The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2026-04-07 18:30:22

Đa Hiệu 128 TH3

Đa Hiệu 128 TH3

50 do dollar Mỹ mang lại, vượt quá lợi ích của một chương trình khiêm tốn, ít mang lại lợi nhuận trước mắt, chương trình này chưa có một kết quả cụ thể khả dĩ thuyết phục mọi người.Một điểm khác trong đời sống cá nhân, ông luôn là một sĩ quan thanh liêm trọng nguyên tắc, không bao giờ lẫn lộn giữa công và tư.Một lần một tài xế lái xe đến nhà để đón Ông đi công tác, khi thấy Đại Tá Sử làm việc, anh tài xế cũng xăn tay áo với ý định phụ giúp. Đại Tá Sử liền gạt tay anh tài xế ra mà nói:- “Quân Đội trả lương cho Cậu để đưa tôi đi làm chứ không phải để làm chuyện này! Việc riêng của gia đình tôi, hãy để tôi lo!”Ông luôn tỏ ra có trách nhiệm rất cao của một cấp chỉ huy.Khoảng năm 1970, an ninh quanh trường Võ Bị đã trở nên xấu hơn nhiều so với trước đây. Mặc dù vòng đai phòng thủ do đơn vị bảo vệ của trường chịu trách nhiệm và được các đơn vị bên ngoài trường, như Địa Phương Quân tại Lapbe Sud và Lape Nord, của Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Quốc Gia phía Bắc, của các đơn vị Bộ Binh khác quanh vùng, SVSQ vẫn phải gánh trách nhiệm phòng thủ hàng đêm quanh doanh trại. Đã có nhiều lần thực tập báo động. Khi lệnh được ban ra, trong giá lạnh các đại đội SVSQ tức khắc chạy ra tuyến phòng thủ với súng đạn trong im lặng tuyệt đối sẵn sàng ứng chiến. Mỗi lần như vậy, Hệ Thống Tự Chỉ Huy mà cấp Đại Đội do SVSQ Đại Đội Trưởng điều động, với sự chỉ huy và giám sát của các sĩ quan cán bộ từ cấp Đại Đội cho đến cấp Trung Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan. Mỗi lần báo động như vậy kéo dài từ 30’ đến một giờ.Một lần, khi đang thực tập báo động, trong sương mù của Đà Lạt về đêm, một SVSQ Khóa 26 thấy một bóng ngưởi từ


Đại Tá Nguyễn Văn Sử, Quân Sự Vụ Trưởng hàng rào kẽm gai là Đại Tá Sử. Ông đã khen người sinh viên sĩ qua này có ý thức tránh nhiệm cao, nhưng chê trách… bắn dở.Chính ông thỉnh thoảng một mình lái xe hoặc đi bộ để kiểm soát các vọng gác chính, vì thế không có sinh viên sĩ quan nào còn dám lơ là canh gác.Tôi không thể nào quên được hình ảnh của Đại Tá Sử một buổi chiều sau khi Trung Đoàn SVSQ ăn chiều xong. Các SVSQ tập hợp trước phạn xá trong trời lạnh mây mù mưa lất phất một buổi chiều thật buồn, Đại Tá ra chỉ thị cho Trung Đoàn SVSQ phải tham gia lập thêm hệ thống phòng thủ quanh trường và canh gác cẩn thận tại các doanh trại của các Đại Đội A, B, C, D, E, F, G, H để đề phòng cộng sản tái xâm nhập. Sau đó mỗi ngày sau giờ ăn chiều hoặc cuối tuần, các đại dội SVSQ phải tham gia công tác đào thêm hầm hố, giao thông hào bên dưới Đài Tử Sĩ, cánh trái và phải Bộ Chỉ Huy, Nhà Vòm, Hội Quán…Chuẩn bị không phải là thừa, một đơn vị Việt Cộng đã bị tiêu diệt hoàn toàn ngay bên ngoài vòng kẽm gai, trong lần tấn công đợt hai vào Trường Võ Bị.Ông luôn chứng tỏ là người mẫu mực và nêu gương sáng cho thuộc cấp dưới quyền. Trong sinh hoạt thường ngày của SVSQ, có chương trình chạy bộ buổi sáng, khoảng 30’, mỗi ngày bất kể trời ấm hay lạnh buốt giá vào lúc 6:00 sáng. Thường thì, việc điều khiển buổi chạy sáng do Trung Đoàn SVSQ tự điều khiển, với sự giám sát và hiện diện của hai sĩ quan cán bộ trực của hai Tiểu Đoàn 1 và 2 SVSQ. Khi Đại Tá Sử nhậm chức Quân Sự Vụ Trưởng thì sự hiện diện của ông trong những lần chạy sáng gần như thường trực. Khi kèn sáng vừa thổi lên, bật dậy khỏi giường các SVSQ đã thấy Đại Tá


52 đẩy” về sự hiện diện của một sĩ quan cao cấp có hiệu quả tức thời. Tiếng đếm số 1, 2, 3, 4 vang rộng cả núi đồi. Cũng từ đó, ít thấy SVSQ (nhất là năm thứ Tư, khóa lớn nhất) khai bệnh để… khỏi chạy sáng.Sau 1968, đời sống dân chúng trong xã hội bị thay đổi nhiều, một phần do đồng tiền bị mất giá, một phần vì các người làm công cho Mỹ được trả gấp năm, mười lần lương truyền thống. Lương của SVSQ chỉ vừa đủ sống nên dựa hoàn toàn vào các bữa ăn tại Phạn Xá. Đại Tá Sử đã luôn kiểm soát nhà ăn để thực phẩm không bị thất thoát. Chính thái độ quyết liệt của Đại Tá Sử đã khiến ông gặp biết bao phiền toái sau này.Ông không bao giờ chấp nhận các SVSQ dưới quyền bất cứ việc bê trễ nào trong sinh hoạt, cũng như thái độ vô kỷ luật dưới bất cứ lý do nào. Ông cũng đòi hòi không khoan nhượng SVSQ phải trọng danh dự và giữ tư cách của mình.Năm 1970, trong một lần tập trung cả Trung Đoàn SVSQ thao dợt Cơ Bản Thao Diễn cho một nghi lễ, nhận thấy một số SVSQ không vào hàng nhanh chóng và trật tự, ông đã ra lệnh phạt cả Trung Đoàn SVSQ (bao gồm bốn Khóa 23, 24, 25, và 26) phải chạy ba vòng sân quanh Vũ Đình Trường Lê Lọi, cùng súng Garant (khoảng gần 1.5 km). Sự kiện này rất hiếm xảy ra, cũng như hình phạt chỉ có tính cách nhắc nhở cảnh cáo, hơn trừng trị. Với sức khỏe của tuồi thanh niên và qua tập luyện thì lần chạy bộ này chỉ mới vừa... “ấm người”.Một lần khác. Theo thói quen của các tân thiếu úy của Trường Võ Bị Quốc Gia từ trước đến Khóa 23, sau khi dự lễ mãn khóa họ còn được ở trong trường trước khi về phép và trình diện đơn vị. Một số có thái độ sinh hoạt hơi phóng túng, không kỷ luật như chính họ trước đây một ngày. Nhất là


Đại Tá Nguyễn Văn Sử, Quân Sự Vụ Trưởng đội mũ callo… Môt số còn không gom ống quần. Đúng ra họ phải mặc quân phục của trường.Chúng ta có thể hiểu được thái độ của họ. Các tân thiếu úy vừa trải qua một gian đoạn dài huấn luyện trong bốn năm với kỷ luật tuyệt đối dành cho SVSQ, như trong tu viện. Tốt nghiệp là niềm hãnh diện mà họ đã chờ từ rất lâu. Với tuổi trẻ hăng say, họ đã sẵn sàng ra đơn vị phục vụ. Vì thế, họ cảm thấy kiêu hãnh khi được thay quân phục mới. Lẽ dĩ nhiên cũng có một số hơi quá đáng. Đối với Đại Tá Sử thì đây là các hành động thiếu kỷ luật, không thể dung túng. Sáng hôm sau, khi các tân sĩ quan chờ nhận Sự Vụ Lệnh lên đường về trình diện đơn vị mới vào ngày Chủ Nhật 19 Tháng 12 Năm 1970, Ông đã ra lệnh tập họp các thiếu úy Khóa 23. Trước hàng quân, Ông đã tỏ vẻ buồn lòng và chê trách thái độ của họ là không được chấp nhận.SVSQ gồm bốn khóa đang diễn hành tại Sân Cỏ Trung Đoàn SVSQ.


54 Văn Trường - Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ và Đại Tá Nguyễn Văn Sử - Quân Sự Vụ Trưởng TVBQGVN trong khi đang theo học Khóa 42 Hành Quân Biệt Động Rừng - Núi - Sình Lầy. Lấy lý do thăm Đại Tá Trường, người bạn cùng khóa Võ Bị, Đại Tá Sử muốn gặp gỡ những học trò cũ của mình, muốn chứng kiến tận mắt những thay đổi của họ sau một thời gian ngắn sau khi ra trường. Các thiếu úy nhìn dáng hai ông, với chiều cao tương đối bằng nhau, cùng vạm vỡ, nước da ngăm đen, tiếng nói sang sảng; họ đã vô cùng hãnh diện được trình diện vị thày khả kính cũ của mình. Hóa ra ông thày dạy năm xưa vẫn luôn quan tâm đến từng bước đi của họ. Các thiếu úy trẻ với nước da đen cháy do nắng gió Dục Mỹ, qua các bài tập nguy hiểm và khắc khổ, mạnh mẽ qua tác phong, khỏe mạnh trong thể chất, tự tin qua cử chỉ đang đứng trước hai ông. Qua hình ảnh, ông biết họ đã sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Họ thấy ông hãnh diện, tỏ vẻ hài lòng, và cảm động về sự trưởng thành của những học trò cũ. Một hình ảnh mà họ vẫn còn nhớ mãi cho đến trên 50 năm sau.Là một sĩ quan cao cấp đầy nhiệt huyết, Đại Tá Nguyễn Văn Sử luôn hết lòng cho quân đội, là một Quân Sự Vụ Trưởng đã hết lòng với Sinh Viên. Ông luôn luôn chăm lo đời sống huấn luyện học tập và đặt kỳ vọng vào tương lai của SVSQ sau này. Ngược lại Sinh Viên Võ Bị cũng đã noi gương cách sống trong sạch liêm khiết và làm việc không mệt mỏi của người. Đại Tá Nguyễn Văn Sử là thần tượng của SVSQ/Võ Bị muốn noi theoNhưng người tốt và quá lý tưởng thường hay yểu mệnh. Trung Đoàn SVSQ rất bàng hoàng khi hay tin Đại Tá Nguyễn Văn Sử bị sát hại năm 1972 vào một đêm tại Văn Phòng Trực của ông, sát với Câu Lạc Bộ và Thư Viện của trường. Việc ra


Đại Tá Nguyễn Văn Sử, Quân Sự Vụ Trưởng động, bồi hồi và thương tiếc khi được biết ông đã mất.Bộ Tổng Tham Mưu không thể đưa ra kết luận về cái chết này. Ông bị VC sát hại, hay bị trả thù cá nhân? Không có kết luận! Sự việc trôi vào quên lãng, khi đất nước đang càng ngày càng chìm đắm trong lửa đạn, trong mất mát và chia ly.Chỉ biết, sau khi ông bị mất, Bộ Tổng Tham Mưu quyết định không truy thăng ông là Cố Chuẩn Tướng (lệ đối với một quân nhân bị tử nạn khi đang thi hành nhiệm vụ), mà chỉ ân thưởng một huy chương. Cố Đại Tá Sử là một trường hợp ngoại lệ. Được biết, Phu Nhân của cố Đại Tá Sử đã từ chối không nhận huy chương này.Tôi và hai bạn Khóa 26 Đại Đội B được cử ra nhà của ông để giúp đỡ một vài việc, sau khi ông mất. Tận mắt chứng kiến hoàn cảnh gia đình của ông khiến tôi rất xúc động. Căn nhà rất nhỏ với một bàn thờ ở giữa đơn sơ, một chiếc bàn dài độ hơn hai thước được trải một tấm nilon mỏng (có in hình trái khóm, trái dưa hấu) bị rách một hai chỗ và bốn chiếc ghế. Nhà có nuôi vài ba con gà. Lúc đó, ông bà có hai đứa con trai còn nhỏ độ 5, 6 tuổi. (Như được biết, đàng sau nhà còn có một hai con heo đang nuôi.) Tình cảnh nghèo khó đối với gia đình của một đại tá quả thật bất thường!Bà Đại Tá gương mặt buồn, ăn mặc giản dị, cám ơn chúng tôi và kể:- Nhà không có gì đáng giá hết. Đại Tá rất nghiêm khắc không cho ai được xen vào việc của ông. Chiếc xe jeep chỉ phục vụ cho quân đội, tôi không được phép ngồi trên đó.Mặc dù, cách làm việc của Đại Tá Sử lúc sinh tiền không phải ai cũng đồng ý, nhưng ảnh hưởng của ông để lại vô cùng sâu sắc, tác động đến cách sống và suy nghĩ của đa số SVSQ


56 (giờ này ông này đã không còn nữa) cùng khóa lâu năm chưa gặp thì thấy hình của cố Đại Tá Sử được treo trên bàn thờ, cạnh hình cha mẹ quá cố của mình. Việc làm gì của Đại Tá đã ảnh hưởng sâu sắc và được kính trọng đến như vậy?Một cảm nghĩ khác (trích đăng):“Tôi muốn bầy tỏ hết lòng kính mến và ngưỡng phục của tôi như đối với Đại Tá Nguyễn Văn Sử, Quân Sự Vụ Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam; như một cấp chỉ huy, như đối với một người cha, một người thầy, một người anh lớn trong quân đội, Tôi muốn được minh oan cho cái chết tức tưởi của Đại Tá Nguyễn Văn Sử, người đã nằm xuống trong sự thương tiếc, kính trọng của chúng tôi, những cựu sinh viên sĩ quan từ các Khóa 22 đến Khóa 28 thụ huấn trong thời gian Đại Tá còn tại chức tại trường. Riêng với tôi, Đại Tá như một thần tượng, một mẫu mực của người quân nhân với những đức tính, cứng rắn, cương nghị và liêm khiết…”Giờ ghi lại những dòng này tôi cũng cảm thấy vô cùng xúc động về một vị Đại Tá đầy quyền lực mà sống rất thanh liêm. Nếu Quân Lực VNCH có nhiều sĩ quan gương mẫu hết lòng lo cho thuộc cấp và binh sĩ như Đại Tá thì chắc hẳn tình hình miền Nam có thể khá hơn. Tôi biết chắc là như thế!Cuối cùng tôi muốn nói lên lòng ngưỡng mộ của một khóa đàn em, muốn dâng lên một nén nhang dù muộn màng để Tưởng Niệm Cố Đại Tá Nguyễn Văn Sử, Quân Sự Vụ Trưởng TVBQGVN và cầu mong Ơn Trên giữ Hương Linh của Đại Tá luôn luôn ở Cõi Vĩnh Hằng.Kính Chào Thương Tiếc Đại Tá Nguyễn Văn Sử!


Tản Mạn Về Nhà Trần TẢN MẠN VỀ NHÀ TRẦN.Triều đại nhà Trần qua các đời vua đã được sách Sử Ký ghi chép rất rõ ràng. Ở đây tôi xin được thêm vào một số chi tiết, những mẫu chuyện bên lề lịch sử, ngoại truyện mà sách vở nhân gian còn lưu truyền cho đến ngày nay.* * *Triều đại nhà Trần là một vương triều rất đặc biệt từ việc khởi đầu gây dựng sự nghiệp đến những luật lệ lạ lùng của hoàng tộc. Một triều đại nổi tiếng với cả hai mặt tốt và xấu.Trước khi nói về nhà Trần phải nhắc đến những biến chuyển thoái, thiên tai mất mùa liên tiếp xảy ra, các thế lực phong kiến nổi lên chống lại triều đình, giặc giã tứ phương.Hoàng tử Sảm chạy loạn về ấp Hải Lý, làng chài Tức Mạc (Nam Định) rồi lấy con gái Trần Lý là Trần Thị Dung làm vợ. Trần Lý có ba người con: Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thị Dung và một người cháu là Trần Thủ Độ (con của Trần Hoàng Nghi anh ruột của Trần Lý). Năm 1210 nhờ sự trợ giúp của họ Trần, hoàng tử Sảm trở về triều lên ngôi lấy niên hiệu là Lý


58 vào ngục, ép Lý Huệ Tông đi tu (sau đó bức tử vua). Ông còn bắt vua nhường ngôi cho con gái nhỏ là Lý Chiêu Thánh mới bảy tuổi lên ngôi, niên hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Kế đến Trần Thủ Độ đem con trai thứ hai của Trần Thừa là Trần Cảnh mới tám tuổi vào cung làm chồng bà vua nhỏ. Sau cùng ông ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Thế là nhà Trần đã cướp ngôi nhà Lý một cách dễ dàng không hao tốn một binh một chốt nào cả.Trần Cảnh lên ngôi lấy niên hiệu là Trần Thái Tông (1225) lập nên triều đại nhà Trần. Kể từ đó nhà Lý bị xóa sổ. Lúc nầy Trần Thủ Độ được phong chức Thái Sư, quyền hành ngất ngưỡng trong triều. Những âm mưu sắp đặt cướp ngôi nhà Lý là do Trần Thủ Độ toan tính. Ông là người giỏi giang, tài ba xuất chúng, nhiều mưu lược nhưng cũng nhiều tham vọng và tàn ác. Sau khi cháu mình đã giành được ngai vàng, ông thẳng tay tiêu diệt dòng dõi hoàng tộc, tôn thất nhà Lý. Một vị vương gia, chú của vua Huệ Tông là Lý LongTường lúc đó đang nắm quyền chỉ huy thủy quân, đã dẫn hơn hai ngàn gia tướng chạy ra biển thoát nạn, sau nầy được vua Cao Ly cho định cư bên đó.*Khi Trần Thái Tông ngồi vững trên ngôi thì nhà Trần lại diễn ra sự đại loạn luân mà đến nay hậu thế còn chê trách.Người phạm tội loạn luân đầu tiên là Trần Thủ Độ, một người anh con của bác đã công khai cưới Trần Thị Dung (Hoàng Hậu của Lý Huệ Tông) và bà được phong là Linh Từ Quốc Mẫu.Công chúa Lý Chiêu Thánh ở với Trần Thái Tông 12 năm nhưng không sinh được con cái. Trước đó Trần Thủ Độ đã đem công chúa Thuận Thiên (chị của Chiêu Thánh) gả cho


Tản Mạn Về Nhà Trần đến 20 năm. Sau bà mới tìm được nhân duyên mới. Việc nầy làm cho anh em họ bất hòa. Trần Liễu nổi loạn, Trần Cảnh bỏ cung điện trốn lên chùa ở.Sau cùng Trần Thủ Độ cũng dàn xếp, giảng hòa được hai người, nhưng mâu thuẩn vẫn âm ỉ trong hai dòng trưởng, thứ. Trần Thái Tông trở lại ngôi vua, cắt cho đất An Sinh làm thái ấp và phong Trần Liễu làm An Sinh Vương.Trần Liễu có 3 người con: Trần Quốc Trung, Trần Quốc Tuấn ( Hưng Đạo Vương), Trần Vũ Thành tức Vương Doãn. Trần Cảnh (Trần Thái Tông) sinh ra: Trần Quốc Khang (con của Thuận Thiên và Trần Liễu), Trần Hoảng (Trần Thánh Tôn), Trần Quang Khải, Trần Ích Tắc, Trần Nhật Duật, và An Tư Công Chúa.Sau việc Trần Thủ Độ lấy em họ và Trần Cảnh lấy chị dâu thì triều đại nhà Trần tiếp tục bại hoại, loạn luân. Cô lấy cháu, chú lấy cháu, anh em họ lấy nhau… vì theo luật lệ hoàng gia không ai được lấy người ngoài họ nhà Trần. Họ chỉ muốn quyền lực nằm trong hoàng tộc mà thôi. Chẳng hạn như Phụng Dương Công Chúa là con của Trần Thủ Độ lấy cháu là Trần Quang Khải, Thiên Thành Công Chúa (em ruột của Trần Liễu và Trần Cảnh) lấy Trần Quốc Tuấn là con ruột của Trần Liễu. Thiên Thụy Công Chúa lấy Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn (con Trần Hưng Đạo), Khâm Từ Hoàng Hậu là con Hưng Đạo Đại Vương Trần


60 là người tài giỏi, lập nhiều công trận làm đến chức Phiêu Kỵ Tướng Quân, được vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi. Tương truyền rằng Trần Khánh Dư vì yêu và muốn cưới một người con gái ngoài vương tộc nên ông đã bị cách chức, tịch thu tài sản, đuổi làm dân dã. Cũng có sách viết rằng trong một buổi tiệc của hoàng tộc ông say rượu nên đã chọc ghẹo vợ của Hưng Vũ Vương nên bị cách chức (lúc nầy cha con Hưng Đạo Vương đang nắm hầu hết quân đội nên vua rất nể nang họ). Ông về núi Chí Linh đốn củi, làm than đem bán mưu sinh. Mãi đến khi triều đình mở đại hội Bình Than trên sông, ông chèo thuyền ngang qua, được vua cho gọi lại. Ông được tha tội và phục chức.- Vị vua đầu tiên là Trần Thái Tông tức Trần Cảnh. Khi đang tại vị trên ngôi tuy Trần Thái Tông dựa nhiều vào Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn, nhưng sau đó ông cùng con là Thái Tử Trần Hoảng chỉ huy quân đội phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng được Thăng Long. VuaThái Tông là vị anh hùng cứu nước và còn là nhà triết học có những tư tưởng sâu sắc, có một cốt cách độc đáo, là tác giả cuốn “Khóa Hư Lục” thời đó.Các đời vua nhà Trần có một luật lệ: Sau khi làm vua một thời gian thì lui về làm Thượng Hoàng, vẫn tiếp tục cai quản triều chính với vua con.- Vị vua thứ hai là Trần Thánh Tông tức Thái Tử Hoảng.Thánh Tông là vị vua nhân từ, trung hậu. Ông dốc lòng xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị. Ông quan tâm đến việc giáo hóa dân, khuyến khích học hành, mở khoa thi chọn người tài ra giúp nước, cho khai khẩn đất hoang giúp dân phương tiện canh tác. Thời ông cai trị không giặc giã, yên ổn, dân chúng


Tản Mạn Về Nhà Trần nghiêng, nguy kịch. Nhiều lần quân Nguyên sang đe dọa, xâm lấn nhưng vua đã lèo lái con thuyền tổ quốc vượt qua những khó khăn với những trận đánh vang danh thiên thu. Dưới triều ông có hai đại hội được lưu danh trong sử sách là Đại Hội Bình Than và Đại Hội Diên Hồng để dò hỏi lòng dân và tướng sĩ khi có giặc xâm lăng. Những trận chiến oai hùng như: trận Bạch Đằng Giang do Hưng Đạo Vương đuổi Thoát Hoan trốn vô ống đồng chạy về nước. Những trận đánh ở Vạn Kiếp, Hàm Tử (do Trần Nhật Duật cầm quân) và Chương Dương (do Trần Quang khải chỉ huy) hiệp cùng các tướng như: Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Ngân Huệ Vương Trần Khánh Dư, Trương Hán Siêu, Trần Bình Trọng, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Yết Kiêu, Dã Tượng… Ngoài ra còn những tướng con của Hưng Đạo Vương như: Hưng Vũ Vương (Trần Quốc Nghiễn), Hưng Trí Vương (Trần Quốc Hiến), Hưng Hiếu Vương (Trần Quốc Uất), Hưng Nhượng Vương (Trần Quốc Tảng).Riêng Trần Bình Trọng khi giao chiến với giặc ở cửa Tây Kết, ông đã bị lọt vào gọng kềm. Phía sau Lý Hằng dồn binh tới, phía trước Ô Mã Nhi quay đầu lại bao vây ông vào giữa lòng quân giặc. Tuy anh hùng, dũng cảm nhưng vì yếu thế ông bị bắt. Giặc dụ hàng không được, ông bị giết chết.Sau 14 năm làm vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con rồi đi tu, ông đã lập ra phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ông là một triết gia lớn của Phật Học, giúp triết học Phật Giáo Việt Nam phát triển rực rỡ, thể hiện đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh của người tu đạo.Trong lịch sử nhà Trần ít ai nhắc đến, bỏ quên người con gái út của Thái Tông là An Tư Công Chúa. Khi quân Nguyên sang đánh Đại Việt lần thứ ba do Thoát Hoan cầm đầu, vua


62 nàng là Trần Ích Tắc vẽ. Bức ảnh này vô tình đã lọt vào mắt sứ giả Sài Thung của quân Nguyên nên hắn dâng bức họa lên cho Thoát Hoan để lập công. An Tư là cô gái tuyệt đẹp, sắc nước hương trời, thường vận võ phục, cỡi ngựa bạch, múa đao kiếm như một võ tướng. Nàng có một mối tình tuyệt đẹp, thủy chung với chàng trai Chiêu Thành Vương (chú ruột của Trần Quốc Toản). Chiêu Thành Vương là một vương gia trẻ thường cưỡi con Hắc Long oai dũng giữa ba quân. Đôi khi chàng âm thầm len lỏi dò la tin giặc trong hiểm nguy, gian khổ, vất vả với nắng gió biên thùy, nhưng phong thái anh hùng vẫn tỏa sáng từ con người mã thượng ấy. Hai người hẹn ước khi tan binh biến sẽ xin thánh chỉ ban hôn nhân. Nhưng bão tố trùm phủ xuống đôi đầu son trẻ để Chiêu Thành Vương mang nỗi đau, nỗi hận ngàn đời khi hay tin người yêu đã vùi thân trong biển lửa, khi nàng đi phá hủy kho thuốc nổ, cung nỏ của giặc.Những nhân vật tên tuổi thời Trần:1. Trần Quốc Tuấn, tức Hưng Đạo Vương (con thứ hai của Trần Liễu), là một tướng tài ba lỗi lạc, một danh nhân quân sự cổ kim ít người sánh kịp. Từ nhỏ ông được cha mời thầy giỏi dạy dỗ, rèn luyện cả văn lẫn võ. Ông tỏ ra là bậc hiền tài và trung trực, lúc nào cũng đặt quyền lợi đất nước lên trên hết. Ông làm đến chức Tiết Chế Quốc Công (Tổng tư lệnh quân đội), là bậc tướng trụ cột triều đình. Ông thương yêu lính, dạy bảo các tướng cách cầm quân đánh giặc, dạy bảo họ lẽ thắng, thua. Ông soạn hai bộ binh thư: BINH THƯ YẾU LƯỢC và VẠN KIẾP TỔNG BÍ TRUYỀN THƯ. Khi giặc Nguyên lộ mưu đồ xâm lược ông đã viết HỊCH TƯỚNG SĨ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định ông là một vị tướng tài, đức, dũng, trí vẹn toàn.Cả ba lần đánh quân Nguyên, ông đã tạo ra nhiều chiến


Tản Mạn Về Nhà Trần 2. Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải là con thứ hai của Thái Tông, em ruột của Thánh Tông, giữ chức Thượng Tướng Thái Sư nắm toàn quyền nội chính. Có sách mô tả rằng Quang Khải người cao dong dõng, mũi thẳng, mắt sáng, tiếng nói vang nhưng ấm. Ông có dáng dấp cao quý, phong nhã của bậc vương gia, nhưng cũng toát ra nét oai hùng, uy vũ của một trang võ tướng. Ngoài ra ông còn là một thi sĩ. Ông là tác giả cuốn “Lạc Đạo”. Trong trận kháng Mông lần hai và ba, ông là tướng thứ nhì sau Trần Quốc Tuấn.3. Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc là con thứ ba của Thái Tông, em kế Trần Quang Khải. Ông là người có đầu óc thông tuệ khác thường, cũng là người tài hoa bậc nhất kinh thành, tinh thông: cầm, kỳ, thi, họa. Ông mở trường dạy học, học trò ông như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Phóng… đều nổi tiếng. Trong vương phủ ông lúc nào cũng có vài ngàn môn khách. Vương phủ của ông đẹp nhất trong các vương phủ Đền thờ Đức Thánh Trần ở làng Thổ Khối Tỉnh Thanh Hóa đã được trùng tu và hoàn chỉnh vào năm Tự Đức Thứ 3 (1850).


64 giặc và theo về Yên Kinh chết già bên đó.4. Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là con thứ tư của Thái Tông, em của vua Thánh Tông, Trần Quang Khải và Trần Ích Tắc. Ông nổi tiếng là ông hoàng hiếu học và sớm lộ thiên tri. Tuổi trẻ của ông miệt mài rèn luyện văn, võ để thành tài. Ông học hỏi và hiểu biết rành rẽ nhiều thứ tiếng cùng phong tục, tập quán của từng sắc tộc. Ông thu nạp một số nhân sĩ lưu vong nhà Tống nên rất giỏi tiếng Hán. Những cuộc tiếp đón sứ thần trong và ngoài nước đều do ông đích thân dùng ngôn ngữ của họ mà giao tiếp. Ngoài 20 tuổi ông đã nổi tiếng là một tướng trẻ với nhiều công trận. Năm 26 tuổi ông lập một chiến công hiển hách: Hàng phục được chúa mạn Đà Giang là Trịnh Giác Mật mà không tổn hao một binh tướng nào (do ông đã dùng nghi lễ, tập quán của họ mà chiêu hàng họ). Đà Giang là hàng rào cản ở biên giới, nếu bị quân Nguyên chiêu dụ được Trịnh Giác Mật đầu hàng thì nhà Trần khó giữ vững phòng tuyến. Trong trận đánh Nguyên lần ba ông cầm hơn 20 vạn quân chiến thắng ở Vạn Kiếp, Hàm Tử sau đó kéo về Chương Dương hiệp lực với đội quân Trần Quanglại Thăng Long.5. Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản là con một vị vương gia nhà Trần, nhưng cha mất sớm. Ông sống với mẹ trong một thái ấp rộng lớn và được mẫu thân cùng chú ruột là Chiêu Thành Vương dạy dỗ. Khi bị Vua Nhân Tông từ chối không cho tham dự Đại Hội Bình Than vì mới 17 tuổi, ông rất bực tức, buồn bã. Ông trở về thái ấp tụ hợp gia tướng hơn ngàn người ngày đêm tập luyện với sự trợ giúp của vị quản gia cũng là thầy ông, một người rất giỏi võ công: Lê Như Hổ. Sau đó ông cũng được Tiết Chế Quốc Công Trần Quốc Tuấn rèn luyện, chỉ dạy về binh pháp, về cách cầm quân đánh giặc suốt


Tản Mạn Về Nhà Trần Sau đó Trần Quốc Toản,đuổi giặc chạy đến sông Như Nguyệt (sông Đuống) thì bị A Lý Hải Nha dùng mưu bắn lén, bị tên độc mà tử trận.Ngoài các danh tướng kể trên còn có rất nhiều tướng giỏi khác. Cũng vào các đời vua nầy nước ta xuất hiện nhiều nhân tài tên tuổi như: Mạc Đĩnh Chi, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Hiền, Hàn Thuyên…- Nói về vua Trần Nhân Tông:Ông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông (Thái Tử Thuyên). Anh Tông cũng là vị vua thông minh, sáng suốt cai trị đất nước tốt đẹp. Dưới triều ông có một câu chuyện đáng kể là việc gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Năm 1306, vua gả con gái cho vua Chế Mân để đổi lấy hai Châu Ô, Lý nay là đất Thuận Hóa. Năm 1307 Chế Mân chết, theo luật lệ của Champa công chúa phải bị hỏa táng theo chồng. Vua Anh Tông sai Thượng Tướng Trần Khắc Chung sang tìm cách cứu Huyền Trân. Khắc Chung cứu được công chúa bằng đường biển rồi dong thuyền chạy về nước.Người đời thêu dệt về câu chuyện tình lãng mạn của công chúa và viên thượng tướng. Họ cho rằng vì chàng yêu công chúa nên đường từ Chiêm Thành về Đại Việt không mấy xa xôi mà con thuyền tình đó lênh đênh trên biển gần một năm trời mới về đến Thăng Long vào cuối năm 1308. (lầm lẫn Trần Khắc Chung với Đỗ Khắc Chung, một vị tướng đời Thánh Tông và Nhân Tông. Đến đời Anh Tông nếu ông Đỗ còn sống chắc cũng luống tuổi rồi nên không thể là Trần Khắc Chung của Huyền Trân được.)Tuy nhiên, dù triều thần có nhiều dị nghị về chuyện nầy nhưng không nghe Anh Tông trách phạt gì Khắc Chung và


66 Hồ Quý Ly làm vợ. Triều đình nhà Trần từ đây về sau càng ngày càng suy yếu. Có vua vì khôg đủ tài sức cai trị đất nước, có vua bị gian thần lộng quyền phế bỏ, có vua lại nghe lời gian thần giết hại trung lương nên xã hội càng suy đồi, bế tắc. Đến đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly chuyên quyền, nắm hết triều chính, gả con gái cho vua và tự xưng là Quốc Tế Thượng Hoàng, ở cung Nhân Thọ ra vào dùng nghi lễ Thiên Tử. Chẳng bao lâu Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Án mới ba tuổi lên kế nghiệp niên hiệu là Trần Thiếu Đế. Rồi Quý Ly giết vua. Lúc đó các tôn thất nhà Trần, Thái Bảo Trần Nguyên Hãng, Thượng Tướng Trần Khát Chân cùng nhau lập mưu kế định tiêu diệt Quý Ly. Việc bại lộ nên họ bị giết hết, tất cả là 370 người. Sau một năm, Quý Ly phế bỏ cháu ngoại là Trần Thiếu Đế, cướp ngôi và lập nên nhà Hồ.Như vậy nhà Trần cai trị đất nước được 175 năm (1225 - 1400) qua 12 đời vua: 1. Trần Thái Tông (Trần Cảnh). 2. Trần Thánh Tông (Thái Tử Hoảng). 3. Trần Nhân Tông (Thái tử Khảm). 4. Trần Anh Tông (Thái Tử Thuyên). 5. Trần Minh Tông (Thái tử Mạnh). 6. Trần Hiến Tông (Thái Tử Vượng). 7. Trần Dụ Tông (Trần Hạo). 8. Trần Nghệ Tông (Cung Tĩnh Vương). 9. Trần Duệ Tông (Trần Kính).10. Trần Phế Đế (Trần Hiền).11. Trần Thuận Tông (Chiêu Định Vương).12. Trần Thiếu Đế (Thái Tử Án).Nó chung, dòng dõi vua chúa triều đại nào cũng vậy, được


Tản Mạn Về Nhà Trần đại đã để lại cho đời tên tuổi những nhân sĩ tài ba, những danh tướng tuyệt luân với nhiều chiến công hiển hách, cũng là niềm tự hào của dân tộc.* Lý Long Tường chạy sang đảo Hoa Sơn của Cao Ly (Đại Hàn) được vua Hàn trọng dụng và phong cho làm tướng quân sau khi ông đánh đuổi giặc Mông Cổ cho vua Hàn. Niềm hy vọng phục quốc của ông không thực hiện được bởi các vua đầu triều Trần cai trị đất nước tốt đẹp, hưng thịnh. Ông thường lên đỉnh núi Hoa Sơn, mặt hướng về cố hương ở phương Nam mà khóc, nơi đó được gọi là Vọng Quốc Đài (có sách gọi là Vong Quốc Đàn).Năm 1958 Tổng Thống của Đại Hàn là Lý Thừa Vãn sang thăm Tổng Thống Ngô Đình Diệm có vài báo chí ở Sài Gòn đưa tin rằng ông Lý có nói ông là người Việt Nam??? Sự việc nầy đúng hay sai đến nay không nghe ai nhắc tới nữa.Năm 1994, người cháu đời thứ 26 là Lý Xương Căn hướng dẫn gia tộc về Việt Nam làm lễ tế tổ tại làng Đình Bảng (làng Cổ Pháp ngày xưa, nơi xuất thân của Lý Công Uẩn).


68 Trong Ngục Tù Bao La (1975-1984) Nguyễn Thị Xuân, K 13/1 (Vợ CSVSQ Nguyễn Quốc Đống, K 13(Trích trong Hồi Ký Những Tháng Ngày Không Quên)Cả nước sống trong tù!“Trong Ngục Tù Bao La” là tên một bản nhạc mà Nhạc Sĩ Vũ Đức Nghiêm viết cho một người yêu cũ của ông. Nàng đi lấy chồng, nhưng không may lấy phải một người chồng quá ghen, đã nhốt nàng trong nhà, không cho ra ngoài tiếp xúc đi lại trong nhà, nhưng tự do bị hạn chế, nên nơi ở vẫn là một “ngục tù bao la” (1969). Chỉ 6 năm sau (1975), nhạc sĩ cũng gặp cùng cảnh ngộ, bị cộng sản giam trong cái “ngục tù bao la” đó, vì từ Nam ra Bắc, những nơi núi rừng âm u, xa xôi hẻo lánh, khí hậu khắc nghiệt, đều có nhà tù cộng sản, để giam quân, cán, chính VNCH.Chồng tôi bị bắt đi tù ngày 15-6-1975. Thời gian đầu, gia đình cũng không biết anh ở đâu. Một năm sau (1976), lần đầu


Trong Ngục Tù Bao La Khi chồng tôi ra đến đất Bắc, khoảng ba tháng một lần, gia đình nhận được giấy cho gửi quà nuôi “tù cải tạo”, mỗi lần được gửi một gói quà nhỏ 5 kg.Thời gian anh ở trại tù Hoàng Liên Sơn, anh được gặp anh Vũ Đức Nghiêm ở cùng trại (anh Nghiêm và chồng tôi là anh em họ, đôi con dì).Đến cuối 1978, có lẽ do áp lực của quân Tàu, cộng sản cho chuyển tù về các trại xa vùng biên giới. Chồng tôi và các bạn cùng trại chuyển đến một trại tù ở Nghệ Tĩnh.Các nhà tù giam “tù cải tạo” chỉ là những nhà tù nhỏ. Bên ngoài, người dân cũng sốngtrong “nhà tù lớn”, với đời sống ngột ngạt, thiếu không khí tự do của chế độ chuyên chính vô sản; với cảnh ngăn sông cấm chợ; với chế độ hộ khẩu, người dân đi đâu cũng phải khai tạm vắng, tạm trú; với chế độ tem phiếu, khẩu phần, người dân phải “ăn mày” nhà nước từng kg gạo, từng mét vải…. Cả nước sống trong “ngục tù bao la”.Thăm chồng ở trại tù Nghệ Tĩnh (1979)Do tình trạng “tù cải tạo” không đủ ăn, có người đã bị chết đói, nên cộng sản đã cho gửi quà vào trại (1978), và cho gia đình đến trại tù thăm nuôi. Hè 1979, tôi quen được hai chị sắp đi thăm chồng tại trại tù Nghệ Tĩnh, nên quyết định đi thăm chồng tôi. Đã bốn năm, tôi chưa một lần gặp lại anh, sau ngày anh bị bắt đi tù. Năm đó tôi chỉ 29 tuổi, chưa bao giờ mạo hiểm đi xa một mình như vậy, nên tôi lo lắng lắm. Nhưng nghĩ


70 mang theo quá nặng, vậy nên lén đi vào bằng lối sau”. Hai chị đi thoát, còn tôi lếch thếch đi sau, bị an ninh nhà ga bắt giữ lại, không cho đi, họ nghi tôi “đi buôn lậu”. Tại văn phòng nhà ga, tôi giải thích là “đi thăm chồng tù cải tạo” ở Nghệ Tĩnh, trình cả giấy giới thiệu của hiệu trưởng Mạc Đĩnh Chi, họ cũng không tin, nói là “để tàu chạy xong mới giải quyết”. Tôi thất vọng não nề, nếu phải đi về, tôi đâu có can đảm đi ra Bắc một mình. Đúng lúc tuyệt vọng đó, hai người em chồng, một cô và một chú em, vào đến văn phòng. Rồi không biết hai người em chồng tôi nói gì mà họ cho tôi đi. Leo được lên tàu, chỉ vài phút sau là tàu hú còi rời ga!Tàu chạy suốt đêm, qua nhiều tỉnh ở miền Trung, nhưng tôi mệt mỏi, buồn rầu, cũng chẳng ham gì ngắm cảnh vật bên đường. Tôi nhớ cảnh người dân buôn bán nhếch nhác dọc theo đường tàu. Họ bán đủ thứ, gà luộc sẵn chỉ sáu đồng một con, bánh, kẹo, trái cây…. Trẻ em đi bán dạo trên tàu cũng nhiều lắm. Năm đó dân cả nước còn đói lắm. Thử tưởng tượng người tù còn đói đến đâu. Tôi lo cho chồng, vì biết anh sức khỏe không tốt.Đêm trên tàu, tôi thức trắng, vì lạ chỗ, và không có thói quen ngủ khi di chuyển; đây cũng là lần đầu tiên tôi đi tàu lửa. Chiều hôm sau, tàu đến ga Vinh, Nghệ Tĩnh, là nơi chúng tôi đến. Việc đầu tiên là đi tìm phòng trọ, sau đó đi mua thêm ít hộp sữa cho chồng. Phòng trọ nhỏ hẹp, tối tăm, cái màn giăng chống muỗi thì cáu bẩn, hôi hám. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi mang đồ ra bến đò Dùng, qua đò, rồi thuê hai xe thồ, một xe chở đồ, và một xe chở người, vượt 23 km đường rừng, mới đến trại tù! Hồi đó tình hình an ninh còn khá, nên chúng tôi đến trại bình an; không ai bị cướp đồ, hay bị hại! Thân nhân phải khai báo, chuẩn bị để sáng hôm sau mới được gặp người


Trong Ngục Tù Bao La Mỗi gia đình chỉ được gặp thân nhân 30 phút. Biết nói gì trong thời gian ngắn ngủi đó?Chồng tôi được công an trại tù đưa ra. Chồng ngồi một bên, vợ ngồi một bên cái bàn gỗ dài, đầu bàn có một công an. Bị kiểm soát vậy thì còn nói năng cái gì? Tôi muốn khóc mà không dám, giờ ngồi viết những dòng hồi tưởng này, nước mắt tôi rơi thoải mái, còn ai cấm nữa đâu! 30 phút trôi qua nhanh, đã đến lúc từ biệt nhau. Chồng tôi ráng cười, khuyên tôi giữ sức khỏe để lo cho các con.“Khi nụ hôn trao nhau vội vàngCòn ấm chút hương môi,Em đã xa tôi rồiTay cầm tay con tim bồi hồiSầu chất ngất chia phôiThương nhớ dâng nghẹn lờiMuôn trùng xa em vềBụi mờ vương theo bước em điMặn nồng xưa ray rứt cơn mêHận thù nay giăng mắc lê thêĐưa em về, biết nói gìGiây phút từ ly…”(Bài hát “Muôn Trùng Xa Em Về”, do nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sáng tác, sau lần chị đến thăm anh tại trại tùTrên đường về, lúc đi bộ ra khỏi trại, tôi trông thấy những người tù đang lao động trên những cánh đồng, thân thể hao gầy, áo quần tơi tả… Lòng tôi nặng trĩu đau buồn, thương cảm cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa, vì bảo vệ miền Nam mà phải chịu đòn trả thù tàn bạo của cộng sản.


72 Chiều chiều xa trông đàn énKiếm mồi thấp thoáng bay nhanh………Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đâyVẫn giếng nước sâu bên cầuTìm trăng, trăng vướng dây gầuAnh ở đây, ngày ngày bên trong rào sắtHận thù ưu tư chồng chấtGiữa lòng núi cũ sông xưa…..”(“Anh ở đây”, bản nhạc do nhạc sĩ Thục Vũ, tức Trung Tá Vũ Văn Sâm sáng tác trong trại tù, ông chết trong trại tù Sơn La tháng 6, 1976.)


Nỗi Buồn Cuối Đời Nỗi Buồn Cuối Đời của Một Người Lính Già Lưu Lạc.(Đặc biệt xin gởi tặng Song Vũ cùng các chị Phụ Nữ Lâm Viên.)Dạo sau này, anh không thường gọi tôi để hàn huyên như những năm trước. Ở cái tuổi trên 80, chồng chất bao nỗi đau buồn từ sau ngày gãy súng, tan hàng, tù tội, ly hương, rồi trải qua bao nhân tình thế thái, mới đây lại phải chứng kiến cảnh chiến hữu, huynh đệ đồng môn, chỉ vì có chút bất đồng mà nặng lời nhau, rồi quay lưng, chia ba xẻ bảy, nỗi chán chường càng đè nặng trong lòng, cộng thêm một vài chứng bệnh tuổi già, làm cho anh không còn thiết tha một điều gì nữa. Nói chuyện với anh, tôi cũng trở nên dè dặt, chỉ nghe giọng nói để đoán anh đang vui hay buồn và không dám nhắc lại những biến cố nào có thể làm vết thương trong lòng anh nhói đau trở lại, dù biết anh vẫn luôn quí mến tôi như ngày xưa, cả một thời cùng vui buồn, sống chết bên nhau. Đặc biệt, chúng tôi ở cạnh nhau trong khu cư xá của đơn vị, nên hai gia đình lại càng thân tình, gắn bó. Sau này trở thành cấp chỉ huy trực tiếp của tôi, nhưng lúc nào anh cũng xem tôi như một đứa em hay người bạn nhỏ. Anh lớn hơn tôi đúng ba tuổi. Lúc ấy chúng tôi đều còn khá trẻ, cả hai vừa mới có hai đứa con đầu. Vợ anh cũng lớn hơn vợ tôi năm, sáu tuổi, là người đàn bà


74 Buổi sáng ngày 6 tháng 12 năm 2023, đang giữa mùa Đông, ngoài trời mưa lạnh, tôi thức dậy sớm nhưng vẫn còn trùm chăn nằm nán trên giường. Nghe tiếng điện thoại reo, nhìn trên mặt điện thoại, đồng hồ chỉ 6 giờ kém 15 phút và tên anh hiện ra, tôi nghĩ chắc phải có điều gì đặc biệt lắm anh mới gọi vào giờ này. Tôi ngần ngừ với một chút lo âu và nghe giọng nói đầy cảm xúc:- Bà xã anh vừa mới mất. Anh báo tin em biết.Dù đã đoán trước có điều không lành, nhưng tôi vẫn mất chút bình tĩnh, khựng lại giây lát rồi buột miệng:- Chị mất lúc nào, anh?- Mới sáng sớm hôm nay, Khoảng 2 giờ trước.Hình dung đến hình ảnh của anh chị trong lần vợ chồng tôi NT Ngô Như Khuê - K12, đại diện các CSVSQ tại Bắc California đang tham dự tang lễ, chia buồn cùng tang quyến.


Nỗi Buồn Cuối Đời Anh cố gắng giữ gìn sức khỏe để lo cho chị.Hai hôm sau tôi mới gọi lại để được nghe anh nói về nguyên nhân của sự ra đi của chị và chương trình dự trù cho ngày tang lễ.Sáng ngày 26.12.2023, cùng vài người bạn cùng đơn vị xưa, từ nhiều nơi, chúng tôi có mặt tại Oak Hill Memorial Park ở thành phố San Jose để tiễn đưa chị về cõi vô cùng và trực tiếp nói lời phân ưu đến anh cùng các cháu.Đứng bên di ảnh của chị đặt phía trước quan tài, đầu bịt khăn tang trắng, trông anh thật tiều tụy, làm chúng tôi đau xót, nghẹn lời. Định tâm tình với anh nhiều điều nhưng rồi cũng chỉ thốt được đôi câu trong nghẹn ngào, nước mắt. Anh đứng bất động, tôi có cảm giác như đang nhìn thấy được bao đau đớn, xót xa đang tràn ngập trong lòng anh. Anh hướng về phía chúng tôi, nhưng chắc trong sâu thẳm từ ký ức, anh đang hình dung đến chị, với cả một đời hy sinh, thua thiệt, đặc biệt khi chồng mình bất ngờ trở thành người bại trận, tù tội oan khiên, và chị cùng các con cũng trở thành nạn nhân trả thù hèn hạ của đám người thắng trận.Tháng 9 năm 1983, tôi ra tù trước anh. Trước khi về quê ở miền Trung tôi ghé vội lại Sài gòn tìm thăm chị và các cháu. Sau nhiều năm nên trí nhớ khá mơ hồ, nhưng rồi tôi cũng tìm đến đúng nhà của anh chị. Một ngôi nhà nhỏ trong khu Khánh Hội, bên kia cầu Calmette, mà bà cụ, mẹ anh đã để lại sau lúc qui tiên. Cửa đóng. Tôi gõ nhẹ, ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà lạ bước ra, nói giọng Bắc rất khó nghe. Tôi bảo đến tìm thăm bà chị, nhưng không ngờ nhà đã đổi chủ. Người đàn bà lắc đầu, nhưng lại bảo mẹ con bà ấy vẫn còn ở đây, và chỉ tôi xuống cái chái bếp phía sau nhà. Tôi ngỡ ngàng khi trông


76 nhờ mấy đứa con còn quá nhỏ!”Mồ côi cha khá sớm. Năm 1954, gia đình anh kẹt lại miền Bắc. Mãi đến năm 1957, anh cùng mẹ và cậu em trai mới rời quê Hải Phòng, theo một vài người bà con, vượt biển vào Nam bằng chiêc thuyền buồm. Khi đền Quảng Bình, tưởng đã qua khỏi sông Bến Hải, cặp vào bờ thì bị bắt. Nhờ sự khôn khéo của mẹ, cả ba mẹ con được thả sớm. Năm sau mẹ lại quyết tâm đưa các con ra đi lần nữa, và lần này may mắn đã đến Cửa Việt. Ba mẹ con được sắp xếp tạm cư ở thành phố Huế. Anh tiếp tục đến trường. Cậu học trò vừa tròn 18 gặp cô học trò hàng xóm, nhỏ hơn mình một tuổi, từ xứ Quảng ra Huế trọ học ở nhà bà chị có chồng làm công chức. Thấy cô bé xinh xắn dễ thương nên chàng trai Hải Phòng đem lòng cảm mến, chứ khi ấy cả hai còn đi học nên đâu dám tính chuyện yêu đương. Nhưng chỉ hơn một năm sau, vì không thuận tiện cho việc sinh nhai, bà mẹ lại dẫn hai con vào Sài Gòn tái nghiệp. Thời ấy phượng tiện liên lạc khó khăn nên hai người mất tin nhau. Sau khi đậu tú tài, anh tình nguyện vào Khóa 17 Trường Võ Bị Đà Lạt. Ngày nhập học, anh bất ngờ gặp lại một người bạn học cùng xóm cũ lúc còn ở Huế, và bất ngờ hơn khi nghe anh bạn cùng khóa này nhắc tới cô bé học trò xứ Quảng ngày xưa, bảo “con bé bây giờ xinh lắm” rồi cho địa chỉ khuyên anh nên viết thư thăm, “mi cố giữ đừng để mất con bé này, uổng lắm!” Người bạn đồng môn ấy sau này là Đại Tá Võ Toàn, đã ra đi trong những giờ phút cuối cùng theo vận nước.Nhờ người bạn này mà anh gặp lại người xưa. Rồi theo tiếng gọi của con tim, chị rời miền Trung vào Sài Gòn trọ học ở nhà một bà chị khác có chồng đang là Trưởng Ty Cảnh Sát Gia Định. Anh ghé thăm trong bộ quân phục SVSQ khi về thủ đô tham dự cuộc diễn hành nhân ngày Quốc Khánh 26.10


Nỗi Buồn Cuối Đời đầu cuộc đời làm người vợ lính. Đơn vị anh hành quân quanh vùng Mỹ Tho, Kiến Phong, Hậu Nghĩa, Bình Dương… Thời gian hạnh phúc ngắn ngủi của chị là những lần anh trở về vội vã sau các cuộc hành quân, để sau đó là những ngày đêm triền miên nhớ nhung, lo âu, cầu nguyện. Sau khi sanh đứa con đầu lòng, theo lời khuyên của mẹ chồng, chị bồng con theo anh từ đó. Hết miền Tây sông nước, đến miền Trung nắng gió, rồi cuối cùng là Cao Nguyên bụi đỏ, mưa mùa. Sống trong các trại gia binh, chia sớt khổ nhọc lo âu cùng với vợ con đồng đội đang chiến đấu với chồng mình. Cũng lại xa vắng, đợi chờ và cầu nguyện theo bước chân chồng trong các cuộc hành quân, và lo âu, đau đớn mỗi lần trong trại gia binh có thêm những vành tang trắng.Anh làm đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng rồi trung đoàn phó cho một đơn vị tác chiến lưu động, đêm ngày sống chết cùng đồng đội anh em. Lần điều động đơn vị tạo được nhiều chiến công hiễn hách trong trận chiến Mùa Hè 1972 tại chiến trường ngập đầy khói lửa Kontum, anh được thăng cấp đặc cách và lên nắm trung đoàn. Trước kia, khi cuộc chiến chưa khốc liệt thì đơn vị có khá nhiều thời gian sinh hoạt tại bản doanh, các vị trung đoàn trưởng có nhiều thời gian hơn để sống yên ả bên gia đình, nhưng giờ thì cả trung đoàn miệt mài nơi trận tuyến SVSQ Võ Toàn – SVSQ Ngô


78 ký Hiệp Định Paris quái đản vào cuối tháng 1/1973, cắt giảm gần hết viện trợ quân sự cho đồng minh VNCH, người chỉ huy như bị trói cả hai tay, đau đớn nhìn đồng đội phải chiến đấu trong cam go thiếu thốn. Đạn dược, phương tiện, Không yểm bị hạn chế tối đa, cấp chỉ huy lại càng đau đớn hơn khi em út phải hy sinh ngày một nhiều hơn trong tức tưởi.Trong mấy năm đi tìm chiến thắng tại các chiến trường khốc liệt Tây Nguyên này, anh đã mất khá nhiều những đàn em, những sĩ quan niên đệ và cả những người lính trung thành, từng bao năm cùng bên nhau sống chết mà anh hết lòng yêu thương, tin cậy, xem như anh em trong một đại gia đình. Giờ mỗi lúc nhìn lại đơn vị với nhiều khuôn mặt mới, anh cảm thấy buồn, xót xa vô hạn. Ngay từ thời điểm ấy, mỗi khi hai anh em có dịp ngồi tâm tình, anh đã buồn bã nhìn ra viễn cảnh bất hạnh, đau buồn về số phận những người lính chúng tôi cùng với cả quê hương đất nước. Dù vậy, anh vẫn âm thầm, kiên định một lòng chiến đấu bên cạnh đồng đội cho đến giờ phút cuối cùng. Trong giờ khắc tuyệt vọng nhất, đôi lần anh thoáng nghĩ đến cái chết, nhưng lại không đành lòng khi nhớ tới vợ con.Ngày 11.3.1975 Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Trại gia binh trở nên bất an. Những người vợ lính vừa lo lắng cho sự an nguy của con cái vừa lo lắng cho chồng, không biết thân phận mình rồi sẽ ra sao. Được tin cả trung đoàn sẽ trở về tái chiếm Ban Mê Thuột, những người vợ lính lại thấp thỏm lo âu. Họ cũng có ít nhiều hiểu biết về kẻ thù và tìm cách cách đối phó. Họ nghĩ, sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, chắc chắn Cộng quân sẽ cô lập và cho người trà trộn vào trại gia binh để theo dõi tin tức, tình hình, và cũng có thể có cả nội tuyến. Có thể bọn họ biết anh đang chỉ huy đại đơn vị trở về tái chiếm, nên


Nỗi Buồn Cuối Đời đến nhà thì Sài gòn đã nằm trong tay giặc. Sau này, có dịp gặp lại vợ của một số hạ sĩ quan và binh sĩ, tôi rất cảm kích khi nghe họ kể về lòng kính quí mà họ đã dành cho chị, vì chị sống rất bình dị, thân thiện và luôn giúp đỡ mọi người, cho dù chồng chị đang là cấp chỉ huy của trên dưới ba ngàn quân sĩ dưới quyền. Họ còn biết anh là một cấp chỉ huy trẻ tài lược và liêm khiết, nên cuộc sống của mẹ con chị cũng rất bình dân, đạm bạc.Rồi hơn 13 năm anh bị tù đày, chị phải bươn chải từng ngày Trên phòng tuyến Tây Nam Pleiku đầu năm 1975. Từ trái Tổng Thống Thiệu, Thiếu Tướng Phú, Trung Tá Ngô Văn Xuân - Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44 Sư Đoàn 23 Bộ Binh (đội nón sắt), Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang - Phụ Tá Hành Quân Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và Thiếu Tướng Trần Văn Trung - Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.


80 lúc này, vậy mà nhà thơ Hồ Dzếnh đã vinh danh bằng mấy câu thơ để đời:Nếu chữ hy sinh có ở đờiTôi muốn nạm vàng muôn khổ cựcCho lòng cô gái Việt nam tươiNếu còn sống đến bây giờ, không biết ông nhà thơ sẽ nạm những gì cho xứng đáng với những người vợ lính miền Nam?Rồi anh cũng được trở về với tấm thân tiều tụy và một tương lai mờ mịt. May mắn nhờ có chương trình HO, anh đưa chị cùng các cháu, đau lòng rời bỏ quê hương cùng mồ mả mẹ cha để sang vùng đất hứa. Mang theo bao thương tích đang còn trên thân xác lẫn trong tâm hồn, với cái tuổi đã hơn nữa đời, người ta cũng chẵng dễ dàng gì để làm lại cuộc đời trên vùng đất lạ, lạ từ con người, ngôn ngữ, đến ẩm thực lẫn tập quán. Khi cố gắng hội nhập và lo cho các con tạm ổn định đời sống, học hành, thì tuổi già ập đến. Niềm vui vừa mới lóe lên thì nỗi buồn vì bệnh hoạn và những ký ức từ quá khứ trổi dậy, đau nhói trong lòng.Anh giải sầu bằng cách đọc sách, viết lách và nghiên cứu về thiền học. Niềm an ủi duy nhất là sự thành đạt của các cháu nội ngoại cùng tình huynh đệ đồng môn, chiến hữu. Anh thường bảo với tôi là, bọn mình đã mất hết giờ chỉ còn lại cái tình này. Nhưng rồi cách nay mấy năm, bất ngờ xảy ra chuyện bất hòa giữa những đồng môn mà anh từng xem trọng như anh em một nhà, giờ chia phe này nhóm nọ, một số còn nặng lời lên án, nhục mạ lẫn nhau, không còn biết anh em trên dưới.Sự kiện đau buồn này như một nhát dao cuối cùng chém vào tim óc vốn đã đớn đau già cỗi, làm anh muốn quỵ ngã. Có lần anh bảo nhỏ tôi:


Nỗi Buồn Cuối Đời con gái xinh đẹp xứ Quảng về làm vợ, anh đã trót nặng với lời thề quyết “không mưu cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”, để rồi khi “chí vẫn còn mong tiến bước mà sức thì không kham nổi đoạn đườngđời chị cũng phải vì anh, khổ lụy.Bây giờ chị đã ra đi, bỏ anh ở lại với sự cô đơn, cùng bao tiếc thương, trăn trở. Vết thương cũ trong lòng vẫn chưa lành, giờ rướm máu, đớn đau trở lại.Vốn là một Phật tử thuần thành, chắc chắn anh đã ngộ được cái nghĩa “sắc không” của lẽ vô thường, nhưng tôi biết là anh vẫn đang xót xa đau đớn lắm, bởi từ lý thuyết, kinh kệ tới cảm xúc thực tế luôn là một khoảng cách khá xa. Thương và nhớ anh, nhưng tôi không dám gọi, ngại phải khuấy động thêm những con sóng ngầm còn lại đâu đó trong lòng anh. Cần có một thời gian nhất định nào đó để anh có thể bình ổn được tâm hồn.Hình dung mai này, đặc biệt về đời sống tinh thần của anh sau ngày chị ra đi, lòng tôi bỗng lặng xuống khi nhớ tới một đoạn anh viết ở đâu đó trong “Sau Cơn Binh Lửađầu tay của anh, xuất bản trước đây đúng mười năm:“Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày tháng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt mình. Điều tự nhiên này, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghũa về cuộc đời của chính mình, thế hệ chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải…thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết?”


82 Đừng Thiếu Nhẫn Nguyễn Vĩnh Quang K19/2 Đừng thiếu nhẫn để bút sa gà chếtĐừng trực tính mà viết hết “nghĩ gì”Làm việc phải có nghĩ suyPhải luôn thận trọng khi ghi lời mìnhNhất là lời vô lễ, tối kỵHai là lời chỉ trích đúng saiAnh em đoàn kết nhưng haiCứ luôn chỉ trích mặc ai không cầnTình Võ Bị tình thân biết mấyMột vài vị “bất khuất” bỏ rơiTruyền thống làm thứ đồ chơiTrên nhường dưới nhịn, ra khơi chìm tàu!Sống làm sao còn những ngày gần cuốiTrước làm tròn lời thề núi non sơnVà luôn nuôi dưỡng cái ơnVài năm luyện tập chí hơn muôn ngườiCòn hãnh diện là sĩ quan ngày ấyPhải uốn mình trong khuôn khổ Trường xưaDù cho lúc nắng khi mưaNhưng không thay đổi, đong đưa theo mùa.


Giang Văn Minh - Uy Vũ Bất Năng Khuất Giang Văn Minh, Uy Vũ Bất Năng KhuNguyễn Minh Thanh, Khóa 22Trong bài Quá Linh Đinh Dương, Văn Thiên Tường có câu:“Nhân sinh tự cổ thùy vô tửLưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.”(Xưa nay ai sống mà không chếtHãy để lòng son rạng sử xanh.)Xin mượn hai câu thơ trên tán thưởng vÔng Giang Văn Minh, một tiền nhân lẫm liệt giữa triều đình phương Bắc uy nghi, đông đảo, quyền hành, hung hăng, mặc cảm tự tôn lẫn lộn tự ti.Sơ truyện: Giang Văn Minh (1573 - 1638) người Sơn Tây, Đường Lâm, cùng quê với vua Ngô Quyền. Ông đỗ ĐThám Hoa thời Lê Trung Hưng.Do đã đối đáp thẳng thắn trước triều đbị vua Minh là Sùng Trinh hành hình vtuổi. Sùng Trinh cũng là tên vua cuối cùng của Nhà Minh (1368–1644). Hắn ta bị địch vây hãm nguy kịch, treo cổ tự tử...Sau đây là Sử Truyện bi hùng về “Câu Chuyện Đ


84 ra câu đối.Người đời thường nói: Ra câu đối thì dễ - Câu đkhó ( Xuất đối dị - Đối đối nan ). Điều này cũng dễ hiểu thôi.Sùng Trinh xuất đối:- “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục.” (Trụ Đồng đến nay rêu vẫn xanh.)Giang Văn Minh đối lại: - “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng.”(Bạch Đằng thuở trước máu còn hồng.)1 - Hệ lụy với họa tòng khẩu xuất - 1638Tiếc thương thay đấng tài hoa đã mệnh chung nơi đất khách! Trước triều đình ngoại bang hống hách, kiêu mạn, Ông vẫn bình tâm tự tại với câu đối tuyệt vời, không thể nào hay hơn. Hậu sinh nghiêm mình kính ngưỡng qua mấy vGiang Văn MinhHệ Lụy Khẩu XuấSùng Trinh xuất đối rất nghênh ngôngĐối đối Giang Minh tuyệt tuyệt thông:“- Đồng trụ chí kim đài dĩ lục - Đằng Giang tự cổ huyết do hồng.”(Vua Minh hống hách ngôn xâm lượcSứ Việt hào hùng thuyết chiến côngMặc cảm Vua Minh trừ Sứ ViệtMuôn đời nguyền rủa sóng nghiêng song.)2 - Thiên Cổ Anh Hùng


Giang Văn Minh - Uy Vũ Bất Năng Khuất Tâm trung bình thản lời bình thảnTài trí tuyệt vời đối tuyệt vờiSứ Việt hạo nhiên câu đáp khéoVua Minh mặc cảm dạ sinh tồiThiên thu còn đó: Thơm và thốiHậu thế: Khen, chê... vạn vạn đời...!!Vế xuất là: - Đồng trụ chí kim đài dĩ lục.Vế đối là: - Đằng Giang tự cổ huyết do hồngVới tài ứng đối nhanh nhẹn, hoàn chỉnh, tuyệt hay, để nhlại chuyện:- Ngô Quyền đánh tan quân Nam Há- Lê Hoàn đánh tan quân Tống (981) v- Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên Mông (1288) trên sông Bạch Đằng,Trước câu đối khẳng khái tuyệt vời cuả Sứ Việt, lẽ ra trng. Thế mới là chính nhân quân tử. Trái lại, vua Minh tiểu nhân ti tiện. Hắn bừng bừng lửa giận quên mvương, ngạo mạn bang giao. Hắn đã trđường vào miệng và mắt Ông, rồi cho ngư“bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đếĐây là hành động cực kỳ cao ngạo, hèn htên vua Minh hiệu là Sùng Trinh....Thương tiếc Sứ Thần tài trí dũng cảTổ Quốc, khi đựơc đưa về, vua Lê Thần Tông đ


86 Lời Kết:Qua Sử truyện bi hùng của Thám Hoa Giang Văn Minh, người viết chợt nhớ câu Kiều:“ Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vSong, ở đây Giang Văn Minh không hề “cậy tài”, mà là “Uy vũ bất năng khuất”. Đây mới chính là:“Khí hạo nhiên chí đại chi cươngSo chính khí đã đầy trong trời đất.” (Nguy (Hạo nhiên chi khí: Khí khái chính đại - ĐDA)Trường hợp này, đồng thời gợi nhớ Sử Truyện bi hùng về Ông Ngô Thì Nhậm với tên Đặng Trần Thường. Thương thay, cảm phục Thay. Ô. cũng Uy vũ bất năng khuất . Ấy là:“- Tiền nhân khí phách trập trùng mây bay... cao vời vợi - Hậu bối tâm trung lác đác lá rơi... thấp là đà.”Trở lại truyện Giang Văn Minh. Ông chính là người tài trí hào hùng đởm lược lẫm liệt, trái với vua Minh là tên ngạo mạn hèn hạ đê tiện ác độc.Hậu sinh kính dâng câu đối tư“Thông minh dũng cảm hàm ý vũ uy tâm bất khuất Trí tuệ biện tài chính ngôn cô thế khí hạo nhiên.”Câu đối dành cho tên vua Sùng Trinh:“ Ngạo mạn ác độc xú danh cao sơn... tồn vạn cổMặc cảm nham hiểm xuẩn động lưu thủy... tận thiên thu.”Nguyễn Minh Thanh kính bút. (Georgia, 1 tháng 3 năm 2024)


Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng TrịHuỳnh Văn Phú, Khóa 19IDÒNG SÔNG MỸ CHÁNHÐiều mà ít ai ngờ đến đã biến thành sự thực, một sự thực tàn khốc trong cuộc chiến tranh diệt chủng hiện tại. Ðó là việc Hà Nội công khai xua quân tràn qua con sông ngăn cách Bến Hải với hàng ngàn xe tăng, đại pháo 130 ly và hoả tiễn xâm lăng miền Nam. Và nếu chiến cuộc không bùng nổ lớn như thế, cái tên Mỹ Chánh cũng như bao nhiêu địa danh xa xôi khác trên phần đất khốn khổ này đã không trở thành quen thuộc với mọi người như hiện tại.Vào những ngày đầu tiên của tháng 4-1972 khi trận chiến bùng lên dữ dội, các căn cứ hoả lực của ta nằm dọc theo khu phi quân sự bị thất thủ. Dầu vậy, sinh hoạt ở Mỹ Chánh vẫn bình thường. Người ta vẫn tấp nập đi đi về về, và dòng nước vẫn lặng lờ chảy ra Phá Tam Giang. Cũng không ai có thể nghĩ rằng một tháng sau đó, con sông Mỹ Chánh đã đi vào huyền sử đấu tranh của dân tộc.Bây giờ thì bất kỳ người lính Thủy Quân Lục Chiến nào cũng có quyền hãnh diện khi nhắc đến địa danh Mỹ Chánh. Nơi đây gót giày xâm lăng của quân cộng sản đã chùn bước


88 trường hợp nào mà con sông Mỹ Chánh trở thành phòng tuyến bảo vệ cố đô Huế từ sau cuộc lui binh của Sư Đoàn 3 Bộ Binh ra khỏi tỉnh Quảng Trị ngày 1 tháng 5 năm 1972 cùng những diễn biến tổng quát, và những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã chiến đấu như thế nào để giữ vững phòng tuyến này.Ngày 15 tháng 4 tôi từ giã Sài Gòn ra đơn vị trong khi học “nửa chừng” khoá học “điều chỉnh” rất ư là “Cultivateur” tại trường Bộ Binh Thủ Ðức, một quân trường mà buổi sáng ngủ dậy đã có gánh hàng rong bán bánh cuốn, bún riêu la ơi ới ở đầu đường, buổi trưa thì đậu hủ và chè cháo loạn xạ. Khoảng thời gian này, từ ngày 10 tháng 4 đến 30 tháng 4 năm 1972, Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến với các Tiểu Đoàn 3, Tiểu Đoàn 5, Tiểu Đoàn 7, và Tiểu Đoàn 9 Thủy Quân Lục Chiến đang hoạt động ở phía Tây và Tây Bắc Mỹ Chánh trong một khu vực rộng chừng 200 cây số vuông gồm các căn cứ Nancy, căn cứ Barbara, và căn cứ Ðộng Ông Ðô nhằm ngăn chặn sự Càu xe lửa Mỹ Chánh. Một binh sĩ TQLC đang gác một bên cầu. Bên kia là VC, 1972.


Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị đường ray xe lửa.Gần một tháng trời chịu trách nhiệm khu vực trên, các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến đã chiến đấu trong những hoàn cảnh khó khăn gian khổ. Hàng ngày chạm địch liên miên từ cấp Tiểu Đoàn trở lên, đại pháo 130 ly của địch nã như mưa bấc, mọi công tác tải thương đều phải di chuyển bằng đường bộ, khiêng hoặc cáng đi trên một quãng đường dài gần 10 cây số đường núi vì trực thăng không có. Nhưng dù thế nào mặc lòng, các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến cũng đã chiến đấu hăng say trong hoàn cảnh eo hẹp đó và mọi cố gắng của địch tiến quân ra vùng đồng bằng thuộc quận Hải Lăng đều bị chặn đứng hoàn toàn.Vì ai cũng hiểu rằng nếu để địch xâm nhập thì Quảng Trị bị cô lập ngay và Quốc Lộ 1 bị cắt đứt. Do đó địch quân cay cú, hằng ngày chúng gia tăng pháo kích các đơn vị của ta. Các pháo đội của Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Thủy Quân Lục Chiến phải thay đổi vị trí đặt súng ngày một, nhưng di chuyển đi đâu cũng đều bị chúng pháo theo. Tiền sát viên của địch bám rất sát mọi sự xê dịch, di chuyển của ta. Lâu lâu quân ta bắt được một vài tên có máy móc vô tuyến đàng hoàng, nhưng cường độ pháo kích của địch vẫn không hề suy giảm.Tôi đã từng nghe những tiếng nổ, tiếng rít của các loại hoả tiễn 122 ly, 240 ly, nhưng lần này tiếng rít xé gió đi trong không khí cũng như tiếng nổ của loại đại bác 130 ly (bắn xa 27 cây số do Nga-Sô chế tạo) nghe thật khiếp. Nghe tiếng rít xé gió bay qua đầu, tôi có cảm tưởng như là tiếng phản lực bay trên trời. Rồi tiếp theo là tiếng nổ thật lớn nhưng ấm, mảnh văng tung toé rơi trên những mái nhà tôn như có ai lấy thật nhiều đá ném lên. Mảnh nào mảnh nấy to bằng cái chén và văng ra xa trong vòng bán kính 200 thước. Chẳng có ai biết


90 Thường thì chúng cứ bắn hai quả một. Lính tráng hễ nghe hai tiếng départ ùng ùng thì la to “Một cặp” đó các anh em ơi! Thế là mọi người chui lẹ vào hầm. Ðịch bớt pháo kích thì chui ra. Cứ chui ra chui vào như thế suốt ngày. Cái hoạt cảnh lên hầm xuống hầm có lẽ tôi chẳng bao giờ quên được, nhứt là khi một mảnh đạn văng rơi trên cái mũ sắt của tôi đánh cồng một tiếng như tiếng chuông chùa. Ôi ta thương cái mũ sắt biết chừng nào! Có hôm mấy trăm quả nã vào đơn vị của tôi. Ôi thôi, tơi bời hoa lá nhưng khi kiểm điểm lại thì chỉ có một chết và ba bị thương vì đạn rớt trúng ngay hầm. Giữa lúc bị pháo kích, ai nấy ở trong hầm tinh thần căng thẳng nhưng khi nghe một quả bị rớt không nổ thì mọi người lại vỗ tay cười.Tôi cũng không biết họ nghĩ sao mà lại cười như thế, có lẽ cười vì cái khôi hài của chiến tranh tự nhiên khi không bắn giết nhau. Riêng tôi thì tôi thương cái hầm của tôi hết sức, TQLC đang củng cố hệ tống giao thông hào bên này sông Mỹ Chánh, 1972


Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị buông xuôi cũng trở về với ba thước đất. Trên cõi đời ô trọc và buồn phiền này có gì tồn tại hơn là đất cát. Và đó có lẽ là cái ý nghĩa sau cùng của con người, nhưng buồn thay không mấy ai để ý đến, chỉ lo đi tìm những cái ảo ảnh, danh vọng để lừa dối, phản bội và bắn giết nhau.HÀNH LANG MÁU.Khoảng thời gian đó, ngày cũng như đêm đối với tôi thật dài. Ngày thì nóng, nóng tàn nhẫn. Trời không một cơn gió. Mồ hôi vã ra như tắm. Bên tai lúc nào cũng nghe tiếng súng, tiếng pháo binh của ta và tiếng pháo kích của địch xen lẫn những tiếng súng nhỏ của các đơn vị đang đụng độ. Ban đêm thì trời trong, sao giăng mắc. Chùm Ðại Hùng Tinh với ngôi sao Bắc Ðẩu in rõ trên nền trời. Còn chùm sao Hiệp Sĩ nữa, cả hai đều chỉ về phương Bắc, nơi đó thành phố Quảng Trị đang cố đẩy lui các cuộc tiến công của cộng quân. Hoả châu thả sáng đầy trời, thỉnh thoảng ở phía Ðông những lằn lửa xẹt lên ngang bầu trời rồi vụt tắt. Có lẽ đó là Hải Pháo đang bắn đi từ ngoài biển. Đôi khi tôi cũng thấy những cụm lửa thật to của chiếc hoả tiễn SAM của địch bắn lên các phi cơ.Cho đến giờ phút đó, phòng tuyến ở phía Tây Mỹ Chánh do Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ vẫn vững như bàn thạch. Và không một ai nghĩ rằng Quảng Trị sẽ bị thất thủ cả. Nhưng đùng một cái, trong các ngày 28, 29 và 30-4, cộng quân pháo kích dữ dội vào thành phố Quảng Trị. Thế là dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau chạy đi về Huế lánh nạn. Không thể nào kể hết những thảm cảnh của đám dân chạy nạn đó.Trong hai ngày 29 và 30 tháng 4, trên quãng đường dài từ Quảng Trị đến Mỹ Chánh, người ta đi chen chúc nhau chật cả Quốc lộ từ sáng đến chiều vẫn chưa dứt. Thôi thì đủ các loại


92 thở; đàng kia là một người đàn bà gánh đôi thúng, trên đó một em bé chừng 4 tuổi đang vốc cơm ăn ngon lành.Chỗ khác, hết cả một gia đình đang ra sức đẩy một cái xe bò chất đủ thứ áo quần, bàn ghế và một con heo nằm co quắp ở phía trước. Một ông già, hình như là chủ gia đình, đang kéo chiếc xe một cách mệt nhọc. Chiếc máy ảnh cầm trên tay, tôi đến trước mặt ông và bấm một “bô”. Ông cố nở một nụ cười đau khổ. Không biết ông cười vì được chụp ảnh hay cười vì cảnh đời dâu bể này? Và trong ánh nắng hoàng hôn của ngày 29-4, một bà già có tật đang khấp khểnh đi nhờ chiếc gậy trên tay, cái bóng đổ dài trên mặt đường. Bà ta đi chừng mười bước thì lại dừng. Xa hơn một chút, một ông già và hai cháu nhỏ đang ngồi thở dốc trên vệ đường.Ngay trước vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến, các anh chiến sĩ đem mấy thùng nước ra để bên đường cho dân uống. Có anh đem cả phần gạo sấy của mình chia cho những gia đình đang đói lả. Dù sao, đây cũng là những người còn được ít nhiều may mắn vì đã vượt về đến Mỹ Chánh. Một số lớn dân chúng bị kẹt trong vùng giao tranh giữa ta và địch tại cây cầu Bến Ðá, sáu cây số Bắc Mỹ Chánh. Ðó là khoảng đường “hành lang máu” của hàng ngàn dân vô tội chết oan trong khi đi lánh nạn. Lợi dụng một lỗ hổng nhỏ do việc rút quân của Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến để đi ra tăng cường mặt trận Quảng Trị, cộng quân đã xâm nhập được cây cầu Bến Ðá và từ đó chận đốt những đoàn xe chở dân chúng cũng như bắn giết dân chạy nạn không tiếc tay.Dân chúng đang đi trên đường thì bị hàng loạt đại bác 130 ly ngã ra chết. Những cái chết vô lý bủa chụp xuống đời họ như những nỗi kinh hoàng. Họ có biết gì đâu. Có cả một chiếc xe bị bắn lật nhào xuống hố kéo theo 30 mạng người và cái hố


Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị giải tỏa tất cả sự nghiệp của mọi người trở về hai bàn tay trắng.Những hình ảnh đó, có lẽ suốt đời tôi không thể nào quên được. Mỗi ngày, tôi từ vị trí đóng quân ra ngồi trên con đường sắt, con đường mà ngày xưa xe lửa đã chạy ra đến Hà Nội, nhìn đám dân lũ lượt kéo nhau đi mà trong lòng nghe chua xót. Tôi cố tìm trong đám người đi đó xem có ai quen thuộc không, nhưng không, không có ai cả. Tôi muốn chia sẻ những nỗi khổ đau với họ nhưng tôi đã hoàn toàn bất lực.IITháng 5-1972, Thủy Quân Lục Chiến là hy vọng cuối cùng của Quân Đoàn I. Cộng quân đã vượt Hải Lăng áp sát sông Mỹ Chánh. Trong chưa đầy một tháng tin tức chiến trường ập xuống như bão lửa. Cồn Thiên, Khe Gió, Ba Hô, Gio Linh, Cửa Việt đồng loạt thất thủ. Tồi tệ hơn nữa, Trung Tá Phạm Văn Đính, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 56 Việt Nam Cộng Hoà mà về sau thành Trung Tá Việt cộng, đầu hàng tại Camp Carroll. Mất tấm khiên chắn phía Tây, Sư Đoàn 3 Bộ Binh không thể giữ Đông Hà và Ái Tử.Với dân Thừa Thiên, an nguy trao hết cho người lính mũ xanh. Phần bút ký tiếp theo của Thiếu Tá Huỳnh Văn Phú ghi lại những ngày này.BÊN NÀY SÔNG, BÊN KIA SÔNGGiữa đoàn người đi hỗn độn đó, Tiểu Đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến tung quân lên cầu Ðập Ðá để giải vây áp lực địch. Tại đây, Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến khi đi tăng cường cho mặt trận Bắc Quảng Trị vẫn còn bị kẹt lại hai đại đội ở khúc đường này. Hai đơn vị phối hợp nhau đánh bật địch quân về phía Tây. Cuộc giao tranh kéo dài suốt ngày, các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã thanh toán hết các phần tử địch vừa


94 thành phố di chuyển về Nam. Cuộc lui binh mà trước đó mấy ngày ít ai nghĩ đến đã thành sự thật. Tình hình bây giờ đổi khác, Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến trở thành tuyến đầu ngăn chặn địch tại Mỹ Chánh, không còn một đơn vị bạn nào khác nữa.Bám sát các cánh quân của ta vừa di tản chiến thuật ra khỏi tỉnh Quảng Trị, cộng quân lần tiến theo cho đến quận Hải Lăng. Tại đây, các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến một mặt “tiếp rước” các đơn vị bạn từ Bắc xuống, mặt khác cố đánh bật địch dội ngược trở lên. Nội trong buổi sáng ngày 1 tháng 5, Tiểu Đoàn 9 Thủy Quân Lục Chiến đã dùng súng M72 hạ một lúc chín xe tăng T54 của Bắc Việt chặn đứng hoàn toàn sức tiến của địch. Tiểu Đoàn 9 và Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến đã quần thảo với địch suốt trong ngày dài nhất đó với một mục đích duy nhứt: Không cho chúng tiến thêm một tấc đất nào nữa kể từ khu vực này.Xe tăng của một đơn vị Thiết Giáp tại Quảng Trị, 1972.


Phòng Thủ Mỹ Chánh - Quảng Trị Thủy Quân Lục Chiến kiên trì chận đứng được địch quân tại Mỹ Chánh giữa cơn ngặt nghèo đó thì không biết chiến trường trong những ngày kế tiếp sẽ diễn biến ra sao và đến đâu. Một Nguyễn Kim Ðể của Tiểu Đoàn 9, một Nguyễn Xuân Phúc của Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến tại mặt trận Mỹ Chánh ngày 1 tháng 5 cũng như một Ðỗ Hữu Tùng của Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến trong trận “xa chiến lớn” tại căn cứ Phượng Hoàng ngày 9 tháng 4 là những Đơn Vị Trưởng đã góp công không nhỏ trên chiến trường Trị Thiên suốt 60 ngày chiến đấu đẫm máu.Họ là những sĩ quan có đầy đủ kích thước, tài ba và mưu lược để chỉ huy những đơn vị cỡ trung cấp. Ðại Tá Phạm Văn Chung, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 369, người chỉ huy trận đánh và đơn phương quyết định phải ngay tức khắc chận địch tại tuyến Mỹ Chánh cũng đã không tiếc lời khen ngợi hai đơn vị nói trên. (Bây giờ Ðại Tá Chung về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến làm Tham Mưu Trưởng Hành Quân, Trung Tá Nguyễn Thế Lương thay thế.)Buổi chiều, khi tôi rời Mỹ Chánh để về đóng quân tại Phong Ðiền, ánh nắng vàng vọt buồn bã ngả dài trên những dãy núi phía Tây lỗ chỗ những vệt xanh vệt trắng. Nhà cửa hai bên đường không một bóng người, quang cảnh thật thê lương. Ðã nhiều lần tôi bắt gặp lòng mình lắng sâu trong cảnh vật bởi tôi đã đi trên cái hoang vắng đó. Trên con đường nhựa duy nhứt một ông già với chiếc bị da đã ngả màu trên vai, đi âm thầm trong ánh nắng hoàng hôn sắp tắt.Ông già đã đi giữa buổi hoàng hôn của cuộc đời và hoàng hôn của đất trời. Nhưng ai biết được ông đi về đâu? Tôi quay về phía sau, bóng những người lính in lên trên nền trời đang dần dần đổi sang màu đen của bóng đêm. Xa hơn, về phía Bắc


96 được nữa.Và cái chuyện Bên Kia Giáo Ðường của tôi cũng tan thành mây khói, không biết đến bao giờ mới xong vì nhân vật chính đã phiêu bạt ở phương nào rồi. Tôi cũng ước mong được trở lại căn nhà mà tôi đã trú đóng bên kia sông Mỹ Chánh, không biết để làm gì, vì nơi đó không phải là quê hương của tôi nhưng tôi mong muốn như thế, sớm hơn. Niềm mong ước đó cũng giống như hàng vạn người dân Quảng Trị mong sớm được nhìn về dòng sông Thạch Hãn của họ. Nhưng tôi tin chắc rằng niềm mong ước của họ lớn lao hơn, to tát hơn. Trong buổi chiều đó, khi đi ngang qua cây cầu, tôi đã “tức cảnh sinh tình” và rất lẩn thẩn “mần” ra mấy câu “thi” thuộc loại dị tự do, dạng khôi hài mà chỉ có những đại thi sĩ cỡ “khều mặt trời” mới mần ra nổi.Bài thơ như sau: Tôi ở bên này sông Mỹ Chánh Anh ở bên kia sông Đứng bên này sông Nhìn thấy bên kia Đứng ở bên kia Trông thấy bên này Nhìn thấy cả hai bên Lặn xuống nước Chả trông thấy bên nào cả!


Không Gian Vương Dấu Giày Không Gian Vương Dấu Giầy.Kathy Tran, Khóa 12/2Từng cánh lại từng cánh,Hoa dù nở trong mây.Hồn tôi ai chấp cánh?Không gian vương dấu giầy.Huy về binh chủng Nhẩy Dù với đầy đủ hành trang của người sĩ quan được đào luyện từ trường Võ Bị: quốc - Danh dự - Trách nhiệm và hơn nữa Huy yêu binh chủng Nhẩy Dù như Huy yêu quê hương, đất nước. Vào Nhẩy hương thứ hai mà chàng yêu dấu sau Hà Nội. Vào Nhẩy Dù, Huy và các bạn ôm ấp giấc mộng ngày thống nhất Bắc, Nam. Nhẩy Dù sẽ là đoàn quân đầu tiên tiến chiếm lại Gia Lâm, Hà Nội mà trong đó Huy nghĩ có chàng. Hà Nội là quê hương mộng tưởng thời thơ ấu mà chàng phải rời xa ngay khi tuổi thơ mộng bắt đầu nên chàng hằng ước ao ngày trở lại. Ngày đó không gian chắc chắn phải vương dấu giầy của những chàng trai mũ đỏ. Huy biết chàng sẽ phải


98 chàng nghĩ đó có thể chỉ là một cách “luyện thép”thấy những sĩ quan trẻ trong đó có chàng quá tự tin, hăng hái đến thành liều lĩnh nên người chỉ huy muốn hăng hái quá mức của họ để bảo vệ sinh mạng, để xây dựng kinh nghiệm cho họ, để tạo uy tín và kỷ luật cho binh chủng và để xây dựng một lực lượng sĩ quan chỉ huy ưu-tú trong tương lai. Nhẩy Dù là một binh chủng rất kỷ luật, đôi khi Huy thấy quá lố. Có lúc Huy ngượng khi có người lính run tay lúc chàng bắt tay họ vì họ tự thấy mình thấp thỏi quá. Huy nghĩ họ mới là những người đáng quý, họ hy sinh không điều kiện, chiến đấu hiên ngang, không e sợ khi chạm mặt tử thần và không bao giờ nghĩ là họ đang hy sinh cho đất nước mà chỉ nghĩ rất giản dị: Ðó là bổn phận của người lính. Chàng thương họ như thương anh em, còn hơn nữa vì cùng trung đội với nhau, họ gắn chặt với chàng, chia xẻ nhau cả định mệnh, sống chết. Khi Huy về Nhẩy Dù, chàng được làm sĩ quan phụ tá cho ông ...Thượng Sĩ Nhất Trung Đội vì Huy chưa học lớp huấn luyện về Nhẩy dù! Huy thở dài vì nản chí anh hùng khi đọc danh sách quân nhân: Nùng, Miên, Chàm, Tàu... Lính nói đủ mọi thứ tiếng kể cả tiếng... Tây! Việt Nam chỉ hơn một nửa. Trung đội là của mình nên chàng cố gắng tìm hiểu tính tình, hoàn cảnh của từng anh em trong trung đội. Huy nói với Trung Úy Kim, Ðại Đội Trưởng của chàng:- Số tôi chắc khá lắm, Trung Úy. - Sao vậy anh?- Mới ra mà tôi đã chỉ huy toàn quân Trung Úy thấy không?


Không Gian Vương Dấu Giày thằng nói được tiếng Tây, phần còn lại nói tiếng Việt. Anh sẽ học được nhiều ngôn ngữ mới nữa. Huy bật cười:- Thế lúc đụng trận, tụi nó nói tiếng gì, Trung Úy? - Ðủ thứ hết nhưng đừng lo, trung đội anh là một trong những trung đội sáng giá đấy. Trong khi Huy tìm hiểu về anh em trong trung đội thì họ cũng tìm hiểu về chàng! Thấy tướng ông thiếu úy “ngon” quá, lại là Sĩ Quan Thủ-Khoa Ðà Lạt, lính đã nể sẵn. Khi cần Huy xổ tiếng Tây ra và đối đãi đàng hoàng với lính thì họ khoái chí và hãnh diện lắm, chỉ chờ dịp coi “Ðích Thân”diễn một màn ngoạn mục” là sẵn sàng sống chết với chàng. Chàng “ra mắt” binh sĩ lúc chính thức nắm Trung Đội Trưởng ở giữa chiến khu D. Trung đội chàng được giao trách nhiệm từ Tân Uyên tới trại cùi Bến Sắn. Một buổi chiều, đi tuần tiễu về thì lương tới. Thượng sĩ Nghi đề nghị: - Thiếu úy khao anh em một chầu đi, thiếu úy. Huy nghĩ rất nhanh: “Bọn nó thử lửa mình đây. Rồi, chúng mày muốn thử thì “Thiếu Úy” cho thử.


Click to View FlipBook Version