100 - Chừng ba bốn thằng thôi, đừng cho mang súng.- Không cho mang súng rủi gặp Vẹm thì sao, thiếu úy? - Mang súng theo, mất súng lấy mạng đền à? Cho mỗi thằng đem theo mấy trái “na”, có gì thì thẩy cho lẹ rồi dọt về. Huy móc túi đưa cho ông Nghi một phần xấp lương thiếu úy vừa lãnh còn nóng hổi của chàng. Mấy chơi” của Huy đi khoảng ba tiếng, tha về không biết bao nhiêu là rượu đựng trong những bi-đông (1) sắt thu dụng của bạn bè trong đơn vị, cộng thêm cả đống “mồi” Huy thở phào nhẹ nhõm: “May không thằng nào việc gì.”Ngoài lính tiền đồn và canh gác, chàng cùng tất cả lính tráng bắt đầu nhập cuộc. Lính uống tới đâu, chàng đó và chàng không say!Tiếng thì thào: - Ðích thân mình coi “non” vậy mà... ngon à! - Ðích thân chịu chơi quá! Ðược, được ạ. - Nhẩy dù phải biết nhậu, phải chịu chơi chớ.Huy nghĩ thầm: “Phải cho tụi mày biết mặt “Ðích Thân” để lần sau tụi mày tởn.”Huy lầm lì uống... Mặt trời bắt đầu lặn, chói chang, gay gắt, đỏ rực một góc rừng nhưng cũng không thể đỏ hơn những khuôn mặt lính của chàng sau khi nốc hết bằng ấy bi-đông rượu với cả thúng “mồi”. Huy nhìn đồng hồ, dằn mạnh ly rượu vừa uống cạn xuống,
Không Gian Vương Dấu Giày Ðích... đích... thân! Thằng Bảy líu cả lưỡi: - Chiều rồi... Lạnh quá... Ðích thân, uống... rượu mà... tắm... chi... dz..ậy? Huy lạnh lùng: - Tắm cho tỉnh rượu để tối gác đàng hoàng, loạng quạng Việt Cộng nó vô xơi tái mình.Thượng sĩ Nghi nhe răng cười, vừa nấc cục vừa lè nhè: - Việt Cộng nào... dám vô đây?... Ðích thân? Mình... nhẩy... nhẩy... nhẩy... dù mà... Huy rút súng, lên cò, bắn tung chiếc bi-đông rượu bên cạnh ông Thượng sĩ:- Tất cả xuống suối. Ai còn nhậu, tôi bắn chết bỏ.Cả trung đội giật mình, líu ríu kéo xuống suối tắm trong cái lạnh giá của buổi chiều núi rừng.* * * Ở chiến khu D được vài tuần, đơn vị Huy được chuyển ra Phú Bổn. Rừng ở đây tương đối thưa, núi đồi thấp nên hy vọng đi hành quân sẽ đỡ cực hơn. Ðơn vị tới được hai ngày thì có lệnh hành quân. Trung Đội Huy đi đầu, Binh Nhất Khuê đeo máy truyền tin theo Huy sát nút. Áp dụng đúng bài học ở quân trường, Huy cho đơn vị mở đội hình thật cẩn thận rồi cả trung đội im lặng đi. Trung đội vừa vòng qua để tránh một trảng tranh. Bất chợt, một tràng súng nổ ran. Cành cây, lá cây bắn tung lên, khói súng mù mịt. Huy đứng sững người, chưa kịp có phản ứng! Những bài học
102 chiến! Tao ngộ chiến!”Lính đã tự động bung ra khỏi đội hình, tìm những vị trí thuận lợi bắn trả. Tiểu Ðội Trưởng Lan Vòng Ca líu lo tiếng Nùng, Thạch Ét và Danh Sum xổ tiếng Miên. Tiểu Đội Phó Vòng A Pẩu và thằng Trung xổ tiếng... Tàu! Ðủ mọi thứ tiếng lẫn trong tiếng... Việt và tiếng súng! Súng nổ nhiều quá, loạn xạ từ mọi phía! Huy vẫn đứng sững, chàng chưa biết phải làm gì. Lính tráng đã tràn lên chiếm các vị trí chiến thuật. Các Tiểu Đội Trưởng, Tiểu Đội Phó đang làm bổn phận chỉ huy của họ. Chợt chàng nghe tiếng Binh Nhất Khuê lập cập sát đằng sau: - Ðích Thân, Ðích Thân! Núp sau cái cây, đứng khơi khơi nó bắn bể gáo!Huy chợt bật cười. Tội nghiệp thằng Khuê, nó vác máy truyền tin nên phải bám sát chàng như bóng với hình. Chắc thằng con “lạnh cẳng” nhưng không dám tìm chỗ núp một còn đứng đực ra đấy. Chàng như tỉnh lại, công và lao vào trận “tao ngộ chiến” đầu tiên theo phản-xạ, theo bản-năng sinh-tồn. Những bài học từ quân trường trồi ra từ tiềm thức và chàng phản ứng như máy. Ðạn cầy tứ phía, Huy quan sát thật nhanh rồi khom lưng lao tới gốc cây có vị trí tốt nhất còn trống. Chàng chồm lên, hò hét, chỉ huy và rút đầu vào trong chiếc nón sắt để bảo vệ... Cạnh chàng, bóng những người lính vun vút lao về phía địch. Một lát, khi súng dịu xuống, chàng đứng dậy quan sát trận
Không Gian Vương Dấu Giày - Tôi nghe. - Anh “đụng” hả? Có sao không? Tiếng súng chỉ còn rời rạc, lẻ tẻ. Huy trả lời: - Dạ, chưa biết, sẽ báo cáo sau. Hạ Sĩ Lan Vòng Ca chạy lại, báo cáo bằng giọng hết sức phấn khởi: - Báo cáo Ðích thân: Mình lụm được ba cây “củi” nhưng thằng Lý bị “ngồi” rồi, Ðích Thân.- Nặng không? - Dạ, chắc không sao. Huy cười sung sướng: - Còn tụi nó? - “Chém vè” rồi Ðích Thân, để lại dấu máu nhiều lắm, chắc Một đơn vị Nhảy Dù đang chờ chuyển quân.
104 cá nhân quấn quanh bắp chân và hắn đang phì phèo điếu thuốc lá. Huy hỏi:- Lý, có sao không? - Dạ, chắc không sao, đạn chỉ vô… thịt thôi. Quay qua Y Tá Hùng, Huy bảo: - Anh cho khiêng về đại đội, nếu cần, xin tải thương ngay.Huy đứng dậy, đốt điếu thuốc lá hít một hơi thật dài, rồi nuốt luôn khói thuốc, chàng thoải mái thưởng thức mùi thuốc thơm nồng giữa chiến trường còn khét mùi thuốc súng. Binh Nhất Khuê vẫn theo sát bên chàng, thấy rảnh rang hút thuốc, nó nhìn chàng thán phục, hỏi nhỏ: - Ðích thân có ngải phải không, Ðích Thân? Huy ngạc nhiên: - Sao? Khuê mở lớn mắt: - Em thấy Ðích Thân đứng khơi khơi... Chiến thắng lớn mà thiệt hại nhẹ làm Huy đâm ra vui tính, chàng cười phá lên: - Rồi mày nghĩ tao có ngải nên mày bám sát tao luôn? - Ðâu phải, nhiệm vụ em là “bám” Ðích Thân mà. Thấy Ðích Thân đứng... ngay lưng, em ớn quá nhưng... đạn nó tránh ông thầy hết, kỳ thiệt. Hắn xoa đầu, băn khoăn không nói tiếp nhưng cặp mắt tinh nhanh, láu lỉnh như muốn nói với Huy rằng hắn biết chàng có... “ngải” rồi nhưng chàng không muốn tiết lộ bí mật vì sợ
Không Gian Vương Dấu Giày Buổi chiều, khi dừng quân nghỉ tạm trong rừng, Trung Úy Kim Đại Đội Trưởng, gọi chàng tới. Kim bảo: - Mở hàng mà anh làm ăn khá quá. Anh cho chuẩn bị danh sách binh sĩ lập chiến công để gửi lên tiểu đoàn ngay cho tôi. - Tôi đã cho làm xong, sẽ trình lên Trung Úy. Kim nhìn chàng từ đầu tới chân rồi vỗ vai thân mật: - Huy à, tôi hỏi thật. Cậu có thất tình không? Huy ngạc nhiên: - Tại sao Trung Úy hỏi vậy? Bộ coi tướng tôi giống thất tình lắm sao? - Tôi nghe tụi lính nói lại thì cậu có vẻ... muốn chết quá. - Ðâu có Trung Úy, tôi còn yêu đời lắm mà. - Cậu muốn làm anh hùng, hay làm cho lính nó nể thì cũng chịu khó quý cái mạng mình dùm tôi một chút. Ðánh đấm khơi khơi thì dám mau… xanh cỏ lắm. Huy bật cười, nhớ lại những phút sững người của mình trong trận đánh đầu tay hôm nay, chả lẽ lại thú thật là mình... thộn ra, không kịp phản ứng vì bất ngờ? Nhớ lại ngày trình diện binh chủng, chàng phịa: - Ðâu phải Trung Úy, tôi nhớ hồi trình diện binh chủng, ông Tư Lệnh mình bảo, “Chỉ huy Dù là chỉ huy đứng, chấp nhận rủi ro để chỉ huy, không có người hèn nhát trong Dù.” Kim gật gù, Huy hứng chí, “tố” thêm dù biết Kim không mấy tin: - Ông Tư lệnh còn dặn rằng, “Các anh phải đứng để quan sát, chỉ huy. Không được nằm núp bắn ra. Vai trò chỉ huy
106 Kim vỗ vai chàng, cười: - “Chiêu” đầu tiên của cậu khá quá. thuộc bài lắm, nhưng nhớ thì nhớ, chứ áp dụng thì còn tùy. May mà nó rút chứ nó cố đánh, cậu đứng khơi khơi thì... phiền lắm. - Dạ.- Lính nó nể cậu rồi, từ đây cậu bảo nó nhẩy vào... Việt Cộng là nó nhẩy vào ngay. Tôi quý cậu, nhắc cậu một điều, “Ðứng thì Ðứng vừa vừa thôi. “Ðứng” kỹ quá thì phiền lắmTôi muốn làm việc với cậu lâu dài, chỉ mong cậu “đỏ ngực” là đủ. Thôi, cậu về đi. Huy đứng thẳng lên, giơ tay chào: - Cám ơn Trung Úy. Huy quay ra, Kim còn nói với theo: - Nhớ nghe, “Ðứng vừa vừa” thôi. Sau này, khi đã dầy dạn với chiến trường và ở vào những vị trí chỉ huy quan trọng hơn, Huy mới hiểu thấm thía lời khuyên của Kim. Từ đó, Huy có hỗn danh về chàng. Với lính, họ gọi lén chàng là gì thì gọi, Huy không cần biết, chỉ biết là chàng nắm Trung Đội ngon lành từ sau ngày đó, dù đóa hoa mai trên áo chàng còn quá mới so với tất cả những người lính trong đơn vị. Chàng mau chóng nắm ngay được ưu điểm nổi bật của những người lính Nhẩy Dù. Họ là những người lính gan dạ và thiện-chiến nhất trong quân đội, nếu không họ đã không tồn tại được trong binh chủng này. Câu họ hay nói nhất so gan ăn tiền.”
Không Gian Vương Dấu Giày đúng. Ðạn réo ngang, réo dọc, đạn réo trước, réo sau, đạn đốn gục bạn bè, lính tráng chung quanh. Những khi hành quân, dù đang di chuyển hay khi trấn đồn, trấn cầu, đóng chốt thì mình vẫn là mục tiêu hấp dẫn cho pháo địch... tác xạ. Biết đâu mà tránh, thôi thì cứ đứng thẳng, bắt buộc phải can đảm mà chỉ huy, tìm đường sống trong cái chết, đúng là Lần đầu Huy ngây ra không biết phản ứng ra sao thật, nhưng sau tất cả quen đi. Huy và những người lính nhẩy Dù chấp nhận:- Cứ biết là sống ngay bây giờ, biết đâu mình chẳng thấy mặt trời mọc ngày mai hay chẳng còn thấy mặt trời lặn tối nay?- Ðạn tránh người chứ người biết đâu mà tránh đạn. Huy học sống trong chiến tranh từng giờ, từng phút. Huy học kinh nghiệm bằng thực tế máu lửa và Huy chai đá dần với chiến trường. Nhưng có những điều học rất... khó chịu và khó thuộc.Lần đầu vừa hành quân về, trình diện tiểu đoàn, Huy gặp cảnh vợ con tử sĩ tới đại đội làm thủ tục lãnh Tử-Tuất cho cônhi, quả-phụ.Khu nhà tập họp của Ðại Đội trắng xóa một màu tang chế. Những gương mặt đau khổ, rã rời. Những người mẹ, người vợ gầy gò, héo úa. Những đứa trẻ thơ xanh xao, ngơ ngác, buồn rầu. Tiếng khóc than nức nở, tiếng oán trách nghẹn ngào, những đôi mắt lạc thần, mất mát làm Huy tưởng đầu mình muốn nổ tung ra vì đau khổ và giận dữ. Chàng muốn quát lên:- Mấy người ra kiếm... thằng già Hồ mà đòi cha, đòi chồng, đòi con. Nó mới là người có trách-nhiệm về những cái chết
108 gây ra cuộc chiến dù họ có đích thân chỉ huy trận đánh! Quân Đội, cái Quân Đội chàng đang phục vụ nào có muốn đem những người lính như họ ra hy sinh!Quân đội nào muốn có chiến tranh?Chàng nào muốn có chiến tranh?Chiến tranh không tha cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ!Chiến tranh không còn chỗ cho tình yêu, cho bạn bè, cho người tình và cho cả tình người?Chiến tranh chỉ biết súng đạn, thương vong và nước mắt! Nhưng... cả một thế-lực chính trị quốc tế kẹp chặt cứng lấy chàng và những người lính như chàng vào quân đội. Kẹp chặt cứng quân đội vào cái thế chỉ được quyền chủ động trong giới hạn nào đó. Quân đội chỉ được tùy nghi ứng phó theo từng mùa, từng chiến dịch tấn công của giặc trong khi chúng được hậu thuẫn của cả khối Cộng Sản quốc tế sau lưng. Còn Mỹ? Huy và các bạn chàng biết tuy Mỹ và đồng minh là bạn ta nhưng phải chăng đó chỉ là những mối tình qua đường vì quyền lợi chung, chứ nào phải vì lý tưởng Tự Do hay vì đất nước mình? Làm sao để kết thúc được những đau khổ trong cuộc chiến triền miên này?Huy không tìm được câu trả lời! Lần đó, Huy bỏ đi uống rượu một mình, say khướt một bữa. Chàng cần phải quên họ, những người lính vừa âm thầm ngã xuống. Những người góa phụ đau khổ xanh xao:- Anh ơi, sao anh nỡ bỏ em..., bỏ con cho đành?Những trẻ mồ côi thất thần, ngơ ngáo kêu đòi:
Không Gian Vương Dấu Giày - Con ơi là con, sao con đành bỏ cha, bỏ mẹ. Thà là cha mẹ chết thay cho con...Những vành khăn trắng xô lệch, tang thương, quấn vội trên những mái đầu chĩu nặng khổ đau. Họ đã thua trắng tay trong cuộc cờ định mệnh! Và Huy, chàng cũng bị ngụp lặn trong cuộc cờ tàn nhẫn đó! Chàng chẳng làm gì được cho họ và chàng chẳng làm gì được cho chàng! Huy say nhưng những hình ảnh đau thương vẫn còn đó, theo đuổi chàng, chàng vừa lầm lì uống vừa trào nước mắt. Niềm đau của mọi người mà chàng mang nặng mãi trong hồn vào cơn say không còn trời đất dù thật tâm chàng không ân hận hay cảm thấy tội lỗi bao giờ. Chàng hay bất cứ người nào khác cũng đều có thể thay thế những người bất-hạnh đã nằm xuống để trở thành tử-sĩ bất cứ lúc nào! Chàng thấm cơn say và thấm luôn hai câu thơ cổ:“Dục phá thành sầu, tu dụng tửu,Túy tự túy đảo, sầu tự sầu.” (3) Phải, sau cơn say, nỗi sầu mênh mang, lồng lộng vẫn còn đó, chỉ trốn thật kín, thật sâu làm trái tim thêm nặng chĩu, tê tái đến chai ngắt, sượng sần. Huy tập thêm những chịu đựng và cố gắng tối đa để giảm bớt nỗi đau của gia đình thuộc cấp, bạn bè. Chàng còn làm gì hơn được? Ngay sinh mạng của mình, chàng cũng chỉ biết từng giờ. Mỗi lần gặp xe chở những cỗ quan tài phủ quốc kỳ ủ rũ, những khuôn mặt xanh xao, vàng vọt ngồi ôm chiếc bình nhang, khói hương nhạt nhòa, với tấm ảnh những người lính
110 thêm nét ưu tư nhưng đành chấp nhận thân-phận người trai thời loạn. Ðôi khi chàng bâng khuâng:- Bao giờ tới lượt mình? Tiểu đoàn Huy đi khắp mọi vùng chiến-thuật để tăng-viện cho những trận chiến ác liệt nhất, tàn khốc nhất, chết người nhất. Huy thấy hết cái tàn bạo của chiến tranh, cái thê thảm và bi hùng của thân phận người lính chiến và hơn hết, chàng cảm nhận được nỗi cô-đơn, sự khó khăn vô chừng của người chỉ huy. Chàng phải quyết định hết sức cẩn thận, cân nhắc, đắn đo từng li, từng tí trong từng tíc tắc chết người. Không có vấn đề bốc đồng, không có vấn đề tự ái vặt cho một người chỉ huy giỏi và kỷ-luật phải được duy trì tối đa vì sức mạnh của quân đội là kỷ luật. Chàng nữa, chàng cũng phải tôn trọng những kỷ luật chàng đặt ra cho mình khi chỉ huy, bởi vì mỗi quyết định của chàng sẽ được tính bằng máu, bằng nước mắt, bằng tàn phế, bằng đau thương, bằng sinh mạng thuộc hạ, bạn bè và cũng tính bằng mất mát, nước mắt và nghèo đói của gia đình họ.Thua, được! Sống, chết chỉ cách nhau một chớp mắt phù du và chàng đã bao lần phải quyết định trong những chớp mắt giết người như vậy! Cuộc sống nguy hiểm với cái chết đến không hẹn giờ, chiến trường ngày càng lan rộng, càng sôi động làm tương lai ngày thêm mờ mịt. Huy và rất nhiều bạn bè không dám nghĩ tới việc lập một mái gia đình. Có lần họp khóa, Khoa tâm sự với Huy và Hân:- Ðâu phải mình không biết yêu hay trái tim đã chai đá vì chiến trường, phải không mày? Cũng chẳng phải tao không tìm được người yêu hay không có người dám cùng tao lập
Không Gian Vương Dấu Giày cho người ở lại. Huy ngậm ngùi:- “Anh trở về trên đôi nạng gỗ. Anh trở về dang dở đời em…” Thành thật mà nói, tao thà không trở về... Mấy người bạn hít từng hơi thuốc, thả khói mịt mù, trầm ngâm.Phải, đối diện với cái chết từng giờ, từng phút, họ sợ đem đau khổ, tang tóc, cô đơn tới cho người mình yêu dấu. Sợ để lại người vợ trẻ với vành khăn góa phụ! Sợ tạo ra những đứa trẻ bơ vơ thiếu người cha là cột trụ cuộc đời! Họ không sợ cho họ nhưng sợ nhiều lắm cho những người thân yêu sẽ ở lại cuộc đời nếu chẳng may họ phải ra đi hay chịu đời tàn phế. Mỗi lần hành quân về, họ kéo nhau đi ăn, đi chơi, quậy phá cho thỏa thích, cho quên những ngày hành quân cực khổ, những giây phút kinh hoàng và... trên tất cả: Quên những người vừa nằm xuống, những bạn bè, thuộc cấp mới ra đi, những người đang quằn quại với đau khổ, với mất mát còn tươi mùi máu đổ ra từ hình hài họ! Phòng trà, vũ nữ thay thế cho một mái nhà và người vợ hiền.Những khi tỉnh rượu, thấy mình cô đơn, trơ trọi, Huy buồn thấm thía.Chẳng lẽ chỉ vì chiến tranh, chàng sẽ không bao giờ được quyền mơ tưởng tới hạnh phúc riêng tư, suốt đời ôm ấp mãi những thân xác cho thuê?Chẳng lẽ sẽ không bao giờ chàng được diễm phúc bồng ẵm thân hình bé bỏng, mũm mĩm, kháu khỉnh, thơm nồng mùi sữa
112 Huy lên tiếng:- Nếu được làm lại tất cả, mình có làm khác không? Rồi chàng tự trả lời, dứt khoát: - Chắc chắn là không. Khoa cũng gật đầu: - Tao cũng vậy.Ghi chú:1. Ðích thân: Một cách gọi của lính với sĩ quan chỉ huy trực tiếp của họ trong binh chủng Nhảy Dù, biến thể từ ngôn ngữ liên lạc vô tuyến.2. Bi-đông: Đồ đựng nước cá nhân của người lính dùng khi đi hành quân.3. Mồi: Thức ăn để nhậu khi uống rượu.4. Mượn rượu giải sầu Say thì say, sầu vẫn sầu.
Ngày Tàn Cuộc Chiến NGÀY TÀN CUỘC CHIẾN“Buông tay súng mà máu trào thành lệ,Lệ tuôn trào, lệ biển cả mênh mông.”LINH DU. LÊ LỘ ĐỨCSau khi chiếm được Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân cộng sản tiếp tục xua quân đánh chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng đánh Phước Long là chủ đích cộng sản nhằm thăm dò phản ứng của Mỹ. Khi thấy Mỹ bất động, lại còn cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn. Thế là bọn chúng mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp là Ban Mê Thuột.Mặc dù đứng trước tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, nhưng mọi cuộc hành quân của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hoạt động bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút khẩn Biệt Cách Dù Lê Đắc Lực
114 Tây Ninh. Điều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Phạm Châu Tài, gồm ba Biệt Đội 811, 817, và 818 đến tăng cường phòng thủ và bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.I. Căn cứ Hành Quân Suối Máu Biên Hòa.Tại căn cứ hành quân Suối Máu - Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt Đội tổng cộng lên tới 2,000 Binh sĩ. Tất cả bố phòng nghiêm ngặt ở mặt Bắc Phi Trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.Trưa ngày 28 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III, họp tất cả Chỉ Huy Trưởng, Đơn Vị Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo trên Xa lộ Đại Hàn, Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Sài Gòn. Riêng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẽ là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ binh sĩ rút qua khỏi cầu nầy được an toàn.Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như đã có kế hoạch, cho trực thăng đến các căn cứ, tiền đồn đón các cấp Chỉ Huy di tản ra khỏi Việt Nam. Riêng đối với Đại Tá Huấn thì Ông đã từng tuyên bố khẳng định:- “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”Đại Tá Huấn đã ở lại với Binh Sĩ của Ông, cho đến giây
Ngày Tàn Cuộc Chiến Biệt Đội 812 đến canh giữ cầu Biên Hòa, nhằm ngăn chặn đường tiến quân của giặc cộng, không cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, toàn bộ Liên Đoàn rời khỏi Căn cứ Hành quân Suối Máu. Khi đoàn quân vừa rút qua khỏi Cầu, thì cũng vào lúc đó, qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn, đã nghe được lệnh của tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế cho Ông Trần Thiện Khiêm, đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ.Đoàn quân Biệt Cách Nhảy Dù, tuần tự các Biệt Đội đã được phân định, từ từ di chuyển trên Quốc Lộ 1, hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân Vạn thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát, Đại Tá Phan Văn Huấn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu, và hầu hết các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn im lặng vô tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại Tá Huấn buộc phải ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy và các Biệt Đội, rút vào đóng quân qua đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Suốt đêm lặng lẽ trôi qua, vẫn chẳng có một tín hiệu liên lạc khả quan nào cả.Đến sáng ngày 30 tháng 4, Đại Tướng Dương Văn Minh qua Đài Phát Thanh Sài Gòn, ra lệnh cho toàn thể các Quân Binh Chủng Quân Đội VNCH phải buông súng đầu hàng giặc cộng. Nghe được tin dữ này, Đại Tá Phan Văn Huấn liền cho đơn vị gấp rút rời khỏi Rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo Quốc Lộ 1, di hành về hướng Nam, đến Quân Lỵ Thủ Đức.
116 biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, vừa bị Việt cộng bắt tước vũ khí, cởi bỏ quân phục, mũ nón, giày vớ, rồi mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động(!). Tuy nhiên, vì đây là một đơn vị Quân Đội thiện chiến và kỷ luật, tất cả vẫn giữ nguyên hàng ngũ, từ Bộ ChỉHuy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, bốn hàng dọc ngay hàng thẳng lối chậm rãi bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy bộ đội Việt cộng chạy song hành. Chúng nhìn các chiến binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sửng sốt, lạ lùng.Là một cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỹ luật nghiêm minh, Đại Tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau khi đã họp tất cả các cấp chỉ huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung. Đại Tá Phan Văn Huấn và phu nhân, trước 1975.
Ngày Tàn Cuộc Chiến đã đến gặp Đại Tá Phan Văn Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại Tá Huấn đã nói với họ:- “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải cởi bỏ Quân Phục như một số Quân Nhân các đơn vị bạn đang chạy qua đây...”Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng chiến binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định. Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay phân tán mỗi người mỗi ngã.Đứng trước một đội quân đông trên một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cộng sản không thể không tỏ lòng kính trọng Dẫu sao đây cũng là một đơn vị thiện chiđội Việt cộng đã từng kinh hãi, khiếp strận đụng độ trên khắp các trận địa chiếmà không linh hoạt nhân nhượng, để thùng”, thì chắc chắn rằng họ sẽ phải gáthất nặng nề, khi các chiến sĩ Biệt Cách Dbuông súng đầu hàng, quyết tử chiến mgiọt máu cuối cùng với bọn chúng.Sau đó một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các Sĩ Quan của đơn vị về Sài Gòn. Không muốn để cho các Sĩ Quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, đồng ý nhận lời. Khi vài ba chiếc xe Molotova được họ điều động đến, tất cả các Sĩ Quan cùng một số Binh Sĩ lên xe.Khi xe di chuyển đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Phan Văn Huấn đã suy nghĩ lại, không thể để Sĩ Quan của mình vào
118 đau ê chề bất tận.B. Hậu cứ An Sương.Là một cấp chỉ huy tác chiến, đã từng đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về hậu cứ trong trách vụ mới, với một thời gian còn quá ngắn, tôi khó mà quên được việc “điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường phong ba bảo táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren, quá ư bi dát đang diễn tiến từng giờ, từng ngày một của Đất Nước, tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm Thiếu Tá Trần Quang Huế, Chỉ Huy Hậu cứ lo tổ chức phòng thủ Doanh Trại, tung các Toán tiền đồn, lập các công sự tại Ngã tư An Sương chờ giặc đến, ngăn chận và tiêu diệt chúng, không để cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên.Bên cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Ngã Ba Trung Chánh, Quốc Lộ 1 và trên Xa Lộ vòng đai Đại Hàn. cứ Biệt Cách Nhảy Dù cho đặt thêm các Tổ tiển M.72, Đại Bác 75 ly, và Súng Cối 81 ngay tại ngã tư An Sương và Xa lộ Đại Hàn. Trong khi Biệt Cách Dù đang tổ Doanh Trại của 81 BCND ở Sài Gòn, trước 1975.
Ngày Tàn Cuộc Chiến cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của người lính VNCH không cho họ rút chạy về xa hơn nữa.Ngày 29 tháng 4, sáu xe tăng T-54 Việt cộng từ hướng Củ Chi, hàng một trên Quốc Lộ 1 tiến đến, chỗ không người. Khi đến gần Ngã Tư An Sương, từ phòng tuyến của Hậu Cứ Liên Đoàn, hai hỏa tiễn M.72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng bị quay nằm ngang. Quân cộng sản từ các xe tăng phía sau nhảy xuống xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa trung liên, B.40, B.41 và AK.47 vào các công sự, các ổ kháng cự nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, Đại Liên, M.79, không ngớt bắn vào đám địch quân, đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc Lộ 1 không phải là ít. Các xạ thủ M.72 bắn cháy thêm một T.54 ngay Ngã tư đường Xa Lộ Đại Hàn và Quốc Lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân của địch trên đường tiến vào Thủ Đô Sài Gòn.Một số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy, nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ đường. Xe tăng của địch tiến lên, cày lên các công sự, binh Sĩ bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch quá mạnh và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong Doanh Trại Liên Đoàn. Trong khi đó, một xe Jeep chở một vài quân nhân, từ trong Hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa đến ngã tư quẹo trái hướng về Sài Gòn thì bị một xe tăng
120 Qua sáng ngày 30 tháng 4, xe tăng, bộ đội địch và du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn lại trong và ngoài Hậu Cứ Liên Đoàn. Trên Xa Lộ Đại Hàn, đoạn ngã ba chợ Cầu đến gần ngã tư An Sương, quân trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã cởi bỏ vất lại đầy rẫy ngỗn ngang trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số binh sĩ còn lại, phá rào đằng sau, doanh trại, rút về hướng Sài Gòn. Vượt qua Cầu Tham Lương, đến Hãng Dệt Vinatexco, gặp một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bố trí ngăn giặc tại đây, tôi ra lệnh cho binh sĩ dừng lại, hợp tác phòng thủ cùng với Nhảy Dù. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể quân nhân thảy đều tuân lệnh buông súng đầu hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận, xong tự động tan rã.* * *Cũng trong ngày 30 tháng 4, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Trung Tâm Hành Quân Delta của Biệt Cách Dù ở Nha Trang.
Ngày Tàn Cuộc Chiến Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các Toán cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật khu, theo phương cách mưu sinh thoát hiểm.Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hai Toán Thám Sát lần ra đến Ấp Thái Hưng, Xã Đại An, Quận Tân Uyên để tìm hiểu tình hình, họ được dân chúng cho biết Quân Đội Miền Nam đã buông súng đầu hàng. Cuối cùng, họ đành chấp nhận đầu hàng. Nhưng bọn Việt cộng đã nhẫn tâm nổ súng bắn chết 12 người. Một số chúng đem thả trôi trên sông Bé, số còn lại chúng kéo thi hài ném xuống một cái giếng khô đã bỏ hoang lâu năm, mà về sau này dân chúng địa phương đã phát giác được. Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiêu hùng của họ, vẫn mãi mãi sáng ngời trong Biệt Cách Nhảy Dù.Đến ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Sơn Phượng, Biệt Đội 815 (hiện đang ở Vị Thanh, Việt Nam) và Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester, MA) rút ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra Ấp Thái Hưng. May mắn, hai Toán nhờ được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin cho biết chính quyền VNCH không còn nữa, toàn thể quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã phải buông súng đầu hàng giặc cộng. Vì thế sau khi hai Toán đã giao nạp vũ khí, bọn Việt cộng có lẽ sau khi nhẫn tâm tàn sát hai Toán Thám Sát trước, đã bị đồng bào địa phương dị nghị, bàn tán xôn xao, nên với hai Toán này, bọn chúng dè dặt, gọi là “khoan hồng” hơn, chỉ bắt nhốt, sau đó đưa vào tập trung trong các Trại tù trên các rừng núi hoang vu để học tập “cải tạo”.
122 trong vùng, nên thấu đáo tình hình, họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cộng. Rốt cuộc, Toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù “cải tạo” khổ sai ở Trại Tù Bình Sơn, nơi rừng sâu nước độc cùng với hai Toán Thám Sát trên.Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán Chính VNCH sau ngày mất nước.* * *Sau khi quân thù giặc cộng đã cưỡng chiếm Miền Nam, vẫn còn những người Lính Biệt Cách Nhảy Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng Thượng Cấp giao phó, dù Thượng Cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm:“TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM”.Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25. Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ. Cho dù sau hơn 38 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian. Nhưng, đối với những Chiến Binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo vệ Tổ Quốc, những Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó là một vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy lòng họ. Bởi vì, có biết bao Đồng Đội, Chiến Hữu của họ đã hy sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi nhục. Bởi vì, chính họ đã dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ tiền đồ Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở thành kẻ chiến bại trước một bọn người
Ngày Tàn Cuộc Chiến Giữ Trọn Lời ThềKính thưa Mẹ, con là con của MẹCủa núi đồi, ghềnh thác dãy Trường Sơn,Của bao la biển cả dậy sóng cồn,Của suối nước, của ngọn nguồn Lạc Việt.Kính thưa Mẹ, con là con của Mẹ,Của lịch sử bốn ngàn năm văn hiến.Con của Mẹ bước đi từ cuộc chiến,Huynh đệ tương tàn, xáo thịt nồi da,Lửa bom đạn, lửa hận thù man dã,Thiêu đốt rừng, hủy diệt cả sinh linh.Bao lớp trẻ, bao lớp người bất hạnh,Thịt nát xương tan, mồ lạnh bụi bờ,Nhà cửa, chùa chiền, đền Thờ, phố thị,
124 Của những tang thương đổ nát hoang tàn.Vết thương Mẹ là nỗi đau truyền kiếp,Đã kéo dài trong nội chiến vô nhân!!!Kính thưa Mẹ, con là con của Mẹ,Mang nỗi nhục hờn thân phận bại binh,Tay buông súng mà máu trào thành lệ,Cuối tháng Tư buồn, tang chế phủ đêm đen!!!Con của Mẹ, sau ngày tàn chinh chiến,Lũ giặc tù đày, kềm kẹp xác thân.Loài quỉ Đỏ quá bạo tàn hậu đoản,Vô lương tri, mất hết cả tính người.Chúng bốc lột, vui cười trên thống khổ,Vạn triệu gia đình không chỗ nương thân,Con mất Mẹ, vợ lìa chồng ly tán,Xác bỏ rừng sâu, xác nổi biển đông.Cơn bão tố phủ đầu dân vô tội,Nợ máu xương vay trả mãi muôn đời….Kính thưa Mẹ, con là con của Mẹ,Mấy chục năm dài phiêu bạt tha phương,Trong lòng con dào dạt một tình thương,Dành cho Mẹ, với trăm ngàn nỗi nhớ!!!Con đã sống, đã quá nhiều trăn trở,Phải diệt sạch giặc thù, quang phục Quê Hương,Đời của con, chỉ có một con đường,Cho dù chết, để rửa hờn Sông Núi.
Chiến Dịch Rạng Đông 1966 (Fairfax) Chiến Dịch Rạng Đông 1966(Fairfax)Nguyễn Văn Nam, Khóa 20Mặc dầu đang trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt nhưng Thủ Đô Sài Gòn vẫn nhộn nhịp. Hầu như người dân ở đây vẫn cảm thấy cuộc sống thật an lành. Họ ít để ý đến chiến tranh, nếu có chỉ trong thoáng chốc khi thỉnh thoảng nghe có tiếng súng vọng về và có ảnh hỏa châu lơ lửng xa xa. Chiến tranh dường như không báo giờ đến họ. Thủ Đô Sài Gòn được vòng đai bảo vệ của Bộ Tư Lịnh Biệt Khu Thủ Đô Biệt Khu Thủ Đô, Tiểu Khu Gia Định. Về địa lý, nơi đây còn được các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Bình Dương, Hậu Nghĩa và Long An bao quanh bảo vệ. Ngược lại, dù Sài Gòn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nhưng thực ra xung quanh thành phố là vùng sình lầy, cây cối chằng chịt, là nơi ẩn núp, ém quân rất thuận lợi cho bọn VC. Vì thế việc giữ an ninh cho nơi này thật cực khổ, khó khăn.Về phương diện quân sự, phía Đông thành phố có Rừng Sát, phía Nam là Rừng Tràm, phía Tây có mật khu vườn thơm Lý Văn Mạnh, rừng tràm Bà Vụ thuộc hai quận Bến Lức, Đức
126 Phía Bắc sông là mật khu Long Nguyên thuộc quận Trị Tâm, tỉnh Bình Dương. Các địa danh này hợp thành vùng Tam Giác Sắt nổi tiếng, có lợi cho VC.Đầu năm 1967, Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô mở cuộc hành quân quy mô hỗn hợp Việt Mỹ, tên Fair Fax về phía Hoa Kỳ và Rạng Đông về phía Biệt Động Quân. Các đơn vị được xử dụng trong chiến dịch này bao gồm Liên Đoàn 5 BĐQ do Trung Tá Đào Bá Phước làm Liên Đoàn Trưởng, và Lữ Đoàn 199 Bộ Binh Hoa Kỳ do Chuẩn Tướng Freunde làm Tư Lệnh. Mục tiêu của chiến dịch là càn quét tất cả mật khu và vùng ém quân của giặc cộng nằm trong lảnh thổ Biệt Khu Thủ Đô. Mọi tiếp tế, yểm trợ hỏa lực do Hoa Kỳ đảm trách.Lúc bấy giờ, tôi là Đại Đội Trưởng Đại Đội, Tiểu Đoàn 30 BĐQ, thuộc Liên Đoàn 5 BĐQ. Thiếu Tá Phạm Văn Phúc (Khóa Fac) là Tiểu Đoàn Trưởng. Khi hành quân Tiểu Đoàn 30 BĐQ hỗn hợp với Tiểu Đoàn 4/12, Lữ Đoàn 199 BB Hoa Một đơn vị Biệt Động Quân
Chiến Dịch Rạng Đông 1966 (Fairfax) Kỳ. Các cấp chỉ huy từ đại đội, xuống trung đội, tiểu đội cùng bàn bạc với nhau rồi cùng nhau phối hợp thì hành.Lúc đầu cũng có trở ngại nhỏ vì vài cấp chỉ huy BĐQ cần đến thông dịch viên. Khi họ dần dần quen việc nên mọi sự đều trôi chảy. Riêng Đại Đội 4 và Đại Đội C không cần thông dịch viên nên thường trở thành lực lượng xung kích của đơn vị.Trong bài viết nầy tôi chỉ đề cập đến cánh quân của Tiểu Đoàn 30 BĐQ và Tiểu Đoàn 4/12 BB, đặc biệt là Đại Đội 4/30 BĐQ và Đại Đội C/4/12 HK. Bộ Chỉ Huy hỗn hợp của hai tiểu đoàn đặt tại quận Thủ Đức.Chúng tôi bắt đầu lùng, diệt và phá hủy mọi công sự chiến đấu và ẩn núp của công quân nằm trong quận Thủ Đức, nhất là vùng phía Nam và Đông Trường Bộ Binh Thủ Đức, và kéo dài đến dọc bờ sông Đồng Nai. Từ bưng Đất Sét, dài đến xã Long Trường, Lò Lu, Phước Hiệp, Tam Đa, Phú Hữu qua tận rừng Bảy Mẫu, cù lao Long Phước Thôn. Trên trục tiến quân, phía Hoa Kỳ tiến quân rất cẩn thận, lục soát kỹ lưỡng, phá hủy từng công sự, hầm hố dù nhỏ, sơ sài. Đôi với vùng nguy hiểm và nếu có chạm súng thì hầu như mỗi giờ họ chỉ được 100m hoặc 200 mét là cùng. Họ không cần chạy đua theo thời gian, trong khi hỏa lực yểm trợ của họ quá dồi dào. Với quân số khoảng hơn 300, hai đại đội hổn hợp của chúng tôi vững vàng không thua một tiểu đoàn Bộ Binh của QLVNCH. Đây là thời kỳ vàng son nhất trong đời binh nghiệp của tôi, khi tham dự cuộc hành quân này.So với cách đánh nhau của một quân đội nhà giàu với quân của mình, mà tôi cũng thấy thương cho người lính VNCH. Khi chạm súng đơn vị Mỹ đi cùng được yểm trợ hỏa lực dồi dào, cá nhân tác xạ thoải mái không lo hết đạn. Họ cần bao
128 cụ để thực hiện việc phòng thủ. Khi ở trong căn cứ tạm thời, ít nhất họ cũng có bửa ăn trưa nóng hổi từ hậu cứ chở đến. Đêm đến lính gác dùng hồng ngoại tuyến để quan sát, cũng như cá máy sensor đặt xung quanh vị trí đóng quân để theo dõi các di chuyển của VC.Cứ mỗi cuối tháng, chúng tôi được về tiền cứ của họ nghĩ dưỡng quân hai ngày. Sau khi súng được khám xong sẽ giá súng. Mỗi binh sĩ có một ghế bố đặt trong các lều,dành cho sĩ quan,hạ sĩ quan và binh sĩ, Trong các ngày nghỉ, mọi người ăn uống vui chơi thoải mái. Bia, nước ngọt lạnh đựng trong các thùng lớn để giữa sân, để để sẵn thịt bò barbecue (thị bò để nướng). Ban đêm có chiếu phim. Hết ngày nghỉ chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Ngoài việc đuuợc ăn uống chu đáo hằng ngày, mỗi tuần các đơn vị đều có tiếp tế đặc biệt. Có đủ mọi vật dụng cần thiết hằng ngày như thuốc lá, cà phê, diêm quẹt, đá lửa, bánh kẹo, giấy viết, bàn chải, kem đánh răng, xà phòng… không phân biệt Mỹ hay BĐQ. Các binh sĩ bị thương đều được đưa về bịnh viên Long Bình để điều trị.Trong thời gian nầy, Đại Úy Sloan - Đại Đội Trưởng Đại Đội C của đơn vị bạn tử thương vì VC phục kích giựt mìn. Đại Úy Marbry được bổ nhiệm thay thế.Giải quyết xong những vùng ém quân, mật khu VC trong lãnh thổ quận Thủ Đức, cánh quân chúng tôi tiến về phía Tây, vùng Phú Hoà Đông, Bến Cát. Sư Đoàn 25 BB Hoa Kỳ chịu trách nhiệm vùng này đang bị áp lực nặng. Lực lượng hỗn hợp BĐQ- HK quyết định tổ chức cuộc hành quân trực thăng vận vào vùng Nhị Bình, rồi tiến quân sang Phú Hoà Đông. Đại Đội 4/30 và Đại Đội C/ 4/12HK được chọn đổ xuống đầu tiên.Vốn am hiểu tình hình và địa thế vùng nầy, tôi đã đề nghị
Chiến Dịch Rạng Đông 1966 (Fairfax) kích vào bãi đáp (LZ), tiếp đến là phi cơ oanh kích, cuối cùng là hợp đoàn trực thăng võ trang xạ kích hướng dẫn hợp đoàn chở quân đáp xuống. Khi đoàn trực thăng chở chúng tôi hạ cao độ chuẩn bị đáp, đủ loại súng từ dưới tác xạ xối xả vào chúng tôi.Lúc lên trực thăng tôi đã nhường chỗ bên ngoài cho Đại Úy Marbry để ông dễ dàng quan sát hơn, nhưng ông đã mạnh dạn từ chối vì ông nghĩ là tôi cần quan sát trận địa hơn ông. Trong lúc đủ loại súng từ dưới đất bắn lên hoà lẫn rocket từ trực thăng võ trang, từ hai khẩu đại liên của trực thăng chở quân, tôi nghe một tiếng”hự” và Đại Úy Marbry ngã xấp vào người tôi. Ông đã bị một viên đạn bắn xuyên từ cằm lên đỉnh đầu. Nhìn xuống tôi thấy có hai trực thăng đã đáp và anh em binh sĩ đã nhảy ra chiếm nhanh các vị trí để chống lại địch.Tôi đặt Đại Úy Marbry sang một bên và chuẩn bị nhảy ra ngoài. Anh xạ thủ đại liên níu tay tôi lại, nhưng tôi gạt tay anh ta và nhảy xuống. Các binh sĩ dưới quyền nhảy theo tôi. Một trực thăng võ trang trúng đạn đáp khẩn cấp cách tôi khoảng 50 mét, nhưng các chiếc khác đã nhanh chóng đáp xuống bốc được phi hành đoàn. Dàn rocket trên trực thăng bắt đầu nổ văng miếng tứ tung. Khi tiếng nổ ngưng rất nhanh tôi cho lệnh Đại Tá Trần Văn Hai, Chỉ Huy Trưởng BĐQ Trung Ương (1966-1968) đang ra lệnh cho các đơn vị trong Tết Mậu Thân tại Chợ Lớn, 1968.
130 nặng (tôi đã quên mất tên) xem như đại đội phó hành quân của đại đội (còn anh Đại Đội Phó thì làm việc ở hậu cứ) chỉ huy cánh quân này.Tôi yêu cầu anh ráng liên lạc trực thăng võ trang để bảo vệ quân bạn. Tôi cũng nhận được lịnh từ BCH/ HQ tìm cách mở đường thoát khỏi vòng vây địch. Tuy nhiên, cuộc hành quân tạm hoãn không thể tiếp tục được. Chuẩn Tướng Freunde, Tư Lệnh cũng bị đạn VC từ dưới bắn lên bị trọng thương vào chân phải được tải thương khẩn cấp ra Đệ Thất Hạm Đội. Sáu trực thăng chuyển quân của đại đội chúng tôi bị trúng đạn, nhưng cũng bay ra được khỏi vùng giao tranh, và phải đáp khẩn cấp rải rác khắp vùng. BCH/ HQ đang tìm cách để bốc họ ra khỏi mặt trận.Đã có một binh sĩ Mỹ tử thương và hai bị thương (một BĐQ và một Mỹ). Tôi nói với anh Trung Úy Hoa Kỳ:- Trong trường hợp đặc biệt nầy chúng ta không thể điều động hỗn hợp như thường ngày. Tôi sẽ điều động BĐQ đi trước, Mỹ đi sau vì hỏa lực của các anh dồi dào.Đúng như vậy, đon vị của Hoa Kỳ có hỏa lực vô cùng mạnh mẽ nhưng khi di chuyển thì chậm chạp. Bằng mọi giá ta phải đem theo hết ba binh sĩ bị thương và tử thương, cùng với chiến lợi phẩm mà chúng tôi tịch thu được lúc xung phong chiếm vị trí VC. Số vũ khí này bao gồm một súng cối 61 ly và năm AK47.- Chúng ta phải cùng nhau thoát khỏi vòng vây của địch. Tôi nói.Tội nghiệp anh Trung Úy Hoa Kỳ, vì tôi bàn gì anh cũng, “Yes, Sir!“ Tôi an ủi anh:- Yên tâm, chúng ta sẽ ra khỏi đây. Anh ráng giữ trực thăng
Chiến Dịch Rạng Đông 1966 (Fairfax) bước trước, rồi tới chân phải theo sau, hoặc ngược lạihơn ba giờ chiều, chúng tôi đã thoát ra khỏi vòng vây của địch. Trung Tá Schroeder và Thiếu Tá Phúc đến bắt tay và chúc mừng chúng tôi. Trung Tá Schroeder còn cám ơn tôi đã đưa được đồng đội ông trở ra đầy đủ.Các binh sĩ bị tản mác khi đổ quân được trực thăng bốc lên, trở về cùng đơn vị. Chúng tôi được lịch đóng quân qua đêm tại đây để mai tiếp tục cuộc hành quân. Trong đêm, Không quân Mỹ tiếp tục thả trái sáng và oanh kích.Hôm sau Đại Úy Sasaki, người Mỹ gốc Nhật, được bổ nhiệm thay thế Đại Úy Marbry.Chúng tôi tiếp tục cuộc hành quân. Đại Đội 1/30 do Trung Úy Hoàng Văn Trác - K16 làm Đại Đội Trưởng cùng Đại Đội C/ 4/ 212 HK được Giang Đoàn 30 xung phong chở và đổ bộ lục soát dọc bờ sông Sài Gòn, trong khi Đại Đội 4 và Đại Đội C tiến quân trở lại vùng bãi đáp hôm qua. Đại Đội 2/30 do Đại Úy Vũ Văn Thi - Đại Đội Trưởng và Đại Đội A/ 4/12 HK tiến song song bên cánh phải. VC không chịu nổi hỏa lực của không quân HK đã chém vè, vượt sông Trà thoát ra khỏi khu vực giao tranh, để lại một số tài liệu và vũ khí cá nhân cùng bảy chú lính bác Hồ bị thất lạc.Chúng tôi đã dừng lại trong lãnh thổ Biệt Khu Thủ Đô, dọn sạch sẽ VC còn lẫn khuất trong khu vực và chấm dứt cuộc hành quân trực thăng vận nầy. Mục tiêu cuối cùng là mật khu Lý Văn Mạnh, lực lượng hành quân hổn hợp để tảo thanh khu vực này.Ngày N, pháo đài bay B52 trải thảm bom xuống mật khu. Sáng sớm ngày N + 1, B52 tiếp tục trải thảm lần cuối. Tiếp đến là máy bay oanh kích, rồi pháo binh bắn TOT (tập trung
132 bẫy dọn đường cho bộ binh tiến lên an toàn.Bọn VC chắc cũng được nếm “thừa” hỏa lực của quân đội Hoa Kỳ nên đã bỏ của chạy lấy người bôn tẩu sang biên giới Kampuchea vào các mật khu Ba Thu, Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu, chỉ để lại bọn du kích cầm chân, trì hoãn tốc độ hành quân. Bọn này dễ dàng làm mồi cho trực thăng võ trang. Thật ra mục đích chính của Hoa Kỳ là dọn sạch nơi ẩn náu ém quân của VC nên họ tiến quân rất chậm và dọn không chừa một vị trí nào mà VC có thể trú ẩn được.Sau hơn một tuần, Mật khu Lý Văn Mạnh được xem như đã được dọn sạch sẽ. Các đơn vị tham chiến trở về vùng trách nhiệm của mình và bắt đầu thiết lập các căn cứ hỏa lực giữa các mật khu vừa được san bằng. Tiểu Đoàn 30 và 4/12 trở lại vùng Thủ Đức, thiết lập căn cứ nổi (swampy camp) vùng đất Một đơn vị của Lữ Đoàn 199 Hoa Kỳ đang dừng quân nghỉ ngơi.
Chiến Dịch Rạng Đông 1966 (Fairfax) cát khi trực thăng chinook 47 câu từng palette vào cho đại đội chúng tôi.Căn cứ hình lục giác, đường chéo khoảng 100 mét, 6 pháo đài được dựng lên tại 6 góc, chính giữa là pháo đài chỉ huy và một dành cho vị trí súng cối. Một hệ thống đường đi dọc theo chu vi căn cứ và hai đường xuyên qua tâm. Hàng lớp bao cát được thả xuống tại các pháo đài và đường đi cho đến khi cao hơn mặt sình khoảng 50cm, rồi lót cây lên bề mặt và tiếp tục xây pháo đài nổi bên trên, và bên trong cũng được ép ván. Ròng rã cả tháng các căn cứ hỏa lực đã được thiết lập xong, ngoại trừ căn cứ nổi do Đại Đội 4/30 BĐQ trấn đóng, còn lại các căn cứ khác do Lữ Đoàn 199HK chịu trách nhiệm.Cuộc hành quân Fair Fax (nói đúng ra là chiến dịch) được xem như kết thúc. Hoa Kỳ giữ vòng đai bên ngoài, trong khi BĐQ trách nhiệm vòng trong cho dân chuẩn bị ăn Tết. Trước khi chấm dứt cuộc hành quân, Lữ Đoàn 199 Hoa Kỳ đã trang bị toàn bộ súng M16 cho Liên Đoàn 5 BĐQ, thay thế các vũ khí lỗi thời như Grant, Carbine….Như chúng ta biết mặc dầu Hoa Kỳ nằm vòng ngoài và BĐQ giữ vòng trong, nhưng VC vẫn lọt vào tấn công Sài Gòn giữa giao thừa. Vì thế, Liên Đoàn 5 BĐQ đã tả xung hữu đột chận đứng và đánh bật VC ra khỏi thủ đô Sài Gòn sau này.
134 NHẤT - NHƠN - VƯƠNG(Viết theo lời kể của CSVSQ Nguyễn Thiện Nhơn, Khóa 26.)Lệnh Tổng Động Viên khắp toàn quốc sau đợt tấn công của VC vào năm Mậu Thân đã làm tuổi thanh niên của tôi bị xáo trộn không ít, vì khi ấy tôi vẫn còn ở nhà với Má, còn ngồi trên ghế nhà trường ráng học lo lấy cho được bằng Tú Tài đôi để mà “ăn nói với người ta”. Mỗi khi ra khỏi nhà tôi gặp nhiều khó khăn vì cảnh sát chặn khắp ngã đường. Mặc dù tôi có giấy hoãn dịch vì lý do gia cảnh, họ vẫn cầm tờ giấy xây ngang xây dọc ngắm tới ngắm lui vì cho là giấy giả. Khoan đã ông bạn dân ơi, tôi đang lo lấy bằng Tú Tài cho xong đây, rồi chừng đó sẽ tính. Chớ bây giờ tui như con thuyền chưa bến đỗ mà bị mấy ông làm phiền cứ huýt còi chận đường hoài thiệt là khổ.Cuối năm 1969 khi tôi bước chân đầu tiên vào trường Võ Bị Đà Lạt, lòng tôi hớn hở vô cùng vì đây là niềm mơ ước mà tôi luôn mong đợi. Tôi đã lựa lấy cái túi Pan Am coi được nhất ở trong nhà và mang theo vài món đồ cá nhân. Phút đầu ra đón chúng tôi là vài khóa đàn anh mà họ xưng
Nhất - Nhơn - Vương Rồi tiếp theo lại một lệnh cũng rất là lịch sự:- Bây giờ, các anh chạy theo tôi nhé! Chúng tôi chạy theo mà đâu đoán được chạy bao xa. Cứ chạy theo mà bên tai luôn nghe:- Nhanh lên anh, chạy nhanh lên anh, cố lên anh. Phải chạy nhanh lên đi anh. Tôi chạy theo bở hơi tai mà cứ nghe ráng lên, nhanh lên. Quần áo của tôi đã trở nên xốc xếch. Túi Pan Am của tôi rớt ở đâu, rớt khi nào tui không hay biết vì phải lo chạy hoài. Có nhiều người bị ngất xỉu nằm trên sân cỏ. Bên tai vẫn còn nghe:- Thanh niên gì mà yếu quá. Ráng lên, ráng chạy nhanh lên!Tôi than thầm: - Mèn ơi, đi lính gì mà mới vô bị bắt chạy hụt hơi rồi! Màn tiếp đón này coi bộ không đẹp chút nào hết.Khoảng thời gian không lâu sau đó, vào mùa Hè năm thứ Hai, chúng tôi được cử theo phái đoàn về Sài Gòn, mà Đại Úy Nguyễn Văn Thìn, Kháo 19 là sĩ quan hướng dẫn.đến giờ điểm danh phải có mặt. Hai thằng ôn dịch mới có ngày đầu mà đã bị Đại Úy Thìn kêu tên không có mặt, nên ổng giận lắm. Sáng hôm sau ông kêu cả hai đứa trốn phố vào trình diện một lượt. Tôi ở trong nhóm được đứng ngoài cửa chờ hai đứa nó vào trình diện trước. Tôi chờ gần cả giờ sau thì mới thấy hai thằng bước ra chân đi cà xẹo, trong khi hai tay thì chà chà xoa xuống chân, miệng lại rên... đau quá. Tôi hỏi:- Hai đứa tụi bây có bị trọng cấm không? Đại Úy Thìn nói
136 đôi ba lần như vậy, nhưng không đấm trúng được cú nào vì ổng lùn hơn tao mà. Vả lại tụi mình có học võ rồi nên cũng đỡ được hết. Đánh không được rồi ổng mệt ổng lại tức thêm. Bất thình lình ổng la lên... Nghiêm! Tao nghiêm. nhá tay ở trên tao lo đỡ ở trên. Bất thình llình ổng giơ chân lên đá phía dưới, trúng vào chân tao. Nhanh quá tao không đỡ kịp nên bây giờ đau quá. May là ổng tha cho không phạt mấy ngày trọng cấm.Cú đá này chắc là nặng nên đến hôm sau cho tôi thấy tụi nó còn lấy tay xoa chân hoài!Đầu năm thứ ba, phòng tôi có thêm hai người bạn cùng khóa là Hoàng Ngọc Nhất Phan Vương. Bảng tên ở ngoài phòng để là Nhất Nhơn Vương ba đứa tôi khoái lắm! Nghe oai dễ sợ Nhất - Nhơn - Vương mà!Đối diện phòng của ba đứa tôi là phòng của Đại Úy Sanh, Khóa 22 - Cán Bộ Đại Đội Trưởng Đại Đội A. Phòng có ba đứa mà hết hai đứa thường hay xuống Câu Lạc Bộ uống bia. Nhất và Vương hay say sưa vào lúc tối khi về phòng ngủ. Khổ một nỗi khi say thì yên lặng ngủ đi. Đằng này lần nào cũng vậy một đứa thì rên, một đứa thì nhớ má cứ kêu má ơi, mẹ ơi. Có một đêm, hai anh chàng này coi bộ uống nhiều nên say nhiều. Tôi bên giường này nghe tiếng rên hừ hừ rồi khóc. Còn đứa kia thì cũng rên mà tiếng lớn hơn... má ơi má, mẹ ơi, nhớ mẹ quá rồi khóc. Tôi bực mình quá nói qua:- Tụi bây làm quá ông Đại Úy Sanh nghe đươc thì bị phạt hết cả đám bây giờ. Tao cũng nhớ Má tao, nhớ giường tao mà
Nhất - Nhơn - Vương nhạc nhỏ xuống thật thấp để tìm kiếm nghe ngóng. Cũng may hai đứa bên này cũng ngưng ngay tiếng rên. Tất cả im lặng thì Đại Úy Sanh mở âm thanh lớn nghe nhạc tiếp. Khi tiếng nhạc vang lên thì bên này hai thằng quỷ sứ lại tiếp tục rên kêu má ơi! Đại Úy Sanh lại vặn âm thanh thấp xuống, lại nghe ngóng. Dù tôi có cằn nhằn bao nhiêu thì hai thằng cứ thế… mà làm. Cuối cùng tôi nghe tiếng gõ cửa. Tôi vội vàng nhảy xuống giường, lấy dầu gió rắc lên giường thằng Vuong, rồi đắp mền phủ lên thằng Nhất... Thấy đàng hoàng rồi tôi ra mở cửa chào.- Tôi nghe như có tiếng rên khóc từ trong phòng này phải không? Chuyện gì thế?- Thưa Đại Úy, anh này hồi chiều xuống Câu Lạc Bộ ăn cái gì trúng nên bị đau bụng quá nên rên, Không sao đâu, Đại Úy.- Ừ, thế thì không sao. Ráng đợi sáng mai xuống phòng y SVSQ Khóa 26 và Khóa 29 trong một chiến dịcmiền Trung.
138 Cũng chắc chắn là trong ba thằng, không ai sẽ làm vua hay làm tướng!Còn một thằng bạn cùng khóa mà tôi rất thương mến, cũng vừa mới mất năm vừa qua. Nó rất hiền và thiệt thà như tên của nó, Nguyễn văn Lù!Nhớ những ngày đầu sau khi nhập trường, Khóa đàn anh 23 khi điểm danh cắc cớ cứ thích kêu hai tên Vũ Thái Môn và Nguyễn Văn Lù xưng danh lớn lên. Môn, Lù. Cứ vậy mà la to lên. Mấy ổng cười thì được chớ tụi tôi đang đứng trong hàng nghe mắc cười quá nhịn không được.Người nào cười thì bị phạt hít đất xong rồi chạy vòng sân trường vừa chạy vừa la lên:- Đời có gì vui đâu mà cười! Đời có gì vui đâu mà cười!!!Thời gian huấn luyện suốt bốn năm ở Quân Trường Võ Bị đã tôi luyện tôi trong muôn vàn thách thức gian lao cùng với bao kỷ niệm vui buồn. Những kỷ niệm này vẫn còn theo chúng tôi mãi mãi.Nhưng mà các bạn cùng Khóa 26 của tôi ơi! Trước đây tôi có ước muốn thế nào cũng có ngày sẽ về Trường Mẹ gặp lại các bạn! Nhưng bây giờ tôi thay đổi ý nghĩ của tôi rồi! Đừng ai kêu tôi gặp nhau tại Đồi 1515, hay hẹn gặp lại tôi tại Trường Mẹ. Không đâu!!! Vì Trường ta đã bị chiếm mất rồi! Chắc chắn, ta không muốn đứng chung với loài quỹ dữ!
Thăm Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc Một Đêm Tại Chiến Trường An Lộc Với Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng.Nguyễn Văn Ức, Khóa 16Năm 1965, tôi là trung úy trực thăng của Không Đoàn 74 Chiến Thuật tại Cần Thơ. Theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh Không Quân, mỗi sĩ quan phi hành đều phải thể hiện trách nhiệm của mình đối với các đơn vị Bộ Binh bằng cách làm sĩ quan liên lạc Không Quân cấp sư đoàn cho những đơn vị này. Vì thế, tôi đã được Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 217 biệt phái tới Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Ngày 9 tháng 10 năm 1965, tôi đã trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 để nhận nhiệm vụ. Tại đây, tôi mới có dịp đi theo Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Sư Đoàn tham dự các cuộc hành quân của sư đoàn tại Đặc Khu 21 Chiến Thuật. và khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn 21 bao gồm sáu tỉnh: Phong Dinh, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Chương Thiện, Kiên Giang, và An Xuyên.)Qua nhiều lần tham dự thuyết trình cho các cuộc hành, tôi đã có dịp gặp nói chuyện và biết hầu hết các đơn vị trưởng từ cấp tiểu đoàn trưởng trở lên của Sư Đoàn. Ở đây, tôi đã gặp lại các bạn cùng khóa, như Đại Úy Đoàn Cư - Khóa 16, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/31, tại Chương Thiện và Đại Úy
140 mưu của Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Bộ Tư Lệnh, như Đại Úy Mạch Văn Trường - Khóa 12, Trưởng Phòng Nhì và Trung Úy Trịnh Quang Chúc - Khóa 16, Sĩ Quan Quân Báo. Ngoài tình thân thiết với các bạn cùng khóa, tôi đặc biệt quý mến Đại Úy Hưng, mà theo thời gian liên lạc giữa chúng tôi đã trở nên bền chặt. Khi tôi ở đây, với các chiến công của đơn vị, cuối tháng 11 năm 1965, ông được đặc cách thiếu tá tại mặt trận. Đầu năm 1966, tôi được trả về đơn vị cũ và thường bay yểm trợ cho các đơn vị bộ binh. Vì thế, tôi rất ít có dịp gặp các vị tiểu đoàn trưởng đã quen biết của Sư Đoàn 21. Nhưng riêng với với Thiếu Tá Hưng, tôi biết cuối năm 1966, ông được cử giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 31 Bộ Binh. Ngày lễ Quốc Khánh 1 tháng 11 năm 1968, ông được thăng cấp đại tá nhiệm chức. Đầu năm 1969, ông được cử giữ chức Phụ Tá Hành Quân tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Trung tuần Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng trước Trung Tâm Hành Quân tại An Lộc, tháng 5- 1972.
Thăm Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc Chương Thiện. Là một sĩ quan trẻ và năng động (xét của nhiều cấp chỉ huy cao cấp của quân đội lúc đóTá Đảo đã cố gắng loại bỏ những thói quen tiêu cực trong dân chúng, như đá gà... Điều này ảnh hưởng ít nhiều đến thói quen (chứa đá gà) của một người nhà thuộc gia đình bên vợ Đại Úy Đoàn Cư, vốn đang làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/31 yểm trợ Tỉnh Chương Thiện. Tránh những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa đàn anh và đàn em, Đại Úy Cư đã xin chuyển ra Nha Trang phục vụ. Tháng 9 năm 1969, tôi được đề cử làm sĩ quan liên lạc Không Quân Hoa Kỳ. Trong thời gian này, tôi gần như không còn có cơ hội giữ liên lạc với các sĩ quan của Sư Đoàn 21 nữa. Tháng 12 năm 1970, sau khi hết nhiệm kỳ, tôi được bổ nhiệm làm Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn 221 Trực Thăng tại Không Đoàn 43 Chiến Thuật, Sư Đoàn 3 Không Quân, Một thời gian sau, tôi mới biết vào tháng 6 năm 1971, Đại Tá Hưng đã được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu được chuyển về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn và Trung Tá Mạch Văn Trường làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8. Khi có dịp lên thăm Trung Tá Trường, tôi lại có dịp gặp lại Đại Tá Hưng. Ông nói:- Giờ đây anh phụ trách yểm trợ cho Vùng 3 Chiến Thuật. Nếu có gì thì chúng ta yểm trợ lẫn nhau.- Tôi có biệt phái một chiếc trực thăng cho Sư Đoàn 5. Bây giờ Đại Tá là Tư Lệnh Sư Đoàn, chiếc trực thăng này bây giờ đặt dưới quyền xử dụng trực tiếp của Đại Tá. Nếu Đại Tá cần thêm thì có thể liên lạc để tôi có thể điều động thêm. Thời gian trôi qua có những chuyện bên lề tạo cơ hội cho
142 Quận Trưởng Tràng Bàng đã gọi cho tôi:- Ông Hưng không chịu cho đưa quan tài của anh Hiền về với gia đình, lấy lý do phải chờ mở đường.Tôi đã lên Dầu Tiếng gặp Đại Tá Hưng để xin phép cho đưa quan tài của anh Hiền về.- Tôi đang tính mở đường đưa quan tài cùa anh Hiền về đây. Nay có anh lo liệu dùm chuyện này nên tôi yên tâm rồi. Đại Tá Hưng như trút được gánh nặng đồng ý ngay. Đúng ra tình nghĩa chiến hữu là như vậy đó!Tháng 3 năm 1972, ông được thăng cấp chuẩn tướng tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 ở căn cứ Lai Khê, Bình Dương.Thời gian này, Phi Đoàn 221 biệt phái hàng ngày một trực thăng cho Sư Đoàn 5 xử dụng nên tôi đã có nhiều dịp liên lạc với ông. Đùng một cái vào đầu tháng Tư 1972, Việt cộng mở chiến dịch tấn công An Lộc, với ý định chiếm đóng nơi đây thành cái gọi là “thủ phủ” của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tôi được Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân, gọi đi họp với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III về việc chuyển quân tăng cường cho An Lộc. Trong hàng ngũ các phi đoàn trưởng có kinh nghiệm về trực thăng vận, tôi là một trong những người đó. Khi yểm trợ Vùng 4 Chiến Thuật, tôi và anh Tâm, Khóa 16 là hai người luôn dẫn đầu trong tất cả các cuộc chuyển quân tại đây. Chính vì vậy mà Đại Tá Nguyễn Huy Anh xin cho tôi làm sĩ quan Liên Lạc Không Quân Hoa Kỳ.Qua phần thuyết trình tôi mới được biết là Quân Đoàn III có ý định đưa Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Liên Đoàn 81 Biệt Kích,
Thăm Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc chuyến bay, qua máy bộ đàm. Tôi cũng trao một cái cho Thiếu Tá Bùi Quyền - Khóa 16, Trưởng Ban Ba của Lữ Đoàn, để tiện theo dõi.Sau khi đổ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù xuống An Lộc xong, Tôi tiếp tục đưa Đại Tá Lưỡng xuống Đồi Gió để ông trực tiếp chỉ huy, theo yêu cầu của ông.Ngày hôm sau, Phi Đoàn 221 tiếp tục thả Liên Đoàn 81 Biệt Kích và các tiểu đoàn của Trung Đoàn 8. Tuy nhiên, sau khi đổ xong một tiểu đoàn của Trung Đoàn 8 thì trời mưa tầm tã. Vì việc chuyện quân bị ngưng lại, nên tôi ra lệnh cho hợp đoàn trực thăng:- Bây giờ, các anh về Lai Khê. Khi nào tạnh mưa, chúng ta sẽ tiếp tục công việc của mình. Nhân tiện tôi muốn đáp xuống An Lộc thăm Tướng Hưng.Phi Đoàn 221 đang đổ quân vào An Lộc, 1972.
144 đánh với VC.Ông cười và nói: - Đủ thì nói là đủ, nhưng có rất nhiều Việt Cộng mà hiện này đang tập trung xung quanh An Lộc. Dân tác chiến phải như vậy thôi. Có gì mình chơi đấy. Anh và đây làm gì?-Tôi còn phải thả thêm tiểu đoàn sau cùng của Trung Đoàn 8, nhưng vì trời mưa nên đành chờ. Có chút thì giờ tôi vào đây thăm Chuẩn Tướng. Khi nào mưa tạnh tôi sẽ về thả tiếp.Quan sát cách làm việc của Bộ Chỉ Huy Hành Quân, và nghe các báo cáo tôi mới biết rõ tình hình mặt trận vô cùng phúc tạp.Chờ đến bảy giờ tối trời mưa không tạnh, tôi xin phép Chuẩn Tướng Hưng ra về.- Tôi cần phải về đề chuẩn bị. Ngày mai tôi sẽ chuyển tiếp tiểu đoàn cuối của Trung Đoàn 8 Bộ Binh.- Vào đây mà các anh không ở lại với tôi một đêm. Ông nói.- Để Chuẩn Tướng có thì giờ chỉ huy các đơn vị. Nếu tôi ở lại thì phi hành đoàn của tôi gồm bốn người không biết để cho họ ngủ ở đâu?- Họ ngủ trong bunker của tôi (hầm trú ẩn).Tôi gọi phi hành đoàn gồm Trưởng Phi Cơ, Hoa Tiêu Phó, Cơ Khí Viên Phi Hành, Xạ Thủ vào và chỉ cho họ chỗ ngủ qua đêm.Ngồi trong hầm chỉ huy, tôi để ý đến cách làm việc của ông. Mặc dù vẫn vui vẻ khi nói chuyện với tôi, nhưng ông có vẻ mệt mỏi và căng thẳng. Cũng không ngạc nhiên khi ông đã phải thức trắng nhiều đêm, như những người lính khác trong
Thăm Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc thuộc, cho những mệnh lệnh cần thiết, liên lạc để xin không yểm, pháo binh… Ông đang phải đối phó với một mặt trận mà lực lượng của địch lớn hơn tôi hình dung nhiều. Tôi không thể tưởng tượng chiến trường nguy kịch, các đơn vị phòng thủ phải đối phó với một lực lượng VC mạnh như vậy. Từng đoàn xe tăng T54 đang đi trên hương lộ đèn sáng trưng. Các đơn vị bộ binh của VC đang từ từ áp sát thành phố, tấn công liên tục và bám chặt như những con đỉa hút máu vào các đơn vị của ta. Đến 12 giờ đêm thấy cần nghỉ ngơi, tôi nói với ông:- Tôi cần dưỡng sức để sáng mai còn chuyển quân tiếp.May mắn, ông đồng ý. Tôi đã trằn trọc mất ngủ vì không thể đoán được tình hình mặt trận. Dù sao tôi đang ở Bộ Chỉ Huy của Tư Lệnh Chiến Tường nên tôi cũng yên tâm.Sáng hôm sau, khoảng 5 giờ sáng, tôi ra Ty Cảnh Sát và cho Ngày 19 tháng 5 năm 1972, khói bố lên từ bom khi lực lượng tiếp viện của VNCH tiến lên phiá Bắc bắt tay quân phòng thủ tại đây.
146 Cuộc tấn công bằng T54 của VC bộc lộ nhiều khuyết điểm chết người. Các T54 tiến vào thành phố nhưng không phối hợp được với bộ binh, nên không được bảo vệ. Bài học căn bản khi thiết giáp tràn vào mục tiêu địch là phải biết phối hợp chiến thuật “nhị thức bộ binh thiết giáp”. Thiết giáp với hỏa lực áp đảo có nhiệm vụ tấn công vũ bão tiêu diệt một phần lớn mục tiêu, trong khi bộ binh có nhiệm vụ lục xoát thanh toán các mục tiêu nhỏ và bảo vệ thiết giáp. Lúc T54 vào An Lộc lần đầu tiên, đơn vị bộ binh tùng thiếc của VC còn cách đó 10 km. Vì thế, chiếc T54 nào của chúng xuất hiện không đúng chỗ thì bị Biệt Kích 81 và các đơn vị trú phòng bắn cháy. Thậm chí, đã có vài chiếc bị hạ gục ngay trước Trung Tâm Hành Quân của Sư Đoàn 5. Trong ngày, tôi đã tiếp tục hướng dẫn Phi Đoàn Trực Thăng 221 chuyển nốt tiểu đoàn sau cùng của Trung Đoàn 8 BB vào Đồi Gió (sát phía Nam thị xã An Lộc).Sau một đêm ở An Lộc và biết rõ tình hình tại mặt trận nơi đây, tôi thấy thương cho anh em quân đội đang trú phòng. Họ đang trải qua một hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo. Số phận của họ tùy thuộc vào định mệnh mỗi người và quyết tâm chiến đấu của các đơn vị đánh bại quân VC tại đây. Vì thế, tôi luôn dẫn các phi hành đoàn lên tiếp tế cho An Lộc, cũng như tải thương, sau này. Mội lần như vậy là bốn trực thăng và ba gunship (trực thăng chiến đấu). Để tránh tổn thất vì phòng không của VC, các trực thăng bay thật sát trên đọt cây cao su. Khi VC ở dưới nghe tiếng máy may thì chúng tôi đã vượt xa rồi, nên bọn chúng không có đủ thì giờ bắn theo.Khoảng vài lần như vậy, tới khoảng giữa tháng 5/ 72, thì Việt cộng biết rõ lộ trình di chuyện, cũng như cách bay của
Thăm Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc Động Quân và đạn dược. Hai chiếc chở BĐQ và tiếp tế đã nổ cháy trên đọt cao su. Sau thiệt hại này, tôi đã vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III tại Lai Khê. trình bày cho Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn rằng cách tiếp tế bằng trực thặng không thể thực hiện được nữa, vì lộ trình và cách bay đã bị VC biết và sẵn sành chống trả. Tôi đề nghị Quân Đoàn cho Không Quân thả dù tiếp tế cho An Lộc. Sau khi nghe tôi trình bày, Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III đồng ý và liên lạc với Bộ Tư Lệnh Không Quân đổi cách yểm trợ cho mặt trận An Lộc. Nhưng lần tiếp tế sau, các máy bay đã thả dù hàng tiếp tế trên cao độ 6000, 7000 bộ. Chí có một nửa tới tay các đơn vị trong An Lộc. Một nửa còn lại vào tay VC. Tôi có đề nghị dùng C130 bay thấp khi tiếp tế. Cách làm này sẽ tránh được thất lạc vì VC bám rất sát lực Một đơn vị Nhảy Dù đang tiến vê phía Bắc tới An Lộc dọc theo Quốc Lộ 13 vào tháng 4 năm 1972.
148 đơn vị trú phòng không còn được tăng viện quân đã bị tổn thất, không tải thương, không được tiếp tế đạn được, súng đạn. Họ phải tự chiến đấu. Vào khoảng đầu tháng 6 năm 1972, không tin vào sức mạnh phòng không của VC qua các báo cáo của Quân Đoàn III, phía Hoa Kỳ cho biết họ đã bay thử vào An Lộc mà không gặp trở ngại, không bị súng phòng không của địch bắn. Tôi đã được Tướng Tính yêu cầu kiểm soát lại. Tới bãi đáp trực thăng tại Lai Khê thì tôi thấy bốn chiếc trực thăng của Mỹ vẽ bốn vạch sơn trắng từ lườn bên này sang bên kia. Ngoài ra, phi hành đoàn còn đội helmet (mũ bay) trắng. Tôi đã biết rằng chúng tôi đang bị chơi xỏ. Khi tôi chất vấn viên phi công Hoa Kỳ về màu sơn kỳ lạ này (không dùng để ngụy trang mà là một ký hiệu cho VC nhận rõ đây là máy bay Mỹchối trả lời. Khoảng thời gian sau đó, trong phiên họp của Quân Đoàn III, Đại Tá Trưởng Phòng 3 đã thuyết trình về cách hành quân tiếp ứng cho An Lộc bằng cách chuyển Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh và Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù vào mặt trận này. Sau khi nghe hết kế hoạch “chuyển quân”, tôi đã trình bày:- Nếu làm theo kế hoạch của Quân Đoàn thì tôi thú thật tôi không bảm đảm có thể chuyển quân an toàn. Nếu Trung Tướng đồng ý thì ngày mai lúc 6:00 giờ, tôi sẽ thuyết trình cho cách đơn vị trưởng của Trung Đoàn 15 và Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù chỗ nào đổ quân và cách đổ quân như thế nào. Tôi có thể đảm bảo với Trung Tướng là tôi có thể đưa hết hai đơn vị này tới An Lộc an toàn.- Nhưng chỗ đổ quân của anh có gần An Lộc không? Trung Tướng Minh hỏi.
Thăm Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tại An Lộc - Đồng ý. Tướng Hưng ở An Lộc đang bị chảy máu, rất cần em tiếp máu cho ông ấy. Nếu không thì ông ấy chết. (gọi những thuộc cấp dưới quyền là em. Tôi không phải là một ngoại lệ.)- Thưa Trung Tướng, Chuẩn Tướng Hưng là người tôi được biết nhiều. Gần đây, tôi cũng có cơ hội tiếp xúc với ông tại Trung Tâm Hành Quân Sư Đoàn 5 tại An Lộc, trong một đêm tôi ngủ tại đây. Là quân nhân việc tiếp tế cho Tướng Hưng là nhiệm vụ, huống chi tôi được biết ông từ trước.6:00 giờ sáng hôm sau, trước các đơn vị trưởng của Trung Đoàn 15 Bộ Binh và Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tôi đã trình bày kế hoạch đổ quân của hợp đoàn trực thăng của Không Đoàn 43 Chiến Thuật Sư Đoàn 3 Không Quân.chuyển quân của hợp đoàn trực thăng, gồm 30 chiếc, là lần tiếp viện quân rất lớn cho An Lộc. Kế hoạch cùa tôi như sau:Mỗi chuyến đổ quân gồm 30 trực thăng. Mỗi hợp đoàn 10 chiếc, cách nhau 5 phút. Các trực thăng chỉ đáp cách mặt đất Một T54 bị Trung Đoàn 8 BB bắn hạ vào tháng 5, 1972 tại An Lộc.