LỜI PHÁT BIỂU của NGUYỄN-HUY HÙNG
TRONG BUỔI LỄ CHÀO CỜ VNCH ĐẦU THÁNG 10-2008
TẠI TƯỢNG ĐÀI VIỆT-MỸ, THỊ XÃ WESTMINSTER.
Kính chào Quý Vị,
Mến chào Quý Chiến hữu.
Hôm nay, Tôi được cái vinh dự đến góp mặt trong buổi chào Quốc kỳ Việt
Nam Cộng Hoà vào mỗi đầu tháng nơi Tượng đài Việt -Mỹ tại thị xã Westminter
này là lần thứ tư.
Lần thứ nhât, Tôi được vinh dự đến tham dự lễ khánh thành Tượng Đài với
khoảng hơn 20 ngàn đồng hương Việt Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản và các thân
hữu Hoa Kỳ người bản xứ, vào trưa ngày 27 tháng 4 năm 2003.
Lần thứ hai, vào dịp Hội Cựu Chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng Hoà
Nam California do Đại Tá Trần Ngọc Thống làm Hội trưởng tổ chức, nhân dịp kỷ
niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 6 vào năm 2004.
Lần thứ 3, vào dịp Chương trình phát thanh Sống Trên Đất Mỹ của ông Vạn
Võ và Chương trình Ky Tô hữu do ông Nguyễn Xuân Tùng làm Giám đốc, phối
hợp với Khu hội Cựu Tù Nhân Chính trị Nam California và các Hội đoàn khác tổ
chức vào cuối tháng 4 năm 2005 để tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-4-1975.
Và hôm nay là lần thứ tư, do Ủy ban phụ trách chào cờ đầu tháng nơi Tượng
đài, phối hợp với Khu hội Tù nhân Chính trị Nam California tổ chức, để tưởng
niệm cố Tổng Thống nền Đệ nhị Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam Nguyễn văn
Thiệu đã quy tiên vào ngày 29-9-2001, tức là cách nay đã 7 năm tròn.
Đặc biệt lần này, Tôi được thêm cái vinh dự là được ban tổ chức yêu cầu ra
đây bầy tỏ đôi điều tâm sự, với tư cách là người bạn đã cùng tốt nghiệp Khoá 1
Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam vào ngày 1 tháng 6 năm 1949 với cố Tổng
Thống Nguyễn văn Thiệu.
Kính thưa Quý Vị và Quý Chiến hữu,
Mỗi người được sinh ra trên đời này đều là do quyền uy tạo dựng của
Thượng Đế, hay người ta thường gọi một cách nôm na là Ông Trời, và cũng vì thế
nên mỗi người cũng đã được Ông Trời định cho một trách nhiệm phải góp phần
với loài người trong thời gian sống tại Dương Thế, không ai có thể cải sửa được cái
định mệnh mà Ông Trời đã dành riêng cho đó.
Ngoài ra, chúng ta ai cũng biết rằng Ông Trời cũng tạo cho con người bản
chất tinh khôn linh hơn vạn vật, nhưng cũng đồng thời lại buộc con người phải
luôn luôn tự phấn đâu chống lại sự cám dỗ của ba cái tật xấu là THAM SÂN SI để
vươn lên, sống sao cho hợp với Chính nghiã Đạo Trời là Nhân, Nghiã, Lễ, Trí, Tín,
và Trung.
151
Chẳng thế mà các Cụ xưa thường hay nói rằng NHÂN VÔ THẬP TOÀN,
mỗi khi muốn góp lời khuyên giải người nào đó đang buồn nản vì gặp phải cảnh
người khen kẻ chê về kết quả những việc làm của mình. Những người nào có cơ
duyên được mình giúp cho có cơ hội tiến lên hưởng nhiều may mắn hơn người
khác thì hết lời khen mình là người tốt, còn những kẻ gian ngoan vị kỷ muốn có cơ
hội để lợi dụng kiếm chác nhưng không được mình thoả mãn thì lại tìm hết mọi
cách để dè bỉu nói xấu mình.
Chẳng hạn như hôm nay, chúng ta tổ chức giây phút tưởng niệm cố Tổng
Thống Nguyễn văn Thiệu lần thứ bẩy này, thì sẽ có người khen là phải và cần thiết
đối với một cựu chiến binh Quân lực Việt Cộng Hoà, đã từng cùng đồng đội theo
con đường Chính Nghiã hy sinh lặn lộn cả đời trong gian nguy để bảo vệ dân tộc
và đất nước Việt Nam. Nhưng cũng có những người đã từng đến cầu cạnh xin cơ
hội để gây thanh thế cá nhân và tạo lợi ích riêng cho phe nhóm, không được thoả
mãn thì lại phê bình rằng, làm Tổng Thống mà để mất cả miền Nam Việt Nam vào
tay Việt Cộng vào ngày 30-4-1975 và bỏ chạy ra ngoại quốc lánh nạn, thì có gì mà
phải tưởng niệm… Những lời phê phán này cũng chỉ phát xuất theo cá tính trần tục
vị kỷ thấp hèn thiển cận của con người, chúng ta không nên quan tâm về những lời
phê phán đó.
Hôm nay chúng ta tề tựu nơi đây để cùng hiệp tâm nhớ ơn và cầu xin Trời
Phật Thượng Đế độ trì cho Hương Linh các Anh Hùng Liệt Nữ Việt Nam và các
nước Đồng Minh đã tiếp tay chúng ta trong trận chiến chống Cộng sản xâm lăng
đất nước Việt Nam trong cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng suốt thởi gian mấy chục
năm trường cho đến ngày Quốc hận 30-4-1975, trong đó có cố Chiến hữu Nguyễn
văn Thiệu đã từng làm Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà, được mãi mãi hưởng an
bình nơi miền Vĩnh Cửu.
Riêng cá nhân Tôi xin trình bầy là Tôi rất cảm phục cố chiến hữu Nguyễn
văn Thiệu. Tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc trong nhiều hoàn cảnh và môi trường khác
nhau, trong thời gian cùng là Sinh viên Sĩ quan tại Trường Võ bị Quốc gia Việt
Nam, trong các buổi họp tham mưu tại những nơi làm việc như tại Bộ Tham mưu
Quân Khu 2 ở Huế, Trường Võ bị tại Đà lạt, tại các văn phòng riêng của Tư lệnh
Sư đoàn, Tham mưu truởng Liên quân, và sau này là Chủ tịch Úy Ban lãnh đạo
Quốc gia, rồi Tổng Thống, trong các buổi ăn uống hàn huyên họp bạn cùng khoá,
những dịp thăm viếng riêng với tư cách bạn bè cùng khoá tại tư gia… Tôi đều nhận
thấy cố Chiến hữu Nguyễn văn Thiệu là người rất chân thành mộc mạc nhân hậu
tốt bạn, với đầy đủ những đức tính của một con người chân chính gương mẫu giầu
nghị lực.
Hôm nay chúng ta tụ họp nơi đây để cùng bầy tỏ lòng nhớ thương và kính
phục đối với người cố chiến hữu Quân lực Việt Nam Cộng Hoà Cựu Tổng Thống
Nguyễn văn Thiệu, đã được Thiên Chúa thương xót gọi về nước Chúa. Chúng ta
cũng mừng cho ông đã thoát được mọi nghiệp chướng trần gian và vĩnh viễn
152
hưởng an lành nơi miền Vĩnh Cửu từ mấy năm nay. Trong khi chúng ta đang còn
mang nặng trên hai vai gánh nợ đời, phải ngày đêm vất vả lo toan tiếp tục xả thân
để trả mãi mà chưa hết.
Vì thế, chúng ta hãy hiệp tâm chân thành cầu xin anh linh cố Chiến hữu
Nguyễn văn Thiệu cùng anh linh các Anh Hùng Liệt Nữ dòng giống Tiên Rồng
Việt Nam, và anh linh các Anh hung Tử sĩ bạn Đồng minh của Việt Nam Cộng
Hoà, hỗ trợ cho chúng ta luôn được sáng suốt HOÀ HỢP ĐOÀN KẾT bên nhau,
để tiếp tục công cuộc hỗ trợ cho đồng bào Việt nam ở trong nước có những thời cơ
và hoàn cảnh thuận lợi hơn, để có thể đồng tâm hiệp lực vùng lên sớm lật đổ được
bạo quyền Việt Cộng, giành lại được các quyền căn bản của người dân trong một
nước độc lập phải được hưởng và bảo vệ, như chúng ta và thân quyến chúng ta
đang được hưởng trên đất nước Hoa Kỳ Quê hương thứ hai quý yêu này.
Cám ơn Quý Vị và Quý Chiến hữu đã lắng nghe,
Kính chào Quý Vị và Quý Chiến hữu.
NGUYỄN-HUY HÙNG.
Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến
tranh Chính tri kiêm Chủ nhiệm Nhậ báo Tiền Tuyến,
Cựu tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ nhục trong các trại tập trung cải
tạo của Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt nam,
sau ngày Quốc hận 30-4-1975.
Phỏng Vấn Đặc biệt của Việt Luận:
Chúng ta có thể rút ra được bài học gì từ biến cố 30/4/1975?
LTS: Ngày 30.4.1975 là ngày đáng nhớ nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Ngày mà
dòng sinh mệnh dân tộc thay đổi hẳn, bị họng súng của nền chuyên chính vô sản áp
giải vào kỷ nguyên của tối tăm, đói nghèo, tụt hậu và tan vỡ niềm tin. Ngày mà, ít hay
nhiều, ở những cấp độ khác nhau, nền chuyên chính đổi đời hàng chục triệu người, từ
cảnh ly tán, tan nát tương lai, tan nát gia đình hay tù đày, chết chóc, mất quê hương
v.v...
“History repeats itself because nobody listens” - Lịch sử lập lại vì người ta không biết
học hỏi; nhà văn Mỹ Laurence Peter đã nhận định như thế và chúng ta đã học được gì
từ cái ngày đó? Ngày 30.4.2008 sắp tới gần và Việt Luận đã phỏng vấn một số nhân vật
như Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Phan Văn Song, Vũ Ngọc Tấn, Nguyễn Gia Kiểng,
Steve B. Young, LM Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Khắc Toàn, GS Vũ Quốc Thúc, Cựu Đại
tá Nguyễn Huy Hùng, Trần Thanh Hiệp, Bùi Tín v.v... Loạt bài phỏng vấn này lần lượt
được đăng tải làm ba kỳ: tuần rồi (thứ sáu 18/4), tuần này và tuần tới. Kính mời quý
bạn đọc theo dõi.
153
Cựu Đại tá NGUYỄN-HUY HÙNG, Nguyên Phụ tá Tổng Cục Trưỡng Tổng Cục
Chiến Tranh Chính-Trị kiêm chủ-nhiệm Nhật-Báo TIỀN TUYẾN
Đây là câu hỏi mà nhiều người đã đưa ra từ hơn 30 năm nay, mỗi lần 30 tháng 4
Dương lịch đến hàng năm.
Người ta đã đặt câu này ra với mọi giai cấp xã hội thuộc các nước trên toàn thế giới,
chứ không riêng cho những người Việt Nam đang lưu vong tỵ nạn Cộng sản mà thôi.
Mỗi người đã có những câu trả lời khác nhau, tùy theo khả năng hiểu biết và sự liên hệ
của mỗi người trong lãnh vực chuyên môn và giai cấp xã hội của riêng họ.
Theo thiển kiến, thì những khiá cạnh mà mỗi người đã trả lời cũng chỉ hầu như nhắc lại
những khiá cạnh đã dẫn đến biến cố 30-4-1975, mà bản thân người đó đã từng là một
nhân chứng hoặc đã có dự phần, rồi đưa ra những đề nghị chủ quan về những gì họ
nghĩ là nên hành động trong hiện tại và tương lai một cách khôn ngoan hơn, để đừng
rơi vào những thất bại quá khứ, cũng như tìm cách hàn gắn cho những vết thương do
biến cố 30-4-1975 đã gây ra được lành hẳn mà thôi.
Do đó, Tôi không lập lại những gì đã được những người khác trình bầy.
Theo nhận xét nông cạn và rất bình dân riêng của Tôi thì, bài học mà chúng ta có thể
rút ra từ biến cố 30-4-1975 là, Quốc gia cần có một chính sách giáo dục nhân bản, để
mọi người dân có đủ tri thức mà nhận định thấy được cái ác và cái thiện, điều phải và
điều trái, cái nên và cái không nên, lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, và đặc biệt là
phải biết tự tin và suy nghĩ quyết định thật sáng suốt về quyền lợi và trách nhiệm hành
động của mỗi cá nhân trong xã hội.
Một vài thí dụ chứng minh,
Nếu Hồ Chí Minh không ngu tối mù quáng chấp nhận làm tay sai cho Quốc tế Cộng sản
do Lenine sáng lập, và do Staline, Mao Trạch Đông thực hiện trên đất nước Nga và
Trung Hoa, rồi kiên trì ngoan ngoãn tuân theo lệnh các quan thầy đem vào thực hiện
trên đất nước Việt Nam, thì làm gì có cuộc chiến tranh ý thức hệ trên quê hương đất
nước Việt Nam, làm hao tổn xương máu của bao nhiêu triệu sinh linh vô tội của giống
nòi Việt Nam.
Nếu không có Bảo Đại và một số lãnh đạo khác kế theo, suy nghĩ nông cạn hám muốn
quyền hành, ỷ nhờ vào các thế lực Tư Bản để bị lôi cuốn đưa đất nước dân tộc tham
dự vào cuộc chiến tranh giành uy thế giữa hai thế lực Tư Bản và Cộng sản, thì cuộc
chiến tranh “nồi da xáo thịt” đã không xẩy ra trên quê hương Việt Nam mến yêu của
chúng ta.
Nếu những người trí thức khoa bảng được đào luyện tại những nước Thực dân đã đô
hộ Việt Nam, biết phát huy sở kiến học hỏi được và tinh thần tự chủ tự cường độc lập,
154
yêu nước thương nòi thật sự, không ích kỷ luồn cúi nịnh bợ kẻ đô hộ để hưởng thụ như
những tên gia nô tài phiệt, thì dân chúng đâu có phải chịu cảnh ngu dốt, không có cơ
hội phát triển trí tuệ để thoát khỏi cảnh lạc hậu chậm tiến, đến nỗi bị các thế lực ma
giáo lừa bịp lôi cuốn vào những cuộc tranh chấp không lương thiện hại dân hại nước
như hiện nay, mà vẫn cứ tưởng là mỉnh yêu nước.
Tôi biết là trong hiện tại, có rất nhiều nạn nhân đã có kinh nghiệm đau thương của biến
cố 30-4-1975, đang họp thành những nhóm đấu tranh chính trị tiếp tục cuộc tranh đấu
hỗ trợ cho quảng đại quần chúng đồng bào Việt Nam ở trong nước, có cơ hội và thời
cơ thuận lợi để lật đổ bạo quyền Việt Cộng lừa bịp gian manh xảo quyệt mạo danh làm
Cách Mạng, nhưng thực tế chúng đang là tập đoàn Tư bản thế lực độc tài quân phiệt
thực dân, đang tiếp tục chuyên quyền cai trị dân tộc Việt Nam bằng một chế độ chuyên
chính độc tài tàn bạo nhất thế giới, để toàn dân có thể giành lại được các quyền Tự do
Dân chủ Bình đẳng mà những người dân trong một nước độc lập phải có quyền
hưởng.
Nhưng tiếc rằng, các nhóm này lại đang được hướng dẫn bởi những lãnh tụ có những
đường lối hành động không thực tình vô vị lợi, nên đang bị bạo quyền Việt Cộng dùng
tiền và tay sai xâm nhập phá rối gây chia rẽ rất trầm trọng.
Để góp phần giải quyết vấn nạn này, Tôi đã cố gắng viết một bài bình luận ngắn để
trình bầy các khiá cạnh cần yếu mong mọi người có dịp đọc và suy nghĩ lại, nhưng
chưa biết hiệu quả có đạt được như mong ước của Tôi không? Đó là bài viết với tiêu đề
NÊN THẬN TRỌNG ĐỪNG ĐỂ BỊ VIỆT CỘNG LỪA BỊP NỮA.
Những điều trình bầy trả lời câu hỏi của Tôi trên đây, có thể phiến diện thiển cận, mong
Quý Vị cao minh vui lòng hỉ xả bổ khuyết cho, Xin chân thành đa tạ.
NGUYỄN-HUY HÙNG
Một cựu Tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của
đảng
Cộng sản Việt nam và bạo quyền Cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt nam, sau biến cố 30-
4-1975.
Vũ Quốc Thúc
(Nguyên Khoa trưởng Đại học Luật Khoa Sài gòn, Thống đốc Ngân Hàng QGVN, Phó
Thủ tướng đặc trách hậu chiến VNCH)
Trả lời câu hỏi, tôi chỉ có 2 nhận định về biến cố 30/04 như sau:
1) Trong suốt thời kỳ từ 1948 (Kế hoạch Marshall ra đời) tới 1991 (Khối Liên Xô giải
thể) nước ta chỉ là một mặt trận trong cuộc chiến tranh (nóng hay lạnh tùy từng địa
phương) giữa Phe Tư Bản Tự Do và Cộng Sản Độc Tài. Hoa Kỳ lãnh đạo Phe Tư Bản
Tự Do thấy rằng nếu tiếp tục cuộc chiến nóng bỏng ở Việt Nam sẽ thiệt hại rất nhiều
nên đã rút lui êm thấm bằng cách điều đình thẳng với đối phương. Ta muốn giữ họ ở lại
cũng chẳng được. Biến cố 30/4/75 chẳng qua chỉ chính thức hóa một thỏa hiệp đã hình
thành từ Hiệp Định Paris 27/1/1973.
155
2) Năm 1987 tôi và một số anh chị em tổ chức ở Paris một cuộc Hội Thảo về vấn đề
Vãn Hồi Hiệp định 27/1/1973 nhân lúc Liên Hiệp Quốc đang tìm cách giàn xếp Cuộc
chiến ở Campuchia (lúc ấy đang bị quân CS Việt Nam chiếm đóng). Theo dõi cuộc hội
thảo này có Cố T.T. Nguyễn Văn Thiệu (đích thân hiện diện ở hậu trường) và một luật
sư Hoa Kỳ (tai mắt của Kissinger). Đồng chủ tọa với tôi trong cuộc hội thảo này là ông
Mesmin, Chủ Tịch ủy Ban Ngoại Giao ở Hạ Viện Pháp. Qua cuộc hội thảo này tôi thấy
rõ là không hy vọng gì vãn hồi Hiệp định Paris 1973. Tuy nhiên lịch sử luôn luôn có
những sự bất ngờ. Bổn phận của những người đấu tranh là phải giữ vững niềm tin:
Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên như cổ nhân đã nói.
Vài lời tâm sự, xin thân ái trình bày với độc giả Việt Luận
Phan Văn Song (Đại Việt Quốc Dân Đảng)
Báo Việt Luận đặt câu hỏi: “Chúng ta có thể rút bài học gì từ biến cố 30 tháng Tư
1975”.
Hằng năm cứ đến ngày 30 tháng Tư là toàn dân Việt Nam tỵ nạn hải ngoại tổ chức
những cuộc sinh hoạt để ghi nhớ ngày thảm nạn, tang tóc của toàn dân - quân - cán -
chánh Việt Nam Cộng Hòa: nào là biểu tình để biểu dương lá cờ vàng ba sọc đỏ thân
yêu, giới thiệu, chia sẻ với các cộng đồng bản xứ cùng các sắc tộc khác trên quê
hương cư ngụ của mình, nào là hội họp cùng nhau đánh dấu kỷ niệm ngày đau thương
ấy để luôn luôn cảnh giác, đề phòng, nhắc nhở nhau là bọn người ác gian hiện đang
cầm quyền tại quê hương mình, và cũng nhân tiện, dạy dỗ con cháu hậu duệ thấu hiểu
để giữ vững gốc rễ thành phần tỵ nạn cộng sản của chúng ta, của chính chúng, cũng
như cho mọi người hiểu sức mạnh của nước Việt Nam thứ hai: nước Việt Nam Hải
ngoại, nước Việt Nam của hơn 3 triệu đồng bào tỵ nạn, tìm tự do chúng ta.
Biến cố 30 tháng Tư 1975 đã buộc chúng ta bỏ xứ ra đi: tạm dung trên đất người, làm
lại cuộc đời, từng cá nhân một, từng gia đình một, đến ngày nay đã hợp thành một
cộng đồng, một đại gia đình - một nước Việt Nam Hải ngoại - chúng ta đã bao lần biểu
dương sức mạnh của lá Quốc kỳ nền vàng, lá cờ của Tự do, lá cờ của nước Việt Nam
thứ hai, lá cờ được các quốc gia, nơi chúng ta cư ngụ nhìn nhận, lá cờ đại diện người
Việt Nam tự do trên các quê hương tự do, nhốt lá cờ đỏ Cộng sản, lá cờ của bọn ác
gian cầm quyền bị bó mình trong những cao ốc hành chánh quốc tế: Sứ quán, lãnh
sự... Vì vậy, dầu ngày nay, người Việt hải ngoại có hội nhập vào làng sóng sanh hoạt
xã hội của đất nước mới, dầu có thành công về phương diện kinh tế, về phương diện
học vấn, nhưng các con cháu chúng ta trong xã hội mới đó, chúng không được quên
nguồn gốc của Việt Nam Hải ngoại này: biến cố 30 tháng Tư 1975.
Vâng, tôi không quên ngày 30 tháng Tư 1975:
- Làm sao quên được cái nhục khi nhìn thấy những kẻ thắng trận chỉ toàn một nhóm
người thất học, ngơ ngác lạc lõng trước những tòa nhà đồ sộ, nguy nga tráng lệ của
Sài gòn. Những con người máy, “rô bốt”, không chút kiến thức, chỉ biết vâng dạ, trả bài
như con vẹt, và giỏi bắn, giết... được gọi là quân giải phóng, nhưng khi vào Sài gòn
không một thái độ thân thiện, trái lại, như những quân ngoại quốc đi xâm chiếm, chúng
hôi của, chúng cướp nhà, chúng đuổi dân đi kinh tế mới, chúng bắt quân cán chánh
chế độ cũ đi tù, đưa cả miền Nam và nền kinh tế sung mãn vào phá sản.
156
- Làm sao quên được cái nhục khi nhìn nghe những ông, những vị lãnh đạo của chế độ
mà mình đã tin tưởng, ủng hộ suốt cả đời, đã “đi rồi”, bỏ chạy, trốn trách nhiệm, để các
binh sĩ mũ giáp tơi tả, quần áo ngổn ngang, súng ống la liệt giữa đường xá.
Những biểu tượng trân quý ngày nào, cây súng, chiến bào, huy chương... nay bị vứt
bỏ, như những gì dơ bẩn nhứt!.
Và, dân chúng Sài gòn hỗn loạn, nhà trống, thành phố hoang, không chủ, như rắn
không đầu, như bầy con không cha mất mẹ. Trách làm sao, khi những tên tiểu nhân vụt
biến thành các nhà “cách mạng 30 tháng Tư” hống hách, hà hiếp dân lành; trách làm
sao được, khi những người lương thiện thân phận yếu, sẵn sàng như ngọn cỏ đầu
tường, tiếp tay kẻ chiến thắng lùng bắt người thất thế.
- Làm sao quên những đoàn người chen lấn, đạp lên nhau để tìm đường sống: đạp lên
nhau giành nhảy xuống thuyền, họ sẵn sàng giết nhau để tìm sanh lộ. Ôi! biết bao cảnh
đau thương, kể sao cho siết!.
Và trước đó, từ những ngày đầu mất Ban Mê Thuột khi ra Tết:
- Làm sao quên được những trang báo đầy dẫy hình ảnh chết chóc đau thương trải dài
theo quốc lộ 19, chạy từ Kontum về Qui Nhân, bên giòng sông Ba, hàng ngàn người
ngã gục, đoàn dân trốn giặc cứ chạy, pháo của quân Giải phóng vẫn nổ chụp lên đầu!
Giải phóng gì mà nhả pháo vào dân không chút thương tình!!!
- Làm sao quên được hình ảnh những đoàn người lũ lượt tiến về Sài gòn, bồng bế
nhau hoảng loạn chạy trong khi bao nhiêu thân xác ngã gục vì mệt, vì đói, vì khát...
- Hình ảnh chết chóc hỗn loạn: Chiếc C5 chở con trẻ mồ côi bị rơi, những chiếc phà bị
chìm, những người chết đuối...
Nhưng, một việc lạ, trong cảnh rối rắm, ngổn ngang ấy, ở ngay Sài gòn, không một ai
nghe thấy chuyện cướp giựt, trộm cắp. Hình như người Sài gòn từ giàu đến nghèo, từ
quan đến dân, đều bận lay hoay với một suy nghĩ, phải làm sao thoát cái rọ Cộng sản,
vì thế, không ai nghĩ đến cướp giựt, hôi của, chiếm đoạt nhà của kẻ khác.
Có lẽ dân Sài gòn vô tư chăng? Dân Sài gòn không tin vào cái thua trận, hay dân Sài
gòn quá nhẹ dạ, quá tin tưởng vào Đồng minh, vào Mỹ?
Tôi không quên được những lời bàn Mao tôn cương của các “thức giả”:
- Mỹ không để mất Việt Nam đâu! Nó bỏ tiền viện trợ quá nhiều rồi, vả lại, Việt Nam
vừa tìm ra mỏ dầu ở ngoài khơi Vũng tàu, còn lâu Tư bản Mỹ mới bỏ;
- Mỹ sẽ bán cái cho Tây, cho Việt Cộng để khỏi mất mặt;
- Việt Nam miền Nam sẽ bị chia làm hai: Miền Trung, Phan Rang ra đến Đà Nẵng của
Việt Cộng, Huế trở ra cho Cộng sản Miền Bắc...? Lúc ấy còn có anh nhẹ dạ tin rằng
157
Việt Cộng miền Nam và Cộng sản miền Bắc là hai nhóm khác nhau.
Còn có cả thuyết ngon lành hơn nữa, nực cười hơn nữa:
- Sài gòn và Cần thơ sẽ bỏ ngõ, làm hai Đô thị thương mại quốc tế, với một nền kinh tế
thương mãi đặc biệt, kiểu Hongkong, Singapore, để làm đòn bẫy thương mại kinh tế
xây dựng ba cái Việt Nam tương lai, khi nào cả ba có một nền kinh tế và mức sống
tương đối đồng đều với nhau sẽ đi đến hiệp thương rồi thống nhứt.
Còn có vị diểu dở, phán:
- “Nếu bây giờ thống nhứt thì làm sao dân ngoài Bắc sống kịp dân miền Nam tụi mình.
Họ nghèo lắm, nghèo rớt mồng tơi, làm sao sanh hoạt mua bán như mình”?.
Để trả lời, sau ngày 30 tháng Tư, dân miền Nam, nhứt là dân Sài gòn cũng xuống dốc,
đói nghèo luôn, và cũng như dân Bắc, rớt luôn cái mồng tơi... ý quên, cái nóp.
Bài học chúng ta phải luôn nhớ đời, và dạy cho con cháu của chúng ta, tất cả phải biết
cái não trạng, cái Văn hóa Cộng sản.
Phải! Tôi dùng đúng chữ VĂN HÓA Cộng sản.
Dầu cho ngày nay, thiên hạ vẫn cho rằng ở Việt Nam sanh hoạt tập tục không còn
Cộng sản nữa! Tôi vẫn quả quyết là nhóm ác gian cầm quyền vẫn Còn Cộng sản.
Người Cộng sản vẫn đó, với Văn hóa Cộng sản, với não trạng Cộng sản.
Ngày nay, nhóm ác gian cầm quyền, mồm nói Tư bản chủ nghĩa, sống kinh tế thị
trường, tiền bạc tập tục tư bản kinh doanh, nhưng vẫn lý luận Staline, Mao Hồ. Họ vẫn
nuôi mộng Cộng sản chủ nghĩa thành công và thế giới đại đồng cộng sản. Hiện tại chỉ
là một bước lùi trá hình để ngày mai bành trướng trở lại.
Poutine bành trướng bá quyền phương Tây, đang cố lập lại “Liên Xô Nga”.
Hu Tsin Tao đang bành trướng bá quyền phương Đông, đang cố lập “Cộng sản đại
đồng Trung hoa”.
Còn Việt Nam: một ngôi sao nhỏ thứ sáu trên lá cờ Tàu Cộng: cờ Tàu cộng gồm có một
ngôi sao to của Hán tộc với năm sao nhỏ của các sắc tộc cò con: Mông, Mãn, Thanh,
Hồi và Tạng. Và tương lai sẽ là sắc tộc Việt, trong thế giới cộng sản đại đồng Tàu. Coi
chừng, cảnh giác. Đây là vận mạng sống còn của dân tộc Việt.
Chống Cộng sản Việt Nam để chống Chủ nghĩa bành trướng của Cộng sản Tàu đang
nuốt chửng dân tộc Việt. Hán thuộc đã bắt đầu rồi.
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự đã là Cộng hòa Hán thuộc Việt Nam.
Bài học 30 tháng Tư 1975, là luôn luôn nhắc nhở con cháu chúng ta: Chỉ tin vào chúng
158
ta thôi! Không một ngoại bang nào thương chúng ta hết.
Trước 1975, Miền Nam Việt Nam Chống Cộng, với các đồng minh của thế giới tự do:
chiến đấu hy sinh để chống làn sóng đỏ Tàu Nga. Hai mươi năm, chiến đấu cạnh nhau,
tình chiến hữu ruột thịt, chỉ vì một lời hứa thân thiện Mỹ-Tàu, thị trường kinh tế mở
rộng, thế là xong hai mươi năm gắn bó, bỏ xuống biển.
Mỹ đem con bỏ chợ, các lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa đa số là quan chức chư hầu,
chịu sự sai khiến của các Thái thú Mỹ, nên khi Mỹ rút đi, không một ai lên tiếng đòi tổ
chức một cuộc di cư có trật tự, mạnh ai nấy chạy, mặc kệ em út, mặc kệ bạn bè, chẳng
còn gì là tình với nghĩa!.
Thời 1954, khi Tây rút khỏi Miền Bắc, Tây tổ chức cho tàu há mồm chuyển di dân về
miền Tự do, trên 1 triệu người ra đi có trật tự, bởi thời kỳ này – 1954 - Quốc trưởng
Bảo Đại là vị Vua của toàn dân Việt, do dân Việt Nam lựa chọn.
Năm 75, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, độc diễn do Mỹ chọn, đã trốn trách nhiệm, từ
chức, đào ngũ, lén “dzọt”, bán cái cho Cụ Trần Văn Hương, sau khi phá nát Quân đội,
huỷ diệt sức chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa.
Việt Nam Xã hội chủ nghĩa do Cộng sản quốc tế chỉ đạo, tổ chức và nuôi dưỡng cưỡng
chiếm miền Nam, chỉ là chủ nghĩa của ngoại bang Nga-Tàu. Khi Nga-Tàu bảo kinh tế
bao cấp thì xã hội chủ nghĩa răm rắp theo Liên Sô, theo Tàu. Khi Liên Sô bảo đánh Tàu
thì cộng sản Việt Nam ngoan ngoãn đánh Tàu. Thậm chí, ngày xưa có cả phe Liên Xô
chống phe Tàu trong Đảng cộng sản Việt Nam.
Phải chăng, một số trong các vị, ngày nay được gọi là chiến sĩ dân chủ cư ngụ ở Nga,
thuở xưa là thành phần xét lại theo Nga, bị các đồng chí theo Tàu đuổi, nên phải lánh ở
Nga từ ngày xa xưa ấy?
Nước Nga của Poutine có Dân chủ đâu mà một số quý vị nghĩ rằng dân chủ?
Bài học ngày 30 tháng Tư 1975 dạy chúng ta: phải biết tự chủ. Chúng ta cần nhắc cho
toàn dân ở quốc nội giành lấy quyền tự chủ, và biết thế nào là dân chủ.
Dân chủ phải do Giáo dục. Chương trình giáo dục phải đặt Dân chủ lên hàng đầu. Chỉ
có dân Việt Nam quyết định ai là người đại diện cho dân mới có quyền lãnh đạo. Không
một vị nào được phép tự cho mình anh minh để nắm quyền lãnh đạo; không một Đảng
nào tự cho mình có quyền thay mặt toàn dân. Không được nhân danh bất cứ tổ chức
hay đảng nào để thần tượng hóa bất cứ một ai cả. Người lãnh đạo một phong trào, một
tổ chức đấu tranh ngày nay, chẳng qua là người trách nhiệm tạm thời làm phát ngôn
nhân cho nguyện vọng chung của các chiến hữu mình đó thôi.
Dân chủ là cạnh tranh, là chương trình, ai đấu tranh cho dân, ai ở gần dân, được dân
tín nhiệm uỷ quyền đại diện, người ấy mới chính là người lãnh đạo. Thời quân chủ, có
nhà Vua cầm quyền cả nước. Nhưng thật sự điều hành việc hằng ngày cho người dân
159
là các vị tiên chỉ trong làng. Làng mạc Việt Nam sống rất dân chủ, mặc dầu dân chủ ấy
chỉ là một loại dân chủ do tuổi tác và tôn tri trật tự của hệ thống làng xã.
Ngày nay phải tổ chức Giáo dục để người dân biết thế nào là trật tự xã hội, thế nào là
Luật lệ xã hội, thế nào là Pháp luật. Pháp luật do Xã hội và trật tự xã hội lập thành:
Pháp luật không phải là Đảng Quy. Từ Trật tự Xã hội, chúng ta có Pháp luật, có Pháp
luật chúng ta có Hiến pháp, từ Hiến pháp chúng ta có những Định chế, Cơ Chế Pháp
luật.
Người Dân có Giáo dục biết tôn trọng Luật pháp, biết thế nào là dân chủ.
Dân chủ từ trong Nhà trường, Dân chủ từ trong Gia đình, Dân chủ từ trong Cơ xưởng,
Dân chủ trừ trong văn phòng làm việc. Trò kính trọng Thầy, Thầy quí trọng Trò, Con
kính trọng Cha mẹ, Cha mẹ mến trọng Con, Chủ trọng Thợ, Thợ kính trọng Chủ v.v.
Có Pháp Luật mới có Pháp trị.
Đừng đem Hiến Pháp Tây-Mỹ chép lại, sao y bản chánh, cầu chứng tại tòa, nói rằng
Mỹ-Tây nó dân chủ ta sao y là ta dân chủ.
Dân chủ do dân ta làm, do ý chí và nguyện vọng của toàn dân quyết định, đó mới là
Dân Chủ.
Không một ai có quyền phán Ta là Dân chủ cả.
Khi có Dân chủ phải thực hiện Dân chủ.
Bài học 30 tháng Tư 1975, dạy ta không bao giờ TIN VÀO MỘT AI CẢ.
Steve B. Young
(Tổng Giám đốc Tổ chức Tài chánh Toàn Cầu “The Caux Round Table”)
Tôi thấy có hai loại bài học về biến cố 30 tháng 4 1975, một loại giúp cho mình hiểu về
nguồn gốc của vụ đó, và một loại khác giúp mình suy đoán về tương lai của Việt Nam
và Hoa Kỳ.
Bài Học Thứ Nhứt
Có lẽ sau 33 năm Cộng Sản thống trị được cả nước Việt Nam, phần lớn người ở trong
nước thấy không có ích lợi gì để nghiên cứu các nguyên nhân gây sự bại trận của
Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.
Theo tôi có hai người phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất đối với sự thất bại của một
chế độ như Việt Nam Cộng hòa, có một quân đội lớn và mạnh.
Người đóng góp cho sự thất bại ấy nhiều nhứt là Henry Kissinger. Hồi tháng 5/1971,
Kissinger đã đề nghị rằng sau khi quân đội mỹ rút về Hoa Kỳ, thì Chánh phủ Hà nội sẽ
có phép giữ lại quân đội của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Kissinger thỏa thuận
với Hà nội nhưng khi về, ông dấu diếm những điều này với Tổng Thống Việt Nam Cộng
160
Hòa Nguyễn Văn Thiệu và với các viên chức lớn trong Chánh phủ Nixon, như Đại Sứ
Ellsworth Bunker.
Như vậy, trong Hiệp Định Paris 1973, Hà nội không có một điều kiện nào phải rút quân
về Bắc. Hà Nội có lợi thế chờ đợi người Mỹ hoàn toàn mệt mỏi và không còn ý chí
chiến đấu, hy sinh bảo vệ ông Thiệu nữa. Sau vụ Watergate, thì Hà Nội gặp được thời
cơ thuận lợi hơn nữa. Chính sự may mắn bất ngờ này đã giúp Hà Nội thực hiện được
tham vọng chiếm cả nước, đặt nền cai trị theo chế độ cộng sản độc tài mà ngày nay
chúng ta biết.
Người thứ hai phải chịu trách nhiệm là Nguyễn Văn Thiệu. Việt Nam Cộng Hòa bị ép ký
kết Hiệp Định Paris, thì không khác gì bị ép phải đầu hàng Hà Nội. Cái ý nghĩa thật sự
khi Mỹ đến để bảo vệ độc lập tự do cho Miền Nam là sự yêu thương, sự thông cảm của
nhân dân Hoa Kỳ đối với dân tộc này. Nếu có nhiều người Mỹ nói chúng tôi không thích
ủng hộ Chính Phủ Sài gòn nữa, thì Chánh phủ Mỹ bắt buộc phải ngưng mọi sự yểm trợ
quân sự và kinh tế. Lúc bấy giờ, có đông đảo người Mỹ chạy theo phong trào phản
chiến đang ồn ào khắp nước Mỹ. Họ cho lập luận chống chiến tranh việt Nam của
phong trào này là đúng.
Người phản chiến không thích ông Thiệu. Họ nói rằng ông Thiệu là độc tài, không thật
tình biết thương dân miền Nam. Nếu ông Thiệu lúc tháng 10 -73 từ chức, không làm
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa nữa, thì mấy phong trào phản chiến Mỹ sẽ giảm bớt
sự chống đối Chánh phủ Miền Nam.
Hơn nữa, năm 1972 ông Thiệu đã lập ra Đảng Dân Chủ để chuẩn bị thế tranh cử và
thắng cử giúp ông tiếp tục cầm quyền lâu dài ở Miền Nam. Sau đó ông Thiệu phải giao
các chức vụ lớn cho mấy người thân tín, thời đó dư luận ở Sài gòn gọi là “gia nô”, mặc
dầu họ không có khả năng. Tiêu chuẩn chọn lựa: trung thành với ông là trên hết.
Như vậy, năm 1975 lúc Hà Nội đánh Phước Long và Ban Mê Thuộc, ông Thiệu không
có đủ sĩ quan có đầy đủ ý chí chiến đấu, can đảm, để đánh lại quân cộng sản. Tướng
Tá trung thành với ông Thiệu, đa số, không có đủ uy tín và khả năng quân sự chỉ huy
binh sĩ chiến đấu một cách nhiệt tình và hùng mạnh.
Vì biết rõ thực tế như vậy, ông Thiệu phải rút bỏ Quân Khu Một và Hai, bỏ một nửa
Miền Nam. Cho đến bây giờ, hình như không có ai biết thật sự tại sao ông Thiệu quyết
định bỏ Vùng Một và Vùng Hai Chiến Lược. Có người nói rằng ông Thiệu biết chỉ có
mấy chiếc B-52 của Mỹ mới có thể cứu được Miền Nam, nên ông phải vừa bè nheo,
vừa gài Mỹ ở cái thế phải chịu giúp ông.
Nếu quả thật ông Thiệu đã suy nghĩ như vậy thì ông không phải là người lãnh đạo có
bản lãnh, bởi kết quả là mất nước vào tay cộng sản, những người đã sát hại không biết
bao nhiêu sinh mạng của người việt Nam.
Ông Thiệu thường trách ông Kissinger phản bội Đồng minh Việt Nam. Ông Thiệu nghĩ
như vậy và nói như vậy là có lý. Nhưng sự thật đó lại không cứu được một người Việt
161
Nam nào. Ông Thiệu vẫn là Tổng Thống Việt Nam. Ông có trách nhiệm làm cái gì có
ích lợi cho dân ông, cho đất nước ông, trong tình hình rất bi đát lúc ấy.
Bài Học Thứ Hai
Một bài học quan trọng là Miền Nam mất không phải vì dân Việt Nam muốn có một
chính quyền Cộng sản. Ngược lại, đến năm 1975 thì hơn 95% dân Miền Nam hiểu
được hiểm họa cộng sản và chống Cộng sản vì họ muốn sống tự do theo chế độ dân
chủ. Miền Nam mất vì sự phản bội của Kissinger và sự bất tài của Nguyễn Văn Thiệu.
Như vậy, lòng dân Việt Nam không phục, không thương, không đồng tình với đảng
cộng sản. Dân chỉ vâng lời đảng khi đảng còn khả năng dùng bạo lực đàn áp. Khi nào
đảng mất thế, thì sẽ mất lòng dân và sẽ bị một phong trào nhân dân hay một cuộc đảo
chánh quân nhân làm cho chế độ sụp đổ ngay.
Nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và cả phong trào cộng sản thế giới, đảng cộng sản
Việt Nam bị lâm vào thế chẳng đặng đừng lần lần phải để cho dân chúng được tự do
phần nào, tức họ không thể áp dụng Chủ Nghĩa Xã Hội theo đúng chủ trương của họ
nữa. Nhờ đó mà bây giờ dân có tự do tôn giáo khá nhiều. Nhà nước không đàn áp quá
thô bạo như trước đối với các đạo Công Giáo, Hòa Hảo, Phật Giáo, Cao Đài. Kinh tế
theo thị trường tự do làm cho một bộ phận dân chúng trở nên giàu và một phần dân
chúng khác có đời sống khá hơn nhiều. Người dân không đụng tới quyền hành và
quyền lợi của đảng thì có thể tạm sống yên ổn được và nói chuyện khá tự do. Nếu biết
cấu kết với công an, người dân có thể làm giàu. Thành phần này hiện nay xuất hiện
khá nhiều ở Việt Nam. Ngoài ra, Công An không còn tha hồ bắt bớ người này người kia
như thời gian trước đây.
Nếu Việt Nam có dân chủ thì tốt hơn nhưng đảng cộng sản vẫn cố tình kéo dài sự cai
trị của họ từ năm này qua năm kia.
Nên nhớ sự cố tình ù lỳ này không có lợi gì bao nhiêu cho sự sống còn của đảng.
Một bài học khác nữa là người Mỹ vẫn bị chia rẻ làm hai phe – một phe có người chạy
theo phong trào phản chiến còn phe kia thì bực tức đã thua Cộng Sản. Phe phản chiến
trở thành Đảng Dân Chủ bây giờ và phe thua trở thành Đảng Cộng Hòa ngày nay.
Đảng Dân Chủ cho mình có lý trong cách giải quyết chiến tranh việt Nam là đem Việt
Nam giao cho Hà Nội. Lấy được Miền Nam, Hà Nội có chính nghĩa. Hoa Kỳ và chế độ
miền Nam phải bị lên án là quân xăm lược và bọn bán nước. Như vậy, Đảng Dân Chủ
có thái độ hướng về mọi sự đòi hỏi của Hà nội từ 1975 đến giờ. Đối với các nước khác
– Trung Quốc, Bắc Hàn, thái độ của Đảng Dân Chủ là hòa hưởng hay nhượng bộ cho
những đòi hỏi của họ. Đảng Dân Chủ nói nhiều về nhân quyền ở các nước nhỏ nhưng
mà làm rất ít – thí dụ ông Clinton đối với Rwanda hay Bosnia.
Đảng Cộng Hòa lo sợ sự suy yếu của Hoa Kỳ, thành ra khi có vụ 11 Tháng 9 xảy ra, thì
họ cảm thấy Hoa Kỳ phải biểu dương sức mạnh, tức phải đánh. Mà đánh ai đây? Họ
đánh Taliban ở A Phú Hãn, rồi thấy chưa đủ thỏa mãn nhu cầu tâm lý nên họ đánh
thêm Saddam Hussein.
162
Chánh sách đánh phe Al-Queda một cách vụng về, thiếu tính toán kỹ nên đã tạo ra
nhiều khó khăn cho Hoa Kỳ.
Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại
(Cựu Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải)
Tôi xin xác nhận trước là cảm nghĩ sau đây là trong tư cách một cấp chỉ huy trong quân
đội mà thôi và đã được đề cập trong quyển Can Trường Trong Chiến Bại (2007) của
tác giả bài nầy.
Thứ Nhứt: Khi có một cuộc tổng tấn công, phối trí lại lực lượng và cắt đất là hạ sách vì
mình tự động giảm số mục tiêu mà địch phải đánh và sự di tản của dân sẽ làm khó
khăn cho quân ta không kể là đương nhiên chánh phủ phải lo chuyện định cư cho hằng
triệu dân. Nói một cách khác, khi có một cuộc tổng tấn công, thì đất còn lại càng ít càng
dễ cho địch vì địch không cần tốn quân để chiếm những vùng mà chính ta đã bỏ đi,
không kể là các sư đoàn mà rút đi, tay không, bỏ lại biết bao nhiêu vũ khí, thiết giáp,
kho xăng, kho đạn, giúp địch khỏi cần sự tiếp vận từ hậu phương của địch, trong khi ta
lo thiếu vũ khí, đạn dược. Trong cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân 1968, ta không
mất Huế vì Sư Đoàn 1 do tướng Trưởng bị bao vây quá chặt nên bắt buộc phải tử thủ
cho đến lúc lực lượng của Mỹ được lịnh tái yểm trợ và giải vây cho Sư Đoàn 1. Nếu lúc
đó quân đội quyết định bỏ Huế và quân dân rút về Đà Nẵng thì hậu quả không khác gì
tháng 3, 1975. Sau khi Quân Đoàn 1 quyết định bỏ Huế vào ngày 24 tháng 3, 1975, các
sư đoàn của địch tại Quảng Trị, Thừa Thiên rãnh tay và sẽ kéo toàn lực về để đánh Đà
Nẵng, như vậy Đà Nẵng sẽ phải chống đỡ với một lực lượng gấp đôi hơn dự tính,
không kể sự quấy phá của quân lực tan rã rút về Đà Nẵng từ các nơi, cũng như sự cứu
trợ đồng bào di tản sẽ là gánh nặng cho chính quyền tại Đà Nẵng.
Thứ Hai: Không nên xem thường các tin đồn thất thiệt, nếu không cải chính kịp thời các
tin đồn đó có thể làm hoang mang quân sĩ và nhứt là cấp chỉ huy. Mà đã là cấp chỉ huy
thì phải tìm cho ra sự thật tận gốc, nhứt là khi tin đồn đó gây sự hiểu lầm cho mọi quyết
định của cấp chỉ huy. Một đoàn quân không thể thắng giặc nếu họ có chút nghi ngờ là
sự hy sinh của họ là vô ích.
1. Miền Trung sẽ được giao cho MTGPMN v.v....
2. Tức là tổng thống Thiệu trong trường hợp Quân Khu 1
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ
(Chủ tịch Phong Trào Đòi Trả tên Sàigòn)
Không ai có thể phủ nhận biến cố 30-4-1975 là một dấu mốc rất quan trọng trong lịch
sử Việt Nam. Trong hơn 30 năm qua rất nhiều người, nhất là đồng bào Việt Nam hải
ngoại đã đề cập tới biến cố này dưới nhiều khía cạnh và tâm tình khác nhau. Không
biết bao nhiêu tài liệu, sách vỡ phim ảnh, bài viết... diễn tả những nỗi kinh hoàng của
biến cố 30 tháng 4 năm 75, không những chính trong ngày đó mà còn tả cảnh hãi hùng
163
trong thời gian trước đó và nhất là thảm cảnh tiếp theo sau... Nhiều người đã ví biến cố
30-4-1975 như là một ca mổ xẻ vô cùng đau đớn và đầy máu me mà thân thể dân tộc
Việt Nam đã phải chịu.
Dù vậy, dưới cái nhìn xa hơn trong chiều dài tương lai của Dân Tộc, có lẽ chúng ta phải
đồng ý rằng mặc dù biến cố 30-4-1975 là một ca mổ xẻ vô cùng đau đớn và đầy máu
me, nhưng là một ca mổ rất cần thiết cho thân thể của Dân Tộc Việt Nam.
Ở đây tôi không muốn nhắc tới hình thức “kỷ niệm biến cố 30 tháng 4” của hai thế lực
đối chọi nhau: một bên là chế độ Việt gian cộng sản và một bên là đại khối dân tộc Việt
Nam bị chế độ đó cai trị. Chế độ Việt gian cộng sản và những kẻ làm tay sai cho chế độ
đó thì “ăn mừng chiến thắng” và gọi là “ngày giải phóng”. Trong khi đó đại khối dân tộc
Việt Nam, nhất là những nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của chế độ Việt gian cộng
sản đã “kỷ niệm biến cố 30 tháng tư” như là một nỗi đau thương kinh hoàng và gọi đó
là ngày “Quốc hận”.
Hiện tượng này xảy ra hằng năm trong hơn 30 năm qua, nhưng tôi tin chắc rằng cường
độ của hai hình thức “kỷ niệm” dần dần sẽ phai mờ đi vì nỗi đau của các nạn nhân
trong biến cố 30 tháng tư sẽ dịu dần với thời gian, và một điều chắc chắn là chế độ Việt
gian cộng sản sẽ tàn lụi dần và cuối cùng sẽ biến mất trên quê hương, chừng đó chỉ
còn lại Dân Tộc Việt Nam. Một Dân Tộc đã thoát xác sau ca mổ xẻ với hai lợi thế sau
đây:
1. Một Dân Tộc Việt Nam đã tỉnh thức
Một Dân tộc Việt Nam đã phải đau thương quằn quại qua thực tế phũ phàng sau cái
được gọi là “ngày giải phóng!” Một dân tộc Việt Nam không còn bị ru ngủ bởi sự tuyên
truyền xảo trá của cộng sản về một thứ “thiên đường hạ giới” như một số đông dân oan
khiếu kiện trước kia đã nhẹ dạ nghe theo, ngày nay phẩn uất chửi bới công khai trong
các cuộc biểu tình đòi nhà đất và tài sản. Chính vì thế biến cố 30-4-1975 rất cần thiết
để làm cho Dân Tộc Việt Nam tỉnh thức hầu xoá bỏ, và xoá bỏ một cách vĩnh viễn, chế
độ cộng sản phản dân hại nước trên quê hương Việt Nam.
2. Một Dân Tộc Việt Nam lớn vượt biên cương
Thật vậy, biến cố 30-4-1975 đã mở một trang sử mới cho Dân Tộc Việt Nam vì qua
biến cố đó một số rất đông đã phải trốn chạy ra nước ngoài và sống rải rác khắp nơi
trên thế giới làm thành Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại. Sau hơn 30 năm, Cộng Đồng
Việt Nam Hải Ngoại này đã chứng tỏ sự thành công về nhiều mặt, nhất là về kinh tế và
kiến thức và sự thành công càng ngày càng phát triển. Đây chính là một nguồn nhân
lực, tài lực và kiến thức vô giá cho Dân Tộc Việt Nam trong việc xây dựng đất nước
trong tương lai.
Ngày nay chúng ta phải trang bị cho mình một nhãn quan tích cực và cùng nhau chăm
sóc cho đóa hoa Hy Vọng của Mùa Xuân Dân Tộc được mọc lên từ vũng lầy máu me
của biến cố 30 tháng 4 năm 1975.
164
CÂU TRUYỆN BÁN NƯỚC CỦA BỌN GIAN TẶC
HỒCHÍMINH VÀ BÈ ĐẢNG VIỆT CỘNG
Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng
Bỗng dưng, mấy tháng nay thấy đồng bào ở trong nước cũng như
nơi hải ngoại đang tái phát động phong trào tiếp tục đưa các tài liệu chứng
minh hành động bán nước của bè đảng Việt Cộng Hồ Chí Minh lên các
trang mạng Internet, khiến Tôi nhớ lại truyện năm 2002, đồng bào Việt
Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản trên toàn Thế giới và đồng bào còn
đang phải sống dưới chính quyền Xã hội Chủ nghĩa độc tài Đảng trị
dã man vô nhân đạo ở trong nước cũng sôi động biểu tình lên án
vạch mặt bán nước hại dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi biết
được bọn chúng đã lén lút ký với đảng Cộng sản Trung quốc các
Hiệp ước ngày 30 tháng 12 năm 1999 cắt nhượng khoảng 789 cây số
vuông lãnh thổ dọc các tỉnh biên giới Bắc phần, và Hiệp ước ngày 25
tháng 12 năm 2000 cắt nhượng thêm 9% lãnh hải trong vịnh Bắc kỳ
(Golf du Tonkin) của Việt Nam cho quan thầy Trung Cộng.
Theo các Hiệp ước này thì lãnh hải trong vịnh Bắc kỳ được ấn
định lại là: Việt Nam 38%, Trung quốc 62%, trước kia là: Việt Nam
53%, Trung Cộng 47%, như vậy tức là Việt Nam mất đi 9% lãnh hải
trong Biển Đông. Và đường biên giới trên đất liền thì bị rút ngắn đi chỉ
còn khoảng 1200 cây số. Các cột mốc ấn định ranh giới là 1500 cột.
Trong các cuộc biểu tình cũng như hội luận có nhiều người chưa bao
giờ có dịp thăm tại chỗ trên đất nước đặc biệt là Tỉnh Lạng Sơn, mà chỉ
được nghe câu ca dao nói về chợ Đồng Đăng, phố Kỳ Lừa, núi Nàng Tô
Thị, chùa Tam Thanh và xứ Lạng, đã thắc mắc đặt câu hỏi: -Ải Nam Quan
ở Đồng Đăng mất cho Tầu Cộng, thì núi Nàng Tô Thị cũng mất hay
sao?
Để giải toả thắc mắc này, một số nhân sĩ đã đóng góp như sau:
1.- Ông Trần Lam Giang đã viết một bài với tựa đề “Bao nhiêu
tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” đăng trong đặc san Khởi Hành số 65 ra
165
tháng 3 năm 2002, trang 24, nói về núi Vọng Phu tại Lạng Sơn như
sau:
“LẠNG SƠN TRONG SỬ SÁCH TA.
Nhưng theo DƯ ĐỊA CHÍ, sách do Nguyễn Trãi tham khảo và biên
soạn, được các triều đại Lê, Tây Sơn và Nguyễn coi là “quốc thư bảo huấn
đại toàn”, có ghi: “Sông Khưu Lư, tức Kỳ Lừa, ở phía Bắc Quế Thành, xưa
là Ôn Khưu Thông Lĩnh Giang, Vọng Phu là tên núi ở phía Tây thành Lạng.
Trên núi đứng sừng sững một tảng đá, xa trông như hình người, lưng tựa
phía Nam, mặt hướng phía Bắc. Tục truyền, xưa có truyền lại rằng: người
đất Nam Sách tên là Đậu Thao, một vị tướng quân của Tiền Ngô Vương,
dẫn quân chống giữ mặt Bắc. Vợ họ Tô tên là Thị, thủ tiết mười năm, dệt
gấm hồi văn gửi cho chồng. Sau, cùng người bỏ nhà lên núi Lạng Sơn
ngóng trông chồng không thấy. Chết, thân xác hoá đá, nhân đó đặt tên là
núi Vọng Phu.
Lạng Sơn xưa là lộ Lục Hải, tây nam giáp Thái Nguyên, đông bắc
giáp Lưỡng Quảng. Lộ này có 1 phủ, gồm 7 châu, 227 xã. Lộ Lạng Sơn là
phên giậu thứ ba ở phía Bắc nước ta.
Nguyễn Thiên Tích, (bậc đại khoa danh Nho đồng thời Nguyễn Trãi),
kính cẩn xét: “Phủ Trường Khánh có 7 châu, 193 xã. Châu Lộc Bình có 39
xã, 21 thôn, tiếp giáp với huyện Tư Minh, tỉnh Quảng Tây. Châu Thoát
Lãng, xưa chính là Thoát Lạc, có 20 xã. An Châu có 30 xã, 100 trại, 10 bãi
sông. Châu Văn Uyên (xưa tên là Văn Châu) có 41 xã. Châu An Lan có 31
xã, 1 thôn, 1 trang. Châu Thất Nguyên (nhà Mạc đổi thành Thất Tuyên) có
34 xã. Châu An Bác có 38 xã.
Phụ lục: Họ Hồ cướp ngôi nhà Trần. Người nhà Minh nhân cơ hội
tràn đến châu Lộc Bình đạo Lạng Sơn. Triều đình nhà Hồ sai Hoàng Hối
Khanh làm Cát địa sứ (sứ thần cắt đất) lấy Lộc Bình, Cổ Lâu, gồm 38 xã,
59 thôn cho giặc Minh. Đất bị mất rộng đến 5 ngày đường. ”
2.- Hai Thi sĩ Trần Gia Linh và Mai Thạch Lý Thái Vượng đã ghi
lại bài thơ “VỌNG PHU THẠCH” viết theo thể thơ Đường (thất ngôn
bát cú = bẩy câu tám chữ) bằng chữ Nho của cụ Nguyễn Du nói về
Hòn Vọng Phu tức là tượng Nàng Tô Thị, và họ đã dịch ra Việt Ngữ rồi
166
gửi cho Tôi vào đầu năm 2002-Nhâm Ngọ tại quận Orange Nam
California.
“VỌNG PHU THẠCH.
“Thạch da? Nhân da? Bỉ hà nhân?
“Độc lập sơn đầu thiên bách xuân.
“Vạn kiếp diểu vô (1) vân vũ mộng,
“Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân.
“Lệ ngân (2) bất tuyệt tam thu vũ,
“Đài triệu (3) trường minh nhất đoạn văn.
“Tứ vọng liên sơn diểu vô tế (4),
“Độc giao nhi nữ thiện di luân (5).
Nguyễn Du.
(1) diểu = mênh mang, diểu vô = có gì đâu.
(2) lệ ngân = dấu nước mắt.
(3) đài = rêu, đài triệu = dấu rêu.
(4) tế = bờ, vô tế = không bờ bến.
(5) thiện = hoàn thành, di luân = đạo làm người.
Thi sĩ Trần Gia Linh dịch ra chữ quốc ngữ Việt Nam, nhưng viết theo
thể thơ “song thất lục bát” (2 câu bẩy chữ, 1 câu 6 chữ, và 1 câu 8 chữ):
“Đá hay người? Ấy ai người ấy,
“Đầu non cao trải mấy nghìn xuân.
“Giấc không vẹn mộng Vu thần,
“Tấm thân kim cổ trong ngần gương trinh.
“Mưa ba thu lệ tình lai láng,
“Ngấn rêu in một áng sầu văn.
“Non xanh tít mắt xa gần,
“Gánh luân thường để riêng phần thuyền quyên.
Thi sĩ Mai Thạch Lý Thái Vượng Vượng (một chiến hữu nguyên thuộc
Binh chủng Truyền Tin với Tôi) cũng có bài dịch ra quốc ngữ Việt
Nam, nhưng vẫn giữ theo thể thơ Đường (bẩy câu tám chữ) như sau:
167
“Đá ư? Người hả? Ấy là ai?
“Trơ trọi đầu non một bóng người.
“Muôn kiếp mây mưa cơn mộng loãng,
“Một lòng kim cổ tấm thân phơi.
“Ba thu dấu khắc chan chan lệ,
“Vạn cổ rêu ghi nghẹn nghẹn lời.
“Này, bốn phương trời sao vắng lặng,
“Chỉ Nàng vì đạo đứng soi đời.
3.- Giáo sư Trần Đại Sĩ đã có bài điều trần có kèm ảnh phổ biến
trong cuốn Bạch thư Tố cáo Việt Cộng hiến đất dâng biển cho Trung
Cộng, do Phong trào ‘Nô Hồ” phát hành năm 2002 tại San Jose, Bắc
California, nơi trang 102 thấy trình bầy như sau: “Hồi Tổng Bí thư
(Đảng Cộng sản Việt Nam) Lê Duẩn cầm quyền, để xoá bỏ văn hoá
dân tộc Việt, phát huy văn hoá Mác-xít, tượng Nàng Tô Thị bị đem
nung làm vôi. Hình chụp tượng mới tạc lại.”, và trang 103 “Hồi 1978,
Hồng-quân (Trung Cộng) sang “dạy” Việt Nam bài học, đã san bằng
Lạng Sơn. Chưa hả giận, họ còn dùng đại pháo bắn phá động Tam
Thanh. Cửa động trước ở chỗ cột cờ, với hàng trăm bài thơ lưu niệm
của danh sĩ Việt. Nay cửa động bị phá, mới tụt lùi vào trong.”
4.- Và cá nhân Tôi cũng đã đóng góp một tài liệu về Ải Nam
Quan, Động Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị tại thị xã Lạng Sơn, vì Tôi
là người được sinh ra và lớn lên tại Thị xã Lạng Sơn trong suốt 2
thập niên 1930 và 1940 nên biết rõ hơn ai hết về cảnh trạng địa dư
tỉnh Lạng Sơn. Đặc biệt vào những năm thuộc nửa sau của Thập niên
1940 Tôi đã có dịp đến Ải Nam Quan 2 lần:
-Lần thứ nhất vào năm 1946, lúc đó Tôi là thành viên của Phục
Quốc Quân tại thị xã Lạng Sơn theo đoàn hộ tống Cụ Nguyễn Hải
Thần của Cách Mạng Đồng Minh Hội trốn thoát từ Hà Nội lên Lạng
Sơn để đi qua Ải Nam Quan sang thị xã Bình Tướng bên Trung Hoa
tái lưu vong, vì các Đảng phái Quốc gia không theo Cộng sản trong
Chính phủ Liên Hiệp bị Hồ Chí Minh và phe Việt Minh phản bội tiêu
diệt.
-Lần thứ hai vào giữa tháng 7 năm 1947, Tôi là thư ký thông dịch
viên của Phòng tuyển mộ Vệ binh Bắc Kỳ tại thị xã Lạng Sơn, đã cùng
168
Thiếu Úy Boulanger Trưởng Phòng Tuyển mộ và mấy Hạ sĩ quan Vệ
binh Pháp dưới quyền lái xe jeep lên Đồng Đăng để đi thăm Ải Nam
Quan, và chúng tôi đã đứng bên chiếc cột mốc Km0 phân ranh giới
ANNAM/CHINE tại bãi đậu xe cách chiếc cổng và dải tường thành Ải
Nam Quan (xây bằng gạch to cao) chừng hơn 100 mét để chụp mấy
tấm ảnh lưu niệm.
Sau đây là những gì Tôi đã viết, xin ghi lại để Qúy Vị và Qúy Bạn
cùng chia sẻ và tùy nghi.
Bài Ca dao dân gian dưới đây, Tôi thường được nghe thấy các bà
mẹ, bà chị gốc người Kinh từ miền xuôi lên làm ăn tại Lạng Sơn hát ru con
ru em ngủ hàng ngày, và trong năm 2002 cũng thường được nghe qúy vị
thức giả nhắc đến trong các cuộc hội luận tố cáo tội ác Cộng sản Việt Nam
đã lén lút ký các Hiệp định dâng đất dâng biển của Tổ Tiên dòng giống
Tiên Rồng chúng ta cho quan Thầy Trung Cộng:
“Con cò bay lả bay la,
“Bay ra ruộng lúa, bay vào Đồng Đăng.
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa(1),
“Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
“Ai lên xứ Lạng cùng anh,
“Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.
“Tay cầm bầu rượu nắm nem,
“Mải vui quên hết lời em dặn dò.
“Gánh vàng đi đổ sông Ngô,(2)
“Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Tương. (3)
“Vào chùa thắp một tuần hương,
“Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này .
“Chùa này có một ông thầy,
“Có hòn đá tảng, có cây Ngô đồng.
“Cây Ngô đồng không trồng mà mọc.
“Rễ Ngô đồng cái dọc cái ngang.
“Ngoài chùa có quả dưa gang,
“Để anh đi hái tặng nàng làm duyên.
Ghi chú (1)- Có điều quan trọng cần lưu ý là địa danh Đồng Đăng có phố
Kỳ Lừa* ghi trong câu thứ ba, không đúng với hiện trạng thực tế vào thời
169
gian Tôi được sinh ra và lớn lên tại Lạng Sơn trong các thập niên 1930 và
1940. Lúc đó Phố Kỳ Lừa là khu phố chợ thuộc nửa phần phía Bắc của
tỉnh lỵ Lạng Sơn, Chùa Tam Thanh ở bên Động Tam Thanh là nơi có núi
Nàng Tô Thị cách phố Kỳ Lừa một cây số về hướng Tây Nam, còn chợ
Đồng Đăng là một thị trấn nhỏ cách xa tỉnh lỵ Lạng Sơn cả 14 cây số ngàn
về hướng Bắc, từ chợ Đồng Đăng đến Ải Nam Quan còn phải đi thêm
chừng 5 cây số đường theo các sườn núi vòng vèo nữa mới lên tới nơi.
Có thể câu ca dao này được sáng tác ra từ thuở chợ Đồng Đăng
còn ở phố Kỳ Lừa ngay tại tỉnh lỵ Lạng Sơn. Sau này người Pháp Bảo hộ
rời chợ Đồng Đăng ra khỏi phố Kỳ Lừa đưa lên phía Bắc gần cửa Ải Nam
Quan khoảng 5 cây số, và cách xa tỉnh lỵ Lạng Sơn 14 cây số để lập trại
lính tiền đồn trấn giữ bảo vệ vùng Ải Nam Quan tại biên giới Việt Nam
Trung Hoa.
Dẫy núi Tam Thanh thường được người ta gọi là Động Tam Thanh,
là một dẫy gồm 3 trái núi đá vôi nổi lên sát bên nhau theo hướng Tây Bắc-
Đông Nam, và có đường hầm đi thông suốt trong lòng núi. Được gọi là
Động Tam Thanh, vì đứng trước cửa động trái núi phía cực Nam của dẫy,
hô lên một tiếng thật lớn là ta sẽ nghe được ba tiếng vọng lại tiếp theo
nhau.
Trái núi ở phía Bắc của dẫy được gọi là Tam Thanh. Nơi sát chân
phía Đông của núi có hồ bơi rất lớn xây bằng gạch men đem từ bên Pháp
qua, dành cho gia đình quan chức người Pháp đô hộ và người Việt có bề
thế trong thị xã ghi danh nhập hội đóng tiền hàng tháng mới được lui tới.
Dòng nước nguồn từ sườn núi chẩy ra cung cấp thẳng vào hồ bơi, lúc nào
cũng trong vắt và mát rượi. Từ khi Nhật đóng quân tại Lạng Sơn vào cuối
tháng 9 năm 1940 trở đi, người Pháp không dám lui tới giải trí tại khu hồ
bơi này nữa vì sợ bị quân Phục Quốc hoạt động bí mật bắt cóc giết, hoặc
quân lính Nhật tấn công phụ nữ mà không làm gì được. Nhờ thế quảng đại
quần chúng Việt Nam tha hồ tới lui bơi lội tự do, nên những ngày Thứ Năm
nghỉ học giữa tuần lễ, Tôi và các bạn trong Đoàn Hướng Đạo Sinh Mẫu
Sơn đến đây tập dượt bơi và học cách cứu vớt người không biết bơi ngã
xuống nước.
Trái núi đứng giữa là Nhị Thanh, Trên đỉnh có một tảng đá nhô lên
cao, ở xa trông như hình dáng một người đàn bà đứng bồng con mặt
170
ngóng trông về hướng Bắc đợi chồng, người ta gọi là Hòn Vọng Phu tức là
núi Nàng Tô Thị.
Câu truyện tục truyền về Nàng Tô Thị, được nghe các cụ già cư ngụ
tại địa phương lâu năm kể lại như sau:
“Tại làng Tam Thanh có một đôi Nam Nữ, không biết từ đâu đến làm
ăn buôn bán. Hai người cùng mồ côi, gặp nhau tâm đầu ý hiệp kết
duyên vợ chồng, chung sống rất mực thương yêu. Vừa có với nhau
một con, thì một hôm trời nắng đẹp, chồng tiếp tay gội đầu tóc cho
vợ, bất ngờ người chồng trông thấy một vết xẹo dài phía sau đầu của
vợ, mới hỏi duyên cớ của vết thẹo. Vợ cứ thực tình kể lại hồi còn
nhỏ, 2 anh em chơi với nhau bị té mới xẩy ra nông nỗi. Người chồng
hỏi tới về thân thế gia cảnh Cha Mẹ Anh Em. Sau khi được nghe kể
đầu đuôi, mới giật mình, không ngờ người này lại chính là em gái của
mình thất lạc từ 2 chục năm qua.
Số là, vào thời Tiền Ngô Vương có một vị quan từ đất Nam Sách
lên trấn giữ mặt đất Bắc, sinh được 2 người con (1 trai 1 gái). Chiến
tranh tới 2 vợ chồng bị chết, các con còn rất nhỏ, thất lạc mỗi người
một phương, không ai biết sống chết ra sao.
Nghe xong tình tiết câu truyện, người anh biết là đã kết hôn nhầm
phải em ruột của mình, nên ngày hôm sau nói với vợ là chuyến này đi
buôn xa và lâu hơn thường lệ, rồi đi luôn không trở lại. Nàng Tô Thị
kiên nhẫn ở nhà, đợi mãi không thấy chồng về. Ngày ngày bế con leo
lên đỉnh núi đứng ngóng trông hoài không chịu xuống, đến nỗi chết
biến thành đá.”
Ghi chú (2)- sông Ngô ở bên Tầu.
Ghi chú (3)- có lẽ là sông Thương trong vùng Bắc Giang ở phía Nam tỉnh
Lạng Sơn.
Trái núi ở phía Nam của dẫy gọi là Tam Thanh, có một hang rất rộng
và sâu, cửa hang mở rộng ngay tại chân núi trông như miệng con cá voi
khổng lồ đang há ra để nuốt mồi. Dân chúng hạng thượng lưu và trung lưu
trong thành phố, vào những dịp nghỉ lễ và Chủ nhật thường mang thức ăn
nguội và thức uống như đi picnic và ở lại vui chơi mát cả ngày. Hang này
mới chính là Động Tam Thanh, vì đứng trước cửa hang hô to một tiếng dài
171
ta sẽ nghe được tiếng đó vọng lại 3 lần tiếp theo nhau. Đi sâu vào trong
hang ta có thể xem các thạch nhũ (stalactite) từ nóc hang thòng xuống, có
nhiều cột dài xuống tận mặt nền hang, phản chiếu ánh ngũ sắc long lanh
như kim cương rất đẹp mắt. Trong lòng núi này có một con suối ngầm
chẩy ra cửa hang để đổ vào sông Kỳ Cùng. Người ta có thể đốt đuốc đi
dọc men bên dòng suối trong lòng núi suốt từ cửa hang bên này sang tận
sườn núi bên kia để qua núi Nhị Thanh. Có đoạn đi lài lài sâu xuống lòng
đất gọi là lối xuống Âm phủ. Đoạn sau cùng dẫn ngược lên cao ra triền núi
gọi là đường thang lên Trời.
Chùa Tam Thanh được xây dựng trên một khu đất ở phía bên kia
đường gần phía trước động Tam Thanh. Bên chùa có một cây rất to cao,
cành lá xum xuê um tùm gọi là cây ngô đồng.
Dưới đây là một bài ca dao khác nói về Lạng Sơn, và bài này
chắc hẳn là làm sau bài Ca dao thứ nhất kể trên, có thể coi là một
chứng minh rằng phố Kỳ Lừa và chùa Tam Thanh, núi Nàng Tô Thị
không thuộc địa phận Đồng Đăng. Vì khúc sông Kỳ Cùng chẩy ngang thị
xã Lạng Sơn cắt thành phố ra 2 phần, giống như sông Hương cắt đôi
thành phố Huế tại miền Trung Việt Nam. Nửa bên Hữu Ngạn dòng sông
gọi là Bên Tỉnh có Thành Lạng Sơn (tường thành xây giống như kiến trúc
của Thành Huế, chỉ khác là không có Cổng Ngọ Môn) và các cơ sở Hành
chánh Tỉnh. Nửa phần bên Tả Ngạn dòng sông gọi là Bên Kỳ Lừa có khu
Văn Miếu, trường Trung học, doanh trại lính Khố Xanh, cơ sở Hành chánh
Châu Cao Lộc, phố chợ Kỳ Lừa, Động Tam Thanh, núi Nàng Tô Thị (Hòn
Vọng Phu) và Chùa Tam Thanh. Còn Đồng Đăng ở cách xa thị xã Lạng
Sơn những 14 cây số ngàn về hướng Bắc.
Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng địa phận châu Đình Lập phía Đông
Nam lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn, nơi sát biên giới Việt Nam Trung Hoa, chẩy
theo hướng Tây Bắc qua địa phận các châu Na Dương, Lộc Bình, Cao Lộc
tức là thị xã Lạng Sơn, Điềm He, rồi tiếp tục lên hướng Bắc phía Na Sầm,
Thất Khê để rẽ qua hướng Đông chẩy sang đất tỉnh Quảng Tây bên Tầu
nhập vào sông Tây Giang trong tỉnh Quảng Châu, và đổ ra Biển Đông của
Trung Hoa lục địa.
Mặt Nam và Tây Nam Thành Lạng Sơn được bao bọc bởi dẫy núi
Văn Vỉ, trùng điệp dài xuống đến tận Ải Chi Lăng, gần bên ga Đồng Mỏ
172
cách thị xã Lạng Sơn khoảng 37 cây số về phía Nam (tức là hướng đi
xuống Hà Nội).
“Đường lên xứ Lạng bao xa,
“Cách một dẫy núi với ba quãng đồng.
“Ai ơi đứng lại mà trông,
“Kìa Tam Thanh động, nọ sông Kỳ Cùng.
Hy vọng những gì Tôi kể trên đây đã giải toả được thắc mắc của qúy
vị, về hiện trạng địa dư thực tại với những gì ghi nhận trong bài ca dao dân
gian Việt Nam lưu truyền nói về “…Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, Có Nàng Tô
Thị, có Chùa Tam Thanh.”
Đính kèm nơi cuối bài này là một tài liệu và hình ảnh những tên
Việt gian Cộng sản đã bán ẢI NAM QUAN cho quan thầy Trung Cộng
của chúng, mà Tôi đã được một thân hữu ở trong nước chuyển cho
xem trước đây mấy năm.
Kính chúc qúy vị và bảo quyến luôn dồi dào sức khoẻ, may mắn,
hạnh phúc, có cơ hội thu xếp được thời gian rảnh để tham gia cùng đồng
bào Việt Nam trong và ngoài nước tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải
trừ nạn Cộng sản Việt Nam độc tài, đang buôn Dân, bán Đất và Biển của
Tổ quốc cho quan Thầy của chúng là Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp của
Dân tộc Việt Nam./.
Corona, Nam California, Cuối năm 2014.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG
173
Một khúc sông Kỳ Cùng Lạng Sơn, đây là khúc quanh tại vùng Mai Pha ở phiá Nam của Thị xã Lạng Sơn,
trên vùng đất bên phải của tấm ảnh dẫn tới phi trường Mai Pha.
Hình Núi Vọng Phu (Nàng Tô Thị) tức là núi Nhị Thanh tại thị xã Lạng Sơn.
174
2, Nhóm hình B:
Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam Quan do người Pháp thực hiện
vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm được trên bưu thiếp sử dụng từ năm
1908-1912.
B1. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng Vẫn dựa theo tường thành
phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng
nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường
thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh
vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không
còn qui mô như xưa.
Khoảng trống đến phần cổng phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên
vì dựa theo hình phía bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo
nhóm hình C).
Phụ ảnh: (B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.
175
B2. Ải Nam Quan nhìn từ hướng Đồng Đăng
Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của tường thành
phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ Trung Quốc (A1). Ở
góc phải phía dưới hình là một ụ trắng phủ cỏ xanh, dấu tích lô cốt của quân
đội Pháp (tham khảo hình F1 sẽ thấy rõ vị trí lô cốt nhìn từ bên Trung Quốc).
176
Tài liệu và hình ảnh những tên VGCS đã bán Ải Nam Quan
Date: Tue, 1 Dec 2009 23:04:12 +0000
KẺ BÁN ẢI NAM QUAN VÀ KM ZÉRO Ô NHỤC!
Ô NHỤC ẢI NAM QUAN!
Ven trời góc biển buồn chim cá
Dạn gió dày sương tủi nước non
Thượng Tân Thị
Bi thương thay cho lịch sử Việt Nam! Từng cây số trên quê hương là từng giòng máu
lệ, máu của cha ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan hòa vào nhau
trong hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước chân
âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo danh “độc lập, tự
do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng bọn. Hãy tiếp tục nhìn những gì
mà CSVN đang ra sức thực hiện: “Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lãnh thổ
Việt Nam!”. Họ cố chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh cãi, biện luận với dân Việt
thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ tôi mọi dâng
đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự công hàm, hiện rõ hình hài là
một bọn quái thai chưa từng có trong lịch sử nhân loại!
Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay vì tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử
dụng giá trị của những tư liệu bằng hình ảnh. Bởi vì, đã có rất nhiều nghiên cứu công
phu của các tác giả yêu nước Việt nồng nàn đã là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam
Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến dâng của
Đảng CSVN!”. Những hình ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu chúng ta hiểu rõ hơn
niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn bán nước hiện đại là ai. Để rồi
không còn ngày phải tôn thờ hình Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ còn là một kỷ niệm
buồn. Rất buồn! Hãy xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà
Mau” là mãi mãi!
Bây giờ chết mẹ đảng ta,
Đám chệch tràn lan khắp nước nhà,
Chẳng thà bám đít bu theo Mỹ,
Thoát cảnh lầm than ôi xót xa.
177
Thêm một lần nữa, chính thực tế cho thấy, từ khi lãnh đạo CSVN đã cam kết tôn trọng "16 chữ
vàng" trong quan hệ với Trung Quốc mỗi khi lãnh tụ hai nước gặp nhau "láng giềng hữu nghị,
hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" - đã được dân chúng trong nước
sửa lại thành "láng giềng khốn nạn, cướp đất toàn diện, lấn biển lâu dài, thôn tính tương
lai", theo "tinh thần 4 tốt": láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt...
Thật không dễ dàng gì khi biết một kẻ đang rình rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là "láng
giềng tốt", một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là "đồng chí tốt", một
kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác tìm dầu của ta mà vẫn nhận là "bạn bè tốt", một kẻ ngang nhiên
hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là "đối tác tốt"...
==============================================
Kẻ bán Ải Nam Quan là ai?
Kẻ bán Ải Nam Quan và bán luôn cả cơ đồ dân tộc Việt Nam cho Trung Cộng chính là
Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng. Máu bán nước ăn sâu vào từng đời của bọn lãnh
đạo CSVN. Để chứng minh rõ ràng những tội lỗi của bọn bán nước buôn dân này vẫn
còn những hình ảnh làm tang chứng.
Hình G1. HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950
HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950. HCM là người trùm khăn
178
đứng thứ hai bên phải hình)
Việc qua lại giữa hai Đảng CS Trung-Việt liên tục diễn ra tại cổng Nam
Quan. Tháng 10 năm 1953, Chánh Vụ Viện Trung Cộng đổi tên cổng
Nam Quan thành “Mục Nam Quan” (chữ “Mục” có nghĩa là: hòa thuận,
hòa hợp, thân mật, thân thiết…), đồng thời cả hai chính phủ Trung-Việt
thành lập Ủy Ban Cửa Khẩu Mục Nam Quan. Cùng năm, thỏa thuận
theo Chánh Vụ Viện Trung Cộng, Việt Nam mở cửa tự do cho hai cửa
khẩu Bình Nhi – Nam Quan. Năm 1953 đã có 276.000 lượt qua lại cổng
Nam Quan giữa hai bên.
Hình G2. HCM bang giao với TC tại cổng Nam Quan trong những năm
1950
- Tháng 2 năm 1954, hai bên chính phủ Hà Nội-Bắc Kinh soạn ra “Hiệp Định Mậu Dịch
Biên Giới”.
- Ngày 26.09.1954, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu CSVN xuất phát từ cổng Nam
Quan tham dự hội nghị tại Nam Ninh.
179
- Ngày 10.11.1954, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao VN là Phạm Văn Đồng đi
từ cổng Nam Quan sang Bằng Tường tiếp tục đi Bắc Kinh ra mắt Chu Ân Lai.
Hình G3. Phạm Văn Đồng ra mắt Chu Ân Lai
- Ngày 26.02.1955, khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội-Trấn Nam Quan. Hồ Chí
Minh đọc diễn văn chúc mừng tại cổng Nam Quan.
Hình G4. HCM và CÂL yến tiệc xa hoa tại Bắc Kinh tháng 06/1955
180
- Tháng 12.1958, hai huyện Ninh Minh, Long Tân kết hợp với Bằng Tường (Trấn Bằng
Tường) thành lập huyện Mục Nam.
- CSVN phản ứng! Ngày 27.04 đến 02.05.1959, Trung-Việt hội nghị vấn đề biên giới
tại Bằng Tường. Ngày 10.05.1959, chính phủ Trung Cộng quyết định xóa bỏ đơn vị
“huyện Mục Nam”. Ninh Minh, Long Tân , Bằng Tường trở về đơn vị hành chính cũ.
- Ngày 04.09.1959, Chu Ân Lai đáp máy bay đến Bằng Tường hội đàm cùng Hồ Chí
Minh vấn đề biên giới Trung-Việt.
-Năm 1960, Phạm Văn Đồng trồng cây si để làm mốc cho Km0 của Việt Nam.
Cây si do PVĐ trồng (?) nhìn từ bên phía VN. Vị trí tương ứng với khoảng
cách của tường thành cổng Nam Quan cũ bên VN)
Hình G6. Cây si PVĐ nhìn từ bên cổng Hữu Nghị Quan của TC
181
Hình
G5. Cây si do PVĐ trồng (???)
Hình G7. Cây si PVĐ nhìn từ trên lầu thành Hữu Nghị Quan. Cụm nhà
trắng là Hải Quan TC xây lại trên nền "nhà tròn". Xa thẳm bên kia là cột
Km0 hiện tại.
182
- Ngày 09.04.1961, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh “hội đàm” tại lầu 2 của cổ thành Mục
Nam Quan. “Hội đàm” về nội dung gì thì cả hai bên đều không công bố. Chỉ biết rằng
cuộc “hội đàm” mờ ám tại Mục Nam Quan của hai lãnh đạo cộng sản Trung-Việt
được viết trong sách giáo khoa của bọn Trung Cộng là “mở ra một trang sử mới cho
quan hệ Trung-Việt”.
Hình G8. Lầu 2 tại Mục Nam Quan với nguyên trạng cuộc "hội đàm" giữa CÂL và HCM
Hình G9. Bảng vàng ghi lại sự kiện
- Ngày 05.03.1965, Quốc Vụ Viện Trung Cộng và chính phủ CSVN cử hành lễ đổi tên “Mục
183
Nam Quan” thành “Hữu Nghị Quan”. Tham dự phía bên Việt Nam có Tổng lãnh sự VN trú tại
Nam Ninh và đoàn chính phủ VN đến từ Lạng Sơn.
…Và kể từ sau đó, chính phủ CSVN đã dâng trọn Ải Nam Quan cho Trung Cộng để tiếp nhận
viện trợ vũ khí tiến đánh miền Nam-Việt Nam Cộng Hòa.
Hình G10. Hữu Nghị Quan năm 1965. Biểu ngữ của TC và hình Mao Trạch Đông phơi vào phần
lãnh thổ VN
Hình G11. So sánh với hình ảnh Mục Nam Quan năm 1959. Đoàn đại biểu CSTC lễ phép chụp
ảnh tại cổng Nam Quan bên phía VN
184
Hình G12. Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan
Năm 1966. Công binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước khi
vào VN làm nhiệm vụ và Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả dạng bộ đội VN
Hình G13. Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN
185
Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC
đồng thanh hô lớn: "Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!".
Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)
Hình G14. Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại VN
186
Hình G15. Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham
chiến tại VN
Hình G16. Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ" do chính HCM ký tặng hoặc do PVĐ
ban thưởng.
187
Hình G17. Năm 1968, Hồ - Mao đi từ Ải Nam Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân
miền Nam VN
188
http://www.canhthep.com/modules.php?...3031066&cpag=1
http://www.youtube.com/watch?v=ywZrFnoRg0g
Hình G18
"Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng đạn, nhưng chính ngươi đã lấy
súng đạn bắn vào da thịt ta!” (người anh em đồng chí TC nói!)
Hình G19. Hoa Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978.
- Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào
khu vực Hữu Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân Việt Nam đánh
189
chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát. Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo
và xung đột đã xảy ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp tục tràn lên vùng
biên giới tìm kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn… Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc
chiến mà Trung Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần nữa chứng kiến
xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này, Trung Cộng đã đẩy lui lãnh thổ Việt Nam ra khỏi Ải
Nam Quan và bỗng xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam Quan hàng
trăm thước.
Hình G20. Dấu đạn giao tranh Trung-Việt trên khắp tường thành "Hữu Nghị
Quan"
Hình G21. Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng Hữu Nghị Quan sau chiến
thắng
190
Hình G22. Trao trả tù binh
- Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu
vực Hữu Nghị Quan
Hình G23. Phụ ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)
191
Đây là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đã đặt tại cổng Nam Quan. Khác với "Cột Mốc Số 18"
theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đã trình bầy nơi chương I). Trên cột mốc này khắc rằng:
"BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân
Quốc Vân Nam". Lịch sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN ký kết Hiệp ước Biên giới với chính
quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột mốc số 53 tại khu vực
Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp ước Pháp-Thanh đã tiêu biến nơi đâu ?
Không ai biết rõ hơn biên giới Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói gì không về hiện
tượng này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn ra vào năm
1940 đã chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của
thực dân Pháp thay mặt VN ký kết với quốc gia khác!"
Sự ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền thuyết”, “Km 0” ra đời vào
năm 1960 và Phạm Văn Đồng đã trồng cây si để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si
để đánh dấu vị trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng cây kỷ niệm
một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958, chính tay PVĐ đã ký văn bản dâng
biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc Việt thì Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm
lệ thuộc sự viện trợ của Trung Cộng thì làm sao nói chuyện căng thẳng biên giới, lãnh hải
được. Còn cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán
rất nhanh. Không thể nào cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hãy xem
hình (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương II).
Hình G24
192
Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm rì, một gốc cây
nhỏ phía sau (cây si từ năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng trăm
thước nào cả. Nó đã nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa thuận “hữu nghị” khi HCM
dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.
Hình G25. "Km0" trong những năm 1990. Biên phòng VN đứng gác nhưng quay mặt về phía
VN. Đáng nể!
193
Hình G26. "Km0"
"Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch
cao tốc Nam-Hữu . Lúc này trên cột còn ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" còn đó
Hình G27. "Km0" mất chữ Quan
194
"Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dã man vào năm 2005. Cột mốc cũng chỉ còn chữ "Hữu Nghị". Đảng
CSVN không dám nhận thêm chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa lòng đàn anh
TC!
Hình G28
"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá "Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau .
Ở vị trí này ta không còn thấy cổng Nam Quan!
Hình G29
195
"Km0" trong những ngày năm 2006. Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan
TC.
Hình G30
Nhìn sang bên phải để thấy rõ hơn cổng đường hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của
Hải quan TC.
196
Hình G31
Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322 (điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu)
của VN!
"Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết Điểm"
Hình G32
Nhìn sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng
cách "thủ lễ" đã xuống dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không còn nằm trước
mặt cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN? Bọn Ô nhục!
197
Hàng trăm thước đất của Ải Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của
Việt Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất biển tổ tiên mất
qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung Cộng, công nhận lãnh thổ bắt đầu từ
cột “Km0”. Đảng CSVN đã chà đạp lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc,
giết chết lịch sử quê hương!
Hình G33. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!
Ngày 18.10.2005, Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0. Ôi,
tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung Cộng. Không ai trong đám
cộng sản thời đại này còn "bản lĩnh" đi qua lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí
Minh của những năm 1950. Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!
Hình G34
198
Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của
Việt Nam
Hình G35
199
Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra chụp hình ngay tại giao giới biên cảnh Trung-
Việt. Họ đứng trên khởi điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng
CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.
200