200 chỉ có thuốc. Cái giá phải trả cho tự do cho nhân quyền cho nhân đạo thật quá đắt khi còn bỏ lại quê hương dưới ách cộng sản.Bước lên cầu tàu An Thới Phú Quốc, trong vòng tay bảo bọc yêu thương của người chồng đã nợ tôi từ kiếp trước. Anh nói:- “Qua lòng thành khẩn cầu xin Chúa mà em và con đã lọt qua một khe hở mỏng manh giữa hai lằn đạn.“Giọt lệ ăn năn hòa trong hạnh phúc, tôi đã cám ơn anh bằng cả tình yêu của một đời tha hương và mãi đến ngàn sau.Kính yêu về anh,Huntington Beach - Tháng 4, 2024
Thơ Ngậm Ngùi Ngậm NgùiNguyễn Trọng Việt, Khóa 23Không làm tướng thì làm dânthân lãng tử nương nhờ nơi đất kháchnay phải sống trọn một đời lữ thứbao vui buồn trộn lẫn với ưu tưƯớc mơ về bến cũ, con đò xưanhớ nhà khói thuốc bay lên mãirượu mới vài ly đất trời quay mặc... thế sự đổi thaymặc... nhân tình tráo trởchỉ tìm vui trong tiếng hát lời camực đã khô, bút cũng tà theo năm thángvẫn làm thơ tiếc nuối một thời xata vẫn nhớ tiếng gầm thét xung phongnơi chiến địa reo vang lời chiến thắngtiếp nối dòng lịch sửcao cả chí nam nhinhững cứ tưởng vươn cao, vươn cao mãi...nhưng bỗng chốc... tan tành theo mây khóivận nước điêu linh ta đành chịuthân nầy muốn cứu cũng khoanh tayngửa cổ nghiêng bình ta cứ say
202 Để Nhớ, Để Thương.“Còn một chút gì để nhớ, để thương” SVSQ cán bộ Khoá 17 - Lê Lai.”Sau khi đậu Tú 2B, tôi nạp đơn vào Khoá 19 Võ Bị, Khoá 62 Không Quân và thi vào Khoả 12 Hải Quân với quyết tâm trúng nơi nào thì vào nơi đó ngay. May thay, Võ Bị rồi Không Quân gọi, còn Hải Quân thì phải chờ kết quả thi. Tôi đang phân vân giữa Võ Bị và Không Quân thì bu tôi góp ý:- Con đi Không Quân nó bay bay, bu sợ lắm! Con đi Đà Lạt, có chị con trên đó, sau này học xong, nhờ chị lo cho cùng làm việc một chỗ với anh thì bu an tâm hơn.Anh rể tôi làm cảnh sát ở Đà Lạt từ những năm 1957, tôi đã từng lên đó nghỉ Hè nhiều lần, đã từng ngắm các ông sinh viên sĩ quan Đà Lạt dạo phố, liếc các ông khi đến chơi nhà cô Hồng hàng xóm (nhà chị tôi 16C, nhà cô Hồng 16D Phạm Ngũ Lão Đà Lạt). Vì thế tôi chọn VB ngay.Ngày nhập trường, tôi mang cạc-táp giày da bóng láng để đạo phố như thầm khoe với cô hang xóm: “Ta cũng là sĩ quan Đà Lạt”! Nào ai ngờ giày da lại là tai hoạ cho những ngày tháng đầu tiên đầu đời binh nghiệp. Người giáng hoạ xống
Để Nhớ Để Thương Quan là các ông quay lưng với dịu dàng, như những “hung thần” hò hét, quát tháo, nạt nộ tân khoá sinh khiến chúng tôi hoảng sợ. Các ông cán bộ hét: “Chạy theo tôi”, thế là đám tân khoá sinh tay xách, nách mang, vai vác, lê lết, lếch thếch lẽo đẽo theo sau, gặp ngay vũng nước, sợ ướt đôi giày da mới, tôi chạy né qua một bên, ông nạt:- Đạp vào vũng nước cho tôi.Hoảng hồn, tôi nhảy đại vào vũng nước, ông nạt tiếp:- Năm cái nhảy xổm.Nhảy xổm trong vũng nước! Thế là tiêu đời nhà ma đôi giày da rồi! Ông hung thần đó là sinh viên cán bộ Võ Toàn. (người trong hình).Rồi liên tiếp tám tuần sơ khởi là “tiêu đời TKS”. Chúng tôi chịu mọi hình phạt-nói đúng ra là các bài học về thể chất với Hai đại đội Tân Khóa Sinh đang trình diện vị chỉ tọa. Đứng giữa là Đại Úy Lê Huy Cự Khóa 16.
204 theo thì minh mẫn cái gì!Thực ra tất cả chỉ nhằm mục đích huấn luyện cho người lính hiểu “kỷ luật là sức mạnh của quân đội, thi hành trước khiếu nại sau”. Các cán bộ Khóa Lê Lai chỉ là giơ cao đánh khẽ, hò hét cho oai, khẩu xà tâm Phật, đầy tình thương kín đáo nhẹ nhàng.Những “hình phạt” tám tuần sơ khởi thì sinh viên sĩ quan nào cũng biết, cũng nhớ, đó chính là sợi dây liên kết tình huynh đệ mãi mãi về sau.Trong bài viết này tôi chỉ xin ghi lại “một chút gì để nhớ đề để thương” với các hung thần Khoá Lê Lai đã huấn luyện chúng tôi nên người, những đàn anh đáng kính mà tôi có dịp quen biết, tiếp xúc trên mọi miền đất nước. Do đó, kể từ đây, những niên trưởng Khoá Lê Lai mà tôi gọi là “hung thần, là ông, là thày, là anh v.v..là đôi khi có tí rỡn mặt đùa vui, nhưng thực lòng là luôn kính trọng, nhất là “Anh”. Đã là anh-em trong đại gia đình, gà cùng một mẹ-Trường Mẹ, thì chúng ta phải luôn cư xử với nhau “trên kính dưới nhường” cho đúng với tinh thần của một gia đình lễ giáo, tôn ti, trật tự.Trong Quân Trường:Anh Võ Toàn là sinh viên cán bộ Đại Đội H/ K19 Tân Khoá Sinh, người thầy đầu đời binh nghiệp nên tôi nhớ từ vóc dáng đến cử chỉ, lớn giọng nhưng nhỏ con, mỗi khi di chuyển, dù chạy hay đi, hai cánh tay anh khuỳnh ra tựa như gà mẹ dang cánh che chở đàn con. Dù đã 62 năm (1962-2024) tôi vẫn nhớ lần bị anh “phạt” đến ứa nước mắt.Chiều Đông 12/1962 mưa phùn gió bấc, trên bãi tập chiến thuật cạnh hồ Than Thở, TKS/ K19 ngồi co ro ôm Em Một (Garant M1) ngủ gà ngủ gật học bài vượt sông, trong lúc bụng
Để Nhớ Để Thương trong miệng. Kẹo chưa lột giấy, ngậm mãi chưa tan nên lưỡi phải làm việc khiến hai gò má nhúc nhích…Vị ngọt vừa thấm thì tôi nghe ai gõ lên nón sắt, quay lại thấy cán bộ Võ Toàn cầm cây “gậy chỉ huy” hất hất ra lệnh cho tôi đứng dậy, ra khỏi hang, ông nghiêm mặt khẽ hỏi:- Anh nhai cái gì trong miệng?Trời đất quay cuồng, tự giác là thước do tư cách SVSQ, tôi ấp úng:- Thưa kẹo Nougat.- Mua ở đâu? Ai cho? Bao nhiêu cái?- Thưa Niên Trưởng Nguyễn Quang Kim cho 10 cái.Ông hét lớn:- Anh bò cho tôi 5 phút, rồi xuống giọng thật nhẹ ,“Nuốt cho hết kẹo”!Tinh thần không minh mẫn nên chỉ còn biết thi hành lệnh “phạt” mà ứa nước mắt. Hạnh phúc cũng khóc, miếng ngon nhớ lâu điều đau nhớ đời.Anh Võ Toàn K17, đàn em K19 kính phục Anh.TKS mà có người thân quen là VIP, cán bộ, là khoá trước thì chỉ có… chết, dựa hơi là hết thở với cán bộ huấn luyện. SVSQ nào cũng biết điều đó đề sau này ra trường, tự đứng trên đôi bàn chân của mình, từ chối mọi ân huệ “con ông cháu cha- COCC” thực tế đã có vô vàn trường hợp như thế, trường VB đã dạy sinh viên như thế. Nguyễn Quang Kim biết rõ điều đó, anh phạt tôi, nhưng vẫn còn một chút gì đó để nhớ để thương.Hai tay nâng M1 đưa thẳng lên trời, chạy trên đường quanh
206 - Làm gì mà nạt nộ hách xì xằng thế, “mày với tao” học cùng lớp Petrus Ký mà.Giận quá, nhưng vẫn phải cắn răng thi hành lệnh: bò trên sân cỏ. Thoáng chốc, tôi mới nhận ta được bò trên sân cỏ xướng hơn nhiều lần ôm Em Một chạy…Tối hôm đó anh Kim đến phòng quăng cho tôi gói kẹo, rồi quay đi.Hai ông K17 phạt tôi, một ông bắt tôi bò rồi quăng cho gói kẹo, một ông bắt tôi bò rồi ra lệnh nhai sao cho hết! Những hình phạt: “Còn một chút gì để nhớ để thương”.Khoá 20 nhập trường (12/1963), tôi thấy Nguyễn Ngọc Tư, bạn cùng lớp L.P.Ký, hý hửng vui mừng, vài ngày sau thấy hắn tã như cái mềm rách nhúng nước, ôm ga-răng chạy lê lết chót hàng quân, nhớ nỗi khổ của tôi năm trước, học cách phạt của anh Kim K17, tôi cũng hét vào mặt thằng bạn:- Anh kia, chạy không đúng thế, bò vào sân cỏ cho tôi.Hình như Nguyễn Ngọc Tư giận lắm, nhưng vẫn phải ngoan ngoãn bò.Tối hôm đó tôi lén mang cho bạn gói kẹo Nougat, Tư cầm lấy rồi vất vào góc phòng! Tôi không nói câu nào mà vội quay đi, léng phéng cán bộ Tiểu Đoàn Trưởng TKS Lê Khắc Kha (tục danh Cùng Hung Cực Ác) trông thấy thì phiền cho Nguyễn Ngọc Tư.Sau này khi ra trường 11/1965, Tư đổi tên là Nguyễn Ngọc Tú, chọn Binh Chủng TQLC, gặp nhau, ôn chuyện cũ, hai thằng cùng cười.Trong số cán bộ TKS, người mà chúng tôi được (bị) săn sóc
Để Nhớ Để Thương trong cổ họng cho giọng khan khàn:- Anh này ăn mấy chén (bát) rồi?Hiếu, Nguyễn Xuân Huy, Tô Văn Cấp ngủ trên giường, còn Lê Quang Chích vốn chậm chạp, sợ làm giường vuông góc không kịp nên Chích ngủ dưới sàn, “thấy em nằm đất anh thương”, anh bắt Chích lên giường nhảy xổm. Nhảy xổm trên giường nệm lò-xo!Đây là đoạn phim khôi hài được ghi vào sách kỷ lục Guinness, nhìn Chích để hai tay lên đầu, khom khom gối hạc, Chích nhảy lên thì đầu đụng gầm giường tầng trên, rơi xuống thì lo xo nhún nhảy đẩy Chích rơi xuống đất! Dẫu làm bộ nghiêm như ông thánh sống thì ông Linh Thẹo vẫn phải bụm miệng cười, 3 thằng tôi đang sợ té đé, thấy Ông bụm miệng đi ra, cơn nín cười bị đè nén được dịp bung ra, chúng tôi ho Một đại dội Tân Khóa Sinh Khóa 19
208 gập cằm trước phạm điếm (nhà ăn) nhưng tên nào cũng len lén liếc mắt dòm theo mà thèm cho phận mình. Các thiếu uý ấy đã trải qua hơn 3 năm rồi, còn chúng tôi mới vừa đúng 1 tháng trong quân trường, đường còn dài, lắm chông gai, không biết sức có kham nổi… đang than thân cho tương lai thì giật mình trở lại với thực tế bởi tiếng thét:- Nghiêmmmmmmmmm.Với giọng khan-khàn, hung thần nón nhựa cao giọng dạy dỗ:- Ai cho phép các anh liếc… các thiếu uý? Các anh mới chỉ là tân khoá sinh, tương lai còn tuỳ thuộc vào… (vào cái gì thì ông không nói mà lại hô tiếp)- Nghiêmmmmmmm (tiếng thét khiến những hồng Đà Lạt có gai ngó TKS chúng tôi, cười chúm chím)- Hôm nay có chương trình văn nghệ mừng các tân thiều uý, các anh là tân khoá sinh, tôi cho phép tham dự, nhưng phải ngồi yên, không được vỗ tay, không được cười, ai muốn cười thì bước ra khỏi hang, nghe rõ chưa?- Rõõoooooooooo.Cả tiểu đoàn TKS cùng hét lên vang một góc rừng, dường như trong đó có những tiếng hét như có dịp để trút bớt nỗi buồn.Hung Thần đó là anh Nguyễn Tiến Đức-khẩu xà tâm Phật, tiếng thét của anh dạy cho chúng tôi biết mình là ai trong gia đình Võ Bị, cười nói phải cho đúng nơi đúng lúc. Tôi ghi nhớ lời anh dạy nên từ đó tôi ít cười, ít dám cười với ai. TKS/K19 trông ngố thế này mà dám liếc Hồng có gai ĐL!
Để Nhớ Để Thương bạn cùng phòng (Chích Hiếu Huy) phải giúp tôi cởi quần áo ướt, mặc quân phục tác chiến số 3 mới kịp giờ Ông Dương Đức Chỉ ấn định! Từ đó cứ thấy bóng dáng ai từ xa đi tới thì chào cho chắc ăn, dù đó là anh lính “Cà Chăn Ngựa”. Năm 1967 tôi được ngồi chung lớp BBCC (Thủ Đức) với các anh Văn Cảnh 16, Xuân Vinh, Đức Chỉ 17. Chú em 19 được 3 ông anh bao free hủ tíu cafe suốt khoá học. Một thời gian ngắn sau khi trở về đơn vị thì anh Cảnh báo tin Đức Chỉ “đứt chỉ”! Nay thì anh Cảnh cũng đi rồi. May mà chưa một lần tôi có lỗi với các anh.Thôi giã từ các hung thần trong quân trường, tôi đi trình diện các anh K17 ngoài chiến trường-Binh Chủng TQLC.- Khoá 17 Võ Bị ở Binh Chủng TQLCKhóa 17 ra trường tháng 3/1963, có 12 Thiếu Uý về TQLC:Lê Văn Cưu*, Phạm Dương Đạt, Nguyễn Ngọc Điệp* Nguyễn Tiến Đức*, Trần Kim Hoàng*, Trịnh Kim Huệ*, Đinh Xuân Lãm*, Nguyễn Duy Long*, Huỳnh Văn Lượm*, Ngô Văn Mẹo*, Nguyễn Văn Nhạc, Tăng Minh Sang. (* không còn nữa!)K17 về TQLC sau K16 chỉ 3 tháng thôi, các anh đánh đấm cũng tưng bừng khói lửa mà đường binh nghiệp thì lận đận vô cùng. K16 có 11 anh thì đều làm tiểu đoàn trưởng cả, trong khi K17 có 12 anh thì chỉ có 2 anh là TĐT, đó là Long Lễ Huỳnh Văn Lượm và Lâm Đồng Đinh Xuân Lãm.Thâm niên Binh Chủng từ 3/63 mà tới 9/68, anh Lãm vẫn còn là đại đội trưởng. Trong trận kinh Cái Thia (Cai Lậy) 31/12/67, tôi coi ĐĐ.1, anh Lãm coi ĐĐ.2, Trần Văn Thương ĐĐ.3, Trần Văn Hợp ĐĐ.4, đến tháng 9/68 thì anh Lãm mới lên Ban 3 Tiểu Đoàn.
210 Ngoài hai anh Lượm và Lãm coi như nổi nhất K17 thì anh Lê Văn Cưu đáng lẽ mới là người nổi trội. Khi ở TĐ.1/TQLC, anh là người lên trung uý và là đại đội trưởng đầu tiên của K17/TQLC, trước cả mấy anh K16. Anh có tài, không tứ đổ tường mà chỉ phân nửa, có tí tật thích “bay nhảy” nên đường binh nghiệp của anh cũng nhảy lung tung. Những năm tháng cuối cùng anh về Hậu Nghĩa dưới quyền Ông Tỉnh Tôn Thất Soạn như cá gặp nước. Trước đây khi còn ở TĐ.1/TQLC, Tiểu Đoàn Trưởng Tôn Thất Soạn đã cho anh Cưu làm ĐĐT, nay Ông Tỉnh bắt Cưu coi một cái quận thật nghèo kinh tế nhưng thật giầu “mãng cầu gài” (lựu đạn).Sau 30/4, trong tù, tôi ở chung với các anh Cưu, Hoàng, Lãm, Huyền (Mai Lệ) nên mới thấy cái tài “vờ vịt” của anh Cưu. Ngay từ những ngày đầu tiên ở Long Giao, anh đã bị bệnh “gai” cột sống, anh khoét chỗ nằm một cái lỗ trũng cho vừa cái lưng, anh đi lòm khòm như mặc áo không quần, cai tù thấy vậy cho anh nghỉ bệnh, miễn “lao động là vinh quang”.Anh qua mặt cai tù, không đi lao động, khi ra tù, anh cong lưng lái xe đạp thồ, rồi sau đó qua mặt công an phường, anh thuê một cơ sở tôn giáo (trên đường Trần Quốc Toản bị VC tịch thu) mở câu lạc bộ, anh gọi là: “Tụ Nghĩa Đường Tứ Hải Giai Huynh Đệ”, nơi gặp nhau an toàn của các cựu tù, trước mắt công an phường.Tôi hỏi anh hết “gai” cột sống hồi nào mà ngay lưng vậy, anh mỉn cười:- Tao lấy dao cạo cạo, nghe xạo xạo.Ngày tôi ra mắt sách Nửa Đường, anh từ San Jose xuống dự và ôm về một thùng để tặng bạn bè. Anh thương tôi vì tôi phục anh.
Để Nhớ Để Thương Khoá 17 huấn luyện K19 chúng tôi trong quân trường, nên ở TQLC, chúng tôi rất kính nể các “hung thần” này. Đã từng làm việc và ở tù chung với các anh Lê Văn Cưu*, Trần Kim Hoàng*, Đinh Xuân Lãm*, Huỳnh Văn Lượm*, Lê văn Huyền*. Các anh thương tôi và ngược lại, “sống chết có nhau” ngoài chiến trường, “giúp đỡ lẫn nhau” trong ngục tù CS. Nay thì cả 5 anh không còn nữa! Tôi thương nhớ và kính phục các anh vô cùng. (*tt: từ trần, tử trận, tuẫn tiếtTính đến nay (1/2024) đã có 9/12 anh tử trận và từ trần, còn 3 anh Phạm Dương Đạt, Nguyễn Văn Nhạc, Tăng Minh Sang thì không biết phiêu bạt phương nào?K17 Hải Ngoại.Có những “Ông Lê Lai” chỉ nghe danh, khi ra hải ngoại tôi mới được hân hạnh trình diện. Người đầu tiên tôi trình diện là anh Nam Sinh Tín, rồi liên tục được sinh hoạt với anh trong Còn đâu mái tóc đẹp đẽ ngày nào!
212 văn, làm thơ, ca nhạc sĩ v.v…Cái “tuyệt vời” ở đây là tư cách, tính hoà đồng và “mình vì mọi người”. Trong ngày Khoá Lê Lai kỷ niệm “70 Tuổi Đời 50 Tuổi LínhNam Sinh Tín đã hy sinh cắt tóc đuôi gà Mexicana để đóng trọn vai một sinh viên sĩ quan trong quân phục dạo phố mùa Đông với bản nhạc Mimosa, đẹp thật, trẻ thật. Đây là một sự hy sinh không nhỏ của SVSQ Tín, Khóa 33 (16+17=33). Anh và chúng tôi thường ngồi quanh bàn trà, café, anh mỉm cười nghe đàn em nổ, đúng giờ anh đứng đậy mang food togo về cho chị. Rồi một ngày, bất ngờ nghe tin anh về cõi phúc.Kính chúc Anh thượng lộ bình an, tiếp sức mạnh cho chị lãnh trọng trách.Cái hình ảnh đáng sợ nhất nhưng cũng oai phong nhất đối với K19 chúng tôi ngay từ thuở ban đầu vừa bước vào cổng trường rồi theo đuổi chúng tôi suốt 8 tuần lễ sơ khởi và cho tới ngày nay là cái ông đội nón nhựa, thắt lưng cổ truyền, găng tay trắng, bốt-đờ-sô bóng láng, miệng lúc nào cũng hét: “Chạy theo tôi”, rồi đổi giọng gay gắt ngay:- “Anh này hít đất cho tôi, anh kia bò cho tôi”!TKS thắc mắc tại sao ông không nói “bò theo tôi” (ông bò tôi bò theo).Hình bóng năm xưa ấy đêm nay xuất hiện đều đều trên sân khấu, SVSQ Cán Bộ Bùi Viện Nguyễn Tiến Mão cũng hò, cũng hét nhưng K19 chúng tôi không còn ngán ông nữa, vì lý do cái nón nhựa không chịu đánh bóng, bụng ông to khó kéo quần lên nên đành để nó xệ xuống! Chỉ một mình ông là hung thần hò hét, sau lưng ông là những bông hồng đang chờ ông hét cho xong để các chị hát cho mọi người nghe.Giữ sức khoẻ nghe ông Bùi Viện Nguyễn Tiến Mão đồng
Để Nhớ Để Thương đàn... Thấy ông hiền lành dễ tính, gặp đàn em-tôi, ông mỉm cười đưa tay chào trước khiến tôi “lờn mặt” gọi ông là nhạc sĩ Lục Thiên Huyền Cầm, loại đàn đứt giây nào, bỏ đây đó nó vẫn kêu. Trêu đàn anh chút chút cho vui tình huynh đệ.Khi còn là TKS, mỗi khi vào phòng ăn, cán bộ TKS cho nghe nhạc, loa vừa cất lên:- Bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi… ngày mai tôi đã đi xa rồi, thành đô lưu luyến…Tới đó là ông cắt cái “cụp”, tân khoá sinh hụt hẫng, nhớ quá khứ, nước mắt chảy vòng quanh. Thế rồi đâu đó khắp phạm điếm tiếng quát tháo: “Tại sao anh khóc”? Không ai khóc cả nhưng mắt đỏ hoe vì tôi đã đi xa thành đô rồi. “Biệt Kinh Kỳ” ơi, nhớ em…Đêm nay, đêm Hội Ngộ 50 Tuổi Lính, Ông Hoàng ngày xưa ấy lại bắt chúng tôi nghe Biệt Kinh Kỳ. Biệt Kinh Kỳ gieo sầu não. Lại cũng Ông Hoàng bắt chúng tôi hát “Tiểu Đoàn Tân Khoá Sinh”, bản nhạc mà chúng tôi vừa ca vừa khóc nên nay chẳng còn nhớ câu nào. Xin lỗi Ông Hoàng, người… trên thông thiên văn, dưới thông địa lý, ông đúng là:Người mà không riêng tôi mến phục, mà hầu như những ai tiếp xúc, làm việc dưới quyền ông thì đều xác nhận như vậy, ông có võ, lại có vũ (khí) nên người đời gọi ông là: “Song Vũ”.Bắn sung giỏi, viết văn hay mà khiêm nhưởng chỉ là “Song Vũ” chứ không song-phi như những “cậu ông Thiên”.Nói nhiều về ông thì lại mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ”.
214 Câu chuyện Để Nhớ để Thương còn dài, xin để hồi hai. Cuối bài này tôi xin kết thúc bằng một danh xưng luôn đứng chót, không những thế, còn được Guinness ghi nhận là kỷ lục ngắn nhất, nghèo nhất, đến nỗi cái tên cũng không có chữ lót. Nhưng ông giàu chữ nghĩa, văn thơ lai láng. Ông chính là thày chỉ tôi cầm bútÔng là Bắc Đẩu, văn võ song toàn, nhưng cái hay của ông là luôn luôn “lùi một bước”. Nói thế thôi, lùi một bước nhưng nếu cậu ông trời nào cứ lần tới thì sau lưng ông là chân tường. Người lái phi công giúp ông có những người con ngoan. Nay ông an nhiên tự tại bên bàn phím còm-bìu-tờ, bàn “mã tước”.Mã tước là con chim sẻ, là quân nhất sách, xoa mạc-chược là xoa mà tước, xoa con nhất sách, chốn dân gian gọi là xoa (bài) chim.Cầu chúc ông thêm dăm ba “đứa con” nữa/* * *Bài điếu tiễn Lâm ĐồngDiễn hành tại Sài Gòn
Để Nhớ Để Thương của Trâu Điên.Cấp chỉ huy lý tưởng của TĐ.2 và TĐ.16/TQLC.Đã xung phong tiến lên đồi một mình.Anh chiếm mục tiêu nhanh quá và bất ngờ quá!Người người ngỡ ngàng.Lâm Đồng hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng thật rồi sao?Nào có ai hối thúc gì anh đâu?Anh đi rồi để lại phía sauChị Lãm đau khổ, các cháu khóc thươngĐồng đội đồng hương nhớ anh mãi.Quay lại quá khứAnh Nam, tôi Bắc Kỳ nhưng cùng chung L.Petrus Ký, rồi giã từ bút nghiên, anh trước, tôi sau cùng nhau gia nhập Võ Bị,Anh niên trưởng cán bộ K17, tôi, tân khóa sinh K19, anh hành hạ tôi, lột xác tôi, huấn luyện tôi, dạy dỗ tôi, hun đúc tôi cho thành người cứng cựa, nhọn sừng.Thủ khoa K17 Vĩnh Nhi bắn cung tên, ngày mãn khóa, anh tình nguyện về Binh Chủng TQLC.Thủ khoa K19 Võ Thành Kháng bắn cung tên, ngày ra Vĩnh Nhi, Thành Kháng tử trận, anh tôi không nản chí. Đồng khóa cùng chìa K17/TQLC Điệp trúng đạn ngã xuống thì anh xông lên cầm quân thay thế.Bao nhiêu đồng đội, đồng môn đã ra đi, nhưng anh và tôi vẫn súng đạn, bản đồ cầm tay cùng đoàn quân Cọp Biển xông pha từ đầu cầu Gio Linh, Bến Hải, lên Cao Nguyên, Kontum, Pleiku, xuống đầm lầy U Minh Thượng Hạ,, đến tận mũi Cà Mau trong màu áo rằn ri với huy hiệu Trâu Điên trên cánh tay
216 Nguyễn Quốc Chính tử trận, đạn RPD xuyên màng tang! Bên kia, phòng tuyến của đại đội anh mong manh sắp vỡ,Đại đội trưởng Lâm Đồng cùng đại đội phó Vũ Đoàn Dzoan mang quân trừ bị trám tuyến, M60 quét dọc quét ngang, địch vội vàng tháo lui, nhưng quân ta cũng bị sứt mẻ.Đang chuẩn bị đón tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968 bên bờ sông Cai Lậy thì được lệnh lên Chinook, trực chỉ Saigon, đổ quân xuống sân cờ bộ Tổng Tham Mưu, trước dinh Đại Tướng. Trâu Điên mang quân về “giải phóng Thủ Đô”. Đợt 1, đợt 2, đợt 3 xong xuôi, thanh bình trở lại với Saigon thì Trâu Điên lại lên đường vào rừng núi Tây Ninh.Tháng 9/1968.Khiêm Hanh TN, địa danh Cầu Khởi, ĐĐ.1/TĐ.2/TQLC của tôi nhẩy trực thăng lục tìm địch, chẳng cầm tìm đâu xa, địch bao vây ngay xung quanh bãi đáp.Địch áp sát cho đến nỗi cố vấn Mỹ sợ quá phải vội vàng theo trực thăng tải thương di tản. TĐT Đồ Sơn cùng Ban Ba Lâm Đồng xử dụng hết mọi hỏa lực yểm trợ, từ B.57 tới Cobra, PB đầu bạc, PB 105 ly bắn cận tuyến và ngay trên tuyếnĐịch tháo lui, xác địch nẳm bên xác Trâu Điên, gần 20 anh em TQLC vừa bị thương vừa tử trận. Nhưng hơn 70 đồng đội được cứu sống. Cám ơn TĐT, cám ơn Trưởng Ban Ba, những cấp chỉ huy đơn vị can đảm, tận tụy.Khói súng chưa phai khỏi túi áo với bảng tên màu tím thì chỉ vài ba ngày sau, Đại Đội 3 của Trần Văn Thương và ĐĐ.1 tôi lại đổ xuống Bời Lời.Địch tận tình đón tiếp với đủ mọi loại pháo, có cả tiếng “cắc-cắc, tùng-tùng” của mười hai ly bẩy. Lưới đạn phòng
Để Nhớ Để Thương chiLại vẫn các anh, Saigon, Đồ Sơn, Lâm Đồng túc trực trên C&C.Đêm ấy Đồ Sơn, Lâm Đồng bay không nghỉ.Chỉ cho tôi hướng địch di chuyển, vị trí cối 61, 82 ly.Hướng dẫn Hỏa Long, chận đầu, chặt đuôi đám cẩu tặc.Cho tới lúcMặt trời lên, ánh sáng không xuyên qua được khói súng, nhưng xung quanh LZ đám giặc lúng túng, vẫn chạy vòng quanh, làm mồi ngon cho gunships. Tiểu đoàn xuống tiếpTrâu Điên đoàn tụ, Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lênh mặt trận đến quan sát xác địch.Anh, tôi tiếp tục chiến đấu. Nhưng như kiến bò miệng chén, ngày 16/9/69, Chương Thiện, tôi bị loại khỏi cuộc chiến.Anh vẫn hiên ngang khắp nơi, Cao Miên, Hạ Lào, Quảng Trị.29/3/75, Lâm Đồng, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.16/TQLC đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ cùng đồng đội bảo toàn đơn vị xuôi Nam dưới chân đèo Hải Vân, còn tôi, dưới chân núi Sơn Chà, căn cứ Non Nước cũng bơi ra biển lên tàu.Từ Vũng Tàu, Anh cùng đơn vị tiếp tục lên đường chiến đấu.Long Khánh, Long Thành, Long Bình, Biên Hòa, cầu Đồng Nai xa lộ.Dẫu biết rằng số phận sẽ hẩm hiu.Lui về cố thủ, tử thủ trong căn cứ Sóng Thần dưới quyền TLP Tango.
218 Anh và tôi “tự nguyện” đưa tay vào còng, làm thân tù mà không tội.Tội của ai kia?Khởi đi từ Taberd, Long Giao, Suối Máu.Lào Cai, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang Vĩnh Phú, Thượng Du Bắc Việt.Anh tôi, niên trưởng niên đệ, đồng đội nhìn nhau không nói, chảy nước mắt, muốn trào máu họng. Nhưng nương vào nhau mà sống, sống đúng tư cách một TQLC trong lao tù CS.Xưa anh say men chiến thắng nhưng không bao giờ mượn chén “say men”, không bao giờ sỉ vả la hét đàn em. Với quân địch thì tiếng súng thay cho tiếng chửi thề.Nay trong chốn tù đày, anh vẫn hiên ngang trước bầy sói dữ.Tôi kính phục anh, bạn bè đồng đội mến anh, thương anh, trọng anh.Tư Lệnh Sư Đoàn, Lữ Đoàn Trưởng, thượng cấp xưa đến tận gia thăm khi anh đau yếu (1).Xa nửa vòng trái đất, thuộc cấp xưa, đã 35 năm qua họ vấn nhớ đến anh. (2)Nghe tin anh mất, họ tụ tập, lập bàn thờ, khói hương nghi ngút cầu xin hương linh anh mau về cõi Phật.Tình đồng đội, nghĩa thầy trò kể sao cho xiếtTrăm vạn lời khen anh cũng không còn tha thiết.Nhưng không nói, không được, phải nói cho đời biếtAnh không cần trống kèn cờ quạt với khen chê.
Để Nhớ Để Thương Lâm Đồng, Ban Ba TĐ.2/TQLC về trên ấy với những Trâu Điên Trưởng Lê Hằng Minh, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Văn Hợp cùng với bao nhiêu trâu già, nghé con và Hắc Long v.v.. khác để thành lập đơn vị mới tiếp tục bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ Hoàng Sa.Ngày anh ra đi, người người tiễn chân anh, chào anh lần cuối.Và rồi, tiếng kèn truy điệu ai oán cất lên: “Tò tí te, tò tí te, te te tò tí tí..”Đâu đây tiếng nấc nghẹn nghĩa phu thê, nước mắt trào dâng con khóc bố.Thế là anh đi thật rồi!
220 Mẹ Tôi Cao Xuân Thanh Ngọc K14/2 (Viết theo lời kể và Nhật Ký của Mẹ để lại cho con cháu.)Sau biến cố 30 tháng 4, gia đình tôi tan nát. Ba và biết bao nhiêu quân dân cán chính đã bị đưa đi vào trại tù cộng sản Bắc Việt, những tưởng chỉ vài ngày như là bọn họ nói, nhưng lại kéo dài đăng đẳng tới 10 năm biền biệt. Mẹ tôi lúc đó chỉ có 36 tuổi với năm người con nhỏ dại. Chị hai của tôi vừa mới bảy tuổi và trong khi đó, tôi là út khi vừa tròn hai tháng tuổi sau cái ngày định mệnh đen tối của dân tộc Việt Nam.Những năm tháng Ba ở tận ngoài miền Bắc trong các trại giam của cộng sản Bắc Việt, tôi không có lần nào được mẹ dắt cho đi thăm nuôi. Một là vì tôi còn quá nhỏ, nhưng lý do chính vẫn là hoàn cảnh khó khăn, mẹ làm sao mà có thể dắt hết năm đứa con nhỏ theo được? Chỉ có chị Hai và anh Long đủ lớn (khoảng 8-10 tuổi) để mẹ dắt đi theo. Có lần mẹ kể lại chuyến đi thăm ba đầy nguy hiểm mà mỗi lần nhớ lại, chúng tôi không khỏi tuôn nước mắt. Tình thương yêu cao cả của mẹ dành cho ba đã cho mẹ thêm sức mạnh và nghị lực để vượt qua
Mẹ Tôi “Chuông đồng hồ trên tường gõ bốn tiếng, tôi cựa mình thức giấc. Từ lúc nửa đêm về sáng, tôi đã trằn trọc mãi không dỗ được giấc ngủ, vì mãi bận tâm cho chuyến đi thăm nuôi lần này. Tôi không biết mọi chuyện có được suôn sẻ hay không? Trên quãng đường từ Nam ra Bắc xa vời vợi, các con còn bé ở nhà, gởi cho bà con có khỏe mạnh không? Sức khỏe của chồng tôi hiện đang ở Vĩnh Phú thế nào rồi? Trong lá thư mới nhất ba gởi về nhà, “Anh vẫn khỏe, … mong sớm về với em và các con… Ngày về không còn bao lâu nữa!” Trời ơi, bao năm rồi, những lá thư gởi về vẫn vậy, vẫn những dòng thư viết theo quy định của trại, cùng ngần ấy ý, không hơn không kém! Mới tuần trước, đến thăm một chị bạn có chồng ở trại Vĩnh Quang gởi về cho chị bảo rằng: - “Sức khỏe anh rất tốt, người anh mập ra! ”Chị ấy ôm tôi khóc ngất. “Vừa có tin về, anh mất rồi bồ ơi! Anh bị phù thủng mà không có thuốc, lại hàng ngày ăn bo bo và nước muối, anh đã vội ra đi mà không chờ mình ra thăm!” Quay nhìn các con còn ngủ say, tôi nhẹ nhàng vào bếp nhen lửa nấu cơm. Sau khi chuẩn bị cơm nước mang theo để ăn dọc đường, tôi mới gọi hai cháu lớn dậy. Hai cháu lớn được đi thăm nuôi Ba mừng lắm. Sửa soạn đâu ra đây, tựa theo ánh sáng của ngọn đèn dầu trong đêm, mẹ con tôi nhẹ nhàng khiêng đồ thăm nuôi ra chiếc xe xích lô của chú hàng xóm mà chú thím của tôi đã dặn trước từ hôm qua. Ông cột từng bao giỏ đệm, từng túi đồ lỉnh kỉnh phía sau xe, phía trước lấy dây ràng chặt cẩn thận kỷ lưỡng. Tôi vội chạy vào giường chỗ bé Ty (cháu Út) còn đang ngủ ôm hôn con mà nước mắt chảy dài. Tôi nghẹn ngào nói lời gởi gấm với bà thím rồi vội vàng lên xe cho kịp giờ lên ga Bình Triệu.
222 bán giành giật nhau lên tàu. Kẻ trộm, kẻ cướp mình chẳng biết như thế nào dù kinh nghiệm đi tàu xe bao lâu nay, từ ngày chồng tôi đi xa, nhưng tôi cũng không khỏi lo âu trong lòng. Như hiểu được ý tôi, bác xích lô bảo để ông giữ dùm đồ tôi cứ việc yên tâm đưa các con lên tòa tìm chỗ ngồi, xong mẹ con tôi ra cửa sổ để bác chuyển đồ lên. Nghe bác nói vậy, tôi mừng quá, dắt các con đi, một tốp người gánh thuê chen nhau giành giật mối, một người đã ngã vào tôi, đạp dẫm lên chân tôi đau điếng. Tôi sợ trễ giờ tàu, cho nên tôi gắng đứng dậy, lo cố dắt con tôi lên tàu. Hai con tôi cứ luôn miệng hỏi:- “Mẹ có đau không? Mẹ có đau không, mẹ ơi???” Tôi ứa nước mắt nhìn con và trấn an con tôi:- “Không, không sao, lên nhanh đi hai con!”Tàu xình xịch rời sân ga Bình Triệu, lặng lẽ nhìn quanh các khách đồng hành, tôi mừng quá không hẹn mà gặp! chúng tôi đều là những người đi thăm nuôi ở miền Bắc, tên và địa chỉ người nhận quà đều được viết bằng sơn đen, chữ chân phương, nét rõ ràng. Có ba người ở trại Tân Lập K1 cùng với chồng tôi! Hai người ở Tân Lập K5 và hai người ở Vĩnh Quang. Chúng tôi tay bắt mặt mừng vui vẻ chia nhau chỗ để sắp xếp các giỏ xách bao bị cho gọn gàng, xách nặng để dưới, xách nhẹ để trên. Tôi lấy trong giỏ đệm cuộn dây nilông cột các quai xách lại tuần tự để đi đường cho yên tâm khỏi sợ bị mất dọc đường. Kinh nghiệm những chuyến đi mấy lần trước ban đêm trên tàu thường có những em bé lam lũ bò lên. Khi biết chúng tôi đang ngủ mệt vì đường xa, các em đã lén lôi những chiếc giỏ xách đi qua toa khác rồi chuyền cho người cùng nhóm của tụi nhỏ xuống ga sau đó! Tất cả chúng tôi giữ gìn từng giỏ xách
Mẹ Tôi người tù đang sống đời khổ hạnh ở xa. Tôi nhớ mãi kỳ đi thăm nuôi lần trước, một chị bạn đồng hành khi tới ga Nha Trang đã bị một em bé bán nước xách một giỏ đệm chạy xuống sân ga vừa lúc tàu chuyển bánh. Chúng tôi la hét, gọi công an can thiệp, nhưng tàu đã chạy, đành mất luôn! Chị chỉ chiếc giỏ bị mất cắp tên Thiên Hương- người Huế. Tôi thật ái ngại khi thấy chị gục đầu vào thành cửa sổ tàu, nhìn ngược về hướng Ga Nha Trang, khóc nức nở. Chị quá tiếc chiếc giỏ đầy ắp thức ăn và thuốc men! Từ đó chị cứ khóc rấm rứt mãi, tôi phải dỗ chị như dỗ người em gái nhỏ của tôi. Vóc dáng mảnh khảnh, mái tóc dài của nàng tôn nữ đã gợi nhớ một thời Đồng Khánh của tôi với những người bạn mà mấy năm nay tôi chưa được gặp lại một ai. Quà thăm nuôi chúng tôi phải chắt chiu từng chút, từng chút không phải chỉ từng ngày mà hàng tháng. Bắt đầu từ khi viết đơn xin thăm nuôi, xin chữ ký ở địa phương, lần này cầm tờ đơn và nửa gói thuốc 555, tôi đội nón lếch thếch từ phường lên thị trấn rồi công an huyện. Mỗi nơi tôi đều không quên để lại mấy điếu thuốc thơm và lòng kiên nhẫn ngồi đợi, ngồi chờ, mặc dù tôi luôn đón nhận những tia nhìn hằn học, thiếu thiện cảm của những người chỉ biết bắt nẹt những người “ngụy quân, ngụy quyền” như chúng tôi trong mắt họ. Để chuẩn bị cho một chuyến thăm nuôi chồng, mẹ con chúng tôi phải rất tần tiện trong sinh hoạt hằng ngày ở nhà để đủ tiền sắm sửa quà đi thăm nuôi! Từ trước đến nay mỗi lần đi thăm nuôi, tôi lại phải tuyển chọn từng món đồ để bán đi từ từ, tủ chén, bộ salông, bộ nệm, bộ bàn ghế, cái máy chụp hình, quạt máy! Lần này là chiếc máy may, một vật dụng tương đối cần thiết cho sinh hoạt của gia đình chúng tôi hiện nay! Vậy mà nó lại cùng chung “số phận” như những món đồ trong
224 Thức ăn tôi chọn để chuẩn bị cho những chuyến thăm nuôi thường phải rẻ tiền nhưng được bồi dưỡng và nhất là để được lâu. Các loại đậu xanh đậu đỏ đậu đen ngâm nước rửa sạch để nguyên vỏ, phơi khô đem rang xay mịn, đường cát sên lên, đánh ra thành cát, trộn đều với dầu ăn, vitamin B1, tán mịn trộn chung, rồi in ra thành bánh, sấy lửa dòn rồi gói nilông từng cái. Một đôi lần, tôi cắt vài miếng giấy nhỏ, viết bằng bút chì mấy chữ, “rất thương”, hoặc “luôn chờ” rồi “nhớ giữ sức khỏe”. Những tờ giấy nhỏ bé giữa bánh in để khích lệ tinh thần anh, để anh vững tâm vượt qua được khổ ải, bệnh hoạn… Tôi chuẩn bị tạm đầy đủ thức ăn cho chồng và cũng để dành ít tiền đủ cho mấy mẹ con phòng thân dọc đường. Tàu rời sân ga, hai con tôi ngồi vào ghế vui thích nhìn cảnh phố xá nhà cửa ngoại ô Sài Gòn lùi dần phía sau. Tôi ấy náy nói chuyện với các con về việc bác xích lô lấy tiền xe quá rẻ, chỉ tượng trưng so với công ông đã cho chúng tôi đi cả đoạn đường xa và chuyển dùm hàng lên tàu giúp mẹ con mình. Nhưng một chị cũng cùng đi thăm nuôi ngồi gần liền bảo chị ấy lấy mà làm gì, thời buổi này những người thuộc “phe ta” thiếu gì. Họ coi như được giúp đỡ những gia đình chính quyền cũ một cách kín đáo là như làm được một việc thiện. Tàu qua ga Sóng Thần, rồi Ga Biên Hoà ồn ào, tàu đậu lại rồi đi ngay vì ga nhỏ con tàu lại xinh xích nối tiếp đoạn đường thiên lý còn xa vời vợi, một chị bạn ngồi cạnh ngâm nga: “Tôi thấy tôi thương những con tàu
Mẹ Tôi nay. Tôi chợt thấy nhớ quá tuổi học trò cả ngày Chủ Nhật ngồi nắn nót chép thơ của Tế Hanh… Tàu qua khỏi Ga Dầu Giây, bắt đầu dần vào Ga Long Khánh, mấy mẹ con tôi vui thích đứng lên bên cửa sổ nhìn những dãy nhà hai bên đường tìm người quen. Tàu chạy chậm dần qua con lộ chính. Nhiều người đi bộ, đi xe đạp, xe gắn máy đứng bên ngoài cây chắn ngang! Một vài người quen nhận ra chúng tôi vẫy tay chào hỏi ríu rít “đi đâu vậy?”. Các con tôi vui thích reo lớn: “đi thăm ba cháu!” Tàu vào ga đậu lại, bà cụ bán chôm chôm chạy theo vào sân ga từ bao giờ, bà vẫy tay cho chứng tôi rồi hét lớn: “Gởi lời thăm chú!” Và thảy lên cửa sổ chỗ chúng tôi đứng một giỏ đệm nhỏ đầy chôm chôm và bảo: “Bà gởi cho ba các con!” Tôi thật xúc động vì quá bất ngờ chưa kịp nói lời cảm ơn thì tàu đã xình xịch chuyển bánh, nên tôi thò đầu ra cửa sổ vẩy tay cảm ơn! Tàu chạy khuất, tôi còn kịp thấy bà đứng trên sân ga nhìn theo với gánh hàng nghèo nàn của bà. Long Khánh là nơi đã ghi dấu bao kỷ niệm của vợ chồng tôi. Từ một cô giáo đang dạy học ở Đà Lạt, sau ngày cưới, tôi phải theo chồng là một sĩ quan của Trung Đoàn 43 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Sư Đoàn đã anh dũng cố thủ ở Long Khánh, là đơn vị đã chiến đấu anh hùng gây tổn thất và nhiều thiệt hại nhất cho địch quân tại mặt trận Xuân Lộc ở những ngày sau cùng của tháng tư năm 1975! Có lẽ vì vậy cho nên về sau khi muốn trở lại Long Khánh để sinh sống, mọi người trong gia đình ai cũng can ngăn. Tôi cũng thấy e ngại lo sợ cho sự an toàn của cả gia đình… Con tàu tiếp tục chạy, mẹ con tôi mở mấy gói xôi muối mè ăn, ăn xong rồi nhìn quang cảnh hai bên đường rày xe lửa. Những hàng dừa xanh chĩu quả, những mái nhà tranh làng quê Việt Nam êm đềm với bóng cây xanh, với những dòng sông uốn
226 Chợt tôi mở mắt khi nghe tiếng suỵt và chị Nga ngồi đối diện đá lia lịa vào bàn chân đang sưng vù của tôi vì trước đó bị một người ở ga Bình Triệu dẫm lên. Tôi đau điếng, muốn khóc thét lên! Mấy người đi soát vé tàu đang tiến về phía chúng tôi, khi họ đi khỏi chị Nga, nhìn ngón chân cái của tôi và thấy tôi còn nhăn nhó, chị nói lời xin lỗi và cũng lúc đó quay lại chị Lan sừng sộ: “Ăn nói phải giữ mồm giữ miệng chứ, chết cả đám bây giờ!”Tàu đến ga Quảng Ngãi ai cũng gọi là Ga gà vì gà ở đây rất rẻ. Cháu Thanh Yên mua cho mẹ tô cháo gà, hai mẹ con một dĩa cơm mắm dưa và trứng chiên. Thấy gà rẻ tôi gọi mua cho con hai cái đùi gà và bảo chặt ra cho các con ăn cơm, nhìn thấy con đã lâu, nay được ăn thịt gà tôi muốn ứa nước mắt vì thấy các con ăn uống ngon lành. Hai đứa cứ ngậm hoài mấy cục xương không chịu nhả ra…Tàu qua ga Tam Kỳ rồi đến ga Kỳ Lam, những ga nhỏ nên tàu không đậu lại. Khi đến ga Thanh Khê chúng tôi bảo nhau tàu sắp đến Đà Nẵng. Đà Nẵng là ga lớn, rất khang trang của miền Trung. Lượng khách lên tàu đi Huế, đi các tỉnh miền Bắc rất đông, cảnh mua bán thật là tấp nập ồn ào. Ôi quê hương miền Trung của tôi. Tôi bảo các con nhà ngoại ở Hội An, cách đây 10 cây số, nhưng mẹ con mình không ghé thăm nhà được, phải đợi chuyến về thì mình có nhiều thời gian hơn. Tôi chợt thấy một dáng người ốm yếu nhỏ, trong giống như anh Tư của tôi quá, anh đang đi vội vàng dọc theo các toa tàu như đang tìm người quen! Tôi mừng quá quên cả chân đau nhảy vội đến bên cửa sổ, gọi lớn tên anh, các con cũng gọi Cậu! Anh tôi mừng quá chạy lên tàu ôm các cháu, rồi ôm chặt tay tôi! Tôi rối rít hỏi:
Mẹ Tôi Mẹ hối anh từ Hội An ra đây từ sáng sớm!Anh chìa cho tôi chiếc giỏ đệm. Tôi cầm lấy mà nước mắt đầm đìa. Bao nhiêu năm nay, tôi mới gặp lại anh tôi, anh ốm và gầy quá. Tàu bổng hú còi tôi đẩy anh tôi xuống tàu cho kịp, rồi tàu bắt đầu chuyển bánh. Dưới chân ga, anh tôi vẫn đứng nhìn theo. Mẹ con tôi giở chiếc giỏ đệm ra, trong đó có khoai lang khô, mấy cặp đường tán thứ bự đổ khuôn là những cái bát lớn, màu vàng gói trong rơm, loại đường mà chồng tôi rất thích. Một lọ thuốc trụ sinh con nhộng, tôi mừng quá, món quà này rất quý cho chồng tôi! Tôi cũng có mua theo cho chồng tôi để phòng thân! Mấy hôm nay, chân đau mọng mủ nhưng không dám uống, muốn để dành thuốc tốt cho chồng, trong giỏ còn có cơm gói lá chuối lăn tròn như bánh tét để ăn đi đường rất ngon! Có cả một lọ tôm rim thịt và cá chuồn chiên. Tôi mừng quá và thật cảm động khi nghĩ đến tình ruột thịt của Phụ mẫu của tác giả: NT Cao Xuân Lê, Khóa 14 và phu nhân, (khi bà còn sinh tiền).
228 thích thấy tàu chạy ven núi và biển xanh thật đẹp dưới chân đèo, qua các ga nhỏ và dần vào ga Huế. Cảnh mua bán dưới ga thật tấp nập. Tiếng giao hàng giọng Huế thật dễ thương, bánh bột lọc, mè xửng Huế, bánh bèo, bánh lá chả tôm, mùi bún bò bốc khói thơm lừng từ một nồi bún của bà hàng đặt bán dưới chân sân ga, bà đang luôn tay múc bún và hai cô bé bưng bún cho khách không kịp, sợ trễ giờ tàu chạy. Tàu rời Huế rồi qua Đông Hà, Đồng Hới, Quảng Bình chân tôi vẫn đau buốt, vì có thuốc anh cho, tôi mạnh dạn lấy một viên trụ sinh uống! Đến ga Vinh chúng tôi bán được đường có lời càng làm cho mẹ con tôi rất vui, mấy chị em lại rủ mua bơ hộp lớn đem về Hà Nội bán, ở đây cũng có bột mì rất rẻ vì hàng từ biên giới Lào đưa về, chúng tôi mua chút ít bột mì, nhưng bột mì thì chuyến đi đem về Đà Nẵng mới có giá, trong lòng vui nên tôi quyết định uống thêm một viên trụ sinh nữa, chân tôi đã bớt đau rất nhiều tôi mừng quá vì đoạn đường trước mặt còn xa vời vợi. Đường từ Hà Nội về Phú Thọ qua ga Ấm Thượng, chúng tôi phải đi đò, rồi đi bộ rất xa trên đường đất, bắt buộc chân tôi phải lành lặn mới đi theo kịp với mọi người, vả lại tôi còn dắt theo hai cháu bé, cho nên tôi bấm bụng uống thêm 1 viên thuốc trụ sinh nữa…Vất vả một đoạn đường dài, cuối cùng chúng tôi cũng đến được bến đò, thấy xe trâu của trại K1 đậu chờ ở đó. Một người tù tự giác và 1 công an đứng bên xe cho phép chúng tôi bỏ hàng lên xe. Nửa đêm thì chúng tôi đến trại, sau khi trình giấy tờ, chúng tôi được cho mượn mùng mền nồi niêu để ngày hôm sau chuẩn bị cơm nước. Chị em tôi xúm xít nằm ngủ gần nhau. Khi các cháu ngủ say, chúng tôi lục đục ngồi dậy nấu nước sôi pha chút trà uống cho tỉnh. Được một lúc, phía trước đường có chiếc xe cút kít được hai người đẩy đi trong đêm, có một
Mẹ Tôi trong, tôi nằm ôm hai con vào lòng và cầu xin ơn trên độ trì che chở cho chồng tôi. Chúng tôi ngồi sẵn đợi chồng của chúng tôi lúc 10 giờ sáng hôm sau,. Được một lác, chúng tôi thấy các anh sắp hàng một đi lặng lẻ, tên công an vác súng đi phía sau. Từ xa, mấy chị em chúng tôi mắt đỏ hoe, nhưng ai cũng cố kèm lòng nuốt lệ vào trong. Tôi đã dặn các con từ trước phải đứng im, đừng gọi ba lớn tiếng. Chồng tôi đi thứ ba, tôi thật mừng khi thấy dáng anh đi còn vững vàng, có phần ốm và xanh nhiều nhưng không bị phù thủng. Mắt anh bị đỏ, tôi nhớ ngay là tôi có đem theo thuốc nhỏ mắt! Tôi muốn chạy đến bên anh nhưng liền lúc đó, tên công an ra lệnh cho các anh vào ngồi bên dãy ghế đối diện với chúng tôi. Hai con tôi gọi “Ba Ba” anh mỉm cười như mếu! Lúc mọi người im lặng vào chỗ ngồi, hai tên công an đứng hai đầu dãy bàn dài chằm chằm nhìn chúng tôi. Chúng tôi đều để tay lên bàn nhưng khoảng cách còn rất xa để mà có thể nắm được hai bàn tay xương xẩu đang cố vươn ra một cách tuyệt vọng của các anh! Tôi đưa mắt nhìn 1 tên công an và ngập ngừng xin phép cho hai cháu qua với ba, nhưng với vẻ mặt lạnh như tiền, hắn trợn mắt nhìn tôi rồi quay đi, tôi làm liều đẩy hai con đi vòng qua ghế để được gần ba nhưng tên công an ngăn lại. Hai cháu oà lên khóc “ba ơi!” Anh nhìn lên không biết vì mắt bị bệnh đỏ hay vì nước mắt làm đỏ hoe hai mắt anh! Tôi không thể nào quên được ánh mắt đầy tuyệt vọng của anh lúc bấy giờ! Lúc ấy tiếng thì thầm thăm hỏi thật sự chẳng phải là tiếng lòng của chúng tôi: “khỏe không? “vẫn khỏe” “có bệnh gì không? “có cần gì không?” “ở nhà sống thế nào?” “mẹ khỏe không?”Mười lăm phút trôi qua, tên công an bảo cho chúng tôi biết đã hết giờ thăm nuôi, đến lúc trao quà, nhân lúc nhận quà lộn
230 gầy còm ốm yếu của các anh đang lê bước không muốn nổi trên con đường đất nhỏ dẫn vào trại, họ lặng lẽ cúi mặt, không dám quay đầu lại nhìn vợ con. Bóng anh dần xa rồi khuất đi, hai hàng nước mắt đổ dài trên khuôn mặt của những người vợ “tù cải tạo”! Đi cả một đoạn đường đầy gian nan và nguy hiểm mà chúng tôi chỉ có thể gặp mặt đúng 15 phút, nhưng đó là khoảng thời gian quý báu nhất, để tôi biết là anh vẫn còn sống để mong có 1 ngày anh về với mẹ con tôi!”…Những ngày cuối đời của mẹ, ba luôn ngồi bên giường bệnh của mẹ, kể và hát cho mẹ nghe bài hát mà mẹ thích nhất: “Chiếc Ảnh Ngày Xưa”, mẹ tuy mệt mỏi nhưng mẹ luôn nhìn ba với ánh mắt trìu mến, ba nắm lấy bàn tay yếu ớt của mẹ, “Em ráng lên! Đừng để ba ở lại một mình”. Mẹ không nói gì, tôi chỉ thấy hai hàng nước mắt của mẹ chảy dài. Ngày mẹ mất cách đây 6 tháng, ba và chúng tôi bên cạnh đầy đủ, mẹ ra đi nhẹ nhàng, cả một đời mẹ hy sinh và chăm sóc cho ba, cho các con và các cháu. Mẹ tôi là một người mẹ vĩ đại nhất trên thế gian này!
Tơ Trời TƠ TRỜI.Bích Lan, K 19/1Một buổi sáng trời trong, ngoài sân đôi chim ríu rít trên cành. Ông xã tôi đang dùng cái thìa nhỏ khuấy lách cách ly cà phê mới pha xong. Bỏ thêm một gói đường nhỏ low sweet, chồng tôi nhấp một hớp. Tôi thấy ổng tươi tắn hẳn ra. Đứng cạnh, tôi cũng đang chuẩn bị bữa sáng cho hai vợ chồng.- Anh cứ ngồi uống cà phê, bữa sáng đã sắp xong rồi. Tôi nói.Tôi đặt muỗn, đũa, điã rau thơm lên bàn, khi hâm nóng hai tô bún bò Huế.Ông xã tôi nhắc:- Đừng cho sa tế và mắm ruốc nghe. Rồi anh lẩm bẩm. Hôm qua con dọn cho anh tô bún nhiều quá, cay sè, phỏng cả lưỡi. Mấy đứa con ăn cay đúng là genne của mẹ.Tôi mỉm cười:- Có thật vậy không? Từ hồi lấy chồng Bắc Kỳ tôi cũng đã không còn cái thú cắn trái ớt rộp rộp trong miệng rồi x
232 để làm gi. Tôi nhắc:- Tất cả đã sẵn sàng, anh còn đứng dậy làm gì nữa?- Anh thấy hai đôi đũa chưa đều, nên chọn lTôi liếc chàng, gớm hai đôi đũa phải đều, không so le. Cám ơn trời! Hơn 50 năm cùng mâm, cùng chén, bao nhiêu thăng trầm mà vẫn chung đôi.Tôi mỉm cười, nghĩ lại cũng xa lắm, mà như ngày nào, khi tuổi vừa mới lớn…o O oChị em tôi có ông anh trai, giao thiệp nhiều, đủ mọi tầng lớp trong xã hội, nhưng đa số bạn của anh là lkhoe em gái mình nên tôicũng hãnh diện. Phiền một đicanh kỹ, theo sát quá nên tôi cũng hơi mệt. Anh không cho hai chị em gái tôi cười lớn, còn căng giây cho chúng tôi đi đthẳng hàng để như có chút gì uyển chuyển õng ẹo ra vẻ con gái.Nhưng khổ nỗi mấy chị em tôi lại là một gánh xiếc nhỏ, sau khi hấp thụ vài môn ảo thuật từ một đệ tử cuả B, cô em sau tôi thì vừa học bài vừa đứng thăng bằng trên tấm ván kê trên cục gỗ tròn; cậu em biến những cỗ bài to thành nhỏ, những con bài nhỏ thành tây đầm; cậu út biểu diễn cái túi vải trống trơn lấy ra được vài con chim bồ câu, hoặc những giải giấy đủ mầu kéo dài ra cả vài chục mét. Còn tôi đưtruyền nghề quay cái điã bằng một thanh trúc nhỏ, làm khéo thì cái đĩa tung lên và hứng được trúng đầu thanh trúc quay như cái điã bay, không thì rớt xuống kêu cái chát rồi phải len lén quét dọn. Vì thế không khí nhà tôi luôn ồn ào vui vẻ, chưa kể đôi khi có bạn bè hàng xóm góp mặt.
Tơ Trời Hình như mấy ông muốn khoe với bạn rằng mnhững cánh hoa đồng nội, tỉnh lẻ.Khi mấy ông bạn ra về thì anh tôi bắt đầu bình phẩm vnhững người bạn của mình. Nào là anh H đẹp trai, con nhà giầu, lính văn phòng, tính tình như con gái và là người xxứ kia..., Nào là còn anh Thanh ở Địa Phương Quân... anh Thành thì Quốc Gia Hành Chánh.Má tôi thấy anh tôi bàn luận về mấy người bnói:- Vậy mi dắt tụi nó về đây làm gì mà mất công ngồi canh mấy quả bom nổ chậm.Anh tôi như là đã gieo vào tâm trí tôi mẫu người mà tôi sẽ chọn cho riêng tôi.o O oChàng cũng chỉ là người tháp tùng anh bnhà. Người gì mà đen thui, mập ù, lì lì, mắt hvị chàng về thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện VChàng chẳng tỏ ra vồn vã với tôi, khi cũng vài ba lần cùng bbè ghé thăm anh tôi, có lúc gặp tôi, có khi không.ào cùng lính tráng, đôi khi có cả những bóng dáng con gái. Một lần tôi lạng xe honda sát gần đám đông đang ngồi ăn chè gần chợ. Ai ngờ có cả chàng nữa. Chàng bỏ đám đông, lái xe jeep rượt theo, tôi hú vía trốn vào xóm nên chàng không bắt kịp. Ngày hôm sau chàng không là người tháp tùng mà mmình đến nhà tôi, và từ đó chàng đến thăm tôi thường xuyên.Ngày đơn vị chàng rời trung tâm, chàng đến từ giã nhưng đã tới giờ đi học, nên tôi cũng vội vã rời nhà để tới trường.
234 cười nói rằng:- Bài đã có người làm giúp em rồi, mời em về chỗ.Sao hôm nay ông thầy dùng chữ mời em khi nKhi tôi về chỗ ngồi con bạn ngồi cạnh tôi nhéo tôi rồi nháy mắt hướng lên ông thầy giáo. Thầy như sao ấy, bỏ nơi đang đứng cạnh đầu bàn của tôi trở về ngồi trên bàn của thầy, vthường thì thầy hay đứng đầu bàn của tôi để khảo bài.Tối hôm đó chàng lại đến từ giã tôi. Sau Mậu Thân 1968, dù ở trong thành phố, cũng có các toán lninh. Sân trước nhà tôi có một toán do mThường mỗi đêm, anh mắc võng tòng teng giữa hai cái cột trước nhà. Thấy chiếc xe jeep cuả chàng đậu khuya quá nên viên sĩ quan này gõ cửa mời chàng về. Chàng trả lời là ngay trong mật khu cuả địch còn không sợ huống chi là tromg thành phố. Chàng còn cám ơn vị trung uý:- Cám ơn trung uý đã giữ an ninh cho tôi khi thăm bRồi chàng dìu tôi ra sau xe jeep ôm hôn từ giã tôi.Trời! Trước mặt mọi người mà chàng làm như chỉ có tôi với chàng. Cái hôn đầu tiên tôi chẳng phản ứng đưChừng mt tháng sau tự nhiên chàng mang balô, mặc đồ lính như đi hành quân về thăm tôi, bảo rằng đưtrọng tài theo một đơn vị mới huấn luyên xong nhưng cuộc hành quân trễ một ngày. Chàng xin Má tôi ở ltôi và cả chị người làm thấy chàng tới thì mừng rỡ tưởng như anh mình đi xa trở về, thân thiết, trìu mến. Chàng còn giải toán cho hai cậu em đang học Đệ Lục và Đệ Thất. Tôi bên khép nép bên chàng như người em bé nhỏ, dù bản tLà những bông hoa của thành phố đầy lnhà cũng luôn tấp nập đủ mầu áo trận đ
Tơ Trời tuần, chuyện trái cây ngọt, trái cây chua, Bà Rivân vân và vân vân.Anh Thanh chỉ tấm hình tôi để trên bàn trải khăn mầu xanh có tấm kiếng lớn là mặt bàn, hỏi tôi:- Ai đây?- Anh bà con. Tôi trả lời.Cả 3 ông Thanh Thành nhìn chăm chú vào tấm hình, mỉm cười, rồi tự động lấy ra xem dù không có sự đồng ý của tôi. Một ông nói:- Oai nhỉ, 3 bông mai đen cơ đấy, sau tấm hình còn có mấy câu cải lương nữa, “Khởi hành luôn gọi tên L”. Rồi anh ta lẩm bẩm. Không biết chàng gọi tên Lan, Liên, Linh, Lụa, hay còn Lan nào nữa trên những bước đường hành quân?Anh Thanh ngắm nghiá tấm hình rồi a lên một tiếng:- Thằng này là người Bắc còn cô là người Huế mà sao cô nói là anh cô. Nó là bạn tôi, cùng ở ca đoàn với tôi ở xVườn Xoài mà.Anh Thành còn bồi thêm:- Nó là bà con với tôi. Nhà tôi ở sau nhà nó. Tôi đọc địa chỉ nhà nó cho cô nghe nhé.Anh Thanh thêm:- Hôm Chủ Nhật, tôi thấy cô nào mặc cái jupe tthờ Bà Riạ một mình. Nhưng tôi tưởng là người giống em vì gia đình em là Phật Giáo mà. Nhưng hôm nay nhìn chàng lCông Giáo này thì tôi xác định, cô mặc jupe tem. Em đi nhà thờ, “Con quì lạy Chúa trên trời, xin cho con lấy được người con yêu.”. Nhất định em bắt xác thằng b
236 ạDù lúc đó tôi chưa biết nhà chàng ở đâu, tôi chỉ biết chàng theo đạo Công Giáo. Tôi đi lễ nhà thờ để cầu xin cho chàng được bình an. Tôi còn đi học giáo lý Tân Tòng sắp hết khoá rồi đấy.o O oMột buổi đẹp trời tôi đóng bộ đơn sơ từ Bà Rirồi từ nhà bà cô của tôi tà tà qua khu nhà thờ Vườn Xoài tới cái bảng Xứ Bùi Phát quẹo trái, như đang đi nơi đã quen thuthẳng qua ngã tư có trạm gác Nhân Dân Tự Vệ. Căn nhà thhai ở bên trái là tiệm tạp hoá. Tôi hỏi mua mná làm quen một cậu bé. Cậu bé này chỉ tiệm tchàng. Chàng còn độc thân chưa vợ con.Từ hôm biết tôi có chàng, bạn của anh tôi thay vì các ông thường xưng “anh, em” với tôi, các ông đổi lkhi đó tôi chỉ tròn 17.Rồi từ đâu các ông bạn của chàng ở Sài Gòn đi Vũng Tàu cũng ghé ngang Bà Riạ coi mặt con nhỏ bồ của chàng lchiến mà trong đó lại không có chàng. Anh thì cùng lớp thời trung học, anh thì bà con cùng quê. Ngay cả vị Chỉ huy Phó Trung tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp cũng ca ngvị chàng về thụ huấn.Anh Dương bà con cùng quê với chàng phục vụ đTâm Lý Chiến 301 tại Long Khánh thường hay cho tôi biết tin tức về chàng khi tôi hỏi. Một lần đơn vị chàng đụng trận qunặng. Anh Dương đã gọi điện thoại báo cho tôi bitrong vòng tay của cô em gái và hai cậu em trai. Cũng may, sau đó được tin chàng vô sự.Mấy ngày sau tôi xin phép Má tôi rong ruổi tìm chàng,
Tơ Trời vương vãi đầy đường. Mới ba giờ chiều mà không có xe chngược lại. Tôi phải tá túc trong cái lô cốt của mCông Binh đang làm cầu La Ngà, sau khi tôi tự giới thiệu là người yêu của chàng và hỏi về đơn vị cuả chàng.Cám ơn anh trung uý đã nhường cái ghế bố của anh cho tôi. Anh phải nằm trên chiếc võng canh cửa lô cốt cho tôi. Tôi nhìn quanh thì thấy lô cốt được thắp sáng bằng một bóng đèn pin nhỏ, trên bàn một cành mai trang trnơi chiến trường bớt cảnh thê lương quanh đây. Anh trung uý nằm võng ôm cái radio như ôm người tình đang ngọt ngào ru. Lần đầu tiên tôi bị xúc động khi nghe những câu hò, tiếng hát cuả những người em gái hậu phương gửi ra chiến trường tặng các anh lính chiến. Tối đó anh còn cho tôi ăn cơm canh chua, cá kho tộ.Sáng hôm sau, anh trung uý đưa tôi ra sông La Ngà rửa mặt. Dòng nước trong xanh đang lững llà rừng cây trùng trùng. Đó đây những bông hoa đủ mầu phất phơ trong buổi sớm mai. Xa xa núi đồi lặng lẽ yên bình nhưng đâu đây tử thần rình rập. Đêm qua tôi đã nghe vài tiếng nổ xa gần. Anh trung uý an uỉ tôi đừng sợ. Tôi đang ở gần chàng chàng được bình yên mà quên cầu cho nơi tôi đang ở cũng là chính giữa chiến trường. Tôi đã mời anh trung uý và mấy người lính đưới quyền của anh ăn sáng ở cái quán ven đường cạnh cầu La Ngà. Dù xa xôi, quán bên đường vẫn đầy những món ăn cuả miền Nam trù phú, cũng phở, hủ tvịt, nem tré, bia, nước ngọt... Những cô gái chủ quán miền quê cũng áo xanh, áo hồng duyên dáng vui vẻ. Thvài bụi hoa dại, một người lính trong bàn ăn ra ngắt vội một chùm hoa tặng tôi bảo rằng:
238 là muôn dặm tìm người mình yêu mà chchốc. Gặp được thấy chàng oai phong và bình yên là tôi mãn nguyện lắm rồi.o O oKhi gia đình tôi dọn về Sài Gòn khu chGiảng chiều tối, tôi đáp hai chuyến xe lam tới giáo xNghè theo học lớp giáo lý Tân Tòng. Cha Tân khảo giáo lý thấy tôi đọc kinh lầu lầu nên cha chuyển tôi sang lớp giáo lý Hôn Nhân. Xong hai lớp cha Tân hỏi chồng làm gì. Tôi thưa anh là lính nên cha cho tôi học thêm mộdạy tôi cách xã giao, tiếp tân, cách sắp xếp buổi tiệc...Ngày cưới, khi chào hỏi bà con họ hàng, bà chị họ của chàng cầm tay tôi, “Chào thím”, và giới thiệu với người trong bàn:- Đây là cô giáo của cháu Long.Một bà làm như đã gặp tôi bảo rằng sao thấy tôi quen. Cô em chồng ôm eo tôi trả lời,- Chị là cô gái đã mua hộp sữa năm trước. Đúng không?Đúng rồi tôi đã lần tìm theo chàng về xCái xứ Vườn Xoài này từ đầu xóm tới cuối xóm, vài nhà lgặp bà con dòng họ cuả chàng. Ông bác cbác, ông chú giữa xóm, bà chị cạnh nhà. Đi lòng vòng trong xóm sang khu sau rạp hát Minh Châu, rồi chỉ bước qua đường là gặp nơi tôi đã từng ở khi từ Huế vào Sài Gòn năm 1963 có tiệm thuốc Khánh, tiệm phở Hợp Lợi đầu ngõ, cũng gặp bà cô, ông cậu của chàng. Tất cả như quen thuộc từ thưđã tới, đã đi xa rồi lại trở về.Những ngày đầu làm dâu, cũng có nhiều chuyện vui, buồn:
Tơ Trời Đây này, tôi đang quạt lửa cho nồi cơm mau sôi, tôi quét cho căn nhà sạch mát, tôi nhắc bài học cho mấy chú em, cả nhà rộn tiếng ê, a. Để cho chàng yên tâm rằng ở gia đình có vhiền, em thơ vẫn trông chờ.Vâng, tôi đâu có làm nên trò trống gì, tôi chỉ theo chàng về Vườn Xoài, rồi tối tối theo Mẹ chồng-Bà Cô đi đọc kinh cho đám ma, đám chay, đám giỗ kỵ trong họ, ngoài xóm vì bà stôi không thuộc kinh, mà tôi lại đọc kinh to hơn ai hết, tôi đọc, tôi thưa có người không hiểu. Chú em chàng năm tuổi nói rằng tôi là người Tây. Vâng tôi là người con xKỳ. Đi lễ tôi mặc áo đầm, bà bác reo:- “Ối giời ơi, cô đầm!”Xóm đạo sáng chiều gọi nhau ơi ới đi nhà thờ. Chiều thBẩy, sáng Chủ Nhật nào cũng như ngày hội. Khắp xóm đủ mầu từng đoàn đi nhà thờ xong lễ rồi lại từng đoàn trở về. Khi có con, tôi đã bế cháu khắp xóm chào ông, chào bà. Các bà nói rằng cho bà mượn cháu bà một tí. Tôi khoe con xinh, con đẹp.Tôi không làm gì chỉ thêm tí mầu, thêm chút ánh sáng vào bức tranh rực rỡ, yên bình, đạo hạnh của xcủa thành phố Sài Gòn, của Miền Nam tự do.Tôi đâu có làm nên trò trống gì, khi chồng đi tù 13 năm nơi đất Bắc, trại Nam Hà cách quê nhà chàng hơn 30 cây số. Mỗi lần thăm chồng lại ghé thăm quê. Tôi mang theo vài buồng cau, mấy xấp trầu, vài bịch vôi, mấy bánh thuốc lào, vài gói kẹo làm quà, mời các cụ ông, cụ bà, trai gái xđỏ môi. Trầu của dâu Mưỡu Giáp nhai thật say, kẹo của dâu Mưỡu Giáp thật ngọt, thuốc lào 888 của dâu Mưỡu Giáp rvào ém hơi cũng đủ nghiêng ngả. Tôi xuống xe đầu làng thì
240 xóm Giữa nhà thờ, tôi đã rành rẽ thân thuộc với quê chồng hơn cả chồng tôi và cả những ai xa xứ mà lâu không về.Đấy, dâu Vườn Xoài thuỷ chung, tơ trời đã cột từ thủa nào!Một bà bạn của má tôi kể câu truyện lúc tôi còn nhỏ. Tôi cũng nhớ mãi câu chuyện này. Khi xưa, ở Huế, nhà tôi gần một ngôi đền, các bà các cô thường hay chầu Đồng. Trong một buổi lên Đồng, tôi cũng có mặt trong đám trẻ nhỏ hiếu kỳ đứng coi. Tự nhiên bà Đồng bắt tôi nằm xuống và đánh tôi ba roi bà bảo rằng sau này tôi không theo đđạo của chồng. Bà ra dấu một tay đưa ngang, một tay đưa dọc làm thành chữ T, ý là Cây Thánh Giá. Chuyện đời! Mới tđời mà tơ trời đã cột!Tơ trời đã cột thì rằng những gian nan vẫn qua để còn có nhau thêm bền chặt. Có lần đạn pháo kích nổ trên ngọn cây ngay trên đầu khi tôi rong ruổi thăm chàng mà tôi vẫn đưbình an.Tôi đã rong ruổi tìm chàng từ Nam ra Bắc: Hóc Môn, Suối Máu, Tân Lập, Ba Sao.Nhiều lần thăm chàng, tôi đã nhẩy tầu hoả xuống hàng tga Phủ Lý để vào trại Ba Sao, khi tầu chphải ga chính nên không dừng. Có lần tôi lăn người nằm gọn trong một cái hố mà xung quanh là những hòn đá tảng, nhưng không hề hấn gì.Rồi những chuyến vượt biên không thành, có phải tơ trời buộc chặt? Một lần trên con thuyền ra khơi, mới rời bến, mthuyền đã mấp mé mặt nước. Mọi người nghĩ rằng ra tới biển sẽ chìm, rồi tàu công an bắn nhiều loạt đtôi bị bay cả lọn tóc trên đỉnh đầu. Bốn mẹ con đang ôm nhau cũng không việc gì. May mắn, bao nhiêu người trên thuyền
Tơ Trời quan đơn vị cũ cuả chàng cũng giúp tôi quét vôi sơn nhà, sắp xếp lại bàn ghế tủ giường. Mấy chị có chồng về sớm giúp tôi may áo gối mới, y như chuẩn bị đón chàng thủa nào. Chàng đã trở về với mẹ con tôi, bốn mẹ con tôi. Các em cuả chàng, và rất đông những người dân Sài Gòn đã tụ tập, như ngày hội tại ga xe lửa Hoà Hưng đón mừng những người cha, người chồng, người con lưu đầy trở về.Xa cách rồi lại xum vầy. Chuyện đã lâu rồi nhưng như mới ngày hôm qua.Tôi đã được bước đi cùng chàng, quãng thời gian hơn 50 năm.Đã xa rồi những ngày mong chờ, giờ đây luôn đưnhau, cùng nhau trên mọi nẻo đường. Nhiều lần chân lảo đảo vì một viên sỏi hay một cụm cỏ, người hùng của tôi ngày nào, giờ đây vội vã níu vai tôi:- Xin cho anh mượn bờ vai em, mừng quá.Tôi hỏi lại chàng:- Mừng vì không bị té là còn bờ vai để vịn, hay mừng vì hạnh phúc?Thật vậy, mỗi khi giắt tay nhau qua một con đường, vô cửa nhà thờ, vào một nhà hàng, bước lên đưhay ngồi trong xe cùng chàng vun vút theo dòng xe trên xa lộ để mau tới những nơi được gặp lại bạn bè; tất cả là hSợi tơ trời sao mà cột chặt thế?
242 Xin Trả Cho Tôi “Ta về ta tắm ao taDù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”Vì đâu, vì lẽ... Còn tìm đâuNhững câu chào tình tựNhững nụ cười thân thươngNhững câu hỏi chân tìnhQuên quên nhiều hơn nhớChỉ biết một mẫu số.Chỉ ấy chừng cũng đủ chuyện thân thươngGặp nhau đây mai vẫn còn vấn vươngGiữ vòng tay nhau ấm tình huynh đệTên chú tên anh? Quên cũng chẳng hề nệNhưng chú và anhKhông quên được, mình cũng chung một họ mẹ choHọ Võ Bị mình mangTừ lúc vào cổng Nam QuanSân cỏ Trung Đoàn em vừa 18,
Thơ Xin Trả Cho Tôi. Nước mất nhà tanHuynh đệ tương tànChia Nam xẻ BắcKẻ hơn tâm đắcNgười nhịn tủi hờnCòn tìm đâu những thân thương ngày cũTrong quân trường, ngoài trận địa hay chốn tù laoTiếng “Niên Trưởng” nghe ấm lạ làm saoCâu nói “chú em” nồng như tiếng mẹ ru đêm vắng.Còn tìm đâuChuyện quân trường đùa vui duyên dángNay chỉ còn “TÔI” là thông thái anh minhSợ “lắng nghe” sợ hai tiếng Tự TìnhLời châm biếm vì ngại thua sợ kémBị khoá ngôn vì không cùng chính kiếnVết xe xưa, lỗi cũ vẫn còn theoAnh SAI chú ĐÚNG vạn lời muôn nẻoAnh ĐÚNG chú SAI muôn ý vạn đườngNgồi với nhau nhưng đố kỵ, mất hướng phươngNói chuyện hoà bình nhưng trí tâm uẩn khuấtCó phải chăng vì tiêu đề Thống NhấtMà em quên đi chữ Niên Trưởng một đờiMà anh bỏ đi tình huynh đệ pha phôiBạn bè xoá nghĩa đồng môn một thuởỪ, Thống Nhất... nhưng không phải dễVẫn nhắc chuyện không đâu thì vẫn mãi số khôngVẫn tôi đông anh ít thì vẫn mãi hai lòngThôi cứ về chốn xưa tịnh cảnh lai bồngĐể cùng vui những ngày còn xót lại
244 Tự tình một mái ấm êm hài hoàXin trả cho tôi những tháng xưa ngày cũĐể tôi thấy nụ cười trên môi người Võ Bị năm xưaNay đã già, chân run, tóc bạc, răng thưaNhưng vẫn nhớ có một nơi về rất ấmXin trả cho tôi nghĩa thân tình thấmChẳng đông người không kèn cựa tôi anhCó con ngoan, có cháu giỏi danh thànhĐể nghe tiếng “có khoẻ không cô chú?”Xin trả cho tôi nơi tôi từng ngụ trúNhà của chồng, tôi làm phận dâu conĐể cho tôi hãnh diện với nét sonNhà tôi đó nhà chồng tên Võ Bị.Nhớ tháng ngày xót xa với diễn đàn Võ Bị, để riêng tặng những nàng dâu Võ Bị.Vào Diễn đàn Tổng Hội bây giờ làm tôi nhớ những tháng ngày sau 30 Tháng Tư Măm 1975, nói chung là sau ngày “Nam Bắc thống nhất”. Ngôn ngữ bên “thắng cuộc” luôn giống nhau, “San bằng chướng ngại vật bất cứ giá nào để được thống nhất.” Không còn tình tự chung dòng máu cha ông. Cộng Sản “Thống Nhất”, nhưng không thắng được lòng dân miền Nam. Dưới áp lực của bọn cường quyền, họ im lặng trong tủi hờn vì nếu họ có hé một tí chính kiến thì, “Ăn nói linh tinh, phản động, bỏ tù mọt gông đấy, liệu hồn.” Đúng là kinh hoàng… Kinh hoàng từ 1975 đến nay vẫn kinh hoàng.
Phản Công Chớp Nhoáng của Lữ Đoàn 3 TK Cuộc Phản Công Chớp Nhoáng của Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ tại Đức Huệ.Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, K6 Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh(Tiếp theo)4. Veni, Vidi, Vici.1. Ngày N đã đến. Đó là ngày 28 tháng 4, 1974. Chiều ngày 28 tháng 4, 1974, Công Binh đã sẵn sàng. Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 302 CB, theo lệnh tôi, đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ, gần cầu để đưa chiến xa M48 qua song. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận hai bờ song kiểm tra Công Binh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông. Đúng 20:00 giờ đêm, toàn bộ được LĐXKQĐIII gồm ba chiến đoàn 315, 318, 322 cùng Bộ Chỉ Huy Nhẹ của Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ.2. Ngày 29 tháng 4, 1974 lúc 00:00 giờ, các chiến xa bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ, theo Quốc Lộ Một trực chỉ hướng biên giới Việt Miên.Từ 01:00 đến 03:00 giờ, Bộ Chỉ Huy Nhẹ Lữ Đoàn và Pháo
246 vị đã bố trí xong trong vòng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung Đội Điện Tử theo dõi nghe địch không thấy chỉ dấu gì là chúng nghi ngờ. Đúng 03:30, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát tấn công song song xuống phía Nam. Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 338 bên trái. Bộ Chỉ Huy của tôi theo sau Chiến Đoàn 315. Chiến Đoàn 322 trừ bị bố trí phía Nam Quốc Lộ 1.Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa tác xạ, đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây căn cứ Đức Huệ. Đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống căn cứ Đức Huệ.Đến 05:00 giờ sáng ngày 29 tháng 4, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Quân ta liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt. Các bộ chỉ huy trung đoàn, sư đoàn, bộ chỉ huy hậu cần, và các căn cứ pháo binh của quân địch bị quân ta tràn ngậy và lần lượt bị quét sạch. Nhiều giàn pháo các loại 4 ống, 8 ống, 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 hoặc 122 ly, bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ. Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT3 của Liên Xô nằm trên dàn phóng chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt.Đúng 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng.
Phản Công Chớp Nhoáng của Lữ Đoàn 3 TK Cộng Sản bị đánh tan rã, rút chạy để hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi bèn tung cả ba Chiến Đoàn đồng lọat truy đuổi địch sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và hàng trăm tên bị quân ta bắt sống.3. Sáng ngày 30 tháng 04 năm 2014, các đơn vị địch còn kẹt lại cho quanh căn cứ Đức Huệ, chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 bắt tay được với BĐQ trong căn cứ Đức Huệ. Đến chiều tối, toàn bộ Sư Đoàn 5 Cộng Sản hoàn toàn bị quân ta quyét sạch.Bộ chỉ huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chi Pu trong một lòng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm mọi người nức lòng. Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả. Trời trong vắt, dầy sao. Lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là một đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với quân đoàn là chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS. Bây giờ chúng tôi đã đánh bại chúng. Tôi nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì sẽ không còn ai được trở về Việt Nam. Bây giờ chúng tôi đã chiến thắng có thể trở về. Đối với tôi cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy mạng sống của mình ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó trong đời, tôi thật không có niềm hạnh phúc nào lớn hơn.Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận vận động chiến nào mà quân ta hoặc đồng minh đã chiến thắng một đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, triệt để như thế. Tôi chợt nhớ đến cung cách và những lời của Julius Ceasar trong chiến dịch thần tốc ở Zela, vùng Tiểu Á,
248 Trân trọng báo cáo:- Ngày 28-4-74: Xuất quân.- Ngày 29-4-74: Phản công.- Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch.- Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.4. Ngày -5-74, 1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn Ở Gò Dầu Hạ, một phóng viên VOA phỏng vấn, hỏi tôi:- Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân sang lãnh thổ Campuchia không?Tôi liền đáp ngay:- Không, tôi hành quân dọc theo biên giới trong lãnh thổ Việt Nam. Chính Cộng Sản Việt Nam mới có quân trên lãnh thổ Campuchia.Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của Quân lực ta căn cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm:- Tướng Trần Khắc Khôi nói không có đưa quân sang đánh thổ Campuchia, nhưng theo tin tức của chúng tôi nhận được thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có truy đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt trên lãnh thổ Campuchia.5. Ngày 3-5-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng Gò Dầu Hạ, thăm chiến trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi đón Tổng thống. Ông vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân địch. Rất nhiều vũ khí cộng đồng đủ loại. Nổi bật là các dàn phóng hỏa tiễn 4 ống, 8 ống, và 12 ống, cùng hàng trăm 107 và 122 ly.Đặc biệt hơn cả hơn 30 hỏa tiễn AT37, loại mới nhất của Liên Xô có hệ thống điều khiển chống tang, lần đầu tiên để
Phản Công Chớp Nhoáng của Lữ Đoàn 3 TK hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong căn cứ Đức Huệ và sức chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ.Tiếp đến Tổng Thống đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh chủng của LĐXKQĐIII. Ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn cấp bậc đại tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 315. Sau đó, Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy của tôi cùng tôi bay đến Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuận và Phái Đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau.Trên đường bay, Tổng Thống nói chuyện với tôi:- Tôi rất thích tính táo bạo, liều lĩnh trong các kế hoạch hành quân của anh.- Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Tôi đáp lại.Thấy Tổng Thống vui vẻ, vẻ hân hoan hiện trên nét mặt, tôi nói đùa một câu tiếng Pháp:- “Sự may mắn luôn luôn “cười” với những kẻ liều lĩnh.”Ông gật gù cười có vẻ đắc ý lắm. Trực thăng đáp xuống căn cứ Đức Huệ. Các chiến binh Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ một vòng viếng thăm, ủy lạo, và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị pháo binh địch tàn phá đổ sập gần hết; nhưng sự hãnh diện giữ vững được đồn hiện ra trên đôi mắt của mỗi chiến binh BĐQ. Một chuẩn úy BĐQ còn rất trẻ đi đến tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh tới hai tay nắm chặt lấy tôi bật khóc và nói:- Cảm ơn thiếu tướng đã cứu mạng chúng em.