The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2026-04-07 18:26:58

Đa Hiệu 127 TH3

Đa Hiệu 127 TH3

150 Đa Hiệu 127Những Người Phụ NữKim Cao K25/1Làm y tá đã nhiều năm mà mỗi lần nhận tờ phân công của ngày mới, tôi vẫn không khỏi tò mò lo lắng về bệnh nhân của mình. Họ là ai? Khó tính hay dễ tính? Bệnh nặng hay nhẹ? Dẫu sao trên đường tới nhà thương làm việc, ngày nào tôi cũng cầu nguyện các thánh phù hộ cho bệnh nhân của tôi “tai qua nạn khỏi”, ít nhất là xong khỏi ca tôi làm. Nghĩ tới chuyện mỗi lần phải rút ống, cột hàm cho vào bao để gởi bệnh nhân về thiên đàng là “tiêu đời” tôi. Lời cầu của tôi cũng được nhận lời nên vài năm mới bị một bệnh nhân về trời trong ca làm của mình. Y như các tướng khoe mình không có số “sát quân” nhưng sát cộng. Tôi tay lành, tâm ngọt nên bệnh nhân cũng khoẻ nhanh, lành mau.Lướt nhanh danh sách của bệnh nhân hôm đó, mắt tôi dừng lại ở cái tên nghe hay hay Luom White. Người phụ nữ có tên Việt Nam Lượm? Bà ở phòng cuối hành lang bệnh viện. Từ hành lang, tôi nghe văng vẳng tiếng ca Thanh Tuyền từ phòng bà nghe như bài hát Lan và Điệp. Tôi tiến về phòng bà. Người đàn bà trạc tuổi 60 đang ngồi bó gối trên giường bệnh, mắt lim dim khẽ hát theo nhạc. Bà có nhan sắc khá tầm thường, nói cách khác là có vẻ quê mùa. Tôi lên tiếng:


Những Người Phụ Nữ 151- Hello Mrs. White, my name is Kim. I am your nurse today.Không trả lời, tôi lại hỏi:- Thưa bà, bà có phải người Việt Nam không ạ?Người đàn bà bỏ ngay chân xuống giường dồn dập hỏi:- Ối giời giời, cô người Việt à? Làm ở đây lâu chưa? Vào chính ngạch chưa? Lương bao nhiêu?Không đợi câu trả lời, bà vào đề một cách mạch lạc có đầu đuôi về gia phả ba đời của bà. Tôi lịch sự kiếu bà nhiều lần mà vẫn không ra được câu chuyện của bà. Gặp vài bệnh nhân như vậy chắc tôi phải khăn gói bị đuổi việc quá vì bê trễ công việc. Qua câu chuyện bà kể, ở Việt Nam bà đi làm thuê làm mướn, may thay “mấy thằng Mỹ” tới nước mình bà mới có việc làm và có chồng Mỹ. Đi lùi dần ra cửa, tôi chào bà và hứa trở lại. Bà không quên vói theo:- Nhớ nhá, nhớ trở lại nhá. Ối giời có người Việt ở đây quý hoá quá, quý quá nhả. Ối giời!Tôi trở lại phòng bà vì đến giờ chuyền thuốc. Từ ngoài cửa, tôi nghe tiếng đàn ông giọng Bắc trầm và dịu, không như ngôn ngữ của bà bệnh nhân: - Mẹ thấy khá chưa để con tẩm nắn cho mẹ thêm nhé.Người đàn ông đứng quay lưng ra cửa nên không thấy tôi vào. Bàn tay người thanh niên xoa nắn vai và cổ bà một cách mềm mại nhẹ nhàng. Mùi dầu xanh tỏa khắp phòng. Bên góc phòng, một ông Mỹ tóc bạc bạch kim, dáng đẹp, cao với da trắng hồng. Ông gật đầu “Hello” khi tôi bước vào khiến người thanh niên quay lại. Tôi chưng hửng như người mất trí nhớ. Người thanh niên trước mặt tôi là người Mỹ 100% . Người Mỹ nói tiếng Việt hay hơn cả tôi vì không pha chữ. Người Mỹ mang dòng máu Việt nhưng nhìn không giống lai Việt. Người thanh niên mang quân phục thẳng nếp lịch sự bảnh bao. Anh cúi thấp đầu:- Chào cô ạ.


152 Đa Hiệu 127Tôi ngọng miệng ấp úng ngạc nhiên vì chưa nghe quen tiếng Việt rành rõi phát ra từ người thanh niên ấy. Bà bệnh nhân nhanh nhẩu:- Con tôi đấy. Con trai tôi đấy đang làm nhớn trong quân đội đấy. Lên những đội xếp cơ ấy. Tôi không hiểu cấp bậc “đội xếp” nhưng tôi biết anh là sĩ quan cao cấp trong quân đội USA.Như bệnh có sẵn mỗi lần gặp người Mỹ, tôi gợi chuyện với người thanh niên bằng tiếng Anh Câu chuyện trở nên thân thiện hơn khi biết người thanh niên ấy xuất thân từ West Point. Tôi không bỏ cơ hội, tôi khoe liền chồng tôi cũng xuất thân từ trường Võ Bị (The Vietnamese National Military Academy). Câu chuyện của chúng tôi lẫn tiếng cười dòn tan như bà con một nhà cho đến lúc…- Này, nghe này. Lại nói tiếng Ăng Lê đấy à. Khổ thân không chứ.Người đàn ông ở góc phòng lên tiếng:- Honey, honey, take it easy, take it easy.Bà lườm ông mắt có đuôi:- Easy với chả easy. Ông chồng này lúc nào cũng bảo thế. Gớm… (lại lườm ông).Người thanh niên vỗ về:- Dạ mẹ, không nói Ăng Lê nữa mẹ nhé. Con có mang cháo trong bình thuỷ, để con đút mẹ ăn nhé. - Thế mới phải con ạ. Cái nhà thương này dọn đồ ăn nhạt nhẽo lắm.Tôi chen vào:- Dạ, vì bà bị tiểu đường nên bác sĩ mới cho ăn như thế đó.- Ối giời, đường với chả đường. Tôi ăn mãi có chết đâu nào. Gớm, vẽ chuyện…


Những Người Phụ Nữ 153Tôi gắn dây chuyền thuốc cho bà và nghe hai mẹ con nói chuyện:- Này, mở nhạc cho mẹ. Bài Sầu Lẽ Bóng đấy, hay lắm Tiếng nhạc như than thở… Lỡ yêu rồi, làm sao quên được em ơi… những đêm buồn tìm về dĩ vãng xa xôi… Mắt bà lại lim dim, miệng lẩm bẩm:- Này, hay lắm đấy con ạ. Yêu là phải thế, phải nhớ phải đau.- Dạ mẹ, yêu là phải thế mẹ nha.Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Người thanh niên biết cả tựa bài hát để mở cho bà. Tôi được phân công chăm sóc bà ba ngày liền. Mỗi ngày tôi đều thấy chồng và con bà đến thăm. Ông ngồi yên ít nói chỉ trừ “honey, take it easy”. Cậu con trai thăm mẹ nhưng vẫn bận rộn trên chiếc laptop. Bà vẫn hay nhấn chuông gọi tôi đến “nói chuyện cho đỡ buồn “, cứ y như là đang ở khách sạn vậy mới chết tôi chứ. Thực ra, tôi cũng thích nghe bà kể chuyện: CSVSQ Cao Văn Hải, Khóa 25 và phu nhân (chị Cao Kim) trong Dêm Dạ Tiệc, ngày 3 tháng 7 năm 2022 tại Little Saigon, California.


154 Đa Hiệu 127- Sao con bà sanh ra và lớn lên ở đây mà nói tiếng Việt rành thế?- Hẳn! Để tôi nói cho nghe, hồi thằng nhỏ đi học mẫu giáo, bắt chước con hàng xóm nói Ăng Lê với tôi, bị tôi đánh cho một trận nên thân. Người Việt phải nói tiếng Việt. Có thế mới nên người chứ, cô nghe phải không nào?- Thế thì bà nói tiếng gì với chồng bà? Ông có hiểu tiếng Việt không?- Rõ chán, cứ hỏi lôi thôi. Không hiểu cũng phải hiểu. Không hiểu thì múa tay cũng hiểu ấy mà, khéo lo bò trắng răng.Tôi ậm ừ cho qua chuyện chứ ngu gì mà phân bua với bà. Chồng con bà còn phải thua, đâu chỉ tôi. Bà lại tiếp:- Cô chửa biết thì tôi nói cho biết luôn. Con trai tôi quen một con Mễ, con Mỹ, con méo gì đó. Nó mang về ra mắt mà chả biết lấy một câu tiếng Việt. Tôi bảo bỏ là phải bỏ, phải kiếm người Việt Nam mà lấy mới nên người. Thằng Joe (chồng bà) mà không có tôi thì ối giời, mấy con mẹ Mỹ nó chạy mất dép rồi. Mình người Việt lấy chồng phải ở suốt kiếp mới nên cô ạ. Nói đi thì cũng nói lại, tôi mà không có ông này thì mặt thâm mày thủng ở xó nào rồi. Nó tốt lắm, tốt lắm, hiền lắm. Bà chắp tay xá cá vài cái rồi nói:- Phúc cho tôi. Phúc cho tôi.Tôi có mặt trong phòng bà lúc chồng và con bà ra về. Bà dặn dò:- Này con, nhớ nấu bún xào cho nó ăn với nhá, (chồng bà) nó thích bún lắm đấy. Tội nghiệp nó. Lấy phải tôi là phải ăn bún chớ bơ gơ bơ giếc gì thì ra “mặc đa nồ” mà ăn, chứ tôi chả nấu.Vài năm sau…Tôi bước vào phòng bệnh nhân tên Lan Tran.


Những Người Phụ Nữ 155- Thưa bà, tôi tên Kim. Tôi là y tá của bà hôm nay.Người bệnh nhướng đôi mắt mỏi mệt nhìn tôi. Nhìn bà cũng biết lúc còn trẻ chắc bà rất đẹp.- Cô là người Việt Nam?- Dạ vâng, tôi là người Việt. Tôi viết số phôn của tôi lên bảng phòng bà và dặn:- Tôi sẽ chăm sóc bà từ bây giờ cho đến ba giờ chiều. Xin bà cứ gọi cho tôi nếu cần bất cứ gì nhé. -Vâng cô Kim, cám ơn cô.Thường thì người Việt nằm bệnh viện hay có thân nhân ở cạnh bên, nhưng tôi chẳng thấy ai thăm bà. Lúc cho thuốc, tôi bắt chuyện:- Gia đình bà ở Sacramento hở?- Vâng, có hai đứa lập gia đình ở đây. Đứa lớn ở tiểu bang khác. Chồng tôi mất hơn chục năm rồi. Con cái có gia đình hết nên tôi ở một mình.Bà cũng kể về gia đình bà. Các con thành danh trên xứ người. Đứa là nha sĩ, dược sĩ… Bà nóiCũng may mà các con của tôi qua Mỹ học hành công việc tốt đẹp. Cứ nhớ năm nào, chồng đi cải tạo chưa về, bốn mẹ con heo hút vùng kinh tế bữa đói bữa no. Con cái không được tới trường mà đau lòng cô ạ. Bố mẹ chúng thì hồi còn trẻ được sống sung túc trong nhung lụa, học trường Tây trường lớn mà bầy con không có cơm ăn, không được cắp sách đến trường. Nghĩ mà tủi mà hận Việt Cộng lắm cô ạ. Bà lấy hơi rồi kể tiếp- Chúng tôi qua đây diện HO. Chúng tôi làm đủ nghề để sống cho các con đến trường. Bây giờ chúng đủ lông cánh thì tôi yên tâm lắm.Có tiếng điện thoại reo. Giọng bà như có hơi mạnh hơn,


156 Đa Hiệu 127vui hơn:- Mẹ chả sao, con ạ. Ở đây có bác sĩ, y tá lo. Con đừng đến. Ở nhà lo cho các cháu để còn đi làm. Mẹ không sao thật đấy.Tôi nghe bà nói mà mắt cay cay. Bà không khoẻ. Bà cô đơn nhưng vì con mà bà “nói dối”. Một bà mẹ suốt đời vì con vì gia đình, lúc bệnh hoạn cũng còn nghĩ đến con mà quên mình.Một ngày kia… vài tháng sau đó.- Ô, chào anh, thấy tên quen mà đâu ngờ là anh. Em là y tá chăm sóc anh hôm nay nhé- Hay quá! Gặp thím ờ đây. Chú có khỏe không thím?- Dạ khoẻ anhTrong Hội Võ Bị, đàn em gọi đàn anh là niên trưởng và gọi đàn em là chú thím như anh em một nhà. Đương nhiên cùng khoá thì gọi mày tao dù tóc đã bạc, lưng đã còm khom. Người thiếu phụ ngồi yên trong góc phòng, thấy chị, tôi reo vui:- A chị H, chị khoẻ không? Lâu lắm em không có dịp gặp chị.Chị nhìn tôi cười nhưng nhìn như xa xăm:- Ờ ờ, chị bán gạo để thăm nuôi anh. Mấy thằng công an cứ rượt bắt mất vốn. Ờ thăm nuôi anh được mà, được mà.Anh H nhìn tôi:- Nhà tôi bị mất trí nhớ, thím ạ!- Em xin lỗi anh, em không biết.- Anh không nói cho ai biết. Thím ạ!Chị nắm vai tôi với nụ cười thật hiền:- Chị buôn bán giỏi lắm. Bán gạo để thăm nuôi anh.Hình như trong trí nhớ nhỏ nhoi của chị chỉ có hình ảnh anh tù đày và chị phải thăm anh. Thương cho chị quá.- Cô biết không? Chị giỏi lắm, vất vả lắm mới có tiền thăm


Những Người Phụ Nữ 157nuôi. Chị trở lại ngồi trên chiếc ghế trong góc phòng, mắt nhìn xa xăm, nụ cười rất hiền. Chị liên miên kể chuyện, kể đi kể lại nhiều lần cũng chỉ chừng ấy.- Phải giỏi mới buôn bán nuôi con thăm chồng. Công an nó ác lắm, nó lấy hết vốn. Việt cộng nó ác lắm, chị thăm anh được rồi, chị giỏi lắm……Mới không lâu, mỗi lần họp mặt Võ Bị, chị H mang đến những món ăn tự tay chị nấu thật ngon. Bây giờ chị không còn nhận ra người quen. Chỉ có một điều là “chị giỏi, chị thăm được anh rồi”. Ở trong mỗi người phụ nữ đều mang thiên chức. Làm mẹ tất cả vì con, làm vợ tất cả vì chồng, vì gia đình. Họ vì chồng vì con mà quên mình. Con cái thành công là bao nhiêu nước mắt mồ hôi của ba mẹ. Cách này đúng? Cách khác hay hơn? Cho tới bây giờ, tôi vẫn không có câu trả lời đúng sai. Tôi biết một điều. Làm MẸ là một thiên chức. Gia đình chồng con là một thế giới riêng của các bà mẹ để họ thi thố thiên chức của mình theo cách riêng mỗi người. Những người vợ, người mẹ đáng được kính trọng. Chúc cho các nàng dâu Võ Bị luôn vui trong công việc làm VỢ và làm MẸ.


158 Đa Hiệu 127Từ Một Đêm Hạ ChíPhạm Tín An NinhTừ ngày về hưu, sang sống với mấy cô con gái ở Cali, nhưng mỗi năm cứ đến đầu mùa hè, vợ chồng tôi đều trở về Nauy thăm con cháu và mấy người bạn tù cùng vượt biển đến định cư ở xứ Bắc Âu này. Ba năm rồi, vì dịch Covid-19, nên mãi đến hè này, chúng tôi mới về lại được.Tháng sáu, trời Nauy nắng đẹp. Ban ngày không nóng lắm, về đêm không khí càng se lạnh nhưng gần như không bao giờ tối, nửa đêm vẫn còn le lói ánh mặt trời. Nauy được gọi là “Vùng Đất Mặt Trời Lúc Nửa Đêm” hay xứ Bạch Dạ (Đêm Trắng). Đặc biệt vào tiết Hạ chí, ngày 23 tháng 6, có thể nói đó là một ngày không có ban đêm, mặt trời lặn lúc 12 giờ đêm và mọc lên lại lúc 2 giờ sáng, cũng là ngày dài nhất trong năm. Người Nauy gọi buổi tối đặc biệt này là Sankthans. Và theo tập tục, người ta thường kéo nhau ra ngoài trời đốt lửa, ăn uống múa hát cho đến 3, 4 giờ sáng.Về lại đây đã hơn mười ngày rồi mà người tôi vẫn còn vật vờ, ngủ gà ngủ gật, vì qua một chuyến bay khá dài, múi giờ lại khác nhau đến chín tiếng đồng hồ, nên cứ nằm dài trên phòng khách xem các trận quần vợt và bóng tròn tranh giải Âu châu.Bất ngờ tiếng chuông cửa reo. Một ông bạn già láng giềng


Từ Một Đêm Hạ Chí 159người bản xứ khá thân đến rủ tôi ra ngoài vui chơi cùng với gia đình anh và một số người bạn láng giềng khác. Anh ta vỗ vai tôi đùa:- Ông bỏ Nauy đi lâu quá rồi, giờ thì phải ra trình diện bà con. Hôm nay là Sankthans của Nauy đấy. Nhiều người cứ tưởng ông quên luôn cái đất nước nhỏ bé đã từng cưu mang gia đình ông rồi đấy!Định tìm cách từ chối, nhưng nghe anh ta nói đùa câu này, tôi thấy hơi chột dạ, hơn nữa cũng muốn gặp lại mấy người láng giềng tốt bụng dễ thương đã từng sống gần họ hơn mấy mươi năm, tôi vội khoác chiếc áo gió đi theo anh ta, mang theo một thùng bia Heineken và dúi vào tay anh ta một chai rượu đỏ của cậu con trai vừa mới biếu.Trên một bãi cỏ khá lớn nằm ngay phía sau khu chung cư, bên một triền đồi, đã có đông người, chia thành nhiều nhóm già, trẻ với những lò nướng và các cây đàn guitar, bên ánh lửa bập bùng.Mấy người láng giềng gặp tôi ai cũng mừng, bắt tay hỏi han đủ chuyện. Từ chuyện ông Donald Trump đến chuyện giá xăng dầu và cả chuyện súng ống giết nhiều cháu học trò bên Mỹ. Có người còn nhắc cả chuyện người gốc Á bị kỳ thị và


160 Đa Hiệu 127hỏi tôi có từng bị dọa nạt, đánh lén bao giờ chưa. Điều này đã làm tôi có chút áy náy, bởi ở Nauy không hề có hiện tượng tồi tệ ấy bao giờ.Uống xong lon bia, người nóng lên, tôi đứng lên đi dạo một vòng sang các nhóm khác. Bất ngờ nghe có tiếng đàn dạo bài Hạ Trắng của Trịnh Công Sơn, điều khá lạ ở một nơi hầu hết là người bản xứ, nên tôi thử tìm đến đó. Một chàng thanh niên Nauy đang ngồi đánh đàn bên cạnh một cô gái Á châu. Tôi đoán ngay cô ta là người Việt. Bước lại gần hơn với chút tò mò, trong ánh lửa tôi nhận ra người quen, nhưng không phải cô gái Việt nam mà là chàng thanh niên Nauy, hơn nữa đó lại là một người đã từng có với tôi nhiều kỷ niệm khá đặc biệt, lý thú. Chờ tiếng đàn kết thúc, tôi vỗ tay đúng lúc anh ta cũng vừa nhận ra tôi. Anh đứng lên vồn vã bắt tay và giới thiệu tôi với cô gái:- Đây là ông thầy của anh! Thầy dạy lịch sử chiến tranh Việt nam! Anh vừa nói vừa đùa.Khi cô gái còn đang ngạc nhiên, chưa kịp chào tôi, anh ta cười khoe với tôi:- Còn đây là bà chủ của tôi!Sau đó anh đưa tay chỉ hai đứa con nhỏ đang nắm tay nối vòng tròn trong một đám con nít, phía trước, rồi hỏi:- Tôi có nghe gia đình ông đã dọn sang Mỹ và cứ tưởng là ông ở luôn bên ấy rồi chứ.Tôi cười:- Không, làm sao mà chúng tôi có thể quên đất nước Nauy này được, nơi mà chúng tôi đã xem như là quê hương thứ hai của mình.Anh ta siết tay tôi thật chặt.Từ khá lâu rồi tôi mới có dịp gặp lại anh ta. Bởi chỉ sau ba năm đến định cư và ở trong khu chung cư này, gia đình tôi đã dọn đi nơi khác khi mua được ngôi nhà lớn hơn, đầy đủ chỗ ở


Từ Một Đêm Hạ Chí 161và sinh hoạt cho sáu đứa con. Mãi khi tất cả các cháu đã đi học xa, chúng tôi mới trở lại nơi này, mua một căn chung cư nhỏ gần bên nhà cũ, vì vẫn còn lưu luyến với khá nhiều kỷ niệm của những ngày mới đến, và đặc biệt là một số bạn bè cùng những người láng giềng thân quen từ dạo ấy.Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân đúng một năm, tôi may mắn được học thêm một số giờ đặc biệt về ngôn ngữ Nauy để giúp làm phụ giảng và thông dịch cho các thầy cô giáo, nhờ vậy mà khi mới đến Nauy tôi đã có được một chút vốn liếng ngôn ngữ đặc biệt lạ lẫm này, tuy chưa thông thạo lắm. Cuối tháng 5/1985, ngày đầu đến định cư tôi được một nhóm phóng viên của đài truyền hình Nauy (NRK) đến đón ở phi trường và đưa về tận nhà phỏng vấn. Biết tôi từng là một người lính miền Nam nên họ hỏi khá nhiều về chiến tranh và những năm tháng bị tù đày. Nghe họ ví von mình như là những người anh hùng Nauy chiến đấu giữ nước, thời gian bị Đức Quốc Xã bắt cầm tù trong các trại khổ sai thời Đệ Nhị Thế Chiến mà tôi thấy ngượng ngùng, bởi vì dù gì mình cũng là người lính bại trận, không giữ được lời thề và cả giang sơn để giờ phải lưu lạc đến đây cùng với cả gia đình, và ít nhiều gì, với họ chúng tôi cũng là những cành tầm gởi.Nhưng không ngờ chính chương trình phỏng vấn này đã đưa tôi đến một cái nghề bất đắc dĩ trong lúc tôi đang tạm làm thông dịch cho Phòng Xã Hội và chờ theo học một ngành chuyên môn để xin việc làm chính thức.Tôi được bà Trưởng phòng Tỵ Nạn Thị Xã giới thiệu một cặp vợ chồng người Nauy. Ông chồng là thầy giáo một trường trung học tại địa phương và bà vợ là y tá. Ông bà xem chương trình phóng sự, theo dõi cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình, và không hiểu từ đâu, nhận ra ở tôi có những tố chất nào đó để có thể kiềm hãm và làm thay đổi cái tính khí bất thường như một tâm bệnh của đứa con trai gần 15 tuổi của họ: hiếu động, nóng nảy, thích gây gỗ và bất cần, đôi lúc còn tự cào cấu vào người, gây thương tích cho chính mình.


162 Đa Hiệu 127Nghe họ nói, tôi phì cười. Tôi đâu phải là một nhà tâm lý học. Hơn nữa thuốc để chữa được bệnh tâm lý chính là ngôn ngữ, mà tiếng Nauy của tôi đang ở trong tình trạng ăn đong thì làm nên trò trống gì đây. Tôi mỉm cười, lắc đầu trước khi trình bày với họ những suy nghĩ ấy. Nhưng ông bà và cả bà Trưởng phòng Tỵ Nạn cứ khuyên khích, bảo tôi nên làm thử và hứa hẹn một khoảng thù lao khá hậu hĩnh trong khi mỗi tuần chỉ cần làm việc ba tiếng đồng hồ vào hai ngày cuối tuần. Họ tin là tôi sẽ giúp được, vì cậu con trai của họ cũng tỏ ra thích thú và đang tìm hiểu về tôi sau khi theo dõi cuộc phỏng vấn. Tôi ái ngại nhận lời, nhưng không dám hứa bất cứ điều gì, và cũng không nhận tiền thù lao. Xem như là dịp chỉ để trau dồi thêm ngôn ngữ Nauy.Trước khi đến nhận việc, tôi hỏi kỹ ông bà hơn về những điều đặc biệt mà cậu con trai thường làm và sở thích của cậu ta. Ông bà cho biết cậu bé từng si tình một cô gái lớn hơn nhiều tuổi, là một sĩ quan trong quân đội hoàng gia Nauy, chị của một anh bạn học mà cậu ta bất ngờ găp được trong một đêm Hạ Chí (Sankthans). Tất nhiên cậu ta không những bị cô gái từ chối mà còn thương hại, dạy dỗ vài bài học, vì đây chỉ là tình yêu mê muội theo kiểu “Aimez-vous Brahms”. Từ đó cậu ta thất tình bất mãn, rồi đổi hẳn tính nết: xa lánh bạn bè, ngoài giờ học chỉ đóng cửa ở trong phòng, thích làm anh hùng, mê xem phim chiến tranh, thích mặc quân phục, mang kiếm, huy chương và chơi các loại súng giả, bằng nhựa. Việc học hành cũng ngày một tệ, chỉ mong đủ tuổi để tình nguyện vào lính.Ngày đến nhận việc, để làm quen, tôi mang đến biếu cậu ta một bê-rê màu đỏ, giây nịt “TAB” và cái bi đông quân đội, tôi mua được trong một tiệm bán đồ cũ. Có lẽ đã được bố mẹ giới thiệu trước, nên khi thấy tôi cậu ta đứng nghiêm đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Điều đầu tiên tôi khá ngạc nhiên vì với tuổi gần 15, nhưng cậu ta trông cao lớn như một thanh niên đã trưởng thành. Tôi thoáng thăm dò trước khi đưa tay lên chào lại và bắt tay cậu ta.


Từ Một Đêm Hạ Chí 163Ngược với ước đoán của tôi, cậu chẳng tỏ ra thích thú gì với mấy món quà tôi tặng. Xem lướt qua xong, cậu vất trên chiếc ghế bành, nhíu mày:- Mấy thứ này đã lỗi thời, của mấy ông lính già còn sót lại từ thời đệ nhị thế chiến!Tôi cười:- Trong quân đội, những người lính già, càng thâm niên càng được kính trọng, họ đã bao lần đứng giữa lằn ranh sống, chết nên có nhiều can đảm và kinh nghiệm chiến trường, chứ nhiều chàng lính sữa như chính tôi lúc mới ra trường, thích ra vẻ oai phong nhưng khi nghe tiếng đạn bom nổ chung quanh thì xanh mặt bối rối chẳng biết phải làm gì!Nói xong, tôi chờ đợi và đề phòng một phản ứng, nhưng bất ngờ cậu cúi xuống, hỏi:- Nghe ông ở trong quân đội và đánh nhau tới mười năm, bị thương mấy lần rồi?- Khoảng ba bốn lần, nhưng chỉ hai lần còn mang thương tích. Tôi vừa trả lời vừa vạch áo và ống quần chỉ cho cậu ta xem vết sẹo còn trên bụng và dưới ống chân.Cậu ta chăm chú nhìn, đưa tay sờ trên từng vết sẹo, rồi đột ngột hỏi:- Ngày đó chắc ông đánh giặc chì lắm, là một hero?Tôi phì cười, lắc đầu, cố gắng tìm những từ ngữ đã học được và nói thật chậm để cậu ta có thể hiểu được:- Không, tôi chỉ là một sĩ quan bộ binh rất bình thường. Những đồng đội đánh giặc giỏi của tôi thường là những hạ sĩ quan hoặc khinh binh, và đa phần họ đã tử trận hết rồi. Anh hùng thực sự là những người nằm xuống ở chiến trường. Còn sống như tôi thì không ai nhận mình là anh hùng, hơn nữa dù sao cuối cùng tôi cũng là người thuộc bên thua cuộc, cho dù có câu thành ngữ khá phổ biến, mà có lẽ ở nước nào cũng có: “không thể đem chuyện thành bại mà luận anh hùng!”


164 Đa Hiệu 127- Ngày ấy, ông đã chỉ dạy cho thuộc cấp của ông những điều gì, và ông suy nghĩ gì khi họ hy sinh?- Không nhớ tôi đã hướng dẫn được những gì, nhưng chắc chắn là tôi đã học được ở họ sự trung thành, lòng can đảm và nhiều kinh nghiệm chiến trường. Đặc biệt với những đồng đội hy sinh, tôi không bao giờ quên được những ánh mắt của họ đã nhìn tôi trước khi trút hơi thở cuối cùng. Không biết họ muốn trăng trối, gởi gấm hay oán trách điều gì. Tôi thường dành phần để được vuốt mắt họ khi tình hình có thể, như muốn thay một lời tạ lỗi, ít nhất là đã không bảo vệ được họ. Và đến nay, với tôi, đó là một món nợ mà tôi luôn cảm thấy hổ thẹn vì không bao giờ còn trả được cho họ.- Đơn vị ông chắc luôn chiến thắng và tạo nhiều chiến công?- Đúng là chúng tôi đã chiến thắng hầu hết trên chiến trường, kể cả những trận chiến ác liệt nhất, nhưng rồi phải thua trận cuối cùng, khi bị đồng minh phản bội, chúng tôi không còn đủ đạn dược và điều kiện để phản công trong khi lực lượng địch lúc ấy gấp chúng tôi từ 5 đến 10 có khi 20 lần và với sự yểm trợ tối đa của khối Công sản. Vì vậy tôi mới có mặt ở đây hôm nay.- Nhưng đọc trên báo chí, thấy hầu hết những tướng lãnh của ông đã bỏ chạy sang Mỹ trước ngày mất Sài gòn?- Đúng, có một số đã làm như vây trong hoàn cảnh tuyệt vọng, và đa phần là những ông tướng không cầm quân, nhưng cũng rất nhiều tướng lãnh đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng để rồi 5 vị tuẫn tiết cùng với nhiều sĩ quan và binh sĩ khác, và gần 40 tướng lãnh khác đã bị CS cầm tù cùng với chúng tôi, hơn 15, 18 năm. Cậu có biết điều này?Có lẽ từng xem một vài phim chiến tranh Việt nam do Mỹ hay các nước Âu châu thân Cộng thực hiện, hoặc nghe ông thầy dạy sử nào đó lếu láo trong lớp, cậu ta tỏ ra hiểu biết:- Tại các ông theo Mỹ, mà người dân Mỹ đâu có ủng hộ cuộc chiến tranh ở đó, vì đó là một cuộc xâm lăng, phi nghĩa.


Từ Một Đêm Hạ Chí 165Các ông thua là phải.Tôi cười:- Cậu cũng chịu khó theo dõi chiến tranh trên quê hương tôi đấy chứ. Thôi thì cứ tạm cho là như vậy đi. Chuyện này phức tạp lắm, hơn nữa tôi cũng chưa đủ ngôn ngữ để giải thích cho cậu bây giờ. Từ từ rồi chúng ta bàn luận tiếp. Tôi chỉ tạm xác nhận trước một điều, trong suốt cuộc chiến ấy, chúng tôi vẫn xem Mỹ là một đồng minh chiến đấu cho Tự Do, giúp chúng tôi bảo vệ miền Nam trước làn song xâm lăng của cộng sản, mặc dù không ưa cái cách đồng minh kẻ cả của họ. Riêng quân đội miền Nam chúng tôi chưa bao giờ đánh ra miền Bắc, chưa hề gây thương tích hay chết chóc cho bất cứ một người dân miền Bắc nào, ngược lại chúng tôi chỉ chống đỡ các lực lượng của CS Bắc Việt xâm nhập, tấn công miền Nam dưới sự hỗ trợ đắc lực của Nga, Tàu và khối CS, giết hại hàng vạn người dân và phá hủy biết bao nhiêu công trình xây dựng, kinh tế của chúng tôi. Như vậy, kẻ xâm lăng chắc chắn không phải chúng tôi!Cậu ta gật gù, im lặng.Đúng là cậu bé mê chuyện chiến tranh và thích làm người hùng, nhưng may mắn là không tôn thờ, sùng bái Hitler như một số thiếu niên Bắc Âu thời ấy. Những ngày làm việc của tôi sau đó cũng chỉ kể lại các trận đánh và những năm tháng tù ngục. Tôi tìm đưa cho cậu ta xem hình ảnh dã man trong Cải Cách Ruộng Đất, Tết Mậu Thân tại Huế, với các hố chôn người và đặc biệt là hai vợ chồng bác sĩ người Đức bị CS giết chết một cách dã man. Tôi cũng cho anh ta xem hình ảnh Đại Lộ Kinh Hoàng, chiến trường Quảng Trị và An Lộc để cậu ta thấy cái khủng khiếp của chiến tranh, tội ác của những người cộng sản và khả năng chiến đấu của người lính VNCH. Tôi kể chuyện Việt Cộng pháo kích đạn cối 82mm vào trường tiểu học Cai Lậy, tỉnh Định Tường, vào ngày 9 tháng 3 năm 1974, đúng lúc các em đang trong giờ ra chơi, giết chết 32 em học


166 Đa Hiệu 127sinh và 55 học sinh khác bị thương. Tôi cũng kể chuyện của chính tôi đã từng đối xử nhân đạo với những tù binh cộng sản bị đơn vị tôi bắt được như thế nào, khi cậu ta hỏi tôi về nhà tù Côn Đảo mà cậu đã đọc trên các báo thân cộng tại Thụy Điển tuyên truyền.Có lần cậu ta thắc mắc, tại sao cộng sản miền Bắc Việt Nam gây chiến tranh và chết chóc như thế mà lại được ông Thủ tướng Olaf Palme của Thụy Điển hết lòng ủng hộ, ông từng tuyên bố, nếu bất cứ người lính Mỹ nào phản đối chiến tranh Việt Nam, đào ngũ khỏi quân đội, ông sẵn sàng nhận và trợ cấp cho sang sống ở Thụy Điển. Tôi cười, bảo là cộng sản rất giỏi tuyên truyền, nên đâu chỉ có ông Olaf Palme, mà còn nhiều người Âu châu khác, trong đó có Nauy, tin và ủng hộ. Thậm chí, ngay cả một số trí thức và thầy tu, linh mục ở miền Nam chúng tôi, cũng bị lừa gạt, say mê đi theo họ, để rồi sau này hầu hết đã hối hận, nhiều người quay lại chống chính quyền CS hoặc bỏ trốn ra khỏi nước.Tôi cố giải thích:- Cậu thấy có nước cộng sản nào mà người dân thực sự có tự do hạnh phúc không, có người dân Tây Đức nào trốn sang Đông Đức mà ngược lại đã có hàng triệu người Đông Đức đã tìm đủ cách để vượt thoát sang Tây Đức bất chấp cả cái chết và sự tra tấn tù đầy nếu chẳng may bị bắt?Để câu ta trầm ngâm vài giây, tôi nói tiếp:- Tôi đoan chắc với cậu, là chỉ trong một thời gian không lâu nữa là bức tường Bá Linh bị chính người dân Đông Đức giật sập đề chỉ có duy nhất một nước Đức không Cộng Sản.Cậu ta vẫn không ngước lên, hỏi:- Thế thì còn Liên Xô?- Liên Bang Xô Viết, cái thành trì của chủ nghĩa Cộng sản này cũng đang có những dấu hiệu sụp đổ, chắc theo dõi tin tức cậu cũng biết.


Từ Một Đêm Hạ Chí 167Cậu ta nhếch môi cười rồi hỏi tôi có muốn dùng một ly cà phê. Tôi gật đầu cám ơn. Khi mang ly cà phê và một đĩa bánh táo đến để trước mặt tôi, cậu vừa mời vừa hỏi bất chợt:-Hơn mười năm tác chiến, chắc ông đã giết rất nhiều địch quân?Đắn đo một vài giây, tôi ôn tồn:-Chính tay tôi thì không, nhưng đơn vị do tôi chỉ huy thì tất nhiên là có, còn nhiều bao nhiêu thì không ai biết được. Nhưng điều này không hề làm cho tôi hãnh diện hay sung sướng gì đâu, mà trái lại, nhiều lúc còn là nỗi ám ảnh và đau xót, bởi vì họ cũng là những con người, hơn nữa lại là người cùng dòng giống với chúng tôi. Cái chết của họ cũng đau đớn như những cái chết của đồng đội dưới quyền tôi. Có thể còn xót xa hơn khi họ đã bị lợi dụng, lừa gạt từ một chủ trương hoang đường, ma mị nào đó. Nhưng cậu cũng nên hiểu rằng, điều đau lòng đó là do chiến tranh mà chúng tôi chỉ là những người muốn tự vệ, miền Nam chúng tôi chưa hề gây chiến.Thấy cậu ta tỏ vẻ ngạc nhiên với một chút xúc động, tôi xuống giọng:-Vì vậy, là một người từng trải qua chiến tranh, một cuộc chiến khốc liệt và đau xót nhất, tôi thành thật khuyên cậu đừng bao giờ mơ tưởng trở thành một người hùng chỉ để đi chém giết nhau. Cậu rất may mắn được lớn lên trong một đất nước thanh bình như Nauy để những thế hệ thanh niên như cậu không phải bị vướng vào nỗi ám ảnh như tôi. Theo tôi, cái chiến thắng vĩ đại đáng hãnh diện nhất của một quốc gia chính là họ không cần phải chiến thắng, không cần phải chém giết ai cả. Mấy vết thương mà cậu đã nhìn thấy trên người tôi đã thành sẹo tự lâu rồi nên không còn đau đớn gì, kể cả những năm tháng bị đày đọa trong ngục tù sau cuộc chiến. Đó không phải là những điều tôi cảm thấy bị thương tổn!- Vậy thì điều gì làm ông bị tổn thương?- Còn nhiều thứ khác, nhưng điều làm tôi ân hận và đau đớn


168 Đa Hiệu 127nhất chính là đất nước và dân tộc tôi ngày một bi thảm khốn cùng trong tay của những người chiến thắng, mà chính tôi có phần trách nhiệm.Cậu ta trầm ngâm giây lát rồi đứng lên im lặng nắm tay tôi.Không biết cậu ta có thay đổi được điều gì không, nhưng sau đó cậu trở thành bạn của mấy đứa con tôi, từ khi ba cháu lớn vào học chung trường với cậu và ông bố lại là thầy dạy môn quốc văn Nauy và tiếng Tây Ban Nha. Về sau này, khi chúng tôi dọn về nhà mới gần bờ sông Nitelva, có vài lần cậu ta xuống thăm, mang theo chiếc thuyền bằng cao su (loại bơm hơi), rủ mấy đứa con tôi cùng đi dạo, câu cá dọc trên sông.Lần cuối cùng đến gặp tôi, khi nghe tôi nói ba cô con gái lớn đã sang Mỹ và Anh học, cậu ta khá bất ngờ, đứng thẫn thờ một lúc rồi chào tôi, cáo từ. Sau này, nghe các con nói lại, dường như cậu ta “phải lòng” cô con gái kế của tôi, nhưng cháu không để ý.Từ đó, tôi không còn gặp cậu ta. Cho đến một ngày cuối tháng 8 năm 1991, cậu bất ngờ đến tìm tôi, mang biếu chúng tôi một thùng dâu tây, bảo là cách nay mấy hôm, khi theo dõi việc Liên Bang Xô Viết tan rã, cậu ta bỗng nhớ tới tôi, nên hôm nay đến gặp để nhắc là lời ước đoán ngày xưa của tôi đã đúng. Anh ta gật gù:- Ông đúng là một người lính già và nhiều kinh nghiệm.Tôi cười:- Nhưng lại là một người lính bại trận trong oan nghiệt. Còn chuyện Liên Xô tan rã thì cả thế giới này ai cũng đoán trước được, chứ đâu phải riêng tôi!Cậu ta lắc đầu cười, bảo sẽ nghiên cứu thêm về cuộc chiến Việt nam, và nhất định sẽ sang Việt Nam tìm hiểu về đất nước này cùng với hậu quả cuộc chiến mà tôi từng kể cho cậu ta nghe.Cậu cũng cho biết là hiện đang theo học về ngành dầu khí


Từ Một Đêm Hạ Chí 169tại đại học Stavanger, một tỉnh cực nam Nauy. Cha mẹ thì đã ly dị, ông cha trở về quê cũ ở cố đô Bergen và đã có người tình mới, bà mẹ cùng cô em gái vẫn còn ở chỗ cũ, thỉnh thoảng anh có về thăm.Đêm nay, hơn 30 năm sau, bất ngờ gặp lại cậu, cũng trong một đêm Hạ chí Sankthans, khi cậu ta đã là một trung niên, còn tôi thì mái đầu bạc trắng. Gặp lại cậu, tôi cũng vui và xúc động. Đặc biệt thấy có chút gần gũi hơn khi biết cậu có vợ Việt Nam và dạo đàn thành thạo bài Hạ Trắng, cho dù từ khá lâu rồi tôi không còn thiện cảm với người sáng tác bài ca hay đó nữa.Uống cạn thêm hai lon bia để mừng cho cuộc trùng phùng và cho cả mối lương duyên khá đặc biệt của vợ chồng cậu, tôi bắt tay từ giã sau khi nhận lời mời gặp lại hai ngày sau đó tại nhà mẹ cậu, trước khi vợ chồng trở về lại nhà ở thành phố Stavanger.Bà mẹ vẫn còn nhớ tôi và đón tiếp khá niềm nở, hỏi thăm về đời sống của gia đình tôi và các con. Cậu kể cho tôi nghe thời gian hơn ba năm theo Statoil (công ty dầu hỏa Nauy) sang làm việc ở Việt Nam, cậu có nhiều dịp đi đó đây để tìm hiều về cuộc chiến Việt nam. Cậu may mắn làm quen với một cụ già, vốn là giáo sư đại học miền Nam, giờ phải giúp đứa cháu nội trong một sạp bán sách cũ và các loại quà lưu niệm, ở vỉa hè. Ông thông thạo cả Anh, Pháp ngữ, hiểu biết khá nhiều về tình hình trên thế giới và đặc biệt về cuộc chiến Việt nam. Ông bảo cậu, nếu thấy bất cứ người tàn tật nào lây lất bên đường, thì đó có thể là một thương binh của miền Nam lúc trước, bị chế độ này kỳ thị, đuổi xô, ruồng rẫy. Và cũng nhờ ông mà cậu ta biết chút ít tiếng Việt.Nghe theo lời ông, nên mỗi khi trông thấy một người tàn phế nào lê lết đi bán vé số hoặc ôm đàn ca hát để xin giúp đỡ từ lòng yêu thương của khách qua đường, cậu ta đều tìm đến hỏi thăm, biếu cho chút tiền, thực phẩm hay đồ dùng cần thiết. Một hôm, cậu gặp một người đàn ông già, chỉ còn một cánh


170 Đa Hiệu 127tay và một chân, chống nạng phụ giúp cô con gái trong một quán cà phê nhỏ ở một vùng ngoại ô. Tuy già nhưng tướng tá còn phương phi, nói tiếng Anh khá thạo. Cậu ta làm quen và biết ông cũng là một sĩ quan miền Nam lúc trước, từng theo học một vài khóa tham mưu tại Hoa Kỳ, tính tình thẳng thắn nhưng rất lịch sự. Sau này cậu ta trở thành con rể của ông. Cô vợ mà tôi gặp trong buổi tối Hạ chí Sankthans hôm ấy, là con gái duy nhất của ông, khả ái, thông minh và hiếu học. Được chồng bảo lãnh sang Nauy một thời gian, cô đã lấy bằng Bioingeniør (xét nghiệm máu) và hiện làm việc trong một bệnh viện.Qua nói chuyện, tôi biết thân phụ cô nguyên là một vị thiếu tá thuộc Sư Đoàn 5 BB, bị thương trong trận An Lộc. Mẹ đã mất khi cô vừa tròn hai tuổi. Sau khi sang định cư tại Nauy, cô đã làm hồ sơ bảo lãnh nhưng ông từ chối, chỉ muốn sống hết phần đời còn lại ở quê nhà. Ông cũng đã mất hơn ba năm trước.Khi chia tay, cậu ta bắt tay rồi ôm lấy tôi:- Tôi có được cô vợ Việt Nam và hạnh phúc như hôm nay là nhờ ông, nhờ tôi bất ngờ thấy ông trong cuộc phỏng vấn của đài NRK trong ngày ông và gia đình vừa mới đến định cư. Và may mắn, cũng nhờ có đêm Sankthans hôm rồi mà gặp lại nhau.Tôi cười, đùa:- Và cũng tại một đêm Sankthans nào đó ngày xưa, cô sĩ quan Hoàng Gia xinh đẹp trong bộ quân phục oai phong đã làm cậu say mê rồi thất tình, muốn đi lính để làm người hùng, lại chính là nguyên do đưa đẩy chúng ta quen biết đến hôm nay.


Thơ Hoài Vọng 171Hoài VọngNguyễn Sương NgaTưởng nhớ đến Anh Nguyễn Dzương Dzương K24 TVBQGVN, Đại Đội 2, Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu TQLC, tử trận tháng 7 năm 1972 tại Triệu Phong - Quảng Trị. * * *Tôi ngước mắt nhìn thượng nguồn nước đổCó chia đâu trăm nẻo cũng về khơiNghe mênh mông tiếng gió hát thành lờiBài “Tống Biệt” cho nỗi lòng viễn xứ.Tôi ngước mắt nhìn mây trời thăm thẳmNắng rất cao - và mây vẫn trôi xaGiữ giùm tôi lời nồng ấm thiết thaVề nơi chốn có những hình bóng cũ.Tôi ngước mắt nhìn núi rừng xa tắpLá vẫn xanh, núi hùng vĩ vươn caoĐời đổi thay tự những tháng năm nàoNhưng rừng núi vẫn bao đời còn đó.Tôi ngước mắt kìa...bđất trời quê Mẹ!Dải giang sơn xinh đẹp biết dường bao


172 Đa Hiệu 127Đã mang đầy những vết tích thương đauGây bởi bọn cuồng điên không tim óc.Và Trước mặtNgười Lính xưa yêu dấu...Chốn sa trường vì nước đã hy sinhHồn anh giờ lìa cõi thế điêu linhAnh có biếtTôi vẫn hoài thương nhớ!TIểu Đoàn 1 Quái Điểu tại mặt trận Quảng Trị 1972.


Khám Xét 173Trương Thành Minh, K28Thưa quý vị! Cái số tui nó “cui”, làm việc gì cũng đem hết sức bình sanh ra cố gắng hoàn thành, nên từ nhỏ, bạn bè đã đặt hỗn danh tui là “cui”, ghép với tên cha sanh mẹ đẻ là “Minh” thành cái biệt danh “Minhcui” nghe cũng không chói tai cho lắm.Chuyện Minhcui tui kể giống như chuyện đời xưa, củ rích hơn 50 năm qua, nhưng sao cứ nhớ hoài không nguôi được, vì chứa có đầy đủ cay đắng ngọt bùi trong bước đầu binh nghiệp của Minhcui.Chuyện này dài dòng lắm, để Minhcui kể “từ từ em nào cũng có”; chớ không thì “mất trật tự em có em không”, ngheng quý vị.Câu chuyện bắt đầu từ khi tui mặc bộ đồ sinh viên dân chính, mang túi xách chạy thục mạng qua Cổng Nam Quan, sau đó thì tơi bời hoa lá. Chiều tối tôi bò lên phòng, gặp hai thằng cốt đột: Ngô Xuân, Huỳnh Ngọc Mái cùng lần lượt bò vô, người ngợm đầy bùn đất giống nhau. Một chàng tầm thước-trắng trẻo-thư sinh, một chàng lùn-đen-mặt mụn-lì lợm.Tụi tui kết thân tình từ đó, sau này lên SVSQ, mặc dù đổi Khám Xét


174 Đa Hiệu 127qua đại đội khác, nhưng chúng tôi vẫn thỉnh thoảng hẹn nhau nhậu ở Câu Lạc Bộ Nhữ Văn Hải để nghe Ngô Xuân tâm sự đầy vơi. Cái anh chàng này sao tâm sự đầy một bầu, kể hoài không hết, nên hầu như tối thứ Sáu nào tụi tui cũng hẹn gặp nhau, trừ những khi phải trực canh gác.Huỳnh Ngọc Mái là em ruột của Niên Trưởng Huỳnh Ngọc Hồng - Khóa 25 Đại Đội F; Ngô Xuân là cậu ruột của Niên Trưởng Nguyễn Hồng, biệt danh là Hồng Bụng - Khóa 25, cũng ở Đại Đội F, nơi tôi được chuyển qua sau đợt đầu Tân Khoá Sinh, bèo nhèo như chim non vừa dập bụng xểnh. Cớ sự này đã gây nhiều cảnh khó quên để Minhcui tui kể tiếp sau đây.HÚT THUỐC:Ai đã đi phố đêm trong mùa TKS chắc cũng nhớ cảnh dở khóc dở cười, nhưng với tui lại là một điều may. Số là khi được phát lại bộ đồ dân chính nhàu nát đầy bùn đất với đôi giày “há mồm”để thay đôi “bốt đờ sô”, chuẩn bị cho chuyến đi phố đêm??? (Vậy mà sao tin được không biết? Bị phạt quá Cán Bộ Tân Khoá Sinh Khoa 25 đang “hành xác” Tân Khóa Sinh Khóa 28 vào ngày nhập trường


Khám Xét 175hồn bất phụ thể nên Cán Bộ TKS nói gì nghe đó). Tui thọc tay vô túi quần để tạo dáng, sửa tướng cho ra vẻ ung dung, tự tại của một du khách Đà Lạt sau gần ba tuần người ngợm không giống ai. Bỗng thấy trong túi cồm cộm (chớ không phải “nổi cộm? như của vc), tui móc ra thấy có mấy tờ 500. Một “ánh sáng cuối đường hầm” hiện ra liền trong óc: MUA THUỐC LÁ.Đúng rồi, phải tìm cách mua thuốc lá. Tui vốn là đệ tử tôn sùng khói thuốc (chỉ sau “khói thuốc súng” từ khi làm lính). Hồi còn sinh viên dân chính, Minhcui tui hút Pall Mall không đầu lọc khi đi học hay đi dạy, nhưng khi về nhà là đốt liền điếu xì gà king size mới đủ khói. Nay sau ba tuần không khói, cơn thèm nó tới ray rứt làm tui đau khổ... ngày đêm, thêm với sự thôi thúc của hai thằng cốt đột chung phòng cùng tâm trạng như tui.Tui khoe với hai bạn cùng phòng, nói ý định của mình. Vuốt lại cho ngay mấy tờ bạc rồi kéo hộc bàn dưới cùng ra khỏi ngăn, để mấy tờ giấy bạc vô, rồi đẩy hộc bàn lại kín bưng. Tiền đã nằm ở khoản trống giữa sàn nhà với hộc bàn, dù cho Niên Trưởng Dục Khóa 17 kinh nghiệm đầy mình cũng không tìm ra được.Rồi thì cứ mỗi buổi sáng khi thay đồ tác chiến, mấy tờ giấy bạc lại được móc ra, xếp vô túi áo trên, chờ thời cơ. Cuối cùng rồi thời cơ đã tới chỉ vài ngày sau đóVào một buổi tối thứ..., (Minhcui tui cố nhớ mà không ra, vì đố ai mà nhớ ngày nào, thứ mấy trong tình trạng tối tăm mặt mủi của mùa TKS.) Sau bữa cơm chiều ở phạn xá, Đại Đội B chúng tôi được thưởng cho mấy vòng Alpha, nhưng làn khói thuốc cứ vấn vương trước mắt. (Đố ai còn nhớ mấy vòng? Chỉ biết chạy thục mạng, chạy hoài, chạy mãi, không mỏi, không mệt.) Nhìn những chiếc cầu kiến bò (Tân Khoá Sinh nào bị đau chân, không chaỵ được, phải chống hai chân bên này, hai tay chống bên kia đường mương bao quanh sân cỏ Trung


176 Đa Hiệu 127Đoàn, Hung Thần Tân Khoá Sinh kêu đó là bắt cầu cho kiến bò.) trong cái lạnh về đêm, tui thầm nghĩ rằng anh chàng nào mà tiểu xảo chắc đang hối hận trong lòng. Sau đó là các màn lăn bò, hít đất, đi vịt, nhảy xổm đủ kiểu. Cuối cùng thì chúng tôi cũng được xếp hàng trước câu lạc bộ Ba Râu để được ăn cho hồi sức. Chắc trong đầu các bạn khác đang nghĩ tới những tô mì, tô phở, những dĩa cơm ngon, hay ly sô đa sữa hột gà bổ dưỡng; nhưng trong tôi chỉ thấy đốm lửa ấm áp của điếu thuốc với những làn khói liêu trai. Trong bóng đêm, mắt tui sáng lên quả quyết nhắm vào mục tiêu duy nhất, như ánh mắt thẳng tắp từ lỗ chiếu môn tới đỉnh đầu ruồi (theo lời dạy của Huấn Luyện Viên Vũ Khí): ĐIẾU THUỐC LÁ. Đúng rồi: thuốc lá...Ngồi thẳng tưng, không được dựa vào ghế, tui kêu một tô mì vịt tiềm và ly sô đa sữa hột gà. Không thiết gì tới quang cảnh xung quanh, chỉ có “điếu thuốc lá”. Tiền đã có sẵn trong túi áo, bây giờ phải làm sao? Vừa húp vài muỗng nước vịt tiềm ngọt lịm, tui đứng dậy dõng dạc xưng danh: - Tân Khóa Sinh Trương Thành Minh, danh số 149 Đại Đội B Khóa 28 xin đi vệ sinh.Thôi thì hai, ba ông trung đội trưởng xúm lại hò hét đủ kiểu “ông này tiểu xảo,... Ông này biết tay tui”. Những tiếng thét khàn khàn như muốn hớp hồn người ta làm tui cũng lo sợ chột dạ. Cuối cùng là câu hét to “êm ái, ngọt ngào” muốn bể lỗ nhĩ: - Đi đi ông!Mở cờ trong bụng, tui nhẹ nhàng quay lại đưa ghế ra sau không một tiếng động. (TKS mà đẩy ghế cái rột là biết tay với mấy hung thần.) Rồi tôi lẹ làng đi tới bức tường ngăn cách phòng ăn và phòng vệ sinh. Liếc nhẹ phía sau cho chắc ăn, tui núp sau bức tường phía phòng vệ sinh, khuất tai mắt mấy ông hung thần đang hò hét, móc hết xấp tiền cầm trong tay, không nhớ là bao nhiêu. Tui ngoắc một cô hầu bàn lại gần, dúi hềt xấp tiền cho cô rồi đưa hai ngón tay vừa ra dấu, vừa nói:


Khám Xét 177- Hai gói Pall Mall, hai hộp quẹt. Cô ta nhìn tui, nhìn xấp tiền trên tay, rồi gật đầu. Minhcui lẹ làng bước vô một phòng có toilet, sốt ruột. Chờ khoảng năm phút, tôi cũng giật nước rồi bước ra ngoài. Tôi liếc lẹ về hướng cuối bức tường, thấy cô hầu bàn đã chực sẵn, tui bước ra. Tôi chụp lẹ hai gói Pall Mall, thót bụng thả vô mỗi ống quần, hai hộp quẹt cho vô mỗi túi áo. Vậy là xong, mặt mày tươi tỉnh nhưng nghiêm trang, bẻ góc đường hoàng đi thẳng tới chỗ, ngồi vô bàn, thanh toán thiệt lẹ tô vịt tiềm. Không thấy ông hung thần nào để ý, tui nốc can một hơi ly sô đa mát rượi. Vậy là tui chắc ăn tới 80% sẽ được kéo những hơi thuốc lá để được mơ màng: “Suy tư vầng trán thêm gầy, em ơi khói thuốc vàng tay vẫn buồn...”Tiếp theo là, bò, chạy nhảy, tấn công lầu ba v.v… Ba cái lẻ tẻ này đối với Minhcui đều vô nghĩa, miễn sao hai ống quần không bị tuộc thun rớt hai của gia bảo ra ngoài và hai hộp diêm quẹt bằng giấy không ướt... Tui với hai thằng cốt đột cùng bò về lại lên phòng từ hai hướng khác nhau, cửa mở 90°. Các hung thần sau hồi quần thảo tụi tui từ chiều tới giờ cũng thấm mệt nên tà tà thả dạo trên sân cỏ. Tui đâu có biết phòng mình đã bị pointé (để ý), chỉ vì có hai thằng “dám” làm bà con với Cán Bộ và Huấn Luyện Viên.Tui móc liền hai gói thuốc ra khoe “chiến lợi phẩm”. Cũng chiêu thức cũ, tui dấu một gói dưới gầm hộc bàn, trong lúc Ngô Xuân bóc gói thuốc, điệu nghệ đốt mỗi thằng một điếu, còn bao nhiêu nhét vô bụng áo tôi... sòng phẳng. Minhcui liền leo thót lên nóc tủ,trong khi Ngô Xuân từ tốn trèo lên giường tầng hai ngồi bên tui với đôi mắt cảm ơn và thán phục. Huỳnh Ngọc Mái chui xuống gầm bàn. Ôi! Sao mà nó sướng đê mê, từng hơi thuốc kéo sâu vô tới ruột gan thấm lên tới đỉnh đầu. “Nhớ nhà châm điếu thuốc, khói huyền bay... khắp phòng.” Đóm lửa dần đỏ rực, ước tính dài gần 2-3 cm. Đang phê ngon trớn thì nghe tiếng chạy thình thich và rồi tiếng đá cửa một cái “RẦM” rung rinh nhà cửa, nhói đau con tim:


178 Đa Hiệu 127- “Mấy ông làm gì đó?”Điếng hồn, tui tuột xuống giường trên, rồi nhảy xuống sàn, đứng nghiêm chỉnh trước mặt ông hung thần, không nói được gì, trong lúc điếu thuốc với tàn lửa dài 2-3 phân tui nhét lẹ vô giày đang cháy xèo xèo chiếc vớ trong chân phải. Dĩ nhiên nó không tha cho mảng da mượt mà sau ba tuần trong “bốt đờ sô”. Khói từng sợi bay lên từ chiếc giày trong chân tui kéo theo cái đau nhót ruột, nhưng tui vẫn đứng yên không nhúc nhích. Hung thần hét to, “Cái ông này.” rồi lật đật cúi xuống móc điếu thuốc trong chân tui ra. Hai thằng cốt đột cũng từ giường trên tụt xuống, ngóc từ gầm bàn ra, đứng nghiêm bên tui từ lúc nào.- “Thuốc đâu mấy ông có?”- “TKS Trương Thành Minh, danh số149, ĐĐ B, K28 xin nói: Mua.”- “Ai mua?”- “TKS Trương Thành Minh, danh số149, ĐĐ B, K28 xin nói: Tôi.”Hung thần liếc liếc nửa con mắt về phía tui, sau khi quan sát nét mặt hầm hừ của Ngô Xuân:- “Thuốc đâu?”Tui làm thinh móc gói thuốc trong bụng áo ra, đứng nghiêm, đưa gói thuốc một tay theo đúng lễ nghi quân cách:- “Còn nữa không?”Tui sợ quá trả lời một tiếng “ngu nhứt trên đời”:- “Xin nói: Còn.”- ”Ở đâu?”- “Xin nói: Dưới hộc bàn.”- “Đưa coi!”Tui đau khổ cúi xuống kéo hộc bàn, mò gói thuốc móc ra,


Khám Xét 179thấm lần cái ngu của sự “thành thật khai báo cho cách mạng khoan hồng.”- “Ba ông móc thuốc ra đây hết cho tui!”- “Bập cho cháy thôi ngheng. Ông nào hít vô là biết tay tui.”Thiệt là đau khổ còn hơn mỡ treo miệng mèo mà không cho liếm láp. Nói vậy chớ tui cũng nuốt vài ngụm khói luôn vô bụng, rồi thở ra từ từ cho đỡ thèm.Đốt hết 37 điếu thuốc sắp một dọc trên bàn giữa, hung thần ra lệnh: - “Mỗi ông, hai điếu trên hai lỗ tai. Hai điếu trên hai lỗ mũi. Còn bao nhiêu chia đều ngậm hết vô miệng cho tui.” “Xong chưa? Hít đất cho tui mỗi ông 100 cái!”Vừa ra lệnh nộ nạt, hung thần vừa dòm chừng Ngô Xuân. Chu cha ơi, mấy cái hít đầu tiên thì thiệt là phê, sung sướng tê mê, nhưng tới cái thứ năm- thứ sáu trở đi, ba đứa tui ai nấy đều sặc sụa, nổ đôm đốm mắt, đau khổ muôn phần.Được đâu tới cái thứ 9, thứ 10 thì hung thần nạt lớn: - “Thôi, đứng dậy!”Ba thằng tui được giảng mo-ran cho một hồi, từ một hung thần suốt đời không biết hút thuốcHung thần đó là ai mà dữ zậy, xin thưa: Đó là Niên Trưởng Nguyễn Hồng - Khóa 25, cháu ruột của Ngô Xuân, kêu cốt đột Ngô Xuân bằng Cậu. Vài ngày sau, trong một đợt được viết thơ thăm thân nhân, Đại Độ B Khóa 28 được nghe một bức thư từ cháu, viết về cho Bà Ngoại, tác giả là Ngô Xuân, quyết định phải từ cháu Nguyễn Hồng - Khóa 25 vì dám hổn hào phạt Cậu Ruột là Ngô Xuân nhừ tử.- Oái ăm thiệt.Cũng cái ông hung thần Hồng Bụng này mới có câu chuyện “Khám xét” thấm tình anh em dưới một mái trường êm ấm.


180 Đa Hiệu 127Hai chữ Trường Me chắc cũng bắt nguồn từ những mẩu chuyện ngắn thân tình này.KHÁM XÉTTừ ngày tan hàng tới nay, ba thằng cốt đột tui Minhcui, Ngô Xuân, Huỳnh Ngọc Mái chưa bao giờ có dịp gặp lại. Đại Đội Trưởng TKS ĐĐ B Đợt Một, Niên Trưởng Huỳnh Văn Đức đang ở Nam Cali nếu đọc chuyện hút thuốc của tui chắc cũng phải nể sợ tui, còn hơn tui sợ ổng khi ổng oai phong trên bục.Hồi đó nghe đọc thơ của Ngô Xuân gởi về Bà Ngoại đòi từ cháu mà không đọc tên nên không biết ai. Tới chừng lên sinh viên mới biết mình ở chung đại đội với người cháu bị cậu Ngô Xuân từ thẳng tay rất là tội nghiệp. Đó là Niên Trưởng Hồng Bụng - Khóa 25, làm Văn Khang Đại Đội F (đã mất cách đây mấy năm).Với cái bụng óc nóc, cái đầu trọc lóc (ổng hớt tóc rất ngắn), dáng người của ông coi lùn hơn là kích thước. Hồi đó lên khu Văn Hóa, phòng nào có các NiênTrưởng Khoá 25 học trước, Minh cui thường thấy hai hình vẽ. Một là hình qua khung cửa sổ có một chiếc cằm dài ló ra với vài sợi râu. Đó chính là của Niên Trưởng Phan Mộng Giao Khóa 25, ĐĐ Phó TKS/ĐĐ B Đợt 1 của tui. Một hình nữa qua một khung cửa lớn, có cái bụng ló ra với cái lổ rún lồi là chính ổng, bị mấy NT/25 vẻ trên bảng đen để chọc quê.Không biết sao ổng rất khoái tui? Đi phố sắm đồ cho Văn Khang về, có lít nếp than, chút bún mắm nêm v.v là ổng rủ tui qua phòng liền.Một lần ổng kiếm đâu một hủ mắm nêm thiệt ngon, vì biết tui dân ở biển cũng thèm mắm, nên gọi tôi qua. Dù thèm đến đâu tôi cũng không có dịp ăn. Khi đi phố cuối tuần ai cho mặc đồ SVSQ mà vô mấy quán bún mắm nêm.Tui qua liền. Tui với ổng ăn no phình bụng, đứng lên ăn tiếp tới lúc ngồi xuống để dọn không được. Còn ổng ngồi dựa


Khám Xét 181ngửa để ăn cho đã, tới lúc ngồi dậy không nổi vì kẹt cái bụng bự quá. Vậy là ổng ngồi đó, đưa chén đĩa cho tui đem qua phòng vệ sinh, xong quay về kéo ông đứng dậy rồi hai anh em đi rửa chén. Cái hay là ổng không bao giờ sai tôi làm việc gì, thường là sau khi ăn uốngổng bao thầu dọn dẹp hết.Còn chuyện Khám Xét, bắt đầu bằng một buổi tối Thứ Sáu (không có giờ tự học) như sau: Nhậu với Ngô Xuân một chặp cũng đã ngà ngà ở Câu Lạc Bộ Nhữ Văn Hải, gần tới giờ ngủ, tụi tui mới lúp xúp chạy vô, rồi chia hai đứa B thằng F, đường ai nấy đi. Tới Ngã Ba Quân Sự Vụ, vừa chạy thêm vài bước thì tựi tôi gặp ổng:- Ông Minh, đi đâu về đó?Tui đứng lại xưng danh rồi trả lời:- Đi nhậu ở CLB ngoài về.- Nhậu với ai?- Nhậu với Ngô Xuân- Uống nữa được không?Đại Đội F Khóa 28


182 Đa Hiệu 127- Được (thầm trong bụng nhằm nhò gì ba chuyện lẻ tẻ)!-Theo tui! ông nói lớn như ra lệnh.Rồi hai anh em tui chạy lên phòng ổng ở lầu ba, cách phòng tui năm - sáu căn.Tối đó nhậu sang lắm: Đồ biển, mực khô, gà luộc, đậu da cá đủ thứ với... Rượu Nếp Than, thứ này mà chịu thấm đòn rồi là gục luôn, không biết đường về. Thiệt vậy, tới một hồi cũng khuya lắm, tui tối tăm mặt mũi, gục luôn tại chỗ dưới sàn nhà, tai chỉ còn văng vẳng tiếng ngâm túy ngọa sa trường...Tới đâu sáu bảy giờ sáng, thức dậy, tui thấy mình đang nằm trên giường ổng, mền gối đàng hoàng. Chỉ có điều ôi thôi, tui cho chó ăn chè bê bết nhầy nhụa tùm lum, mùi nếp than với đồ ăn chua nồng nặc. Ổng đang nằm bên kia, sau khi đuổi ông NT Huỳnh Ngọc Hồng đi tỵ nạn đâu mất.Tui hồn vía lên mây, không biết làm sao. Sáng nay là Thứ Bảy... Khám Xét... nghĩ tới đó giựt mình. Dù sao ổng là năm thứ Tư, chắc không đến nỗi nào; còn Minhcui tui mới năm thứ nhứt....Tui liền bỏ mặc, chạy về phòng mình, lau chùi bàn ghế tủgiường, vuốt quần áo treo cho ngay ngắn, súng ống sáng trưng từ trong ra ngoài, đồ xếp phải vuông vức, giày bóng, bút nịt sáng, nệm, mền gối vuông góc, sàn nhà bóng mượt, không một đường lằn... tháo mồ hôi hột.Năm đầu nó lu bu lắm, lại kiêm thêm cái chức “chỉ huy trưởng” mấy chục con gà nuôi dưới gầm để lo cho Niên Trưởng Khóa 25 có lễ ra trường xôm tụ trong thời buổi “gạo châu cuổi quế” nữa. Vì thế nên Minhcui tui không nhớ mình cùng phòng với ai. (Nhưng lễ ra trường này mình phải ở Thượng Đức nghe pháo nổ hàng ngày trong chuyến công tác miền Trung, có được tham dự đâu.) Tôi nghe tin ổng mất trong lúc tui cũng chết đi sống lại vì bệnh và cơm không lành, canh ngọt. Tôi chỉ theo dõi tin tức


Khám Xét 183ổng qua “dự báo thời tiết”, luôn nhớ ổng từ khi ăn pháo ở Thượng Đức tới giờ.Trở lại chuyện “Khám Xét”Ba thằng tui đứng chờ ở vị trí khám xét, mắt láo liên nhìn lại “thành quả” của mình sau hơn hai tiếng chuẩn bị. Thằng thì vuốt thêm chỗ này một chút, thằng kia sửa lại đôi giày dưới gầm giường cho ngay, thằng lần lượt đưa chăn này ra sau nhượng chân kia, chà mũi giày lên xuống làm giày đang mang bóng thêm cho chắc ăn, trong lúc thằng nọ thử ra đứng ở vị trí SVSQ Cán Bộ coi lại tổng quát, nhất là cái sàn nhà có bị vằn vện không. Thôi thì đủ thứ phải lo biết kể sao cho hết.Đang lu bu thì có tiếng giày đi tới, tụi tui về lại vị trí, đứng thế nghỉ ngay ngắn.Và... Ổng chững chạc oai nghiêm bước vô phòng... Trưởng Phòng tui hô: - Nghiêm! Chào Tay! Phắc! Sau khi đứng nghiêm đón cái chào của tụi tui, ông chào lại. Ổng từ từ đi chầm chậm quanh phòng với đôi mắt cú vọ cho đúng vai (chớ tui biết ổng lúc nào cũng têu tếu trong bụng), tới trước tủ tui, ổng kéo lại chiếc găng tay cho ngay rồi liếc qua tui. Thôi chết, vậy là ổng muốn kiếm chuyện rồi.Đưa tay với găng tay trắng tinh lên đầu tủ, ổng quẹt một cái, đưa tay lên mắt ngó qua, ổng lên giọng:- Ông Minh đâu, tới đây coi.- “Mới nhậu với nhau hồi hôm đây mà, làm gì dữ vậy NT.” Tui lầm bầm trong bụng.Nhưng cũng thót bụng lo, bước tới gần trước mặt ổng, xưng danh “Xin trình diện,” Ổng đi kè kè chậm rãi quanh tui, vai nghiêng nghiêng, mắt liếc liếc, thứ như con gà đá kè địch thủ. Tui nhủ thầm: - “Thôi! Chuyến này tiêu rồi.”


184 Đa Hiệu 127Sau khoảng một vòng, ổng nói nhỏ nhưng giọng gằn gằn của Cán Bộ: - “Tui nói thiệt với ông, ngheng ông. Tui ở đây bốn năm rồi. Đây là lần đầu tiên năm thứ Tư mà phải đi dọn đồ ói cho năm thứ Nhứt đó. ngheng ông.”Nói rồi, ổng lên giọng:- Về chỗ.Tui thở ra một cái phì nhẹ nhõm.- Mấy ông giữ phỏng ốc cho đàng hoàng nghe chưa, nhứt là ông Minh đó.Nói xong, ổng về vị trí giữa phòng, đón cái chào tay nghiêm chỉnh của ba thằng tui, chào lại, rồi quay 180° đúng cơ bản thao diễn, đi bẻ góc ra khỏi phòng, khác với đáng đi têu tếu của ông hàng ngày.Trong buổi nhậu kế tiếp, ổng kể cho tui nghe những xoay xở khổ cực của ông trong ngày khám xét đó, vì phòng SVSQ năm thứ tư là do chính Sĩ Quan Cán Bộ Đại Đội Trưởng đi khám xét.Khám Xét mỗi Thứ Bảy là một trong những diễn tiến huấn luyện diễn ra hàng tuần để duy trì kỷ luật và vệ sinh phòng ốc trong suốt gần bốn năm ở Trường Mẹ, nhưng sao tui cứ nhớ hoài buổi Khám Xét này.Chuyện anh em tui nó vậy, kể cho mọi người nghe mà nước mắt lưng tròng. Nhớ ổng quá!Minhcui/28


Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm 185Lễ Tưởng Niệm 60 năm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm Tại Thủ Đô Hoa Thịnh ĐốnĐổ Anh Tú, K1/2Vào ngày thứ Bảy 4 tháng 11 năm 2023 lúc 3 giờ chiều, Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận đã tổ chức Lễ Tưởng Niệm 60 năm của CốTổng Thống Ngô Đình Diệm tại Annandale, Virginia.Hàng năm các hội đoàn thân hữu của cộng đồng người Mỹ gốc Việt vẫn thường tổ chức lể Tưởng Niệm cố TT Ngô Đình


186 Đa Hiệu 127Diệm tại những nhà thờ nhỏ trong vùng. Đặc biệt năm nay là lần đầu tiên Đoàn TTNĐH vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận đã nhận lãnh trách nhiệm dịp tổ chức buổi lễ tưởng niệm rất thành kính và trang trọng, để tri ân một vị cố Tổng Thống đức độ, yêu nước, thương dân và tài giỏi, là người đã sáng lập nên nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam.Xin ghi nhận công lao đóng góp lớn lao của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm về sự phồn thịnh của thời Đệ Nhất Cộng Hòa từ năm 1955 cho đến năm 1963. Tưởng niệm lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ quyền tự do, tự quyết và tinh thần chống cộng bất diệt của cố Tổng Thống.Tham dự chương trình có sự tham gia đông đảo của các các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, những người đã từng sống dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà ở Việt Nam. Đặc biệt có sự tham dự của đại diện năm khoá Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam:CSVSQ Nguyễn Đức Thu & Phu nhân, Khóa 16.CSVSQ Nguyễn Văn Lân & Phu nhân, Khóa 17.CSVSQ Lại Đình Đán & Phu nhân, Khóa 18.CSVSQ Tôn Thất Ban & Phu nhân, Khóa 19.CSVSQ Nhẫn Võ, Khóa 20.Trưởng Ban Tổ Chức và MC của buổi lễ là Đỗ Anh Tú K1/2, Đoàn Trưởng TTNĐH vùng Hoa Thịnh Đốn và PhụCận.Chương trình bao gồm những phát biểu của các đại diện hội đoàn quân đội VNCH tại nơi đây, bao gồm: Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Cộng Đồng Việt Nam, Hội Trưởng Hội Cao Niên, Hội Trưởng Hội Phụ Nữ VNCH, CSVSQ TVBQGVN Khóa 16 Nguyễn Đức Thu, CSVSQ TVBQGVN Khóa 17 Nguyễn Văn Lân, Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu K10/2 Võ Tài, một người Mỹ trẻ Trevor Benson và người cháu gọi cố Tổng Thống bằng cậu là ông Nguyễn Văn Thành.


Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm 187Lễ Tưởng Niệm chấm dứt vào khoảng năm giờ chiều sau khi quan khách lần lượt tới trước bàn thờ thấp nhang cầu nguyện cho linh hồn cố Tổng Thống.Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đã đặt viên đá đầu tiên vào ngày 5 tháng 6 năm 1960 xây dựng cơ sở huấn luyện khang trang mới của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, tọa lạc tại Đồi 1515, gần hồ Than Thở, khoảng 5 km phiáBắc trung tâm thị xã Đà Lạt. (Địa điểm Trường Võ Bị Liên Quân cũ nằm tại Khu Chi Lăng cách đây khoản 2km.)NÓI VỀ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM1. Đón nhận, phân bố và ổn định 1 triệu người Bắc di cư vào Nam.2. Thực hiện Cải Cách Điền Địa, mua ruộng của các điền chủ để phân phối cho nông dân.3. Giáo dục, y tế miễn phí, khuyến khích giúp con em được ăn học đầy đủ.4. Tái thiết đường sắt xe lửa từ Đông Hà vào Sài Gòn năm 1959.5. Cho xây dựng Đại Học Huế. Ngoài ra Tổng Thống Diệm đã phải dùng khoảng sáu triệu đồng tiền lời xổ số tám kỳ liên tiếp để thành lập Đại Học Y Khoa Huế.Đoàn TTNĐH HTĐ và PC. (Đứng giữa là chị Đỗ Anh Tú, Đoàn Trưởng.)


188 Đa Hiệu 1276. Ra lệnh bán đất xây chùa Vĩnh Nghiêm với giá một đồng. Ngoài ra ông còn giúp trùng tu một số chùa như Từ Đàm, Diệu Đế, và một số chùa ở các tỉnh.7. Khai thông xa lộ Biên Hòa và tái thiết Quốc Lộ 19 nối liền duyên hải Miền Trung và Cao nguyên Trung phần.8. Giảm quyền lợi và ảnh hưởng của người Hoa, giúp người Việt có vai trò mạnh hơn, nhất là về lãnh vực thương mại.9. Chính thức phát hành tiền tệ riêng, một biểu tượng của quốc gia độc lập. Giá trị đồng tiền Việt Nam Cộng hòa sau đógắn liền với đồng Mỹ kim với tỷ giá chính thức 35:1, tức làmột dollar Mỹ có giá trị tương đượng với 35 đồng Việt Nam.10. Thành lập các khu kỹ nghệ Thủ Đức, An Hòa, Nông Sơn, nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy thủy điện Đa Nhim, nhà máy sản xuất vải sợi Vinatexco Đà Nẵng, Vimytex Sài Gòn, Nhà máy thủy tinh, mỏ than Nông Sơn...11. Lập nhiều cô nhi viện, yểm trợ các trại cùi, các trung tâm y tế công cộng, các trung tâm sinh hoạt và giáo dục người tật nguyền.12. Lập các quán cơm xã hội giúp cho người lao động vàhọc sinh có chỗ ăn uống vừa túi tiền.13. Đưa Việt Nam tiến lên tầm cao mới (Việt Nam được 80 quốc gia trên thế giới công nhận, là Hội Viên Quỹ Tiền TệQuốc Tế...).14. Đề ra một số đạo luật khá đặc biệt, trong đó đáng ghi nhận nhất là Luật Bảo vệ Gia đình và Luật Bảo vệ Luân lý.(Sưu Tầm.)Những thế hệ 2 và 3 xin tiếp nối Tinh thần Ngô Đình Diệm cho xứng đáng với công đức hy sinh và nguyện vọng của Cố Tổng Thống đấu tranh cho một Việt Nam không Cộng Sản.


Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm 189Một ảnh kỷ niệm sau buổi lễ.Từ trái, các Niên Trưởng Võ Nhẫn - K20, Nguyễn Văn Lân & Phu Nhân - K 17, Lại Đình Đán & phu nhân - K18.


190 Đa Hiệu 127BÀI TÌNH CA NGÀY ĐÓVI VÂN, K20/1Cứ mỗi lần nghe một ca sĩ hay một người nào đó hát bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” là lòng tôi trĩu nặng u buồn, đớn đau, nuối tiếc cho một cuộc tình sớm vội bay xa:“Tôi đưa em sang sôngChiều xưa mưa rơi âm thầmSợ bến đất lấm gót chânSợ bến gió buốt trái tim…”*Đó là bài hát mà Phương thường ôm đàn hát cho tôi nghe vào những ngày hai đứa còn yêu nhau tha thiết.Kỷ niệm ngày xưa tưởng đã ngủ yên trong tiềm thức, tưởng đã phôi phai theo dòng đời trôi nổi, tưởng đã xa xôi như đôi bờ đại dương ngăn cách, giờ đây lại cuồn cuộn trở về. Những nhớ thương mà tôi vẫn còn mãi trăn trở trong hồn không bao giờ xóa mờ được lại một lần nữa hiện ra.* * *Gia đình tôi thuở đó sống ở đường Trần Tấn Phát, một con đường ngắn nằm giữa hai đường Duy Tân và Hai Bà Trưng, gần Tân Định.Từ nhà tôi có thể dùng con đường tắt đi qua đường Duy Tân, nhà Phương ở đó. Phương là bạn của chị Thu Hương của tôi, chỉ là bạn cùng


Bài Tình Ca Ngày Đó 191lớp thôi vì hai người tánh tình khác hẳn nhau. Chị Hương hoạt bát, thích nhộn nhịp còn Phương thì trầm lặng, đăm chiêu, có nụ cười ưu tư xa vắng với khuôn mặt hiền lành dễ mến.Một hôm chị tôi mở “bal” tại nhà. Bạn bè tới rất đông, nên rất vui nhộn.Tiếng cười nói, tiếng nhạc ầm ỹ làm tôi nhức đầu khó chịu. Vì thế, tôi bỏ đi lên lầu. Đứng ngoài balcon, tôi nhìn lên bầu trời. Vầng trăng hạ tuần nhạt nhòa yếu ớt như e thẹn vì không đủ sức chống chọi lại với ánh đèn điện sáng choang dưới mặt đường.Tôi buột miệng:- Thật tội nghiệp cho vầng trăng kia.- Em tội nghiệp cho ai vậy, Thảo?Tôi giật mình quay lại xem ai vừa hỏi, thì bắt gặp ánh mắt dịu dàng và nụ cười thân ái của Phương.Tôi bẽn lẽn nói:- Em nói bâng quơ vậy thôi. Sao anh không ở dưới chơi cho vui?- Anh đến đây vì chiều ý bạn bè chớ anh không thích hợp với không khí đó. Anh biết em cũng vậy khi nhìn thấy em bỏ đi lên lầu. Thảo à, anh thấy em hay u buồn, lặng lẽ, hình như em có tâm sự gì phải không?- Dạ không, em có tâm sự gì đâu. Em chỉ thấy mình có chút suy tư trong cuộc sống, chút bi quan về tương lai vậy thôi.Phương nhìn tôi rồi lắc đầu:- Không nên như thế đâu em. Em còn nhỏ, chỉ nên lo học hành, vui vẻ yêu đời, nhìn về tương lai bằng đôi mắt lạc quan. Em suy tư sầu muộn như vậy sẽ ảnh hưởng không tốt cho cuộc đời em sau này. Em có tin điều đó không?- Em không tin điều đó. Em nghĩ rằng con người ai sinh ra cũng đã có số mạng sẵn rồi. Việc vui vẻ hay ưu tư gì cũng không thay đổi được đâu anh. Ngước nhìn vầng trăng cuối thu bàng bạc, nhạt nhòa cuối trời rồi nói:


192 Đa Hiệu 127- Có lẽ em thích hợp với vầng trăng kia, Thảo ạ. Phải chi ba tên em là Thu Nguyệt thì hay hơn là Thu Thảo, cỏ mùa thu.Tôi vội cải chính:- Không phải, là cỏ úa mùa thu. Như vậy nghe lãng mạn hơn phải không anh?Phương bật cười lớn, tôi thấy lòng cũng vui theo.Sau buổi tối đó tôi cảm thấy Phương và tôi rất hợp ý nhau, chúng tôi trở lên thân thiết hơn. Phương thường đến nhà tôi hơn, không phải vì chị Hương mà vì tôi. Anh tỏ ra quan tâm, chăm sóc và lo lắng cho tôi đủ điều. Có khi Phương ở lại rất lâu giúp tôi giải một bài toán, hay dịch giùm một bài Pháp văn.Những ngày cuối tuần anh đến xin phép mẹ chở tôi đi lễ nhà thờ. Thay vì nhà thờ Tân Định gần nhà, anh đưa tôi đến thờ Đức Bà. Sau lễ chúng tôi ăn kem ở Lan Phương, Givral... Có khi ra bến Bạch Đằng xem cảnh sinh hoạt trên sông nước, nhìn những chuyến tàu Hải Quân sắp sửa rời bến với những chàng thủy thủ oai hùng đang chuẩn bị cho một chuyến hải hành dài để bảo vệ non sông, tổ quốc. Cũng có khi anh đưa tôi đi xem phim ở Rex, ở Eden hay Đại Nam....Dần dần chúng tôi cảm thấy không thể thiếu nhau, không thể xa nhau được. Cứ thế tình yêu êm ái lẻn vào đời đôi đứa, nhẹ nhàng nhưng rất đậm đà, tha thiết.Phương mồ côi cha mẹ, sống với người cô ruột không có con cái trên đường Duy Tân, trong ngôi nhà rất rộng và vắng vẻ. Cô của anh suốt ngày cứ lẩn quẩn trong phòng đọc kinh, đọc sách môt mình, vì chồng cô thường đi công tác xa. Cuộc sống của Phương thật cô đơn, lặng lẽ. Ngoài giờ học, anh chỉ biết ôm đàn hát, như gởi gấm tâm tư vào những lời ca buồn mênh mông, xa vắng.Có những buổi trưa, tôi sang nhà Phương. Hai đứa thường dắt nhau đi lang thang dưới bóng mát của những hàng cây; hoặc ngồi nghe anh hát với giọng trầm ấm, ngọt ngào làm tâm hồn tôi bâng khuâng xao xuyến. Đôi khi, tôi muốn khóc vì lời hát của những bài tình ca dang dở:


Bài Tình Ca Ngày Đó 193“…Em còn nhớ anh nói rằng khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh.Em ơi có hoa nào không tàn, có màu nào không phai như màu xanh ái ân?Ta quen nhau mùa Thu,ta thương nhau mùa Đông, ta yêu nhau mùa Xuân để rồi tình tàn theo mùa Xuân. Người về lặng lẽ sao đành…”**Tâm hồn tôi có đôi chút lãng mạng, thích nhạc buồn, thích màu tím cô đơn, sầu mộng. Phương đã mua tặng tôi một chiếc áo dài màu tím, Mỗi lần đi chơi tôi đều mặc chiếc áo ấy làm anh vui sướng vô cùng.Thời gian lặng lẽ trôi, chúng tôi đã sống qua những ngày tháng thơ mộng, đầy ắp kỷ niệm êm đềm của yêu đương.Mùa Hè năm ấy, khi tôi sắp sửa thi Tú Tài 2 thì Phương phải lên đường nhập ngũ. Đêm tiễn đưa buồn não nuột, khi cuộc chiến diễn ra dai dẳng chưa biết bao giờ mới kết thúc. Từng lớp trai nối tiếp nhau lên đường. Phương cũng như bao nhiêu người trai khác, theo tiếng gọi núi sông. Đêm cuối cùng, chúng tôi đến phòng trà International để nghe Việt Ấn hát. Chàng ca sĩ có gương mặt đen đen, không đẹp trai nhưng giọng hát thật tuyệt vời. Một sự trùng hợp đáng nhớ vì đêm ấy Việt Ấn lại ca đúng bài“ruột” của Phương, “Tôi Đưa Em Sang Sông”.Nhắm mắt, chỉ để hồn mình chìm đắm mênh mông trong giọng hát nồng ấm trữ tình, của Việt Ấn hay của Phương, tôi nghe rất mơ hồ.“Hôm nao em sang ngangBằng xe hoa hay con thuyền?Giờ phút cuối đến tiễn emNhìn xác pháo vướng gót chânGót chân ngày xa xưaSợ lấm trong bùn khi mưaNàng đã thay một lối về


194 Đa Hiệu 127Quên cả người trong gió mưa.”Hồn tôi bay cao theo từng âm thanh, từng nốt nhạc. Chợt có một bàn tay nhè nhẹ đặt lên tóc tôi. Mở mắt ra, tôi thấy Phương đang nhìn tôi, gương mặt anh đầy xúc động. Tôi thấy một chút long lanh trong đôi mắt ấy.Phương đúng dậy lấy áo khoác lên tôi và nói:- Thôi mình về đi em, khuya lắm rồi. Mai em còn đi học và anh chuẩn bị hành trang để lên đường.Tôi ngoan ngoãn đứng lên theo Phương. Hai đứa im lặng đi bên nhau, trong gió đêm thổi về làm lạnh giá hai tâm hồn trước giờ ly biệt.Ngàn câu muốn nói nhưng chẳng thành lời, tà áo tôi bay quấn lấy chân anh, như tình chúng tôi muôn đời còn lưu luyến bên nhau.Phương đi rồi tôi trở lại với sinh hoạt của mình. Tôi cố miệt mài trong sách vở để lấy cho được mảnh bằng Tú Tài 2. Phương thường nói với tôi:“Em phải cố gắng học, phải có nghề nghiệp vững chắc để sau này còn nuôi con, vì tình hình đất nước thế này chắc anh sẽ phải vào lính. Nếu anh có mệnh hệ nào em có thể tự lo cho con.”Ôi thật là đớn đau, lời nói của anh như xé nát tim tôi. Chúng ta sinh ra trong thời khói lửa, tội nghiệp biết bao nhiêu!Rồi ngày đó cũng đến. Tôi đậu được Tú Tài 2,Phương cũng mãn khóa ở Trường Bộ Binh Thủ Đức và được về phục vụ cho binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Phương nói hậu cứ đóng quân của anh rất gần Sài Gòn, có dịp sẽ về thăm tôi.Bây tôi đã là sinh viên Đại Học nên thì giờ thong thả hơn. Mỗi tuần tôi viết cho Phương một lá thư dài nặng niềm thương nhớ. Còn thư anh thì trái lại, rất ngắn, rất vội vã như chẳng có thì giờ để viết. Có khi anh nói đang hành quân ở tận miền Trung xa xôi nhiều nắng gió, hay miền Tây sình lầy đầy đỉa vắt, hoặc đang dừng quân ở một thôn trang hiu quạnh, một


Bài Tình Ca Ngày Đó 195vùng núi rừng cheo leo nào đó. Ôi thương làm sao! Đời lính gian khổ, nguy hiểm không cùng, nhưng đẹp như một bài thơ. Trải qua những tháng năm dài đằng đẵng như thế, tôi cứ vọng tưởng trời xa để nhớ, để thương, để chờ, để đợi, và xót xa cho cuộc tình đôi lứa.Để cho chúng tôi được “danh chánh ngôn thuận” hơn, mẹ tôi và cô của Phương quyết định tổ chức lễ đính hôn cho chúng tôi. Lần đó Phương về phép. Lễ đính hôn của chúng tôi diễn ra trong không khí gia đình, rất đơn giản. Nhìn Phương trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến rằn ri, màu xanh lá rừng tôi thấy anh thay đổi rất nhiều. Một sinh viên hiền lành ngày nào bây giờ đã chững chạc, đứng đắn, phong trần, mang nét kiêu hùng của người trai thế hệ.Tôi nhìn Phương:- Anh mãi là của em chứ?- Từ lâu, bây giờ và mãi về sau... đừng nghĩ vẩn vơ nữa cô bé.Phương vòng tay ôm vai tôi, giọng trầm xuống:- Em biết không, có những đêm nơi tuyến đầu nhìn vầng trăng khuya anh nhớ em tha thiết, nhớ em đến tan nát cả lòng. Anh ước gì được bay về bên em, ôm em trong vòng tay để nghe em kể lể bao nỗi nhớ niềm thương…Tôi nghẹn ngào xúc động gục đầu vào vai Phương. Hạnh phúc nầy mãi muôn đời sau tôi cũng không tìm thấy được nữa. Phương ở nhà được một tuần rồi lại trở về đơn vị tiếp tục đời sương gió.Thế là tôi bắt đầu cuộc đời chinh phụ. Đêm đêm nhìn những ánh hỏa châu lập lòe trên bầu trời ngoài ven đô, nghe tiếng súng vọng về từ xa xa mà nhớ thương ngưòi ngoài chân mây, đầu gió.Mỗi chiều Chúa Nhật đi lễ tôi cầu nguyện cho Phương được bình yên nơi trận tuyến, cầu xin Chúa thương xót chúng tôi, thương xót cho những cuộc tình xa xôi vì chinh chiến. Mỗi đêm nghe chương trình Dạ Lan, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh ngoài tiền tuyến, mà tôi cảm thấy như


196 Đa Hiệu 127chính mình đang gởi tâm sự đến người mình yêu thương.Tôi cũng thường lui tới thăm cô của Phương và tâm sự với cô, những lúc buồn nhớ anh. Gần hai tháng rồi cả cô và tôi không nhận được tin tức gì của anh. Một già một trẻ rất lo lắng, hoang mang, hồi hộp.Một ngày kia cuồng phong bão tố từ đâu ập đến khi tôi nhận được tin Phương đã đền xong nợ nước..Chiều hôm ấy sau khi tôi đi học về, mẹ tôi với vẻ mặt khác thường nhìn tôi. Mẹ bảo:- Con ăn cơm đi, ráng ăn để có sức khỏe mà lo… học hành cho tốt.Tôi linh cảm như có điều gì đó mà mẹ cố ý giấu tôi:- Có chuyện gì sao mẹ? Hình như sắc mặt mẹ không bình thường.Mẹ tôi nắm tay tôi ngập ngừng và thấp giọng:- Con bình tĩnh nghe mẹ nói đây, dù sao cũng phải cho con biết.Nghe mẹ nói th,ế tôi càng nôn nóng:- Mẹ cứ nói đi. Sao cứ rào trước đoán sau vậy?Mẹ tôi nói thật nhanh như sợ không còn can đảm để nói lên sự thật:- Phương đã tử trận rồi.Nghe xong mắt tôi tối sầm lại, tai tôi ù đi. Tôi thấy đất dưới chân mình sụp xuống, không thể nào nhấc lên được. Chân tôi như bị đóng cứng xuống mặt đất. Tim tôi như bị đâm thủng một nhát quá đau, quá sâu, khiến toàn thân tôi như chết lịm. Tôi chỉ biết kêu hai tiếng “trời ơi” rồi mềm nhũn trên cánh tay mẹ. Qua phút giây cực kỳ đau đớn đó tôi nghe mẹ kể:- Sáng nay, đơn vị của Phương báo cho cô biết là Phương đã hy sinh ngoài chiến trường và bảo người nhà lên nhà quànở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhận xác. Cô ấy đã lên tận


Bài Tình Ca Ngày Đó 197nơi đó xin được mang xác Phương về an táng gần gia đình. Để mẹ đưa con sang nhà cô và tiếp lo tang lễ cho Phương vì con đã là hôn thê của nó rồi.Lòng tôi xót xa và nôn nóng như có lửa đốt. Tôi thẫn thờ đi theo mẹ sang nhà Phương. Đến nơi tôi không biết đến ai nữa. Tôi chạy vọt vào phòng khách nơi để chiếc quan tài có phủ lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Chiếc quan tài ôm ấp xác thân người tôi thương mến. Tôi chạy quá nhanh nên vấp té, đầu tôi va chạm vào cây cột giữa nhà nên đau đớn và ngất đi.Trong cơn mê, tôi thấy Phương nắm tay tôi đi thênh thang trên vùng trời đầy mây trắng. Phương mỉm cười hạnh phúc, tôi cũng mỉm cười. Chúng tôi như đôi Tiên Đồng Ngọc nữ bên nhau chẳng sợ có ngày xa cách. Tôi cứ miên man trong giấc mộng thần tiên đó…Mãi đến khi tôi nghe nhiều tiếng ồn ào và tiếng kêu khóc của một người:- Trời ơi! Phương ơi! Con không thể chết như vậy, con không thể bỏ cô một mình.Tôi mở mắt ra nhìn thấy cô Phương đang ôm mặt khóc, còn mẹ đứng bên giường nhìn tôi thương hại. Mẹ vuốt tóc tôi và nói:- Con khỏe rồi hả? Ráng bình tĩnh nghe con.Tôi vội bước xuống giường, chạy ra phòng khách nơi đặt chiếc quan tài. Tôi quỳ xuống đó, quỳ mãi. Không biết bao lâu, không một giọt nước mắt nào rơi xuống. Tôi nhìn trân trối vào chiếc quan tài như ngây như dại. Trời ơi, sự thật có thể tàn nhẫn và phũ phàng với tôi như thế này sao? Phương đã nằm xuống vĩnh viễn, muôn đời, ngàn thu không bao giờ trở dậy. Tôi thấy mình tê dại, ngu ngơ vì nỗi đau đớn tột cùng đang tàn phá óc, tim tôi.Tang lễ Phương có đông đảo bạn bè tham dự. Ai cũng bùi ngùi, xót xa, thương cảm cho một người bạn bao năm thân thiết, cho một ngưòi trai trẻ đã vội buông rời mộng ước của tuổi đôi mươi, bỏ lại người tình với bao nhiêu đắng cay, đổ vỡ.Phương được an nghỉ nơi nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Cô


198 Đa Hiệu 127anh đã mua sẵn ba mộ huyệt cho gia đình (vợ chồng cô và Phương), nhưng không ngờ người trẻ nhất lại nằm xuống trước nhất.Bây giờ tôi lại bước vào đời quả phụ. Chưa làm vợ đã làm quả phụ, thật bi đát tang thương làm sao!“…Chiều có buồn đâu sao chiều ủ rủ?Mây có buồn đâu sao mây trãi khăn tang?Trời vào thu, trời khóc thương chàng!Tôi mười chín, tôi vào đời quả phụ!”Những ngày Chúa Nhật tôi đến nghĩa trang thăm Phương với những bó hoa màu tím. Màu tím là màu của tình yêu mộng mơ, hay màu của dở dang? Nhưng dù thế nào tôi vẫn yêu nó, vẫn gắn chặt và gần gũi nó như bạn tri âm.Tôi ngồi hàng giờ bên mộ Phương, tâm sự với anh, kể về những kỷ niệm thân ái ngày nào. Tôi như còn nghe đâu đây hơi thở của anh, những lời nói yêu thương tha thiết. Tôi như còn nhìn thấy nụ cười và gương mặt đa tình, say đắm lòng người của Phương.Vậy mà tất cả đã xa rồi, đã nằm sâu dưới lòng đất kia. Người con trai ấy đã mang đi tất cả mộng ước của đời tôi, đã mang đi tất cả tình yêu nồng thắm của tôi vào thiên cổ. Rồi thi thể anh sẽ thành cát bụi, sẽ biến vào hư ảo, sẽ xa rời vĩnh viễn vào cõi miên trường. Nhưng tình yêu mình có thể tan biến được, không anh?Tôi lau chùi bụi bặm bám trên ngôi mộ. Nghĩa trang về chiều tiêu điều hiu hắt. Đâu đây một con chim lẻ bạn vỗ cánh bay ngang buông tiếng kêu buồn não nuột. Tôi rùng mình có cảm giác như linh hồn ai đó đang buông tiếng lòng xót xa, ai oán. Ôi những chiều xưa ta tha thiết bên nhau, sao chiều nay em bơ vơ cô lẻ giữa chốn này.Tôi đặt tay lên mộ bia, nhìn di ảnh Phương, bao nhớ thương tràn ngập đổ về. Tôi chợt nhớ tới bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết cho người sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, cho Cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương đã nằm xuống, cũng giống như tâm trạng của tôi lúc nầy:


Bài Tình Ca Ngày Đó 199Anh nằm xuống như một lần vào viễn du, đứa conxưa đã tìm về nhà…Rồi nằm xuống không bạn bè, không có ai. Khôngcó ai từng ngày, không có ai đời đời ru anh ngủ. Mùamưa tới trong nghĩa trang nầy có loài chim thôi.Bạn bè còn đó anh biết chăng anh? Người tìnhcòn đây anh nhớ không anh? Bạn bè rồi xa, ngườitình rồi quên…Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóngThiên Đường cuối trời thênh thang…***Bạn bè rồi sẽ xa anh nhưng tôi sẽ không bao giờ quên anh, không bao giờ quên được cuộc tình đầu đời đầy nước mắt này.Tôi thẫn thờ lê bước rời nghĩa trang, đón một chiếc xe đi đến nhà thờ Đức Bà. Quỳ trong Vương Cung Thánh Đường, thánh lễ chiều đông nghẹt người mà sao tôi cảm thấy quá cô đơn. Tôi chắp tay cầu nguyện:- Lạy Chúa, xin cứu giúp con, cứu giúp một tâm hồn đang đớn đau, oằn oại đang tan tác rã rời. Xin cho con đủ can đảm và nghị lực để vượt qua giai đoạn này. Chúa ơi! Chúa ơi!Nước mắt tôi tràn ngập bờ mi, tâm tư tôi tràn đầy uất nghẹn.Tan lễ, tôi lang thang một mình trên những con đường ngày xưa đầy kỷ niệm. Tôi cứ đi, đi mãi. Chân tôi tê buốt, đau nhức. Tôi không biết là mình đã đi qua mấy con đường rồi. Tôi nhớ mình đã đi qua rạp hát, quán kem, quán nước… nhưng tôi không còn thích ăn kem hay xem phim nữa, khi bước chân tôi cô độc, nặng nề gõ nhịp trên hè phố. Một mãnh lực nào dẫn dắt tôi đi đến và dừng lại trước phòng trà International. Không ngần ngại, tôi bước vào, dù chỉ có một mình.Phòng trà chưa đông lắm. Thấy cái bàn ở góc kia là nơi ngày xưa tôi và Phương từng ngồi còn trống, tôi bước tới và ngồi chờ đợi.Sau khi kêu nước uống tôi viết một mảnh giấy yêu cầu ca sĩ Việt Ấn hát bài “Tôi Đưa Em Sang Sông”. Tôi phải chờ khá lâu mới thấy người ta giới thiệu tới bài đó.


Click to View FlipBook Version