The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-29 00:19:14

Nguyễn Ngọc Tư Toàn Tập

Nguyễn Ngọc Tư Toàn Tập

nghệ sĩ hơn thế, tất cả con người anh toát lên cái gì đó phong trần, phiêu
lãng, thương không chịu được. Chị đặt tên cho đứa con đầu lòng là San vì
tin rằng sẽ đẻ cho anh thêm thằng Hậu, nhưng thằng Hậu mãi mãi không
bao giờ có. San vừa tròn bảy tháng để nó lại cho má, chị đi. Hôm đó nó đã
bú cho thật no rồi, chị ép cho no nữa. Nó ngậm vú chị ngủ ngon lành. Đặt
con xuống giường, chị còn thấy cái miệng nhỏ xíu của nó mút mút. Rồi từ
đó chị không dám nhìn thêm lần nào nữa, sợ mãi mãi mình không thể nhấc
chân đi. Mà chị thì không thể từ bỏ ước mơ của mình, trở thành cô đào hát
nổi tiếng. Làm sao từ chối vai diễn đã từng chờ đợi, nàng Trưng Trắc oai
hùng trong " Tiếng Trống Mê Linh " ?

Chị yêu vai Trưng Trắc này biết bao nhiêu, người phụ nữ cũng có lúc
dao động, mềm lòng khi chồng của mình đang nằm trong tay giặc. Nhưng
rồi Trưng Trắc vẫn mạnh mẽ đánh trống xuất quân, nước mắt bi hùng nhỏ
xuống mặt trống vang lời ly biệt. Mấy hôm đầu, có lúc sữa xuống nặng,
chị Diệu nhớ con quay quắt, chị muốn bỏ hết, về nhà vùi mặt mình vào làn
da thơm tho của nó, nhưng nghĩ đến vai diễn của mình, chị ghì lòng lại.
Đâu nè, Trưng Trắc đâu có nữ nhi thường tình vậy. Vở được đoàn đem đi
dự hội diễn toàn quốc, năm đó chị nhận huy chương vàng, bắt đầu có một
chút danh tiếng. Chị nguôi dần nỗi nhớ nhà nhớ con. Chị bận lu bù với
hàng chục, hàng trăm vở mới. Hồi đầu chỉ mùa mưa chị mới ờ nhà lâu, giữ
con cho má đươn thúng, tưới trầu. Sau này trời mưa chị cũng phải đi học
bồi dưỡng nghiệp vụ, chánh trị. Chỉ về khi trên đường đi lưu diễn, tiện
đường ghé lại, nhiều khi con Phèn còn chạy te te ra sủa. Có lúc thấy cái áo
phơi ngoài sào, chị hỏi áo ai, má bảo, áo của con San chớ ai, chị cười, trời
đất, nó lớn dữ vậy hả ? Mà không biết mình đang hồn nhiên đứng bên đời,
nhìn nó lớn...

San chưa bao giờ kêu chị Diệu một tiếng má. Khi nó biết nói nó bắt
chước mấy dì, gọi chị bằng chế, xưng em. Dạy nó, nó lắc đầu nguầy nguậy,
" Hổng phải, chế Diệu hông phải má. Con Thắm mới là má ". Nghe lạ, hỏi
lại, thì ra chơi nhà chòi, con Thắm đóng vai má con San. Tưởng lớn lên nó
sẽ đổi nhưng có những tết gần giao thừa, chị gọi nó lại, biểu kêu má đi.
Con San nhìn chị trân trân, tay vò vò vạt áo, nín thinh. Chị rút tiền ra biểu
kêu má đi rồi cho tiền. Nó vẫn lặng lẽ đứng nhìn, hồi lâu, nó bảo, " em
không biết xài tiền " rồi bỏ ra ngoài trước coi người ta đốt pháo.

Năm đó, nó tám tuổi. Giao thừa đang rộn rã ngoài kia, chị Diệu vô
buồng ôm lưng má khóc. Má chị biểu " thôi nín đi, rồi từ từ má dạy. Mà,
cũng tại mầy...". Nghe người ta hát câu " Con chim se sẻ nó đẻ cột đình. Bà
ngoại đẻ má, má đẻ tụi mình..." tim chị quặn thắt. Dường như con San
đang đòi món nợ tình thương mà ngày trước chị nợ má.

Chị Diệu bỏ nhà theo đoàn hát từ năm mười bảy tuổi, không cách chi
mà giữ lại được, không cách chi chị quên giấc mơ xướng ca xiêm áo. Má
bắt chị thề " Không thương người cùng giới nghệ sĩ. Không lấy chồng khi
qua tuổi hai mươi lăm ". Nhưng năm hai mươi, chị về nhà dập đầu lạy má,
thưa rằng vì yêu, vì muốn giữ bên mình người chị yêu, chị đã mang đứa
con trong mình.

Má giận quá, nói " hồi đó phải tao sanh ra hột gà hột vịt còn có nghĩa
hơn sanh ra con gái như mầy ". Giận vậy, nhưng thấy con mình khổ không
cầm lòng được biểu " Thôi con, đừng thèm khóc, người ta hay hát, " Ví
dầu tình có dở dang. Tự ên thiếp chống đò ngang thiếp về ", con người ta
nhấc lên được thì bỏ xuống được". Rồi lụm cụm đi trồng thật nhiều sả,
chăm chút những cây chanh, cây bưởi quanh nhà cho tốt lá, lột vỏ tỏi để
dành xông cho chị sau khi sinh. Lòng má đau con mình dại dột, nó làm vậy
là đẩy người ta có cái cớ ra đi chớ có níu được, ràng buộc được người ta
đâu.

Nhưng con San đâu có già được như má, đâu có trải lòng ra để tha thứ
như má. Chừng mười, mười hai tuổi, nó nói với má chị: " Má ơi, con
không đổi chế Diệu để lấy tiền. Chế Diệu có cho má đừng lấy ". Mà chị chỉ
biết ôm nó vào lòng, thở dài rồi rầy, " ngoại già rồi, con kêu ngoại bằng má
hoài người ta cười bà già khú đế mà còn có con muộn". San thôi kêu ngoại
bằng má nhưng tiếng má nó cất mãi trong lòng.

Nó lớn lên giống Hoàng Bảo như đúc, cũng gương mặt xương xương,
cái mũi cao, đôi mắt to, hơi xếch, đôi môi mỏng, đỏ thắm. Nhìn nó, lúc chị
Diệu nửa thèm ôm chầm vào lòng, nửa muốn xô ra. Nghĩ thương nghĩ giận
người cũ, chị chỉ dám ngồi nhìn nó xa xa. Nên chị không hay nó lạ lùng
hơn hết thảy con cái người ta. Nó ít nói, nhưng nói câu nào đáng câu đó.
Có lần coi chị Diệu diễn Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài trên tivi, nó ngồi
nghễu nghện trên mấy bao lúa chất giữa nhà, nghe mấy đứa bạn reo lên,

má con San kìa. Nó nhếch mép cười. Tới đoạn Sơn Bá gặp Anh Đài ở nhà
Chúc viên ngoại, biết rõ thân phận nhau, hai người âu yếm ôm nhau đính
ước. Con San nói tỉnh bơ: " Ừ, ôm đi, ngoại à, vài bữa nữa người ta đem
một đứa nữa về cho ngoại nuôi cho mà coi ". Rồi tuột xuống cái độp đi te
te vô buồng, biểu: " Con đi ngủ ". Nhưng ngoại san biết nó vô đó nằm
khóc, vòng tay trìu mến đó, có bao giờ chị Diệu dành cho nó ?

Câu chuyện làm chị Diệu đau lòng. Chị Diệu sợ con mình cũng như
người đời, đánh đồng vai diễn với diễn viên, hễ ai đóng vai ác thì ngoài
đời cũng ác, tình tứ với bạn diễn nghĩ ngoaì đời chắc họ cũng yêu nhau.
Chị chọn những vai đào võ, rồi nổi tiếng với những nhân vật nữ tướng,
tinh tế trong cái nhìn khinh bạt, ngạo nghễ trước kẻ thù và cái chết, oai vũ
trong từng động tác đá giáo, lăn tròn theo nhịp roi, đi gối...Ai cũng nói nếu
con người ta có số sẵn (như giày dép vậy ) thì số chị Diệu sinh ra là để sắm
những vai nữ tướng.

Riết rồi những vai đào thương, chị Diệu không diễn được. Có những
lần giỗ Tổ, đoàn giao cho chị đóng vai Tô Ánh Nguyệt trong trích đoạn gặp
lại thằng Tâm, lúc con trai mình mắng mỏ một hồi rồi bỏ đi, Nguyệt kêu, "
Tâm, con đuổi má sao con ? ", Lệ Thủy diễn xé lòng xé dạ người ta là vậy,
nhưng với chị, chỉ câu nói đó thôi sao mà khó khăn quá chừng, tiếng má,
nửa đời người chị chưa được con gái mình kêu.

Nên trả lời phỏng vấn báo chí, chị hay tự trào mình là nghệ sĩ nửa mùa.
Khi đi qua mùa nhan sắc của một cô đào hát, chị xin đoàn cho mình đóng
vai hề mụ, chị bảo, " tôi hát nhiều năm, khóc hết nước mắt rồi, bây giờ chỉ
đóng được vai hài ". Và chỉ như thế chị mới không phải sắm vai những bà
mẹ, không phải nghe bạn diễn với mình gọi là má à má ơi mà lòng như cắt
như đau.

Hôm rồi, đoàn về hát vở " Cơn Mê " ở chợ Ông Trang, chị đóng vai bà
già bán ve chai. Vai nhỏ, chỉ cần quấn khăn lên đầu tất tả gánh cái gánh đi
ra, gặp cảnh một tên đầu gấu bức hiếp một cô gái nhà quê, bất bình bà già
ra tay nghĩa hiệp. Đơn giản thôi. Vậy mà lúc diễn, nghe cô đào trẻ Thu Mỹ
trong vai cô gái nhà quê núp sau lưng chị thét lên: " Cứu con với, má ơi !"
bà ve chai bỗng đứng khựng lại, buông vai, sững sờ, khóc. Thu Mỹ cũng
gục đầu, nức nở. Khán giả không hiểu gì hết, đầu gấu thấy vậy cương mấy

câu. Màn kéo lại, ông phó đoàn kiêm đạo diễn quát văng nước miếng, "
Tôi không sao tin nỗi. Một người lúc nào cũng muốn thành diễn viên nỗi
tiếng, một người mấy chục năm trong nghề rồi mà ai cũng diễn như một
đứa con nít ba tuổi ". Hai chị em buồn quá, hỏi Thu Mỹ sao cương câu đó
kỳ vậy, cô khóc, " hồi còn ở nhà mỗi lần ba em say rượu, ổng nghe lời má
sau, đánh em dữ lắm, không ai bênh, em chỉ biết kêu má, riết quen ". Trời
ơi, bọn nghệ sĩ mình, gạt bỏ đời đau, sống trọn lòng trên sân khấu, được
mấy người ?

Tan hát rồi, chị Diệu với Thu Mỹ ngồi mãi ngoài bến tàu bên bờ sông
Ông Trang. Gió lạnh thổi hiu hút. Thu Mỹ thắc mắc: " Mỗi lần bị đòn đau,
mỗi lần gặp chuyện gì buồn, em đều nghĩ đến má trước tiên, sao ngộ vậy
chị ? ".

Chị ngẫn người ra, con San của chị cũng có khi gặp chuyện gì buồn,
thế nào nó cũng nhớ tới chị mà chị thì xa cách nó ngàn phương. Vậy đâu
có được. Đáng lẽ mình phải ở nhà, nghe nó thủ thỉ chuyện một cậu con trai
nào đó hôm qua còn trêu chọc nó, biểu: " để lòng thương nó ", hôm nay đã
sắm cau trầu đi hỏi vợ khác rồi ( con gái mười tám tuổi mà ).

Sáng sau, chị lại xin phép trưởng đoàn, ông vừa đánh cờ vừa ờ, hờ
hững. Chị đi từ giã hết thảy mọi người, ai cũng nghĩ rồi chị sẽ trở lại. Chị
yêu sân khấu đến thế kia mà.

Chỉ Thu Mỹ biết chị sẽ không bao giờ quay trở lại. Đêm qua, chị ôm cô
ngủ, chị nói, chị thương Thu Mỹ lắm, thương từ lúc cô mới vô đoàn, mười
sáu tuổi đầu mà khuôn mặt đã già đi, dày dạn như con San của chị. Chị
thương Thu Mỹ vì thấy cô giống hệt chị hồi đó, nồng nhiệt, tự tin, với tấm
lòng trong trẻo tưởng rằng có thể thâu tóm được đất rộng, trời cao. Lúc
nào cũng khao khát vinh quang nhưng không biết rũ bỏ nỗi đau riêng để
hết mình trên thánh đường sân khấu. Chị nói chắc chị thôi nghề hát, về nhà
làm con của má, làm má của con. Mặc dầu làm má khó hơn nữ vương, nữ
tướng nhiều.

Nhất là với con San của chị, mười tám năm rồi mà vẫn dạ sắt lòng
đinh. Vừa về tới, dựng cặp chèo ngoaì hàng ba, nó cười, nói cái câu người
dưng hay nói với người dưng:

- Ủa, chế mới về hả ? Hồi sáng này em nấu nước, nghe lửa cười, biết
thế nào cũng có khách, hỏng dè là chế.

Chị nghe niềm vui như ngọn đèn vửa bị thổi chao ngọn, San ơi, má là
khách sao, má là khách à, con ?

Chị chụp đứng dậy, bảo để chị đi nấu cơm chiều. Chị trầy trật nhen lửa,
làm cho cả gian bếp ngoi ngóp khói. Bốn mươi tuổi đầu, chị phải tập làm
đứa con hiếu thảo, làm một bà má giỏi giang bằng nồi canh chua bông
súng, mẻ cá rô tôm tích kho quẹt này đây.

Nguyệt - người bạn không biết viết văn

Với bạn học cũ, tôi luôn luôn dựng lên cảnh ngày gặp nhau thật huy
hoàng, bữa đó có thể là ngày họp lớp, đám học trò xưa vừa ăn tiệc đứng
vừa nhắc kỷ niệm ngày xưa. Nhưng tưởng tượng cách xa thực tế, tôi gặp
Giàu ở bến tàu, nó chạy xe ôm, gặp đang lúc nó đang đỏ mặt tía tai dành
khách, nó giật giỏ xách tôi, thiếu điều bồng tôi quăng lên xe của nó. Tôi
gặp Tiên đang làm kế toán viên của ngân hàng, bữa tôi lại làm thủ tục vay
vốn, nó cứ càu nhàu, sao cái hình trong giấy không giống người ngoài đời,
còn mục ruồi dưới cằm đâu ? Bữa gặp Nguyệt cũng bất ngờ, tôi uốn tóc ở
tiệm cạnh nhà Nguyệt, nó nhận ra tôi trước, chạy ào qua, nắm tay tôi lắc
lia lắc lịa, mừng thôi là mừng, trong lúc con bạn nó đang ngượng ngịu với
cái đầu chôm bôm, tóc tai cuốn từng cuốn như chả giò (Đáng lẽ mình nên
xuất hiện trước mặt nó bằng dáng vẻ thanh lịch, tươm tất hơn mới phải -
người viết văn mà). Nó bảo, trời ơi, đúng là con Tư thiệt rồi, lâu quá
không gặp.

Rồi nó kéo tôi về nhà mình, tất tả bưng ly nước lọc ra, miệng ríu rích
hỏi tôi lúc này làm nghề gì, tôi nói viết văn, nó à ra rồi nói với cái giọng
tội nghiệp xót xa cho phận con bạn bẽ bàng :

- Vậy à, ờ, ráng đi, ai biểu hồi nhỏ mầy giỏi văn làm chi.

Lời của nó thiết tha đến nỗi làm tôi tin rằng mình tội nghiệp thiệt, thấy
thương quá đi. Người không viết văn sướng hơn mình nhiều.

Thì chuyện của Nguyệt chứng minh điều đó, nó sống vui lạ lùng. Nó
bảo, trái tim nó chia ba phần tươi đỏ, "Cuộc đời tao dành cho ảnh phần
nhiều. Phần cho con, phần để cho… phim"(Tôi ngờ rằng nó cải biên thơ
của Tố Hữu). Hai mươi ba tuổi nó lấy chồng, lấy ngay người yêu đầu tiên
và duy nhất, không phải tơ tưởng chọn lựa người này người kia, không
phải lúc nào cũng lơ mơ, thấy thằng nào cười đẹp đẹp là … muốn yêu
thêm nữa. Nguyệt thì chỉ cần chăm chăm thương một mình chồng, rồi bây
giờ thêm đứa con trai vừa đủ tuổi vô mẫu giáo. Chuyện chi xài trong nhà
thì không phải lo, anh chồng làm chủ một cửa hàng máy văn phòng gánh
hết. Một ngày Nguyệt lo cơm hai bữa, lo tắm cho con cũng hai lần thêm
một lần lo chuyện ngủ cho chồng ( nói tới chuyện này nó cười lỏn lẻn bí ẩn
lắm). Nó giỏi giang, chu đáo, làm việc nào ra việc ấy (chắc là vì không
biết viết văn như tôi ?). Nấu món nào chồng cũng thích, bạn bè chồng tới
nhà hai năm sau còn nhắc bữa ăn cá lóc luộc mẻ nghe ngon tới bây giờ.
Chủ nhật này làm bánh xèo, chủ nhật sau nấu bánh canh, Nguyệt đem cho
cha mẹ hai bên, ông bà già cảm động quá chừng, con nhỏ thiệt siêng, hiếu
thảo, ngoài chợ bán thiếu gì, làm chi cho cực, con. Nó cười, ra chợ mua
không có lòng bằng chính mình bỏ công làm. Họ hàng hai bên có giỗ quảy,
nhắn là nó tới, phụ nấu nướng một tay. Một ngày bình thường bắt đầu từ
việc đưa con đi nhà trẻ, nấu cơm xong, thời gian chờ chồng tan sở, nó ủi
đồ lớn đồ nhỏ trong nhà, thay dây thun lưng quần cho con, đơm lại nút áo
chồng, rảnh nữa coi phim bộ Đài Loan. Nó nói nó không thích phim Mỹ,
khó hiểu lắm, hỏng giống phim Đài Loan, coi lần nào cũng khóc muốn
chết. Tánh nó là vậy, trong sáng, chân chất, chuyện trong phim mà nó đinh
ninh như ở ngoài đời, như thể xảy ra ở trong xóm nó, kế nhà nó. Cảm giác
đó lâu rồi trong tôi không còn nữa, tôi rành sáu câu cách xếp đặt, dàn dựng
bi kịch, nghề viết văn cũng gần giống vậy mà.

Nên Nguyệt tội nghiệp tôi là phải rồi. Làm sao tôi có thể sống thanh
thản, thoải mái như nó, thí dụ như đi chợ, gặp đứa bé ăn xin, nó thương
quá móc tiền ra cho rồi thôi, Nguyệt chẳng cần tự hỏi chắc là có một bi
kịch nào đó trong nhà đứa trẻ đã đẩy nó ra đường. Không biết cuộc sống nó
thế nào, đêm nay nó ngủ đâu ? Tương lai nó sẽ ra sao ? Nguyệt nhìn con
chim bay qua mà không phải nghĩ tầm phào, tại sao con chim nó bay có

một mình, chắc cha mẹ nó bị bắn rồi, lúc này người ta săn chim, hủy hoại
môi trường dữ lắm. Những bữa tối nó thanh thản đi dạo phố với chồng,
con, ghé ngã Năm chợ mua bong bóng bay, hay ăn cháo trắng hột vịt muối,
tóm lại là không suy nghĩ gì hết, vui trọn cả tấm lòng. Còn tôi lúc nào cũng
nghĩ nhiều lắm, toàn chuyện trời ơi đất hỡi, nghĩ coi cho ông nọ gặp rồi
yêu bà kia như thế nào, nghĩ coi anh lính đó sẽ chết trong tư thế nào, con
nhỏ nầy hành động làm sao khi thấy cha nó lấy má ghẻ…

Nguyệt thì không biết viết văn, hồi nhỏ, nó dốt nhất là môn nầy. Cô
Thuỷ chê nó thiệt tình quá, không biết tưởng tượng mộng mơ, bay bổng.
Vậy mà hay, tâm hồn ở dưới đất nên nó biết thịt heo đùi trước mềm hơn
đùi sau, cá kèo kho xổi ngon hơn kho mặn, còn cá chốt rửa bằng dầu ăn
vừa sạch nhớt vừa mềm, hâm mấy lửa vẫn ngon như thường, nó biết gạo
Tài Nguyên ngon cơm hơn Nàng Gáo, quần áo đổ đống ở chợ phường vừa
tốt vừa rẻ. Nó biết nhiều sự kiện của đầu trên xóm dưới, nhờ thu lượm
được của con nhỏ làm móng dạo, rồi quan tâm, bàn tán như thể chuyện của
nhà mình.

Nên lần gặp lại này, toàn là Nguyệt nói, tỉ tỉ chuyện dưới đất trên trời,
luôn cả chuyện chính trị, nó chê tổng thống Mỹ không đẹp trai, mặt mày
xương xẩu, quạu quọ, nó thương chủ tịch M vừa mất chức, tội nghiệp, hồi
trước giờ nhờ ổng mà cả xóm ít khi cúp điện, đường sá cũng được sửa
đàng hoàng. Rồi Nguyệt nói dài tới chuyện nhà, chuyện nó nhằn chồng đi
nhậu khuya, thằng con hồi hôm này đái dầm nhưng tuyệt không nói tới văn
chương, chẳng hỏi nhau lúc này viết được không, nhiều ít, truyện vừa rồi
đạt không, rồi ngồi chê bủng chê beo tiểu thuyết mới của ông C nào đó như
am hiểu lý luận phê bình lắm. Nó nói có lúc rảnh quá chừng nó cũng đọc
sách, sao không thấy sách ghi tên Tư, tôi hỏi nó đọc sách gì, Nguyệt kể ra
nào là "Tình như mây khói", "Yêu mãi người ơi", "Mai em theo chồng"...
loại sách vừa dễ hiểu vừa có chữ bự coi không mỏi mắt. Tôi cười cười, con
Nguyệt thắc mắc "Nhớ hồi nhỏ mầy thèo lẻo nhất lớp, bây giờ sao khôn
quá trời, bắt người khác nói không à". Tôi cũng giật mình, ờ, ờ mình hỏng
biết nói gì, rồi nhìn vẻ mặt lấp lánh ánh cười của nó mà buồn, bao giờ,
chừng nào mình mới được sống vui giống vậy ? Tôi biểu Nguyệt cứ nói đi,
mình thích nghe hơn. Bởi có những chuyện tôi biết thì tôi để dành… viết
hết rồi. Bi kịch ở chỗ là cuộc đời nầy không chỉ có bấy nhiêu thôi.

Còn nhiều chứ, ngoài văn chương thi phú ra, thí dụ như bạn bè. Con
Nguyệt khoe, gặp được nhiều bạn bè cũ lắm. Như mới vừa đi đám cưới
con Thảo "khoai lang" nè, coi ú vậy mà lấy được thằng chồng đẹp trai, ờ,
bữa đó còn ngồi chung Thúy "ở dơ", bây giờ điệu dữ à, mấy ngón tay lúc
nào cũng nhón nhón vảnh vảnh thấy cười lắm. Như mới gặp thằng Nguyên
hồi hôm qua nè, nó ẳm con đi chích ngừa ở dưới phường, thằng nhỏ giống
hệt nó, tròn vo, ú quây. Như thằng Nghĩa ngày nào cũng lùa hai con bò của
ông nội nó ngang nhà, Nguyệt rủ nó ghé uống nước rồi đi nhưng Nghĩa
mắc cở, cầm cây roi quất con bò chạy cà cồng cà cưỡng, lầm lủi đi mất.
Như hôm qua ba cặp vợ chồng Nguyệt, Mỹ, Tho rủ nhau đi nhậu ốc lác
luộc sả, ốc bươu nướng, mấy đứa nhỏ khoái lắm. "Ủa, Tư, mầy hỏng gặp
tụi nó hả ?", Nguyệt hỏi, giọng tiếc hùi hụi. Tôi bảo không, à, có, mà
không, tôi không có bạn, lúc bạn cần, bạn tìm thì tôi đang bận viết cái gì
đó nên không thể phân tâm mà bỏ đi chơi, đến lúc tôi rảnh rang, sực nhớ,
chợt thèm gặp một người nào đó để nhậu, nói chuyện chơi thì không còn ai
cả. Có gặp thì cũng như gặp Nguyệt bây giờ, lượng sượng, không biết nói
chuyện gì, giống như một đứa ở trên trời, một dưới đất, có chuyện gì
chung đâu.

Nguyệt thì chẳng bao giờ cô đơn như thế. Nó để dành cả một tâm hồn
không vướng bận để quan tâm, chia sẽ, chu toàn hết thảy chuyện lặt vặt
của cuộc đời. Còn tôi thì đang đứng trên biển văn chương mênh mang
chưa thấy đâu là bờ bến, đường đời cũng dỡ sống dở chín, chưa đâu tới
đâu, hai vai không trọn vai nào.

Bữa gặp Nguyệt về, tôi ngơ ngẩn hết mấy ngày. Nhớ cái cảnh nó vừa
chổng mông lau nhà vừa nghe nhạc, loại nhạc mang âm hưởng dân ca lời
lẽ cực kỳ dễ hiểu kiểu như " Nhà anh, giậu đổ bìm leo mà nhà em rào mấy
lượt rào, hỏi chớ con đường mòn nào xui hai đứa gặp nhau…". Cứ đêm về
tôi mong được nằm mơ, mong thấy vía mình vừa chơi ô tô với con vừa kể
cho chồng nghe một câu chuyện gì đó thật hay lượm ở ngoài chợ cá, vừa
kể hai đứa vừa cười ngắc nga ngắc ngẻo. Xong rồi coi Lưu Tuyết Hoa
trong phim "Xóm Vắng"vừa khóc với Tần Hán vừa hát "Buồn lòng tôi hát
câu dân ca xưa để vơi nỗi sầu... Mấy ai qua cầu mà mong về được người
ơi..." bằng tiếng của ca sỹ Cẩm Ly (vô lý vậy mới gọi là mơ chứ). Nhưng
chờ hoài không thấy…

Cuộc sống đó, không ít người vẫn "khi dễ" là nhàm chán, cạn èo, tầm
thường… Rồi một đôi lần trong đời chợt rưng rưng nhận ra, muốn sống
vậy cũng không dễ.

Lý con sáo sang sông

Bấc về. Như thể trong đời này chỉ còn gió. Gió lạnh căm căm mà khô
nẻ môi người ta. Da tôi mốc cời. Tàu chạy lừ lừ dọc theo sông, những
quãng không có nhà, sậy mọc thành rừng. Những bông sậy chín mềm,
trắng phau phau. Ðã nhiều bông lìa cành, trùng trình bay. Nước mặn rin rít
da. Nghe gió này là mùa cưới đến.

Nét chữ không bay bướm trong tấm thiệp mộc của út Thà mang cho tôi
một cảm giác lạ lùng. Vui, buồn, chua xót lẫn lộn. Má tôi bảo: "Con về
sớm mấy ngày cho thằng Phi đỡ buồn". Tôi lật lịch khẽ cười, má à, có
những nỗi buồn không ai trị được đâu. Nó day dứt tháng năm, nó dài dăng
dẳng. Người yêu đi lấy chồng mà, biết bao người tự tử.

Cái lần gần đây nhất tôi đi Tân Thuận có ghé qua nhà, Phi đang lui cui
đóng giường, Thà cũng qua chơi, vo gạo ngoài sàn lãn, dì Tư - má Phi lột
bông súng nấu canh chua, Phi nói nửa đùa nửa thật: "Ðóng giường mới
cưới vợ chơi". "Cưới ai?". "Út Thà". Nghe tiếng kêu cùng tiếng cười giòn
trong bếp. Tôi ở lại ăn cơm chiều. Một bữa cơm ắp tiếng cười rộn rã. Khói
ấm bừng nở trên những tia nắng xuyên qua khe lá. Họ làm tôi vui quá.

Vậy thì làm sao đến nông nỗi này?

Phi cười cười, từ từ rồi nói. Nhưng dì Tư thì chắt lưỡi hít hà lúc tôi
bước chân vô nhà. Dì có vẻ giận Thà lắm. Phi nhún vai thì thầm: "Má tao
cằn nhằn nhức mình muốn chết".

Tôi hiểu dì Tư như hiểu má tôi. Trong lòng mọi người thằng Phi tội
nghiệp lẽ ra phải được hạnh phúc. Nó hy sinh quá nhiều rồi. Với má tôi, bà
thương Phi như con ruột. Phi từng trọ học ở nhà tôi gần tròn năm. Có lần
nó về thăm nhà, rồi không trở lên học nữa. Dì Tư kể, lần đó nó đem cây
cúp móng tay về, nằng nặc đòi cắt cho ba má. Khi nâng cái chân của dượng

lên, nó rớt nước mắt. Những móng chân thúi sạm, kẽ chân nước ăn lở đến
tận xương. "Con thấy ba má con cực khổ con chịu không nổi, dì Hai à", Phi
trở lên lấy đồ, từ giã bạn học, từ giã cả nhà chúng tôi, má tôi khóc.

Rồi dượng Tư chết, thằng Phi là trụ cột trong nhà chống đỡ cho người
mẹ với hai đứa em gái. Mùa mưa nó xoay trần với mười tám công ruộng.
Trở bấc là nó lang bạt kỳ hồ. Nó sắm dàn nhạc cũ đi hát phục vụ đám tiệc.
Ban nhạc nhỏ, gồm sáu bảy người trong xóm, già có, trẻ có, vừa đờn vừa
ca. Phi có giọng ca hay nức tiếng nên ban nhạc của nó khá đắt khách. Nói
Phi ai cũng buột miệng khen "Thằng đó ca mùi rụng rún". Trăm ngã sông,
ngàn ngõ xóm, Phi rành đất này như ông thổ địa. Có lần nó rủ tôi đi chơi
cho biết, dặn "về đừng viết báo nghe cha nội!" nhưng tôi không kìm được,
viết ngay về loại hình sinh hoạt văn hóa nông thôn này. Lần ấy, tôi phát
hiện ra, Phi càng uống say càng ca thần sầu. Lời ca rõ tiếng vành vành, làn
hơi ấm áp. Giọng ca của nó không giống út Trà Ôn, Minh Cảnh hay Minh
Vương, chỉ là của Phi thôi. Nó thuộc nhiều bài nhạc, bài cải lương, nhiều
vô kể. Tôi ngạc nhiên về một thằng Phi mặc áo phèn đi cắm câu với một
thằng Phi nghệ sĩ mặc cái quần kaki mười hai túi trên sân khấu lót bằng bộ
ván ngựa. Khuya, Phi rủ tôi xuống ghe nó nằm, nó gác chân lên bụng tôi,
kê tay làm đầu gối.

- Mày hát hay vậy sao không kiếm dịp đi thi?

Nó cười:

- Thôi, giọng ca tao, thiếu sông, thiếu nước, coi như hết hay rồi.

Tôi ngó sao trời, lan man một nỗi sợ hãi mơ hồ, có người thợ xây
không xây nổi cho mình ngôi nhà, có người thợ mộc nằm đất ngủ lạnh, Phi
chuyên hát phục vụ đám cưới cho người ta, bao giờ mới hát cưới mình
đây?

- Chừng nào mày cưới út Thà? Quen người ta ba năm rồi, ngâm tới
chừng nào?

- Không biết, lo cho con Minh, con Thúy trước đã. Ba năm nữa tụi nó
mới ra trường. Tụi nó học ở thành phố mới một năm mà về chê dàn nhạc

tao là đồ dỏm, đồ cũ. Tao giận tụi nó, thì nhờ mấy món đồ cổ đó mà tao
mới nuôi nổi tụi nó học đại học. Cũng tội nghiệp, hai đứa nó biết lỡ lời nên
buồn hiu. Tao thương tụi nó quá.

- Vậy không thương út Thà sao?

- Thương. Thương thiệt.

Thương mà sao không biết tính làm sao.

Nhà út Thà ngó xéo bên sông. Hôm nay là nhóm họ, qua đám dừa nước
thưa, thấy đằng trước rạp đã lùm xùm những tàu dừa bẻ vòng nguyệt, lá
đùng đình vắt xòa quanh mấy cây cột rạp ốp bẹ chuối non. Phi ngượng
nghịu:

- Lẽ ra tao phải qua bển phụ một tay.

- Sao vậy?

- Bữa trước gặp ngoài chợ huyện tao lỡ nói dóc là kẹt không về. Lúc đó
tao tưởng là không chịu nổi?

- Bây giờ chịu nổi rồi à.

- Ừ!

Phi nói có vẻ nhẹ nhàng như thể nó đã chuẩn bị điều này từ lâu lắm rồi.
Hai đứa nằm trên cái võng giăng ngoài chái dựa hàng lu nước. Tôi nghe rất
rõ gió cuộn thành lọn, lăn miết trên da mình. Có nỗi buồn nào đó đang thở
rất mạnh. Dì Tư buồn tình chèo xuồng về bên ngoại chắc chiều mới về.
Một chút ai ngờ út Thà qua. Cô mang cho chúng tôi một tiếng cười giòn.

- Em biết anh Kiên bữa nay về mà.

Phi nạt:

- Ở bên nhà đang lu bu...

- Thiếu gì người làm. Còn em, qua đây lâu lắm mới qua nữa. Mà, biết
đâu là... lần cuối.

Chữ "lần cuối" Thà buông xuống, lạnh như bấc cuộn gai ốc trên tay tôi.
Thà chợt cười (lại cười... giòn):

- Hai người nằm làm gì, đi nhậu đi.

Tôi với Phi trợn mắt nhìn nhau, nghe tiếng chân Thà lẹp xẹp vào bếp.
Thà rành từng ngóc ngách nhà Phi nên không lâu lôi ra từ bộ vạc tre chai
rượu trắng với đĩa mắm lóc xé trộn gừng. Một chút bổ sung thêm chén khế
chua xắt lát. Chúng tôi kéo lại ngồi với nhau. Và với gió. Thà là con gái
nhưng uống rượu khá mạnh. Phi nãy giờ không nói gì, ngó Thà lom lom:

- Làm gì ngộ vậy Thà...?

- Uống rượu cho dễ nói chuyện.

- Chuyện gì?

- Chuyện anh Phi nói gạt, ảnh tránh em. Ðám em mà ảnh còn không
qua vậy mà nói thương em. Tụi mình là bạn bè, anh Kiên coi phải không?

Tôi cười cười, chịu Thà thôi. Khi chúng tôi còn nhỏ, thật tình có dạo
tôi tranh Thà với Phi. Bởi vì Thà có đôi mắt một mí nhưng đen, mái tóc
đen, khuôn mặt xinh xinh duyên dáng và cũng bởi vì cô nói chuyện rất
cuốn hút, thuyết phục người ta, điều này với các cô gái quê là rất hiếm hoi.

- Nghe nói Thà lấy chồng về Cái Nước?

- Dạ, xa lắm, chắc lâu nữa mới về một lần. Anh Kiên đi công tác ngang
chợ Rau Dừa, nhớ ghé nhà máy Phú Phong thăm em. Anh Phi cũng vậy
nghen!

Phi "ừ", nâng ly uống "chóc".

- Sanh con cứ lấy tên anh mà đặt.

- Dạ. Nhưng vái trời cho nó đừng ca hay như anh. Có nhiều cô mê lắm.

Thà cười. Tôi ngơ ngác giữa đôi bạn thân. Họ đang đứng ở bên bờ chia
xa mà thanh thản vậy sao? Tôi đùa:

- Uổng công anh nhường em cho thằng Phi, nghe tin Thà lấy chồng như
trời sập. Quả tình anh giận em lắm...

Thà bảo không uống nữa, trở bộ duỗi chân.

Em biết, ai không hiểu chuyện thì giận em lắm. Lần đó, bên chồng em
qua hỏi, ba má em hẹn ba ngày trả lời. Trước đó em đã từ chối bốn mối
rồi. Một mình em chạy máy đi lòng vòng kiếm anh Phi. Cực khổ lắm.
Kiếm được rồi hỏi ảnh tính sao? Ảnh kêu em về. Song ảnh chạy xuồng tắt
qua Rau Dừa, dò hỏi kỹ bên chồng em. Hỏi từ ông già, bà già cho tới đứa
con nít xong ảnh về kêu em ra nói một câu: "Em lấy chồng đi". Hai đứa
ngồi ngoài bực tính kỹ lắm. Em thấy chắc không chờ được nữa rồi. Con
gái xóm em mười bảy, mười tám tuổi có chồng, em đã hai bốn rồi, ba má
em như ngồi trên đống lửa. Nói cho kỹ chuyến này là anh Phi gả em. Ảnh
nói bên chồng em khá giả, lại đàng hoàng, xứ đó ai cũng biết tiếng chịu
khó làm ăn. Xét cho cùng, em cũng có lỗi, em không chắc lòng chắc dạ với
anh Phi. Mỗi khi ảnh đi, em nhớ ảnh lắm, em nhớ giọng ca của ảnh. Rồi
tưởng tượng ra biết bao cô cũng ngồi nhớ ảnh như em. Ảnh đi hoài, mai
mốt biết ảnh có về cưới em không? Có câu "Bậu lỡ thời như giấy trôi
sông..." anh Kiên nghe chưa? Ðó, lỗi của em là nhiêu đó đó. Nghĩ lại cuối
cùng em không xứng với cái tình của anh Phi. Tụi em thương nhau không
lấy được nhau thì không có thù hằn đâm chém đâu anh Kiên à. Khổ cái,
đám em ảnh trốn không qua coi như không tha thứ cho em rồi.

Phi phì cười:

- Thôi mà, anh lỡ lần này thôi, Thà ơi.

Thà nói xong, má đã ửng hồng. Ðôi mắt cô đen và trong lắm. Ðôi mắt
Phi cũng đen và trong lắm. Trong lòng tôi tự nhiên muốn ôm choàng hai

đứa bạn vào lòng. Ba chúng tôi ngồi với nhau như ngày xưa, lúc nhà tôi
còn ở đây, chưa ngụp mặt dưới dòng sông lở. Trước nhà tôi có giàn mướp
vàng hoa. Những đứa trẻ lấy đó làm nhà, sống đầm ấm, và chúng yêu
thương nhau cho tới bây giờ. Phi giục:

- Thôi nói bao nhiêu đó đủ rồi, Thà về đi...

- Dạ.

- Ðừng buồn anh.

- Không buồn đâu. Mai mốt em có con, tối ngày nựng nịu nó, thời gian
đâu mà buồn. Em mê con nít lắm.

- Nhớ sanh hai đứa thôi, đúng chính sách. Sanh nhiều mau già, dễ chết
- Phi dặn thêm.

Chúng tôi đều cười. Cái mất mất rồi, cái còn hình như vẫn còn đó. Tôi
cảm thấy hơi ấm từ lòng mình ấm phừng đến mặt. Chắc tại rượu ngon. Thà
về, xuống tới bến còn quay lại phân trần:

Sao tự nhiên em qua đây lãng xẹt vậy không biết?

Cô cười giòn. Tôi có cảm giác cái cười níu chật vật làn nước mắt chực
rơi ra. Thì là người mà, có phải cây cỏ đâu. Phi không tiễn Thà mà ngồi
trên nhà gõ chén ca, giọng ca thêm rượu thần sầu.

"Ở ở... Ai xui mà con sáo nò sang sông cái nò sang sông. Cho nên mà
con sáo ở ở sổ lồng cái kìa bay xa cái kìa bay xa, cái lý em ở, cái lý chàng
đi...".

Tôi xin thề với thiên thần thổ địa rằng chưa bao giờ được nghe một bài
Lý con sáo sang sông điệu Bạc Liêu đứt ruột như vậy. Nó mênh mang, sâu
rứt những nỗi nhớ thương từ tim, từ máu. Tôi buột miệng: "Thì mày đưa
con sáo của mày sang sông chớ ai". Phi ngưng hát, miệng lầm bầm: "Chớ
bắt người ta chờ mình tới chừng nào".

Dì Tư về. Có vẻ như dì về đã lâu. Bà hỏi: "Sao tự nhiên tụi bây nhậu
vậy?" mà không đợi chúng tôi trả lời, ngồi thừ rất lâu. Rồi bà kể chuyện
thằng em họ xa của Phi vì ghen tuông đâm chết người bị bắt lên trên
huyện. Bà chắt lưỡi: "Sao tụi trẻ bây giờ coi trọng chuyện trai gái vậy
không biết". Phi quạt mạnh tay cho những bụi than hồng trong bàn ủi bay
lên, tủm tỉm cười: "Bà già muốn nhắn gởi tao đó".

Chạng vạng, chúng tôi xuống xuồng qua sông. Dì Tư biết chúng tôi đi
đâu nhưng hỏi cho có:

- Con đi đâu vậy Phi?

Phi trả lời, giọng cố nghiêm túc:

- Con đi ca, má à!

Chiều vắng

Ngày dì Út Thu Lý tròn bốn mươi bảy tuổi, dì từ giã thêm một lượt ba
cái răng. Buồn quá trời đất, dì lại chùa Phấn, than với sư Huệ bây giờ
không biết làm sao giáp mặt anh Tư Nhớ, răng cỏ trống hơ trống hốc
vầy… Bà sư già nghe xong niệm Phật mà không nén được cười. Dì Út
mượn gương, soi mình vào đấy, thấy tóc bạc, mặt nhăn, kỳ lạ thay, dì thấy
cả một nỗi buồn rất lạ thăm thẳm trong lòng mình. Dì đứng đó một chút,
rồi dì te tái cắp nón đi, hỏi đi đâu, dì bảo ra vườn thuốc.

Nhà cậu Tư Nhớ cũng ở đó, xiêu xiêu giữa vườn thuốc Nam, quanh
năm nồng nàn hương hoa cỏ. Nhưng cậu không có nhà, cậu đang dự đám
tang trên Lung Dừa. Cậu ‘đuổi quỷ’ trong đội đạo tỳ của chữ thập đỏ xã.
Gần mười lăm năm cầm đuốc múa quanh quan tài đến chai tay, lửa phà
nám mặt, mấy lần ngậm dầu phun lửa bị sặc trối chết. Càng lớn tuổi cậu
càng tưng tưng, ai cũng nói, ổng bị sặc dầu quá trời đất như vậy mà không
mát dây cũng uổng. Cậu nghèo, nhưng đèo bòng nuôi một thằng nhỏ mồ
côi cha mẹ. Bình thường thì thằng Lụm kêu bằng tía, nhưng có lúc, kêu
vậy, cậu la thấu trời, "Mầy làm như tao già lắm vậy, kêu tao bằng anh đi,

bằng thằng cũng được nữa". Một tháng ăn cơm nhà chừng ba bữa, còn hai
mươi bảy bữa cậu dọn vườn, chặt thuốc cho chùa nên được đãi cơm chay,
hết việc, cậu dắt thằng con lang thang làm mướn dài dài theo xóm, ăn cơm
ở đó luôn, đội đạo tỳ có việc thì hai cha con dùng cỗ đám tang, lắm lúc cậu
về nhà biểu thằng Lụm, "Đổ nước mắm vô kho quẹt ăn. Tao ngán thịt heo
thấu trời rồi".

Chỉ nhà dì Út Thu Lý là cậu không bao giờ lui tới. Hồi bà Hai, má dì
còn sống, ra đường chạm mặt, tránh không được, cậu mới mở miệng,
giọng có một chút hằn học, một chút chua xót, một chút mỉa mai : "thưa
má !", rồi cậu cun cút đi thẳng. Những chiều ngang qua nhà, thấy bà Hai
bắc cái ghế ngồi ngoài hàng ba là cậu cởi quần dài, tụt xuống mé kinh, lội
qua khỏi đoạn đó mới ngoi ngóp lên bờ. Đám trẻ trong nhà thấy cảnh đó
cười ngắt nga ngắt ngẻo, chỉ dì Sáu Thu Lý là chua xót ngẩn ngơ, người
coi tưng tưng vậy mà giận dai ghê hen. Rồi dì tự hỏi, nếu mình là anh ấy,
thì mình có giận không ?

Giận. Bởi gió kia, mưa kia, những mái nhà chiều chiều khói tỏa kia,
người phụ nữ đang na cái bụng bầu lặc lìa qua ngõ kia, và những đứa trẻ
kia, cả thằng Lụm… hết thảy đều làm cho người đàn ông đó nhớ một mái
ấm đã bị tước đoạt của mình.

Bởi nếu con cậu còn sống, bây giờ chắc nó cao hơn thằng Lụm. Những
khi ngồi nhớ lại, cậu ứa nước mắt, ước gì mình được nhìn thấy nó một lần,
một lần thôi, sau này có sặc dầu hay chết hụt dưới mương, cậu có lẫn lộn
việc này việc khác, dứt khoát cậu sẽ không quên được hình bóng vợ con
mình.

Nhưng cả mơ ước đó cũng bị má vợ cậu, bà Hai cướp đi mất. Khi dì Ba
Thu Lê để lòng thương cậu Tư Nhớ, roi đòn mấy cũng không cản được, bà
đã nghiến răng trèo trẹo khi nhắc tới cậu, "thằng ăn cướp". Sinh cả thảy
sáu người con, chỉ có hai đứa con gái, dì Út Thu Lý vụng về, đểnh đoảng,
như trẻ con, vui buồn ra mặt, bà Hai dồn hết tình thương cho con gái Thu
Lê vén khéo, nhu mì. Hồi đó, dì Ba mới hai mươi tuổi, trong lòng người
mẹ, dì còn non nớt, dại khờ. Ai mà ngờ một bữa dì bỏ bà đi… Nhà cậu
Nhớ cách nhà bà một quãng đường xóm, những bữa đi ngang qua nhà, bà
Hai nghe giận nhói ngực khi thấy con gái mình khép nép đi cạnh chồng,

mắt ráo lơ, ngó vô nhà như thể nước lả người dưng. Cái nhìn van lơn và
hối lỗi của cậu Tư Nhớ nhỏ nhoi trước biển lửa giận hờn trong trái tim
người mẹ. Không bảo nhau nhưng cả hai người đều hy vọng, dù lâu lâu
lắm nhưng sẽ có một ngày bà tha thứ.

Hồi đó, gia tài của hai người chỉ có căn nhà dựng trong vườn chùa với
chiếc xuồng. Dì Ba hay cười, an ủi, "Anh buồn gì, xóm mình đâu chỉ nhà
mình nghèo…". Dì làm bánh bò, sáng sớm hai vợ chồng chèo dài theo các
xóm ven Đầm bán, buổi chiều họ xin rơm chở về gieo cải, trồng rau trên
liếp nhỏ kế bên nhà. Dạo đó, người ta dồn về nơi nầy để theo những con
rạch ngoắt ngoéo ra cửa sông Thầy Xúi vượt biển tìm đất hứa. Nhiều bữa
thấy người ta lỡ đường, vơ vất ngoài bờ bụi, khổ sở với bầy muỗi lá, cậu
Tư cho quá giang, cho ngủ lại, san sẻ ít chén cơm nguội. Cậu với dì không
hỏi họ đi đâu, làm gì, hỏi họ cũng không nói thiệt, chỉ nghĩ trong bụng, xứ
sở mình đây mà hỏng ở, đi làm chi cho cực thân vậy không biết. Cho tới
một bữa, trên đường chở rơm về, cậu bị công an xã bắt vì tội đưa người
vượt biên. Cậu Tư Nhớ có kêu oan, nhưng các anh công an cười, hỏi bà già
vợ thưa mà còn oan ức gì ? Cậu nghẹn lời, vì ngỡ ngàng và vì đau xót.

Lúc đó là tháng Năm, đôi vợ chồng trẻ đang nôn nao đếm ngược từng
ngày chờ đến sang Giêng sẽ đón trẻ con ra đời…

Bốn mươi ba ngày sau cậu Tư được minh oan. Lúc về thì cỏ đã mọc
xanh lối vào. Giồng cải bên nhà trổ bông, ngồng cao tới ngực. Lúc về,
chuột cắn rơm làm ổ trong cái cà ràng trên bếp. Lúc về, người cũ không
còn ở chỗ cũ, nhà lạnh ngắt, buồn xo. Cậu Tư Nhớ uất quá vác cây mác vót
chạy tới nhà bà Hai đòi người. Bà đứng chận ở cửa, mặt thản nhiên, lạnh
tanh như đồng, bảo "Ở đây không có gì liên quan tới cậu. Con tôi nó ra chợ
ở rồi, còn con cậu hả ? Ra bãi rác ngoài trạm xá xã mà kiếm". Cậu Tư nhớ
hoài, nhớ đời đời kiếp kiếp cái vẻ mặt chai đá của bà Hai, cậu cười, sao
con người đối với nhau có thể cạn ráo đến vậy.

Cho đến bây giờ dì Thu Lý vẫn còn nhớ giọng cười của cậu hôm ấy, nó
lạt nhách, không dư âm, như thể đá cười. Cho đến bây giờ, gặp dì, cậu vẫn
hay cười như thế, có lúc cậu còn làm ngơ không thèm nói chuyện. Nhưng
dì không giận, vì nghĩ nhà mình nợ anh ấy rất nhiều, cho tới khi má dì nằm
xuống, món nợ ấy vẫn còn nguyên.

Người ở xóm Rạch Ruộng ai cũng biết dì Út Thu Lý thương cậu Tư, họ
dạy con nít ngạo chơi "Trồng tre trở gốc lên trời. Con chị qua đời rồi tới
con em". Nghĩ cho nghiêm túc, hai người này cũng thật xứng đôi vừa lứa.
Ngày nào dì Út cũng đi làm công quả ở chùa Phấn, hốt thuốc tiếp sư cô,
lúc rảnh chạy qua nhà cậu Tư Nhớ quét cái nhà, lau bộ ván, cho chó, mèo
ăn. Dì coi nhà cậu như nhà mình, nên quen cái lối đi hẹp te giữa bộ ván
ngựa cũ kỷ và chiếc giường. Quen với căn bếp nằm chếch phía trái, đó là
một góc tù mù khói, nhưng đó là một chỗ ấm áp nhất. Mấy đứa con nít
khen dì giống cô Tấm trong truyện cổ tích quá trời.

Bây giờ gần hai mươi năm rồi, tóc đã trắng những sợi già, chuyện tình
đó vẫn chưa đi tới đâu, chiều nay lại, thay vì lòn tay qua lổ vách mở cái
móc khoá quen thuộc ra, dì Thu Lý tự nhiên giữ lễ, đứng chờ ngoài cửa.
Thằng Lụm về trước, thấy dì, nó cười, hỏi "Ủa, sao Út không vô ?". Dì bảo,
"Vô gì, nhà người ta mà". Thằng Lụm nhìn dì lom lom, nó thấy dì bữa nay
lạ quá, không biết có phải tại rụng mấy cái răng không. Nhưng lúc đó đã
nghe tiếng đá banh dội binh binh đằng xóm, nó rảnh đâu mà thắc mắc, vọt
đi mất. Cậu Tư Nhớ qua khỏi lùm nhãn lồng, làm như không thấy dì Thu
Lý, vạch cái cửa đi tuốt vô nhà. Cậu Tư Nhớ ra ngoài giàn ôm củi vô, rồi
chổng mông thổi lửa nấu ấm nước, khuôn mặt cậu tỉnh rụi. Nước sôi, cậu
đi rửa cái bình mẻ vòi, châm trà. Cậu chống rèm cửa sau lên, lau bộ ván
ngựa đầy dấu chân gà, quét cái nhà vương vãi rác, rồi ngồi uống trà. Cái
vạt áo màu bông cà của dì Thu Lý vẫn phơ phất bên ngoài cửa. Muỗi kêu o
e xà quần bên lổ tai, ờ, giờ này muỗi bắt đầu bay khỏi đám lá đi kiếm hơi
người. Ngoài sân, chắc muỗi cũng nhiều… Cậu Tư hơi trù trừ giây lát rồi
đứng lên, ra cửa trước nói trổng không :

- Sao bữa nay mắc gì mà không vô nhà ? Ngoài này muỗi cắn chết.

Dì thở ra, cứ tưởng là thằng chả không mời. Dì cố nén cười, nghiêm
mặt bước vào, đứng lừng khừng khách sáo như khách lạ. Cậu Tư coi bộ
hơi bực :

- Sao không ngồi đi ? Coi chừng làm nhăn bộ ván tui nghen.

Nói rồi, cậu đi gom mớ vỏ dừa khô vô nhen mẻ ung. Cậu ngồi thổi hoài
cho đến khi lửa bùng lên, cậu lại vùi cho tắt. Rồi hì hụi chỗ này, hì hụi chỗ
kia, không làm gì cũng lăng xăng, sực nhớ ra, cậu lại đằng chái bếp lấy
khúc ổi vừa được phơi dốt nắng, ngồi đẽo ngỏng cối, ngày mai, đằng nhà
Tư Biểu có đám giỗ, thể nào cũng xài. Cậu sợ rảnh tay rồi phải mở lời nói
với nhau. Mà, cậu thì không biết nói gì hết, không muốn nói gì hết.

Bởi mỗi khi gặp nhau, lòng người này chỉ toàn những oán giận, những
nỗi đau, còn người kia tràn đầy niềm yêu thương vô vọng mà họ đã không
còn ở tuổi hai, ba mươi để nói ra tâm trạng ấy bằng lời. Nên chiều nay
lặng lẽ lạ thường, có thể nghe rõ ràng tiếng muỗi kêu, tiếng xì xì mọng
nước của thanh củi ướt cháy trong mẻ, tiếng lưỡi mác vót khứa ngọt vào
cây ổi, tiếng trái dừa chuột khoét rụng đùng xuống hào ranh… Dì Thu Lý
lên tiếng :

- Anh Tư à… Bữa nay em mới nhổ ba cái răng.

-…

- Tính luôn hổm rày là bảy cái rồi đó. Thấy vậy mà già rồi…

Cậu Tư Nhớ vẫn nín thinh, hì hụi gọt đẻo, thấy mình cũng thật nhẫn
tâm. Kinh kệ mỗi ngày từ chùa Phấn vọng sang cùng tấm lòng chân thật
của dì Út vẫn không làm cậu nguôi đi oán hận. Cậu mà đáp tình dì chẳng
phải là đã tha thứ cho nhà đó sao, ngu sao, đâu có dễ vậy.

Dì Thu Lý ngồi trên tấm ván đã cong vênh, nghe lòng trống không đã
sạch sành sanh những niềm hy vọng cuối. Không biết làm sao cho hết bối
rối, dì ngó quanh quất cho giống người xa lạ chơi. Dì nhìn chiếc quai nón
bằng vải nhung đã phai màu treo ở đầu giường, cái áo bà ba màu bông cà
bọc trong bọc nilong treo trên vách cùng với chiếc cặp đỏ bằng nỉ (Hôm
chị Thu Lê theo chồng, nó chỉ vừa đủ để ba bộ đồ với cái khăn tắm, dì Út
lén má xếp dùm). Dì nói bằng một tiếng nhói :

- Anh nhớ chị Ba em !?

Lần này cậu Tư Nhớ đổ quạo, vặt lại :

- Bộ tui trâu bò sao mà không biết nhớ ? Biết còn hỏi !

Ờ, thì biết. Hơn hai mươi năm rồi cậu Tư với dì Thu Lê đã không gặp
lại nhau. Mỗi bận lễ Tết, hay đằng nhà bà Hai tổ chức giỗ ông Hai, cậu
đứng xa xa dòm ngó, nghe nhộn nhạo từng khúc ruột. Hỏng biết cổ có về
không ta ? Thằng Lụm hiểu lòng cậu, nó chạy đi coi, nó kể ở ngoài chợ
người ta về nhóc. Người nào người nấy đẹp đẹp không hà, tía. Nhưng trong
đám người đẹp đó không có người cậu thương, dì Ba thì không về, dì viết
thơ gởi bà Hai (lá thơ đó nhòe nước mắt) thưa rằng dì chắc chẳng bao giờ
về quê nữa, quay lại đó, rồi làm sao, mặt mũi nào để gặp một người. Dì
viết rằng, má ơi, má đừng buồn, chừng nào nhắm mắt xuôi tay, con sẽ về
để nằm trên đất nhà mình.

Câu chuyện đó dì Thu Lý kể cho cậu Tư Nhớ nghe vào một ngày mưa
gió, cậu đội áo mưa lại chữ thập đỏ xã, xin được giữ một chân đạo tỳ trong
đội mai táng. Ai cũng hỏi sao tự nhiên đi làm cái nghề u ám vầy, cậu cười
không nói. Chỉ có một người biết, càng biết nhiều càng nghe lòng buồn
nhiều.

Dì Ba Thu Lê bây giờ đã theo chồng sống ở nước ngoài, vò võ không
con, dì cay đắng, "trời phạt vậy". Dì hay gởi thư, tiền và hình về nhà.
Trong hình lúc nào cũng đeo nhiều đồ trang sức, mập mạp, đầy đặn, cười
thật nhiều nhưng đôi mắt lại buồn thiu thỉu, luôn luôn ngó thẳng về phía
trước mà ánh nhìn không có một chỗ vịn nào. Một người sống không quê
hương, sống đầy mặc cảm, dằn vặt, sống mà đau đáu hoài chuyện cũ thì
biết níu đâu bây giờ ?

Chiều nay ngồi trong nhà cậu Tư Nhớ, dì Út lại nhớ chị mình. Dì chợt
nghe lòng quang quẻ lạ lùng, sao mình không giúp cho anh chị ấy gặp lại
nhau một lần, bây giờ không làm, đợi tới chừng nào. Mình làm được mà,
thí dụ như mình giả đò chết. Chị Ba Thu Lê nhất định sẽ về, sẽ gặp lại anh
Tư Nhớ, dù bây giờ tóc xanh phai màu, gặp chơi vậy thôi chứ không thay
đổi được gì hết. Nhưng thương nhớ nhau thì hội ngộ lúc còn đang sống,
chứ đợi người âm kẻ dương làm chi… Đời vốn dĩ đâu có buồn dữ vậy.

Dì Sáu Thu Lý ngồi ở đó tới chạng vạng, không nói thêm gì nữa, chỉ
đau đáu ngắm cậu Tư, lòng tràn đầy thương yêu. Lúc về, dì mới lại gần,
dạn dĩ gở cây mác vót trong tay cậu ra, nắm ngay lấy bàn tay nóng rực ấy,
định cười, nhưng nhớ mấy cái răng cửa vừa nhổ nên thôi. Rồi dì bảo, ‘Mai
mốt chế Ba về, anh Tư à. Thiệt, mai mốt này...’

Khi qua cửa dì Út Thu Lý mới hay, con mắt rửa bằng khói đã nhoè
nước.

Rồi những cơn gió tháng bảy đưa tin vui đến từng mái nhà trong xóm
Rạch Chùa, người ta bần thần, vậy a ? xa xứ biết bao lâu rồi, trôi dạt tận
nước ngoài, cuối cùng, người con gái đó cũng về thăm lại xóm Rạch. Cậu
Tư cuống quýt hỏi thằng Lụm, có đúng cổ không, mậy ? Đúng hả, về rồi
hả, về một mình hả ? Vậy a ? Trời ơi! Gió thổi bời bời vào căn chòi của
cậu Tư Nhớ, thốc cuộn những tàn tro xát vào những vết cắt trong lòng .

Dì Thu Lý chỉ còn làm được một chút đó cho Tư Nhớ để trả cho cậu
món nợ nhà dì đã vay, để cậu gặp lại người xưa nhưng cậu đã phụ lòng, khi
dì Ba Thu Lê về, tận mặt nhau, cậu lắc đầu, cười, khẳng khái "Em Lê đâu
có già, đâu có mập ú ù u như vầy". Cả ba người quay lưng lại với nhau,
bưng mặt khóc, thương cho tuổi thanh xuân đã qua mất rồi.

Chợ nổi Cà Mau – chút tình sông nước

Không biết bây giờ bạn đang lang thang ở đâu, lên Sa Pa đi chợ tình
hay đã xuôi chợ Viềng Nam Định, không biết đang sì sụp ăn ốc nóng ở chợ
Âm Phủ – Đà Lạt hay về miền tây Nam Bộ xuôi thuyền thăm các chợ đồng
bằng. Được du khảo qua các chợ, đó là niềm đam mê không dễ gì dứt bỏ,
có lần bạn đã nói thế, phải không. Vậy thì sao bạn không về thăm chợ nổi
Cà Mau quê tôi ?

Nằm giữa lòng thành phố Cà Mau, quãng cuối sông Gành Hào, đứng
trên cầu nhìn về phía mặt trời mọc, người ta có thể nhìn thấy một dãy ghe
rập rờn xao động cả mặt sông, những cái chân vịt gác chỏng lên loang
loáng dưới mặt trời. Không biết chợ đã hình thành từ khi nào, phải chăng
từ những chiếc ghe thương hồ xuôi ngược một hôm neo đậu gần nhau để

mồi xin chút lửa, trao đổi cho nhau nắm gạo lứt, tấm vải bố tời, trái bầu,
trái bí… mà nên một xóm chợ trên sông đông đúc, sung túc nhất đồng
bằng như bây giờ ?

Sao bạn lại không thể cùng tôi dạo chợ trên sông, đi từ buổi sớm mai
trong lành để ngắm xóm chợ tươi tắn, nhiều màu sắc và lạ lùng trong con
mắt người xứ khác. Mà, sao lại là buổi mai ? Vì chợ lúc bình minh lên như
thời thơ ấu của một đời người, đạp đẽ, tinh khiết, trong ngần. Sương đọng
trên chiếc mùng giăng trên mui ghe của đám trẻ con ngủ vùi, ngủ nướng
rồi bảng lảng tan cho một ngày buôn bán bận rộn bắt đầu. Hàng trăm chiếc
ghe to, nhỏ khẳm lừ, đậu sát vào nhau thành một dãy dài, người bán, người
mua trùng trình trên sóng nước. Buổi sớm mai, đó là buổi của những chiếc
xuồng con với các chị, các dì bán hàng ăn sáng, mùi thơm của các loại
bánh lan tỏa xa hơn cả tiếng rao hàng, là buổi của những chiếc ghe hàng
bông đổ ra từ trăm ngàn con sông, rạch để bổ hàng rồi trở về theo trăm
ngàn lối sông rạch cho chuyến buôn xa. Buổi của những chủ ghe tất bật
bày biện sao cho mớ hàng hóa của mình mới mẻ, tươi tắn và tinh tươm
nhất.

Ngày trước, chợ trên sông Cà Mau cũng giống như nhiều chợ nổi đồng
bằng khác buôn bán rất nhiều mặt hàng từ nhu yếu phẩm đến thực phẩm,
nghe kể, chợ bán cả bàn ghế, giường ngủ, tủ thờ… Bây giờ, cách buôn bán
ấy chỉ còn ở những ghe hàng bông lưu động đến tận nhà người dân, riêng
chợ nổi Cà Mau chỉ tập trung bán sỉ hàng hóa nông sản tươi, những thứ
rau, trái miệt vườn. Với khách đường xa, đi chợ trên sông là để xem, để
khám phá cái nguyên khí một miền quê lạ. Bạn không cần ghé vào từng
ghe để xem hàng họ bán những gì, bạn chỉ cần biểu em gái chèo đò chèo
chậm thôi, thong thả thôi ngang qua chợ. Bạn cứ nhìn cái nhánh cây thon,
dài buộc ở đầu ghe kia, trên cây treo gì thì ghe bán thức ấy, lúc la lúc lỉu
trông lạ vậy, nhưng đó là tiếng chào mời không lời. Chẳng cần rao bán,
chèo kéo nhưng khách cầm lòng nào mà bỏ đi. Cầm lòng được sao với cái
màu đỏ thanh thao của trái đu đủ chín cây, đỏ au au của chùm chôm chôm,
vàng ươm của khóm, xoài, xanh riết của cóc, ổi, tím của cà… Giữa chợ nổi
Cà Mau, cảm giác như gặp được những khu vườn của miệt sông Tiền, sông
Hậu, như nhìn thấy những rẫy khóm, rẫy mía miên man dọc triền sông
Trẹm quê mình.

Mỗi chiếc ghe neo đậu ở đây là một ngôi nhà, ngang hai mét, dài năm
bảy mét. Nhỏ bé, chật hẹp là vậy, nhưng khách thương hồ lại có tâm hồn
hiếu khách, hào sãng, rộng rãi. Bạn đến, họ sẽ chẳng hẹp lòng gì mà không
mời bạn nếm thử miếng dưa gang thanh thao, cái thơm ngọt lạ lùng của
trái dừa nước, thử cái vị chua chua của trái dâu, trái khế quê nhà. Nếu bạn
lỡ phải lòng cô bán hàng duyên dáng nào đó thì xin hẹn ước mau mau, để
chần chừ về nhà rồi quay trở lại, sợ rằng sẽ đứng trên chiếc đò nhỏ chao
trên sóng ( hay lòng của ta chao) nhìn cây cọc buộc ghe vắng một sợi dây
quen, có buồn lắm thì cũng đành hát “người đã đi rồi khôn níu lại”. Biết
làm sao được, bản chất của xóm chợ này là vậy, hợp rồi tan như lục bình
trôi, như bèo dạt.

Tôi luôn nuôi một niềm hy vọng sẽ cùng bạn lênh đênh trên chợ nổi
quê mình. Khoe cái sầm uất, rộn ràng của chợ buổi sáng, buổi trưa, cho
bạn cảm nhận cái man mác buổi chiều. Cái man mác buồn đúng là của một
chiều phố núi nào đó, một xóm nhỏ heo hút nào đó nhưng ở trên sông này
vẫn có nét riêng. Những chiều tà, chợ nổi đìu hiu bập bềnh đậu hết một vạt
áo nắng vàng hoe hoe, đỏ hoe hoe. Những người đàn bà cúi đầu ngó chăm
chăm xới nồi cơm nghi ngút khói, những người đàn ông xếp bằng ngồi trên
mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà
nhả khói lên trời. Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá
chốt, cá mè. Những cô con gái sau một ngày bán hàng mệt mỏi tìm niềm
vui bằng việc nụm nịu chăm nom cho mấy bụi hẹ, chòm rau húng lủi, vài
cây ớt ốm nhom trong cái khạp bễ để trên mui ghe mà nghe phảng phất
niềm thương nhớ đất.

Bình dị vậy mà chợ nổi quê tôi đã đi vào nhạc, vào thơ, vào những bức
tranh, bức ảnh. Những văn nghệ sỹ đến, làm nên tác phẩm rồi đi mà vẫn
hẹn lòng quay lại bởi niềm hứng khởi trước những vẻ đẹp lạ lùng, đặc
trưng của miền sông nước mãi mãi không bao giờ cạn. Vậy sao bạn còn
chưa đến với đất quê tôi ?

Nước sông Gành Hào ngày ngày ra biển rồi lại quay về há không phải
vì không nỡ xa, không phải vì thương nhớ chợ nổi Cà Mau đó sao ? Sông
còn vậy, huống chi người ?

Cửa sau

Tạp bút

Ở quê mình nhà nào cũng có cửa sau. Mỗi khi đi xa, nhớ ba nhớ má,
nhớ nhà, nhớ luôn cái ngạch cửa trước, nhớ cái chái cửa sau. Rồi chợt hiểu
vì mắc mớ gì mà người con gái xưa thầm lén “chiều chiều ra đứng cửa
sau” để “trông về quê mẹ” để “ruột đau chín chiều”.

Ở nhà mình cũng có cái cửa sau. Cửa nhìn ra vườn cây xanh mịt, trắng
loáng loáng ngoài kia là chòm mả ông bà tổ tiên. Những chiều xa nhà, ngồi
dưới đò đi dọc theo các triền sông nhìn cửa sau của những ngôi nhà trầm
lắng trong nắng héo. Không hiểu sao mình cảm thấy tội nghiệp mình ghê
lắm. Người ta có nhà còn nghề nghiệp mình thì giang hồ mãi tận đâu đâu.
Mình nhớ cửa sau nhà mình. Không phải chỉ là nơi để đi ra đi vào, cửa trở
thành một khung tranh. Chị mình vẽ cảnh ngồi giặt áo trong cái nền sẫm
đỏ của hoàng hôn. Ba mình vẽ vào khung một thân mình chắc nịch, đỏ au
vì nắng gió trên đồng, những làn nước trong văng trong vắt từ cái lu nước
nhỏ bên cửa bắn tung tóe mỗi lần ba tắm. Bà nội mình ngồi trên cái đôn
cưa bằng gỗ mù u, vẽ vào cửa sau một cái nhìn khắc khoải, ngoài vườn
chiều kia, dưới trăng chiều kia có mộ ông, có mộ các chú nằm xuống khi
tuổi còn rất trẻ. Nên mắt bà đã mờ mà như ướt lem nhem ? Hay tại khói
cay bay cao bay sà từ chiếc lò cà ràng, ùng ục nồi cám heo sôi trên bếp ?
Trên khung tranh còn má mình chiều nào cũng ngồi dưới chái đâm từ cửa
sau, trước mặt má là thúng rau, sịa ngò đang lặt dỡ, bó dỡ… Tay má nhăn,
tái xanh vì ngâm nước lâu, trán má nhăn vì lo toan, vất vả, chỉ có cái cười
của má thì vui, vui lắm, vui không kể xiết. Nhất là khi má nhìn đứa cháu
nhỏ xíu, ngong ngỏng ở truồng nhảy lạch chạch trong cái thau nước đặt
trên sàn lãn (giống mình hồi nhỏ quá đi thôi). Cạnh đó, có phải mình
không vậy ta, có phải mình đang ngồi chồm hổm trước nồi cơm đầy lọ,
trong bức tranh chiều, dường như có tiếng cạo cơm cháy sồn sột và tiếng
trẻ nít cười rân.

Đêm đầy sao, mở cửa sau chợt hương bông cau, bông bưởi ùa vào đầy
ứ mũi. Muốn thở chỉ sợ hương tan. Nghe con chim heo kêu nghe sợ mơ hồ,
chạy cuống chạy cuồng qua cửa rồi mà hương vẫn còn theo.

Cửa sau, với mình, ít nhiều mang cảm giác thiêng liêng của sự đầm
ấm, sum vầy. Cho nên nhớ hoài, nhớ mãi, nhớ không thôi. Cái số mình,
thầy bói nói, là số giang hồ, giang hồ vặt.

Ra giữa đời, về phố chợ, đất chật, người đông, sau nhà không có cửa
nữa. Bởi phía sau không trăng, không hương, không người vẽ lên đó những
bức tranh đầm ấm. Mà, ở đây cửa sau mang ý nghĩa khác mất rồi.

Người ta đưa hai tiếng cửa sau vào ngoặc kép, “cửa sau” làm nhà nước
thất thoát hằng tỉ tỉ đồng, mồ hôi nhân dân đổ xuống nhiều hơn, nước mắt
vì nỗi nhọc nhằn cạn đi (còn đâu nữa mà rơi). “Cửa sau” làm người ta
không trọng nhau, không thương nhau, không tin nhau.

Cửa sau có muốn đâu, cửa muốn vẽ những bức tranh dung dị, bình
thường về những con người bình thường, những cảnh vật bình thường.

Nhưng bây giờ người ta hay vẽ, một đám người chen nhau đứng đằng
sau cánh cửa, quà trên tay chất vượt mặt, gõ cửa bằng chân. Cuộc sống có
thế người ta mới vẽ thế. Buồn thiệt ha ?

Không, cửa sau mình nhớ dứt khoát không phải vậy. Thiệt đó, tin mình
đi.

THÁNG CHẠP Ở RẠCH BỘ TỜI
Tạp văn

Tôi viết những dòng này tặng bà con ở xóm rạch Bộ Tời, cái tên nghe
thiệt lạ, phải hôn ? Chỗ này không phải là danh thắng, căn cứ cách mạng
cũng không, chưa được gọi "rạch văn hóa" nói gì tới ấp văn hóa. Đất nhỏ
nhoi, thân phận con người cũng nhỏ nhoi, thầm lặng, những cậu Tư, cậu
bảy, dì Ba, dì Sáu… Không có ai ra ngoài cổng Ủy ban tỉnh mà gào kêu
công lý, cũng chưa thấy vụ ẩu đả giành giật đất nào.

Có lần nghe cậu tôi trách, mầy đi ta bà ở đâu không hà, sao không viết
về rạch Bộ Tời, tôi đã hỏi:

- Ở đó có gì vui ?

Cậu tôi cười, có nhà. Xóm chừng mười nóc nhà, thêm mươi cái chòi lá
giữ vuông nằm rải hai bên rạch. Rạch thì nhỏ như con mương ranh từ sông
Rạch Rập chạy thẳng qua Lung Dừa. Ở đây, nhà nào cũng nghèo, nghèo
bằng chang nhau. Cho nên họ buồn bằng chang nhau khi gió chướng về.
Cái gió làm người ta ngậm ngùi, biết sắp hết năm, thêm một tuổi, tiếc
muốn chết.

Ở đó còn có người. Nhiều người. những con người có một trảng trời
mênh mông mà cả đời chẳng mấy khi thảnh thơi ngước mặt ngó trời.
Những con người có một mùa gió tơi bời nhưng không một lần thơ thới hít
lấy cái hương xuân của trời đất. Ai cũng có nhà nhưng quanh năm phải
dầm dãi ngoài đồng đất.

Bởi ở đó toàn là nông dân, tính luôn ba tôi. Sáu mươi tuổi không lúc
nào móng chân thôi đóng phèn, sáu mươi tuổi không lúc nào đôi tay thôi
cầm cày cuốc. Sáu mươi tuổi ba tôi về hưu, bỏ chuyện chức tước qua một
bên, bỏ chuyện làm thơ "lá rụng nhà anh, lá rụng nhà em" qua một bên, vác
lều vác chỏng vô rạch Bộ Tời làm vuông, nuôi tôm. Ba năm, chắc đất quê
vợ đã đủ thành đất nhớ, nên năm bảy bữa về thăm con cháu, chừng nửa
ngày đã nhấp nhổm muốn đi.

Ở đó, ba tôi có căn chòi không lúc nào ngớt khách. Cô Bảy Hạnh ở thư
viện tỉnh còn định mở "Thư viện văn hóa… xóm" ở đó. Chòi nhỏ, có tivi,
cassett, điện dẫn từ ngoài sông ra hai trăm hai còn chừng trăm rưỡi, bóng
đèn đỏ lòm. Bình thủy để ở vách chòi luôn chứa đầy nước nóng. Trà cũng
sẵn. Bánh ngọt để kề bên. Cũng ở chỗ này, một bữa sáng mấy ông bạn già
bạn trẻ của ba tôi tụm lại uống trà, tháng Chạp trên đường đi qua, ghé lại.
Một người kêu lên, giọng như thảng thốt, như giật mình, như hỏng dè :

- Trời, mới đây mà tháng Chạp rồi, lụi hụi là tới Tết.

Mau vậy. Mau quá ha. Rồi có người thở dài, "Vậy hết năm nay cũng
chưa trả nợ được".

Kìa, cậu, cần gì nói chuyện nợ, nội nghe hai tiếng tháng Chạp thôi là
bao nhiêu chuyện cần làm xồng xộc tới. Làm cỏ, tỉa kiểng sân trước, cọ
rửa, quét vôi mười mấy nấm mộ vườn sau, sửa sang nhà cửa, để xập xệ
vậy coi đâu có được… Rồi cũng phải đi sắm đồ mới cho tụi nhỏ, tính coi
ăn Tết sao đây. Bao nhiêu chuyện đó thôi lo cũng đã bứt gân, tóc tai tơi bời
rồi, nhắc làm chi chuyện nợ nần từ mùa chuyển dịch.

Nhưng phải nhắc, người Việt mình với Tết giống như con rắn tới kỳ lột
da, lột không được, ngắc ngứ hoài, rũ không hết lo phiền, khó chịu lắm.

Nợ đã ba năm, đã tới hạn rồi, nhà nước tử tế không phải như mấy
người vay nặng lãi kêu xã hội đen đi đòi, vì họ tử tế nên mình phải tử tế
với họ. Đây đã bắt đầu mùa tôm thứ ba, bà con ở đây vẫn chưa thấy khá.
Nghèo hoài. Ba tôi thắc mắc, sao không thấy cái câu "Chăm làm thì được
áo cơm cửa nhà" ứng vô đời nông dân ở rạch Bộ Tời ta. Ở đây, tuyệt không
thấy ai biếng nhác bê tha chơi bời nhậu nhẹt, vậy mà nghèo mới tức. Đêm
canh con nước khiêng máy tát ra tát vô, tờ mờ sáng ra đi đổ lú, rồi suốt
ngày lụi hụi vớt rong, múc sình cải tạo ao đầm, trồng lúa, lúa chết thì trồng
năn cho có cái tôm ăn. Quần quật tới đỏ đèn đôi chân mới ráo nước, ngồi
đón coi mấy ông khuyến ngư phổ biến kỷ thuật nuôi tôm trên ti vi, đặng
học hỏi. Nhưng dụng kỷ thuật nào vô cái đất nầy cũng trớt quớt, tôm cũng
chết thẳng cẳng. Hết cách rồi. Đất phèn mặn, kinh lại cạn, lấy nước ngọn
của sông Gành Hào chảy qua chợ Cà Mau, vô trong nầy đã đầy rác, con
người nhìn còn muốn bịnh nói chi tôm vốn đã ốm yếu, bịnh hoạn sẵn từ
hồi bằng cây kim may tay.

Nên năm đầu chuyển dịch, người xóm mình hỏi nhau tôm bên đó có
chết không, bộ tụi nó chết nữa hả. Năm nay hỏi khác, hết chết chưa.

Cảm giác cũng chai đi, hồi đó tôm chết còn bàng hoàng, nôn ruột như
con trai út của mình bệnh ngặt, bây giờ thì coi như không rồi. Vậy mới
sống được. Cũng như ngày xưa, lúc còn làm ruộng, nghe giá lúa lên xuống
thất thường riết cũng quen.

Ba tôi đọc báo cho mấy ông bạn chòi nghe, nhà nước thừa nhận,
chuyển dịch cơ cấu từ trồng lúa sang nuôi tôm, cho đến nay thống kê chỉ
30% có lãi còn lại là hòa và lỗ, ai cũng vỗ đùi khen, sao mấy ổng chịu thiệt

vậy không biết, chớ mấy chuyện thất bại rồi, nghe im re, như cảng cá nè,
nhà máy đường nè… Rồi ai nấy rờ rờ cái cằm, ngậm ngùi, vậy là bà con
thất đều chớ đâu riêng gì rạch Bộ Tời mình.

Ở đây có nhà dì Ba từ Tết rồi tính lại mới bán tôm được bốn năm trăm
ngàn, mấy mùa trước còn giăng lưới cá phi bán cóc ken, mùa này không có
cá mà kho quẹt. Cả nhà sống được nhờ nghề hạ bạc, chài lưới dưới rạch,
con gái dì đi làm mướn dài dài xóm.

Nhà nào cũng xoay qua làm việc khác để mua gạo, củi, mắm, muối...
Ba tôi cuốc đất, trồng cà, ớt, trồng cải bẹ xanh trên bờ vuông. Ngày tưới
hai buổi, hai buổi na cái thùng đi xiêu xiêu trên cánh đồng chang chang
nắng gió. Ba nói, " Cực một chút vậy mà có tiền mua trà bánh". Chị em tôi
biểu ba sống khổ quá, bỏ vuông đi, ông lắc đầu, bỏ là bỏ từ mấy năm
trước, sống ở trỏng, quen rồi. Tao mà khổ gì, nhiều người còn khổ hơn".

Cậu Tư "Biết Tuốt" ở đầu xóm kết luận, "Xóm mình nghèo hoài là tại
tội đếm" Mọi người cười cậu "xàm xí" (chú thích : từ mới, chưa có trong
từ điển tiếng Việt), hỏi đếm gì mà có tội, cậu nói đếm tôm. Ở đâu người ta
trút lú tôm đổ cái xào vô cần xé, nhảy xoi xói chớ ở đây tụi mình đếm mót
từng con. Vô con nước, sáng ra nghe nhà nầy hỏi nhà kia hồi hôm này
được mấy con là rầu, là biết còn nghèo hoài đây.

Ba tôi làm thơ lại, máu thơ cũng bị nhiễm mặn, ông viết cái gì "Tháng
ba. Con tôm co rúm dưới bùn" rồi cái gì "cả một đời lặn ngụp nông sâu".
Tôi nhớ đại khái vậy, tôi khen "thơ ba hay, thiệt là mang nỗi buồn lớn lao
của người nông dân". Ba tôi cười, hay gì, mấy ông trong Bộ Tời chê đọc
nghe mùi nhưng khó hiểu quá. Cậu Tư "Biết tuốt" còn biểu sao không làm
thơ như vầy, "Bữa nay tôm chết thấy buồn. Ngày mai tôm chết lòng còn
buồn hơn", coi giản dị không ?

Giản dị, mà buồn. Trong những câu chuyện về cái chòi"văn hóa" của ba
tôi, cậu Tư nổi lên như nhân vật chính. Cậu hơi lùn, dáng đi túc tắc, tóc
xoăn, hàng ria mép cục cựa mỗi khi cậu cười hì hịc. Cậu nghèo nhưng lúc
nào cũng lạc quan tếu, lúc nào cũng nói hơi quá lên, cậu cười nói, "năm
nay chịu khó ăn tết bèo vậy nhưng năm tới khác à nghen. Tôi vừa thả hai
chục ngàn con tôm giống, giờ chắc còn cỡ mười ngàn, chừng tháng ba

tháng tư tôm trúng bể tay. Tôi đãi mấy ông uống bia mệt nghỉ". Trời đất,
tôm lội ngoài đầm mà cậu còn biết còn bao nhiêu hao hớt bao nhiêu, làm
như "ở dưới" lên vậy, đúng là "tài như Sinbad" Ba tôi hơi khó tánh, đôi khi
cũng muốn chỏi chơi nhưng nghĩ, cậu là nông dân, nông dân là vậy, khổ
như cô Lựu mà không thôi hy vọng. Con người mà tắt hy vọng thì chết còn
sướng hơn.

Nên mới vừa ngồi uống trà than thở chuyện nợ nần đây mấy cậu đã bảo
nhau, thôi đừng buồn, cũng sống được hà. Tết tới thì ăn Tết. Bộ hồi nào
giờ hỏng biết nghèo là gì sao (nông dân mà không biết nghèo, hỏi ngộ ?).
Thấy vậy chớ không có sao hết, mót mấy trái dừa ốm nhom dài nhằng vì
nước mặn xuống, lạng ra bỏ đường vô xào qua xào lại là có món mứt dừa
rồi. Nhà tui còn bịt gừng đém lá kìa, mấy ông biểu vợ lại, tui cho. Lựa củ
bự làm mứt gừng, còn lại mấy củ còi, vụn, mua thêm trái khóm vắt lấy
nước ra ngào là thêm được món mứt dẻo. Ráng tới con nước rằm làm gì
không được mấy trăm ngàn để mua trứng, bột nướng mấy ký bánh bông
lan, quan trọng là tụi nhỏ có cái để ăn. con nít mà, có ăn mới vui. Còn tụi
mình ba ngày Tết có đi đâu xa đâu, lòng vòng lại nhà nầy chòi kia, nhậu
với cá phi xẻ khô, xỉn nằm ngủ, gió trời còn ngon hơn máy lạnh, sướng
như tiên.

Tỉnh dậy đã là năm mới. Thấy mình tươi mới, thấy bao nhiêu khó khăn
trôi qua hết, thấy mình còn ngon lành, còn sức để đi tiếp cái đời nông dân
khổ nhọc. Hy vọng con nước tới, lứa tôm tới, mùa tôm tới lại bắt đầu. Cổ
tích ngày xưa thể nào cũng có thật. Những con người lam lũ cả đời xứng
đáng được trả công.

Ăn Tết như vầy, coi có phải thanh thản hơn người thành phố không.
Tháng Chạp ngoài đó người ta cũng chạy tơi bời. Thấy cái gì cũng muốn
mua, cái gì cũng muốn có, vật chất thiệt là cám dỗ, làm cho người ta khổ
sở không ít. Cũng là dịp người ta buôn bán mà. Nội chuyện quà biếu cho
sếp thôi lo cũng ốm. Mua lạp xưởng cá khô thì sợ người ta cười cho toàn
đồ bỏ. Mua rượu Tây thì chai coi không được, phải đủ cặp, mà một cặp thì
hết lương rồi còn gì. Chưa hết, chuẩn bị quà xong lại mất mấy ngày để
chuẩn bị đem đi. Làm sao cái mặt dày dạn cỡ ôbi bắn không lủng. Hờ vậy,
có khi người ta ngó tay mình chớ có để ý mặt đâu.

Nên thí dụ có ai rủ đổi, người Bộ Tời dễ gì chịu.

Dòng nhớ

Sáng nay, má tôi lại ra đứng tần ngần ở chợ Ba Bảy Chín, ngiêng
ngiêng ngó ngó một hồi, biểu con nhỏ chèo đò chèo dài dài chợ nổi. Chợ
rao bán rau trái dậy động cả một khúc sông, má tôi thấy ghe nào cũng lần
xuồng lại, dòm mặt chủ rồi đi. Con nhỏ chèo đò chắc là chèo mối, nó biết
bà già định đi đâu, định làm cái gì nên nó biểu :

- Hỏng hỏi thăm thì vô phương kiếm ra, ngoại ơi.

Má tôi ngẩn ngơ. Hỏi chớ, chú ơi, thím ơi, tôi muốn hỏi thăm một
người quen. Tên gì? Ghe bán gì? Hai Giang. Ghe bán hàng bông. Trời đất,
ở xứ này có tỉ tỉ ghe bán bán hàng bông, cũng có biết bao nhiêu người tên
Giang, vậy tướng tá người đó ra làm sao? Bây giờ đâu có biết ra làm sao,
gặp được một lần mười sáu năm trước, nhớ sao tả vậy nghen. Đàn bà,
chừng sáu mươi, trạc tuổi tôi, tóc dài, da ngăm ngăm, không đẹp không
xấu. Mới đầu đi với chồng, sau chồng bỏ lên bờ vì cơ cực quá trời, hồi trẻ
có đứa con gái đầu lòng chừng bảy tháng tuổi thì rớt xuống sông chết.

Vậy thì đông lắm, người sống trên chợ này hể mười thì có năm người y
chang hoàn cảnh vậy, dân Ba Bảy Chín mà, “ba chìm, bảy nổi, chín lênh
đênh”, chị hỏng nghe sao ?

Má tôi chẩng hẩng :

- Vậy ?

- Ừ, người đó quen sao mà tìm coi bộ cực dữ ?

- Quen. Chà, hỏng biết nói sao bây giờ, dài dòng lắm, vợ của chồng tôi.

Nếu vậy thì dài dòng thiệt, chuyện tình tay ba mà phim dính vô chuyện
nầy cũng năm bảy tập trở lên, còn cải lương lâm ly không biết bao nhiêu là
nước mắt.

Má tôi cũng khóc nhiều rồi.

Má tôi nói hoài, ba mươi tám năm bà về làm dâu nhà chồng, cực có,
sướng có, chưa bao giờ nội tôi khắt khe, nhỏ nhặt, khó chịu với dâu, nhưng
má tôi vẫn hận nội tới chết mới thôi. Hỏi sao kỳ vậy, má tôi kéo chéo khăn
lên chậm chậm vô đôi mắt, “Bộ hết người rồi sao mà nội bây cưới tao cho
ổng, đó, bà chỉ tay ra bến, gần hết đời rồi tao có được vui đâu”.

Đó là lúc “ổng”, tức ba tôi chống cây gậy khật khừng lang thang xuống
bến. Ông dừng lại chỗ mấy cây tra, lấy tay rờ rẩm, săm soi từng cái lá, cái
bông như tay bắt mặt mừng thằng bạn lâu năm mới gặp. Rồi ông lần ra tới
đầu bến, đứng dưới hàng mấm già ngày xưa ông trồng để giữ đất cho khỏi
lỡ, để mặc cho mấy cái hoa nắng vàng xơ rơ đậu xuống cái đầu húi cua,
bạc trắng của mình, ông già thao thiết nhìn ra sông. Chỉ vậy thôi rồi khật
khừng quay lên, cái chân trái yếu ớt như tựa hẳn vô cây gậy, cứ mỗi lần
chân bước, đầu gậy lại xoáy sâu vô đất một lổ tròn tròn.

Cảnh thì quen lắm, thì ngày nào, buổi nào ba tôi chẳng làm vậy nhưng
cứ tụm cả nhà lại, rồi ngồi lặng lẽ dòm, ai cũng nghe đau đau xót xót như
ai lấy cật tre cứa tới cứa lui trong lòng. Bởi cái lúc này là lúc sum họp đây,
vậy mà sao vẫn thấy thiếu một người, mà thiếu đúng cái người đang lững
thững đi dưới nắng kia mới chết.

Sau đợt tai biến mạch máu não lần thứ nhất, nửa người bên trái ba tôi
yếu hẳn đi, tưởng chỉ vậy thôi, đến lần thứ hai bỗng dưng tâm trí ông già
nhớ quên, ít nói, lẩn tha lẩn thẩn. Nhưng còn sống, còn tự mình đi đứng
được là may lắm rồi, ai cũng nói vậy. Lúc đó cả nhà đang ở chợ, ba tôi
càng lúc càng buồn, hay chống gậy đi, mấy lần cả nhà bỏ tiệm may đi kiếm
ông tở phở. Sau này chỉ cần một mình tôi, vắng ông, tôi chạy xe dọc theo
con đường về vườn cũ là gặp. Thấy tôi, ông già khựng lại, không nói gì,
nhưng cặp mắt khẩn cầu, da diết, tôi làm như không biết, cầm gậy, đỡ ông
lên xe chở về, có lần, ba tôi khóc, ông khóc rưng rức, nước mắt nước mũi
nhểu nhão, lòng thòng.

Sau lần ấy, cả nhà quyết định đưa ông về sống trong vườn nhà nội.
Vườn bỏ lâu nay, nhưng nhờ cô dượng Ba ở kế bên nhà trồng trọt, trông
coi nên chỉ cần dựng căn nhà lên là ở được. Chuyện cắt cử người ở lại với
ba tôi thì khỏi phải bàn bởi chừng nào mà má tôi bỏ ông được, “làm gì làm
má cũng phải giữ ba”, tôi đùa. Má tôi xua tay :

- Ổng còn nguyên đó chớ có đi đâu, trước không mất giờ còn sợ mất
mát gì nữa, mà, giọng má chợt cay đắng, hồi đó giờ ổng có phải của tao
đâu mà giữ.

Ba tôi là người của sông. Không phải ông nhớ vườn xưa mà chống gậy
về, ông nhớ sông, một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, đôi mắt
như đang nhìn da diết, mà không biết nhìn ai, chỉ thấy mông mênh vậy
thôi. Chơ vơ, cô độc. Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, trái tim
ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi.

Và cũng y như má tôi, ba cũng không sống được mấy ngày vui, vui
thật, vui đúng nghĩa. Hồi tôi còn nhỏ, còn sống chung với bà nội, đêm đêm
cả nhà đi ngủ, ba tôi ngồi hút thuốc trên bộ vạc kê trước nhà, chống rèm
lên, ngó ra sông. Kiểu ngồi một chân xếp bằng, chân kia dựng lên, rồi tì cái
tay cầm điếu thuốc lên cái đầu gối, đêm này qua đêm khác, kiểu ngồi
không đổi. Nửa đêm, má tôi đi ém mùng lại, tôi thức giấc, ngó ra chỉ thấy
đốm lửa lập lòe, lúc đỏ rực, lúc lại tắt thiu thiu. Má tôi ngồi trong mùng
lặng lẽ nhìn ba, còn ba thì nhìn ra sông. Sông cách nhà một cái bến dài chẻ
ngang đám dừa nước. Nếu không vướng tầm mắt vào đám ô rô mọc lởm
chởm chồm từ mé lá lên, không vướng mấy bụi ráng, bụi lức dại có thể
thấy lồng lộng một khúc sông. Đêm sáng trăng, ngồi trên nhà có thể thấy
một dòng chảy líu ríu, sáng loáng. Ban đêm, con sông trước nhà tôi không
ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì trảy qua, theo tiếng mái chèo
quẩy chách bụp rất đều. Dài từ ngã ba Vàm đến đây, nước chảy êm, khuất
gió, những chiếc ghe đi đêm hay đậu lại, nghỉ ngơi. Lâu lâu, có chiếc ghe
hàng bông lặng lẽ neo lại ngoài bến nhà tôi, treo ngọn đèn chong lên cây
đước chơm chởm những cái nhánh con, mỗi nhánh lủng lẳng trái khóm,
trái bầu dầm nắng mưa đã teo héo. Không thấy bóng người, chỉ nghe tiếng
gàu tát nước cọ vô xuồng xao xác. Hừng đông chạy xuống bến thì ghe đã đi
rồi. Những đêm đó, ba tôi hút thuốc dữ, cứ nhìn chong chong ra ngọn đèn

đỏ ối, nhỏ nhoi, buồn hiu ngoài kia. Ba tôi thở dài. Má tôi thở dài, chạy
qua buồng bên khóc với bà nội tôi, không biết nói cái gì, chỉ nghe lỏm
bỏm, tiếng nội làu bàu, “vậy ra má đã làm sai cái gì ?” và má tôi tuyệt
vọng “Kiểu này biết chừng nào ảnh mới quên chuyện xưa hả má ?”.

Ngày xưa ba tôi cũng yêu thương một người. Tự ba tôi chọn. Nội tôi
dứt khoát không chịu (nội có tỉ tỉ lý do, nhưng cái lý do lớn nhất là người
phụ nữ đó đã có một đời chồng), ba tôi mới dắt díu người ta bỏ nhà đi,
sống kiếp thương hồ. Hai người trãi qua biết bao nhiêu cơ cực, nào là gặt
mướn, làm cỏ lúa, đắp bờ … mới có được một ít vốn, ba tôi sắm cái máy
Koler xuống rẫy bán hàng bông. Họ sống nghèo lắm. Mỗi lần đi ghe đi
ngang qua nhà, ba tôi khắc khoải ngó lên, vừa nhớ, vừa đau vì cãi nội. Rồi
hai người có với nhau đứa con, nhưng chị bạc mệnh chết đuối, tận cùng
đau khổ, ba tôi bỏ về nhà, được về, ba tôi cũng phải đáp ứng vài điều kiện
của nội, vậy là ba tôi bỏ người ta giữa dòng bơ vơ. Tôi biết được có bao
nhiêu đó thôi, kể ra cũng mấy dòng vậy thôi. Mà, cũng phải đợi tới năm
mười lăm tuổi, cả nhà mới cho tôi biết. Tôi bật ngửa, chuyện xảy ra lâu
rồi, nhưng người ta vẫn còn nhớ, vẫn còn cắm sào trước bến nhớ ba tôi,
vậy mà biểu ba tôi quên cái rụp thì làm sao quên được.

Mà, cũng vì ba tôi quên không được má tôi mới thương ông nhiều, sau
nầy, lớn lên, biết yêu thương rồi, tôi mới ngộ ra. Con người ta, nhất là đàn
ông thương ai mà vì nỗi gì đó quay lưng lại quên mất tiêu thì đúng là
không tử tế, không đáng tin chút nào. Với tôi, ba tôi thì quên hay không
cũng được, ba đã sống tốt với cả nhà tôi lắm rồi. Ông sống tử tế đến vô
cùng, đến thừa, dường như ông gởi gắm tình thương yêu đến cả những
người vắng mặt. Ông ít nói, hiền lành, từ tốn với má tôi, những lần má tôi
bệnh, ba chèo một hơi mười mấy cây số vừa đi vừa về đưa má tôi ra trạm
xá, không than mệt, không thở ra, tận tụy. Lúc nào cũng mình mình tôi tôi,
mấy bà hàng xóm nghe tủi cho mình mà khóc, má tôi cũng òa khóc theo,
cảnh mỗi người tự người đó biết, người ta hay đứng núi này trông núi nọ
vậy mà.

Mơ hồ dường như mình mắc nợ ai đó, cả nhà tôi lúc nào cũng cảm thấy
không vui, dù hạnh phúc (hai thứ nầy sao lại không thể đi chung). Không
thấy ai đòi nhưng nợ vẫn cứ là nợ, nó rờn rờn quanh quất trong chái bếp
ngày ngày khói tỏa, trong mấy chiếc giường ngủ con con, trong hai bữa ăn

mỗi ngày. Ngồi quây quần như vầy trong bụng cứ nghĩ, có một người nào
đó cô độc, bơ vơ. Mà tội nhất là nội tôi, vốn mê cải lương, nhưng bữa nào
ti vi chiếu mấy tuồng có bà mẹ chồng ác nghiệt chia rẽ duyên của con, dâu
là thấy nội tôi rầu. Cho tới lúc cuối đời, chắc nội tôi vẫn băn khoăn trong
lòng câu hỏi : “ Vậy ra, mình giống mấy bà già trong đó thiệt sao ?”

Má tôi thấy nội bứt rứt cũng không tỏ ra phiền muộn nữa, cốt để an ủi
nội tôi lúc cuối đời. Khi nội tôi vừa khuất, má quyết định gặp đối thủ một
lần, chỉ định nhìn vậy thôi, chưa biết làm gì mà cũng không biết làm gì
người ta, nhưng chắc chắn phải biểu người ta buông tha ba tôi ra, còn gì
nữa đâu mà neo ghe trước nhà ngó mong hoài.

Chờ đợi, rình rập hụp hửi mấy lần, chiếc ghe nhỏ với ngọn đèn đo đỏ
lại về đậu trước bến nhà tôi, như mong đợi của má. Bữa đó, má nói với ba
tôi chèo xuồng về chơi bên ngoại một đêm. Gà gáy chập đầu, bà trở lại,
trên xuồng chất đầy mấy thứ rau đồng, bà giả đò làm người đi chợ sớm.

Ngang qua, má tôi tấp xuồng lại kế bên chiếc ghe, than :

- Tính đi chợ cho sớm mà gió quá, chèo không lên, bậy thiệt.

Má tôi tin rằng, người đàn bà kia, cũng như ba tôi, những đêm như vầy
không bao giờ ngủ. Mà thật, dì đang chong đèn ngồi thêu áo gối, nghe
tiếng má tôi, dì quay lại, dường như sững sờ, bất ngờ một chút, dì cười :

- Dà, đêm nay nhiều gió thiệt – Dì vẹt mớ quần áo ngổn ngang trên cái
sạp tre – Chị vô mui ngồi cho ấm, chờ bớt gió rồi đi, ngồi ngoài đó cảm
sương chết.

Má tôi không từ chối, bà buộc dây xuồng lại, bước qua ghe. Bà cao
người nên ngồi trong cái mui lợp bằng lá chầm đóp phải khom một chút.
Họ ngồi đâu mặt với nhau. Má tôi thấy lòng mình bình lặng lạ lùng, hồi
ngồi dựng cái cảnh gặp mặt nầy, cứ tưởng là phải làm một cái gì ghê gớm
lắm.Có thể vì người đàn bà của ba tôi hiện lên rất hiền, dì mặc chiếc áo
cộc tay màu cau khô ở trong, khoác thêm chiếc áo bà ba ở ngoài, mỏng te,
nhiều mụn vá. Tóc đã bạc nhiều, lơ thơ vài cọng rủ xuống mặt. Sương gió
đã làm cho khuôn mặt dì đen sạm, nhăn nheo. Má tôi nghĩ thầm trong

bụng, “xấu hơn mình nhiều”. Má tôi sợ cứ nhìn chằm chằm người ta hoài
cũng không phải nên má ngó lơ chỗ khác. Đồ vật trên ghe món nào cũng
nhỏ nhắn, tuềnh toàng. Ngay sau lưng chỗ má tôi ngồi, bỏ khoang tát nước
có một cây ớt hiểm, một cây sống đời đang trổ bông trồng chung trên
miệng cái khạp bể. Dì lúi húi dẹp miếng vải đang thêu dỡ, vói lấy bình
thủy, châm nước vô cái bình trà sứt vòi, ho khúc khắc. Má tôi chép miệng,
“Cha, có trà uống thì còn gì bằng, mà, chị bịnh hả, mấy lá sống đời nầy
ngậm với muối cũng đỡ ho lắm”. Dì ngước lên cười, “Dà, lúc nầy trở gió,
cũng nhờ nó…”. Má tôi hỏi :

- Chị đi ghe một mình à, một mình cũng được sao ?

- Dà, cũng được, chị.

- Ủa, chồng chị đâu ?

- Dà, dì bối rối, ảnh… đi xa lắm.

- Còn chồng tôi thì theo vợ bé mất rồi, má tôi nói luôn.

Dì nhìn sững má, dường như để xem xem nỗi đau mất chồng của má
với dì có giống nhau. Hồi lâu, dì chợt cúi mặt :

- Uống trà, chị, hoàn cảnh của chị cũng buồn thiệt. Nhưng thể nào rồi
ảnh cũng quay về. Thiệt đó, chị, đa số đàn ông đều tốt.

Tốt sao ? Người ta bỏ cô để cưới tôi mà là tốt à, má tôi ngồi lặng, tự
hỏi, mà không biết nói gì nữa, cái câu quan trọng nhất chắc không phải nói
lúc nầy. Má tôi ngồi ngó quanh, một ánh đèn nhỏ nhoi thôi cũng đủ hắt
sáng vài xâu cốm gạo treo trên vách, mấy hủ kẹo, bánh ngọt, tiêu tỏi để
bên này, trái cây như khóm, bí rợ, khoai lang thì chất thành hàng bên kia.
Sát bên hông dì, dưới tấm vải trắng thêu dỡ là hai xấp quần áo cũ, người
lớn có, trẻ con có được xếp ngay ngắn, nhưng hết thảy đều củ kỷ, bạc màu.
Má tôi vọt miệng :

- Ủa, chị có cháu nhỏ à ?

Sau nầy, má tôi nói, đó là cái câu tàn độc nhất mà má lỡ miệng đánh
ngay vào nỗi đau của dì. Dì nhìn trân trân vào ngọn đèn, cái nhìn đau lặng.
“Con bé Phước nhà tôi vô phước lắm chị à, tại tôi không cẩn thận nên cháu
vừa mới biết bò đã té sông, trôi mất. Cũng mười mấy năm rồi, bây giờ, nó
còn sống, chắc tôi thêu gối cưới cho nó cũng vừa. Tôi… tôi chiêm bao
thấy cháu nó hoài, chiêm bao lãng nhách hà, tự nhiên tôi thấy con tôi biết
nói, nó biểu má đừng bỏ con, trời ơi, tiếng nó thấy cưng lắm kìa, vía tôi trả
lời, mẹ sẽ sống trên sông hoài, hoài hoài với con, vía tôi thấy nó cười…”
Dì nói một hơi dài, giọng dì hơi nghẹn lại, “trời ơi, chị có chuyện buồn
lòng mà tôi lại kể chuyện buồn lòng nữa, chắc chị phiền tôi lắm. Mớ đồ
nầy tôi cất lâu rồi, sợ mốc, cứ mấy tháng là tôi đem ra giặt lại, của con bé
con tôi có, của chồng tôi có. Chồng tôi… tôi chỉ còn giữ lại bao nhiêu đây
thôi. Chị coi, tôi khùng hôn, không giặt thì không được mà giặt hoài, tới
hơi chồng cũng bay, tôi cũng quên mất rồi…”

Dì cười quay quắt. Má tôi chút nữa đã bật khóc, bà cố nén nghẹn ngào :

- Đàn bà mình sao khổ vậy ?

Tiếng gà gáy xa xa, con nước đêm nay mau lớn quá, mới đây thôi đã
ngập nửa cây sào neo ghe rồi. Lúc nầy, nước lớn không nghe bìm bịp kêu,
mà, nhờ không có, chứ nghe bìm bịp kêu càng buồn nữa. Má tôi ngồi bình
tâm lại, vậy thì mình nhỏ nhen gì mà dành với người ta chút nầy nữa. Năm
nầy qua năm khác mình được sống chung với ảnh, ban ngày ngoài ruộng,
ban đêm chung giường. Ngó mặt nhau ăn cơm, ngủ cũng đâu mặt lại ngủ…
Còn người ta, nhớ thương đứt ruột cũng đành ngồi đây ngó lên, giữa
đường gặp nhau chỉ nhìn vậy thôi mà không chào hỏi tiếng nào. Đau lắm
chớ. Má tôi nhìn ra ngoài trời, vẫn còn khuya lắm, nhưng đã thấy mấy
chiếc xuồng đi chợ sớm lướt qua, tiếng mái chèo quẫy chủm trên mặt sông
ngọt, nhẹ, cứ tưởng từng lát nước xếp lên nhau như những lát đất cày.
Dường như trời bớt gió nhiều rồi. Dì nghiêng đầu ra ngó trời, chừng như
nuối tiếc, thảng thốt :

- Trời đất, đêm qua lẹ thiệt. Chắc tôi phải đi bây giờ.

- Sớm vậy sao ?

- Dạ, tôi thường đi… trước lúc người ta thức…

- Tại tôi nhiều chuyện làm chị thêu không xong…

- Không, người đàn bà cười, nét mặt thốt nhiên buồn bã, tôi thêu cho
hết đêm, xong rồi lại tháo chỉ ra, tôi sợ, nếu không làm gì, tôi… tôi sẽ nhớ
chồng con tôi rồi mắc … khóc, cầm lòng không được. Mà, đàn ông chịu
cực khổ nhiều lắm rồi, lấy nước mắt trói buộc họ nữa, tội họ lắm, chị à.

Vậy rồi hai người chia nhau đi. Ghe nổ máy rồi, khói xịt tơi bời, dì còn
dặn lại : “Nếu ảnh có quay về, chị đừng giận ảnh nghen. Người ta có đi đâu
làm gì thì cũng thương mình chị thôi”. Má tôi không nói, quay đi và khóc.

Tháng sau, má tôi quyết định gom mớ của cải cả nhà có được ra chợ,
mua cái nhà. Ba tôi ít chút ít nghề mộc nên nhận đóng tủ, bàn ghế ở nhà,
má tôi chiên đậu hủ bỏ mối, chị tôi mở tiệm may, tôi vào Đại học. Mọi thứ
được sắp đặt lại, mới mẻ, gọn gẽ. Má tôi bứt ba phải xa sông, nhưng chính
bà cũng biết, những dòng nhớ vẫn tiếp tục chảy mãi trong hồn ông. Mà,
chính má tôi cũng không quên cái hình ảnh cái rổ úp chén đan bằng nan tre
đã xỉn màu, trên đó có cái dĩa, cái tô và ba cái chén, ba đôi đũa như thuở
người đàn bà trên ghe còn nguyên một gia đình.

… Tới bây giờ má tôi vẫn chưa tìm được dì. Tôi hỏi má tìm làm gì, má
tôi nói để cho hai người gặp lại, coi thần trí ba mầy có đỡ hơn không. Bây
giờ thì ba tôi cũng nằm xuống, ông nằm ở lớp mả thứ ba trên cái liếp chôn
cất ông bà. Má tôi vẫn không ngừng tìm kiếm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói
để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không gần được, chừng nào chết,
mời dì lên nằm trên đất vườn tôi.

Đó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên
má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy.

Một mái nhà
Tạp văn

Một bữa trên đường gánh trái cây đi bán dạo, con Bèo gặp tôi, mừng
quá, lâu lắc quá chừng rồi, Bèo rối rít mời tới nhà chơi, mà, cái giọng của
con bạn, trời ơi, nó tươi rói, giòn tan, sung sướng, tự hào. Bèo dặn vói theo
cho tới khuất người khuất bóng mới thôi, "Nhớ nghen, Tư, rảnh vô nhà tao
quậy cho đã một bữa, muốn chiên bánh xèo cũng được, không thì tụi mình
nấu chè khoai môn ăn". Rồi nó cười hực hở, rạng rỡ, như thể nhà nó là một
thiên đường.

Ai mà dè nhà nó nằm tuốt trong con hẻm Cỏ sau lưng siêu thị. Đó là
một con hẻm dài, hẹp te, tối tăm, sình bùn ọp ẹp, ngoa ngoắt ngoặt trái
ngoặt phải, mỗi lần ngoặt thì nhà cửa hai bên lại nhỏ đi một chút, làm
người ta tuyệt vọng đi một chút, điệu này, tới cuối hẻm, chắc nhà chỉ còn
bằng cái miễu ông Tà. May, nhà của con Bèo cũng không tệ đến mức vậy.

Tổ ấm đó đủ để một bàn thờ kê trước chiếc giường đôi, còn thừa một
chỗ trống để giăng chiếc võng sát góc nhà. Phía sau có kê tấm dal làm bếp,
gần đó đặt cái bàn ăn cơm nhỏ xíu với hai chiếc ghế ba chân để đâu cũng
lún vì nền đất ướt chèm nhẹp. Vách nhà được dừng bằng những tấm kẻm
đã phơi bản ở nhà in (chồng nó làm việc ở đó), chi chít thơ. Hỏi con Bèo
thơ viết gì, nó cười, "Mầy biết mà, tao học tới lớp sáu là nghỉ ngang, chữ
xuôi đọc còn trậm trầy trậm trật nói chi để chữ ngược ngạo vầy…"(tội
nghiệp, sống giữa thế giới thơ mà không tận hưởng được). Mái lợp bằng lá
cũ mèm, ngửa cổ đã thấy lấp lánh trời sao. Nước bưng ra để cái cộp, khách
chưa kịp uống lá mục đã rớt vào, nên nước nghe thơm mùi lá lắm. Con
Bèo cười, "Chồng tao ảnh nói để lãnh lương tháng nầy mua lá lợp lại, chớ
đâu có để vầy hoài".

Tôi tới chơi một lần, tự dưng nghe buồn, nghe thất vọng quá trời đất,
nghe trong lòng có một chút ghen hờn. Con Bèo học hành lỡ dỡ, nghề
nghiệp cũng chẳng cao sang, sao nó lại ngộ chữ "tri túc", còn mình thì
không ?

Tôi cũng có nhà, lớn hơn một chút, đầy đủ tiện nghi hơn nhưng chẳng
bao giờ tôi biết hãnh diện về nó. Nhiều lúc bạn bè nói dèm, bảo để tới nhà
nhỏ Tư chơi, tôi bàn ra, “Nhà em khó kiếm dữ lắm mấy anh ơi”. Bạn gạt
phăng đi (vì thương tôi quá mà), “không sao, khó mấy có lòng cũng tìm

ra”, tôi rối beng trong bụng, giả đò nín thinh như người điếc, nghĩ thầm,
nhà mình thấy ghê...

Nhà tôi nằm ngang chợ phường, quay lưng với sông, ngửa mặt đón bụi
đường, trong nhà không lúc nào ngớt tiếng xe, tàu chạy (tôi ngồi viết văn ở
đó, giữa tiếng động chói gắt khủng khiếp của tàu xe, tiếng nhạc nhùng
nhằng từ xe kẹo kéo, tiếng những người đàn bà bên chợ cá cự cãi nhau).
Đứng ở đằng trước thấy thông thống đằng sau, tuềnh toàng một cái bếp
thấp tè, chiếc máy giặt cổ mỗi lần giặt rung cà cồng cà cưỡng (có người
còn đề nghị cho mượn để … cầu số). Chen giữa lối cầu thang lên gác xép
với nơi để máy vi tính là cái bàn ăn, (nên ngồi một chỗ, tôi có thể vừa truy
cập Internet, vừa... ăn cơm, hoặc quay lưng lại xem ti vi). Trên vách lỏng
chỏng nồi niêu xoong chảo, lọ nghẹ ám đen, dài theo đó đóng ba bảy hàng
đinh, treo lủ khủ những thứ mà ở dưới đất, không có chỗ cất. Đồ đạc bằng
cây thì cũ kỹ, gảy bản lề, bằng kim loại thì sét nghẹt, thấy rầu. Đụng tay vô
đâu cũng gặp bụi, lau hôm trước, hôm sau bụi lại đầy, mùa gió nam hay
gió chướng, trước nhà cũng tả tơi giấy vàng bạc, vỏ tràm. Buổi trưa đi làm
về lại lýnh quýnh chạy đi, hỏi làm gì gấp, bảo chạy về thăm ngoại (nói vậy
cho nó … tử tế, chớ không lẽ nói “dzọt” vô trong ấy để ngủ, ở đây nóng
quá, chịu gì thấu).

Tôi chỉ nhớ nhà những lúc đi xa, đi lâu (cái chính là nhớ người ở lại).
Ở một vùng đất heo hút nào đó, nửa đêm thức dậy, nghe tiếng gà gáy, tiếng
con chim kêu thảng thốt, gió ngào ngạt hương hoa bưởi, hoa cau, tôi nhớ
tổ ấm của mình, giờ này ở đó chẳng có gió máy gì đâu, thằng nhóc ở cạnh
nhà chắc là đang chạy rầm rầm trên gác (e là nó đã bị hỏng đồng hồ sinh
học), những người phục vụ quán nhậu bên kia đường đang dọn dẹp, tiếng
chai rỗng vọng xuống đáy thùng côm cốp, rồi tất cả đều im lắng lại,
nhường cho tiếng chổi đêm xao xác. Tôi chân thành cảm ơn những cuộc đi
xa, nó làm cho tôi biết nhớ nhà, ờ, miễn là nhà - của - mình, thôi thì, sao
cũng được.

Một bữa trèo lên tầng thượng cao ốc ngân hàng, tôi nhìn về phía nhà,
nghe gió thổi qua mặt, gió tràn vào lòng, nhận ra nhà của mình nhỏ nhoi,
chật chội quá trời đất, gì mà mái nhà hẹp te như chiếc chiếu bông (Rõ ràng
là người ngồi trên cao sẽ nhìn đời bằng đôi mắt khác). Úi cha cha, không
biết chừng nào mình mới có được một căn nhà đủ rộng, có cửa sổ đón gió

và nắng trời, có cái sân trồng giàn bông giấy, có phòng riêng cho con (thì
cũng phải sinh con chứ, chừng vài ba đứa), có chỗ cho tụi nhỏ đạp xe ba
bánh chở nhau, trên vách treo tấm hình đám cưới, treo cái gương dài để
mặc đồ mới đứng ngắm nghía chơi. Ở đằng trước đủ rộng đặt bộ ghế sa
lông cho khách ngồi, khoe cái kệ chật những sách, báo; ngoài sau đủ sáng
để bày biện nấu nướng cúng giỗ cha mẹ chồng, sau nữa là mảnh đất nhỏ
trồng cải, ớt, hành, vài thứ cây ăn trái như ổi, cóc, xoài… hệt mảnh vườn
của má, rồi chim về chim hót, rồi gió về gió thơm mùi cỏ mùi cây… Tôi
sẽ mang đá sỏi, rơm rạ vào nhà, nuôi cá lia thia, thả bèo vô chậu, ở chỗ cái
hồ dưới giếng trời tôi trồng bụi năn, bụi lác, bụi bông súng quê nghèo. Đất
có hơi hẹp khổ, nhưng không sao, tôi sẽ xây nó lên cao, cho ai đi qua tới
đây cũng phải xửng vửng, ngạc nhiên kêu lên :"Nhà của ai mà bảnh quá ta
?" (Lúc đó tôi sẽ ưỡn ngực ra mà rằng : "Có ai trồng khoai đất này, nhà Tư
tui chớ ai"). Nhưng chừng nào thì mình mới có được một cái nhà như vậy
kìa, biết chừng nào, chừng nào, chừng nào?

Câu hỏi đó cháy bỏng trong lòng. Chạy xe ngang qua nghĩa địa Triều
Châu, tôi tần ngần ngó những ngôi mộ nằm chen chúc trong nắng chiều,
nghĩ người chết rồi, nằm thẳng cẳng không biết trời trăng gì rồi mà xây cất
chi cho long trọng vậy không biết, phải chi… Nhận tiền nhuận bút được
một trăm hai chục ngàn mua sách hết một trăm, tôi buồn thiu thỉu, vậy là
xong hai bao ximăng, mất trăm rưỡi gạch, bay vèo một mét khối cát, thấy
mình tuyệt vọng một chút. Có lần đi công tác, đứng trong nhà vệ sinh
khách sạn, chực nghẹn ngào, trời ơi, chỉ chỗ này thôi còn sang trọng hơn,
đẹp hơn nhà mình nữa. Rồi tới chiêm bao tôi cũng thấy căn nhà mơ ước,
nhưng vía vừa tới cửa, bỗng còi rúc liên hồi, giật mình tỉnh giấc, nghe xà
lan ngược nước ràn rạt đi qua, nhớ giấc mơ dang dở, tôi tiếc quá chừng…

Con Bèo nghe chuyện, nó cười quá trời đất, nó nói tôi "điên nhà", nó
cười mà lòng nó đau như thắt, nghĩ tội nghiệp cho con bạn nông cạn, dại
khờ. Mấy cô bạn ở sát nhà nó cũng qua chơi, cũng rười rượi, bảo " Không
phải có nhà cao cửa rộng là hạnh phúc đâu, mấy thằng đàn ông hay rủ tụi
tui tới nhà tù ti tú tí, thằng nào cũng giàu (không giàu sao có tiền bao gái
?). Con Bèo giải thích với tôi, "tụi nó bán bia ôm". Rồi một mai khi son
phấn rã rời, khi ngày cùng đêm tận, có mái nhà nào đón họ về không (dù
bé bỏng, chật chội như tổ ấm của con Bèo) ?

Vậy thì cảm ơn Bèo lắm lắm, con bạn nghèo ơi ! Nhờ gặp ở đây, giữa
xóm lao động này, nhờ ánh mắt nụ cười của bạn, tôi ngộ ra rằng, hạnh phúc
không ở những ngôi nhà sang trọng, tự mình thấy đủ, dù chòi tranh vách
lá, dù ở dưới dạ cầu, cũng vui. Có những ngôi nhà cao rộng mà lạnh lẻo, vô
hồn, có những mái lá đơn sơ mà nồng nàn, đượm khói. Ô la la ! Gặp mưa
giữa đường, có chỗ ta về, có người đưa tấm khăn để lau tóc ướt, là “đã”
lắm rồi, đừng có lãng mạn mong ước xa vời.

Tôi về đứng trước cửa nhà mình, ngơ ngác yêu thương như con chim
lâu lắm mới tìm lại tổ. Nỗi vui cồn cào tới mức muốn mời ai đó tới nhà
chơi ngay bây giờ, ngay lúc này. Tôi sẽ vén mớ đồ đạc bề bộn ra ( như
khoả mặt ao bèo), mời bạn ngồi (và biết khi bạn đứng lên ra về, nó sẽ bừa
bộn như cũ, giống hệt bèo). Nhà hơi tối, hơi ngộp, đừng lo, tôi sẽ mở cửa
sau, nhìn ra sông nước rập rờn, nắng bừng qua cửa, gió phơ phất từng cơn,
mát rượi. Chúng ta sẽ ngồi ở đó, cắn hạt dưa, cười tở mở, nói những câu
nói thật lòng, đùa những lời ý nhị. Chúng mình ngồi ở đó, ngó về sông, kia
những chiếc ghe khẳm lừ chở mấy con chó nghinh mặt sủa vang trong buổi
chiều đỏ thẩm, hỡi người cầm lái, nhà anh là chiếc ghe nhỏ đó hay nhà anh
vẫn còn xa, xa ngái ?

Giờ đó, sâu trong hẻm Cỏ, chắc con Bèo đang nhen lửa, chồng nó vo
cơm…

Ngọn đèn không tắt
(Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20)

Người ta gửi tới nhà Tư Lai một lá thơ. Thơ đề "Kính gởi ông Hai
Tương". Cả nhà bối rối không ít. Ông Hai Tương đã ra người thiên cổ lâu
rồi, thấy có người nhắc lại chồng, bà cụ Hai Tương nhớ quá ứa nước mắt.
Khui lá thơ ra, thì ra là thơ mời nói chuyện khởi nghĩa.

Con Tươi ngồi chắt nước cơm ngoài sau bếp than trong bụng: "Mấy
chuyện đó kể muốn thuộc lòng rồi, bắt kể hoài, bộ mấy ổng hổng chán
sao".

Cái khởi nghĩa đó xảy ra đã lâu lắm rồi. Dân xứ này có người nhớ,
người không. Cái người không nhớ thì cũng nhớ được hai ngày. Ngày thứ
nhất là ngày giỗ chung những người khởi nghĩa bị giặc bắn ngoài chợ.
Ngày thứ hai là cái ngày kỷ niệm khởi nghĩa. Xã tưng bừng dựng cờ đỏ
chói, chạy xuồng máy rước mấy cụ lão thành lại đằng chỗ ủy ban ngồi
uống nước trà, ôn lại chuyện cũ. Những chuyện mà các cụ cất vô trong tim,
trong máu, buổi sáng nhớ, buổi chiều nhớ, buổi tối cũng nhớ. Ông cụ Hai
Tương - nội con Tươi - cũng được mời hoài. Dạo ông cụ già yếu, Tươi
được đặc phái đi theo chăm sóc ông nên không khí hội họp nó biết chút
đỉnh, chuyện mà cái hội họp nói, Tươi cũng thuộc lòng. Nói chung là
không có gì mới. Con Tươi ngồi kế ông nội, có khi nó nhắc:

- Còn chuyện nội với thầy lên Hòn bắn chim bằng nạng thun đó nội.

Ông nội nó đang nói, gật gù:

- Ờ, ĐÚNG LÀ TÔI CÒN QUÊN CÁI CHUYỆN NỘI NÓI VỚI THẦY
XÁCH NẠNG thun lên Hòn bắn chim.

Tươi hài lòng, chành miệng ra cười, thấy mình quan trọng hẳn lên.
Quan trọng ngay cả trong cuộc khởi nghĩa đã diễn ra mấy chục năm trước.
Hồi còn sống, ông nội thương con Tươi nhất. Tươi cũng thương ông nội,
quấn quít bên ông. Công việc của nó là nấu cơm, chở nước, quét dọn nhà
cửa. Thời gian rảnh ngồi nghe ông nội kể chuyện xưa, nghe bà nội kể
chuyện còn xưa hơn nữa. Thằng Sáng suốt ngày chạy nhảy, ăn chực ở nhà
hàng xóm trề môi như đưa đò:

- Ông nội khó thấy mồ.

Tươi không nghĩ ông nội khó, nhưng ông nội hơi lạ lùng. Ông nội dắt
Tươi ra biển đứng sục chân trong bùn, nghe nước biển lấp liếm đầu gối,
nội chỉ hướng Hòn.

- Bây coi kìa, Hòn đó.

- Dạ, xa quá hen nội.

- Bây ơi - nội đột nhiên nghẹn ngào - tao nhớ Hòn quá.

Tươi an ủi:

- Thì bữa nào nội biểu ba lấy ghe chở nội đi. Mà phải con lội hay con
lội cõng nội ra ngoài. Gần thí mồ chớ gì, nội.

Vậy mà Hòn xa lắm. Có đi mới biết trời rộng, biển rộng mênh mông.
Người ta đứng một chỗ nào đó nhìn bầu trời nhỏ xíu, cái Hòn nhỏ xíu,
xanh mù mù rồi thấy mình cũng không cần đi đâu, không cần làm gì nữa,
thế giới có bi nhiêu đây thôi mà. Tươi rút ra một chân lý, nó nói với nội:

- Cô con dạy "đi một ngày đàng, học một sàng khôn" là vậy đó nội.

Má Tươi bảo: "Con Tươi đi theo ông nội riết nó... khùng". Nó không
khùng nhưng nó già trước tuổi, nó già theo những câu chuyện xưa. Ông nội
ngộ lắm. Ông nói cho nó biết sở dĩ bùn xứ nó mặn là vì có rất nhiều xương
máu của chú, bác, cô, dì đã đổ xuống, trong đó đương nhiên là có máu của
thầy, của mấy anh em khởi nghĩa. Ông nói cho nó biết sống làm sao như
cây đước thẳng tuột ưỡn ngực giữa sình lầy và còn nhóc chuyện nữa. Tươi
cảm thấy mình phải có nhiệm vụ ghi nhớ những gì mà ông nội nói. Vì ba
má nó lo làm ăn không có ở đây để nghe, vì thằng Sáng không muốn nghe.
Rồi một bữa khác, ông nội nó ra bãi ngồi tới chạng vạng không chịu vô
nhà. Ngồi coi biển đục ngầu, ngồi coi mặt trời lặn. Tươi năn nỉ ông vô nhà
để ở ngoài này gió máy cảm chết. Ông nội nó không chịu vô, vò đầu nó
than:

- Tao thương thầy quá. Nhớ thầy quá. Tao thèm gặp thầy, gặp anh em.

Ðâu ngờ cái lần nội nói đó, nội đi gặp thầy thiệt. Xóm Rạch vắng một
người già cỗi cằn ngồi hát sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột
ông già sống qua những tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc
khởi nghĩa trên Hòn. Con Tươi qua sông, chở nước ngọt về uống trượt
chân té xuống sình. Té nhẹ phau mà không hiểu vì sao nó dầm mình vậy,
nó khóc mướt. Vậy mà kỷ niệm năm nào người ta cũng gởi thơ mời ông
Hai. Không hiểu người ta vô tình quên rằng ông đã khuất hay cố ý nhớ đã
từng có một con người như thế trên cõi đời này. Năm rồi thì ông Tư Lai đi

thay, năm nay thơ tới trễ ông Tư đi biển ngày họp không về kịp. Cán bộ xã
đút mũi xuồng lại rước. Bà cụ Hai rầu rĩ như mình đã ruồng rẫy, phũ phàng
ai vậy, chép miệng than:

- Thiệt rầu hết sức, nhà tui tưởng còn ai đi kể chuyện khởi nghĩa. Hổng
ấy cho con Tươi đi, chịu hôn?

- Nó nhỏ xíu hà biết không?

- Nó tuổi con gà gần hai chục rồi, nó lanh lắm.

- Thôi kệ, đi đại đi.

Vậy là lần đầu tiên Tươi một mình đi kể chuyện. Ðò chạy một mạch
lên huyện, nó ngồi kế bên ông chú Chín bạn của ông nội, nghe ông chú
Chín bệu bạo kể kỷ niệm hồi xưa với ông nội, những kỷ niệm tưởng đã đầy
rêu, Tươi nhớ nội quá. Nội bây giờ chắc bay ra Hòn gặp thầy, gặp các bạn
của nội. Họ lại cùng nhau uống trà, leo núi, đẽo nạng thun bắn chim. Họ lại
lên rẫy Thuồng Luồng cuốc đất trồng khoai lang, khoai rạng. Họ không bao
giờ già. Họ không bao giờ mệt. Họ không bao giờ mất. Nên người ta tổ
chức họp để nhắc họ hoài hoài.

Nghe nói lần này có người trên tỉnh xuống viết sử, Tươi cũng nghe hồi
hộp lắm. Nó sợ mình kể không hay bằng ông nội, thiếu những chuyện quan
trọng mà người ta cần. Ông nội để lại cho nó một trọng trách nặng nề. Nó
vừa đưa tay vịn tấm cao-su che nước mặn khỏi tạt vào mặt, vừa suy nghĩ
lung lắm. Nó nhìn đăm đắm ra sông Lớn, những con sóng chạy rượt nhau
mê mải tới bạc mái đầu. Có con sóng nào trẻ không mà lượn nào cũng
trắng.

***

Tới cuối buổi họp thì cô gái nhỏ xíu trẻ măng ngồi cuối bàn đằng này
được phát biểu: Cũng tại cô ngồi khuất sau cây phát tài nhựa nên khó thấy
cô. Cô có nước da đen giòn miền biển, đôi mắt mở lớn bẽn lẽn:

- Dạ, con xin nói thêm về khởi nghĩa đó.

- ỦA, CÔ CÓ THAM GIA HẢ?

- Dạ, ông nội con.

- Dà, sao cô biết?

- Dạ...

Cô gái miết tay lên cạnh bàn có vẻ bối rối. Có nhiều người ngồi quanh
đây cô không quen.

- Dạ, ông nội con kể, ông nội con là ông Hai Tương. Nội con còn viết
tuồng Sử hận nữa, mấy chú có nghe hát tuồng đó chưa?

- Ờ BÁC HAI TƯƠNG TÔI THƯƠNG LẮM GHEN. ¤NG KỂ
CHUYỆN MÊ LY MÀ chính xác lắm. Còn tuồng thì nghe nói thôi, thiệt thì
chưa.

- Con hát nghen?

- Thôi đừng hát, kể sử đi.

- Dạ thưa ông bác Ba, ông bác Chín, thưa mấy chú, con nói hơi dài
được không?

Ông chủ tọa coi đồng hồ cười:

- Bây giờ cũng còn sớm. Chuyện của cô dài cỡ bao nhiêu? Cô mà kể
hay, tới chiều tôi cũng nghe.

- Dạ - cô đằng hắng - Thầy được Ðảng phân công về xóm Rạch năm
một ngàn...

Ðó là câu chuyện của cô, của ông nội cô, của những người xóm Rạch.
Họ kể chuyện đó bao nhiêu lần rồi? Các nhà viết sử nghe bao nhiêu lần
rồi? Nhiều lắm, nhiều không kể được. Cô gái nói lời của ba cô năm trước,

nói lời của ông nội cô năm trước, năm trước nữa. Cô nói lời của lịch sử.
Mà lịch sử là thứ không thay đổi. Nhưng trong lời của cô có cái nhiệt tình
tuổi trẻ, trong mắt cô có mầu đen sẫm của vốc đất bãi bùn, và cô dựng
xương thịt cho cuộc khởi nghĩa bằng nét mềm mại của người con gái nên
câu chuyện của cô rất sâu sắc và thu hút người khác.

- Mấy chú coi con kể có sai chỗ nào không?

- À, KHÔNG, HAY LẮM, RẤT HAY. CÔ HỌC TỚI LỚP MẤY?

- Dạ, lớp 9, xã con dạy tới bao nhiêu đó thôi.

- Cô tên gì nhỉ?

- Dạ Tươi. Ông nội con tên Tương, ba con là Lai, hai chị em con là
Tươi, Sáng.

- Tên cũng hay lắm. Tươi có biết thầy không?

- Biết. Con thương thầy như nội con vậy.

- Tôi ngạc nhiên đó. Cuộc khởi nghĩa với cô cực kỳ mơ hồ vậy mà cô
nói chuyện như thể đã từng sống với thầy vậy. Thầy rất đẹp phải không?

- Dạ, bà nội con nói thầy đẹp trai lắm. Con trai xóm Rạch bây giờ
không ai bằng. Thầy là đàn ông mà thầy còn biết thêu.

- Thêu à? Ôi chuyện đó tôi chưa nghe nói bao giờ, mấy chú có nghe
không?

- Không.

- Có.

- Ờ HÌNH NHƯ CÓ.

- Tôi gặp ông nội cô ba lần, chưa lần nào ổng kể tôi nghe. Tại sao cô
biết?

- Bà nội con kể. Bà nội con là đàn bà nên mới nhớ lâu chuyện đó. Bà
nội con đã có lần thêu chung áo gối với thầy.

- Chung à? Thêu gì?

- Uyên ương. Chú có coi Tô ánh Nguyệt không? Trong đó có hát vầy
nè: "Uyên ương có bạn có đôi...", cái áo gối đó tới giờ bà nội con vẫn còn
giữ, nó hơi cũ. Nhưng ông nội con nói tội nghiệp bà nội bây, uyên ương
gãy cánh giữa trời dông...

- Cháu làm chúng tôi xúc động đây. Thôi cháu kể sử tiếp. Tới đoạn đêm
khởi nghĩa.

- Dạ nội con nói sau khi giết xong chúa đảo (đêm đó trăng sáng như
ban ngày), bắt hai má con cô Ðầm xuống bãi, thầy biểu mấy chú, à không
mấy ông chú giữ đèn hải đăng cho nó đừng tắt. Và khi chiếc tàu chạy vào
xóm Rạch rồi, ngọn hải đăng vẫn với nhìn theo cháy hoài, cháy hoài, cháy
hoài...

Đời Như Ý

1. Không giống như người ta, hễ thích cải lương thì đặt tên con là Ngọc
Huyền, Lệ Thủy, mê phim Việt Nam thì đặt tên Diễm Hương, Việt Trinh,
chú Đời đặt tên cho hai đứa con gái mình là con Như, con Ý.

Ai cũng hỏi, "Làm gì có chuyện đời như ý?". Chú Đời cười, hàng ria
mép xoăn tít xồm xoàm quớt lên, tự hào, sao mà không?

Nhìn vẻ mặt này không ai nghĩ chú mù, thấy sao mà tự tin, thanh thản
quá chừng. Không ai biết chú khổ còn hơn... cô Lựu. Chú Đời dẫn cả nhà
rời Chợ Cũ, Cầu Nhum lang thang lúc con Ý mới bồng nách. Gồng gánh
như một gánh hát, chú ca cải lương, bán vé số kiến thiết. Vợ chú nửa điên
nửa tỉnh, không biết có phải vui trong bụng lắm không mà suốt ngày cười
ngẩn ngơ. Hai đứa con gái đứa mười, đứa tám tuổi phụ cha đem vé số tới

mời từng sạp chợ. Đứa nào mặt mày cũng xấu xí, lem luốc, đen đúa, nên
nghe cha tụi nó kêu con Như con Ý ai cũng cười.

Một ngày của gia đình chú Đời bắt đầu từ sáng sớm, chú buộc vô mình
sợi dây điện nối giữa cây đờn với cái loa con Như đang cầm, nó ghịt dây
thì chú bước tới, chùng dây thì đứng lại. Con Ý nhỏ con chạy lăng xăng
đằng trước, đứng coi búp bê người ta chưng tủ kiếng. Vợ chú vừa đi vừa ca
hát đằng sau, nhặt hoa phượng để lên đầu. Cũng giống như những người
hát rong khác, nhà chú có cả thảy bốn người nhưng trên con đường tấp
nập, trông họ nhỏ nhoi, cô độc làm sao.

Ở thành phố này có chừng đến ba bốn người hát rong, họ dìu dắt từng
đôi, ở tận đằng xa, người ta nghe tiếng ca là biết gánh của ai rồi. Có đôi vợ
chồng già ca mùi như Thanh Sang, Thanh Nga; có một đôi trẻ hơn, ông
chồng đưa hơi như Trọng Hữu. Chú Đời ca dở, giọng hơi giòn, chói, thuộc
lòng chỉ mấy bài "Chiếc áo người vợ hiền", "Con gái của mẹ"... nghe mắc
chán. Nhưng chú đi đằng đầu phố, gió đàn lại cuối phố nghe tiếng được
tiếng mất nhưng người ta biết ông "Đời Như Ý" sắp đi qua. Cái miệng của
ông này sao mà lanh dữ vậy, luôn miệng gọi Ý con, con đừng có đi xa, con
Như đi chậm một chút, ba theo muốn đứt hơi rồi, coi má con đâu. Mình ơi,
mình à, mình lại gần tui nè. Rồi oang oang bảo vé độc đắc chiều nay nằm
ngay đây, ngay trân chỗ này nè. Có hai ngàn một vé, ăn gói xôi chưa kịp
mắc răng đã hết, mua giúp tờ vé số đặng giúp tui xóa đói giảm nghèo. Mua
đi, để tui đi xin bà con cũng mắc... cho hà. Mấy ông chạy xe ôm nói chú
rao làm sao mà láu cá quá, không biết mù thiệt hay mù giả mà sao cái
miệng leo lẻo vậy. Chú gỡ mắt kiếng đen ra, cười với đôi mắt lạnh lẽo, sâu
hút, "Mấy anh nghĩ vậy riết quen, em đui tối thiệt thòi, rên rỉ, than vãn
cũng đâu hết thảm. Mà, em đang sung sướng quá chừng đây, kể lể nỗi gì".

Theo chú nói thì chú sung sướng thật. Vợ chú đẹp, vui vẻ (vì cười
hoài), có đi nhậu vợ chú cũng không chù ụ như vợ người ta. Không ngã
lòng trước sự hào nhoáng xa hoa, chồng người ta sao mà đẹp trai, sao mà
giàu hơn chồng mình. Chỉ cần mỗi bữa sáng, chú mua cho vợ hai ngàn
đồng cà phê sữa là vợ mừng rưng rưng nước mắt. Chú sung sướng vì còn
có hai chị em con Như con Ý, nhỏ xíu mà giỏi, dễ dạy, đẹp đẽ. Nghĩ vậy
nên chú Đời phải vui, vui vì vừa lòng với những gì mình đang có.

Những trưa nắng gia đình chú tạt vào hiên chợ Bách Hóa, nghỉ chân.
Con Như lãnh tiền, chạy đi mua cơm về ăn. Họ ngồi giữa ngọn gió mát
lồng lộng. Chú Đời lúc nào cũng ngồi ăn chậm rãi, nghe ngóng chung
quanh như canh chừng, như bảo vệ bữa ăn thiêng liêng của nhà mình. Chú
nghe tiếng đũa khua tinh tang, cuống quít lên miệng chén là biết đứa nào
đói đứa nào không. Rồi cằn nhằn vợ, "Mình ăn chậm thôi, nghẹn bây giờ,
đó, nghe ặc ặc rồi đó. Con Như lấy nước mà uống. Coi gỡ xương cho em Ý
với, con". Bữa nào ăn cơm xong, chú cũng ngồi chải đầu cho ba mẹ con họ,
ai đi ngang khen chơi, cha, bữa nay hai đứa nhỏ đẹp gái dữ, chú sướng quá
cười hích hác. "Nó giống mẹ. Giống vợ em mới đẹp, giống em xấu hì. Mà,
ngộ quá, con của mình, xấu mấy cũng thấy đẹp thấy thương".

2. Quẩn quanh mấy chợ, mấy khu phố quen hoài bán không chạy như
trước, chú Đời phải ráng đi tới tối mịt mới về. Giọng chú ngày càng khàn,
nghe khen khét như nồi cơm quá lửa. Đi qua mấy quán nhậu, có người kêu
vô, đưa ly rượu, chú trịnh trọng nâng ngang mày đa tạ, chỉ hít tới hít lui
khen "Rượu ngon. Mùi đã thiệt" nhưng không uống, chú bảo lúc này giọng
dở quá, hình như nghe không khỏe trong mình.

Nên có lúc giọng ca của chú lật bật như hai hàm răng đánh vào nhau,
chú biểu con Như đi mua Anagin về cho chú uống. Mấy cô tiểu thương
trong chợ cằn nhằn, thằng cha mầy lúc này ca gì như là sốt rét, "Chiếc áo
người vợ hiền" hay vậy mà ca lụm cụm như "chiếc áo bà già". Một bữa đi
ngang qua trạm y tế phường, con Như dụ, nó nói trong trạm có khám bệnh
miễn phí, nên nó dẫn chú vào. Lát sau, lúc từ phòng siêu âm bước ra, chú
Đời giận quá, mặt xanh, tay chân run rẩy, "Ba đã nói có bịnh hoạn gì, làm
tốn hết mười lăm ngàn đồng bạc".

Chú Đời mau giận mà cũng mau quên. Bữa sau chú còn sắm đồ cho hai
chị em con Như. Diện quần áo mới, tắm rửa kỳ cọ sạch sẽ, ai cũng bật
ngửa, "vậy ra ông này mù mà tinh, ổng đâu có xạo, mấy đứa cũng ngộ gái
quá chớ". Dì Liễu cũng khen.

Dì Liễu bán xoong chảo ở trong chợ Bách Hóa, không có con nên thích
con nít, hay rờ rờ đầu chị em Như, Ý, nói với mấy bà bạn, "tui khoái chị
em con nhỏ này, nghèo vậy mà đàng hoàng, không đá cá lăn dưa". Con Như
nghe thích lắm, về nói với ba, chú Đời hỏi, dì Liễu thích con hay thích con

Ý. Như bảo thích bằng chang nhau. Cho con cục kẹo thì cũng cho con Ý
một cục. Chú Đời thở dài, "Ba già rồi, hát ca hết ra hơi rồi, chắc là nuôi
mấy má con con không nổi, hay là ba cho bả một đứa, nghen".

Dì Liễu tính đâu chú nói chơi, con người quý con như mạng mình, nói
cho là cho sao. Ai dè chú làm thiệt. Dì Liễu mừng lắm, những bữa chợ
vắng có một đứa hủ hỉ, trông đồ cho mình ngủ cũng vui. Dì chọn con Ý vì
khuôn mặt nó đẹp, sáng sủa chứ không buồn bã như con Như. Dì còn đi coi
thầy, chọn ngày tốt để rước con Ý về.

Hôm con Ý về với dì Liễu là rằm tháng Hai, chú Đời biểu con Ý mặc
đồ mới, kéo nó ngồi vô lòng mình, chú chải tóc cho nó, chú chải lâu vì nó
cứ tức tưởi liên hồi. Chú hỏi bữa nay con mặc áo màu gì, nó bảo màu
xanh. Chú dặn lòng, mình sẽ nhớ hoài, lúc xa chú, con Ý mặc đồ xanh, mặc
dù chú không biết màu xanh ra sao. Chú kêu vợ lại, biểu, "Mình hôn nó
một cái đi, mai mốt nó không ở với nhà mình nữa. Mình đẻ ra nó mà tui
không nuôi, mình đừng có giận". Vợ chú đâu có giận. Chỉ có con Như giận,
nó nức nở, "con thương con Ý nhất nhà mà, ba". Chú không thương à?
Thương, nhưng chú chắc dạ lắm, bước đi là đi một nước. Vợ chú rên ti tỉ,
ngoái lại nhìn phía chợ hoài. Con Như vẫn khóc. Chú hỏi nó, "Con Ý có
nhìn theo không, con". "Có, ba à, tội nghiệp nó quá". Dường như con
đường có nhiều ổ gà sao nghe chông chênh quá. Chú Đời cắn môi bước tới.

Nhưng đến chạng vạng, lúc quay về nhà trọ đã thấy con Ý ngồi lù ở
cửa. Từ đó không cách gì bứt nó ra được. Chú năn nỉ nó quay lại với dì
Liễu, nó không nghe. Chú lấy gậy đánh, nó cắn răng chịu. Chú đưa vợ với
con Như trốn khỏi thị xã nó cũng biết cách lần theo. Bảy tuổi, con Ý cũng
đã bảy năm lưu lạc giang hồ chớ giỡn. Cuối cùng, một đêm, chú bắt nó
ngồi trước mặt mình, ôm lấy đôi vai xương xẩu của nó, chú nói cho con Ý
nghe một câu chuyện đau lòng, chú nói nó không phải là con ruột của chú,
chú lượm nó ở ngoài đống rác bệnh viện. Chú nuôi nó tới chừng này là để
kiếm người bán lại. Dì Liễu cũng trả cho chú hai triệu chớ đâu có ít. Con Ý
nhìn tệp tiền chú rút ra từ túi áo, mặt nó lạnh băng. Sáng sau, chú Đời đưa
con Ý trở lại với dì Liễu. Lúc quay đi chú hỏi con Như, "Nó có nhìn theo
không, con". Con Như nói không. Chú ừ, nấc khan một tiếng rồi cất tiếng
ca, "Nuôi con khôn lớn không mong gì con nuôi lại mẹ...", sao mà nghe
nghẹn ngào như đang khóc.


Click to View FlipBook Version