The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Việt Nam và Đời tôi Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-10-24 13:17:31

Việt Nam và Đời tôi Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Việt Nam và Đời tôi Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hình G36

Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù lòa cũng được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha
ông chúng!
Còn người Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay không? Thi
nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố vì tấm hình ôm cột mốc Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy
tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà giờ còn nằm trong Chí Hòa. Và tôi cũng từng bị biên phòng VN
hành hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu Nghị"!

Hình G37

201

Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại, nhàn nhã như ở nhà. Chụp hình ư? Chuyện nhỏ!
Đố tên biên phòng VN nào dám làm khó dễ!

Hình G38

202

Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!
Hình G39

Đứng hai chân trên biên giới!
203

Hình G40

Và ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lãnh thổ VN!
Hình G41

Hải quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng 04.2007)
Hình G42
204

Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt
học sinh trên các miền được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về lòng yêu nước! "Tổ
Quốc Tại Ngã Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)

Hình G43

Cựu chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành hương
Thế hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đòi hỏi Trung Cộng trả lại
vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm

205

trước!

Hình G44

Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham
dự, ngồi trên mảnh đất tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn
cười?
Vận động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đã nối vào khu tự trị Quảng
Tây!

ẢI NAM QUAN Chu tất Tiến.

Nhiều thập niên gần đây, khi nhà cầm quyền Cộng Sản đã để lộ dã tâm bán
nước, hiện nguyên hình là một “CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN” của Tầu Chệt, thì vấn đề
Ải Nam Quan lại rộ lên từ Nam chí Bắc, từ đất Tổ sang đến các cộng đồng Việt
Nam hải ngoại. Tùy theo vị trí của những nguồn dư luận, mà một trong hai
khuynh hướng đối lập nhau được thể hiện. Với những người yêu nước, dù ở
trong nước hay ở hải ngoại, thì Ải Nam Quan là của TA, trong khi Hà Nội và các
tâm điểm thảo luận do Chính Phủ Bù Nhìn Cộng Sản tổ chức thì lại cho rắng đó
là của TẦU. Dĩ nhiên, tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại thì luôn bảo vệ Đất Tổ
và không nhân nhượng trong lập trường cho rằng Ải Nam Quan là của TA, chỉ
trừ một thiểu số rất ít ỏi, những kẻ vong bản, gàn dở, và thất học, thì mới cong
lưng, cúi đầu chấp nhận lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà cho rằng Ải
Nam Quan vốn dĩ là do TẦU xây nên, thì nay TẦU chiếm giữ cũng là hợp lý thôi.
Những tay gàn dở đã hùa theo Tầu để dựa vào hiệp ước Thiên Tân ký năm
1885 mà cho rằng “CHÍNH VIỆT NAM ĐÃ KÝ KẾT HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN và chấp
nhận rằng Ải Nam Quan là của Tầu. Hiệp ước quốc tế này đã chứng minh rằng Ải
Nam Quan là của TẦU. Ngoài ra, cái kiến trúc Ải Nam Quan từ xưa đến nay đều

206

do Tầu xây cho nên, theo đúng lý lẽ thì Ải Nam Quan là của Tầu!” Chủ nhân của
lý luận gàn dở ấy quên rằng khi đó, Pháp đã đô hộ Việt Nam và vì muốn hòa giải
với Tầu, nên Thực Dân Pháp đã ép ta, lúc đó chẳng có sức mạnh nào cả, phải ký
kết, không ký cũng không được.
Đến đây ta phải minh định rõ ràng hai điểm khác nhau: Kiến trúc Ải Nam Quan
và Dải Đất trên đó Ải Nam Quan được xây dựng. Vì thế, khi nói đến chuyện
tranh chấp ai là chủ Ải Nam Quan thì phải phân biệt: Chủ cái kiến trúc đó, và
Chủ Đất. Một khi đã là “Ải” hay “Trấn Biên Thùy” thì nói đến sự sử dụng chung
của cả hai bên biên giới.
Do đó khi nói: “Giang Sơn ta từ Ái Nam Quan đến Mũi Cà Mâu”, không có nghĩa
là Giang Sơn từ bức tường phía Bắc của cái “Kiến Trúc Ải Nam Quan” kéo dài
đến Mũi Cà Mâu, mà chỉ có nghĩa là “Đất” của ta tính từ Trung Tâm Điểm của Ải
Nam Quan, nói đơn giản hơn, nếu đem Ải Nam Quan ra cưa làm đôi, thì Việt
Nam và Tầu, mỗi nước chiếm một nửa phần đất, mà trên đó Ải Nam Quan được
xây dựng! Cũng giống như khi nói: “Tôi đi từ Hà Nội đến Sài gòn”, không có
nghĩa là “tôi đi từ biên giới phía Bắc của Hà Nội đến Sài Gòn”, mà có thể từ biên
giới phía Nam của Hà Nội, hay từ giữa lòng Hà Nội mà đi…
Hơn nữa, chính chữ “Ải” đã nói lên rằng đó là cái cửa ra vào ở đường biên giới.
Theo Tự Điển Nguyễn Văn Khôn, Ải = Frontier pass. Ải có thể là một cấu trúc lớn,
cũng có thể chỉ là một chòi canh, một cánh cửa giao thương giữa hai nước có
lính gác. Tại nhiều “cửa Ải” ở Trung đông, đôi khi chỉ là một cái rào cản bằng
kẽm gai, lính gác hai bên kéo qua kéo lại. Như thế, Ải không thuộc về bất cứ
Một nước nào mà phải thuộc về cả hai quốc gia nằm hai bên Ài, nếu chỉ có một
Ải chung.
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng dải đất trên đó mà Ải Nam Quan được xây
dựng là của TA một nửa: Nửa phía Nam thuộc về Ta, nửa phía Bắc thuộc về Tầu.
Nhiều sự kiện liên quan đến Ải Nam Quan đã minh chứng rằng Ải Nam Quan có
một nửa (xẻ theo chiều ngang) là của Ta, và một nửa của Tầu như sau:
Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) đoạn nói về Ải Nam Quan:
Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn
Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ
mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh,
đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ
Lai tu bổ lại có tên nữa là "Ðại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía
tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119
trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề "Trấn Nam Quan", dựng từ năm
Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công

207

việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại
nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa
có "Chiêu đức đài", đằng sau đài có "Ðình tham đường" (nhà giữ ngựa) của
nước Thanh; phía nam có "Ngưỡng đức đài" của nước ta, bên tả bên hữu, có
hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm
nghỉ."
Theo "Ðịa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ" của Ngô Vi-Liễn, Phạm Văn-Thư và Ðỗ Ðình-
Nghiêm (Nhà in Lê Văn-Tân xuất-bản, Hà-Nội, 1926):
"Cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam. Kể từ Hà-Nội lên
đến tỉnh-lỵ Lạng-Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa; đến cây-số 158 là
Tam-Lung; đến cây-số 162 là Ðồng-Ðăng; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi
sang Long-Châu bên Tàu. Như vậy từ Ðồng-Ðăng lên cửa Nam-Quan có 5 km; từ
Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam-
Thanh, trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô-Thị là
những danh thắng của tỉnh Lạng-Sơn] và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là
17 km."
Quyển "Phương Ðình Dư địa chí" của Nguyễn Văn Siêu (bản dịch của Ngô Mạnh-
Nghinh, Tự-Do xuất-bản, Saigon, 1960) thì ghi:
"Cửa hay ải Nam-Quan, đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy (hay Pha-
Dữ), ở về phía bắc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn. Từ châu Bằng-Tường (tỉnh
Quảng-Tây) bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam phải qua cửa quan này".
-Về các sự kiện lịch sử liên quan đến Ải Nam Quan:
a) Năm 981, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng của nước ta (tên lúc đó được gọi là
“Đại Cồ Việt”) bị ám sát, vua nhà Tống là Tống Thái Tông sai Hầu Nhân Bảo tấn
công nước ta qua đường Lạng Sơn, đã dừng chân ở phía Bắc của Ải Nam Quan,
rồi mới truyền lệnh cho mũi tấn công thứ nhất là từ Ải Nam Quan, trong khi các
mũi tấn công khác thì tìm đường khác mà xâm nhập. Việc này đã minh định là
từ bên này cửa của Ải Nam Quan là đất của Ta.
b) Năm 1077, một lần nữa, Tống Thần Tông sai Quách Quỳ tấn công nước ta, lúc
đó gọi là Đại Việt. Quân Tống cũng xếp hàng bên kia Ải Nam Quan rồi mới tiến
xuống Ải Quyết Lý rồi tiếp theo là Ai Chi Lăng. (Ải Quyết Lý và Ải Chi Lăng là hai
nơi cửa ngõ quan trọng được trấn giữ bởi một số quan lính ta. Hai Ải này không
phải là Ải Biên Giới nên hoàn toàn do ta làm chủ).
c) Tiếp sau đó, đã hai lần vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Kubilai) sai Thoát Hoan
tấn công Đại Việt bằng đường bộ qua Lạng Sơn năm 1284, 1287. Quân lính cũng
phải đi qua ải Nam Quan mà xâm nhập nước ta.

208

d) Năm 1774, sau khi Ải Nam Quan được Tầu dổi tên là Trấn Nam Quan, thì Ðốc
trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu bổ Ngưỡng Đức Đài nằm về phía
nam của Trấn Nam Quan, phía nước mình.
e) Năm 1788, theo lời cầu viện của thân mẫu của Lê Duy Kỳ, vua nhà Thanh là
Càn Long (1736-1795) cử Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba
ngả: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan, qua Lạng Sơn đi xuống,
Sầm Nghi Đống đi qua đường Cao Bằng, và đề đốc Vân Nam Ô Đại Kinh vào
đường Tuyên Quang. Đoàn quân viễn chinh nhà Thanh bị vua nhà Tây Sơn là
Quang Trung đánh tan, phải chạy về vào đầu năm kỷ dậu (1789).
Ngoài ra, còn hai câu chuyện mang tính lịch sử liên quan đến Ải Nam Quan, đã
chứng minh rằng Ải Nam Quan là của Ta:
1-Vào khoảng 1406-1417, thế kỷ 15, Nguyễn Phi Khanh bị quân Tầu bắt về Tầu.
Nguyễn Trãi đi theo cha tới Ải Nam Quan, thì phải dừng lại, vì Nguyễn Phi Khanh
dặn con phải trở về, lo đuổi quân Tầu, báo thù cho cha. Nguyễn Trãi vừa khóc
vừa quay về và đầu quân dưới trướng Lê Lợi vào năm 1417. Như thế, Ải Nam
Quan đã có từ trước thế kỷ 15.
2- Trước đó, vào năm 1308, thế kỷ 14, Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tầu, đến cửa Ài
Nam Quan bị quân Nguyên bắt chui vào cánh cửa nhỏ. Ông chống lại, thì bọn
quan canh cửa đưa câu đối, nếu đối được thì họ sẽ mở cửa. Câu đối có nội dung
như sau:
Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan
(nghĩa là: Tới cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua)
Một vế đối hóc búa đến 4 chữ quan và 3 chữ quá? Mạc Đĩnh Chi thấy khó,
nhưng ông đã nhanh trí dùng mẹo để đối như sau:
Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh Tiên sinh tiên đối
(nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời Tiên sinh đối trước).
Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu cầu câu đối của viên
quan ấy. Mạc Đĩnh Chi tìm được vế đối hay, khiến người Nguyên phải phục và
liền mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới.
Như thế, dải đất phía Nam của Ải Nam Quan nguyên thủy được xây dựng là
thuộc của Ta, còn Tầu chỉ có cái kiến trúc nằm trên mảnh đất đó.
Đến khi Hiệp Ước Thiên Tân được ký, thì Tầu đã di chuyển Ải Nam Quan vào
sâu trong nội địa Tầu rồi, và đã xây một cái kiến trúc mới nằm ngay trong đất
của TA.
Năm 1972, Chiến dịch Linebacker II do Nixon chỉ huy nhằm đánh thẳng vào đầu
não Bắc Việt bằng bom. Bắc Việt cầu cứu Tầu. Lập tức Tầu đã lợi dụng chuyện
này, cho lập một hàng rào phòng thủ bằng Hỏa Tiễn Sam, rồi dồn quân cắm sâu

209

vào nội địa Bắc Việt với lý luận là phải bảo vệ hàng rào phòng thủ này. Khi cuộc
ném bom chấm dứt bằng Hiệp Định Paris 1973, Tầu “quên” không rút quân khỏi
những vùng đã đóng quân trước đây, và chiếm luôn những đỉnh cao đó.
Đến trận Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung, 1979, Tầu đã tung quân tấn công 6
tỉnh biên giới: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh,
cũng khởi điểm từ Ải Nam Quan (mới) và lập nhiều đồn mới về phía Nam của Ải
Nam Quan.
Ngày 5 tháng 3 năm 1979, sau khi chiến tranh kết thúc, Tầu rút quân về nước,
nhưng cũng “quên” không trả đất và vẫn chiếm giữ vùng đất phía nam ải Nam
Quan. Vì thế, trạm hải quan của Bắc Việt phải một lần nữa dời xuống phía nam
ải nầy, sâu trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 300 đến 400 m về phía Nam.
Điều nhục nhã cho lịch sử Việt là vào ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại Hà nội,
Nguyễn Mạnh Cầm, Ngoại Trưởng của Bắc Việt và Đường Gia Triển của Trung
quốc chính thức ký ‘Hiệp ước biên giới trên đất liền’, xác nhận Ải Nam Quan
thuộc về Tầu.

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Quan).

Như thế, dài đất mà trên đó xây Ải Nam Quan (cũ) là của hai nước Việt và Tầu.
Sau này, Tầu lấn sân, xây Ải Nam Quan vào sâu trong đất của ta cả ngàn mét, và
được Pháp công nhận. Vậy, công trình Ải Nam Quan (mới) là do người Tầu xây
thật, nhưng dải đất mà trên đó Tầu xây Ải Nam Quan lại là của Việt Nam. Đó là
sự chiếm đoạt giang sơn Tổ Quốc Ta rõ ràng.
Người Việt sau này có ý muốn đòi lại Ải Nam Quan, là muốn đòi lại mảnh đất
mà trên đó, Tầu xây dựng cái Ái Nam Quan kia, chứ còn cái công trình xây cất
bẳng gạch, xi măng đó thì đúng là của Tầu thiệt, không ai thèm đòi.
Giả sử mà bọn Tầu Ô kia mà chịu trả đất, thi ta nhất định giật sập cái Ải đó, hoặc
biến cái kiến trúc đá đó thành một cái cầu tiêu khổng lồ cho dân Việt xử dụng,
và sẽ xây một công trình khác, trên đúng chỗ mà xưa kia ông cha ta đã gọi là Ải
Nam Quan cũ từ thế kỷ trước thế kỷ thứ 14.
Hiện nay, những kẻ nào lý luận theo kiểu Cộng Sản Tầu và Cộng Sản Việt Nam
mà cho rằng Ải Nam Quan là của Tầu, đều là những kẻ vọng ngoại, phản quốc,
đáng bị trừng trị theo Luật Hồng Đức là “lăng trì” hay cho 4 ngựa phân thây, tài
sản bị xung công, vợ con bị đầy lên khu nước độc. Nếu chiếu theo Luật Hồng
Đức như thế thì cả 15 tên thuộc Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đều phải
bị xử “lăng trì” hết vì tất cả đã đồng ý bán nước cho kẻ thù kinh niên là Tầu
Cộng. Mong điều này sớm đến.

Chu Tất Tiến.

210

NÊN THẬN TRỌNG,
ĐỪNG ĐỂ BỊ VIỆT CỘNG LỪA BỊP NỮA.

Nguyễn-Huy Hùng

Trong cuốn CỔ HỌC TINH HOA do Ôn Như Nguyễn văn Ngọc và Tĩnh Trai
Trần Lê Nhân biên dịch, có một câu truyện đề cập đến kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai
thật là giá trị vô song. Hồ Chí Minh đã khai thác thực hiện một cách rất là nhuần
nhuyễn, và đã khôn khéo truyền dạy cho bọn đàn em tôi luyện rất kỹ lưỡng.
Bây giờ Hồ Chí Minh không còn nữa, nhưng bọn đồng đảng hậu duệ nhờ rút tiả
được những kinh nghiệm thực tế của Cha Ông để lại, nên trong hiện tại chúng
tung ra những mánh khoé rỉ tai lừa bịp còn tinh vi xảo quyệt hơn Hồ Chí Minh
nhiều.

Các Cụ ta ngày xưa thường ví “Con hơn Cha là nhà có phúc”. Nhưng trong
trường hợp Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam hiện tại, phải sửa lại là “Việt
Cộng con hơn Việt Cộng Ông Cha là quốc gia dân tộc vô phúc” thì mới đúng.
Từ hơn nửa Thế kỷ nay, Việt Cộng Ông Cha gian manh xảo quyệt nhờ thực hiện
những mánh lới rỉ tai lừa bịp quy mô. đã reo hại bao nhiêu cho dân tộc rồi. Nay
Việt Cộng Con Cháu nối nghiệp, nhờ rút tiả được kinh nghiệm xảo quyệt của Ông
Cha để lại, còn gian manh xảo quyệt hơn Cha Ông gấp bội, hậu quả là bàn dân
thiên hạ Việt Nam ở trong nước cứ tiếp tục phải cúi đầu câm nín chịu đựng, suốt
thế hệ này sang thế hệ khác nối tiếp nhau suốt hơn nửa thế kỷ nay rồi, tội nghiệp
biết chừng nào!

Để tìm hiểu xem cái kỹ thuật tuyên truyền rỉ tai đó như thế nào mà lợi hại
vậy, Tôi xin ghi lại câu truyện TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI để Quý độc giả xem cho
biết, và suy ngẫm để mà THẬN TRỌNG giữ mình cho không bị Việt Cộng xảo quyệt
gian manh lừa bịp thêm nữa.

Xin nhấn mạnh là, Tôi dùng chữ THẬN TRỌNG chớ không dùng chữ CẢNH
GIÁC, mà từ sau ngày xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Việt Cộng đã nhồi nhét
cho mọi người nghe mãi quen tai. Nay thì cả những người Việt lưu vong tỵ nạn
Cộng sản đang làm truyền thông Việt ngữ nơi hải ngoại, cũng dùng một cách tự
nhiên trong việc giao dịch quảng cáo hàng ngày trên mặt báo, trên các chương
trình phát thanh và Vô tuyến truyền hình, cùng với những chữ khác nữa như
ĐĂNG KÝ của Việt Cộng thay vì dùng chữ GHI DANH, hay chữ THAM QUAN thay
cho chữ THĂM VIẾNG mà toàn dân tộc Việt Nam vẫn quen dùng từ trước khi
Việt Cộng xâm chiếm miền Nam…

211

“TĂNG SÂM GIẾT NGƯỜI.
Ông Tăng Sâm ở đất Phí. Ở đấy, có kẻ trùng danh với ông giết người.

Một người hớt hơ hớt hải chạy đến bảo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết
người”.Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà cứ điềm nhiên
ngồi dệt cửi.

Một lúc, lại có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì,
cứ điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc nữa lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ sợ cuống,
quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

GIẢI NGHIÃ: -Tăng Sâm: người thời Xuân Thu, tính chất thật thà và rất có
hiếu. học trò giỏi đức Khổng Tử và sau truyền được đạo của ngài. -Trùng danh: hai
hay nhiều người giống tên nhau. -Điềm nhiên: biết mà cứ im lặng như không.

NHỜI BÀN.- Tăng Sâm vốn là người hiền lành hiếu thảo bà mẹ vốn là người
trung hậu, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ
không tin, người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng
chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ là rất mạnh. Một việc, dù cho
sai nhầm đến mười mươi, nhiều người đã cùng có một nghị luận đều như thế cả,
thì cũng dễ khiến cho ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom
điả hoá ra rươi, trông con chó thành ra con cừu. Đến như giữa chợ, làm gì có cọp?
Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp
thật nữa là! Những bậc rà được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây
giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thể được, mới cao; một chân
lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận.”

Sau đây là vài sự kiện điển hình nhất đã xẩy ra trên đất nước Việt Nam, mà
Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đã dùng mánh lới tuyên truyền rỉ tai lừa bịp rất
hiệu quả, khiến cho quảng đại quần chúng đã mắc lừa nhiệt tình ủng hộ chúng,
rút cuộc khi chúng đạt được mục đích rồi thì lại bị chúng trắng trợn phản bội, mà
vẫn phải ngậm đắng nuốt cay không dám chống đối chúng, vì chúng có súng đạn
quyền uy bạo lực và dã tâm độc ác hơn thào khấu:

1.-Trong các Thập niên 1940 và 1950 thuộc Thế kỷ 20.
Khi quân Phiệt Nhật đầu hàng quân Đồng minh Hoa Kỳ, thì các nước thuộc địa
Pháp tại bán đảo Đông Dương (trong đó có Việt Nam) giành lại được độc lập. Các
đảng phái Nhân bản quốc gia Việt Nam không Cộng sản hoà hợp với Hồ Chí Minh
và nhóm Việt Minh Cộng sản của hắn, để thành lập chính phủ Liên hiệp Quốc

212

Cộng điều hành đất nước và tuyên bố phục hồi quốc gia độc lập với tên nước là
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được toàn dân tộc tán thường.

Nhưng sau khi nắm được quyền hành trong tay rồi, Hồ Chí Minh đã lén ký
Sơ Ước 6 tháng 3 năm 1946 với đại diện Pháp tại Hà-nội, bằng lòng cho Pháp đổ
quân lên trú đóng tại nhiều tỉnh thuộc hai miền Trung và Bắc Việt Nam, kể cả Thủ
đô Hà Nội. Đến ngày 19-5-1946 Việt Minh ra lệnh dân chúng treo cờ đỏ sao vàng
đón rước quân Pháp trở lại đóng quân trong Thủ đô Hà-nội, khi bị các đảng phái
không Cộng sản trong chính phủ Liên Hiệp chống đối, thì Việt Minh giải thích lếu
láo là treo cờ để mừng ngày sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rồi chúng lại
truyền rao vu khống là các đảng phái Quốc gia âm mưu cấu kết tiếp tay cho Thực
dân Pháp tái xâm lăng Việt Nam, và dùng bạo lực Công an để bắt giam và tiêu diệt
thành viên của các đảng này một cách rất tàn bạo.

Mấy tháng sau, khi quân viễn chinh Pháp hoàn tất xong việc củng cố an
ninh vị trí đóng quân và thâu thập được tin tức về thực lực của Việt Minh, Lãnh
đạo Pháp bắt đầu ngang ngược tạo ra những cuộc tranh chấp hành chánh, gây
hấn để làm phát nổ trận chiến giữa Việt Minh và Pháp vào ngày 19-12-1946 trên
toàn đất nước Việt Nam, nhằm mục đích tiêu diệt Việt Minh tái lập chế độ thuộc
địa như trước.

Việt Minh thua phải bỏ các thành thị rút về các vùng rừng núi. Hồ Chí Minh
kêu gọi toàn dân đóng góp của cải và nhân vật lực để yểm trợ Việt Minh tiếp tục “
Tiêu thổ kháng chiến” chống Pháp, bảo vệ nền độc lập quốc gia. Muôn người như
một đã hết lòng bao bọc nuôi dưỡng và bảo vệ quân Việt Minh kháng chiến.

Đến năm 1950, sau khi quân Mao Trạch Đông chiến thắng quân Tưởng Giới
Thạch nắm quyền quản trị toàn lục địa Trung Hoa, thì Hồ Chí Minh đã xin Đồng chí
bậc thầy thuộc Quốc Tế Cộng sản Đệ Tam này, yểm trợ cố vấn tổ chức huấn luyện
trang bị cho Việt Minh các Đại đơn vị có khả năng chiến đấu theo quy ước trận địa
chiến với quân Pháp. Nhờ thế quân của Hồ Chí Minh tạo được nhiều trận chiến
thắng gây tổn thất cho quân Pháp tại miền thượng du Bắc Việt. Sự kiện này đã
dẫn đến việc Việt Minh và Pháp ký Hiệp định Genève ngày 21-7-1954 chia đôi đất
nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc, và lằn ranh sơn trắng vạch ngang chính
giữa cầu Hiền Lương bắc trên con sông Bến Hải, tại Vĩ tuyến 17 thuộc địa phận
tỉnh Quảng Trị, được chọn làm ranh giới giao tiếp giữa 2 miền Nam Bắc.

Bắt đầu có uy thế, nên vào năm 1953, Hồ Chí Minh đã khởi sự phát động
sách lược Cộng sản bần cùng hoá nhân dân để san bằng giai cấp, bằng chiến dịch
CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, LOẠI TRỪ ĐỊA CHỦ CƯỜNG HÀO ÁC BÁ… trong các vùng
do Việt Minh kiểm soát. Hồ Chí Minh cho đồng bọn đàn em Việt Minh tuyển chọn
những bọn du thủ du thực cướp đường trộm chợ đứng bến vô gia cư vô nghề

213

nghiệp… để chiêu đãi hậu hỹ rồi thành lập các đội công tác xung kích đấu tố với
toàn quyền sinh sát trong tay. Chúng nhồi sọ cho bọn này rằng các người trong
các giai cấp trung lưu tư sản địa chủ… có của ăn của để hơn người, là vì chúng đã
từng tiếp nối nhau đời này qua đời khác bóc lột sức lao động của quảng đại quần
chúng nông dân và công nhân, nên cần phải diệt cho tuyệt nọc để giành lại những
của cải ấy chia đều cho giai cấp vô sản trở thành chủ tập thể, mọi người sống hoà
đồng bình đẳng, không còn cảnh người bóc lột người như dưới các thời Thực Dân
Phong kiến trước kia nữa…

Vì thế, hàng trăm ngàn người dân lành trước nay từng tỏ lòng nhiệt tình
yêu nước và là ân nhân bảo vệ tiếp tế bao nuôi KHÁNG CHIẾN, nay trở thành kẻ
thù không đội Trời chung với KHÁNG CHIẾN, và đã được Hồ Chí Minh và bọn thảo
khấu Việt Minh trả ơn bằng cái chết không toàn thây, sau những cuộc đấu tố đánh
đập dã man trước những toà án nhân dân do Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Minh
dựng lên tại khắp các vùng nông thôn do chúng kiểm soát. Vô nhân đạo nhất là
Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, đã về tận quê nội của mình để đích thân
đấu tố chính cha ruột của hắn đến chết. Sau này vào tháng 7 năm 1986, sau khi
Tổng bí Thư Lê Duẩn chết, hắn được Đảng cử làm Tồng Bí Thư nắm toàn quyền
sinh sát cả đảng viên lẫn quảng đại quần chúng nhân dân Việt Nam một thời gian.

2.- Trong các Thập niên 1960 và 1970 của Thế Kỷ 20.
Hồ Chí Minh không thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954,
do chính phe Việt Minh của hắn ký kết với Pháp để chia đôi đất nước Việt Nam
thành 2 miền Nam Bắc sống biệt lập, theo 2 thể chế chính trị khác nhau (Bắc theo
Cộng sản, Nam theo Tư bản). Hắn đã để một số cán bộ Cộng sản nòng cốt nằm
vùng tại miền Nam, tiếp tục thi hành sách lược tuyên truyền rỉ tai về cái bánh vẽ
TRUNG LẬP HOÀ HỢP QUỐC CỘNG để lôi cuốn các nhà trí thức miền Nam hoạt
động chống phá Chính quyền miền Nam, và ngoan ngoãn nghe theo lời dụ dỗ của
Hồ Chí Minh để thành lập cái MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (MTGPMN) quái
gở, rồi ít lâu sau Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng Bắc Việt lại khoác cho bọn
MTGPMN này cái mặt nạ hề mới là CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HOÀ MIỀN NAM
(CPLTCHMN), để hoạt động khủng bố phá hoại nền kinh tế và an ninh cuộc sống
của quảng đại quần chúng tại miền Nam Vĩ tuyến 17 (ranh giới chia đôi 2 miền
Nam Bắc tại sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị).

Sau đó, với sự thúc đẩy hiệp lực yểm trợ của cả khối Cộng sản Quốc tế do
Liên Xô Nga lãnh đạo, Hồ Chí Minh đã chính thức phát động cuộc chiến xâm lăng
miền Nam Việt Nam khởi từ cuối năm 1959, và kéo dài mỗi ngày một khốc liệt
hơn cho tới 30-4-1975 mới chấm dứt. Việt Nam Cộng Hoà tại miền Nam bị thua
cuộc chiến xâm lược do chính Việt Cộng tay sai của Quôc tế Cộng sản lãnh đạo

214

giật dây hành động này, là vì một mặt bị đồng minh Hoa Kỳ do nhu cầu quyền lợi
đất nước phải thay đổi chiến lược toàn cầu đối đầu với phe Quốc tế Cộng sản nên
đã bội ước không tiếp tay yểm trợ nữa, và mặt khác do nhóm chủ trương TRUNG
LẬP trong chính quyền miền Nam do Dương văn Minh lãnh đạo cũng phản bội bắt
tay với Việt Cộng, ra lệnh buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chống Cộng sản xăm
lăng phải buông súng đầu hàng.

Sau khi chiếm được toàn miền Nam Việt Nam, bè lũ Việt Cộng Hà Nội mới
kiêu ngạo công khai tự lột cái mặt nạ gian manh xảo quyết lừa bịp của chúng ra,
bằng cách tiêu diệt ngay 2 con hề rối đồng chí một thời của chúng là MTGPMN và
CPLTCHMN, vì không còn cần thiết nữa. Chúng quyết định tuyên bố thành lập
nước CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM (gồm cả 3 miền Bắc Trung Nam)
dưới quyền cai trị độc tôn toàn trị chuyên chính của Trung Ương Đảng Việt Cộng
đặt Thủ đô tại Hà Nội.

Phe nhóm chính trị hoạt đầu tại miền Nam Việt Nam chủ trương TRUNG
LẬP HOÀ HỢP VỚI VIỆT CỘNG BẮC VIỆT, mà người miền Nam đều biết qua cái ô
danh là PHE THỨ BA gồm một số tu sĩ Công giáo, Phật giáo, nhà Văn, nhà Báo, Trí
thức Chính trị gia hoạt đầu “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” theo đóm ăn tàn
đã gây nhiều rối rắm lủng củng chính trị tại miền Nam trước 30-4-1975, cũng đã bị
bọn Việt Cộng lường gạt trở mặt, trừng trị tàn bạo bằng nhiều hình thức khác
nhau. Sau khi những miếng chanh này đã được Việt Cộng vắt hết nước, thì vỏ
chẳng còn công dụng gì nữa phải vứt đi cho sạch rác rưởi, vì nhóm này không phải
là Cán bộ Cộng sản nồng cốt. Bọn này một số đã chết tức tưởi trong các trại tù tập
trung cải tạo, một số ân hận nhục nhã sống vất vưởng trong xã hội mới xã hội chủ
nghiã, và một số may mắn tìm cách thoát chạy được ra nước ngoài xin tỵ nạn.

3.- Trong mấy năm đầu Thập niên 2000 của Thế Kỷ 21.
Bọn lãnh đạo Đảng Việt Cộng và bạo quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam,
đã lừa bịp cả thế giới Tư bản bằng những mánh khoé rất xảo quyệt tinh vi để
được gia nhập khối thị trường Quốc tế WTO, và được bầu làm Hội viên không
thường trực đại diện các nước Á Châu trong HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC.
Chúng đã:

a.- Thả lỏng cho một số nhóm bất đồng chính kiến đang tranh đấu chống
bạo quyền ở trong nước liên lạc tiếp xúc với những nhóm yểm trợ nơi hải ngoại,
thành lập những phong trào, đảng, hội, phổ biến những quyết nghị lên tiếng
chống Đảng và bạo quyền Việt Cộng, đòi các quyền Tự do Dân chủ...

b.- Làm ngơ để cho các nhóm này phát hành CHUI vài tờ báo viết, báo điện
tử, các tờ thông cáo kêu gọi mọi người tham gia đoàn kết đòi bạo quyền trà lại

215

các quyền Tự do báo chí, tự do lập hội, được phép thành lập đảng chính trị không
Cộng sản…

c.- Để cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon tổ
chức những buổi tiếp tân gặp gỡ trao đổi ý kiến với các nhà đấu tranh cho Dân
chủ ở trong nước một cách tự do thoải mái…
Những sự kiện này chỉ nhằm mục đích lừa bịp Hoa Kỳ và các nước phương tây
khác, tưởng rằng Việt Cộng đang từ bỏ thể chế độc tài chuyên chính để đổi mới
theo xu thế thời đại Tự do Dân chủ tôn trọng Nhân quyền…

Nhờ thế, chúng mới được Hoa Kỳ bỏ tên ra khỏi danh sách các nước cần
quan tâm vì vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, và bình thường hoá thương mại
song phương bình đẳng. Và tiếp theo đó, các nước Tây phương thành viên WTO
cũng bớt xét nét các điều kiện căn bản và dễ dãi trong việc quyết định chấp thuận
cho chúng được trở nên thành viên chính thức của tổ chức WTO, và Đại hội đồng
Liên Hiệp Quốc mới chấp nhận cho được làm Thành viên không thường trực đại
diện cho các nước Á Châu trong Hội đồng Bảo An LHQ trong một nhiệm kỳ bắt
đầu từ năm 2008.

Và buồn thay, một sự kiện khủng khiếp đã xẩy ra ngoài sự tưởng tượng của
mọi người là, ngay sau khi Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam được công nhận
chính thức là thành viên của WTO, thì bạo quyền Việt Cộng lập tức khởi phát rầm
rộ chiến dịch bắt bớ giam cầm xử tội nặng nề tất cả những người thuộc các nhóm
tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, một cách ồ ạt tàn bạo không nương tay, mặc
dù có những phản đối mãnh liệt của các nước đã thoả thuận giúp cho Việt Cộng
được vào WTO.

Để kết luận,
Chỉ một vài sự kiện tiêu biểu trình bầy trên đây thôi, đã cho chúng ta thấy
tài gian manh xảo quyệt lừa bịp tinh vi của Việt Cộng như thế nào. Do đó chúng ta
phải hết sức thận trọng, “đi với Phật thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy”,
đừng bao giờ cư xử theo tư cách quân tử Tầu thuở xa xưa với bọn lừa bịp chuyên
nghiệp Việt Cộng, để lòng mềm yếu nghe theo những lời dụ dỗ tâng bốc phỉnh mị
lừa bịp của bọn Việt Cộng gian manh xảo quyệt này nữa.
Việt Cộng đã lừa bịp nhân dân Việt Nam và Thế giới để có được vị thế hiện
nay. Chúng đã lừa bịp lôi cuốn nhân dân Việt Nam theo chúng loại bỏ các thế lực
phong kiến tư bản cũ, mà chúng kết tội là những nhóm người bóc lột người, để
ngày nay chúng trở thành thế lực Phong kiến Tư bản Đỏ mới, độc quyền chuyên
chính bóc lột người còn thậm tệ gấp trăm ngàn lần các thế lực cũ.

216

Trong hiện tại, toàn dân Việt Nam ở trong nước đang là giai cấp lao động nô lệ
của giai cấp lãnh đạo cầm quyền phong kiến thực dân bóc lột mới là bè lủ Việt
Cộng.

Chúng ta đừng bao giờ quên lời tuyên bố của ông Putin một cựu lãnh tụ
Cộng sản Nga nay đã thức tỉnh, đang là Tổng Thống điều hành quản trị đất nước
Nga theo thể chế Dân chủ Tự do Tư bản thiệt sự. Ông ấy đã nói rằng: CỘNG SẢN
CẦN PHẢI THAY THẾ, CHỨ KHÔNG THỂ NÀO CẢI ĐỔI ĐƯỢC.
Do đó, chúng ta phải đồng lòng hiệp sức yểm trợ cho các nhóm đấu tranh cho Tự
do Dân chủ Nhân quyền ở trong nước có những cơ hội và hoàn cảnh thuận lợi tối
đa, vận động được toàn dân tộc Việt Nam vùng lên đều khắp mọi nơi, trong mọi
lãnh vực xã hội, để loại bỏ hẳn bè Đảng Việt Cộng và bạo quyền do chúng đẻ ra,
để toàn dân tộc Việt Nam đang sống ở trong nước sớm có được mọi quyền căn
bản của con người, dưới một chính quyền Dân chủ Pháp trị do chính toàn dân
chọn bầu tín nhiệm, càng sớm càng tốt.

Dể chấm dứt bài viết, kính mời Quý vị xem tài liệu phụ đính dưới đây dẫn
chứng về Hội nghị bí mật tại Thành Đô năm 1990 với sự hiện của bè lũ lãnh đạo
Việt Cộng gồm có Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông
Đức Mạnh, phiá Trung Cộng gồm có Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang
Liệt, Diệp Tuyển Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu.... đã thảo luận các thỏa
hiệp sát nhập nước Việt Nam vào lãnh thổ "Trung Quốc", và bè lũ cầm đầu Bộ
Chính Trị Đảng trong hiện tại vẫn đang ngoan ngoãn tiếp tục thực hiện các chỉ
thị của quan thầy Đại Hán Trung Cộng để kế hoạch hoàn tất vào năm 2020 như
đã dự trù.

Cầu xin Ơn Trên Trời Phật Thượng Đế và Anh linh các Anh hùng Liệt nữ
dòng giống Tiên Rồng Việt Nam phù trợ cho tất cả chúng ta.

NGUYỄN-HUY HÙNG.
Cựu Đại Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, Phụ tá Tổng Cục Trưởng Chiến tranh
Chính trị, Kiêm Chủ nhiệm Nhật báo Tiền Tuyến,
Cựu tù nhân chính trị, 13 năm lao động khổ sai trong các trại tập trung của Đảng
và bạo quyền Việt Cộng sau 30-4-1975.

217

- Thỏa Hiệp ngầm 05-07-2020 là ngày thực hiện đợt 1 sát nhập nước Việt
Nam.
- TS KERBY ANDERSON NGUYỄN.
10 giờ sáng ngày 08-04-2013, Thiếu Tướng Hà Thanh Châu, Chính Ủy
Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng (Chủ Nhiệm Tổng Cục là Trung Tướng
Nguyễn Đức Lâm) được Luật Sư William Lê hướng dẫn đến Sở Di Trú
King County, Seattle, tiểu bang Washington State, nạp đơn "xin tỵ nạn
chính trị".
Sau 2 tuần lễ ông và vợ ông đi thăm 3 người con đang là "du học sinh" ở
tiểu bang này.

Bốn ngày sau, qua trung gian của 1 "viên chức" cao cấp Hoa Kỳ, ông trao
cho chủ bút Tạp Chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu "tối mật", có
liên quan đến sự sống còn của nước Việt nam, dự trù sẽ đăng tải cuối
năm 2013. Tập tài liệu này, do người anh vợ của ông: Thiếu Tướng H.T.T.
làm Chính Ủy Tổng Cục 2, dưới thời Tổng Cục Trưởng Trung Tướng
Nguyễn Chí Vịnh, chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI mang bí
số ML887, ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam:
Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh và
- Trung Cộng:

218

Giang Trạch Dân(sinh năm 1926), Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp
Tuyển Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu....tại Thành Đô, thảo luận các
thỏa hiệp sát nhập nước Việt Nam vào lãnh thổ "Trung Quốc".
Chúng tôi (tác giả bài viết này), hiện làm "binh bút" cho tờ Foreign Policy
Magazine, nên được phổ biến bằng Việt ngữ, giới hạn trong vòng thân
hữu.
Thật ra, các cam kết "giao nước Việt Nam cho Trung Quốc", đã được "ký"
bằng "lời hứa danh dự " của ông Hồ Chí Minh với 2 Đại Tướng Tàu Trần
Canh và Vị Quốc Thanh, thay mặt cho Mao Trạch Đông vào năm 1926.
Bốn năm sau, năm 1930, thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Hồ
khẳng định một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân La: "Việt Nam và Trung Quốc
tuy hai mà một. Một dân tộc.Một Nền văn hóa.Một phong tục.Một tổ quốc.
Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng
Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi
hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc,
chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa...."
Ngày 14-09-1958, ông Hồ chỉ thị Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký "công
hàm" giao đứt quần đảo Hoàng Sa cho Mao Trạch Đông. Lê Duẩn (tên thật
Lê Văn Nhuận: 1907-1986) chết ngày 10-07-1986, ông Nguyễn Văn Linh
(Mười Cúc) lên nắm chức Tổng Bí Thư, tức khắc nối lại bang giao với
Trung Quốc bằng 1 câu nói để đời trong lịch sử: "Tôi cũng biết rằng, dựa
vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng".

Ngày 10-08-1987, ông Nguyễn Văn Linh (đang mắc bệnh ung thư) bay
qua Trùng Khánh gặp Hồ Diệu Bang (1915-1989), Đặng Tiểu Bình (1904-
1992= thọ 92 tuổi) bàn luận về các kế họach cắt đất, cắt biên giới và phát
họa rõ ràng hơn 1 chương trình "sát nhập Việt Nam vào lãnh thổ Trung
Quốc" qua chiến thuật " Hoà Bình, hữu nghị, chầm chậm, êm ả, kín đáo,
không ai có quyền biết đến" với thời gian 60 năm, phân ra làm 3 giai
đoạn, mỗi giai đoạn 20 năm.
GIAI ĐOẠN I : Ngày 15-07-2020 : QUỐC GIA TỰ TRỊ.
GIAI ĐOẠN II : Ngày 05-07-2040 : QUỐC GIA THUỘC TRỊ.
GIAI ĐOẠN III: Ngày 05-07-2060 : Tỉnh lỵ Âu Lạc.

219

Tỉnh trửơng vẫn là người Việt, đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng Đốc
Quảng Châu.
Thời gian này, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ, tiếng Tàu là ngôn ngữ chính.
Một chút lịch sử về "Âu Lạc”: Thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, ông Thục
Phán, thủ lãnh của bộ tộc Âu Việt, là một trong những bộ tộc của Bách
Việt ở về phía Bắc Văn Lang đã cùng Hùng Vương thứ 18 đánh bại cuộc
xâm lăng của nhà Tần. Sau khi thắng quân Tần, vua Hùng Vương nhường
ngôi cho Thục Phán, sát nhập lãnh thổ của người Âu Việt và Lạc Việt vào
một, lập nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội
ngày nay. Ông tự xưng là An Dương Vương, Nước Âu Lạc của An Dương
Vương bị Triệu Đà thôn tính vào năm 206 trước Tây Lịch”.
QUY CHẾ KHU TỰ TRỊ: Sau đây xin mời quý vị nghe lại cuộn băng nhựa
của Tổng Cục 2 Việt nam với lời lẽ bề trên, trịch thượng của người Tàu,
ban mệnh lệnh, giáo huấn, dạy dỗ, răn đe cấp lãnh đạo Việt Nam phải làm
những gì suốt 60 năm dài "tịch thu" nước Việt Nam từng bước một: "Âm
thầm, Lặng lẽ, Từ từ như tằm ăn dâu. Khéo như dệt lụa Hàng Châu. Êm
như thảm nhung Thẩm Quyến...theo thể thức "diến tiến hoà bình".
Làm cách nào để cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rằng,
người Tàu không "cướp nước Việt" mà chính người Việt Nam tự mình
"dâng nước" và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.
Tại Thành Đô, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh xin xỏ Đặng Tiểu Bình:
"Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng Sản Việt Nam mới nắm được chính
quyền, mới thắng đế quốc Pháp , đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản
động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do
thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc xóa bỏ các hiểu lầm, các bất
đồng đã qua. Phía Việt nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị
lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chí Minh dày công
xây dựng trong qua khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là
cho Việt Nam được hưởng "quy chế khu tự trị trực thuộc chính quyền
trung ương Bắc Kinh" như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây
Tạng, Tân Cương, Quảng Tây...Để kịp chuẩn bị tâm lý nhân dân và giải
quyết các bước cần thiết cho việc gia nhập vào đại gia đình dân tộc Trung
Quốc, xin cho thời hạn chuyển tiếp sát nhập là 60 năm: 1990-2020; 2020-
2040; 2040-2060.

220

NHỮNG CÁI TẾT KHÓ QUÊN
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

TRONG HẬU BÁN THẾ KỶ 20.

KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG

Trong cuộc đời mỗi người Việt Nam tùy theo tuổi tác đều có những kỹ niệm
khó quên khác nhau. Nhưng người ta thường nhớ nhiều và nhớ lâu hơn cả là
những kỹ niệm về Tết, vì nó là phong tục tập quán của Dân tộc và xẩy ra liên tục
hàng năm trải dài suốt cuộc đời, hết thế hệ này qua các thế hệ khác nối tiếp nhau
vô tận.

Ấu Thiếu nhi mong Tết để được mặc quần áo mới, được nhận tiền lì xì,
được ăn những món ăn đặc biệt ngon sang hơn ngày thường, được đi vui chơi ăn
quà thoải mái trong các nơi hội hè đình đám, được tha hồ nghịch ngợm phá
phách không sợ bị la rầy đánh đòn nhờ người lớn kiêng cữ sợ “dông” trong mấy
ngày Tết, và đặc biệt được thêm tuổi để mau thành người lớn.

Thanh niên Nam Nữ độc thân mong Tết vì có dịp trưng diện bảnh bao, tụ
tập bạn bè vui chơi săn tìm bạn khác phái, tăng tuổi trưởng thành để mau chấm
dứt chương trình học vấn và có thể đi làm kiếm tiền, để được toàn quyền quyết
định lối sống riêng ngoài vòng kiềm toả của cha mẹ.

Người già vui Tết vì được dịp thấy đông đủ con cháu họ hàng đoàn tụ, quây
quần bên nhau chia xẻ những nỗi nhớ nhung sau cả năm trời xa cách mỗi người
mỗi phương, hoặc bận bịu công việc hàng ngày ít có thời giờ gặp gỡ truyện trò
thong thả.

Riêng giới trung niên và sồn sồn chưa đến tuổi thọ “thất thập cổ lai hy” có
gia đình, có địa vị trong xã hội, làm ăn khá giả thì mong Tết để có dịp trưng diện,

221

sửa sang nhà cửa, ăn Tết linh đình, khoe cái sang trọng quý phái của mình. Nhưng
trường hợp những người đang gặp hoàn cảnh khó khăn về tài chánh hoặc làm ăn
thua lỗ, thì Tết lại là mối lo âu đến mất ăn mất ngủ. Vì nếu Tết đến, cửa nhà con
cái không được lo cho đầy đủ bằng người, thì xấu mặt hổ ngươi với xóm giềng họ
hàng làng nước.

Đó là nói về trường hợp những cái Tết khó quên thuộc phạm vi cá nhân và
gia đình. Trên bình diện Quốc gia Dân tộc cũng có những cái Tết khó quên, vì
những sự kiện xẩy ra đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mọi người và
tương lai hưng thịnh hay suy vi của cả một xã hội.

Hôm nay, nhân dịp các đồng hương Việt Nam lưu vong tỵ nạn Cộng sản vui
hưởng Tết Đinh Hợi 2007 trong Hạnh phúc ấm no dư giả, Nhân quyền được tôn
trọng bảo vệ, Tôi xin lược lại những cái Tết theo ghi nhận riêng, thấy là khó quên
trong Hậu bán Thế Kỷ 20 trên đất nước Việt Nam, để chúng ta cùng nhớ lại những
kỷ niệm cũ, đồng thời giúp cho các Bạn trẻ thuộc các thế hệ Hậu Duệ sinh ra lớn
lên và trưởng thành nơi hải ngoại (từ sau cái mốc lịch sử đen tối đau thương nhất
của dân tộc Việt Nam là ngày Quốc hận 30 tháng 4 năm 1975, cả nước bị đắm
chìm dưới sự cai trị chuyên chính vô sản độc tài tàn bạo vô nhân đạo của bè lũ
Đảng Cộng sản và Bạo quyền Cộng hoà Xã hội Chủ nghiã Việt Nam), biết được rõ
ràng trung thực về những cái Tết buồn vui lẫn lộn, mà các Thế hệ Ông Bà Cha Mẹ
đi trước mình đã phải trải qua, nhưng chẳng bao giờ muốn hay có thì giờ kể lại
cho nghe.

TẾT BÍNH TUẤT (2 tháng 2 năm 1946)

Sau khi các đảng phái chính trị (Quốc gia Nhân bản và Cộng sản) liên hiệp
với nhau tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại vườn hoa Ba Đình
Hà Nội, nhờ thời cơ Nhật đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945 Thế giới Đại
Chiến II chấm dứt, toàn dân tộc Việt Nam hân hoan ăn mừng cái Tết Bính Tuất
Độc Lập đầu tiên, sau thời gian dài cả 100 năm sống dưới ách đô hộ của Thực dân
Pháp, thì Hồ Chí Minh và phe Việt Minh Cộng sản của hắn ta phản bội dân tộc,
công khai ra tay đàn áp tiêu diệt nhân sự thuộc các Đảng phái Quốc gia Nhân bản
trong Chính phủ Liên hiệp để chiếm toàn quyền quản trị Quốc gia. Sau đó, chúng
ký Sơ Ước tại Hà Nội ngày 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp để mặc nhiên công nhận
việc Pháp thong thả tái lập chính quyền thuộc địa tự trị tại miền Nam, đồng thời
được thong thả đem quân đội trở lại chiếm đóng nhiều tỉnh tại miền Trung và
miền Bắc Việt Nam không tốn một viên đạn, mà còn được Hồ Chí Minh và phe

222

Việt Minh của hắn đón rước bảo vệ an ninh lộ trình di chuyển quân tử Hải Phòng
lên lập doanh trại trú quân ngay trong giữa thủ đô Hà Nội.

Vì thế mới có cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng phát trên đất nước Việt Nam
vào ngày 19 tháng 12 năm 1946, và kéo dài cả gần 20 năm tiếp theo trong Hậu
bán Thế kỷ 20, gây ra bao tang thương cho dân tộc và đất nước Việt Nam.

TẾT CANH DẦN (17 tháng 2 năm 1950).

Toàn dân tộc Việt Nam ăn mừng cái Tết Canh Dần Quốc gia Việt Nam Độc
lập Thống nhất cả 3 miền Bắc Trung Nam, được cả trăm quốc gia trong Khối Tự do
Tư bản công nhận đặt cơ sở Ngoại giao hàng Đại sứ, sau khi Quốc trưởng Bảo Đại
ký Hiệp Ước Élysée với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol vào ngày 8 tháng 3 năm
1949 tại Paris.

Pháp chấm dứt chiến tranh và hỗ trợ kinh tế kỹ thuật để dân tộc Việt Nam
phục hưng tái thiết đất nước trong hoà bình, thì Hồ Chí Minh và phe Việt Minh
nhờ sự viện trợ của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Nga và Trung Cộng lãnh
đạo, tiếp tục gây chiến tàn phá quê hương giết hại đồng bào.

TẾT ẤT MÙI (7 tháng 2 năm 1955).

Toàn dân miền Nam Việt Nam (từ Vĩ tuyến 17 trở xuống) hân hoan ăn mừng
Tết Ất Mùi Hoà Bình không còn chiến tranh, nhờ Hiệp Định Genève 21 tháng 7
năm 1954 do Việt Minh cấu kết với Pháp ký, chia đôi đất nước ra 2 vùng tự trị (từ
Vĩ tuyến 17 lên phiá Bắc thuộc quyền cai trị của Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng
sản, từ Vĩ tuyến 17 xuống phiá Nam thuộc quyền cai trị của chính phủ Quốc gia
Việt Nam theo thể chế Tự do Dân chủ Tư Bản do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo),
thì tại miền Bắc, Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng sản rập khuôn chính sách vô sản
chuyên chính của Trung Cộng, đẩy mạnh chiến dịch cải cách ruộng đất tức là
“cách mạng thổ địa” áp dụng phương sách “đấu tố”, phát động từ cuối năm 1953
giết hại khoảng hơn ba trăm ngàn đồng bào, với tội danh địa chủ phú ông, cường
hào ác bá, trí thức Tiểu tư sản, và các đảng viên Cộng sản mang trong người dòng
huyết thống không thuộc thành phần Vô sản chưa dứt khoát kiên định lập trường
theo vô sản chuyên chính, cũng bị hạ tầng công tác đem về địa phương sinh quán
đấu tố cùng với ông bà cha mẹ của mình.

Trong chiến dịch này, Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu đã phải thi
hành lệnh của Hồ Chí Minh và Đảng về quê Nội để đấu tố giết chết chính cha ruột
của hắn. Quảng đại quần chúng kinh hoàng sợ hãi, nhưng bất mãn đến nỗi nhiều

223

nơi đã dũng cảm vùng lên chống đối chính sách. Hồ Chí Minh xảo quyệt giả bộ áp
dụng kỷ luật cách chức Tổng Bí Thư của Trường Chinh để lừa gạt trấn an quần
chúng, với tội danh không thi hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước, đồng thời hứa sửa sai và chỉ thị Phạm văn Đồng thay mặt chính phủ xin lỗi
quần chúng. Ít lâu sau, Trường Chinh lại được Hồ Chí Minh cho nắm giữ những
trọng trách quan trọng trong Ban Bí Thư Trung Ương Đảng. Đến ngày 14 tháng 7
năm 1986, sau khi Lê Duẩn chết, Trường Chinh được Đảng đưa lên làm Tổng Bí
Thư quyền uy bao trùm cả Đảng, Quốc hội bù nhìn, và Nhà nước Cộng hoà Xã hội
Chủ Nghiã Việt Nam.

TẾT BÍNH THÂN (1956).

Toàn dân miền Nam Vĩ tuyến 17 do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo,
hân hoan mừng Tết Bính Thân Thanh bình Độc lập thật sự, vì Pháp rút hết quân ra
khỏi miền Nam, đất nước hoàn toàn Độc Lập Tự do Dân chủ theo thể chế Chính trị
Cộng hoà với “Tổng Thống chế” theo mô thức Hoa Kỳ, với quốc danh Việt Nam
Cộng hoà, được cả trăm nước trong Thế giới Tự do Tư bản công nhận và trao đổi
cơ sở Ngoại giao hàng Đại Sứ, thì dân chúng sống trên miền Bắc Vĩ tuyến 17 dưới
quyền cai trị của Hồ Chí Minh và bè lũ Cộng sản vong nô, chưa hết bàng hoàng lo
sợ vì chiến dịch “đấu tố” tức “cách mạng thổ địa” phát động từ cuối năm 1953
vẫn còn đang tiến hành chưa chấm dứt.

TẾT GIÁP THÌN (1964).

Tại miền Nam Việt Nam, hậu quả cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963
(gọi là Cách mạng 1-11-1963 để lật đổ chế độ gia đình trị), do nhóm Tướng Tá
thực hiện dưới quyền điều khiển của Tướng Dương văn Minh, 2 anh em Tổng
Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết hại, nên quảng đại
quần chúng miền Nam đón Tết Giáp Thìn dưới 2 trạng thái tinh thần khác hẳn
nhau. Những người thuộc phe “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” và phe ủng hộ
Sư Sãi theo Thích Trí Quang thì mừng Tết thật lớn với lòng hân hoan phơi phới.
Còn những người bị coi là thuộc phe “Cần lao Nhân vị thân Tổng Thống Diệm” thì
chán nản lo âu vì bị mất địa vị đọa đầy khốn đốn, và quần chúng theo Ki-tô Giáo
sống bất an vì những hành động kỳ thị của nhóm thiểu số Phật tử quá khích theo
Thích Trí Quang.

Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963, Tướng Nguyễn Khánh Tư lệnh
Quân đoàn I và Tướng Trần Thiện Khiêm Tư lệnh Quân đoàn III không được đề cử

224

vào “Hội đồng Quân nhân Cách mạng”, nên 2 người cấu kết với nhau làm cuộc
“chỉnh lý”, loại nhóm Tướng Trần văn Đôn, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Nguyễn văn
Vỹ, Tôn Thất Đính, và đem giam cầm tại Đà Lạt, đồng thời đưa Tướng Dương văn
Minh lên làm Quốc Trưởng, Tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, và Tướng Trần
Thiện Khiêm làm Tổng trưởng Cải tiến Nông thôn.

Với hoàn cảnh rối beng như vậy, Hồ Chí Minh và phe Việt Cộng ngoài Bắc Vĩ
tuyến 17 hân hoan ăn mừng Tết Giáp Thìn thật lớn. Vì mất Ngô Đình Diệm, miền
Nam sẽ rơi vào tình trạng thiếu Lãnh tụ, nhóm Tướng Tá làm đảo chính thành
công lo củng cố thế lực riêng để tranh dành nhau quyền Lãnh đạo, công tác chống
Cộng bị lơ là. Phe Cộng sản Bắc Việt tự nhiên có được cơ hội thuận lợi đẩy mạnh
hơn các chiến dịch gây rối miền Nam, để sớm hoàn tất nhiệm vụ xâm lăng nhuộm
đỏ cả nước theo lệnh của Quan Thầy Liên Sô đang lãnh đạo Quốc tế Cộng sản.

TẾT MẬU THÂN (31 tháng 1 năm 1968).

Dân chúng miền Nam hân hoan linh đình đón Tết Mậu Thân với nền Đệ Nhị
Cộng hoà mới ra đời theo mô thức Tổng Thống chế của Pháp. Liên danh Tướng
Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ do Hội đồng Quân lực đề cử ra tranh cử chức
Tổng Thống và Phó Tổng Thống với các liên danh Đảng phái chính trị, đã đắc cử
với 34,8% tổng số phiếu.

Nhưng lủng củng chính trị giữa các thế lực Đảng phái tại miền Nam vẫn
ngấm ngầm xôi động. Do đó, Hồ Chí Minh và phe Việt Cộng Hà Nội lợi dụng thời
cơ, dùng quân Mặt trận giải phóng miền Nam do chúng thành lập hồi cuối năm
1959, bằng bọn cán bộ không tập kết ra Bắc nằm vùng từ hồi thi hành Hiệp định
Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, phối hợp cùng quân chính quy mới lén lút xâm
nhập qua ngả Lào và Cao Miên, mở cuộc “Tổng công kích toàn miền Nam” nhằm
đánh chiếm tất cả các Tỉnh trên toàn lãnh thổ miền Nam vĩ tuyến 17 vào dịp Tết
Nguyên Đán Mậu Thân.

Tại Thủ đô Saigon, chúng tung tin nhóm Nguyễn Cao Kỳ đảo chính Nguyễn
văn Thiệu, để lén đưa quân xâm nhập nhà dân chúng đánh chiếm Bộ Tổng Tham
mưu cạnh phi trường Tân Sơn Nhất và nhiều cơ sở khác trong thành phố Saigon
Chợ Lớn. Nhưng chúng không chiếm được nơi nào. Sau cả tuần lễ giao tranh cận
chiến, chúng đã bị tiêu diệt nặng về nhân số, tàn quân còn sống sót đã dùng bạo
lực đốt phá nhà cửa, lùa dân chúng ra làm bình phong để trà trộn lẩn trốn rút ra
khỏi thành phố. Riêng thành phố Huế đã bị chúng chiếm đóng suốt một tháng
trời, và khủng bố sát hại tập thể hơn 3 ngàn quân cán chính và thường dân Việt
Nam Cộng hoà. Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải điều động

225

quân tiếp viện từ Saigon ra tăng cường, mới đánh bật được chúng ra và tái chiếm
lại thành phố.

TẾT GIÁP DẦN (1974) và TẾT ẤT MÃO (1975).

Ảnh hưởng của việc Hoa Kỳ ép buộc Việt Nam Cộng hoà ký Hiệp Ước đình
chiến theo kiểu “da beo” vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 tại Paris, để tái lập Hoà
bình tiến tới việc Trung lập hoá (Quốc gia, Cộng sản sống chung) tại miền Nam
Việt Nam.

Thi hành Hiệp Ước, Hoa Kỳ cắt viện trợ, nhiều chính khách và dân giầu bề
thế có địa vị trong xã hội tại miền Nam tìm cách rời khỏi miền Nam ra nước ngoài
lánh nạn. Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng đưa Hải lực hùng mạnh đánh
chiếm Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hoà ngoài khơi Biển Đông. Hải quân
Hoa Kỳ có mặt không can thiệp, nên phe Cộng sản Quốc tế Liên Xô và Trung Cộng
lợi dụng tình thế đó, tăng cường tiếp viện vũ khí tối tân hơn cho Cộng sản Bắc Việt
vi phạm Hiệp Ước đình chiến, công khai xâm nhập miền Nam đẩy mạnh chiến
tranh lấn đất giành dân. Chiến tranh trở nên khốc liệt hơn hồi chưa ký Hiệp Ước
đình chiến, nhưng cả 13 nước trong tổ chức Liên Hiệp Quốc đồng ký bảo đảm việc
thi hành Hiệp Ước và Hoa Kỳ đồng minh cũ của Việt Nam Cộng hòa, đều ngậm
tăm không lên tiếng can thiệp phản ứng gì cả. Nhóm thân Cộng thường được
mệnh danh là “phe thứ ba” hay “phe trung lập” tại miền Nam, bị Cộng sản Bắc
Việt mua chuộc xúi giục, lợi dụng cơ hội cấu kết với ngoại bang hoạt động làm tình
hình chính trị xã hội tại miền Nam trở nên rối rắm trầm trọng hơn.

Vì thế, dân chúng tại miền Nam ăn 2 cái Tết Nguyên Đán Giáp Dần và Ất
Mão với tinh thần hoang mang lo lắng, không hân hoan vui vẻ trọn vẹn như cái
Tết Ất Mùi (1955) sau Hiệp định đình chiến Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954.

TẾT BÍNH THÌN (1976).

Quân lực Việt Nam Cộng hoà phải đơn thương độc mã đối đầu với cả Khối
Cộng sản Quốc tế suốt 2 năm liền, tiếp liệu kiệt quệ, do đó mốc lịch sử đau
thương đen tối nhất của toàn dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu
đã đến vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chiến tranh “Quốc, Cộng” đã chấm dứt được 10 tháng, toàn cõi Việt Nam
từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu đắm chìm dưới quyền cai trị chuyên chính vô
sản độc tài tàn bạo vô nhân đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghiã Việt Nam. Bè lũ Cộng sản Việt Nam lợi dụng xảo ngữ “Giải phóng miền

226

Nam” thực thi chính sách “Giai cấp đấu tranh” cướp đoạt tài sản của “Tư sản”
miền Nam, vơ vét đủ mọi thứ “thượng vàng hạ cám” đem về miền Bắc để trở
thành “Tư bản Đỏ”, nên lên mặt kiêu căng hớn hở ăn Tết Bính Thìn rầm rộ linh
đình.

Bọn Cán binh Cộng sản miền Nam đi tập kết ra Bắc hồi 1954, nay theo quân
Việt Cộng Bắc Việt trở về Nam với danh nghiã “Mặt trận Giải phóng miền Nam”
hay “Chính phủ Lâm thời miền Nam”, cũng được dịp vơ vét tiền của dân chúng
làm ăn buôn bán lương thiện để làm giầu, với tội danh gán ghép cho là “Tư sản
mại bản bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, Ngụy quân Ngụy quyền tay
sai Đế quốc Mỹ…”. Nhưng, chúng ăn Tết Bính Thìn cũng chẳng được vui vẻ cho
lắm, vì chúng bị bọn Cộng sản Bắc Việt xoá sổ ngay sau ngày cuộc xâm lăng miền
Nam hoàn tất, và đang phải lo tìm móc ngoặc với bọn thẩm quyền đương thời, để
bảo vệ bản thân thoát khỏi chiến dịch kỳ thị cho “phục viên” non (tức là về hưu
sớm).

Bọn đón gió trở cờ thuộc “phe nhóm thứ ba thường tự coi là trung lập tại
miền Nam”, và bọn “Cách mạng 30 tháng Tư” từng nghe lời xúi giục mua chuộc
của Cộng sản nằm vùng gây rối tại miền Nam trước 30 tháng 4 năm 1975, cũng tiu
nghỉu vì bị bọn Cộng sản “vắt chanh bỏ vỏ” không tin dùng hoặc bắt đi cải tạo, nên
chúng và gia đình cũng chẳng an tâm mà vui hưởng Tết Bính Thìn. Những đứa
chưa bị bắt đi cải tạo mới tỉnh ngộ, nơm nớp lo sợ tìm đường vượt biên thoát đi
ra nước ngoài để trốn ách nạn Cộng sản đang hoành hành trong xã hội.

Hơn 1 triệu Quân nhân các cấp và lực lượng Bán quân sự, hàng chục ngàn
nhân viên hành chánh thuộc chính phủ Việt Nam Cộng hoà, hàng ngàn thành viên
các Đảng phái Chính trị không Cộng sản, và các công kỹ nghệ doanh gia giầu có,
đều bị Chính quyền Cộng sản Việt Nam bắt đi tập trung cải tạo vô thời hạn, thân
nhân vợ con họ ở nhà cũng bị kỳ thị đối xử, nên Tết đến những người này càng
thêm âu sầu đau khổ lo âu, trước sự kênh kiệu huyênh hoang hớn hở ăn mừng cái
Tết Bính Thìn Đại thắng của bọn Cộng sản Việt Nam “xác người tâm thú”.

TẾT KỶ TỴ (6 tháng 2 năm 1989).

Sau 70 năm áp dụng chủ thuyết Kinh tế Chỉ huy Tập quyền, nền kinh tế Liên
Sô càng ngày càng suy xụp tồi tệ, sợ nhân dân bị đè ép đến cực cùng sẽ nổi dậy
chống chế độ, Mikhail Gorbachev Tổng bí thư cuối cùng của Đảng Cộng sản Liên
Sô (1985-1991) đã phải áp dụng “cuộc tấn công hoà bình”, “đổi mới” Liên Bang Sô
Viết theo Tổng Thống chế, “mở cửa” rập khuôn nền Kinh tế Thị trường Tư bản
theo Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Nguyễn văn Linh Bí thư Trung Ương Đảng

227

Cộng sản Việt Nam (1986-1991) cũng noi gương Quan Thầy Gorbachev, “đổi mới”
“cởi trói văn nghệ” “mở cửa” mời Hoa Kỳ và các nước Tây phương đem nền Kinh
tế Thị trường vào cứu nguy nền Kinh tế Xã hội Chủ nghiã đang suy xụp cùng cực,
sau 14 năm Thống nhất đất nước và áp dụng nền Kinh tế chỉ huy của Cộng sản
thất bại thảm hại.

Nhờ thế, các quân nhân và Cán bộ Hành chánh Việt Nam Cộng hoà bị bắt đi
tập trung cải tạo lâu hơn 3 năm từ sau ngày 30-4-1975, được nộp đơn xin cho cả
gia đình đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. (Humanitarian Operation), dân
chúng được phép kinh doanh cá thể, việc xin cấp giấy phép di chuyển ra khỏi tỉnh
thị nơi cư ngụ được dễ dàng hơn trước, nên hàng quán chợ búa hoạt động sầm
uất trở lại, toàn dân hân hoan ăn mừng Tết Kỷ Tỵ “đổi mới” ồn ào vui vẻ, pháo nổ
râm ran, khắp nơi quần chúng đi Chùa, Nhà Thờ lễ bái cầu nguyện đầu năm thong
thả.

TẾT NHÂM THÂN (1992).

Ngày 30 tháng 12 năm 1991 Liên Bang Sô Viết tan rã thành 14 nước độc lập,
sau khi Gorbachev bị đảo chánh vào ngày 18-8-1991 vì lý do sức khoẻ không đủ
khả năng đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống Liên Sô. Boris Yeltsin trở thành Tổng
Thống Cộng hoà Nga. Đảng Cộng sản Nga bị loại khỏi quyền lực. Tượng Lenin bị
kéo xập. Thành phố Leningrad được trả lại tên cũ là Petrograd có từ thời Xa Hoàng
trước Cách mạng 1917. Viện trợ cho Cộng sản Việt Nam bị cúp từ 1 tháng 1 năm
1991.

Do đó Bạo quyền Cộng sản Việt Nam cần được sự viện trợ của Hoa Kỳ và
các nước Tư bản, nên phải thi hành thoả ước với Hoa Kỳ để cựu Tù nhân Chính trị
và thân quyến ra đi tái định cư theo diện H.O. (Humanitarian Operation) và diện
O.D.P. (Orderly Deperture Program) tại Hoa Kỳ và tại các nước Âu Á, những gia
đình nuôi trẻ lai đi theo diện Con Lai sang Hoa Kỳ, cho đi càng nhiều càng nhận
được nhiều Đô La.

Mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như đang lưu vong ở nước ngoài,
và bè lũ Cộng sản Việt Nam, mỗi người theo niềm riêng đều hân hoan đón mừng
Tết.

TẾT TÂN TỴ (2001)
Kể từ ngày 27 tháng 12 năm 2001, sau khi đọc các bản tin bằng Anh ngữ

của Thông tấn xã Trung Cộng tại Bắc Kinh và của hãng tin Nhật Bản từ Nam Ninh
đưa lên mạng Internet toàn cầu, loan báo sự kiện 2 phái đoàn ngoại giao đại diện

228

cho các bạo quyền Trung Cộng và Việt Cộng sát cánh bên nhau, hân hoan tổ chức
Lễ đặt cột mốc đầu tiên tại Móng Cái, để chính thức định lại ranh giới giữa 2 nước
Việt Nam và Trung Hoa.

Rồi những ngày tiếp theo, các Cộng đồng người Việt định cư trên toàn Thế
giới tổ chức liên tiếp những cuộc biểu tình, chống đối và lên án Đảng và Bạo
quyền Việt Cộng đã DÂNG ĐẤT HIẾN BIỂN của Tổ quốc Việt Nam cho quan thầy
Trung Cộng, để được quan Thầy che chở yểm trợ cho Đảng đứng vững mà tiếp tục
đàn áp bóc lột nhân dân Việt Nam bằng độc đảng chuyên chính tập quyền toàn
trị.

Đồng thời, một số nhân sĩ dũng cảm ở trong nước đang dấn thân đấu tranh
đòi Tự do Dân chủ Nhân quyền cho Dân tộc Việt Nam, cũng can đảm trình bầy
quan điểm của mình để trả lời các cuộc phỏng vấn (giờ chương trình Việt ngữ
chuyển qua các làn sóng điện về Việt Nam hàng ngày) của các đài phát thanh lớn
ngoại quốc như BBC (Anh), RFI (Pháp), và RFA (Á Châu Tự do của Hoa Kỳ) về các
vấn đề biên giới trên đất liền và hải phận trong Vịnh Bắc phần giữa Việt Nam và
Trung Hoa.

Nhờ thế, mọi người mới vỡ lẽ và hiểu rõ ràng lý do tại sao cùng là người
Việt Nam, cùng tổ chức kỷ niệm biến cố 30 tháng 4 Dương lịch hàng năm, nhưng
lại để bầy tỏ hai niềm tâm sự VUI, BUỒN trái ngược hẳn nhau.

Phe Việt Cộng mừng chiến thắng.
Nhưng, những người thuộc phe Quốc gia Nhân bản chống Cộng thì để nhắc
nhở nhau nhớ ngày Quốc Hận, cả nước phải đắm chìm dưới gông cùm chuyên
chính vô sản toàn trị bóc lột bạo tàn vô nhân đạo của bạo quyền Cộng sản vong
nô bán nước hại dân, cũng như để tiếp tục tiếp tay hỗ trợ ngày một mạnh mẽ hơn
nữa cho đồng bào trong nước có cơ hội thuận lợi vùng lên loại trừ bọn bạo quyền
Cộng hoà Xã hội chủ nghiã VN và Đảng Việt Cộng, giành lại các quyền Tự do Dân
chủ Nhân quyền, có được cuộc sống ấm no hạnh phúc công bằng như mọi người
dân của một nước độc lập trên toàn thế giới đang được hưởng.
Sau đây là đôi bài thơ Xuân Tân Tỵ (2001) xướng họa để ghi nhớ năm đầu
tiên của Thế Kỷ 21 của Nguyễn-Huy Hùng và các thân hữu đang lưu vong tỵ nạn
Cộng sản trên đất nước Liên Bang Hoa Kỳ.

229

2001, TÂN TỴ 2.- Trung Tướng Vĩnh Lộc
NHỮNG ƯỚC MONG
ĐẦU THIÊN NIÊN KỶ THỨ BA Thiên kỷ Hai rồi đã đến Ba,
Đâu đâu chẳng thấy đặng an hoà.
Năm RẮN mở màn Thiên kỷ Ba, Gia đình không những chờ Xuăn đến,
Đào Mai đua nở nắng chan hoà. Nước Tổ còn thêm vướng can qua.
Gia đình đoàn tụ chờ Xuân đến, Mỹ quốc có chi mà hạnh phúc,
Đoàn thể quây quần đợi Tết qua. Nam bang còn lại vẫn phong ba.
Xứ Mỹ chứa chan hương hạnh phúc, THế nước đàn bà xông trận tuyến,
Quê Nam cuồn cuộn bóng tà ma. Chờ chi Hào kiệt vướng chân ra.
Anh hùng cứu nước còn đơn chiếc,
Hào kiệt vì Dân được mấy nhà! Houston, Texas
o-o-o
Bao giờ Hào kiệt mới ra? 3.- Đại Tá Bùi Hữu Đặng
Tiếp tay tranh đấu để mà cứu Dân. (hành chánh Tài chánh)
Cho nòi giống hết phong trần,
Thoát tay Cộng đảng bất nhân bạo tàn! VẬN NƯỚC ĐẾN RỒI

Fountain Valley, Nam California, Thìn, Tỵ, mở màn Thiên kỷ Ba,
Tết Tân Tỵ, 2001 Cúc, Lan chào đón nắng Xuân hoà.
KHIẾT CHÂU NGUYỄN-HUY HÙNG Gia đình xum họp vui đời mới,
Đoàn thể hợp quần hưởng Tết Ta.
Các bài họa của thân hữu: Đất Việt chứa chan hương hạnh phúc,
Trời Nam rực rỡ ánh dương sa.
1.- Giáo sư Ảo Giản Phan Ngô Anh hùng phục quốc liều thân xác (*),
Hoan hỷ đón mừng Thiên kỷ Ba, Hào kiệt vì Dân đã đứng ra.
Vòng tay mở rộng để cầu hoà. Vận nước đến hồi hưng phục thịnh,
Quên thù, bỏ oán, theo đường mới, Toàn dân đoàn kết diệt qủy ma.
Cứu nước, thương nòi, giải nạn qua. o-o-o
Đất khách dễ mê lòng chiến sĩ, Đời Ta, Thời thế, cam chuốc hận,
Tình nhà khó chống lực tà ma. Đời Trẻ, tương lai hưởng An hoà.
Bại, Thành, ai luận Anh Hùng kệ,
Quyết xuất, hy sinh cứu nước nhà. Garden Grove, Nam California
o-o-o
Đã là Hào kiệt phải ra, (*) Lý Tống là một trong những Anh Hùng
Trùm chăn như thế ai mà cứu Dân? cứu quốc. Lái máy bay từ Thái Lan xâm
Dấn thân, chi sợ phong trần, nhập Saigon rải truyền đơn, vào ngày Tổng
Nêu cao hai chữ Nghiã Nhân diệt tàn. Thống Hoa Kỳ Bill Clinton thăm Hà Nội.

Pasadena, Nam California -------HẾT-----

230


Click to View FlipBook Version