The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by lanthicung, 2026-04-02 05:26:29

FLIP DE NHI TAM CA NGUYET SAN 2026

FLIP DE NHI TAM CA NGUYET SAN 2026

TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 301VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 302VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 303VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIKỶ NIỆM THÁNG 9: HẠNH NGỘ VỚI ANH CHỊ BÙI CỬU VIÊN VÀ HỒNG THỦYTháng chín mùa thu về, nhớ bạn hiền Anh Chị Bùi Cửu Viên-Hồng Thủy.Tháng 4, 9 vào những năm trước đây chúng tôi có dịp gặp mặt nhà văn Hồng Thủy tại DC và tai CA. Gặp mặt chị Hồng Thủy là niềm hân hạnh, niềm vui lớn lao. Nhiều lần được gặp anh Bùi Cửu Viên (BCV, Cựu Đại tá Hải Quân VNCH). Anh chị là một đôi vợ chồng tài hoa và phúc hậu.Tôi và Hồng Thủy là bạn trong nhóm Trưng Vương và nhóm Một Thời Để Nhớ (MTDN). Nhóm MTDN này có nhiều bạn tên Nga. Ví dụ Bích Huyền là Nga B. Phạm và một bạn nữa là Nga C. Phạm, còn tôi được gọi tên là Nga Nguyễn.Nhóm MTDN gồm các bạn giỏi văn thơ, thường được họp mặt tại nhà chị Phương Kim, hiền thê của giáo sư Sớm. Xin được nói thêm về GS Sớm. GS Sớm là một người thâm thuý. Ông đã xuất bản hai quyển sách. Một trong hai quyển là “Chiêu Quân Cống Hồ”. Đặc biệt là cả hai quyển đều viết tay, không dùng máy đánh chữ.GS Sớm là người thâm nho, lúc nào cũng quý trọng các bạn của vợ. Ông chăm sóc một vườn cây xinh đẹp với những trái gấc chín đỏ. Ông để dành tặng bạn của vợ mình.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 304VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIThật là nhớ mãi GS Sớm. Xin được tưởng nhớ ông, ông đã qua đời tháng 9 năm 2022.Xin viết trở lại với tình bạn của Anh Chị Bùi Cửu Viên-Hồng Thủy. Tôi có dịp đến tham dự Đại Hội Trưng Vương tại DC và Đại Hội Trưng Vương tại Cali. Mỗi lần đến DC, thành phố này đều để lại nhiều kỷ niệm cho tôi. Anh BCV luôn ân cần săn sóc các người bạn trẻ của vợ mình đến từ Cali. Anh hỏi thăm xem có ai cần phương tiện di chuyển thì anh giúp ngay.Gần đây, tháng 9 năm 2017 chúng tôi nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian với nhà văn Trần Việt Hải, Trần Mạnh Chi đã có dịp chào đón Anh Chị Bùi Cửu Viên -Hồng Thủy tại nhà hàng Saigon Pearl, Costa Mesa. Đó là một ngày nắng ấm tuy đã bắt đầu vào mùa thu. Từ ngoài cửa chúng toi đã nhìn thấy anh BCV nhanh nhẹn bước vào với nét tươi cười trên gương mặt hiền hoà của một người đàn anh. Chúng tôi đón mừng Anh Chị BCVHT tại một nhà hàng đẹp trang trọng tại Costa Meza, Cali. Buổi tiệc thật vui vì có mặt Anh Chị BCV -HT. Nhóm bạn hân hoan chào anh chị và chụp hình kỷ niệm. Những câu chuyện tâm tình nói mãi không hết, quên cả ăn. Anh BCV thật hiền hòa và rất dễ mến. Chúng tôi kính trọng anh như một người Anh cả luôn chăm sóc hỏi thăm các bạn của Hồng Thủy với tấm chân tình của một người đàn anh.Đầu năm 2023 nhà văn Việt Hải, nhóm NVNT, có ý định đi DC vào tháng 10-2023, luôn tiện thăm Anh Chi BCV-HT. Nhưng, tạo hóa không chiều lòng người. Thật bất ngờ, vào tháng tư -2023, chúng tôi được nghe tin buồn là Anh Cựu Đại Tá Bùi Cửu Viên đã ra đi.Anh ra đi trong vòng tay ấm của người vợ hiền tài hoa, suốt đời một lòng yêu anh.Giờ đây tháng 9, mùa thu lại về, tình cờ những tấm hình trên Face Book đã đem lại niềm thương tiếc trong tôi. Lòng buồn, nhớ về anh Bùi Cửu Viên, vừa tiếc nhớ, pha chút ấm áp,một người sĩ quan HQ VNCH, một người đàn anh trưởng thượng, một người chồng tuyệt vời của nhà văn Hồng Thủy, bạn quý mến của tôi.Cali, Tháng 9, 2023 Lê Nguyễn Nga


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 305VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITRƯỜNG CA LY HƯƠNGNăm mươi mốt xuân tròn thân ly xứMất quê hương mất cả những thâm tìnhĐồng bào tôi, người đau khổ điêu linhKẻ lang bạt tìm miếng cơm manh áo...Năm mươi mốt năm dài trong gió bãoTriệu hình hài trôi dạt dưới đại dươngVạn sanh linh tan tác giữa sa trườngBao anh dũng nêu cao gương khí tiết !Năm mươi mốt năm buồn chào tiễn biệtLớp lớp ra đi như những áng mây mùTan biến vào nơi cõi mộng phù duDanh tài tuấn kiệt... cũng thành sương khóiNăm mươi mốt năm bao điều muốn nóiThốt chẳng ra lời từ ngục tối âm uCó còn đâu thời vàng son xa cũMở mắt nhìn mà nghẹn đắng môi khô !Vì chữ tự do đi tìm đường tị nạnNgười chiến binh phải lìa bỏ quê hươngMang trong tâm lời thề tròn sứ mạngCùng nhau trở về xây dựng lại giang san...Năm mươi mốt năm nơi phương trời lận đậnTóc bạc da nhăn cay đắng dặm trườngĐêm từng đêm lòng riêng mãi tơ vươngBao giờ hoa nở...trên đường...hồi hương ...nguyễn phan ngọc an - 2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 306VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIMẶC ĐỊCH, VỊ NGÔN SỨ CỦA THIÊN CHÚA Ở Á ĐÔNG.Khảo luận của Nguyễn Đức Cung1.- Đôi lời dẫn nhậpTrong Kinh Tin Kính của Công Đồng Nixê-Con-tan-ti-nô-pô-li của Giáo Hội Công Giáo có câu: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, Người cũng được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa con, Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.” (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, bản in của TGP/SG năm 1997, trang 83).Trong “Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội” (Ad Gentes) được công bố trong Khoá IX ngày 07 tháng 12 năm 1965, người ta đọc thấy ở Đoạn 13 những dòng như sau: “Bất cứ nơi nào Thiên Chúa mở rộng cửa cho việc rao giảng mầu nhiệm Chúa Kitô thì người ta phải tin tưởng và bền chí loan báo cho hết mọi người biết Thiên Chúa hằng sống và biết Đấng Thiên Chúa sai đến cứu chuộc mọi người là Chúa Kitô để những người ngoài Kitô giáo được Chúa Thánh Thần mở lòng và tin vào Chúa mà tự do trở lại cùng Người và trung thành gắn bó với Người, vì Người là “đường, là sự thật và là sự sống” (Gio 14, 6), nên Người làm thoả mãn mọi nguyện vọng thiêng liêng của họ và còn ban muôn ơn vượt quá mọi ước vọng đó.” (Thánh Công Đồng Chung Vaticano II, I Văn Kiện Công Đồng Hiến chế - Sắc lệnh – Tuyên ngôn – Sứ điệp, Giáo Hoàng Học Viện Pio X, Phân khoa Thần học, Giáo hoàng Học viện Thánh Pi ô X, Đà Lạt, Việt Nam, trang 622).Trong tác phẩm Đường vào thần học về tôn giáo, Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, OP có viết: “Hoạt động của Thần khí trong lịch sử cứu độ được đặt nổi hơn nữa trong thông điệp về Chúa Thánh Thần (Dominum et vivificantem) [1986]. Đức Gioan Phaolô II tái xác nhận hoạt động phổ quát của Thần khí từ trước biến cố cứu độ của Đức Giêsu Kitô và ngay ở bên ngoài phạm vi của Kitô giáo. “Không thể nào tự giới hạn nơi hai ngàn năm sau cùng, kể từ biến cố Giáng sinh của Đức Giêsu. Cần phải ngược dòng thời gian, ôm choàng tất cả hoạt động của Thánh linh từ trước biến cố Đức Kitô – ngay từ khởi thủy – trong toàn thế giới và đặc biệt trong lịch sử cứu độ của Cựu ước. Thực vậy tác động của Thánh linh được thể hiện ở mọi thời, mọi nơi và trong mọi người, theo chương trình cứu độ phổ quát, qua đó hoạt động của Thánh linh được nối kết chặt chẽ với mầu nhiệm nhập thể và cứu thế(…). Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn xa hơn và rộng hơn, khi biết rằng “gió muốn thổi đâu thì thổi” (Ga 3,8). Công đồng Vatican II, chú trọng đặc biệt ở đề tài Giáo hội, nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Thánh linh cũng hoạt động “ở bên ngoài” thân thể hữu hữu hình của Giáo hội. Công đồng công nhận Thánh linh hoạt động nơi “tất ca tâm hồn thiện chí” (GS. 22) chứ không chỉ nơi các Kitô hữu mà thôi” (số 53). Thông điệp Redemptoris Missio, ban hành


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 307VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIngày 7.12.1990, xác quyết rõ rệt Thần khí đã tác động không những trong các cá nhân, mà còn nơi các truyền thống tôn giáo nữa. “Thần khí biểu lộ một cách đặc biệt trong Giáo hội và trong các thành phần của Giáo hội, nhưng sự hiện diện và tác động của Ngài thì phổ quát, không hề bị gián đoạn bởi thời gian và không gian (…). Thần khí là (…) căn nguyên của nỗi khắc khoải hiện sinh và tôn giáo của con người. Sự hiện hữu và hoạt động của Thần khí không phải chỉ liên quan tới các cá nhân, mà còn liên quan đến xã hội, lịch sử, các dân tộc, các văn hoá và các tôn giáo”(số 28). [Nguyễn Thái Hợp, Đường vào thần học về tôn giáo, Định Hướng Tùng Thư, 2004, trang 83].Xuyên qua các lời trích dẫn trên đây người ta thấy rõ việc làm của Chúa Thánh Thần vượt biển thời gian và nói như thi sĩ Hàn Mạc Tử (1912-1940) “ vây lút không gian”, cùng việc “Người dùng các ngôn sứ mà phán dạy”, cụ thể với các bậc hiền triết trong các quốc gia Đông Phương như Khổng-Mặc mà chúng tôi sẽ khái quát dưới bài viết này.Trong lãnh vực triết lý Đông Phương mà cụ thể là ở Trung Hoa, vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, người ta bắt gặp một khuôn mặt lớn về hành trạng và tư tưởng của một nhân vật có lẽ chỉ đứng sau Khổng Tử 孔 子 và Lão Tử 老 子 mà thôi, đó là Mặc Địch 墨翟 hay thường gọi là Mặc Tử. Một học giả Việt Nam, Phạm Quỳnh (1892-1945) đã mệnh danh Mặc Địch là “vị tông đồ của hoà bình và hữu nghị”. Tiếc là tôi không có bản văn bằng tiếng Pháp của cụ Phạm Quỳnh, để đọc trong nguyên văn (textuellement) tiêu đề nói trên mà chỉ sử dụng bản tiếng Việt do nhà văn Phạm Toàn giới thiệu và biên tập qua tập sách “Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932” do Nhà xuất bản Tri Thức & Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây in năm 2007. Một tác giả khác, Henri BernardMaitre, một linh mục và học giả người Pháp thuộc Dòng Tên đã gọi Mặc Địch là “một vị tông đồ của lòng bác ái và một nhà biện giả” (Un Apôtre de la Charité et un Dialecticien). Giáo sư Tiến sĩ Phùng Hữu Lan (Fung Yu-lan) 馮 友 蘭 trong cuốn “Đại cương triết học sử Trung Quốc” (A Short History of Chinese Philosophy, 1948) bản dịch tiếng Anh gọi Mặc


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 308VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIĐịch (Mo Tzu) là “a militant preacher” (một chiến sĩ truyền giáo) qua bản tiếng Việt do GS TS Nguyễn Văn Dương dịch năm 1960 và dạy chúng tôi tại Viện Hán Học Huế 1960-1962. Tôi muốn gọi Mặc Địch là một vị ngôn sứ của Thiên Chúa ở Á châu hay cụ thể là ở Trung Hoa vì những nỗ lực truyền bá triết thuyết của ông rất gần với giáo lý của đạo Công Giáo.Trong một tác phẩm có tên “Giới thiệu Ngôn Sứ Thánh Kinh, Trào lưu Ngôn sứ. Bản văn. Con người. Sứ điệp.”, Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, PSS, mở đầu cuốn sách rất đồsộ của mình đã viết: “Ngôn sứ là một phần quan trọng trong lịch sử dân Ítrael cũng như trong Sách Thánh; nhưng ngôn sứ không phải là hiện tượng hay trào lưu độc quyền của Ítrael, cũng không phải của một dân tộc hay chủng tộc nào. Hiện tượng ngôn sứ có thể được tìm thấy trong lãnh vực tôn giáo của bất cứ dân tộc nào. Nó mang tính cách hoàn vũ, cảthời gian và không gian; vì con người nói chung, từ cổ chí kim, từ khắp mọi nơi trên thếgiới, luôn tự bản thân hay đặc biệt qua sự giúp đỡ của một vị trung gian, tìm kiếm nơi Đấng Vô Hình câu trả lời cho những bí ẩn và vấn nạn của cuộc đời đang từng ngày bao trùm lấy họ. Các nghiên cứu của khoa nhân chủng học, cách ngạc nhiên và thuyết phục, chỉ cho chúng ta thấy hiện tượng ngôn sứ trong các khu vực và văn hoá rất khác biệt nhau.” (Phạm Hữu Quang, Giới thiệu Ngôn sứ Thánh Kinh…, Nhà xuất bản Đồng Nai, 2022, trang 31).Vai trò của Chúa Thánh Thần được giới thiệu trong văn kiện của Thánh Công Đồng Vaticano II và “một vị trung gian” được Lm Phạm Hữu Quang nhắc đến trong cuốn sách mới phát hành chắc chắn cũng là Thần Khí, Đấng đã tác động mạnh mẽ trong tâm thức của Mặc Địch, nhà hiền triết của Đông Phương, để nói ra những chân lý về Đức Kitô sẽ được chúng ta phác họa lại theo những trang sau đây.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 309VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI2.- Mặc Địch, khuôn mặt nhà hiền triết bị lịch sử vùi lấp.Trong cuốn sách Lịch sử Triết học Trung Quốc”, tập I: Thời Đại Tử Học, của dịch giả Lê Anh Minh, tác giả Phùng Hữu Lan viết: “ Mặc Tử 墨 子 là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Từ thời Chiến Quốc đến đầu đời Hán, ngươi ta hay gọi danh xưng Khổng-Mặc chung với nhau. Tuy nhiên, khoảng năm 100 TCN khi Tư Mã Thiên viết Sử Ký thì Nho gia đã có vị thế áp đảo giới tư tưởng rồi, cho nên Khổng Tửđược chép vào phần Thế gia 世 家 của Sử Ký, còn Mặc Tử thì thậm chí không được chép vào phần Liệt Truyện 列 傳 nữa. Mãi đến cuối đời Thanh (1644-1912) mới có nhiều nhà nghiên cứu Mặc học. Nhờ đó mà càng ngày càng có nhiều khảo chứng quan trọng về Mặc Tử. (Hình trích trong sách Trung Quốc Triết Học Sử của Phùng Hữu Lan, tr. 127).Sử Ký chép: “Mặc Địch 墨 翟 làm quan đại phu nước Tống, giỏi phòng thủ quân sự, dạy cách sử dụng tiết kiệm. Có người nói ông sống cùng thời với Khổng Tử, có người nói ông sống sau Khổng Tử.” (Sử Ký 史 記) [Mạnh Tử Tuân Khanh liệt truyện 孟 子 荀 卿 列傳].Nay các học giả đã chấp thuận thuyết Mặc Tử sinh sau Khổng Tử. Tôn Di Nhượng 孫 詒 讓 (1848-1908) viết Mặc Tử niên biểu, bắt đầu từ năm 468 TCN (năm thứ nhất đời


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 310VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIvua Trinh Định Vương 貞 定 王 nước Chu) xuống đến năm 376 TCN (năm 26 đời vua An Vương 安 王 nước Chu). (Tôn Di Nhượng 孫 詒 讓) [Mặc Tử Hậu Ngữ 墨 子 後 語, quyển 1.]. Tiền Mục 錢 穆 viết Mặc Tử niên biểu tính từ năm 479 TCN (năm 41 đời vua Kính Vương 敬 王 nước Chu, tức năm Khổng Tử mất) đến năm 381 TCN (năm 21 đời vua An Vương 安 王 , năm Ngô Khởi 吳 起 mất. (Tiền Mục 錢 穆 , Mặc Tử 墨 子, chương 1, Quốc học tiểu tùng thư 國 學 小 叢 ). Niên biểu của Tiền Mục tính thời gian sớm hơn so với niên biểu của Tôn Di Nhượng. Theo Lã Thị Xuân Thu, khi Ngô Khởi mất, Mặc gia đã có cự tử鉅 子 (tương tự như chưởng môn) là Mạnh Thắng 孟 勝 rồi, tức là Mặc Tử đã mất trước Ngô Khởi. Theo đó, niên biểu của Tiền Mục gần với sự thật hơn. Thời gian trong niên biểu (479-381) lâu đến 100 năm, như thế không phải ông sống thọ như vậy mà chỉ có ý nói ông ta sống xê xích trong khoảng thời gian đó. Có thuyết nói Mặc Tử là người Tống, có thuyết nói là người Lỗ. Tôn Di Nhượng khảo đính cho là người Lỗ. Thuyết này nay được các học giả chấp nhận. Về nguồn gốc của Mặc học, Lã Thị Xuân Thu chép: “Lỗ Huệ Công 魯 惠 公 (768-723) sai vị quan là Nhượng 讓đến thiên tử xin học nghi lễ tế giao và tế tông miếu. Hoàn Công 桓 公 sai Sử Giác 史 角 đi. Huệ Công ngăn lại. Về sau dân tại nước Lỗ theo học Mặc Tử.” Hán Thư Nghệ Văn Chí chép: “Mặc học bắt đầu ở những người giữ thanh miếu.” Tuy nhiên những thuyết trên đây không có chứng cứ.” (Phùng Hữu Lan, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2013, trang 127-128). Phùng Hữu Lan (Fung Yu-Lan) [1895-1990]


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 311VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIDưới con mắt của Phùng Hữu Lan mà một học giả hiện đại của Trung Quốc là Lý Thận nhận định về ông bằng tám chữ “Dung quán Trung Tây, thông thích kim cổ” 融 貫 中西 通 釋 今 古 (dung hoà thấu triệt hai nền học thuật Trung Quốc và phương Tây, giải thích thông suốt việc xưa nay), thì ngay cái tên của Mặc Tử cũng là một vấn đề. Phùng Hữu Lan viết: “Xưa có người nói Mặc Tử họ Mặc 墨, tên là Địch 翟. Gần đây có người nói: “Xưa gọi là Mặc, không phải chỉ họ, mà là chỉ học thuật.” [Giang Tuyền 江 泉, Độc tử chi ngôn 讀子 卮 言, Luận Mặc Tử phi tính Mặc 論 墨 子 非 姓 墨 . Theo Tiền Mục thì Mặc là một thứ hình phạt thời xưa, người bị hình phạt này là hạng nô dịch. Chủ trương tiết dụng 節 用(sử dụng tiết kiệm), đoản tang 短 喪 (thời gian cư tang ngắn), phi nhạc 非 樂 (phản đối âm nhạc) của họ đều cực đoan, trái ngược với hành vi của giới đại phu và quân tử đương thời. Đời sống của họ khắc khổ như lao công, cho nên đời gọi những kẻ theo đạo ấy là Mặc gia, ý nói là hạng nô dịch bị hình phạt vậy…” (Phùng Hữu Lan, Sách đã dẫn, trang 130). Trong cuốn Đại cương Triết học sử Trung Quốc của Phùng Hữu Lan viết bằng Anh ngữ tại Trường Đại học Pennsylvania, tháng sáu năm 1947, dịch giả TS Nguyễn Văn Dương cho biết: “Dưới thời phong kiến nhà Chu, các vương, công, đại phu đều có những chuyên gia coi việc binh bị. Những người này trở thành một giai cấp quân nhân cha truyền con nối làm nòng cốt cho binh đội lúc bấy giờ. Nhưng đến khi chế độ phong kiến tan rã, vào cuối đời nhà Chu, thì những chuyên gia về việc binh này phải mất địa vị chức tước để phân tán trong dân gian và mưu sinh bằng cách giúp việc cho những ai có điều kiện dùng đến họ. Hạng người này được gọi là “hiệp” hay “du hiệp” nghĩa là những “võ sĩ nay đây mai đó”. Về những “du hiệp” này, bộ Sử ký chép: “Lời họ đáng tin, việc họ quả quyết, đã hứa là giữ, chẳng quản thân, họ dám xông vào nơi nguy hiểm mà kẻ khác sợ”. (Quyển 124). Đó là luân


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 312VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIlý chức nghiệp của họ. Phần lớn học thuyết Mặc tử là triển khai luân lý ấy… Ta có thể quảquyết một cách chắc chắn rằng Mặc tử và những người nối chí là do các du hiệp mà ra. Dựa vào sách Mặc tử và các tài liệu khác đương thời, ta biết rằng mặc gia là đoàn thể tổ chức rất chặt chẽ, có thể ra tham chiến. Người thủ lãnh gọi là “cự tử” hay “thầy lớn”. Cự tử có quyền sinh sát đối với môn đồ. Ta cũng được biết rằng Mặc tử là vị cự tử đầu tiên của nhóm ông và, ít ra một lần kia ông đã từng điều động đệ tử để giữ nước Tống, khi nước này bị nước Sở láng giềng hăm dọa xâm lăng.Câu chuyện về việc này khá thú vị. Sách chép rằng Công thâu Ban (500? – 420 tr. C.N.) vì nước Sở vừa mới làm xong thứ khí giới vân thê 雲 梯 để phá thành. Định dùng đểđánh Tống. Mặc tử nghe tin bèn đến khuyên vua Sở đừng đánh Tống. Trước mặt vua, Mặc tử cùng Công thâu Ban biểu diễn khí giới công thủ của đôi bên. Mặc tử cởi thắt lưng làm thành, lấy đũa nhỏ làm khí giới. Công thâu Ban chín lần đặt máy phá thành, Mặc tử chín lần đều cự được. Máy phá thành Công thâu Ban đã dùng hết, sức giữ thành của Mặc tử vẫn còn thừa. Công thâu Ban bèn nói: “Ta biết cách đánh ngươi. Ta không nói.” Mặc tử cũng nói: “Ta biết cách ngươi đánh làm sao. Ta không nói.” Nhà vua hỏi ý nghĩa câu nói trên, Mặc tửđáp: “Ý Công thâu Ban chẳng qua là muốn giết thần, nhưng đệ tử thần là bọn Cầm Hoạt Ly 禽 滑 釐 ba trăm người đã cầm khí giới chống giữ của thần ở trên thành nước Tống để đợi giặc Sở. Tuy giết thần cũng không thể tuyệt được.” Nhà vua nói: “Hay lắm, ta xin không đánh Tống nữa.” (Thiên 50) Câu chuyện trên nếu có thật, sẽ cho ta một ví dụ hay về việc hòa giải giữa hai nước trong thế giới hiện tại. Chẳng phải đánh nhau ngoài chiến trường. Chỉcần các nhà bác học và kỹ sư đôi bên đem biểu diễn khí giới họ thí nghiệm dùng để tấn công và phòng thủ, như vậy chiến tranh sẽ chẳng cần đến đánh nhau. [Nguyễn Văn Dương, Bản quay ronéo năm 1966, Tài liệu nghiên cứu, trang 65; Nhà xuất bản Thanh niên, 1998, trang 65-66]. Câu chuyện trên đây mà Phùng Hữu Lan bổ túc chi tiết, cho biết được viết trong sách Mặc Tử, thiên Công Thâu. Mặc Tử khi nghe tin chiến sự sắp xảy ra đã đi suốt mười ngày mười đêm từ nước Lỗ đến kinh đô nước Sở để ngăn chặn chiến tranh. GS Phùng Hữu Lan cho biết đoạn trích dẫn trên cho thấy hai điều: (1) Mặc Tử chủ trương phi công 非 攻 (không tấn công, phản chiến) nên phản đối chiến tranh. Ông chủ trương kiêm ái 兼 愛 (yêu khắp mọi người) nên muốn các nước thân ái với nhau. Nhưng bấy giờ nước mạnh hay xâm lược nước yếu, kẻ đông lấn hiếp kẻ thế cô. Mặc Tử cứu giúp nước yếu chống lại nước mạnh, việc đó chỉ thấy chép như trên mà thôi.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 313VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIPhạm Quỳnh (1892-1945)Trong một tác phẩm có tên “TIỂU LUẬN viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932, Essais 1922-1932, của học giả Phạm Quỳnh, được Phạm Toàn, nhà văn (bút danh Châu Diên), nhà giáo và là một dịch giả nổi tiếng thuộc Nhóm Cánh Buồm ở Hà Nội trước đây chuyển ngữ ra tiếng Việt, có một bài viết mang tên “Một khuôn mặt triết học Trung Hoa độc đáo: Mặc Địch – Vị tông đồ của hòa bình và hữu nghị”. Sách này do Nhà xuất bản Tri Thức của GS Chu Hảo in năm 2007. Trong sách này, Phạm Quỳnh cũng có ghi thêm các chi tiết khá hấp dẫn về cuộc đọ sức giữa Mặc Tử và Công Thâu Ban như sau: “ Khi hay tin một


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 314VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIngười tên là Công Thâu Ban vừa chế được cho vua nước Sở một cái máy quân sự loại mới tên là “máy leo lên mây” (vân thê) và ông vua này muốn dùng máy đó để đi đánh nước Tống, Mặc Địch liền từ nước mình ra đi, và sau một hành trình gian nan suốt mười ngày mười đêm đến thành Trình quê của Công Thâu Ban. Được người này đưa đến gặp vua Sở, ông xin vua Sở hãy từ bỏ ý định chiến tranh của mình. Lời nói của ông khéo léo và chân tình đến nỗi không chỉ thuyết phục được vua và quân sư của ông ta, mà còn khiến họ cảm động. Công Thâu Ban cảm phục lời ông đến mức lúc kết thúc buổi đàm đạo ông ta nói: “Trước khi gặp ngài tôi muốn xâm chiếm cho được nước Tống bằng bất cứ giá nào. Sau khi nghe ngài, tôi không còn muốn nữa. Dầu người ta có đem nước ấy biếu cho tôi, tôi cũng không nhận nếu vì có được nước ấy mà phạm phải một điều bất công”. Và Mặc địch đáp: “Trước khi gặp tôi, ngài muốn lấy nước Tống; sau khi gặp tôi ngài không còn muốn nữa, và lại bảo rằng dù người ta có đem nước ấy biếu cho ngài thì ngài cũng không nhận vì phải làm một điều bất công. Vậy thì, tôi vừa biếu ngài một món quà giá trị bằng cả nước Tống ấy. Nếu ngài kiên trì giữ được đức công minh, một ngày kia tôi sẽ biếu ngài cả toàn bộ đế chế”. (Phạm Quỳnh, Sđd, trang 191). Nói về Công Thâu Ban, tác giả chủ biên Vương Tuệ Mẫn của cuốn sách “100 Danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc” có viết: “Sử sách ghi chép rất nhiều về những phát minh, sáng chế của Công thâu Ban. Sách Thế bản ghi: Ông phát minh ra cối đá giã gạo. Thiên “Đàn cung” ghi: Ông phát minh ra cầu treo vận chuyển linh cữu trong các huyệt mộ. Sách Mặc tử, thiên “Công thâu” ghi: Ông phát minh ra cái thang mây dùng để đánh thành. Sách Mặc tử, thiên “Lỗ vấn” ghi: Ông phát minh ra móc câu và giàn chống dùng cho chiến thuyền. Móc câu dùng để móc các thuyền địch, giàn chống dùng để chống đỡ sự tấn công của thuyền địch. Còn nói là ông có thể dùng tre làm thành chim thước (chim khách – N.D.), “làm thành thì sẽ bay được, ba ngày không rơi”. Sách Diêm thiết luận, thiên “Thích phục” ghi: Ông tinh thông về dùi và đục. Sách Diêm thiết luận, thiên “Bần phú” ghi: Ông thạo vềviệc xây cất đền đài cung điện. Bài “Cam tuyền phú” của Dương Hùng nói rằng: Ông rất thạo thao tác sử dụng dao khắc, đục vũm. Sách Tân hí của Ban Cố ca tụng ông chuyên khéo léo về búa, rìu. Sách Hán thư, “Vương Bao truyện” có ghi: Ông xây được cái sùng đài cao năm tầng dài trăm trượng.” (Dịch giả TS Nguyễn Văn Dương, Nhà xb. Văn Hoá-Thông Tin, 2002, trang 348).


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 315VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIMột người tài giỏi như Công Thâu Ban, được nhiều sách ca tụng và nhắc nhở đến tên tuổi, tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng Trung quốc, đại diện cho khuynh hướng coi trọng sinh hoạt thể chất trong cuộc sinh tồn của con người, nhưng cũng đã biết nhường bước cho hệ thống tư duy của Mặc Địch qua cuộc đối đầu trong câu chuyện thi vị nói trên, chứng tỏđầu óc mẫn tiệp của người đứng đầu môn phái Mặc Gia khi nhân loại còn ở trong thời kỳ sơ khai của lịch sử.Mở đầu bài về Mặc Địch trích trong Tiểu Luận nói trên, Phạm Quỳnh đã viết như sau: “Ưu thế của Khổng giáo ở Trung Quốc – và ở nước Nam – như một học thuyết chính thống, một thứ quốc giáo, suốt nhiều thế kỷ đã đưa đến kết quả là giết chết hết mọi biểu hiện củatư tưởng độc lập và đẩy vào quên lãng hoàn toàn những nhà tư tưởng và những nhà triết học có học thuyết không tương hợp với vị Thầy tối cao cùng các đồ đệ và các nhà bình chú có chức vị của ông. Vậy nên các người đứng đầu các trường phái nổi tiếng trong thời kỳ đặc biệt phong phú cuối đời Chu (từ thế kỷ thứ sáu đến thế kỷ thứ ba trước Công nguyên) và tranh chấp với Khổng Tử vị trí hàng đầu trong tư tưởng Trung Hoa, chẳng có ai đến được với hậu thế nếu không bị đổ lên đầu bao nhiêu điều chế nhạo và châm chọc dễ dãi của những người nắm giữ Khổng giáo chính thống. Phần lớn họ rơi vào trong cái bóng tối mà sự quên lãng của con người mỗi ngày càng làm cho dày đặc thêm và suốt hơn hai mươi thế kỷ nay chẳng có ai tò mò tìm cách xuyên thủng. Hơn nữa, những cố gắng nhỏ nhoi diễn dịch một cách cởi mở hơn học thuyết chính, như của Dương Dương Minh (Có lẽ là sách viết nhầm,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 316VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIchính là Vương Dương Minh (1472-1529) 王 陽 明 Wang Yang-ming. Nguyễn Đức Cung chú thích) vào thế kỷ XVI, cũng bị lấp vào quên lãng. Tên tuổi của ông này mãi gần đây vẫn còn hoàn toàn chưa được biết đến ở nước Nam. Ngay cả ở Trung Hoa, cũng phải chờ đến Nhật Bản khám phá ra ông ta và tôn ông ta làm một người đứng đầu trường phái dưới cái tên Oyomei, thì người ta mới bắt đầu quan tâm đến tác phẩm của ông cách đây chưa lâu.Nhà triết học mà tôi sẽ cố tóm lược học thuyết sau đây là một trong những nạn nhân của ưu thế Khổng giáo đó. Ông là người đứng đầu một trường phái triết học rất thịnh hành, hồi thế kỷ thứ tư và thứ ba trước Công nguyên, đã cạnh tranh với “trường phái nho sĩ”. Một tác giả cuối thế kỷ tứ ba còn nói: “Hai trường phái thịnh nhất của thời đại chúng ta là Nho gia và Mặc gia (đồ đệ của Mặc Tử)”. Tuy nhiên, một trăm năm mươi năm sau, khi Tư Mã Thiên viết Sử Ký, trường phái Mặc học đã bị bỏ quên đến mức vị sử gia nổi tiếng thậm chí không hề nghĩ đến việc ghi lấy một chú thích nhỏ về người sáng lập trường phái này. Ông chỉ thoáng nhắc qua (chừng ba mươi chữ) nhân những chú thích về Mạnh Tử và Tuân Tử. Từ đấy, bị liệt vào hàng chư tử, những người sáng lập các môn phái khác nhau, Mặc Tử chỉcòn được hậu thế biết đến qua những lời chế giễu của Mạnh Tử.Chúng ta đều biết những đoạn nổi tiếng trong đó Mạnh Tử chê thuyết kiêm ái của Mặc Địch là lố bịch và đối lập nó với thuyết vị kỷ tuyệt đối của Dương Chu. “Mặc Địch là nhà triết học yêu bất cứ kẻ đầu tiên nào đến với mình như là yêu cha mình vậy”. Còn “châm ngôn của Dương Chu là ai lo phần nấy; dẫu nhổ một mảy lông trên mình mà lợi ích cho cảthiên hạ ông ấy cũng không chịu làm. Mặc Địch trái lại yêu hết mọi người như nhau và không phân biệt. Dẫu mòn nát tấm thân từ đỉnh đầu cho chí gót chân mà có lợi ích cho thiên hạ ông ấy cũng vui lòng hy sinh”.Trong những đoạn khác, Mạnh Tử nói thêm rằng suốt đời ông đã hăng hái chống lại các thuyết nguy hại đó. Vị giáo chủ thứ hai của trường phái Nho giáo đã chống lại chúng quyết liệt cho đến mức chúng không gượng dậy nổi và bị chôn vùi mãi mãi. Cả Dương lẫn Mặc đều không còn được các nhà nho về sau nghiên cứu nữa, và ở Trung Quốc, vốn là nước hết sức bác học, ở đấy đôi chút cổ điển nhỏ nhoi nhất đều là đối tượng của những bình giảng bất tận và những chú giải đến chán ngấy, không hề thấy một cuốn sách nào đàng hoàng và đúng đắn về tác phẩm khá quan trọng của Mặc Địch. Hơn nữa thậm chí người ta không biết đích xác ngày sinh và ngày mất của ông. Những tác giả hiếm hoi nói về ông người thì coi ông là đồng thời với Khổng Tử, kẻ thì bảo ông sống sau Khổng Tử đến hai thế kỷ.” (Phạm Quỳnh, Sđd, trang 187-189).Sau khi giới thiệu khái quát về Mặc Tử vốn là khuôn mặt bị vùi lấp trong bóng tối lịch sử dưới thế lực đầy sức mạnh vô địch của Nho giáo, học giả Phạm Quỳnh nhắc đến cuốn sách của Linh mục Tiến Sĩ Léon Wieger, Dòng Tên (ông là một linh mục, không phải là “đức cha”(bishop) như trong cuốn sách do Phạm Toàn dịch, trang 189. NĐC chú) có tên là “Lịch sử các niềm tin tôn giáo và các quan điểm triết học của Trung Hoa” trong đó nhắc đến khuôn mặt đẹp của triết học Trung Hoa, “một tâm hồn đẹp đẽ, vị tông đồ duy nhất của lòng từ thiện và người hiệp sĩ của nguyên tắc (*) mà Trung Quốc từng biết đến” [(*) Nguyên văn: chevalier du droit. Mặc Tử chủ trương con người sống phải có nguyên tắc. Trong một


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 317VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIđoạn dưới đây, Wieger sẽ nói rõ chủ trương “nguyên tắc” đó là gì, theo Mặc Tử]. Phạm Quỳnh cũng dựa theo một bài nghiên cứu của Lương Khải Siêu 粱 啓 超 Liang Ch’i-ch’ao mà trong đó nhà học giả Trung Hoa này có những nỗ lực nghiên cứu về Mặc Địch và cuốn Lịch sử triết học Trung Hoa (mới xuất bản tập 1) của Hồ Thích 胡 適 Hou Cheu, Giáo sư Trường Đại Học Bắc Kinh.Xin lưu ý một vài nét về tiểu sử của Linh mục Léon Wieger. Ngài sinh ngày 9 tháng Bảy năm 1856 tại Strasbourg, Pháp quốc và mất ngày 25 tháng Ba năm 1933 ở quận Xian (Tây-an), tỉnh Hồ bắc, Trung Hoa. Là một giáo sĩ Dòng Tên người Pháp, ngài cũng còn là một bác sĩ y khoa, nhà thần học và nhà Trung Hoa học, làm việc tại giáo đoàn Dòng Tên Công Giáo tại Hejian, cùng với linh mục Séraphin Couvreur. Ngài gia nhập Dòng Tên năm 1881 và thụ phong linh mục năm 1887, di chuyển đến Chihli (Hồ bắc) một vài tháng sau đó. Ngài xuất bản nhiều sách về văn hoá Trung Hoa, Lão giáo, Phật giáo và ngôn ngữ Trung Hoa. Ngài cũng viết một tác phẩm gồm 10 cuốn về lịch sử Trung Hoa và ba lần được tặng giải phẩm Stanislas Julien. Tác phẩm quan trọng của ngài là cuốn *Chinese Characters: Their Origin, Etymology, History, Classification and Signification (2 volumes; Hejian: Catholic Mission Press, 1915, trans.by L. Davrout; *Histoire de croyances religieuses (History of the Religious Beliefs) [Theo tài liệu trên mạng].3.- Mặc Địch, khuôn mặt hiển lộ dưới nhiều lăng kính với các chủ trương đầy tranh cãi.Theo Giáo sư Hồ Thích (1891-1962, quê ở huyện Tích Khê tỉnh An Huy) vốn là một nhà triết học, học giả, nhà văn hiện đại nổi tiếng của Trung Quốc thì Mặc Địch phải sinh vào khoảng giữa năm thứ 20 và 30 của triều vua Kinh Vương thời Chu (500-490 trước Công nguyên) và mất vào khoảng giữa năm thứ nhất và thứ 10 đời vua Uy Liệt cũng thuộc nhà Chu (425-416 trước Công nguyên). Khổng Tử sinh năm 551, mất năm 479, ta có thể nói Mặc Tử là đồng thời với người sáng lập trường phái Nho giáo và ông sống đúng vào lúc trường phái đã chính thức được thiết lập này đang khi thịnh nhất.Trong sách của Phạm Quỳnh có ghi rằng “một tác giả cổ là Hoài Nam Tử viết: “Mặc Tử đã học ở trường các nhà Nho. Người ta đã dạy ông về các học thuyết của Khổng Tử. Nhưng ông đã nhận thấy các nghi thức Khổng giáo là quá ư phức tạp, các thủ tục tang lễ quá tốn kém và khiến cho nhân dân khốn khổ, tang chế quá kéo dài, áp đặt quy chế quá nghiêm ngặt, tàn hại cuộc sống và làm hư hỏng công việc”. (Phạm Quỳnh, Sđd, trang 194).


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 318VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrở lại việc có người cho rằng Mặc Địch vốn quê ở nước Tống như viết ở trang 4 trên, noi theo phép tắc nhà Chu và đó là chủ trương của Du Chính Tiếp được trích dẫn trong sách Lịch sử Triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan như sau: “Ở đây Du Chính Tiếp kết luận rằng chính vì Mặc Tử là người nước Tống (mà các vua cai trị của Tống không phải là con cháu nhà Chu) nên ông theo phép tắc nhà Hạ. Còn Nho gia tập trung ở nước Lỗ, noi theo phép tắc nhà Chu. Người nước Tống vốn nổi tiếng là ngu. Trong sách của chư tử, khi nói đến người ngu thường lấy người nước Tống làm thí dụ. Chẳng hạn Trang Tử nói người Tống đem mũ chương phủ 章 甫 sang bán ở nước Việt, nhưng người Việt cắt tóc xâm mình, không dùng mũ [Trang Tử 莊 子 (Tiêu Dao Du 逍 遙 遊)]. Mạnh Tử kể rằng có người Tống thấy lúa người cao hơn lúa mình bèn kéo lúa mình lên cho bằng. [Mạnh Tử 孟 子 (Công Tôn Sửu 公 孫 丑 thượng)]. Hàn Phi Tử kể chuyện người nước Tống ôm gốc cây đợi thỏ. [Hàn Phi Tử 韓 非 子 (Ngũ Đố 五 蠹)]. Tất cả đều cho rằng người Tống là ngu. Trang Tử nhận xét đạo của Mặc Tử rằng: “ Sống thì cần lao, chết thì tang ma đạm bạc, đạo rất khắc khổ, lấy sự khổ thân làm quý.” Cho nên chê rằng: “Trí của họ có thể sánh kịp, ngu của họ không thể sánh kịp.” [Trang Tử 莊 子 (Thiên Hạ 天 下)] Như thế cũng có cái phong cách của người Tống. Hay là ban đầu Mặc Tử ở nước Lỗ nên chịu ảnh hưởng Khổng Tử, đến khi sang làm đại phu nước Tống lại chịu ảnh hưởng của các thuyết phi công và kiêm ái của người Tống mà lập ra Mặc học chăng?” (Phùng Hữu Lan, Sđd, trang 129). Câu hỏi của Giáo sư Phùng Hữu Lan cũng đặt ra cho độc giả đời sau nhiều suy nghĩ.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 319VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIHọc giả Phạm Quỳnh có thể dựa trên các tài liệu ông tham khảo từ các tác giả là linh mục Wieger, học giả Lương Khải Siêu hay giáo sư Hồ Thích khi ông cho rằng Mặc Tử chủtrì “Học thuyết của Nho gia là có hại, gồm bốn điểm sau: 1) Các nhà Nho không tin Trời là một thực thể thông minh, họ không tin quỷ thần; 2) Các nhà Nho quá coi trọng các nghi thức an táng và tang chế; 3) Họ hát xướng, chơi nhạc và múa, những thứ nghệ thuật vô ích và nguy hại; - 4) Họ tin số phận, tin định mệnh… Mặc Tử viết chương Minh Quỷ để chỉ rõ sựcần thiết của tín ngưỡng thần linh này. Các nhà Nho quy định bổn phận thiêng liêng là phải làm lễ an táng trọng thể cho người chết và để tang nhiều năm, Mặc Tử viết trong chương Tiết Táng (sách viết Tiết Tàng là không đúng) như vậy để khuyên nên làm tang lễ giản dị. Các nhà Nho đề cao các nghi thức và âm nhạc như là những phương tiện giáo dục mạnh mẽ, Mặc Tử viết trong chương Phi Nhạc như vậy để đặc biệt chống lại âm nhạc, cùng các nghệthuật và các thứ xa xỉ nói chung. Các nhà Nho tin ở số mệnh dưới cái tên là Thiên mệnh, Mặc Tử viết trong chương Phi Mệnh như vậy, để chống lại thuyết số mệnh. Như vậy phần lớn các tư tưởng và lý thuyết của Mặc Tử là đối trọng với các tư tưởng và lý thuyết của Khổng giáo. Chúng là kết quả của tình trạng chính trị và xã hội của Trung Hoa thời bấy giờ. Thấy người ta đánh nhau nhiều, Mặc Tử viết Phi Công để chống lại chiến tranh và giải trừbinh bị. Nhưng theo ông, giải trừ binh bị (nhị binh) cần có một cơ bản đạo đức, nếu không thì sẽ chỉ là lừa bịp. Để cho con người có thể thật sự “nhị binh”, thì phải không còn có hận thù cũng không còn có đấu tranh giữa các cá nhân và các quốc gia. Ông nói: “Mỗi người phải coi nước của người khác như nước của mình, gia đình người khác như chính gia đình mình, và những người khác như chính mình”. Nghĩa là giữa con người với nhau phải có lòng nhân và bác ái. Từ đó ông đưa ra thuyết Kiêm Ái, tức tình yêu toàn thể, chủ nghĩa vị tha toàn vẹn.” (Phạm Quỳnh, trang 194).Nay thử phản biện lại bốn điều Mặc Tử phê phán Nho gia như nêu đại loại ở trên dựa vào sách vở của các nhà Nho Việt Nam. 1) Các nhà Nho không tin Trời là một thực thể thông minh và thông suốt mọi điều, họ không tin ở linh hồn và các đấng thiêng liêng, họ từ chối nói về thần linh. (Phạm Quỳnh, trang 194).


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 320VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrong sách Nho giáo, quyển thượng của học giả Trần Trọng Kim, tác giả viết: “Phàm đã là triết-học cao xa, thì tất phải có cái quan-niệm về các nguyên-lý và các nguyên-nhân của sự sinh-hoá trong vũ-trụ. Khổng-tử là một bậc thượng trí, Ngài nghĩ-ngợi mà suy-xét mọi việc rồi phát-minh ra cái học-thuyết, chủ lấy sự theo thiên-lý làm căn-bản. Ngài cho là trời đất và vạn-vật đều có cái lý ấy cả, tất là cùng đồng một thể, cho nên Ngài mới lấy cái chủ-nghĩa thiên địa vạn vật nhất thể làm thống-hệ cho học-thuyết của mình. Cái lý nhất thể ấy lưu-hành trong khắp vũ-trụ, theo cái lẽ tương-đối, tương điều-hoà mà sinh sinh hoá hoá. Vậy cái lý ấy là cái nguyên-nhân của sự sinh-hoá trong vũ-trụ…” (Bộ Giáo Dục – Trung Tâm Học Liệu xuất bản, 1971, trang 32). Ở trang 49, cụ Trần Trọng Kim xác nhận “Nho giáo đã tin có Trời làm chủ tể cả vũ trụ thì tất là nhận có cái ý chí rất mạnh đểkhiến sự biến hoá ở trong thế gian cho hợp lẽ điều hoà.”Về quỷ thần hay thần linh, theo Trần Trọng Kim, Khổng Tử đã tin có Trời, có thiên mệnh, tất là tin có quỷ thần. Quỉ thần là cái khí thiêng liêng ở trong trời đất, tuy mắt ta trông không thấy, tai ta nghe không thấy, nhưng vẫn thể được cả muôn vật, không sót vật nào: đâu đâu cũng hình như ở trên đầu ta, ở bên tả bên hữu ta: “Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu 洋 洋 乎 如 在 其 上, 如 在 其左 右.” (Trung-dung). Bởi vậy ta phải: “Tếthần như thần tại 祭 神 如 神 在 : tế thần như là có thần ở đó.” (Luận-ngữ: Bát-dật, III) (Trần Trọng Kim, trang 52). Như vậy, điều 1 mà Phạm Quỳnh viết trong Tiểu Luận của ông ở trên không phản ánh đúng sự thật về quan điểm của Nho gia về trời đất và quỷ thần.2) Các nhà Nho quá coi trọng các nghi thức an táng và tang chế, họ đòi phải chôn người chết trong quan ngoài quách, phải khóc than trong ba năm, và suốt thời gian tang chếphải chống gậy mà đi, gần như là không có mặt trong thế giới bên ngoài, có tai mà chẳng đểnghe, có mắt mà chẳng để nhìn. (Phạm Quỳnh, trang 194). Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 321VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIViệc các nhà Nho coi trọng nghi thức an táng có rất nhiều lý do để biện giải cho việc này. Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Luận ngữ, do nhà xuất bản Văn học in năm 1995, ở thiên Dương Hóa, đoạn 21, đã dịch: “Tể Ngã hỏi về phép để tang cha mẹ ba năm, bảo: “Một năm cũng đã lâu rồi. Người quân tử (để tang) ba năm không học tập lễ, lễ nghi tất phải đổ nát, ba năm không tấu nhạc, âm nhạc tất thất truyền. (Đủ một năm)lúa cũ đã ăn hết, lúa mới đã chín, cây dùi cây để lấy lửa đã dùi hết một vòng (Mỗi mùa dùi một loại cây để lấy lửa, hết bốn mùa lại hết một vòng; như vậy để tang một năm là được rồi.” Khổng tử nói: “(Chưa hết ba năm) mà ăn cơm gạo thơm, mặc áo gấm thì trò có yên lòng không?” Tể Ngã đáp: “Yên”. Khổng tử nói: “Yên lòng thì cứ làm! Người quân tử cư tang, ăn đồ ngon không biết mùi, nghe nhạc không thấy vui, ở nhà của mình không thấy yên ổn (thời đó cất một nhà xấu ở gần mộ để cư tang), cho nên không làm như vậy (tức không ăn gạo ngon, mặc áo tốt…). Nếu trò thấy yên lòng, thì cứ làm!” Tể Ngã ra rồi. Khổng tử nói: “Dư là đứa bất nhân? Đứa trẻ sinh ra, sau ba năm cha mẹ mới thôi bồng bế. (Cho nên) để tang ba năm là lệ phổ biến trong thiên hạ. Dư nó có được cha mẹ bồng bế ba năm hay không?” (Có sách dịch là: Dư nó có yêu thương cha mẹ được ba năm hay không?” (Nguyễn Hiến Lê, trang 294). Dư là tên của Tể Ngã. Khổng Tử là bậc thầy được tôn là “Vạn thế sư biểu” cho nên ngài cũng rất linh động khi xử thế các việc liên quan đến sự trọng hậu hay sơ sài trong việc tang ma chứ không cứng nhắc. Ở thiên XI Tiên Tiến, sách Luận ngữ, đoạn 10 có chép: “Nhan Uyên chết, môn sinh muốn mai táng trọng hậu. Khổng tử bảo: “Không nên” Nhưng môn nhân vẫn mai táng trọng hậu. Khổng tử bảo: “Hồi coi ta như cha, mà ta không coi nó như con được. Đó không phải là tại ta, mà tại các trò đây.” Chú thích.- Các sách đều chú thích; theo lễ thì tuỳ gia cảnh giàu nghèo mà mai táng trọng hậu hay không. Nhan Hồi nhà nghèo, mà chôn cất trọng hậu là trái lễ. Ông coi Nhan Hồi như con, chôn Nhan Hồi như chôn Bá Ngư, nhưng không tiện can thiệp, để cho môn sinh nghe lời Nhan Lộ (cha Nhan Hồi) làm việc trái lễ đó. (Nguyễn Hiến Lê, trang 184).


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 322VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrong bộ sách Khổng Học Đăng, cụ Phan Bội Châu có ghi lại về sự thương cảm của Khổng Tử đối với cái chết của Nhan Uyên rằng “Thầy Nhan-Uyên mới ba mươi tuổi đã qua đời. Khi thầy Nhan chết, ngài khóc đến nổi nức to lên. Người đi theo hầu ngài nói rằng: “Thầy nức to rồi đó!”. Ngài nói: “À, có nức to rư? Nếu không vì người ấy mà nức to thời còn vì ai?! (Nhan-Uyên tử, tử khốc chi đỗng. Tùng giả viết: “Tử đỗng hỷ!”. Viết: “Hữu đỗng hồ? Phi phù nhân chi vị đỗng nhi thuỳ vị? 顏 淵 死 , 子 哭 之 慟 . 從 者 曰: 子 慟矣 . 曰: 有 慟 乎 ? 非 夫 人 之 爲 慟 而 誰 爲 ?).Phan Bội Châu (1867-1940)Thầy Nhan-Uyên chết, học trò thầy muốn làm lễ táng cho hậu. Ngài nói rằng: “không nên”. Bởi vì thầy Nhan nhà đói mà còn có cha già, ngài không muốn hậu táng làm gì. Nhưng vì học trò thầy Nhan trọng thầy quá, nên cứ hậu táng. Ngài phàn nàn rằng: “Anh Hồi! (tên thầy


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 323VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠINhan), mầy coi ta như cha mầy, mà té ra ta không được xem mầy như con ta! Ôi! Không phải vì ta đâu! Vì các anh em đó vậy”. (Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng, trọn bộ, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, 1973, trang 16). Một số chi tiết nhỏ qua giọng văn chơn chất của cụPhan Bội Châu diễn tả trong câu chuyện này cho thấy thái độ ứng xử khá quyền biến quan niệm về sự tống táng của Nho gia, không cứng nhắc như sự kết án của phái Mặc gia.Sách Luận-ngữ chép: Mạnh Ý-tử hỏi hiếu. Khổng tử đáp lại rằng “Vô vi”, rồi sau Phàn Trì không hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy, mới hỏi lại. Ngài giải rõ nghĩa là: “Sinh sự chi dĩ lễ, tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ 生 事 之 以 禮 , 死 葬 之 以 禮 , 祭之 以 禮 : sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế”. (Luận-ngữ: Vi chính, II). Vậy sự vô vi đó là sự thờ cha mẹ cho đúng lễ. Lễ là hợp nghĩa-lý, là vừa phải, chứ không thái-quá hay bất-cập, miễn là “xứng gia chi hữu vô 稱 家 之 有 無 : vừa sức nhà giàu nhà nghèo mà làm cho phải lẽ thường.” (Lễ-ký: Đàn-cung thượng). Có chỗ Khổng-tử lại nói rằng: “Lễ dữ kỳ xa giã, ninh kiệm; tang dữ kỳ dị giã, ninh thích 禮 與 其 奢 也 , 寧 儉; 喪 與 其 易 也 , 寧 戚 : lễ với xa-xỉ, thì thà rằng kiệm-ước còn hơn; tang với nghi-văn quá, thì thà rằng thương buồn còn hơn” (Luận-ngữ : Bát- dật, III). Nghĩa là nếu theo lễ mà không được trung-dung, thì thà bấtcập còn hơn là thái-quá. Ngài nói như thế, nhưng chủ-ý là vẫn bảo phải theo lễ. Theo lễ là theo cái lý phải.” (Trần Trọng Kim, trang 105).3) Họ hát xướng, chơi nhạc và múa, những thứ nghệ thuật vô ích và nguy hại. (Phạm Quỳnh, trang 194).Trên đây là nhận định về Nho gia theo trường phái của Mặc Tử khi đề cập tới vấn đềhát xướng, ca múa, âm nhạc cùng các thứ nghệ thuật khác, Mặc tử và những kẻ theo ông vốn là những du hiệp tức cũng là những tay anh hùng hảo hán, biết trọng nghĩa khinh tài, đã nêu ra sự bình phẩm căn bản của họ, được coi như một điểm trong nền tảng triết học của Mặc gia.Quan niệm của Khổng tử về nhạc được ghi lại trong thiên Nhạc-ký, chép ở trong bộLễ-ký, phản ánh trong Nho giáo của Trần Trọng Kim “có thể hiểu được nghĩa chữ nhạc theo như ý của cổ nhân. “Nhạc giả âm chi sở do sinh giã 樂 者 音 之 所 由 生 也: nhạc là do âm mà sinh ra. Âm khởi phát ra tự ở lòng người. Lòng người cảm ở ngoại-vật mà động, cho nên mới hình ra ở cái thanh. Những thanh tương-ứng với nhau rồi biến ra thành thương, tức là thành cung-bậc trong-đục cao-thấp, gọi là âm. Âm chia ra làm năm bậc là: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ. (Năm âm ấy theo luật Hoàng-cung gọi là năm chính thanh và hai biến thanh là biến cung và biến chủy, khi gọi là thanh văn và thanh vũ. Gồm tất cả là 7 thanh. Nhưng khi nói âm nhạc thì thường thanh chỉ 5 âm chính, chứ không nói 7 thanh). Đem các âm so vào những nhạc-khí để đánh ra tiếng. Những tiếng: kim thạch ti trúc, những đồ múa: can 干(khiên), thích 戚 (búa), vũ 羽 (lông chim sả), mao 旄 (lông đuôi bò), và những thi phú ca vịnh, gồm tất cả gọi là nhạc. Vậy nghĩa chữ nhạc là nói chung cả chuông- trống đàn-địch múa hát và văn thơ.Nhạc với lòng người cảm-hóa lẫn nhau: một là bởi lòng người cảm-xúc ngoại cảnh mà thành ra tiếng nhạc; hai là tiếng nhạc cảm lòng người rồi khiến lòng người theo tiếng


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 324VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠInhạc mà biến đi. Như khi ngoại cảnh đau-đớn thì lòng người thương-xót, trong lòng đã thương-xót thì thanh-âm nghe tiêu-sái; khi ngoại cảnh tốt-lành, tất là trong lòng vui-vẻ thì thanh-âm nghe thong-thả, êm-đềm; khi ngoại cảnh thỏa-thích thì thanh-âm nghe hể-hả; khi ngoại cảnh có điều không lành, trong lòng tức giận thì thanh-âm nghe thô-thiển dữ-tợn; khi ngoại cảnh trông thấy tôn-nghiêm thì thanh-âm nghe chính-trực, nghiêm-trang; khi ngoại cảnh làm cho sinh ra lòng yêu mến thì thanh-âm nghe dịu-dàng hòa-nhã… Thánh-nhân cho nhạc thanh thiện ác đều do ở cả lòng người. Lòng người cảm điều thiện thì do thiện-thanh ứng; cảm điều ác thì ác-thanh ứng. Sự thiện ác của nhạc là bởi lòng người mà sinh ra, rồi lại cảm lòng người mà khiến cho thành ra thiện hay ác. Thí-dụ như nhạc thanh thiện cảm người thì lòng người hoá đi mà làm điều thiện; nhạc thanh ác cảm người thì lòng người theo mà làm điều ác. Thành thử nhạc do ở lòng người thiện hay ác mà sinh ra, rồi lại cảm lòng người mà khiến người làm điều thiện hay điều ác. Nhạc có cái thếlực quan-trọng như thế, cho nên đế-vương đời trước chú-ý về việc dùng nhạc để hóa lòng người, khiến cho được chí thiện chí mỹ.” (Trần Trọng Kim, trang 120).Trong sách Mặc Tử chép: “Mặc Tử hỏi một nhà Nho: “Chơi nhạc để làm chi?” Nhà Nho đáp: “Chơi nhạc vì âm nhạc.” Mặc Tử nói: “Ông vẫn chưa trả lời tôi. Thí dụ, tôi hỏi tại sao phải cất nhà, thì ông trả lời là để tránh rét đông, tránh nắng hè, để cách biệt nam nữ. Nếu vậy, ông đã cho tôi biết lý do xây phòng. Còn nay ông trả lời chơi nhạc là vì âm nhạc, khác nào xây nhà là để xây nhà.” (Phùng Hữu Lan, trang 136) [(Mặc Tử 墨 子 , (Công Mạnh 公孟)]. Trong phần chú thích ở trang 136, sách của Phùng Hữu Lan nhắc tới một nhà nghiêncứu Hoa Kỳ, Tiến sĩ Derk Bodde vốn là một học trò và phụ tá của ông từ năm 1934-35 tại Trường đại học Thanh Hoa ở Bắc Kinh. Ở mục chú thích liên hệ đến câu hỏi của Mặc Tử, Derk Bodde chú: Nguyên văn “Nhạc dĩ vi nhạc (lạc) dã.” 樂 以 爲 樂 也. Chữ 樂 có hai âm: nhạc (âm nhạc) và lạc (vui). Câu này có thể dịch: “Chơi nhạc để vui”. Ý kiến của Derk Bodde xem ra cũng hữu lý và khá linh hoạt!Ngày nay quan điểm của Khổng Tử xét ra rất gần gũi với nhân loại khi mọi người đều hiểu rõ tác dụng của âm nhạc và chúng ta có thể cảm thông rất dễ dàng với đường lối triết học của phái Mặc gia vì họ vốn xuất thân từ du hiệp, trong một tổ chức có kỷ luật, sống khắc khổ, có quyết tâm cao, luôn giữ lời hứa dù phải chết hay đau khổ, ngay cả họ Mặc, theo nhà nghiên cứu Tiền Mục, cũng thể hiện một giai cấp làm cách mạng không khác gì giới làm cách mạng vô sản ở nhiều nước trong thế kỷ trước. Thánh Augustino (354-430) cũng đã từng nhắc nhở chúng ta dùng tiếng hát hay thánh ca tuyệt vời trong nhà thờ để cầu nguyện bằng câu nói lừng danh “Hát hay bằng hai lần cầu nguyện”.(Bis orat qui bene cantat).4) Họ tin số phận, coi giàu nghèo, sống thọ hay chết yểu, hoà bình và chiến tranh, trật tự và hỗn loạn, tất cả đều do tiền định bất biến, chẳng thể nào thay đổi được, là học thuyết có hại làm cho vua chúa chẳng còn lo gì đến việc cai trị, dân chúng chẳng còn lo công việc của mình, tất cả phó thác cho định mệnh. (Phạm Quỳnh, trang 194).Câu này có thể gồm trong một chữ là thiên mệnh. Nhà Nho chủ trương Thiên Mệnh, còn Mặc Tử đưa ra chủ thuyết Phi Mệnh để phản bác lại.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 325VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrong Nho giáo, Trần Trọng Kim: “Nho giáo đã tin có Trời làm chủ-tể cả vũ-trụ thì tất là nhận có cái ý-chí rất mạnh để khiến sự biến-hoá ở trong thế-gian cho hợp lẽ điều-hoà. Cái ý-chí ấy gọi là thiên-mệnh 天 命 hay là đế-mệnh 帝 命. Cổ nhân dùng chữ thiên 天 đểchỉ cái ý to lớn cao xa, bao-bọc, che-chở, và dùng chữ đế 帝 để chỉ cái ý làm chủ tể cả muôn vật. Nói thiên-mệnh hay là đế-mệnh tức là nói cái ý-chí của Trời. Nhưng ta phải biết rằng quan-niệm của Khổng-tử về Trời hay Thượng-đế không giống như quan-niệm của phần nhiều người thường tưởng-tượng. Trời hay Thượng-đế là một đấng có hình-dáng, có tìnhcảm, có tư-dục như người ta. Trời hay Đế chỉ là cái Lý vô hình, rất linh-diệu, rất cươngkiện, mà khi đã định sự biến-động ra thế nào thì dẫu làm sao cũng không cưỡng lại được. Khổng-tử tin có Trời như thế, và có thiên-mệnh cho nên Ngài nói rằng: Bất tri mệnh vô dĩ vi quân-tử dã 不 知 命 無 以 爲 君 子 也 : không biết mệnh Trời thì không lấy gì làm quân-tử”. (Luận-ngữ: Nghiêu-viết, XX). Nhưng tri mệnh là việc rất khó, đến Khổng-tử mà còn phải đến năm mươi tuổi mới biết mệnh Trời: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh 五 十 而 知天 命”. (Luận-ngữ: Vi-chính, II), huống chi người thường cho là dễ làm sao được. Người ta lúc còn trẻ tuổi, khí-huyết đang hăng, tưởng việc gì cũng làm được. Về sau dần dần có kinhnghiệm nhiều và lịch-duyệt lắm, mới biết là những công-việc thành hay bại thường không phải tự mình định lấy được.” (Trần Trọng Kim, trang 50).Một nhà Nho của Nhật Bản ngày nay, ông Hiroshi Moriya, chuyên nghiên cứu về văn học Trung Quốc, sinh năm Showa thứ Bảy (1933) ở tỉnh Miyagi và tốt nghiệp thạc sĩ ngành văn học Trung Quốc tại Đại học Tokyo Metropolitan. Trong một cuốn sách có tên “Luận Ngữ, góc nhìn mới của người Nhật”, Hiroshi Moriya đã viết: “Khổng Tử rời nước Lỗ và sang nước Tề, tìm đường làm quan, nhưng tình hình không suôn sẻ là bao, chỉ có thời gian là cứ thể trôi đi. Khổng Tử đã thể hiện nội tâm của mình trong giai đoạn đó qua câu “năm mươi tuổi biết mệnh trời”. “Mệnh trời” có thể hiểu là ý trời vượt qua sự hiểu biết của con người. Trong cuộc đời, dù chúng ta có nỗ lực hay vùng vẫy bao nhiêu đi nữa, đến cuối cùng luôn đọng lại những phần chẳng đâu vào đâu cả. Đó chính là “mệnh trời”. Con người khi nhận thức được điều này thường sẽ có hai kiểu phản ứng: thứ nhất là hướng tích cực gắn kết với ý thức về bổn phận, thứ hai là hướng tiêu cực ngả về thuyết định mệnh. Vậy còn Khổng Tử thì sao? Khi ấy ông đã năm mươi tuổi, xét trong bối cảnh ngày xưa thì tương ứng với bảy mươi tuổi thời nay, Khổng Tử nhận thức được sức người có hạn, nhưng vẫn quyết tâm làm những điều bản thân có thể làm được, qua đó khơi dậy động lực trong chính mình.” (Người dịch: VŨ NGỌC BẢO, Nhà xuất bản VanlangBooks & Nxb Hồng Đức, 2025, trang 27).


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 326VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI “Luận Ngữ, thế giới tối cao đích nhân sinh chỉ nam thư”.Nhận thức của Hiroshi Moriya thể hiện một quan điểm nước đôi đối với chủ điểm thiên mệnh nhưng với những dòng văn trích dẫn sau đây của Trần Trọng Kim, ý thức của nhà Nho Việt Nam xem ra quyền biến hơn: “ Người ta ở đời lưu-hành trong cái đạo biếnhoá của trời đất, khác nào như đàn cá lặn lội ở dòng nước chảy, tuy lúc nào cũng có cái năng-lực vẫy-vùng chạy-nhảy nhưng vẫn cứ phải trôi theo dòng nước. Dòng nước chảy càng to, càng mạnh bao nhiêu thì sự trôi đi lại càng khó cưỡng lại bấy nhiêu. Sự trôi đi như thế, tức là thiên-mệnh vậy. Song ta phải hiểu rằng trong khi ta theo thiên-lý mà lưu-hành, thì bao giờ ta cũng có cái năng-lực tự-do để tự cường tự-kiện, khiến cho cái tâm-tình của ta được sáng-suốt, mẫn-nhuệ để lúc nào ta hành động cũng không mất cái trung. Vậy trong sự theo thiên-mệnh ấy, có cái sức cố gắng rất cường-kiện để hoạt-động luôn, chứ không phải như những người tầm-thường nhu-nhược, cứ đành chịu ép một bề mà đợi số phận… Theo thiênmệnh thì phải có cái khí cường-kiện mới theo nổi, không thì thành ra thất-bại ngay. Người đời nay dùng bốn chữ : “Ưu thắng liệt bại 優 勝 劣 敗” chính là cái ý nghĩa ấy vậy.” (Trần Trọng Kim, trang 50). Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có câu : “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” để minh chứng ý chí con người rất nhiều lúc vượt qua qui luật ràng buộc khắt khe của trời cao! 4.- Mặc Địch dưới cái nhìn của các nhà Trung Hoa Học Tây Phương.Trong Tiểu Luận của Phạm Quỳnh, dựa trên các tư liệu của một số học giả Tây Phương, chúng ta đọc thấy: “Người Trung Hoa cổ tin ở một thứ thuyết hữu thần mơ hồ. Khổng Tử là người lấy làm vinh dự trong việc kế thừa các truyền thống xưa thường nói vềTrời như một thực thể mà ta phải sợ, kính trọng và vinh danh. Nhưng ông không bao giờ chỉrõ các thuộc tính của Trời. Nếu Lão Tử hiểu một cách rất rõ ràng Trời là “Tự nhiên”, thì Khổng Tử có xu hướng coi đó là một thứ Quy luật tự nhiên và nội sinh điều tiết sự vận hành


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 327VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIcủa các sinh thể. Ông nói: “Trời là gì? Ấy là bốn mùa cứ nối tiếp, muôn vật cứ sinh sôi và biến đổi”. Và các học trò của ông rơi vào một thứ trời thuần túy tinh nguyên học. Quan niệm của Mặc Địch độc đáo hơn. Thiên Chí của ông có đủ các thuộc tính khiến nó trở thành gần như một đức Thượng Đế nhân vị. Chính vì thế mà Đức Cha Wieger nói rằng Mặc Tử là “nhà văn Trung Quốc duy nhất mà ta nghĩ rằng ông tin là có Thượng Đế. Và Trời trước hết là một thực thể vô cùng hoàn thiện mà ý chí của Người phải là chuẩn mực cho mọi người.Mặc Tử đã đưa các bậc cha mẹ, những người uyên bác, các bậc quân vương cầm quyền làm mẫu mực nhưng vẫn gặp phải những bất cập, sai sót trong các hình ảnh đó mà theo ông rốt cuộc “không gì bằng lấy Trời làm mẫu mực. Bởi vì Trời bao gộp tất cả. Trời chẳng thiên vị ai. Trời ban điều tốt lành cho mọi sinh linh. Trời vô cùng anh minh.” (trang 202).Mặc Tử nói: “Những người muốn thực thi nhân ái và công bằng cần biết rằng chúng từ đâu đến. Cội nguồn của công bằng là do từ đâu? Lẽ công bằng không thể đến từ những người thấp kém và ngu dốt. Nó phải đến từ một con người vô cùng cao cả và anh minh. Con người vô cùng cao cả và anh minh ấy là ai? Chỉ có Trời mới vô cùng cao cả và anh minh. Lẽ công bằng chỉ có thể đến từ Trời”.Ta bảo rằng Trời có chí, chí ấy là gì vậy?Chí ấy đồng nhất với chí của con người. Trời chỉ có thể muốn điều tốt cho người, bởi chẳng có người nào lại không muốn được sung sướng. “Nếu ta làm điều Trời mong muốn, Trời sẽ làm điều ta mong muốn.” Trời muốn gì? “Trời muốn rằng con người thương yêu lẫn nhau và giúp ích cho nhau. Trời không muốn con người thù hận nhau và làm hại nhau”. Làm sao ta biết được điều đó? “Ta biết điều đó, bởi Trời bao bọc mọi con người, thương yêu mọi người như nhau và mong muốn điều tốt cho mọi người không phân biệt ai. Làm sao ta biết Trời thương yêu mọi người và mong muốn điều tốt cho mọi người? Ấy là bởi Trời tinh thông mọi người và nuôi dưỡng mọi người trong lòng mình. Trong toàn vương quốc, không có nước lớn nước nhỏ nào mà không phải là nước của Trời. Không người lớn tuổi hay trẻ tuổi nào, địa vị cao sang hay hèn kém nào mà không phải là thần dân của Trời. Cho nên, khắp nơi mọi người đều tôn thờ và dâng cúng Trời các vật tế sinh, rượu và gạo. Như vậy, có quảđúng là Trời tinh thông mọi người và nuôi dưỡng mọi người trong lòng mình? Tinh thông tất cả và nuôi dưỡng tất cả trong lòng mình, làm sao Trời lại không yêu thương mọi người và mong ước cho mọi người đều được sung sướng?” Vậy những kẻ yêu thương đồng loại và giúp ích cho đồng loại là làm theo chí của Trời. Họ làm điều Trời mong muốn, và Trời sẽlàm cho họ những gì họ mong muốn, nghĩa là làm cho họ được sung sướng.“Nhưng có những kẻ không làm điều Trời mong muốn và làm điều Trời không muốn; khi đó Trời sẽ không làm cho họ điều họ mong muốn mà làm cho họ điều họ không mong muốn. Con người không mong muốn điều gì? Điều họ không mong muốn bệnh tật và đau khổ. Vậy nên nếu họ không làm điều Trời mong muốn và làm điều Trời không mong muốn, họ sẽ bị đau ốm và khổ sở”.Đến đây, Phạm Quỳnh, qua các sách vở của những nhà Trung Hoa Học (sinologue) Tây Phương thuộc Dòng Tên mà chúng tôi sẽ trích dẫn cụ thể trong các trang sau, cho biết


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 328VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠItiếp rằng “ thuyết Thiên Chí của Mặc Địch là nền tảng triết học của thuyết kiêm ái của ông, vốn còn bắt nguồn từ tình trạng xã hội và chính trị thời ông. Con người phải thương yêu và giúp đỡ nhau. Làm như vậy, họ hành động hợp với chí của Trời; và bởi Trời chỉ muốn làm điều tốt cho họ, cho nên như vậy tức cũng là họ hành động vì lợi ích của chính mình. Quảvậy, tất cả tai họa nhân loại phải hứng chịu đều do con người không biết thương yêu nhau. Vì con người không thương yêu nhau nên nhân gian hỗn loạn, mới sinh ra “chiến tranh, soán ngôi, bạo lực, trộm cắp, cướp bóc, lừa đảo”. (Phạm Quỳnh trang 205). Đây có lẽ cũng là những trang Thánh Kinh của Cựu Ước và Tân Ước được “mạc khải” (révélation) trước qua ngôn từ của Mặc Địch về đạo yêu thương của Chúa Ki-tô, không đến nỗi mơ hồ như những lời dạy của trường phái Nho giáo hay khác biệt với trường phái Dương Chu đó là “nhổ một sợi lông chân mà làm lợi cho thiên hạ cũng không làm” như chúng tôi còn nhớ khi được thụgiáo với Tiến sĩ Nguyễn Văn Dương tại Viện Hán Học Huế từ năm 1960 tại đất Cố đô.Năm 1990, sau khi được chính quyền Cộng Sản tại Việt Nam thả ra sau hơn 13 năm tù cải tạo tại miền Bắc (trại tù Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh, Bắc Việt), về Sài gòn; một hôm đi lang thang trên đại lộ Võ Di Nguy thuộc Ngã tư Phú Nhuận, Gia Định, tôi vào một tiệm bán sách cũ bên đường và may mắn vớ được cuốn sách Sagesse Chinoise et Philosophie Chrétienne của HENRI BERNARD-MAITRE có đóng dấu mộc đỏ ghi tên Nguyễn Duy Cần, một vị học giả của Miền Nam trước năm 1975 và Giáo sư Trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trong nhiều năm trước đó. Đây là một cuốn sách của cụ Nguyễn Duy Cần thuộc trong tủ sách tư gia bị tịch thu vì chế độ CS quy kết là thuộc văn hoá phản động, phải gom lại để đốt. Nhưng may người ta không đốt mà giữ lại để chờ thời (bán) và thời đó may mắn lại rơi vào tay tôi cùng với cuốn sách. Cuốn sách này, cùng với cuốn “Đại cương Triết học sử Trung Quốc”, bản in ronéo cũ mèm của thầy Nguyễn Văn Dương, cùng hơn mươi số Tạp chí Đại Học của Giáo sư Tiến Sĩ Trần Văn Toàn, Tạp chí Bách Khoa của ông Lê Ngộ Châu và nhiều loại văn hoá phẩm quý giá khác của Miền Nam … đã theo bước chân diện tị nạn H.O. của tôi đi tái định cư ở Hoa Kỳ năm 1991.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 329VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIĐến đây xin nói một chút tiểu sử về linh mục Henri Bernard-Maitre. Ngài trước có tên là Henri Bernard, từ năm 1948 có tên Henri Bernard-Maitre, tên Trung Hoa là Pei Huaxing 裴 化 行 (Bùi Hóa Hành), sinh ngày 22 tháng Mười năm 1889 ở Chalons-surMarne, Pháp và chết ngày 3 tháng Hai năm 1975 tại Gouvieux, là một giáo sĩ Dòng Tên thuộc Pháp quốc, thừa sai truyền giáo ở Trung Hoa từ năm 1924 đến 1947 và là Bề trên tỉnh dòng ở Xianxian 献 昙 (Hiến Đàm), thuộc Sien Hsien tỉnh Hồ Bắc, lãnh địa của Cangzhou thuộc Trung Hoa. Là một nhà Trung Hoa Học trong thời gian rảnh rỗi và trong suốt sứ vụcủa mình, ngài đã để lại nhiều bài viết khác nhau rất có ích về phương diện lịch sử Trung Hoa, cũng như Nhật Bản và Việt Nam, Phi Luật Tân là những nơi đã trải qua một phần cuộc đời truyền giáo của mình. Ngoài việc viết nhiều sách, ngài cũng đã viết rất nhiều bài báo vềTrung Hoa trong khoảng 40 tạp chí ra định kỳ. Một vài điều cần chú ý là cái tên “Maitre” (ông thầy) không dấu mũ, đã được ghi vào tên của ngài từ năm 1948; đôi khi ngài cũng được đặt tên là “R.P. Augustin Bernard (có thể vì một sai lầm của biên tập viên khi cho xuất bản một trong số những tác phẩm của ngài). [Tư liệu trên mạng].Trong Bài học V có nhan đề là Un Apôtre de la Charité et un Dialecticien: Mei-Ti(Một vị tông đồ của lòng bác ái và một nhà biện luận: Mặc Địch), linh mục Henri BernardMaitre có viết rằng :“A parler franc, Mei-ti fut “redécouvert” par les Chinois et par les sinologues dans les premières années du XXme siècle. En effet, jusqu’aux dernières années du XIXme siècle, la


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 330VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIpensée chinoiss n’était guère connue en Europe que par les traductions des classiques confucianistes et quelques fragments taoistes; quant aux savants chinois, ils vivaient encore dans l’atmosphère de l’encyclopédie dressée sur l’ordre de K’ien loung 乾 隆 (1772-1782) pour laquelle ne valait que ce qui portait l'estampille de Cofucius : Mei-ti é tait relégué, avec tant d’autres “hérétiques”, aux oubliettes des Tsa-kia-lei 雜 家 類 et c’est de là qu’il fut exhumé par Leang K’i-tch’ao 梁 起 超. Depuis lors, il est devenu un auteur à la mode, et il est placé au premier rang des philosophes chinois; à côté, sinon au-dessus de Confucius et de Lao-tzeu.” (CATHASIA, Série Culturelle Des Hautes Études de Tientsin, page 43).Tạm dịch:“Nói một cách ngay thẳng, Mặc Địch đã được “tái khám phá” do những người Trung Hoa và các nhà Trung Hoa Học (sinologues) trong những năm đầu của thế kỷ XX. Quả thật, cho đến những năm cuối của thế kỷ XIX, tư tưởng Trung Hoa chỉ được biết đến tại Âu châu nhờ các bản dịch các tác phẩm cổ điển Nho giáo và một vài mảnh vụn rời rạc của Lão giáo; còn đối với các nhà bác học Trung hoa, họ vẫn còn đang sống trong bầu không khí kinh điển cổ truyền được dựng lên bởi sắc lệnh của vua Càn-Long 乾 隆 (1772-1782) qua đó chỉ có giá trị những gì mang ấn tín của Khổng Tử: Mặc Địch bị bỏ xó, cùng với biết bao những kẻ“ngoại giáo” khác, những con người bị lãng quên trong số các tạp gia loại 雜 家 類 mà họchỉ được khai quật lên nhờ Leang K’i-tch’ao 梁 起 超 Lương Khởi Siêu. Từ đó ông trở thành một tác giả thời thượng, và ông được đặt trong hàng đầu các triết gia Trung hoa; bên cạnh, nếu không là đứng trên cả Khổng Tử và Lão Tử.” Một vài sai sót nhỏ trong tư liệu của cha Henri Bernard-Maitre là ngài viết tên Lương Khải Siêu thành Lương Khởi Siêu (chữ Hán), hoặc sau ba chữ tạp gia loại thì để ba chữ Hán Lương Khởi Siêu, và ngược lại (có lẽ lỗi của nhà in lúc bấy giờ).Dựa trên một tác phẩm của Henri Maspéro có tên La Chine antique, từ trang 468 đến trang 479, linh mục Henri Bernard-Maitre đã viết rằng: “On a pu comparer sans trop d’exagération l’enseignement de Mei-ti à celui de JésusChrist : tous deux réclament en effet de l’homme, l’amour de Dieu et celui du prochain, mais chez Mei-ti c’est l’amour du prochain qui prime. Il est certain que sa doctrine, fondée qu’elle est sur le thème général du traditionalisme des lettrés, ne laisse pas de se rapprocher curieusement du théisme et du spiritualisme occidentaux. Vivant dans un âge de fer, il se fit apôtre de la charité et du chevalier du droit. Pour lui, tout le mal qui existe dans le monde vient de ce que l’amour des hommes entre eux est insuffisant. Si chacun aimait son prochain comme soi-même et avait une affection égale pour tous, l’harmonie la plus parfaite régnerait.” (page 44)


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 331VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITạm dịch:“Người ta có thể so sánh mà không thấy quá đáng giữa lời dạy của Mặc Địch với lời Chúa Giêsu Kitô: cả hai cuối cùng đều nói đến con người, tình yêu của Thiên Chúa và của người lân cận, nhưng ở nơi Mặc Tử tình yêu đối với người lân cận vượt trổi hơn. Một điều chắc chắn rằng lý thuyết của ông xây dựng trên chủ đề tổng quát của chủ nghĩa truyền thống của các bậc sĩ phu trí thức, không để cho nó được tiếp cận một cách kỳ lạ với chủ nghĩa hữu thần và chủ nghĩa thần linh tây phương. Sống trong thời đại đồ sắt, ông đã biến mình trởthành một vị tông đồ của lòng bác ái và người hiệp sĩ của công lý. Với ông, mọi sự ác trong thế gian hiện hữu là vì tình yêu giữa người với người không được đầy đủ. Nếu bất cứ ai biết yêu thương người lân cận của mình như yêu chính mình và có một tấm lòng nhân ái công bằng với tất cả mọi người, sự hòa hợp toàn hảo sẽ ngự trị.”Phần kếtTrong “Tám mối phúc thật” thường được gọi là bản “Hiến Chương Nước Trời” đã được Thánh sử Mát-thêu nhắc rõ trong câu thứ năm: “Phúc thay cho ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”. Mặc Địch đã nói tới mối phúc này trong thuyết Kiêm Ái của ông, và ông cỗ vũ rất tận tình lòng thương yêu giữa con người với con người vượt qua mọi rào cản. Phải chăng Chúa Thánh Thần đã tác động trong lòng một triết gia ngoại giáo như Mặc Địch để rồi ông đã bước đi trong vai trò tiên phong của ngôn sứ Thiên Chúa khi ngầm ý nói “Thiên Chúa là tình yêu”?Xét ra số phận của một triết gia như Mặc Tử, qua hơn hai nghìn năm bị vùi lấp dưới chiều dày của lịch sử cũng nhờ nỗ lực phục hồi của một nhân vật quan trọng đó là Lương Khải Siêu, mà trở lại với ánh sáng. Như vậy Lương Khải Siêu thật có công với lịch sử văn hoá nhân loại biết bao. Hoàng Tuân Hiến, viên chức ngoại giao đóng ở Nhật Bản khen ngợi văn chương của Lương Khải Siêu là “kinh động lòng người, một chữ ngàn vàng, chẳng ai viết được những điều như ông nhưng trong suy nghĩ của mọi người đều có những điều ông viết, cả những người tuy sắt đá mà cũng phải cảm động, tâm sức lớn đối với văn chương từcổ chí kim, không ai bằng con người này”. Lại nói: Lương Khải Siêu “nói một lời dựng nước, nói một lời mất nước, cả đất nước mênh mông chỉ dựa vào ông”. Lời khen thật chứa đầy tình cảm tôn sùng.” (Vương Tuệ Mẫn, 100 Danh Nhân…, trang 334). Lương Khải Siêu chính là một phần tử trí thức kiệt xuất nổi tiếng là “giỏi thay đổi”. Ông tự xưng là “không tiếc đem cái tôi của ngày hôm nay chiến đấu với cái tôi của ngày hôm qua”, “hôm nay đúng, hôm qua sai, không dám tự giấu”. Từ cải cách duy tân đến lật đổViên Thế Khải, sự “giỏi thay đổi” của Lương Khải Siêu cơ bản là men theo trào lưu của thời đại để tiến lên phía trước. Vì ông rất tin “trị và loạn nối tiếp nhau” là quy luật phát triển của lịch sử cho nên trước tiên ông dùng lậy trường bảo hoàng để phản đối cách mạng Tôn Trung Sơn, về sau phản đối đấu tranh giai cấp trong thời kỳ “Ngũ tứ”, phản đối truyền bá chủ nghĩa Mác, việc này cũng chẳng có gì là lạ, cũng chẳng cần yêu cầu quá nghiêm khắc (Vương TuệMẫn, trang 332). Chính những sáng kiến độc đáo của ông khi lục lọi, bới tìm lại các triết thuyết cổ truyền của Trung Hoa hơn hai ngàn năm qua đã lọt vào mắt xanh của những nhà Trung Hoa Học thời đó như Linh mục Wieger, Linh mục Henri Bernard-Maitre, Hồ Thích


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 332VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIkhiến họ có thể đánh giá lại tầm quan trọng của nền triết lý cổ truyền của Trung Hoa khi đối chiếu với thần học Công Giáo. Việc ông phản đối lại chủ trương đấu tranh giai cấp, phản đối truyền bá chủ nghĩa Mác đủ cho thấy ông đã nhận thức rất sớm sự độc hại của cái triết lý nặng về vật chất và thiếu hẳn cơ sở khoa học và hướng đi nhân bản.Nhờ Lương Khải Siêu khai quật lại các nấm mồ lịch sử triết học, văn hoá của Trung Hoa mà ngày nay nhân loại nói chung còn có cơ hội đọc được triết thuyết của Mặc Tử, hiểu được thuyết Kiêm ái, biết về Thiên chí, hiểu được sự giàu có (phú) và sự đông đúc (thứ) của dân là cái lợi lớn cho dân cho nước và nhiều thứ khác nữa.Trong tông thư “Giáo hội tại Á Châu” của Công đồng Vatican II cũng có viết: “Dưới sự hướng dẫn của Thần khí, lịch sử cứu độ trải rộng ở mức độ thế giới và ngay cả ở bình diện vũ trụ, theo chương trình đời đời của Thiên Chúa. Chương trình này, do Thần khí chủđộng ngay từ giây phút đầu tiên của công cuộc sáng tạo, đã hiện diện trong Cựu ước và được hoàn thành nhờ hồng ân của Đức Giêsu Kitô. Đồng thời được tiếp nối trong công cuộc sáng tạo mới dưới sức tác động của chính Thần khí cho đến khi Chúa Ki tô trở lại trong vinh quang lúc thời gian kết thúc…” “Tài liệu làm việc” của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu ghi nhận: “Nhiều bản trả lời nhấn mạnh rằng tất cả những gì đã đề cập về sự hiện diện cứu độ của Thần khí nơi các dân tộc thì đặc biệt đúng với lục địa Á châu, chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới. Xét về mặt thực tiễn, các tôn giáo này đã là con đường dẫn đưa đại đa số dân chúng Á châu đến với Thiên Chúa, cũng như là một cách thế Thiên Chúa sử dụng đểtiếp cận họ. Thần khí của Thiên Chúa đã tác động trong tâm trí của các hiền giả Á châu cổđại. Chính các vị đã để lại cho dân tộc mình chứng từ của những giác ngộ tâm linh trong các kinh điển. Giáo huấn của các ngài vẫn còn hướng dẫn đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội của một số lớn người Á châu” (Nguyễn Thái Hợp, trang 128).Chắc chắn rằng trong số các hiền giả của Á châu cổ đại này, có nhà hiền triết Mặc Địch, cũng là một ngôn sứ của Thiên Chúa tại Á châu vậy!Nguyễn Đức CungPhiladelphia April 28, 2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 333VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITHÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY Việt Nam từ thuở lìa xa Cháu con Hồng Lạc bôn ba xứ ngườiNăm mốt năm, lắm đổi dời Lòng người tị nạn bời bời nhớ thương Làm thân tằm gửi ly hương Từng đêm khắc khoải hồn vương khổ sầu Ai làm bể cả ruộng dâu Hải âu phi xứ còn đâu lối về Tháng Tư trời đất ủ ê Thương về quê Mẹ muôn bề xót xaĐàn nâng phím trải cung ngà Tơ ươm nốt ngọc hương xa tìm về Quắt quay tìm ánh trăng thề Nhớ xưa bóng phượng đam mê tình nồng Trưa nào bước dạo đồi thông Đò ngang tách bến ánh hồng lung linh Vườn xưa chung bóng đôi mình Giờ đây lạc bước đăng trình lãng du Vật vờ ai oán Tháng Tư Hồn ai như thể sa mù phủ vây Tháng Tư sầu nghẹn đong đầy Nhìn mưa giăng lối buồn vây ngập hồn Thơ gào lời trải vô ngôn Bình minh rồi đến hoàng hôn não nùngĐêm sang nghe tiếng côn trùng Nỉ non từ chốn mịt mùng nơi nao Rèm hoa vương vất ánh saoLòng đau tâm nhói phận nào tha phương Chờ ngày trở lại quê hươngCùng nhau xây dựng bốn phương thanh bìnhNhà Nam đất Việt dân mình Châu về hiệp phố thỏa tình hoan ca... Phương Hoa – 16, Tháng Tư, 2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 334VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIThaNhân họa thơ Mạc Khách Bài xướng:ĐẤT KHÁCHĐất khách quê người gặp gỡ nhauCùng chung tỵ nạn nỗi niềm đauBút đề thi phú nền văn họcSử sách lưu truyền thế hệ sauMột chút lưu danh lòng đố kỵSao bằng liêm sỉ sống thanh caoLãng du săn ảnh hồn man mácKia nắng hoàng hôn bóng nguyệt traoMặc KháchBài họa:OAI GHÊ!Quê người cùng tỵ nạn bên nhauSan sẻ niềm vui lẫn nỗi đau!Ấy vậy bút đề câu nịnh trướcLại thêm thơ viết chữ dèm sauChỉ ham danh nổi gây ghen chóngHay muốn tên vang tạo khích mauChút chức oai ghê làm khó dễPhải qua giới thiệu mới đăng traoThaNhân vui họa với Mặc KháchCamthành Apr 28th, 2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 335VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠILÀNG XƯANương vận thơ Mặc KháchLàng xưa nhớ quá cố tìm nhauXướng họa mong vơi bớt nỗi đauXứ lạ nhanh chân mau học trướcQuê người lạnh cẳng mãi quên sauTài hèn vợ bảo nên ngồi thấpSức mọn con khuyên tránh với caoVẫn cứ mơ Cần Thơ gạo trắngCửu Long sóng vỗ nước nghiêng chaoNông gia hai lúa miệt vườn New JerseyCần Thơ gạo trắng nước trongAi đi đến đó đừng mong ngày về(Trích Ca Dao miền sông nước Cửu Long)


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 336VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITôi Không Là Một Người LínhTôi không phải là một người lính, nhưng tháng Tư lại kéo tôi vào trận chiến, trái tim tôi tan nát với mỗi nhịp đập, lồng ngực tôi nặng trĩu những ký ức tôi không thể cưỡng lại. Tiếng hát vang vọng đã làm nhức nhối bao người khi lần đầu nghe một ca khúc của Nhạc sĩ Nam Lộc được cất lên.\"Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đờiSài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vờiGiờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôiNhững nụ cười nát trên môiNhững giọt lệ ôi sầu đắng.\"Tôi có cảm tưởng gió mang theo tiếng vọng của lòng dũng cảm đã ngã xuống, và tôi cảm nhận được điều đó trong xương cốt, trong nỗi đau trống rỗng của ruột gan. Một nỗi đau mà chỉ tháng Tư mới biết. Tôi không dũng cảm, nhưng trái tim tôi làm chứng, nước mắt tôi tiếc thương những người đã mất, và tâm hồn tôi đau buốt với sức nặng của một tháng không bao giờ quên.Tôi không phải là một người lính, nhưng mỗi tháng Tư, trong tôi lại cảm nhận như đang ở nơi chiến trường. Mỗi nhịp đập kéo tôi chìm vào sự hỗn loạn của những ký ức, tôi không thể trốn chạy, và nỗi đau phủ lấy tôi như một cơn bão thầm lặng. Tôi cảm nhận được nỗi mất mát, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người đã chiến đấu. Dù tôi chưa từng cầm súng hay hành quân cùng họ.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 337VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIMỗi tháng Tư về, lồng ngực tôi đau nhói, ruột gan thắt lại, và nước mắt không kềm được khi đọc những bài thơ, một đoản văn, những ca khúc về một thời khói lửa nơi chôn nhau cắt rún, nỗi lòng khắc khoải của ngày tháng sống ly hương. Tháng Tư không tha cho những người vô tội, nó nhắc nhở tất cả chúng ta về những gì đã mất, những gì đã trao đi, và những gì không bao giờ có thể lấy lại được.Một nỗi buồn tháng Tư khôn nguôi.......Không biết vì sao tôi hay buồnKhi tháng Hè về lệ mãi tuônNhớ phút chia tay cùng ước thệCủa Người lặn lội chốn sơn khêTôi biết vì sao tôi hay buồnMỗi tháng Tư về nhuốm đau thươngQuê Hương xa khuất trong trời nhớThương Người Chiến Sĩ dãi dầu sươngTôi không là người Lính chiến đâuTháng Tư sao dạ lắm cồn càoTim se sắt nhói từng hơi nhịpRuột đứt rã rời tháng Tư đau.Kim Oanh30-4-2026--------------


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 338VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITạc Dạ Nghìn Sau...Anh vẫn đứng đó giữa ngàn mây gióNơi non cao hun hút bóng trăng gầyTôi em gái nhỏ của ngày xưa ấyNợ một tiếng chào theo gió xa bayLời chưa ngỏ đã hóa thành hương nhẹGửi tâm tình vào thăm thẳm ngàn saoDẫu bụi đời có nhuốm bạc mái đầu,Ký ức cũ vẫn dạt dào như mớiMảnh áo chinh nhân sờn vai bạc lốiMàu gió sương in dấu vết thời gianNhưng tình em giữa thế sự ngổn ngangVẫn son sắt chưa một lần phai nhạtKhoảng cách xa xôi trùng dương bát ngátChẳng ngăn được lòng hướng phía non caoMãi mãi là người yêu lính năm nàoVẫn trọn một đời ...tạc dạ nghìn sau...!Kim Oanh28.4.2026------------


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 339VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIÁnh Sáng Tháng TưVào tháng Tư, trái tim hồi tưởng nhớCô bé trưởng thành nhưng vẫn ngây thơ,Kiếm tìm tiếng vọng của những anh hùngTừng đóng quân ở nhà cô một thuởNgười lính của nền Cộng hòa sụp đổ,Lòng dũng cảm được tôn vinh chạm trổAnh can cường chẳng ngại khổ hy sinhNgay cả khi lưu lạc, hay lúc đớn đauBa má cô, đã ra đi từ lâuĐể lại những lời thì thầm theo làn gió:“Hãy tìm họ… họ còn sống đâu đó?”“Không còn có theo hương gió về chăng?”Một tiếng thở dài, một ánh nhìn xa xăm.Tháng Tư âm thầm rưng rưng lệ... Âm nhạc dâng trào, bài thơ được đọc,Những hình ảnh ngày tháng rất nguy nanLà tất cả những gì không kềm nénLàm nghẹn cả lòng tan nát tâm can.Nước mắt chực tràn cho người nằm xuống...Dù bao năm không biết họ ở đâu,Nhưng hy vọng vẫn níu giữ nhẹ nhàng,Như một ngọn nến leo lét canh tànÊm đềm thắp sáng lòng cô gái nhỏ....Hình ảnh người hừng còn rõ sáng soi.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 340VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠINăm 51 Năm vẫn nhớ về thuở nọNhững trái tim thật giản dị chân thành Người đi xa, người mang những vết sẹoThời gian chẳng nhòa tình mãi hướng theoGương dũng cảm như trăng treo tỏa sángNhư những vì sao chói rạng không tànThắp lên ánh sáng tưởng nhớ Tháng TưMang theo những lời nguyện cầu thiết thaCho những Anh Linh tuẩn tiết hy sinhCho những trái tim đau đớn quê nhàHy vọng......khao khát được chữa lànhCho mỗi linh hồn, trong lòng biển xanh.Kim OanhTháng 4.2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 341VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠINhớ những ngày xưa thân ái -Đã 51 năm rồi tê tái lòng ta!GIẤC MƠ!Ta nhớ nhau hay ta đã quên mauKhung trời yêu mang vết sầu kỷ niệmTa đứng đây cho muộn phiền tan biếnThân thể sầu tình khơi điếng mênh mang!Ta đứng đây nhìn trăng khuyết muộn màngNghe trĩu nặng hồn em về theo gióTim ta lạnh trước thiên đàng bỏ ngỏKhông có em đời muôn thuở vô tìnhXin cho ta dù một phút lặng nhìnDù một khắc nghe âm ba em hátTa cho dù đã lỡ đường phiêu bạtNguyện trãi lòng một Từ Hải say mê


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 342VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIÔi em yêu ta quên mất đường vềÔi hạnh phúc dù em giờ đã chếtKhông phải đâu mối tình ta chưa hếtBa dòng Sông nước vẫn chảy muộn phiềnEm bây giờ chết giữa những cơn điênBầy quà quạ tô phấn hồng ác quỷTa vẫn yêu em mối hận tình thế kỷTa vẫn vì em cho trọn một giấc mơ!Nhớ 30-4letamanh


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 343VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIGiỗ Tổ Hùng Vương 2026 tại Morgan HillSau Lễ hội Vesak, thời tiết bỗng thay đổi, lúc nắng, lúc mưa không khí lạnh lẽo kéo dài cả tuần. Hôm nay Chủ nhật ngày 26/4/2026 (nhằm Âm lịch ngày 10/3) là ngày Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương mà nhân gian thường có câu nhắc nhở: “Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”.“Được biết ông Nguyễn Thanh Liêm cùng 7 vị trong Ban Vận động là những người đã góp phần duy trì hoạt động thờ cúng Tổ tiên Vua Hùng. Ông là một kỹ sư về công nghệ (Software Engineer). Sau khi tốt nghiệp Đại học Florida về ngành toán học, ông đi xe buýt thẳng về San Jose làm việc trong ngành điện toán. Hiện ông là Kỹ sư về Công nghệ Nhu Liệu (Software Engineer). Hồi đó ông làm cho công ty Sun Microsystems của Hoa Kỳ, nay đã sáp nhập vào Oracle. Ông kể luôn nuôi ước mộng muốn có ngôi Đền Hùng từ lúc còn học trung học bên Việt Nam. Đến San Jose 1980, ông cùng các vị trong nhóm sáng lập tham gia vào Hội Đền Hùng Hải Ngoại, trụ sở Hội này đặt tại Đền Quốc Tổ Vọng số 599 North 9th Street. Cả 8 vị là những người đã đặt viên gạch đầu tiên, góp phần duy trì hoạt động thờ cúng tổ tiên. Ông kể rằng mãi đến năm 1994 và 1995 thì ông được may mắn làm việc bên cạnh cụ Trần Hữu Phúc, nay 90 tuổi, và cụ đã khuyến khích ông nên tìm cách làm sống lại dự án xây dựng Công viên Văn hóa Việt Nam và xây dựng Ngôi Đền Hùng tại hải ngoại. Nhờ có sự động viên của cụ Trần Hữu Phúc nên ông Nguyễn Thanh Liêm kể rằng: \"Tôi đã đứng ra xin gánh vác việc xây dựng Công viên Văn hóa và ngôi Đền Hùng Hải Ngoại\" (trích Việt Báo).


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 344VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIMấy chục năm nay ông luôn đi tìm đất để tạo dựng cơ sở Văn Hóa và Đền Hùng rộng rãi hơn, vì cơ sở cũ hạn hẹp chưa ổn tiện nghi, nhưng cơ hội không đến. Vài năm sau này ông mua được lô đất ở Morgan Hill rộng tới 4 hecta (tương đương 10.000 mét vuông) ước muốn bành trướng cơ sở đầy đủ phương tiện, thành lập Vườn Văn Hoá và ngôi Đền Hùng trang nghiêm hơn trên xứ người.Năm nay các cụ trong hội quyết định tổ chức Giổ Tổ Hùng Vương ở Morgan Hill để giới thiệu với đồng hương Việt Nam và mời các chư tôn về chứng minh khu đất, hy vọng sau này sẽ phát triển khang trang hơn.Đến Công viên Văn Hoá toạ lạc tại 1400 Half Road - Morgan Hill - CA 95037. Chúng tôi đã thấy quý bậc trưởng thượng, quý cụ, quý hội đoàn, quý đồng hương, cơ quan truyền thông và báo giới đông đủ. Người Việt Nam tị nạn Cộng sản như con một nhà trở về nguồn gốc tổ tiên, tay bắt mặt mừng thăm hỏi rộn ràng trong niềm hân hoan tươi vui.Đúng 10 giờ, buổi lễ bắt đầu dưới sự hướng dẫn của kỹ sư Nguyễn Thanh Liêm. Các quan tế tham gia tế lễ đội mũ và mặc áo thụng xanh kính bái. Phẩm vật dâng lên bàn thờ gồm có: Bánh chưng, bánh dày - là sản phẩm nhờ Vua Hùng Vương dạy dân cấy lúa mà có gạo, nếp tẻ, tượng trưng cho sự phồn thịnh của đất nước vì 18 đời Vua Hùng đã xây dựng và giữ nước trong những ngày đầu lập quốc. Bánh chưng tượng trưng cho Đất, bánh dày tượng trưng cho Trời. Nước uống: tượng trưng cho nguồn sống. Trầu Cau: biểu tượng cho tình nghĩa thuỷ chung của vợ chồng, tình anh em. Rượu: thể hiện tấm lòng của con cháu thảo thơm dâng lên Tổ Tiên lễ vật tinh túy. Hương hoa: dâng lên làn khói thơm của nhang mong Tổ Tiên độ trì cho con cháu. Trái cây, bông hoa: là hoa thơm quả ngọt của đất trời, dâng lên với tất cả tấm lòng, nhắc con cháu nhớ về cội nguồn, về sự hài hoà của vũ trụ mà ông cha ta đã dạy .


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 345VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIBắt đầu chương trình là nghi lễ chào cờ Mỹ - Việt và phần tưởng niệm, sau đó là phần dâng hương cúng Tổ. Không khí trang nghiêm, khói hương nghi ngút, bàn thờ truyền cảm giác thiêng liêng khó tả. Tiếng trống dập dồn lúc chậm lúc nhanh thật điêu luyện, rành nghi lễ do Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng đảm trách càng tăng thêm phần long trọng.Những khuôn mặt đầy nét cảm xúc đang thầm hướng về tổ tiên, ông bà cha mẹ, về làng mạc, quê hương và kỷ niệm. Những đứa con lưu vong, xa quê hương vẫn còn ghi dấu truyền thuyết về Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra được 100 người con. Năm mươi người theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi, sau đến ở Phong Châu, người anh cả trở thành Vua Hùng Vương đầu tiên của nước Văn Lang (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Từ đó nhân gian mới hiểu chữ “Con Rồng, Cháu Tiên”, hàm ý nghĩa là con một nhà cùng nhau giữ gìn đất nước mà tổ tiên 18 đời Vua Hùng Vương trong thời khai thiên lập địa đã xây dựng tốt đẹp. Ngoài ra, con cháu còn nhớ cả truyện cổ tích “Sự tích Trầu Cau”, nhớ nguồn gốc về dưa hấu... Ôi những người con Việt Nam tị nạn ra đi mang theo cả quê hương yêu dấu cất trong tim, giữ trong hồn.Kế tiếp là phần phát biểu đôi lời của bậc trưởng thượng, Ban Đại diện Cộng đồng, Hiệu trưởng trường Việt Ngữ Văn Lang, cũng như quý đồng hương cùng một nội dung: giữ gìn nghi lễ cổ truyền trên xứ người, giữ gìn tiếng Việt, duy trì nền văn hoá quê nhà góp chung bản sắc cùng nước Mỹ.Sau đó là màn múa lân, múa những bài ca dân tộc oai hùng, văn nghệ và ẩm thực. Con cháu thụ hưởng phần lộc với xôi, chè, heo quay, há cảo, gỏi, súp bí, BBQ gà, cà phê nóng... Mùi thơm bốc lên tỏa khói bay trong không khí lạnh lẽo. Những tách cà phê thơm ngon truyền hơi ấm xuống từng mạch máu trong cơ thể. Lòng lâng lâng cảm giác ấm áp được núp bóng dưới ngôi nhà thân yêu trong tình anh em, tình đồng hương. Những đứa con lạc loài, cần nương tựa tổ tiên, lập đền đài xây dựng nơi tha phương, đâu cần tìm kiếm ở quê nhà. Như câu thành ngữ “Con Đâu Cha Mẹ Đó” treo trước đền thờ, ông Liêm đã giải thích: Chúng ta đi mang theo quê hương, vì quê hương là cha mẹ sẽ theo chúng ta khi người đã khuất.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 346VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITôi được xem video của ông Nguyễn Hùng phỏng vấn ông Nguyễn Thanh Liêm. Điều tôi kính nể nhất, nhớ nhất khi câu ông Hùng hỏi “Làm cách nào kêu gọi tài chánh để phát triển tiếp Đền Hùng và duy trì văn hóa Việt Nam?” Ông Liêm đã trả lời “Hiện nay nguồn tài trợ là do thân hữu đóng góp. Tôi chưa chủ trương kêu gọi mọi người bởi vì nghĩ xin tiền của cộng đồng mà chưa làm tròn nhiệm vụ thì sẽ áy náy. Mang tai tiếng với người sống thì không sao, nhưng với người đã khuất là ông bà tổ tiên mình là điều mang tội, tôi chưa dám dùng tên tuổi hoặc danh nghĩa tổ tiên ra quyên góp, vì nghĩ hiện tại tạm ổn chưa cần thiết...”Xin mời nghe những tâm tình, ước nguyện của ông Nguyễn Thanh Liêm.https://fb.watch/GLR18kQnzG/?mibextid=wwXIfr&fs=eĐời người sống được chỉ một lần, đẹp thay những tấm lòng chạy theo mọi lý tưởng cao cả, quyết tâm thực hiện những lễ hội hướng về quê cha đất tổ. Nhắc nhở, giáo dục con cháu “uống nước nhớ nguồn”, nhớ ơn tiên tổ, ông bà cha mẹ, biết về văn hoá Việt Nam. Dạy dỗ tiếng Việt cho các em để không mất gốc, biết lịch sử nguồn cội, biết tiền nhân đã dựng nước, giữ bờ. Quan trọng hơn nữa, đem truyền thống văn hoá Việt Nam đa dạng, đa sắc màu góp phần vào nền văn hoá xứ Mỹ.Đền Hùng là biểu tượng của văn hoá, là di tích lịch sử, là ý nghĩa của tâm linh, là nơi con cháu cúi đầu tri ân tổ tông đã dựng nước Văn Lang đầu tiên.Cám ơn các bậc Tiền Bối, các vị giữ lửa cội nguồn đã bỏ công sức xây dựng đền đài, gìn giữ di sản văn hoá dân tộc nơi xứ người, truyền lại thế hệ mai sau biết nguồn gốc đất nước Việt Nam.Mong rằng lớp trẻ hôm nay tiếp nối, để Đền Hùng ở Morgan Hill mãi là nơi con cháu tìm về.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 347VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIGiỗ Tổ Hùng VươngKính dâng Quốc Tổ(Mùng 10 tháng 3 Âm Lịch)“Dù ai đi ngược về xuôiNhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba”Tiền nhân công đức dựng nhàHùng Vương mười tám đời đà vững nguyênViệt Nam Tổ Quốc chủ quyềnCông lao vĩ đại tổ tiên bắt nguồn.Theo truyền thuyết kể hằng luônÂu Cơ cùng Lạc Long Quân vợ chồngSinh ra trăm trứng gánh gồngTrăm người con đẹp, khéo thông minh là.Hợp duyên rồi cũng chia xaNăm mươi xuống biển theo cha trai hùngNăm mươi theo mẹ đi cùngGái ngoan trai giỏi hiệp chung “Tiên Rồng”.Ngoại xâm quét sạch tâm đồngDân an quốc thái theo dòng chảy trơnKhông gì quý báu sánh hơnNgày nay con cháu biết ơn vô vàn.Hùng Vương Giỗ Tổ lập đànKhói hương nghi ngút xếp hàng kính dâng. Minh Thúy Thành Nội26/4/2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 348VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITƯỞNG NIỆM NGÀY 30 THÁNG TƯ NĂM 1975:NHỚ CUỘC CỜ TÀN XUÂN ẤT MÃO 1975(Để cùng đau niềm đau của KẺ SĨ )TƯỚNG bỏ cung theo “ảnh” (TT NVT) xuất hành,SĨ ngồi tù giặc đỏ buồn tanh.XE lăn chiến hữu lan tràn phố,PHÁO nã nhà dân nát bét thành.MÃ cộng vào dinh cum Tổng dỏm,Binh ta được lịnh liệng gươm nhanh.Đười ươi đến TỐT lòng tan tác,TƯỢNG Tiếc Thương sao đập đoạn đành!Nông gia hai lúa NJNHỚ VONG LINH NGƯỜI TỬ SĨ GIỜ THỨ 25Xác anh chết nằm bên xa lộGiữa hai luồng xe cộ ngược xuôiNắng trưa làm bốc mùi hôiAnh nằm lặng lẽ không người đem chônGió man mác chiêu hồn tử sĩÁo hoa rừng vải Mỹ bọc thây“Đại bàng” đã … cất cánh bayNăm mươi năm lẻ hồn nay phương nàoNhân Dân Tự Vệ hai lúa NJ


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 349VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITRANG TƯỞNG NIỆM 51 NĂM(30/04/1975 - 30/04/2026)***- Năm mươi mốt năm trôi qua...hơn phân nửa thế kỷ, Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa may mắn sống sót qua thời quốc nạn, dù lưu lạc bốn phương trời, vẫn luôn cảm thấy một niềm bi thương sâu sắc khi hoài niệm về ngày 30/04/1975…Riêng tôi khi đọc lại những tài liệu, những bài thơ, bài tóm lược mà tôi viết về các vị Anh hùng Vị Quốc Vong thân hoặc tuẫn tiết để bảo toàn danh dự của một người Lính với hào khí ngút trời của Quân lực VNCH, nét bi hùng ấy khiến tôi đôi lúc không cầm được sự xúc động, và tâm trạng này đã khiến tôi âm thầm chảy nước mắt, để rồi thật nặng lòng bởi cảm giác mình còn mắc nợ những Anh hùng Hào kiệt Phương Nam quá nhiều.- Chúng ta nhắc đến ngày này không phải là bới lại đống tro tàn dĩ vãng để sầu thương bi lụy, mà là để ngẩng cao đầu hãnh diện bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đào tạo trui rèn những người Lính chính trực nghĩa khí, sống chết với quê hương và vì quê hương. Chúng ta tự hào bởi nền giáo dục trước 1975 đã dạy dỗ nên những người dâu hiền, vợ thảo, những người mẹ đã chu toàn trọng trách của mình khi nước mất, chồng tù vẫn giữ tròn tiết hạnh, bươn chải nhọc nhằn chăm cha mẹ thay chồng, nuôi dạy đàn con nên người để lưu truyền lại lớp hậu duệ xứng đáng tiếp bước tiền nhân.- Tôi thật sự thán phục và kính ngưỡng sức chịu đựng bền bỉ kiên cường của quý phu nhân, vợ của Lính VNCH, chắt mót từng lon tương chao đường muối để tiếp tế thăm nuôi khi chồng mang phận tù đày nơi rừng sâu núi thẳm trong thời kỳ thật khó khăn…


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 350VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI- Tôi tưởng nhớ đến ngày 30/04/1975, để đừng quên ân sâu nghĩa nặng của những chiến sĩ đã hy sinh, hoặc đã cống hiến một phân thân thể để bảo vệ sự an vui yên lành cho cụ già, trẻ thơ và phụ nữ nơi hậu phương. Công lao gìn giữ Tổ quốc khiến chúng ta không thể lấy thành bại mà luận anh hùng, bởi tôi tin chắc chắn một điều, có lẽ chưa có một quốc gia nào mà khi bị mất nước, mất thành vì buộc lòng phải tuân theo thượng lệnh, mà có hằng loạt Quân nhân từ Tướng lãnh đến Binh sĩ tuẫn tiết cá nhân hay tập thể hoặc chiến đấu đến phút cuối cùng nhiều như những người Lính oai hùng anh dũng của Quân lực VNCH chúng ta.- Sau cùng, tôi xin nghiêng mình kính cẩn thắp nén tâm hương ngưỡng vọng đến anh linh của tất cả quý Quân Dân Cán Chính đã đáp đền nợ non sông một cách thật vẻ vang, xứng đáng là con cháu của giống nòi Lạc Long.Kính bútThanhSong KimPhú


Click to View FlipBook Version