The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Việt Nam và Đời tôi Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-10-24 13:17:31

Việt Nam và Đời tôi Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Việt Nam và Đời tôi Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

lãnh thổ miền Nam, ngay cả tại giữa Thủ Đô Saigon. Trong các cơ sở kiểm soát
đình chiến này có cả sự hiện diện của những người đại diện của Việt Cộng.

2.-Phải vận động nhờ Chính quyền Pháp tại Đông Dương và chính phủ Hoa
Kỳ hỗ trợ phương tiện và ngân khoản để di tản cả triệu người (Dân, Quân, Cán
chính) không thích sống dưới sự cai trị của Chính quyền Việt Cộng tại miền Bắc
Vĩ tuyến 17, di cư vào miền Nam.

3.-Tổ chức tiếp đón cứu trợ ban đầu, tái định cư, và tạo công ăn việc làm, ổn
định đời sống cho những người này. Vì họ đã phải bỏ tất cả của cải đất đai hương
hỏa của Tổ tiên Ông Cha tại miền Bắc, ra đi vào miền Nam với 2 bàn tay trắng.

4.-Hợp nhất các Lực lượng Võ trang Giáo phái vào hàng ngũ Quân đội Quốc
gia Việt Nam, để tiêu hủy nạn “phe phái hùng cứ địa phương” do Pháp tạo dựng
lên trước đây, với mục đích Thực dân thâm độc “chia để trị”.

5.-Điều chỉnh cải tiến hệ thống hành chánh, để chấm dứt tệ nạn “Xứ Quân,
Vua một cõi” thao túng áp bức quần chúng bằng quy luật “Phép Vua thua Lệ
Làng”, hậu quả dư âm Quan lại của thời Pháp còn vương rớt lại, tại các tỉnh và
ngay cả tại các Quận hành chánh giữa Saigon Chợ Lớn.

6.-Loại bỏ các tổ chức reo rắc tệ đoan xã hội (khu bài bạc, các ổ chứa gái
mãi dâm công khai hoạt động có nộp thuế) do các tay Chính trị hoạt đầu, Doanh
gia bất chính, lợi dụng nước đục thả câu, với sự bảo trợ khích lệ của Thực dân
Pháp đã tổ chức kinh doanh từ nhiều năm qua.

7.-Đặc biệt là phải đề ra phong trào chống Cộng, với một Chính sách dựa
theo Chủ thuyết Nhân bản có thể bẻ gẫy được Chủ thuyết Cộng sản, để làm kim
chỉ Nam hướng dẫn quần chúng hăng say tham gia công cuộc tố cáo và loại trừ các
hoạt động của cán bộ Cộng sản nằm vùng tại miền Nam. Để dân được sống an toàn
tại khắp mọi nơi, an tâm tham gia xây dựng phát triển Kinh tế phồn vinh, và hưởng
cuộc sống ấm no hạnh phúc trong thanh bình.

Vì thế mới có Chủ thuyết NHÂN VỊ, Đảng Cần Lao, và PHONG TRÀO
CÁCH MẠNG QUỐC GIA ra đời, hoạt động thường xuyên trong mọi tổ chức
hành chánh, quân đội, và các cơ sở xã hội khác trên đất liền cũng như trên các
hải đảo thuộc miền Nam Việt Nam từ Vĩ tuyến 17 trở xuống.

Mọi người sống tại miền Nam Việt Nam đều biết và cũng đã từng phải tham
gia, tùy theo vị trí hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân và gia đình. (Thời gian đó, Tôi
là Thiếu Tá Trưởng Phòng Mật Mã Trung Ương thuộc Bộ Chỉ huy Viễn Thông tại

51

Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN, được tập thể chiến hữu thuộc các đơn vị Truyền
Tin tại Saigon bầu làm Chủ tịch Phong trào Cách Mạng Quốc gia của Binh chủng
Truyền Tin).

Phong trào này nhằm mục đích đánh bóng lãnh tụ Ngô Đình Diệm, chỉ trích
tinh thần bạc nhược của Quốc trưởng Bảo Đại trong việc điều hành Quốc gia, để
tiến tới việc tổ chức cuộc “Trưng cầu Dân ý truất phế Bảo Đại” vào ngày 23
tháng 10 năm 1955, và ủy nhiệm cho ông Ngô Đình Diệm thành lập nước
VIỆT NAM CỘNG HOÀ theo khuôn mẫu Tổng Thống Chế của Hiệp Chủng
Quốc Hoa Kỳ vào ngày 26-10-1956.

Suốt trong thời gian vận động tổ chức cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý vào ngày
23-10-1955, trên các phương tiện truyền thông của Chính phủ thường xuyên phổ
biến bài hát thúc đẩy mọi người tích cực tham gia đi bầu rất hay. Nhưng rất tiếc
Tôi chỉ còn nhớ một số câu tiêu biểu khó quên chứ không nhớ trọn bài:
“Hai ba tháng mười là ngày trưng cầu dân ý,
Hai ba tháng mười là ngày phá tan ngai vàng,
Đứng lên toàn quốc, viết trang sử mới,
……..(không nhớ……”

Và kể từ sau ngày VIỆT NAM CỘNG HOÀ ra đời 26-10-1956, nghi thức
chào cờ chính thức được quy định là sau khi hát bài Quốc Ca “Tiếng gọi công dân”
thì phải hát bài SUY TÔN NGÔ TỔNG THỐNG. Bài hát này do nhạc sĩ Nguyễn
Ngọc Bích sáng tác (ông đã qua đời vào năm 2001) và đã tìm thấy trong các
Website sau đây:
http://vinhdanhquanlucvietnamconghoa.blogspot.com/2009/04/suy-ton-ngo-
tong-thong.html

http://www.dutule.com/D_1-2_2-111_4-1912_5-4_6-6_17-34_14-2/
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%8Dc_B%C3%ADch_(nh%E1%BA%A1c_s%
C4%A9)

Suy tôn Ngô Tổng Thống

Ai bao năm từng lê gót nơi quê người
Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
Người cương quyết chống cộng
Bài phong kiến bốc lột
Diệt thực dân đang giắt reo tàn phá

52

Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời
Gương hy sinh ngàn muôn tiếng không hề phai
Toàn dân quyết kết đoàn cùng chung sức với người
Thề đồng tâm say đắp cho ngày mai
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế ban phước lành cho người
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng Thống
Chung đắp say nền thống nhất sơn hà
Dấu triện (seal) của Phủ Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hoà.

NGUYỄN-HUY HÙNG (K1)
Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà,
Phụ tá Tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền
Tuyến,
Cựu tù nhân chính trị 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung cải tạo của
chính quyền Cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam sau ngày Quốc hận 30-4-1975.

53

Các tài liệu tham khảo:

1. -(Quân sử 4) QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRONG GIAI ĐOẠN
HÌNH THÀNH 1946-1955. Do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu biên soạn và
phát hành, sách được in tại cơ sở xuất bản Đại Nam năm 1972 trụ sở
Taiwan Republic of China, và được ông Đỗ Kinh Lâm tự Đỗ Ngọc Tùng
(cựu sinh viên sĩ quan Khoá 4 Lý Thường Kiệt, Trường Võ bị Quốc gia
Việt Nam) Giám đốc nhà xuất bản Đại Nam sao in lại và phát hành vào
năm 1983 tại thành phố Glendale California Hoa Kỳ.

2. -THÀNH TÍCH SÁU NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA CHÁNH PHỦ VIỆT
NAM CỘNG HOÀ ấn hành năm 1960 tại Saigon, và được ông Hồ Đắc
Huân (cựu sinh viên sĩ quan Khoá 2 Hiện dịch Nha Trang) sao in lại tại Khu
Little Saigon Nam California Hoa Kỳ vào tháng 7-2007 để gửi tặng riêng
các thân hữu tùy nghi ủng hộ giải quyết tổn phí ấn loát chứ không in với
mục đích thương mại. Ai muốn có sách có thể liên lạc với ông Huân qua
điện thoại số (714) 725 5136 hoặc địa chỉ gửi thư:
HỒ ĐẮC HUÂN
P.O. BOX 1711
Westminster, CA 92684

3. -VIỆT NAM NIÊN BIỂU 1939-1975 (Tập B: 1947-1954) của Chánh Đạo
do nhà xuất bản Văn Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ năm 1997.

4. VIỆT NAM NIÊN BIỂU Tập III NHÂN VẬT CHÍ (liệt kê gần 900 tác
nhân lịch sử cận đại, từ 1848 tới 1975) của Chánh Đạo do nhà xuất bản Văn
Hoá in và phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1997.

Ảnh chụp ngày 1-7-1061 tại Dinh Độc Lập, Saigon, Các Tướng Quân lực VNCH
đọc thư chúc mừng ông Ngô Đình Diệm nhân kỷ niệm năm thứ bẩy làm Tổng
Thống nước Cộng Hòa Việt Nam Đệ Nhất.

54

TỨ THÁNH BẤT TỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT.

Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng (K1)

Hồi còn nhỏ, Tôi thường được theo Bà Ngoại đi lễ Phật tại Chùa, và đến chiêm
ngưỡng lạy các vị Thần Thánh tại các Đền do dân chúng lập lên để sùng bái.
Ngoại của Tôi nói rằng : “Mình là người trần mắt thịt, không thấy xa trông
rộng để hiểu thấu được Thiên Cơ, nên không biết trước được sự gì sẽ xẩy đến
cho mình và Thế nhân trong những ngày tháng tới. Dù cho mình có cố gắng ăn
ở hiền lành, tu thân tích đức đến đâu cũng không tránh khỏi đôi trường hợp sơ
xuất mà không hay. Những sai phạm này là những tội sẽ bị tích lũy, và một
ngày nào đó mình sẽ phải trả bằng một giá nào đó, như Phật tổ Như Lai đã
giảng dạy cho loài người biết về luật “Nhân Quả, Luân hồi”. Do đó, ngoài sự cố
gắng giữ mình gương mẫu trong cuộc sống hàng ngày, mình cần phải thường
xuyên cầu xin Trời, Phật, và các vị Thánh, Thần, linh thiêng phù trợ cho được
mọi sự an lành tai qua nạn khỏi.”
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống tin tưởng mãnh liệt vào Thần Quyền, nên
chúng ta không lấy làm lạ về số Đình, Chùa, Lăng, Miếu, Đền Thờ các vị
Thánh, Thần, được dựng lên khắp mọi nơi, và lúc nào người ta cũng lui tới
cúng lạy cầu tài cầu phúc cầu an cho bản thân và gia quyến. Hàng năm còn tổ
chức những ngày Hội lớn để bàn dân thiên hạ tới họp mặt tôn vinh công đức
của Vị Thánh Linh, và hiệp tâm cầu xin Thần Thánh linh thiêng phù hộ cho
Quốc thái Dân an, che chở cho mọi người thoát khỏi các tai ách do người hoặc
thời khí thiên nhiên khắc nghiệt gây ra.
Khi bắt đầu vào tuổi Thiếu niên, Tôi may mắn được gia đình cho gia nhập Đoàn
Hướng Đạo Sinh, để ngoài những giờ mài đũng quần trong học đường có dịp tu

55

luyện trau dồi Trí Đức Thể dục, chuẩn bị cho bản thân mình nếp sống của một
Công dân bình dị, mạnh cả tinh thần lẫn thể chất, tháo vát, biết yêu Thiên
nhiên, yêu Tổ Quốc, yêu Đồng bào, yêu Nhân loại và yêu mọi sinh vật trên cõi
Trần gian này. Nhờ thế, Tôi đã có dịp tìm hiểu về Địa lý, Văn học, Lịch sử dân
tộc Việt Nam nhiều hơn những gì ghi trong các sách học của Nhà trường, nên
biết được Dân tộc Việt Nam có TỨ THÁNH BẤT TỬ, đã thường xuyên phù hộ
độ trì cho dân lành Việt tộc thoát qua nhiều cơn nguy biến tai ách hiểm nguy.
Hôm nay nhân dịp đầu năm, tuy sống xa quê hương mến yêu nhưng mọi người
vẫn không quên vui hưởng Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, Tôi xin tóm
lược để chư vị độc giả cùng nhớ về BỐN VỊ THÁNH BẤT TỬ của Dân tộc Việt
Nam chúng ta. Vì tuổi già, trí nhớ bắt đầu suy yếu, nếu truyện kể có gì thiếu sót,
kính mong quý độc giả còn minh mẫn tài cao học rộng hiểu biết nhiều bổ túc
giùm, Tôi xin chân thành cám ơn trước.

Một là, THÁNH GIÓNG làng Phù Đổng.

Theo tục truyền, Thánh Gióng là Thiết Lũng Thiên Thần được Trời sai xuống
giúp vua Hùng Vương thứ Sáu, dẹp giặc Ân từ phương Bắc tràn xuống đánh
chiếm nước Văn Lang. Sau khi dẹp tan giặc, Thiết Lũng Thiên Thần lên đỉnh
núi Sóc Sơn biến mất, nên Vua Hùng nhớ ơn cứu nước, đã cho xây dựng Đền
thờ Ngài tại làng Phù Đổng, và sắc phong làm PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG,
Thành Hoàng làng Phù Đổng. Hàng năm có tổ chức Lễ Hội gọi là Hội Gióng
vào ngày 9 tháng 4 Âm lịch.
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có ghi một cách rất tổng
lược, không đầy đủ chi tiết bằng những gì khắc ghi trên bia đá dựng tại Đền thờ
nơi làng Phù Đổng, cộng với những chi tiết dân gian truyền khẩu trong Tổng
Phù Đổng, do ông Nguyễn văn Huyên tóm tắt bằng Pháp ngữ trong tập “Les

56

fêtes de Phù Đổng”, được Hội nghiên cứu Địa dư Hà Nội xuất bản vào năm
1938 tại Hà Nội, đầy đủ hơn như sau :
“Dưới đời vua Hùng Vương thứ VI, nước Văn Lang thực là thái hoà, thịnh trị.
Nhà vua bỏ tục cống lễ nhà Ân bên Tầu. Thấy vậy, Ân Chúa kiếm cớ tuần du
phương Nam để có ý xâm chiếm nước Nam. Vua Hùng Vương lo ngại, họp triều
đình bàn kế giữ nước. Một vị Đại Thần qùy tâu : -Xin nhà vua cầu khẩn Long
thần, thần sẽ chỉ bảo nhà vua.
Vua nghe lời tâu, lập đàn tràng cúng tế ba ngày liền. Chợt giông bão nổi lên với
sấm sét. Tại ngã tư kinh thành hiện ra một ông già mình cao chín thước, đầu
râu tóc bạc, nhẩy nhót múa hát. Nhà vua triệu ông già tới đàn tràng dâng rượu
thịt, ông già từ chối. Hỏi tới quốc sự, ông già đáp : -Ba năm nữa giặc sẽ từ
phương Bắc lại. Muốn diệt giặc, nhà vua phải tìm người tài trong nước và hứa
ban thưởng trọng hậu. Sẽ có thần nhân xuất hiện dẹp giặc. Nói xong ông già
biến mất.
Ba năm sau, giặc Ân do Thạch Lĩnh, thái tử nước Ân đem quân xâm chiếm
nước Văn Lang. Đại tướng nước Văn Lang là Lý Công Dật xuất quân cự địch,
nhưng trước thế giặc mạnh, quân Văn Lang bị thua và Lý tướng quân tự sát
chết. Nhà vua chợt nhớ tới lời Long thần, sai Sứ đi khắp trong nước để tìm
người tài giỏi ra giúp nước.
Bấy giờ tại làng Phù Đổng có một lão trượng tuổi đã 60, cách đây ba năm, bà vợ
có sinh ra một đứa con trai trong trường hợp rất kỳ lạ. Nguyên sau một đêm
mưa gió, bà lão ra vườn hái rau, để ý thấy một vết chân to lớn đã dẫm đám rau
của bà. Vô tình bà đứng đè lên vét chân đó để hái những cây rau đã bị giày séo
về ăn. Từ đó bà thụ thai, rồi sinh một con trai. Đứa con trai này, cho đến năm
lên ba tuổi thì vẫn nằm ngửa, không biết nói không biết ngồi. Khi nghe sứ giả
nhà vua đi qua, bà mẹ nhìn con nói đùa : -Nhà vua đang cần tướng tài đánh
giặc mà con nay mới lên ba, chưa biết cười biết nói, bao giờ con khôn lớn mà
giúp nước phò vua?
Bà mẹ vừa nói dứt lời, đứa bé bỗng bật ra lời nói, bảo mẹ mời sứ giả nhà vua
tới. Thấy con tự nhiên biết nói lại đòi mời sứ giả nhà vua, bà mẹ lấy làm ngạc
nhiên, nhưng cũng ra thuật rõ truyện cho sứ giả hay. Sứ giả theo bà ta vào. Đứa
bé bảo sứ giả về tâu vua đánh cho một con ngựa sắt và một chiếc roi sắt. Sứ giả
về tâu vua rõ mọi sự. Nhà vua mừng lắm cho đó là ứng lời Long thần dạy trước,
liền sai đánh ngựa sắt, roi sắt cho đứa bé.
Trong khi sứ giả về tâu vua thì ở làng Phù Đổng, đứa bé lớn phổng lên, ăn uống
tốn kém rất nhiều cơm thịt. Sứ giả mang ngựa và roi tới. Đứa bé bảo mẹ thổi
cho một nồi ba mươi cơm, vươn vai đứng lên, ăn hết nồi cơm, cầm roi nhẩy lên
ngựa sắt, nhằm thẳng phiá giặc đóng phi ngựa tới. Lúc đó, giặc đang đóng ở núi
Trâu Sơn huyện Tiên Du. Trước khi lên ngựa cậu bé nói : -Ta là Thiết Lũng
Thiên Thần, giáng trần đi dẹp giặc.

57

Thiết Lũng Thiên Thần ra roi, ngựa sắt hét ra lửa, tới núi Trâu Sơn phá tan
quân giặc, giết được cả tướng giặc là Thạch Lĩnh và ba Đại tướng khác. Nội
trong một ngày giặc tan. Còn lại 24 tướng giặc phải xin hàng.
Trong lúc ra quân, ngựa sắt luôn luôn hét ra lửa để đốt giặc. Hiện nay di tích
những ngọn lửa vẫn còn ở làng Cháy tức là làng Phù Chẩn, huyện Gia Bình
tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây ngựa thần đã đốt giặc, những cây bén lửa cũng cháy
sém. Giống tre này nay mọc ở mấy tỉnh Bắc Ninh, Phúc Yên, với những đốt
trắng đen như vết cháy; đó là loại tre “đằng ngà” rất đẹp và bền, được dân quê
kén dùng chế tạo các vật đựng trong nhà. Giết giặc nhiều, chiếc roi sắt gẫy, ngài
phải nhổ tre dùng thay. Giặc tan, ngài trở về làng Xuân Tảo, tỉnh Hà Đông, nơi
Hồ Tây lội xuống tắm; sau đó ngài lên ngựa đi về tới núi Sóc Sơn tỉnh Phúc Yên
thì biến mất.
Nhớ ơn ngài, vua Hùng Vương sai lập đền thờ tại làng Phù Đổng tức làng
Gióng và sắc phong cho ngài là Phù Đổng Thiên Vương. Dân chúng gọi ngài là
đức Thánh Gióng. Hàng năm để nhớ ơn ngài, dân chúng hàng tổng mở hội diễn
lại sự tích ngài đánh giết giặc Ân.”

(Tượng đài Thánh Gióng, do Binh chủng Thiêt Giáp Quân lực Việt Nam Cộng
Hoà thành lập vào năm 1955 vinh danh làm Thánh Tổ và xây dựng tại Bình
Bông ngã tư đường Lê Lợi và Lý Thái Tổ thành phố Saigon vào năm 1968.)

58

Hai là, CHỬ ĐỒNG TỬ vùng Chử xá.

(Tượng hai vợ chồng Chữ Đồng Tử và Công Chúa Tiên Dung trước đền thờ
trên “BÃI TỰ NHIÊN” trong “ĐẦM NHẤT DẠ” tại vùng Chử Xá Bắc Việt
Nam.)
Theo sự tích dân gian truyền tụng về Đầm Nhất Dạ và Bãi Tự Nhiên, thì hai vợ
chồng CHỬ ĐỒNG TỬ-Công Chúa TIÊN DUNG con vua Hùng Vương thứ Ba,
đã từng học đạo Tiên và từng cứu giúp dân nghèo trong vùng nên đã hiển
thánh. Câu truyện được tóm lược như sau :
“Trong số các con Vua Hùng Vương thứ ba, có một công chúa từ thuở lọt lòng
mẹ đã được các bà tiên tô điểm nên lúc lớn lên có được nhan sắc tuyệt trần, vua
cha đặt tên là TIÊN DUNG, và rất cưng chiều. Sở thích của Tiên dung là đi chơi

59

ngoạn cảnh khắp mọi nơi trong nước. Vua sắm cho một chiếc thuyền rất xinh,
có đủ người hầu hạ và mọi thứ cần dùng. Hàng năm cứ vào khoảng cuối mùa
Xuân, du thuyền của công chúa Tiên Dung lên đường, cho đến khi từng đàn
chim “hậu điểu”bay từ phương Bắc sang thì thuyền công nương mới trở về nơi
cung cấm. Có một vài vị Hoàng tử các nước láng giềng ngỏ ý xin được kết
duyên, nhưng công chúa Tiên Dung đều khước từ. Có lần trong một bữa tiệc đã
thưa với Cha là nàng sẽ không lấy chồng.
Trong một dịp viễn du, thuyền Tiên Dung ghé đậu tại vùng Chử xá. Nàng sai
gia nhân đun nước lá thơm, và lên bờ quây màn kế một bụi lau nơi vắng người
bên bờ sông để lên tắm cho mát. Không dè trong khi xối nước tắm, cát dưới
chân trôi đi lòi ra một người ngồi nhỏm lên. Tiên Dung tưởng ma quái, tính la
lên để người hầu vào cứu, nhưng nhìn kỹ thấy là một thanh niên trần truồng
hiền lành, mới bình tĩnh hỏi căn nguyên vì sao lại vùi thân dưới cát như vậy?
Chử Đồng Tử kể lai lịch của mình : “Cha là Chử Cù Vân chỉ có mình là con
trai duy nhất gọi là Chử Đồng Tử. Hai cha con chuyên sống nghề đánh cá trong
vùng để sinh sống. Một hôm nhà bị cháy hết, chỉ còn chiếc khố cha mặc trên
người. Cha con phải thay nhau dùng chiếc khố duy nhất đó để ra đường. Khi
cha đi ra ngoài thì mặc khố, con phải ở truồng nằm nhà, và ngược lại. Sau vụ
cháy nhà, cha con tiếp tục gặp nhiều tai ách khác dồn dập, làm không đủ ăn nên
không mua được chiếc khố thứ hai. Bỗng một hôm cha bệnh nặng, trước khi
chết trăn trối lại rằng khi cha chết hãy chôn xác trần, giữ chiếc khố lại mà
dùng, nhưng vì thương cha quá không đang tâm, nên đã lấy chiếc khố cuộn
thân cha đem chôn. Từ đó không còn khố, phải đi lội sông bắt cá vào ban đêm.
Đến sáng mới bơi quanh các thuyền để bán đổi gạo, rồi bơi về ở trong nhà suốt
ngày chẳng dám đi đâu. Hôm nay, lúc đang bơi tới gần các thuyền để bán cá,
thấy người ta xôn xao đi xem thuyền Công chúa sắp ghé bến, nên sợ quá phải
bơi lẩn đến vùi thân bên bụi lau này để trốn. Chẳng may lại xẩy ra cớ sự.”
Nghe người trai lạ kể nông nỗi can trường chịu đựng khổ đau như vậy, Tiên
Dung mủi lòng rơm rớm nước mắt. Nàng không ngờ trong đất đai của cha nàng
trị vì lại có hạng người đói khổ đến nỗi không có lấy một mẩu vải che thân. Cảm
lòng chí hiếu của người trai đang ngồi trước mặt, Tiên Dung lẩm bẩm một mình
rằng : “Người như thế này chưa chắc bọn con trai trong thiên hạ đã có ai sánh
kịp.” Rồi Tiên Dung đưa gáo cho Chử Đồng Tử và nói : “Anh tắm rửa đi. Lạ
thật! Chắc có Trời se duyên!” Rồi Tiên dung sai người lấy một bộ võ phục của
một viên quan hầu cho Đồng Tử mặc, và hai người giắt nhau về thuyền.
Trước mặt mọi người, Tiên Dung kể lại cuộc gặp gỡ kỳ dị vừa qua và tuyên bố :
“Người này sẽ là chồng tôi!” Chữ Đồng Tử đỏ mặt nói : “Tôi không dám, không
dám.” Nhưng Tiên Dung bảo : “Tôi vốn không có ý định lấy chồng. Nay gặp gỡ
như thế này chắc có Trời xui.” Và hôn lễ được cử hành ngay trên sông, có một
số đông bô lão địa phương tới dự. Phần lớn quan hầu và thị tì đều theo ý Tiên

60

Dung, nhưng cũng có đôi người cho rằng việc gặp gỡ không tốt đẹp lắm, nhưng
biết Tiên Dung được vua cha cưng chiều nên không dám cản.
Tin này đồn về tới hoàng cung, vua Hùng nổi giận phán bảo quần thần rằng :
“Thà nó không có chồng còn hơn. Thật là đốn mạt! Tại sao nó không chịu hỏi
Ta. Thôi từ nay nhất thiết cấm cửa. Hễ nó vác mặt về Phong Châu thì cho phép
Lạc tướng chém chết trước, tâu sau.” Một công chúa em ở trong cung vội bí mật
cho người thân tín đi báo tin cho chị biết. Tiên Dung biết rõ tính cha nên không
dám trở về cung nữa. Vợ chồng ở lại mở cửa hàng buôn bán ngay tại địa
phương, đồng thời cho quân hầu thị tì được tự do lựa chọn, hoặc về cung hầu
vua hoặc về quê quán sống cùng họ hàng thân thuộc tùy ý.
Vợ chồng Chử Đồng Tử ở lại sống cuộc đời mới, giao thiệp với các thuyền buôn
nước ngoài tới lui mua bán hàng, rất phát đạt. Chẳng bao lâu chỗ bến sông trở
thành cái chợ quyến rũ được nhiều người tụ về làm ăn xầm uất. Một hôm, Đồng
Tử đem vàng đi theo một khách buôn lớn, định ra nước ngoài mua hàng tận gốc
về bán tại ngọn để kiếm một số lãi to. Thuyền dong buồm đi về phương Nam,
được 5 ngày gặp một hòn đảo giữa biển có ngọn núi tên Quỳnh Viên, ghé vào
lấy nước ngọt. Đồng Tử lên bờ, vui chân đi tuốt lên tận đỉnh núi. Đang say sưa
ngắm cảnh, bỗng thấy mình đứng trước một cái Am nhỏ, có một đạo sĩ ngồi
định thần trên phiến đá. Vừa tính lên tiếng hỏi thì người kia đã nói : “Thằng bé
Chử sao lại muộn thế?” Biết là bậc thần dị, Chử Đồng Tử qùy phục dưới chân
người lạ xin làm đồ đệ. Vừa lúc bọn lái thuyền tới Am tìm, Chữ Đồng Tử liền
trao hết vàng bạc cho họ và nói : “Các bác cứ giữ lấy mà buôn. Tôi sẽ ở đây cho
đến khi thành đạo.”
Đồng Tử học hiểu thấu đạo rất nhanh. Sư phụ còn truyền dạy cho biết thêm
nhiều phép mầu nhiệm. Thời gian sau, khi chiếc thuyền buôn trở lại đón, Đồng
Tử được sư phụ trao cho một chiếc gậy, một cái nón, và bảo : “Con có thể hạ
sơn được rồi. Ta giao cho con những vật này. Tất cả sự linh diệu đều ở đó cả.”
Bước xuống thuyền, Đồng Tử không ngờ số vốn của mình đã được người ta làm
nẩy nở gấp mười lần. Nhưng bây giờ thấy tiền của, chàng cảm thấy dửng dưng
và cũng chẳng màng đến truyện bàn tán kế hoạch buôn kiếm lời nữa. Về đến
nhà, Đồng Tử truyền đạo lại cho vợ. Tiên Dung học đạo cũng nhanh chóng như
chồng.

61

Thế rồi một hôm, vợ chồng Chử Đồng Tử đem của cải phân phát hết cho những
người nghèo trong vùng và ra đi. Mọi người ngạc nhiên, không biết lý do vì sao
đang làm ăn phát đạt thịnh vượng như vậy, mà vợ chồng Chử Đồng Tử lại bỏ
công việc, cho hết của cải, ra đi đâu để làm gì? Nào ai hay, hai người quyết chí
ra đi tìm thầy học đạo thêm nữa. Ngày đi đêm nghỉ, một hôm hai người mải miết
đi tới tối vẫn chẳng gặp một bóng nhà quán xá nào cả. Tứ bề vắng tanh, không
nghe tiếng gà gáy hay chó sủa, hai vợ chồng đành nằm đại trên bãi cỏ nghỉ
chân. Đồng Tử cắm gậy xuống đất rồi úp nón lên che sương để hai vợ chồng
ngủ qua đêm. Đến canh ba, bỗng dưng có tiếng chuyển động dữ dội làm thức
giấc, vợ chồng Đồng Tử mới thấy mình đang nằm trên chiếc giường ngọc, chăn
gối êm dịu như nhung, quần áo trên người là thứ mầu lấp lánh như vẩy bạc.
Xuống giường đi ra hành lang có bao lơn trắng như tuyết, hai vợ chồng mới

62

thấy căn nhà mình đang đứng được vây bọc bởi rất nhiều nhà nhiều lâu đài
khác nữa, ngoài xa lại có bức tường thành bao bọc khu vực. Giắt nhau đi quan
sát, thấy đâu đâu cũng có người hầu hạ và quân lính canh gác, mặc nhiều kiểu
quần áo mầu sắc rất đẹp. Tiên Dung hỏi hai người tì nữ đi theo : “-Đây là nơi
nào?” Họ đáp : “-Đây là giang sơn riêng của công chúa như lời ước muốn của
người.” Khi vợ chồng Đồng Tử trở lại cung riêng vừa bước tới chính đường, có
một viên quan bước ra qùy trình lên Tiên Dung một lô sổ sách và nói : “-Xin
dâng lên công chúa tất cả mọi vật ở đây.” Hai vợ chồng cùng dở ra xem, thấy
liệt kê tất cả lầu đài nhà cửa,vật dụng, khí giới, cả chục kho tàng chứa trữ ngọc
ngà châu báu, vàng bạc, lương thực, cùng danh sách tên tuổi các quan văn võ,
quân lính, nô tì… Chử Đồng Tử nói với vợ : “-Thế là từ nay chúng ta làm chủ
cái giang sơn này đây!”
Từ đó hai vợ chồng ở lại vui hưởng cuộc sống khác trước. Dân chúng quanh
vùng nghe đồn hai vợ chồng công chúa Tiên Dung có phép Tiên, xây dựng
thành quách lâu đài trong một đêm, nên ai nấy rủ nhau đem hoa quả, nếp gạo,
gà, lợn đến làm lễ chào mừng chủ mới để xin nhờ che chở. Tiếng đồn ngày một
lan xa, quân dọ thám về Phong Châu trình vua Hùng. Chúng đoan chắc rằng vợ
chồng công chúa có ý chia đôi sơn hà với Thiên tử, vì thành quách xây kiên cố
lại có rất đông quân lính canh phòng bảo vệ. Lâu ngày vua Hùng đã quên Tiên
Dung, nay nghe tin lòng giận bừng bừng nói : “-Nó từ lâu là giặc, hoàn toàn
không phải con ta. Các ngươi cố gắng lấy đầu của hai tên giặc đó về đây, sẽ có
trọng thưởng.” Y lệnh, các quan Lạc tướng rèn luyện quân tinh nhuệ rồi xuất
quân kéo đến hạ trại bên kia sông. Quân tướng trong thành đến trình bầy với
hai vợ chồng Tiên Dung : “-Nếu công chúa muốn, chúng tôi có thể tiêu diệt
quân “địch” trong khoảnh khắc.” Tiên Dung lắc đầu bảo họ : “-Không được,
Ta đâu dám cự mệnh vua cha.” Tin quân canh dồn dập trình báo tình hình biến
chuyển bên trại đối phương, vợ chồng Tiên Dung vẫn tươi cười thản nhiên như
chẳng có truyện gì xẩy ra. Đêm hôm đó, vợ chồng Tiên Dung vẫn lên giường
ngọc thản nhiên ngủ như thường ngày. Tới canh ba, quân canh vào báo cầu
phao vượt sông của bên “địch” đã bắc xong, và họ đang nấu ăn. Hai vợ chồng
Tiên Dung ngồi dậy cùng hướng mặt lên trời, thế là một trận bão vụt nổi lên,
mỗi lúc một dữ dội, đất chuyển động ầm ầm, gió xoáy một cách kinh khủng đến
nỗi có thể bốc tất cả mọi thứ trên mặt đất ném đi nơi khác.
Sáng hôm sau, nhân dân quanh vùng và quân tướng vua Hùng ngạc nhiên thấy
một sự lạ chưa từng có. Bão đã tan từ lâu, nhưng thành quách của công chúa
và tất cả cung điện, nhà cửa, quân gia, súc vật, đồ dùng đều bay đi đâu mất cả
không còn sót một tí gì. Giữa đó là một cái đầm rộng mênh mông, đầy nước
trắng xoá. Duy chỉ có cái nền xây cung của hai vợ chồng công chúa thì vẫn còn.
Người ta gọi cái đầm ấy là “Đầm Nhất Dạ” (nhất dạ nghiã là một đêm), và cái

63

nền ấy là “Bãi Tự Nhiên”. Về sau trên cái nền ấy, người ta lập Miếu thờ hai vợ
chồng Chử Đồng Tử.

Ba là, TẢN VIÊN SƠN THẦN, làng VÀ, tỉnh Sơn Tây.

“Núi Tản Viên” nằm trong địa phận làng VÀ, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Đây
là ngọn núi cao nhất tỉnh (1280 mét), có ba tầng cao chót vót nên còn được gọi
là “Núi Ba Vì”. Đứng xa ngắm toàn cảnh núi thấy hai bên như có hai cánh
chim phượng, nên có thêm tên “núi Cánh Phượng” hoặc “Phượng Hoàng
Sơn”. Tại làng VÀ ngay chân núi Tản Viên có đền thờ Tản Viên Sơn Thần, trên
gần đỉnh núi cũng có một đền khác thờ Thần. Hàng năm các làng quanh vùng
họp nhau mở hội vào ngày Rằm tháng Giêng Âm lịch, đặc biệt có rước kiệu
Linh vị Thần từ đền làng VÀ lên đền Ngài gần đỉnh núi Tản Viên. Đối với dân
chúng tỉnh Sơn Tây, nhất là hai huyện Phúc Thọ và Bất Bạt rất sùng kính Tản
Viên Sơn Thần, vì ngài là một vị thượng-đẳng-thần rất linh thiêng, có nhiều
phép thuật, luôn luôn phù hộ cho dân chúng trong vùng được “phong đăng hoà
cốc” thịnh vượng an ninh.
Tản Viên Sơn Thần chính là Sơn Tinh (tên tục là Nguyễn Tuấn) con rể vua
Hùng Vương thứ 18, mà dân gian Việt Nam lưu truyền trong truyện cổ tích
“Sơn Tinh và Thủy Tinh”. Thời các chính quyền Quốc gia Nhân bản điều hành
đất nước Việt Nam, truyện cổ tích “Sơn Tinh và Thủy Tinh” được ghi vào
chương trình giáo dục Tiểu học trong loại bài học thuộc lòng, tóm lược như sau
:

64

“Tục truyền Sơn Tinh vốn là dòng dõi vua Lạc Long, nhà nghèo nên thường
phải vào rừng kiếm củi. Một ngày kia vào rừng, Ngài đốn một cây cổ thụ vừa
xong, ra về thì trời cũng chạng vạng tối. Sáng hôm sau trở ra, Ngài rất ngạc
nhiên thấy cây đã mọc trở lại như chưa hề bị một nhát dao hay búa nào! Ngài
lại hì hục đốn cây cổ thụ đó, đến tận chiều tối cây ngã xong mới ra về, sáng hôm
sau ra, lại thấy cây sống trở lại y như hôm trước. Lấy làm lạ, Ngài đã toan đi
đốn một cây khác, nhưng sau một hồi ngẫm nghĩ, Ngài quyết định đốn cây cũ
như hai ngày hôm trước. Lần này đốn xong trời cũng vừa tối, Ngài không ra về
mà tìm một chỗ kín nấp rình qua đêm xem sự thể ra sao. Một lát sau thấy có sao
Thái Bạch ở trên Trời xa xuống cứu cây ấy sống lại. Ngài chạy ra phàn nàn tình
trạng nghèo khổ của mình, phải đốn củi kiếm ăn, mà Thái Bạch lại đi cứu cây
khiến cho Ngài không biết lấy gì sinh sống.
Thái Bạch Kim Tinh bèn cho Ngài một cây gậy và dặn rằng : “-Gậy này có phép
cứu được bách bệnh cho người ta, hễ ai ốm đau chỉ cầm gậy chỉ vào chỗ đau là
khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu dân độ thế.”
Ngài nhận cái gậy và từ đó bỏ nghề đốn củi, làm nghề đi cứu người đau ốm.
Một hôm, Ngài cứu sống được một con rắn bị lũ trẻ chăn trâu đánh chết. Con
rắn trên đầu có chữ Vương, được cứu sống liền bò xuống sông đi mất. Vài ngày
sau, bỗng có một chàng trai mang lễ vật tới biếu Ngài, và nói : “-Tôi là Tiểu
Long Hầu, con vua Long Vương ở bể Nam. Hôm nọ đi chơi bị lũ trẻ chăn trâu
đánh chết, may được ông cứu sống, hôm nay tôi đến trả ơn. Ngài nhất định từ
chối không nhận vàng ngọc châu báu của Tiểu Long Hầu. Nên Tiểu Long Hầu
cố khẩn khoản mời Ngài xuống chơi dưới biển. Nể lời năn nỉ mời quá, Ngài
phải nhận lời. Tiểu Long Hầu đưa ra một ống linh-tê để rẽ nước cho Ngài đi
xuống biển. Long Vương thấy Ngài xuống chơi mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba
ngày, rồi đưa tặng những của quý lạ. Ngài một mực từ chối không nhận gì cả.
Sau cùng, Long Vương tặng một quyển sách ước, muốn ước gì được nấy, Ngài
nhận.
Chiếc gậy thần và quyển sách ước đã giúp Ngài cứu dân độ thế, đi đến đâu dân
chúng cũng được nhờ. Ngài đi chu du khắp trong nước, chỗ nào dân thuần hậu
thì ở lại, chỗ nào nhân tình đơn bạc chuộng phù hoa thì bỏ đi. Phép thuật Ngài
cao cường, thần thông biến hoá, không thần thánh nào bì kịp. Khi Ngài đi tới
huyện Phúc Lộc (nay là huyện Phúc Thọ) và huyện Bất Bạt tỉnh Sơn Tây, thấy
có núi Tản Viên, ba tầng núi xoè ra như hình chiếc tán, phong cảnh u nhã, lấy
làm bằng lòng lắm. Ngài liền hoá phép làm một con đường về phía Nam núi,
khởi từ bến Phan Tân bên giòng sông Hắc giang, qua cánh đồng các làng Vệ
Đỗng, Nham Toàn, Thạch Bàn, Vân Mộng và Hiệu Lực, đến tận chân núi. Ngài
ở trên tầng núi cao nhất. Ngài thường ra sông Tiểu Hoàng xem cá, và luôn luôn
cứu giúp dân chúng quanh vùng qua những cơn bệnh hoạn, và mùa màng hàng
năm cũng được tốt đẹp. Nhớ ơn Ngài, nên nhiều làng quanh núi Tản Viên và

65

những nơi Ngài đã đặt chân tới đều lập đền thờ Ngài. Đi đến đâu Ngài cũng hoá
phép thành lâu đài tới đó, thấy lâu đài là dân chúng lại lập Đền hay Miếu để
thờ.

66

Lúc đó vào thời vua Hùng Vương thứ 18, có công chúa tên Mị Nương rất xinh
đẹp. Tản Viên Sơn Thần (tức là Sơn Tinh) và vua Thủy Cung (là Thủy Tinh)
cùng hỏi xin lấy làm vợ. Vua phán rằng : “-Nếu ai đem lễ vật đến trước thì Ta
gả cho người đó.” Sơn Tinh đem lễ vật tới trước nên được vua Hùng Vương gả
Mị Nương cho. Thủy Tinh tức giận bèn dâng nước lên vây đánh Sơn Tinh, mưa
gió sấm xét ầm ầm, trời đất mù mịt, nhưng phép thần thông của Sơn Tinh rất
ghê gớm, Thủy Tinh không làm gì được phải rút quân về. Nhưng từ đó về sau,
hàng năm nhớ thù cũ, Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh, gây cảnh lụt lội
trong dân gian.
Dần dần về sau không còn ai gặp Tản Viên Sơn Thần nữa, nhưng người ta vẫn
linh cảm rằng Ngài vẫn luôn luôn hiện diện giúp đỡ cho mọi người. Theo các cụ
kể lại, những năm bị hạn hán, nhân dân lập đàn cầu đảo xin Ngài phù trợ lập
tức có mưa ngay, hoặc ngược lại mưa nhiều quá cầu xin tạnh cũng được linh
nghiệm. Cũng theo lời truyền lại, những khi trời tạnh, người ta thấy Ngài
thường hay hiện hình đi chơi các khe suối, và luôn có đám mây phủ như hình
cánh quạt. Do đó các Đền thờ Ngài luôn luôn có rất đông người lui tới lễ bái
cầu xin phù hộ.”

Bốn là, LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA
đền Phủ Giày, tỉnh Nam Định.

Tại xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định có Đền Phủ Giày thờ Liễu Hạnh
Công Chúa (tức là Tiên Chúa Quỳnh Nương tên tục là Giáng Tiên) với thánh
hiệu “Thánh Mẫu Vân Hương”. Hàng năm đều có mở Hội rất linh đình nhộn
nhịp, từ mồng Một đến hết mồng Mười tháng Ba Âm lịch mới rã đám. Hội Phủ

67

Giày được dân chúng Bắc Việt và miền Bắc Trung Việt tới dự rất đông, nhất là
dân mấy tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, và Thanh Hoá.
Tại Sòng Sơn, Phố Cát, Đèo Ngang thuộc tỉnh Thanh Hoá, cũng có đền thờ
Tiên Chúa với thánh hiệu “Mã-Vàng Công Chúa”, “Chế-Thắng Bảo-Hoà-Điệu
Đại Vương” để dân chúng thờ phượng sùng bái.
Đặc biệt tại phố Cửa Nam Thị xã Lạng Sơn cũng có đền thờ Tiên Chúa Quỳnh
Nương, nhưng với thánh hiệu là “Thánh Mẫu Vân Hương”, hàng năm có tổ
chức Lễ Hội từ ngày 20 tháng 3 Âm lịch (tức là 10 ngày sau Hội Phủ Giày rã
đám) và kéo dài 5 ngày mới mãn hội.
Tục truyền về sự tích Liễu Hạnh Công Chúa (*) được tóm lược như sau:
“Liễu Hạnh công Chúa tên thật là Giáng Tiên, ái nữ của ông Lê Thái Công, ở
thôn An Thái, xã Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Vân Cát là một làng
văn học, dân cư sầm uất gần giáp núi Gôi, nơi có ga xe lửa trên đường Hà Nội
đi Ninh Bình.
Lê Thái Công vốn người nhân đức ưa làm điều thiện, nhưng số phận hiếm hoi,
mãi ngoài 40 tuổi mới sinh được một con trai. Cách năm sau, phu nhân lại có
thai, đã quá tháng mà không sinh lại thường bị đau yếu, chỉ thích ngửi hương
hoa. Người nhà nghi phu nhân bị tà ma ám ảnh, đón thầy pháp về yểm trừ
nhưng bệnh không thay đổi, cả nhà đều lo sợ vô cùng. Cho đến một đêm vào
Tiết Trung Thu, trong lúc mọi người thưởng nguyệt, bỗng có một người ăn mặc
rách rưới, tự khoe có phép thuật xin vào trị bệnh. Người nhà không tin, riêng
Thái Công vẫn ân cần đón mời vào nhà. Khi vào đến sân, người đó rút trong tay
áo ra một cây búa ngọc, nhẩy lên đàn tràng đã dựng từ trước cho thầy pháp trừ
tà, rồi ngửa mặt lên Trời lâm râm tụng niệm. Thái Công và gia nhân đứng bên
dưới đàn tràng nhìn lên. Bỗng nhiên đang tụng niệm, người kia hét lên một
tiếng rất lớn và quăng cây búa ngọc xuống chỗ Thái Công đứng. Thái Công liền
ngã nhào xuống đất mê man bất tỉnh. Người nhà thấy vậy biết là pháp thuật,
cùng nhau líu ríu khấn vái. Một lát sau Thái Công tỉnh dậy, cùng lúc ấy trong
phòng phu nhân có ánh hào quang sáng rực và tiếng khóc oa oa. Phu nhân vừa
hạ sanh một gái, hương thơm bay ngào ngạt khắp nhà. Mọi người vui mừng
không quan tâm đến người lạ, khi nhớ ra nhìn lên đàn tràng thì người ấy đã
biến mất tự bao giờ. Ai cũng cho là lạ.
Thái Công tỉnh dậy kể cho mọi người nghe câu truyện xẩy đến với ông trong khi
bất tỉnh : “Khi ngã xuống, có mấy lực sĩ dẫn ông đi thẳng đến một khu ánh sáng
lờ mờ, qua mấy chặng đường đến trước một cửa ngọc lầu vàng. Lực sĩ thay
quần áo cho ông rồi dẫn vào cửa cấm chờ lệnh. Không lâu, bỗng thấy mây vàng
bao phủ, hai bên sân có hàng mấy trăm tiên nữ áo quần tha thướt, múa hát
những khúc nghê thường vũ y. Cô dâng đào, cô chuốc rượu chúc thọ Vương
Mẫu. Giữa lúc ấy, có một tiên nữ áo hồng, nâng chén ngọc lỡ tay đánh rơi chiếc
chén vỡ tan, tức thì bên phiá tả có một tiên ông đệ trình một cuốn sổ vàng.

68

Vương Mẫu quở mắng nàng tiên xong, có hai thị nữ áp dẫn nàng tiên áo hồng
ra lối cửa Nam, một người cầm chiếc bảng vàng đề hai chữ SẮC GIÁNG đi
trước (tờ sắc lệnh cho giáng xuống trần gian). Thái Công hỏi người Lực sĩ đứng
bên, anh ta đáp : “-Đây là tiên chúa thứ hai tên gọi Quỳnh Nương, nay phạm lỗi
bị giáng xuống trần.” Lực sĩ nói xong, đẩy mạnh Thái Công làm cho ông sực
tỉnh vừa đúng lúc nghe tiếng khóc oa oa trong phòng phu nhân. Thật kỳ lạ, cả
nhà ai cũng đoán cô gái mới sinh đúng là tiên nữ áo hồng giáng thế. Vì vậy,
Thái Công đặt tên con là Giáng Tiên.
Khi Giáng Tiên lớn lên nhan sắc đẹp lạ thường, học hành thông minh lại có tài
âm nhạc, nhất là xử dụng ống tiêu (flute). Cô đã soạn ra nhiều ca từ phổ vào
đàn nhạc. Dưới đây là bốn bài ca từ về bốn mùa, theo bản dịch của Phan Kế
Bính trong Nam Hải dị nhân liệt truyện :
XUÂN TỪ (điệu Xuân-Quang-Hảo)
Cảnh như vẽ, khéo ai hay? Hoa đào mỉm miệng liễu dương mày. Bướm nhởn
nhơ bay, oanh vàng líu lo trong bụi, én đỏ ríu rít trên cây. Buồng xuân dìu dặt
mối tình ngây, đề thơ này!
HẠ TỪ (điệu Cách-Phố-Liên)
Trời đất nhiều phần nóng nẫu. Đầu cành rúc giọng ve, bãi cỏ vắng tiếng chẫu;
vò võ quốc kêu sầu, eo éo oanh hót ngẫu. Dường bảo nhau : “Chúa Xuân về rồi,
thôi cũng hảo!” Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm lòng khôn đậu. May đâu
thần Chúc-dong gẩy một khúc Nam huân, hương sen thoảng đáo, một trận gió
bay, sạch lòng phiền não.
THU TỪ (điệu Bộ-Bộ-Thiềm)
Mặt nước trong veo non tựa ngọc, gió vàng hây hẩy khua khóm trúc. Hoa lau
muôn dặm trắng phau phau, cây cối vẻ hồng pha vẻ lục. Cung Thiềm sáng quắc,
ả Hằng ngủ, dạo bước thềm giao tình rạo rạc. Chi bằng đến thẳng dưới giậu
hoa cúc thơm, thảnh thơi dạo đàn gẩy một khúc.
ĐÔNG TỪ (điệu Nhất-Tiễn-Mai)
Khí đen mờ mịt toả non sông, hồng về Nam xong! Nhạn về Nam xong! Gió bấc
căm căm tuyết mịt mùng! Tựa triện ngồi trông! Tựa triện đứng trông! Sưởi lò
mặt vẫn giá như đồng, ngồi chẳng yên lòng, Nằm chẳng yên lòng! Dậy xem
phong cảnh lúc trời Đông, hoa quên lạnh lùng, người quên lạnh lùng!
Giáng Tiên thường dạo bốn khúc ca thật là buồn này. Thái Công cũng cảm thấy
lòng buồn man mác, mỗi khi dạo chơi vườn sau nghe con gái khẩy mấy khúc
nhạc buồn này. Thái Công có một ông bạn họ Trần ở cùng làng, bèn cho Giáng
Tiên làm con nuôi Trần Công, và dựng riêng một căn nhà xinh trong vườn nhà
Trần Công để nàng ở. Ít lâu sau, Giáng Tiên kết duyên cùng Đào Lang, con trai
một hưu quan ở gần nhà Trần Công. Về làm dâu nhà họ Đào, Giáng Tiên một
lòng hiếu thuận, và năm sau sinh hạ một con trai.
Ba năm sau, một hôm nhằm ngày mồng Ba tháng Ba, Giáng Tiên tự nhiên

69

không bệnh mà mất, năm ấy nàng mới 21 tuổi. Nàng chết đi, cả ba nhà họ Lê,
họ Trần, và họ Đào đều thương tiếc, sầu thảm không nguôi, nhất là Lê Thái Bà
đêm ngày khóc lóc đau xót vô cùng. Có lẽ cảm thương mẹ quá đau đớn, một
hôm giữa lúc Thái Bà đang khóc, Giáng Tiên hiện về ôm lấy mẹ mà nói : “-Mẹ
ơi! Con ở đây mẹ khóc gì thế!” Thái Bà ngửng nhìn con, và cả nhà xúm lại hỏi
han, Giáng Tiên nói: “-Con là Đệ nhị Tiên cung phải đầy xuống trần, nay hết
hạn phải về Thiên cung. Cha mẹ có âm công đã vào sổ tiên, mai sau cũng được
đoàn tụ không can gì phải âu sầu.” Nói xong nàng biến mất. Từ ngày nàng hiện
về, người làng biết truyện, gọi nàng là Tiên Chúa.
Kể từ khi Tiên Chúa mất đi, Đào Lang cũng sầu thảm khôn khuây. Để giải
phiền chàng thường ngâm thơ. Một đêm giữa lúc chàng đang ngâm thơ, Tiên
Chúa hiện tới. Chàng vội vàng níu lấy kể lể sự đau khổ của mình. Tiên Chúa
khuyên giải rồi lại biến mất.

70

Từ đó Tiên Chúa thường hiện lên ở khắp nơi.
Có lần ở Lạng Sơn, Tiên Chúa đã cùng Phùng Khắc Khoan đối đáp thơ văn. Lại
có lần ở Hồ Tây, Tiên Chúa cùng Phùng Công làm thơ xướng họa liên ngâm.
Về sau Tiên Chúa hiển Thánh ở Đèo Ngang, Phố Cát, tỉnh Thanh Hoá. Tiên
Chúa hiện ra làm một cô gái nhan sắc mở quán bán nước, những đàn ông con
trai đi qua đùa bỡn bị chết hại rất nhiều. Tin đồn về Triều đình cho là yêu quái,
sai phù thủy và quân tướng đi dẹp. Chẳng ngờ khi đến Đèo Ngang, khi phù thủy
thi thố pháp thuật thì tự nhiên bị ngã lăn ra đất mắt trợn trừng trừng, quân lính
bèn dùng tên lửa bắn vào rừng cây cháy trụi tàn phá hết đền đài. Vài tháng sau,
chứng dịch tễ phát sinh tại địa phương, dân chúng cùng nhau lập đàn cúng tế.
Tiên Chúa ứng lên cho biết mình hiển Thánh. Nhân dân thấy việc lạ, làm sớ tâu
lên Triều đình. Được sớ tâu, Hoàng đế Lê Huyền Tôn hạ chiếu cho Công bộ đến
tận nơi Phố Cát, dựng đền thờ và sắc phong làm Mã-Vàng Công Chúa.
Về sau, vào đời vua Cảnh Hưng, giặc Mèo nổi loạn, triều đình sai Quận Công
Phan văn Phái đi dẹp. Khi kéo quân tới Đèo Ngang, Phan Quận Công vào đền
Tiên Chúa cầu khẩn, và ngày hôm sau tiến quân đánh tan được giặc Mèo.
Trước công trạng ấy, triều đình sắc phong Mã-Vàng Công Chúa làm Chế-
Thắng Bảo-Hoà-Điệu Đại Vương, và đồng thời sai dựng mấy toà Đền ở Sòng
Sơn, Phố Cát, Đèo Ngang để thờ.
Đền Sòng Sơn rất anh linh, cho đến trước thời tiền chiến (1945), hàng năm có
rất đông người tới lễ bái.”

Ghi chú: Trong tài liệu tham khảo không thấy giải thích vì sao nàng Giáng
Tiên, con gái hiền nhân Lê Thái Công (một dân giã ở xã Vân Cát huyện Vụ Bản
tỉnh Nam Định) lại được gọi là LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG biên khảo.

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO GỒM:
-Việt Nam Sử Lược của Trần trọng Kim.
-Hội hè đình đám (quyển thượng) của Toan Ánh.
-Lọ nước thần của Nguyễn Đổng Chi.

71

Nguyễn Huy H ng ng y ng 10 năm 2012, Hemet California
Web http://colhungnguyen.webs.com/

Mến chào Quý Đồng môn Trường Võ bị Quốc gia Việt
Nam,

Tôi không phải là Đại diện Khóa 1 vì không ai bầu cho.
Tôi, và đặc biệt từ ngày sang định cư tỵ nạn Cộng sản tại
Hoa Kỳ vào đầu tháng 8 năm 1992 cho đến nay. Tôi
chẳng gặp ai trong số các Bạn đồng khoá, ngoại trừ 3 vị
Tướng đang định cư tại hải ngoại là Thiếu Tướng Bùi
Đình Đạm tại San Jose, Bắc California, Hoa Kỳ (mới qua
đời ngày 30-5-2009), Trung Tướng Trần Văn Trung tại
Paris Pháp và Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng tại Montreal
Canada.

Trong suốt 20 năm qua Tôi thường xuyên liên lạc với Quý Vị này qua điện thoại và thư
gửi qua Bưu điện.

72

Riêng đối với Tướng Trung và Tướng Xứng chúng tôi còn
hân hạnh liên lạc và trao đổi với nhau các tin tức bài tham
luận chính trị và thơ chống Cộng qua mạng Internet,
nhưng từ khoảng một năm nay tinh trạng sức khoẻ của
các Tướng Trung và Tướng Xứng suy giảm nên quý vị này
không còn liên lạc hàng ngày với Tôi qua Internet nữa.

Theo tin tức của thân hữu từ
bên Pháp, Tôi được biết hiện
có 1 bạn gốc người miền Trung Việt Nam cùng Khoá 1 với
Tôi đang định cư tại Montargis Pháp là anh Đại Tá Nguyễn
Khương nguyên thuộc Binh chủng Truyền Tin nhưng sau
lại di sang định cư tại Hoa Kỳ không biết ở đâu, và mới đọc
được trong cuốn

LƯỢC SỬ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ, do Đại Tá
Trần Ngọc Thống, nguyên Trưởng Phòng Tổng Quản Trị
Bộ Tổng Tham Mưu và 2 vị sĩ quan Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy phối hợp sưu tầm biên
soạn và phát hành vào năm 2011 vừa qua tại khu Little Saigon Nam California, thấy tên
2 bạn cùng khoá thuộc trung đội 1 người miền Nam cũng đang định cư tại Tiểu bang
Virginia Hoa Kỳ là các Đại Tá Nguyễn Quang Sanh, Nguyễn văn Y, nhưng vì không biết
địa chỉ nên chưa hề có cơ hội liên lạc với các anh ấy.

Cuối tháng 12-2012, Tôi nhận được điện thư của Niên Đệ VÕ NHẪN đương kim Tổng
hội trưởng Tổng hội cựu Sinh viên Sĩ quan Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam yêu cầu
Tôi viết bài giới thiệu về Khoá 1 để đóng góp vào cuốn Lịch sử Trường Võ bị Quốc gia
Việt Nam dự trù sẽ phát hành vào năm 2014. Do đó Tôi cố gắng tập trung trí nhớ đang
trong tuổi già nua trên 80 để viết về những gì mà mọi người muốn biết về Khoá 1,
Khoá đầu tiên của Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam được thành lập vào cuối năm 1948
tại Huế sau khi Quốc gia Việt Nam giành đuợc Độc Lập sau hơn 80 năm dưới sự đô hộ
của Thực dân Pháp. Những điều Tôi trình bầy nếu có Bạn nào thuộc Khoá 1 đọc được
thấy có điều gì thiếu sót thì xin vui lòng bổ túc giúp, Tôi chân thành đa tạ.

1.- NGUYÊN NHÂN TRƯỜNG SĨ QUANVIỆT NAM ĐƯỢC THÀNH LẬP.(tiền thân
của Trường Võ bị Quốc Gia Việt Nam)

Sau khi quân Phiệt Nhật đầu hàng vào ngày 15
tháng 8 năm 1945, Liên Hiệp Quốc cử các lực lượng quân
sự của Trung Hoa Dân Quốc và Anh Quốc vào lãnh thổ
Đông Dương để giải giới quân Nhật và tiếp giúp cho các
Dân tộc bản Xứ (Annam, Lào, Cao Miên) tái lập Quốc gia
độc lập thoát khỏi ách đô hộ của Pháp. Trên lãnh thổ Việt
Nam, các Đoàn thể chính trị Quốc gia không theo Cộng
sản hòa hợp với nhóm Việt Minh Cộng sản của Hồ Chí Minh để thành lập chính phủ
Liên Hiệp điều hành đất nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh với tư cách Chủ
tịch Chính phủ Liên Hiệp đại diện đứng ra tuyên bố NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ

73

CỘNG HÒA ĐỘC LẬP không còn lệ thuộc vào Pháp nữa. Nhưng đến ngày 6 tháng 3
năm 1946, Hồ Chí Minh lại lợi dụng danh nghĩa Chủ Tịch Chính phủLiên Hiệp phản bội
Tổ Quốc Việt Nam bằng cách lén lút ký với Saintenay (Đại diện Pháp) đang sống tại
HàNội Bản Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946 chấp nhận cho Pháp đổ quân lên trấn đóng tại
nhiều Thành phố lớn tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam kể cả Hà Nội, sau khi Pháp
đã chiếm và đóng quân tại các tỉnh thuộc miền Nam Vĩ Tuyến 16 của Việt Nam vào cuối
tháng 1 năm 1946.

Đến ngày 19 tháng 5 năm 1946, Hồ Chí Minh và phe Việt Minh của hắn chính
thức đón tiếp quân Pháp đổ bộ lên thành phố cảng Hải Phòng và tiến lên Hà Nội bằng
đuờng bộ. Sau hơn 7 tháng quân Pháp được công khai an toàn đóng quân và củng cố
vị trí an ninh ngay giữa các thành phố lớn, nhiều điều xích mích đã xẩy ra về chia chác
quyền hành cai trị giữa Việt Minh và Pháp ngay trong các thành phố đã không được
giải quyết ổn thoả, nên tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 Hồ Chí Minh và phe nhóm Việt
Minh đã phát động cuộc “tổng tấn công” các điạ điểm trú quân của quân Pháp tại tất cả
các thành phố đang có quân Pháp trú đóng. Nhưng rất tiếc vì trang bị vũ khí thô sơ tổ
chức quân chưa hoàn chỉnh nên Việt Minh đã bị thua phải bỏ các thành thị rút vào
“bưng” để tiếp tục tiêu thổ kháng chiến. Quân Pháp toàn thắng, bắt đầu tái dụng các
Quan lại thời đô hộ cũ và nhóm con lai Pháp lập hệ thống Hành chánh cai trị giúp dân
chúng tái tạo cuộc sống bình thường tại các Đô thị. Chiến tranh tiếp tục lan tràn qua
các tỉnh kế cận Hà Nội đến các vùng nông thôn, dân chúng phải sống giữa 2 gọng kềm
VIỆT MINH và PHÁP vô cùng thảm thương bi đát.

Trước hoàn cảnh đó, các Nhân sĩ Việt Nam thương nước yêu nòi và thành viên
các Đảng phái Quốc gia Không Cộng sản thoát chết sau vụ Việt Minh phản bội tàn sát
hồi đầu năm 1946 đã ngồi lại với nhau tìm giải pháp ôn hòa giành lại Độc lập cho đất
nước mà không phải phung phí xương máu của Dân tộc vì chiến tranh, đã đi đến kết
luận vận động mời Cựu Hoàng Bảo Đại đang lưu vong tại Hồng Kông đứng ra thương
thuyết với Chính phủ Pháp để tái dựng QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG
NHẤT cả 3 miền trong KHỐI LIÊN HIỆP PHÁP. Ngày 19 tháng 8 năm 1947, Cựu
Hoàng Bảo Đại từ Hồng Kông tuyên bố bằng lòng đứng ra tiếp xúc điều đình với Chính
phủ Pháp. Cuộc vận động kéo dài mãi tới ngày 5 tháng 6 năm 1948, trên chiếc tầu biển
DUGUAY TROUIN neo tại Vịnh HẠ LONG Cựu Hoàng Bảo Đại mới tới để chứng kiến
Thiếu Tướng NGUYỄN VĂN XUÂN Thủ Tướng và mấy vị ĐẠI DIỆN CẢ 3 MIỀN BẮC
TRUNG NAM thuộc Chính phủ Trung Ương Lâm thời Việt Nam Thống Nhất, cùng Ông
BOLLAERT (đại diện Chính phủ Pháp) ký bản HIỆP ƯỚC HẠ LONG công nhận QUỐC
GIA VIỆT NAM ĐỘC LẬP THỐNG NHẤT CẢ 3 MIỀN BẮC-TRUNG-NAM trong KHỐI
LIÊN HIỆP PHÁP.

Kể từ ngày giờ đó, Cờ Quốc gia Việt Nam mới là Nền Vàng với Ba Sọc Đỏ nằm
dài chính giữa (theo hình Quẻ Càn của Bát quái trận đồ), và Quốc Ca là bài “Tiếng gọi
công dân” nhạc của Lưu Hữu Phước (nguyên là đoạn 1 của bài “Sinh viên hành khúc”
nhưng lời ca được sửa đôi chỗ. Bài “Sinh viên hành khúc” nguyên thủy gồm 3 đoạn đã
được các Sinh viên Viện Đại học Hà Nội trình bầy hợp ca lần đầu tiên trong buổi trình
diễn văn nghệ ngày 15-3-1942 tại hội trường Viện Đại học để gây quỹ giúp các bệnh
nhân nghèo trong các Bệnh viện nơi Sinh viên Y khoa thực tập.)

74

Một ngày sau khi ký Hiêp Ước Hạ Long tức là ngày 6 tháng 6 năm 1948, Quốc Trưởng
BẢO ĐẠI chỉ thị Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân Thủ Tướng Chính phủ Trung Ương
của nước Việt Nam Thống Nhất cả 3 Miền xúc tiến việc thành lập QUÂN ĐỘI QUỐC
GIA VIỆT NAM (QĐQGVN), khởi sự bằng việc tổ chức TRƯỜNG SĨ QUAN VIỆT NAM
HIỆN DỊCH tại Huế (tiền thân của Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, sau này vào thời Đệ
Nhất Cộng Hoà tại miền Nam do ông Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống lại cải danh
thành TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, có giá trị tương đương với các trường
Võ bị Lục quân Saint Cyr của Pháp và West Point của Hoa Kỳ) để đào tạo cấp Chỉ huy
trước khi thành lập các ĐƠN VỊ TÁC CHIẾN và CƠ SỞ QUẢN TRỊ YỂM TRỢ TIẾP
VẬN HÀNH CHÁNH QUÂN ĐỘI.

Ngày 1 tháng 6 năm 1949, Khóa Sĩ Quan Hiện dịch đầu tiên tốt nghiệp tại Huế
được đặt tên là Khoá BẢO ĐẠI cung cấp cho Bộ Quốc Phòng chính phủ Việt Nam 53
THIẾU ÚY hiện dịch. Đồng thời 4 TIỂU ĐOÀN VIỆT NAM đầu tiên cũng được khởi sự
thành lập tại 2 miền Nam và Bắc Việt Nam: -Tiểu đoàn 1 Việt Nam (Bạc Liêu), - Tiểu
đoàn 2 Việt Nam (Thái Bình), - Tiểu đoàn 3 Việt Nam (Rạch Giá), - Tiểu đoàn 4 Việt
Nam (Hưng Yên). (Bản thân người viết được cái vinh dự là một trong số 53 Sĩ quan
Hiện dịch tốt nghiệp Khoá đầu tiên nêu trên, và được bổ nhiệm về Tiểu đoàn 2 Việt
Nam tuyển mộ thành lập tại Hà-Nội và Hải phòng từ ngày 1-6-1949, việc tổ chức đơn
vị và huấn luyện binh sĩ hoàn tất vào khoảng tháng 10-1949 thì toàn thể Tiểu đoàn
được tập trung tất cả về Hà-Nội và khởi sự xuất phát đi hành quân tiêu diệt Việt Minh
tại các vùng Bắc Ninh, Hoà Bình, Đông Triều, Hưng yên, rồi tiến sang tỉnh Thái Bình trụ
quân tại đó ít lâu sau lại di chuyển về Sơn Tây, Hà Đông, Bắc Ninh, Vĩnh Yên).

2.- ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG TRƯỜNG SĨ QUAN VIỆT NAM.

Cố Đô Huế tại miền Trung Việt Nam là nơi được lựa chọn để xây dựng cơ sở
Trường. Trách nhiệm thực hiện được giao cho Toà Đại Biểu chính phủ tại miền Trung
do Ông Phan văn Giáo lãnh đạo phối hợp với Bộ Chỉ huy Lực lượng Việt Binh Đoàn do
Đại Úy Nguyễn Ngọc Lễ đang làm Chỉ huy trưởng thực hiện, bằng cách chỉnh trang lại
một ngôi biệt thự rộng rãi nằm bên tả ngạn sông Hương của Thị xã Huế, cách cầu
Tràng Tiền chừng mấy trăm thước và gần bên Đập Đá trên đường Lê Lợi hướng đi Phú
Vang. Người Huế quen gọi tên địa điểm này là Saint Benois.

Khu biệt thự biến thành Trường Sĩ Quan Việt Nam này khá rộng, bề ngang 400

mét và sâu khoảng 200 mét, nằm bên phiá trái đường Lê Lợi sát bên bờ sông Hương

đối diện với chợ Đông Ba phía bên kia sông. Suốt mặt tiền sát ngay bên lề phố là một

dẫy tường gạch cao 2 mét, ở khoảng giữa có một cổng rộng chừng 8 mét phía trên gắn

bảng hiệu hình vòng cung sơn mầu xanh lá cây trên kẻ chữ “ECOLE DES OFFICIERS

VIETNAMIENS” mầu vàng. Hông bên trái Trường hướng Tây sát với các nhà dân,

được ngăn bằng một hàng rào kẽm gai cao 2 mét đan ô vuông dầy 20 phân từ lề

đường phố thẳng tuốt xuống tận bờ sông Hương, và có một cổng phụ cho xe hơi tiếp

vận ra vào Trường. Hông bên phải hướng Đông có một dẫy tường đá dầy 40 phân cao

hơn 1 mét để ngăn cách với khu biệt thự kế bên cũng rất rộng đang bỏ trống không

người ở.

Sau này vào năm 1951, khi đào tạo 2 khoá đầu tiên là Khoá 1 (Bảo Đại) và Khoá 2

75

(Quang Trung) xong, thì do quyết định của Quốc trưởng Bảo Đại Trường được di
chuyển vào Đà Lạt bên cạnh hồ Saint Bennois và cải danh thành Trường Võ Vị Liên
Quân Đà Lạt (EMIAD=École Militaire Inter Armes DaLat). Đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà
Tổng Thống Ngô Đình Diệm lại quyết định cho xây cất cơ sở Trường mới thật lớn gần
Hồ Than Thở và cải danh thành Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Sau khi Trường Sĩ Quan Việt Nam bên bờ sông Hương rời về Đà lạt, cơ sở cũ
này được phá đi cùng với biệt thự bên cạnh để xây cất Trường Võ bị Địa Phương
(École Militaire Régionale) thuộc Quân Khu 2, làm nơi đào tạo các Chuẩn Úy (Aspirant)
đáp ứng cho nhu cầu bành trường của Quân đội. Mấy năm sau, Trường Võ bị Địa
phương giải tán thì cơ sở này được giao cho Quân Vụ Thị Trấn Huế quản trị dùng làm
Câu Lạc Bộ và nhà vãng lai cho Sĩ quan độc thân. Sau trận Việt Cộng tấn công chiếm
Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, Tôi được Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham
Mưu chỉ thị dẫn đoàn Tổng thanh tra Quân đội hỗn hợp Việt-Mỹ ra quan sát duyệt xét
tình trạng Quân Y Viện nằm trong thành Mang Cá kế bên Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ
binh (lúc đó do Đại Tá Ngô Quang Trưởng làm Tư Lệnh) nên đã có dịp cư trú trong Câu
lạc bộ Sĩ quan này bên cạnh bờ sông Hương.

Địa điểm tọa lạc của Trường rất an ninh vì nằm ngay trong giữa thành phố Huế,
và cũng rất thuận lợi vì từ các nơi người ta có thể đến Trường bằng cả 3 loại phương
tiện:
a) - ĐƯỜNG BỘ, dùng xe hơi theo Quốc lộ 1 xuyên Việt Nam, hoặc dùng xe hoả theo
tuyến thiết lộ xuyên Việt chạy song song với Quốc lộ 1 nối liền Saigon và Hà Nội;
b) - ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG, dùng máy bay đáp xuống phi trường Phú Bài cách thành
phố Huế khoảng vài chục cây số;

c) - ĐƯỜNG THỦY, dùng tầu thủy cặp bến cảng Đà Nẵng rồi dùng xe hơi chạy theo
Quốc lộ 1 băng qua Đèo Hải Vân lên phía Bắc để tới Huế.

3.- HIỆN TRẠNG CÁC CƠ SỞ TRƯỜNG TẠI HUẾ.

Bước qua ngưỡng cổng chính của Trường vào trong, ngay bên phía trái là
một sân tập họp thật rộng có dựng một cột cao treo cờ Quốc gia Việt Nam (nền vàng 3
sọc đỏ). Tiếp đến ở phần đất bên trái phía sau sân tập họp và cột cờ là một ngôi nhà
ngói khoảng 400 mét vuông dùng làm trụ sở của Ban Giám Đốc Trường gồm văn
phòng Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng, văn phòng Đại Úy Joly Giám đốc Huấn luyện,
các văn phòng của các sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khóa sinh, và
các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur).

Phía bên phải sân tập họp và cột cờ, ngay từ sau cổng vào là Trạm kiểm soát
gồm văn phòng Sĩ quan trực nhật, Phòng Y tế, và nơi ngủ của các lính thuộc Lực lượng
Việt Binh Đoàn canh phòng bảo vệ doanh trại.

Kế đến là một dẫy nhà dài khoảng 50 mét rộng 8 mét dùng làm phòng ăn tập
thể cho khoá sinh, đồng thời cũng dùng làm Giảng Đường lớn khi phải tập trung toàn
Khóa. Bên trong Nhà ăn, ngoài lối đi rộng hơn 1 mét ở chính giữa, suốt chiều dài của

76

nhà có kê 2 dẫy bàn dài bề ngang 1 mét với những dẫy ghế dài không lưng tựa dọc 2
bên để làm bàn ăn, và bàn viết khi cả khoá tập trung nghe thuyết trình hoặc làm bài thi.
Ngay sau lưng Trạm kiểm soát và Nhà ăn tập thể, có 3 dẫy nhà khác nhỏ và ngắn hơn
dùng làm phòng học và sinh hoạt riêng cho từng Trung đội Khoá sinh. Bên trong Nhà
Học riêng của từng Trung đội Khoá sinh được trang trí y như trong một lớp dành cho
các học trò Trung học vậy. Suốt bề dài căn nhà, kê 2 dẫy bàn học trò loại bàn liền ghế
cho 2 người ngồi chung. Nơi đầu phòng có một bảng đen lớn và một bàn viết và ghế
dành riêng cho Huấn luyện viên đến sinh hoạt với khóa sinh.

Tất cả các dẫy nhà đều lợp mái bằng gốc dạ rất dầy, tường chung quanh là
những phên liếp bằng nứa đan. Mỗi nhà chỉ có 2 cửa ra vào tại 2 đầu nhà, dọc hai bên
nhà là 2 dẫy cửa sổ rộng có cánh liếp nâng lên hạ xuống được để thông thoáng gió và
cho ánh sáng lọt vào nhà những khi không bật đèn.

Phía trong cùng của khu đất, dọc theo bờ sông Hương có 2 dẫy nhà dài nối tiếp
nhau dùng làm Nhà Ngủ cho Khoá sinh. Nhà xây tường gạch mái lợp ngói, bề cao từ
nền đến nóc khoảng 5 mét không có lớp trần che cản sức nóng từ nóc nhà phà xuống,
nên mùa Hè rất nóng và ngược lại mùa Đông rất lạnh. Dẫy phía bên trái được ngăn đôi,
một nửa dùng làm kho và phòng ngủ của Thượng Sĩ Nhất Lục Sĩ Mẫn, Hạ sĩ quan phụ
trách Thường Vụ (service général) của Trường, còn nửa kia dành làm phòng ngủ
chung cho Khoá sinh thuộc Trung đội 1 (người từ miền Nam ra). Dẫy bên phải, nửa bên
trái dành cho Khoá sinh thuộc Trung đội 2 (người miền Trung) và nửa bên phải dành
cho Khoá sinh thuộc Trung đội 3 là chúng tôi từ miền Bắc vào.

Dọc theo chiều dài Nhà Ngủ, kê 2 dẫy giường cá nhân bằng gỗ có cọc khung gỗ
để giăng mùng chống muỗi riêng cho mỗi giường. Giường được kê từng cặp sát bên
nhau và một đầu sát tường. Giữa mỗi cặp giường để chừa một khoảng cách 1 mét để
hai người ngồi đối diện không dụng đầu gối chân của nhau. Mỗi giường có một chiếu
bằng cói, và một nệm nằm nhồi cỏ khô và bông gòn có thể gập đôi lại được.

Tại một góc tường bên gần cửa ra vào nơi đầu nhà, có một giá gỗ để gác súng
của Trung đội Khoá sinh. Mỗi Khoá sinh được cấp một khầu súng trường Garant M-1
riêng, để gìn giữ lau chùi và xử dụng trong việc tập luyện thao tác cơ bản, duyệt binh,
tác chiến, và tập bắn. Loại súng này hơi dài và nặng đối với những người có hình vóc
nhỏ thấp, nhưng bắn lại đầm không giật hậu mạnh như các loại Mousqueton và Mas-36
nên trong các kỳ thi bắn dễ đạt được điểm trúng bia rất cao.

Từ đầu Nhà Ngủ của chúng tôi ra đến bờ sông Hương có một con đường đất
rộng khoảng 5 mét. Cuối đường là một sàn gỗ dài rộng khoảng 25 mét vuông, cao hơn mặt
nước sông chừng 30 phân, dùng làm Cầu Bến Tắm Giặt cho khoá sinh. Đặc biệt nước sông
Hương trong vắt có thể nhìn suốt tận đáy, ban đêm nhiều thuyển nhỏ đốt đuốc soi sáng nơi đầu
thuyền bơi dọc ven sông để người ngồi trên dùng cây chĩa đôi bằng sắt đâm xuống nước để
bắt cá. Bên phải con đường xuống Cầu Bến Tắm là Nhà Bếp và phía bên trái con đường nơi
sát bên hàng rào gần bờ sông là nhà vệ sinh công cộng đủ rộng cho cả trăm nguời giải quyết
việc tiểu và đại tiện suốt ngày đêm.

4.- PHƯƠNG THỨC TUYỂN LỰA KHOÁ SINH.

77

Tôi không biết phương thức tuyển lựa khoá sinh tại các miền Nam (Vệ binh Nam Việt) và
Trung (Việt binh Đoàn) đươc quy định như thế nào, nhưng tại miền Bắc thì là do đề nghị của
các Đơn vị trưởng các Đại đội Vệ Binh Bắc Kỳ đề nghị tập trung về Bộ Tư lệnh Vệ binh Bắc kỳ
tổng kết cứu xét tuyển chọn, rồi gửi danh sách đến Bộ Quốc Phòng Chính phủ Quốc gia Việt
Nam quyết định tối hậu. Điều kiện văn hoá tối thiểu khoá sinh phải có bằng Trung học Pháp
hoặc có trình độ học vấn các lớp Trung học và đang phục vụ trong quân đội với cấp bậc Hạ sĩ
quan tốt nghiệp từ các Khóa đào tạo Peleton I, Peleton II của quân đội Pháp, nếu ai đang là
Binh Nhì thì phải có bằng Tú Tài.

Nhóm anh em chúng tôi từ ngoài Bắc vào cùng một chuyến máy bay gồm cả thẩy 14
người: 4 Trung sĩ, 2 Hạ sĩ Nhất, 6 Hạ sĩ, và 2 Binh Nhì, cũng trạc tuổi hoặc hơn Tôi vài ba tuổi.
Chỉ có 5 người Tôi quen thân là Trung sĩ (TS) Nguyễn Khắc Thăng, TS Đàm Quang Yêu, TS
Nguyễn Bá Liêm và TS Lê văn Nhật, hồi Tôi là Binh Nhất học Peleton-1 để ra Hạ sĩ thì các anh
ấy đã là Hạ sĩ vừa tốt nghiệp Peleton-1 được lưu giữ ở lại học tiếp Peleton-2 để ra Trung sĩ.
Còn những người kia biết được tên là nhờ xem tờ Sự Vụ Lệnh do anh Thăng làm trưởng toán
cầm giữ, đó là Binh Nhì (B2) Bùi Đình Đạm, B2 Nguyễn văn Thản, Hạ sĩ (HS) Đàm Quang
Quảng, HS Đàm Quang Đột, HS Phạm văn Khái, HS Đỗ văn Tâm, HS Phan Huy Chương, HS
Phạm Ngần, và Nguyễn văn Thành mang cấp bậc Hạ sĩ Nhất như Tôi nhưng lớn hơn chúng tôi
cả chục tuổi (sau này đang học mới được hơn tháng thì anh Thành rời trường không học tiếp
không biết vì lý do gì).

5.- TẬP TỤC SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA KHOÁ SINH.

A- GIỜ GIẤC SINH HOẠT.

Kèn lệnh được dùng để báo hiệu giờ giấc sinh hoạt hàng ngày.

- 6 giờ sáng thức dậy, làm vệ sinh cá nhân, tập thể dục tập thể tại sân cờ.

- 7 giờ ăn sáng,

- 8 giờ Tập họp tại sân tập trung trình diện Sĩ quan Huấn luyện viên Trực trong ngày, thực hiện
Lễ Chào Cờ, sau đó xuất trại ra hiện trường thao luyện tác chiến, hoặc đi thăm viếng học thực
tập tại các đơn vị chuyên môn, kỹ thuật …

- 11 giờ nghỉ trưa, ăn bữa trưa, chuẩn bị cho sinh hoạt buổi chiều.

- 13 gìờ thức dậy.

- 14 giờ tập họp trong nhà ăn tập thể để tham dự các môn học lý thuyết căn bản về quân sử,
tham mưu, quản trị, điều hành, chiến lược, chiến thuật, tổ chức đơn vị tác chiến… do Huấn
luyện viên thuộc trường giảng dậy, hoặc nghe các giảng viên ngoài trường đến thuyết trình các
đề tài tổng quát thuộc các lãnh vực liên quân chủng trong quân đội.
- 18 giờ nghỉ, dùng bữa tối.
- 21 giờ điểm danh tối và tắt đèn ngủ.

B . - NHỮNG QUY LUẬT BẮT BUỘC KHOÁ SINH PHẢI THEO.

78

- Ban ngày trong giờ sinh hoạt, phòng ngủ của Khóa sinh phải thường xuyên sắp xếp thật ngăn
nắp theo cùng một khuôn mẫu như nhau:

Mùng phải tháo ra khỏi khung gập lại xếp ngăn nắp cùng với gối và mền để phía đầu giường
sát tường, rồi gập đôi nệm đè lên sao cho thật vuông vắn đẹp mắt.

Vali và túi đựng quần áo và tư trang riêng phải để gọn gàng dưới gầm giường phía sát tường.
- Quần áo cá nhân cần giặt ủi, phải tập trung đưa nhà thầu nhận giao hàng ngày hoặc tự mang
ra các tiểm giặt ủi tư nhân ngay 2 bên đường phố cạnh Trường.

- Đến giờ ăn các Trung đội tập họp ngoài sân rồi lần lượt theo nhau vào kiếm chỗ ngồi ăn 4
người một mâm. Cơm và thức ăn đã được nhân viên nhà bếp (do nhà thầu tư nhân đảm trách)
bầy sẵn từng mâm có lồng bàn đậy cản ruồi trên các bàn.

Thức ăn hàng bữa gồm 3 món (xào, mặn, và canh) nấu theo khẩu vị người Trung và thường là
hơi ít không đủ no. Bữa điểm tâm nào cũng là xôi đậu (ăn xường xượng như có lẫn gạo tẻ)
chấm muối mè có bỏ thêm chút đường cát trắng. Đa số anh em thường phải ăn quà thêm, bún
bò, cháo huyết, bánh mì cặp thịt, mua của các gia đình tư nhân ở sát hàng rào bên hông
Trường, hoặc bánh xèo “Mụ Béo” ngay bên kia đường trước cổng Trường bán cho ăn chịu ghi
sổ cuối tháng lãnh lương mới trả.

6- NHỮNG KỶ NIỆM CHÍNH KHÓ QUÊN VỀ KHOÁ 1.

A . - NGÀY NHẬP TRƯỜNG.

Chúng tôi được xe của Đơn vị đưa đến trình diện tập trung tại Trung tâm huấn luyện Hạ
sĩ quan Vệ binh Bắc Kỳ tại Trại Ngọc Hà Hà-Nội trước 8 giờ sáng ngày Thứ Bẩy khoảng cuối
tháng 9 đầu tháng 10-1948 (Tôi không nhớ ngày chính xác). Đợi đến khoảng 9 giờ thì được
một Thượng sĩ Pháp đến mời lên xe để di chuyển qua cầu Long Biên sang phi trường Gia Lâm
làm thủ tục ghi danh cân hành lý đi máy bay của hãng Hàng Không Dân Sự Pháp SITA. Máy
bay đưa chúng tôi đi là loại hai động cơ, cửa cho hành khách lên xuống được mở ra ở phía đầu
phi cơ ngay phía bên dưới phòng lái của phi hành đoàn. Đi chung phi cơ với chúng tôi là
khoảng 20 hành khách dân sự.

Làm xong thủ tục chúng tôi được dẫn vào phòng VIP đợi giờ lên phi cơ, thì Đại Tá Tư
Lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ và Đại úy Fauvel Liên Đoàn Trưởng Vệ Binh Biên phòng miền Đông Bắc
Kỳ bước vào thăm hỏi bắt tay chúng tôi. Họ chúc chúng tôi đi đường bình an giữ gìn sức khoẻ
cho tốt, và nhất là chăm chỉ học hành đạt kết quả tốt để sau này về chỉ huy các đơn vị Vệ Binh.

Sau khoảng hơn một giờ bay cao tít trên các tầng mây, máy bay bắt đầu hạ cao độ lượn
vòng đáp xuống phi trường Phú Bài gần Huế. Đây là một phi trường dùng chung cho cả máy
bay quân sự và dân sự, nằm dài trên dải đất giữa Biển Đông và dẫy Trường Sơn trùng điệp
cao vút rậm rạp cây rừng. Trung úy Trần Nguyên An thuộc Bộ chỉ huy Lực lượng Việt Binh
Đoàn (do Đại úy Nguyễn Ngọc Lễ chỉ huy, đến thời Đệ Nhất Cộng Hoà ông Lễ được Tổng
Thống Ngô Đình Diệm cất nhắc thăng cho lên đến cấp Trung Tướng, về sau các đơn vị Việt

79

Binh Đoàn được cải biến thành các Tiều đoàn Bộ binh Quân đội Quốc gia Việt Nam) đợi đón
chúng tôi và hướng dẫn về Trường. Trung Úy An là Tham Mưu Trưởng của Lực Lượng Việt
Binh Đoàn.

Xe chở chúng tôi rời phi trường chạy trên Quốc lộ 1 song hành với đường xe lửa xuyên
Việt, được khoảng mấy chục cây số thì tới vùng An Cựu đồi Tam Thai (nơi có Trường huấn
luyện Hạ sĩ quan cho Lực lượng Việt Binh Đoàn, có ga xe lửa An Cựu, có doanh trại của đơn vị
Thiết giáp Pháp), qua chợ An Cựu, qua thêm một quãng đồng trống thì bắt đầu vào Khu Pháp
(quartier francais) bên tả ngạn sông Hương của Thị xã Huế. Xe đến đầu cầu Tràng Tiền rẽ phải
theo con đường Lê Lợi đi về phía Đập Đá trên đường đi Phú Vang chớ không qua cầu, được
chừng mấy trăm thước thì đến Trường.

Chúng tôi đến Trường đúng vào trưa ngày Thứ Bẩy nghỉ, tất cả Khoá sinh nhập Trường
trước chúng tôi đều đi dạo phố hoặc về thăm gia đình nên Trường vắng tanh. Tuy nhiên nhà
thầu đã được thông báo trước nên đã chuẩn bị sẵn sàng cơm bữa cho chúng tôi dùng không
phải ra phố.

Vừa ổn định chỗ nằm xong, anh Tôn Thất Tương (khoá sinh người miền Trung) đang thi
hành trách vụ Sĩ quan Trực Nhật ghé vào thăm làm quen với chúng tôi. Anh Tương tự giới
thiệu mình là người thuộc Hoàng Tộc, nên có nhà ở ngay trong Thành Nội có 3 cơ sở nổi tiếng
của Triều đình Huế là Điện Cần Chánh, Điện Kiến Chung và Điện Thái Hoà. Anh rủ chúng tôi
muốn đi xem, sáng sớm hôm sau là Chủ Nhật anh ấy sẽ đến đón và dẫn đi coi. Các anh Liêm,
Yêu, Nhật, Thản, Đột, Tâm và Tôi nhận lời nhờ anh Tương hướng dẫn.

Sáng hôm sau, anh Tương đến dẫn chúng tôi ra khỏi Trường, qua cầu Tràng Tiền rẽ trái
đi theo đường Trần Hưng Đạo đến Cửa Thượng Tứ để vào Thành Nội. Trước nhất, anh Tương
dẫn chúng tôi vào giới thiệu với bà xã, sau đó đi thăm Điện Cần Chánh (nơi lưu giữ chiếc ngai
vàng để Vua ngồi, áo Cẩm Bào, Vương miện, và nhiều đồ quý khác bằng ngọc thạch hoặc
vàng). Tiếp đó là Điện Kiến Chung gần cửa Hoà Bình (nơi Vua ngồi ký các Chiếu Chỉ, Sắc
lệnh), rồi đến Điện Thái Hoà (nơi họp Đại Triều), sân trưng bầy Cửu Đỉnh (chín chiếc lư hương
thật to cao hơn đầu người đúc bằng đồng), các Khẩu Thần Công, Kỳ Đài, Ngọ Môn Quan (chỉ
mở để đón tiếp Sứ Thần các nước tới yết kiến Vua), Hồ Tĩnh Tâm gần thành Măng Cá. Thăm
Thành Nội xong, chúng tôi trở ra phía Cửa Thượng Tứ rẽ phải đi dọc theo con đường Nguyễn
Hoàng, đến khoảng trước Ngọ Môn Quan băng qua đường để xem Bến Trương Bạc ngay tại
bờ sông Hương. Tít xa nơi tận cùng đường Nguyễn Hoàng là cầu Bạch Hổ bằng sắt bắc ngang
sông Hương cho xe lửa chạy qua, và Tháp Chùa Thiên Mụ phía bên này bờ sông.

Quay trở lại đầu cầu Tràng Tiền đi hết con đường Trần Hưng Đạo là Chợ Đông Ba và
Cầu Gia Hội (bên kia cầu có một nhà hàng cơm Tầu rất được khách sành ăn hâm mộ). Phía
sau và bên hông Chợ Đông Ba là bờ sông dầy đặc thuyền làm nhà ở, nhiều chiếctrong số này
cho thuê để khách làng chơi ngày đêm xuống ăn nhậu mua vui nghe các ca nhạc sĩ cổ nhạc Hò
Huế... Nhìn qua bên kia bờ sông, thấy 2 dẫy Nhà Ngủ của Khoá sinh chúng tôi và Nhà Bếp nằm
dài tiếp nối nhau suốt bề ngang khu đất Trường và chiếc Cầu Bến Tắm. Nhìn xuôi sang phía
trái thêm khoảng nữa là Đập Đá, và ngoài xa xa thấy Cồn Hến nổi lên bập bềnh cản dòng chẩy

80

của sông Hương.

B . - NGÀY KHAI GIẢNG KHOÁ HỌC.

Có lẽ chúng tôi từ ngoài Bắc vào là nhóm khóa sinh trình diện Trường trễ nhất, vì chúng tôi
tới Trường vào trưa Thứ Bẩy cuối tuần thì ngay sáng Thứ Hai đầu tuần tất cả mọi người tập
họp ngồi trong Nhà ăn để làm thủ tục Khai giảng Khóa học. Lúc đó được coi là giây phút đầu
tiên anh em toàn khóa thấy mặt nhau đầy đủ.

Anh em Trung đội 3 chúng tôi có sĩ số ít nhất (chỉ có 14 người so với 2 Trung đội kia là
21 hoặc 22), số tuổi trung bình cũng trẻ nhất, và cấp bậc cũng nhỏ hơn các anh trong các
Trung đội 1 và 2 toàn là Trung sĩ Nhất, Thượng sĩ và Thượng sĩ Nhất thâm niên. Có điều đặc
biệt đáng chú ý là quân phục của anh em không đồng nhất, vì được tập trung từ nhiều loại đơn
vị có nguồn gốc khác nhau trên toàn quốc. Trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu, Đại Úy Joly
Giám đốc Huấn luyện giới thiệu các Sĩ quan Huấn luyện viên kiêm Trung đội trưởng Khóa sinh,
và các Hạ sĩ quan phụ tá (moniteur) của từng Trung đội.
- Trung Úy Petdedieu và HSQ moniteur (không nhớ tên) phụ trách Trung đội 1 gồm toàn người
từ miền Nam ra.
- Trung Úy Scuarnec và Adjudant Chef DO phụtrách Trung đội 2 gồm anh em thuộc miền
Trung.
- Và người phụ trách Trung đội 3 chúng tôi là Trung Úy Besson và Sergent Kervenic (cả Trung
Úy Besson và Trung sĩ Kervenic đều còn rất trẻ, tính tình rất hiền lành và tốt bạn, không như
Thượng sĩ Nhất DO lúc nào cũng tỏ ra quan trọng và nghiêm khắc).

Buổi lễ khai mạc khóa rất đơn giản, không có khách bên ngoài tham dự, chỉ có một mình
Trung Tá Chaix Chỉ Huy Trưởng vào ra mắt chào mừng chúng tôi và nhắn nhủ mấy điểm chính
yếu sau:
(1 ) - Vì phần lớn đã là Hạ Sĩ Quan thâm niên có nhiều kinh nghiệm trong các hoạt động quân
đội, nên một phần Chương trình của Khóa học được cắt bỏ bớt, do đó thời gian Khóa học sẽ
ngắn hơn dự liệu nên chỉ còn khoảng 8 tháng.
(2) - Kể từ ngày nhập Trường, ai chưa là Hạ sĩ Quan sẽ được thăng cấp Trung sĩ và lãnh lương
hàng tháng theo cấp bậc này, những người khác có cấp bậccao hơn tiếp tục lãnh lương theo
cấp bậc hiện tại của mình.
(3) - Mọi người phải cố gắng học hành để đạt kết quả tốt, nhằm cung ứng nhu cầu Sĩ quan cho
các đơn vị thuộc Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ bắt đầu thành lập vào năm 1949. Các Sĩ quan
Huấn luyện viên toàn là những người tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Saint Cyr của Lục quân Pháp,
sẽ giúp đỡ hướng dẫn các bạn học hành được dễ dàng, nếu có điều gì cảm thấy chưa thông
hiểu rõ ràng cặn kẽ thì đừng ngại ngùng tham vấn quý vị ấy giúp đỡ bổ túc cho.
(4) - Nhà trường sẽ cung cấp ngay cho mọi người có đồng phục mới để cho được đồng nhất,
và cũng kể từ hôm nay không ai mang cấp bậc cũ của mình nữa. Mọi người sẽ mang trên cầu
vai áo huy hiệu Sinh Viên Sĩ Quan (ký hiệu Alpha bằng đồng mầu vàng gắn trên coulissant dạ
(nỉ) mầu đen), đội calot nỉ đen trên đỉnh mầu vàng và 2 bên cạnh viền chỉ kim tuyến. Như vậy
mọi người sẽ nhận biết rõ ràng các bạn đanglà Sinh viên của Trường đào tạo Sĩ quan Việt
Nam, do đó các bạn phải giữ gìn phong thái tư cách cho thật đàng hoàng, đừng làm gì tổn hại

81

đến thanh danh cá nhân và Nhà Trường.

C . - ĐỒNG PHỤC KHOÁ SINH.

Đồng phục làm việc thường của chúng tôi là đồ short vải kaki vàng. Quần ống ngắn tới
đầu gối, áo sơmi ngắn tay cổ bẻ, giầy da thấp cồ mầu nâu xậm, và tất (vớ) len dài tới dưới đầu
gối cùng mầu với quần áo. Đồng phục dạo phố cũng bằng kaki, quần dài, áo sơmi dài tay với 2
túi ngực có nắp, cổ thắt cà vạt nỉ mỏng mầu ô-liu. Vào mùa Đông dùng quần áo dạmầu ô-liu
xậm (áo blouson). Mũ calô nỉ đen đỉnh vàng 2 bên viền kim tuyến, được dùng chung cho tất cả
các loại đồng phục. Quần áo lãnh về có người mặc không vừa phải thuê sửa lại. Những bạn dư
giả tiền thích mặc quần áo đẹp, thì đến các tiệm may ngoài phố đặt cắt may bằng những hàng
vải kaki đẹp đắt tiền để trưng diện lúc ra đường cho được vừa ý.

Có điều làm chúng tôi rất hãnh diện là từ ngày chúng tôi mặc đồng phục mang cầu vai
Alpha ra đường, mọi Hạ sĩ quan và Binh sĩ gặp chúng tôi, họ đều chào kính chúng tôi đúng theo
cung cách chào kính Sĩ quan vậy.

D . - SĨ SỐ KHOÁ SINH TOÀN KHOÁ.

Một tuần lễ sau ngày khai giảng khóa học, có thêm 6 khoá sinh đến trình diện. Ban
Giám đốc bổ sung vào Trung đội 3 chúng tôi. Các bạn ấy là Nguyễn Hữu Có, Cao Hoàng Phiên
(người miền Nam), Tôn Thất Đính, Lê Huy Luyện (người miền Trung), và Trần Thượng
Phương, Trần văn Khoái (người miền Bắc). Anh Phương nguyên là Thượng sĩ Lính Khố Xanh
(Garde Indigène) thời Pháp thuộc, tuổi đời cao hơn chúng tôi khoảng hai chục, là thân phụ của
Trần Đình Thọ sau này cũng theo học Trường Võ bị Đà Lạt và trước 30-4-1975 Trần Đình Thọ
đã được thăng lên đến Chuẩn Tướng làm Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu.

Thế là tổng số Khoá sinh tăng lên 64 người. Nhưng ngày mãn khoá chỉ có 63 người, vì
anh Thành già thuộc Trung đội chúng tôi bỏ học nửa chừng.

E .- CHƯƠNG TRÌNH VÀ THỜI BIỂU HỌC.

Chương trình học của chúng tôi gồm toàn các môn thuộc lãnh vực quân sự, không có
chút nào thuộc lãnh vực bổ túc văn hoá tổng quát.Các môn học về tổ chức quân đội, lịch sử
quân đội, lãnh đạo chỉ huy, kỹ thuật tác chiến, lệnh hành quân, chức năng tổng quát quân vụ,
xử dụng Liên binh, thể dục quân sự (EPM=Éducation Phisique Militaire), quân sử các trận Đại
chiến Thế giới... đều do các Huấn luyện viên cơ hữu của Trường đảm trách giảng dạy. Còn các
môn chuyên nghiệp khác như trách vụ các Phòng tham mưu, Hành chánh Tài chánh,Quân
Nhu, Quân Cụ, Truyền Tin, Pháo binh, Công binh, Thông vận binh, Thiết giáp, Quân cảnh,
Quân bưu, Hải quân, Không quân... đều do các Sĩ quan chỉ huy thuộc các ngành liên hệ được
Ban Giám đốc trường mời đến thuyết giảng và khảo hạch.

Thời biểu học hàng ngày thường là buổi sáng học ngoài đồng, buổi chiều trong chu vi
Nhà Trường. Bãi tập thường xuyên hàng ngày là sân vận động Huế và các vùng phụ cận như:
Xóm Mới, khu quán Cơm Âm Phủ, Chợ Cống. Thời gian học thực hành tác chiến trong thành
phố thì vào Thành Nội, tại vùng quanh sân bay, Hồ Tĩnh Tâm và khu thành Mang Cá. Khi học

82

các chương trình hành quân băng đồng, lục soát làng xóm, bảo vệ xa lộ và thiết lộ, thì xuống
vùng quanh chân núi Ngự Bình từ Ga An Cựu xuống tới phi trường Phú Bài. Bãi tập luyện bắn
và thi bắn các loại súng nằm sát ngay bên Trung tâm huấn luyện Hạ sĩ quan Việt Binh Đoàn tại
chân núi Ngự Bình.

MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN CỦA RIÊNG TÔI.

Ngày 21-1-1949 là Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu, Trường đóng cửa 1 tuần lễ, các bạn
người miền Trung về nhà xum họp ăn Tết với gia đình, các bạn người Nam và chúng tôi ở lại
Trường ăn Tết với nhau. Trong thời gian rảnh rỗi này, mỗi người tùy theo túí tiền và sở thích, đi
xem Chiếu bóng, Hát Bộ miền Trung, thưởng thức các món ăn tại các nhà hàng cơm Tây, cơm
Tầu, cơm miền Trung, thuê thuyền thả trôi giữa dòng Hương giang ăn nhậu nghe ca hát, hoặc
đi các Chùa, Nhà Thờ cầu nguyện và ngắm người ta ăn diện quần áo mới, chứ không dạo phố
vì các tiệm buôn bán và Chợ đều đóng cửa ăn Tết.

Nhân dịp đầu Xuân, Tôi đã cảm hứng mấy vần thơ kỷ niệm sau đây:

XUÂN NHẬP CUỘC

Mưa Xuân bàng bạc phủ dòng Hương,
Gió thoảng êm êm vuốt mái trường.
Vạn xác pháo tan hoà tiếng chúc,
Sáu ba (63) hiền họp kết tình thương.
Bên nhau thề quyết nung rèn chí,
Tốt nghiệp chung lo giữ mối giềng.
Học hiệu Liên quân mừng đón Tết,
Tương lai hứa hẹn rạng như gương./.

F . - THỬ LỬA BỔ TÚC CHO CÁC BÀI THI MÃN KHOÁ.

Vào giai đoạn chót của Khoá học trước khi mãn khoá, chúng tôi được đem đi “Thử Lửa”
(Baptême du feu) bằng 2 đợt. Vào cuối tháng 4-1949, cả khoá tập thiết kế và thực hiện cuộc
hành quân cấp Đại đội đánh chiếm “làng cùi” (không người ở) trong vùng núi Bạch Mã, có Thiết
vận xa trang bị Đại Liên 50 Súng Cối 81 ly tháp tùng, Pháo binh 105 tại Phi trường Phú Bài và
phi cơ khu trục từ Đà Nẵng ra bắn đạn thật yểm trợ tại chiến trường theo yêu cầu.

Qua đầu tháng 5-1949, cả khóa lại được đưa đi quan sát mặt trận do Bộ Chỉ Huy Khu
Quân Sự Pháp tại Huế khai triển cuộc hành quân đánh chiếm Chiến khu Lương Miêu của Việt
Cộng. Chúng tôi được chia ra thành nhiều toán, ngồi trên các xe lội nước (amphibie) xuất phát
từ cầu Bạch Hổ lội ngược dòng sông Hương lên phía thượng nguồn đến tận khu vực xa hơn
Lăng Gia Long. Đến khu vực hành quân, chúng tôi rời xe lội nước lên bờ thăm Bộ chỉ huy Hành
quân đóng trong các lều vải trên sườn đồi kếcận bờ sông để nghe thuyết trình về tình hình diễn
tiến của mặt trận. Sau đó băng rừng đi thăm các đơn vị đang giáp chiến, đến chiều tối mới lên
tầu chuyển vận trên sông trở về Trường.

G . - LỄ MÃN KHOÁ.

83

Để chuẩn bị cho lễ mãn khoá, Ban Giám đốc trường đưa nhà thầu may quân phục vào đo
cắt may cho chúng tôi mỗi người một bộ Đại Lễ bằng kaki (quần dài, áo bốn túi), một cặp cầu
vai nỉ đen trên có gắn ký hiệu Alpha vàng phía đầu vai với cờ Việt Nam ở chính giữa và nút mạ
vàng khắc con rồng nổi ở đầu cầu vai nơi sát cổ áo. Một nhà mát mái lợp dạ, ba bềvách lửng
bằng cót cao hơn 1 mét, được dựng lên sát tường chiếm hết phần ba sân tập họp bên cột cờ,
để làm khán đài kê ghế dành cho quan khách đến dự lễ.

Một sự kiện đặc biệt không ai ngờ là Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đã nhận được
lệnh dẫn một phái đoàn Khoá sinh đại diện Khóa đáp máy bay đi Đà-Lạt trình diện Quốc trưởng
Bảo Đại. Tôi không nhớ rõ số người đi là bao nhiêu và cũng không biết tên những anh em trong
các Trung đội 1 (người Nam)và Trung đội 2 (người Trung), nhưng chắc chắn toàn là những
người xếp hạng đỗ cao, riêng Trung đội 3 chúng tôi thì có 2 người là các anh Nguyễn Hữu Có
và Nguyễn Khắc Thăng.Giữa tháng 5-1949, Lễ Mãn Khoá được tổ chức đưới sự chủ tọa của
ông Phan Văn Giáo Thủ Hiến Trung phần Vìệt Nam đại diện Quốc Trưởng Bảo Đại, với khoảng
100 quan khách Việt Pháp tham dự (trong đó có một số thân nhân của các bạn người miền
Trung). Chương trình diễn tiến như sau:

Nghi thức quân cách đón chào Chủ toạ,Lễ thượng Quốc Kỳ Việt Nam (không có cờ
Pháp), Khóa sinh đồng ca bản Quốc Ca Việt Nam (Tiếng gọi Công dân),Nhạc Tưởng niệm Tử
Sĩ (ban quân nhạc Việt Binh Đoàn hoà tấu),Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường đọc Diễn
văn phúc trình tổng lược kết quả diễn tiến chưong trình huấn luyện và trỉnh diện Khóa sinh,

Thủ Khoa là anh Nguyễn Hữu Có bước ra đứng trước toàn khóa đang xếp 2 hàng ngang
trước khán đài, hô to: “A genoux les hommes!” (Quỳ xuống các người!). Mọi người cùng quỳ
đầu gối phải xuống đất, chắp 2 tay lên đầu gối trái chờ lệnh, và anh Có cũng quỳ xuống tại
chỗ.Trung Tá Chaix đến gần ghế ngồi của Chủ tọa (nói gì và Chủ tọa nói gì, ở xa không nghe
được) sau đó quay ra nói lớn đại ý: “Hoàng Thượng chiếu chỉ đặt tên cho khoá là KHÓA BẢO
ĐẠI”, rồi hướng dẫn Chủ tọa ra sân gắn cầu vai Alpha lên 2 bên vai áo cho Thủ Khoa Có. Trong
khi đó thì 2 hàng Khoá sinh quay mặt đối diện nhau và người nọ gắn cầu vai Alpha lên vai áo
cho người kia.Thủ tục gắn cầu vai Alpha xong thì Chủ tọa trở về đứng trước ghế Danh dự của
mình, Thủ Khoa Có đọc lời “tuyên thệ”, đại ý: “Chúng tôi xin tuyên thệ, Trung thành với Tổ quốc
Việt Nam, Quyết hy sinh để bảo vệ nền Độc lập Thống nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam
trường tồn cường thịnh, Luôn luôn nêu gương bảo vệ Danh dự của một cấp chỉ huy”. Toàn thể
Khoá sinh cùng đưa thẳng tay phải ra trước mặt và đồng thanh đáp lời: “Je le jure!” (Tôi xin
thề!). Chủ tọa lên tiếng chấp nhận lời thề và đưa tay ra dấu cho mọi người đứng lên. Thủ Khoa
Có đứng lên hô lớn:“Debout les Officiers!” (Đứng lên các Sĩ quan!). Mọi người đứng thẳng lên
giữa những tràng pháo tay mừng vang dạy ròn rã của toàn thể Quan Khách.

Tiếp ngay lúc đó, Trung Tá Chaix Chỉ huy trưởng Trường lại mời Chủ tọa ra trao cho Thủ
Khoa Có cây kiếm và chiếc cung cùng với bao mang 4 mũi tên, rồi hướng dẫn Chủ tọa trở về
ghế ngồi.Thủ Khoa Có đứng nghiêm rút kiếm ra khỏi vỏ làm động tác chào kính xong tra kiếm
trở lại vỏ, rồi cầm cây cung lần lượt quay sang bốn hướng bắn 4 mũi tên đi, để biểu tượng cho
ý chí “tang bồng hồthỉ” của người Chiến sĩ quyết tâm đi khắp bốn phương trời để thi hành
nhiệm vụ của mình.

Buổi lễ Mãn Khoá được kết thúc bằng 2 nhạc khúc “Chiến sĩ anh hùng” và “Bạch Đằng
Giang” do anh em Trung đội 3 chúng tôi hợp ca 3 giọng với sự đệm đàn của anh Tôn Thất
Đính, và 3 hoạt cảnh diễn tả câu truyện lịch sử “Trận Đống Đa” do quân Quang Trung chiến
thắng quân Tầu vào dịp Tết Nguyên Đán tại Thành Thăng Long, do anh em các Trung đội 1 và
2 phối hợp thực hiện.

MÃN KHÓA NHƯNG NIỀM VUI CHƯA TRỌN VẸN.

84

Lễ mãn khoá có thể coi là trang đầu tiên của cuốn nhật ký đời binh nghiệp SĨ QUAN
QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM được mở ra cho toàn thể Sinh viên Sĩ quan Khóa 1 (Bảo
Đại) Trường Sĩ quan Việt Nam chúng tôi.

Nhưng có một điều thắc mắc lớn khiến mọi người phải suy nghĩ mừng lo lẫn lộn ngay sau
khi dự Lễ Mãn Khoá là, ai được chấm đậu lên Thiếu Úy, ai không? ngoại trừ anh Nguyễn Hữu
Có Thủ Khoa, vì Nhà Trường không tuyên bố kết quả xếp hạng ra Trường. Mọi người rời
Trường với ký hiệu Alpha không phải là cấp bậc được quy định trong quân đội lúc bấy giờ, tiếp
tục lãnh lương theo cấp bậc cũ của mình, và Sự vụ lệnh rời Trường trở về đơn vị cũ ghi là
Élève Officier X... Phải đợi đến 2 tuần lễ sau hết phép mãn khóa trình diện đơn vị mới có thể
biết mình được thăng cấp Thiếu Úy hay không.

Cá nhân Tôi, sáng 1-6-1949 đến trình diện Bộ Tư Lệnh Vệ Binh Bắc Kỳ tại Hà Nội, thì
nhận được Sự vụ lệnh đến trình diện Tiểu đoàn 2 Việt Nam mới thành lập doanh trại đóng tại
Thành Lính Khố Xanh (Garde Indigène) của Pháp cũ trên đường Đồng Khánh (sau này Nhà
nước Việt Cộng đổi là đường Hàng Bài) đối diện với rạp chiếu bóng Majestic. Đến nơi Tôi gặp
các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi Đình Đạm, Lê Văn Nhật, Đàm Quang Yêu, và Trần Thượng
Phương cũng được bổ nhiệm về Tiểu đoàn này.

Thiếu Tá Vũ Văn Thụ Tiểu Đoàn Trưởng (về sau có thời gian được thăng đến cấp Đại Tá
Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Miền Bắc của Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội, État
Major Nord Vietnam)tiếp chúng tôi trong văn phòng, với sự hiện diện của các Đại đội trưởng:
Đại Uý Phạm Văn Cảm (ĐĐ1), Đại Úy Nguyễn Văn Yến (ĐĐ3), và Trung Uý Phạm Ngọc
Thuyên (ĐĐ Chỉ Huy). Các Vị này đều lớn tuổi cỡ trên 40, nguyên gốc thuộc các đơn vị trong
Binh đoàn thuộc địa của Pháp tại Đông Dương từ trước 1945, khi chuyển sang phục vụ trong
Quân đội Quốc gia Việt Nam được đương nhiên thăng lên một cấp bậc cao hơn cũ.

Thiếu Tá Thụ cho người trịnh trọng đọc Sắc lệnh do Quốc Trưởng Bảo Đại ký, thăng cấp
Thiếu Úy cho chúng tôi kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1949, rồi ông đích thân gắn cấp hiệu mới
(một vạch vàng như của quân đội Pháp) lên cầu vai áo cho chúng tôi. Sau tiệc rượu
champagne khao lon rất đơn giản nhưng ấm cúng thích thú được tố chức ngay trong văn
phòng Tiểu đoàn trưởng, mỗi người chúng tôi nhận một Sự vụlệnh đi đáo nhậm đơn vị mới của
mình. Thiếu Úy Bùi Đình Đạm về ĐĐ1, Thiếu Úy Đàm Quang Yêu về ĐĐ3, các Thiếu Úy Trần
Thượng Phương và Lê Văn Nhật về ĐĐ Chỉ huy, cả 3 Đại đội này đều đồn trú ngay trong
doanh trại Tiểu đoàn. Còn Thiếu Úy Nguyễn Khắc Thăng và Tôi (Thiếu Úy Nguyễn-Huy Hùng)
về ĐĐ2 đang đồn trú tại Trại Lạch Tray (trại lính Khố Xanh của Pháp cũ) trong thành phố cảng
Hải Phòng, do Đại Úy Nguyễn Văn Vĩnh (cũng thuộc gốc Binh đoàn thuộc địa Pháp trước 1945)
chỉ huy. Do đó, ngày hôm sau, anh Thăng và Tôi phải đáp xe hỏa rời Hà Nội xuống Hải Phòng
đáo nhậm đơn vị.

H . - MỘT PHẦN THƯỞNG BẤT NGỜ, CHÍNH PHỦ QUỐC GIA DÀNH CHO 20 NGƯỜI
ĐỨNG ĐẦU DANH SÁCH TRÚNG TUYỂN SĨ QUAN KHOÁ 1 (BẢO ĐẠI).

Đến đầu tháng 10-1949, anh Nguyễn Khắc Thăng người đậu Thứ Hai của toàn khóa
đang ở cùng Đại đội với Tôi tại Hải Phòng được lệnh trình diện BộQuốc Phòng tại Saigon để
làm thủ tục xuất ngoại du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Thế là Đại đội chỉ còn 2
Sĩ quan, Đại Úy Vĩnh Đại Đội Trưởng và Tôi Trung đội Trưởng Súng Nặng kiêm Đại Đội Phó.

Sau khi tới Pháp, anh Thăng biên thơ về thông báo cho Tôi biết là anh đang theo học
Khoá Bổ túc Thực hành Bộ Binh (École d’Application de l’Infantery)cùng với các Thiếu Úy Pháp
tốt nghiệp Trường Võ bịSaint Cyr và bạn cùng tốt nghiệp Khoá 1 của chúng tôi là: các Thiếu Úy
Nguyễn Văn Thiệu (sau này là Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam),
Đặng Văn Quang, Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Chuân, Trần Văn Hổ. Cũng trong thời gian đó
thì anh Tôn Thất Xứng học tại trường Thiết Giáp Binh Saumur (về sau các anh Thiệu, Quang,
Trung, Chuân và Đính đã được thăng lên cấp Tướng), và người sau cùng là anh Nguyễn
Quang Sanh học Trường Hiến Binh tại Melon. Vào năm 1953, anh Nguyễn Khắc Thăng bị

85

thương cụt một chân tại miền Bắc được du học Pháp lần thứ 2, và sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ
Huy Tham Mưu (École Supérieure de Guerre) tại Paris về anh Thăng được bổ nhiệm làm Huấn
luyện viên tại Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, ít lâu sau qua đời vì tai nạn xe hơi.

Riêng phần cá nhân Tôi, sau mấy tháng tổ chức huấn luyện đơn vị hoàn tất, Đại đội 2
của chúng tôi nhận được lệnh rời Hải Phòng di chuyển về Hà Nội vào ngày 18-10-1949 để
nhập cùng Tiểu đoàn khởi sựđi hành quân liên tiếp tại các vùng Phù Lưu Đình Bảng tỉnh Bắc
Ninh, Hoà Bình, Đông Triều Phả Lại, Kẻ Sặt Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Vân Đình Sơn
Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Yên... Tôi nhớ kỹ ngày 18-10-1949 vì đó là ngày tổ chức đám cưới của vợ
chồng Tôi, nhưng vì Tôi phải lãnh nhiệm vụ chỉ huy Đại đội di chuyển rời Hải Phòng bằng xe
hỏa lên Hà Nội nên Đại đội trưởng không cho Tôi đi phép.

Một năm sau vào đầu tháng 10-1950, khi Tiểu đoàn đang đóng quân tại vùng Bắc Ninh-
Vĩnh Yên, thì Thiếu Úy Bùi Đình Đạm và Tôi được Bộ Quốc Phòng tại Saigon gọi trình diện làm
thủ tục du học bổ túc chuyên nghiệp sĩ quan tại Pháp. Cùng xuất ngoạikỳ này với chúng tôi có
mấy bạn cùng Khoá 1 là Thiếu Úy Trần Ngọc Thức (miền Nam, sau này có thời gian làm Chỉ
huy trưởng Binh chủng Công Binh), Thiếu Úy Lê văn Sài (cũng người miền Nam sau này làm
việc bên Không quân), Thiếu Úy Nguyễn Khương (người Trung, sau này có thời gian làm Chỉ
Huy Trưởng Viễn Thông của Binh chủng Truyền Tin). Anh Thức học Sĩ quan Công Binh tại
Angier, anh Sài học Hành chánh Tài chánh tại Mont Pellier, anh Đạm (vào thời Đệ Nhất Cộng
Hoà đã được chỉ định làm Tư Lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh tại Mỹ Tho, và sau cuộc đảo chính lật đổ
Tổng Thống Diệm ngày 1-11-1963 đã được Hội đồng Tướng lãnh đảo chính thăng lên cấp
Tướng) học Sĩ quan Pháo Binh tại Idar thuộc Pháp ởbên Đức. Nhưng vì vùng Idar lạnh quá
chịu không nổi nên anh Đạm đã xin chuyển trường về học khoá Sĩ quan Hành Chánh Quân
Nhu tại Mont Pellier. Còn anh Khương và Tôi theo học Sĩ quan Truyền Tin ở Trường Truyền
Tin (École d’Application des Transmissions) tại Montargis cách Thủ đô ánh sáng Paris khoảng
hơn 1 giờ xe hỏa về hướng Nam. Chúng tôi học chung với các Thiếu Úy Pháp vừa tốt nghiệp
Khoá Général Frère tại Trường Võ bị Saint Cyr ra. Theo quy chế quân đội Pháp, các Thiếu Úy
vừa tốt nghiệp Trường Võ bị Saint Cyr ra đều phải theo học tiếp một khoá bổ túc chuyên nghiệp
các Ngành Bộ binh, Truyền Tin, Công binh, Pháo binh, Thiết giáp, Hành Chánh, Quân nhu,
Quân Cụ, Quân vận, Nhẩy Dù,... (École d’Application de l’Infantery, d’Application des
Transmissions, d’Application du Génie,...) trước khi được chính thức bổ nhiệm vào các đơn vị
trong quân đội để phục vụ.

Đầu tháng 6-1951, đúng theo quy chế dành cho Sĩ quan Hiện dịch tốt nghiệp trường Sĩ
quan Việt Nam, Tôi và toàn khóa được Quốc Trưởng Bảo Đại ký Sắc lệnh thăng cấp Trung Úy
đương nhiên sau 2 năm tốt nghiệp.Cuối tháng 6-1951 mãn khoá học hồi hương vềSaigon vào
đầu tháng 7, Trung Tá Nguyễn Văn Vận (sau này là Thiếu Tướng Tư lệnh Quân Khu 3 tại Hà
Nội) Đổng lý Văn Phòng Bộ Quốc Phòng đã trình Thủ Tướng Chính phủ Trần Văn Hữu kiêm Bộ
trưởng Quốc phòng ký lệnh bổ nhiệm Tôi vào phục vụ tại Nha Đổng Lý Văn Phòng Bộ Quốc
Phòng tại Saigon.Mốc thời gian đầu tháng 7 năm 1951 này được coi là mốc thời gian kỷ niệm
thích thú nhất đối với Tôi. Vì vào đầu tháng 7 năm 1947 tức là 4 năm về trước, Tôi tình nguyện
gia nhập Vệ binh Bắc Kỳ chỉ với mục đích sống đời lính tạm thời cho qua cơn biến loạn nhiễu
nhương của xã hội lúc bấy giờ, nhưng không ngờ thời thế đã chuyển xoay biến đổi cuộc đời
của Tôi thành hoàn toàn khác hẳn. Từ đăng vào lính tại miền Bắc, đi miền Trung học Sĩ quan,
rồi du học bên Pháp, và trở về làm việc tại Saigon. Thế mới biết lời các Cụ xưa dạy “Mưu sự tại
Nhân, thành sự tại Thiên” quả thật là đúng không sai. Và cũng kể từ đầu tháng 7 năm 1951,
đoạn đường Binh nghiệp kế theo của Tôi được ghi chép bằng những trang Hồi ký rất thân
thương “DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN”, “HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI”, “HỒI ỨC TÙ CẢI TẠO VIỆT
NAM”, các tập hồi ký này hiện đang được lưu trữ trong trang Web riêng của Tôi tại dịa chỉ

http://colhungnguyen.webs.com

7.- ĐÔI LỜI KẾT LUẬN

86

Khoá 1 được coi như là người con đầu lòng của một gia đình nghèo với 2 bàn tay
trắng bắt đầu lập nghiệp, nên chịu đủ thứ thiếu thốn không như các khóa đàn em sau
này, do đó cũng có nhiều kỷ niệm không giống ai như không có ban đại diện khóa,
không có họp mặt toàn khoá hàng năm, anh em cùng khóa mà không biết hết tên nhau
ngoại trừ những người cùng trung đội khoá sinh trong thời gian thụhuấn tại trường...
Riêng cá nhân Tôi có may mắn được làm việc tại các Cơ quan Trung ương trực thuộc
Bộ Tổng Tham mưu (Bộ chỉ huy Viễn Thông, Bộ Tư lệnh Điạ phương quân và Nghiã
quân, Nha Tổng Thanh Tra Quân lực, Tổng cục Chiến tranh Chính trị) nên có nhiều dịp
đi công tác tại các đơn vị Hải Lục Không quân trên toàn miền Nam nên có dịp gặp lại
một số anh em cùng khoá nên nhớ được tên sau đây:

- Người miền Nam, các anh Nguyễn Văn Thiệu, Đặng Văn Quang, Nguyễn Hữu
Có, Lê Quang Hiền, Nguyễn Văn Nhỏ (con rể Tướng Bẩy Viễn), Trần Thanh Phú (bào
đệ Tướng Trần Thanh Phong), Trần Ngọc Thức, Nguyễn Quang Sanh, Trần Văn Hổ,
Nguyễn Văn Luông, Nguyễn văn Y, Dương Văn Vinh, Nguyễn Văn Thẳng, và 3 anh
Bốn, Thể, Hưng (không nhớ Họ gì).

- Người miền Trung, các anh Trần Văn Trung, Tôn Thất Đính, Tôn Thất Xứng,
Nguyễn Văn Chuân, Phan Xuân Nhuận, Nguyễn Khương, Lê Huy Luyện, Hoàng Văn
Luyện, Tôn Thất Tương, Phan Văn Cách, Nguyễn Xuân Tửu, Trần Mô, Nguyễn Mại,
Nguyễn Lương, Lê Quang Biên, Nguyễn Hữu Dụng, Lê Văn Thông, Phạm Hiển, Đỗ
Hữu Lý, và Tuyên (không nhớHọ gì).

- Người miền Bắc, các anh Nguyễn Khắc Thăng, Bùi Đình Đạm, Lê Văn Nhật,
Đàm Quang Yêu, Trần Thượng Phương, Đỗ Văn Tâm, Pham Văn Khái, Đàm Quang
Đột.Vào những năm đầu Thập niên 1970, thời gian Tôi giữ chức vụ Phụ Tá Tổng Cục
trưởng Chiến tranh Chính trị đặc trách Hướng Đạo Quân đội kiêm Chủ nhiệm Nhật báo
Tiền Tuyến, Tôi đã phối hợp với anh bạn cùng khoá là Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm
đang giữ chức vụ Giám đốc Nha Nhân viên Bộ Quốc Phòng để sưu tập tất cả các văn
kiện và hình ảnh liên hệ tới sinh hoạt của Trường và Khoá 1 tại Huế, Tôi phụ trách trình
bầy ấn hành cuốn Kỷ Yếu cho Khoá rồi trao lại cho anh Đạm gửi đến tặng tất cả anh
em đồng Khoá lưu giữ làm kỷ niệm. Chẳng biết bây giờcó ai còn giữ đưọc bản nào
không?Nhờ có được Sắc lệnh thăng cấp cho toàn Khoá mới biết được là chỉ có 53
người trên tổng số 63 người theo học được chấm đậu cho thăng cấp Thiếu Úy Hiện
dịch, và anh bạn già Trần Thượng Phương là người thứ 53 trong Sắc lệnh. Thủ Khoa là
anh Nguyễn-Hữu Có, Hạng Nhì là anh Nguyễn Khắc Thăng, và Hạng Ba là anh Trần
Văn Trung.

Việc riêng của Khoá thì như vậy, nhưng việc chung phục vụ Quốc gia Dân tộc Việt
Nam thì khoá 1 đã góp phần rất đắc lực, cho đến ngày đứt phim Việt Nam Cộng Hoà
vào 30-4-1975, Khoá 1 đã cung cấp cho Quân lực Việt Nam Cộng Hỏa tới 9 VỊ
TƯỚNGtrong đó một Vị làm Tổng Thống Nền Đệ Nhị Cộng Hoà là Trung Tướng
Nguyễn Văn Thiệu. Sau đây là danh sách các Tướng xuất thân Khoá 1:

- 5 Trung Tướng: Nguyễn-Hữu Có, Tôn Thất Đính, Đặng Văn Quang, Nguyễn Văn
Thiệu, Trần Văn Trung,

- 3 Thiếu Tướng: Nguyễn Văn Chuân, Bùi Đình Đạm, Tôn Thất Xứng, và
- 1 Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận.

Ngoài ra, một số anh em Khoá 1 trong khi thi hành chức vụ được giao phó đã

87

nhìn thấy một số nhu cầu hữu ích cần phải thực hiện để yểm trợ tinh thần cho toàn
quân toàn dân luôn vững mạnh hăng say kiên trì tham gia chống lại cuộc chiến xâm
lăng của Thế giới Cộng sản vào Việt Nam, nên đã đề nghị và đã được các cấp thẩm
quyền chấp thuận cho thực hiện. Đó là:

A . - TẬP SAN EMIAD CỦA TRƯỜNG VÕ BỊLIÊN QUÂN ĐÀLẠT.

Tập san này được Trường Võ Bị Đà Lạt thực hiện định kỳ và phổ biến rộng rãi cả
trong Quân đội lẫn ngoài xã hội để giới thiệu các sinh hoạt của Trường về mục đích và
chương trình đào tạo Sĩ quan Hiện dịch cho Quân Đội Quốc gia. Tập san viết bằng
Pháp ngữ vì trong thời gian đó Pháp ngữ là văn tự căn bản chính thức dùng trong các
tổ chức cơ quan thuộc Chính quyền và Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Anh Nguyễn Khắc Thăng là người đề xướng và được giao trách nhiệm phụ trách
công việc này. Vào năm 1952, sau khi tốt nghiệp Khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Trường
Cao Đẳng Chiến Tranh (Ecole supérieure de Guerre) của Quân đội Pháp tại Paris về,
anh Thăng được Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam bổ nhiệm về
Trường làm Huấn luyện viên, nhưng vì anh ấy bị mìn Việt Cộng làm cụt mất một chân
trái trong thời gian theo học Khoá ChiếnThuật (Cour Tactiques) tại Phà Đen vùng Hà
Nội nên việc di chuyển theo Khoá sinh ra bãi tập chiến thuật rất khó khăn, nên Thiếu Tá
Leford Chỉ Huy Trưởng Trường đã bổ nhiệm anh vào Ban 5 của Bộ Chỉ huy để lo về
phần vụ Tác Động Tinh Thần khoá sinh, y như tại Bộ Tổng Tham Mưu ngoài các Phòng
tham mưu chính (P1,P2,P3,P4) còn có Ban Tác Động Tinh Thần (5ème Section, Moral
Action) sau cải đổi thành Phòng 5 tiền thân của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị sau
này.

Tôi biết là vì anh Thăng là bạn rất thân của Tôi, mỗi lần về công tác tại Saigon
anh ấy đều ởtại nhà riêng của vợ chồng chúng tôi. Lúc đó Tôi làm Trưởng Phòng Mật
Mã (Bureau du Chiffre) trực thuộc văn phòng Trung Tá Trần Văn Minh Tham Mưu
Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam trụ sở đặt tại đường Trần
Hưng Đạo gần bên Chợ Lớn (sau này Trung Tá Minh được thăng lên đến cấp Trung
Tướng làm Tư Lệnh Đệ Nhất Quân Khu một thời gian rồi đi làm Đại Sứ Việt Nam Cộng
Hòa bên Phi Châu).

Trường Võ bị Saint Cyr của Lục quân Pháp cũng phát hành định kỳ một tập san
với tên SAINT CYR Magazine để làm mối giây liên lạc giữa nhà trường và các cựu sinh
viên trong toàn Quân đội. Nhưng họ bán lấy tiền để trang trải chi phí điều hành chứ
không tặng không như chúng ta, vì chúng ta dùng ngân quỹ của Đơn vị dự trù dành cho
các dịch vụ thực hiện trách vụtâm lý chiến TÁC ĐỘNG TINH THẦN.

B . - HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI.

Vào những năm từ giữa Thập niên 1960 trở đi, hoàn cảnh kinh tế và
xã hội tại miền Nam Việt Nam bị xáo trộn vì chiến tranh xâm lăng phá
hoại do Việt Cộng Bắc Việt thực hiện dưới sự chỉ đạo và yểm trợ của
Liên Xô Nga và Trung Cộng ngày một khốc liệt hơn. Vì thế quân sĩ phải
có mặt liên miên nơi tiền tuyến, vợ ở nhà cũng tối ngày bận bịu với việc
làm ăn buôn bán kiếm thêm tiền để lo cho cuộc sống của gia đình, nên hầu như không
ai có đủ thì giờ lo lắng rèn cặp con trẻngoài những giờchúng theo học tại các trường

88

Văn Hoá Quân đội. Do đó e sợrằng chúng sẽ lang bang đàn đúm rồi bị lôi cuốn xa lầy
vào các tệ đoan xã hội, nên Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị lúc đó đang do Tướng
Trần Văn Trung trách nhiệm đã đề nghị và đã được Bộ Quốc Phòng chấp thuận cho
thành lập các ĐOÀN THIẾU NHI QUÂN ĐỘI tại các Trường Văn Hoá Quân Đội và Trại
Gia Binh. Mục đích chính yếu nhằm hướng dẫn giáo dục trẻ tu thân tích đức theo
phương thức của Hướng đạo Sinh Quốc tế về cả 3 phương diện TRÍ, ĐỨC, THỂ LỰC,
để chúng tập quen và ham thích tự nguyện tham gia các công tác GIÚP ÍCH GIA ĐÌNH
VÀ MỌI NGƯỜI NGOÀI XÃ HỘI trong những giờ rảnh rỗi ngoài học đường.

Vào tháng 10 năm 1970, Tôi tốt nhiệp Khoá 3 Cao Đẳng Quốc Phòng Việt Nam
tại Saigon với luận án tựa đề VAI TRÒ SĨ QUAN CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ TRONG
THỜI HẬU CHIẾN nên đã được Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH bổ nhiểm về Tổng Cục
Chiến Tranh Chính Trị, và Tướng Trung Tổng Cục Trưởng đã chỉ định Tôi vào trách vụ
Phụ Tá Tổng Cục Trưởng Chiến tranh Chính trị đặc trách công tác Thiếu Nhi Quân đội
kiêm Chủ Nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến

Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục
Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đến
Lễ Bế Giảng Khóa Căn Bản Huynh Trưởng

Hướng Đạo, Sài Gòn tháng 11 năm 1970
Trại huấn luyện Khóa Căn Bản Huynh
Trưởng Hướng Đạo 11-1970 tại sân vận
động Trần Hưng Đạo bên Bộ Tổng Tham
Mưu, Tân Sơn Nhất SaiGon

Đến tháng 11-1970 một Trại Huấn luyện 400 Huynh trưởng Hướng đạo cấp Căn Bản
đầu tiên được tổ chức tại Vận động Trường Trần Hưng Đạo bên cạnh trụ sở của Bộ
Tổng Tham Mưu do Tôi làm Trại Trưởng, và Tướng Trung Tổng Cục Trưởng đã đến
chủ tọa Lễ Bế Mạc trao khăn quàng Huynh Trưởng Hướng Đạo cho Trại sinh gồm các
quân nhân do các đơn vị gửi theo học để về tổ chức hướng dẫn các Đoàn Thiếu nhi
Quân đội con em quân sĩ theo từng lớp tuổi Ấu, Thiếu, Kha, Tráng thuộc đơn vị của
mình.

89

<<===Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến
khai mạc trại họp bạn Đội Trưởng Thiếu Nhi
Quân Đội

Đến mùa Giáng sinh 1970, một Trại Họp Bạn
2,000 Đội trưởng Thiếu Nhi Quân Đội được
tổ chức tại rừng Chí Linh bên bờ biển Vũng
Tầu trong lãnh thổ của Trung tâm huấn luyện
Cán bộ Xây Dựng Nông thôn, đã được Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu đến chủ tọa Lễ
Khai Mạc Trại với sự hiện diện của một số
quan khách Bộ trưởng trong chính phủ và
Tướng lãnh tại cấp
Nhân dịp này với tư cách Trại Trưởng Trại Họp Bạn, Tôi đã đề nghị và đã được Tổng
Thống Thiệu chấp thuận cho làm thủ tục xin phép thành lập HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN
ĐỘI theo quy chế sinh hoạt của các Hội đoàn thanh niên tư nhân như Hội Hướng Đạo
Việt Nam, Hội Hướng Đạo Cảnh sát Quốc gia…

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký lưu niệm

90

Trại Trưởng Voi Hoạt Bát
Nguyễn Huy Hùng

Mọi thủ tục được tiến hành ngay sau khi Trại
Họp Bạn bế mạc. Chỉ một tháng sau giấy phép
đã được Bộ Giáo Dục và Thanh Niên cấp và HỘI
HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI ra đời với Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu Hội Trưởng Danh Dự, Trung
Tướng Trại Trưởng Voi Hoạt Bát Trần Văn Trung
Nguyễn Huy Hùng Tổng Cục Trưởng Tổng Cục
Chiến Tranh Chính Trị Hội Trưởng, Tôi Đại Tá
Nguyễn-Huy Hùng Phó Hội Trưởng kiêm Trại
Trưởng, và Trung Úy Nguyễn Văn Liễu (họa sĩ
Trịnh Cung) Trưởng Phòng Hướng Đạo Quân
Đội thuộc Khối Tổ chức của Tổng cục CTCT làm
Tổng Ủy Viên. Một cuốn HUẤN THI ĐIỀU HÀNH
CĂN BẢN HỘI HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI gồm
đầy đủ các mục hướng dẫn về Mục đích, Nhiệm
vụ, Tổ chức, Huấn luyện, Sinh hoạt, Đồng phục, Thâu nhận đoàn sinh… đã được trình
lên Bộ Tổng Tham Mưu ban hành để các cấp trong toàn quân đội thi hành.Tính đến
ngày Quốc hận 30-4-1975, tổng số Huynh Trưởng HĐQĐ có khoảng 4.000 người, và
đoàn sinh cả Nam lẫn Nữ có khoảng 120.000 em.Trung Ương.

Vào đầu năm 1974, Cục Tâm Lý Chiến Tổng
cục CTCT đã phát hành một ĐẶC SAN
HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI ghi nhận tất các
hình ảnh bài viết liên quan tới việc hình thành
và kết quả của tổ chức Thiếu Nhi Quân đội
sau đổi thành Hướng Đạo Quân Đội từgiai
đoạn hình thành cho đến cuối năm 1973.
Vào đầu năm 2008 Mậu Tý, Tôi đã được một
thân hữu cư ngụ bên Tokyo Nhật Bản mua
đấu giá giúp (với $200.US Đôla) được cuốn
ĐẶC SAN HƯỚNG ĐẠO QUÂN ĐỘI 1974
duy nhất tìm được sau mấy chục năm lưu vong nơi xứ người, Tôi đã copy làm thành
một slide show đang lưu trữ trên trang Web của Hội Ái hữu Truyền Tin QLVNCH tại
Hoa Kỳ ở địa chỉ http://truyentinqlvnch.webs.com
và trang Web riêng của Tôi tại địa chỉ http://colhungnguyen.webs.com
và sau cùng Tôi đã gửi tặng cuốn Đặc san HĐQĐ duy nhất tìm được sau 34 năm lưu
vong này cho VIỆN BẢO TÀNG THUYỀN NHÂN VÀ VIỆT NAM CỘNG HOÀ (Việt
Museum) tại San Jose đang do Đại Tá Vũ văn Lộc làm Giám đốc để khách thập
phương có thể chiêm ngưỡng, thay vì giữ làm bảo vật riêng cho gia đình chúng tôi.
Còn vấn đề tổng kết xem đến nay ai còn ai mất thì cũng là một vấn đề nan giải, với khả
năng riêng của Tôi tự sưu tập và nhớ được như sau:
Trong vòng một năm sau ngày mãn khoá thì: Tại miền Bắc có 2 bạn hy sinh là,
Nguyễn Văn Thản tử thương trong đồn tại vùng tỉnh Hưng Yên vì Việt Cộng pháo kích
tấn công đồn vào khoảng cuối năm 1949, và Nguyễn Bá Liêm tử thương trong trận giao

91

tranh với quân phục kích Việt Cộng trên đuờng đi từ tỉnh lỵ Thái Bình đến bến đò Tân
Đệ vào sáng sớm ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1950.

Tại miền Trung có bạn Phạm Hiển bị Việt Cộng bắt làm tù binh trong một cuộc
hành quân và đem đi giam tại đâu không ai biết sống chết ra sao, mãi 24 năm sau
được tha trong dịp trao đổi tù binh theo quy định của Hiệp định đình chiến, tái lập hoà
bình do 4 phe Việt Cộng Bắc Việt, Chính phủ lâm thời miền Nam do Việt Cộng đẻ ra và
Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà ký tại Paris vào ngày 27-1-1973.

Tại miền Nam thì bạn Cao Hoàng Phiên bị Việt Cộng bắt trong một cuộc giao
tranh và đem đi đâu mất tích không ai biết sống chết ra sao.
Và sau đây là số các bạn đã qua đời vì tuổi già hoặc bệnh hoạn mà Tôi ghi nhận được:
Nguyễn Khắc Thăng, Đỗ Văn Tâm, Trần Thượng Phương, Dương Văn Vinh, Lê văn
Thông, Phạm Hiển, Đỗ Hưu Lý, Đàm Quang Yêu, Phan Xuân Nhuận, Nguyễn Văn
Chuân, Nguyễn Văn Thiệu, Bùi Đình Đạm, và Đặng Văn Quang.

Một điều khó quên chót về Khoá 1 là, vào ngày 23-10-1955 Thủ Tướng Ngô
Đình Diệm đã tổ chức cuộc TRƯNG CẦU DÂN Ý tại miền Nam Việt Nam để truất phế
Quốc Trưởng Bảo Đại, rồi sau đó đổi tên nước thành VIỆT NAM CỘNG HOÀ thay cho
QUỐC GIA VIỆT NAM để đích thân lên làm Tổng Thống điều hành đất nước thay thế
cựu Hoàng Bảo Đại, do đó sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hoà chính thức ra đời vào ngày
26-10-1956, một số anh em thuộc Khoá 1 Bảo Đại đang làm việc tại Saigon và vùng
phụ cận đã được anh Bùi Đình Đạm đang làm Thiếu Tá Tham Mưu Trưởng Trường Sĩ
quan Trừ bị Thủ Đức mời họp bàn thảo việc xin đổi tên Khoá, mọi người có mặt đã
đồng ý lựa tên PHAN BỘI CHÂU thay cho BẢO ĐẠI, và đã làm tờ ĐỀ NGHỊ trình lên
Tổng Thống Diệm cứu xét và Tổng Thống Diệm đã chấp thuận nên kể từ đó Khoá 1
mang tên mới là Khoá PHAN BỘI CHÂU.

I. CÁC VỊ TƯỚNG XUẤT THÂN KHÓA 1 TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

Tr Tướng Nguyễn Văn Thiệu Tr Tướng Trần Văn Trung Tr Tướng Đặng Văn Quang

92

Trung Tướng Nguyễn Hữu Có Trung Tướng Tôn Thất Đinh Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân

Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận

93

Đại Tướng Westmoreland và Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng
K. LIỆT KÊ 35 KHÓA VÕ BỊ TỪ HUẾ ĐẾN ĐÀ LẠT (1947-1975)

Số Tên Khóa Từ ... Đến Học Vao ..Ra Chỉ Huy Trưởng Thủ khoa
6 Th 63/56 Nguyễn Hữu Có
1 Phan Bội Châu 1948/1949 6 Th 109/103 Trung Tá Chaix Hồ Văn Tố
8 Th 145/10
2 Quang Trung 1949/1950 8 Th 120/90 Trung Tá Chaix Ng Cao Albert
8 Th 250/246 Dương H. Nghĩa
3 Trần Hưng Đạo 950/1951 10 Th 200/181 Trung Tá Gribius Lý Tòng Bá
8 Th 130/123 Đại Tá Gribius Trương Quang Ân
4 Lý Thường Kiệt 1951/1951 8 Th 250/183 Thiếu Tá LeFort Nguyễn Bá Thìn
11 Th 180/150 Thiếu Tá LeFort Nguyễn Th Thoại
5 Hoàng Diệu 1951/1952 6 Th 120/114 Thiếu Tá LeFort Nguyễn X Diệu
8 Th 525/430 Thiếu Tá LeFort Nguyễn Tấn Đạt
6 Đinh Bộ Lĩnh 1951/195 6 th 300/247 Thiếu Tá Cheviotte Ngô Văn Lợi
7 Ngô Quyền 1952/1953 8 Th 188/16 Thiếu Tá Cheviotte Ngô Văn Phát
6 Th 210/200 Thiếu Tá Cheviotte Nguyễn Văn Ngà
8 Hoàng Thụy Đông 1952/1953 14 Th 150/147 Phạm Phùng
2 Năm 210/200 Tr Tá Cheviotte, N.V.Chuân Nguyễn Văn Bá
9 Huỳnh Văn Louis 1953/1954 3 Năm 137/126 N.V.Chuân; N.V.Thiệu Nguyễn Cao Đàm
9B Đống Đa (Trừ bị 1953/1954 3 Năm 64/60 N.V.Chuân; N.V.Thiệu Võ Trung Thứ
N.V.Chuân; N.V.Thiệu
10 Trần Bình Trọng 1954/1954 N.V.Thiệu; Hồ Văn Tố Bùi Quyền
N.V.Thiệu; H.V.Tố; Lê Văn Kim
10B Cương Quyết 2 (TB) 1954/1954 N.V.Thiệu;H.VTố; L.V Kim;
Trần Ngọc Huyến
11 Phạm Công Quân 154/1955 Lê. V. Kim; Trần Ngọc Huyến

11B Vương Xuân Sỹ (TB) 1954/1955

12 Cộng Hòa 1955/1956

13 Thống Nhất 1956/1958

14 Nhân Vị 1957/1960
15 Lê Lợi 1959/1961

16 Ấp Chiến Lược 1959/196 3 Năm 400/231

94

17 Lê Lai 1960/1963 30 Th 200/180 Trần Ngọc Huyến Vĩnh Nhi
18 Bùi Ngươn Ngãi 1961/1963 2 Năm 201/189 Trần Ngọc Huyến Nguyễn Anh Vũ
19 Nguyễn Trãi 1962/1964 2 Năm 413/390 T.N.Huyến; Trần Tử Oai,
Trần.V.Trung; Nguyễn.V.Kiểm Võ Th Kháng
20 Nguyễn Công Trứ 1963/1965 2 Năm 425/412 T.N.Huyến; T.T.Oai;T.V.Trung Quách Tinh Cầu
Kiểm, Lâm Quang Thơ

Chiến Thắng Nông

21 Thôn 1964/1966 2 Năm Nguyễn Văn Kiểm, T.V.Trung, Mai Văn Hóa
L.Q Thơ, Đỗ Ngọc Nhận
22A Huỳnh Văn Thảo 1965/1967 2 Năm 165/163 Lâm Quang Thơ; Đỗ Ngọc Nhận Nguyễn Văn An
22B Trương Quang Ân 1965/1969 4 Năm 100/96
1966/1970 4 Năm 282/241 Lâm Quang Thi Tr Vĩnh Thuần
23 Nguyễn Đức Phống 1967/1971 4 Năm 317/245 Đỗ Ngọc Nhận; Lâm Quang Thi Vũ Xuân Đức
24 Đỗ Cao Trí 1968/1972 4 Năm 300/258 Đỗ Ngọc Nhận; Lâm Quang Thi Ng Anh Dũng
25 Quyết Chiến 1969/1974 4 Năm 196/175 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ Nguyễn V. Lượng
26 Nguyễn Viết Thanh 1970/1974 4 Năm 192/182 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ H.V. Nhuận
27 Trương Hữu Đức 1971/1975 3 Năm 330/250 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ Hồ Thanh Sơn
28 Nguyễn Đình Bảo 1972/1975 3 Năm 315/300 Lâm Quang Thi; Lâm Quang Thơ Đào C. Hương
29 Hoàng Lê Cường 223/? Lâm Quang Thơ Đăng thụ huấn
1974/1975 16 Th 243? Lâm Quang Thơ
30 Không tên Lâm Quang Thơ
1975 4 Th
31 Không tên

CÁC VỊ CHỈ HUY TRƯỞNG TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA

Nguyễn văn Chuân Nguyễn văn Thiệu Hồ văn Tố

95

Lê Văn Kim Trần Ngọc Huyến Trần Tử Oai

Trần Văn Trung Nguyễn Văn Kiểm Lâm Quang Thơ

96

Đỗ Ngọc Nhận Lâm Quang Thi

L. CÁC TƯỚNG LÃNH TỐT NGHIỆP TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA

Khóa 1 Bảo Đại (Sau đổi tên thành Phan Bội Châu), 56 Sĩ Quan Tốt nghiệp có :
- Trung Tướng Nguyên Văn Thiệu
- Trung Tướng Trần Văn Trung
- Trung Tướng Đặng Văn Quang
- Trung Tướng Nguyễn HữuCó
- Trung Tướng Tôn Thất Đính
- Thiếu Tướng Tôn Thất Xứng
- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân
-Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm
- Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận

Khóa 2 Quang Trung, 103 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Trung Tướng Ngô Du

- Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh
- Trung Tướng Trần Thanh Phong

- Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao
- Thiếu Tướng Hoàng Văn Lạc
- Thiếu Tướng Nguyễn Thanh Sằng

- Thiếu Tướng Hồ Văn Tố
- Thiếu Tướng Lê Ngọc Triển
- Chuẩn Tướng Nguyễn Thanh Hoàng
- Chuẩn Tướng Le Trung Tường

Khóa 3 Trần Hưng Đạo, 107 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm
- Trung Tướng Lữ Lan

97

- Trung Tướng Lâm Quang Thi
- Trung Tướng Nguyễn Xuân Thịnh
- Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn
- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu
- Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ
- Chuẩn Tướng Võ Dzinh
- Chuẩn Tướng Lý Bá Hỷ
- Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Óanh
- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Phước (Truy thăng)

Khóa 4 Lý Thường Kiệt, 90 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Trung Tướng Nguyễn Văn Minh

- Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh
- Thiếu Tướng Đào Duy Ân
- Thiếu Tướng Nguyễn Cao

- Thiếu Tướng Phan Đình Niệm
- Chuẩn Tướng Đỗ Kiến Nhiễu

Khóa 5 Hoàng Diệu, 246 Sĩ Quan, Tốt nghiệp có:
- Trung Tướng Phan Trọng Chinh
- Trung Tướng Dư Quốc Đống
- Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
- Trung Tướng Phạm Quốc Thuần
- Thiếu Tướng Trần Bá Di
- Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai
- Thiếu Tướng Lý Tòng Bá
- Thiếu Tướng Chương Dzềnh Quay
- Chuẩn Tướng Lê Văn Tư
- Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt (Truy thăng)

Khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh, 181 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
- Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ
- Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy

Khóa 7 Ngô Quyền, 123 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Thiếu Tướng Trương Quang Ân
- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
- Chuẩn Tướng Lê Văn Thân

Khóa 8 Hoàng Thụy Đông, 183 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

- Chuẩn Tướng Lý Đức Quân (Truy thăng)
- Chuẩn Tướng Cảnh Sát Huỳnh Thới Tây

98

Khóa 10 Trần Bình Trọng, 430 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
- Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai
- Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt
- Chuẩn Tướng Trương Hữu Đức (Truy thăng)

Khóa 12 Cộng Hòa, 147 Sĩ Quan Tốt nghiệp có:
- Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường

K-1: Tướng Nguyễn Văn Thiệu L-1: Tướng Trần Văn Trung

K-1: Tướng Đặng Văn Quang K-1: Tướng Nguyễn Hữu Có

99

K-1: Tướng Tôn Thất Đính K-1: Tướng Tôn Thất Xứng

K-1: Tướng Nguyễn Văn Chuân K-1: Tướng Bùi Đình Đạm

100


Click to View FlipBook Version