BÚT KÝ
VIỆT NAM VÀ ĐỜI TÔI QUA HAI THẾ KỶ 20 VÀ 21.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
(Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hòa)
Tổng hợp tháng 4 năm 2016.
1
Nguyễn-Huy Hùng, ảnh chụp năm 1969.
ĐÔI LỜI TÂM SỰ
Tôi gia nhập Quân đội từ năm 1947 và tiếp tục cuộc đời binh nghiệp cho
đến ngày Quốc Hận 30-4-1975 thì bị bạo quyền Việt Cộng bắt đi tù tập trung cải
tạo suốt 13 năm sau mới được tha về sống đoàn tụ với gia đình tại Saigon.
Tháng 8 năm 1992 được bạo quyền trục xuất ra khỏi nước cùng với vợ các con
và các cháu nội cháu ngoại đi định cư tỵ nạn chính trị Cộng sản tại Hoa Kỳ theo
diện H.O.10 (Humanitarian Operation).
Suốt từ ngày tới Hoa Kỳ đến nay, ngoài việc lo cho gia đình Tôi vẫn hăng
hái tham gia hoạt động chính trị chống Cộng cùng với các Hội đoàn cựu Chiến
binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và các Tổ chức Cộng đồng người Việt Tỵ nạn
Cộng sản trên toàn thế giới. Tôi cũng đã thường xuyên đóng góp rất nhiều bài
tham luận đăng trên các Diễn đàn Intrenet, các báo Việt ngữ, đọc trên Đài phát
thanh và Vô tuyến truyền hình của người Việt nơi hải ngoại.
Lúc này các Cộng đồng người tỵ nạn cư trú trên toàn thế giới đang rầm rộ
tổ chức tưởng niệm THÁNG TƯ ĐEN, nên Tôi thấy là cần gom một số bài quan
trọng mà Tôi đã đóng góp từ trước đến nay vào Tập Bút Ký này, để các Bạn Trẻ
đang hăng hái dấn thân tiếp nối công cuộc đấu tranh chống Cộng của Ông Cha
mình cho đến khi toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách thống trị độc tài tàn bạo của
bè đảng Việt Cộng (chưa có dịp đọc trước đây) tùy nghi tham khảo./.
Chào kính mến, NGUYỄN-HUY HÙNG.
2
SỰ THẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀO NĂM 1945
Nguyễn-Huy Hùng (K1 trường VBQGVN)
Cựu Hoàng Bảo Đại, Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
NGÀY 11 THÁNG 3 NĂM 1945,
QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT,
SAU 61 NĂM BỊ THỰC DÂN PHÁP THỐNG TRỊ (1884-1945)
Trong suốt thời gian dài hơn 60 năm qua, nhóm người Cộng sản
Việt Nam theo chủ nghiã Tam Vô chuyên chính toàn trị vong nô bán
nước hại dân, đã cố tình dùng những phương tiện tuyên truyền xảo quyệt
gian dối lừa bịp nhân loại, bóp méo sự thật về hoàn cảnh lịch sử mà toàn
dân tộc Việt Nam đã sát cánh bên nhau giành lại được Độc lập cho đất
nước sau 61 năm bị Thực dân Pháp thống trị, khi Thế giới Đại Chiến II
chấm dứt.
Người viết là một nhân chứng, sống trong lòng dân tộc Việt Nam
trên đất nước Việt nam suốt từ Thập niên 1930 cho đến giữa Thập niên
1990, thấy có bổn phận phải ghi lại sự thật những gì đã xẩy ra trên đất
nước Việt Nam, để giúp cho các thế hệ Trẻ sau này biết được sự thật về
giai đoạn lịch sử này của Dân tộc Việt Nam, để thấy được những gì
3
Cộng sản Việt Nam tiếm nhận khoe khoang phổ biến cho đến nay đều
hoàn toàn không đúng với sự thật hiển nhiên đã xẩy ra.
1. TÌNH HÌNH QUỐC TẾ KHI THẾ GIỚI ĐẠI CHIẾN II
CHẤM DỨT.
Sau khi Hoa Kỳ thả 2 quả bom nguyên tử xuống đất Nhật, san
bằng 2 thành phố Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945, và Nagasaki
ngày 9 tháng 8 năm 1945, Hoàng Đế Nhật Bản phải tuyên bố đầu hàng
vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Nhờ vậy, Thế giới Đại
chiến II, do phe Trục Đức-Ý-Nhật chủ xướng từ năm 1939 được coi là
chấm dứt hoàn toàn trên cả 5 Châu: Âu, Phi, Á, Úc, và Mỹ.
Hết Thế giới Đại chiến II, Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ Cao trào các
Tiểu nhược quốc Thuộc địa trên toàn Thế giới, đang bị các nước Thực
dân Đế quốc da trắng đô hộ cai trị áp bức, vùng lên giành lại Độc lập Tự
do cho Dân tộc mình, để xây dựng Thể chế Chính trị theo mô thức Dân
chủ Tự do Tư bản.
Khối Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga lãnh đạo (phe đối
nghịch với khối Thế giới Tự do Tư bản) cũng nhân cơ hội này, dùng các
tay sai người bản xứ lôi cuốn các nhóm công nông vô sản dùng bạo lực
hăm dọa song hành với phương thức truyên truyền xảo quyệt buộc
quảng đại quần chúng dân lành phải đi theo chúng dưới mỹ từ làm Cách
mạng giải phóng quê hương, cũng như để bành trướng thế lực nhằm
thực hiện sách lược Xích hoá toàn Thế giới theo chủ nghĩa Cộng sản
Tam Vô chuyên chính. Tại Việt Nam có tay sai bán nước hại dân là Hồ
Chí Minh và nhóm đồng chí Việt Minh của hắn.
2.- HOÀN CẢNH DÂN TỘC VIỆT NAM VÀO NĂM 1945.
A.- Trong nước, vào ngày Chủ Nhật 11 tháng 3 năm 1945 (hai
ngày sau khi quân Nhật lật đổ Pháp nắm toàn quyền cai trị Đông
Dương), Vua Bảo Đại được Vua Nhật giúp tái lập Quốc Gia Việt Nam
Độc Lập (thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam) trong Khối Đại Đông Á
do Nhật chủ xướng. Ông Trần Trọng Kim đã được Vua Bảo Đại cử làm
Thủ Tướng thành lập chính phủ điều hành Quốc gia, và ban bố chương
trình hưng quốc vào ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó quy định Quốc
Kỳ là cờ Quẻ Ly, nền vàng giữa có biểu tượng Quẻ Ly mầu đỏ nằm
4
dọc theo bề dài nền cờ (2 vạch dài liền, nằm song song 2 bên 1 vạch
đứt quãng chính giữa, trông như chữ CÔNG của Hán tự).
Quốc Ca là bài “Việt Nam minh châu trời Đông” của nhạc sĩ
Hùng Lân.
Việt Nam minh châu trời Đông!
Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi,
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai còn vương cỏ hoa,
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết, Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết, Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.
Khoảng hơn 5 tháng sau, vào ngày 17 tháng 8 năm 1945 (hai
ngày sau khi Vua Nhật tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh do Hoa Kỳ
lãnh đạo), các đoàn thể Công chức và quần chúng Việt Nam họp mít tinh
trước Nhà Hát Lớn tại Hà nội, để ủng hộ ông Trần Trọng Kim tiếp tục
làm Thủ Tướng. Nhưng, đã bị nhóm Việt Minh của Hồ Chí Minh trà
trộn vào lèo lái biến thành cuộc xuống đường đòi Chính phủ Trần trọng
Kim từ chức. Đồng thời, nhóm Hồ Chí Minh và Việt Minh cũng đưa
người vào Huế làm áp lực buộc Vua Bảo Đại phải thoái vị, để nhường
quyền cho nhóm Việt Minh thành lập các Ủy ban Nhân dân Cách mạng
thay thế các tổ chức hành chánh của Chính phủ Trần trọng Kim.
5
B.- Nơi Hải ngoại, những nhà yêu nước thuộc các Phe nhóm và
Đảng phái Cách mạng Nhân bản Việt Nam chống Thực dân Pháp, đang
lưu vong bên Trung Hoa Lục địa (trong đó có cả nhóm Việt Minh và Hồ
Chí Minh*), được Chính quyền Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới
Thạch bảo trợ giúp hoàn cảnh cho ngồi lại với nhau, lập ra một tổ chức
đoàn kết hợp nhất với danh hiệu VIỆT NAM CÁCH MẠNG ĐỒNG
MINH HỘI (VNCMĐMH) do Cụ Nguyễn Hải Thần làm Chủ Tịch.
[Ghi chú *: Hồ Chí Minh bị chính quyền tỉnh Quảng Tây bắt giam
vào tháng 10 năm 1942 trong ngục tối ở Tĩnh Tây, vì hoạt động gián
điệp cho Cộng sản Nga trên đất Trung Hoa Dân Quốc, đến tháng 5-1943
bị giải sang Liễu Châu. Cụ Nguyễn Hải Thần và các nhà Cách mạng
Nhân bản Việt Nam chống Pháp đang lưu vong bên Trung Hoa, thấy Hồ
Chí Minh và phe Việt Minh của hắn ta cũng đang hoạt động đấu tranh
chống Thực dân Pháp, nên đã vì tình nghiã Đồng bào không kỳ thị
khuynh hướng chính trị Cộng sản mà Hồ Chí Minh đang theo, đồng lòng
vận động bảo lãnh xin cho Hồ Chí Minh được tha ra khỏi ngục tù của
Trung Hoa Dân Quốc, để cùng nhau hợp tác tiếp tục công cuộc chống
Pháp và Nhật giành lại quyền Tự do Độc lập cho Dân tộc và quê hương
Việt Nam. Hồ Chí Minh được tha vào ngày 10 tháng 9 năm 1943.]
Vào ngày 28-8-1945, trong khi quân đội Mỹ đổ bộ lên chiếm đóng
đất Nhật Bản thua trận đầu hàng, thì 5 Đoàn quân Trung Hoa Dân Quốc
của ông Tưởng Giới Thạch đại diện Liên Hiệp Quốc do Tướng Lư Hán
chỉ huy, cũng tiến vào Việt Nam bằng 5 ngả : Lạng Sơn, Lào kay, Lai
Châu, Hà Giang, Móng Cáy, để thực hiện việc giải giới quân Phiệt Nhật
tại phiá Bắc Vĩ Tuyến 16 của Bán đảo Đông Dương. Đi theo các Đạo
quân Trung Hoa này, có các toán thuộc Việt Nam Cách Mạng Đồng
Minh Hội về theo, để phối hợp cùng các Đoàn thể Việt Nam đấu tranh ở
trong nước, thành lập Chính phủ Liên Hiệp gồm thành phần đại diện của
mọi Phe nhóm Đảng phái, cũng như vận động quần chúng tham gia ứng
cử và bầu cử đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến cho Việt Nam. Mọi
chuyện tiến hành êm đẹp, Hồ Chí Minh (thuộc phe Việt Minh Cộng sản
chiếm đa số trong Quốc Hội) được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Liên
Hiệp, Cụ Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch, và cựu Hoàng Bảo Đại
(ông Vua thoái vị) được mời làm Cố vấn cho Hồ Chí Minh Chủ Tịch
Chính phủ Liên Hiệp.
6
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí minh, đại diện Chính phủ Liên
Hiệp đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà, trước đông đảo Đồng bào Việt Nam tham dự cuộc mít tinh tại vườn
hoa Ba Đình* ở Hà Nội. [*Vườn hoa Ba đình thời Pháp thuộc gọi là
vườn hoa Con Cóc, một bùng binh (rond point) ở giữa có những tượng
con cóc bằng đồng đúc, ngồi quanh một chiếc hồ phun các vòi nước từ
miệng ra, được xây dựng trước Phủ Toàn quyền Pháp cũ, đã được ông
Trần Huy Lai Đốc lý Hà Nội thời Chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là
Quảng trường Ba Đình từ ngày 3 tháng 8 năm 1945.]
Ngày 28 tháng 1 năm 1946, quân đội Vương Quốc Anh (England)
đại diện tổ chức Liên Hiệp Quốc, đổ bộ xuống Saigon để phụ trách việc
giải giới quân Phiệt Nhật tại các vùng ở miền Nam Vĩ Tuyến 16 của Bán
đảo Đông Dương. Quân Anh đã dung túng cho nhóm 200 quân Pháp
tháp tùng để tái chiếm miền Nam Việt Nam, và ngày 4 tháng 2 năm
1946 Pháp đã công khai tuyên bố thành lập Chính quyền Hành
chánh cai trị dưới danh xưng Nam Kỳ Tự Trị. [Trong thời Pháp
thuộc từ trước năm 1945, Nam phần Việt Nam là một nhượng địa cho
Pháp gọi là Cochinchine có hệ thống Hành chánh cai trị riêng biệt không
lệ thuộc Hoàng triều An-Nam, y như trường hợp nhượng địa Hồng Kông
của Trung Hoa cho Vương Quốc Anh vậy.]
Lợi dụng cơ hội này, Hồ Chí Minh Chủ tịch Chính phủ Liên
Hiệp đã gian manh tổ chức TUẦN LỄ VÀNG, kêu gọi nhân dân Việt
Nam đóng góp vàng để mua súng chống Pháp tái xâm lăng Việt Nam.
Nhưng thực tế, Hồ Chí Minh đã dùng số vàng thu được để đút lót (hối
lộ) mua chuộc Tướng Lư Hán và các Tướng, Tá trong Ban Tham mưu
quân Tầu tại Hà Nội cũng như tại các thành phố có quân Tầu đang trấn
đóng, làm ngơ cho phe Việt Minh và Hồ Chí Minh mở các cuộc hành
quân Cảnh sát tiêu diệt thành viên các Đảng phái Quốc gia không thuận
theo Cộng sản, để chiếm độc quyền cai trị dân tộc Việt theo Chế độ
Cộng sản Quốc tế do Liên Xô Viết Nga lãnh đạo.
Trong cùng lúc đó, Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh lén lút
tiếp xúc rồi ký Hiệp ước Sơ bộ với Sainteny (đại diện Pháp) vào lúc
4 giờ chiều ngày 6 tháng 3 năm 1946 tại căn nhà số 38 đường Lý
Thái Tổ Hà Nội. Theo bản Hiệp ước, thì Chính phủ do Hồ Chí Minh
lãnh đạo thoả thuận cho Pháp được tự do đổ quân chiếm đóng nhiều
7
Tỉnh trọng yếu tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam (kể cả Thủ đô Hà
Nội). Các đảng phái chính trị không Cộng sản trong Chính phủ Liên
Hiệp tổ chức biểu tình chống đối, đã bị Hồ Chí Minh và phe Việt
Minh gian manh xảo quyệt phao tin vu khống là các Đảng phái
Quốc gia cấu kết với Pháp phản bội Tổ quốc, để công khai dùng Binh
lực và Công An tổ chức các cuộc hành quân thẳng tay tiêu diệt các thành
phần đối lập với Cộng sản, ngay tại Hà Nội và tại các Tỉnh khác mà
quảng đại quần chúng sợ bị liên lụy không dám phản kháng.
Cụ Nghuyễn Hải Thần đã được anh em Đồng Minh Hội đưa trốn
thoát khỏi HàNội lên thị xã Lạng Sơn, và được anh em Phục Quốc Quân
tại đây hộ tống trốn sang Tầu qua cửa Ải Nam Quan tại Đồng Đăng, bản
thân người viết lúc đó là một thành viên trong đoàn hộ tống cụ Nguyễn
Hải Thần sang Bình Tường bên đất Trung Hoa.
Đêm 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh giữa quân Pháp và
quân Việt Minh bùng nổ trên toàn lãnh thổ Việt Nam, vì tranh chấp
thương thảo chia chác quyền cai trị đất nước giữa Việt Minh và Pháp
không êm xuôi. Quân của Hồ Chí Minh thua phải bỏ Thủ đô Hà Nội và
nhiểu Thành phố trọng yếu khác để rút vào rừng vùng Việt Bắc (gọi là
Bưng). Trước khi rút vào bưng, Hồ Chí Minh ra lệnh bắt buộc nhân dân
Việt Nam cả thành thị lẫn thôn quê, phải thực hiện chính sách “Tiêu thổ
kháng chiến” (tức là phá bình địa tất cả các nhà gạch to lớn đồ sộ của tư
nhân, cũng như cơ sở công cộng, Nhà Thờ, Đình, Chùa, đào đường đắp
mô, phá cầu cống…) gọi là chiến lược chống Pháp tái xâm lăng. Nhưng
mục đích thực sự sâu xa của việc làm này là, để thực hiện bước đầu tiên
bần cùng vô sản hoá toàn dân, chuẩn bị xây dựng chế độ vô sản chuyên
chính độc tài tàn bạo theo mô hình của Quốc tế Cộng sản do Liên Xô
Viết Nga chỉ đạo.
Thời gian tiếp theo, dân chúng phải sống dưới cảnh một cổ 2 tròng,
y như thời gian từ 1940 đến 1945 bị Pháp và Nhật song hành cai trị.
Công việc làm ăn mưu sinh hàng ngày của dân chúng rất khổ cực, và
luôn luôn lo lắng cho phần an ninh cá nhân và gia đình, vì hệ thống
Công an của cả 2 bên Pháp và Việt Minh hoạt động khủng bố ngày đêm
rất là tàn bạo.
Mãi đến giữa năm 1947, những thành phần Nhân Sĩ Quốc Gia
sống sót sau chiến dịch Cộng sản tiêu diệt hồi đầu năm 1946, ngồi lại
8
với nhau tìm giải pháp giành lại Độc Lập cho đất nước bằng đường
lối hoà bình, và đã quyết định mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong
tại Hồng Kông, đứng ra thương thuyết với Chính phủ Pháp về việc tái
thiết một Quốc Gia Việt Nam Độc lập Thống nhất trong Khối Liên Hiệp
Pháp tại Đông Dương. Năm 1946 sau khi ký Hiệp ước Sơ bộ tại Hà Nội
với Sainteny, Hồ Chí Minh cũng đã sang Pháp thương thuyết nhưng đã
bị thất bại ê chề.
Ngày 19 tháng 8 năm 1947 tại Hồng Kông, Cựu Hoàng Bảo Đại
chấp nhận lời kêu gọi đứng ra tiếp xúc với Chính phủ Pháp, và ngày 5
tháng 6 năm 1948, Hiệp định Hạ Long được ký kết giữa Thủ Tướng
Chính phủ Trung Ương Nguyễn văn Xuân đại diện Việt Nam Thống
Nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam, và ông Bollaert đại diện Chính phủ
Pháp (trước sự chứng kiến của Cựu Hoàng Bảo Đại) trên chiến hạm
Duguay Trouin của Hải quân Pháp đậu tại Vịnh Hạ Long, Bắc phần
Việt Nam. Hiệp định công nhận Quốc Gia Việt Nam Độc Lập Thống
nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam trong Khối Liên Hiệp Pháp, có Chính
phủ độc lập và Quân đội riêng, cũng như có toàn quyền thiết lập bang
giao với mọi nước trên toàn Thế giới ngoài nước Pháp, về Kinh tế và
Khoa học Kỹ thuật thì ưu tiên giao dịch với Pháp và các nước thuộc
Khối Liên Hiệp Pháp. (Khối Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương lúc đó
gồm 3 nước Việt nam, Lào, Cao Miên, và tại Phi Châu gồm các nước
Algéria, Tunisia, Maroc, và Sénégal.)
Quốc Kỳ của Quốc Gia Việt Nam, được định lại là nền vàng
với biểu trưng quẻ Càn mầu đỏ (3 vạch dài bằng nhau) nằm dọc
chính giữa suốt bề dài của cờ, trong dân gian thường gọi nôm na là Cờ
Vàng Ba Xọc Đỏ.
9
Quốc Ca* là bài “Tiếng gọi Công dân”, nguyên là bài “Sinh viên
hành khúc” nhạc của Lưu Hữu Phước, lời do một ủy ban sinh viên Đại
học Hà Nội đặt gồm 3 Đoạn và 1 Điệp khúc. Bài “Sinh viên hành khúc”
được các sinh viên trình bầy hợp ca lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 3
năm 1942, trong buổi trình diễn văn nghệ do sinh viên tổ chức tại Viện
Đại Học Hà Nội, để lấy tiền giúp các bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện
mà sinh viên Y Khoa Đại học Hà Nội đến thực tập. (*ghi chú: Quốc Ca
chỉ dùng có Đoạn I của bài “Sinh viên hành khúc” mà thôi. Tên bài
hát được đổi thành “Tiếng gọi Công dân”, và các từ “Sinh viên”
trong bài ca đổi thành từ “Công dân”.)
Đoạn I.
Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!
Đồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên.
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn trông gai vững lòng chi sá.
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
(Điệp khúc)
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
Đoạn II.
Này sinh viên ơi! Dấu xưa vẫn còn chưa xoá!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát, Trần Quốc Tuấn.
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
10
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang ta thắp hương nguyền.
(trở lại Điệp khúc)…
Đoạn III.
Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng!
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai,
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
(trở lại Điệp khúc)…
Vào tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chánh Pháp, một phong
trào Thanh niên Tiền phong được tổ chức tại miền Nam Việt Nam,
nhóm này lấy bài “Sinh viên hành khúc” dùng làm Đoàn Ca, nhưng đổi
tên bài hát là “Tiếng gọi Thanh niên” và các từ “Sinh viên” được thay
bằng từ “Thanh niên”.
Sau khi Quốc Trưởng Bảo Đại bị ông Ngô Đình Diệm tổ chức
trưng cầu dân ý để truất phế vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, miền Nam
Việt Nam thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà, Quốc hội Lập Hiến năm
1956 đã quyết định tiếp tục dùng bài “Tiếng gọi Công dân” làm Quốc
Ca (nhưng lời ca được đổi lại như ghi dưới đây), và Quốc Kỳ cũng vẫn
là Cờ Quẻ Càn của thời Quốc Gia Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của
Quốc trưởng Bảo Đại, và hiện nay tập thể các Cộng Đồng Người Việt
lưu vong tỵ nạn Cộng sản trên toàn Thế giới vẫn tôn trọng là Quốc Ca và
Quốc Kỳ chính thống gốc Việt của mình:
Này Công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng,
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
11
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi,
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
(Điệp khúc)
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bở!
Thoát cơn tàn phá vẻ vang đời sống,
Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
Kể từ sau khi Đại diện Việt Nam và Đại diện Pháp ký Hiệp
Ước Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948 trở đi, Quốc Gia Việt Nam
do Quốc Trưởng Bảo Đại đứng đầu, được cả trăm nước trên toàn
Thế giới lần lượt tuyên bố công nhận, và trao đổi cơ sở Ngoại Giao
với hàng Đại Sứ. Trong khi đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
do Hồ Chí Minh và phe Việt Minh cướp đoạt ôm giữ từ ngày 2 tháng 9
năm 1945 cho đến lúc đó tháng 6 năm 1948, vẫn không được một nước
nào trên Thế giới nhìn nhận, kể cả Liên Xô Nga và các nước trong khối
Cộng sản theo Nga.
Quốc Trưởng Bảo Đại đã chính thức công khai gửi lời mời Hồ Chí
Minh và nhóm Việt Minh hợp tác chấm dứt chiến tranh, để cùng toàn
dân xây dựng kiến thiết đất nước mau hùng mạnh thịnh cường. Nhưng vì
Hồ Chí Minh là đảng viên trung kiên của Quốc tế Cộng sản luôn luôn
phải tuân hành lệnh của Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Viết Nga chỉ đạo,
nên đã từ chối và tiếp tục được Nga Xô và Trung Cộng yểm trợ đẩy
mạnh chiến tranh du kích khủng bố dân lành không cho làm ăn phát
triển kinh tế, đốt làng xóm, phá hoại cầu đường giao thông, và các cơ sở
công cộng tiện ích xã hội do Chính phủ Quốc Gia Việt Nam xây dựng để
phục vụ quảng đại quần chúng tại các thành thị và thôn quê.
3.- ĐỂ KẾT LUẬN.
Qua các sự kiện lược kể trên đây, chúng ta thấy rõ ràng nhóm Hồ
Chí Minh và Việt Cộng không hề có công đấu tranh giành lại Độc lập
Tự do, hay làm cách mạng để đem lại hạnh phúc ấm no cho Dân tộc và
phồn vinh cho quê hương Việt Nam. Tất cả những gì Cộng sản khoe
12
khoang vơ vào bấy lâu nay, đều là xảo trá láo khoét, trâng tráo vô liêm sỉ
của nhóm mafia vong nô tay sai của Quốc tế Cộng sản nay đã tan rã. Sự
thật bao giờ cũng vẫn là sự thật, cây kim dù bọc kỹ lưỡng đến đâu, lâu
ngày cũng sẽ bị rỉ sét làm lòi ra giữa ánh sáng mặt trời
Thật đáng tiếc cho vận nước Việt Nam gặp thời bĩ cực, nếu không
có bọn Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Nga lãnh đạo thúc đẩy yểm trợ cho
tên tay sai đại gian manh xảo quyệt Hồ Chí Minh và nhóm đồng chí Việt
Minh Cộng sản của hắn thực hiện cái gọi là cách mạng muà Thu 1945,
thì nước Việt Nam Độc lập thống nhất từ ngày 11-3-1945 dưới quyền
lãnh đạo của cựu Hoàng Bảo Đại có thể đã theo thể chế chính trị Quân
chủ Lập hiến như Anh quốc, Nhật bản, Thái Lan…, thì dân tộc Việt
Nam đâu có phải tốn bao nhiêu xương máu của nhiều thế hệ một cách vô
ích và đất nước bị bom đạn tàn phá suốt mấy chục năm chiến tranh.
Suốt 35 năm qua đất nước không còn chiến tranh nữa mà quảng
đại quần chúng nhân dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục sống cuộc sống khổ
cực như nô lệ thời Phong kiến Thực dân, các quyền tự do nhân bản của
con người trong một nước độc lập không được tôn trọng bảo vệ dưới ách
cai trị chuyên chính độc đảng tàn bạo vô nhân đạo của bè lũ độc tài Việt
Cộng nay đã trở thành nhóm Phong kiến Thực dân đại tư bản Đỏ vong
nô bán nước hại dân !!!
Tất cả những điều trình bầy trên đây đều là những sự kiện thật đã
xẩy ra, và là những dấu ấn được khắc ghi sâu đậm trong bộ não của
người viết, theo thời gian chung sống hoà đồng cùng dân tộc đồng bào
của mình ngay trên đất nước Việt Nam, chớ không hư cấu tưởng tượng
cường điệu để tuyên truyền.
Quý Vị độc giả có toàn quyền tự do phân định giả chơn, và tự
quyết định nên đứng vào hàng ngũ những người đang tranh đấu hỗ trợ
quảng đại quần chúng dân tộc Việt Nam ở trong nước, đẩy mạnh cuộc
đấu tranh loại trừ bè lũ Việt Cộng gian xảo vô nhân đạo, để giành lại Tự
do Dân chủ Nhân quyền và cuộc sống bình đẳng ấm no hạnh phúc cho
toàn dân tộc Việt Nam, đã bị bọn bạo quyền này tước đoạt từ hơn nửa
Thế kỷ nay, hay vì lợi ích riêng tư vị kỷ cá nhân cố tình giả ngộ ngu ngơ
tiếp tục tin theo lời tuyên truyền xảo trá gian ngoan mời gọi nịnh vuốt
ngọt ngào của bè lũ phản dân hại nước Cộng sản VN này, mà hoà hợp
hoà giải quên đi quá khứ tàn bạo khát máu của chúng đối với dân tộc
13
suốt hơn 60 năm qua, và làm ăn buôn bán cộng tác tiếp tay cho chúng có
thêm thời cơ kéo dài cường quyền tiếp tục bán nước hại dân lâu thêm
nữa.
Phụ chú, Xin mời Qúy Vị đọc thêm bài viết dưới đây của ông Phạm Cao
Dương đăng trên Diễn Đàn 1000 Elites do Tiến sĩ Ngô văn Tuấn bên Âu
Châu đảm trách đưa lên ngày 23-1-2015.
Corona, Nam California, Hoa Kỳ.
NGUYỄN-HUY HÙNG.
Cựu đảng viên Phục Quốc hoạt động tại Thị xã Lạng Sơn trong thập
niên 1940.
Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tởng cục trưởng
Chiến tranh Chí Trị, kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến.
Cựu Tù nhân Chính trị, 13 năm khổ sai trong các trại tập trung của đảng
Việt Cộng và nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam sau ngày
Quốc hận 30-4-1975.
Subject:E. Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ - Tự Do Rồi
Date:Fri, 23 Jan 2015 20:01:38 +0100
From:Phong Lan <[email protected]>
To:Phong Lan <[email protected]>
Elite 2015-01-167
_____________________________________________________________
Elite là diễn đàn khoa học quan hệ quốc tế, thường xuyên tổ chức hội nghị quốc tế, chuyên nghiên cứu về tình
trạng căng thẳng ở Biển Đông và vùng phụ cận, cũng như về kinh tế và xã hội trong nước, đặc biệt là nhân
quyền
______________________________________________
From: Hinh KHONG TRONG
Date: 2015-01-23 19:56 GMT+01:00
Subject: Lẽ Ra Ngay Từ Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ - Tự Do Rồi
Phạm Cao Dương - Nhân dịp đầu năm Ất Mùi - 2015,
một chút lịch sử gửi tuổi trẻ Việt Nam: Lẽ Ra Ngay Từ
Năm 1945 Dân Tộc Ta Đã Có Dân Chủ - Tự Do Rồi
Thứ Năm, ngày 22 tháng 1 năm 2015
14
Hoàng Ðế Bảo Ðại
Do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời
của chính người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những
không biến chuyển như mọi người mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ
nhận, từ đó oan khuất cần phải được giải toả và làm sáng tỏ. Đây là một việc làm
vô cùng khó khăn mà một cá nhân khó có thể làm nổi. Tuy nhiên, tuy gọi là khó
nhưng những người quan tâm và hiểu biết ít nhiều vẫn phải làm để sau này sẽ có
người tiếp tục và điều chỉnh. Vì là một khoa học, sử học luôn luôn tiến bộ. Những
gì gọi là đúng ngày hôm nay có thể sẽ cần phải được ít ra là điều chỉnh và bổ
khuyết ngày mai, không có gì gọi là chân lý vĩnh cửu trong môn học này. Người
học sử không thể chủ quan nhất định điều mình nói, viết ra hay được học mãi mãi
là đúng, là chân lý bất di bất dịch.
Trong bài này cũng như một số bài trước, người viết xin gửi tới các bạn đọc, đặc
biệt là các nhà tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, một vài nhận
định về những gì Hoàng Đế Bảo Đại và vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam
độc lập là nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim cùng với các bộ trưởng của ông,
đã làm, trong một thời gian ngắn ngủi hơn ba tháng của năm 1945, từ ngày 8 tháng
5 đến ngày 6 tháng 8 năm 1945, để xây dựng một chính thể dân chủ lâu dài cho đất
nước và ban hành các quyền tự do cho người dân từ cách nay ngót 70 năm bằng
những đạo luật không phải là không tiến bộ. Đây là một việc làm mà 70 năm sau
với ít nhất ba thế hệ đã qua đi một cách uổng phí, với hàng triệu sinh mạng đã bị hi
sinh cùng với máu và nước mắt của người dân lành vô tội, người ta vẫn chưa muốn
làm hay chưa làm được.
Bốn bước tiến đã được Vua Bảo Đại thực hiện trong thời gian này gồm có:
15
Thứ nhất: Ban hành dụ “Dân vi Quý”
Thứ hai: Đích thân tham khảo ý kiến của các quan lại, các thân hào, nhân sĩ có uy
tín để thành lập một chính phủ mới
Thứ ba: Thành lập các hội đồng chuyên môn để mọi người có thể tham gia việc
soạn thảo hiến pháp và các sinh hoạt quan trọng của quốc gia
Thứ tư: Ban hành các đạo dụ liên quan đến các quyền tự do cơ bản của người dân
Sau đây là những chi tiết liên hệ tới bốn bước tiến kể trên:
Khẩu hiệu “Dân Vi Quý” của Hoàng Đế Bảo Đại
Đây là khẩu hiệu của vị vua cuối cùng của Nhà Nguyễn mà ai đã từng học sử Việt
Nam đều biết và cũng là bước tiến đầu tiên của vị hoàng đế này trên đường thực
hiện chế độ dân chủ của ông. Khẩu hiệu này được trích dẫn từ sách Mạnh Tử, một
trongTứ Thư của các Nhà Nho ta thời xưa[1], nguyên văn là “Dân vi quý, xã tắc
thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là “Dân là quý, sau đó là xã tắc, vua là nhẹ”, được
nhà vua chính thức đưa ra trong Dụ Số 1, mở đầu cho một giai đoạn mới trong
triều đại của ông. Dụ này được ban hành ngày 17 tháng 3 dương lịch năm 1945,
nguyên văn như sau:
Dương Lịch ngày 17 tháng 3 năm 1945
Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương trình sây nền thịnh vượng
chung ở Đại-Đông-Á đã giải phóng cho nước Nam ta, và Trẫm tuyên bố Việt
Nam độc lập rồi.
Nay Trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền
để bảo vệ lấy quyền lợi cho Tổ-quốc và giáng dụ rằng
1) Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “DÂN VI QUÍ’
2) Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại
nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp
tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
3) Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những
phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân.
Nhận định về đạo dụ này, Nguyễn Tường Phượng trong bài “Một Đạo Dụ,
Một Chế Độ” đăng trên Tri Tân Tạp Chí số ra ngày 20 tháng 4 năm 1945, trên
trang đầu, đã viết như sau:
16
“Ba điều ban bố trên đáng ghi vào lịch sử xứ này, thật là trên thuận lòng
giời, dưới đẹp lòng dân, quốc dân rất trông mong ở sự thi hành triệt để khác nào
như đói mong ăn và khát mong uống vậy.
“Nếu một khi nhà nước dùng được người tài, đức vẹn hai ra gánh vác, đảm
đương những trọng trách, lại thêm vào đấy cái chính sách thân dân, thể tất đến dân
nguyện thời nền tảng quốc gia xứ này có thể phục hưng.
“Được như vậy, đạo dụ ngày 17 tháng ba đáng ghi vào trang đầu lịch sử của
nước Việt-Nam độc lập.”
Còn Luật Sư Bùi Tường Chiểu, trong bài “Đạo Dụ Số 1 Của Đức Bảo Đại
Hoàng Đế” đăng trên Thanh Nghị, số 107, “Số Đặc-San Chính Trị”, ra ngày 5
tháng Năm 1945, cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của đạo dụ này.
Ngay những dòng mở đầu ông viết:
“Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan
trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những
quả quyết rõ ràng những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này.”
rồi nhấn mạnh hơn đến ba chữ Dân Vi Quý, ông phân tích:
“Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là đức Bảo-Đại
đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không
hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là
một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng
vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi
hành. Như thế là trong nền chính trị đức Bảo-Đại Hoàng-Đế đã định đặt quốc dân
ta đi vào một con đường mới.”
Cuối cùng đi xa hơn nữa, vị luật gia này còn nói tới hiến pháp. Ông viết:
“Xong chúng ta có thể căn cứ vào điều thứ 3 của bản Dụ mà nói rằng đức
Bảo-Đại sẽ tuyên bố các cơ quan chính trị mới mà trong câu cơ quan ấy sẽ có một
cơ quan có quyền lập pháp. Muốn tổ chức một cách phân minh các cơ quan hành
chính, lập pháp và tư pháp, tất nhiên phải có một đạo hiến-luật để ấn định rõ ràng
những quyền hành của các cơ quan chính trị.”
Đúng như vậy, Hoàng Đế Bảo Đại sau đó đã từng bước tiến hành những
biện pháp mang tính cách dân chủ để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp
của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Sau đây là những nét
chính của những nỗ lực này.
17
Đặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới và sửa soạn cho những công trình
tái dựng đất nước lâu dài (sửa lại chính thể và toàn bộ guồng máy chính
quyền)
Đây là bước tiến thứ hai trong tiến trình xây dựng chế độ dân chủ bằng cách tạo
dịp cho người dân mà đại diện là các nhân sĩ, trí thức và chuyên viên các ngành
được tham gia việc nước, đồng thời thực hiện khẩu hiệu Dân Vi Quý của Hoàng
Đế Bảo Đại. Bước đầu tiên là việc Vua Bảo Đại tham khảo ý kiến các quan lại, trí
thức nhằm thành lập chính phủ đầu tiên cho nước Việt Nam độc lập thay thế cho
Nội Các Phạm Quỳnh đã từ chức. Với bước tiến thứ hai, vào khoảng từ trung tuần
tháng sáu đến thượng tuần tháng bảy, vừa nhằm chiêu dụ nhân tài, vừa nhằm tạo
cơ hội cho người dân được góp phần vào việc đặt nền tảng và thiết lập các cơ chế
căn bản cho mọi phạm vi sinh hoạt lâu dài của đất nước, bốn hội đồng đã được
thành lập qua ba đạo dụ và một đạo sắc. Bốn hội đồng này gồm có:
Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp, do Phan Anh làm Thuyết Trình Viên gồm có các
ông Phan Anh, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hoè, Huỳnh Thúc
Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Đặng Thái Mai, Vương Quang Nhường,
Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn
Thinh và Nguyễn Trác (Dụ số 60 ngày 7 tháng 7 năm 1945. Dụ này được đăng
trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 7 tháng 7 năm 1945).
Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính, do Vũ Văn Hiền làm
Thuyết Trình Viên, gồm có các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Ân, Trần Văn
Chương, Phạm Khắc Hoè, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát,
Trần Văn Lý, Trần Đình Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Đặng Như Nhơn, Dương Tấn
Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Đình Thảo và Phan Kế Toại (Dụ số 70 ngày 30 tháng
6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 9 tháng 7 năm
1945).
Hội Đồng Cải Cách Giáo dục, do Hoàng Xuân Hãn làm Thuyết Trình Viên, gồm
có Bà Hoàng Thị Nga, các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân,
Nguyên Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thành Giung, Ngụy Như Kontum,
Bùi Kỷ, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Quang Oánh, Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ
Đắc Thắng, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Đạo Thúy và Nguyễn Xiển (Dụ số 71 ngày
30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 10
tháng 7 năm 1945).
Hội Đồng Thanh Niên. Hội Đồng này gồm có
Chủ Tịch: Hoàng Đạo Thúy
18
Phó Chủ Tịch: Trần Duy Hưng, Bắc Chi Bộ
Phó Chủ Tịch: Tạ Quang Bửu, Nam Chi Bộ
Cố Vấn Bắc Chi Bộ: Bà Nguyễn Thị Thục Viên, các ông Nguyễn Xiển, Phạm
Thành Vinh, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Xuân
Phương, Trần Văn Quý, Phan Huy Quát, Ngụy Như Kon-tum, Phạm Ngọc Khuê,
Nguyễn Tường Bách.
Cố Vấn Nam Chi Bộ: Bà Nguyễn Đình Chi, các ông Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn
Văn Thủ, Tôn Quang Phiệt, Kha Vạng Cân, Nguyễn Tư Vinh, Huỳnh Văn Tiểng,
Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kinh Chi và Thái Can (Sắc số 65 ngày 15 tháng 6
năm 1945)[2]
Khi đọc danh sách các hội viên được đề nghị tham gia các hội đồng kể trên để trình
lên Hoàng Đế Bảo Đại phê duyệt, Phạm Khắc Hoè tỏ ý thắc mắc là có tên những
người ông “chưa từng thấy bao giờ” nên đã hỏi Trần Trọng Kim và được Trần
Trọng Kim cho biết là các danh sách này “đã được toàn thể Nội các và nhất là các
ông bộ trưởng thuyết trình viên đồng ý cả rồi, tuy chưa hỏi được ý kiến của tất cả
những người hữu quan, song chắc họ vui lòng nhận cả, vì lúc này ai mà chẳng sẵn
sàng ra thờ vua giúp nước” và nói thêm “Vậy ông chịu khó xin Hoàng Đế phê
chuẩn đi cho kịp thời, đừng nên hỏi đi hỏi lại nữa.” Kết quả, theo lời Phạm Khắc
Hoè, là“chỉ mấy phút sau, bốn dự thảo của nội các trở thành ba đạo dụ và một đạo
sắc chính thức.”[3] Những lời đối thoại này cho ta thấy tính cách hữu hiệu và làm
việc chạy theo thời gian của Trần Trọng Kim và nội các của ông dù đó mới chỉ là
ban hành được những đạo dụ hay đạo sắc để làm nền tảng pháp lý cho những bước
kế tiếp trong tương lai. Nó cũng nói lên tính cách hữu hiệu của chế độ quân chủ
chuyên chế và sự tin tưởng của Hoàng Đế Bảo Đại vào vị thủ tướng và nội các
đương thời, vì bình thường những quyết định liên hệ đến thể chế và những cơ chế
tương lai trong một quốc gia dân chủ bình thường không thể nào có thể thực hiện
được trong vòng trên dưới hai tháng tính từ ngày Nội Các Trần Trọng Kim họp
phiên họp đầu tiên, ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 7, ngày đạo dụ cuối cùng
trong bốn đạo sắc dụ này được đệ trình, rồi được vị nguyên thủ quốc gia phê chuẩn
trong có“mấy phút sau”. Một thời gian kỷ lục. Cũng nên để ý là các vị bộ trưởng
được Trần Trọng Kim nói đến ở đây là Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, Bộ
Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Hiền và Bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân
Hãn. Cả ba, ngoài bằng cấp chuyên môn, đều là những chuyên viên hàng đầu của
Việt Nam thời đó. Họ là những người từ lâu đã tìm hiểu, nghiên cứu và viết
những những bài tham khảo bàn về những lãnh vực riêng của mình và là những
cây bút nòng cốt của tờ Thanh Nghị, một thứ “think tank” của chính phủ đương
thời. Đây cũng là dịp để họ thi thố tài năng và thực thi hoài bão mà từ lâu họ đã
từng thai nghén. Cũng nên nhớ là thành ngữ “thờ vua giúp nước” cho đến thời
19
điểm này vẫn chưa trở thành lạc hậu. Thế nhưng họ vẫn bị Phạm Khắc Hoè cản trở
và mỉa mai. (Chú thích)
“Tuần lễ của các Tự Do”
Đây là sự ban hành một số những đạo dụ ấn định những nguyên tắc liên hệ đến các
quyền tự do căn bản của người dân. Ba đạo dụ sau đây đã được báo Thanh
Nghị số 117, ra ngày 21 tháng Bảy năm 1945[4] ghi nhận theo thứ tự thời gian
gồm có:
1. Dụ số 73, ngày 26 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 5 tháng 7 dương lịch
năm 1945 về tự do lập nghiệp đoàn.
2. Dụ số 78, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945
về tự do lập hội.
3. Dụ số 79, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Đại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945
về tự do hội họp.
Cả ba đạo dụ này đã được ban hành trong một thời gian ngắn là thượng tuần tháng
bảy năm 1945 và Thanh Nghị đã gọi tuần lễ này là “Tuần của các Tự Do.”
Về chi tiết, báo Thanh Nghị tóm tắt như sau:
Tự do lập hội: Từ nay phàm người công dân Việt Nam ai nấy đều có quyền lập
những hội có mục đích chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xã hội, ngoài những hội có
mục đích kiếm lợi. Chỉ cần mục đích của hội không trái với pháp luật, luân lý
hoặc là có hại đến nền duy nhất và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Nhưng cần
phải báo trước với nhà chức trách ít nhất là 30 ngày trước khi hoạt động
Muốn phân biệt các hội do đạo Dụ số 78 với các hội có mục đích kiếm lợi phải xét
xem các hội viên có chia lãi cho nhau hay không? Nếu chia lãi thì tất phải theo
những luật lệ hiện hành về các hội buôn.
Nhiều người hội họp với nhau nhiều lần cũng lại không họp thành một hội vì
không có điều lệ để hội viên theo. Cho nên trong tờ khai phải đính theo cả bản
điều lệ của hội mình định sáng lập.
Hội có thể tự giải tán (theo điều lệ hay theo ý muốn toàn thể hội viên) hay bị toà án
giải tán, nếu mục đích trái với pháp luật, luân lý, hại tới quốc gia, nếu không khai
báo cho đúng thể lệ (chưa kể những sự trừng phạt về tội hình những người có trách
nhiệm). Tài sản của hội khi đó sẽ phân phát theo điều lệ của hội, theo quyết định
của đại hội đồng của hội hay theo lệnh của toà.
20
Có hai thứ hội: hội thường và hội được Hội Đồng Nội Các công nhận là một hội có
ích lợi chung. Hội thường có quyền tố tụng, thu nhập tiền đóng góp của hội viên,
có quyền mua, quyền sở hữu và quản lý nhà hội quán, quản trị những bất động sản
mà bộ Nội Vụ và Tài Chính cho phép mua. Còn hội được chính quyền công nhận
là có ích lợi chung thì ngoài những quyền này còn có quyền được nhận những tặng
dữ.
Tự do hội họp: Người dân được quyền tự do hội họp nhưng Dụ số 72 phân biệt
hai thứ hội họp là hội họp trong tư gia có tính cách gia đình hay lễ nghi và các hội
họp ở những nơi công cộng.
Đối với các hội họp trong gia đình hay lễ nghi hay những hội họp của các hội tư
nhóm họp trong tư gia với số người tham dự không quá 30 người, người triệu tập
không cần phải khai báo. Các cuộc hội họp khác cũng được tự do nhưng phải khai
báo với nhà chức trách. Tất cả các cuộc hội họp ở các nơi công cộng như họp ở
ngoài đượng phố, trong các công viên hay các thị xã đều phải xin phép trước. Giờ
họp không được quá 12 giờ đêm trừ khi có phép riêng. Ngoài ra một nhân viên
hành chánh hay tư pháp cũng có quyền tới dự.
Tự do lập nghiệp đoàn: Việc lập nghiệp đoàn cũng được coi như quyền tự do của
người dân với những quy luật được ấn định trong Dụ số 73, theo đó, để tránh
không cho những hội kiếm lợi giả danh làm nghiệp đoàn với mục tiêu trốn thuế,
các nghiệp đoàn bị cấm không được chia lời cho các đoàn viên và khi giải tán thì
của cải không được đem chia cho các đoàn viên. Đồng thời để bảo vệ những người
trong nghề, dụ này cấm không cho nghiệp đoàn cưỡng ép những người này phải
gia nhập hay bắt đoàn viên phải ở lại trong nghiệp đoàn vĩnh viễn nhưng ngược lại
cho phép nghiệp đoàn được từ chối không nhận một người làm đoàn viên theo điều
lệ của mình. Mặt khác, nghiệp đoàn có tư cách pháp nhân trong việc bảo vệ các
quyền lợi của mình, có quyền sở hữu các động sản hay bất động sản nếu xin phép,
có quyền liên kết với nhau để thành lập các liên đoàn và về phía chính quyền,
chính quyền có quyền cử nguời kiểm soát việc quản lý tài chánh của nghiệp đoàn
hay liên đoàn. Cuối cùng vì nghiệp đoàn là một tổ chức có thể dùng để tranh đấu
nên người sáng lập bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam và phải ở trong nghề ít
nhất một năm.
Vì ba đạo luật kể trên đã được ban hành trong thượng tuần tháng 7 năm 1945 nên
tác giả của bài báo gợi ý gọi tuần lễ này là “Tuần Lễ Của Các Tự Do”. Mặt khác
nếu người ta theo dõi những cuộc hội họp của người dân ở cả hai miền Trung và
Bắc đã diễn ra liên tiếp từ ngày 10 tháng 3, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, đặc biệt
là ở Huế và Hà Nội với hàng vạn người tham dự một cách tự do, thoải mái, thì sự
21
ban hành các đạo dụ này “đã làm hợp pháp một tình trạng riêng của các tỉnh ở Bắc
Bộ Việt Nam vì từ sau ngày 9 tháng 3 các hội, các đoàn mọc lên như nấm, các
cuộc hội họp công khai tự do vô cùng”.[5]
Kết Luận
Tất cả các công trình lớn lao kể trên đã được Hoàng Đế Bảo Đại, Thủ Tướng Trần
Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc
lập trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trong một thời gian kỷ lục chưa
tới ba tháng ngắn ngủi kể từ ngày 8 tháng 5 khi chính phủ này được trình diện đến
ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi chính phủ này từ chức và được Hoàng Đế Bảo Đại
cho phép, ngắn hơn nữa nếu tính đến ngày 9 tháng 7, ngày các Dụ số 78 về Tự Do
Lập Hội và số 79 về Tự Do Hội Họp được nhà vua chấp nhận. Đây là một phần
của một cuộc cải cách rộng lớn hơn bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt đương thời,
gọi theo Sử Gia Na Uy Stein Tonnesson là “từ trên xuống”, còn gọi theo Vũ Ngự
Chiêu thì đó là một cuộc cách mạng cũng từ trên xuống: “cách mạng từ trên
xuống”. Cả hai sử gia này đều có lý vì tính cách nhanh chóng ít ai có thể ngờ của
nó. Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao nó có thể xảy ra được trong một chế độ
quân chủ chuyên chế đã từng tồn tại cả ngàn năm như vậy? Có ba sự kiện người ta
có thể nghĩ tới để trả lời câu hỏi này. Đó là ý muốn của người cầm đầu hay đúng
hơn vị nguyên thủ quốc gia, ước vọng và khả năng của những người lãnh nhiệm vụ
thực hiện cuộc cải cách theo ý muốn của vị nguyên thủ quốc gia ấy và cuối cùng là
sự đón nhận của dư luận đương thời. Cả ba sự kiện này Đế QuốcViệt Nam ở thời
điểm đương thời đều có đủ. Từ Vua Bảo Đại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và
các vị bộ trưởng đều là những người được huấn luyện đầy đủ, có kiến thức và nhất
là có thực tâm, tha thiết với nền độc lập và sự tiến bộ của nước nhà. Điều đáng tiếc
là biến cố 19 tháng 8 đã xảy ra, Việt Minh cướp chính quyền và tất cả đều đã bị
dẹp bỏ, điển hình là ngày 22 tháng 9 năm 1945, 20 ngày sau khi tuyên ngôn độc
lập, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ các nghiệp đoàn trong toàn cõi Việt
Nam[6] và Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký NghịĐịnh ngày 14 tháng 9
giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức trong khi cùng ngày lại ký một nghị định khác “cấp
năng lực pháp luật”[7] cho hội “Văn Hoá Cứu Quốc Việt Nam” (Việt Minh)[8].
Cuối cùng thì sau 70 năm, cho đến tận ngày hôm nay khi bài này được viết, bất
chấp mọi sự hy sinh, gian khổ, máu và nước mắt của hàng triệu đồng bào,Tự Do và
Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái vẫn nguyên vẹn chỉ là niềm mơ ước hầu như còn
lâu mới đạt được của người dân Việt.
Phạm Cao Dương
Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, những người
đã góp phần xây dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập và một thế hệ
trí thức mới đã đứng ra làm việc nước
22
[1]Đoàn Trung Còn, dịch giả, Tứ Thư, Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh
Tử. Quyển Bảy, “Chương Sau: Tận Tâm”. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2000,
tr. 263.- Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải), Tứ
Thư Tập Chú, “Mạnh Tử, ChươngXIV, Tân Tâm, Chương Cú Hạ”. Hà nội: Nhà
Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 1346.- Nguyễn Hiến Lê, Mạnh
Tử. Saigon: Cảo Thơm, 1975; Nhà Xuất Bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, Los
Alamitos, CA, tr. 58. – Phan Bội Châu, Khổng Học Đăng Trọn Bộ. Houston: Xuân
Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 463.-Bàn về khẩu hiệu này, Phạm Khắc
Hoè, Ngự Tiền Tổng Lý Văn Phòng của Vua Bảo Đại và là người thân Việt Minh
nằm trong Đại Nội bên cạnh nhà vua cho là do một người nào đó “mớm” cho nhà
vua chứ Bảo Đại không thể có ý tưởng đó được. Nhận xét này nhiều phần không
đúng nếu ta để ý tới căn bản giáo dục mà Bảo Đại nhận được xuyên qua Phụ Đạo
Lê Nhữ Lâm từ hồi ông mới 6 tuổi rồi sau đó theo ông sang Pháp trong suốt thời
gian ông ở Pháp để dạy ông về đạo làm vua theo truyền thống Việt Nam trong đó
có Khổng Giáo, tiếp theo là những gì ông làm trong thời kỳ cải cách trước đó và
những gì ông viết trong hồi ký sau này của ông. Xem thêm Phạm Khắc Hoè, Từ
Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1987,
tr. 22-23.
[2]Phạm Khắc Hoè, Từ Triều Đình Huế…, dẫn trên, tr. 41-43.
[3] - như trên -, tr. 41.
[4]Trong mục “Đời Sống Đông Dương qua bài báo nhan đề“Mấy Đạo Dụ về Tự
Do”, tr. 23-25.
[5]- như trên-, tr. 25
[6]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, số 2, 6 Tháng Mười 1945, “Mục Lục Công
Báo ngày 6 tháng 10 năm 1945”
[7]Tư cách pháp nhân
[8]Việt Nam Dân Quốc Công Báo, dẫn trên.
23
NHÌN LẠI MÌNH 62 NĂM VỀ TRƯỚC
Tôi mãn Khoá Peleton I Vệ Binh, được thăng cấp Hạ sĩ Nhất vì đậu thủ khoa,
trở về Đại đội đang đóng quân tại thị xả Quảng Yên làm việc được khoảng một
tháng sau thì Thiếu Úy Boulanger Đại đội trưởng được thăng cấp Trung Úy, và
nhận được lệnh ra Hongay thành lập Bộ Chỉ huy Liên đoàn Tự trị Vệ Binh Biên
phòng miền Đông Bắc Kỳ (Groupe Autonome de la Garde Frontalière de l’Est
Tonkinois) để chỉ huy một số Đại đội Vệ Binh đang trấn giữ các vị trí an ninh vòng
bên Vịnh Hạ Long là Hongay, Cẩm Phả, Bãi Cháy, và Quảng Yên. Tôi là một trong
những người được ông đem theo để thành lập Bộ Tham mưu Liên đoàn, đóng
trong một biệt thự to rộng ba tầng lầu nguyên thuộc sở Quan Thuế Pháp ngày xưa
trên một đỉnh núi tại thị xã Hongay nhìn ra Vịnh Hạ Long.
Làm việc tại Bộ Tham mưu mới này, Tôi thường xuyên phải đi theo làm
thông dịch viên cho Liên đoàn trưởng trong những dịp thanh tra các Đại đội bằng
thuyền buồm có động cơ, ngoài công việc hàng ngày là thư ký đánh máy (nhưng
có nhiều văn thư thuộc loại Mật và Tối Mật được giao cho các Trung sĩ người Pháp
đánh máy chứ không phải Tôi), nhật tu các hồ sơ quân số các Đại đội, và phụ trách
việc tổng kết tình hình quân sự hàng đêm do các Đại đội gửi về trình lên Liên đoàn
trưởng y như Hạ sĩ quan thường vụ của Liên đoàn vậy. Ngoài ra Trung Úy
Boulanger còn đưa cho Tôi những cuốn cẩm nang huấn luyện chỉ dẫn các trách vụ
của Hạ sĩ quan thuộc Vệ Binh Pháp để tìm học. Nhờ vậy, Tôi mới thấy rằng quân
đội cũng là một ngành nghề chuyên nghiệp quan trọng trong xã hội, làm Tôi thích
thú, khác hẳn với mục đích ban đầu của Tôi là nhập ngũ để có cơ hội thoát khỏi
thị xã Lạng Sơn miền thượng du, xuống Hà Nội phục vụ cho hết hạn kỳ tình
nguyện 2 năm thì giải ngũ để trở về đời sống dân sự, tiếp tục học các ngành nghề
khác có lợi ích hơn cho xã hội và cuộc sống sau này của bản thân.
Tại Hongay, các văn phòng làm việc của Bộ Chỉ Huy Liên đoàn và nơi cư ngụ
của Liên đoàn trưởng và các nhân viên thuộc Ban tham mưu và lính phòng vệ BCH
Liên đoàn, cũng đều ở trong cùng một biệt thự, thành ra tất cả cấp chỉ huy và
nhân viên thuộc quyền đều thấy mặt nhau thường xuyên suốt ngày đêm.
24
Hai tháng trôi qua, từ Hà Nội, một ông Đại Úy Vệ binh Pháp tên Fauvel mới
ở Pháp sang, đến nhận trách nhiệm làm Liên đoàn trưởng thay thế Trung Úy
Boulanger trở về làm Đại đội trưởng Đại đội 4 tại thị xã Quảng Yên như cũ. Tôi
cảm thấy rất buồn vì phải ở lại không được đi theo Trung Úy Boulanger, một vị chỉ
huy trẻ trung vui tính lúc nào cũng tỏ ra rất nhân hậu phóng khoáng dân chủ, nên
toàn thể nhân viên người Pháp cũng như Việt rất quý mến.
Chắc là đã được Trung Úy Boulanger giới thiệu sao đó, nên Đại Úy Fauvel cư
xử với Tôi cũng rất lịch thiệp y như cư xử với các Hạ sĩ quan người Pháp vậy. Ông
này tuổi cỡ xấp xỉ 40, già hơn Trung Úy Boulanger cả chục tuổi, tính tình rất điềm
đạm, tốt bạn và rất cởi mở bình dân, coi Tôi như con. Những lúc rảnh sau bữa
cơm tối, ông thường hỏi truyện Tôi về Đạo Cao Đài, vì ông đang nghiên cứu về
Đạo này. Tôi thú nhận là có nghe nói tại tỉnh Tây Ninh gần thành phố Saigon, là
nơi có Thánh Thất lớn của Đạo Cao Đài, và hình như Đạo này thờ cả Chúa Cứu
Thế, Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng nhiều Vị Thánh hiền, danh nhân khác như Victor
Hugo, Trần Hưng Đạo, Khổng Phu Tử…, và đặc biệt dùng hình ảnh tượng chưng
cho Đạo bằng hình MỘT CON MẮT nằm trong hình tam giác cân, chớ không phải
là hình CHỮ VẠN của Đạo Phật, hay THẬP TỰ GIÁ của Thiên Chuá Giáo, và Tôi
cũng không biết rõ về nguồn gốc và Tôn chỉ của Đạo này ra sao. Đại Úy Fauvel đã
đưa cho Tôi mượn cuốn Le Caodaisme để tham khảo tìm hiểu.
Tôi làm việc dưới quyền Đại Úy Fauvel chưa được trọn tháng, thì một buổi
tối sau bữa cơm, ông gọi Tôi vào văn phòng đưa cho một tờ Sự vụ lệnh (Ordre de
mission) mà ông đã ký và do ai đánh máy chứ không phải Tôi, để sáng sớm mai
lên đường có xe đưa đi Hà Nội. Tôi ngạc nhiên hỏi để làm gì, thì ông ấy cười nói là:
“Đại Tá Tư lệnh Lực lượng Vệ Binh Bắc Kỳ, gửi điện văn ra lệnh phải cho anh trình
diện Bộ Tư lệnh tại trại Ngọc Hà ở Hà Nội gấp, để đưa anh đi Huế nhập học khoá
đào tạo Sĩ quan Việt Nam, theo quyết định của Bộ Quốc Phòng Chính phủ Quốc
gia Việt Nam.”
Tôi sửng sốt và lo lắng nói: “Úi chà! học làm sĩ quan à, liệu Tôi đủ khả năng
theo học không Đại Úy?” Ông ta cười thân mật vỗ vai Tôi nói: “Tôi mừng cho anh,
tương lai của anh sáng sủa lắm, chịu khó cố gắng. Tôi tin rằng anh sẽ đạt được kết
quả tốt.”
Sáng hôm sau, xe đưa Tôi và một số nhân viên đi công tác tại Hà Nội rời
Hongay, qua phà Bãi Cháy (Tôi nhớ hình như Pháp gọi là Watchay) để đi theo
Quốc lộ 10 về qua Quảng Yên, Núi Đèo sang Hải Phòng đi Hà Nội. Nhưng khi xe tới
thị xã Quảng Yên thì trời đã xế chiều, nên phải ghé BCH Đại đội 4, nay đã di
chuyển vào làng Yên Trì, để nghỉ qua đêm. Tôi cảm thấy rất thích thú có được dịp
gặp lại Trung Úy Boulanger trước khi lên đường. Thầy trò cũ gặp nhau, tay bắt
25
mặt mừng, và khi được Tôi trình bầy lý do sự ra đi của Tôi, thì thấy Trung Úy
Boulanger không tỏ vẻ ngạc nhiên gì cả. Ông chậm rãi chúc Tôi đi đường bình an
may mắn và kết luận: “Tôi đã biết trước về sự việc này sẽ xẩy đến với anh, nhưng
không ngờ lại nhanh như vậy. Khi nào tới nơi, nhớ biên thư về đây, Tôi sẽ gửi tiếp
những tài liệu cần thiết khác giúp anh học thêm ngoài những gì nhà trường sẽ chỉ
dạy.” Lúc đó Tôi mới hiểu ra rằng chính Trung Úy Boulanger là ân nhân đã đề nghị
cho Tôi theo học khoá đào tạo sĩ quan này từ khi ông đang còn làm Liên đoàn
trưởng, và do đó ông đã tạo môi trường khích lệ Tôi phải tìm học những điều cần
am hiểu kỹ càng về quân đội trước khi đi học Khoá sĩ quan, mà Tôi không hề biết.
Sáng hôm sau, chúng tôi rời Quảng Yên tiếp tục cuộc hành trình, mãi đến
chiều tối xe mới tới Hậu Cứ của BCH Liên đoàn Vệ binh Biên phòng miền Đông Bắc
Kỳ, đóng trong khu gia binh gần vận động trường Ngọc Hà. Hôm đó là ngày Thứ
Tư trong tuần, đến sáng Thứ Bẩy mới là ngày phải trình diện Bộ Tư lệnh Vệ binh
Bắc Kỳ để làm thủ tục. Lợi dụng cơ hội được hai ngày nghỉ xả hơi, Tôi đi thăm khu
Văn Miếu, Đền Quan Thánh bên cạnh Hồ Tây, Đền Ngọc Sơn giữa Hồ Hoàn Kiếm,
và Chùa Một Cột, để cầu xin quý Vị Linh Thần Tiền Nhân của dòng giống Tiên Rồng
phù hộ cho Tôi gặp nhiều may mắn trong tương lai sự nghiệp của mình.
Sáng Thứ Bẩy, xe Hậu Cứ đưa Tôi (mang theo quân trang mới) đến trình
diện tại Trại Ngọc Hà, nơi hồi đầu năm Tôi theo học Khoá Peleton-1. Đến nơi, thấy
khoảng hơn chục anh em cũng trạc tuổi hoặc hơn Tôi vài bốn tuổi, đã có mặt ở đó
từ trước. Chỉ có 5 người quen là Trung sĩ (TS) Nguyễn Khắc Thăng, TS Đàm Quang
Yêu, TS Nguyễn Bá Liêm và TS Lê văn Nhật. Hồi Tôi là Binh Nhất học Peleton-1 để
ra Hạ sĩ, thì các anh ấy đã là Hạ sĩ vừa tốt nghiệp Peleton-1 được lưu giữ ở lại học
tiếp Peleton-2 để ra Trung sĩ. Còn những người kia, biết được tên là nhờ xem tờ
Sụ Vụ Lệnh do anh Thăng làm trưởng toán cầm giữ, đó là Binh Nhì (B2) Bùi Đình
Đạm, B2 Nguyễn văn Thản, Hạ sĩ (HS) Đàm Quang Quảng, HS Đàm Quang Đột, HS
Phạm văn Khái, HS Đỗ văn Tâm, HS Phan Huy Chương, HS Phạm Ngần, và Nguyễn
văn Thành mang cấp bậc Hạ sĩ Nhất như Tôi, nhưng lớn hơn chúng tôi cả chục tuổi
lận (sau này đang học mới được hơn tháng thì anh ấy rời trường không học tiếp,
không biết vì lý do gì). Như vậy, tổng cộng nhóm chúng tôi gồm cả thầy 14 người,
chia ra: 4 Trung sĩ, 2 Hạ sĩ Nhất, 6 Hạ sĩ, và 2 Binh Nhì.
Đến khoảng 9 giờ, tât cả chúng tôi được một Thượng sĩ Pháp đến mời lên
xe để di chuyển qua cầu Long Biên sang phi trường Gia Lâm. Chúng tôi biết ngay là
đi bằng máy bay Hàng không dân sự, vì nếu đi máy bay quân sự thì phải tới phi
trường Bạch Mai ngay gần Ngã Tư Vọng. Vào tới phi trường Gia Lâm, mọi người
được hướng dẫn vào làm thủ tục ghi danh, cân hành lý đi máy bay của hãng SITA,
loại máy bay hai động cơ, cửa cho hành khách lên xuống được mở ra ở phía đầu
26
phi cơ, ngay phiá bên dưới phòng lái của phi hành đoàn. Đi chung phi cơ với
chúng tôi là khoảng 20 hành khách dân sự.
Làm xong thủ tục, chúng tôi được dẫn vào phòng đợi giờ lên phi cơ, thì Đại
Tá Tư lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ và Đại úy Fauvel Liên đoàn trưởng Vệ Binh Biên phòng
miền Đông Bắc Kỳ bước vào thăm hỏi bắt tay chúng tôi. Họ chúc chúng tôi đi
đường bình an, giữ gìn sức khoẻ cho tốt, và nhất là chăm chỉ học hành đạt kết quả
tốt, để sau này về chỉ huy các đơn vị Vệ Binh.
Sau khoảng hơn một giờ bay cao tít trên các tầng mây, máy bay bắt đầu hạ
cao độ lượn vòng đáp xuống phi trường Phú Bài gần Huế. Đây là một phi trường
dùng chung cho cả máy bay quân sự và dân sự, nằm dài trên dải đất giữa Biển
Đông và dẫy Trường Sơn trùng điệp cao vút rậm rạp cây rừng. Trung úy An thuộc
Bộ chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn (do Đại úy Nguyễn Ngọc Lễ chỉ huy, về sau
các đơn vị Việt Binh Đoàn được cải biến thành các Tiều đoàn Bộ binh Quân đội
Quốc gia Việt Nam, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông Lễ đã được Tổng Thống Ngô
Đình Diệm cất nhắc thăng cho lên đến cấp Trung Tướng) đợi đón chúng tôi và
hướng dẫn về Trường. Trung Úy An là sĩ quan phụ trách về hành chánh và tiếp vận
của Lực lượng Việt Binh Đoàn.
Xe chở chúng tôi rời phi trường chạy trên quốc lộ song hành với đường xe
lửa xuyên Việt, được khoảng mấy chục cây số thì qua gần bên chân núi Ngự Bình
(nơi có Trường huấn luyện Hạ sĩ quan cho Lực lượng Việt Binh Đoàn, có ga xe lửa
An Cựu, có doanh trại của đơn vị Thiếp giáp Pháp), qua chợ An Cựu, qua thêm
một quãng đồng trống thì bắt đầu vào Khu Pháp (quartier francais) bên tả ngạn
sông Hương của Thị xã Huế. Xe đến đầu cầu Tràng Tiền rẽ phải theo con đường Lê
Lợi đi về phía Đập Đá trên đường đi Phú Vang chớ không qua cầu, được chừng
mấy trăm thước thì đến Trường.
Trường là một khu biệt thự rộng, bề ngang 400 mét và sâu khoảng 200 mét,
nằm bên phiá trái đường sát bên bờ sông Hương, đối diện với chợ Đông Ba phía
bên kia sông. Suốt mặt tiền Trường sát ngay bên lề phố là một dẫy tường gạch
cao 2 mét, ở khoảng giữa có một cổng rộng chừng 8 mét, phiá trên gắn bảng hiệu
hình vòng cung sơn mầu xanh lá cây, trên kẻ chữ mầu vàng “ECOLE DES OFFICIERS
VIETNAMIENS”. Hông bên trái Trường hướng Tây sát với các nhà dân, được ngăn
bằng một hàng rào kẽm gai cao 2 mét đan ô vuông dầy 20 phân, từ lề đường phố
thẳng tuốt xuống tận bờ sông Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi tiếp vận ra
vào Trường. Hông bên phải hướng Đông có một dẫy tường đá dầy 40 phân, cao
hơn 1 mét để ngăn cách với khu biệt thự kế bên cũng rất rộng đang bỏ trống
không người ở.
27
Sau này vào năm 1951, khi đào tạo xong 2 khoá đầu tiên: Khoá 1 (Bảo Đại,
đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà đổi tên là Phan Bội Châu) và Khoá 2 (Quang Trung) thì
Trường di chuyển vào Đà Lạt bên cạnh hồ Saint Bennois, cải danh thành Trường
Võ Vị Liên Quân Đà Lạt (EMIAD=École Militaire Inter Armes DaLat), đến thời Đệ
Nhất Cộng Hoà Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho xây cất cơ sở Trường mới gần Hồ
Than Thở và cải danh thành Truờng Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Tính từ cuối năm
1948 cho đến 30-4-1975 Trường đã đào tạo cả thẩy được 31 Khoá cung cấp nhiều
ngàn Thiếu Úy Hiện dịch cho Quân đội.
Sau khi Trường Sĩ Quan Việt Nam bên bờ sông Hương rời về Đà lạt, cơ sở cũ
này được phá đi cùng với biệt thự bên cạnh để xây cất Trường Võ bị Địa Phương
(École Militaire Régionale) thuộc Quân Khu 2, làm nơi đào tạo các Chuẩn Úy
(Aspirant) đáp ứng cho nhu cầu bành trướng của Quân đội. Mấy năm sau, Trường
Võ bị Địa phương giải tán, cơ sở này được giao cho Quân Vụ Thị Trấn Huế quản trị
dùng làm Câu Lạc Bộ và nhà vãng lai cho Sĩ quan độc thân. Sau trận Việt Cộng tấn
công chiếm Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tôi được Tổng Tham mưu trưởng Bộ
Tổng Tham mưu chỉ thị dẫn đoàn Tổng thanh tra Quân đội hỗn hợp Việt-Mỹ ra
quan sát duyệt xét tình trạng Quân Y Viện nằm trong thành Mang Cá kế bên Bộ Tư
lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (lúc đó do Đại Tá Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh), nên đã
có dịp cư trú trong Câu lạc bộ Sĩ quan này bên cạnh bờ sông Hương.
Bước qua ngưỡng cổng chính của Trường vào trong, ngay bên phiá trái là
một sân tập họp thật rộng, có dựng một cột cao treo cờ Quốc gia Việt Nam (nền
vàng 3 sọc đỏ). Tiếp đến là một ngôi nhà ngói khoảng 400 mét vuông, dùng làm
trụ sở của Ban Giám Đốc Trường gồm văn phòng Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng,
văn phòng Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện, các văn phòng của các sĩ quan Huấn
luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khoá sinh, và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur).
Phiá bên phải, sau cổng vào là Trạm kiểm soát gồm văn phòng Sĩ quan trực
nhật, Phòng Y tế, và nơi ngủ của các lính canh phòng doanh trại. Kế đến là một
dẫy nhà dài khoảng 50 mét, rộng 8 mét, dùng làm phòng ăn tập thể cho khoá sinh,
đồng thời cũng dùng làm Giảng Đường lớn khi phải tập trung toàn Khoá. Ngay sau
lưng Trạm kiểm soát và Nhà Ăn tập thể, có 3 dẫy nhà khác nhỏ và ngắn hơn, dùng
làm phòng học và sinh hoạt riêng cho từng Trung đội Khoá sinh. Tất cả các dẫy
nhà đều lợp mái bằng gốc dạ rất dầy, tường chung quanh là liếp nứa đan. Mỗi nhà
chỉ có 2 cửa ra vào tại 2 đầu nhà, dọc hai bên nhà là 2 dẫy cửa sổ rộng có cánh liếp
nâng lên hạ xuống được để thông thoáng gió và cho ánh sáng lọt vào nhà những
khi không bật đèn.
Bên trong Nhà Ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1 mét ở chính giữa, suốt chiều dài
của nhà có kê 2 dẫy bàn dài bề ngang 1 mét với những dẫy ghế dài không lưng tựa
28
dọc 2 bên để làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe các giảng viên
ngoài đến thuyết trình. Đến giờ ăn, các Trung đội tập họp ngoài sân rồi lần lượt
theo nhau vào kiếm chỗ ngồi ăn 4 người một mâm. Cơm và thức ăn đã được nhân
viên nhà bếp (do nhà thầu tư nhân đảm trách) bầy sẵn từng mâm có lồng bàn đậy
cản ruồi trên các bàn. Thức ăn hàng bữa gồm 3 món (xào, mặn, và canh), nấu theo
khẩu vị người Trung, và thường là hơi ít không đủ no. Bữa điểm tâm nào cũng là
xôi đậu (ăn xường xượng như có lẫn gạo tẻ) chấm muối mè có bỏ thêm chút
đường cát trắng. Đa số anh em thường phải ăn quà thêm, bún bò, cháo huyết,
bánh mì cặp thịt, mua của các gia đình tư nhân ở sát hàng rào bên hông Trường,
hoặc bánh xèo “Mụ Béo” ngay bên kia đường trước cổng Trường, bán cho ăn chịu
ghi sổ cuối tháng lãnh lương mới trả.
Bên trong Nhà Học riêng của từng Trung đội Khoá sinh được trang trí y như
trong một lớp dành cho các học trò Trung học vậy. Suốt bề dài căn nhà, kê 2 dẫy
bàn học trò, loại bàn liền ghế cho 2 người ngồi chung. Nơi đầu phòng có một bảng
đen lớn và một bàn viết và ghế dành riêng cho Huấn luyện viên đến sinh hoạt với
khoá sinh.
Phiá trong cùng của khu đất, song song dọc bờ sông Hương, có 2 dẫy nhà
dài nối tiếp nhau dùng làm Nhà Ngủ cho Khoá sinh. Nhà xây tường gạch, mái lợp
ngói, bề cao từ nền đến nóc khoảng 5 mét, không có lớp trần che cản sức nóng từ
nóc nhà phả xuống, nên mùa Hè rất nóng và ngược lại mùa Đông rất lạnh. Dẫy
phía bên trái được ngăn đôi, một nửa dùng làm kho và phòng ngủ của Thượng Sĩ
Nhất Lục Sĩ Mẫn, Hạ sĩ quan phụ trách Thường Vụ (service général) của Trường,
còn nửa kia dành làm phòng ngủ chung cho Khoá sinh thuộc Trung đội 1 (người từ
miền Nam ra). Dẫy bên phải, nửa bên trái dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 2
(người miền Trung), và nửa bên phải dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 3 là
chúng tôi từ miền Bắc vào.
Dọc theo chiều dài Nhà Ngủ, kê 2 dẫy giường cá nhân bằng gỗ, có cọc
khung gỗ để giăng mùng chống muỗi riêng cho mỗi giường. Giường được kê từng
cặp sát nhau, một đầu sát tường. Giữa mỗi cặp giường để chừa một khoảng cách
1 mét để hai người ngồi đối diện không dụng đầu gối chân của nhau. Mỗi giường
có một chiếu bằng cói, và một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông gòn, có thể gập đôi
lại được. Ban ngày, mùng phải tháo ra khỏi khung gập lại xếp ngăn nắp cùng với
gối và mền, để phiá đầu giường sát tường, rồi gập đôi nệm đè lên sao cho thật
vuông vắn đẹp mắt. Vali và túi đựng quần áo và tư trang riêng phải để gọn gàng
dưới gầm giường phía sát tường. Quần áo cá nhân cần giặt ủi, phải tập trung đưa
nhà thầu nhận giao hàng ngày, hoặc tự mang ra các tiểm giặt ủi tư nhân ngay 2
bên đường phố cạnh Trường.
29
Tại một góc tường bên gần cửa ra vào nơi đầu nhà, có một giá gỗ để gác
súng của Trung đội Khoá sinh. Mỗi Khoá sinh được cấp một khầu súng trường
Garant riêng, để gìn giữ lau chùi và xử dụng trong việc tập luyện thao tác cơ bản,
duyệt binh, tác chiến, và tập bắn. Loại súng này hơi dài và nặng đối với những
người có hình vóc nhỏ thó, nhưng bắn lại đầm không giật hậu mạnh như các loại
Mousqueton và Mas 36, nên trong các kỳ thi bắn dễ đạt được điểm trúng bia rất
cao.
Từ đầu Nhà Ngủ của chúng tôi ra đến bờ sông Hương có một con đường
đất rộng khoảng 5 mét. Cuối đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25 mét vuông,
cao hơn mặt nước sông chừng 30 phân, dùng làm Cầu Bến Tắm Giặt cho khoá
sinh. Bên phải con đường xuống Cầu Bến Tắm là Nhà Bếp. Đặc biệt nước sông
Hương trong vắt có thể nhìn suốt tận đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc
soi sáng nơi đầu thuyền, bơi dọc ven sông để người ngồi trên dùng cây chĩa đôi
bằng sắt đâm xuống nước để bắt cá.
Chúng tôi đến Trường đúng vào trưa ngày Thứ Bẩy nghỉ, tất cả Khoá sinh
nhập Trường trước chúng tôi đều đi dạo phố hoặc về thăm gia đình, nên Trường
vắng tanh. Tuy nhiên nhà thầu đã được thông báo trước, nên đã chuẩn bị sẵn
sàng cơm bữa cho chúng tôi dùng không phải ra phố.
Vừa ổn định chỗ nằm xong, anh Tôn Thất Tương (khoá sinh người miền
Trung) đang thi hành trách vụ Sĩ quan Trực Nhật ghé vào thăm làm quen với
chúng tôi. Anh Tương tự giới thiệu mình là người thuộc Hoàng Tộc, nên có nhà ở
ngay bên cạnh Viện Bảo Tàng của Triều đình nhà Nguyễn trong Thành Nội. Anh rủ
chúng tôi muốn đi xem, sáng sớm hôm sau là Chủ Nhật, anh ấy sẽ đến đón và dẫn
đi coi. Các anh Liêm, Yêu, Nhật, Thản, Đột, Tâm và Tôi nhận lời nhờ anh Tương
hướng dẫn.
Sáng hôm sau, anh Tương đến dẫn chúng tôi ra khỏi Trường, qua cầu Tràng
Tiền, đổ xuống khoảng giữa đường Trần Hưng Đạo, rẽ trái đến Cửa Thượng Tứ để
vào Thành Nội. Trước nhất, anh Tương dẫn chúng tôi vào giới thiệu với bà xã, sau
đó đi thăm Viện Bảo Tàng (nơi lưu giữ chiếc ngai vàng để Vua ngồi, áo Cẩm Bào,
Vương miện, và nhiều đồ quý khác bằng ngọc thạch hoặc vàng). Tiếp đó là Lầu
Kiến Chung gần cửa Hoà Bình (nơi Vua ngồi ký các Chiếu Chỉ, Sắc lệnh), rồi đến
Điện Thái Hoà (nơi họp Đại Triều), sân trưng bầy Cửu Đỉnh (chín chiếc lư hương
thật to cao hơn đầu người đúc bằng đồng), các Khẩu Thần Công, Kỳ Đài, Ngọ Môn
Quan (chỉ mở để đón tiếp Sứ Thần các nước tới yết kiến Vua), Hồ Tĩnh Tâm gần
thành Măng Cá.
Thăm Thành Nội xong, chúng tôi trở ra phiá Cửa Thượng Tứ, rẽ phải đi dọc
theo con đường Nguyễn Hoàng, đến khoảng trước Ngọ Môn Quan băng qua
30
đường để xem Phú Văn Lâu sát bên bờ sông Hương và Bến Trương Bạc. Tít xa, tận
cùng đường Nguyễn Hoàng là cầu Bạch Hổ bằng sắt bắc ngang sông Hương, và
Tháp Chùa Thiên Mụ.
Quay trở lại đầu cầu Tràng Tiên đi hết con đường Trần Hưng Đạo là Chợ
Đông Ba, và Cầu Gia Hội (bên kia cầu có một nhà hàng cơm Tầu rất được khách
sành ăn hâm mộ). Phiá sau và bên hông Chợ Đông Ba là bờ sông dầy đặc thuyền
làm nhà ở, nhiều chiếc trong số này cho thuê để khách làng chơi ngày đêm xuống
ăn nhậu mua vui nghe các ca nhạc sĩ cổ nhạc Hò Huế… Nhìn qua bên kia bờ sông,
thấy 2 dẫy Nhà Ngủ của Khoá sinh chúng tôi và Nhà Bếp nằm dài tiếp nối nhau
suốt bề ngang khu đất Trường, và chiếc Cầu Bến Tắm. Nhìn xuôi sang phiá trái
thêm khoảng nữa là Đập Đá, và ngoài xa xa thấy Cồn Hến nổi lên bập bềnh cản
dòng chẩy của sông Hương.
Sáng Thứ Hai, tất cả mọi người tập họp ngồi chặt Nhà Ăn để làm thủ tục
Khai giảng Khoá học. Lúc đó được coi là giây phút đầu tiên anh em toàn khoá thấy
mặt nhau đầy đủ. Anh em Trung đội 3 chúng tôi có sĩ số ít nhất (chỉ có 14 người so
với 2 Trung đội kia là 21 hoặc 22), số tuổi trung bình cũng trẻ nhất, và cấp bậc
cũng nhỏ hơn các anh trong các Trung đội 1 và 2 toàn là Trung sĩ Nhất, Thượng sĩ
và Thượng sĩ Nhất thâm niên. Có điều đặc biệt đáng chú ý là, quân phục của anh
em không đồng nhất, vì được tập trung từ nhiều loại đơn vị có nguồn gốc khác
nhau trên toàn quốc.
Trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu, Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện giới
thiệu các Sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khoá sinh, và các Hạ sĩ
quan phụ tá (moniteur) của từng Trung đội. Trung Úy Scuanec và HSQ moniteur
(không nhớ tên) phụ trách Trung đôi 1 gồm toàn người từ miền Nam ra. Trung Úy
Peledieu và Adjudant Chef DO phụ trách Trung đội 2 gồm anh em thuộc miền
Trung. Và người phụ trách Trung đội 3 chúng tôi là Trung Úy Besson và Sergent
Kervenic (cả Trung Úy Besson và Trung sĩ Kervenic đều còn rất trẻ, tính tình rất
hiền lành và tốt bạn, không như Thượng sĩ Nhất DO lúc nào cũng tỏ ra quan trọng
và nghiêm khắc).
Buổi lễ khai mạc khoá rất đơn giản, không có khách bên ngoài tham dự. Chỉ
có một mình Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng vào ra mắt chào mừng chúng tôi, và
nhắn nhủ mấy điểm chính yếu sau:
1.- Vì phần lớn đã là Hạ Sĩ Quan thâm niên có nhiều kinh nghiệm trong các
hoạt động quân đội, nên một phần Chương trình của Khoá học được cắt bỏ bớt,
do đó thời gian Khoá học sẽ ngắn hơn dự liệu khoảng 6 tháng.
31
2.- Kể từ ngày nhập Trường, ai chưa là Hạ sĩ Quan sẽ được thăng cấp Trung
sĩ và lãnh lương hàng tháng theo cấp bậc này, những người khác có cấp bậc cao
hơn tiếp tục lãnh lương theo cấp bậc hiện tại của mình.
3.- Mọi người phải cố gắng học hành để đạt kết quả tốt, nhằm cung ứng
nhu cầu Sĩ quan cho các đơn vị thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ bắt đầu
thành lập vào năm 1949. Các Sĩ quan Huấn luyện viên toàn là những người tốt
nghiệp từ Trường Võ Bị Saint Cyr của Lục quân Pháp, sẽ giúp đỡ hướng dẫn các
bạn học hành được dễ dàng, nếu có điều gì cảm thấy chưa thông hiểu rõ ràng cặn
kẽ thì đừng ngại ngùng tham vấn quý vị ấy giúp đỡ bổ túc cho.
4.- Nhà trường sẽ cung cấp ngay cho mọi người có đồng phục mới, để cho
được đồng nhất, và cũng kể từ hôm nay không ai mang cấp bậc cũ của mình nữa.
Mọi người sẽ mang trên cầu vai áo huy hiệu Sinh Viên Sĩ Quan (ký hiệu Alpha bằng
đồng mầu vàng gắn trên coulissant dạ (nỉ) mầu đen), đội calot nỉ đen, trên đỉnh
mầu vàng và 2 bên cạnh viền chỉ kim tuyến. Như vậy mọi người sẽ nhận biết rõ
ràng các bạn đang là Sinh viên của Trường đào tạo Sĩ quan Việt Nam, do đó các
bạn phải giữ gìn phong thái tư cách cho thật đàng hoàng, đừng làm gì tổn hại đến
thanh danh cá nhân và Nhà Trường.
Đồng phục làm việc thường của chúng tôi là đồ short vải kaki vàng. Quần
ống ngắn tới đầu gối, áo sơmi ngắn tay cổ bẻ, giầy da thấp cồ mầu nâu xậm, và tất
(vớ) len dài tới dưới đầu gối cùng mầu với quần áo. Đồng phục dạo phố cũng bằng
kaki, quần dài, áo sơmi dài tay với 2 túi ngực có nắp, cổ thắt cà vạt nỉ mỏng mầu
ô-liu. Vào mùa Đông dùng quần áo dạ mầu ô-liu xậm (áo blouson). Mũ calô nỉ đen,
đỉnh vàng, 2 bên viền kim tuyến, được dùng chung cho tất cả các loại đồng phục.
Quần áo lãnh về có người mặc không vừa phải thuê sửa lại. Những bạn dư giả tiền
thích mặc quần áo đẹp, thì đến các tiệm may ngoài phố đặt cắt may bằng những
hàng vải kaki đẹp đắt tiền để chưng diện lúc ra đường cho được vừa ý.
Có điều làm chúng tôi rất hãnh diện là, từ ngày chúng tôi mặc đồng phục
mang cầu vai Alpha ra đường, mọi Hạ sĩ quan và Binh sĩ gặp chúng tôi, họ đều
chào kính chúng tôi đúng theo cung cách chào kính Sĩ quan vậy.
Một tuần lễ sau ngày khai giảng khoá học, có thêm 6 khoá sinh đến trình
diện. Ban Giám đốc bổ sung vào Trung đội 3 chúng tôi. Các bạn ấy là Nguyễn Hữu
Có, Cao Hoàng Phiên (người miền Nam), Tôn Thất Đính, Lê Huy Luyện (người miền
Trung), và Trần Thượng Phương, Khoái (Tôi không nhớ Họ, người miền Bắc). Anh
Phương nguyên là Thượng sĩ Lính Khố Xanh (Garde Indigène) thời Pháp thuộc,
tuổi đời cao hơn chúng tôi khoảng hai chục, là thân phụ của Trần Đình Thọ sau
này cũng theo học Trường Võ bị Đà Lạt, và trước 30-4-1975 Trần Đình Thọ đã
được thăng lên đến Chuẩn Tướng làm Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu.
32
Thế là tổng số Khoá sinh tăng lên 64 người. Nhưng ngày mãn khoá chỉ có 63
người, vì anh Thành già thuộc Trung đội chúng tôi bỏ học nửa chừng.
Các môn học về tổ chức quân đội, lịch sử quân đội, lãnh đạo chỉ huy, kỹ
thuật tác chiến, lệnh hành quân, chức năng tổng quát quân vụ, xử dụng Liên binh,
thể dục quân sự (EPM=Éducation Phisique Militaire), các trận Đại chiến Thế giới…
đều do các Huấn luyện viên cơ hữu của Trường đảm trách giảng dạy. Còn các môn
chuyên nghiệp khác như trách vụ các Phòng tham mưu, Hành chánh Tài chánh,
Quân Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, Pháo binh, Công binh, Thông vận binh, Thiết
giáp, Quân cảnh, Quân bưu, Hải quân, Không quân… đều do các Sĩ quan chỉ huy
thuộc các ngành liên hệ được Ban Giám đốc trường mời đến thuyết giảng và khảo
hạch.
Chương trình học của chúng tôi gồm toàn các môn thuộc lãnh vực quân sự,
không có chút nào thuộc lãnh vực bổ túc văn hoá tổng quát.
Thời biểu học hàng ngày thường là buổi sáng học ngoài đồng, buổi chiều
trong chu vi Nhà Trường. Bãi tập thường xuyên hàng ngày là sân vận động Huế và
các vùng phụ cận như: Xóm Mới, khu quán Cơm Âm Phủ, Chợ Cống. Thời gian học
thực hành tác chiến trong thành phố thì vào Thành Nội, tại vùng quanh sân bay,
Hồ Tĩnh Tâm và khu thành Măng Cá. Khi học các chương trình hành quân băng
đồng, lục soát làng xóm, bảo vệ xa lộ và thiết lộ, thì xuống vùng quanh chân núi
Ngự Bình từ Ga An Cựu xuống tới phi trường Phú Bài. Bãi tập luyện bắn và thi bắn
các loại súng, nằm sát ngay bên Trung tâm huấn luyện Hạ sĩ quan Việt Binh Đoàn
tại chân núi Ngự Bình.
Ngày 21-1-1949 là Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu, Trường đóng cửa 1 tuần lễ,
các bạn người miền Trung về nhà xum họp ăn Tết với gia đình, các bạn người Nam
và chúng tôi ở lại Trường ăn Tết với nhau. Trong thời gian rảnh rỗi này, mỗi người
tùy theo túí tiền và sở thích, đi xem Chiếu bóng, Hát Bộ miền Trung, thưởng thức
các món ăn tại các nhà hàng cơm Tây, cơm Tầu, cơm miền Trung, thuê thuyền thả
trôi giữa dòng Hương giang ăn nhậu nghe ca hát, hoặc đi các Chùa, Nhà Thờ cầu
nguyện và ngắm người ta ăn diện quần áo mới, chứ không dạo phố vì các tiệm
buôn bán và Chợ đều đóng cửa ăn Tết.
Nhân dịp đầu Xuân, Tôi đã cảm hứng mấy vần thơ kỷ niệm sau đây:
XUÂN NHẬP CUỘC
Mưa Xuân bàng bạc phủ dòng Hương,
Gió thoảng êm êm vuốt mái trường.
Vạn xác pháo tan hoà tiếng chúc,
Sáu ba (63) hiền họp kết tình thương.
33
Bên nhau thề quyết nung rèn chí,
Tốt nghiệp chung lưng giữ mối giềng.
Học hiệu Liên quân mừng đón Tết,
Tương lai hứa hẹn rạng như gương./.
Vào giai đoạn chót của Khoá học trước khi mãn khoá, chúng tôi được đem
đi “Thử Lửa” (Baptem au feu) bằng 2 đợt.
Vào cuối tháng 4-1949, cả khoá tập thiết kế và thực hiện cuộc hành quân
cấp Đại đội, đánh chiếm “làng cùi” (không người ở) trong vùng núi Bạch Mã, có
Thiết vận xa trang bị Đại Liên 50, Súng Cối 81 ly tháp tùng, Pháo binh 105 tại Phi
trường Phú Bài, và phi cơ khu trục từ Đà Nẵng ra, bắn đạn thật yểm trợ tại chiến
trường theo yêu cầu.
Qua đầu tháng 5-1949, cả khoá lại được đưa đi quan sát mặt trận do Bộ chỉ
huy Khu quân sự Pháp tại Huế khai triển cuộc hành quân đánh chiếm Chiến khu
Lương Miêu của Việt Cộng. Chúng tôi được chia ra thành nhiều toán, ngồi trên các
xe lội nước (amphibie) xuất phát từ cầu Bạch Hổ lội ngược dòng sông Hương lên
phía thượng nguồn đến tận khu vực xa hơn Lăng Gia Long. Đến khu vực hành
quân, chúng tôi rời xe lội nước lên bờ thăm Bộ chỉ huy hành quân đóng trong các
lều vải trên sườn đồi kế cận bờ sông, để nghe thuyết trình về tình hình diễn tiến
của mặt trận. Sau đó, băng rừng đi thăm các đơn vị đang giáp chiến, đến chiều tối
mới lên tầu chuyển vận trên sông trở về Trường.
Để chuẩn bị cho lễ mãn khoá, Ban Giám đốc trường đưa nhà thầu may quân
phục vào đo cắt may cho chúng tôi mỗi người một bộ Đại Lễ bằng kaki (quần dài,
áo bốn túi), một cặp cầu vai nỉ đen trên có gắn ký hiệu Alpha vàng phiá đầu vai, cờ
Việt Nam ở chính giữa, và nút mạ vàng khắc con rồng nổi ở đầu cầu vai nơi sát cổ
áo. Một nhà mát mái lợp dạ, ba bề vách lửng bằng cót cao hơn 1 mét, được dựng
lên sát tường chiếm hết phần ba sân tập họp bên cột cờ, để làm khán đài kê ghế
dành cho quan khách đến dự lễ.
Giữa tháng 5-1949, Lễ Mãn Khoá được tổ chức đưới sự chủ tọa của ông
Phan văn Giáo Thủ Hiến Trung phần Vìệt Nam đại diện Quốc Trưởng Bảo Đại, với
khoảng 100 quan khách Việt Pháp tham dự (trong đó có một số thân nhân của các
bạn người miền Trung). Chương trình diễn tiến như sau:
Nghi thức quân cách đón chào Chủ toạ,
Lễ thượng Quốc Kỳ Việt Nam (không có cờ Pháp),
Khoá sinh đồng ca bản Quốc Ca Việt Nam (Tiếng gọi Công dân),
Nhạc Tưởng niệm Tử Sĩ (ban quân nhạc Việt Binh Đoàn hoà tấu),
34
Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đọc Diễn văn phúc trình tổng lược
kết quả diễn tiến chưong trình huấn luyện và trỉnh diện Khoá sinh,
Thủ Khoa là anh Nguyễn Hữu Có bước ra đứng trước toàn khoá đang xếp 2
hàng ngang trước khán đài, hô to: “À genous les hommes!” (Quỳ xuống các
người!). Mọi người cùng quỳ đầu gối phải xuống đất, chắp 2 tay lên đầu gối trái
chờ lệnh, và anh Có cũng quỳ xuống tại chỗ.
Trung Tá Chaix đến gần ghế ngồi của Chủ tọa (nói gì và Chủ tọa nói gì, ở xa
không nghe được) sau đó quay ra nói lớn bằng tiếng Pháp, đại ý: “Hoàng Thượng
chiếu chỉ đặt tên cho khoá là KHOÁ BẢO ĐẠI”, rồi hướng dẫn Chủ tọa ra sân gắn
cầu vai Alpha lên 2 bên vai áo cho Thủ Khoa Có. Trong khi đó thì 2 hàng Khoá sinh
quay mặt đối diện nhau và người nọ gắn cầu vai Alpha lên vai áo cho người kia.
Thủ tục gắn cầu vai Alpha xong thì Chủ tọa trở về đứng trước ghế Danh dự
của mình, Thủ Khoa Có đọc lời tuyên thệ bằng tiếng Pháp, đại ý: “Chúng tôi xin
thề, Trung thành với Tổ quốc Việt Nam, Quyết hy sinh để bảo vệ nền Độc lập
Thống nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam trường tồn cường thịnh, Luôn luôn
nêu gương bảo vệ Danh dự của một cấp chỉ huy”. Toàn thể Khoá sinh cùng đưa
thẳng tay phải ra trước mặt và đồng thanh đáp lời: “Je le jure!” (Tôi xin thề!). Chủ
tọa lên tiếng chấp nhận lời thề và đưa tay ra dấu cho mọi người đứng lên. Thủ
Khoa Có đứng lên hô lớn: “Debout les Officiers!” (Đứng lên các Sĩ quan!). Mọi
người đứng thẳng lên giữa những tràng pháo tay mừng vang dạy ròn rã của toàn
thể Quan Khách.
Tiếp ngay lúc đó, Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường lại mời Chủ tọa ra
trao cho Thủ Khoa Có cây kiếm và chiếc cung cùng với bao mang 4 mũi tên, rồi
hướng dẫn Chủ tọa trở về ghế ngồi.
Thủ Khoa Có đứng nghiêm rút kiếm ra khỏi vỏ làm động tác chào kính xong
tra kiếm trở lại vỏ, rồi cầm cây cung lần lượt quay sang bốn hướng bắn 4 mũi tên
đi, để biểu tượng cho ý chí “tang bồng hồ thỉ” của người Chiến sĩ quyết tâm đi
khắp bốn phương trời để thi hành nhiệm vụ của mình.
Buổi lễ Mãn Khoá được kết thúc bằng 2 nhạc khúc “Chiến sĩ anh hùng” và
“Bạch Đằng Giang” do anh em Trung đội 3 chúng tôi hợp ca 3 giọng với sự đệm
đàn của anh Tôn Thất Đính, và 3 hoạt cảnh diễn tả câu truyện lịch sử “Trận Đống
Đa” do quân Quang Trung chiến thắng quân Tầu vào dịp Tết Nguyên Đán tại
Thành Thăng Long, do anh em các Trung đội 1 và 2 phối hợp thực hiện.
Thế là trang đầu tiên của cuốn nhật ký đời binh nghiệp đã được mở ra cho
toàn thể Sinh viên Sĩ quan Khoá 1 (Bảo Đại) Trường Sĩ quan Việt Nam. Nhưng có
một điều thắc mắc lớn khiến mọi người phải suy nghĩ, mừng lo lẫn lộn ngay sau
khi dự Lễ Mãn Khoá là, ai được được chấm đậu lên Thiếu Úy, ai không? ngoại trừ
35
anh Nguyễn Hữu Có Thủ Khoa, vì Nhà Trường không tuyên bố kết quả xếp hạng ra
Trường. Mọi người rời Trường với ký hiệu Alpha không phải là cấp bậc được quy
định trong quân đội lúc bấy giờ, tiếp tục lãnh lương theo cấp bậc cũ của mình, và
Sự vụ lệnh rời Trường trở về đơn vị cũ ghi là Élève Officier X… Phải đợi đến 2 tuần
lễ sau hết phép mãn khoá trình diện đơn vị, mới có thể biết mình được thăng cấp
Thiếu Úy hay không.
Cá nhân Tôi, sáng 1-6-1949 đến trình diện Bộ Tư lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ tại Hà
Nội, thì nhận được Sự vụ lệnh đến trình diện Tiểu đoàn 2 Việt Nam mới thành lập,
doanh trại đóng tại Thành Lính Khố Xanh (Garde Indigène) của Pháp cũ trên
đường Đồng Khánh (sau này chính quyền Việt Cộng đổi là đường Hàng Bài) đối
diện với rạp chiếu bóng Majestic. Đến nơi Tôi gặp các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi
Đình Đạm, Lê văn Nhật, Đàm Quang Yêu, và Trần Thượng Phương cũng được bổ
nhiệm về Tiểu đoàn này.
Thiếu Tá Vũ văn Thụ Tiểu đoàn trưởng (về sau có thời gian được thăng đến
cấp Đại Tá Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền Bắc của Quân đội Quốc gia Việt
Nam tại Hà Nội, État Major Nord Vietnam) tiếp chúng tôi trong văn phòng, với sự
hiện diện của các Đại đội trưởng: Đại Uý Phạm văn Cảm (ĐĐ1), Đại Úy Nguyễn văn
Yến (ĐĐ3), và Trung Uý Phạm Ngọc Thuyên (ĐĐ Chỉ huy). Các Vị này đều lớn tuổi
cỡ trên 40, nguyên gốc thuộc các đơn vị trong Binh đoàn thuộc địa của Pháp tại
Đông Dương từ trước 1945, khi chuyển sang phục vụ trong Quân đội Quốc gia
Việt Nam được đương nhiên thăng lên một cấp bậc cao hơn cũ.
Thiếu Tá Thụ cho người trịnh trọng đọc Sắc lệnh do Quốc Trưởng Bảo Đại
ký, thăng cấp Thiếu Úy cho chúng tôi kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1949, rồi ông đích
thân gắn cấp hiệu mới (một vạch vàng như của quân đội Pháp) lên cầu vai áo cho
chúng tôi. Sau tiệc rượu champagne khao lon rất đơn giản nhưng ấm cúng thích
thú được tố chức ngay trong văn phòng Tiểu đoàn trưởng, mỗi người chúng tôi
nhận một Sự vụ lệnh đi đáo nhậm đơn vị mới của mình. Thiếu Úy Bùi Đình Đạm về
ĐĐ1, Thiếu Úy Đàm Quang Yêu về ĐĐ3, các Thiếu Úy Trần Thượng Phương và Lê
văn Nhật về ĐĐ Chỉ huy, cả 3 Đại đội này đều đồn trú ngay trong doanh trại Tiểu
đoàn. Còn Thiếu Úy Nguyễn Khắc Thăng và Tôi (Thiếu Úy Nguyễn-Huy Hùng) về
ĐĐ2 đang đồn trú tại Trại Lạch Tray (trại lính Khố Xanh của Pháp cũ) trong thành
phố cảng Hải Phòng, do Đại Úy Nguyễn văn Vĩnh (cũng thuộc gốc Binh đoàn thuộc
địa Pháp trước 1945) chỉ huy. Do đó, ngày hôm sau, anh Thăng và Tôi phải đáp xe
hoả rời Hà Nội xuống Hải Phòng đáo nhậm đơn vị.
Đến đầu tháng 10-1949, anh Nguyễn Khắc Thăng được lệnh trình diện Bộ
Quốc Phòng tại Saigon để làm thủ tục xuất ngoại du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ
36
quan tại Pháp. Thế là Đại đội chỉ còn 2 Sĩ quan, Đại Úy Vĩnh Đại đội trưởng và Tôi
Trung đội trưởng Súng Nặng kiêm Đại đội phó.
Sau khi tới Pháp, anh Thăng biên thơ về thông báo cho Tôi biết là anh đang
theo học Khoá Bổ túc Thực hành Bộ Binh (École d’Application de l’Infantery) cùng
với các Thiếu Úy Pháp tốt nghiệp Trường Võ bị Saint Cyr, và khoảng hơn mười bạn
cùng tốt nghiệp Khoá 1 của chúng tôi là: các Thiếu Úy Nguyễn văn Thiệu (sau này
là Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam), Đặng văn Quang,
Nguyễn Hữu Có, Trần văn Trung, Nguyễn văn Chuân, Tôn Thất Xứng, Tôn Thất
Đính (về sau các anh này cũng đã được thăng lên cấp Tướng) cùng mấy người
khác nữa, lâu ngày quá tôi quên mất tên. Vào năm 1953, anh Nguyễn Khắc Thăng
bị thương cụt một chân tại miền Bắc, được du học Pháp lần thứ 2, và sau khi tốt
nghiệp Khóa Chỉ huy Tham mưu (École Supérieure de Guerre) tại Paris về, anh
Thăng được bổ nhiệm làm Huấn luyện viên tại Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, ít
lâu sau qua đời vì tai nạn xe hơi.
Sau mấy tháng tổ chức huấn luyện đơn vị hoàn tất, Đại đội 2 của chúng tôi
nhận được lệnh rời Hải Phòng di chuyển về Hà Nội vào ngày 18-10-1949 để nhập
cùng Tiểu đoàn khởi sự đi hành quân liên tiếp tại các vùng Phù Lưu Đình Bảng tỉnh
Bắc Ninh, Hoà Bình, Đông Triều Phả Lại, Kẻ Sặt Hải dương, Hưng Yên, Thái Bình,
Vân Đình Sơn Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Yên… Tôi nhớ kỹ ngày 18-10-1949 vì đó là ngày
tổ chức đám cưới của vợ chồng Tôi, nhưng vì Tôi phải lãnh nhiệm vụ chỉ huy Đại
đội di chuyển rời Hải Phòng bằng xe hoả lên Hà Nội nên Đại đội trưởng không cho
Tôi đi phép.
Đến đầu tháng 10-1950, khi Tiểu đoàn đang đóng quân tại vùng Bắc Ninh-
Vĩnh Yên, thì Thiếu Úy Bùi Đình Đạm và Tôi được Bộ Quốc Phòng tại Saigon gọi
trình diện làm thủ tục du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Cùng xuất
ngoại kỳ này với chúng tôi có mấy bạn cùng Khoá 1 là Thiếu Úy Trần Ngọc Thức
(miền Nam, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Binh chủng Công Binh), Thiếu
Úy Nguyễn Khương (người Trung, sau này có thời gian làm Chỉ huy trưởng Viễn
Thông của Binh chủng Truyền Tin). Anh Thức học Sĩ quan Công Binh tại Angier,
anh Đạm (vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà đã được chỉ định làm Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ
binh tại Mỹ Tho, và sau cuộc đảo chính lật đổ Tổng Thống Diệm ngày 1-11-1963
đã được Hội đồng Tướng lãnh đảo chính thăng lên cấp Tướng) học Sĩ quan Pháo
Binh tại Idar thuộc Pháp ở bên Đức. Nhưng vì vùng Idar lạnh quá chịu không nổi,
nên anh Đạm đã xin chuyển trường về học khoá Sĩ quan Hành Chánh Quân Nhu
tại Mont Pellier. Còn anh Khương và Tôi theo học Sĩ quan Truyền Tin ở Trường
Truyền Tin (École d’Application des Transmissions) tại Montargis, cách Thủ đô ánh
sáng Paris khoảng hơn 1 giờ xe hoả về hướng Nam.
37
Chúng tôi học chung với các Thiếu Úy Pháp vừa tốt nghiệp Khoá Général
Frère tại Trường Võ bị Saint Cyr ra. Theo quy chế quân đội Pháp, các Thiếu Úy vừa
tốt nghiệp Trường Võ bị Saint Cyr ra đều phải theo học tiếp một khoá bổ túc
chuyên nghiệp các Ngành Bộ binh, Truyền Tin, Công binh, Pháo binh, Thiết giáp,
Hành Chánh, Quân nhu, Quân Cụ, Quân vận, Nhẩy Dù,… (École d’Application de
l’Infantery, d’Application des Transmissions, d’Application du Génie,…) trước khi
được chính thức bổ nhiệm vào các đơn vị trong quân đội để phục vụ.
Đầu tháng 6-1951, đúng theo quy chế dành cho Sĩ quan Hiện dịch tốt
nghiệp trường Võ bị Quốc gia, Tôi và toàn khoá được Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc
lệnh thăng cấp Trung Úy đương nhiên sau 2 năm tốt nghiệp.
Cuối tháng 6-1951 mãn khoá học hồi hương về Saigon vào đầu tháng 7,
Trung Tá Nguyễn văn Vận (sau này là Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 tại Hà Nội)
Đổng lý Văn Phòng Bộ Quốc Phòng đã trình Thủ Tướng Chính phủ Trần văn Hữu
kiêm Bộ trưởng Quốc phòng ký lệnh bổ nhiệm Tôi vào phục vụ tại Nha Đổng Lý
Văn Phòng Bộ Quốc Phòng tại Saigon.
Mốc thời gian đầu tháng 7 năm 1951 này được coi là mốc thời gian kỷ niệm
thích thú nhất đối với Tôi. Vì vào đầu tháng 7 năm 1947 tức là 4 năm về trước, Tôi
tình nguyện gia nhập Vệ binh Bắc Kỳ chỉ với mục đích sống đời lính tạm thời cho
qua cơn biến loạn nhiễu nhương của xã hội lúc bấy giờ, nhưng không ngờ thời thế
đã chuyển xoay biến đổi cuộc đời của Tôi thành hoàn toàn khác hẳn. Từ đăng vào
lính tại miền Bắc, đi miền Trung học Sĩ quan, rồi du học bên Pháp, và trở về làm
việc tại Saigon. Thế mới biết lời các Cụ xưa dạy “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại
Thiên” quả thật là đúng không sai.
Và cũng kể từ đầu tháng 7 năm 1951, đoạn đường Binh nghiệp kế theo của
Tôi được ghi chép bằng những trang Hồi ký rất thân thương “DUYÊN NỢ TRUYỀN
TIN”, “HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI”, “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT NAM”, các tập hồi ký
này hiện đang được lưu trữ trong trang Web riêng của Tôi <
http://colhungnguyen.webs.com/ >
" Tái bút: Vào những năm đầu Thập niên 1970, thời gian Tôi giữ chức vụ
Phụ Tá Tổng Cục trưởng Chiến tranh Chính trị đặc trách Hướng Đạo Quân đội
kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến, Tôi đã sưu tập tất cả các văn kiện và hình
ảnh liên hệ tới sinh hoạt của Trường và Khoá 1 tại Huế để soạn và ấn hành cuốn
Kỷ Yếu cho Khoá, và đã gửi đến tặng tất cả anh em đồng Khoá lưu giữ làm kỷ
niệm. Nhờ có được Sắc lệnh thăng cấp cho toàn Khoá mới biết được là chỉ có 53
người trên tổng 63 người theo học được chấm đậu cho thăng cấp Thiếu Úy Hiện
dịch, và anh bạn già Trần Thượng Phương là người thứ 53 trong Sắc lệnh."
NGUYỄN-HUY HÙNG (K1) Nam California, Hoa Kỳ, mùa Hè 2010,
38
Nguyễn-Huy Hùng (K1), ảnh chụp đầu tháng 4-2008.
Niềm vui của tuổi già trên 80 là hoạt động trên mạng Internet sát cánh cùng thân
hữu và các đoàn thể trên toàn thế giới, tiếp tục cuộc đấu tranh chính trị giải trừ
bè lũ ác ôn bạo quyền Việt Cộng để cho đồng bào Việt Nam ở trong nước được
sống ấm no hạnh phúc và Nhân quyền được tôn trọng bảo vệ bình đẳng.
Gia đình gồm 16 người vừa đáp xuống phi trường Cedar Rapids Tiểu Bang IOWA
Liên Bang Hoa Kỳ lúc 9 giờ tối ngày 7-9-1992 để định cư tỵ nạn Cộng sản vĩnh viễn
theo diện H.O.10 ( Humanitarian Operation).
39
Di ảnh cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
VIỆT NAM CỘNG HOÀ RA ĐỜI TRONG HOÀN CẢNH NÀO?
Nguyễn-Huy Hùng (K1)
Hàng năm cứ đến khoảng cuối tháng 10 qua đầu tháng 11 Dương Lịch là
một số người đã từng hưởng nhiều ân huệ của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, lại
vận động tổ chức ngày tưởng niệm để ghi nhớ công ơn ông đã thành lập nước
VIỆT NAM CỘNG HOÀ tại miền Nam Việt Nam sau khi hoàn tất việc thi hành Hiệp
định đình chiến do Pháp và Việt Minh ký tại Genève ngày 21-7-1954.
Nhiều Bạn Trẻ thắc mắc muốn biết hoàn cảnh nào đã đưa đẩy khiến cho ông
Ngô Đình Diệm có được cơ hội thành lập nước Việt Nam Cộng Hoà theo khuôn
mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ và lên làm Tổng Thống tại
miền Nam Việt Nam, nhưng lại không có thì giờ ngồi sưu tập các tài liệu ghi chép
các sự kiện lịch sử đã xẩy ra tại Việt Nam trong những năm thuộc Thế kỷ 20, nên
trăn trở chẳng biết phải làm sao.
Do đó, Tôi xin ghi lại dưới đây một số những sự kiện trọng yếu đã xẩy ra tại
Việt Nam trong những năm thuộc Thế kỷ 20, và hoàn cảnh nào đã giúp cho ông
Ngô Đình Diệm có thời cơ trở thành người Anh Hùng tạo dựng ra nước Việt Nam
Cộng Hoà vào năm 1956 tại miền Nam Việt Nam.
40
Nhưng vì tuổi tác đã cao trên 80, trí nhớ cũng suy giảm do ảnh hưởng sau 13
năm chịu cảnh đọa đầy trong các trại tập trung cải tạo lao động khổ sai của chính
phủ nước Cộng Hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam sau ngày Quốc Hận 30-4-1975,
toàn thể đất nước Việt Nam bị đặt dưới quyền thống trị độc tài chuyên chính độc
đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên những ghi nhận và suy luận được trình
bầy có thể là Chủ quan theo hiểu biết nông cạn của Tôi, cũng có thể phiến diện
hoặc thiếu xót, xin Quý Vị còn minh mẫn vui lòng miễn chấp và bổ túc giúp cho,
Tôi cám ơn vô cùng.
1.- CHIẾN CUỘC TẠI ĐÔNG DƯƠNG XOAY CHIỀU, CHÍNH PHỦ
PHÁP PHẢI RÚT QUÂN RA KHỎI VIỆT NAM.
Giữa năm 1949, Trung Cộng thắng thế ở Trung Hoa Lục địa, do đó tình hình
chiến trận tại Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, đặc biệt là tại Bắc Việt trở nên
rất sôi động. Tháng 5 năm 1949, Chính phủ Pháp phải cử Tướng Revers sang thanh
sát tình hình và nghiên cứu trình Kế hoạch đối phó. Sau khi công cán về nước,
Tướng Revers đề nghị rút bỏ Cao Bằng (biên giới Việt Nam-Trung Hoa) để:
1.- Gom quân giữ Quốc lộ 4 từ Lạng Sơn đến Tiên Yên;
2.- Củng cố bình định vùng đồng bằng Bắc Việt;
3.- Lấn chiếm cô lập khu Việt Bắc của Chủ lực Việt Minh gồm các tỉnh Thái
Nguyên, Lào Kay, Tuyên Quang, và Yên Bái.
Chủ định thâm sâu của Pháp là tái lập Thuộc địa Đông Dương dưới hình
thức mới, nên không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Do đó Pháp e ngại Trung Cộng
(chủ nhân ông mới của Trung Hoa Lục địa) xua quân can thiệp hỗ trợ cho Việt
Minh Cộng sản, nên phải thun về thủ vùng đồng bằng để bảo toàn lực lượng, và
tìm phương kế mới.
Kế hoạch của Tướng Revers đề nghị, được Chính phủ Pháp chấp thuận cho
thi hành vào cuối năm 1949. Nhưng vì tại Đông Dương lúc đó, đang có sự bất
đồng ý kiến giữa Tướng Carpentier (Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp) tại
Saigon và Tướng Alexandri (Tư lệnh đoàn quân tại Bắc Việt), nên mãi tới cuối
tháng 8 năm 1950 mới thực hiện, mặc dù qua tin tức tình báo, Chính phủ Pháp,
Cao ủy Đông Dương Pignon, và Tướng Carpentier, đều biết rằng Kế hoạch Revers
đã bị tiết lộ.
Phiá Việt Minh, không biết bằng cách nào đã dò biết được Kế hoạch Revers,
nên Tướng Võ Nguyên Giáp với sự trợ giúp trang bị vũ khí đạn dược, huấn luyện
quân sĩ, và cố vấn hành quân của Trung Cộng, đã ráo riết chuẩn bị mở màn thử
thách khả năng chiến đấu của bộ đội Việt Minh.
41
Ngày 18-9-1950, các đơn vị Việt Minh được sự yểm trợ của Pháo binh và
súng cao xạ bắn máy bay, đã khởi tấn công và chiếm được đồn Đông Khê, rồi bao
vây cô lập Cao Bằng. Sau đó thừa thế tiếp tục khai triển mặt trận Cao Bằng-Lạng
Sơn, kéo dài cho tới ngày 7-10-1950. Pháp thất bại nặng nề, phải rút bỏ Cao Bằng,
Thất Khê, Na Chầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, và Lao Kay.
Trận đánh này đã làm tăng uy thế cho Việt Minh, rúng động tinh thần quân
sĩ Pháp tại Đông Dương, cũng như các giới Chính trị Pháp và Hoa Kỳ. Dân chúng
Pháp bắt đầu gọi cuộc chiến tại Đông Dương là “Chiến tranh sa lầy”, các Đảng
phái chính trị Pháp cấu kết với nhau làm áp lực chính trị, khiến các Chính phủ
Pháp thay phiên nhau xụp đổ liên tục, làm cho tình hình tại cả bên chính quốc lẫn
tại Đông Dương ngày một rối rắm thêm. Để gỡ rối, Chính phủ Pháp cố gắng tìm
một Tướng làm Tổng Tư lệnh mới thay thế Tướng Carpentier tại Đông Dương.
Các Tướng Juin và Tướng Koenig được tham khảo, nhưng 2 ông này từ khước vì
Chính phủ Pháp không thể thoả mãn được những điều kiện các ông ấy đòi hỏi. Sau
cùng, Tướng Jean Marie Gabriel De Lattre De Tassigny được lựa chọn. Ông này
nhận lời ngay với một điều kiện duy nhất là phải cho ông ta rộng quyền chỉ huy.
Ngày 7-10-1950, Đại tướng De Lattre được đề cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư
lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Đúng 10 ngày sau, Tướng De Lattre
lên đường nhậm chức, mang theo cả một Bộ Tham Mưu hùng hậu để làm trụ cột
giúp ông ta hoàn thành sứ mạng lớn lao đã nhận lãnh. Trong suốt 9 tháng trời ròng
rã tiếp theo, ông ta đã chứng tỏ tài lãnh đạo chỉ huy và hành quân táo bạo của
mình, qua các trận Vĩnh Yên giữa tháng 1-1951 (chết mất người con trai duy nhất
là Trung úy Bernard), trận Mạo Khê cuối tháng 3-1951, trận “Bờ Sông Đáy” cuối
tháng 5-1951, và đặc biệt là kế hoạch xây dựng “Phòng tuyến Bê tông De Lattre”
để bảo vệ đồng bằng Bắc Việt trong Vùng Tam Giác: Moncay, Việt Trì, Ninh
Bình, và “Phòng Lũy Hải Phòng”. Tướng De Lattre đã làm cho tinh thần Quân Sĩ
được phục hồi, đồng thời tạo được sự tin tưởng của Chính phủ Pháp và các Đồng
minh Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi,…
Giữa tháng 9-1951, Tướng De Lattre được Chính phủ Pháp cho đi công cán
sang Hoa Kỳ xin viện trợ. Có lẽ nhờ trận Việt Minh tấn công quân Pháp tại vùng
Cao Bằng, Lạng Sơn, có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân
Việt Minh, y như trận Bắc Hàn tấn công Nam Hàn mà Mỹ và Đồng minh phải can
thiệp cũng có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Bắc Hàn,
nên Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Pháp. Nhờ thế, Tướng De Lattre đã xin được
Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp tục cuộc chiến tại Đông Dương, dưới nhiệm vụ mới là
“Ngăn chặn sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản ở vùng Đông Nam Á
Châu”, mà Việt Minh là tay sai tiền phương của Liên Sô và Trung Cộng. Viện trợ
42
chỉ được chấp thuận với một điều kiện tiên quyết kèm theo là: “Pháp phải thành
thực trao trả quyền Độc Lập, Tự do, cho các Chính phủ Quốc gia không Cộng
sản tại Đông Dương, và xúc tiến nhanh chóng việc thành lập, huấn luyện, và
trang bị quân sự cho các Quốc gia này có đủ khả năng tự vệ, tiêu diệt Cộng
sản địa phương, bảo đảm an ninh cho dân chúng phát triển kinh tế. Đặc biệt
phải để cho các Quốc gia này có quyền Tự do Giao thương trực tiếp với tất cả
các nước Tư bản, ngoài khối Liên Hiệp Pháp, không phải qua trung gian của
Pháp.”
Ngày 28-9-1951, hai ngày sau chuyến công du của Tướng De Lattre chấm
dứt, chiếc tầu biển Eartham Bay của Hoa Kỳ đã từ Manilla chở tới Saigon, rất
nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược đủ loại. Đồng thời, một đoàn 30 Phóng pháo cơ B-26
do phi công Hoa Kỳ lái từ Phi Luật Tân qua, đáp xuống phi trường Cát Bi (Hải
Phòng), trao cho Pháp trong âm thầm không kèn không trống. Mười hai (12) chiếc
trong số phi cơ này đã được Hoa Kỳ biến cải thành loại máy bay soi sáng
(Luciole), dùng để thả hoả châu soi sáng chiến trường ban đêm, trong thời gian liên
tục 1 tiếng đồng hồ cho mỗi phi cơ.
Cũng nhờ thế nên ngày 1 tháng 10 năm 1951, ông Trần văn Hữu Thủ Tướng
kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam mới chính thức
công bố việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) chống Cộng sản
(gồm 8 Sư đoàn nhẹ trong 5 năm, riêng năm 1951 dự trù thành lập Sư đoàn 1 ở
miền Nam, Sư Đoàn 2 ở miền Trung, Sư đoàn 3 ở miền Bắc, và Sư đoàn 4 ở vùng
Cao Nguyên Trung phần Việt Nam). Ngày 16-10-1951 ban hành Lệnh Tổng Động
Viên khoảng 15.000 thanh niên có bằng cấp từ Trung học trở lên vào học các khoá
đào tạo Sĩ quan Trừ bị cấp tốc tại Thủ Đức và Nam Định. Rồi lần lần sau đó, thành
lập Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, Trường Quân Y, và các Trường Võ bị Địa
phương (Ecole Militaire Régionale) đào tạo các Chuẩn úy Trung đội trưởng, ngoài
số Thiếu úy Hiện dịch do Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt đã và đang đào tạo
(Trường VBLQ ĐàLạt được thành lập từ năm 1948). Các Trung tâm Huấn luyện
Tân binh và Hạ sĩ quan cũng lần lượt được thành lập, và hoạt động náo nhiệt để
thành lập các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn Bộ Binh và các đơn vị Binh
chủng, Nha, Sở chuyên môn.
(Thời gian này, Tôi là Trung Úy mới mãn khóa Sĩ quan Truyền Tin tại
Trường Truyền Tin Montargis bên Pháp về vào đầu tháng 7-1951, được bổ nhiệm
làm Trưởng Ban Mật Mã thuộc văn phòng Đổng lý Bộ Quốc Phòng do Thiếu Tá
Nguyễn văn Vận làm Đổng Lý. Sau này Thiếu Tá Vận rời Bộ Quốc Phòng ra Hà
Nội được thăng cấp lần lần tới Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 vào năm 1954)
43
Được sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Quân đội Viễn chinh Pháp ồ ạt xây dựng các
doanh trại và cơ sở rất lớn rộng cho các Cơ quan Chỉ huy và Đơn vị Hành chánh
Tiếp vận Trung Ương tại các vùng Tân Sơn Nhứt, Gò Vấp, Bình Lợi, Cát Lái (Gia
Định), Khánh Hội (Saigon), và Biên Hoà… Theo dự tính của Tướng De Lattre, các
Cơ sở này phải đủ tầm vóc có thể biến thành các Cơ sở Chỉ huy và Tiếp vận cho
các Lực lượng Liên Hiệp Quốc xử dụng khi cần phải đến Việt Nam để điều khiển
chiến tranh ngăn cản Cộng sản Quốc tế xâm lăng các nước thuộc Đông Nam Á
Châu, như họ đã đến tham gia cuộc chiến tại bán đảo Triều Tiên.
Vào tháng 12 năm 1951, Tướng De Lattre qua đời, Tướng Raoul Salan được
cử thay thế làm Tổng Tư lệnh, để tiếp tục giải quyết cuộc “Chiến tranh sa lầy”
không lối thoát của Pháp tại Đông Dương. Nội tình nước Pháp tiếp tục lục đục,
chính phủ Queuille bị đổ vào tháng 2-1952. Tại Bắc Việt, Tướng Salan rút bỏ Hoà
Bình vào cuối tháng 3-1952. Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp là Pinay vẫn giữ
chính sách cũ đối với Đông Dương. Ông Letourneau được bổ nhiệm làm Bộ
trưởng các Quốc gia Liên kết, kiêm nhiệm chức Cao Ủy Đông Dương kể từ tháng
4-1952, và Tướng Salan được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh
Pháp tại Đông Dương. Bộ trưởng Letourneau phải thường xuyên hoạt động tại
chính quốc, làm gì có thời giờ chạy qua chạy lại giữa Pháp và Đông Dương, nên
Tướng Salan vô hình chung có được toàn quyền quyết định y như cố Đại tướng De
Lattre thuở còn sinh thời.
Sở dĩ Tướng Salan được lựa chám chỗ chống của De Lattre, vì ông ta đã
từng ở Việt Nam lâu năm, tham dự nhiều trận chiến với Việt Minh từ hồi 1947, đã
cộng tác mật thiết với Tướng De Lattre trước khi ông này qua đời, nên thông thạo
lối đánh của Việt Minh. Ngoài ra, ông ta còn có được cái trí khôn của người Á
Đông vì lấy vợ người Việt Nam, hút thuốc phiện, theo vợ đi lễ các Đền, Chùa, am
tường các phong tục tập quán của các Sắc dân Đông Dương. Chiến công của
Tướng Salan từ sau ngày thay thế De Lattre, chỉ là cuộc hành quân rút lui khỏi Hoà
Bình trong an toàn không bị sứt mẻ, và xây dựng “Pháo lũy Na Sản” giữ được
mặt trận vùng Bắc Thái (phiá Tây, Bắc Việt) vững vàng trong suốt 3 tháng (10, 11,
và 12-1952). Còn tình hình toàn diện Đông Dương chẳng có gì khả quan hơn.
Qua tháng 5-1953, Tướng Navarre được cử thay thế Tướng Salan làm Tổng
Tư lệnh Quân Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Ông này xào xáo lại các kế hoạch
của các Tướng tiền nhiệm, rút tiả các kinh nghiệm, để hệ thống hoá thành kế hoạch
chiến thuật mới của mình là:
1.- Phòng thủ miền Bắc;
2.- Bình định miền Nam;
44
3.- Lập một Binh đoàn Chủ lực lưu động, để có thể đánh ở bất cứ nơi nào có sự tập
trung quân của Địch (Việt Minh).
Kế hoạch được mở màn bằng cuộc hành quân “Castor” vào cuối tháng 11-
1953, để hỗ trợ việc xây dựng “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” với mục
đích:
a.- Buộc Việt Minh phải chấp nhận một trận công kiên chiến, mà Pháp tin
rằng họ sẽ thắng vì có ưu thế hơn về Không quân và Tiếp liệu.
b.- Cầm chân Chủ lực quân Việt Minh tại miền Bắc để chúng không thể tiếp
sức cho miền Nam, nhờ thế Pháp sẽ bình định Liên Khu V gồm các Tỉnh Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, tại miền trung tâm của Trung Việt Nam
một cách dễ dàng.
c.- Dùng Điện Biên Phủ làm “Căn cứ Bàn đạp” đánh vào Hậu tuyến Việt
Bắc, nếu Việt Minh di quân khỏi nơi này để tấn công vùng đồng bằng sông Hồng.
Tiếc thay, Bộ tham mưu của Tướng Navarre ước tính sai lệch quá nhiều.
Việt Minh đã tập trung được quanh Điện Biên Phủ, một lực lượng nhiều tới
100,000 quân. Với sự yểm trợ của Trung Cộng, Việt Minh còn kéo được cả súng
Đại pháo qua đỉnh núi, đào hầm bố trí ngay trên sườn núi nhìn thẳng xuống thung
lũng Điện Biên Phủ. Thế mà Pháp cho rằng, Việt Minh chỉ có thể tập trung quanh
Điện Biên Phủ khoảng 20,000 quân là tối đa, và lòng chảo Điện Biên Phủ không
thể bị uy hiếp bằng Pháo binh, vì các Đại pháo chỉ có thể bố trí phiá bên kia các
dẫy núi quanh lòng chảo, xa quá tầm tác xạ của súng.
Cuối tháng 11-1953, tình hình chiến sự bỗng chuyển biến đột ngột. Bốn (4)
Sư đoàn Việt Minh kéo lên áp lực miền Bắc Thái (Tây Bắc, Bắc Việt). Qua tháng
12-1953, Tướng Navarre phải cho lệnh rút quân bỏ Lai Châu và toàn vùng Bắc
Thái, để tập trung về Điện Biên Phủ, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân ở vùng
thượng lưu sông MêKông để củng cố phòng thủ miền Bắc Lào (nước Ai Lao).
Đầu năm 1954, tình hình lắng dịu tại khắp các chiến trường phụ trên toàn cõi
Đông Dương. Riêng tại Điện Biên Phủ tình hình coi như đang có nhiều điều thuận
lợi cho quân Pháp. Nhưng, vào trung tuần tháng 2-1954, Hội nghị Bá Linh (Berlin,
Đức) được mở ra để thảo luận về việc thành lập một Hội nghị chính thức tại
Genève để tìm giải pháp cho vấn đề đình chiến tại Đông Dương, đã khiến tình hình
chiến sự trở nên bất lợi cho quân Pháp, và làm cho Tướng Navarre bị ngỡ ngàng.
Đầu tháng 3-1954, Việt Minh rút Sư đoàn 308 đang uy hiếp Luang-Prabang
(Lào), đem về tăng cường bao vây Điện Biên Phủ. Đến ngày 13-3-1954, Việt Minh
mở đầu các cuộc tấn công trên khắp các mặt trận Đông Dương (kể cả Điện Biên
Phủ), nhằm mục đích phô trương khả năng quân sự mới để áp đảo tinh thần quân
45
Liên Hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết Đông Dương, đồng thời tạo điều kiện
thượng phong tại Hội nghị Genève. Quân Pháp bị cầm chân tại tất cả mọi nơi, nên
không còn quân số tiếp ứng cho nhau, nhất là cho “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên
Phủ”.
Đến cuối tháng 4-1954, Bộ Tư lệnh Pháp cho mở cuộc hành quân “Atlante”
đánh vào Quân khu V của Việt Minh tại trung Việt, nhưng chẳng đem lại kết quả
gì, nếu không muốn nói là uổng công vô ích.
Ngày 7 tháng 5-1954, sau 55 ngày đêm tự lực cầm cự, “Tập đoàn Cứ điểm
Điện Biên Phủ” đã phải xin đầu hàng vô điều kiện. Dư luận Pháp rất hoang mang,
chia rẽ, tranh cãi trầm trọng, khiến Chính phủ Pháp phải đưa Tướng Paul Ely Tổng
Tham mưu trưởng Quân lực Pháp sang Đông Dương thay thế Tướng Navarre, với
quyền hạn rộng rãi là Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh tại Đông
Dương, như đã dành cho Tướng De Lattre hồi trước. Nhưng, Tướng Ely cũng
chẳng làm được gì hơn, là tiếp tục nhận lãnh những thất bại chua cay, trong âm
mưu tái lập thuộc địa lỗi thời của Pháp tại Đông Dương sau Thế chiến II.
Mấy tuần lễ sau vụ Pháp thất trận Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương
được giải quyết ngã ngũ, chấm dứt bằng giải pháp chính trị tại Hội nghị Genève
với một Hiệp Định đình chiến, ký kết vào lúc 0100 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1954
tại Genève giữa Pháp và Việt Minh. Đại diện Hoa Kỳ và Đại diện Chính phủ Quốc
gia Việt Nam khước từ không ký vào bản Hiệp định. Theo Hiệp định này, nước
Việt Nam bị phân làm 2 phần Nam, Bắc. Vĩ tuyến 17 và dòng sông Bến Hải được
dùng làm ranh giới giữa 2 miền. Từ giữa lòng con sông trở lên phiá Bắc thuộc
quyền kiểm soát cai trị của Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh cầm đầu. Phần từ
giữa lòng con sông trở xuống phiá Nam thuộc trách nhiệm của Chính quyền Pháp
và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo.
Thi hành Hiệp định Genève, Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp của Tướng
Ely phối hợp cùng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đình Diệm làm Thủ
tướng, tổ chức một cuộc di tản vĩ đại ngoạn mục trong vòng 300 ngày, cho hơn
một triệu Dân Quân Cán chính không thích sống dưới Chế độ Cộng sản rời miền
Bắc vào Nam tái lập nghiệp, và hàng chục ngàn Cán Binh Cộng sản từ miền Nam
buộc phải tập kết ra Bắc. Thời hạn triệt thoái quân Pháp và quân Quốc gia ra khỏi
Bắc Việt theo lối cuốn chiếu quy định như sau: phải ra hết khỏi HàNội trong thời
hạn 80 ngày kể từ ngày ký Hiệp Định Genève, do đó ngày chót được ấn định cho
Hà Nội là ngày 11-10-1954; 100 ngày cho Hải Dương do đó ngày chót được ấn
định là ngày 1-11-1954; và 300 ngày cho Hải Phòng do đó ngày chót được ấn định
là ngày 19-5-1955.
46
2.- THỜI CƠ GIÚP CHO QUỐC GIA VIỆT NAM CHÍNH THỨC CÓ
ĐƯỢC CHỦ QUYỀN ĐỘC LẬP TRONG MỌI LÃNH VỰC TỔ CHỨC
QUẢN TRỊ HÀNH CHÁNH, CHÍNH TRỊ NGOẠI GIAO ĐỐI NỘI ĐỐI
NGOẠI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ QUỐC PHÒNG TẠI MIỀN NAM
VIỆT NAM.
Di ảnh cố cựu Hoàng Bảo Đại
Từ ngày Cựu Hoàng Bảo Đại nhận lãnh sự ủy nhiệm của các Đảng phái
chính trị không theo Cộng sản tại Việt Nam, đứng ra thương thuyết và ký với Pháp
Hiệp Ước sơ bộ tại Vịnh Hạ Long để giành lại quyền độc lập cho nước Việt Nam
thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam vào ngày 5-6-1948, rồi đến trưa ngày 8
tháng 3 năm 1949 tại Paris có thêm THOẢ ƯỚC ÉLYSÉE giữa Tổng Thống Pháp
Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại, Vào ngày này, hai người trao đổi văn thư,
theo đó “Pháp long trọng công nhận” một nước Việt Nam độc lập và dân
chúng có quyền tự do quyết định sự thống nhất lãnh thổ của mình, theo tinh
thần Hiệp Ước Hạ Long, kèm theo một phụ bản các điều thoả thuận với
PIGNON,.cho đến ngày ký Hiệp định Đình chiến tại Genève 21- 7-1854, đã có tới
7 chính phủ thay nhau điều hành Quốc gia Việt Nam:
1.-Nguyễn văn Xuân, từ 2-6-1948 đến 30-6-1949.
2.-Bảo Đại, từ 1-7-1949 đến 20-1-1950,
3.-Nguyễn Phan Long, từ 21-1-1950 đến 5-5-1950,
4.-Trần văn Hữu, từ 6-5-1950 đến 25-5-1952,
5.-Nguyễn văn Tâm, từ 26-5-1952 đến 15-1-1954,
6.-Bửu Lộc, từ 16-1-1954 đến 6-7-1954,
7.-Ngô Đình Diệm từ 7-7-1954 tới 23-10-1955.
Thư ngày 8-3-1949 của Auriol gửi Bảo Đại gồm 7 mục chính:
1. Việt Nam thống nhất (Unité du Vietnam)
2. Vấn đề Ngoại giao (Question diplomatique)
47
3. Vấn đề Quân sự (Question militaire) Việt Nam sẽ có một Quân đội
riêng để duy trì trật tự, an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la
defense de l’Empire). Trong trường hợp tự vệ, có thể được các lực
lượng Liên Hiệp Pháp yểm trợ (appuyé par les forces de l’Union
francaise). Quân đội VN cũng tham dự vào cuộc bảo vệ biên cương
của toàn Khối Liên Hiệp Pháp.
4. Vấn đề chủ quyền trong nước (Souveraineté interne).
5. Vấn đề tư pháp
6. Vấn đề văn hoá
7. Vấn đề kinh tế và tài chánh.
(Ghi chú: Đoạn văn chữ nghiêng nét đậm trên đây là trích từ trang 119 trong
cuốn VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939-1975 (Tập B :1947-1954) của Chính Đạo do
nhà phát hành Văn Hoá in năm 1997 tại Hoa Kỳ. Đặc biệt Tôi có thay một chữ
trong mục 3. ….., an ninh nội địa và bảo vệ Triều đại (la defense de l’Empire).
…. Thay cho chữ .. bảo vệ đế quốc (la defense de l’Empire)….. như trong
nguyên bản, vì Tôi nghĩ Việt Nam chưa bao giờ là Đế quốc, thời trước 1945, Pháp
gọi là L’Empire d’Annam tức là Vương quốc Annam do Bảo Đại làm vua
(Empereur.). Còn trong hoàn cảnh mới này, tên nước là Quốc Gia Việt Nam và ông
cựu hoàng Bảo Đại giữ chức vị Quốc Trưởng chứ không phải là Vua của Vương
quốc Annam nữa.
Đến ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất cả
các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao hết cho
Chính phủ và Quân đội Quốc gia Việt Nam thừa hưởng. Dinh Norodom tọa lạc tại
trung tâm Thủ đô Saigon trước kia dành cho Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, nay là
trụ sở của Chính phủ Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Dinh Độc Lập. Camp
Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước kia là nơi làm việc của Bộ
Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông Dương, nay thuộc quyền xử dụng của Bộ
Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) và đổi tên
là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn của đoàn quân Viễn chinh Pháp
xây dựng tại Gò Vấp sát bên Bộ TTM và phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc
quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y Viện Cộng hoà. (Không biết cái tên Roques
Tôi nhớ có đúng không, bạn nào biết là sai xin vui lòng chỉnh giùm, Tôi vô cùng
cám ơn). Còn rất nhiều Doanh trại, Căn cứ, và Cơ sở khác tại Saigon và tại các
Tỉnh trên toàn lãnh thổ miền Nam Vĩ tuyến 17 được Pháp trao lại cho Chính quyền
Quốc gia miền Nam Việt Nam, nhưng Tôi thấy không cần liệt kê hết ra đây.
Vào tháng 8-1956, Chính phủ Pháp loan báo việc đề cử ông Henri Hoppenot
làm Cao Ủy Đông Dương. Nhưng, ông Ngô Đình Diệm đang lãnh đạo Chính
48
quyền Quốc gia Việt Nam với chức vị tự phong là Tổng Thống từ ngày 26-10-
1955 thay thế Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế từ ba ngày trước đó 23-10-1955,
đã dựa theo các điều khoản của Hiệp định Genève không chấp nhận, nên Chính
phủ Pháp phải đổi lại chức vụ là Đại sứ Pháp tại Việt Nam.
Đến ngày 26-10-1956, lễ ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà (theo
khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ, do Quốc Hội Lập
Hiến được bầu ra vào ngày 4 tháng 3 năm1956 biên soạn và biểu quyết chuẩp
thuận) mới được tổ chức rất trang trọng tại Đại lộ Trần Hưng Đạo, Saigon. Buổi lễ
này cũng đồng thời là Lễ Tuyên Thệ chính thức nhậm chức Tổng Thống nước Việt
Nam Cộng Hoà đẩu tiên tại miền Nam Việt Nam của ông Ngô Đình Diệm, trước
toàn dân và Ngoại giao đoàn quốc tế đã có mặt tại Saigon từ thời Quốc gia Việt
Nam còn thuộc quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại. (Quốc Hội Lập Hiến
gồm 123 Dân Biểu thuộc các thành phần sau: Phong trào Cách mạng Quốc gia 47
ghế, độc lập không đảng phái nào 39 ghế, Tập đoàn Công dân 18 ghế, Phong trào
Tự do 11 ghế, và 5 đảng phái chia nhau 8 ghế.)
Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan
biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Hoa Kỳ. Bởi vì, ngay từ khi mở Hội nghị Bá
Linh bàn thảo việc thành lập Hội nghị Genève giải quyết vấn đề chiến tranh Đông
Dương, Hoa Kỳ đã ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời ông Ngô
Đình Diệm (đang ở Mỹ) về làm Thủ Tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi
là thân Pháp.
3.- THỜI CUỘC BIẾN ĐỔI ĐÃ TẠO CƠ HỘI CHO THỦ TƯỚNG
NGÔ ĐÌNH DIỆM GIÀNH ĐƯỢC QUYỀN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA VIỆT
NAM, THAY THẾ QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI ĐÃ RỜI VIỆT NAM SANG
PHÁP TỪ NGÀY 10-4-1954 SỐNG TẠI BIỆT THỰ RIÊNG Ở CANNES, ĐỂ
CHỮA BỆNH SÁN GAN VÀ VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ GIÚP GIẢI QUYẾT
CUỘC CHIẾN CHỐNG CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.
Tại Saigon trong khoảng những ngày cuối tháng 5 sang đầu tháng 6-1954,
các hãng thông tấn quốc tế và quốc nội loan truyền tin đồn đoán là ông Ngô Đình
Diệm sẽ làm Thủ Tướng thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc. Nhưng mãi đến ngày 16-
6-1954, Quốc Trưởng Bảo Đại, từ tư dinh tại thành phố Cannes bên Pháp,
mới chính thức công bố quyết định cử ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng
với toàn quyền hành động (tức là mọi quyết định quan trọng liên quan đến
quốc gia không cần phải thỉnh ý Quốc Trưởng trước như các Thủ Tướng tiền
nhiệm).
49
Ngày 25-6-1954 ông Ngô Đình Diệm từ Pháp về tới phi trường Tân Sơn
Nhất Saigon, được sự tiếp đón theo nghi lễ ngoại giao tại phòng Khách Danh Dự
của phi trường, gồm một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc,
một số Sĩ quan cấp Tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ TTM/QĐQGVN
(trong đó có Tôi đang là Thiếu Tá Chánh Sự vụ Sở Mật Mã trực thuộc văn phòng
Tổng Tham Mưu Trưởng, lúc đó Thiếu Tướng Nguyễn văn Hinh làm Tổng Tham
Mưu Trưởng và Trung Tá Trần văn Minh làm Tham mưu trưởng), cùng một số
thân quyến thuộc dòng họ Ngô-Đình và Nhân sĩ thân hữu của gia đình ông Ngô
trongnước.
Những ngày tiếp theo, ông Diệm tiếp xúc các nhân sĩ để thành lập chính
phủ, mãi tới ngày 7-7-1954 mới chính thức trình diện chính phủ và bắt đầu tham
chánh. Thành phần chính phủ gồm có:
-Ngô Đình Diệm, Thủ Tướng kiêm Nội Vụ và Quốc Phòng,
-Trần Văn Chương, Quốc Vụ Khanh,
-Trần Văn Đỗ, Tổng Trưởng Ngoại Giao,
-Trần Văn Của, Tổng Trưởng Tài Chánh và Kinh Tế,
-Nguyễn Tăng Nguyên, Tổng Trưởng Lao Động và Thanh Niên,
-Trần văn Bạch, Tổng Trưởng Công Chính,
-Phạm Hữu Chương, Tổng Trưởng Y Tế và Xã Hội,
-Phan Khắc Sửu, Tổng Trưởng Canh Nông,
-Nguyễn Dương Đôn, Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục,
-Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng,
-Lê Quang Luật, Thông Tin,
-Phạm Duy Khiêm, Công vụ Phủ Thủ Tướng,
-Nguyễn Ngọc Thơ, Nội Vụ,
-Lê Ngọc Chấn, Quốc Phòng,
-Hồ Thông Minh, Thứ Trưởng Quốc Phòng,
-Bùi Văn Thinh, Tư Pháp,
-Nguyễn Văn Thoại, Kinh Tế,
-Trần Hữu Phương, Tài Chánh.
Nhưng chỉ ít ngày sau, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bắt đầu gặp nhiều khó
khăn về mọi mặt đối nội cũng như đối ngoại. Chẳng hạn:
1.-Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam không ký trên Hiệp định Genève,
nhưng vẫn phải chấp nhận và cộng tác với Bộ Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp
tại Đông Dương thi hành, đặc biệt phải chấp nhận cho các cơ sở kiểm soát đình
chiến do Ấn Độ (Trung Lập) làm Chủ tịch, với các thành viên Ba Lan (Cộng sản)
và Canada (thuộc Thế giới Tự Do Tư Bản) đặt cơ sở hoạt động tại nhiều nơi trên
50