sáng tỏ như sao trên trời?
Anh mà giảng được tôi thời lấy anh!
Tuy nhiên, hát ví cũng như hát soan, hát đúm chỉ là hình thức phôi
thai của hát hội, hát đám. Kỷ luật đã có, nhưng các điệu hát chưa phát
triển. Hát ví chỉ có một điệu rất đơn sơ để hát những lời ca rất súc tích.
Ngay đến hát đúm cũng chỉ có một điệu cò lả, hát với ca dao lục bát có
thêm những câu phụ:
Con cò bay lả bay la
Bay qua Cửa Phủ bay về Đồng Đăng
Tình tính tang tang tính tình
Cô mình rằng cô mình ơi
Rằng có nhớ nhớ anh chăng?
.......................
Cô kia mặc áo cổ xây
Lại đây tôi hỏi cô hay một lời
Tình tính tang...
Người ta sống ở trên đời
Không chồng có biết đứng ngồi mấy ai.
Tình tính tang...
Hát ví Nghệ Tĩnh, trong nhiệm vụ hát đám, hát hội, cũng như hát ví ở
trung du Bắc Việt, là một cuộc thi tài giữa trai gái trong làng, khi họp
mặt hay khi họp hội.
Cũng có những lời hát chào mừng:
Nhân đêm thong thả mát trời
Nghe tin bướm nhắn vội dời gót qua
Đến đây mừng cảnh mừng hoa
Trước mừng hai cố sau ra mừng phường.
Hát ví Nghệ Tĩnh có điều đặc biệt là được mọi giới cùng ưa thích. Mỗi
nghề đều có tổ chức hát ví: phường gặt, phường vải, phường nón, phường
chiếu, phường buôn, phường củi... và tuy có nhiều phường hát ví như vậy,
lề lối và hơi điệu hát ví cũng không thay đổi mấy. Sau khi hát chào mừng
đôi bên trai gái, hát ướm hỏi nhau về tình duyên:
Trăng lên có chiếc sáo chầu
Hỏi thăm đào liễu đã ăn trầu ai chưa?
.......................
Em về thưa với thung huyên
Chốn này ta đã dành duyên nhau rồi.
Sự giao duyên ở đây không còn là sự nói nhỏ nhẻ giữa hai người, mà
là một sự thi tài ăn nói công khai giữa hai phe. Khi chia tay nhau, họ sẽ
hát kết với những lời lẽ rất lâm ly:
Ra về răng được mà về?
Bức thư chưa gởi lời thề chưa trao
Ra về bẻ lá cắm đây
Đến mai ta nhớ chốn này ta đi.
Hình thức thứ hai của hát hội, hát đám ở Nghệ Tĩnh ngoài hát ví, là hát
giặm nam nữ.
Hát giặm nam nữ
Cũng là một thứ sinh hoạt văn nghệ giữa hai phe nam nữ, tổ chức trong
những ngày hội hè đình đám, với lề lối hát giáo đầu, hát chúc mừng, hát
giới thiệu lý lịch, hát mời trầu, hát hỏi chuyện, hát cưới và cuối cùng
hát tiễn, nhưng hát giặm khác hát ví ở chỗ dùng một thể thơ đặc biệt chỉ
thấy ở Nghệ Tĩnh là thơ năm chữ, người hát giặm thường hay láy lại câu
cuối của một đoạn, và theo tiếng địa phương, người hát đã giắm giúi thêm
câu, thêm chữ vào đoạn hát. Do đó có cái tên hát giặm.
Cũng như tổ chức hát quan họ, hát trống quân của Bắc Việt, hát giặm
nam nữ ở Nghệ Tĩnh thường bầu người đoàn trưởng có tài bẻ chuyện để
ứng đối kịp thời trong cuộc thi tài hát hội. Hát ví và hát giặm khi đạt tới
hình thức hát hội, hát đám, hát thi, đã được các nhà nho tham gia và do
đó sẽ rất phức tạp về phần văn chương. Nhưng về phương diện âm nhạc,
hát giặm chỉ có một giai điệu nằm trong ngũ cung khuyết re fa sol la.
Người hát cũng theo vận tiết của thơ và cũng thêm những tiếng đệm lót
(rồi mì, rứa mới, ơ là ơ...), tiếng đưa hơi (i, a, ơ, h ư, ni, nị…).
Hát giặm Nghệ Tĩnh
Hát giặm nam nữ trong phạm vi hát hội, hát đám cũng không đến nỗi
khô khan như hát giặm vè và hát thời sự vốn là các thể hát rong, hát
dạo, hát chơi. Tình cảm của người dân xứ Nghệ được phô diễn trung
thành qua lối nam nữ hát thi tài này:
Đường quan san thiên lý
Lòng thương hỡi hỡi lòng
Ngồi tựa bức rèm phong
Sầu tương tư với em
Ngơ ngẩn sầu với bạn
Lời anh chưa kịp dặn.
Thư anh đã đề rồi
Ôi người thương kia ôi?
Thương làm sao thì thương
Nghĩ thế nào thì nghĩ
Trong tay cầm ống chỉ
Mong se lại vừa đây
Trăng u ám vì mây
Đêm lạnh lùng vì cưởi (cửi).
.......................
Nhưng, như trên đã nói, bàn tay nho sĩ đã làm cho hát giặm, hát hội ở
Nghệ Tĩnh mang nặng điển tích hán tự:
Khi thái cực chưa chia
Hỗn độn âm dương chưa phân
Giừ âm dương đã phán
Ông Bàn cổ sinh ra
Trời đất với người ta
Sự tam tài đã định
Chưa ra chính lịnh
Hãy còn dã sử nhự mao
Mới có họ Hữu sào
Ổ sang nhà cửa...
So với hát giặm (thể hát hội) Nghệ Tĩnh thì hát quan họ ở Bắc Ninh
phong phú hơn về phương diện âm nhạc.
Hát quan họ
Người ta thường nói hát quan họ phát sinh từ thời Lý – Trần (thế kỷ
thứ XIII) ở vùng Bắc Ninh và có thể là hậu thân của hát đúm, một loại hát
đám của toàn miền Bắc Việt. Hát quan họ được tổ chức trong những ngày
hội mùa xuân đặc biệt là hội chùa. Miền Bắc Ninh có nhiều chùa lớn và
trong tiết xuân, lễ Phật thường được tổ chức một cách long trọng. Trai gái
rủ nhau đi dự hội rất đông và hát quan họ trước cửa chùa, trong chùa hoặc
ở các sườn đồi, đám ruộng, bờ đê cạnh chùa...
Hát quan họ khởi đầu có lẽ là sự trao đổi lời ca tiếng hát giữa hai họ
nhà quan. Về sau, nó trở nên rất phổ thông trong dân chúng miền Bắc.
Người ta thành lập các đoàn quan họ, đi tìm nhau để kết bạn ca hát. Và
rất nhiều cuộc tình duyên đã được thành tựu sau những vụ hát quan họ.
Trải qua hằng chục thế hệ, hát quan họ đã trở thành một hình thức dân
ca phong phú nhất của người Việt.
Hầu hết các bài hát quan họ vẫn là ca dao lục bát nguyên thể hay biến
thể hát trên giai điệu ngũ cung với những tiếng đệm thời, mà, tình
chung, ố mấy, ai ơi, là rằng, hừ là... và những tiếng vô nghĩa (dùng đề lấy
hơi) ô, a, y, ư,... Nhưng hát quan họ đã vượt ra khỏi địa vị những bài hát
tự nhiên để đạt tới mức nghệ thuật rất cao.
Không như những bài ru, hò giản dị, vốn phát sinh do nhu cầu của công
việc hằng ngày, hát quan họ luôn luôn đi tìm cái mới, cái lạ trong nội
dung và hình thức.
Hát quan họ
Tính chất trữ tình trong hát quan họ không còn bi quan tiêu cực như
trong ru, hò... Trái lại, loại hát hội này gồm những bài hát vui tươi, yêu
đời, trìu mến. Nhạc điệu, tiết điệu trong hát quan họ rất phong phú vì nó
thu dụng nhiều điệu hát của các loại ru, ngâm, hát huê tình, hát rong, hát
thờ, hát sân khấu, hát thính phòng...
Hát quan họ có bốn giọng chính:
1. Giọng sổng (hay là hừ là, là rằng, đường trong).
2. Giọng vặt (hay là đường ngoài).
3. Giọng hãm (hay ngâm).
4. Giọng bỉ.
Giọng sổng thường được dùng khi bắt đầu cuộc hát, trai gái hát để dạo
giọng cho nền:
Trai:
Hôm nay tứ hải giao tình
Tuy rằng bốn bể như sinh một nhà
Số chúng tôi phải lấy vợ xa
Số các người không lấy chồng nhà được đâu...
Gái:
Hôm nay được chút nhàn riêng
May mà gặp bạn tình duyên năm sáu người...
Duyên số bởi trời hôm nay gặp gỡ
Biết đến bao giờ đấy vợ đây chồng?
Có lẽ khi hát giọng sổng, người hát đã hát đệm nhiều tiếng là rằng, hừ
là cho nên giọng này đã có thêm cái tên phụ... Hơn nữa, giọng hát có thể từ
đường trong du nhập vùng Bắc Ninh.
Giọng vặt từ đường ngoài tới, được hát tiếp, với rất nhiều điệu vặt
vãnh, không giống nhau như những bài trong giọng sổng. Trong phần hát
vặt này, trai gái bắt đầu tỏ tình với nhau, sau khi đã gắn bó trong phần hát
sổng. Loại hát vặt rất dễ hát, dễ hiểu và vui tai:
Từ ngày đi hội Đống Cao
Lòng ta tơ tưởng biết bao về tình
Xa xa một đám mây xanh
.......................
Những bài thường được hát trong phần hát vặt là Qua cầu gió bay,
Trèo lên quán dốc, Xe chỉ luồn kim… Trong phần này, người hát còn bắt
chước tiếng đàn, tiếng xay lúa, tiếng thổn thức, có khi cả tiếng ngoại quốc
nữa, và mỗi khi một bên này hát trước giọng nào thì bên kia phải hát theo
đúng giọng đó...
Giọng hãm hay ngâm gồm những bài khó hát thường được dùng để thử
tài nhau. Một bài rất nổi danh trong loại này là Tuấn Khanh chường (tức
là chàng Tuấn Khanh) nhắc lại chuyện thiếu nữ giả trai:
Tiếc thay i hơ Tuấn Khanh ư hư
ơ ơ hơ a chường này đi ơ thì ơ
ơ cũng đỗ ấy mấy bảng a vàng a thì khôi khoa...
Tay cô cầm cái nỏ cô vào thì dẫn hơ hoa ơ hơ...
Bắn con chim thước đổ hi hi mấy phải tên nay a rõ ràng
Bay ơ ôi a ha là con chim thước a bay i hi hi...
Sa này xuống dưới sân học trường.
.......................
Tử Trung trông thấy vội vàng ra xem
Tên còn mắc ở đầu chim
Vô tình ai biết thấy tên chữ đề...
Tuấn Khanh vội giở ra về
Tử Trung Ngụy Soạn đề huề xem thư
Thư đề rằng:
Trộm nghe văn sách động lòng nho
Bóng quế nhang đưa giãi mấy thu...
Thư lại đề:
Xa ngọc giang tay buông đàn thước
Sông Ngân nhờ nhịp bắc cầu Ô
Thư đọc xong rồi giao giả Soạn chi...
Người ta gọi luôn là giọng Tuấn Khanh khi hát bài này. Và có lẽ vì
phải ngâm mấy câu thơ cuối bài cho nên người ta đã đặt thêm cái tên
ngâm cho những bài hát theo giọng hãm.
Giọng bỉ có nghĩa là mượn hơi điệu: bỉ chèo dùng những làn điệu của
hát chèo; bỉ chầu văn lấy bài của hát chầu văn; khi lấy hơi điệu của hát ả
đào thì người ta gọi là giọng huỳnh. Truyện Kiều cũng được hát trong thể
hát hội này:
Hm tiếng khoan bên rằng rằng ha tình rằng
Hm như a gió ha ha ha ha ha có cái linh tình hư
Như có cái linh tình hư này a ha ha tính tình
Là tình là này là tình là này
Là chị a rằng chị Hai ơi i ha a
Như a chứ là như gió ha
Hm là có mấy thổi hôi a là thì ngoài là...
Mấy câu Kiều rất ngắn đã được hát rất dài, với rất nhiều tiếng đệm và
chữ láy:
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như giời đổ mưa
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Khiến người ngồi đấy cũng ngơ ngẩn sầu...
Xem như vậy ta thấy giọng bỉ rất khó hát, người hát cần phải có hơi
dài, cần phải phát triển nét nhạc cho hay, cần phải chọn lời ca cho phù
hợp...
Ngoài các giọng kể trên, khi cần chia tay nhau người hát quan họ
thường hát bài giã bạn với một giọng thật buồn:
Người về bỏ bạn sao đành
Người về bỏ vắng phòng không
Người về em vẫn nay trông mai chờ
Người về em ra ngẩn vào ngơ
Năm canh em vẫn đợi chờ sầu âu
Người về cởi áo cho nhau
Phòng khi em nhớ gối đầu lấy hơi
Người về đã mấy xa xôi
Xin người nghĩ lại cho tôi bên này...
Nhạc điệu của hát quan họ rất phong phú vì đã dùng đủ mọi hệ thống
ngũ cung. Giai điệu hay chuyển từ hệ thống ngũ cung này qua hệ thống
ngũ cung khác. Hiện tượng chuyển hệ (métabole) đó đã được thể hiện khi
người ta chuyển từ ngâm sa mạc tới bồng mạc, nghĩa là giai điệu đang từ
ngũ cung re fa sol la do bỗng được chuyển sang re mi sol la si. Trong các
bài hát quan họ, sự chuyển hệ đã đạt tới mức tinh vi nhất vì ngay trong
một câu hát rất ngắn, ta có thể tìm thấy ba bốn lần chuyển hệ.
Sau đây là năm hệ thống ngũ cung thường được dùng trong hát quan
họ:
do re fa sol la
re mi sol la si
fa sol sib do re
sol la do re mi
la si re mi fa#
Bài Trèo lên quán dốc có giai điệu chạy trên hai hệ thống do và fa. Cây
trúc xinh dùng hai hệ thống do và re. Bài Tuấn Khanh chường sử dụng
đến bốn hệ thống do, re, sol và la.
Chúng ta đã thấy hát quan họ là loại hát hội mùa xuân. Trong khi
thiên nhiên chuyển mình thay đổi, con người tạm ngưng công việc đồng
áng để tổ chức hội hè đình đám, nhất là chung quanh Tết Nguyên đán. Đến
khi xong vụ mùa và lúa chiêm đã cấy nghĩa là khoảng tháng bẩy tháng
tám, người dân lại tổ chức hội, lúc này được gọi là hội mùa thu. Hát
trống quân đã phát sinh và phát triển mạnh mẽ trong dịp này.
Hát trống quân
Hát trống quân lúc mới ra đời ở vùng Thanh Hóa đã là một loại hát
Trung thu, với tổ chức phường trai và phường gái, trong đêm nguyệt
bạch, cùng ngắm trăng và hát đối đáp. Đến khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII,
khi Nguyễn Huệ từ Phú Xuân ra Bắc để đánh bọn xâm lược Thanh, thì
người anh hùng áo vải đã dùng hát trống quân để giải trí và giải lao cho
quân sĩ trên đường trường chinh. Hát trống quân được thịnh hành ở một
số lớn các tỉnh miền xuôi Bắc Việt dưới hình thức một tục lệ hát hội mùa
thu, hát thưởng trăng, hát trông trăng...
Hát trống quân
Hát trống quân vẫn là thơ lục bát hát trên giai điệu ngũ cung (do re fa
sol la) với những tiếng đệm í a, í ư, thời, này, mà rằng,… Nội dung tình
tứ, đề cao nghĩa bạn bè, tình luyến ái. Hình thức là hát đối đáp, trai gái
thử thách nhau, bắt bẻ nhau, chế giễu nhau, nhưng trong tình hữu nghị thân
thiết. Nhạc điệu rất giản dị. Hát trống quân chỉ có một điệu. Đặc biệt
nhịp điệu của trống quân rất khỏe, nhờ ở sự trợ giúp của cái trống đất,
người xưa gọi là thổ cổ. Trống này, trước kia, là một cái hố có miếng gỗ
bịt miệng: người ta căng một sợi mây dài qua miệng hố và lấy một khúc
tre chống sợi mây trên mặt gỗ; khi dùng đến, người ta lấy dùi gỗ hay dùi
tre đánh vào sợi dây mây, tiếng thình thùng thình nghe rất ấm cúng vui
tai. Cũng có khi người ta úp một cái thùng sắt tây xuống đất và căng dây
thép qua thùng. Nhạc khí này, các nhạc học gia ở Tây phương liệt vào bộ
dây. Tưởng cũng nên ghi lại rằng ở đảo Madagascar (Phi châu) cũng có
thứ nhạc khí như trống quân. Nhà khảo nhạc người Đức, ông C.Sachs gọi
là erdzither. Và Giáo sư A. Schaeffner người Pháp thì gọi là cithare en
terre.
Hát trống quân đồng thời là loại hát hội, cũng là một thứ hát giao
duyên, và theo tục lệ, người hát bao giờ cũng chia ra hai phe: phe con trai
và phe con gái thi nhau hát những lời ca rất tình tứ:
Trai:
Một đàn cò trắng bay tung
Bên nam bên nữ ta cùng hát lên
Hát lên một tiếng linh đình
Cho loan sánh phượng cho mình sánh ta.
Gái:
Một đàn cò trắng bay tung
Bên nam bên nữ ta cùng hát lên
Hát lên một tiếng mà chơi
Hát lên hai tiếng xơi cơi giầu này
Giầu đã có đây, cau đã có đây
Nhân duyên chưa định giầu này ai ăn?
Trong hát ví, ta đã thấy hát hội, hát thi ở Bắc Việt thường chia ra từng
phần: phần chào hỏi mở đầu, phần mời trầu, phần thách đố và trả lời,
phần hát khen tặng... Trong hát trống quân, ta cũng thấy người hát thi
tuân theo kỷ luật đó:
Giầu này têm tối hôm qua
Giầu cha giầu mẹ đem ra mời chàng
Giầu nầy không phải giầu hàng
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn?
.......................
Giầu bọc khăn trắng cau tươi
Giầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh
Ăn cho nó thỏa tâm tình
Ăn cho nó hả sự mình sự ta
.......................
Tình cờ bắt được nàng đây
Mượn may cái áo mượn may cái quần
May rồi anh tính tiền công
Đến lúc em lấy chồng anh sẽ giúp công cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Chiếc chăn em đắp đôi trằm em đeo
Giúp em trăm tám tiền cheo
Quan tư tiền cưới lại đèo buồng cau
.......................
Con gái nhà giàu
Em là con gái nhà giàu
Cha mẹ thách cưới ra màu xinh sao
Cưới em trăm tấm lụa đào
Một trăm hòn ngọc
Hai mươi tám ông sao trên trời
Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi
Ống thuốc bằng bạc ống vôi bằng vàng
Sắm xe tư mã đem sang
Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu...
Hát trống quân, sau khi sinh hoạt mạnh mẽ ở thôn ổ đã du nhập đô thị
và đi khắp trong nước, leo lên sân khấu chèo, cải lương, ca kịch mới,
trong nhiệm vụ một bài hát đối thoại vui.
Chúng ta có thể đưa vào loại hát hội, hát đám một hình thức hát đặc biệt
của miền Bình Định: hát bài chòi.
Hát bài chòi
Ngày xưa ở vùng Bình Định, trong những ngày hội mùa xuân, người
ta thường hay tổ chức đánh bài. Người đánh bài ngồi trong những cái chòi
dựng chung quanh chòi của người rút nọc. Người này gọi là người hiệu,
mỗi lần rút một cây bài nào ra, lại hô (hát) những câu thơ thai nghén tên
con bài. Người ta áp dụng trò chơi đố thai của cổ nhân (mà chúng tôi đã
nói đến trong loại hò thai) vào lối đánh bài này.
Hát bài chòi dùng thơ lục bát pha trộn với các thể thơ khác, hát trên
ngũ cung hơi Nam giọng oán và với vận tiết của lời. Thơ có thể ngắn
ngủi, giản dị như những câu thơ đố vui hoặc có thể dài mang tính cách tự
sự và trữ tình. Có khi hát bài chòi dùng cả những điển tích cổ.
Cỗ bài chòi dựa theo cỗ bài tổ tôm, nhưng người ta lấy người để chỉ
định pho vạn, lấy vật để chỉ định pho sách và lấy tiền để chỉ định pho
văn.
Pho vạn có những con học trò, nhì bí, tam quăng, tứ cẳng, ngũ trợt,
sáu bường, bẩy bụng, bát bồng, cửu chùa, ầm ầm (tức ông cụ). Khi rút
con bài tứ cẳng người hiệu hát câu:
Một hai bạn bảo rằng không
Dấu chân ai đứng bờ sông hai người.
Pho sách có những con yêu nọc, nhì nghèo, ba gà, tứ móc, ngũ dày,
sáu giống, bẩy thưa, tám miểng, chín điều, thái tử. Con tứ móc được
gọi lên bằng câu thơ:
Xem trong thiên hạ người ta
Không nghề nào thú hơn là nghề câu
Tìm nơi biển thẳm vực sâu
Móc con mồi lớn ngồi câu thạch bàn.
Có một đoạn hát rất dài để gọi tên con bài yêu nọc:
Tay cầm sào chống lái
Mắt liếc mái lều tranh
Ở đây rước khách bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi bạt gành nghê
Một mình chèo chống bốn bề sóng xao
Thú vui ngang dọc một sào
Ngồi trong tĩnh viện kẻ gào người la
Tiếng ai văng vẳng gọi ta
Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.
Hát bài chòi trong giai đoạn phụng sự cho một trò chơi trong ngày
hội xuân này, cũng đã có nhạc phụ họa (trống con, sênh, phách nhỏ, nhị).
Sau này hát bài chòi sẽ tiến tới hình thức hát rong khi những người hiệu
hết hội mùa xuân, rủ nhau đi hát lưu động, dùng thể hát sẵn có kể truyện,
mua vui cho dân chúng. Sẵn đà, hát bài chòi sẽ còn vượt khỏi lĩnh vực hát
rong để thành một bộ môn sân khấu gọi là ca kịch bài chòi.
Chúng ta đã nghiên cứu hò trong mục hát làm việc, tình ca. Sau khi
mang nhiệm vụ hò làm việc, hò nghỉ ngơi, hò giao duyên... hò còn được
dùng trong loại hát đám, hát hội.
Tại miền Nam, khi xưa có tục hò đối đáp ở các tỉnh Gò Công, Mỹ
Tho... Trong những cuộc tổ chức hát đối, người ta thi tài bẻ câu hát.
Bẻ câu hát có nghĩa là uốn nắn những câu hát sẵn có, để thích ứng
với hoàn cảnh mới...
Ví dụ câu hò:
Gió đưa mười tám lá xoài
Bên văn bên võ có tài hát thi.
đã được bẻ lại như sau:
Bảng treo ở chợ Cai Tài
Bên văn bên võ có tài hát thi...
Qua câu hò này, ta thấy rằng trước đây ở chợ Cai Tài (thuộc Tân An) có
tục hát thi.
Hò đối ở miền Nam thường là dịp để trai gái thử thách nhau:
Gái:
Hò ơ ơ...
Năm ngoái năm xưa em còn kha khá
Năm nay em nghèo quá em đội cái nón lá bung vành
Muốn hỏi xin anh cắc bạc để mua cái nón lành đội chơi!
Trai:
Hò ơ ơ..
Ruộng đồng sâu thì lúa chín trước
Ruộng gò mất nước thì lúa chín sau
Anh thương em đem lễ trầu cau
Mà sao e lắm kẻ sang giầu
Họ đem ngà ngọc lụa là gấm vóc trăm mầu
Họ cưới mất em đi...
Gái:
Hò ơ ơ...
Thùng thùng cắc cắc
Chim đậu không bắt
Lại bắt chim bay
Em thương anh vì bởi anh tài
Tài cày tài cuốc tài trồng thuốc
Tài kkéo giồng khoai
Phải đâu em ham lên xe xuống ngựa
Đi guốc đi giầy
Mà anh nỡ trách em?
Hò ơ ơ...
Người miền Nam rất ham đọc các truyện bình dân, hoặc là truyện thơ
dân tộc, hoặc là truyện Tầu dịch ra quốc ngữ, cho nên trong các câu hò đối
đáp người ta thường thấy các điển tích được dẫn ra:
Hò ơ ơ...
Cây trên rừng hóa lá
Cá ngoài biển hóa long
Anh đi Lục Tỉnh giáp vòng
Hò ơ ơ...
Tới đây trời định đem lòng thương em ơ ơ ơ...
Hò ơ ơ...
Tiền Đường Hậu Tống
Tam Quốc Tây Do
Anh có thương em thì đừng nói chuyện đưa đò
Hò ơ ơ...
Giả như Đắc Kỷ đi phò ông Trụ Vương ơ ơ ơ...
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Nhà xuất
bản Sử Học, Viện Sử học Hà Nội 1962.
Nguyễn Văn Năng, Các bài hát lý, tài liệu chép tay.
Phạm Duy, Dân ca dẫn giải, Đài Phát thanh Tự do.
Vũ Huy Chấn, Hát trống quân, báo Tân phong, tập 12.
Lê Văn Hảo, Nguồn gốc và tiến hóa của hát quan họ, Đại học số 4, Huế
tháng 8 1962.
Lê Văn Hảo, Sơ khảo về hát trống quân, Đại học số 31.
Tô Đức Phúc, Hát bội và đánh bài chòi, Văn đàn số 22.
HÁT RONG – HÁT DẠO
Trong văn học dân gian của người Việt, bên cạnh tục ngữ và ca dao, còn
có vè.
Vè
Vè cũng là một thứ văn chương truyền khẩu, nhưng vè không mang
nặng tính khái quát, tính phổ biến như ca dao. Vè độc đáo ở tính chất
thời sự địa phương. Vè cũng không được dùng để hát đối đáp, hát giao
duyên; vè lại càng không phải là bài hát làm việc. Tuy vè hay kể truyện
nhưng vè không nghệ thuật hóa câu chuyện.
Vè chính là một tờ báo miệng của từng địa phương. Nó đem chuyện
thời sự nóng hổi (hoặc chuyện lâu đời của một vùng) vào thể văn vần với
những câu 4 chữ, 5 chữ, lục bát biến thể. Những bài văn vần này, được hát
lên với giọng điệu của địa phương, sẽ tùy theo công dụng mà mang tên là
hát vè, nói vè...
Vè tuy không dễ dàng vượt khỏi ranh giới một vùng để phổ biến sâu
rộng nhưng vè được lưu hành trong vùng một cách rất nhanh. Một phần
lớn cũng là nhờ ở những người đi hát rong, hát dạo.
Thể vè có lẽ đã phát triển từ những đồng dao của trẻ con, vốn là những
bài hát có những câu ba chữ hay bốn chữ (vãn ba, vãn tư):
Xỉa cá mè
Đè cá chép
Chân nào đẹp
Đi buôn men
Chân nào đen
Đi buôn tép
.............
Nu na nu nống
Cái bống nằm trong
Cái ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật.
Vè là những bài văn tự sự:
Thìa la thìa lẩy
Cô gái bẩy nghề
Ngồi lê là một
Dựa cột là hai
Đánh bài là ba
Ăn quà là bốn
Trốn việc là năm
Hay nằm là sáu
Láu táu là bẩy.
Vè ở Bắc Việt được hát với hình thức một bài hát rong: đó là lối hát
xúc xắc xúc xẻ của các trẻ con, trong dịp Tết Nguyên đán, đi hát xông đất:
Xúc xắc xúc xẻ
Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào...
Các em vừa hát vừa lắc một cái ống tre trong có đựng tiền kẽm hay tiền
đồng để đánh nhịp.
Hình thức hát rong này cũng được dùng tại Hà Tĩnh, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên với cái tên hát sắc bùa. Vẫn là trẻ con
hát (có khi vừa hát vừa múa) có đàn và trống phụ họa.
Vè có giá trị nhất ở trong nước là vè Nghệ Tĩnh. Miền này có một hình
thức dân ca toàn diện bao gồm tất cả các loại hát giao duyên, hát làm
việc, hát kể truyện, hát hội, hát rong: đó là hát giặm.
Trong hát giặm, vè được dùng để kể truyện dưới hình thức hát rong.
Nó vẫn là những bài hát vãn tư, vãn năm (có những câu láy) hát trên giai
điệu re sol fa và với vận tiết của lời:
Lặng lặng mà nghe
Cái vè nói ngược
Con cháu sinh trước
Ông bà đẻ sau
Con rùa chạy mau
Con thỏ đi chậm.
Ngoài những bài hát chơi như vậy, vè trong hát giặm Nghệ Tĩnh là
những bài ca thời sự:
Quan sai đi đánh giặc Mường
Ai là vợ lính thì thương lính cùng
Nỏ (chẳng) được thung dung
Như lời đế Trịnh
Anh đương lấy lính
Cho mẹ cho cha
Cho anh em ở nhà
Được thanh nhàn mát mẻ
Anh theo ra bể
Dập dìu hò khoan
Anh ngược đại ngàn
Gỗ dày ván tốt.
Hát giặm vè còn là những bài hát luân lý dạy trẻ bằng cách kể lại
những khó nhọc của cha mẹ khi nuôi con:
Khi khóc dai ngồi dỗ
Khi ngứa ngáy ngồi xoa
Trông tháng trọn ngày qua
Trông từng thi từng thí (từng ly từng tí)
Tập lần lần từng thí
Khi bữa ăn đương dở
Con tiểu giải lên mình
Ai nấy cũng đều kinh
Cha mẹ ngồi chịu vậy
.................
Kể trong nhà đói khổ
Trời giá rét căm căm
Nơi ướt để mẹ nằm
Nơi khô xê con lại
Nơi ấm bồng con lại
.................
Suốt đêm ngày khù khụ
Cha như đứa tiểu hầu
Mẹ như đứa tiểu hầu
Nghĩa khó nhọc bấy lâu
Công giữ gìn chăm sóc.
Qua hát giặm vè, chúng ta thấy người xưa đã vẽ lại bức tranh lịch sử và
xã hội của miền Nghệ Tĩnh. Cụ Phan Bội Châu đã soạn một bài giặm vè
dài l50 câu để kể chuyện năm châu cho người dân Việt nghe, cuối bài cụ
kết luận: khuyên ai ai phải tự cường…
Vè ở Quảng Nam cũng được phổ biến trong hình thức hát rong và cũng
mang những tính chất chính của thể ca thời sự và châm biếm. Sau đây là
một bài vè nhan đề Con gái mê hát bội:
Nghe gióng trống kỳ
Rủ nhau ra đi
Đến làm chật chỗ
Lúc này không ngộ (hay)
Mới đánh đầu tuồng
Chạy thẳng vô buồng
Thấy hai chú tướng
Tướng này không sướng
Không bằng tướng kia
Ai về thì về
Tôi coi tới sáng
Thấy trai sạch ghèn (nhử mắt)
Lả lơi đảo nhãn
Kép ngày kép tháng
Tới mấy ông già
Đáng ông đáng bà
Cũng không kể tới.
Những người hát rong ở Quảng Nam còn kể lại những truyện thơ (văn
vần) bình dân theo thể lục bát, như truyện Lâm sanh Xuân nương, Quý
Ngọc... hát theo điệu bài chòi (giai đoạn hát rong) với giai điệu ngũ cung
hơi Nam giọng oán.
Từ Quảng Nam vào cho đến Khánh Hòa, hát bài chòi là một hình thức
hát rong nổi bật nhất.
Hát bài chòi rong
Như ta đã biết, đầu tiên hát bài chòi là một lối hát dùng trong trò chơi
đánh bài vào những ngày hội xuân ở Bình Định. Những con bài được
xướng lên bằng những câu hát. Người hát gọi là người hiệu. Sau khi hết
hội xuân, người hiệu trở thành nghệ sĩ hát rong...
Vài ba người hiệu họp thành một ban hát rong phát triển lối hô bài
chòi thành một điệu riêng gọi là điệu xuân nữ, có nói lối và hát nam (của
tuồng cổ) mở đầu. Với điệu đó, họ đi các nơi kể truyện cổ tích hoặc
truyện đương thời... Kể tích thì có những truyện bình dân như Thoại
Khanh Châu Tuấn, Phạm Công Cúc Hoa. Kể thời sự thì có truyện Ông
xã lấy vợ ông đội, Con gái ngủ trưa, Mẹ chồng nàng dâu... Sau đây là một
ví dụ của hát bài chòi rong:
Nói lối:
Nhật chiếu nguyệt chiếu
Tinh thần chiếu
Thiên tri địa tri
Quỷ thần tri
Nam ai:
Quỷ thần tri kẻ đi người ở
Vợ xa chồng biết thuở nào nguôi
Xuân nữ: (bài chòi)
Nghĩ thôi châu lụy sụt sùi
Mẹ già đói khát mắt đui não nùng
Tóc dài con đắp cho chồng
Đêm khuya lạnh lẽo ấm thân mẹ già
Xin cơm nuôi dưỡng mẹ cha
Thân con gắng nhịn cho qua tháng ngày.
Hát bài chòi rong được hát trên giai điệu ngũ cung hơi Nam giọng oán,
có đàn và trống phụ họa. Hình thức này phát triển rất mạnh và sẽ trở thành
một bộ môn sân khấu của địa phương mang tên ca kịch bài chòi.
Hát xẩm
Thể hát rong ở Bắt Việt được phổ biến qua những người hát xẩm là
những người mù đi hát dạo độ thân. Nội dung của hát xẩm (do chữ sâm
sẩm tối) là những bài luân lý ca hoặc truyện thơ bình dân. Giai điệu của
hát xẩm nằm trong ngũ cung Bắc (do re fa sol la), tiết điệu theo thơ lục
bát có nhiều tiếng đệm, tiếng láy. Nhịp điệu rất nhanh:
Sống ở trên đời
Nói mấy sinh ra sống ở trên đời
Biết chăng chẳng biết
Mà chỉ có giời mấy ta
Ta chỉ thăng quan vì nước non nhà
Chính vì non nước vì nhà con nuôi
Chịu bấy lâu cho thế gian cười...
Hát xẩm bao giờ cũng có đàn bầu, nhị, trống, và phụ họa. Vào dịp Tết,
người ta hát xẩm soan, nghĩa là những bài hát xẩm mùa xuân.
Miền Nam cũng có hát rong nhưng không có nhiều như ở các miền
ngoài. Vè được phổ biến qua miệng những người mù các bến sông. Vào
hồi đầu thể kỷ này, người ta đua nhau xuất bản những bài vè như vè máy
bay ở Mỹ Tho, vè nàng dâu dữ bị trời hành... Nhưng rồi vè ở Nam Việt
sẽ mất dần tính chất thời sự để trở thành những bài vè ca tụng thổ sản
như bài vè trái cây, vè các thứ cá, vè các thứ bánh, thể hiện trên thơ 4
chữ và hát với ngũ cung hơi Nam giọng oán:
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè trái cây
Dây ở trên mây
Là trái đậu rồng
Có vợ có chồng
Là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ
Là trái mít ướt
Hình tựa gà xước
Vốn thật trái thơm
Cái đầu chơm bôm
Là trái bắp nấu
Rủ nhau làm xấu
Trái cà dái dê...
.............
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè loại cá
No lòng phỉ dạ
Là con cá cơm
Không ướp mà thơm
Là con cá ngát
Liệng bay thoăn thoắt
Là con cá chim
Hụt cẳng chết chìm
Là con cá đuối
Lớn năm nhiều tuổi
Là cá bạc đầu
Đủ chữ xướng câu
Là con cá đối...
.............