250 Đa Hiệu 127Tôi đã trả lời Đại Tá Tường “Mực”:- Thưa Đại Tá. Khi tôi đã giao trọn nhiệm vụ cho họ vào chỗ nguy hiểm mà không giúp họ thì tôi cảm thấy không đúng trách vụ. Có xảy ra điều gì ngoài ý muốn thì tôi đành chịu. Tôi nghĩ ra cách làm sao cho thuộc cấp của mình biết cách đáp an toàn và ít bị tiết lộ. Trước khi thi hành phi vụ đặc biệt này, tôi gần như mất ăn và mất ngủ. Áp lực tinh thần đè nặng lên tôi, đã dằn vặt tôi suốt cả tuần lễ.Cuối cùng ngày N đã đến.Chiều hôm trước, hai trực thăng bay lên đáp ở An Lộc. Tôi và Đại Tá Tường “Mực” vào thăm Chuẩn Tướng Hưng xong thì bay về. Tôi ấn định, vào 02:30 giờ đêm thì trực thăng ở An Lộc khởi hành. Vào lúc 02:15 giờ đêm, trực thăng của tôi và Đại Tá Tường từ Biên Hòa cất cánh bay lên. Tôi và phi hành đoàn giải cứu chỉ liên lạc với nhau qua tần số nội bộ. Phi hành đoàn trực thăng đã đến mục tiêu và đáp xuống an toàn, không gặp trở ngại. Tuy nhiên, khi cất cánh họ không biết phải làm thế nào nên hỏi tôi:- Trung Tá, lên thế nào?Tôi trả lời:- Tắt hết đèn. Bay lên đầu phi trường Tống Lê Chân. Sau khi ra khỏi phi trường, trực thăng tăng nhanh cao độ trong đêm tối. Làm sao Việt Cộng thấy máy bay mà bắn?Nhưng cao xạ của Việt Cộng cũng không quên bắn hú họa đuổi theo. Tôi đã quan sát hướng súng của chúng. Chung quanh căn cứ Tống Lê Chân và trên đường bay về, đạn lửa đang đan sáng bầu trời tối đen như mực. Cứ bốn viên đạn thường thì có viên đạn lửa. Bầu trời như phủ đầy pháo bông.Phi hành đoàn đã về tới Biên Hòa và đáp trên sân Hùng Vương của Quân Đoàn III. Tôi ra lệnh:
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 251- Ngày mai, đúng 08:00 giờ sáng, các anh mặc kaki vàng, cà vạt đến gặp để tôi đưa lên Quân Đoàn gắn lon.Đại Tá Tường “Mực” cũng nghe những điều tôi dặn phi hành đoàn.Chưa tới 08:00 giờ, Chuẩn Tướng Tính đã gọi cho tôi nói:- Mấy thằng nhỏ xong chưa?- Đã xong, thưa Chuẩn Tướng. Tôi trả lời.Tới nơi, Tướng Tính đi đầu dẫn phái đoàn. Đại Tá Tường đi kế tiếp, rồi tới bốn người trong phi hành đoàn. Tôi là người đi sau cùng.Khi vừa bước vào của thì Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III nói: - Thôi thì bây giờ “qua” cho mỗi người trong phi hành đoàn một anh Anh Dũng Bội Tinh. Ba lần thì được lên lon. Tôi bị shock bất ngờ nên bật miệng nói:- Trung Tướng làm vậy tôi không chỉ huy được. Em út sẽ nghĩ tôi lường gạt họ. Trung Tướng ra lời hứa, chứ tôi không yêu cầu.Tướng Tính nắm tay kéo tôi ra, nói:- Anh không được nói như vậy, ông ấy phạt anh chết.- Ông ấy có phạt thì tôi đành chịu. Tôi trả lời.- Anh đi ra. Lôi mấy thằng nhỏ đi.Đại Tá Tường kéo mấy người trong phái đoàn ra, rồi nói:- Đâu còn đó. Đây là 100.000$ (tiền Việt Nam, hồi đó). Chú dẫn họ đi nhậu, quên vụ này đi.Chúng tôi đành phải chấp nhận, không thể làm gì khác.Một tuần lễ sau, Sĩ Quan Chánh Văn Phòng của Tướng Tính gọi tôi lên trình diện Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân. Tôi hoảng hồn nghĩ rằng kỳ này ông Tư Lệnh Không Quân “vớt”
252 Đa Hiệu 127mình “nát” rồi.Tôi sang trình diện, xưng danh:- Trung Tá Nguyễn Văn Ức xin trình diện Trung Tướng.Ông chỉ ghế trống bảo ngồi xuống, rồi hỏi:- Đm. Anh nói gì với ông Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn. Nói lại cho tôi nghe.(Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân thường hay là thêm Dm vào đầu mỗi câu nói. Lâu dần mọi người quen với cách nói này của ông, mà không để ý.)- Chắc Trung Tướng đã nghe Chuẩn Tướng Tính và Đại Tá Tường thuật lại rồi.- Nhưng tôi muốn nghe từ anh.Tôi thuật lại câu chuyện như những gì đã xảy ra. Sau đó, ông nói:-Dm. Ông Minh nói với tôi. Nếu anh còn ở đây, ông ấy sẽ đưa anh ra tòa án quân sự mặt trận. Thôi, bây giờ anh hoán chuyển ra Đà Nẵng, thay Phước “Răng Vàng” về đây.- Tôi không đi Đà Nẵng đâu. Tôi trả lời.- Dm. Quân đội mà có điều kiện à?- Tôi là con một. Ba tôi đã 62 tuổi rồi. Tôi phải ở gần nhà để săn sóc cha mẹ già. Nếu Trung Tướng muốn, tôi sẽ làm phiếu trình. Sau khi suy nghĩ một lúc, ông nói:- Thôi. Bây giờ anh về làm việc với anh Tâm đi. Khi anh đi làm Sĩ Quan Liên Lạc thì anh Tâm làm Phi Đoàn Trưởng. Bây giờ anh xuống làm Không Đoàn Phó cho anh ta thì cũng đúng thôi. - Trung Tướng chỉ định thì tôi thi hành. Tôi trả lời.Đầu tháng giêng 1973, tôi về làm Không Đoàn Phó cho anh Tâm (cùng khóa), thay thế Đại Tá Triệu. Trước đó, khi anh
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 253Tâm làm Không Đoàn Phó cho Đại Tá Triệu. Đại Tá Triệu về Biên Hòa làm Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 43/CT thay thế tôi.Cuộc đời binh nghiệp phức tạp lắm. Thật khó chọn lựa cách ứng xử khi làm đơn vị trưởng, cũng như cách xử sự với thuộc cấp, nếu mình muốn làm đúng với lương tâm của mình. Đời quân ngũ của tôi đã trải dài như vậy. Rất tiếc là ngắn ngủi mà tôi đã không đi hết đoạn đường. Tuy nhiên, nếu không có 30 tháng 4 năm 1975, thì cuộc đời quân ngũ của tôi sẽ không biết sẽ đi về đâu?CHÀO MỪNGĐẠI HỘI VÕ BỊ TOÀN CẦU KỲ THỨ XXIIIo O oTRUYỀN THỐNG - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆMTỪ NGÀY 14, 15, VÀ 16 THÁNG 6 NĂM 2924TẠI QUẬN CAM, NAM CALIFORNIA, HOA KỲ.
254 Đa Hiệu 127NHỮNG THOÁNG... KHÓ QUÊN!Thiên-Thu Thường thường, vào đầu tháng 11, tôi có thói quen xem lại những bài viết bỏ dở dang trong năm để hoàn tất và tìm tài liệu chuẩn bị làm video Tưởng Niệm Quốc Hận cho năm kế tiếp: Quốc Hận Lần Thứ 49 (30/4/1975-2024).Đang loay hoay kiểm lại bài vở, tôi nhận được email từ người bạn cũ. Bạn hỏi tôi: - “Có bài nào gửi Đa Hiệu số 127 để đăng vào dịp Tết 2024 không?“Tôi thất vọng vì những bài viết tôi đang có chẳng mang chút màu sắc gì liên quan đến Tết cả! May thay, Bạn có cho thêm một ‘option’ khác là “Nếu có liên quan đến CS thì cũng được.”Thế là tôi vội vàng ‘gọt dũa’ lại một bản nháp, có dính líu đến cộng sản để gửi đi cho kịp.Nhớ lại năm 2022, tôi có làm một video cho THÁNG TƯ ĐEN – TƯỞNG NIỆM 47 NĂM QUỐC HẬN với những mẩu chuyện thật gần gũi vì đã xảy đến cho chính gia đình tôi.Thấm thoát, 47 năm đã qua đi... Tháng Tư Đen lại trở về...! Người đời luôn nghĩ là ‘Người già dễ nhớ mau quên.’
Những Thoáng... Khó Quên 255Vâng, quả thật không sai chút nào, nhưng riêng chuyện dài “Thiên đường CSVN” kèm theo hình ‘Búa Liềm’ thì cứ mãi mãi khắc sâu trong óc tôi hình ảnh. Cái búa dùng để đập đầu, Cái liềm dùng để cứa sâu cổ người!Vì không sao quên được nên tôi làm video ghi lại một quãng đời. Vỏn vẹn chỉ bốn năm, tôi đã ‘hít thở’ cùng một bầu không khí với CSVN sau 30-4-1975 ở Sài Gòn... trước khi rời bỏ gia đình lúc 2:00 giờ sáng ngày 30-4-1979 để khỏi phải cầm cờ đỏ sao vàng tập họp vào 5g sáng ở trước Dinh Độc Lập của VNCH để chờ giờ “Chào mừng cách mạng thành công”!Vâng, thay vì ‘đi chào mừng’ thì tôi đi xuống Miền Tây để vượt biên, lìa xa quê nhà 43 năm về trước, tính đến 2022!Văn: TỪ THƯƠNG ĐẾN HẬN BAO XA...?Nhạc đệm: Nhạc Ngoại QuốcVideo 4-2022: https://youtu.be/BQ1qqPa9ceIK/T mời cùng đọc, cùng xem và cùng chia sẻ...th - thienthuntth - YouTubeVideo trên là tất cả sự thật về gia đình và cá nhân tôi đã sống và biết về CS ở quê nhà như thế nào kể từ 30-4-1975 đến 30-4-1979.Còn ở quê người thì sao? Quê người đâu có CS!Không hoàn toàn đúng đâu! Vì có ‘khách CS’.Sau 35 năm làm việc và gần 19 năm cuối cùng, trước khi nghỉ hưu năm 2014, công việc của tôi nằm trong lãnh vực liên quan đến sức khỏe quần chúng nên tôi có vài mẩu chuyện ngắn, vui vui nhưng không kém xót xa. Tôi sẽ không ghi lại thời điểm chính xác trong bài này mà chỉ là tóm tắt nội dung câu chuyện để chia sẻ với người đọc.CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT:Trong một buổi họp ở Sở làm nhiều năm về trước, có một vị khách mời từ thủ đô Canada. Tôi có mặt ở phòng họp ấy vì có liên quan đến việc làm. Sau hai tiếng, buổi họp chấm dứt.
256 Đa Hiệu 127Mọi người bắt tay chào và rời phòng họp. Riêng vị khách mời từ Ottawa, ở lại, và tiến về phía tôi. Với phong cách rất lịch sự, ông nghiêng đầu chào, nhìn vào bảng tên của tôi và ngần ngừ hỏi:- Xin lỗi, cô có phải là người VN không?Tôi gật nhẹ và đáp nhỏ:-Vâng, thưa ông. Tôi là người VN.Và câu chuyện bắt đầu ông kể cho tôi nghe tóm tắt như sau.Câu đầu tiên ông cho tôi biết là: “Hà Nội nóng lắm!” rồi tiếp theo là cách đó mấy năm, ông được chính phủ Canada gửi qua VN công tác ngắn hạn, liên quan đến y tế. Khi đến phi trường Nội Bài, có người ra đón và đưa ông về khách sạn. Người porter giúp ông chuyển hành lý vào phòng. Ông gửi tiền pourboire và cám ơn rồi đi vào phòng vệ sinh. Khi ông trở ra, người porter vẫn còn đứng đó, nên ông thắc mắc hỏi:- “Anh còn cần gì ở tôi nữa?”Trước khi nói tiếp, ông nhìn thẳng vào mắt tôi:- Tôi xin lỗi cô trước khi tôi kể tiếp... Xin cô có thể cho tôi biết cô rời VN năm nào không?- Dạ, ngày 30-4-1979. Đúng bốn năm sau ngày mất Sài Gòn, 30-4-1975, tôi đi vượt biên, ở trại tỵ nạn Mã Lai năm tháng và được chính phủ Canada nhận cho vào tỵ nạn CS ở thành phố này ngày 27-9-1979. Tôi ngừng một chút rồi nói tiếp. Tôi cũng xin nói thêm là, trước đó, sau Hiệp định Genève 1954, tôi theo cha mẹ di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn lúc hơn năm tuổi.Ông nhìn tôi và kể tiếp:- “Tôi cũng đã có dịp qua Sài Gòn làm việc trước và sau 1975. Mới gần đây thôi, tôi qua Hà Nội”.Nói xong, ông trầm ngâm một lúc rồi nhìn tôi, buông giọng.- Người porter nhìn tôi và hỏi nhỏ: “Do you need a woman?”
Những Thoáng... Khó Quên 257Vừa nghe xong câu ông nói, tôi ngẩn người, sững sờ nhìn ông, vừa lắc đầu như cố xua đi những gì tôi vừa nghe thấy nhưng không thể nói thành lờiÔng vẫn nhìn thẳng vào mắt tôi, thở dài, buông giọng:- Tôi không thể tưởng tượng được người porter dám hỏi thẳng tôi câu đó, nên tôi nghiêm mặt, nhìn thẳng vào mắt anh ta, nói thật chậm và nói rõ từng chữ: - “Tôi là người đã có gia đình. Xin anh vui lòng rời phòng để tôi nghỉ ngơi.”Người porter cúi đầu chào, lui ra, rời khỏi phòng, và khép cửa lại.Ông nói với tôi là ông cảm thấy “bị xúc phạm nặng nề”, thấy bực bội vô cùng... nên ông quay vào nhà vệ sinh, xả nước cho vơi bớt cái oi bức của Hà Nội và phiền muộn trong lòng ngay ngày đầu tiên đến nơi đây!!! Sau đó, ông xuống lầu, vào lounge để uống bia vì Hà Nội nóng quá! Ông đến ngồi chung bàn với hai người Âu Châu dù chưa quen biết họ.Không lâu sau đó, qua khung kính lớn, ông thấy hai xe Honda ngừng lại, hai thanh niên chở hai cô gái VN bước vào lounge. Hình như hai cô gái trẻ này đã biết hai người Âu Châu kia. Họ tươi cười và bước nhanh tới quàng tay vào cổ hai người đàn ông. Họ cụng ly rồi rủ nhau rời quán rượu. Thấy ông một mình, họ rủ ông đi chung nhưng ông lắc đầu. Ông lại nhìn tôi, hạ thấp giọng và nói tiếp.- “Tôi rất ngạc nhiên trước cảnh này. Phụ nữ ở Sài Gòn năm xưa khác những người này.”Tôi ngượng đến không nói được lời nào... và ông tiếp tục lập lại nhiều lần với lời xin lỗi tôi. Tôi chỉ còn biết chống chế với câu:- Thưa ông, tôi xa quê nhà gần 30 năm rồi và chưa một lần trở lại nên không biết những thay đổi về con người và xã hội bên ấy. Thành thật xin lỗi ông.
258 Đa Hiệu 127Tôi nghẹn lời và thấy xấu hổ trước người đàn ông bản xứ này.Ông nhìn tôi ái ngại rồi buông nhỏ:- “Tôi thành thật xin lỗi cô. Tôi không cố ý làm cô buồn đâu.”Tôi cũng chỉ biết lắc đầu thay cho lời nói: - “Không phải lỗi của ông!”Rồi tôi lí nhí lập lại cùng một câu: “Xin lỗi ông” chứ không nói được gì hơn nữa.Ông đứng yên nhìn tôi. Tôi, thấy như mắt cay cay vì xấu hổ. Chúng tôi, một lần nữa cúi đầu chào nhau và cùng lặng lẽ rời phòng họp!!!Tôi trở lại phòng làm việc với một nỗi buồn không nhỏ, không tên và không thể kể với ai được. Vì nơi tôi làm việc lúc đó không có người VN nào để tôi có thể tâm sự! Tôi tự hỏi: - Tại sao xã hội ấy có thể thay đổi đến độ trơ trẽn và vô liêm sỉ tới mức độ đó với người ngoại quốc?CÂU CHUYỆN THỨ HAI:Năm đó, tôi nhận được email theo kiểu công sở mời dùng cơm trưa với phái đoàn Y Tế VN và sẽ có Seminar sau đó. Đương nhiên là tôi không thể từ chối vì quan hệ giữa Đại học (ĐH) và Sở Sức Khỏe, nơi tôi làm việc. Nhà hàng ở gần Sở, tôi đi bộ qua. Trong bữa ăn khá đông nhưng phái đoàn VN chính thức có năm người với bằng cấp và chức vị cao từ Hà Nội đến.Ăn xong, chúng tôi đi bộ đến phòng hội thảo của ĐH cũng ở ngay phố chính. Tôi vốn dĩ không thích gần mấy người làm lớn, ngay ở Canada, nên một mình đi chậm lại. Bỗng nhiên, có hai phụ nữ trong phái đoàn VN đi tới và áp sát 2 bên tôi. Nhìn họ, có lẽ lớn hơn tôi vài tuổi. Một chị mở lời nhờ tôi giúp tìm một khách sạn giá rẻ hơn vì họ có chút vấn đề về tài chánh. Tôi
Những Thoáng... Khó Quên 259thật sự thấy mũi lòng vì biết VN nghèo mà ở khu này, ngay phố chính của thủ đô thì đắt lắm!Khi vừa đến phòng họp, còn 10 phút nữa Seminar mới bắt đầu. Tôi đi gặp ông CEO, trình bày vấn đề và xin ông nhờ thư ký ĐH giúp họ. Ông nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên, chậm rãi nói:- Sao họ lại muốn đổi chỗ ở, khi chúng tôi đài thọ tất cả mọi chi phí trong chuyến đi để họ được ở gần ĐH và tiện đi lại hội họp mà?Vừa nghe xong câu ông CEO thắc mắc, tôi chợt hiểu ra là... có một cái gi ‘khuất tất’ ở đây!Quay lại phòng họp, có khoảng 40 người, tôi chọn ngồi gần cuối phòng và nghe phái đoàn VN thay phiên nhau nói về Y Tế VN. Tôi nghe để mà nghe vì tôi đã biết đâu là sự thật rồi!!Qua đến phần Hỏi - Đáp, tôi được một đồng nghiệp người Canada ‘ưu ái’ mời đặt câu hỏi đầu tiên vì tôi là người VN. Thú thật, lúc đó tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng vì những người, cũng là người Hà Nội... mà sao ngày nay họ lại như thế này?!Do đó, thay vì đặt câu hỏi, tôi cho biết là sau khi CS chiếm được Sài Gòn, tôi ở lại bốn năm và đi vượt biên tìm TỰ DO. Tôi xa VN gần 30 năm rồi và chưa một lần trở lại, nên không biết Y Tế VN đã tiến bộ đến mức độ nào. Qua phần trình bày của phái đoàn từ Hà Nội tới đây, có lẽ tôi phải xin Sở cho tôi đi qua VN một chuyến để tìm hiểu và học hỏi về tổ chức y tế ở bên ấy.Cả phòng hội thảo im lặng như tờ và tôi nói tiếp...- Thêm nữa, cho tới thời điểm này, tỉnh của chúng tôi, tỉnh của dầu hỏa, cũng mới chỉ có được một số nhỏ MRI, trong khi đó VN đã có MRI ở khắp mọi nơi như vừa trình bày.Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây để câu chuyện dễ hiểu hơn là tôi làm việc cho Sở Sức Khỏe của tỉnh, bang trong vai trò của một data analyst. Ngay khi được nhận vào làm, tôi đã phải
260 Đa Hiệu 127để bàn tay phải lên quyển Thánh Kinh và thề những gì tôi phải tuân theo khi làm công việc này.Từ đó, tôi được phép vào dùng tất cả các kho dữ liệu và hồ sơ y tế của từng người dân trong toàn tỉnh mà Sở Sức Khỏe nhận được từ phòng mạch của Bác sĩ, của Bệnh viện, của các Trung tâm Y tế trong Tỉnh gửi về Sở; với tất cả các chi tiết liên quan đến dịch vụ y tế đó, số lần đi khám bệnh, nằm bệnh viện, cấp cứu, bị các bệnh có trong ICD-9 và mới hơn là ICD-10 từ các bệnh thông thường đến truyền nhiễm hoặc hiếm có. Chưa kể databases về Sinh, Tử và Dân số...Mỗi người dân ở tỉnh này đều có Thẻ Health Care gắn liền với tên của họ đến suốt đời. Do đó, tôi có thể tìm tất cả những chi tiết về sức khỏe của bất cứ ai trong công việc báo cáo hàng năm và luôn luôn phải so sánh với chín năm trước đó. Bên cạnh đó, tôi có bổn phận cung cấp thống kê liên quan đến các bệnh theo yêu cầu cho các nhóm nghiên cứu của Tỉnh bang, chưa kể những báo cáo khẩn cấp khi có những bệnh đột nhiên xuất hiện và tăng nhanh hay những bệnh cần thống kê để nghiên cứu sâu xa hơn từ nơi tôi làm việc và chưa kể chạy thống kê cho những special project lớn như sức khỏe của trẻ em, của các bệnh truyền nhiễm (lao, suyễn, tình dục, viêm gan A-B-C, kháng trụ sinh Melicithin, sinh sản, tử vong…. vv và vv...) cộng thêm báo cáo về cảm cúm mỗi mùa với thống kê đưa lên Internet mỗi tuần để cho toàn tỉnh so sánh với cả nước Canada và theo dõi sự trồi sụt của từng địa phương.Không khí trong phòng họp dường như nóng hơn lên khi tôi nói: - “Khi về Sở, tôi sẽ xin phép được gửi qua VN một lần để tìm hiểu và học hỏi về hệ thống phòng, chữa bệnh cho trẻ em dưới năm tuổi. Đương nhiên còn nhiều câu hỏi khác của những người làm việc trong ngành Y Tế, nhưng tôi có thể nói là người Canada rất lịch sự. Họ nêu câu hỏi và lắng nghe phái đoàn VN trả lời,
Những Thoáng... Khó Quên 261không thắc mắc và không hỏi vặn vẹo lại phái đoàn VN, dù họ biết rất rõ đâu là thật hay không thật!Khi buổi họp chấm dứt, tiếng ồn ào như muốn phá vỡ bốn bức tường. Vị giáo sư dạy về thống kê ở ĐH đồng thời cũng làm việc cùng Sở với tôi, nhìn tôi, nheo mắt cười tủm tỉm. Có lẽ ông không ngờ là người VN này đã lên tiếng như vậy trong buổi hội thảo, vì ông đã quá quen, trên 10 năm, hình ảnh của một phụ nữ VN ‘câm như cá’ trong khi khu làm việc của tôi và của ông ở cạnh nhau, trong cùng Ban và ít khi nào ông nghe tôi lên tiếng trong các phiên họp. Ông chỉ biết tôi làm việc chăm chỉ, kiên trì và cần mẫn với hai cái monitor to tướng trước mặt để chạy thống kê cho hàng triệu triệu hồ sơ về bệnh của người dân trong toàn tỉnh từ năm này qua năm khác. Dưới mắt ông, tôi là một cỗ máy, hiếm hoi biểu lộ cảm nghĩ của mình.Khi rời phòng hội thảo, mọi người tiến về phía tôi chia sẻ: - “Cô nên cẩn thận, CSVN sẽ để ý cô đấy.”Tôi thẳng thắn trả lời: - “Họ không ngờ là họ nói sai sự thật trước một người làm việc trong lãnh vực thống kê về sức khỏe của tỉnh này.” Sau đó, tôi cùng mọi người rời phòng họp.Ngoài hành lang phòng hội thảo, phái đoàn Hà Nội đang trả lời vài câu hỏi của người tham dự. Tôi tiến đến, xin phép cả nhóm cho tôi có vài lời với phái đoàn VN vì tôi phải trở về sở ngay, và tôi đã thẳng thắn nói với họ: - “Các Anh Chị đang có mặt ở một trường ĐH có thể giúp nước VN rất nhiều về y tế vì họ được rất nhiều công ty Thuốc tài trợ để làm nghiên cứu về nhiều bệnh, mà Sở của chúng tôi là nơi cung cấp thống kê cho họ. Nếu Anh Chị muốn VN tiến bộ thì không nên nói dối về những con số liên quan đến sức khỏe của người VN. Đa số người ngoại quốc ghét nhất là chuyện bị người ta nói không đúng sự thật để lừa mình. Cũng
262 Đa Hiệu 127là người VN, khác lập trường chính trị với Anh Chị, nhưng không có nghĩa là tôi không muốn giúp VN. Tuy nhiên, tôi chỉ xin các Anh Chị một điều là đừng bao giờ nói sai sự thật khi ra khỏi lãnh thổ VN.”Khi tôi chào từ giã, Phái Đoàn VN chỉ nhìn tôi và không nói một lời nào trước khi tôi chào chia tay.Khi tôi quay vào để chào vị GS đỡ đầu luận án Cao Học và đã từng trực tiếp làm việc với tôi qua nhiều dự án nghiên cứu về sức khỏe của người dân trong tỉnh từ nhiều năm trước và còn tiếp tục; GS giới thiệu với tôi một thanh niên từ VN qua làm post-doc ở ĐH này. Tôi gật nhẹ và nói: - “Chào Anh!”Sau khi giới thiệu xong, chúng tôi từ giã. Cậu trẻ VN chặn tôi lại, nói với vẻ mỉa mai: - “Chị vẫn còn biết nói tiếng Việt.”Tôi nhìn thẳng vào mắt cậu, nói nhỏ nhẹ hơn:- “Vâng, Anh có thể nhuộm tóc vàng hay đỏ, nhưng Anh không thể đổi được màu máu của Anh đâu!” và tôi mỉm cười chào từ giã.Sau buổi hội thảo ấy, vị GS của ĐH, thường làm nghiên cứu chung với tôi, tỏ ý muốn tôi giúp anh chàng sinh viên CSVN đang làm post-doc về Hepatitis C ở ĐH của họ. Tôi từ chối thẳng vì tôi không quen cái thói gian dối của đa số CSVN và không muốn dính dáng tới CS dù là trên xứ người!Trước buổi hội thảo này, vị CEO của ĐH đã ngỏ ý muốn mời tôi đi cùng với phái đoàn của trường ĐH theo qua VN vào đầu năm sau vì tôi là người Việt sẽ dễ cho phái đoàn làm việc hơn. Sau lần seminar đó, họ đã đổi ý.CÂU CHUYỆN THỨ BA:Vào buổi trưa của một ngày Hè, vị CEO của ĐH tôi có làm chung nghiên cứu về sức khỏe với họ, gọi điện thoại nhờ tôi
Những Thoáng... Khó Quên 263giúp ông một việc: - “Xin Cô giúp thay tôi, đưa một phụ nữ từ VN qua đi ăn cơm chiều vì tôi có việc khẩn cấp phải làm ngay.”Tôi làm sao có thể từ chối đây, khi cái thòng lọng quàng vào đầu tôi là ‘Vì cô là người VN’!Lập tức, tôi gọi cho một người bạn làm việc cho Federal Government Canada, nhờ anh bạn Canadien này giúp tôi cùng đưa người phụ nữ CSVN ấy đi ăn bữa chiều vì tôi không biết nhà hàng nào ngon ở đây, nhưng ẩn ý của tôi là đề phòng CS nếu có chuyện gì xảy ra, thì có người bạn CAN này làm nhân chứng sống cho tôi. Bạn CAN nhận lời ngay và đến sở đón tôi rồi theo địa chỉ đến khách sạn đón vị khách CSVN mà ông CEO của ĐH nhờ tôi giúp.Đến nơi, qua khung kính, tôi thấy một phụ nữ VN đứng nói chuyện điện thoại ở khu tiếp tân của khách sạn. Tôi đẩy cửa bước vào, đã qua 14 phút, chị ấy vẫn nói từ cell phone #1 qua cell phone #2... Tôi mất kiên nhẫn, khều chị và chỉ vào đồng hồ tay của tôi. Chị ngừng nói, theo tôi ra xe. Tôi cho chị biết ngay vì ông CEO của ĐH có việc khẩn nên nhờ tôi đón chị đi dùng cơm chiều và xin chị cho biết muốn ăn món Tây, Tàu Nhật hay VN. Theo ý chị, bạn CAN đưa chúng tôi đến một nhà hàng Tàu, tôi mời chị chọn món. Trong khi chờ thức ăn, chị lại tiếp tục nói chuyện, từ cell #1 qua cell #2. Tôi im lặng nhìn ông bạn CAN, ông nhìn tôi mỉm cười... chờ đợi.Khi bốn đĩa thức ăn to được đem ra, chị vẫn tiếp tục nói điện thoại nên tôi phải khều nhẹ vào tay chị, nói nhỏ: - “Thức ăn nguội rồi !”Bấy giờ chị mới ngừng nói chuyện điện thoại và cầm đũa. Chị nếm món số một, lắc đầu. Món số hai, cũng lắc đầu. Món số ba, cũng lắc đầu rồi lại trả lời phone. Chúng tôi lại chờ. Qua đến món thứ tư, chị cũng lắc đầu và chê: - “Thức ăn ở đây dở quá!”
264 Đa Hiệu 127Tôi không biết phải nói gì nên chuyển đề tài.Tôi hỏi:- Chị đi qua đây tu nghiệp, ngày thứ tư, vậy khi nào chị trở về VN?Chị sốt sắng trả lời ngay:- “Không, thứ Sáu này mình sẽ bay qua Thái Lan rồi!”Tôi ngạc nhiên hỏi nhanh: - Sao vậy?Chị thản nhiên đáp:- “Ồ, tại vì ông CEO phải đi họp ở Thái Lan nên mình phải theo qua đó.”Tôi nén tiếng thở dài, hỏi tiếp:- Rồi khi nào chị trở lại Canada để tu nghiệp tiếp?Chị im lặng. Tôi cảm thấy như có một cái gì “thật khó nói ra” ở đây... Tôi mỉm cười nhìn người bạn CAN!Khi tôi còn chưa kịp hỏi tiếp chị VNCS từ Hà Nội qua thì cell phone của chị lại reo! Chị lại hai tay hai cái cell phone, liên tục trả lời, tôi thật sự mất kiên nhẫn. Chị nhìn thấy điều ấy khi tôi tiếp thức ăn cho người bạn CAN đang chỉ cầm đũa chờ. Bấy giờ chị ta bỏ cả hai cái cell phone vào ví xách tay và quay qua nhìn tôi như để chờ câu tôi muốn hỏi.Qua buổi nói chuyện vô bổ này, tôi được biết, từ 11 tháng đầu của năm ấy, chị đã đi Mỹ 10 lần, Chị bảo là dạy ở Y Khoa Hà Nội, lương tháng là 200 đô la Mỹ. Mỗi lần phải ‘đi ra nước ngoài nói chuyện’ chị phải nộp cho trường 10% lương tháng đó, là 20 US$ và mỗi bài ‘nói chuyện’ về y tế VN, chị được trả 1,000 US$ và được đài thọ vé máy bay, khách sạn...vv và vv... Tôi lắng nghe chị nói mà không biết phải nói gì trong khi ông bạn CAN kiên nhẫn ngồi nghe. Sau đó chúng tôi đưa chị VNCS này trở về khách sạn trên phố chính.Trên đường về, ông bạn CAN nhìn tôi ái ngại khi biết tôi
Những Thoáng... Khó Quên 265rất xấu hổ vì câu chuyện chị VNCS kia kể về ‘thành tích’ đi ra nước ngoài của chị. Bạn CAN nhìn tôi và nói nhỏ: - “Bây giờ thì tôi hiểu tại sao cô ghét CSVN rồi!”Tôi im lặng... và lí nhí nói lời cám ơn Bạn đã giúp tôi tối hôm nay.Qua đến hôm sau, vào giờ cà phê, tôi kể lại chuyện ấy cho một đồng nghiệp nghe. Anh là một bác sĩ từ Trung Quốc, qua Canada học, có PhD về Epidemiology và ở lại làm việc.Nghe tôi nói xong, anh ấy vừa cười tủm tỉm vừa lắc đầu rồi từ từ buông nhỏ:- “Cô cần biết thêm về con người thật của CS... Còn người phụ nữ VNCS kia, vừa đến Canada rồi đi theo qua Thái Lan để làm gì... thì... thời gian sẽ cho cô câu trả lời...“Có lẽ, đọc đến đây, người đọc phải lắc đầu và nghĩ tôi là một phụ nữ VN nhỏ nhen, quá khắt khe và có định kiến về CSVN. Đúng không? Tôi không phủ nhận điều này. Nhưng, với tôi, hai lần bỏ nước ra đi. Làn thứ nhất di cư từ Bắc vào Nam sau Hiệp Định Geneve 1954. Dù lúc đó tôi còn rất nhỏ nhưng tôi vẫn nhớ như in trong đầu hình ảnh bố tôi. 1:30 sáng dẫn hai chị em tôi trốn từ Hà Nội đi Hải Phòng, chờ Mẹ tôi đem gia đình còn lại tới sau rồi lên tàu há mồm để di cư vào Nam!Rồi sau 20 năm ở Miền Nam, khi CS tràn vào Sài Gòn, gia đình tôi vẫn ở lại nhưng bốn năm sau tôi đi vượt biên ở tuổi 30. Con tàu mang chúng tôi đi bị hải tặc Thái tấn công 6-7 lần. Tôi bị bắt qua tàu cướp nhưng rất may không bị hại. Hải tặc trả tôi về lại con tàu chết máy của chúng tôi.Cuối cùng được Tàu Đức cứu nên tôi đã học được rất nhiều bài học trong đời từ ở quê nhà qua đến quê người ở hải ngoại về CSVN. Do đó, tôi luôn luôn đề phòng và áp dụng triệt để câu thành ngữ của các Cụ ngày xưa đã dạy:- “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.“
266 Đa Hiệu 127Thú thật, tôi không khỏi ngậm ngùi và thấy xấu hổ thay cho những người CSVN từ quê nhà qua đây. Rõ ràng là họ đã không chịu tìm hiểu kỹ càng và học hỏi trước khi đi để phải biết là “Người ngoại quốc rất ghét người ta nói sai sự thật có chủ đích.”Ôi Việt Nam, quê hương tôi rồi sẽ đi về đâu với đám người CS nói dối không chớp mắt này?Tôi những tưởng, dù chính thể có đổi khác, nhưng đã là con người thì dù gì cũng không nên để mất đi bản ngã ngay thẳng được. Cha mẹ và thầy cô ở trường học dạy dỗ từ thuở nhỏ. Nhưng sau khi được tiếp xúc với những thành phần trí thức, dù chỉ là vài người có trách nhiệm “Mang chuông đi đánh xứ người”, tôi thật sự thất vọng và có phần nào xấu hổ lây khi họ đã để lại những hình ảnh xấu xa trong lòng những người bản xứ có dịp tiếp xúc với họ ở đây.Thật khổ tâm khi tôi chỉ gặp được vài người, đại diện cho tầng lớp trí thức cao chót vót cùng chủng tộc với mình bên ngoài nước CHXHCNVN nhưng lại là như vậy đó!!!Canada – 8/11/2023.
Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên. 267Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên.Võ Nhẫn, K20.Hôm nay, tuổi đời của “Người Trai” Võ Bị đã ngoài 80, nhưng tôi chẳng bao giờ quên được những kỷ niệm của đầu đời binh nghiệp. Ngày 5 tháng 12 năm 1963, những khóa sinh tình nguyện gia nhập Khóa 20 TVBQGVN trình diện ở Đà Nẵng lên chuyến tàu lửa Đà Nẵng – Đà Lạt, với một đơn vị quân đội bảo vệ an ninh tháp tùng. Đến sáng ngày 7 tháng 12, chúng tôi đã đến ga Đà Lạt, với thời tiết mát lạnh vừa chớm Đông của núi đồi. Trong không khí mát mẻ, cũng như được các SVSQ/ Khóa 19 đàn anh đón tiếp ân cần và lịch thiệp, chúng tôi vô cùng cảm kích và thẩm nghĩ là mình may mắn. Họ thân mật, vui vẻ hỏi:- Đi đường xa, các anh có mệt không?- Dạ. Không mệt lắm.Chúng tôi cũng đã nhanh chóng trả lời lại một cách thân tình và vui vẻ, khi lên các quân xa để đến trường làm thủ tục nhập học. Tuy nhiên, đoàn xe không trở về Trường ngay mà chạy vòng về thành phố Đà Lạt để chúng tôi có cơ hội nhìn ngắm Hồ Xuân Hương, chợ Đà Lạt, khu phố Hòa Bình, và quán cà phê Tùng… của thành phố sương mù. Sau đó, đoàn quân xa đã trở lại ga Đà Lạt, hồ Than Thở rồi dừng lại trước
268 Đa Hiệu 127cổng Trường. Trước mắt chúng tôi, hiện ra những dãy nhà đồ sộ, chiếm ngự một vùng rộng lớn mênh mông đang còn thơm mùi đất mới: Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. (Trường Võ Bị tại địa điểm 1515 vừa xây dựng xong được vài năm.) Lại có cả một ban quân nhạc đang cử những bản nhạc quân hành hào hùng, làm nức lòng người, chào đón các ứng viên.Không còn niềm hân hoan, lẫn tự hào nào mà chúng tôi có được vào lúc đó. Hóa ra vào học tại Trường Võ Bị không đến nỗi khắt khe như tin đồn.Mà lời đồn nào chả quá đáng. Những cảm nghĩ của chúng tôi đã sai lầm ngay từ lúc bước qua Cổng Nam Quan, nơi khóa đàn anh đang đợi. Không ngờ có quá nhiều thử thách đầy khắc nghiệt, mà chúng tôi phải vượt qua. Đường đi tới không dễ dàng như chúng tôi tưởng tượng.Trong tiếng nhạc quân hành, khi vừa bước qua cổng trường, là những tiếng hò hét, quát mắng của những SVSQ đàn anh. Họ mặc đồng phục kaki vàng, giầy nhà binh, và mũ nhựa bóng lộn với đôi mắt sắc sảo nghiêm nghị ẩn sau, đang chờ chúng tôi. Những SVSQ với thái độ lịch thiệp, ân cần giờ ở đâu? Chúng tôi chỉ còn thấy những SVSQ khác với nét mặt nghiêm khắc, lạnh lùng đang trấn áp chúng tôi vô cùng dữ dội. (Về sau Lễ Kỷ Niệm 56 Năm Khóa 20 Tốt Nghiệp TVBQGVN.
Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên. 269chúng tôi mới biết họ là các Cán Bộ Tân Khóa Sinh có nhiệm vụ huấn luyện chúng tôi qua tám tuần huấn nhục.) Giờ đây, chúng tôi đã trở thành những Tân Khóa Sinh Khóa 20, phải thi hành lệnh một cách nghiêm chỉnh. (Qua cổng trường, chúng tôi mới biết mình là các Tân Khóa Sinh Khóa 20.)Ngay từ phút đầu tiên, một tiếng hét mạnh mẽ vang lên:- Anh kia, chạy theo tôi!Âm vang mạnh mẽ và đầy quyền lực đã làm tôi mất ý chí, bị tê liệt, chỉ còn biết thụ động tuân theo.* * *Từ giờ phút này, chúng tôi đã bị ‘hành xác” liên tục. Chúng tôi phải nhảy xuống giao thông hào đầy bùn, hít đất, nhảy xổm… đủ các món “ăn chơi để hân hoan chào, đón” tân khóa sinh.Ngày qua ngày, không có ngày nghỉ, không có thời gian sáng tối trong ngày, chúng tôi đã trải qua thời kỳ khắc nghiệt nhất trong đời, mà chúng tôi không bao giờ có thể tưởng. Những buổi học quân sự, kèm theo các hình phạt cá nhân và tập thể xảy ra liên tục ở mọi nơi, không lý do và không bàn cãi, và không kịp suy nghĩ đúng sai. Tất cả là tuân lệnh, và tuân lệnh, không cần biết là có lý hay không.Hôm nay, chúng tôi xin chia xẻ cùng quý độc giả vài kỷ niệm đặc biệt đáng nhớ trong thời gian Tân Khóa Sinh của khóa 20.1. Người Yêu của Tân Khóa Sinh: Trong giờ tùy quyền, Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh tập họp ở sân cỏ Trung Đoàn, SVSQ/Cán Bộ/Tiểu Đoàn Trưởng cầm một bao thư rồi hỏi:- Đại Đội F, có Tân Khóa Sinh nào tên Nguyễn Văn X…. không? Lên trình diện.- Có. Tân Khóa Sinh Nguyễn Văn X… trình diện SVSQ/CB Tiểu Đoàn Trưởng.- Anh có người yêu tên Lê Thị P.L. học Đại Học Khoa Học
270 Đa Hiệu 127Sài Gòn phải không?- Phải.- Đây là thư của người yêu, anh mở ra và đọc lớn lên cho các bạn của anh cùng nghe, được không?Được. Tân Khóa Sinh X… đọc:- Anh thương nhớ,Xa anh, em thương nhớ vô cùng… Mong được gặp Anh. Hôn anh 100 lần.- Nữ sinh viên Khoa Học mà viết văn hay quá! Hôm nay, anh đang có “người yêu” luôn ở bên cạnh, anh có biết không?- Tôi biết. Đó là cây súng. Tân Khóa Sinh X… nhanh nhẹn đáp.- Như vậy, anh hãy ôm người yêu vào lòng và khi hôn người yêu 100 cái. Anh phải nói thật lớn, “Anh yêu em suốt đời”.1. Anh yêu em suốt đời. 2. Anh yêu em suốt đời …. 100. Anh yêu em suốt đời.2. Kẹo ngọt, hộp sữa: Một trong ba mục đích của tám tuần sơ khởi là rèn luyện cơ thể để một sinh viên dân chính thành một người lính hiện dịch khỏe mạnh… Do đó, cơ thể của họ rất cần đường vì phải hoạt động vô cùng vất vả. Sau những giờ sinh hoạt, rèn luyện vất vả khi lên giường ngủ, thỉnh thoảng, các Tân Khóa Sinh phát giác ra những chiếc kẹo, những hộp sữa đặc có đường… ở dưới chăn, gối…. Chủ nhân của món quà này đều ẩn danh (những người quen thân thuộc các khóa đàn anh), nên các Tân Khóa Sinh chỉ biết hân hoan, lặng lẽ nhận rồi chia món quà cho các bạn cùng phòng... Những món quà tuy nhỏ nhưng là những hành động đầy ưu ái, cảm thông những gian lao, vất vả… vô biên đối với Tân Khóa Sinh.3. Hung thần hay Tình Tự Võ Bị: Khi vừa đến cổng trường và sau 30 phút giải lao, chúng tôi xếp thành tám hàng dọc. Một SVSQ khóa đàn anh to, cao đứng trên bục tự giới thiệu:- Tôi là SVSQ Phạm Hiệp Sĩ K19, cán bộ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh…
Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên. 271Ông đã phát biểu dõng dạc, nghiêm nghị, nhưng nhẹ nhàng, kín đáo hãy cố gắng vượt qua những thử thách vất vả trong những ngày sắp đến. Thật thế, sau đó, cứ mỗi lần SVSQ Phạm Hiệp Sĩ K19 xuất hiện thì cã Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh được “hưởng” chạy bộ hàng chục vòng quanh sân cỏ Liên Đoàn, hàng chục cuộc tấn công từ Đường Vòng Alpha lên sân cỏ Liên Đoàn, còn nhảy xổm, hít đất thì không đếm được…Rồi tám tuần cũng qua mau! Lần dạo phố đầu tiên, chúng tôi bị du đãng hăm dọa! SVSQ Phạm Hiệp Sĩ K19 ra tay Hiệp Sĩ bảo vệ đàn em! Thế là, Ông đã ra trường sớm với cấp trung sĩ. Một đàn anh đáng quý gặp nạn cũng chỉ vì bảo vệ đàn em. Rồi hai năm sau mãn khóa, khi về học Khóa Rừng Núi Sình Lầy ở Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ thì những Tân Thiếu Úy Khóa 20 bồi hồi, xúc động gặp NT Phạm Hiệp Sĩ mang cấp trung sĩ. Các Tân Thiếu Úy bèn đứng nghiêm, kính cẩn chào NT Trung Sĩ Phạm Hiệp Sĩ K19, trước thái độ ngỡ ngàng, mến phục của những quân nhân hiện diện.Máu Võ Bị đang luân lưu trong con tim, khối óc của chúng tôi!Chúng tôi cũng không quên NT Tô Văn Cấp K19, SVSQ Cán Bộ Tân Khóa Sinh Đại Đội H. Cứ mỗi khi ông lên phiên trực thì tệ lắm, chúng tôi được “thưởng thức” hàng chục vòng sân cỏ Liên Đoàn. Còn hít đất, nhảy xổm, bò… thì không tài nào đếm hết!Nhưng khi ở đơn vị chiến đấu thì: Một buổi chiều Chính đến dúi cho tôi gói Ruby Queen rồi thì thầm: - Ông anh đừng buồn, hai ông “xếp” muốn thử sức chịu đựng của ông anh đó. Bị Chính làm “nội tuyến”, hai xếp Phúc-Hợp không gài độ được tôi bèn quay ra an ủi, từ đó chúng tôi sống thân với nhau hơn anh em ruột thịt. Sau này Chính làm đại đội phó ĐĐ.1 cho tôi rồi đến một ngày …!!!! Ngày 31 tháng 12 năm 1967, bên bờ kinh Cái Thia, Quận
272 Đa Hiệu 127Cai Lậy, khoảng 10 giờ sáng Nguyễn Quốc Chính đã ngã gục thay cho đàn em và đồng đội! Nguyễn Quốc Chính đã hy sinh vì Tổ Quốc như bao chiến sĩ đã gục ngã nơi chiến trường, nhưng Tổ Quốc thì trừu tượng và xa vời quá, cái gần nhất mà có thể nhiều SVSQ/ VB cũng đã có lần chứng kiến, đó là vì tình huynh đệ.Chiều hôm trước, sau khi đóng quân xong, tôi và Chính nằm võng song song bên bờ kinh, đu đưa hút thuốc Ruby Queen, uống café, nhưng tôi thấy Chính không vui như mọi khi, có lẽ mới hỏi vợ nên khi họp hành quân đổ bộ trực thăng vào sáng hôm sau, tôi bảo Chính không cần kèm và nhẩy đầu với trung đội của Thiếu Úy Huỳnh Vinh Quang K22 nữa mà đi với trung đội súng nặng để điều động hỏa lực vì tiểu đoàn tăng cường thêm “gà cồ”. Quang K22 mới ra trường nên đàn anh Chính kèm cặp hơi kỹ. Chính không nói gì thêm lúc tôi sắp xếp đội hình, nhưng ngày hôm sau Chính vẫn “cãi lệnh” để đi kèm khóa đàn em. Khi những trực thăng chuyến đầu vừa đổ trung đội của Quang xuống ruộng lúa nước là đụng liền, địch từ trong bờ kinh bắn ra, tiếng Chính gọi báo cáo trong máy. Khi tôi vừa nhảy ra khỏi trực thăng thì không còn tiếng Chính nữa mà tiếng của Quang hốt hoảng báo cáo Chính bị thương! Tôi bủn rủn chân tay, tôi không còn nghe được Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn nói gì. Tôi chỉ lo điều động bắt Quang bằng mọi cách phải đưa Chính ra phía sau ngay để tải thương., nhưng Quang nấc lên, nghẹn lời ấp úng báo: - Anh Chính đi rồi!Đã hơn 40 năm rồi tôi không quên từng chi tiết, nay nhắc lại mà vẫn buồn ứa nước mắt. Cả ba người Phúc-Hợp-Chính giả vờ lạnh nhạt với tôi lúc ban đầu rồi “ôm tôi vào lòng” thì nay cả ba đã ra người thiên cổ! Nhưng mãi mãi anh Nguyễn Xuân Phúc, Trần Văn Hợp, và Nguyễn Quốc Chính là những anh hùng của tôi và cấp chỉ huy lý tưởng của Binh Chủng
Những Kỷ Niệm Không Bao Giờ Quên. 273TQLC, của Quân Đội.(Trích, Vui Buồn Với… K20, Tô Văn Cấp).Cao quý thay Tình Tự Võ Bị!Quen biết. Trong giờ giải lao, một tân khóa sinh thổ lộ với các bạn của mình anh ta quen với SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng. Thế rồi, trong giờ tùy quyền của đơn vị, SVSQ Cán Bộ Tiểu Đoàn Trưởng liền gọi tân khóa sinh kia lên trình diện và hỏi:- Anh có quen ai trong trường này không?- Có. Tân khóa sinh nhanh nhẹn đáp.- Anh chạy quanh sân cỏ Liên Đoàn năm vòng, rồi trở lại trình diện tôi. SVSQ/Cán Bộ ra lệnh.Sau khi chạy đủ năm vòng sân, tân khóa sinh trở lại trình diện, SVSQ/Cán Bộ hỏi:- Anh có quen ai trong quân trường này không?- Không. Tân khóa sinh dõng dạc đáp.Ngủ rồi. Các SVSQ Cán Bộ luôn theo sát mọi sinh hoạt của các tân khóa sinh. Khi kèn báo giờ ngủ, các SVSQ Cán Bộ vào từng phòng để kiểm soát các tân khóa sinh phải ngủ để thức dậy đúng giờ. SVSQ Cán Bộ còn phải đóng chặt các cửa sổ, đắp lại chăn mền cho các tân khóa sinh. Đôi khi, vào phòng họ còn hỏi:- Các anh ngủ hết chưa?- Dạ! Ngủ hết rồi!- Ngủ rồi, sao còn nói. 20 nhảy xổm. SVSQ Cán Bộ nói.Những tiếng cười khúc khích lại vang lên. SVSQ Cán Bộ nói tiếp:- Ngủ mà cũng biết cười. Hay nhỉ!!! Thế rồi, SVSQ Cán Bộ đóng cửa thật nhẹ nhàng, bước ra khỏi phòng nhưng cũng không quên nhắc nhở:- Ngủ đi. Tôi sẽ trở lại…Thế rồi thời gian nhọc nhất cũng qua. Tám tuần huấn luyện
274 Đa Hiệu 127như một Tân Khóa Sinh rồi cũng hết. Giờ đây chúng tôi đã là các SVSQ của Khóa 20 VB.Từ đó, chúng tôi mới kịp hồi tưởng, mới nhận thấy thời kỳ Tân Kóa Sinh rất cần thiết.Trước đó, những tân khóa sinh thường xem những SVSQ Cán Bộ là những hung thần, những người ít tình cảm. Họ nghĩ rằng vào đây học để làm sĩ quan, không phải để bị đày đọa.Sau này khi lên SVSQ và ra đơn vị, và cả trong ngục tù Cộng Sản, họ mới thấy kết quả huấn trong tám tuần sơ khởi là vô cùng cần thết và có hiệu quả.Họ đã có những bài học vỡ lòng của đầu đời binh nghiệp để biết thế nào là kỷ luật quân đội, có ý chí cần thiết để đối phó với những mặt trận khốc liệt sau này. Thời kỳ Tân Khóa Sinh giúp họ trau dồi, tôi luyện đức – trí - dũng cho những chàng trai chọn nghiệp đao binh để phục vụ quê hương. Những kỷ niệm này cũng là sợi dây nối chặt họ lại với nhau trước làn tên, mũi đạn cũng như lúc sa cơ thất thế trong các ngục tù của Cộng Sản. Đó cũng là khởi điểm tạo nên truyền thống hào hùng của Trường MẹHãy lưu giữ những kỷ niệm đầu đời binh nghiệp để làm hành trang cho cuộc sống của mỗi một SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.Mong lắm thay!
Thơ Vùng Dĩ Vãng 275VÙNG DĨ VÃNGBà Nguyễn Trọng Mạc, K15/1Ánh bình minh khuất đỉnh đồi,Anh đã đi xa thành phố,Bỏ lại con đường phủ lá phượng rơi,Bỏ lại sau lưng những tiếng thở dài,Theo bước chân anh đi vào quân sử,Khi súng đạn thù giày xéo quê hương,Thế rồi từ độ ấy,Xếp bút nghiên nổi nghiệp tiền nhân,Võ Bị quân trường đưa anh vào chiến trận,Alpha Đỏ vẫn còn nguyên nếp gấp,Dak-To kia đã tung hoành ngang dọc,Vùng tuyến đầu mai châu cùng lửa đạn,Giặc cộng nô luôn ngày đêm mai phục,Mộng xâm lăng chúng giày xéo quê hương,Danh dự trên vai nặng tình tổ quốc,Yên sao đành khi đất nước lầm than,Quên tình nhà, trách nhiệm vương mang,Biết đâu rằng:“Nam nhi chinh chiến kỷ nhân hồi“Nơi khuê phòng trăng khuyết mỏi mòn soi,
276 Đa Hiệu 127“Vầng trăng kia ai đã xẻ làm đôi,Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường,”Khu Bưu Chính bạn thân thương của lính,Sao không gian chẳng kết hợp thời gian,Để gió mây như muôn kiếp ngỡ ngàng,Thư chưa đến hay sẽ hoài mong đợi,Vắng hồi âm là hoang mang diệu vợi,Dẫu tình chàng ý thiếp chẳng trái ngang,Nhưng chinh chiến nên vẫn hoài xa vắng,Yêu Võ Bị quen đèn khuya một bóng,Quen lo âu quen khấn nguyện Ơn Trời,Cho quê hương thanh bình khắp nơi nơi,Xin trăng sáng thay hỏa châu đêm lạnh,Xin có ngày được đoàn viên hạnh phúc,Xin trở lại với con đường thơ mộng,Thác Cam Ly, đồi Ái Ân nồng ấm,Hồ Xuân Hương soi bóng đượm tình nồng,Tình yêu mình xin mãi mãi thủy chung,Xin thời gian quay lại vùng kỷ niệm:NT Nguyễn Trọng Mạc, K15 (đã mất cách đây ban năm) và phu nhân, tại Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh - Người Thương Binh VNCH, ngày
Thơ Vùng Dĩ Vãng 277Thả hồn theo mây bay,Chiều Đalat vào Thu,Đồi thông reo vi vu,Sóng Xuân Hương lững lờ,Mây vương bao ước mơ,Say đắm tình muôn hoa,Phím gui-tar trầm bổng,Anh khẽ hát thì thầm,Nồng ấm tràn yêu thương:“Một chiều ái ân say hồn ta bao lần,…ngạt ngào sắc hương, vai kề vai luyến thương,…một chiều vui sống quên phút tang bồng,…em ơi nhớ chăng xa em anh hát khúc ca nhớ mong…”Võ Bị là thế, khi yêu tình lai láng,Võ Bị ga-lăng, Võ Bị lãng mạn,Võ Bị hiên ngang, Võ Bị oai phong,Yêu Võ Bị rồi chỉ biết nhớ nhung,Yêu cả giày sô yêu màu áo trận,Gửi hồn vào mũ sắt với pon-cho,“Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ“,Thầm ước sẽ cùng mây bay theo gió,Đến bên anh thì thầm tinh muôn thuở!Biết đâu rằng đời rồi sẽ ly tan,Rồi cuộc đời dâu bể vạn gian nan,Sầu lẻ bóng trên xứ người lưu lạc,Đoạn kiếp này dù mình không chung bước,Nguyện kiếp sau xin mãi mãi song hành,Về thăm lại ngôi trường xưa: Võ Bị,Vang bóng một thời khí phách hiên ngang,Nơi Trường Mẹ rèn văn võ song toàn,Danh dự, trách nhiệm, hai vai tổ quốc.Tiếc thật nhiều, người đi vào chung cuộc,Trọn đường trần trên đất khách ly hương,Bỏ lại sau lưng ước nguyện chưa tròn,
278 Đa Hiệu 127Bỏ lại khung trời Đalat yêu thương.Những kỷ niệm trên đồi thông vắng lạnh,Cổng Nam Quan chưa một lần trở lại,Khi cộng nô còn hiện diện nơi đây,Đồi 1515 vẫn trông đợi từng ngày,Vũ Đình Trường hoài khắc khoải chờ mong,Lễ mãn khoá của đàn con Võ Bị,Đâu kiếm cung đâu tang bồng hồ thỉ,Bốn phương trời không lẽ dễ ly tan?Đêm truy điệu lời thề vẫn còn vang, “Chí còn mong tiến bước?Sức không kham nổi đoạn đường?Hỡi Hồn thiêng sông núi!Xin các anh linh đưa đường chỉ lối,“Đem đoàn con Võ Bị về một cội,Cội nguồn Truyền Thống Võ Bị kiên trung,Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu quyết một lòng,Tiến bước noi gương dòng giống Lạc Hồng,Đem dân chủ nhân quyền về Đất Việt,Thế hệ tương lai Rồng Tiên bất khuất,Dưới bóng Cờ Vàng, Tự Do muôn năm!Cali tháng 11, 2023,Ghi Chú:Những chữ trong “…“ (ngoặc kép) là trích đoạn, chấp bút của nhiều xuất xứ, nhưng không rõ tên. Xin quý tác giả niệm tình lượng thứ. Xin đa tạ.
Đi Theo Xác Chồng 279Đi Theo Xác Chồng! Đồi Bắc, K19Ngày mai đi nhận xác chồngSay đi để thấy mình không là mình.….Mùi hương cứ tưởng hơi chồngNghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.* * *Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng” thì người đần ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo ĐQAT về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:* * *- “Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ
280 Đa Hiệu 127bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”* * *Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là dau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:Khi đất nước tôi không còn chiến tranh.Mẹ già lên núi tìm xương con mình!Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXP v.v… đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến
Đi Theo Xác Chồng 281chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết để thắp nén nhang.Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:- Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.(* Từ Mỹ và Úc, Hạnh Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!)“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con mình là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyên vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp: “Con không thể chết 2 lần”, thế là Tuấn xin ra tác chiến.Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B TĐ4 của ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!
282 Đa Hiệu 127Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, nắm đất con đã nằm trong quan tài mẹ!Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “Biết tìm con nơi đâu!”Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng Đại Đội Tiểu Đoàn 4 cùng đỗng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.Huyền Nga- em gái Dũng viết:“Thằng Hèn” Tô Hải trong đoàn quân của phía bên kia, đã chứng kiến và khóc lặng trước cái chết của một tiểu đoàn, của một đoàn xe, hàng trăm thây người, xác người lính Quốc Gia, xác lính bộ đội nằm lẩn lộn, chất cao như ngọn đồi, mà chẳng bên nào kịp chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát. Chiến tranh thật là tàn nhẫn!Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “Mẹ già lên núi tìm xương con minh” nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ giả khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v... nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.Hoài Thanh-đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:Hồn GọiĐây nắm xương tàn, đây nắm xươngNằm trơ vất vưởng ở ven rừngQua bao niên tuế, vùi chôn mãi
Đi Theo Xác Chồng 283U uất vong linh chốn tục trầnBao nắm xương tàn, bao nắm xươngHồn hoang đêm xuống khóc thảm thương!Mẹ ở phương trời xa có thấu?Hồn con thổn thức, bấy thu trường!Sao mẹ không lên núi tìm con?Máu xương con hòa đất tha hươngNhưng hồn con mãi mong về mẹSao mẹ không về núi tìm con?Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.Mẹ Ru HồnMẹ đã bao lần lên núi nonTìm con mù mịt, sức hao mòn,Đôi chân rời rã, lòng tơi tả,Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?Mẹ ở chân trời, xa núi non,Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn!Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ!Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồngDù trời giông bão nắng mưa changLời đau mẹ vẫn ru hồn ngủQua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.* * *Nỗi đau đi nhận xác chồng!Niềm sầu thương nhớ đi tìm xác chồng.Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.“Đi” Theo Xác Chồng.
284 Đa Hiệu 127Tôi đã đọc nhiều lần bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết. Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi tôi có biết gì về chuyện này không, các em mong ước được nghe rõ đầu đuôi.Lời yêu cẩu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ, ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách kiên lạc với ông.Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5/TQLC, đặc lệnh truyện tin của ông là Quang Dũng. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng của ông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.Hiện nay (3/2023) Quang Dũng đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cell-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25* * *- Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?- Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi.Giọng một ông đã 87 mà nghe sang-sảng như lão Ngoan Đồng?- Anh khoẻ không?- Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội-con Quang Dũng nên hơi mệt.- Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một
Đi Theo Xác Chồng 285điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba.- Th/Tá Trần Ba tốt nhiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi?- Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhưng nhiều TQLC chưa biết về Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:- “Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tuỳ lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết”.Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt-xịt. Quang Dũng tiếp tục:- “Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cái Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh:
286 Đa Hiệu 127“Em có bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”. Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…- “Alo! Alo! Quang Dũng, stop, stop cho Cần Thơ hỏi.”- “Hỏi đi!”- “Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cái Lơn, Biên Hoà?”- “Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Sài Gòn ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới đi”.Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:- “Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:- “Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu…”Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay: - “Bạn cứ nói đại đi.”Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:- “Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì
Đi Theo Xác Chồng 287em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.”Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:- “Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hã Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:- “Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo.”Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:- Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…- Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyên hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm
288 Đa Hiệu 127sao tao dám phịa chuyện?* Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:- Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.- “Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ 369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.”Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao đề Trần Ba ở lại làm trừ bị.Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:- Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:- Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận năm ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì
Đi Theo Xác Chồng 289dừng quân lại ngay, không cần ngang hàng với tao.Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cái Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:- “Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?”Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:- Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!* * *Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng: - “Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:- “Ư đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại”.Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày
290 Đa Hiệu 1278/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.- A-lô, Cần Thơ gọi Quang Dũng!- Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.- Anh kể vắn tắt cho nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.- Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trấn Ba mất tích, tao nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.Linh tính cho tao biết có chuyện…, tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông
Đi Theo Xác Chồng 291bèn quỳ gối vái lạy:- “Lạy Đại Bàng Trần Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm dược…”.Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi”.Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRẦN BA và bộ xươngTrần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Saigon, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.Hoạ Vô Đơn ChíHậu cứ TĐ 5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết.Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.
292 Đa Hiệu 127Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Saigon, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:- Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?Im lặng…Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong long.Tôi hỏi câu chót:- Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?- Hiện nay tao còn liên lạc được với một trong bốn cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, ba cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.CA 29/11/2023
Thơ Tuổi Già 293Tuổi GiàNhảy Dù Đặng HùngTuổi già đã đến đâu rồi nhỉ?bẩy mươi nay đã sát chân rồiThêm một ngày tuổi đời chồng chất mãiNào ai dám nghĩ đến ngày maiBia vài chai đã mơ màng đôi mắtthịt bò đưa cay sao lại dai đến thế?Móm mém nhai vì răng chính không cònChân gà xưa là món khoái khẩu ănThế mà nay có dám mạnh miệng đâuSợ làm gẫy những chiếc răng sót lạiMà tốn công đến nha sĩ mãi thôi.....thế nhưng... lại còn nhiều thứ nữaNăm sáu thuốc chia giờ uống cho xongLời bác sĩ phải nằm lòng ghi nhớKhám định kỳ ngó lịch, kẻo lại quênBởi trái tim khi nhanh chậm thất thườngNó ngừng hẳn thì xong đời một kiếp“quẳng gánh lo đi” đừng suy nghĩ nữaNó mà giở quẻ thì nguy to và khổKhổ riêng mình và khổ cả người thân
294 Đa Hiệu 127Thế mới hay một đời người đâu dễVui cứ vui xin đừng nghĩ suy gìGặp lại bạn cứ tình thân mà tiếpVì ai còn biết được có ngày mai...?Những SVSQ Lục Quân theo học Khóa 214 Nhảy Dù, từ 22 tháng 02 đến 12 tháng 3 năm 1971, tại Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù Hoàng Hoa Thám, Sài Gòn.
50 Năm Mất Hoàng Sa 29550 NĂM MẤT HOÀNG SAMỘT ĐỜI THƯƠNG TIẾCNguyễn Đức Thu, Khóa 16Trận chiến kinh hoàng Điện Biên Phủ giữa Quân Đội Pháp và Việt Minh trong suốt hai tháng đã chấm dứt ngày 7 tháng 4 năm 1954.Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp Ước Genève được ký kết. Theo đó, Việt Nam bị chia làm hai, ranh giới là vĩ tuyến 17, thường được gọi là sông Bến Hải. Bắc Vĩ Tuyến 17 thuộc Miền Bắc, Nam Vĩ Tuyến 17 thuộc Miền Nam. Một khu phi quân sự, rộng khoảng 5 cây số dài theo hai bờ sông Bến Hải, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14 tháng 8 năm 1954.Hiệp Định Genève công nhận độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.Vào ngày 20 tháng 8 năm 1955 bằng một nghị định chính thức, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Hải Quân Thiếu Tá Lê Quang Mỹ (Khóa 2 Trường Võ Bị & Khóa 1 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang ) vào chức vụ Phụ Tá Hải Quân cạnh Tổng Tham Mưu Trưởng QĐQGVN (thay Tướng Đôn) để chỉ huy Hải Quân và Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.Đầu tháng 4 năm 1956, khi Hải Quân VNCH ra bàn giao
296 Đa Hiệu 127quần đảo Hoàng Sa thì phát giác một vài đảo phía Đông, trong đó lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody), đã bị quân lính Trung Quốc bí mật chiếm đóng. Chính quyền VNCH trên thực tế chỉ kiểm soát được các đảo phía Tây. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, VNCH vẫn tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các đảo mà Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng bất hợp pháp về phía Đông quần đảo Hoàng Sa. Lúc này, trên đảo đã có nhà cửa, căn cứ quân sự, đài khí tượng, hải đăng trong hệ thống quốc tế, miếu Bà, và bia chủ quyền của Việt Nam. Cùng thời gian này, quân lính Đài Loan đã chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu Aba) trong quần đảo.Cũng cùng trong thời gian , Hải Quân Thiếu Tá Lê Quang Mỹ được Tổng Thống Ngô Đình Diệm thăng cấp Hải Quân Trung Tá để lãnh nhiệm chức vụ Tư Lệnh đầu tiên của Quân Chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.Trong khi hai Chính Phủ Việt Nam và Pháp đang đối đầu về chính trị, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ý thức ngay trách vụ bảo vệ các hải đảo ngoài khơi Biển Đông. Với tư cách Tư lệnh Hải quân của một Quốc Gia độc lập, Hải Quân Trung tá Lê Quang Mỹ thừa lệnh TT Ngô Đình Diệm ký lệnh bổ nhiệm các Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam nắm lấy hết quyền chỉ huy của sĩ quan Pháp trên chiến hạm, cũng như tại tất cả đơn vị khác, kể cả Thủy Quân Lục Chiến.Giữa năm 1956, sau khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền miền Nam Việt Nam (sau này là Việt Nam Cộng Hòa ) dưới quyền Tổng Tư Lệnh của Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm, một lần nữa khẳng định pháp lý và chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về chính quyền VNCH. Ông đã truyền lệnh gởi thêm một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến và các chuyên viên khí tượng ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để trấn thủ, xây dựng lại các cột mốc, để chứng tỏ cho thế giới, một lần nữa chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam, và do Nước Việt Nam Cộng Hòa làm chủ.
50 Năm Mất Hoàng Sa 297Ngay khi có quyền điều động chiến hạm, Tư Lệnh Lê Quang Mỹ đã chỉ thị Hộ Tống Hạm Tụy Động HQ 04, trên đường hồi hương (sau chuyến sửa chữa đại kỳ ở Subic Bay về), tuần tiễu quần đảo Trường Sa để chứng minh chủ quyền lãnh hải của VNCH. Một số hải đảo quan trọng khác trên Biển Đông cũng đã được thủy thủ đoàn Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cắm bia để xác nhận chủ quyền.Mặt khác, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đồng thời vừa trợ giúp phát triển kế hoạch kinh tế, vừa cung cấp phương tiện chuyển vận khai thác phân chim trên quần đảo. Một kế hoạch tương tự cũng đã được dự trù cho quần đảo Trường Sa.Để tuần dương hữu hiệu, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã trang bị ba Hộ Tống Hạm, Chiến Hạm Chi Lăng HQ 01, Vạn Kiếp HQ 02, Đống Đa HQ 03. Không lâu sau đó, Hải Quân Pháp cũng đã bàn giao thêm hai chiếc hạm, Chiến Hạm Tụy Động HQ 04 và Tây Kết HQ 05.Những ngày đầu của hải lực đã thực sự xảy ra nhiều biến cố dồn dập, nhận lãnh tàu bè vội vàng trong khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa còn thiếu kinh nghiệm, không đủ nhân lực và dụng cụ, lại thiếu thốn yểm trợ, sửa chữa. Các thủy thủ đoàn thì chưa quen đơn vị, đã phải hoạt động hành quân, thăm viếng, thao diễn, tác chiến liên tục...Tuy vậy, khi nghe tin có một vài chiến hạm của Hải Quân Trung Cộng đang lảng vảng ở vùng biển Hoàng Sa, Tư Lệnh Hải Quân đã đích thân chỉ huy một hải đội gồm các hộ tống hạm và vài loại chiến hạm khác nhau ra quần đảo Hoàng Sa để biểu dương lực lượng. Đó cũng là dịp để các thủ thủ đoàn Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thám sát quần đảo này lần đầu tiên.Để đánh dấu những diễn biến trưởng thành quan trọng của Quân Chủng Hải Quân, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng đã tổ chức một cuộc diễn hành trên sông Sài Gòn để trong ngày Quốc Khánh 26/10/1956. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chủ tọa buổi lễ. Hải-Quân Hoa Kỳ (HQHK) cũng đã gởi
298 Đa Hiệu 127Tuần Dương Hạm USS Los Angeles (CA-135), có gắn hoả tiễn Talos đến thăm viếng thiện chí và tham dự Ngày Quốc Khánh đầu tiên của VNCH.Hơn hai năm sau, sáng ngày 21-2-1959, Hải Quân VNCH phát hiện nhiều ngư dân Trung Cộng tập hợp lên một số đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Tất cả đều bị bắt giữ sau đó và được hoàn trả lại cho Trung Quốc. Đây như là một tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang có kế hoạch lần chiếm Hoàng Sa.Trong kế hoạch hiện đại hóa Quân Lực VNCH, tháng 7 năm 1959, Tổng Thống ký nghị định cải tổ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN) song song với sự trưởng thành của QLVNCH trong một Quốc Gia độc lập.Ngày 23 tháng 11 năm 1959, Khóa 16 nhập học với chương trình 4 năm, đào tạo các sĩ quan Hải Lục Không Quân hiện dịch cho QLVNCH.Ngày 22 tháng 12 năm 1962, Khóa 16 là khóa đầu tiên được mãn khóa tại Vũ Đình Trường Lê Lợi trên đồi 1515 của quân trường mới của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 226 Tân Sĩ Quan Hải Lục Không Quân đã hạ sơn, quyết tâm bảo vệ giang sơn, không gian và đại dương.Ngày 23 tháng 12 năm 1962, trong quân phục tiểu lễ trắng truyền thống của Thiếu Úy Hải Quân, tôi đứng nghiêm chào Quốc Kỳ trên Trường Võ Bị một lần chót trước khi ra phi trường Liên Khương bay về trình diện Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Tôi đã khóc thật sự khi phi cơ cất cánh và khi thành phố ngàn thông bắt đầu xa dần xa dần trong tầm mắt. Tôi thật sự đã giã từ Trường Mẹ, ngôi trường cao quý sau bao năm nuôi dưỡng, huấn luyện tôi thành người. Thật sự tôi đã giã từ Đà Lạt và đồi 1515 thân yêu sau trên ba năm tu luyện.Ngày 2 tháng 1 năm 1963, nhận được sự vụ lệnh phải trình diện Hộ Tống Hạm HQ 07 để tiếp tục chương trình huấn luyện sĩ quan Hải Quân hiện dịch, gồm sáu tháng thực tập hải nghiệp
50 Năm Mất Hoàng Sa 299trên các chiến hạm trước khi nhập học Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tôi lên chiến hạm ngày 3 tháng 1 năm 1963.Ngay ngày hôm sau, Hộ Tống Hạm Đống Đa II trực chỉ Hoàng Sa có nhiệm vụ tuần dương, bảo vệ quần đảo vì có tin vài chiến hạm Trung Quốc lại đang lai vãng trong vùng. Hạm trưởng là một trung uý thâm niên. Ông không có vẻ bảo thủ như tin đồn về các vị hạm trưởng Hải Quân, đặc biệt là các hạm trưởng có gốc Hải Quân Pháp. Ngược lại, ông lại xem tôi như là một sĩ quan vãng lai và được thủy thủ đoàn chào đón rất thân thiện. Chỉ vài giờ sau, tôi đã trực diện một cuộc hải hành đầy sóng gió dữ dội đầu đời hải nghiệp khi chiến hạm vừa ra khỏi Vũng Tàu trên hải trình đến Hoàng Sa.Một cơn bão cuối mùa từ biển Đông kéo đến. Khi chiến hạm càng ra xa Vũng Tàu, trực chỉ về Đông Bắc thì càng thấy mây mù bao phủ, biển động càng dâng cao, càng nghe tiếng gào thét của sức gió cực mạnh. Với vận tốc của chiến hạm trong trường hợp này, ít nhất phải mất 15 giờ mới đến được vùng Hoàng Sa. Chiến hạm phải vượt sóng ngang trong suốt khoảng thời gian trên. Nhiều lúc, con tàu chông chênh, ngất ngư trèo lên những ngọn sóng cao như núi, rồi chúc xuống như thác đổ. Cứ từng đợt, từng đợt, toàn thân chiến hạm nhiều lúc rung chuyển tưởng như đang gãy đổ trên đại dương.Tưởng cũng cần nói qua về quần đảo Hoàng Sa, vùng biển đảo cách miền Trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía Bắc của Phi Luật Tân, cách Cù Lao Ré của Việt Nam khoảng 200 hải lý và cách đảo Hải Nam của