The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-29 00:19:14

Nguyễn Ngọc Tư Toàn Tập

Nguyễn Ngọc Tư Toàn Tập

Điền, cũng không trở lại.

Tôi đã chờ nó đến khi mùa mưa đổ xuống cánh đồng Chia Cắt (tôi tạm
gọi vậy) một trời sao. Chờ chơi vậy, chứ tôi biết Điền chẳng quay về. Tôi
nhớ nó (và nhớ chị) không thôi. Những lần dọn cơm tôi hay lấy chén đũa
cho cả bốn người. Cha tôi rất khó chịu, ông ngán ngẩm đứng dậy. Tôi ngồi
một mình, chan nước vào chén cơm như chan nỗi trống trãi khủng khiếp.
Đi qua những xóm kinh chộn rộn ánh đèn, tôi thường ngóng lên bờ mong
có thể gặp được thằng Điền và chị. Không biết em tôi có đuổi kịp chị, hay
vẫn tiếp tục kiếm tìm. Không biết nó đã đánh thức được bản năng, đã tìm
thấy nhục cảm, đã biết thèm muốn chưa. Không biết tối nay thằng Điền có
được mệt nhoài úp lên chị, hay vạ vật ở đâu đó, bên vách buồng (hay một
tấm ghi-đô bằng vải), đau vật đau vã nghe hoan lạc chảy thành những dòng
rên xiết, kêu thét. Không biết nước mắt của nó đã khô chưa hay vẫn rỉ từng
giọt như máu tươi.

Tôi nhớ Điền, bao gồm nhớ một đồng - loại (và tôi là đồng - loại còn
lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một người nghe
được tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm được, nhưng nó đã chết
rồi), và nhớ một người che chở (công việc này, đáng lẽ là của cha, má tôi).
Tôi biết ơn Điền, từ một gói băng trắng mà Điền mang về hôm tôi mười
bốn tuổi, bảo thứ này dùng khi có kinh nguyệt, nó sẽ ngăn không vấy máu
ra quần. Điền đi hỏi ai đó, nó nói, máu không cầm được cho đến khi nào tự
nó ngưng chảy. Điền xót xa khi thấy tôi trổ mã con gái, "Đẹp làm chi dữ
vậy, Hai ? Ở cái xó quê này, có đẹp mai mốt cũng phải lấy chồng, đẻ một
bầy con nheo nhóc, cũng ra ruộng ra vườn làm lụng đến hết đời, xẹp lép
như xác ve. Đẹp, mắc công giữ...". Điền dặn tôi đừng xoắn quần quá cao,
đừng mặc áo quá rộng cổ... Với bọn đám thanh niên lúc nào cũng kiếm cớ
lãng vảng, Điền giang tay bọc lấy tôi, nó giễu cợt, "Anh kia, lượm con mắt
lên, anh nhìn vậy, chị tôi mòn còn gì". Đám người cụt ngòi, tẻn tò dạt ra.
Ngay cả khi Điền bỏ đi cùng chị, nó cũng để lại cho tôi một món quà lớn.

Cha bắt đầu có một chút quan tâm với tôi. Dường như chỗ trống của
thằng Điền nhắc cha nên quý những gì còn lại. Bắt đầu từ một đêm, cha
đứng đằng xa, bảo, "Nương, ngủ sớm đi !", tôi nghe mắt mình cay, ngợp
như ai đó tọng một đám khói vào mặt. Mắc cười, câu nói chẳng ý nghĩa gì

lớn lao, những người cha người mẹ nói với con họ hàng ngàn lần, đến phát
bực mà tôi lại xốn xang.

Tôi ước gì có thể chếnh choáng thật lâu, nhưng nó mau chóng tắt rụi vì
một ý nghĩ kỳ lạ. Dường như không còn kịp nữa, để hàn gắn sự đổ nát, để
sắp xếp những mảnh vỡ lạo xạo trong lòng.

Chúng tôi tập nhìn nhau, điều đó khó khăn biết bao. Nhất là với cha, tôi
cảm nhận được sự cố gắng lớn. Mỗi lần ngó về phía tôi, ông phải trợn trạo
nuốt nghẹn những cảm xúc, vì tôi giống má khủng khiếp.

Không cần gương, tôi thấy hình bóng má trong mắt người đối diện.
Trước ánh nhìn của cha, tôi cảm giác mình soi xuống dòng nước đêm. Với
những người đàn ông khác, tôi bị rực lên như đứng trước mặt trời. Bằng
mắt, họ sờ soạng khắp người tôi. Ánh mắt giống bàn tay của ông xẩm mù
mà tôi từng gặp, đụng chỗ nào cũng dừng lại, vuốt vuốt bóp bóp (chắc là
cho dễ hình dung), rồi lần dò tới một chỗ khác, rờ nắn mê miết. Và tôi đón
nhận một cách hằn học, cục cằn.

Hôm bán bầy vịt, cha tôi sắm một chiếc nhẫn vàng, ông đẩy nó về phía
tôi, ngượng ngập như sắp chết giấc, "Để dành khi đi lấy chồng...". Tôi sặc
ra một bụm cười, trời ơi, tôi biết lấy ai bây giờ ?

Suốt những tháng năm sống tù đọng trên đồng, tôi có biết ai ngoài
những người đàn ông quê mùa cũ kỹ. Tôi biết lấy ai trong số đó ? Lấy một
người cắm mặt xuống đất, mệt nhừ với vườn ruộng để mỗi khi giáp hạt, tôi
nghe tiếng cạo cháy của con, tiếng muổng dừa vét gạo dưới đáy thạp mà
rát bỏng trong lòng ? Hay tôi sẽ chọn một người chăn vịt, mê mỏi với
chuyến đi xa, sống cuộc sống hờ hững tạm bợ, thấp thỏm với rủi ro, và đến
một lúc nào, tôi ôm con nghe đêm của mùa gặt thật dài với tiếng rúc rích
của chồng cùng cô điếm già nua. Tôi lấy ai bây giờ, một người thợ gặt ?
Một anh chạy đò ? Ý nghĩ mình là bản sao của má làm tôi sợ. Tôi không
chắc mình có đủ kiên nhẫn sống cuộc sống nghèo túng, nhàm chán ấy suốt
đời, hay nửa chừng bỏ dỡ. Và bi kịch chất đống lên những người ở lại.

Cha tôi hơi hoảng. Vậy đó, chỉ cần để ý một chút, là có thể nhận ra, xót
xa vì sự quái dị, khác thường của tôi. Cha tôi vừa kịp nhìn thấy điều ấy, bối

rối đến mức không biết diễn tả sự đau lòng như thế nào, bằng mặt, hay chỉ
âm thầm trong lòng. Mà có đau, dường như cũng trễ...

Cái ý nghĩ đã muộn màng, trễ tràng, không còn kịp nữa như một cái
rốn nước sây hoáy, điên cuồng hút tôi vào, cảm thấy mọi nỗ lực của cha trở
nên vô nghĩa, tôi nghĩ vậy. Tôi nghĩ đến sự trừng phạt, sự báo ứng bất chấp
trời im ắng như đã nguôi quên chuyện cũ rồi. Bây giờ, đang vào mùa đẹp
nhất trong năm.

8.

Bây giờ, gió chướng non xập xoè trên khắp cánh đồng Bất Tận (tên này
tôi tự dưng nghĩ ra). Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những đường
viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa. Rất thính nhạy, (như
kên kên ngửi được mùi xác chết), đám thợ gặt đánh hơi kéo đến, những
người nuôi vịt chạy đồng lục tục ở đằng sau.

Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay
đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng
người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa ngẽn trong
bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã
hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị
thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì
không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ). Tôi đã từng
trở ngược về những nơi đó theo cách của tôi, bằng mường tượng. Tôi gặp
nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với
đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn,
chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi. Và hình ảnh đó
thật đến nỗi, tôi bất giác lùi lại vì một đứa đang nhìn trân trối vào mình,
ngạo nghễ "Tao không thích học, chừng nào lớn, tao đi chăn vịt. Má tao
(hoặc ba tao) dặn, phải đánh chết tụi chăn vịt kia".

Tôi giễu cợt, không biết mày có kịp lớn không. Và nó nhăn nhở cười
trước khi tan mất vào vũng đêm.

Tôi không mất nhiều thời gian để hiểu được cái cười ấy.

Đơn giản là ngay bây giờ, trên cánh đồng này, cũng đang lảng vảng
những thằng Hận, chúng lớn hơn, cũng thất học, hung hãn. Bọn người này
cướp vịt ở các bầy khác (trong đó có của chúng tôi) bằng cách lén phết sơn
đen lên đầu những con vịt và phơ phởn đến nhận chúng là của mình, hiển
nhiên mang đi. Bắt đầu xảy ra vài cuộc xô xát trên đồng, người ta đem hết
những bản năng hoang dã của mình ra để giành lại miếng ăn.

Cha biểu tôi đứng ở đằng xa. Chờ đợi. Rốt cuộc, bầy vịt của chúng tôi
vẫn mất ngót một nửa. Chúng tôi ra về. Cha tha thểu đằng trước với một
thân xác nhừ bùn sau cuộc đánh nhau. Cố đi tụt lại phía sau, tôi giấu nỗi
vui đang thổn thức, cồn cào. Sẽ không ra gì nếu một đứa gái tỏ ra mừng rỡ
khi cha nó bị đánh tả tơi, nhưng rõ ràng là cha tôi đang thay đổi, đang sống
lại những cảm xúc bình thường nhất. Tôi thích ông như thế này.

Sau này, tôi luôn hối tiếc là tại sao ngay lúc ấy không chạy đến và cùng
sóng bước cùng ông, tại sao tôi không nhìn ông và mỉm cười. Để khi đám
người kia cắt đồng, tôi đã không còn cơ hội.

Ba người họ ập tới từ phía sau, quây lấy tôi, quần áo vẫn đẫm bùn, mặt
mũi sưng sỉa. Những thằng con trai hơi ngỡ ngàng, khi nhìn thẳng vào tôi,
một đứa gầy gò trạc thằng Điền lau dãi ròng rãi trên khoé miệng, thảng
thốt, "con nhỏ đẹp quá, mày".

Tôi coi đó là lời phán quyết cho mình. Giọng điệu của hắn giống như
đang tấm tắc trước một món hàng đã mắt.

Và món hàng bị ghì ngửa trên mặt ruộng bì bỏm nước. Tôi ngạc nhiên
thấy bầu trời im sẫm. Mênh mông. Không biết đã tắt nắng hay mặt trời
không vói được ánh sáng đến nơi này ? Hay những khuôn mặt nghèo đói,
dốt nát tăm tối đã che khuất nó ? Ngoái nhìn về phía cha và thấy ông lầm
lũi đằng xa, tôi mong ông đừng quay mặt lại. Sau đó thử chống cự một lần,
rồi thôi, sự vùng vẫy chỉ kích thích lòng ham muốn. Tôi không muốn bị đè
nghiến, bị vùi nghẽn trong bùn.

Bọn chúng hơi khó chịu trước một đứa con gái yếu ớt và câm lặng. Sự
hưng phấn giảm đi ít nhiều, đến nỗi, chúng tỏ ra đờ đẫn, nghi hoặc khi bóc
trần tôi ra. Sao đúng lúc vầy nè, tôi buồn nẫu nê, tôi vừa le lói nhìn thấy
con đường dẫn đến cuộc - sống - bình - thường, tôi vừa nghĩ, trên con
đường đó, sẽ gặp người con trai nào đó để thương yêu... Nhưng cố không
để cảm giác đau tiếc làm mình lịm vào chết, tôi cười cợt, “Chúng mày có
lột bỏ có trăm có ngàn, tầng tầng lớp lớp những vỏ bọc, cũng chẳng bao
giờ thấu đến tận tao”. Ý nghĩ đó làm tôi bớt nhói cho nông nỗi này.

Vậy thì, cha ơi, quay lại làm gì, tôi than thầm khi nghe tiếng chân ông
nôn nả, giận dữ lỏm thỏm trên mặt nước. Cha tôi lao vào, gầm gừ nắm cổ
một tên bật ngửa ra đằng sau như một người cố cất cái vó sông nặng nề,
đẫm nước. Tôi khóc. Vì thấy ông đã kiệt sức, hoàn toàn. Và tôi buộc miệng
thất thanh : “Điền ! Điền ơi !” trước khi một tên ghí đầu ông dập xuống
bùn.

Tiếng gọi ấy làm cha đau đến sững sờ, ông rướn ngước mặt về phía tôi,
miệng há hốc. Tôi chực hiểu, ngay lập tức hối hận tràn đầy, trong ý thức
cầu cứu, một bản năng đơn giản nhất, đứa con gái đã quên mất người cha.

Thằng Điền thì ở xa. Cánh đồng vắng ngắt, chấp chới vài cánh cò. Tôi
biết rằng, không có cái gì làm cho cuộc chiếm đoạt này dừng lại. Cha
không chấp nhận điều đó. Ông liên tục vùng vẫy. Một tên côn đồ ối lên một
tiếng, bụm lấy mắt, vừa kêu rên vừa chửi bới ngậu xị. Không đánh trả, nó
có cách trừng phạt khác, nó đè nghiến, giữ cho mặt ông hướng về phía tôi.
Và bọn chúng thay phiên nhau, giữ cho cha chỉ một tư thế đó.

Mắt cha tôi ầng ậc nước, tôi không rõ là phèn hay máu nhoèn nhoẹt.
Thôi nghen, ông trời, như thế này là đủ rồi, đừng thêm nữa. Ước gì cha tôi
hiểu, để mà thanh thản, xưa rày, cái gì không biết hai chị em cũng đã thử,
đó là một cách tự học để sống. Chỉ có sự giao tiếp giữa thân xác là tôi chưa
từng trải qua.

Nhưng lúc này, cảm giác thật đơn điệu. Đầu tiên là sự xé toạc, và từ
rách nát, đau đớn như lũ kiến cánh được giải thoát, chúng bò rân khắp thân
thể, tôi thấy mình đang chết. Rồi ký ức ùa về kinh hãi, vẻ mặt má tôi cái
hôm bị người đàn ông bán vải đo lên người hình như không phải là khoái

lạc thăng hoa, nó giống như tôi bây giờ, đau ràn rụa, nhói tận chân tóc.
Trời ơi, tại sao tôi không nhận ra điều đó, ngay lúc ấy (để giấu kín nỗi ám
ảnh trong lòng, giả đò tươi cười với má, xem như không có chuyện gì, để
chiều chiều cùng má ra sông, hỏi nhau, không biết chừng nào thì cha về)

... Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể
nhàu nhừ. Ai đó vãi từng chùm chim én lên cao, chúng cố chao liệng để
khỏi phải rơi như lá. Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con
gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt
trời. Dường như đứa con gái đang chết, chỉ đôi mắt là rưng rức chớp mở
không thôi. Câu đầu tiên nó hỏi :

- Không biết con bị có con không, hả cha ?

Nó hơi sợ hãi. Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con
loăn quăn đang ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, rớt nước mắt,
trời ơi, có thể mình sẽ sinh con. Nhưng nó chấp nhận việc ấy, dù phũ phàng
(với nó, chấp nhận cũng là một thói quen).

Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến,
Hường... Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh
và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ
lỗi lầm của người lớn. /.

Đăng lần đầu trên tuần báo Văn Nghệ số 33, ngày 13-8-05 (và những số
kế tiếp)

Lên trang này ngày 16-8-2005

Trở về trang chủ Nguyễn Ngọc Tư

Đôi bờ thương nhớ
Tạp văn

Bạn biết tôi thương bạn nhiều mà bạn làm khổ tôi chi vậy.

Như thường lệ, bạn vẫn viết thư cho tôi. Thư nhận chiều qua, bạn viết :
“Mình sẽ cố thu xếp trở về cố hương. Có xa xôi gì mà mất mười hai năm
ly xứ...” Rồi bạn kể ra một dọc những cảnh moi từ ký ức cũ, nào là những
tàng cây trứng cá đằng góc sân, hàng điệp đỏ de mình ra mé nước che cái
bến, mấy chiếc xuồng ba lá buộc dập dềnh vào chân cầu. Con đường đất đỏ
pha nâu dẫn vào căn nhà cất theo kiểu cổ, hàng lơn nước trước hàng ba
ngoại úp cái gáo thâm màu đất...

Tôi luôn nhớ về bạn nhiều nhất trong đám bạn cũ. Với tôi, những
người xa xứ, lìa quê luôn luôn tội nghiệp. Bây giờ, tôi lại càng thương bạn
hơn bởi những gì bạn nhắc, bạn nhớ đã không còn nữa.

Xóm của K., cái xóm Hòa Trung nằm bên bờ con kinh xáng Đội Cường
đã không còn nữa. Mà, có riêng gì cái xóm cũ của bạn tôi, nhiều làng xóm
dọc theo những triền sông lớn, những tuyến giao thông chính ở vùng đất
rặt sông nước nầy đã mất dần dấu tích theo con sóng tạt ào ào vào bờ đất.
Và đất theo sóng ra đi.

Có người nói ở Tân Châu (An Giang) ngủ một đêm sáng dậy thấy nhà
mình trôi lềnh bềnh trong dòng nước vậy mà sướng, vậy mà “ngon” hơn ở
ven các con sông Cà Mau, khỏi phải mỗi ngày nhìn thấy mảnh đất được
gầy dựng từ thời ông cố, ông sơ mình từ từ, cứ từ từ chìm vào dòng nước
mà không cách gì giữ lại. Đứt ruột.

Nhà cũ của bạn tôi nằm đâu ? Cái xóm nhỏ nhìn ra sông, đón nắng từ
sông, uống gió từ sông đó bây giờ đâu ? Thở dài. Những ngôi nhà trống
huơ, hoang tàn, trơ trơ gạch ngói, cái còn cái đã ngụp một nửa dưới nước,
những cái nền gạch còn lưu dấu một chiếc ngạch cửa, một cái lan can thấp
(nơi ngày xưa bạn ngồi đó bưng tô cơm, vừa ăn vừa coi trời, coi đất chơi
!?). Trên nền nhà cũ, lần theo các khe nứt do đất sụp cỏ giồng trầu, cỏ
nước mặn, lức dại đua nhau mọc xanh rì. Một cái sàn cây nước lộ ra cái
ống sét nghẹt khi nước bắt đầu ròng. Những cây dừa, cây mấm nằm xoãi
dài ra mép nước, đám rễ tuyệt vọng níu lấy chút đất cuối cùng. Đâu đó
nhiều quãng hiện ra một nhà máy chà gạo, nhà máy đường, ống khói gảy
gập lại, nửa nằm ngoài bãi, nữa nghiêng ngửa . Con thằn lằn lạc tắc lưỡi
kêu hoài làm như tiếc rẻ cái gì. Tôi tự hỏi, nhà của bạn tôi đâu, cái ngôi
nhà ký ức ấy. Nhà xưa của bạn nằm thấp thoáng sau bờ đất kinh xáng múc,

cây cỏ quanh nhà rất xanh, bên gốc gừa có cái miểu ông Tà ngó xéo ra
sông ... Tất cả giờ ở đâu ?

Mới đó mà chỉ hơn mười năm. Ngày bạn đi, chắc sông không rộng như
bây giờ.

Bác Sáu Bé, một người già của xóm Hòa Trung cũng bảo như vậy, ông
nhớ như in hàng mấm chồm ra mé nước, kế đó, trên bờ là một hàng dừa,
sân rộng minh mông, trồng thiệt nhiều me, nhiều cây me già, cao thiệt cao.
Ông thường trèo lên đó nghe ngóng tình hình giặc, “hễ thấy tụi nó qua
Mương Điều lò dò càn vô hướng mình thì mình rút”, ông kể, “mà, hồi đó,
kinh Đội Cường lớn lắm cũng bằng nửa công đất mình. Bữa nào cánh giao
liên tụi tui có thơ, tui ra mé sông, kêu mấy chú mấy anh bên cơ quan ra, tui
buộc cục đất vô thơ, chọi qua bển một cái gọn hơ hà. Bây giờ ông nội tui
chọi còn không qua nữa chớ nói gì già cả như tui...” (Có phải ngày đó,
người bên sông đã gửi sang cho bạn lời thương nhớ cũng bằng cách nầy để
cho bạn nhớ thương tới bây giờ ? Tôi nghi lắm nghen !). Tôi ngồi với bác
bên bờ sông, nước bắt đầu ròng, nửa cái khung của ngôi nhà cũ đã bị chồm
hụp hửi vào dòng nước bắt đầu lộ ra hàng ba, bên dưới lan can là hai bồn
hoa nhỏ. Bác chống xuồng ra sông, chỉ tay vào dòng nước đang chảy cuồn
cuộn chỗ ngày xưa có hàng me, hàng mấm, dễ chừng có ra đến gần một
nữa sông. Ở đó nhìn vào bờ, cảnh buồn như trăng lặn. Tôi hỏi bác có buồn
không, bác chỉ im lặng và đốt thuốc, lâu lắm bác mới nói : “Buồn chớ, đất
nầy, ông bà mấy đời để lại cho mình mà. Hồi đó, bom đạn vậy mà có ai bỏ
nhà, bỏ xóm mà đi đâu...”

Nhưng bây giờ đã thực sự là một cuộc chia ly. Những hàng mấm, vẹt,
đước, những rặng dừa nước vốn mang sứ mạng giữ đất đã bị bứt lìa trước
tiên. Không có bộ rễ kiên cường nào có thể chịu được sức mạnh của sóng
từ những con tàu. Đất bắt đầu vạt, vỡ ra, trôi đi từng ngày. Cho tới khi,
mép nước đã le liếm sát thềm nhà, người ra đi. Không ai để ý chiều đó có
một căn nhà không còn ở bên sông nữa, người ta có biết bao nhiêu chuyện
để lo, chỉ thấy giật mình thảng thốt chiều nay ngồi tàu nhìn hai bên bờ
sông, vườn thôi rộng, sân thôi sâu và xóm vắng.

Chưa có cái gì làm cho người Cà Mau vốn chịu thương chịu khó sáng
tạo, cần cù lại bó tay như nạn lỡ bờ. Họ đã từng chiến đấu cật lực để giữ

đất, họ cũng đã từng xây đi đắp lại hết bờ kè nầy tới bờ kè khác, đã từng
hy vọng và rồi một ngày rứt ruột bỏ xóm, bỏ nhà. Làm một bờ kè bằng
ráng, bụp dừa nước sẽ chịu được khoảng nửa năm. Bờ kè đổ bê tông kiên
cố hơn giữ được khoảng ba bốn năm, nhưng để xây được một bờ kè như
thế người dân mất khá nhiều tiền, nên những người nghèo đã phải ra đi
trước tiên. Một hai căn nhà còn bên bờ sông trong cái xóm đã tiêu điều
như một ốc đảo nằm thoi loi một mình, “dòm cảnh buồn muốn dọn nhà đi
luôn cho rồi”.

Từ những ngôi nhà đơn sơ có, kiên cố có, nhiều hộ gia đình phải gầy
dựng lại tổ ấm trên nền đất mới. Từ đơn sơ họ lại càng đơn sơ hơn, từ kiên
cố bây giờ họ sống trong căn nhà cột cây, vách lá. Nhà chị Phỉ dời ra sau
đê, ở đậu trên đất anh rể, góc đất nhỏ, nhà coi tum húm to hó. Nhìn qua
đám dừa thưa rỉnh thưa rảng vẫn thấy sông, vẫn thấy cái nhà tường cũ, nơi
chị sinh ra và lớn lên, đã sụp một phần nền. Mớ ngói Tây cũ rong rêu chị
chất sát vách nhà mới, “chờ coi có cơ hội nào xây lại cái nhà không, mà,
chắc làm hổng nổi nữa rồi”, chị than. Nhưng chị vẫn còn may mắn hơn
nhiều hộ gia đình khác, có người đã phải bỏ xóm làng định cư nơi khác vì
không có đất, có nhiều nhà đất đã lỡ tới chân cột cái rồi mà chưa có tiền để
dọn đi, nước tràn vô tới bếp tự nhiên như người thân quen lắm vô lục nồi.

Ngồi ở trạm kiểm soát Hòa Trung, nơi hai tuyến đường chính đi Ngọc
Hiển và Đầm Dơi chia ra đi rồi lại gặp nhau để theo sông Gành Hào về
thành phố Cà Mau, cứ năm phút có một chiếc canô, tàu khách, tàu vận tải
cỡ lớn đi qua. Nhiều tàu đặt cả hai máy rùng rùng chạy, sóng ràn rạt. Ước
tính mỗi năm có hàng trăm ha đất dọc các bờ sông trôi đi. Sức tàn phá từ
sóng tàu với bờ bãi như vậy, mới hiểu tại sao bà con ở dọc những triền
sông quê mình chịu bó tay. Chờ đợi một ngày đất đã thôi không còn lỡ dữ
dội do lòng sông đã có độ dốc thấp đi, thì bà con không còn gì để mất nữa
rồi. Biết kêu ai, bắt thường ai, mất mát như bị thiên tai vậy mà.

Trách ai bây giờ ?

Trách anh Nha nông dân nào cải tiến gắn cái máy xe ô tô vô tàu chạy,
tội nghiệp ảnh, ảnh làm là để cho đời, không có ảnh làm sao tránh cảnh đò
giang cách trở, làm sao đi đứng thuận tiện, mau mắn như bây giờ. Mình
biết ơn ảnh không hết đó chớ.

Trách sao nhiều tàu bè tội nghiệp người ta, trên miền đất xỏ dép vô
chân, bước ra gặp sông nước nầy, không có họ, không cho họ phát triển,
mình đi về huyện, về quê, đi công tác, đi chơi bằng phương tiện gì bây giờ
?

Chỉ tiếc một chút quê mình ít đường giao thông bộ để chia sẽ bớt gánh
nặng cho sông. Mình tiếc quê mình thiệt thòi quá, mất hai mươi lăm năm
sau chiến tranh, đất quê mình mới có được những con đường lớn nhưng
còn đơn sơ về năm huyện. Nhưng sau từng ấy năm, bên sông, người xưa,
cảnh cũ đã không còn.

Bạn biết tôi thương bạn nhiều, tôi sợ bạn buồn, bạn ác với tôi chi vậy ?

Hỏng lẽ bây giờ tôi đi trồng lại hàng điệp đỏ, trồng lại cây trứng cá lá
mềm và mịn rụng xuống sân nhà, hỏng lẽ tôi cất lại y chang ngôi nhà cũ,
hỏng lẽ tôi lùa được gió sông man mác vào cái hàng ba đã không được
nhìn ra sông nữa, và tôi dựng lại được cảnh những chiếc xuồng ba lá nhỏ
với mấy cái lá dừa nước làm buồm trôi lơ thơ, êm ả trong nắng chiều, trời
chiều. Tỉ dụ như tôi làm được những điều phi thường ấy thì bạn của tôi ơi,
cái hồn quê, hồn đất năm xưa đã không còn. Mà tánh bạn cũng như tôi,
khăng khăng hoài : “Hoa nào đẹp bằng hoa tuổi thơ. Ổi nào ngon bằng ổi
năm xưa”(*). Kỷ niệm của những ngày tươi trẻ vô giá.

Nhưng rốt cùng tôi vẫn mong bạn trở về, dẫu đau cảnh mất người xa
nhưng còn cô bác bà con, tản mác ở đâu thì tình nghĩa cũng đầy như nước
dưới sông vậy, còn y chang tôi của ngày xưa. Tôi thương bạn nhiều thiệt
nhiều. Tôi sẽ an ủi bạn, rằng, đi dưới sông lỡ đất tiếc một, đi trên bờ giờ
như Kinh Kha qua sông Dịch, tai nạn hỏng biết đâu mà tránh, hao người
còn thương tiếc nhiều hơn.

Nói vậy cũng đỡ buồn chớ.

NNT

(*) Thơ Lưu Quang Vũ

4/2001
Lên trang này: 8-6-2005

Ngày đùa

San có điện thoại . Chẳng sung sướng gì khi phải chạy cồng cộc qua
hai mươi tư bậc thang lên tầng hai , mở cánh cửa kiếng mới vào được văn
phòng nhà văn hoá huyện. Giọng bên kia máy hơi đứt quãng, nhừa nhựa :

- San ơi !
San thở cái phào:
- Chuyện gì đó, Phương ?
- Anh nhớ em.
- Ừ!
- Nhớ thiệt. Anh thương em thiệt là thương.
San nhăn mặt :
- Đang tập thoại đoạn kịch nào vậy ? Nói cứ y như thiệt.
San nghe Phương thở ngắn, rồi lặng đi, rồi thở dài:
- San nhớ uống thuốc nghen !
- Trời đất, bệnh gì mà uống?
- Dặn trước, mai mốt bịnh thì uống. Mai mốt bịnh, anh không dặn nữa.
- Trời đất – San bật cười - Không còn nữa em thôi nghen.

- Ừ … thôi. Vĩnh biệt. Anh từ giã em, anh chết. Anh thương em nhiều
lắm thiệt mà, San.

San nhún vai, gác máy. Chị quay ra. Sao vậy ta ? Phải mười năm trước,
nghe được câu này của Phương, thể nào San cũng cảm động phát ứa nước
mắt luôn cho mà coi. Bây giờ nghe buồn cười không chịu được. San nghĩ,
tay Phương nầy hôm nay chắc rảnh rang, đem cả chuyện chết chóc ra đùa.

San nhận dựng một vở kịch cho nhà văn hoá huyện để đưa đi dự liên
hoan văn hoá quần chúng toàn thành. Chị đã bỏ nhiều sô diễn ở thành phố.
Không hiểu vì sao mình làm vậy. Có thể vì trả cái nghĩa ngày xưa, từ nơi
nầy chị đi lên hoặc có thể chị muốn thay đổi không khí. Vì vậy mà chị bỏ
cả máy di động ở nhà.

San và đám diễn viên đã tập đến đoạn kết. San làm việc cật lực, giọng
khàn đi. Chị không có trong tay những diễn viên nổi tiếng, hiểu nghề, điều
đó làm cho công việc của chị càng khó khăn hơn. Nhưng họ truyền cho chị
niềm hứng thú từ cách diễn chân chất, mộc mạc, từ sự lăn xả bất chấp nhọc
nhằn. Nhìn họ, chị nhìn thấy mình mười năm trước, đầy đam mê, khát
vọng nhưng khờ dại, ngây thơ.

Mười năm trước, San gặp Phương cũng ở đây. Phương nổi tiếng và tập
tễnh làm đạo diễn. San gọi Phương là thầy. San ngưỡng mộ Phương thiếu
điều chiêm bao cũng thấy. Con người Phương hết thảy đều phiêu lãng,
phong trần. Tóc dày lấp loáng bạc, hơi dài, mái trước vuốt ngược ra đằng
sau. Thành ra đám tóc đó không bám vào đâu được, nó nằm bồng bềnh.
Mắt Phương sâu róm (San tin rằng người nuôi tóc dài, móng tay dài sẽ yêu
một tình yêu lâu dài). Miệng Phương cười khinh bạc. Nón quay ngược ra
đằng sau. Quần áo bụi bậm. Móng tay dài. San hồi đó hay cười, hay nói líu
lô. Hồn hậu, trẻ con. San trầm trồ :

- Làm nghệ sĩ nổi tiếng chắc sướng lắm hen, thầy ?

Phương cười :

- Không , họ tội nghiệp lắm. À không, Phương đính chính lại, có một
vài người tội nghiệp, như tôi.

San cười khì, “em không tin đâu, thầy sướng thấy mồ”. Phương bảo,
khi nào San trở thành người nổi tiếng rồi San sẽ tin. Có lẽ, Phương là
người đầu tiên nhìn thấy tài năng nghệ thuật tiềm ẩn trong San. Ba năm
sau, San khẳng định mình trên sân khấu thành phố.

Rồi y như lời của Phương, San bắt đầu thấy tội nghiệp mình. San sống
rất mệt mỏi vì không phân biệt nổi đâu là sàn diễn, đâu là cuộc đời. San
thương Phương nhiều, nhiều lắm. Phương thì lúc nóng, lúc lạnh, lúc xa,
lúc gần. Âu yếm nhau trên sân khấu, bước xuống hậu trường Phương than
mà giọng chao chát nghe khẽ như hơi thở, “ước gì tôi nắm được tay em”.
San chìa tay ra, cười, thì có ai cản đâu. Phương nhăn mặt, ” Tôi mà chạm
vào người em thể nào tôi cũng lạc lòng.” San cười mà lòng nghe xót xót,
như chừng Phương khao khát yêu mà không dám yêu, khao khát sống mà
không dám sống. Phương trả lời phỏng vấn báo Sân khấu rằng : ” Tôi thèm
hạnh phúc nhưng không cho phép mình hạnh phúc. Một tâm hồn đầy đủ sẽ
không thể diễn được một tâm tư giằng xé. Vì nghệ thuật, tôi hy sinh cả
cuộc đời mình.” San biết rằng đó là lời anh dành cho San. Nó cực đoan
một chút. Có nhiều người hạnh phúc vẫn diễn rất hay. Nhưng diễn như ma
ám, như điên, như say như Phương thì chưa một người nào làm được. Ở
bất cứ vai nào, anh cũng diễn bằng sự giằng xé, bằng sự khao khát bị kìm
nén. San vẫn còn nhớ tháng hai năm chín mốt, sân khấu thành phố dựng vở
“Đèn không hắt bóng”, khi xua đuổi người yêu – San, viên bác sỹ cao
ngạo, tội nghiệp của Phương đã lặng người quay đi, rơi nước mắt. Giới
phê bình đánh giá khoảnh khắc xuất thần đó của Phương bằng hai từ “quái
kiệt”. Lâu lâu, linh cảm hỏi San, có phải những giọt nước mắt ngày xưa ấy
phải chăng dành cho mình.

San bắt đầu tập quên có Phương trong cuộc đời. Đó là lúc tự dưng San
thấy mình kiệt sức. Cứ chịu đựng một vài lần như San đi rồi biết. Diễn
xong Phương rủ San đi ăn cháo gà, San rối rít tẩy son phấn, ùa ra cửa,
Phương đã về rồi. Phương hẹn lại nhà San chơi, San thắp đèn ngoài cổng
ánh ỏi chờ cả ngày, Phương không tới. Gọi tìm Phương, Phương hỏi “Ủa,
tôi có hứa sao?”. Từ Phương, San rút ra kinh nghiệm, thay vì phải ngồi
nghĩ ngợi điên cái đầu, lời nào thật lời nào giả, tách bạch rõ ràng ra, mệt
lắm, thôi đừng tin nhiều, hy vọng nhiều đỡ thấy thất vọng, mất mát.

San sống như vậy riết rồi quen. Không tâm huyết, kỳ vọng vào cái gì,
không mơ một xa vời, không rút ruột ra tin ai, yêu ai. San thấy mình không
vịn vào ai để sống và cũng không sống vì ai. San sắm sửa được cái vẻ lạnh
lùng, khinh ngạo. Không còn nghe đau xót khi ngửi thấy mùi rượu , mùi
thuốc lá phả ra nồng nàn từ Phương, không buồn khi Phương cà rỡn, âu
yếm với cô gái khác, không nhớ khi một tuần chẳng gặp nhau. Thực lòng,
chị nghĩ, Phương vẫn còn đó chớ mất mát đi đâu. Chỉ có lần, tim San thót
lên nhói một cái khi thấy Phương ôm một nam diễn viên trong bóng tối.
Ánh đèn sân khấu đã tắt. Có lẽ Phương thấy cô đơn lắm. Thương chút đó
rồi thôi. Khi quên mất tiêu con San ngày xưa, về đây, chị bỗng gặp lại
mình.

Buổi tập sáng San cho diễn viên nghỉ sớm, bụng San hơi cồn cào, San
đổ thừa tại mình đói. Giờ nghỉ trưa, San không ngủ được, bồn chồn chờ
đến đầu giờ chiều. Chị muốn lao vào làm việc ngay để quên một chuyện
mơ hồ nào đó.

San lại có điện thoại.

San nhấm nhẳn nghỉ trong lòng , “ Đâu có bao nhiêu người biết mình
đang ở đây ?”. Nhấc máy, giọng Ngạn, ” San ơi, đang ở đâu vậy ?”. San
cười : ” Gọi tới đây rồi mà không biết à? – San lấy giọng nghiêm khắc –
Mình đang ở “ngoài vùng phủ sóng”. Giọng Ngạn hơi run rẩy, “San à,
Phương chết rồi ”. San cười ngằn ngặt.” Ừ”. “Thiệt mà”. ”Ừ”. “San về
ngay nghen”. San dập máy.

Xuống sàn tập, San dựng cảnh cuối của vở. Trúc, cô diễn viên đóng
chính đang cố khóc để diễn cảnh cô con gái hư hỏng thương tiếc người cha
vừa qua đời. San không nói khái niệm, định nghĩa gì hết, chị bảo :

- Em phải xuống nước mắt thật mềm, không có loại nước mắt nào dịu
mềm bằng nước mắt chảy ra từ lòng hối hận.

Trúc khóc lại lần thứ hai thì San lại có điện thoại. Bên kia máy là Mai,
ngườI gọi có khác nhưng nội dung không khác. Mai bảo, Phương chết rồi.
San vẫn ừ hử nhưng đã thôi cười. Vì bực mà thôi cười.

San tự hỏi, bữa nay là ngày gì vậy nè. Đám học trò diễn ồ lên, ” Bữa
nay là ngày Cá Tháng Tư, người ta được quyền nói dối thoải mái mà chị”.
San bật cười. Xem lại ngày hiển thị trên đồng hồ, ngày Một Tháng Tư. Cha
mẹ ơi!.

Ngày này, năm ngoái, cũng đám Ngạn, Mai báo Phương chết. San thiếu
điều lộn ngược ruột gan chạy lại nhà Phương, nhìn thấy Phương đang sân
sẩn ngồi Karaoke, San tức không há miệng nói được tiếng nào. Phương
biết chuyện, Phương nhìn San lâu lắm.”Tôi vẫn còn ở trong trái tim em
sao?”. San bật cười, gờn gợn hỏi lại mình câu ấy. Nhìn Phương cười cười,
chắc Phương lại nói chơi. Bởi vì, San và Phương ai lại không diễn một vai
trong cuộc đời này.

Nhớ chuyện năm ngoái, San đinh ninh, năm nay mình sẽ không bị lừa
nữa đâu. Nhưng chỉ lát sau, San có điện thoại. Lại cồng cộc chạy lên hai
mươi bốn bậc thang, San nói trước “Đừng giỡn nữa mà”. Nhưng bên kia
máy là đạo diễn Lưu, San giật mình hỏi lại.”Có chuyện gì không thầy?”.
Thầy Lưu bảo, Phương chết rồi. San biết thầy mình không bao giờ đùa.
San đứng sững trong văn phòng nhà văn hoá. Một nhân viên trong phòng
gọi San rất to, San tuyệt vọng đẩy cửa, nhưng cánh cửa vẫn im lìm. Có
tiếng người nhắc, hãy kéo cửa về phía sau. San chen ra.

Trúc dẫn xe máy đưa San ra cổng. Trúc dặn chị chạy phải thiệt cẩn
thận, đường đây về thành phố thì xa, đẩy trổ ra ngã tư là quốc lộ, xe cộ
nhiều ghê lắm. San chạy đến ngã tư. Chị không biết ngả nào về thành phố.
Chị chống chân xuống đường giữ cho chiếc xe được thăng bằng. Một nỗi
gì đó chợt ứ đầy trong chị, muốn khóc mà không khóc được. Bao nhiêu
nước mắt đã dành cho vai diễn, cho công chúng hết rồi, chị không còn giọt
nào cho mình. Chị hiểu rằng vậy là vai diễn cuộc đời mình vừa hoàn tất.
Bình sinh, không lúc nào chị hít thở, chị hoá thân mà trong chị không có
một tình yêu cũ, không có Phương. Nó chìm lặng giữa muôn ngàn nỗi đau,
nỗi thương tổn yêu thương chẳng được đền đáp bởi yêu thương. Lòng chị
dửng dưng bởi Phương bao giờ cũng còn ở đó. Nhưng bây giờ Phương mất
rồi, mất thật rồi. Sẽ không còn được thấy Phương phong trần, mệt mỏi,
không nhìn thấy Phương cười, nghe Phương nói… Sẽ không được ôm
Phương trong vòng tay dù chỉ là vai diễn. Chị dấn ga cho xe vọt lên và nấc

nhọc nhằn. Đã có nước mắt. Chị thấy trước mặt mình nhoà đi, kiệt sức, chị
gúc xuống giữa đường. Con đường Trúc dặn, xe cộ nhiều lắm.

Ở nhà Phương, bọn Ngạn, Lưu tụ lại đã rất đông, họ đang chờ đoạn cao
điểm nhất của một ngày vui. Nhà Phương dọn dẹp sạch sẽ, trang hoàng lại.
Không còn vỏ bia lon lổn nhổn, tàn thuốc lá bết vào bàn chân. Phương ngồi
trên băng đá trước nhà, chỗ nầy khi San về, anh sẽ thấy San trước tiên khi
chị vòng qua nhà ông già dân phố ở góc đường và rẽ vào đây. Anh sẽ tặng
một bó hồng đẹp nhất cho San và nói với San rằng, mười năm, anh hy sinh
San cho nghệ thuật là một điều không công bằng, rất không công bằng. Bởi
San là tất cả cuộc sống của anh. Lẽ ra anh không nên đùa như thế nhưng
trò đùa mới có ý nghĩa làm sao rằng một người đã sống lại vì tình yêu một
người.

Nhưng San đã không bao giờ về nữa.

Hôm ấy là ngày một tháng Tư. Ngày nầy, người đời hay đùa lắm.

Trích trong : Giao Thừa, tập truyện ngắn
Nhà xuất bản Trẻ, tái bản lần thứ hai, tháng 5 năm 2004.

Một trái tim khô
Nguyễn Ngọc Tư

Năm Hậu ba mươi chín tuổi, Hậu gặp một chuyện ly kỳ, chạng vạng
trên đường về nhà, qua cua Bún Bò, Hậu bị đâm.

Thằng cha này giết người mà nhát hít, nhắm mắt đâm hai nhát nhưng
chỉ ngoáy trúng bả vai. Thấy Hậu đổ gục, người này còn sám hối một câu,
xong quăng dao xuống mương cống chạy mất. Sau câu nói ấy Hậu mới
thấy mình chết ngắc.

Vết thương lành nhưng Hậu mắc chứng trầm uất, hoang tưởng, rối loạn
tâm thần. Hẳn cái cú sốc chết đi sống lại ấy khủng khiếp lắm. Hậu đã khóc
suốt tháng đầu nằm viện, uống thuốc vào thì ngủ thiếp, thức dậy đã thấy

nước mắt chảy thành hàng (như thể Hậu đã khóc sẵn trong mơ). Tháng thứ
hai Hậu vật vờ, nín thinh nín thít, nằm không muốn dậy (mà đã dậy thì
chẳng muốn nằm), đang ăn rớt đũa Hậu thà lấy tay bốc chứ không thèm
lượm lên. Rồi bỗng một ngày Hậu tỉnh queo, xin bác sĩ cho xuống bếp
bệnh viện nấu cháo từ thiện với chị em, "Chớ rảnh quá biết làm gì bây
giờ". Giỏi giắn, tươi tắn, đến nỗi không ai tin Hậu còn bệnh (bác sĩ nhiều
khi còn không dám tin), nhưng mãi Hậu vẫn không nhận ra chồng. Thường
nhiều lần lại thăm, Hậu ngó lơ, Thường nắm tay, Hậu quạu quọ, mặt nhăn
như khỉ ăn gừng, bảo, tui có chồng rồi nghen, cha nội. Chồng tui tử tế đàng
hoàng chứ đâu có cà chớn như ông. Thường buồn quá, tha thểu ra về.

Hôm mới giải phẫu xong, cảnh đời mới buồn ác liệt. Khi tỉnh dậy, Hậu
chỉ biết tê tái hỏi một câu, "Sao anh đành đoạn giết em?" (trời đất ơi, chắc
là hết chuyện nói rồi). Ba đêm Thường thức trắng, con mắt trỏm lơ, người
căng như sợi dây đàn, lặng người theo mỗi tiếng Hậu rên, hớt hải khi Hậu
trở mình, nhưng đến khi Hậu hỏi câu ấy, Thường mới quỵ xuống, rối rít
gọi em ơi, em à, em sao vậy, thấy đau ở chỗ nào. Anh đây mà, chồng em
đây, không nhận ra anh sao...

Hậu chỉ nhếch một nụ cười tê dại, thấy mình quên thật rồi, điên thật
rồi. Cái người đàn ông đang đứng trước mặt mình đây, là chồng, vậy mà
bây giờ nhìn mặt thấy xa lạ, ghê tởm, thấy mình nẫu lòng ra, muốn chết
quách đi cho rồi. May, sau này Thường không đến nữa, vì bận túi bụi thay
Hậu tiếp nhận chức Tổng giám đốc công ty Mặt Trời, nghiễm nhiên là Chủ
tịch Hiệp hội đồ chơi (những gì Hậu để lại nặng nề hết sức). Thường than
với nhỏ Thỏ, "Gặp mẹ con lòng ba đau quá". Mà, không đau sao được, kỷ
niệm tươi rói như mới hôm qua, hai người cùng nhau nấu bữa cơm chiều,
cùng nhau sơn lại đôi cánh cửa, sửa hàng rào, cụm nụm trồng hành quanh
chậu ớt. Buổi sớm chung xe đến công ty, vào đấy thì mỗi người một phòng
nhưng ngang qua lần nào cũng búng vô cửa kính chóc chóc, để ngẩng lên
ngó nhau cười. Hậu đi kiểm tra công việc ở chi nhánh miền Tây, Thường
gọi điện thoại theo, ngập ngừng hỏi chỗ ấy mưa nhiều không?

Lúc đó, Hậu đang căng thẳng vì phát hiện ra một vụ bê bối tài chính
động trời nên trả lời nhát gừng, lạnh ngắt. Phải biết đấy là cuộc trò chuyện
cuối cùng, thể nào Hậu cũng nói thêm vài câu em nhớ anh em yêu anh lắm,
thể nào cũng nhắc chuyện tình xưa xanh mướt màu rau muống luộc chấm

tương kho, chuyện Thường đạp xe chở Hậu đi dưới pháo hoa những giao
thừa... Mối tình đẹp nhưng cũng nhiều trắc trở, mấy bận Thường tránh đi
vì dư luận đồn đãi Thường lợi dụng con gái nhà giàu, là mấy lần Hậu tất tả
giữ người yêu lại, " Người ta nói gì kệ họ, em tin anh".

Vậy mà bây giờ lạnh lẽo, tan hoang như đồng sau bão, đến nỗi hay tin
Thường lấy vợ, Hậu dửng dừng dưng, tỉnh bơ ba khía. Lòng chỉ se đau khi
thấy nhỏ Thỏ mặt xìu co, tủi buồn ngồi thút thít, nó chờ Hậu khóc quá trời,
chỉ có nước mắt rơi là hy vọng một trí nhớ, một tình yêu, một mái ấm về
lại... Hậu biết nó nghĩ gì nên ôm lấy đôi vai nhỏ, bảo "Chừng con lấy
chồng, mẹ khóc cho con coi ". Thỏ mếu máo cười, ai mà thèm... Rồi mẹ
với con nhìn buổi sáng đã lên cao, nghe mùi gió chướng ngọt ngào, thấy
chỗ u ám như bệnh viện mà trời xanh, trời đẹp như vầy, chắc ở ngoài kia
nắng nhuộm đời tươi rực rỡ. Hậu bảo con, sẵn bữa nay mẹ xuất viện cho
rồi. Thỏ phì cười.

Tưởng nói chơi, nhưng Hậu ra viện cũng đơn giản như trả phòng khách
sạn. Đã mướn sẵn một căn nhà nhỏ như hộp diêm quẹt nằm trong con
đường cũng nhỏ, Hậu dọn ngay vào đó. Hàng xóm gầy gò ra xe đỡ ít đồ
đạc còm nhom. Buổi chiều, Thỏ chở sách vở, quần áo, búp bê... lại, kêu
Hậu ngồi nó chải tóc cho, bảo thiếu con mẹ bê bối cho coi. Mà, mẹ ơi, con
nghỉ chơi với ba rồi...

Hậu trở lại bệnh viện, xin việc. Người ta dành cho Hậu một chỗ làm ở
khoa ngoại thần kinh. Công việc đơn giản chỉ quét dọn và săn sóc bệnh,
nhưng những người trước bỏ việc vì sợ. Hậu thì thấy chỗ này dễ thương.
Đi qua căn phòng cũ, nắng vẫn chênh vênh đeo ngoài cửa sổ, nghĩ tức
cười, sao mình có thể ở đây từng ấy tháng trời vậy cà. Để kết bạn với đám
người buồn cười, một cậu nhóc múa may vèo vèo, kêu Chỉ Nhược nàng ui,
nhoẻn miệng cười khi Hậu gọi lại bằng Vô Kỵ. Một phụ nữ trạc ba mươi,
chín năm trời giắt hoa lá trên đầu thi hoa hậu, rớt ngay phần ứng xử :
Trước hết, em xin cảm ơn các đấng sinh thành, sau đó cảm tạ cha mẹ đã đẻ
ra em... Một anh chàng làm thơ không hiểu nổi, nhiều lúc giảng thơ cho
Hoa Hậu nghe, tự mình ngất ngư cười, câu này tui hổng biết viết về cái gì.
Một ông đẹp người, hiền hậu, lên cơn thương nhớ vợ mới xé áo quần. Có
lần ông lẻn ra ngoài, trèo lên lan can tầng bốn ngó xuống sân gọi vợ hời
hời, Hậu dịu dàng kêu: "Xuống đây với em, mình ơi", ông trở xuống, ở

truồng tồng ngồng, ôm Hậu vào lòng, ông khóc. Hậu cũng khóc, trong
vòng tay ấm mà nghe mình lạnh ngắt, khóc cho một trái tim đã chết ngoẻo
cù nèo.

Chết ngay ở cua Bún Bò, ngay sau khi thằng cha giết mướn run rẩy
bảo, "Đừng oán tôi nghen, có oán hận thì oán chồng bà". Trong một thoáng
Hậu xâu chuỗi các sự kiện lại. Chồng mình. Khoản tiền thất thoát. Cô kế
toán trưởng chi nhánh miền Tây. Những lời đồn đại (mà trước giờ Hậu
chẳng tin)... Hậu nghe tim mình vỡ bục ra, giãy đành đạch rồi nín luôn.
Sau coi phim thấy cảnh hiếp đáp éo le cũng không thương khóc nữa (hoàn
cảnh ấy thì sức mấy mà đau bằng mình). Có lần đi chợ gặp Thường, Hậu
ung dung chào, hỏi. Xong đứng nấn ná ở đấy trông tim nó lồm cồm ngồi
dậy nhói chơi, nhưng không ăn thua, nó lặng như tờ.

Trái tim đã mắc chứng vậy nên tội mấy ông đi qua đi lại tán tỉnh tòm
tem, nói thương em quá chừng. Hậu cười, thương thiệt hông à, lúc trước
tui bị điên đó nghen. Ai nghe nói cũng sửng sốt, chạy dài, dù có tiếc hùi
hụi, chắc lưỡi, than, "Đẹp vậy mà điên, uổng thiệt". Nhưng tưởng tượng
thử coi, hai người đang ngủ bỗng dưng vợ bật dậy lấy dao kề cổ ta, cười
khà khà khà, quá ớn.

Chỉ Nhâm còn lại, Nhâm cười, ai cũng một thời điên, vì quá sung
sướng, quá khổ đau, vì danh vọng... Nói tới đây, Nhâm thảng thốt cúi đầu,
tôi đã có lần điên vì tiền, lúc đó, con gái tôi đau nặng lắm... Hậu gật đầu
miệng ờ ờ (như đã chứng kiến cảnh ấy rồi, đã biết tỏng rồi), nhưng chưa
thôi dọa thêm, "Nhâm không sợ thiệt sao? Tôi điên là quên chồng tuốt
luốt". Nhâm cười, "Tôi sẽ làm cho cô Hậu nhớ tôi hoài". Mà có vẻ như
Nhâm chẳng làm gì thì Hậu cũng nhớ, cũng hay nghiêng ngó người ta.
Nhâm ở kế bên, hai nhà chung vách, mới đầu Hậu không thấy mặt, chỉ
nghe tiếng cơm sôi, tiếng đập muỗi. Và những cái thở dài xao xác như lá
rụng hoa rơi. Thằng cha nào mà coi bộ đời cũng buồn, Hậu nghĩ, đến nỗi
không nghe tiếng con nít cười, tiếng đàn bà càu nhàu chạy gạo. Một bữa
Hậu mở cửa ra, đá nhằm Nhâm nhậu say nằm ngủ đại dưới thềm. Kỳ cục
thiệt, không hiểu sao Hậu thảng thốt, nghe tim nhót lên một cái, chết cha,
mình với thằng cha này có duyên gì mà gặp ở đây.

Nhâm thì tin là có duyên phận, bởi nhìn Hậu, Nhâm thấy thương như
gặp ở kiếp nào, hồi nào... Mỗi chiều về, thấy mẹ con Hậu ngồi trước cửa
nhổ tóc sâu, Nhâm thấy lòng êm đềm như cỏ. Cứ muốn ngồi gần đấy cho
đủ một chòm hạnh phúc, để bình yên nhả khói thuốc lên trời. Nhâm
thương cả nhỏ Thỏ, một lần nó bước qua khi Nhâm mới vừa ngủ dậy, thảng
thốt, bàng hoàng, Nhâm kêu lên hai tiếng con ơi. Để rồi bẽ bàng nhìn nhỏ
Thỏ cười.

Nụ cười đó, con gái Nhâm không bao giờ có. Thương Nhâm, nó chỉ
thiu thỉu gượng nhếch môi mỗi khi chuẩn bị vào phẫu thuật. Rồi tới một
ngày nó thôi không cười được nữa, dù là một cái cười thiêm thiếp, xanh
leo lét, như mộng mị, chiêm bao...

Nó đi rồi, Nhâm nhậu suốt tháng sau, định là sẽ nhậu hết nửa đời còn
lại. Đỡ hết biết, một ngày kia mẹ con Hậu đến, chui vào cái hộp kế bên,
cười giòn, họ còn kéo ra sàn nước, chỗ tắm giặt chung, con xối nước cho
mẹ gội đầu. Hình ảnh ngọt ngào vô phương.

Nhâm phụ hồ ngoài công trường, mong ngày qua mau, chạy về nhà, có
khi chỉ để coi Hậu ngồi giặt áo. Nhỏ Thỏ cười, kéo Hậu lại thông báo tin...
buồn, ông đó mê mẹ quá trời. Ờ, mà ổng coi bộ hiền hén, tại đời cũng buồn
quá. Hậu gật gù. Đẹp trai. Mũi cao. Nhưng để râu tóc quá dài, dọn lên sẽ
đỡ hì hợm. Hơi bê bối, Thỏ nói, bằng chứng là bạ đâu ngủ đó. Con người
có vẻ phức tạp, vì chơi với mấy người cũng có vẻ... phức tạp. Cái thẹo
dưới cằm quá ấn tượng, gặp một lần chắc là khó quên, Hậu nói với vẻ như
đã biết rành, nhưng cái tâm lương thiện. Con thấy sao? Mẹ thấy sao? Hai
mẹ con bình luận như đang đứng trước máy giặt sắp mua về.

Sau đó là một mùa mưa dài, chuyện của Nhâm với Hậu không có biến
động gì lớn. Cũng đi qua đi lại, cũng bịn rịn trong lòng, cũng giả đò kiếm
chuyện nói chơi, nhưng thay vì trong bối cảnh nắng ngột cả người bây giờ
hai người nhìn mưa rơi. Nhìn nước bò lên ngập đám cỏ đằng trước, mấy
con cá nhỏ đủng đỉnh lội tới lội lui, thò lỏ nhướng con mắt coi lũ người ta
chẳng ra gì. Nước tràn vô nhà ngập nửa ống chân, bèo hoa dâu trôi bồng
bềnh chân giường, đi làm về Nhâm qua nhà, hì hụi tát. Bữa sau nước lại
chảy vào, không thấy Nhâm than, biểu Hậu cứ ngồi trên giường, bôi thuốc
lên mấy chỗ nước ăn. Có đám trẻ lội bủm xủm đi qua hát rằng "Ước gì

mình đừng ngăn cách, ước gì nhà mình chung vách, anh... khoét tường...
hú hí với em". Hậu lắc đầu, "Con nít nhà ai mới tí tuổi đầu mà quỷ quái",
Nhâm cười, sẵn nói luôn, "Tôi tháo vách thiệt à, cô Hậu".

Câu này, Hậu coi như là lời tỏ tình, thì đã là lần thứ năm. Tính luôn
một bữa đòi góp gạo nấu cơm, một bữa đòi trả tiếp tiền nhà, một bữa nhỏ
Thỏ bị đứt chân mà mắc cỡ không cho Nhâm cõng, Nhâm gắt, thì cháu cứ
coi tôi như cha, một bữa gió buồn thiệt buồn, Nhâm nói phải chúng ta ở
chung nhà chắc là vui lắm...

Vui gì, chuyện tình này chắc bỏ lửng lơ như vậy thôi. Hậu vẫn nói cái
câu, "Nhâm đâu có hiểu nhiều về tôi..." để thay lời từ chối. Bởi Hậu gật
đầu, hẳn nhiên hai người sẽ lấy nhau. Sau bữa tiệc nho nhỏ sẽ là đêm động
phòng (chớ còn gì nữa), Nhâm sẽ phát hiện Hậu có một cái thẹo lớn trên
vai. Thể nào Nhâm cũng hỏi tại sao, mà Hậu không nghĩ ra được câu
chuyện gì để nói. Kể sự thật rằng một bữa đi qua cua Bún Bò, Hậu bị đâm,
sợ Nhâm sẽ đau. Tuần trăng mật chưa bắt đầu đã lịm buồn, dở cười dở
mếu...

Nhiều khi không thể tin được, làm gì có chuyện trùng hợp lạ lùng vầy.
Nghĩ đời thiệt mắc cười, sao biết nhau ở đây, để thương nhau đến mức này,
để rồi nhận ra lúc trước đã gặp gỡ một lần, ở cua Bún Bò, trong một tối
đèn thì u ám vàng vọt mà cái vệt sắc lạnh của con dao lại lóe lên...

Đăng báo giấy Thanh Niên
Lên mạng này ngày 9-5-05

Tản mạn quanh... cái cổng

Nguyễn Ngọc Tư

Sớm mai chạy bộ đã thấy dăm ba người ngồi tum húm ở đó, giỏ xách
quai bị lỏng chỏng, còn anh chàng cảnh vệ thì đang lóng ngóng đứng ngồi
với vẻ mặt cảnh giác cao độ, tôi nghĩ trong bụng, chắc sáng này có chuyện

đây. Mà thật, lúc vòng xe qua tượng đài để đến cơ quan, thấy cổng ủy ban
đang nhốn nháo. Nhiều người hiếu kỳ dừng xe lại coi, mấy anh cảnh sát
trật tự thổi còi biểu đi đi, có gì lạ đâu mà coi. Ừ, có gì lạ đâu...

Cảnh này diễn ra hà rầm, thành ra cánh cổng ủy ban quá quen với việc
kiện cáo vượt cấp thời mở cửa. Dân mình cũng ngộ, thấy ấm ức, thấy
không hài lòng, thấy bực bội… vậy là kéo lại ủy ban, đòi gặp chủ tịch tỉnh
chơi. Mà phải chủ tịch chứ không phải ai khác à. Tưởng tượng như đây là
phủ Khai Phong, mà chủ tịch là Bao Công (vì ông quan này xử đủ thứ án,
cả hôn nhân gia đình, cả giang hồ hiệp khách, cả âm mưu soán chúa đoạt
vua…), nên bà con đòi nhiều chuyện khó động trời. Có vụ việc đã xử ở tòa
án tối cao rồi nhưng bà con vẫn nằng nặc đòi chủ tịch coi lại (?!). Có vụ
việc đề nghị chuyển qua ban tiếp dân nhưng dân lắc đầu nguầy nguậy, nói
với giọng dứt khoát: “Đâu được, quyết định đó là chủ tịch ký mà, chủ tịch
mới biết chuyện để nói với tụi tui chớ”.

Rốt cuộc thì chủ tịch đâu lo xiết mấy chuyện lặt vặt này, ông còn phải
lo họp hành, hoạch định chính sách để đưa tỉnh thoát nghèo (nhức óc lắm,
bởi đã suy nghĩ biết bao lâu rồi chưa tìm ra con đường nào khả thi). Rốt
cuộc cánh cổng đóng im ỉm mỗi khi dân lại “hỏi thăm”. Cán bộ ra nói
chuyện phải quấy với dân phải đi bằng cửa phụ (và được ngụy trang tuềnh
toàng, cực kỳ bí mật), nhân viên ủy ban có đói bụng cũng uống cà phê sữa
đá cầm chừng, chứ ra ăn bên ngoài nhiều quá dân phát hiện cái cửa nhỏ xíu
đó, kéo lại bao vây nữa thì phiền.

Trước đây, khu vực ủy ban, tỉnh ủy và các ban tuyên giáo, ban kinh tế
liên thông với nhau, đi vào bất cứ một cổng nào rồi vòng vèo, luồn lách
qua mấy con đường nhỏ xanh xanh cây cỏ được tỉa tót kỹ càng là đến được
các cơ quan còn lại. Tôi rất khoái, vì nó vắng vẻ, nên thơ, mà có qua ủy
ban, tỉnh ủy đưa thư, tặng báo tôi không phải ớn xương sống vì vẻ mặt
lạnh tanh của anh bảo vệ, bằng cái vẻ cảnh giác (chắc vì tướng tôi cù lần,
da lại đen, mặt lúc nào cũng đăm đăm suy nghĩ như mang oan khuất trong
lòng) anh hỏi những câu chả sử dụng chủ ngữ: đi đâu đây, vô trỏng làm gì,
gặp ai, có hẹn trước không? Rủi cái là bà con cũng biết con đường này,

nhiều lần xộc vô tới văn phòng, hỏi, chủ tịch đâu cho tôi gặp chút. Chắc có
người sực nhớ ra, ủa, ở đây là ủy ban, tỉnh ủy mà, sao có thể để dân vô ra
như đi chợ được. Rồi những bức tường được dựng lên ngăn các cơ quan
thành những khu riêng biệt. Cái cổng chính trở nên quan trọng, tất nhiên,
một khi đã ý thức được điều đó, nó bỗng làm ra vẻ đạo mạo, thâm nghiêm,
xa cách (người ta cũng vậy thôi). Đến nỗi cỏ mọc xanh rì theo các viền
gạch vỉa hè (vì cả đi bộ người ta cũng không dám đi gần tường rào).

Nên ai lảng vảng ở đó thì chỉ có một mục đích duy nhất: gặp chủ tịch.
Để kêu oan quá chủ tịch ơi, để hỏi sao ký quyết định thu hồi đất của tui, để
méc là thằng kia giết con tui, sao tòa xử nhẹ hều… Xứ có hơn một triệu
dân, bao nhiêu là bức xúc. Nhiều sự việc đã giải quyết nhão nhừ ở xã, ở
huyện nhưng bà con ngờ vực có bao che, thiên vị, có “ăn” ở trỏng (thấy
chưa, làm dân mất lòng tin bây giờ khổ vậy đó, có công tâm, thật lòng
cũng chẳng ai chịu nghe). Có người bị giết hôm trước, hôm sau thân nhân
đến (cổng) ủy ban, gào khóc kêu chủ tịch tỉnh cho xin tí công lý, vì thủ
phạm là cháu của bí thư phường, con bên sui của trưởng công an thành
phố, nên tới bữa nay vẫn chưa bị bắt, vẫn nhơn nhơn ngoài đường. Kỳ họp
hội đồng nhân dân nào cũng gai gai người khi thấy một chị bưng tấm ảnh
thờ của chồng lại để ở cổng. Hỏi kỹ cũng là chuyện tranh chấp đất cũ
mèm, chị nói đất đó là của chị (mà tôi cũng tin nó là của chị, mới uất đến
nỗi bưng ảnh chồng đi lêu lêu ngoài nắng như vầy) nhưng tuyệt không có
lấy một miếng giấy gì chứng minh (vậy thì lý đâu để chị thắng kiện). Nên
có xử thế nào, đã đạt lý thế nào chị cũng cảm thấy ấm ức, buồn lòng nên
lại cổng ủy ban ngồi, chờ đợi một cái gì không rõ ràng, và ngày càng tuyệt
vọng. Có đoàn (chắc là ở huyện lên) còn nhóm lửa nấu cơm ngay đằng
trước chốt gác, “chờ chừng nào gặp được chủ tịch mới về”.

Thấy cổng cơ quan bị “sức ép” quá, tỉnh cử phó chủ tịch tiếp dân vào
thứ bảy hàng tuần. Nhưng phó chủ tịch thì không phải là… chủ tịch, nên bà
con chưa thỏa mãn mấy. Mà một tháng có bốn buổi tiếp dân thì thấm tháp
gì, chưa kể nhiều khi phó chủ tịch bận đi công tác, đi dự hội nghị hay…
bệnh, chưa kể nhiều vụ việc quá phức tạp, phải hỏi lại các cơ quan có liên
quan. Vậy là người ta tiếp tục chở nỗi đau, nỗi buồn, nỗi oan khiên, mất
mát… về cổng ủy ban tỉnh.

Hệ lụy là những nhân viên nho nhỏ như tôi (cả nghĩa đen lẫn nghĩa
bóng, tức là chưa có cái vẻ đường bệ nhìn vô là biết cán bộ nhà nước mà
cũng chưa xuất hiện trên báo, trên ti vi, cái mặt lạ khù), vô ủy ban liên hệ
làm việc, vừa tới cổng đã mất lửa ngay (do cái mặt anh bảo vệ quá lạnh).
Hệ lụy là những má, những chị ở quê, một bữa nhớ quá những đồng chí đã
cùng nằm gai nếm mật hồi kháng chiến, sẵn đi chợ nên ghé thăm. Nhưng
thật khó để vào, nghe xin vô để gặp chủ tịch, bí thư là anh bảo vệ nghi rồi,
mà lý do vô gặp cũng không rõ ràng, không được hẹn trước… (cũng có
mấy người nói là bạn bè chiến đấu xưa, nhưng vô gặp được chủ tịch thì
đưa đơn thưa, báo hại bảo vệ bị rầy, nên bây giờ phải cảnh giác). Khách
đành ngậm ngùi dừng ở đó, quay về.

Đến lúc người xa khuất mất tiêu, anh bảo vệ mới tin là họ chẳng kiện
thưa gì, vì họ tủi hờn đi mau. Đó là chỗ phân biệt, người ấm ức thì sẽ nấn
ná, kêu gào, sẽ chờ mòn mỏi thật lâu. Bởi tới đây là người ta đã hết đường
“đi”, đã không tin tưởng bất cứ cơ quan công quyền nào khác, không nghĩ
ở đâu giải quyết mau lẹ, công tâm bằng chỗ này.

Nhưng đến đây rồi, chưa chắc đã gặp nhau. Cổng thì quá cao…

Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn
28-4-05

Bùa yêu và con nhỏ thất tình

Tạp văn

Cuối cùng thì thiệp cưới cũng đã đến tay, thằng bạn mà mấy lâu con
nhỏ thương thầm sắp lấy một cô giáo nông thôn lạ hoắc. Con nhỏ buồn
muốn chết. Buổi sáng nó còn tỉnh táo ăn cơm với cả nhà, nở mấy nụ cười
méo xệch, chứ hiu hiu chiều là chực khóc. Trời ơi, sao mà nhớ, mà thương
cái thằng đó quá chừng. Thấy cây cúp móng con nhỏ nhớ bạn mình có tật
thích để móng tay dài. Nhìn tóc cũng nhớ tóc bạn dài. Nhớ chằng nhớ chịt.
Đến nỗi coi sư tử Châu Phi trong ti vi cũng thương tiếc cồn cào, thì lần
trước có dịp ngồi với nhau xem chương trình “thế giới động vật”, thằng nọ

bảo trong nhóm bạn mình, con gái đứa nào cũng dữ như sư tử, chỉ có con
nhỏ là hiền, hiền thấy mà thương (vậy mà không chịu cưới người ta dùm
cái).

Má thấy xót con quá, chạy đi than thở hàng xóm. Hàng xóm mách
nước có ông thầy bùa Chà trong hẻm Tèm Lem hay lắm. Ổng cho một tấm
bùa, kéo thằng kia quay lại, mấy hồi.

Con nhỏ nghe má nói lại, con nhỏ cười, “Thí dụ như bùa linh nghiệm
thì ảnh sống bên con cũng đâu phải của con”. Ừ ha. Nói phải à. Sẽ khổ sở
rất dài khi mắt ta thấy những cử chỉ thương yêu, tai ta nghe những lời nói
ngọt ngào mà trong bụng ta biết tỏng tòng tong tất cả đều không thật. Lúc
đó ta sẽ chết dần mòn vì đau tủi, chắc còn vất vả hơn giai đoạn thất tình
bây giờ, khi cứ canh cánh trong lòng: thằng cha này tình tứ với mình là
nhờ… tấm bùa chứ chẳng xuất phát từ tình yêu gì đâu. Và cái cười dịu
dàng kia, ánh mắt ấm áp kia, nụ hôn ngọt ngào kia, vòng tay nồng nàn
kia… thấy vậy mà không phải vậy. Ta nhìn cuộc đời thấy lệnh lạc, mất mát
ít nhiều. Đó là chưa kể phải thoi thóp lo âu, sợ tự dưng một ngày bùa
thiêng hết tác dụng, thằng bạn rùng mình một cái, ngơ ngác hỏi ủa, sao hai
đứa mình nằm chung giường vậy, xin lổi nghen, chắc tại hồi hôm tui xỉn
quá nên chui ẩu vô mùng bà. Rồi thằng bạn nhìn vẻ mặt đau đớn của ta,
kinh hoàng: “Trời đất ơi, bộ tui đã làm gì bậy bạ sao ?”. Tất cả sẽ chấm
dứt ở đó, thằng nọ phủi sạch những ngày tháng mạn nồng cái rột, bỏ lại ta
một mình chìm dưới đống kỷ niệm thương yêu. Với ký ức trống trơn,
thằng nọ phơi phới ra đi, còn ta thì nhớ hoài, đau hoài…

Rốt cuộc, con nhỏ thất tình kết luận, “má ơi, vụ bùa yêu con thấy
không bền, Tình cảm xuất phát từ tấm lòng mới quý. Níu kéo làm chi
những cái không phải của mình…”.

Ui chao. Giật mình. Hết hồn hết vía. Những chức tước, bổng lộc… mà
người ta đang chạy rần rần để tranh giành, chiếm đoạt, để xin… một tí coi
kỹ thấy giống bùa yêu lắm nghen. Nó sẽ làm cho tâm hồn người ta không
yên ổn, mất mát và nơm nớp dai dẳng.

Con nhỏ thất tình quyết định không chơi bùa. Nhưng sẽ còn nhiều,
nhiều người sẽ hỏi đường vô hẻm Tèm Lem để kiếm ông thầy. Nghĩ mà
hồi hộp quá trời…

(Lên trang này ngày19-3-05)

Hư ảo rồi tan...
Tạp văn

Cuối cùng, mình đã biết mình có nhiều chỗ không giống... người ta.
Như sớm nay, thấy người bưng thúng củ kiệu qua nhà, đáng lẽ, phải nghĩ
ngay tới món dưa kiệu chua hay kiệu xào tép mình lại chớm nghẹn ngào.
Ui chao, tội ông Táo nhà mình, Tết này lên trời biết nói gì về gia chủ ?

Kể chuyện mình chuẩn bị một bài phỏng vấn cho báo Tết từ hồi... đầu
năm ư? Bài phỏng vấn mà mình mường tượng trước là sẽ hay lắm, gay go
lắm, trò chuyện tay đôi một quan chức gần đầu tỉnh chứ giỡn à. Mình sẽ
hỏi những chuyện thường thôi, những chuyện mà phóng viên khác không
thèm hỏi, chẳng hạn như ông có mệt mỏi không với những cuộc tiếp khách
triền miên, có khi nào ông nhớ một bữa cơm gia đình, ông thường chơi
môn thể thao nào, thí dụ như ông trả lời là chơi tennis (như giới quan chức
vẫn thường yêu thích), mình (tưởng tượng) sẽ “bẻ” ngay, “sao ông không
chạy bộ lúc sớm mai (trời ơi, chạy bộ sẽ biết được nhiều thông tin, sẽ hiểu
nhiều nỗi lòng của dân lắm nghen). Mình đọc tham khảo cả một cuốn sách
dày “Sáu lần gặp PUTIN” chỉ để rút ra câu hỏi hơi... cà chớn, “Tại sao có
nhiều người chức càng cao bụng càng to ?”. Mình sẽ hỏi về những trăn trở,
âu lo, những buồn vui vô cớ, mối tình đã qua, rung động đầu đời...mấy cái
này coi bình thường vậy mà ăn khách lắm, mới mẻ lắm, đồng nghiệp chưa
làm (thì giở báo ra họ toàn hỏi ông kết quả thực hiện nghị quyết, phương
hướng sắp tới ra làm sao, chỉ tiêu đặt ra như vậy có gì khó khăn không.
Ông này cũng trả lời cực kỳ hành chánh, nào là nhìn chung khả quan, tổng
thể khách quan, cũng còn hạn chế, có ưu điểm nhưng cũng tồn tại khuyết
điểm..). Lâu nay, báo chí xứ nhà ít viết về chân dung các nhà lãnh đạo, một
chân dung gần gủi, đời thường như bác nông dân, như chị bán khô khoai,
khô mực... Nên nghĩ tới bài phỏng vấn mình thấy sướng rơn lên, thậm chí
nhắc tới tên ông, tim có chút đỉnh xao xuyến (chết thật, tại nhập tâm quá
ấy mà)

Nhưng cuối cùng mình có làm được bài phỏng vấn mơ ước ấy đâu.
Chưa kịp viết gì, ông lãnh đạo nọ đã ra đi khỏi trái tim mình, bằng vài
chuyện sai lầm mà… ông Táo không hiểu nổi. Mình thấy lòng toang hoác,
bẽ bàng (lặng lẽ vẫn tay chào thần tượng vừa rụng như sương, vừa chết
ngắc bên đường mà mình chẳng dám tin, tưởng đâu…).

Báo hại, ông Táo không thể tâu với Ngọc Hoàng về câu chuyện dỡ
dang này của mình (mặc dù đáng kể nhất trong năm). Nhưng ông Táo sẽ
ấm ức lắm, ông tự hỏi sao nhỏ gia chủ không lăn lộn vào cuộc sống nông
thôn mà viết, như năm ngoái năm kia, ông đã tự hào với Ngọc Hoàng biết
bao nhiêu khi nó nói lên được cái cực nhọc, cái đói nghèo của người nông
dân đang bời bời đi qua những cơn bão rớt. Sao nó không viết một mùa lúa
“ngã về không”, một mùa trắng tay vì hạn sớm của bà con Cái Nước, Phú
Tân, Trần Văn Thời… Những nỗi niềm trần ai, những nỗi đau đắng đót của
người oan khuất. Sao con nhỏ gia chủ không viết về bà con nông dân cho
chắc ăn, hay nó nghĩ đề tài đó không sang trọng, nó thay đổi rồi.

Ông Táo nghĩ vậy chẳng oan chút nào, mình cũng thấy không giống
chính mình, lúc trước. Đám giỗ nhà má, mình đủng đỉnh nhón món này,
nếm món kia, mà không biết keo đường, hủ muối nằm đâu khi có bà con
hỏi (góc bếp đó ngày xưa mình gắn bó biết chừng nào). Bỗng thấy mình là
con mà như khách, như người dưng, như kẻ qua đường... Mình mất hết bạn
bè vì tính lợt lạt, dửng dưng và tuỳ hứng. Chớ chuyện như vầy thì sao hàn
gắn được, ba năm tụi mình mới có dịp gặp nhau tưng bừng, vậy mà tối đó
mình bỏ đi ngủ (nghĩ còn mai, còn mốt), nhưng sáng mở mắt ra bạn đã đi
rồi, chẳng uống được chén rượu tiễn đưa, để say ngà ngà, thảng thốt đọc
câu thơ “sao lại chia tay ngỡ ngàng như dễ...”. Như nước chảy qua cầu,
mãi mãi không trở về được, có dựng lại khung cảnh ấy với những người ta
yêu mến ấy cũng lạt nhách cảm tình.

Đã thấy thời gian ghê gớm vậy rồi mà mình có tỉnh ra đâu (nên ông
Táo mới tức cành hông). Mình bỏ mặc bụi đóng lớp trong nhà, bỏ ông Táo
dơ dáy, xo cò trong gian bếp lạnh, tối ngày chổng mông vô xấp Tạp chí về
nhà đẹp, vườn đẹp, phòng đẹp để… tham khảo. Nhà mình ấy à, sẽ là một
ngôi nhà mặt trước ấn tượng với những mảng màu, phòng ngủ ở tầng trên
cùng, giường, tủ giống hệt như trong phim Hàn Quốc, tầng lửng đặt ti vi
màn hình phẳng và dàn âm thanh hi-end, phòng khách trang trí sang trọng
với bộ bàn ghế màu mỡ gà, có hòn non bộ, nước chảy róc ranh dưới chân
cầu thang. Và còn một căn bếp sáng choang với hàng hàng tủ kệ, ông Táo
tha hồ ăn sung mặc sướng ( Nhưng ông chỉ lắc đầu, sao không làm ơn quét
bụi, dọn dẹp nhà cửa, móc rác dưới tủ chén ra dùm tui, lo chăm chút chi
ngôi nhà mơ ước còn thăm thẳm trên… trời). Mình háo hức dạo cửa hàng,

đi shop chỉ để ngắm quần xanh áo đỏ (cho thoả mãn nỗi thèm thuồng chớ
tiền đâu mà mua), tội chồng con ở nhà ăn mặc nhếch nhác, nhăn nheo. Áo
chồng đứt chỉ, áo con đứt nút mình quấn xà nùi để đó, chúi đầu vô coi
những bộ phim mà chỉ cần giới thiệu diễn viên là đã biết tỏng tòng tong
tình tiết, cốt truyện, biết luôn đoạn kết ra làm sao.

Rốt cuộc, mình không làm gì coi cho được (dù chút xíu thôi, để làm
thuốc).

Chắc ông Táo không đành lòng nhìn gia chủ chìm lút trong hư ảo. Ông
khiến chuyện này chuyện nọ để cảnh tỉnh con nhỏ đang sợ sống… Ông cho
mình gặp Chị, cho mình than, ui, thời gian trôi thiệt là mau. Và Chị cười,
đâu phải vậy nà. Bốn mươi tám tuổi, Chị chưa chồng, mùa cưới năm nào
cũng đùa cợt dẳng dai. Quẩn quanh bên giường bệnh của má, Chị thấy một
năm qua lâu thật lâu, bằng những khắc khoải, lo âu khi má nói má đau, khi
má ho khan lúc trời trở gió. Mới rồi má về với đất, Chị đùm bọc đám em
khờ, và năm tới của Chị sẽ qua thật lâu vì nhớ má. Thời gian chẳng là gì
cả, khi người ta sống hết mình.

Như người bán vé số đã đi đến tận cùng ngày, mang chút tiền lời mua
gạo nuôi con.

Như người nông dân nhọc nhằn đến cuối mùa, mong thay lá mới cho
căn nhà đã dột.

Như…

Chắc ông Táo xui gió Chướng rập rờn qua cửa, xui người rinh thúng củ
kiệu đi qua để cho mình đắng đót buồn, mai tới rồi, đã hết hôm nay mà
mình chưa kịp sống.

Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 10-2-2005
(Lên trang này: 18-2-05)

ƠI CẢI VỀ ĐÂU ?

Đoàn ca múa nhạc giải tán, thằng Quách Phú Thàn dẫn ông già Năm
Nhỏ về ngã ba Sương, Thàn có nhỏ bồ mới quen bán quán ở đó. Con nhỏ
tên Diễm Thương, nghe hay, mà khuôn mặt cũng ngộ, không đẹp nhưng
bình thản, lạnh trơ, không ra vui, buồn, đố ai biết nó nghĩ gì. Nó hất mái
tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười héo hắt,
“Ăn bám mà kéo theo cả bầy”. Thàn cười hề hề, bảo “Ông Năm, bạn anh.
Dễ thương lắm”.

Đêm đó ông già không ngủ được, thằng Thàn đi chơi nửa đêm mới mò
về, thấy ông ngồi khọm rọm ngồi ngoài vách mùng, điếu thuốc cháy lập
lòe soi bộ râu xơ xác. Thàn mở dây giày, hỏi, “Nhớ đoàn quá, ngủ không
được hả tía ?”. Ông già lắc đầu, thở dài, nghe buồn xa xắc như lá rụng hoa
rơi, bần thần, điệu này hỏng biết cách nào tìm cho ra con Cải.

Ông đã đi tìm con nhỏ gần mười hai năm. Lúc Cải mười ba tuổi, một
bữa mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó trốn nhà. Cả nhà tong tả đi tìm
nhưng mãi con nhỏ không quay lại. Vợ ông ôm cái áo con Cải khóc, bảo
chắc là ông để bụng chuyện nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà
khắc, đuổi xua. Ông đau mà không nói được một lời, ông đã nâng niu nó
khi mới thôi nôi, đã vui khi có người bảo con nhỏ giống ông in hệt (dù biết
họ khen khơi khơi, khen bổng trên trời), đã sướng rơn khi nó gọi tiếng ba
ơi, con Cải đi rồi, ông đã xuống nước mắt khi đi qua chiếc giường trước
kia nó ngủ. Có bữa, ông hì hụi ém mùng, rồi ngồi một góc, nhìn chiếu gối
thênh thang, lòng chết điếng vì nỗi nhớ con, vì lo nó lưu lạc giữa đời. Như
thế mà ông không thương nó sao ? Như thế mà là không thương à ? Nhà
buồn u buồn ám, vì đã ít người rồi bây giờ lại chẳng nhìn, chẳng cười nói
với nhau. Sau, người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một chỗ đất
nào, họ kìn kìn lại coi (ai mà giàu tưởng tượng vậy không biết). Ông khăn
gói bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm được con Cải về.

Ai dè, biển người mênh mông. Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong
đoàn ca múa nhạc, để trước giờ diễn, ông mượn cái micro nói vài câu “Cải
ơi, ba là Năm Nhỏ nè con...”. Bữa nào thằng Thàn nhớ nhà, nghe câu ấy nó
cũng rướm nước mắt, bảo “con thương ông già con quá, tía ơi”. Hôm đi ba
Thàn còn cầm khúc bình bát bằng cổ tay rượt nó chạy ngời ngời, nhảy
xuống đò, nó ngoái lại nói để con làm ca sỹ nổi tiếng cho ba coi, thấy ông

dứ cây lên trời. Hai năm, ông già đã chỏng đầu cây xuống đất, tựa vào đó
để bước đi, tên tuổi Thàn mờ mịt. Thàn bùi ngùi, người ta Quách Phú
Thành nổi tiếng Hồng Kông, tui thiếu có chữ h, lẹt đẹt bên hông Chợ Lớn.
Nhiều bữa hát ế ngoi ngóp nằm nghe mưa dầm, nhiều bữa đứng soát vé bị
bọn du đảng địa phương rượt chạy xịt khói, Thàn muốn về nhà nhưng xấu
hổ, sợ ông già cười khơ khơ khơ, hỏi “Con ơi, mầy nổi tiếng chưa mà trồi
đầu về đây rồi ?”

Y hệt, ông già Năm Nhỏ cũng có nhà mà không về được. Đã đau quá
trời đất rồi, cái cảnh bà con hàng xóm xầm xì, chỉ trỏ, người ở xa dập dìu
thuê đò dọc lại nhà ngó ngiêng, đâu, thằng cha giết con đâu ? Đâu, con nhỏ
bị chôn chỗ nào ? Ở gần thấy đông đúc nên bưng bánh dừa, trà đá đến bán.
Đã quá chừng đau, khi ông nhìn sâu trong ánh mắt của vợ mình thấy không
còn lấp lánh thương yêu, chỉ tối tăm những ngờ vực, hoài nghi, và bữa ông
đi, bà đứng giữa nắng trưa, cuốc đất. Chỗ đất còn mới tinh ông vừa lên
liếp, chỗ người thiên hạ ngó nhau, con Cải bị vùi dưới đó… biết đâu…

Nên ông Năm Nhỏ trụ lại ngã ba Sương, tiếp tục cuộc kiếm tìm. Ông
mướn một cái nhà thấp, nhỏ như ổ mối, vừa đủ hai người còm nhom chui
ra chui vào. Ông vét túi trên túi dưới sắm một chiếc xe kẹo kéo có dàn
nhạc xập xình, kéo thằng Thàn theo. Ngày chạy ra bán ở chợ rau chợ cá,
tối ghé vài quán nhậu, khuya về đậu ở ngã ba, xe kẹo kéo của ông nổi tiếng
nhờ giọng ca nhừa nhựa của thằng Thàn, nhờ giữa hai bài hát có mục
“nhắn tìm con” buồn ác chiến.

Ngã ba Sương nhiều đêm thổn thức trong tiếng “Cải ơi !!!…”, nghe
ngắc ngoải như tiếng chim kêu giữa lưng trời. Con Diễm Thương cằn
nhằn, quán ế, buồn thấy mẹ rồi mà còn kêu Cải vơi vơi. Một bữa Diễm
Thương bước ra, thảng thốt gọi “Ba !”. Ông già đứng im sững, ngơ ngác
giây lát, môi run lập bập hỏi Cải phải hôn con. Diễm Thương gật đầu.
Thiệt con là Cải hả ? Diễm Thương níu tay ông rưng rưng gọi thêm một
tiếng ba tha thiết. Ông già nắn đầu, nắn vai nó với một nỗi vui chảy tràn,
trời đất, ba nhìn không ra, bây lớn dữ dằn vầy. Ông đi vài bước, ông day lại
nhìn Diễm Thương (cho chắc là nó đang đứng đây, và có thiệt trên đời),
ngước về phía trời sao, rồi ngó thằng Thàn, ông cười, để miệng muốn méo
sao thì méo, “Tía kiếm có con Cải rồi, dễ ợt hà mầy ơi”. Nghe giọng là
cuộc hành trình ròng rãi mười hai năm của ông (và những oan khuất, buồn

đau ) khép lại ở đây rồi. Ngày mai ông dẫn Diễm Thương về Cỏ Cháy,
ngay trên chuyến tàu đầu. Chắc vợ ông ra cửa che tay khum khum trên
trán, hỏi ai vậy cà, ông sẽ nói con Cải chớ ai, bà sẽ mừng hết lớn, phải còn
trẻ thể nào bà cũng nhảy cà tưng. Ông sẽ đưa nó đi dài xóm, khoe “Con Cải
tui về đây nè, bà con coi, nó lớn quá chừng hen”, vẻ mặt không giấu được
hả hê (vậy mà mấy người nói tui giết nó).

Nghĩ đến đó, nước mắt ông tuôn dài. Diễm Thương cười, đứng dậy
khoan khoái phủi tay, nói “Không ngờ mình diễn quá hay”, rồi nó khom
người, nhìn sâu vô đôi mắt ràn rụa của ông già, mặt tỉnh bơ ba khía, mỉa
mai, “tui giởn đó, ông làm ba kiểu gì mà không nhớ mặt con gái mình ?”.

Và cơn mơ hết. Diễm Thương đi gom tiền thắng độ, đám tiếp viên léo
nhéo nhằn ông già sao mà dễ tin, làm họ mất mấy chục ngàn. Diễm
Thương lạnh lẽo cười, cái mặt nó tỉnh hết biết, kiếm tiền dễ ợt mà chẳng
gợn lên chút đắc ý nào. Ông Năm bẽ bàng ngồi đó, bẽ bàng lau nước mắt,
cười héo queo héo quắt, “Con nhỏ giỡn có duyên hết hồn” mà trên khuôn
mặt vẫn còn đầy ứ những thương yêu. Thằng Thàn ứa lòng nhìn ông Năm
già đi khủng khiếp nó giận muốn bóp cổ nhận nước Diễm Thương cho rồi,
khi con nhỏ nhơn nhơn trở qua, giơ nắm tiền, rủ đi ăn hủ tiếu.

Trò diễn kết thúc, ông già nằm rũ, đúng hai ngày lời nhắn tìm con Cải
lại thắc thỏm ở ngã ba Sương. Con Diễm Thương bực lắm, nó gặp Thàn là
đá ghế quăng ly, nó nói “ổng đừng mắc công tìm, con Cải chắc chết ngắc
rồi. Sao tui thù con nhỏ đó quá trời, có nhà mà bỏ, có cha có mẹ mà không
thèm... Cái thứ người đó, cho nó chết bờ chết bụi cũng đáng”. Rồi nó
nghẹn ngào, “Còn tui, người ta đã quăng ở đây mười tám năm, tui chờ hoài
mà có ai tìm đâu...” Thàn mới hay đời con nhỏ cũng buồn, hai đứa ngồi sát
lại gần nhau, thở dài nghe cả vành tai tê tái.

Tối đó, Thàn nằm gác tay lên trán, nói “Mai mốt con dẫn nhỏ Diễm
Thương về lạy ông già con à, tía Năm. Tính thương chơi thôi nhưng bây
giờ thành thiệt rồi”. Ông Năm phấn khởi, vậy hả, vậy à, phải làm đám cưới
tử tế cho con nhỏ đỡ tủi, để tao làm ba nó, đại diện cho đàng gái làm sui
chơi.

Lựng khựng rồi mùa nắng quay trở lại, người ta dọn sạch cả một bờ
sậy, bông đang vào mùa bạc ở ngã ba Sương, cất thêm chừng chục quán
nhậu ôm nữa. Cánh phòng chống tệ nạn xã hội bắt đầu để ý cái chòm lu bu
này. Phía báo đài cũng dòm ngó. Một bữa, họ ập vào, quay phim, chụp hình
búa la xua. Đám tiếp viên che mặt, ôm đầu, chỉ có Diễm Thương là điềm
nhiên trơ mắt ngó.

Phóng sự phát lên ti vi, cái nhìn đó như dấu hỏi nao lòng, tôi đây nè mà
ba má ở đâu ? Có nhận ra tôi không ? Có nghe đau lòng ? Thằng Thàn thấy
cảnh người yêu tỉnh bơ ngồi trên đùi ông khách, buồn quá, bỏ đi uống
rượu. Sáng sau, ông Năm dúi vô tay Thàn ít tiền biểu “đưa con nhỏ về
nhà”. Thằng Thàn nói :

- Con không đành để tía ở lại một mình.
- Vậy bây nỡ nhìn con nhỏ sống vầy hoài sao ?

Một sớm, hai đứa dắt nhau đi, ông già nhìn theo cho đến khi bóng
chúng chìm giữa mịt mù. Lòng ông đã chuẩn bị rồi một cái vẫy tay, tiễn
hai đứa ra khỏi những con đường sương gió. Nhưng mờ chiều, đám trẻ trở
lại, mặt con Diễm Thương vẫn thản nhiên nhưng thằng Thàn buồn tê tái.
Cả nhà Thàn hết hồn vía dồn lại ngó nhau, nhận ra đứa con gái nầy lên ti vi
hôm trước, coi bộ làm nghề hỏng được đàng hoàng, coi bộ thằng Thàn bị
nhỏ này dụ dỗ. Diễm Thương chỉ cười, gật đầu chào rồi bước xuống bến
đón tàu ra thị xã.

Lại về ngã ba Sương, chỗ của những người không còn đường trở lại
nhà. Diễm Thương nói tui mắc cười quá ông Năm à, tui lên ti vi để cha mẹ
nhìn mà họ không biết tui là ai, còn người dưng liếc ngang là nhớ liền.

Ông già Năm Nhỏ lặng người đi, tự hỏi, bây giờ ông lên ti vi, con Cải
có nhận ra mình không. Người đã dắt Cải đi hái xoài chín trong vườn
hoang, đã chặt chuối làm bè dạy cho nó lội, thả trâu, chơi diều… Đã cõng
nó đi tắt mấy vạt đồng đến chỗ ông bác sỹ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổ
mũi. Cây kẹp nhỏ, mớ dây thun khoanh, mấy cục kẹo dừa vung vinh trong
túi áo mỗi khi ông đi chợ về... Tất cả những thứ đó, ông nhớ mồn một thì
nhỏ Cải chắc chưa quên. Ông già muốn lên ti vi để nhắn đứa trẻ bỏ nhà
rằng, về đi con ơi, đôi trâu có xá gì…

Đăng tin trên truyền hình đắt đỏ, mà lần nào lại phòng quãng cáo ông
cũng phải đôi co, đòi phải đọc theo ý mình, trong đó có đoạn, “con không
về ba nhớ đã đành, má con còn giận ba, không nhìn mặt”. Người ta cười,
trên đài chứ có phải chợ trời đâu mà muốn nói gì cũng được. Ông giận,
quày quả về nhà, nghĩ cách tự mình lên ti vi. Có lần, ông đậu xe kẹo đầu
chợ, thấy người ta làm phim vụ lấn chiếm lòng lề đường, người hốt thúng
mủng cá rau bỏ chạy, ông sướng rơn lăng xăng chạy tọt chỗ này ló mặt
đằng kia, mấp máy câu “Cải ơi...” (mà vô phim người ta đã xóa mất tiếng
còn đâu). Chỉ mong được thấy mình trên ti vi, một khuôn mặt teo héo xạm
đen dưới những sợi tóc ngã màu trắng xóa, một thân hình gầy guộc, lưng
đã chớm còng.. “Mình thèm lên ti vi muốn chết giấc mà không được, còn
mấy ông cán bộ ngồi chình ình trong đó hoài, thấy mắc ngán, ông già Năm
Nhỏ than thở với thằng Thàn, nói sao tao muốn làm bí thơ tỉnh quá”. Thàn
kêu, trời ơi, chi vậy tía. Ông cười, lên ti vi chớ chi, lúc đó tao đường
hoàng nói chuyện với con Cải, tao nói từ từ, nhắc chuyện xưa cho nó nghe.
Thằng Thàn cũng cười, tưởng tía làm lớn để lo cho dân, ai dè cũng bo bo
cho mình.

Họ ngồi đụt mưa dưới một hàng ba trường tiểu học. Nước đổ trắng
trời. Mùa còn ướt lạnh dài dài. Thằng Thàn lo ở nhà mưa dột ướt đầu
giường, về không có gối để nằm, không mền để đắp. Diễm Thương biết có
chạy qua không hay là bận khách, bận cười cợt (mà lòng não nề) biểu uống
với em chút nữa đi anh. Thàn chép miệng, buồn quá tía ơi. Mê văn nghệ
văn gừng nên chừng này tuổi đầu rồi mà nghèo quá chừng, đến nỗi không
lo được cho nhỏ Thương. Ông già Năm Nhỏ thấy thằng Thàn xuống nước
mắt. Ừ tối nay, ông cũng thấy mình hoang mang buồn bã rã rời, như sắp
đến cuối đường rồi, mà không biết chắc có nhà mình phía đó. Ông thở dài
ứ hự, chống tay liêu xiêu đứng lên, bảo, mưa chắc còn dài, thôi dầm mình
về, nhỏ.

Đêm đó, thằng Thàn ôm ông già Năm ngu, nó kêu lên, tía ốm dữ dằn
thiệt, xương tía cấn con đau quá chừng. Ông già cười, ờ, chê mai mốt
không có mà ôm nghen con. Thằng Thàn hỏi ông nói vậy là có ý gì, ông
hỏi ngược lại, chớ bộ mầy tính cưới vợ rồi mà còn chun qua ngủ với tao ?
Thàn cười, ờ há ờ hen. Mắc cười, ông còn rù rì tính chuyện nấu mâm cơm
cúng trời đất để xáp nhập nhỏ Diễm Thương về nhà bên này, sắm cái tủ
thuốc lá nhỏ để cho nó buôn bán vặt thì thằng Thàn đã ngáy o o. Nửa đêm,

Thàn giật mình tỉnh giấc, không thấy ông già, nó ngật ngừ ngồi dậy, trên
bụng rớt xuống một gói tiền. Xe kẹo kéo vẫn còn nguyên, Thàn kéo cửa
bước ra ngoài. Ngã ba Sương đã tắt đèn, những con đường hun hút mù mịt
dưới mưa, như không cần biết đến từ đâu, chỉ biết gặp ở đây, phút này.
Thằng Thàn làu bàu, hỏng biết ông già chừng này mà đi đâu vậy cà.

Ông Năm đi ăn trộm chớ đâu. Ông lội bộ gần năm cây số trong mưa sụt
sùi vô trong xóm, ghé chỗ lò mổ, dắt đôi trâu đem đi. Ông làm gọn gàng
như với đôi trâu ở nhà. Sáng ra ông trở lại, ghé đúng ngôi nhà có hàng so
đũa cặp mé lộ, ông thấy một đám người đang tao tác đứng ngồi, ông hỏi,
mua trâu hôn, tui kẹt tiền đem bán đây nè. Chủ nhà chạy ra la lên, trời ơi,
bắt ổng lại, ổng ăn trộm của tôi. Ông Năm giả đò hết hồn, nhưng trong
bụng thấy trúng ý, bảo, từ từ, tui có chạy đâu mà sợ. Người ta đưa ông lên
ấp, ấp giải lên xã, ông luôn miệng nhắc, mấy chú nhớ kêu đài truyền hình
xuống nghen, phải quay tui để dân người ta cảnh giác. May, đài tỉnh xuống
thật, phóng viên một tờ báo cũng chạy theo, dọc đường hăm hở rút sẵn tít
“Đạo tặc đãng trí” (thì ai cũng tưởng vậy). Cái cách đời nhảy xổ vào lỗi
lầm của người khác thiệt là tưng bừng. Họ phỏng vấn ông chủ lò mổ,
phỏng vấn trưởng công an xã, cuối cùng, ông Năm xin được nói đôi lời,
còn dặn, mấy chú làm ơn đừng cắt bỏ tiếng tui, rằng “Cải ơi, ba là Năm
Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không ? Về nhà đi con, tội má con vò
võ có một mình. Con là trọng, chứ đôi trâu cộ nhằm nhò gì… Về nghen
con, ơi Cải…”.

Nghe đâu, hôm đó, nhiều người rơi nước mắt, vì vậy mà vụ trộm trâu
không được lên ti vi, sống giữa cái rẻo đất nhân hậu này nhiều khi cũng
hơi phiền.

Nghe đâu, hôm đó đài truyền hình có đưa tin nhưng chỉ thấy ông già
nhép miệng một cách tuyệt vọng. Như đã nói, nhà đài người ta chớ có phải
chợ trời đâu, mà có thể thoải mái gọi, “Cải ơi !”

Lên mạng này ngày 15-1-2005

Làm má đâu có dễ
-----

Chị Diệu về quê khi đoàn cải lương Mưa Bình Minh đang giữa mùa
lưu diễn. Nhớ nhà quá, không có cái gì làm cho bớt nhớ. Tàu ghé đập Bàu
Mốp, chị lội một đỗi, gặp má chị đi đám giỗ về, má chị kêu: "Trời đất, con
Diệu, sao đi về vào lúc này? ". Chị nghe muốn khóc.

Chị, con gái của má, rời nhà từ năm mười bảy tuổi, bây giờ đã bốn
mươi. Chưa khi nào gió chướng mang cái ngọn ráo khô bay qua rạch Bàu
Mốp mà chị về nhà, kêu má ra cửa sau, chỗ thơm bựng hương cau, nhổ tóc
sâu, bảo sẽ ở lại nhà lâu, lâu lắm. Nên má cứ nhìn hồ nghi, có chuyện gì
sao con. Chị cười cười không nói gì, hỏi con San đâu. Má chị bảo nó đi
đón ghe khóm từ rẫy Thới Bình qua, mua về rồi chèo xuồng dài dài xóm
bán lại. Chị nuốt ực nỗi cay đắng vào lòng, " Sao má để nó đi, con nuôi hai
người nổi mà! ". Bà già bảy mươi ba tuổi nhìn đứa con gái đầu bạc của
mình, xót xa: " Bà cháu tao có cần tiền của bây đâu. Tao cũng cản hoài mà
nó có nghe đâu. Tánh nó cũng cứng đầu cứng cổ hệt bây, bây biết ".

Chị biết, bởi có lần về, con San mang trả những gói tiền chị đã gửi.
Những gói tiền còn nguyên vẹn như còn dính mồ hôi tay chị, nó bảo: “Em
cảm ơn, em với ngoại nuôi nhau được, chế đừng lo, chế có tuổi rồi, để tiền
hờ khi bệnh hoạn” nghe khách sáo như người dưng nói chuyện với người
dưng.

Chị sinh con San cũng ngay mùa này, gió này. Gọi là San, là vì khi
Hoàng Bảo từ thành phố tăng cường xuống " Mưa Bình Minh ", chị Diệu
với anh hát chung tuồng San Hậu. Chị yêu anh lắm, không ai còn có thể
nghệ sỹ hơn thế, tất cả con người anh toát lên cái gì đó phong trần, phiêu
lãng, thương không chịu được. Chị đặt tên cho đứa con đầu lòng là San vì
tin rằng sẽ đẻ cho anh thêm thằng Hậu, nhưng thằng Hậu mãi mãi không
bao giờ có. San vừa tròn bảy tháng, để nó lại cho má, chị đi. Hôm đó nó đã
bú cho thật no rồi, chị ép cho no nữa. Nó ngậm vú chị ngủ ngon lành. Đặt
con xuống giường, chị còn thấy cái miệng nhỏ xíu của nó mút mút. Rồi từ
đó chị không dám nhìn thêm lần nào nữa, sợ mãi mãi mình không thể nhấc
chân đi. Mà chị thì không thể từ bỏ ước mơ của mình, trở thành cô đào hát

nổi tiếng. Làm sao từ chối vai diễn đã từng chờ đợi, nàng Trưng Trắc oai
hùng trong "Tiếng Trống Mê Linh".

Chị yêu vai Trưng Trắc này biết bao nhiêu, người phụ nữ cũng có lúc
dao động, mềm lòng khi chồng của mình đang nằm trong tay giặc. Nhưng
rồi Trưng Trắc vẫn mạnh mẽ đánh trống xuất quân, nước mắt bi hùng nhỏ
xuống mặt trống vang lời ly biệt. Mấy hôm đầu, có lúc sữa xuống nặng,
chị Diệu nhớ con quay quắt, chị muốn bỏ hết, về nhà vùi mặt mình vào làn
da thơm tho của nó, nhưng nghĩ đến vai diễn của mình, chị ghì lòng lại.
Đâu nè, Trưng Trắc đâu có nữ nhi thường tình vậy.

Vở được đoàn đem đi dự hội diễn toàn quốc, năm đó chị nhận huy
chương vàng, bắt đầu có một chút danh tiếng. Chị nguôi dần nỗi nhớ nhà,
nhớ con. Chị bận lu bù với hàng chục, hàng trăm vở mới. Hồi đầu chỉ mùa
mưa chị mới ờ nhà lâu, giữ con cho má đương thúng, tưới trầu. Sau này
trời mưa chị cũng phải đi học bồi dưỡng nghiệp vụ, chánh trị. Chỉ về khi
trên đường đi lưu diễn, tiện đường ghé lại, nhiều khi con Phèn còn chạy te
te ra sủa. Có lúc thấy cái áo phơi ngoài sào, chị hỏi áo ai, má bảo, áo của
con San chớ ai, chị cười, trời đất, nó lớn dữ vậy hả? Mà không biết mình
đang hồn nhiên đứng bên đời, nhìn nó lớn...

San chưa bao giờ kêu chị Diệu một tiếng má. Khi nó biết nói nó bắt
chước mấy dì, gọi chị bằng chế, xưng em. Dạy nó, nó lắc đầu nguầy nguậy,
"Hỏng phải, chế Diệu hong phải má. Con Thắm mới là má ". Nghe lạ, hỏi
lại, thì ra chơi nhà chòi, con Thắm đóng vai má con San. Tưởng lớn lên nó
sẽ đổi nhưng có những tết gần giao thừa, chị gọi nó lại, biểu kêu má đi.
Con San nhìn chị trân trân, tay vò vò vạt áo, nín thinh. Chị rút tiền ra biểu
kêu má đi rồi cho tiền. Nó vẫn lặng lẽ đứng nhìn, hồi lâu, nó bảo, "em
không biết xài tiền" rồi bỏ ra ngoài trước coi người ta đốt pháo.

Năm đó, nó tám tuổi. Giao thừa đang rộn rã ngoài kia, chị Diệu vô
buồng ôm lưng má khóc. Má chị biểu "thôi nín đi, rồi từ từ má dạy. Mà,
cũng tại mầy...". Nghe người ta hát câu "Con chim se sẻ nó đẻ cột đình. Bà
ngoại đẻ má, má đẻ tụi mình..." tim chị quặn thắt. Dường như con San
đang đòi món nợ tình thương mà ngày trước chị nợ má.

Chị Diệu bỏ nhà theo đoàn hát từ năm mười bảy tuổi, không cách chi
mà giữ lại được, không cách chi chị quên giấc mơ xướng ca xiêm áo. Má
bắt chị thề "Không thương người cùng giới nghệ sỹ. Không lấy chồng khi
chưa qua tuổi hai mươi lăm". Nhưng năm hai mươi, chị về nhà dập đầu lạy
má, thưa rằng vì yêu, vì muốn giữ bên mình người chị yêu, chị đã mang
đứa con trong mình.

Má giận quá, nói hồi đó phải tao sanh ra hột gà hột vịt còn có nghĩa
hơn sanh ra con gái như mầy. Giận vậy, nhưng thấy con mình khổ không
cầm lòng được biểu "Thôi con, đừng thèm khóc, người ta hay hát, "Ví dầu
tình có dở dang. Tự ên thiếp chống đò ngang thiếp về ", con người ta nhấc
lên được thì bỏ xuống được". Rồi lụm cụm đi trồng thật nhiều sả, chăm
chút những cây chanh, cây bưởi quanh nhà cho tốt lá, lột vỏ tỏi để dành
xông cho chị sau khi sinh. Lòng má đau con mình dại dột, nó làm vậy là
đẩy người ta có cái cớ ra đi chớ có níu được, ràng buộc được người ta đâu,
nghệ sỹ mà, ít ai coi trọng chuyện gia đình.

Nhưng con San đâu có già được như má, đâu có trải lòng ra để tha thứ
như má. Chừng mười, mười hai tuổi, nó nói với má chị "Má ơi, con không
đổi chế Diệu để lấy tiền. Chế Diệu có cho má đừng lấy ". Mà chị chỉ biết
ôm nó vào lòng, thở dài rồi rầy, "ngoại già rồi, con kêu ngoại bằng má hoài
người ta cười bà già khú đế mà còn có con muộn". San thôi kêu ngoại bằng
má nhưng tiếng má nó cất mãi trong lòng.

Nó lớn lên giống Hoàng Bảo như đúc, cũng gương mặt xương xương,
cái mũi cao, đôi mắt to, hơi xếch, đôi môi mỏng, đỏ thắm. Nhìn nó, lúc chị
Diệu nửa thèm ôm chầm vào lòng, nửa muốn xô ra. Nghĩ thương nghĩ giận
người cũ, chị chỉ dám ngồi nhìn nó xa xa. Nên chị không hay nó lạ lùng
hơn hết thảy con cái người ta. Nó ít nói, nhưng nói câu nào đáng câu đó.
Có lần coi chị Diệu diễn Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài trên tivi, nó ngồi
nghễu nghện trên mấy bao lúa chất giữa nhà, nghe mấy đứa bạn reo lên,
má con San kìa. Nó nhếch mép cười. Tới đoạn Sơn Bá gặp Anh Đài ở nhà
Chúc viên ngoại, biết rõ thân phận nhau, hai người âu yếm ôm nhau đính
ước. Con San nói tỉnh bơ: " Ừ, ôm đi, ngoại à, vài bữa người ta đem một
đứa nữa về cho ngoại nuôi cho mà coi ". Rồi tuột xuống cái độp đi te te vô
buồng, biểu: " Con đi ngủ ". Nhưng ngoại san biết nó vô đó nằm khóc,
vòng tay trìu mến đó, có bao giờ chị Diệu dành cho nó?

Câu chuyện làm chị Diệu đau lòng. Chị Diệu sợ con mình cũng như
người đời, đánh đồng vai diễn với diễn viên, hễ ai đóng vai ác thì ngoài
đời cũng ác, tình tứ với bạn diễn nghĩ ngoài đời chắc họ cũng yêu nhau.
Chị chọn những vai đào võ, rồi nổi tiếng với những nhân vật nữ tướng,
tinh tế trong cái nhìn khinh bạt, ngạo nghễ trước kẻ thù và cái chết, oai vũ
trong từng động tác đá giáo, lăn tròn theo nhịp roi, đi gối...Ai cũng nói nếu
con người ta có số sẵn (như giày dép vậy ) thì số chị Diệu sinh ra là để sắm
những vai nữ tướng.

Riết rồi những vai đào thương, chị Diệu không diễn được. Có những
lần giỗ Tổ, đoàn giao cho chị đóng vai Tô Ánh Nguyệt trong trích đoạn gặp
lại thằng Tâm, lúc con trai mình mắng mỏ một hồi rồi bỏ đi, Nguyệt kêu, "
Tâm, con đuổi má sao con? ", Lệ Thủy diễn xé lòng xé dạ người ta là vậy,
nhưng với chị, chỉ câu nói đó thôi sao mà khó khăn quá chừng, tiếng má,
nửa đời người chị chưa được con gái mình kêu.

Nên trả lời phỏng vấn báo chí, chị hay tự trào là mình nghệ sĩ nửa mùa.
Khi đi qua mùa nhan sắc của một cô đào hát, chị xin đoàn cho mình đóng
vai hề mụ, chị bảo, "tôi hát nhiều năm, khóc hết nước mắt rồi, bây giờ chỉ
đóng được vai hài ". Và chỉ như thế chị mới không phải sắm vai những bà
mẹ, không phải nghe bạn diễn với mình gọi là má à má ơi mà lòng như cắt
như đau.

Hôm rồi, đoàn về hát vở "Cơn Mê " ở chợ Ông Trang, chị đóng vai bà
già bán ve chai. Vai nhỏ, chỉ cần quấn khăn lên đầu tất tả gánh cái gánh đi
ra, gặp cảnh một tên đầu gấu bức hiếp một cô gái nhà quê, bất bình bà già
ra tay nghĩa hiệp. Đơn giản thôi. Vậy mà lúc diễn, nghe cô đào trẻ Thu Mỹ
trong vai cô gái nhà quê núp sau lưng chị thét lên: " Cứu con với, má ơi!"
bà ve chai bỗng đứng khựng lại, buông vai, sững sờ, khóc. Thu Mỹ cũng
gục đầu, nức nở. Khán giả không hiểu gì hết, Đầu Gấu thấy vậy cương mấy
câu. Màn kéo lại, ông phó đoàn kiêm đạo diễn quát văng nước miếng, "Tôi
không sao tin nỗi. Một người lúc nào cũng muốn thành diễn viên nỗi tiếng,
một người mấy chục năm trong nghề rồi mà ai cũng diễn như một đứa con
nít ba tuổi ". Hai chị em buồn quá, hỏi Thu Mỹ sao cương câu đó kỳ vậy,
cô khóc, " hồi còn ở nhà mỗi lần ba em say rượu, ổng nghe lời má sau,
đánh em dữ lắm, không ai bênh, em chỉ biết kêu má, riết rồi quen ". Trời

ơi, bọn nghệ sỹ mình, gạt bỏ đời đau, sống trọn lòng trên sân khấu, được
mấy người?

Tan hát rồi, chị Diệu với Thu Mỹ ngồi mãi ngoài bến tàu bên bờ sông
Ông Trang. Gió lạnh thổi hiu hút. Thu Mỹ thắc mắc: " Mỗi lần bị đòn đau,
mỗi lần gặp chuyện gì buồn, em đều nghĩ đến má trước tiên, sao ngộ vậy
chị? ".

Chị ngẫn người ra, con San của chị cũng có khi gặp chuyện gì buồn,
thế nào nó cũng nhớ tới chị mà chị thì xa cách nó ngàn phương. Vậy đâu
có được. Đáng lẽ mình phải ở nhà, nghe nó thủ thỉ chuyện một cậu con trai
nào đó hôm qua còn trêu chọc nó, biểu để lòng thương nó, hôm nay đã sắm
cau trầu đi hỏi vợ khác rồi (Con gái mười tám tuổi hay nghĩ chuyện đó là
chuyện buồn).

Sáng sau, chị lại xin phép trưởng đoàn, ông vừa đánh cờ vừa ờ, hờ
hững. Chị đi từ giã hết thảy mọi người, ai cũng nghĩ rồi chị sẽ trở lại. Chị
yêu sân khấu đến thế kia mà.

Chỉ Thu Mỹ biết chị sẽ không bao giờ quay trở lại. Đêm qua, chị ôm cô
ngủ, chị nói, chị thương Thu Mỹ lắm, thương từ lúc cô mới vô đoàn, mười
sáu tuổi đầu mà khuôn mặt đã già đi, dày dạn như con San của chị. Chị
thương Thu Mỹ vì thấy cô giống hệt chị hồi đó, nồng nhiệt, tự tin, với tấm
lòng trong trẻo tưởng rằng có thể thâu tóm được đất rộng, trời cao. Lúc
nào cũng khao khát vinh quang nhưng không biết rủ bỏ nỗi đau riêng để
hết mình trên thánh đường sân khấu. Chị nói chắc chị thôi nghề hát, về nhà
làm con của má, làm má của con. Mặc dầu làm má khó hơn nữ vương, nữ
tướng nhiều.

Nhất là với con San của chị, mười tám năm rồi mà vẫn dạ sắt lòng
đinh. Vừa về tới, dựng cặp chèo ngoaì hàng ba, nó cười, nói cái câu người
dưng hay nói với người dưng:

- Ủa, chế mới về hả? Hồi sáng này em nấu nước, nghe lửa cười, biết
thế nào cũng có khách, hỏng dè là chế.

Chị nghe niềm vui như ngọn đèn vửa bị thổi chao ngọn, San ơi, má là
khách sao, má là khách à, con?

Chị chụp đứng dậy, bảo để chị đi nấu cơm chiều. Chị trầy trật nhen lửa,
làm cho cả gian bếp ngoi ngóp khói. Bốn mươi tuổi đầu, chị phải tập làm
đứa con hiếu thảo, làm một bà má giỏi giang bằng nồi canh chua bông
súng, mẻ cá rô tôm tích kho quẹt này đây.

Trích trong Giao Thừa, tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư. (tr. 82-89)
Nhà xuất bản Trẻ, tái bản lần thứ hai, tháng 5 năm 2004.

Nguồn: Văn Nghệ Sông Cửu Long (nhiều câu thiếu, sai)
(THD chỉnh sửa ngày 30-11-04, sau khi đối chiếu với sách in)

Làm mẹ

Bây giờ chưa hết tháng ba nhưng mỗi tối từ chợ về, dì Diệu đã tranh
thủ ngồi may đồ cho em bé. Đã biết là con gái nên bộ nào dì cũng dún bèo
cổ, bèo tay, bèo lai áo . . . coi rất dễ thương ngộ mắt. Ban ngày, dì ra sạp
vải, lúc nào có khách thì lo buôn bán, đo đắt, lúc nào rảnh dì ngồi đơm nút,
vắt khuy. Tay dì tẩn mẩn xỏ từng đường kim tí xíu. Dì vừa làm vừa mủm
mỉm cười một mình, rồi vui quá xá là vui, một mình vui không hết, dì
Diệu khoe :

- Tui sắp có con gái rồi nghen.

Một người dòm lom com vô cái eo thon thả của dì rồi cười :

- Nói chơi hoài, có thấy bầu bì gì đâu ?

Dì Diệu cười ngặt nghẽo, cười đến khi cái mũi thon thon xinh xẻo của
dì ửng đỏ lên :

- Bốn mươi mấy tuổi rồi, bầu bì gì nữa. Tui xin con nuôi.

Mấy bà bạn bàn ra bàn vô, nói chuyện tò vò nuôi con nhện, chuyện con
quạ nuôi tu hú nhằm lung lạc dì, nhưng dì Diệu vẫn khăng khăng chắc lòng

chắc dạ, làm như dì đã thấy ràng ràng một tương lai chắc chắn rồi vậy.
Thấy dì Diệu cười cười hoài, kiểu “chuyện của tui, chị em sao biết được”,
thấy tức chết.

Đó thật sự là một bí mật của dì Diệu. Đứa bé sắp sinh ra là máu thịt
của chú Đức, chồng dì Diệu. Chú Đức làm giám đốc văn phòng đại diện
một công ty điện tử ở Cần Thơ. Chú làm việc xa nhà nhưng chưa bao giờ
chú làm chuyện có lỗi với dì Diệu. Là vì chú Đức hiền hậu, chừng mực,
mà cũng vì dì Diệu cực kỳ đáng yêu. Dì là loại người ít lo nghĩ, lúc nào
cũng trẻ con, non nả. Dì ít giận ai mà có giận cũng mau quên. Chú Đức hay
lấy tay ngoáy tóc dì, cười bảo:

- Em như con nít.. Tới chừng anh lụ khụ rồi em vẫn chưa già.

Suốt nữa đời, dì chỉ buồn là không còn được có con. Năm chú cưới dì,
dì khám bịnh phát hiện ra mình có một khối u nhỏ ở buồng trứng. Dì vốn
không lo mấy, không biết ngày nó càng lớn lên. Đến lúc sực nhớ trong
bụng mình có bịnh thì là lúc đã đau quặn lên rồi. Đi bệnh viện, bác sĩ bảo
cắt, dì nhoẻn cười, thì phải cắt, cắt để sống với chồng chớ. Rồi dì lạc quan
lên bàn mổ. Không ai nói cho dì biết trước là sau ca mổ vĩnh viễn dì không
thể có con được nữa. Dì nằm trong phòng hồi sức, nước mắt chảy về hai
phía đuôi mắt ròng ròng, len vào tóc, ướt gối. Hồi nhỏ, em dì đông, tuổi
thơ cơ cực, dì Diệu bồng em chai hông, có lần dì ra ngoài đình, dì than, dì
ghét con nít lắm. Có phải vì vậy mà trời phạt gì không hỏng biết. Dì Diệu
buồn như ai rứt ruột, dì khóc, biểu chú Đức thôi dì đi, sống chung mà
không có con chỉ buồn thêm thôi. Chú Đức tỏ ra cứng lòng cứng dạ, cười
xoà, chú sẽ ở bên dì suốt đời cho dù vợ chồng có con hay không có con.
“Tìm đâu trên đời nầy một người vợ non nhuốt và trong trẻo như em để
cho anh chở che mà em biểu bỏ nhau”, chú Đức nói vậy. Rồi từ từ dì Diệu
cũng nguôi đi. Dì lại cười lại nói. Nhưng lạ cái, chuyện gì dì cũng mau
quên, nhưng chuyện nầy rõ ràng quên không được. Trẻ con đi qua cửa lòng
dì quặn lại, rối nùi, rát như muối xát vào vết thương đang mở miệng. Chú
Đức an ủi dì bằng cách mỗi lần về tặng cho dì một món quà. Có lần chú
đem về cho dì một con sáo, nó ẽo ẹt:

- Má ơi, nhà có khách.

Mèn ơi, dì Diệu nghe tiếng má mà nghe lịm ngọt trong lòng. Dì bảo dì
không cần món quà nào khác ngoài một đứa con. Chú Đức tưởng dì nói
chơi, cười sùi sụt:

- Trời đất, sao có được?

Dì Diệu tỉnh rụi:

- Mướn đẻ. Em đọc báo thấy người ta mướn đẻ nhiều lắm.

- Rồi làm sao anh còn dám nhìn mặt em nữa ? – Nhìn vẻ mặt chú Đức
rối rắm, dì Diệu cười :

- Em thương anh hoài. Anh đâu có làm gì có lỗi với em. Kỹ thuật mới
mà.

Rồi dì te tái xách mấy tờ báo cho chú Đức coi, dì nói thiệt dứt khoát:

- Lần này mà anh không chịu, em thôi thiệt. Anh thì công tác xa, em ở
nhà có một mình, nghĩ tới con nít buồn đứt ruột.

Đó là mở đầu một câu chuyện được bàn bạc rất lâu, dài, căng thẳng.
Chú Đức mất bốn ngày nghĩ ngợi, năm đêm thức trắng. Lần đầu tiên chú
chiều vợ vượt quá sức mình. Chú tin là dì Diệu sẽ thu xếp chuyện sau nầy
thật chu đáo, nhưng trong lòng cắn rứt vì nghĩ mình đã làm một chuyện
trái lương tâm. Dì Diệu nằm kê đầu lên tay chú thở đều, ngủ ngọt lịm. Thì
dì có gì nữa đâu, người mà dì muốn mướn cũng đã có sẵn rồi: Chị Lành.

Chị Lành lỡ thời, mập mạp, hịch hạc. Chị sống trong khu nhà dì Diệu
cất cho sinh viên thuê, nhưng chị không phải sinh viên, chị gánh nước
mướn. Hai bên vai chị thâm xám, vai gồ lên. Một ngày chị gánh non trăm
đôi nước. Chị gánh dẻo như múa, đường dài, hẻm nhỏ mà không chao một
giọt nước ra ngoài. Dì Diệu chọn chị Lành bởi vì chị hiền. Dì tin rằng
người mẹ hiền sẽ đẻ con hiền. Mà, chị Lành cũng rất cần tiền để gởi về xứ.
Má chị biên thư xuống bảo nhà chị bây giờ mối ăn gần sụm bà chè rồi, lúc
này mưa, nước dội ngay bàn thờ ba, rầu thúi ruột. Má nói làm sao bắt
thằng em út chị Lành viết y chang như vậy.Chị Lành đắn đo hoài. Chị cần

tiền nhưng sợ chuyện sau này, sợ những mối thâm tình ràng buột mình
không tròn lời hứa với dì Diệu. Lại nữa sợ bà con người ta dị nghị, không
chồng mà lại có con, bởi chuyện nầy , ai cũng muốn giấu cho thật sâu kín.
Chị coi chuyện mình cần tiền với một đứa con như hai cánh tay. Cánh tay
nào cũng quan trọng, biết chọn làm sao bây giờ. Nhưng khi chị nhìn thấy
những giọt nước mắt rớt lộp độp xuống áo dì Diệu, chị cầm lòng không
đậu, chị gật đầu. Hồi nào giờ có bà chủ nhà nào tốt với chị như Dì Diệu
đâu.

Cuối cùng thì chị Lành cũng đã trở thành người nhà dì Diệu. Dì thương
chị như em gái ruột của mình. Mà, không thương sao được, nghe xóm
giềng xầm xì chuyện chị Lành không chồng mà lại có con, lòng dì Diệu
đau lắm, dì nghĩ, vậy là tai tiếng, khổ sở cả một đời con gái người ta.
Không thương sao được, khi chị Lành thay dì chịu hết cơ cực khi có con.
Mới hai tháng, khắp mình chị đã nổi sẩy sần như giề cơm cháy. Hai bên gò
má da bắt đầu nám xạm đi. Chị không ăn được gì nhưng lại thèm đủ thứ.
Dì Diệu biểu chị muốn ăn cái gì dì Diệu sẽ mua cho. Chị thèm thịt trâu
luộc cơm mẻ, dì Diệu mới đem về tằng lăng tíu líu trong bếp, chị Lành đã
bắt mùi cơm mẻ ói sấp ói ngửa. Dì Diệu thương tới rơi nước mắt. Tận đáy
lòng chị Lành biết rằng dì Diệu thương chị thiệt tình như một con người
với một con người chứ không phải vì đứa bé chị mang trong bụng. Dì Diệu
bắt đầu chuẩn bị cho một đứa con ra đời. Dì mua mấy tấm hình em bé về
dán trong căn nhà chị Lành. Đứa nào đứa nấy ú na ú nần, thấy cưng không
chịu được. Dì biểu chị Lành phải siêng nhìn để sinh con ra nó sẽ xinh đẹp
như thế. Chị Lành thắc mắc:

- Giống trong hình làm chi, giống ba giống má nó là được rồi.

Dì Diệu ngẩn người, ờ , dì bắt đầu nghĩ, đứa bé sinh ra sẽ giống ai,
giống chú Đức đẹp người, giống dì trong trẻo, trẻ trung hay giống … ?

- Nó sẽ giống cả ba người.

Dì chắc chắn như vậy.

Chị Lành thường lén trốn dì Diệu đi gánh nước. Hồi chưa có bầu thì
gánh đầy, bây giờ gánh lưng thùng. Chị muốn gởi về cho má nguyên số

tiền đó mà không mẻ một đồng nào. Bây giờ, có con, chị thương má nhiều
thiệt nhiều. Dì Diệu có hôm dọn hàng về sớm, thấy chị Lành vắt vẻo đôi
thùng trên đường mà lòng xót xa:

- Con của chị em mình giờ là cục máu mỏng manh lắm, em làm vậy
không được đâu.

Chị Lành rân rấn nước mắt cái câu “con của chị em mình”. Dì Diệu dỗ,
“em mà khóc hoài, em bé sinh ra mặt sẽ buồn cho mà coi”. Rất nhẹ và dịu
dàng, lòng hai người đàn bà tự dưng chỉ nghĩ về chỗ đứa con.

Dì Diệu bắt đầu mua sắm, từ cái núm vú da cầm tay tới bình ủ sữa,
chiếu manh, nệm trẻ con, mùng chụp. Rảnh rỗi, dì ngồi mơn man mấy món
đồ tưởng như đã thấy được đứa bé con ngo ngoe hai bàn chân nhỏ trên cái
trường kỷ nhà dì. Chú Đức mỗi lần về lại thấy một mớ đồ trẻ con chất
ngồn ngộn ở trong phòng. Chú đọc trong mắt dì Diệu một niềm khát khao
hườm chín. Chú thấy mình vơi đi mối bận tâm trong lòng, đôi lúc chú
cũng thèm muốn chết một đôi chân lẫm đẫm của trẻ con. Chỉ mỗi một
chuyện, chú ngại gặp chị Lành. Chị cũng mắc cỡ khi gặp chú. Cho dù
không đụng chạm gì nhau để có con nhưng suy tận cùng, cái quý giá, kín
đáo của chú Đức đã nằm trong bụng chị. Trời đất ơi, mặt mũi nào mà nhìn
người ta. Chị Lành vần còn nguyên con gái đó chớ.

Và khi tháng Ba đi qua, đứa bé bắt đầu báo hiệu sự sống. Chị Lành
khoe:

- Nó đạp rồi, chị Diệu, nó đạp đây nè.

Dì Diệu hớn hở vén bụng chị Lành lên, dưới làn da căng mẫn, đứa bé
con chòi đạp rối rít. Chị Lành cười giòn:

- Nó mạnh quá chị ha ?.

Dì Diệu cười, rồi làm như một cơn gió từ đâu xộc tới, tim dì riết lại
một nỗi đau. Dì thèm biết bao nhiêu cái cảm giác che chở cho một sinh
linh sống trong mình, để được thèm tới cùng, tới chảy nước dãi món ngọt,
món chua, để có thể cảm nhận từ trái tim chứ không phải bằng bàn tay đôi
bàn chân bé bỏng quẩy đạp bụng mình thon thót. Đó là những thứ cảm giác

thiêng liêng không vay mượn, thuê mướn được : cảm giác làm mẹ. Dì bắt
đầu lo lắng, mình đã làm một việc đúng không.

Chỉ còn một tháng hai mươi ngày nữa, đứa bé sẽ ra đời. Dì Diệu tính
từng ngày, từng bữa. Chị Lành tính từng ngày từng bữa. Người trông cho
mau, người trông đừng bao giờ đến. Dì Diệu cố quên cái vẻ mặt buồn bã,
van nài của chị Lành. Chị biết, khi đứa bé khóc ngoe ngoe cất tiếng khóc
chào đời, là chị với nó sẽ phải chia lìa. Hợp đồng đã ghi rõ ràng như vậy.
Chị thấy thương mình, thương con và thương dì Diệu. Chị rối rít ăn, rối rít
ngủ vì biết rằng mai nầy rồi chẳng còn nhau . . .

Một sáng, chị Lành biến mất.

Dì Diệu kêu chú Đức về, nước mắt ròng ròng khi thấy bóng chồng qua
cửa. Chú đau lòng bảo thôi bỏ đi, dì Diệu cãi, “em bỏ không đành, anh à”.
Chú cũng thấy rằng bỏ không được. Máu mủ ruột ràng mình mà bỏ sao
được. Hai người đi tìm xơ bơ xấc bấc. Không có, không gặp. Dì Diệu về
quê, bà mẹ già chị Lành tay run bẩn, vừa đau vừa xót.

- Vậy ra nó không nói gì với cô sao ? Tui hay tin nó hư hỏng , tôi từ nó
rồi, tui tính bỏ nó luôn, nhưng thiệt tình tui thương nó lắm, phải nó về, tui
cũng nuôi.

Dì Diệu lau nước mắt cho mẹ chị Lành, lòng nghĩ, làm sao mình lại để
ra nông nỗi nầy. Dì không tiếc tiền của, sông sức, dì cũng không tiếc tình
thương dồn đắp cho chị Lành, dì chỉ cảm thấy xót xa cho mình “làm người
thì ai lại đi giành con với người ta”, dì luôn dằn vặt vậy.

Dì Diệu bỏ sạp vải tối ngày chạy xe long rong ngoài đường để may ra
tìm được bóng người …

Khi đã không trông chờ gì, một ngày, khi mở cửa, dì Diệu nhìn thấy chị
Lành đang ngồi ngoài hàng ba và khóc.

Những người có tình có nghĩa, dễ gì bỏ được nhau.

Dì Diệu cắn cho môi vằn đỏ dấu răng, dì ôm chị Lành vào lòng rất
chặt. Dì cảm nhận được từ trái tim bàn chân bé bỏng của đứa bé đang lòi
chòi. Nó háo hức nằm giữa hai tấm lòng của hai bà mẹ.

Dì Diệu đi lấy tờ hợp đồng ra và đốt cháy thành một tờ tro mỏng. Đôi
khi người ta hay bày chuyện nầy chuyện nọ để làm xao động cuộc đời đang
hết sức yên bình, lãng nhách vậy đó ...

Trích trong : Giao Thừa, tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
Nhà xuất bản Trẻ, tái bản lần thứ hai, tháng 5 năm 2004.

Chợ của má
Nguyễn Ngọc Tư

Tôi gọi những cái chợ ruộng dân dã này là chợ của má. Bởi nó hiền
lành, lam lũ như má, bởi chợ nhỏ nhoi, khiêm tốn như má, nhưng nó mang
một cái hồn sâu, mênh mông lắm nên người ta nhắc nhớ hoài, thương hoài
như thương... má vậy.

Bất cứ khu chợ thực phẩm nào ở thành phố Cà Mau cũng có một góc
nhỏ dành cho người chợ ruộng. Chợ bắt đầu từ tiếng xe lam chở hàng lặc
lè, ậm ì trong buổi sớm, bằng tiếng trò chuyện êm đềm, bằng đôi tay oằn,
đôi chân mỏi. Chợ bắt đầu bằng những cái bao ni-lông trải ra nền đất. bàn
tay nào bày ra đó mấy trái dừa khô, mấy nải chuối vàng, con vịt lạc cạc
bên rổ trứng. Trên thúng, trên nia lún phún nhô lên những ngọn rau uống
sương cong cong.

Hầu như tất cả rau trái ở quê mình có, ở chợ ruộng có. Từ rau muống,
rau lang, mồng tơi, bù ngót đến lá chuối xanh, lá dứa, bó sả, nhúm ớt... Rồi
cá, rồi gà, vịt, chuột đồng... Ngày rằm, ngày ba mươi, chợ trang điểm bằng
bông trang được cột thành khóm đỏ tươi bán cho những người cúng bàn
thờ Phật. Mồng hai, mười sáu, chợ lúc nhúc những chú gà non tơ. Trời
hạn, chợ bày thúng rau đắng đất run rẩy xanh cho ta thèm một nồi cháo
tống. Bữa nắng chiều, chợ có rễ tranh, mía lau... Mưa xập xoài, chợ lổn
nhổn ốc lát bán kèm lá ổi, lá sả. Những con ốc lát vừa cựa mình trở dậy từ
đất, thịt cứ ngọt lừ. Cũng cử này, người ta bán xổi rau muống đồng, loại

rau muống bị chìm trong nước nhú lên những cái đọt non mềm, cỡ một
gang tay, trắng nõn, tưởng như có thể bẻ bằng mắt một cái "bụp" ngon ơ.
Mùa nào thức ấy. Nhưng có hôm ta thèm thứ trái mùa lại gặp ở đây thứ trái
mùa. Vô tình, chính con người nón rách áo túi cùng những món hàng đã
khoác lên cho chợ ruộng một cái áo bình dị, một linh hồn hiền hậu mà rất
đỗi thiêng liêng. Thêm vào đó một chút thâm trầm dân dã. Thì có gì dân dã
bằng nắm rau càng cua mọc từ chái hè, mấy trái bình bát chín hườm mọc
từ hào ranh, rổ đọt lúa hái từ sân trước.....

Chỉ có vậy mà những nội trợ đảm đang mê đắm mê đuối chợ này. Họ
mua được nhiều rau tươi, cá tươi, giá lại rẻ do gần như người bán chỉ lấy
công làm lời. Họ mua được đầy ắp lòng tin từ bàn tay cần cù của những
tấm lòng nông dân chân chất. Và những người xa quê đỡ nhớ quê nhà.

Những người ra chợ Cà Mau đều từ ngoại thành, từ những địa danh
như Bà Bèo, Đàn Âm, Nhà Phấn, Tân Thành, An Xuyên vốn có truyền
thống trồng rau, đi chợ.. Lọn rau muống giá 150 đồng, nhúm đọt chùm ruột
giá 500 đồng, xấp lá chuối 1000 đồng... học cũng tích cóp tháng ngày. Thật
ra, nhà nào cũng có một vài công ruộng nhưng "ngồi không ăn lúa kho
cũng hết, nên đi bán kiếm ít đỉnh tiền". Khuya sớm gánh gồng đi chợ, chợ
tan, các mẹ, các chị về nhà, lua vội vài chén cơm, lại tần tảo quẩy giỏ, cầm
dao ra vườn lo buổi chợ mai. Cắt, lặt, rửa, bó lọn... loay hoay cũng đến tận
chiều. Bàn tay thấm nước, nhăn nheo, bàn tay tái nhợt. Vậy mà buồn (chắc
là nông dân ai cũng buồn kiểu này), họ không định đoạt được giá cả món
hàng. Nó có thể rẻ, rất rẻ (mồ hôi có rẻ vậy bao giờ).

Đội rau đi chợ trở thành một công việc đẹp của người nông dân tự đời
nào không biết. Tìm được một người đi chợ lâu năm không khó, chỗ này,
đằng kia đều có mặt những người dì "tính từ hồi đó đến giờ tui đi đứt cỡ
50 đôi dép Lào". Họ là những người gắn bó máu thịt với cảnh chợ quê này
không chỉ vì mưu sinh mà là mối gắn bó thiêng liêng. Không có rau, không
đi chợ, đâm... buồn.. Có người lặn lội đi bán từng trái bình bát chín, không
đủ tiền đi xe thì đi bộ, "miễn sao đỡ ghiền chợ. Ở nhà buồn tay buồn chân,
đi bán, một trăm đồng cũng đỡ một trăm". Những đồng tiền nhỏ nhoi
nhưng đầy niềm vui bởi nó được làm ra từ giọt mồ hôi mặn, từ tấm lòng
lương thiện, thẳng ngay.

Những chuyến hàng lại ra chợ vào buổi sớm mai.

Nên sáng nay con đứng nhìn và con nhớ má. Ngày xưa, có phải má con
mình ngồi đằng kia, trong góc đó? Và con ngồi chồm hổm, mắt ngó về ông
già bán kẹo mà tay chắt chiu rổ trứng gà con con. Ôi! Nhớ hồi xưa quá, má
há?

Nguồn: Người Lao Động (?)

Lời cho má

Bây giờ không biết đã mấy mùa tôm rồi tôi trở thành một đứa - con -
hàng - xóm. Bao lâu rồi con không còn lẽo đẽo theo gót má để chia chút
dãi dầu, hả má ơi? Bao lâu rồi má không còn dịp để dạy con hiểu được ý
nghĩa của giọt mồ hôi rơi xuống…

Má tôi là nông dân, suốt quãng thời gian cầm bút, mỗi khi tôi viết về
người nông dân tôi lại nghĩ tới má. Trong tôi hiện lên đôi bàn chân ngắn,
bè ra vững chãi, những cái móng chân khắng phèn, dày, đầy xơ. Một khuôn
mặt sạm đen nữa đêm thao thức, nghe gió về lo lúa đang trổ ngoài đồng bị
lem lép hạt. Một mái tóc bạc trắng, những sợi tóc sâu loăn quăn mọc trên
đỉnh đầu, đám con cháu hăm he nhổ hoài mà chưa có ngày nào má thảnh
thơi. Một dáng người chắc đậm tong tả đội rau đi chợ trong sương sớm.
Một đôi tay cục mịch với những đốt xương thô mà sàng gạo như múa
trong trưa vắng. Một bóng người sương khói ngồi tan nồi đất, cái mùi cám
khét ngọt, nghe nỗi nhớ quê dậy động trong lòng.

Không có gì khác đâu, cũng như mọi bà má quê khác, má tôi cũng hiền
lành, tháo vát, giỏi giang... má tôi cũng có những đứa con không bao giờ
nhớ tuổi má, không bao giờ nhớ thời thanh xuân của má. Nhưng má không
buồn, chỉ buồn khi tôi về, ngồi than bên bậc cửa, làm cái nghề viết văn cô
độc, cực khổ quá má ơi, má tôi lặng lẽ buồn hiu. Buồn vì không hiểu văn

chương, không thể dìu dắt, nâng đỡ tôi trên con đường nhọc nhằn đó,
nhưng má không hay rằng má giúp tôi nhiều lắm.

Bảy tuổi, má dạy tôi trồng rau, tưới rẫy. Tôi lon ton đi chặt cây, kiếm
sậy về cho má làm giàn cho dưa leo, mướp, đậu rồng. Những buổi chiều
còn nắng, má xới đất, lên giồng, tôi lấy dao phay băm cho đất tơi ra để kịp
lúc ba đi làm về gieo hạt cải. Ba má quẩy tưới thùng to, tôi nơ thùng nhỏ,
nước sánh ra ướt đầm đìa. Tôi biết chổng mông ngồi rửa rau cần, ngò gai ở
cầu ao cho má bó từng lọn nhỏ, tay tôi mới bợt bạt một chút má đã xót xa,
kẽ tay má đầy những mảng nước ăn, đau nhức tới từng đốt xương sao má
không than hả má. Nửa khuya ra chợ, tôi xách cái giỏ nhỏ chỉ đựng ghế
ngồi với mấy cái bao trãi để bày hàng, má đội thúng ngò, má cứ hỏi có
lạnh lắm hôn con, gió bấc thì cứ hiu hắt cắt da, nước từ cái thúng đội đầu
cứ nhỏ long tong xuống đôi vai má. Khi đó tôi không hề biết hỏi, má ơi má
có lạnh không, mà, chỉ câu nói của tôi, má ấm lòng biết chừng nào.

Năm tôi mười tuổi, cả xóm rủ nhau làm nấm mèo. Má cũng cố làm
thêm lúc nông nhàn để tăng thu nhập.. Sau mỗi buổi học, mấy anh em tôi
với má bơi xuồng đi hàng năm ba cây số mua so đũa. Anh tôi đốn, róc
cành xong, hai má con tôi vác xuống xuồng, sợ phía tôi nặng, má gánh tới
nữa thân cây, tôi chỉ te tái vịn hờ một đầu còn lại mà tưởng mình mạnh
giỏi, cái cây bự chảng vầy sao mà vác nhẹ hẩng nhẹ hơ. Đường về nhà phải
qua con đập, thường là quăng cây lên để kéo xuồng qua, những lúc mưa
nhiều, đập xã, nước từ trong kinh tràn ra như thác, nước cứ lăm lăm nhấn
chìm chiếc xuồng khẳm lừ tìm cách đi ngược vào. Má chống chỏi đằng lái,
tôi nhảy ào xuống nước nắm mũi xuống kéo đi, qua đập, ướt như con
chuột, má khen tôi giỏi mà sao nước mắt má rươm rướm vậy.

Làm nấm mèo cực nhất là lúc vô mùa, phải cưa cây thành khúc, đóng
lổ, vô meo… cũng không lâu nhưng đủ để vai má tôi cấn hằn những cái
rảnh sâu sần như vỏ cây so đũa, đủ để mấy đầu ngón tay ám mủ và bàn tay
cầm búa chai rộp lên…

Coi lại, hồi nào tới giờ, nhà tôi làm nghề gì cũng cực thấu trời thấu đất,
làm gì cũng nặng nhọc, cũng có thể đong mồ hôi bằng khạp, bằng lu. Mà,
dù có làm gì thì má tôi cũng là người gánh chịu nhọc nhằn hơn hết thảy, ba
tôi chỉ hụ hợ chút việc mỗi khi tan sở, má không buồn, má nói, ổng đi làm
cách mạng mà. Tôi mười bảy tuổi, thôi học, theo má bán gạo, cám. Ngày
nào má cũng bơi một hai xuồng gạo từ máy chà chở len lỏi theo dòng kinh
dày những cây cầu khỉ để mang gạo bán tận nhà người ta. Tôi ngồi đằng
mũi, qua cầu cao thì lấy trớn đẩy cho xuồng đi nhanh, cầu thấp lè tè không
quá mũi xuồng, không đi được tôi giở cầu cho má bơi. Tôi học từ má, rằng
gạo Một Bụi dài, thon, óng ả, gạo Tiên Lùn hạt ngắn, đục như nếp, bầu
bĩnh, gạo Nàng Gáo tròn vo, cụt lủn, no căng… Gạo càng trong càng cứng,
khô cơm, gạo đục, có ngòi là cơm mềm cơm dẻo… Lăn lóc với bụi cám,
tôi nghiện luôn cái mùi thơm nồng nàn đó. Má nói rằng, mùi gạo đầu mùa
khác mùi gạo cuối mùa, mùi gạo trắng khác với mùi gạo lức, và cho tới
bây giờ, mỗi khi bưng chén cơm, tôi lại nhớ cái vị béo ngầy ngậy, ngọt
ngào tinh khiết của gạo sống.

Bán gạo cũng có cái cực trần ai khoai củ của nghề bán gạo nhưng má
tôi gắn bó với nghề rất lâu, chắc vì nó gần gủi với hạt lúa, cánh đồng, nơi
cả đời nông dân má tôi dầm dãi. Tôi còn nhớ như in những mùa hạn, nước
dưới kinh rút, chiếc xuồng không còn không thể chống trên lòng lạch cạn
teo, má nghĩ ra cách tải gạo, cám bằng xe đạp (Ôi ! cái thuở sao nghèo quá
là nghèo). Bao gạo để dài theo sườn xe, má ngồi yên sau chồm hai tay cầm
lái, xoạt chân ra phía trước để đạp. Má con tôi suốt ngày dưới nắng cồng
cồng đạp xe trên con đường lởm chởm đá. Sau này, tôi còn có thể một tay
vịn bao gạo đặt ở yên sau, chân đạp cuống cuồng, tay kia cố kềm giữ tay
lái đang lắc lia lắc lịa, cái bánh xe trước lúc nào cũng muốn chỏng lên trời.
Ai khen tôi giỏi lòng má tôi cũng đau, vì đã để tôi dang dỡ con đường học
tập. Lúc đó tôi chưa biết nói, "chừng nào nhà mình khá giả rồi con đi học
lại, má lo gì", chỉ một câu thôi sẽ an ủi lòng má biết bao nhiêu.

Những câu đáng nói thì vì vô tâm, khờ dại nên không nói, những câu
không đáng nói thì cũng vì vô tâm, dại khờ nên đã nói rồi, không lấy lại
được. Vẫn còn những ngày dài phía trước, mai tôi sẽ về thưa với má, dù
tôi nói câu này dù hơi trễ tràng nhưng có còn hơn không, rằng chưa có bao


Click to View FlipBook Version