200 Đa Hiệu 127Tôi ngồi im lặng, nhắm mắt lại khi người ca sĩ cất tiếng hát. Giọng ca trầm buồn, nồng nàn như giọng của Phương ngày nào bên tôi, tôi nghĩ đó là lời anh hát chứ không phải ca sĩ hát.Tôi thấy lòng mình chùng xuống, mơ hồ, nửa hư nửa thực. Có phải anh đã về cùng tôi trong đêm nay? Tôi đang đưa hồn mình vào cơn mê bồng bềnh, lênh đênh trong cung đàn xa vắng!Một giọt nước rơi xuống bàn tay tôi, tôi biết là mình đang khóc. Tôi đã trở về thực tế, nhưng tôi không mở mắt ra, mà vẫn giữ nguyên tư thế đó rất lâu, rất lâu. Mãi đến khi tôi cảm thấy như có hơi thở nhẹ nào đó rất gần, tôi mở mắt ra và bắt gặp khuôn mặt một thanh niên khá tao nhã, lịch sự.Anh ta nhỏ nhẹ nói:- Thưa cô, tôi có thể mời cô một ly nước được không?Tôi lấy khăn lau nước mắt và lắc đầu:- Cám ơn anh, nhưng tôi phải về nhà vì trễ rồi. Mẹ tôi đang mong.Tôi rời phòng trà khi thành phố Sài Gòn đang rộn rịp với sinh hoạt về đêm. Gió từ bờ sông thổi vào làm tôi se lạnh, nhưng không bằng sự băng giá giữa tim tôi. Từng cặp tình nhân dìu nhau qua trước mắt, khiến tôi càng nhớ Phương da diết. Giờ này linh hồn anh đang lang thang ở một cõi mịt mù, mông lung nào đó. Có hiểu, có biết cho em không hở Phương? Anh đã lỗi hẹn, anh tệ lắm đó. Anh hứa không bao giờ làm em buồn, làm em khóc, vậy mà anh đã quên hết rồi.Bước chân tôi đã đi xa phòng trà mà bên tai như còn văng vẳng những lời ca nhức buốt con tim:“Nếu tôi đừng đưa emThì chắc đôi mình không quenĐừng bước chung một lối vềCó đâu chiều nay tôi buồn.”Phải rồi, nếu ngày ấy anh đừng đưa em đi, về mỗi chiều Chúa Nhật, nếu ta đừng quen nhau, nếu ta đừng yêu nhau thì giờ đây em đâu buồn, đâu đớn đau cho cuộc ly tan này.
Bài Tình Ca Ngày Đó 201Đêm Sài Gòn vẫn tưng bừng, quyến rũ, tràn ngập tiếng cười, niềm vui. Ai biết đâu có một người con gái đang lạc lõng, đang chơi vơi, đang chìm đắm trong nỗi buồn thiên thu, vạn kỷ.*Tôi Đưa Em Sang Sông – Y Vũ.** Tà áo xanh – Đoàn Chuẩn- Từ Linh.***Anh Nằm Xuống – Trịnh Công Sơn.
202 Đa Hiệu 127Khe Sanh - Điện Biên Phủ Thứ Hai, Trong Chiến Tranh Việt Nam?Mường Giang(Bài viết, được trích đăng, do Niên Trưởng Hoàng Phổ, Khóa 17 giói thiệu.)Từ đầu năm 1966, qua sự chấp thuận của Đại Sứ Mỹ tại Lào là William Sullivan nên Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (SOG) đã có thể sử dụng trực thăngđể thả hay bốc các toát viễn thám, hoạt động dọc theo biên giới Lào-Việt. Các toán này có quân số trên 20 toán và vài đại đội xung kích của các sắc tộc thiểu số tại Cao Nguyên Trung Phần.Căn cứ Khe Sanh nằm cách biên giới Lào Việt chừng 14 cây số về hướng cực Tây của Quận Hưng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ này tọa lạc trên một vị trí cao thuộc ngọn Đông Tre, hung dũng nhất trong vùng. Nơi đây có phụ lưu của sông Thạch Hãn là Rau Quan chảy qua. Địa thế của căn cứ gấn như nằm trong một lòng chảo, với đồi núi bao quanh, đầy cây cối và tre nứa. Về phía Bắc có các Đồi 861. Phía Tây có các Đồi 881 Bắc và 881 Nam, kiểm soát các trục lộ quan trọng tới sân bay và căn cứ Khe Sanh.Đây là nơi giao tranh đẫm máu giữa quân đội Mỹ trú đóng và Cộng Sản Bắc Việt. Với quân số khoảng 6000 TQLC Hoa Kỳ, căn cứ này được các đơn vị Pháo Binh từ hướng Tây Bắc
Khe Sanh - Điện Biên Phủ Thứ Hai... 203yểm trợ. Một doanh trại của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ nằm về mặt Tây Nam làng Vei, trên Quốc Lộ 9, kế trại tù nổi tiếng Lao Bảo sát biên giới Lào.Tóm lại, căn cứ Khe Sanh được coi như một bàn đạp để Bộ Binh và Pháo Binh quân đội Hoa Kỳ đánh phá, ngăn chặn trực tiếp vào trục tiến quân của Cộng Sản Bắc Việt trên đừng mòn HCM. Ngoài ra, nơi đây còn là một cứ điểm quân sự chiến lược nhằm ngăn chặn Việt Cộng tổ chức tấn công ttại Quảng Trị và Huế Thừa Thiên trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 của chúng. Trước tình thấy nguy ngập trên, Tướng Westmoreland, Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh và Hoa Kỳ - đang tham chiến tại Việt Nam - đã quyết định phải giữ Khe Sanh bằng mọi giá, dù biết ưu thế đang thuộc về phía của địch quân. Chưa kể điạ thế của căn cứ này vô cùng bất lợi về phương diện phòng thủ, vì bị đặt lọt thỏm giữa một thung lũng bao quanh là các ngọn đồi cao gần như che hết khi quan sát từ bên trong. Bất lợi của căn cứ này cũng chẳng khác căn cứ Điện Biên Phủ bao nhiêu. Ngoài ra Cộng Sản Bắc Việt còn đào được hai hệ thống giao thông hào ở phía Bắc khu phi quân sự và bên kia biên giới Lào, nơi đây địch đã thiết lập các dàn địa pháo, mà khoảng cách chỉ có 14 km. Với lợi thế về mặt chiến thuật, địch có thể tấn công căn cứ này ngày đêm.Vào những tháng đầu năm 1967, quân số thường xuyên trấn giữ căn cứ chừng một đại đội thuộc Trung Đoàn 9 TQLC, thay phiên nhau hoán đổi. Bên cạnh đó còn có một pháo đội cơ hữu của Tiểu Đoàn 212 với hai khẩu đại bác 155 ly và hai khẩu súng cối 4.2 yểm trợ.Tư Lệnh Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ quyết định tăng cường thêm cho căn cứ này Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Mỹ và Tiểu Đoàn 37 BĐQ/ VNCH và một đại đội của Tiểu Đoàn 21 BĐQ vào ngày 27 tháng Giêng năm 1968. Vừa mới tham dự trận Thạch Trụ - Quảng Ngãi chưa được
204 Đa Hiệu 127về hậu cứ, các quân nhân của Tiểu Đoàn 37 BĐQ chưa được về hậu cứ để dưỡng quân, thay đổi quân trang, cũng như lĩnh lương thì có lệnh của Liên Đoàn 1 BĐQ tăng phái cho TQLC Hoa Kỳ tại Khe Sanh.Không ai biết chỉ huy trưởng căn cứ lúc đó là Đại Tá David Edward Lowndsđã nghĩ gì? Ông có tin tưởng vào sức chiến đấu của Quân Đội VNCH hay không? Hay ông muốn thử về sức chiến đấu can trường và dũng mãnh dũng mãnh của hai con cọp khét tiếng miền địa đầu giới tuyến, như lời đồn đoán? Chỉ biết một điều là ông đã đã cắt đặt tuyến đóng quân phòng thủ cho BĐQ dài 1500 m, nằm ngoài vòng đai căn cứ về phía Đông, cuối phi đảo. Các đơn vị đóng ở đây đối diện thường trực, từng giờ phút, đạn pháo kích của VC nhắm vào các loại phi cơ lên xuống phi trường Khe Sanh.Thân phận bèo bọt của người lính trận Việt Nam Cộng hòa là thế đó. Họ đem máu và mạng sống để tô đậm thêm màu cờ sắc áo quân đội, giữ vững từng tấc đất quê hương, để các thế hệ Việt Nam Bụi sống an lành tại hậu phương. Binh Chủng BĐQ ra đời ngày 1 tháng 7 năm 1960, theo quyết định của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Những đại đội biệt lập đầu tiên (65 đại đội) được huấn luyện chiến thuật phản du kích với nhiệm vụ chống cán binh CS xâm nhập. Cũng từ đó cho ngày 30 tháng 04 năm 1975, miền Nam bị sụp đổ, người lính BĐQ luôn là các chiến sĩ dũng cảm, chiến đáu trên khắp các chiến trường. Các đơn vị nàyđã chiến đấu không Thiếu Tá Hoàng Phổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 37 BĐQ, tại Khe Sanh -1968.
Khe Sanh - Điện Biên Phủ Thứ Hai... 205thua kém bất cứ một đơn vị nào của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.Từ năm 1970, các trại Dân Sự Chiến Đấu do Hoa Kỳ và Việt Nam, thành lập dọc theo biên giới Việt- Miên- Lào, được xát nhập vào binh chủng BĐQ thành các tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng. Tới nay, quân số của BĐQ đã lên tới 40,000 người với 51 tiểu đoàn BĐQ. Từ 10 tháng 04 năm 1975, Sư Đoàn 106 BĐQ ra đời với nhiệm vụ đảm trách phòng thủ vòng đai Sài Gòn - Chợ Lớn, cho tới khi phải buông súng. Trong thời gian hiện diện, nhiều tiểu đoàn BĐQ được tuyên dương công trạng trước quân đội, cũng như được nhận huy chương cao quý của Tổng Thống VNCH và Hoa Kỳ. Trong số này phải đặc biệt kể đến Tiểu Đoàn 44 BĐQ của Thiếu Tá Lê Văn Dần, Tiểu Đoàn 52 BĐQ, Tiểu Đoàn 42 BĐQ của Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, và Tiểu Đoàn 37 BĐQ của Thiếu Tá Hoàng Phổ (Khóa 17 Võ Bị) – đơn vị duy nhất tham dự trận đánh tại Khe Sanh.Tiểu đoàn 37 BĐQ tại Khe Sanh.Tiểu Đoàn 37 và một Đại Đội của Tiểu Đoàn 21 BĐQ nhận vị trí do đơn vị trú phòng của TQLC Mỹ ấn định. Nơi đây đã có sẵn hấm hố và giao thông hào từ trước. Trong lúc người lính Hoa Kỳ tại căn cứ đều được nhận lãnh lương bổng tiếp tế thực phẩm, thay đổi quân trang, thuốc men đầy đủ thì người lính BĐQ tại Khe Sanh đã không có lương nhiều tháng, Họ đã không được bổ xung quân số kịp thời để thay thế những tổn thất thương vong, qua các vụ đụng độ và thiệt hại do Cộng Sản pháo kích. Ngoài ra, họ còn phải lo lắng cho số phận gia đình của mình, đang phải sống trong loạn lạc máu lửa do Cộng Quân gây ra trong các đợt tấn công của CS vào các thành phố miền Nam vào Tết Mâu Thân, từ đêm 30 Tết Mậu Thân 27 tháng giêng năm 1968. Tự hỏi nếu là người lính Hoa Kỳ trong hoàn cảnh như vậy, liệu họ có còn tinh thần để tiếp tục chiến đấu hay không?Vậy mà binh sĩ dưới quyền của Thiếu Tá Hoàng phổ vẫn
206 Đa Hiệu 127phòng thủ vững vàng vị trí trong đêm. Ban ngày thì họ tung quân đột kích thẳng vào phòng tuyến của địch. Họ đã tịch thu được nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có đại bác không giật tối tân mới được Nga chế tạo. Nói tóm lại như lời kết luận của Pipes: “Rất hãnh diện được chiến đấu chung với sĩ quan và binh sĩ của Tiểu Đoàn 37 BĐQ, một đơn vị đồng minh nổi tiếng rất xứng đáng được Hoa Kỳ xưng tụng.”Từ ngày 29 tháng 1 năm 1968, Tiểu Đoàn 37 BĐQ đã đụng độ với Việt Cộng khi tung quân hoạt động bên ngoài vị trí phòng thủ. Ngày 21 tháng 2, 1968, Quận Bắc Việt mở một cuộc pháo kích dữ dội bằng đại bác và hỏa tiễn nhắm vào vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Xế trưa cùng ngày, một tiểu đoàn CS bắc Việt mở cuộc tấn công , nhưng đã bị đẩy lui và bỏ lại nhiều xác chết. Ngày 23 tháng 2 Việt cộng pháo kích vào vị trí của Tiểu Đoàn 37 BĐQ với đủ lạo đạn. Ngày29 tháng 2, 1968 vào lúc 10:15 tối, Việt Cộng mở ba cuộc tấn công và vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Cuộc giao tranh kéo dài tới 4:30 sáng thì CS chém về, bỏ lại tại mặt trận 78 xác chết và những vũ khí cá nhân, cũng như vũ khí cộng đồng. Tóm lại, tại trận chiến Khe Sanh 196,8 Tiểu Đoàn 37 BĐQ cùng một đại đội tăng cường của Tiểu Đoàn 21 đã làm rạng rỡ màu cờ sắc áo của binh chủng BĐQ Mũ Nâu, đồng thời đem lại lòng kính phục và cảm tình của quân đội Hoa Kỳ, trước ý chí chiến đấu can trường, nhất là tinh thần trách nhiệm, kỷ luật của người lính Việt Nam Cộng Hòa.Có một câu chuyện thật cảm động và thắm thiết tình huynh đệ chi binh đối Tiểu Đoàn 37 BĐQ đang tham chiến tại Khe Sanh. Đó là việc Đại Tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng BĐQ, đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng ra thăm Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Ông đã cùng Thiếu Tá Ngô Minh Hồng (Trưởng Phòng Ba) và Đại Úy Trần Đình Đàng (Trưởng Phòng Một) từ Sài Gòn ra Đà Nẵng rồi theo chuyến bay tiếp tế và tải thương C130 tới tận địa ngục Khe Sanh để thăm viếng và ủy lạo, cũng
Khe Sanh - Điện Biên Phủ Thứ Hai... 207như chia sớt bớt phần nào nỗi khổ chạm đáy kiếp người của những người lính BĐQ được tăng phái đến đây.Ngoài ra còn có nhiếp ảnh ra chiến trường số một Việt Nam là Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Hạnh và phóng viên quân đội Hữu Nhơn cũng đã lặn lội tới đây để hòa mình với những người lính. Hai ông đã nhiều lần bị thương khi theo các toán cảm tử BĐQ trong các lần đột kích vào phòng tuyến địch. Nhờ thế, nhiều tấm ảnh giá trị và xác thực nói lên sự hy ainh cao cả đã được phổ biến.Riêng Phóng Viên Hữu Nhơn đã viết những bài tường thuật cảm động nêu cao được những hành động can trường và dũng cảm của Tiểu Đoàn 37 BĐQ. Những bài này đã khiến cho ai đọc tới cũng không cầm nổi nước mắt trước nỗi cực khổ và chết chóc có một không hai của đời lính bất hạnh miền Nam, cũng như thân phận nhượng tiểu của người Việt Nam.Trưa 30 tháng 4/1975 khi có lệnh buông súng đầu hàng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai - Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh kiêm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Đồng Tâm, Cựu Chỉ Huy Trưởng BĐQ đã quyên sinh bằng độc dược tại bản doanh đơn vị, quyết không để cho giặc làm nhục. Ông đã cùng với các Tư Lệnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ… làm rạng danh muôn đời Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì tấm gương hào hùng oanh liệt và xứng đáng để cho các thế hệ Việt Nam noi gương.
208 Đa Hiệu 127Ba Thằng Nhóc Thu Huyền Hồ*, K10Đó là ba đứa nhỏ bạn cùng xóm trong một làng ở miền Trung nghèo khổ, bên phía Nam song Bến Hải. Chúng nó lớn lên cùng nhau qua quãng đời niên thiếu êm đềm đầy kỷ niệm của tuổi thơ, dù cuộc sống của chúng rất đạm bạc. Cha mẹ đứa nào cũng vất vả kiếm ăn để nuôi con cái, nhà nào cũng ba bốn đứa cả trai lẫn gái. Mấy thằng nhóc được ưu tiên cắp sách vở đến trường, nhưng chưa hết bậc Tiểu Học thì thời cuộc biến chuyển vì chiến tranh, cả ba thằng đành phải bỏ học. Gia đình chúng phải chạy giặc tứ tung nên chúng phải lìa xa nhau, và từ đó mất liên lạc với nhau. Một thời gian sau đó đất nước lại chia đôi, thằng Vọng và thằng Hồ trôi giạt ra miền Bắc,Còn thằng Gia thì phiêu lưu vào miền Nam. Thằng Vọng và thằng Gia tưởng không bao giờ còn gặp nhau nữa, nhưng có lẽ do định mệnh, hơn hai mươi lăm năm sau, hai thằng gặp lại nhau trong một hoàn cảnh trớ trêu không thể ngờ là có thật.Sau khi miền Bắc chiếm miền Nam, thằng Vọng đã tìm mọi cách trở lại làng cũ thăm hỏi bà con hàng xóm, mục đích chính là muốn biết thằng Gia còn sống hay chết, và nếu còn sống thì đang ở đâu. Rồi suốt mấy năm liền sau đó, nó vẫn để tâm dò hỏi tin tức thằng Gia không ngoài việc thỏa mãn lòng mong
Ba Thằng Nhóc 209nhớ thằng bạn nhỏ thuở xưa và nếu thằng bạn cần gì thì nó tìm cách giúp đỡ cho lương tâm được yên ổn. Xa cách nhau hơn một phần tư thế kỷ, thằng Vọng đã thay đổi nhiều và hiện có chút địa vị, với quyền hành trong xã hội mới. Điều nghịch lý là nó vẫn còn giữ một đốm lửa le lói cả trong trái tim và trí óc nó về những tháng ngày thơ ấu chơi đùa nghịch ngợm trong một thứ tình bạn ngây thơ non nớt nhưng thật sâu đậm với thằng Hồ và thằng Gia.Đặc biệt với thằng Gia thì tình bạn đó còn thân thiết hơn cả anh em ruột thịt. Nó không sao quên được hình ảnh nghèo nàn của thằng Gia gầy ốm ở trần, mặc chiếc quần đùi cũ kỹ màu cháo lòng chạy lăng xăng tìm nó để chia sẻ với nó từng chút khoai lang, hay sắn nướng thơm phức mà không biết nó kiếm đâu ra; hay hai ba trái ổi sống đầy hột cứng như sạn chắc nó hái từ một cây ổi hoang ngoài đồng. Tuy còn nhỏ nhưng thằng Vọng cũng thấy xúc động trước tình bạn của thằng Gia.Xa xóm cũ, nó lớn lên ở miền Bắc với cuộc sống cũng không khá mấy, cũng nghèo khổ thiếu ăn thiếu mặc đủ thứ, kể cả những năm được đi học. Rồi chuyện không may xảy ra với cha nó. Ông bị bí thư huyện lợi dụng uy quyền ép buộc ông đi lao động xã hội chủ nghĩa vào rừng đốn gỗ bán cho hợp tác xã để xuất khẩu. Rủi ro ông bị cây to ngã đè bị thương nặng, cứu không kịp nên chết.Mẹ nó nghe tin, khóc vật vã bên xác chồng, rồi tỉ tê khóc tiếp tục cả tháng trời đến liệt giường và cuối cùng cũng đi theo cha nó, để lại mấy anh em nó bơ vơ. Dân trong vùng sôi sục vì cảnh đời éo le của gia đình nó nhưng không ai dám biểu lộ. Rốt cuộc, huyện phải lấp liếm giải quyết bằng cách cấp cho mấy anh em nó một ít gạo và cái bằng vô nghĩa “Gia đình Liệt Sĩ”. Nó cầm mảnh giấy mà nghẹn ngào, trong lòng uất hận nhưng cố nén. Mối thù này không trả không được, nhưng biết trả cách nào đây. Có người lớn thương tình và ngầm biết tâm tư của nó, âm thầm khuyên nó dùng cái bằng ‘con liệt sĩ’ làm bàn đạp “phấn đấu” để vào đảng. Nó đủ thông minh để hiểu
210 Đa Hiệu 127lời khuyên chân tình vì nghĩ cho cùng thì không có cách nào khác… Bây giờ nó là một đảng viên, cán bộ công an, làm quản giáo trong một trại cải tạo, mà thực chất dưới con mắt nó thì chẳng khác gì một trại tù khổ sai. Nó đã kín đáo trả được thù cho cha mẹ nó, trả thù cái xã hội đã gây tang tóc cho mấy anh em nó, nhưng điều trớ trêu là cũng chính cái xã hội đó đã tạo cơ hội cho nó báo hiếu mà không bị liên lụy với pháp luật. Người ta lạm dụng uy quyền để làm hại gia đình nó, còn nó cũng lạm dụng uy quyền nhưng để trả thù kẻ đã gây tội ác và luôn cả xã hội. Nó cảm thấy may mắn và tin tưởng chắc chắn là ít nhất nó cũng may mắn hơn thằng Gia. Theo những gì nó được học tập và qua cấp trên cho biết thì thành phần nghèo khổ như thằng Gia ở trong miền Nam chỉ suốt đời làm đầy tớ, bị bóc lột lao động tận xương tủy, không sao cất đầu lên nỗi. Nó rất muốn gặp lại thằng Gia để giúp đỡ trong khả năng đảng viên của nó, và cũng để gián tiếp tỏ cho thằng Gia biết nó có địa vị có uy quyền và quan trọng trong xã hội. Là công an, nhưng nó không sắt máu như đại đa số công an khác. Trái lại, nó còn giữ được lương tri và lương tâm, cái loại luơng tri và lương tâm thường bị phê bình là cặn bã tiểu tư sản của thời phong kiến.Sáng hôm đó ,trong lúc đội “cải tạo” , gồm toàn sĩ quan “chế độ cũ” đang cuốc đất để chuẩn bị trồng khoai mì dưới ánh nắng bắt đầu gay gắt, quản giáo Vọng bực bội đến sau lưng một người tù đang cuốc đất một cách uể oải, không chịu khom lưng đúng quy định hét lớn:- Anh kia, cuốc mạnh đi chớ. “Lao động” chây lười rứa thì khi mô mới hết “cải tạo”?- Tôi đói quá làm không nỗi.- Anh nói chi rứa? Đói hả? À, bêu xấu chế độ hả? Anh tên chi?- Tôi tên Gia.
Ba Thằng Nhóc 211- Da bò hay da trâu? Họ tên đầy đủ là chi?- Không phải da bò, mà là Quốc Gia.Quản giáo lên giọng nạt nộ:- Thôi, không được nói năng linh tinh. Anh phải thành thật khai báo với cách mạng. Anh phải biết ơn chớ. Quê anh ở mô?- Quê tôi miền Trung, nhưng lớn lên phiêu bạt khắp miền Nam.– Quê miền Trung, là chỗ mô? Nói cho rõ.- Gần sông Bến Hải. Tôi không nhớ rõ.Quản giáo chợt suy nghĩ:- À, gần sông Bến Hải? Anh nói tên anh là Gia hả? Chi Gia?- Trần An Gia.Quản giáo Vọng hơi tái mặt:- Cái tên chi lạ… Anh nói lại tui nghe.- Tên tôi là Trần An Gia.- Anh có khi mô đổi tên không đó? Có phải là bí danh không?- Tên tôi từ nhỏ là như vậy. Tôi không hề có bí danh.- Rứa… anh nhớ lại coi… có quen ai tên … Lê Vọng không?- Đó là tên thằng bạn nối khố lúc nhỏ của tôi. Tôi xa nó lâu lắm rồi.- Được rồi, tiếp tục lao động đi…Quản giáo Vọng quay lẹ lưng, lảo đảo bước đi. Cái tên Trần An Gia như tiếng sét đánh ngang tai làm anh choáng váng. Vọng tự nghĩ, ‘Trời ơi, cái thằng nhóc mình mất công khó nhọc suốt mấy năm trời tìm không gặp. Chừ nó hiện ra sờ sờ trước mặt mình chưa chết nhưng trông tàn tạ như con ma đói, làm răng mình bình tĩnh cho được. Cái thằng ni thiệt tình…’Sau giờ cơm chiều, cán bộ quản giáo trực trại sai tên tù hình
212 Đa Hiệu 127sự trực đêm vào láng Số 4 kêu “cải tạo viên” Gia lên làm việc. Trong lúc Gia đang cùng các bạn tù đứng nghỉ ngơi chuẩn bị “vào chuồng” thì tên tù hình sự chạy đến nói to:- Ai là tên Trần An Gia thì theo tôi lên làm việc với cán bộ trực trại, khẩn trương.Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra. Riêng Gia thì hơi lo lắng, thổ lộ với một bạn tù cùng đơn vị trong quân đội trước năm 1975:- Chắc thằng quản giáo muốn đì tao vì vụ chây lười lao động sáng nay.- Tao theo dõi thấy nó nạt nộ mày cũng… không gắt lắm. Chắc không sao đâu, đừng lo.– Làm sao tin được tụi nó. Cùng lắm là cùm, là đói, là chết thôi…Tên tù hình sự thúc giục:- Anh Gia theo tôi, “khẩn trương” lên.Gia được dẫn vào phòng trực trại trình diện với quản giáo đang có vẻ chờ. Tên tù hình sự đứng lớ ngớ đợi sai bảo thì được quản giáo ra lệnh đi kiểm tra trại lần chót, với lời dặn phải đảm bảo các cửa buồng đã khóa hết.- Anh đi đi. Tui sẽ đưa anh này về buồng sau. Tui có chìa khóa.- Kính chào cán bộ.Còn lại một mình với quản giáo Vọng, Gia đứng yên lặng cúi đầu, phó mặc cho số mệnh, trong đầu thầm niệm nhiều lần câu “Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” để tự trấn an. Nhìn tên quản giáo bước đến đóng cửa, Gia tự nhiên chuẩn bị đỡ đòn theo kinh nghiệm bạn tù truyền lại, có thể những cú đấm cú đá hung bạo với những lời chưởi rủa cay nghiệt có tính cách sỉ nhục kèm những tiếng ‘ngụy ác ôn đẩy nợ máu…’
Ba Thằng Nhóc 213- Anh ngồi xuống đi, ta nói chuyện.- Cho phép tôi đứng.- Tui bảo anh ngồi thì anh cứ ngồi đi. Tui không ăn thịt anh mô mà sợ.- Cám ơn.Gia mạnh dạn ngồi xuống cái ghế trước mặt, cúi đầu suy nghĩ.- Trần An Gia.- Tôi nghe.- Cán bộ… cán bộ cái con khỉ… Mi không nhận ra tau thiệt tình, hả Gia?- Dạ…- Dạ thưa cái cóc khô… Tau là thằng Vọng lụt lịt của mi, nhớ ra chưa?- Vọng… Lê Vọng… Mi... là Lê Vọng hả? - Còn ai nữa…Vừa dứt câu, Vọng đã bước tới ôm chầm lấy Gia, thắm thiết như không muốn buông ra. GiọngVọng nghẹn ngào bên tai Gia:- Tau thương, tau nhớ mi ghê lắm. Tau nghe nói mi chết lâu rồi nhưng tau không tin. Tau thăm hỏi dò tìm mi mấy năm ni rồi, ai ngờ mi lại ở trong trại “cải tạo” trước mắt tau mà tau như mù như điếc không thấy không hay không biết chi cả… tau hành hạ mi… may mà mi chưa chết…Gia nhẹ nhàng gỡ hai cánh tay đang ôm chặt mình để nhìn vào khuôn mặt sạm đen có mấy giọt nước mắt đọng trên gò má, ấp úng:- Cán bộ… Vọng, tôi cũng tưởng… anh…- Anh cái con khỉ… Mi cứ kêu tau là thằng Vọng, mi tau
214 Đa Hiệu 127như cũ. Khi nào đi lao động thì mi- …Mà thôi, để tau đưa mi về phòng, mi ngồi lâu không tiện. Tau sẽ nói chuyện với mi nhiều.Gia về chỗ nằm, gác tay lên trán, nén xúc động, cố nhắm mắt ngủ lấy sức ngày mai lại tiếp tục làm công việc khổ sai của một kiếp tù. Nhưng đầu óc cứ suy nghĩ lan man… Thắm thoắt mà Gia đã ở tù hơn bốn năm tại cái trại hắc ám này. Với quá khứ tác chiến đầy hăng say của mộtTrung Úy Nhảy Dù, hy vọng ngày về xa vời quá, không biết còn sức mà về nữa không. Giữa tiếng ngáy đều đều của hai bạn tù nằm hai bên, Gia thở dài, nhớ lại thời thơ ấu chơi đùa với thằng Vọng và thằng Hồ. Cả ba đứa chỉ là con nít hàng xóm, tính tình rất hợp nhau nhưng không hiểu có phải vì thế mà chúng rất thương nhau. Một phần lớn chắc chắn là do cha mẹ ba đứa. Nhà ờ cùng xóm nên ba gia đình khá hiểu biết thông cảm nhau, cũng có lúc giúp nhau khi tối lửa tắt đèn, nhất là các bà mẹ, vài que củi, chút nước mắm. Cha thằng Vọng làm công cho một phú nông, còn mẹ nó thì gánh cá bán dạo trong xóm vào buổi chiều, vừa chạy lúp xúp vừa rao “Cá tươi, cá nục tươi…”. Tính tình thật thà nên ai cũng mến, không ngày nào bị ế hàng hay bán chậm đến tối. Cuộc sống đấp đổi qua ngày, vợ chồng con cái cũng no đủ. Cha thằng Gia thì thuần túy là một nông dân chân lấm tay bùn, suốt ngày dầm mưa dãi nắng với ruộng đồng lúa má. Mẹ nó bán hàng xén rong ngoài chợ, nhàn hạ nhưng tiền bạc kiếm được không đều và không có gì chắc chắn, theo như người ta nói là tùy theo buổi chợ. Cả hai vợ chồng tuy chật vật nhưng không để con cái đến nỗi đói rách. Thằng Vọng từ nhỏ đã bộc lộ là đứa nhiều tình cảm, chân thật với bạn, nhưng kín đáo với người ngoài, trong khi thằng Gia thì tháo vát và tính tình tốt nên hay chìu thằng Vọng, khiến hai đứa lúc nào cũng như hình với bóng. Thằng Hồ thì kém may mắn hơn, vì mồ côi cha từ năm hai ba tuổi, lớn lên với ông cha ghẻ khó tính lại hay say
Ba Thằng Nhóc 215rượu, nhiều lúc đánh đập nó vô cớ không chút thương xót. Mẹ nó đau khổ, thương nó nhưng vì sợ ông chồng vũ phu nên gần như không dám ngó ngàng đến nó một cách lộ liễu. Nhiều người thấy cả hai mẹ con như vậy ai cũng bảo thật tội nghiệp. Có lẽ vì hoàn cảnh đáng thương ấy mà tính tình thằng Hồ càng lớn càng khác hai thằng kia, lém lỉnh, lì lợm và cộc cằn hơn. Hai thằng kia thường hay đùa giỡn gọi nó là thằng Hồ lì, hay Hồ li tinh, để chỉ cái thói tinh ma quỷ quái của nó ưa phá phách chọc ghẹo mấy đứa con gái lớn hơn nó hay những thằng nhóc khác trong xóm.Ngày hôm sau, quản giáo Vọng lại theo dõi cách lao động của Gia với thái độ lạnh lùng.- Anh kia, chứng nào tật ấy, lao động chây lười. Anh đội trưởng! Anh cho đội nghỉ trưa hôm nay sớm, và đưa anh này vào nhà lô để tôi giáo dục, giúp anh ta mau tiến bộ.- Tôi nghe rõ.Sau khi quản giáo đi vào nhà lô, anh đội trưởng đến bên cạnh Gia, hỏi nhỏ:- Sao cậu để nó chú ý vậy? Khi có mặt nó thì ráng cuốc mạnh lên chứ.- Tôi đói quá. Ráng không nỗi.- Cậu đi theo tôi. Liệu lời mà nói với nó, thằng này …- Tôi biết…Khi thấy Gia bước vào, quản giáo Vọng lên tiếng ngay.- Anh đội trưởng cho đội đi “cải thiện” rồi nghỉ ăn trưa. Đến khoảng hai giờ lao động trở lại. Chừng nào làm việc xong với anh này, tôi sẽ cho anh ta ra lao động tiếp.- Xin chào cán bộ.Đội trưởng trở lại báo cho đội biết tin bất ngờ nhưng cũng lo cho Gia. Trong khi đó tại nhà lô, hai người bạn tâm giao mặt đối mặt nhau sau mấy chục năm nhưng với tư cách là thù
216 Đa Hiệu 127địch. Nhà lô là căn chòi nằm cách biệt trơ trọi một mình, nơi dành cho quản giáo nghỉ ngơi và ăn trưa mỗi khi đi theo đội lao động cải tạo suốt ngày. Nhà lô còn là nơi thuận tiện dành riêng cho hoạt động riêng tư của quản giáo, không một tù “cải tạo”nào dám mon men tới gần. Quản giáo Vọng bảo Gia ngồi xuống ghế rồi lấy từ trong cái túi vảinhỏ một cái cà-mèn trao cho Gia.- Mi ăn đi. Sáng ni tau ăn nhiều, để dành phần cơm ni cho mi. Tau ăn trái chuối này đủ rồi, mi đừng áy náy. Mi vừa ăn vừa nghe tau nói chuyện.Gia mở cái cà-mèn thấy cơm trắng, một con cá khô to bằng hai ngón tay, và cái muỗng nhôm cũ kỹ, tự nhiên nước mắt ứa ra không ngăn được. Nó mơ hồ nhận ra là tính tình thằng Vọng vẫn như xưa, vẫn cái lối niềm nở chân tình đến mức thật thà, thân thiết. Vọng ngạc nhiên, lên tiếng:- Răng mi khóc? Mi tủi thân hả? Hay là mi không tin tau? Mi không tin mặc kệ mi, nhưng tau quyết tâm giúp mi. Tau có cách đưa mi ra khỏi cái địa ngục trần gian ni. Ăn mau đi, đừng khóc mà lộ chuyện. Mi phải ăn cho hết để lấy sức, tau thấy mi yếu lắm. Mi phải ra khỏi chỗ ni.- Xin lỗi, tôi không ăn như thế này được.- Xin lỗi xin phải cái con khỉ. Tau không bỏ thuốc độc trong đó mô, mi đừng sợ. Tau biết mi không bao giờ tin công an Việt Cộng bọn tau, nhưng tau là thứ công an khác. Tau là bạn mi, tau thương mi, tau không thay đổi như mi tưởng…- Nhưng… tôi không ăn hết được…- Tôi với tớ cóc khô. Mi ráng ăn, tau no rồi. Ăn xong ngồi nghỉ… mọi chuyện để tau lo.- Tau… lòng tốt của mi… tau có chết cũng vui lòng. Cám ơn mi.- Thôi, mi chết răng được. Tau thiệt tình, mi cũng thiệt tình, như lúc bọn mình còn nhỏ. Tau nhớ mãi hai đứa mình thường
Ba Thằng Nhóc 217nói ‘Tả chô thằng mô nói láo’ thay vì chửi thề ‘Tổ cha…’ người lớn nghe là bị la hay bị đòn, và không được nói láo…Gia bỗng bật cười khi nghe tiếng ‘Tả chô’, một trong những kỷ niệm khó quên của thời thơ ấu. Gia xúc từng muỗng cơm đưa vào miệng ăn tự nhiên, tận hưởng như đang ăn cao lương mỹ vị, lắng nghe Vọng tiếp tục nói.- Mi tin Việt Cộng là mi chết. Nhưng thằng công an Việt Cộng này sẽ giúp mi sống ngẩng cao đầu như mi từng là một sĩ quan sẵn sàng chết cho đất nước. Lão thủ trưởng trại tù này mắc ơn tau lúc trước, tau có công cứu hắn thoát chết trong một vụ thanh toán nhau vì phe nhóm. Tau biết nhiều điều bí mật về đời hắn, và tau cũng có chỗ dựa của tau. Nhờ tau mà hắn sống và phất lên, và chính hắn đưa tau về đây làm việc với hắn. Tả chô thằng mô nói láo.Gia lại bật cười, ngưng ăn.-Vọng ơi, tau tin mi, tau có chết oan thì hồn tau cũng tha thứ cho mi. Mi tính sao?- Tau tính phải” khẩn trương” lên. Tau sẽ đề nghị hắn kín đáo thả mi, nói là mi chây lười phải đưa đi trại khác. Nhưng thật ra tau sẽ nói với hắn là mi biếu hắn một chỉ vàng để trả ơn. Mi khỏi lo, tau cho mi mượn trước chỉ vàng ni. Khi mô mi trả lại cho tau cũng được.Gia ngắt ngang, thắc mắc:- Mi có chắc hắn có quyền thả tau không? Nếu không thì khi bị lộ, tau sẽ bị thủ tiêu liền.- Mi khỏi lo, phe cánh của hắn cũng ăn hối lộ, tụi nó chia chác nhau. Hắn đã làm mấy vụ rồi, lần này tau nhờ hắn. Mà khi mi được thả, mi phải mau tìm cách chi đó để đừng khi mô bị bắt lại nữa… mi hiểu ý tau không?- Tau hiểu. Mong sao ra khỏi đây…- Tin tau đi, mi tiếp tục lao động chây lười như thường, ráng chịu đói, đừng để ai chú ý. Tau sẽ đích thân đưa mi ra khỏi trại
218 Đa Hiệu 127trong năm bảy ngày nữa, và sẽ cho mi địa chỉ của tau.- Xin lỗi, tau có vài chuyện muốn hỏi mi, cha mạ mi, vợ con mi ra sao? Và thằng Hồ còn sống hay chết thế nào?- Tau nói vắn tắt thôi, cha mạ tau mất rồi, cực khổ lắm, tau không muốn nhắc lại. Tau chưa có vợ, tại tau không muốn bị trói buộc, chỉ muốn được thoải mái như lúc tụi mình còn nhỏ, vui đùa thỏa thích. Còn thằng Hồ thì… lâu lắm rồi tau không nghe tin tức chi của hắn. Khoảng năm bảy năm trước, tau có mấy người quen, công an cả, biết rõ về thằng Hồ và có cho tau biết nhiều chuyện về hắn. Mi còn nhớ lúc nhỏ thằng Hồ rất tội nghiệp vì bị ông cha ghẻ hành hạ, nên sau đó lớn lên ở miền Bắc, hắn thoát ly, thành thanh niên xung phong rồi bỏ trốn sống lang thang biến thành đứa mất dạy, học đòi căm thù nên hắn gây nhiều tội ác như cướp của giết người, hiếp dâm… Nhờ được một thằng Tàu thượng tá công an cố vấn lưu ý về lối sống du côn của hắn nên thu nạp hắn làm tay sai, giao cho hắn việc kiếm gái và kiếm tiền. Thằng Hồ dựa thế thằng cố vấn Tàu nên chẳng sợ ai hết, do hắn được thằng Tàu tin, nhờ kiếm tiền rất đắc lực cho chủ nó, phần khác hắn quá tàn ác nên ai cũng né. Nhưng trời bất dung gian, nghe nói thằng Hồ rốt cuộc cũng bị thanh toán, chết mất xác.- Ác giả ác báo… Thế hắn có vợ con gì không?- Tau không biết. À, mi nhắc tau mới nhớ. Cách nay ba bốn năm chi đó, vụ thằng Hồ gây rung động cả ngành công an mấy tháng liền. Nghe nói vì hắn được thằng cố vấn Tàu tin cậy nên trong một buổi liên hoan tại nhà thằng cố vấn, mà hắn là người phục vụ chính, hắn đã lợi dụng khách khứa về hết và người phục vụ dọn dẹp xong cũng đi nghỉ, hắn ra tay. Thằng chủ hắn thì say xỉn nên bị hắn trói lại, sau đó hắn lấy dao dọa cô vợ người Việt, và hai đứa con gái Tàu rặt của chủ hắn rồi hiếp dâm cà ba. Cô vợ người Việt mới khoảng ba mươi tuổi, kiểu vợ hờ, còn hai đứa con gái nghe nói chưa được hai mươi. Xong việc, thằng Hồ còn ăn cắp một mớ tiền và vàng bạc rồi
Ba Thằng Nhóc 219bỏ trốn biệt tích. Công an lùng sục ráo riết mấy tháng mà tìm không ra tông tích, bị khiển tráchlên khiển trách xuống. Tau nghĩ thằng Hồ chắc chết tiệt mô rồi, xác tìm không thấy.- Không ngờ thằng Hồ lại đốn mạt như vậy. Cũng do hoàn cảnh và xã hội làm nó hư hỏng. Phần tao thì vợ con hiện ở Sài Gòn…- Tau biết rồi, mi khỏi khai. Tối qua tau đọc hết lý lịch của mi, một thằng “ngụy” ác ôn đầy nợ máu. Tau thấy mi lớn lên ở miền Nam là mi có phước lớn, được đi học hết cấp ba rồi học làm sĩ quan Nhẩy Dù đánh nhiều trận… công trạng như núi mà lẹt đẹt mang câp bậc trung úy. Tại răng rứa? Có phải tại tính mi không hợp với lính hay mi chây luời hay chán ghét chế độ?- Chuyện dài lắm, có dịp tau sẽ tâm sự với mi. Nhưng thật tình tau không ân hận gì hết… Taucòn hãnh diện về đơn vị Nhảy Dù của tau và nơi tau được đào tạo…- Có phải cái Trường Võ Bị chi đó ở Đà Lạt, phải không?- Đúng… Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam…Vọng như bừng tỉnh:- Chết, mi với tau ham nói chuyện lâu quá. Để tau kêu anh đội trưởng vô tau dặn. Nhớ tiếp tục chây lười… và ráng chịu đói…Quản giáo Vọng nhanh nhẹn bước ra khỏi nhà lô, hướng về chỗ đội “cải tạo” đang ngồi nghỉ dưới bóng cây, đưa tay ngoắc liên tục. Anh đội trưởng hấp tấp chạy đến trình diện.- Anh vô đây. Tối nay anh tổ chức sinh hoạt đội để giáo dục anh Gia này, đội phải tích cực phê bình góp ý để giúp anh ta tiến bộ. Anh ghi lại lời phát biểu xây dựng của mỗi người về anh ta, rồi làm báo cáo sáng mai đưa cho tui, nghe rõ chưa?
220 Đa Hiệu 127- Báo cáo cán bộ, tôi nghe rõ. Xin chào cán bộ.Gia lí nhí đủ cho anh đội trưởng nghe:- Xin chào. Cám ơn cán bộ.Mấy hôm sau, các bạn tù trong đội của Gia bỗng nhiên cố ý lảng tránh Gia vì sợ liên lụy, do có người bảo có tin Gia sắp bị nhốt vì chây lười lao động. Mà Gia có chây lười thật, ai cũng biết, quản giáo cũng đã lưu ý. Tin còn cho biết Gia không những bị quản giáo gọi vào chòi phạt quỳ gối không được ăn trưa và nghe chửi hơn một tiếng đồng hồ, lại còn bị đá đít mà không được rên la. Tối lại còn bị sinh hoạt đội phê bình gắt gao, làm anh em mất ngủ. Một vài bạn tù khá thân với Gia chỉ lấm lét nhìn Gia từ xa, thấy Gia xuống sắc nhiều sợ không kham nỗi, nhưng đành xót xa thôi.Sáng Thứ Hai tiếp theo đó, lúc tất cả các đội đang tập họp ngoài sân, sắp hàng ngồi dưới đất theo từng đội chờ lệnh xuất trại đi lao động, thì trưởng trại bất ngờ xuất hiện có quản giáo Vọng đi theo. Cả đám đông mấy trăm cải tạo viên im lặng chờ nghe kêu tên người bị nhốt vào thùng sắt, bị phạt cùm… như thường lệ gần như mỗi tuần, nhưng lần này trưởng trại có mặt, chắc hình phạt phải rất quan trọng.Trong lúc mọi người tù đang hồi hộp chờ thì trưởng trại lên tiếng vắn tắt:- Anh Trần An Gia được lệnh chuyển trại để tiếp tục học tập cải tạo và lao động cho tốt hơn. Đồng chí quản giáo Vọng được giao trách nhiệm thi hành. Các đội trưởng cho đội bắt đầu đi lao động.Quản giáo Vọng bước tới cạnh Gia, lạnh lùng ra lệnh:- Anh theo tôi về buồng lấy áo quần.Ôm một túi nhỏ trên tay, Gia cúi mặt bước đi, theo sau là quản giáo Vọng có mang súng lục bên hông và dắt xe đạp. Cả hai im lặng ra cổng trại và đi tiếp để ra quốc lộ. Gia phân vân không biết là mình đang đóng kịch hay là sự thật. Mãi đến khi
Ba Thằng Nhóc 221Vọng lên tiếng bảo dừng lại ở một chỗ khuất khá xa hàng rào trại, Gia mới xúc động lí nhí:- Cám ơn mi đã cho tau sống lại.- Tau mong mi sống xứng đáng. Đây, giấy ra trại, tiền đi xe, và địa chỉ của tau. Mi cứ đi tiếp sẽ ra chỗ có xe hàng chạy, mi hỏi lái xe mả trả tiền. Gặp lái xe tốt bụng có khi nó cho đi không.Về tới nhà thì nhớ cho tau biết. Chúc mi may mắn! Tau hy vọng sẽ có ngày mi và tau gặp lại.- Tau cũng tin như vậy.Cả hai rưng rưng. Gia bước đi, Vọng đứng trông theo, chờ Gia ngoái nhìn lại lần chót mới lên xe đạp quay đi.* Bút hiệu của Niên Trưởng Tôn Thất Diên K10, Giáo Sư Văn Hóa Vụ TVBQGVN.Sức Khoẻ và Hạnh Phúc!
222 Đa Hiệu 127Mình Ơi!Cao Xuân Thanh Ngọc K14/2(Ái Nữ của CSVSQ Cao Xuân Lê, K14 viết khi thấy Ba ngồi cạnh giường chăm sóc cho Mẹ - Tết Ất Mão 2023)Mình nghe tôi nói, mình ơi!Mình luôn mạnh khoẻ bên tôi nhé mìnhNhớ xưa thời buổi điêu linhTôi ra chiến trận trường chinh dãi dầuNào ngờ vận nước khổ đauĐây chịu tù ngục, đó sầu gian laoLặng thầm cùng nỗi ước aoGiúp nhà qua khỏi ba đào nổi trôiThân cò lặn lội đơn côiVượt sông, trèo núi, qua đồi... dặm xaNuôi chồng khổ chẳng kêu caNuôi con vạt áo chan hoà mồ hôiChân đạp đất, vai gánh trờiChung thuỷ son sắt một đời đảm đangThương gia tộc, xót giang sanMột thân chèo chống trường giang hải hồTrời thương đến được bến bờTự do, vận hội, con thơ trưởng thành
Mơ SayBảo Trâm(Thể Lục vi thủ hạ cú) Năm mới xin nâng chung rượu sayRượu Xuân thấm đượm rót ly đầyLy trao ấm áp xây tình bạnTình gởi dịu dàng khắc bóng aiBóng thoảng qua hiên vương gió nhẹGió vờn quanh cửa lộng lòng ngâyLòng còn đắm đuối mơ ngày nọNgày đó cùng em tay nắm tayThơ Mơ Say 223Tuổi già sức yếu đến nhanhNgọn đèn trước gió mong manh giữa đờiCon cháu thành đạt nên ngườiMình nằm mỏi mệt cố cười với conNụ cười trên mặt héo honLòng tôi quặng thắt chẳng còn chút xuânTrái tim mình sáng trong ngầnTôi thương mình lắm thập phần... tôi xinRáng khoẻ cùng với gia đìnhVới con với cháu với... tình chúng ta.
224 Đa Hiệu 127NHỮNG NĂM THÌN ĐÁNG GHI NHỚ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM(Đã được Giáo Sư Văn Hóa Vụ Trần Huy Bích hiệu đính.)Giáp Thìn, 257 trước Công Nguyên: Thục Phán thắng vua Hùng Vương thứ 18, xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc.Mậu Thìn 248: Nữ anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng anh là Triệu Quốc Đạt lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Thanh Hóa chống lại sự cai trị của Đông Ngô.Mậu Thìn 548: Lý Nam Đế (Lý Bôn) mất. Triệu Quang Phục lên thay, xưng là Triệu Việt Vương, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân đô hộ nhà Lương.Giáp Thìn 944: Ngô Vương Quyền mất sau 5 năm làm vua. Ngài là người đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở đầu nền tự chủ sau hơn 1000 năm Bắc thuộc.Mậu Thìn 968: Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi Hoàng đế, sử gọi là Đinh Tiên Hoàng, Nhà vua đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), mở đầu triều đại nhà Đinh.Canh Thìn 980: Nhà Tống đem quân xâm lấn nước ta. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được trao nhiệm vụ lãnh đạo đất nước, Ông lên ngôi, mở đầu triều đại Tiền Lê, chuẩn bị đem
Những Năm Thìn Đáng Ghi Nhớ 225quân đối phó với quân Tống.Mâu Thìn 1028: Lý Thái Tổ thăng hà. Lý Thái Tông lên nối ngôi. Ba vị thân vương đem quân tranh giành. Nhờ lòng dũng cảm của Tướng Quân Lê Phụng Hiểu, đám loạn bị dẹp tan.Bính Thìn 1076: Nhà Tống sai Quách Quỳ và Triệu Tiết đem quân xâm lấn nước ta. Trong khi hai bên đang cầm cự, bài thơ phía sau được ngâm đọc trong một ngôi đền bên bờ sông Như Nguyệt:Nam quốc sơn hà Nam đế cưTiệt nhiên định phận tại thiên thưNhư hà nghịch lỗ lai xâm phạm?Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.(Non sông Nam Việt thuộc vua NamSách tự trời cao chép rõ ràngNghịch tặc cớ đậu sang chiếm lấn?Bọn bay tức khắc sẽ thua tan)Không bao lâu sau, Lý Thường Kiệt phá tan giặc. Quân Tống phải rút về. Nhâm Thìn 1232: Nhà Trần mở khoa thi Thái Học Sinh để chọn người tài. Trần Quốc Tuấn (sau là Hưng Đạo Vương, 1232-1300) ra đời.Nhâm Thìn 1292: Chu An (cũng gọi là Chu Văn An, 1292-1370) ra đời.Giáp Thìn 1304: Mở khoa thi, 44 người đỗ Thái Học Sinh. Trạng nguyên là Mạc Đĩnh Chi. Nguyễn Trung Ngạn mới 16 tuổi đậu Hoàng Giáp, được coi là thần đồng.Canh Thìn 1340: Huyền Trân Công Chúa (1287-1340) qua đời.Mậu Thìn 1388: Thượng Hoàng Nghệ Tông nghe lời Hồ Quý Ly, truất ngôi Phế Đế Trần Hiện (con vua Duệ Tông, cháu gọi Thượng Hoàng bằng bác), rồi bắt thắt cổ chết.
226 Đa Hiệu 127Canh Thìn 1400: Triều Trần suy yếu, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần, lập ra nhà Hồ (1400-1407).Nhâm Thìn 1412: Các tướng nhà Hậu Trần là Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy giao chiến với quân Minh ở Nghệ An. Quân ta bị thua.Mậu Thìn 1448: Đời vua Lê Thái Tông, cấm quan viên và quân dân không được chiếm ruộng công để đào ao, làm vườn tược, nhà cửa.Canh Thìn 1460: Các cựu công thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt … dẹp phe tiếm ngôi là Lê Nghi Dân, lập Bình Nguyên Vương Tư Thành lên ngôi. Đó là vua Lê Thánh Tông. Nhâm Thìn 1472: Định rõ thể lệ thi cử để chọn nhân tài. Định cấp bậc của các Tiến Sĩ, từ Đệ Nhất Giáp tới Đệ Tam Giáp. Vua tự ra đề văn sách để hỏi về việc trị nước.Thi Hội, chọn được 26 tiến sĩ.Giáp Thìn 1484: Ra sắc chỉ cấm mua bán ức hiếp, cấm người giữ cửa nhận tiền đút lót. Dựng bia các tiến sĩ.Canh Thìn 1520: Sử quan Phó Tổng Tài là Đặng Minh Khiêm biên soạn Đại Việt Lịch Đại Sử Ký.Nhâm Thìn 1532: Sau khi nhà Mạc cướp ngôi, cưu thần nhà Lê là Nguyễn Kim tìm dòng dõi vua Lê, lập lên ở Ai Lao để lo việc khôi phục. Đó là Lê Trang Tông.Bính Thìn 1556: Vua Trung Tông (con vua Trang Tông) qua đời. Thái Sư Trịnh Kiểm tìm được người cháu bốn đời của Lam Quốc Công Lê Trừ (anh ruột vua Lê Thái Tổ) là Lê Duy Bang lâp lên làm vua. Đó là Lê Anh Tông.Nhâm Thìn 1592: Trịnh Tùng đại thắng quân nhà Mạc, khôi phục kinh đô Thăng Long. Nhà Mạc chỉ còn kiểm soát phía động sông Nhị.Mậu Thìn 1628: Thi Hội. Giang Văn Minh đậu Thám Hoa. Năm 1637, ông được cử đi sứ Trung Hoa. Nhân vua nhà Minh ra vế đối:
Những Năm Thìn Đáng Ghi Nhớ 227Đồng trụ chí kim đài dĩ lục(Cột đồng tới nay rêu đã xanh)Ông đã khảng khái đối lại:Đằng giang tự cổ huyết do hồng(Sông Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ)Canh Thìn 1640: Nam Bắc phân tranh. Chúa Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng) ở Đàng Trong cho quân ra đánh Bắc Bố Chính (phía Bắc sông Gianh).Bính Thìn 1736: Khắc in các sách kinh và sử để dùng trong nước. Cấm không dùng các sách từ Trung Hoa.Bính Thìn 1748: Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1765-1748) qua đời.Nhâm Thìn 1772: Quân Xiêm đánh vào Hà Tiên. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Phúc Đàm đem quân giao tranh với quân Xiêm trên đất Cam Bốt. Quân Nam thắng.- Miền Bắc: Quân Tam Phủ làm loạn ở kinh đô Thăng Long, gọi là kiêu binh. Học giả Lê Quí Đôn (1726-1784) qua đời.- Miền Nam: Quân Tây Sơn phá tan quân Xiêm trong chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút.Canh Thìn 1820: Vua Minh Mạng lên ngôi. Thi hào Nguyễn Du (1766-1820) qua đời. Nhà ái quốc Trương Định (1820-1864) ra đời.Giáp Thìn 1844: Các nhà ái quốc Phan Đình Phùng (1844-1895) và Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926) ra đời.Mậu Thìn 1868: Nhà ái quốc Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) ra đời.Canh Thìn 1904: Học giả Đào Duy Anh (1904-1988) ra đời.Mậu Thìn 1928: Năm sinh của Tr/Tg Đặng Văn Quang (Kh.1 Trường VBQG), Th/Tg Huỳnh Văn Cao (Kh. 2), Th/Tg Phạm Văn Phú (Kh. 8), Ch/Tg Lê Trung Tường (Kh.2), Ch/Tg
228 Đa Hiệu 127Võ Dinh (Kh. 3), Ch/Tg Chương Dềnh Quay (Kh. 4).Canh Thìn 1940: Trong khung cảnh Thế Chiến Thứ Hai, quân Nhật tiến vào Đông Dương. Lực lượng Việt Nam Kiến Quốc Quân (VNKQQ) do ông Trần Trung Lập chỉ huy cũng tiến vào Lạng Sơn.Sau khi điều đình với Pháp, quân Nhật rút đi, khiến VNKQQ phải đơn phương chống Pháp và chịu thất bại. Trần Trung Lập bị Pháp bắt được và xử tử.Đảng Cộng Sản khởi xướng một cuộc nổi dậy ở nhiều tỉnh miền Nam, gọi là “Nam Kỳ Khởi Nghĩa.” Cuộc nổi dậy thất bại hoàn toàn. Hầu hết lãnh tụ CS trong Nam bị Pháp bắt giam.Nhâm Thìn 1952: Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh rồi sang Liên Xô.Việt Minh mở chiến dịch Tây Bắc, làm chủ vùng đất giáp giới với Lào.Đây cũng là một năm đặc biệt với Trường VBQG:- Tốt nghiệp Khóa 5 (Hoàng Diệu) ngày 20/04/1952- Tốt nghiệp Khóa 6 (Đinh Bộ Lĩnh) ngày 1/10/1952- Khai giảng Khóa 7 (Ngô Quyền) ngày 15/05/1952- Khai giảng Khóa 8 (Hoàng Thúy Đồng) ngày 15/ 10/ 1952.Giáp Thìn 1964: Miền Nam trải qua nhiều xáo trộn sau cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963.Trong một năm có nhiều cuộc chỉnh lý, đảo chánh, phản đảo chánh. Nhiều chính phủ ngắn hạn kế tiếp nhau.Đối với Trường VBQG:- Tốt nghiệp Khóa 19 (Nguyễn Trãi) ngày 28/ 11/ 1964- Khai giảng Khóa 21 (Chiến Thắng Nông Thôn) ngày 14/ 12/ 1964.
Niềm Tư Hào và Lòng Tự Trọng 229Niềm Tự Hào và Lòng Tự TrọngĐào Quý Hùng, K26Hai người bạn thân, cùng học trung học với nhau từ lớp Đệ Thất cho đến khi đậu Tú Tài Hai, hai người rủ nhau thi vào Võ Bị, bốn năm sau ra trường mỗi người đi mỗi ngả. Cuối tháng 4 năm 1975, vật đổi sao dời, mỗi người mỗi phương trời khác nhau. Quả đất tròn, ông trời run rủi, lại cho hai người gặp nhau trên đất Hoa Kỳ, cùng một tiểu bang nhưng kẻ Bắc người Nam. Tuy cách xa hơn 400 trăm dặm nhưng thỉnh thoảng vẫn có dịp gặp gỡ thăm hỏi, chén thù chén tạc, khề khà kể lể chuyện ngày xửa ngày xưa, nói hoài chỉ hết giờ chứ không bao giờ hết chuyện, ngoài tình bạn còn tình đồng môn đồng khóa nữa. Thế mà, chỉ một sớm một chiều, bỗng dưng quay mặt không nhìn nhau, tưởng chừng như chưa từng quen biết bao giờ, thậm chí còn xem nhau như kẻ thù nữa.Nguyên do, cách đây hơn bảy năm, có những chuyện không thể ngờ được đã xảy ra trong một tập thể lớn, có tiếng với kỷ luật thép, một tập thể mà người đời luôn nhìn với cặp mắt nể phục. Đó là tập thể các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị ở hải ngoại. Được thành lập và sinh hoạt hơn bốn mươi năm qua, nhưng chỉ vì một vài cá nhân bất đồng ý kiến trong việc dành quyền ấn hành cuốn sách viết về trường Võ Bị, rồi đâm ra bất mãn, tự tách khỏi tập thể và xách động thành viên khác, dựa
230 Đa Hiệu 127theo một cuộc trưng cầu ý kiến trên e-mail riêng, tự thành lập một tổng hội đi ra ngoài nội quy và tự ấn hành cuốn sách lịch sử. Kết quả là tập thể bị phân hóa, người theo bên này, kẻ ở bên kia. Lãnh đạo của nhóm tách rời tìm cách thuyết phục Tổng Hội Trưởng quay sang cộng tác với họ. Vì bổn phận và trách nhiệm đã nhận trước Đại Hội Đồng, vị THT không thể nào tự ý quyết định một việc hoàn toàn sai trái, không đúng nguyên tắc. Thực ra, nếu thành tâm muốn quay về sinh hoạt với tập thể họ chỉ việc tham dự Đại Hội truyền thống vẫn hằng duy trì từ hơn 40 năm qua, cùng hòa nhập vào việc ứng cử, bầu cử minh bạch mà mọi người lúc nào cũng hân hoan chào đón, không một ai phản đối. Nhưng sau khi không thuyết phục được vị THT ngả theo ý của họ, thì bắt đầu có những cá nhân đã dùng phương tiện truyền thông để chửi bới, bêu xấu, nguyền rủa, thậm chí dùng cả những lời lẽ thô tục, bẩn thỉu, bôi nhọ chính vị THT và những ai không nghe theo chính kiến của họ lấy cớ là không chịu “thống nhất”. Huynh đệ trong tổng hội tuổi trẻ nhất cũng xấp xỉ bảy mươi, đa số lấy dĩ hòa vi quý làm đầu, một sự nhịn chín sự lành, nên âm thầm chịu đựng, không nêu ý kiến, mong ngày nào đó mọi người sẽ hồi tâm, sóng gió sẽ qua đi.Năm 2019, Khóa 26 tổ chức 50 năm ngày nhập trường (1969-2019), đại hội thành công mỹ mãn, thừa thắng mọi người hăng hái quyết định sẽ tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày mãn khóa vào cuối tháng 6 năm 2023. Gần đến ngày đại hội Khóa 26, nhóm Võ Bị tách rời nêu trên không biết vì lý do gì đã dời ngày tổ chức đại hội của họ trùng vào ngày tháng này và cũng chọn Nam Cali là địa điểm tổ chức như của khóa 26. Chuyện trùng hợp này hoàn toàn không có ác ý, sắp đặt, nhưng có người lại lớn tiếng cho là Khóa 26 cố tình tổ chức để phá đám chuyện của họ. Thậm chí có một CSVSQ Khóa 29 đã lên Facebook nặng lời kết tội “Khóa 26 là thật đáng nguyền rủa.” Một CSVSQ Khóa 27 khác e-mail nói rằng “Khóa 26
Niềm Tư Hào và Lòng Tự Trọng 231không có quyền mời các CSVSQ khóa khác tham dự.” Không hiểu đầu óc họ nghĩ gì mà có thể quyết đoán quá hồ đồ như vậy, vì ngày giờ tổ chức kỷ niệm 50 năm của Khóa 26 đã được xếp đặt bốn năm trước nhóm của họ.Đại Hội truyền thống của tổng hội cứ hai năm tổ chức một lần, địa điểm được quyết định bởi Đại Hội Đồng, và vì đại dịch COVID-19 nên Đại Hội Võ Bị kỳ thứ XXII thay vì tổ chức năm 2020, bị trì hoãn đến đầu tháng 7 năm 2022, CSVSQ Nguyễn Phước Ái Đỉnh K26 được bầu là THT cho nhiệm kỳ 2022-2024. Một năm sau đó phe nhóm bên kia thay vì tham dự Đại Hội XXII, lại một lần nữa cố tình chia rẽ bằng cách tổ chức đại hội lấy tên là đại hội lần thứ 22 vào tháng 7 năm 2023 với CSVSQ Nguyễn Huệ K25 đắc cử chức THT. Không ít lâu sau, CSVSQ Nguyễn Huệ tìm cách bắt tay với CSVSQ Nguyễn Phước Ái Đỉnh và tạo ra một cuộc trưng cầu ý kiến, giống như cuộc trưng cầu ý kiến bảy năm trước, khoe khoang kết quả với con số 900 người tham dự bao gồm cả những người chưa từng hoặc đã từ lâu vắng bóng trong sinh hoạt của tập thể, những CSVSQ và quả phụ cư ngụ, sinh sống tại Việt Nam. Nhận xét về việc này, một NT khóa 16 nói, đây là một cuộc “lừa đảo rất ngoạn mục”, với chiêu bài kêu gọi “Đoàn Kết, Thống Nhất”, khiến cho số đông thường không theo dõi sinh hoạt của tập thể, nhẹ dạ tin theo. Trên thực tế tổng hội chưa bao giờ chia rẽ, khai trừ ai, chỉ có nhóm tự tách rời ra khỏi tổng hội, sinh hoạt riêng mà thôi. CSVSQ Nguyễn Phước Ái Đỉnh tự hủy bỏ những kết quả của ĐH XXII, đồng thời tự ý giải tán, thay đổi nhân sự trong trong Ban Chấp Hành và trong diễn đàn của tổng hội, rồi cùng với phe của CSVSQ Nguyễn Huệ cố ý bỏ ra số tiền lớn, nhất quyết phô trương, lấn át Đại Hội XXIII năm 2024 để tổ chức một đại hội lấy tên là Đại Hội Võ Bị Đoàn Kết Toàn Cầu 2024. Họ đã không tuân theo nội quy, mà còn vu khống tổng hội đương nhiệm là đã “xé nội quy”. Đây là một hành động vừa ăn cướp vừa la làng, cố tình quên rằng tuyên cáo của Đại Hội
232 Đa Hiệu 127XXII đã quyết định giao cho Hội Võ Bị Nam Cali tổ chức Đại Hội XXIII tại Nam California vào năm 2024. Một lần nữa họ lại tìm cách gây chia rẽ, làm tan nát tập thể Võ Bị. Vì CSVSQ Nguyễn Phước Ái Đỉnh đơn phương theo đuổi một việc làm đi ngược với quyết định của tập thể cũng như của Đại Hội Đồng XXII nên Hội Đồng Tư Vấn/ Giám Sát và Ban Chấp Hành nhiệm kỳ 2022-2024 cấp thời ủy nhiệm vị Tổng Hội Phó Nội Vụ tạm thời xử lý chức vụ quyền THT để kịp thời tổ chức Đại Hội XXIII theo đúng kỳ hạn, ngõ hầu bầu cử một tân THT thay thế, mặc dầu ở trong một tình thế thật khó khăn, đầy chông gai.Niềm tự hào của một CSVSQ không cho phép lừa đảo, gian dối, không dùng thủ đọan để lọc lừa nhất là với chính đồng môn của mình. Ngược lại cũng vì niềm tự hào, người CSVSQ cũng không thể nhu nhược khiếp sợ trước những lời hù dọa, vu khống, lấn áp. Cùng trong niềm tự hào, lòng tự trọng của một CSVSQ và ngay cả của một con người chân chính, cũng không cho phép họ a dua với những hành động lọc lừa, phản trắc, cho dầu có bị kẻ xấu tìm cách lôi kéo, bôi nhọ hay hãm hại.“Cọp chết để da, người chết để tiếng.” Ngày nay CSVSQ đã xa rời quân ngũ, có nhiều người đã ra đi và nhiều người còn lại, cuộc đời chỉ tính trên năm hoặc tháng, nhưng chắc chắn rằng, con cháu sẽ nhớ đến cha ông của họ bằng lòng kính phục và mến tiếc vì Trường Võ Bị hãnh diện đã đào tạo ra những đứa con ưu tú của đất nước. Tiếng thơm được xây dựng bằng thân xác, máu xương, mồ hôi, nước mắt của cả ngàn CSVSQ trên khắp chiến trường bốn vùng chiến thuật và trong lao tù nghiệt ngã. Bất cứ trong hoàn cảnh nào người CSVSQ cũng luôn chứng tỏ được niềm hãnh diễn là một đứa con của Trường Võ Bị với châm ngôn “Tự Thắng Để Chỉ Huy”. Tự thắng bản thân để xứng đáng là một cấp chỉ huy gương mẫu, đó chính là Truyền
Niềm Tư Hào và Lòng Tự Trọng 233Thống của một CSVSQ Võ Bị. Khi không còn là cấp chỉ huy cũng vẫn duy trì truyền thống tự thắng này để xứng đáng là một công dân tốt, thành thật và trung tín, không lừa dối, phản bội bạn hữu, hay với những người khác. Danh Dự của một CSVSQ không cho phép gian xảo, vu oan giá họa, không ngậm máu phun người, không thọc gậy bánh xe, không ăn nói thô lỗ, tục tắn, khiếm nhã với bất cứ ai kể cả phụ nữ và hàng con cháu.Người có lòng tự trọng cũng không ăn gian nói dối, không a dua về hùa hoặc sợ hãi trước những hăm he, hù dọa. Luôn ngẩng mặt tiến bước như những ngày còn diễn hành trong hàng quân của trung đoàn SVSQ.Nhưng niềm tự hào và lòng tự trọng không thể đi đôi với tính tự kiêu, tự đại, thích múa gậy vườn hoang, luôn cho mình là trên hết, khoe khoang đủ cách để lừa bịp, chiêu dụ lôi kéo người khác.Để tóm tắt và kết luận, đã may mắn được xuất thân từ trường Võ Bị, đã hãnh diện là một Cựu Sinh Viên Sĩ Quan của Trường Võ Bị, thì bổn phận tối thiểu là giữ gìn truyền thống “Tự Thắng” để chỉ huy chính mình, thứ đến là cố gắng bảo vệ không làm hoen ố “Danh Dự” của Trường Võ Bị, của một CSVSQ. Sống trong xã hội cần có đạo đức lương tâm, tự xét bản thân mình trước khi phê phán, chỉ trích người khác, gạt bỏ tánh nghi kỵ, nhỏ nhen hay xoi mói, bới lông tìm vết hoặc vu khống vô căn cứ. Sau hết hãy nêu cao tinh thần “Trách Nhiệm” của mình trong bất cứ trọng trách nào nắm giữ, đơn giản nhất là chức phận của một người chồng, người cha, người công dân hay một thành viên tốt trong tập thể.Niềm Tư Hào và Lòng Tự Trọng không thể thiếu trong mỗi Cựu Sinh viên Sĩ Quan xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
234 Đa Hiệu 127Nguyễn Văn Ức, K16Khóa 16 Võ Bị tốt nghiệp vào ngày 22 tháng 12 năm 1962. Tôi đã tình nguyện về Quân Chủng Không Quân khi ra trường. Thật may mắn, tôi đã được tuyển chọn. Sau thời gian nghỉ phép, tôi và khoảng 25 bạn cùng khoá đã trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân. Sau đó chúng tôi được gửi đi học Anh Văn và chờ khoá huấn luyện phi hành, được tổ chức tại Hoa Kỳ. Đây là thời gian vàng son khiến tôi nhớ mãi. Tôi vào Khóa 64W, học sơ huấn tại Trường Bay Fort Wolters ở Fort Worth, Texas từ tháng 4/1963. Sau khi tốt nghiệp lớp Phi Hành Sơ Đẳng, tôi đã được di chuyển qua học lớp Phi Hành Cao Cấp tại Trường Bay Fort Rucker vào tháng 10/1963. Sau thời gian thực tập ở đây, tôi tốt nghiệp khóa đào tạo phi công trực thăng tại Mỹ. Khóa học đã được tổ chức thành nhiều giai đoạn, nhưng điều mà tôi nhớ nhất là giai đoạn được bay thực tập (có huấn luyên viên ngồi cùng). Một kỷ niệm đặc biệt xảy ra trong giai Những Vui BuồnTrong Cuộc Đời Binh Nghiệp Của Tôi
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 235đoạn này đã khiến tôi nhớ đến hôm nay. Chuyện này không liên quan đến khả năng phi hành của tôiVào tháng 11 năm 1963, tại Việt Nam, quân đội đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm đưa đến cái cái chết trực tiếp cho chính ông và bào đệ Ngô Đình Nhu của ông. Tiếp theo là cái chết của ông Ngô Đình Cẩn, một bào đệ khác. Kết cục bi thảm của cuộc đảo chánh đã gây bao thương tiếc đối với người dân dành cho Tổng Tống Diệm. Họ nhớ đến ông như một cấp lãnh đạo đạo đức và có công cứu nước, cứu miền Nam Việt Nam. Ông đã có công đưa Việt Nam khỏi ách thống trị của Cộng Sản Bắc Việt, cũng như chấm dứt chế độ cai trị của thực dân Pháp. Một giai đoạn mới bắt đầu cho một nước Việt Nm hoàn toàn độc lập và tự chủ. Mặt khác, trong thời gian Tổng Thống Diệm cai trị đất nước, cuộc sống người dân rất sung túc, tôn ti trật tự của xã hội được tôn trọng, đất nước yên ổn. Vì thế đã không ít người cảm thấy mất mát về một thời thịnh trị đã qua của đất nước.(Nếu so sánh, thời Tổng Thống Diệm còn tại chức với sau này, đời sống dân chúng khác nhau rất nhiều. Khi tôi còn đi còn đi học, đất nước thịnh vượng, đời sống người dân sung túc. Khi là SVSQ tại TVBQGVN vào những năm đầu 1960, lương của một SVSQ tương đương lương trung sĩ, khoảng 2200$/ tháng. Thế mà các SVSQ được ăn uống đầy đủ ngon lành. Tiền còn dư để chi tiêu cho cá nhân thừa, không thiếu thốn. May một bộ vest chỉ có 100$. Đời lính của các quân nhân, từ lính trở lên đầy đủ, thoải mái. Lúc đó, người lính lĩnh khoảng 900$/ tháng, nhưng tiền mua một bao gạo chỉ có khoảng gần 400$. Sau này với lương trung tá là mấy chục ngàn. Họ đã phải dùng nửa số lương chỉ để mua gạo.)Lúc xảy ra cuộc đảo chánh thì tôi đang học bay ở Hoa Kỳ. Chúng tôi cố gắng tìm hiểu các tin tức liên quan đến cuộc đảo chánh, khi tin tức còn mù mờ bay đến Mỹ. Cũng phải nhận người Mỹ có nhiều điểm hay. Đã có một huấn luyên viên Hoa Kỳ đã đặt câu hỏi với chúng tôi:
236 Đa Hiệu 127- Giờ đây Việt Nam đang có đảo chánh, các anh có muốn xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ hay không? Chúng tôi sẽ giúp.Tôi ngạc nhiên hỏi lại:- Vậy thì nhóm đảo chánh thân Mỹ, hay thân Cộng Sản?Khi được biết nhóm đảo chánh là những thành phần quân đội có khuynh hướng thân Hoa Kỳ, tôi bèn trả lời:- Như thế chúng tôi xin tỵ nạn chính trị để làm gì? Chúng tôi sang đây du học là để có cơ hội về lại quê nhà bảo vệ đất nước mà thôi.Ngày 22 tháng 11 năm 1963, tôi bay trực thăng thực tập với một huấn luyên viên. Những lần như vậy, thường thì huấn luyên viên bảo tôi làm gì thì tôi làm nấy. Các học viên thường thì không có ý kiến. Trên máy bay có tần số dành cho đài phát thanh. Lúc đó, viên huấn luyện viên nghe tin tức phát ra từ môt cái radio, gắn trên trực thăng. Khi vừa nghe tin Tổng Thống Kennedy bị ám sát chết, ông ta quay sang tôi báo cho biết. Tôi bấm intercom (bộ đàm thoại để nói truyện trực tiếp với nhau qua tần số âm thanh), trả lời với phản ứng tự nhiên:Trực thăng yểm trợ cho mặt trận An Lộc, 1972.
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 237- He pays what he did for my President. (Ông ấy trả những gì đã làm cho Tổng Thống của tôi.)Bị bất ngờ, ông ta quay sang tôi hỏi:- What do you mean? (Anh có ý gì.)Tôi lập lại lời nói vừa rồi: - He pays what he did for my President.Ông ta nói lại: - No more fly, let’s go home. (Không bay nữa, về nhà.)Tôi biết là đã gặp rắc rối.Vào lúc đó, dân chúng Hoa Kỳ rất quý mến Tổng Thống Kennedy. Vì thế cái chết của ông đã gây xúc động đến hàng triệu người Hoa Kỳ. Câu nói bất ngờ của tôi đã làm tổn thương đến tình cảm của ông ta. Khi xuống máy bay, thay vì chờ cánh quạt phi cơ ngưng hẳn, ông ta nói:- Hãy làm xong việc của anh và vào phòng thuyết trình.Sau đó, ông ta đi thẳng mà không nói với tôi thêm một lời. Tôi đã suy nghĩ câu nói của tôi trên đường từ máy bay vào phòng thuyết trình. Tôi phải làm gì, phân vân phải nói thế nào với ông ta, khi chỉ vì một câu nói vô tình, tôi có thể bị loại khỏi khoá học và không tốt nghiệp. Khi vào phòng thuyết trình, tôi và ông ta ngồi khá xa nhưng nhìn thấy nhau. Khi thấy tôi, viên huấn luyện viên vừa cùng bay trực thăng với tôi, hỏi:- Anh nói gì khi đang bay?Tôi lập lại câu nói.- Sao anh nói như vậy? Tự nhiên tôi bật ra câu trả lời là câu nói vừa rồi là của các báo chí tại Việt Nam đã viết. Ông ta khựng lại:- OK! Từ nay trở đi, tôi không muốn anh nói bất cứ chuyện
238 Đa Hiệu 127gì về vấn đề này nữa.Tôi đã trả lời:- Yes, sir.Tôi không rõ điều gì đã khiến tôi có câu trả lời như vậy. Đây có phải là phản ứng của tôi đã giúp tôi? Tôi thật sự không suy nghĩ khi phải trả lời ông ta như thế nào. Phải chăng có một điều gì đó linh thiêng đã giúp tôi thoát khỏi tình cảnh rất ư khó chịu. Tôi tiếp tục theo học hết khóa học phi hành và tốt nghiệp về nước.Tháng 4-1964, khi về Việt Nam, tôi đã được thuyên chuyển qua Phi Đoàn 217 Trực Thăng tân lập, đóng tại Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Tại đây, là pilot mới về sau khóa huấn luyện chúng tôi vẫn được thực tập để quen với thực tế, và sắp sửa lên Trung Úy.Khoảng hai tháng, tất cả pilot ra Đà Nẵng để nhận một phi đoàn do Đại Đội 364 Aviation của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ giao lại.Lúc đó Chỉ Huy Trưởng, Chỉ Huy Phó Phi Đoàn, Trưởng Phòng Hành Quân, và Sĩ Quan An Phi đều là các thiếu úy. Ba tháng trước khi chúng tôi lên trung úy, thì họ đã lên trung úy trước chúng tôi. Ngoại trừ viên Sĩ Quan An Phi, không giữ nhiệm vụ chỉ huy nên còn giữ cấp bậc cũ. Trong 16 phi công của phi đoàn đã có 15 sĩ quan, xuất thân từ Khóa 16 TVBQGVN. Trong đó có tôi, Tâm, Dũng, Tân, Bảo Sung... Chúng tôi đã tham dự cuộc hành quân tại một mặt trận ở Bời Lời. Vì là lần đầu tiên chúng tôi xuất trận nên Phi Đoàn Trưởng đã dẫn bốn trực thăng bay đổ quân cho Nhảy Dù. Tới điểm đổ quân, từ 300 feet, ông đã từ từ bay cách mặt đất 8 feet trước khi hạ xuống. Địch đã có đủ thời gian bắn lên trực thăng và pháo kích vào bãi đáp (LZ).
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 239(Sau này, chiến thuật đổ quân của trực thăng đã có nhiều thay đổi. Các pilot bay ào ào, từ độ cao khoảng 300 feet, dứt khoát xà xuống mục tiêu, đáp xuống đất, và cất canh thật nhanh khi cuộc đổ quân đã xong. Chiến thuật này đã tránh được tổn thất đáng kể cho các phi hành đoàn.)Đại Úy Vương Mộng Hồng (Khóa 14 VB), một đại đội trưởng của một đại đội Nhảy Dù ngồi cùng trực thăng với Bảo Sung và Tân (chiếc số 4). Chiếc trực thăng này bị bắn rớt và phát nổ khiến cả phi hành đoàn đã tử trận. Chiếc thứ hai cũng bị rớt và cháy khiến Trung Úy Lễ chết và Nhường (co-pilot) bị phỏng nặng. Nhưởng đã được chuyển về thương Grall để trị liệu.Sau trận đánh, Quân Đoàn có thưởng cho phi đoàn bốn Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liễu.Phi Đoàn Trưởng nhóm họp để quyết định trao thưởng huân chương cho ai. Lúc đó tôi và Trung Úy Tâm là phụ tá Trưởng Phòng Hành Quân. (Như thường lệ, các huy chương được đề nghị cho những người có cấp bậc cao nhất.) Phi Đoàn Trưởng đã quyết định phân phối bốn phi chương cho Phi Đoàn Trưởng, Phi Đoàn Phó, Trưởng Phòng Hành Quân, và Sĩ Quan An Phi. Vì cảm thấy quyết định này không hợp lý, tôi đã lên tiếng trình bày:- Thưa Trung Úy, Sĩ Quan An Phi không tham dự cuộc hành quân mà chỉ là Test Pilot (phi công bay thử máy bay) thôi. Người xứng đáng được hưởng huy chương thứ tư là Trung Úy Nguyễn Văn Nhường, đã bị thương tại mặt trận.Trung Tá Nguyễn Văn Ức, 1972
240 Đa Hiệu 127Lần đầu tiên nghe thuộc cấp phản ứng một cách bất thường, ông ta khựng và nói:- Anh cho tôi suy nghĩ.Một tuần sau, tôi được ông ta gọi vào cho biết đồng ý với đề nghị của tôi là trao chiếc huy chương thứ tư cho Trung Úy Nguyễn Văn Nhường. Hai ngày sau, ông ta ký văn thư cách chức tôi khỏi chức vụ Phụ Tá Trưởng Phòng Hành Quân, và thay thế bằng Trung Úy Phạm Viết Dũng, cùng khóa. Điều này nói lên những phức tạp có thể gặp khi phục vụ trong quân đội, ngay cả khi nói đến sự công bằng. Đối với các cấp chỉ huy thì họ nghĩ khác. Họ nghĩ rằng tôi đã không phục tùng quyền lực của họ. Đối với tôi, anh Nhường được hy chương đó là công bằng, vì anh là người trực tiếp tham dự cuộc hành quân và bị thương tại mặt trận. Anh là người duy nhất bị thương còn sống. Còn những người khác đã chết.Từ đó, viên Trung Úy Phi Đoàn Trưởng đó “đì” tôi tối đa. Tôi không quan tâm vì chỉ những người không có khả năng thì mới sợ. Tôi chỉ làm những việc phải làm thôi. Sau này, phi đoàn được di chuyển xuống Cần Thơ. Phi Đoàn 217 sát nhập vào Không Đoàn 74, do Đại Tá Nguyễn Huy Ánh làm Tư Lệnh. Ông đã bay với tôi một vài lần và đã kiểm soát tôi, như một trưởng phi cơ và huấn luyên viên. Ông đã nói:- Anh bay khá lắm. Ráng cố gắng.Năm 1967, tôi lên đại úy. Khi đang đứng ngoài phi đạo của trực thăng, tôi thấy các một số máy bay F4 Mỹ đang bay trên bầu trời, hành quân yểm trợ quân bạn của mình, tại Vị Thanh. Tự nhiên tôi thấy một chiếc dù đang bung ra từ một chiếc F4 đang rơi xuống.Tôi la lên:- Chiếc F4 bị hư máy. Pilot đang bung dù nhảy dù kìa.
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 241Tôi gợi co-pilot (phi công phụ) lấy một chiếc trực thăng, rồi tôi bay thẳng theo hướng của cái dù đang rơi.Tới nơi, tôi “rà” trực thăng xuống, “nhặt” viên Đại Úy Mỹ lên và đưa viên phi công Mỹ bay ngược lại phi trường, trong vòng 15 phút. * * *Khi báo chí Mỹ phỏng vấn, tôi đã trả lời:- Tôi thấy pilot của F4 rớt và nhảy dù ra khỏi phi cơ thì phản ứng tự nhiên của tôi là phải bay đi cứu mà thôi. Tôi không nghĩ gì hơn chuyện đó. Tôi chỉ muốn cứu anh ta về thôi. Lúc đó, chưa ai kịp ra lệnh cho tôi hết.Báo chí đã khen ngơi tôi. Viên cố vấn của phi đoàn báo cho tôi biết là ông ta đã đề nghị cho tôi một huy chương Hoa Kỳ. Đại Tá Tư Lệnh Không Đoàn gọi tôi lên và hỏi:- Anh nghĩ thế nào mà anh làm chuyện đó?- Thưa Đại Tá! Là pilot trực thăng, khi tôi thấy môt pilot khác, vốn là đồng minh của mình, bị rơi máy bay phải nhảy dù ra thì phản ưng tự nhiên của tôi là bay đi cứu ra khỏi vùng nguy hiểm.Ông vỗ vai tôi và nói:- Anh là một pilot có phản ứng rất tự nhiên. Tôi khen ngợi anh. Từ lúc đó ông tỏ ra có cảm tình và mến tôi.Từ đó, năm 1968, mỗi khi có cuộc hành quân trực thăng, có gunship của Mỹ yểm trợ ở Vùng 4, tôi đều được cử hướng dẫn hợp đoàn trực thăng, khoảng 10 chiếc.Một lần viên Trung Tá Bộ Binh Mỹ, Cố Vấn của Phi Đoàn, muốn xin làm co-pilot cho tôi, khi có cuộc hành quân ở Vĩnh Bình.Khi bay thì Mỹ chỉ định mục tiêu và thả trái khói để toán
242 Đa Hiệu 127trực thăng đáp. Pilot trưởng toán không thể xem bản đồ vì bận lái máy bay. Co-pilot giữ nhiệm vụ đó. Theo hiệu lệnh của copilot, phi công trưởng toán hướng dẫn cả toán trực thăng bay thẳng vào mục tiêu và đáp hạ cánh. Lần này, viên trung tá copilot chỉ tọa độ hơi trễ chút xíu khiến tôi đã đáp hơi overshoot (quá mục tiêu chút ít) mục tiêu, vì không kịp phản ứng.Trên tần số, có tiếng chửi thề của trưởng toán gunship. Tôi không thèm để ý, vì nó chửi nó nghe. Vả lại ở mặt trận thì các tiếng nói, chửi thề thô tục vẫn thường xảy ra. Dân tác chiến thường thường như vậy.Khi trực thăng cất cánh trở lại, viên trung tá Mỹ hỏi tôi có muốn phạt trưởng toán cùa gunship hay không? Tôi trả lời:- Không, không cần. Trong cuộc hành quân, nhiều khi người ta không làm đúng ý mình thì mình cũng bực bội. Hắn tức mà nói vậy thôi. Tuy nhiên, tôi muốn trưa nay, Trung Tá xin cho cả 10 phi hành đoàn của tôi ăn cơm tại Câu Lạc Bộ Hoa Kỳ.Khi toán trực thăng đáp xuống căn cứ của Mỹ ở Vĩnh Long, viên trung tá Mỹ gọi viên đại úy - trưởng toán gunship, nói:- Anh đã chửi Đại Úy này. Ông ta đáng thày tôi. Bây giờ anh phải vào Câu Lạc Bộ đặt bữa ăn để đãi tất cả 10 phi hành đoàn Việt Nam này!Viên đại úy trưởng toán gunship tuân lệnh và xin lỗi tôi.Thực ra, ăn cơm Mỹ cũng không ngon gì; nhưng bữa ăn có sữa, trái cây tráng miệng. Ngoài ra, việc ăn cơm tại Câu Lạc Bộ Hoa Kỳ như một cơ hội để các phi hành đoàn của tôi thấy thấy thái độ nhận lỗi của viên trưởng toán gunship.Từ đó, viên cố vấn rất có cảm tình với tôi. Trước khi về nước, ông ta nói rằng nếu có dịp gặp lại sau này thì mong là chúng tôi có cơ hội làm việc với nhau.Tôi đã cám ơn nhã ý của ông ta, trả lời:- Tôi không rõ, nhưng tôi nghĩ tôi vẫn còn ở đây. Tôi mong ông sẽ trở lại để cùng làm việc chung với nhau. Tôi không
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 243biết.Năm 1975, khi mất nước. gia đình tôi đã tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Tôi đã hỏi ông ta có việc cho tôi làm không?- Qua đây, đi học rồi đi làm. Ông ta trả lời.Tôi còn phân vân chưa quyết định vì tôi muốn có việc làm mà không muốn ăn bám. Đồng thời, bà xã tôi cũng không thích qua tiểu bang này, mà chờ người nhà bảo lãnh sang California.Vì thế, tôi đã trả lời ông ta là tôi không có ý định đó.Khi anh Tâm ở Luisiana lên thăm, ông ta đã phân trần:- Tôi đã bảo lãnh ông Ức, qua Nhà Thờ lo chỗ ăn ở và trả mọi chi phí, kể cả điện nước, cho gia đình ông ta. Trong sáu tháng đầu tiên, ông ta không phải trả một chi phí nào. Tôi không biết tại sao ông ta không theo sự hướng dẫn của tôi?Về sau, tôi mới biết ông ta là Phó Giám Đốc một công ty chuyên làm ống cống xi măng. Ông ta đã chuẩn bị cho tôi công việc kiểm soát phẩm chất sản phẩm (quality control), nhưng không nói cho tôi biết. * * *Trở lại câu chuyện khi tôi ở Phi Đoàn 217, Không Đoàn 74 Chiến Thuật.Tôi tiếp tục làm các nhiệm vụ do Đại Tá Tư Lệnh Không Đoàn 74 Chiến Thuật ra lệnh. Một lần sau chuyến bay, thay vì về phòng nghỉ ngơi, các phi công đã tụ tập đánh mạt chược tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, từ tối cho đến 7 giờ sáng. Mọi người đều mệt mỏi. đại Tá Ánh và vợ cùng vào ăn sáng. Thấy tôi, ông ngoắc lại và bảo ngồi cuống ghế.- Anh đánh mạt chược từ tối đến giờ, phải không? Ông hỏi.Tôi trả lời là đúng. Ông nói tiếp:- Trước khi về ngủ, tôi báo cho anh tin này. Anh chuẩn bị về Sài Gòn đi làm Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân Hoa Kỳ.
244 Đa Hiệu 127Tôi không tin điều mình nghe, vì biết chuyện đó khó xảy ra cho tôi. Những người trên Bộ Tư Lệnh Không Quân dành lấy hết chỗ rồi, làm gì tới tôi. Tôi buột miệng nói:- Tôi đâu có xin.- Tôi không thấy người nào “ngu” như anh. Người ta chạy chọt xin đi mà không được. Chính tôi đích thân xin Tướng Tư Lệnh Không Quân cho anh đi mà anh không biết cảm ơn và định không đi. - Tôi nói thật lòng, thưa đại tá! Tôi làm việc trong Không Đoàn này đã lâu. Đại Tá là cấp chỉ huy mà tôi rất kính phục và quý mến. Nếu tôi đi thì tôi không biết sẽ về đâu. Tôi nói.- Thì anh cứ đi đi, rồi chừng nào về thì tính sau. Tôi đã về làm giấy tờ đi làm Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân Hoa Kỳ.Vào khoảng những năm 1969 và 1970, Không Quân Việt Nam phát triển. Không Đoàn 74 thành Sư Đoàn 4 Không Quân. Phi Đoàn Trực Thăng mới nhất, thành lập đầu tiên là Phi Đoàn 225. Gần hết nhiệm kỳ, tôi đã điện thoại nói chuyện với anh Tâm, cùng khoá. Anh cho biết, tôi đã được Đại Tá Anh cử làm phi đoàn trưởng từ 1 tháng 10 -1970.Tôi đã báo cho anh Tâm biết rằng nhiệm vụ Sĩ Quan Liên Lạc của tôi tới tháng 11 cùng năm mới hết. Nếu tôi về tới Việt Nam thì cũng khoảng giữa tháng 12. Tôi không thể nhận nhiệm vụ mới tại Phi Đoàn 225.Anh Tâm đã báo lại cho Đại Tá Ánh. Anh Lê Văn Châu, gọi là Châu ”Cao Bồi”, khóa của tôi, đã được bổ nhiệm thay thế.Anh Trần Châu Rết, Khóa 16, cũng được bổ nhiệm làm Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn Phi Đoàn 227 vào tháng 11 năm 1970.Cuối tháng 11-1970, tôi về tới Sài Gòn trình diện Bộ Tư Lệnh Không Quân. Nơi đây tôi đã được bổ nhiệm làm Phi
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 245Đoàn Trưởng Phi Đoàn 221, Không Đoàn 43, Sư Đoàn 3 Không Quân, tại Biên Hòa. Phi Đoàn 221, là phi đoàn thứ hai của Sư Đoàn 3, được thành lập vào ngày Một tháng Giêng năm 1971. Phi Đoàn đầu là Phi Đoàn 223 được thành lập tháng 12 năm 1970.Lúc đó có tất cả năm phi đoàn trực thăng và một phi đoàn Chinook. Những phi đoàn trưởng đó, ngoài tôi, đều đã phục vụ ở Phi Đoàn 219 dùng cho Biệt Kích ở Đà Nẵng. Không Đoàn Trưởng là đàn anh của họ. Tôi là “người ngoài”. Trong một bữa cơn giữa tôi với viên sĩ quan Trưởng Phòng An Ninh Sư Đoàn 3 KQ, ông ta nói: - Anh là người đơn độc trong Không Đoàn vì tất cả phi đoàn trưởng, trừ anh, là đàn em của Không Đoàn Trưởng Trường.- Sao anh biết tôi đơn độc.- Anh là người “ngoài” tự nhiên dính vào.- Công việc của mình thì mình làm đàng hoàng. Có gì đâu mà sợ. Tôi trả lời.* * *Từ ngày về không đoàn, tôi đã tham gia nhiều cuộc hành quân yểm trợ bên Campuchia. Một ngày, theo tin tức tình báo, Cộng Sản Bắc Việt đang giam giữ một số tù binh Mỹ tại Campuchia. Để giải cứu, Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ, đã ủy nhiệm tôi chỉ huy cuộc hành quân này. Trước khi tiến hành công tác, chiều hôm đó ông đưa tôi qua Long Bình để nghe thuyết trình. Qua bản đồ tôi mới biết mục tiêu là trại giam giữ tù binh Mỹ tại Campuchia. Sáu giờ chiều ngày hôm sau, tôi bay cùng Mỹ trên chiếc U10 của Hoa Kỳ để quan sát mục tiêu. Trên máy bay quân sự chỉ có tôi, một trung tá Mỹ Hoa Kỳ, cùng một pilot Mỹ. Máy bay đã bay ngang mục tiêu trên cao độ 10.000 feet, chỉ với mục đích quan sát, cho biết vị trí, nhưng không tỏ ra có hành
246 Đa Hiệu 127động nào bất thường. Lúc đó, phi hành đoàn Hoa Kỳ không được đáp trên đất của Campuchia. Do đó, tôi là người có trách nhiệm chỉ huy toán trực thăng đáp trên trên trại tù, trong khi Mỹ dùng gunship yểm trợ.Ngày hôm sau, Mỹ đã dùng B52, khu trục, gunship bắn phá các khu vực chung quanh trước khi cho toán trực thăng tiến vào mục tiêu. Tôi đã chỉ huy 4 chinook, 10 trực thăng, và một đại đội (+) đổ bộ vào trại giam. Rất tiếc, chúng tôi đã không kiếm được một tù binh nào, ngoài một số Việt Cộng bị chúng tôi bắt.Những tên này khai là tù binh đã được di chuyển từ hai giờ đêm hôm trước (!)Việt Công đã di chuyển tù binh rất kịp giờ. Phải chăng để bảo vệ an ninh của chúng nên thời gian di chyển trại tù trùng họp với việc giải cứu của ta? Thật là ngẫu nhiên! Hay là tin tức cuộc hành quân bị rò rỉ. Từ đâu? Do ai? Trong cuộc hành quân vừa qua, chỉ có mình tôi là người Việt Nam, đa số là người Mỹ. Câu trả lời tùy thuộc vào sự suy nghĩ của các độc giả. Trong cuộc chiến có nhiều điều mình không thể tưởng tượng được. Vào năm 1972, là Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 221, tôi đã hướng dẫn các họp đoàn trực thăng dổ quân vào An Lộc. Cường độ chiến tranh tại đây khốc liệt hơn bao giờ. Mặt trận trở nên vô cùng hung hiểm. Nhằm cô lập An Lộc, VC dùng tất cả các loại súng bắn thẳng, kể cả phòng không ngăn chặn các đợt chuyển quân bằng trực thăng. Phi Đoàn 221 trở thành mục tiêu chính của chúng. Ở giai đoạn này, trực thăng bay “raise mode” (bay thật thấp) thì thường bị VC nằm trên đọt cao su bắn rớt. Do đó, phi đoàn trực thăng chọn cách bay thật sát ngọn cây, đáp xuống mục tiêu và bay về, vì Việt Cộng khi nghe tiếng trực thăng chưa kịp bắn thì máy bay đã qua rồi. Tuy nhiên chúng tôi vẫn không tránh khỏi tổn thất. Kể từđầu cuộc hành quân, Phi Đoàn của tôi đã có hai chiếc bị bắn
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 247cháy. Vì thế, tôi đã đề nghị Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III cho máy bay vận tải thay thế vào tiếp thế để tiếp tế thuốc men, lương thực, đạn dược cho An Lộc. Ông đã chấp thuận và đã yêu cầu Không Quân cho vận tải cơ bay lên An Lộc thả dù cung cấp.Đùng một cái, vào khoảng trung tuần tháng 5/ 72, viên Cố Vấn của Tư Lệnh Quân Đoàn III báo cho biết rằng có bốn chiếc trực thăng Hoa Kỳ bay vào An Lộc an toàn mà không bị Việt Cộng bắn. Như thế có nghĩa báo cáo của chúng tôi về tình hình khó khăn ở đây đều sai. Trung Tướng Minh, biết tôi chịu trách nhiệm chuyển quân cho mặt trận An Lộc, đã gọi cho tôi hỏi rằng tình hình làm sao mà kỳ lạ vậy. Tôi trả lời:- Xin Trung Tướng cho phép tôi ra hỏi phi hành đoàn.Tôi ra gặp viên thiếu tá Hoa Kỳ, trưởng toán trực thăng của Mỹ, gồm bốn chiếc đã bay vào An Lộc và trở ra an toàn.Quan sát đầu tiên của tôi là cả bốn chiếc trực thăng đều sơn một vệt trắng ngang thân máy bay. Ngoài ra, phi hành đoàn Mỹ đều đội helmet (mũ phi hành) màu trắng. Tôi đã hiểu rõ câu chuyện. Tôi hỏi:- Thiếu Tá đi vào An Lộc qua flight path (đường bay) nào?Hắn cho tôi biết là toán trực thăng Hoa Kỷ đã bay vòng lên Tống Lê Chân rồi quay lại vào An Lộc. Đường bay này vô cùng nguy hiểm nên chúng tôi không bao giờ chọn như vậy. Tôi hỏi tiếp:Trung Tá Nguyễn Văn Ức, và gia đình. (Bên trái là viên sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ.)
248 Đa Hiệu 127- Tôi sẽ theo đường bay này, nhích sang trái và phải 500m, mỗi bên. Tôi đề nghị anh lên trực thăng hướng dẫn tôi vào An Lộc. - No, Sir! I can’t. (Không. Tôi không thể.)Tôi nổi giận không kiềm chế được mình, đã nói:- Các anh đã phản bội chúng tôi. Cách anh đã ra dấu cho Việt Cộng. Phi cơ các anh đã sơn giải trắng ngang máy bay, phi công đều đeo helmet (mũ phi hành) trắng. Các anh đã tạo mục tiêu rõ ràng cho VC dễ bắn. Nhìn các phi công của chúng tôi, tất cả đều được ngụy trang, anh nghĩ thế nào?- I’m sorry. I can’t do anything. Toán phi cơ này đã theo lệnh để thi hành.Tôi vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III Tiền Phương, nói lớn những gì tôi thấy và nghĩ.Cuối cùng, Trung Tướng Minh đã hiểu rõ câu chuyện. Không biết ông đã nói gì với viên Tướng Cố Vấn Hoa Kỳ, nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng qua đi trong quên lãng.Cũng ở An Lộc. Viên Tướng Cố Vấn Mỹ tại Quân Đoàn III có thông báo cho biết VC sẽ pháo kích vào Bộ Chỉ Huy Tiền Phương. Đúng như vậy, 15 phút sau, đạn pháo kích của VC đã có vài trái hỏa tiễn nổ ầm ầm trên căn cứ.Trong cuộc chiến vừa qua, đồng minh từ đầu đã muốn quân đội ta bị tê liệt, thiệt hại càng nhiều càng tốt, không còn phương tiện chiến đấu. Thân phận của nước nhược tiểu không thể làm hơn. Tệ hơn điều chúng ta tưởng tượngỞ trong quân đội, chúng ta thường phải chấp nhận những điều không ưng ý. Tuy nhiên, đối với tôi, do bản tính cố hữu, tôi đã có lần “đụng độ” với Tư Lệnh Quân Đoàn III.* * *Sau cuộc hành quân An Lộc, tôi đã được Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ bổ nhiêm làm Quyền Không Đoàn
Những Khó Khăn Trong Cuộc Đời Binh Nghiệp... 249Trưởng Không Đoàn 43 Chiến Thuật. Vào một ngày, Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III đã mời tôi cùng Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính - Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân và Đại Tá Nguyễn Văn Tường, biệt danh là Tường” Mực” - Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 3 KQ qua phòng làm việc.Ông đã nói rất là rõ. Ông xưng là “qua” và gọi tôi là “em”:- “Qua” nhờ “em” giúp “qua”. Vô Tống Lê Chân, đưa môt số thuốc men và tiếp tế lương thực cho trại, đưa môt số thương bệnh binh về. “Qua” sẽ cho phi hành đoàn, mỗi người lên một cấp.Ông đã nói với tôi trước mặt Tướng Tính và Đại Tá Tường “Mực”.Tôi đã trả lời là sẽ cố gắng. Lẽ dĩ nhiên thượng cấp yêu cầu thì mình cố gắng. Thi hành được hay không là do nỗ lực của phi hành đoàn. Nếu tôi bắt họ đi mà họ bị bắn thì tôi biết làm sao? Nếu phi hành đoàn bị bắn quá không thể vào được phải bay về thì tôi làm thế nào?Tôi đã tập hợp bốn phi đoàn trưởng cùng một phi đội tản thương, vì có một phi đoàn tân lập chưa thể hành quân. Tôi đã lập lại lệnh cấp trên giao cho Không Đoàn. Tôi cũng nói cho họ biết khi trở về mỗi người sẽ được lên một cấp. - Các anh về nói lại với các thành viên trong đơn vị. Ai tình nguyện thì các anh cho biết. Có 24 phi hành đoàn tình nguyện thi hành nhiệm vụ đó. Tôi đã chọn phi đội tản thương, vì quen bay đêm nên thi hành nhiệm vụ này dễ dàng hơn.Tôi đã bay huấn luyện cho phi hành đoàn tản thương, được chọn, cách bay vào Tống Lê Chân và đáp như thế nào. Đại Tá Tường cùng bay với tôi trên máy bay huấn luyện mỗi đêm, một tuần lễ tại phi trường Biên Hòa. Ông đã biết khó khăn như thế nào, nhưng vẫn hỏi tôi tại sao phải huấn luyện như vậy.