The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by lanthicung, 2026-04-02 05:26:29

FLIP DE NHI TAM CA NGUYET SAN 2026

FLIP DE NHI TAM CA NGUYET SAN 2026

TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 251VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI11/. ĐÔI LỜI NHẮN GỬINếu anh trở lại Quê hươngCho tôi gửi vẹn tình thương quê nhàTình Quê ấp ủ đậm đàBao năm xa cách mặn mà nhớ thươngTừng đêm khắc khỏai canh trườngGiọt sầu vẫn đổ vấn vương vắn dàiGửi anh một chút tình nàyThăm Quê thăm cả Bạn, Thày giùm tôi!Thân thương nhắn gửi đôi lờiNghĩa Thày tình Bạn muôn đời không quênCho dù cuộc sống lênh đênhBa chìm bảy nổi chênh vênh đổi đờiCũng không phai nhạt tình tôiMuôn đời khắc cốt muôn đời ghi tâmQuê Hương một mối tình thâmNhưng tôi vẫn phải âm thầm xa quêLòng tôi vẫn muốn quay vềNhớ Quê thì nhớ nhưng về thì…chưa!!ThaNhânCamthành, Nov 12th, 2012


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 252VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI12/. CÒN LÃNH THÊM HÈO!!Vốn dĩ tụi này gốc nó tồiMở mồm há mõm thoát mùi hôi!!‘’Đỉnh cao’’ ‘’học mót’’ đúng con rối‘’Trí tuệ’’ nhận vơ chửa đáng bồiẤu trĩ mánh mung phường láo dốiNgu ngơ gạt gẫm lũ lừa thôiNếu không sửa đổi cho ăn gốiCòn lãnh thêm hèo! Chớ mộng xôi!!Camthành Nov 28th, 2021Tha Nhân13/. XÁC THỐI QUẲNG NGAY!Đúng lắm Cáo Minh chính hắn tồiGiết xong giả khóc quá hèn thôi!!Chủ trương tàn độc, bêu danh thốiChính sách dã man, riếu tiếng hôi!Tận tuỵ thầy Nga sinh chót lỗiTrung thành chủ chệt tạo đầu nhôiGià Hồ bao tóc bấy nhiêu tộiXác khắm quẳng ngay, chuyện sẽ rồi!!Camthành, Nov 29th, 2021Tha Nhân


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 253VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI14/. TA!Ta giống đa tình thích dạo chơiTa là cánh bướm lượn quanh trờiThăm hương thăm sắc hoa muôn đóaRồi kết vần thơ thắm cõi đờiTa như nét bút có muôn màuVẽ cảnh, họa tình xóa nỗi đauTô đậm trần gian thêu nét đẹpHài hòa thi họa dệt trăng sao.Ta chiếc lục huyền vạn phím rungĐường tơ lả lướt giữa muôn cungThấp cao réo rắt say tình khúcTrầm bổng mê ly tấu bập bùngTa như thuyền mộng vớt trăng saoLướt sóng lênh đênh giữa chiến hào!Tình ngập đầy khoang tim ngập ýBa đào quên lãng khúc Ly Tao.Hồn ta hòa nhập với thiên nhiênMuôn vật quanh ta chung muộn phiềnLệ khóc cùng mưa lời điệp khúcThan van với dế tiếng triền miên.Gió mát trăng thanh cảnh thái hòaTình nồng đượm thắm nét muôn hoaTao nhân mặc khách đều bằng hữuHồn mãi ngoan đồng bệnh tránh xa.Thơ đàn nửa gánh quảy rung rinhMột thuở trăm năm một chữ tình


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 254VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠILợi lộc tài danh quên béng mấtGởi thơ theo gió dệt yên bìnhCâu thơ tôi viết gửi muôn phươngMang một chữ tình lẫn chữ thươngGửi bạn tri âm điều khát vọngGửi người tri kỷ nỗi niềm vươngNốt nhạc tôi gieo xinh rất xinhDu dương đầm ấm chuyện Quê mìnhTrao người đồng khí dòng tương ýGửi khách đồng thanh một khối tình…Camthành June 22, 2015Tha Nhân15/. CỜ VÀNG TUNG BAY …TRỞ LẠICờ Vàng Sọc đỏ Việt NamSau thời gian ‘’mất’’ nay đang phục hồiLá Cờ chính nghĩa sang ngời,Cộng quân gian ác hết thời từ đâyTrước kia thế giới sa lầyLầm nghe lừa mị tin bay một thời.Bây giờ vận Nước cơ Trời!Cờ Vàng Sọc Đỏ lại thời tung bayTung bay rạng rỡ đêm ngày,Tung bay khắp chốn đất này tự do.Cờ vàng biểu hiện ấm no,Cờ Vàng Chính Nghĩa, Tự Do Hòa bìnhCờ Vàng ánh sáng bình minhCủa dân tộc Việt hữu tình hữu nhânKhông như bè lũ vô thầnSao vàng cờ đỏ giết dân lần hồiLầm than Đất Nước tơi bờiĐó là cờ máu tên bồi Nga Hoa,Hắn là một con cáo già


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 255VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIBuôn xương buôn máu con nhà Việt Nam.Làm cho Đất Nước điêu tànNhân dân nghèo dốt, lân bang chê cười.Đó là nhục nhã để đời,Của phường Cộng sản một thời huênh hoangBây giờ chính nghĩa Cờ VàngTung bay rực rỡ, hiên ngang rạng ngời.Cờ vàng dấu chỉ con người,Việt Nam, dân tộc yêu đời Tự Do.Nhiều năm đành mất ấm no,Vào tay Cộng phỉ, tự do suy tànBây giờ mây phủ đã tan,Lòi quân cướp giật, Việt gian hiện hìnhLà phường bán Nước cầu vinhChúng là đệ tử Chí Minh thuở nàoThời kỳ tranh đấu cao trào,Người Việt hải ngoại nêu cao Cờ vàng.Nói cho thế giới hiểu rằng:Việt Cộng mới chính kẻ gian ẩn mìnhDần dần chúng lộ nguyên hìnhLà quân khủng bố, đồng tình ác ôn.Ngày nay thế giới dần’’khôn’’,Nhận ra rõ mặt kẻ chôn loài ngườiPhạm vào tội ác tày trời,Milosovich, Hít le khác nào.Họ bèn yểm trợ phong trào,Đấu tranh dân chủ, nêu cao nhân quyền.Dần dần mỗi cấp chính quyềnChúng ta gốc Việt phải nên bầu vào.Đó là cơ hội nêu cao,ĐÓ LÀ NGỌN GIÁO ĐÂM VÀO CỘNG NÔ:Một bầy tàn phá cơ đồ,Một bầy chúng đã giày vò Quê Hương.Bây giờ thì chúng cùng đường,Bởi vì chính nghĩa mọi phương, lạ gì .


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 256VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠICờ Vàng Sọc Đỏ uy nghi,Tung bay hợp pháp ta thì vẻ vang.Chao ôi, sung sướng rỡ ràng,Từ nay dân Việt Cờ Vàng lại bay!(13/3/03, sau khi hai TP ban hành hai nghị quyết công nhận Cờ Vàng 3 sọc đỏ, được treo hợp pháp)Tha Nhân16/. CỜ VÀNG ĐUỔI HÁNChính Nghĩa quốc gia có tại timCờ Vàng biểu hiện đâu cần tìmHàng hàng dâng hiến xông pha trậnLớp lớp vượt biên vỡ tổ chimĐất khách rạng ngời bay trước gióQuê nhà lén lút giấu luôn phim.Đồng bào! Việt cộng ta phang trướcĐuổi Hán Hoàng Kỳ chẳng đứng im.Camthành, Apr 23 2018Tha Nhân


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 257VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITRỐN VIỆC QUAN ĐI Ở CHÙABảy bó đi cày để khỏi giàMấy em trong sở gọi bằng BaCon than việc vặt đau lưng MẹBố trách tiền nhà mệt óc ChaVợ hét vườn um tùm chẳng dọnChồng rên job bận rộn chưa quaNgồi yên gõ máy trong thinh lặngRáng nhịn cho bằng an cửa nhàNông gia hai lúa NJ USASpring 2026KHI THUYỀN BỎ BẾNLặng lẽ thuyền mong vượt cửa sôngChốn ni bao kẻ chẳng qua vòngHơi im khấn nguyện mau rời bếnSúng nổ đừng mơ thoát khỏi dòngCố tránh màn hùm thiêng vướng bẫyCho qua cảnh kéc kiểng nuôi lồngBao năm đất khách thân lưu lạcNgẫm lại người đi còn nhớ khôngThuyền nhơn hai lúa NJ USA April 9, 2026Để tưởng nhớ...39 năm ngày \"nín thở\" vượtqua cửa Trần Đề Cửu Long Giang 1987 - 2026


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 258VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIGÀ TRỐNG CHĂM CONNói đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 hầu hết những người dân miền Nam Việt Nam đều biết và nhớ mãi, cái ngày thống khổ đổ ập xuống như một cơn cuồng phong. Vào khoảng đầu tháng sáu, theo lệnh của Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn, Gia Định, kêu gọi tất cả Quân, Cán, Chính các cấp phải mang theo vật dụng cá nhân và lương thực trong 10 ngày hoặc một tháng. Ông Chu cùng hàng trăm, hàng ngàn người lũ lượt đi trình diện, xếp hàng rồng rắn trước các trường trung, tiểu học để được ghi danh “học tập chính sách của đảng và nhà nước”. Một tháng trôi qua nhanh, không thấy ai trong số những người tập trung “học tập” trở về. Tất cả đã vào tròng, Cộng Sản lộ nguyên hình con cáo già. Vào một đêm không trăng sao, ông Chu cùng bạn bè được đưa lên những chiếc xe bịt bùng, chở đến Long Khánh, tại căn cứ Sư Đoàn 18 Bộ Binh cũ được vài tháng. Rồi chuyển qua Long Giao chờ thanh lọc đưa ra Bắc. Sau những năm tù đày, từ Sơn La đến Vĩnh Phú, cái đói, cái rét của núi rừng nó hành hạ người tù, thật khủng khiếp không tả nổi. Ông Chu lại được đưa trở về miền Nam ở Gia-Ray một thời gian nữa, nhưng dù sao khí hậu trong Nam cũng ấm áp và được gần gia đình hơn. Thế rồi ông được thả về vào một buổi sáng mùa đông năm 1982, trên chuyến xe đò về Saigon ông đi cùng vài người bạn. Nhưng mỗi người một ngả, người thì về Thị Nghè, kẻ về Khánh Hội, còn ông về xứ đạo Nghĩa Hoà gần khu Ông Tạ. Các bạn đồng hành vui vẻ, háo hức vì sắp được đoàn tụ với gia đình vợ con. Riêng ông Chu vẻ mặt buồn hiu, lơđãng nhìn cảnh vật lướt qua bên đường.Chiếc xe ôm rẽ vào con đường chính của xứ đạo, đến gần cổng nhà thờ thì thả ông xuống trước căn nhà lầu xây xinh xắn, lớp vôi trắng đã ố vàng theo thời gian. Chưa gõ cửa vội, ông đứng lặng nhìn căn nhà thân yêu, sau bao năm xa cách.Ra mở cửa chỉ có Hường, đứa cháu gọi ông bằng cậu. Không khí trong nhà ngột ngạt, yên lặng nặng nề. Ông bỏ chiếc ba lô đã bạc mầu xuống đất. Đứng nhìn những đồ vật quen thuộc, chiếc bàn, chiếc ghế, tủ chè, tủ đứng, đã từng ghi lại bao nỗi thăng trầm của gia đình, vẫn còn nguyên vẹn. Có tiếng mẹ ho trong buồng ngủ vọng ra, làm ông nhớ đến người cha đã mất hồi ông đang bị lưu đày biệt xứ, không thể về chịu tang được, ông buồn lắm.Vài người hàng xóm đến hỏi thăm và chúc mừng. Nhưng ông Chu không vui, mẹbiết ý bảo ông nghỉ ngơi vài ngày, rồi con Hường đến nhà người em họ để hỏi địa chỉ đi kiếm vợ con, nghe đâu mẹ con nó về quê tuốt ở Đà Lạt. Ông đưa mắt nhìn con Hườngđang đứng trước mặt, to xác nhưng đầu óc nó như đứa trẻ con. Hường là đứa cháu ngoại mẹ ông nuôi từ nhỏ. Khoảng đầu thập niên sáu mươi, lúc ông đang ôn thi tú tài, thì nghe tin người chị lớn nhất, sanh ra một đứa con gái bị sứt môi xấu xí, sợ xóm làng bà con chê cười chị lén đem gửi trong cô nhi viện, mẹ ông biết được đến rước về với hình thức nhận một đứa con nuôi. Sau này bà đưa nó đi vá môi coi cũng đỡ hơn, nhưng nói còn hơi ngọng. Hường rất ngoan nên ông Chu thương nó như con. Nhưng khi ông lập gia đình, đã làm cho


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 259VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIvợ ông ghen tức và ghét nó vô cùng, vì lòng ganh tỵ ấy đã để lại hậu qủa mà đứa con gái nhỏ của ông phải gánh chịu. Đó là bé Liên, con bé mũm mĩm thật dễ thương, nhưng trong xóm ai cũng lấy làm lạ vì “cái môi vá tự nhiên” của nó, hỏi ra thì bà Uyên vợ ông Chu bực tức kể về một điều kỳ diệu và huyền bí. Vào cuối năm 1974 bà sinh con bé Liên, ông Chu đã nhờ một vị Bác Sĩ là bạn thân của ông đỡ đặc biệt cho bà, nhưng khi con bé vừa lọt lòng mẹ, đã làm cho các Bác Sĩ tại nhà thương ngạc nhiên, môi trên của nó có một cái sẹo dài ở gần nhân trung kéo từ lỗ mũi xuống môi, còn rõ những mũi chỉ khâu như người sứt môi được vá lại, bà vừa chỉ cho mọi người xem, vừa phân bua là từ lúc sinh ra môi nó đã như vậy. Trước kia vợ chồng ông Chu sống chung với cha mẹ, vì ông Chu là con út, các anh chị ông đã có gia đình và đều ở riêng. Rồi sau ngày đổi đời, bà Uyên mất việc trong Ngân hàng, chồng đi tù cải tạo, một nách ba đứa con dại, bà không biết làm gì để sống, may nhờmẹ chồng cũng có của ăn của để, nên thoạt đầu bà không phải vất vả buôn đầu chợ bán cuối chợ, chạy bữa sáng mất bữa tối, như các bạn cùng hoàn cảnh. Nhưng rồi “miệng ăn núi lở” dần dần tiền dành dụm cũng vơi, mẹ chồng con dâu đâm ra xích mích. Vốn dĩ ngày trước mẹ chồng đã không ưa gì nàng dâu này, vì cụ là người Bắc di cư ngoan đạo, còn bà Uyên người Đà Lạt bổn đạo mới. Mỗi sáng Chúa Nhật, ông Chu đi lễthường đến trễ về sớm, nên cụ gọi dậy và mắng: “Mày cứ nằm ôm mãi cái hũ hèm à, dậy ngay đi lễ không thì muộn rồi!.!..” thế là bà Uyên chọc tức cụ, không trả lời, nằm ôm chặt chồng hơn. Đi đâu bà Uyên cũng kể như vậy rồi còn thêm: “Uyên rất ác cảm với mấy bà Bắc đội khăn mỏ quạ, đi xe buýt mà gặp mấy bà đó, không bao giờ tôi nhường chỗ”. Rồi bà nói như oán trách: “tiền của cụ còn nhiều mà bây giờ cho mẹ con tôi ăn riêng, mỗi tháng chỉ đong cho một bao gạo và một chai nước mắm”. Thế rồi bà lấy cớ là cụ không đưa tiền, nên từ đó bà không đi thăm chồng nữa.Lại nói về Hường. Nó rất được việc, thỉnh thoảng có giấy báo thăm nuôi gửi về màmợ nó lờ đi, thì bà ngoại mua đường, đậu, thịt chà bông, mắm ruốc, cá khô….Lên phường xin giấy phép đi đường, rồi gửi nó theo mấy người quen có chồng tù cải tạo cùng địa chỉ với ông Chu, để đi tiếp tế cho cậu. Thế nhưng khi con Hường đi thăm ông Chu về, bà Uyên đến tận nhà người dẫn nó theo để chì chiết trách móc: “Tại sao chị lại chỉ đường, chỉ lối cho nó đi thăm chồng của tôi”. Thật là trớ trêu! Cứ thế cơm không lành canh không ngọt, không khí trong nhà như địa ngục. Rồi một hôm, bà Uyên đòi mẹ chồng cho một số tiền để về quê làm ăn. Cụ sẵn lòng nhưng bảo với bà: “Chị đi đâu thì đi, để các đứa cháu lại cho tôi nuôi”.Bà Uyên biết cụ rất thương cháu, nhưng phớt lờ cứ dẫn con theo. Quê bà Uyên ở vùng Đa Thiện Đà lạt, nơi đây sống bằng nghề trồng rau và cây ăn trái như: Dâu, bơ, hồng, đào, đặc biệt là atiso một loại đặc sản nổi tiếng ở Đà lạt. Cha mẹ bà gốc người Phan Rang vào làm ăn tại đây đã mấy đời. Nhưng song thân bà mất đã lâu, bây giờ chỉ còn người bác già yếu. Bà Uyên không quen việc trồng cấy, ra thuê căn nhà nhỏ gần phố để dễ làm ăn


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 260VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIhơn. Bà để liều đứa lớn trông đứa bé, rồi đi kiếm việc làm. Mới đầu bà xin làm ở tiệm chuyên may quần áo bỏ mối, dễ nhưng không làm được vì chân tay vụng về. Bà đổi qua luộc khoai lang bán dạo, nhưng không biết cách luộc, củ khoai quả chuối vớt ra, thâm đen không ai mua, lại bưng về mẹ con ăn trừ bữa. Sau này bà theo bạn bè buôn hàng chuyến, lúc thì xuống miền Tây mua gạo về bỏ mối, lúc thì ra tận miền Trung buôn thuốc tây, toàn đồ quốc cấm. Không quen tính toán suýt mất vốn mấy lần. Sau cùng bà Uyên đành hùn hạp với một gã chuyên mánh mung, vì “đi buôn có bạn, bán có phường”. Bà Uyên đi từ sáng tới chiều tối mới về, để lũ con nheo nhóc. Thằng Chiến lớn nhất hơn mười tuổi, đã hiểu chuyện, nó luôn tỏ ra bất mãn với mẹ.Một bữa gã đàn ông hùn hạp khoảng ngoài năm mươi, đậm nét phong trần, theo mẹ nó về nhà ở. Nó chống đối ra mặt, sau một hồi cãi vã bị ăn hai cái tát, nó liền bỏ nhà ra đi!Thằng Chiến lang thang mấy ngày bụng đói meo. Nó lần mò đến những quán ăn ngoài chợ xin rửa chén và dọn dẹp. Thấy hoàn cảnh tội nghiệp lại chịu khó làm việc, bà chủ trả công, còn cho chén cơm, nó ngồi chồm hổm ở góc bếp ăn lấy ăn để. Đêm đến nó ngủ ngoài hiên các cửa hàng có mái nhô ra, mặt nó lúc nào cũng gườm gườm không cười không nói. Mỗi lần nó đi ngang quán cà-phê đầu đường, mấy anh thanh niên vô công rỗi nghề, chỉ chỏ bàn tán: “Thằng nhỏ đó, nghe nói ba nó đi ‘cải tạo’ ngoài Bắc, má nó cặp vớithằng cha trùm buôn lậu”. Chiến giả bộ không nghe, đầu cúi gằm lủi nhanh như ma đuổi.Nhưng rồi ít lâu sau, những thằng bạn xấu, đã rủ nó đi xa nơi quen biết, đến bến xehành nghề móc túi, rạch giỏ, lúc ẩn lúc hiện trong các chợ búa, rạp hát đông người qua lại. Mới có mấy tháng mà thằng Chiến khác hẳn, mấy thằng bạn nó trông mới ghê, mặt mũi lem luốc, đen đủi, con mắt lấm lét láo liên, đầy gian manh. Chúng luôn thay đổi địa bàn để tránh công an truy lùng.Dù đi đâu, thỉnh thoảng thằng Chiến cũng quay về xóm lao động, nơi căn nhà có má và em nó, để nghe ngóng tin tức ba. Vì nó nghe người ta đồn, dạo này tù cải tạo được thả về nhiều lắm, nó hy vọng một ngày rất gần ba sẽ đón anh em nó về nuôi. Sau này nó ghévề thường xuyên hơn, rồi dặn em khi nào ba về thì cho nó biết ngay. Mấy bà hàng xóm tốt bụng an ủi, Tết này thế nào ba mày cũng về. Nghe thế anh em nó mừng ra mặt. Chiến tưởng tượng ra cảnh gia đình xum họp cùng nhau ăn một cái Tết đoàn tụ. Ba nó sẽ mua nhiều bánh mứt ngon, quần áo mới cho chúng. Nó lại được cắp sách đến trường, không bị những cặp mắt tò mò khinh rẻ của những người hàng xóm nhiều chuyện.*Theo lời chỉ dẫn của một người bà con bên vợ, ông Chu bắt chuyến xe đò sớm nhất. Từ Saigon lên Đà Lạt khoảng ba trăm cây số, ngồi trên xe đò bảy, tám tiếng đồng hồ mỏi lưng chùn gối. Đến nơi vào một buổi chiều lãng đãng sương mù, thời tiết nơi đây thật mát mẻ dễ chịu, đã làm nỗi nôn nóng gặp vợ con của ông dịu xuống. Những hàng cây hoa anh đào đang nghỉ đông, bất động bên đường. Tìm địa chỉ nằm sau nhà thờ Chính Toà Đà Lạt. Từ chợ Đà Lạt ông đi qua cầu Ông Đạo, rồi rẽ phải đi đến cuối đường Lê Đại Hành sẽ tiếp tục rẽ vào đường Trần Phú (trước là tên BS Yersin) nhìn lên ông đã thấy tượng con gà được đúc trên đỉnh tháp chuông cao chót vót, nên người ta còn gọi là Nhà Thờ Con Gà.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 261VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIĐi qua khuôn viên nhà thờ, ông xuống hết con dốc dài rồi quẹo phải men theo đường mòn, đi qua vườn mận nương theo triền đồi, tìm mãi mới thấy số nhà đã mờ nhạt. Cánh cửa khép hờ, ông gõ nhẹ rồi đứng chờ. Đứa con gái lớn đang ngồi viết bài đứng dậyra mở cửa, khi thấy người lạ nó lễ phép chào. Đứa em đang chơi sau bếp cũng chạy lên ngơ ngác nhìn. Ông Chu bùi ngùi nhận ra chúng ngay, giang hai tay như muốn ôm các con vào lòng, giọng xúc động run run : “Thằng Chiến đâu? Con Bích, con Liên phải không? Ba đã về với các con đây” chúng mở lớn mắt ngỡ ngàng nhìn ông một lúc, rồi cũng chạy ùa đến ôm lấy ba. Vì chúng được coi hình và lúc trước bà nội hay nhắc nhở đến ba chúng nó.Không thấy thằng Chiến đâu, ông Chu đang hỏi các con, thì nghe bên ngoài có tiếng ồn ào, quay lại, chợt vợ ông xuất hiện trước cửa, chắc vừa đi đâu về ăn mặc tươm tất đẹp đẽ, tay bế đứa con chừng một tuổi. Bà Uyên khựng lại không bước đến, chỉ nhìn ông không nói được gì.Mấy đứa con mải chia nhau hộp bánh kẹo ông vừa đem từ Saigon lên, không để ý gì đến cha mẹ. Bà Uyên ngồi vào bàn đối diện, nước mắt chảy ra nghẹn ngào. Ông Chu cúi đầu lặng lẽ, nuốt lệ vào tim, bằng lòng với sự im lặng của mình. Ngước đôi mắt u buồn bà Uyên lúng túng nhìn ông như muốn nói gì rồi lại thôi. Một cảm giác ân hận muộn màng, lỡbước sa chân rồi, như người lỡ tay làm vỡ chiếc bình pha lê hạnh phúc, một báu vật thiêng liêng quý giá của đời mình. Chồng ngồi đây, con ngồi đó, mà bà không dám nhìn, bao năm xa cách, ngày gặp lại chính ra phải mừng thì bà lại khóc!Ông Chu hứa bỏ qua những lỗi lầm, khuyên bà hãy bỏ tất cả, trả đứa con ngoại tình cho cha nó, rồi về Saigon với ông và các con. Đúng ra ông không thể tha thứ cho vợ được, nhưng ông nghĩ đến con cái chúng cần phải có tình thương của người mẹ. Ông xót xa bảo vợ :- Tôi đã biết hết mọi chuyện nhưng sẽ tha thứ cho mình! Hãy trở về cùng tôi lo cho các con.Dù ông Chu hứa bỏ qua, nhưng bà không đành lòng bỏ lại đứa con vô tội còn nhỏdại, chỉ trả lời:-Thôi, đã phóng lao thì phải theo lao, em không về ngôi nhà đó đâu!.…Mong anh hiểu và thông cảm.Nghe bà trả lời dứt khoát vậy, ông không biết nói gì hơn chỉ hứa hẹn khi nào bà cần ông giúp đỡ, hoặc muốn quay về với gia đình ông cũng sẵn sàng. Sau bao năm tù đày gian khổ trong địa ngục trần gian, đã nếm đủ đắng cay của cuộc đời, bây giờ với thân phận một kẻ đang bị quản chế, mà chính sách hộ khẩu khắc nghiệt không thể đi hoặc đến những nơi mình muốn, nên sau khi thỏa thuận với vợ, phải đi tìm đứa con trai đầu lòng của ông ngay. Ông về thu xếp, đợi vào đầu niên học tới, sẽ đếnbắt lại ba đứa con. Rồi ông thất thểu quay về một mình.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 262VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIChán ngán cảnh đời đen lẫn trắng. Hận người phụ nghĩa bạc như vôi. Cúi mặt đất dày đành im tiếng. Ngẩng đầu mây trắng ngạo nghễ trôi. ( ST )Nhớ ngày ông mới về nhìn nhà cửa lạnh lẽo điêu tàn, gia đình tản mát, cha đã mất, mẹ thì già yếu, tại địa phương ông luôn bị theo dõi, đối xử phân biệt, lúc lên phường trình diện vừa chạm mặt công an khu vực ông lại phải nghe những câu nói quen thuộc nhàm chán: “Anh đã được Cách Mạng khoan hồng cho về địa phương tiếp tục được giáo dục, để mau chóng trở thành con người của Xã Hội Chủ Nghĩa?..!.”. Rồi họ nói về điều kiện quy định của phường, trong vòng sáu tháng muốn có hộ khẩu thường trú thì phải có việc làm, nếu không thì ông buộc phải đi kinh tế mới. *Từ lúc đón các con về bao nhiêu thứ phải lo lắng, nhìn đàn con xanh xao, gầy còm lòng ông đau như thắt. Đã mấy tháng rồi ông Chu vẫn chưa tìm được việc làm, phần vì chưa có hộ khẩu, lý lịch lại quá tệ vì thế các xí nghiệp nhà nước không nơi nào nhận. Con Hường nấu nồi cháo lòng cho ông ngồi bán trước cửa nhà, kẻ đi qua người đi lại thương hại, bảo nhau ghé vào ăn ủng hộ cho ông, nên khoảng xế trưa là nồi cháo hết sạch bách, nhưng công an khu vực đến cảnh cáo ông không được buôn bán, phải đi lao động, vì buôn bán là ăn bám. Ông nghĩ ở thành phố mà không buôn bán thì làm gì có đất mà lao động, sau nhà ông chỉ còn miếng đất lộ thiên bằng manh chiếu để phơi quần áo, chứ trồng cấy được gì? Ông lại thất thểu đi tìm việc, thì may thay vào một buổi sáng đẹp trời vừa vào quán cà phê đầu lối ngồi chưa ấm chỗ, ông gặp một bạn học hồi xưa cũng đi tù “cải tạo” về, đang dựng chiếc xích lô trước quán bước vào, nhận ra nhau vồn vã hỏi thăm, sau khi biết gia cảnh, người bạn liền chỉ cách và dẫn ông đến giới thiệu chủ quen cho ông thuê một chiếc xe xích lô. Ông mừng quá, sau khi ký giao kèo thuê xe, ông về nhà lấy tiền đặt cọc luôn. Sáng hôm sau ông thức dậy sớm hơn thường lệ, khoác vội chiếc áo đã sờn vai, cho hợp với chiếc mũ bạc màu, ngồi lên chiếc xe đạp cũ lặng lẽ đến nhận xe. Ông đẩy chiếc xích lô còn khá tốt, đến một con đường vắng mới dám leo lên yên xe cao quá tầm, vừa tập lái, tập đạp cho quen chân, chiếc xe lắc qua lắc lại, có lúc leo lên lề, rồi lật ngang làm ông té xuống đất đau điếng, ông không nản tập đi, tập lại, bẻ tay lái qua trái, qua phải nhiều lần thì ông quen dần. Hôm sau ông vừa đón khách vừa thực hành và học hỏi thêm kinh nghiệm điều khiển xe. Nhưng có một điều lấn cấn đối với ông là tên những con đường cũ đã bị đổi theo vận nước, mà Cộng Sản Việt Nam muốn xoá đi những kỷ niệm của VNCH ngày xưa, như bài hát “Saigon Niềm Nhớ Không Tên” của NS Nguyễn Đình Toàn: “Saigon ơi! Ta mất người như người đã mất tên, như giòng sông nước quẩn quanh buồn, như người đi cách mặt xa lòng! Ta nhủ thầm em có nhớ không? Saigon ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 263VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIxao, trong niềm vui tiếng hỏi câu chào, sáng đời tươi thắm vạn sắc mầu, nay còn gì đâu.?.!….” Mặc dù thời còn đi học, ông Chu và các bạn cùng trang lứa thường lang thang rong chơi trên khắp các con đường của Thủ Đô Saigon, không con đường nào mà không biết. Vậy mà bây giờ đã bị thay đổi thành những tên xa lạ. Tệ hơn nữa khi lấy tên Hồ Chí Minh là tội đồ dân tộc, thủ phạm bán nước! Để thay cho một tên Saigon thân thương đã có tự bao đời, đã ăn sâu trong lòng những người miền Nam. Phải mất một thời gian ông mới quen được những tên đường mới khi người khách bất chợt phán: “Ông cho tôi đến đường Nguyễn thị nhỏ?.!..”, hay có lần: “Bác xích lô ơi làm ơn chở tôi đến đường Hồ Tùng Mậu?.!” Ông phải mất vài phút gạn hỏi khách, đường đó thuộc quận mấy, ở hướng nào? Thì ra Nguyễn thị Nhỏ trước là đường Dương Công Trừng. Đường Hồ Tùng Mậu là đường Võ Di Nguy cũ. Ông thường đón khách tại những địa điểm xa nhà, không phải ông sợ người ta khi dể, vì ông nghĩ trên đời này không có nghề nào hèn, khi mình đổ mồ hôi sôi nước mắt đổi lấy miếng cơm. Nhưng ông sợ bọn công an địa phương tìm cách làm khó dễ. Cũng nhờ ông có người anh họ là Chủ nhiệm Hợp Tác Xã tổ hợp dệt mền chỉ ở ấp Bùi Môn, Hốc Môn cấp cho ông tờ giấy chứng nhận ông là xã viên của Hợp Tác Xã. Nên ông đạp xích lô cả mấy tháng mà cán bộ trên phường vẫn chưa biết, họ tưởng ông là công nhân đi dệt gia công.Dù khó khăn vất vả làm vậy, nhưng ông Chu không còn lo phải đuổi đi “kinh tế mới”. Ban ngày thì còng lưng đạp xe, hôm nào xui gặp phải cuốc hàng nặng cả trăm ký, hay bà khách “ăn gì to béo đẫy đà” thì ông đạp đổ mồ hôi trên vã mồ hôi dưới mà về đến nhà còn phải vào bếp nấu cơm, bỏ hộp sẵn sáng mai đem theo ăn, đỡ tốn tiền cơm hàng cháo chợ, rồi quay qua giặt bộ quần áo dầy cộm bám đầy bụi đường. Tối đến lại phải dạy kèm cho các con. Điều an ủi cho ông Chu là Con Bích, con Liên vừa ngoan vừa chăm học, chúng biết thân biết phận sáng ra chẳng đợi ông gọi, chúng dậy sớm tự đi lấy cơm nguội ăn với dưa cải chua, rồi mặc quần áo đeo cặp đi học, con nhà nghèo vậy mà năm nào cũng được giấy khen học sinh giỏi, đem về khoe ba. Chỉ tội thỉnh thoảng con Liên lại nhắc đến mẹ, nó khóc hưng hức nước mắt nước mũi tèm lem rồi cong cái môi có vết sẹo bẩm sinh oan nghiệt, nấc lên: “Con nhớ mẹ quá ba ơi!”. Ông Chu ôm con vào lòng dỗ dành: “Nín đi con! Mai mốt mẹ nghĩ lại sẽ trở về với con mà”. An ủi con như đang an ủi mình, bởi lòng ông vẫn thầm mong chờ một bóng người, trong giấc ngủ ông thường mơ thấy vợ về gương mặt mang một vẻ buồn hắt hiu. Có hôm giật mình thức giấc, nửa đêm về sáng căn nhà yên ắng nghe rõ từng tiếng thở của các con. Không ngủ được, ông lần bước xuống cầu thang, ở nhà dưới mẹ ông cũng khó ngủ đang ngồi trong màn, tay cầm cỗ tràng hạt, vài sợi tóc bạc loà xoà rũ xuống khuôn mặt khắc khổ, hiền lành. Ông muốn đến nói chuyện với mẹ, nhưng thấy cụ đang lâm râm đọc kinh, ông im lặng ngồi bệt xuống bậc cầu thang, tay đập lia lịa lũ muỗi đói vo ve bâu quanh mình. Nhìn cảnh “phòng không nhà trống” nơi nào ông cũng thấy hình ảnh vợ, từ trong nhà bếp ra tới phòng khách, đến chiếc ghế sofa hai vợ chồng hay ngồi xem TV sau bữa cơm chiều. Đã mấy mùa mưa nắng kể từ ngày ông thoát khỏi ngục tù, mà vợ ông vẫn biền biệt tin tức, không biết giờ này người vợ vô tâm ấy đang làm


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 264VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIgì và ở đâu?....Bỏ lại cha con ông một khoảng trống vắng không gì lấp nổi. Ước mơ đơn sơ của ông là mong có một cuộc sống đủ vợ đủ chồng lo cho con cái, mà sao xa vời quá!.Ông dạy các con từ tri thức đến lễ nghĩa. Nhưng thằng Chiến vì bỏ học dở dang nên sức học yếu hẳn không theo kịp các bạn trong lớp dù ông luôn kiên nhẫn kèm cặp. Tội nghiệp nó đã phải trải qua khoảng thời gian thiếu thốn tình cảm, và chịu đựng sự tổn thương về tinh thần quá lớn, nó cứ tưởng ba về sẽ có cha mẹ bên cạnh yêu thương, mà đã lâu nó thèm cái hạnh phúc của mái ấm gia đình, nhưng rồi mơ ước không thành, nó bị khủng hoảng tinh thần. Ông Chu lại không hiểu con, ông thường đề ra các nguyên tắc mà ông cho là chuẩn mực và bắt các con theo, như lúc nào cũng chăm chú, không học bài thì đọc sách. Đi đâu phải xin phép, lúc về phải đúng giờ. Nguyên tắc ấy không phù hợp với một đứa trẻ có cá tính như thằng Chiến, luôn có suy nghĩ và hành động muốn vượt ra ngoài khuôn khổ, như con ngựa bất kham, không thể sống theo khuôn phép, rồi đột nhiên nó thay đổi tâm tánh, đâm ra quậy phá. Thầy chủ nhiệm phải gửi giấy về thông báo và mời phụ huynh lên văn phòng liên tục. Ông Chu bực lắm đã phải đầu tắt mặt tối kiếm tiền về lo cho lũ con từ miếng cơm, manh áo, lại phải đối diện với một xã hội nhiễu nhương. Cuộc sống vào những năm đầu thập niên tám mươi rất khó khăn, lương lãnh đạo, đảng viên cấp cao cấp thấp không đủ làm giầu, phải tham ô, hối lộ. Lương cán bộ, công nhân không đủ sống phải tìm cách ăn cắp, ăn chặn của công. Thầy cô giáo còn thê thảm hơn, vì nhìn trước ngó sau toàn là giấy với bút đâu có ăn được, phải làm thêm nghề tay trái, chạy ngược chạy xuôi, mới đủ nuôi gia đình, không còn thì giờ dành cho công việc đào tạo các mầm non của đất nước, vì thế trong dân gian lúc bấy giờ có câu: “Lương thầy ba cọc ba đồng/Làm sao sống nổi mà không đi thồ/Nhiều thầy phải đạp xích lô/Làm sao xây dựng cơ đồ học sinh”. Thực phẩm như bo bo, gạo mốc, phải mua bằng tem phiếu. Đã làm ảnh hưởng đến tâm lý của nhiều tầng lớp con người trong xã hội, khiến cách hành xử không khôn khéo, như ông Chu đã răn đe con bằng những lời gay gắt thậm chí nhiều lần còn dùng đến roi vọt, khiến thằng Chiến luôn trong tình trạng căng thẳng, cố gắng học, không thiết ăn uống, mỏi mệt vì thiếu ngủ, người nó càng ngày càng gầy rộc, rồi một hôm nó gục xuống không dậy nổi. Ông Chu phải đưa con đi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán nó bị trầm cảm, rối loạn tâm thần vì áp lực học tập quá sức. Sau một thời gian Bác sĩ cho uống thuốc thì bệnh khá hơn, nhưng thằng Chiến trở lên đờ đẫn, nói những câu không tự chủ. Có nhiều lần đi học không nhớ đường về, bố phải đi đến nhà bạn bè hỏi thăm và tìm nó. Thế rồi một buổi tối cuối năm vì nhiều mối hàng, ông Chu về đến nhà đã khuya mà không thấy con đâu, ông đến nhà vài người quen hỏi cũng không thấy, rồi vì mỏi mệt quá ông đã ngủ quên, đến sáng cũng không thấy con về, ông bỏ việc đi tìm nó khắp những nơi quen biết mà con hay đến, ai cũng lắc đầu nhìn ông ái ngại.Nghe mấy người hàng xóm nói, hôm trước có người nhìn thấy nó theo đoàn múa lân đi ngang chợ. Mẹ ông thương cháu bảo con Hường đi đăng báo tìm, tả hình dáng cao thấp, mặc quần áo màu gì, trạc bao nhiêu tuổi, nếu ai nhìn thấy làm ơn chỉ giùm, xin hâu tạ. Rồi một hôm nhận được tin, có người báo thấy nó ở bến xe Cần Thơ, liên lạc với địa


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 265VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIchỉ theo sự hướng dẫn. Cụ sai con Hường xuống tới nơi, thì họ bảo nó đưa tiền trước rồi đứng chờ ngoài đầu hẻm, con Hường đứng chờ cả ngày không thấy gì, đành trở về. Cứ như thế từ Vĩnh Long đến Cà Mau Hường cũng tìm tới, nhưng “tiền mất tật mang”. Bà nội thương nhớ cháu moi hết những đồng tiền cuối cùng, cũng không thấy cháu đâu, cụ buồn đến phát bệnh ở tuổi tám mươi, nên đã bỏ con cháu ra đi vào mùa đông năm ấy, khi những chiếc lá khô đã rời khỏi cành. Sau bao đau thương dồn dập đến, ông Chu không còn nước mắt để mà khóc, có lẽ bây giờ mới thấm câu “nước mất nhà tan” khóc lóc than van được ích lợi chi! Chỉ làm kẻ chiến thắng say men và cười nhạo thêm mà thôi. Mới ngoài năm mươi mà gương mặt ông trông nhăn nhúm âu sầu, bà con thấy cảnh gà trống chăm con của ông không suông sẻ, bởi: Nuôi con là thiên chức đàn bà/ Làm nhà là việc của đàn ông. Nên hè nhau mai mối, nhưng ông nghĩ các con đã xa mình từ nhỏ, giờ lại không có mẹ, nếu chẳng may gặp phải bà mẹ kế khắc nghiệt chúng sẽ khổ hơn, vì thế ông không thiết tha gì, cứ lầm lũi đi sớm về khuya quần quật quanh năm mà chỉ kiếm đủ ngày hai bữa cơm dưa mắm. *Sau biết bao khó khăn, chạy vạy, vay mượn mới đủ tiền làm hồ sơ xin xuất cảnh. Bố con ông Chu đến Mỹ đầu hè năm 1993 theo diện H.O. Ngày lên đường ba bố con mà hành lý vỏn vẹn có 2 chiếc va-ly kéo tay, không đến một nửa trọng lượng theo tiêu chuẩn cho phép. Nhưng lòng ông Chu thì nặng trĩu những ưu tư phiền muộn, vì ra đi khi chưa thực hiện ước nguyện tìm lại đứa con trai bị thất lạc.Gia đình nhỏ bé của ông được một nhà thờ bảo trợ về California. Người trong hội thiện nguyện đưa đi làm giấy tờ thủ tục nhập gia, rồi giúp thuê một căn apartment hai phòng đầy đủ tiện nghi. Ngay tháng đầu ông đã trở lại “kiếp con trâu kéo cày” để kiếm tiền gửi về Việt Nam trả nợ tiền mượn làm hồ sơ. Hai đứa con ông chúng nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh xã hội mới, chịu khó, siêng năng vừa học vừa làm. Thời gian qua mau chúng đã thành công, thành danh trên xứ sở văn minh đầy cơ hội này. Đến tuổi nghỉ hưu, ông Chu sống cô độc trong căn phòng Housing ở khu Senior Apartment. Các con đều đã có gia đình, có cơ ngơi riêng, con gái út mời ông về ở chung. Nhưng ban ngày ông đến coi cháu và chăm sóc sân trước vườn sau cho con, rồi lại về phòng riêng của ông trong villa (con gái ông gọi đùa như vậy)Đã bao năm rồi ông Chu vẫn không thể quên được nỗi đau vì để lạc mất đứa con trai duy nhất. Sự hối hận Đã gặm nhấm ông từng ngày, đã ám ảnh ông suốt đời..!.!..Người ta thường nói : “Sống với một trái tim tan vỡ, còn đau khổ hơn cái chết”. Những năm cuối đời ông chán nản vì già cả bệnh hoạn đã đành, tinh thần cũng suy xụp theo ký ức đau buồn!. NĂNG KHIẾU


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 266VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 267VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIVƯỢT BIỂNHoài nhớ Quê Hương ôi đại dươngTrườn theo sóng nước con thuyền lướtBồng bềnh mây sáng phương trời xaLặng lắng nghe lòng ta vấn vươngTìm ai theo bóng chim xa đànBuồn nhớ làng xưa gió bạt ngànTê tái sầu non nước chứa chanTrùng khơi phơi nỗi hờn sang ngangNgười ra đi mãi không quay vềVùi lấp bao nhiêu vết não nềVượt sóng trùng dương vì muốn sốngSa vào lòng biển, ngỡ cơn mêYêu dấu ơi chờ nhau buốt lạnhTự Do ơi có thật mong manhLộng trong gió biển gào đêm đenLồng ngực xoáy theo nước cuốn nhanhThuyền đương giương cánh mang hy vọngVội vã dang tay vói, rũ lòngBiển mặn xót xa người biệt xứSóng ngầm khua tiếng khóc mênh mông.Đình Duy Phương.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 268VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIBI CA VƯỢT BIÊNTrong màn đêmkhông ánh saoKinh cầu lâm râmcất caocon thuyền phăng phănglướt mausương khuya nhạt nhòamàu khói sa mùThuyền phóng rẻ giòng phiêu lưungọn nước xô thuyềnnhấp nhôchèo máy lướt nhanhvượt sóngbiển tối chập chùngthăm thẳmMàn sương khuya giăngxốn xangthuyền nhân rên rỉoán thanbỏ lại sau lưngtất cảtiếc thương nước nhàly tanBiển mặnkhô cằn đôi môiNgười sớm buông rời phai phôitìm kiếm phương nàoxa xôiTổ Quốc quê hương xa rồi !xa rồiXa thật xa, đi rất xata khóc òa, người lệ rơimắt nhoà lệ rơi...lệ rơi...Ruột thắt lòng đautơi bờiBừng sáng cuối chân trời mâyBình minhrực sáng nơi đâysao ai thiêm thiếpngủ saythân người khô cứngquắt quaybiệt ly !Lay tỉnhthức dậy hỡi ngườibừng chiếu ánh quang vào đờiniềm tin vẫn hoài khát khaoao ước làm ngườitự doÔi Tự Do !Đã đến bến bờ tự doThuyền đến nơi rồi người ơibàn tay nắm níuchơi vơiNgười đang cứu vớtmọi người vượt biên .....!Đình Duy PhươngĐể nhớ các thuyền nhân trên biển cả vượt sóng đi tìm Tự Do.Photo by Vincent T .


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 269VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIKIẾP LƯU VONGMột kiếp lưu vong sắp hết rồiTa ngồi đếm những giọt mưa rơiTháng tư cố quận ngày xưa ấyBao nỗi đau thương ngập cả hồnNăm tháng trôi qua nặng nhớ thươngTuyết rơi lạnh giá tái tê lòngMong như chiếc lá thu trong gióBay đến chốn xưa tắm nắng nồngTháng tư nơi đây trong tiết xuânCỏ cây hoa lá đón mưa tuônNgàn hoa đua nở khoe hương sắcCó biết lòng ta đậm nỗi buồn ?Tử biệt sinh ly quá đau thươngNgười đi với kiếp sống tha hươngKẻ ở chịu trăm ngàn tủi nhụcUất hận tháng tư chất đầy lòngNước mất nhà tan kiếp lưu vongNỗi lòng canh cánh với quê hươngDù nay thân mỏi tâm tàn héoĐất nước tự do mãi ước mongÝ Nhi Nguyễn thị Dung


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 270VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI.Cá chậu chim lồngĐào Hiếu ThảoTrại lao động khổ sai tại K1 Gia Trung, Long Thành (Hình trên Internet)Cố Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill đã nói về chế độ tư bản và chủ thuyết cộng sản như sau: “Tư bản là tạo điều kiện cho mọi người giàu có, nhưng không bằng nhau, còn Cộng sản là đưa mọi người tới chỗ nghèo khó như nhau!”Cuộc “đổi đời” ở Miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 đen năm 1975 đã minh chứng rõ rệt điều ấy, ra đường phố thấy toàn dân đi xe đạp, xăng dầu khan hiếm, các cây xăng tư nhân bị đóng cửa, giá cả thì tăng đến chóng mặt, trên khắp nẻo đường Saigon mọc lên những điểm bán xăng lẻ, trong những chai một lít hay 75 cl.Khách mua xăng/dầu toàn là cán binh, bộ đội nón cối, “những người chủ mới” của đất nước, không biết từ đâu và bằng cách nào họ đã nhanh chóng sở hữu đủ loại xe gắn máy Honda, Yamaha, Suzuki và tai nạn lưu thông xảy ra như cơm bữa. Từ rừng núi, đường mòn, mật khu, tràn về ngập Saigon, nào bộ đội Hồ Tặc có biết luật đi đường trong xã hội văn minh, tiến bộ là gì?Dân chúng Saigon kể với nhau những chuyện không thể nín cười như: “Đang luồn lách trên đường phố, lọng cọng vì chưa biết chạy xe gắn máy, một bộ đội đụng phải bà lão đang băng qua đường, làm bà té nhào. Tên bộ đội gắt-Tôi cố tránh né không muốn va xe vào người bà, bà có biết không? Bà lão thản nhiên đáp-Tôi cũng cố tránh né các cậu từ năm 54 đến giờ, chẳng may phải gặp lại, thế cậu có biết không hả?”.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 271VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrong xã hội mới, dân tình còn chưa hết âu lo, băn khoăn, sợ sệt “chính quyền cách mạng”, một cái chánh quyền chuyên quản lý con người bằng súng đạn, hơi cay, kiểm soát cái bao tử thì không ai bảo ai, mọi người đều tự mặc những bộ quần áo cũ, rách rưới cho ra vẻ dân lao động để tránh bị nhà cầm quyền CS liệt kê vào thành phần tư sản, mại bản, bị gán cho là “giai cấp bóc lột, ăn trên ngồi trước, làm giàu trên xương máu dân lành” và rồi, sớm muộn gì cũng bị họ tìm cách trấn lột tận xương tủy.Bao nhiêu quần áo còn tươm tất hoặc mới, đồ đạc và máy móc trong nhà đều lần lượt theo nhau ra các chợ trời, những món đồ này được bộ đội đặc biệt chiếu cố, vơ vét và chuyên chở hết mọi “chiến lợi phẩm” ra ngoài Bắc bằng đủ mọi phương tiện. Ngoài đường chỉ còn thấy người ta mặc những bộ áo quần màu sậm, nâu, xám hay toàn đen trắng như để tang cho một đất nước đang biến mất, đang bị xoá bỏ cũng như quyền làm người ngày càng bị VC công khai tước đoạt.Ngày qua ngày, tôi không tài nào tìm được một công việc dù nhỏ nhoi, dù phải lao động chân tay để đổi ra chút ít cơm gạo, buôn bán thì không vốn liếng và cũng chưa bao giờ biết mua bán ra sao, hơn nữa những anh em quân nhân chế độ cũ như tôi luôn bị an ninh phường khóm bám sát, hạch hỏi, theo dõi.Để có tiền sống cầm hơi, cứ vài ba hôm tôi lại soạn ít đồ đạc cũ từ đôi giày đến chiếc nhẫn đưa ra chợ trời tiêu thụ. Anh em bạn gọi đó là nghề “chà đồ nhôm” tức chôm đồ nhà đi bán. Món cuối cùng tôi phải rời xa là gia sản quý nhất mà tôi cố cầm cự, đành bán chiếc xe Vespa Spring cũ.Một hôm trong lúc đang đi bộ trên vỉa hè, bỗng có hai bộ đội rất trẻ, mỗi ngườiđeo một khẩu AK 47, chạy theo và hỏi tôi có đồng hồ Nhật muốn bán không? Đang đeo chiếc đồng hồ Seiko còn khá mới, chưa tính bán ngay, nhưng vì có người hỏi mua nên tôi muốn thử thời vận xem có được giá không. Đến hàng cà phê ở góc phố, hai bộ đội nói họ thích mua đồng hồ ngoại gởi về Hà Nội làm quà, họ nói như nằm lòng là đang tìm đồng hồ “không người lái, hai cửa sổ, 12 trụ đèn, không thấm nước” có nghĩa là tự động có ngày, tháng, có chấm lân tinh, sáng vào ban đêm.Họ trầm trồ, mân mê, nhìn chăm bẩm, lúc lắc cái đồng hồ Seiko của tôi, thấy đã đạt đúng sở thích mà họ ước ao. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời hai cán binh cộng sản này cầm được trong tay chiếc đồng hồ mà dân chúng trong Nam có thể sắm bất cứ lúc nào mình cần.Khi nói chuyện giá cả, hai tay bộ đội dốc hết túi, đếm bạc lớn, bạc nhỏ tính ra được trên 5 ngàn tiền Hồ, mà thời giá chiếc Seiko phải gấp ba, bốn lần như thế.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 272VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIHọ nài nỉ quá, họ nói đồng lương bộ đội rất kém, phải chiến đấu gian lao, sinh hoạt hạn hẹp, cho nên cuối cùng tôi xiêu lòng, tháo Seiko ra, nhận nắm tiền ít ỏi, dù sao cũng mua được chút ít thực phẩm trên đường về nhà.Cầm nắm tiền Hồ trong tay, nhìn lại mới thấy giấy in phẩm chất rất xoàng, dễ nhầu nát, dễ rách, hình vẽ thô sơ, toàn là những chân dung Hồ Chí Minh, nào là bác Hồ nghe đài hình nghiêng, bác Hồ xem tivi chụp thẳng. Người dân Saigon xem những tờ giấy bạc đó không khác nào toa thuốc bọc dầu Nhị Thiên Đường, mà những đường nét và màu sắc trong toa còn có phần hấp dẫn hơn tiền Hồ.Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Uỷ Ban Quân Quản Saigon-Chợ Lớn-Gia Định ra lệnh đổi tiền theo tỷ lệ một đổi một, giữa tiền cũ của Việt Nam Cộng Hoà và tiền của chính quyền mới Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản Bắc Việt).Vào tháng 6 năm 1975, sau khi chúng tôi đã ra trình diện và đang bị nhốt trong ngục tù, họ lại khẩn ban hành lệnh đổi tiền tại Vùng Giải Phóng tức là từ vĩ tuyến 17 trở vào tận Cà Mau, các loại tiền đang lưu hành mất hết hiệu lực. Mỗi cá nhân có tên trong hộ khẩu, từ 18 tuổi trở lên chỉ được đổi mỗi người 200 đồng tiền mới phát hành. Trước ngày đổi tiền thì có lệnh giới nghiêm 24 giờ trên 24, trong 2 ngày (48 tiếng đồng hồ), không ai được ra khỏi nhà (để đổi chác, chạy chọt, đầu cơ) mọi vi phạm đều bị nghiêm trị. Sau khi giới nghiêm giải toả mọi người bắt đầu được phép mang tiền ra đổi, số tiền mà mỗi cá nhân dự trữ lâu nay vượt quá 200 đồng tiền mới, trở thành những tấm giấy lộn, vậy là nhà nước đã cướp đoạt tiền của dân một cách trắng trợn và công khai. Chưa một quốc gia nào trên thế giới, ngoại trừ Việt Nam lại cho áp dụng biện pháp đổi tiền phi lý như vậy, một cách “bóc lột con người tận xương tuỷ”. Câu nói “cộng sản biến mọi người thành nghèo như nhau” trong hoàn cảnh này quả thật là chính xác, chẳng sai trật chút nào.Chắc nhiều người còn nhớ, sau khi Bức Tường Ô Nhục Bá Linh sụp đổ hoàn toàn, hai nước Đông và Tây Đức thống nhất vào tháng 11 năm 1989, tiền Mark tức đồng Đức Kim bên Cộng sản Đông Đức chỉ bằng một phần sáu đồng Đức Kim phía Dân Chủ Tây Đức. Nhưng chính phủ Liên Bang Tây Đức quyết định nâng giá trị đồng tiền của Đông Đức lên ngang hàng với tiền của Tây Đức, có nghĩa là tài sản, vốn liếng của người dân từng sinh sống dưới chế độ cộng sản được nhân lên gấp sáu lần. Thời ấy, 72 triệu dân Tự Do Tây Đức đồng ý dùng biện pháp kinh tế, tài chánh để thống nhất đất nước trong hoà bình, thịnh vượng với 16 triệu dân Cộng Sản Đông Đức dù họ còn thấp kém về mọi mặt sau gần


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 273VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠImột phần tư thế kỷ sống trong chính quyền Cộng Sản Đức dưới sự kềm kẹp, thống trị bằng bạo lực của Erik Honecker.Chỉ vài năm sau đời sống của người dân Đông Đức được cải tiến, phát triển nhanh chóng, hàng loạt xí nghiệp, hãng xưởng, nhà máy sản xuất được chuyển từ Tây sang Đông, xã hội Đông Bá Linh chẳng bao lâu trở nên trù phú, phồn thịnh.Còn chuyện “Saigon Giải Phóng”, đảng và nhà nước cũng hô hào thống nhất,Nam Bắc quy về một mối, không còn sự phân biệt giữa chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với chính phủ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam (tên gọi của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam). Lúc tiến vào Saigon, các chiến xa, xe tải Molotova đều treo cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nửa trên màu xanh dương, nửa dưới màu đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng. Bộ đội cũng mang trên nón cối của họ huy hiệu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng chỉ ít hôm sau, cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đột nhiên biến mất, thay vào đó là lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện đều khắp, nhà nhà phải tự mua và treo ở ngay mặt tiền, để “ăn mừng chiến thắng”.Vào tuần lễ cuối tháng 5, năm 1975, radio, tivi, báo chí phổ biến lệnh trình diện tập thể đối với tất cả các hạ sĩ quan, binh sĩ chế độ Việt Nam Cộng Hòa từ cấp binh nhì đến Chuẩn uý, nơi tập họp là trụ sở quận, phường, khóm, để tham gia lớp học tập gọi là “bồi dưỡng chính trị”, kéo dài 3 hôm. Sau khi hoàn tất khoá học các anh em được cấp giấy chứng nhận và tự do ra về làm ăn, sinh sống. Ai không tuân thủ lệnh triệu tập sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.Nhớ lại Tết Mậu Thân 1968, sau khi cộng quân xâm chiếm khu vực Thừa ThiênHuế, công chức, quân nhân của chánh quyền Saigon cũng có lệnh phải ra trình diện với “Cách Mạng”, nhưng sau đó mới biết đã có trên 10 ngàn người dân vô tội bị giết hại, chôn sống và lấp dưới những nấm mồ tập thể, khắp cố đô Huế.Các anh em hạ sĩ quan, binh sĩ VNCH tham gia lớp học chính trị kể lại là họ được cán bộ cộng sản tiếp đón niềm nở, không khí buổi sinh hoạt vui vẻ, mọi người thấy yên tâm, bớt ái ngại vì thấy kẻ chiến thắng kêu gọi xoá bỏ hận thù, hoà hợp, hoà giải, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước hùng mạnh.Sau khoá học chính trị kéo dài 3 hôm tổ chức ngay tại địa phương các anh em hạ sĩ quan, binh sĩ chế độ VNCH được tự do ra về. Chính quyền “thành Hồ” toan tính gì đây? Họ thường rêu rao là “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ quay trở lại”, việc thả hết các anh em hạ sĩ quan, binh sĩ về là chính sách “khoan dung, độ


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 274VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIlượng” hay chỉ là mánh khoé bịp bợm, thả con tép riu, bắt con cá mập? để đưa anh em chúng tôi vào cảnh “cá chậu, chim lồng” lâu dài?Nhớ đến câu nói bất hủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”. Phân vân, mình có tin được vào những lời hứa hẹn, kêu gọi, khuyến dụ của chính quyền cộng sản hay không?Chế độ chuyên chính vô sản có bao giờ chấp nhận quyền tư hữu, chấp nhận lề lối quản lý kinh tế của tư bản mà họ cho là “người bóc lột người”, toàn dân Miền Nam Việt Nam đã bắt đầu phải đi vào phương thức làm ăn tập thể, hoàn toàn do nhà nước chỉ đạo, định đoạt và điều hành.Giai cấp tư bản và tiểu tư sản bao gồm những công thương kỹ nghệ gia toàn Miền Nam cũng phải trình diện, học tập chính trị để biết cách thức làm ăn mới mà với họ chính là “đi vào cửa tử” hay “chết dần chết mòn”, vì mọi phương tiện sinh sống của họ đều bị đảng và nhà nước tước đoạt sạch từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975.Không quen với công việc lao động tay chân nay lại bị ép buộc vào sinh hoạt tập thể những người lâu nay chỉ biết sống bằng nghề buôn bán, bây giờ phải làm thợ, làm công nhân trong các hợp tác xã, nhà máy, hãng xưởng quốc doanh với đồng lương cầm hơi, họ cảm thấy cuộc sống của mình đang “đi vào ngõ cụt”. Tin tức truyền khẩu cho nhau nghe là đã có một số thương gia giàu có, tiền rừng, bạc bể phải đi tìm cái chết để tự giải thoát. Bên cạnh đó, người ta rỉ tai nhau là chỗ này, chỗ kia có những tổ chức bí mật đưa người ra khơi, trốn chạy cộng sản, nhưng cần phải chi rất nhiều vàng làm lộ phí.Chính quyền mới cũng ban hành hàng loạt quy định (rất vô lý) trong đó có việc ngăn cấm dân chúng không được tiếp xúc với người nước ngoài với bất cứ lý do gì, mọi cuộc gặp gỡ bị xem là trái phép, lén cung cấp thông tin hoặc làm “gián điệp cho ngoại bang” là những “thế lực thù nghịch với Cách Mạng”. Việc dạy và học ngoại ngữ cũng bị triệt để ngăn cấm, các loại nhạc của Saigon trước đây bị cấm phổ biến, họ cho “Nhạc Vàng” là nhạc bệnh hoạn, uỷ mị, ru ngủ. Cấm hát, cấm nghe, sách báo, văn hoá phẩm của Miền Nam bị tịch thu và thiêu huỷ đồng loạt, bị phê bình là do ảnh hưởng của tư tưởng Mỹ Nguỵ không phù hợp với “đạo đức thế hệ Hồ Chí Minh”. Đám đông trên ba người không được tụ họp nơi công cộng nếu không xin phép trước, điều này có nghĩa là tại các giáo đường, đình chùa, thánh thất, hội quán, người dân không được tự ý đến cầu kinh, lễ bái,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 275VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIcác vị lãnh đạo tinh thần không được phép cử hành những nghi thức tôn giáo mà cần phải có ý kiến của chính quyền sở tại.Người ta vẫn thường nói rằng chế độ cộng sản Miền Bắc chủ trương “ngu dân” nay sự thật phơi bày, dân chúng Miền Nam ai nấy đều “sáng mắt” khi phải sống dưới “gông cùm cộng sản” và chứng kiến những gì xảy ra quanh mình mỗi ngày, từ khi cả nước bị nhuộm một màu đỏ của máu.“Bao giờ sấm trước có mưa, bao giờ cộng sản mà ưa dân mình” là câu nói truyền khẩu mà bà con rao truyền cho nhau nghe, một khi thấy rõ dã tâm của phương Bắc chiếm đoạt trọn vẹn Miền Nam, thống trị cả nước bằng sắt máu, bằng súng đạn, để tiến thẳng đến chủ nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa mà người cộng sản cho là “ưu việt”, là tuyệt vời. Việc Uỷ ban Quân quản kêu gọi các anh em hạ sĩ quan, binh sĩ của chế độ Saigon trình diện, tham dự các khoá “bồi dưỡng chính trị Mác-Lê” kéo dài 3 hôm, tổ chức ngay tại phường khóm, rồi sau đó cho tất cả ra về được dư luận bàn tán không ngớt, có người xem đó là một cách đối xử tử tế, rộng lượng, cũng không ít người nghĩ đó chỉ là những màn dàn dựng chứa đựng thâm ý nhằm thực hiện kế “điệu hổ ly sơn”, thi thố các chiêu độc hại đối với những người bại trận.Đến đầu tháng 6 năm 1975, báo chí, radio, tivi Saigon Giải Phóng ra rả những thông báo yêu cầu tất cả sĩ quan từ cấp Thiếu tá đến cấp Trung tướng thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải ra trình diện để được hưởng sự khoan hồng và tham gia khoá học tập chính trị, mỗi người cần mang theo quần áo, đồ dùng cá nhân và tiền mặt đủ dùng trong một tháng. Bất cứ ai không tuân hành lệnh này sẽ bị Cách Mạng xử phạt thích đáng. Thông cáo cũng nhắc lại rằng tất cả anh em hạ sĩ quan, binh sĩ của chế độ Saigon được gọi tập trung đi học tập chính trị, nhưng sau đó toàn bộ được tự do ra về và sinh sống yên ổn ở địa phương.Thời hạn trình diện là hai ngày 14 và 15 tháng 6 năm 1975, tại các địa điểm tập trung, tuỳ theo nơi mình cư trú, là những trường đại học, trung học, tiểu học. Các cơ sở giáo dục này đang đóng cửa vì lúc ấy là thời gian sinh viên, học sinh nghỉ hè. Theo lời kể của các thân nhân thì khi đến trình diện tại những cơ sở giáo dục được chỉ định, các sĩ quan cấp tướng và cấp tá được bộ đội tiếp đón tử tế. Buổi trưa có nhân viên thuộc những nhà hàng nổi tiếng ở Saigon, từng là nơi tổ chức tiệc cưới, mang cơm nước thịnh soạn đến phục vụ tận nơi. Bà con Saigon lại bàn bạc cho rằng mấy ông tướng, ông tá được chăm sóc chu đáo, ân cần như thế thì học tập chỉ một tháng trời, đâu có gì nhọc nhằn, gay go mà phải lo lắng quá đáng.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 276VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠINhưng bước qua sáng ngày 16 tháng 6 năm 1975 thì tất cả các vị trí tiếp nhận sĩ quan cấp tướng và cấp tá của Miền Nam đều vắng lặng, không còn một bóng người, không biết họ được di chuyển đi đâu trong đêm tối?Dân chúng Saigon hoài nghi chủ trương của chính quyền mới, họ thắc mắc tại sao người cộng sản chỉ ra tay trong đêm tối. Trong thời kỳ chiến tranh du kích quân cộng sản cũng chỉ hiện về trong đêm tối, thu thuế, ám sát, giết hại quan chức, đặt mìn, phá cầu, cắt đường, đắp mô...Sau khi bắt gọn toàn bộ sĩ quan cấp tướng và cấp tá thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, cho tất cả vào rọ một cách khoa học (bịp bợm, láo khoét), chính quyền cộng sản chuẩn bị kế hoạch “hốt hết, thà bắt lầm còn hơn bỏ sót” sĩ quan cấp Thiếu uý đến Đại uý của miền Nam mà quân số có thể lên tới hàng trăm ngàn người.Mười hôm sau khi các sĩ quan cấp tướng và cấp tá của Miền Nam lên đường vào trại tập trung, Uỷ Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan cấp uý trình diện đi học tập. Cấp Đại uý trình diện vào hai ngày 23 và 24 tháng 6 năm 1975, cấp Trung uý và Thiếu uý trình diện vào hai ngày 25 và 26 tháng 6 năm 1975. Địa điểm tập họp vẫn là những cơ sở giáo dục trong phạm vi Saigon-Chợ Lớn-Gia Định, mỗi người phải mang theo ít tiền, quần áo, thức ăn, đồ dùng đủ cho 10 ngày.Đã từng đọc qua nhiều sách báo, nghiên cứu, thuyết trình về chủ nghĩa cộng sản quốc tế và cộng sản Việt Nam, tôi nghi ngờ là rồi đây tương lai của những “tù, hàng, bại binh” theo cách gọi của Cách Mạng sẽ không bình an, vô sự như họ thường rêu rao, tuyên truyền, khuyến dụ.Theo tinh thần thông tư yêu cầu các sĩ quan cấp uý ra trình diện, tôi phải có mặt trong các ngày 23 và 24 tháng 6 năm 1975, dành cho cấp Đại uý, nhà tôi thuộc Quận 10, Saigon nên địa điểm tập trung là trường trung học Trần Hoàng Quân.Tôi chuẩn bị ít quần áo cũ, mùng mền, gọn nhẹ, vét món tiền mọn dành dụm còn lại, tính ra chỉ đủ dùng trong vòng 10 hôm, vì hai con tôi, cháu trai, Khiêm mới 19 tháng và con gái út, cháu Trâm vừa được 6 tháng, cần tiền mua sữa hơn. Tôi tin rằng “Trời sinh voi, sinh cỏ”, ai sao mình vậy, thua trận, đầu hàng, rơi vào tay địch thì kẻ thắng cho sống mình nhờ, mà họ buộc phải chết thì đành chịu thôi, có than vãn mấy cũng vô ích.Tôi đến trình diện bộ đội Bắc Việt sáng ngày 24 tháng 6 năm 1975 vì muốn được sống tự do, quây quần với gia đình thêm một ngày nữa. Nào biết, bước chân đi lần ấy biền biệt sáu năm sau mới may mắn quay về, tôi nói may mắn vì có rất


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 277VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠInhiều bạn lính, bạn tù đã mãi mãi không về nữa. Họ đã nằm xuống trong những ngục tù cộng sản ở hai miền Nam-Bắc, không một người thân, không một nắm mồ!Hôm 24 tháng 6, 1975 buổi trưa trước khi lãnh phần ăn, mọi người phải ra sân tập họp, ngồi dưới đất, phơi nắng, nghe cán bộ giảng về những nội quy, điều lệnh phải nghiêm chỉnh chấp hành, nói chung là cái “thòng lọng” cứ siết chặt dần, cho đến khi người ta bị ngộp thở, gục ngã.Sau màn phơi nắng sơ khởi, mỗi người được phát một phần cơm, lon nước ngọt do các nhà hàng Tàu trong vùng thủ đô Saigon cung cấp. Cơm trưa xong là màn kê khai lý lịch, mỗi người phải xếp hàng, gặp cán bộ hỏi han một số chi tiết về mình.Anh bạn xếp hàng khai báo lý lịch trước tôi kể lại rằng, bộ đội cộng sản hỏi anh thuộc đơn vị nào, anh đáp: “Lữ Đoàn Dù”, tay cán bộ viết xuống: “Nữ Đoàn Dù”... Đến phiên tôi, họ hỏi tên tuổi, cấp bậc, chức vụ, tôi khai: 28 tuổi, cấp bậc Đại uý Hiện dịch, chức vụ Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Không Quân, trình độ học vấn, trên đại học...Bộ đội cộng sản nhìn mặt tôi và nói “Gớm! lên cho nhanh để đi giết người ấy”, các bạn đứng gần cười ồ lên, tay cán binh cộng sản không hiểu vì sao, cho tôi thông qua và gọi người kế tiếp.Sau buổi cơm chiều, mọi người lo tìm chỗ nghỉ tạm qua đêm, rồi sẽ tính tới nữa. Nhiều anh bạn đi trình diện tay không, cho rằng nếu chỉ học tập có 10 ngày thì mang theo hành lý làm gì, một bộ quần áo mặc vào người, một bộ khác để thay đổi là quá đủ. Đang ngồi, nằm la liệt dưới đất, mọi người bị tiếng còi inh ỏi đánh thức lúc 12 giờ khuya, bảo phải tập họp gấp, đội ngũ chỉnh tề, chuẩn bị “cơ động hành quân”? Hết bắn nhau rồi, còn “hành quân” cái quái gì nữa? Sau này mời hiểu lệnh ấy có nghĩa là mọi người sắp di chuyển, lên đường đến vị trí khác.Bên ngoài trời mưa tầm tả, giông gió liên hồi, tiếng máy nổ của đoàn xe vận tải vang rền. Chúng tôi thu dọn hành trang và ra tập họp ngoài sân, lúc ấy mưa như trút nước, từng nhóm 30 người xếp hàng chờ lên xe Molotova, mui vải bịt bùng.Lúc luống cuống leo lên xe, tôi bị trượt chân, trèo lên tuột xuống mấy lần, nên bị một tên bộ đội la mắng và dọng cho một báng súng AK vào bả vai, đó là một đòn thù đầu tiên trong kiếp sống tù tội.Tiếng còi, tiếng thét vang dội, thúc hối mọi người phóng nhanh lên xe, ai còn chần chờ, khó xoay trở vì mang theo túi hành lý kềnh càng thì bị bộ đội lấy báng


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 278VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIsúng nện sau lưng, quát tháo, xô đẩy, nhồi nhét cho đủ số người, rồi sập mui xuống, tối mù, ngộp thở.Sao đêm hôm ấy trời lại mưa ngập nước, sấm chớp, giông tố kéo tới trên vùng Saigon, phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy kiếp sống tù tội “cá chậu chim lồng” sẽ vô cùng cay đắng, khắc nghiệt, khổ ải triền miên ? Xin thành kính tưởng niệm vong linh các bậc tiền bối, chiến hữu, đồng cảnh đã vĩnh viễn nằm lại trong chốn ngục tù cộng sản, cầu nguyện cho oan hồn của quý anh, quý chị được siêu thoát Cõi Vĩnh Hằng. Viết nhân tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng tư năm thứ 45 (1975-2020) và để nhớ lại những ngày, tháng tù đày qua các trại lao động khổ sai: Hóc Môn, Long Giao, Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái (Phân Trại A & C), Nghệ Tĩnh (K3 & K1).Đào Hiếu Thảo/ KBC 3011


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 279VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrích truyện “Cho tao một lời xin lỗi“ của Võ Thị Trúc Giang Lúa 9...Có lần về thăm quê hương, cô bạn thân than vản:- Cái số tao vất vả, mầy thì sướng thấy mồ, được ra ngoại quốc, vật chất đầy đủ…Ra-xứ-người-có-được-vật-chất-đầy-đủ? Khi vật chất đầy đủ có phải “đủ?” Mình có thấy “thiếu” gì không? Có! Tình thấy sung sướng, nhất là thoải mái về tinh thần không bị kiềm kẹp, không bị bắt viết khai lý lịch, bị kiểm thảo, nhưng ngược lại nàng “thiếu” tình quê hương, thiếu tình gia đình, thiếu bạn bè, ôm nỗi nhớ nhà , nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè triền miên, bỏ nước ra đi tức là cuộc đổi chác lớn. Như một đứa con bị tách rời xa cha mẹ thành những đứa con mồ côi, vất vả nơi xứ người, gửi tiền về giúp gia đình như mọi người tỵ nạn khác.Anh lính TQLC trẻ oai hùng năm xưa cầm súng giữ quê hương, ngày nay làm người thua cuộc, như trăm ngàn người chiến sĩ của quân lực VNCH có lẽ trải qua trại học tập cãi tạo, nay anh rã rời kiếm sống lây lất bên lề cuộc đời, bán vé số hoặc đạp xe xích lô, nhưng với Tình, anh vẫn là một mối tình đẹp trong sáng ngây thơ tuổi nhỏ. Văng vẳng đâu đây câu hát của Trần Thiện Thanh “Đời không như là mơ, nên người đời thường giết chết mộng mơ”.Một văn hào người Đức Nitsch đã nói “Denken Sie daran, zu vergessen!” Hãy nhớ là quên đi. Quên đi tức là buông bỏ đi những phiền muộn, nhưng mỗi lần về thăm quê hương và mỗi lần lại ra đi, Tình thấy như mình mất dần một phần đời còn lại của mình, tuổi đời càng thu ngắn lại. Niềm đau phải bỏ nước ra đi Lưu Vong, là đánh đổi tất cả. Bước lên con phà Rạch Miễu theo làn sóng người, phà chầm chậm rời Bến Tre sang Mỹ Tho, làn gió mát rượi từ mé sông lùa vào tóc, chợt ký ức hiện về mỗi lần sang sông đi học sư phạm, nhớ ơi là nhớ cô bạn có nốt ruồi dễ thương tên Phương, nàng không biết là chúng nó có nhớ là hãy-nhớ-là-quên-đi, hay là những kỹ niệm nằm hoài trong ký ức tuổi học trò, không bao giờ quên được nếu trái tim còn thở, còn nhớ về quê hương thân yêu.Kỷ niệm 51 năm kể từ Biến cố 30 Tháng 4 năm 1975, hồi tưởng lại kỷ niệm xưa, chúng mình hãy buông bỏ đi những muộn phiền nhé An Tịnh, nhé Trinh, nhé Huỳnh, Bích, Phương, Quang, Ánh…Quên đây tức là buông bỏ cho tâm hồn mình thanh thản, chứ tao biết những kỷ niệm thời tuổi thơ là báu vật, không bao giờ quên. Hãy ôm lấy nó để tìm chút ấm áp cho tâm hồn mỗi khi cảm thấy cô đơn như tao đêm nay tại Âu châu.Còn phe thắng cuộc, họ có nợ chúng ta một lời xin lỗi không? Tình mang ý tưởng đó đi vào cuộc đời, như một lời trách cứ. Chờ đợi.Võ Thị Trúc Giang Lúa 9


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 280VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIVIẾT TRƯỚC GIỜ TREO CỔ( Đã có lần tôi sém chết vì thơ)Hồi ứcLê Mai Lĩnh.Làm thơ trong nhà tù Cộng sản, dù là thơ tình, cũng không nên.Chúng kém hiểu biết và đa nghi, hay có thể nói, nếu được, chúng có thể dùng kính hiển vi để soi từng chữ.Dù vậy, vẫn có người làm thơ trong tù, vẫn có thơ tù, vượt hàng rào kẽm gai, vượt láng, trại, vượt hàng rào tre, nứa, vượt núi, rừng, vượt đói, rét, lạnh, ra khỏi nhà tù, và đến, những nơi, những người làm ra chúng, muốn chúng đến.Là Sài Gòn, là California, là Paris, là Luân đôn …..Người làm thơ trong nhà tù, thường không tuyệt vọng.Nếu là tuyệt vọng, những ai trong nhà tù tuyệt vọng, không thể làm được thơ.Những người tuyệt vọng, thường là, những người sợ chết.Những người làm thơ, đặc biệt là thơ đấu tranh, là những người không nghĩ tới cái chết, hay chấp nhận cái chết.Nói rõ hơn, làm thơ chống cộng, trong nhà tù cộng sản, là chấp nhận đánh đu với số phận, nhìn thấy trước cái chết, sẽ tới.Trông lên, thấy cờ đỏ chói chang,Biểu ngữ huy chương, chữ nghĩa làng chàng,Ngó xuống, thấy dân đời điêu đứng,Máu đỗ, thây phơi, hàng nối hàng.Trước khi nghĩ ra những câu thơ đó,Đang khi viết những câu thơ đó,Sau khi làm xong những câu thơ đó, hắn biết những hình phạt dành cho hắn, nếu bị rơi vào tay, hay lọt vào tai cán bộ quản giáo:biệt giam/ cùm hai chân/ hạ tiêu chuẩn ăn/ cúp nhận quà/ cúp thăm nuôi, vô thời hạn.Thế nhưng,“Dù trong gông cùm, xiềng xích,Trước họng súng, lưỡi lê,Thi sĩ vẫn lên tiếng,Và thơ đã có mặt.”


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 281VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI(Tuyên ngôn thơ, trung úy Lê văn Chính, số quân 64/425.308, QLVNCH. Viết giữa núi rừng Yên Thế, 1978. )Đa số những người làm thơ trong nhà tù cộng sản, họ có trực giác riêng về thời cuộc, dẫn tới những niềm tin và lạc quan riêng, mà người khác không có.Hỡi ta hãy ngủ đi,Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng,Vậy ngủ đi cho sức người cường tráng,Thao thức, thao thức mãi, làm gì.(Vỗ về giấc ngủ)Ba tắt đèn, ba đi ngủ đây,Hẳn ngày mai mặt trời sẽ mọc,Ngày mới lên, nắng ấm lên,Ba lại lên đường, nhập cuộc.(Áo mới)Chào tái ngộ mùa đông miền Bắc,Trong những ngày sôi nổi niềm tin,Dẫu khó khăn nào ta vẫn sống,Để đợi giờ báo hiệu bình minh.(Mùa đông đi cấy ruộng sình )Về quê hương vào những ngày cuối năm,Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt,Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan,Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.(Chuyến tàu cuối năm)Thân ta chúng nhốt trong lồng sắt,Ta thả hồn bay khắp bốn phương,Chân, dẫu trong cùm, gông, đau thắt,Tim tự do ta, khắp nẻo đường.(Giao thừa năm 37 tuổi)Hãy cuốc xuống thật sâu, chôn kín lũ bạo tàn,Hãy dọn dẹp, vun thành đống, châm lửa đốt cho sạch,Trời của ta, đất của ta,Ta phải đối đầu thử thách,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 282VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIDiệt cho tan, loài sâu bọ hung tàn.(Sắn, tuyên ngôn thế kỷ)TRONG TÙ, TÔI Đà LÀM THƠ NHƯ THẾ NÀO?Mỗi người làm thơ, có một cách thế riêng, đối đãi, cư xử, chiều chuộng, o bế, nâng niu, xáp lá cà, với thơ.Với tôi, thơ là mẹ, là vợ, là con, là người tình.Đa phần là người tình.Tôi làm thơ bất cứ lúc nào, ở đâu, khi tứ thơ, ý thơ, hồn thơ đến bất chợt hay bị tôi dụ dỗvà dụ khị.Đa phần là bất chợt.Trong đêm buốt lạnh Hoàng Liên Sơn, biên giới Việt- Hoa.Làm thơ trong lúc cày ruộng, nghĩ trong đầu thuộc, tối về chép lại.Làm thơ bên bếp lửa, giữa giờ giải lao, trên bao thuốc lá Sông Cầu, giữa cơn lạnh mùa đông Yên Bái.Làm thơ lúc đang tắm cho heo, tay chà, đầu nhớ.Làm thơ trong lúc bụng đói cồn cào, phải uống nước lạnh để đánh lừa bao tử, ở Lào Kai.Làm thơ lúc hân hoan, vì trước mặt có thịt, cá, bánh chưng ba ngày Tết, ở Vĩnh Phú.Làm thơ lúc phá rừng trồng sắn, lúc leo núi đẵn tre, lúc lội sông gánh nứơc.Làm thơ lúc gánh phân tưới rau, sau đó biết mình thành công, vì thơ làm ra không thúi.Chẳng hạn như, những câu thơ dưới đây, có thúi đâu :“Trời trong xanh buổi sáng hôm nay,Soi xuống hố phân thấy mặt mình vẫn còn tươi sáng,Còn nét thơ ngây, còn dáng hình người,Chưa có gì ra vẽ đười ươi.Hỡi những cục phân còn xác bắp cọng rau,Trôi lềnh bềnh giữa bầy dòi bọ,Trông các em thân quá làm sao,Giữa đời ta, chuỗi ngày lem lọ”Đại khái, đại để, đại lọai là như thế.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 283VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIHoặc nữa, làm thơ vào buổi sáng, giữa núi rừng, lúc mặt trời mọc, trong gió mát, trời thanh, bình minh dậy.Làm thơ vào giữa trưa, dưới cánh đồng, lúc nắng chang chang, mồi hôi nhễ nhại, mệt lả.Làm thơ vào buổi chiều, công việc trong ngày đã xong (trả nợ quỷ thần) đôi vai nhẹ tênh, thơ thới.Làm thơ vào ban đêm, rệp cắn, muỗi đốt, người nằm, chật như cá hộp.Đại khái, đại để, đại loại là như thế.Hoặc nữa.Nhưng thôi.Và, đã có lần, tôi sém chết vì thơ. Nhưng đã có rất nhiều lần, tôi sống được, nhờ thơ.Đang lúc làm ruộng, người tình thơ vươn vai, tôi có bài thơ cấy lúa:Mùa Đông Đi Cấy Ruộng Sình.Chào tái ngộ mùa đông miền Bắc,Năm thứ hai ta ở chốn nầy,Nơi Việt Bắc, núi rừng trùng điệp,Tù khổ sai, đói rét là đây.Lưng hai chén sắn, phần một bữa,Nước muối thôi, liệu đủ cầm hơi,Thêm gió chướng, mưa rừng, dồn dập,Thêm hăm he, đấm đá đủ lời.Lội ruộng sình, cấy lúa vụ chiêm,Bùn ngập sâu người hơn một nửa,Ruộng trâu chê, bắt người thay thế,Nhè nhẹ bò thôi, kẻo chết chìm.Còn nữa một tuần là đến Tết,Bốn Tết rồi ư, đã xa nhà,Hỡi vợ con, mẹ cha, bè bạn,Còn nhớ ta, trong vũng bùn ma.Thèm quá thôi, được gần bếp lửa,Đêm giao thừa ngồi cạnh người thân,Thèm hương thơm của nồi bánh tét,Thèm quá thôi, chút ấm chút no.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 284VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIChào tái ngộ mùa đông ta sống,Trong những ngày sôi nỗi niềm tin,Dẫu khó khăn nào ta vẫn sống,Để đợi giờ báo hiệu Bình Minh.(trại tù Vĩnh Phú 1979 )Những đêm bụng đói, nhớ vợ con, rệp cắn, muổi đốt, nằm trăn trở, thao thức, không ngủ, tôi có bài thơ dụ khị, cơn ngủ:Vỗ Về Giấc Ngủ.Hỡi ta, hãy ngủ đi,Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng,Vậy ngủ đi, cho sức người cường tráng,Thao thức, thao thức mãi, làm gì?Hỡi ta, hãy ngủ đi,Cái ăn đã không ra gì, thì lo toan cái ngủ,Chớp thời cơ, tạo điều kiện, cho mắt no đủ,Còn ta, trăm mối việc, nhớ ghi.Tù bọn này phải khôn ngoan,Dứt khoát với chúng, không cần liêm sỉ,Nuôi ăn bội bác, làm bôi bác,Sức voi cũng phải no, mới tính chuyện lên ghềnh xuống thác,Lao động tự giác gì, cái trò con khỉ,Nghe chúng hì hục hoài, có chết chớ than oan.Tù bọn này phải khôn ngoan,Phải biết tính toán cho đàng hoàng,Nuôi ta bao tử ngày teo lại,Ta mỗi ngày, khối óc phải lớn ra.Thân ta, chúng nhốt trong lồng sắt,Ta thả hồn, bay khắp bốn phương,Chân, dẫu trong cùm gông đau thắt,Tim tự do ta, khắp nẻo đường.Tù bọn này, không nên nói nhiều,Được câm, điếc, đui, càng tốt,Cứ ù ù, ặc ặc là ăn tiền,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 285VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIChỉ cần nhất trí thôi, là đúng mốt.Tù bọn nầy, đừng có sợ linh tinh,Làm thế, chỉ khổ cho thân mình,Sức hơi đâu mà lo trời mưa, nắng,Cứ bơ người, mà giữ sức bình sinh.Bốn giờ sáng, thèm một hơi thuốc thẳng,Thao thức hoài, nhớ vợ con, mẹ cha,Thôi ngủ đi, ngủ đi, hỡi ta,Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng.( trại tù Lào Kai 1978 )VÌ THƠ, TÔi SÉM CHẾT VÌ THƠ.Thường thì, ban ngày, tôi có tờ giấy, ngòi bút trong người, chuẩn bị tinh thần nghênh đón nàng thơ.Ban đêm, tờ giấy, cây bút, tôi để bên phải chỗ nằm.Khi nghe chừng lúc, nàng rón rén ngự vào trái hồn tôi, tôi nghiêng mình, viết vội đôi dòng ngắn và vắn, hôm sau triển khai, mở rộng, thành bài thơ.Thành bài thơ là bước thứ nhất.Bước tiếp theo là học thuộc lòng, trong bụi cây rậm, trong nhà vệ sinh, đến khi nào thuộc lòng, nhuyễn như cháo cúng cô hồn, xé thủ tiêu bản thảo, mới yên bề gia thất.Nhưng cuộc đời, có những không ngờ, nên không phải lúc nào cũng gia thất yên bề.Một lần, tôi sem sém nói lời chia tay với cõi tạm.Lẽ nào trời cứu tôi, đứa con trai thi sĩ, rất hiếm khi làm buồn lòng, những cô con cấy cưng, của Ngài.Chuyện rằng thì là.Một lần nọ, một tuần, tôi làm được ba bài thơ, cũng vào mùa gặt, bận thời vụ, không có thời gian học thuộc, tôi xếp gọn trong túi quần.Như thường lệ, tôi gánh đôi thùng không lên nhà quản giáo:báo cáo cán bộ cho tôi đi gánh nước. ( cần nói thêm, tôi làm anh nuôi, nấu nước cho cả đội uống).Anh vào đây, lấy hết giấy tờ trong quần bỏ lên bàn. Ông ta ra lệnh.Tôi làm theo.Ông nói, anh về làm việc, chốc nữa lên nhận lại.Tôi đi gánh nước, nấu sôi xong.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 286VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITôi lên gặp ông xin lại mấy tờ giấy.Ông nói: thơ anh làm hay lắm, để tôi nghiên cứu.Tôi biết mình trúng mánh, “cái chết”.Hôm sau sáng thứ bẩy, ông lệnh cho đội trưởng chọn người thay thế tôi nấu nước, tôi ở lại nhà làm việc.Trên bàn, trước mặt tôi, một bình trà, 2 cái ly, một gói thuốc lá, một xấp giấy ca rô, ngòi bút bi màu xanh.Ông nói trong bản thảo, tôi viết không rõ, Ông yêu cầu tôi chép lại cho rõ.Trong ba bài thơ, tôi lo nhất là bài SẮN, tuyên ngôn thế kỷ, với những câu:Hỡi sắn, niềm tự hào của Đảng ta,Nhờ mày, thế giới biết tên Việt Nam - Hồ chí Minh,Và nhân dân có sắn ăn ngon bá thở,Ơn của Người ta nhớ mãi trong lòng.Một đoạn khác:Ôi sắn thần tiên đã đi suốt cuộc trường chinh,Với Đảng Quang vinh mấy mươi năm sống còn nhờ cây sắn nuôi mình,Sắn Vĩ đại,Sắn muôn năm,Sắn đời đời ghi nhớ,Sắn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.Hai bài khác, Trèo Dừa, Ngày Như Mọi Ngày, không đáng ngại.Trèo Dừa.Thêm ta hai tuổi, đầy bốn mươi,Còn gân, còn cốt, để trèo dừa,Đủ thấy ta còn sức chịu đựng,Vài năm tù nữa, cũng còn vừa.Trong tù, trèo dừa giữa nắng trưa,Hái trái, cho người uống mát,Mà lòng ta thì khao khát,Đã nhiều năm qua, thèm dừa.Thôi đành tự an ủi mình,Bằng vài trứng chim bồi dưỡng,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 287VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIHãy tha thứ cho ta hỡi chim,Chớ giận hờn, đừng trách ta chướng.Trèo dừa, có lúc mất phương hướng,Cũng muốn buông tay, chết cho rồi,Nghĩ sống, chẳng được làm người,Chết, có khi lại sướng.Chợt nhớ tới vợ con, mẹ cha,Nhớ nước non, nhớ quê nhà,Nhớ con đường ta đã chọn,Đành chờ qua cơn gió thổi.Hãy bám đôi tay thật chặt,Hãy nhích đôi chân từ từ,Chầm chậm thôi, mà lên xuống,Tuổi còn trẻ, đời còn dài, còn dư.Ngày Nào Cũng Vậy.Sáng, một khúc sắn nhí,Trưa, hai chén sắn lưng,Chiều, lưng hai chén sắn,Làm, tám tiếng còng lưng.Ăn, nuôi như trẻ nít,Chơi, có thì giờ đâu,Ngủ, chật như cá hộp,Làm, hối thúc như trâu.Sáng mở mắt, khẩn trương,Tối đi ngủ, khẩn trương,Giờ tập họp, khẩn trương,Khẩn trương và khẩn trương.Nuôi như thế, đành sao,Dẫu chi cũng là người,Người nuôi người như thế,Rồi cũng thành đười ươi.Nào ếch nhái, ểnh ương,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 288VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠINào cào cào, chẫu chuột,Nào dế dũi, dế cơm,Nướng lửa rơm ăn tuốt.Nào vỏ khoai, vỏ sắn,Nào rau diệu, rau dừa,Nào rau ôm, rau ngố,Rửa qua loa, ăn bừa.Mỗi người một cái cóng,Mỗi người một cái gô,Sau mỗi giờ lao động,Thấy lửa cứ nhào dzô.Hai ngày thứ sáu, thứ bảy, tôi nghĩ và so sánh, giữa tôi và nhà thơ Trần Dần, tác giả bài thơ Nhất Định Thắng, trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm.Trong bài thơ Nhất Định Thắng, tác giả có hai câu:“ Lâu nay Người vẫn thiếu tin Người,Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”Trong sinh hoạt văn chương Hà nội bấy giờ, mặc định, chữ Người (viết hoa) chỉ dành nói tới ông Hồ.Ngôn ngữ trong bài thơ của tôi, mức độ xúc phạm ông Hồ, là hơn thế.Trần Dần, đã một thời có công với chế độ, tôi, một thằng ngụy tù binh.Chỉ vì một chữ Người, Trần Dần cải tạo 10 năm, trong tù, ông đã dùng dao cứa cổ,nhưng được bạn tù cứu.Tôi nghĩ, tôi sẽ bị, một, cách ly, cùm chân, hai, tạo chuyển trại giã, rồi bắn chết, vu là chạy trốn.Tôi không muốn vậy.Tôi muốn tự mình chọn cái chết.Cái chết của một thi sĩ, đồng nghĩa với một tiếng nỗ.Tôi chọn ngày chủ nhật 20/7/1979, là ngày chẳn 25 năm chia cắt lãnh thổ bởi hiệp định Geneve.( 20.7.1954/ 20.7. 1979 )Và, đẹp biết bao, nếu viết một lá thư gởi Lê Duẫn, TBT, Yêu Cầu Thay Đổi Đường Lối Lãnh Đạo.Thư viết xong.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 289VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITôi định đêm đó, chờ anh em ngủ ngon, tôi giã từ cõi tạm.Tôi dùng hai sợi dây nylon nối lại, là của hai bao mìn claymore, làm cái thòng lọng.Tôi cũng nghĩ, chọn lựa đó, ám chỉ, chính phủ Hoa Kỳ cũng chịu trách nhiệm về cái chết của một thi sĩ Việt Nam. (Tôi có quá lãng mạn không nhỉ, hay siêu lãng mạn)Buổi chiều hôm đó, tiêu chuẩn bo bo, tôi tặng nhà thơ Lê Văn Thanh Vân. Năm 1998, tôi gặp hai vợ chồng anh ở thành phố Boston.Anh nói vui, không đòi lại nghe bạn.Cũng buổi chiều đó, tôi chọn bộ áo quần đẹp, quần Jean màu nâu, áo sơ mi màu vàng mỡgà.Ai cũng hỏi tôi, mai mày có thăm nuôi hả Chính.Trước đó hai ngày, tôi có nói ý định này với người bạn học thời Võ Tánh, Nha trang và gởi anh một số di vật, nhờ trao gia đình khi nào anh về.Có lẽ từ đó mà cán bộ trại biết ý định của tôi.Mọi ngày, buổi chiều, khi trại viên vào trại, chỉ có một một vệ binh mang súng vòng quanh.Hôm nay có tới hai quản giáo canh chừng tôi.Tôi lo, nếu không hành động kịp thời, họ sẽ vào bắt tôi, mọi toan tính sẽ hỏng, tôi hành động sớm hơn.Ngay lúc đèn tắt, tôi đã ở tầng trên, một tay cầm dao khống chế người nào cản trở, một tay đút đầu vào nút thòng lọng, miệng đọc to, thư gởi ông Lê Duẫn.Tôi chọn công khai lá thư, sợ chúng sẽ thủ tiêu.Anh em lao vào ôm tôi, người khác tháo dây, cũng là lúc cán bộ mỡ cửa vào, còng tay tôi lôi ra ngoài trại.Tại phòng làm việc, họ lập biên bản, quy tội tôi làm mất trật tự.Khi họ bắt tôi ký, tôi yêu cầu họ xóa bốn chữ “cúi đầu nhận tội”, tôi mới ký.Sau một hồi cải nhau, sau cùng họ chịu theo yêu cầu của tôi, không có bốn chữ “cúi đầu nhận tội” trong đó.Ký xong biên bản, họ dẫn tôi về phòng lại.Sáng hôm sau thứ hai, cả trại đi làm, anh Chính ở nhà, lên văn phòng làm việc.Bàn làm việc, gồm một bình trà nóng, hai cái ly, một gói thuốc điếu Thăng Long ( loại cao cấp), một nãi chuối, một tập giấy ca rô, một ngòi bút bi màu xanh.Người cán bộ phụ trách yêu cầu tôi trả lời 4 câu hỏi:


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 290VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITại sao anh làm thơ/ Tại sao anh viết thư gởi lãnh đạo/ Trong việc làm này có ai xúi giụcanh không/ Hướng phấn đấu bản thân.Trong bốn câu, câu hai, tại sao anh viết thư gởi lãnh đạo, tôi thích nhất.Tôi phân tích tình hình thế giới.Tôi nói nước mình phải biết chọn bạn mà chơi.Bạn của kẻ thù, cũng là kẻ thù.Tôi vừa viết một trang, nó vào đọc, chê không xoáy vào trọng tâm, cầm giấy đi.Sau ba lần như thế, tôi biết mình gặp điếm rồi, nó muốn chơi trò cân não, nên tôi không viết nữa.Uống trà, hút thuốc, ăn chuối.Khi thấy nó vào, tôi cặm cụi như thế vắt óc, nặn đầu.Đến giờ trưa, nó cho về trại.Buổi chiều không thấy gọi lên làm việc nữa.Tối đó, trại biên chế chuyển trại, có tên tôi.Khi cán bộ trại giam gọi đến tên tôi, tôi đứng lên và nói:Lê văn Chính đã chết đêm 20.7.Cán bộ hỏi: Anh nói gì?Lê văn Chính đã chết đêm 20.7.Lúc này tên quản giáo lục soát thơ của tôi đến nói với tôi: Anh bình tĩnh, anh Chính, tôi mới trả lời với cán bộ phụ trách, Lê văn Chính có mặt.Sau khi tôi ngồi vào hàng trại viên có tên biên chế, viên quản giáo lại đến cạnh tôi, tôi nói với nó, do dun dũi của lịch sử, một thi sĩ miền Nam đối đầu với một thi sĩ miền Bắc, vì tôi biết anh ta có làm thơ đăng trên bích báo của trại.Có lẽ sợ tôi nhảy xe chạy trốn, nên chỉ mình tôi bị còng tay khi lên xe.Sau đây là nội dung thư gởi ông Lê Duẫn.Thư gởi ông LÊ DUẪN,TỔNG BÍ THI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.Kính thưa Ông,Ký tên dưới đây là tôi, Lê Văn Chính, thi sĩ.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 291VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITôi xin thông báo cho Ông biết, tôi không đủ can đảm sống thêm 5 năm nữa, để ăn bát nước chấm trong mỗi bữa ăn, như ông hứa trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội năm 1975, và được lập lại trong bài diễn văn năm 1976.Tôi xin thông báo cho Ông biết: Đã đến lúc, ông và những người lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, cần phải thay đổi đường lối, lập trường, sao cho phù hợp với tình hình mới của thời đại và lịch sử.Đừng kéo nhân dân vào hết cuộc chiến tranh này tới cuộc chiến tranh khác.Hiện nay, dân chúng rất căm ghét chế độ, cán bộ hủ hóa, xã hội loạn lạc, nhân dân lầm than, thế giới cô lập.Nếu các ông không nghe tôi mà thay đổi đường lối lãnh đạo, nhân dân sẽ thay đổi các ông.Khi đó có hối hận cũng không kịp.Trân trọng kính chào ông,Lê Văn Chính, người tù, thi sĩ.K4, trại Tân Lập, Vĩnh Phú.20.7.1979.Sau đây, thư thứ hai gởi ban giám thị trại tù.Nghĩ rằng, đây là nguyện vọng chung của anh em, mà không có cơ hội trình bày, nên nay là lúc, tôi nói thay anh em, như một quà tặng gởi các chiến hữu còn nơi địa ngục cõi tạm.THƯ GỬI BAN GIÁM THỊ TRẠI CẢI TẠO TÂN LẬP, K4, VĨNH PHÚ.Kính thưa quý Cán Bộ,Giữa chúng tôi và các cán bộ, không có lòng hận thù nào cả.Tất cả chúng ta, đều là nạn nhân của chế độ này.Vậy trước khi chết,Nhân danh cái chết của một thi sĩ, tôi yêu cầu ba điều:1. Hãy trả ngày Chúa Nhật cho anh em chúng tôi, có ăn sáng càng tốt, không ăn sáng cũng được.2. Hãy trả tiêu chuẩn thịt hàng tháng cho anh em chúng tôi, bình thường, đều đặn.Đừng dùng nó vào việc ra quân, thi đua, có tính cách bòn mót sức lao động.3. Hãy nuôi chúng tôi hết tiêu chuẩn Nhà Nước dành cho chúng tôi.Đừng bắt chúng tôi ăn độn một trăm phần trăm: sắn, khoai, bo bo với nước muối.Cuối cùng, tiền dư thực là \"xù\".


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 292VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITrân trọng kính chào quý Cán Bộ.Lê văn Chính, người tù, thi sĩ.20.7.1979.Hai Bài Thơ Ghi Dấu Một Khúc Quanh của lịch sử.1/ SẮN, bản tuyên ngôn thế kỷ.Hãy cuốc xuống thật sâu, nạy lên và bật gốc,Hãy dọn dẹp, vun thành đống, châm lửa đốt cho sạch,Nương rẫy đã xong, đất đai đã hoàn thành,Hãy trồng xuống,Hom sắn.Sắn đã nuôi ta sống,Sắn đã hại đời ta say,Ôi những bữa ăn đắng cay,Những sắn, toàn sắn.Sắn sớm, sắn trưa, sắn chiều, sắn cải thiện,Sắn trao đổi áo quần, sắn trộm cắp, dấu diếm,Sắn nhờ thuốc thẳng, sắn lượm lặt hàng hiên,Sắn thừa mứa chó chê, người đói nghèo nhặt nhạnh,Sắn củ ngon, sắn lớn bành ky,Sắn đuôi chuột, còn trong đống vỏ,Sắn gì cũng không chê không bỏ,Ta cứ ăn vào, đầy bao tử được là hay,Đời tù no, đếm được từng ngày,Ôi hạnh phúc qua đêm, bụng không cồn cào là tốt.Hỡi sắn, mày đã nuôi ta suốt bốn mùa,Sắn tươi ngọt bột nhiều, ăn ngon khoái chí,Sắn chặt khúc phơi khô, nặng mùi nắng, ăn vào khó chịu,Sắn dzui từng sợi, ăn có mùi chua,Tất cả đều thua,Sắn làm bột, cho bánh ăn là nhất.Hỡi sắn, lương thực quý giá vô song,Mà ông cha ta đã phụ bạc,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 293VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIMầy phải được phục hồi danh dự, không thể khác,Mầy phải đưọc nâng lên hàng đúng chỗ,Lá, cũng chứa nhiều chất bổ.Ôi sắn thần tiên đã đi suốt cuộc trường chinh,Với Đảng Quang Vinh mấy mươi năm sống còn nhờ cây sắn nuôi mình,Sắn Vĩ Đại,Sắn muôn năm,Sắn đời đời ghi nhớ,Sắn Sống Mãi Trong Sự Nghiệp Của Chúng Ta.Hỡi sắn,Có người dại khờ quên mầy nhiều chất bổ,Họ dùng sửa bột, bắp xay, gạo đỏ, để nuôi gia súc,Và nhiều thứ thịt, họ không thèm ăn,Đem đổ xuống Đại Dương tránh dòi bọ lân la lúc nhúc.Hỡi sắn,Niềm tự hào của Đảng ta,Nhờ mầy,Thế giới biết tên Việt Nam – Hồ Chí Minh,Và nhân dân có sắn ăn ngon bá thở,Ơn của Người ta nhớ mãi trong mình.Hãy cuốc xuống thật sâu, chôn kín lũ bạo tàn,Hãy dọn dẹp, chất thành đống, châm lửa đốt cho sạch,Trời của ta, đất của ta,Ta phải đối đầu thử thách,Diệt cho tàn loài sâu bọ hung tàn.(Nghĩ Hoàng Liên Sơn 1977, Làm tại Vĩnh Phú 1979)2/ Chuyền Tàu Cuối Năm.Về quê hương vào những ngày cuối năm,Trên con tàu chở đầy xiềng xích,Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối,Ta trả lại Người, những đói rét hờn căm.Mai ta đi, từ bóng tối mù tăm,Nơi ta về quê, miền Nam yêu dấu,


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 294VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIHãy ở lại những đói nghèo, đau thương ẩn náu,Chia tay nghe, vĩnh biệt yên nằm.Chào không chút xót thương núi rừng Việt Bắc,Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Kai,Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh Hoá,Còn trong ta, cơn ác mộng chưa phai.Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay, bắp hột,Vĩnh biệt nghe, nước muối đại dương,Chào rau tàu bay, lá đay rừng chua xót,Khi nghĩ về, lạnh buốt khớp xương.Mai ta đi, chào những ngôi giáo đường,Đứng lạnh lùng, giữa hoang tàn cỏ dại,Hãy ở lại nghe, những nghiêng chùa đổ chái,Áo rêu phong, khép kín niềm thương.Chào con phố nào ta đã có lần qua,Dẫu không biết tên để gọi,Nhưng trong lòng ta thầm nói,Đó là phố Sinh Từ.Để nhớ Trần Dần và nhóm Nhân Văn,Để ngợi ca những thi sĩ, nhà văn,Đã dũng cảm đấu tranh cho Sự Thật.Ngậm ngùi trong lòng ta, tưởng nhớ Phan Khôi.Nhớ ông “ Bình Vôi “ bất hủ.Nơi miền quê nào, ông đã yên nằm ấp ủ,Nhưng trong lòng tôi ông sống mãi,Ông sống mãi rồi, ông Phan Khôi ơi,Nhớ về ông, tôi nghĩ tới Kim Tự Tháp của ông Hồ,Mai cuộc vuông tròn, đời còn tính sổ.Mai ta đi, chào những gia đình bị chỉ định cư trú,Vách đất mái tranh, không đủ ấm mùa Đông,Nương sắn đồi khoai, không đắp đổi qua ngày,Phải lặn lội rừng sâu, năm năm một lần đổi chỗ,Thương cụ già tám mươi, tất bật ngược xuôi,Mấy chục năm rồi đói khổ,Nhìn đàn con cháu điêu linh.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 295VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠIKhông dám đứng lâu với ta, để bày tỏ sự tình,Sợ thằng công an ngó nhìn quở mắng.Chào em bé ném đá ta ngày mới tới,Và cô bé chu miệng chưởi rủa mẹ cha ta ngày mới ra,Giờ thì các em đã biết ta,Không phải là quân ăn thịt người,Nên đã có em mang sắn đến cho ta.Từ con tàu qua tới bờ Nam,Kinh hoàng lòng ta, rợn người muốn khóc,Đã sau lưng rồi, xứ sở của ông đau thương,Ta đã thoát hang hùm, khó nhọc.Trên những cánh đồng miền Trung tàu qua,Ta chỉ thấy đàn bà em nhỏ,Thanh niên đâu, đi lính hay tù,Đã mấy năm rồi, quê mình thế đó.Nầy cô gái thanh niên xung phong,Khi con tàu qua khỏi hầm đèo,Sao cô cầm đá ném vào đầu công an,Rồi hai tay chống nạnh nhìn theo.Nầy các em ở sân ga Đà Nẵng,Có bao lăm, lời lỗ thế nào,Mà em ném cho ta bao thuốc tặng,Nhỡ công an thấy được làm sao?Nầy các em nhỏ ở sân ga Nha Trang,Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh,Em giận đời chăng, rằng em bị phỉnh.“Như có Bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp,Mở nắp ra nghe cái cốc trên đầu”Em hát lạ lùng giữa một đám đông,Đứng vẫy tay chào các anh trở lại,Trong lòng ta, từ nay sống mãi,Tình quê hương, lòng đồng bào miền Nam,Trong nỗi đau quân cướp Đỏ bạo tàn.


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 296VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠINầy cái vẫy tay vụng trộm đón chào,Nầy con mắt nhìn dấu yêu thầm lặng,Nầy nụ cười trao gởi niềm tin,Đã hiểu rồi, ta nhất định thắng.Chúng không giết được chúng ta sau ngày 30 tháng 4,Chúng không giết được chúng ta trong BÓNG TỐI, ĐÓI RÉT và SỰ LÃNG QUÊN,Nơi rừng núi âm u Việt Bắc.Ta đã ra ánh sánh, ta đã về đất sống,Nhất định chúng ta phải thắng.Nhất định chúng ta phải thắng.Nhất định chúng ta phải thắng.Thép đã tôi, lưỡi gươm này phải sắc,Phải rắn, phải chắc, phải bền lòng, dũng cảm.Đường gươm đi phải đẹp.Phải làm lại từ đầu với cái giá đã mua,Phải làm lại từ đầu, đừng để lòng già nua,Tóc dẫu bạc, nhưng lòng thanh niên trẻ lại.Trên bước đường đi, trong tim đời thoải mái,Ta hiên ngang, chững chạc, đàng hoàng.Ta đã về, khi quân cướp hoang mang.Ta đã về với niềm tin tất thắng.Về quê hương vào những ngày cuối năm,Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt,Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan,Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.Lê Mai Lĩnh(Trại tù Z30A, Gia Rai 1-1-81)Viết bên dòng sông Thạch Hãn.Lê Mai Lĩnh


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 297VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITRẢ TA SÔNG NÚIĐất nước nầy ai dã tâm xâm chiếm Ai có quyền đem bán đem cầm Từng tấc đất đều của từng người dânHay đều của đảng vô nhân gian ác Đã cướp được thì quơ hết sạch Dùng quyền lực ức hiếp dân lành Chụp mũ phản động, phản quốc, chống nhân dân Công an vô cớ đánh đập, hành hạĐất đai đảng bán cả Chụp mũ 99 năm, ăn được mấy đời Mặc kệ dân tiếp nối tôi đòi Làm nô lệ người trên từ đất nước mình kiếp kiếpQuê hương là của toàn dân tộc Đâu phải của đảng Trả lại cho dân sông núi nước non nầy Dù một tấc đất cũng không thể giựt đem cầm bán Hỡi ơi xương máu tiền nhân chất chồng ai oán Chương HàNẮNG ẤM QUÊ HƯƠNGNắng chứa chan ngoài kia, sao tôi vẫn thấy lòng lạnh lẽoPhải chăng không là nắng ấm quê hương Tia nắng dịu dàng dội trên đồng ruộng mênh mang Ánh nắng mai âu yếm gánh rau, hồng má nàng thôn nữVệt nắng chiều ỡm ờ, mờ chiếc phà bến bắc nhỏHằn nét nhăn nheo, trán đẩm mồ hôi, người phu đạp xích lôNắng ấp ôm nấm mồ người lính già hy sinh cho đất tổHong khô giọt lệ mõi mòn người cô phụtrông chồng ngoài biên cương ngăn chặn giặc thùNắng vàng hoe hồn nhiên soi ngỏ ngách thành đô Rọi hiền hòa, tươi tắn phố phường xưa rạng rỡNhững con đường tự do, nắng lùa qua, chan hòa không bỡ ngỡMừng, xẻ chia nồng nàn đời dân sống bình anSao lâu rồi không còn nắng xôn xang Mà tối ám vây quanh đời lặng lẽNắng vàng ơi hãy đem tôi về chốn cũSưởi lòng tôi, sưởi ấm cả quê hương Chương Hà


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 298VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITHÁNG TƯ TÔI Mỗi năm tháng tư về tôi khócKhông thể quên ngày vận nước điêu linh Trái tim đau cứ nhức nhối không lành Vẫn xót xa thân phận người mất nước Vậy mà láo quê hương thống nhứtTừng mảnh đất mẹ cứ dâng dần cho giặcGiận bọn phản trắc, tủi mình bất lực Bả lợi danh tối mắt, tội đồ dân tộc Luồn cúi kẻ thù truyền kiếp Cố đưa tổ quốc vào họa diệt vong. Họ có mắt không tròng, đầu óc tối tăm Cứ vênh váo tự hào đỉnh cao trí tuệLừa dân, cai trị bằng độc tài, khủng bốTìm đủ cách hủy diệt văn hóaĐể toàn dân cúi đầu khuất phục bị đồng hóaCai nghiệt mấy, mưu đồ gì , rồi trời đất cũng không dung.Từ ngàn đời vạn sự do thiên Thuở lập địa sốTrời đã dựng đất nước Việt Nam đời đời bền vững. Chương HàCHÚNG TÔI CHƯA GIẢI NGŨChúng tôi không trốn chạy,chúng tôi chỉ thối lui Thẻ quân nhân,tay còn cầm giữ chắc Tấm thẻ bài vẫn đeo trên ngực Chính nghĩa chỉ thắng, không thua bạo ngược Các anh mới ngụy quyền, lường gạt nhân dân Giải phóng sao hèn, nô lệ đại đồng Thống nhất, độc lập sao cúi đầu thờ giặcChúng tôi vẫn thắng bằng lương tri bất khuất Vẫn quyết lòng tranh đấu vì quê hương không thể mất Nước Việt là của người dân Việt muôn đờiAi mới là tội đồ dân tộc không sai Dâng biên giới, dâng từng hải đảoDâng nước dần cho giặc thù truyền kiếp Dẫu các anh không còn làm người dân ViệtCũng tủi hổ ông bà, thẹn với tiền nhân Sống chi đời bất nghĩa, bất nhân Dẫu đội lớp, cũng thua xa cầm thúNgười dân Việt sẽ đời đời phỉ nhổSẽ tới ngày không còn chỗ dung thân Sẽ tới ngày chúng tôi về giải khổ nạn cho dân Chương Hà


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 299VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠITÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM Có ai hỏi anh là ai? Tôi hãnh diện tôi là người Việt. Chẳng cần phải vùng nào, miền nào hết Nên bao giờ ai phân biệt bắc trung nam. Cả nước tôi dân đều là người Việt. Ai cắc cớ hỏi dân miền thắng hay miền thua thiệtRất xấu hổ cho họ, cho tôi, khi họ phân vân Chủ nghĩa nào có được lòng dânDân tự do bầu, tự do bày tỏ không bị ai quản lý,gò bó, đàn áp khủng bố mới là bên thắng cuộc Được bảo vệ no cơm, ấm áo, trong quyền làm người sau trướcLòng dân là sức mạnh dựng nên cơ đồ tổ quốc Là chính nghĩa quê hương dân tộc Là tâm huyết bảo vệ từng tấc đất của non sông Giữ gìn biên cương, chống kẻ ngoại xâm Nuôi văn hóa, tập quán và phong tục. Nước tôi hơn bốn ngàn năm hiển hiện Từng bao lần bị ngoại bang lấn áp triền miên Vẫn cang cường quật khởi với bao anh hùng hào kiệt hiên ngangĐã đoàn kết đồng tâm vững chãi lòng yêu nước Dầu phải hy sinh giọt máu cuối cùng mới được. Ai ngược lòng dân, hung tàn, bạo ngược, nối giáo hàng giặc Sẽ bị hủy diệt, tự diệt Ai sẻ chia, đùm bọc nuôi nhau bằng tình dân tộc Đối xử bằng nhân nghĩa, đạo đức Thì xứng danh, đích thực là người Việt Nam Chương Hà


TAM CÁ NGUYỆT SAN KỲ II- TẬP 1- NĂM 2026 300VĂN BÚT VIỆT NAM HẢI NGOẠI


Click to View FlipBook Version