Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s th t v con ng i muôn m t H Chí Minh (ph n 1)
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao) Dù chấp nhận hay chống đối, dù kính trọng hay khinh ghét, Hồ Chí Minh vẫn
là một nhân vật lịch sử đương đại. Viết về Hồ Chí Minh, khen cũng nhiều, chê cũng lắm, thần
thánh hóa cũng không ít mà bôi bác cũng không thiếu.
Những người từng đứng dưới trướng Hồ Chí Minh thì ra sức bào chữa và che đậy tội ác của
Hồ Chí Minh, không phải vì họ thương tiếc kính trọng con người này, mà là để bảo vệ chính
họ. Càng che đậy được tội ác của Hồ Chí Minh càng chứng tỏ con đường đi của họ trong quá
khứ không có gì sai lầm. Ngược lại, tội ác của Hồ Chí Minh càng bị lột trần thì họ càng bị
nhục nhã vì đã tiếp tay cho một tên ác quỷ hại dân hại nước và cuộc đời của họ hiện nguyên
hình chỉ là cuộc đời của những tên thời cơ, hoạt đầu, cuồng tín, ngu si, hại dân hại nước.
Với người chống Cộng, ngoài việc mong muốn trả lại sự thật cho lịch sử còn muốn lột trần
thủ đoạn và tội ác của Hồ Chí Minh. Trong việc làm này, nhiều sự thật phũ phàng tới độ khó
tin đã được phát hiện, đẩy người viết đến những cảm xúc và những bài viết quá mạnh. Cũng
chính vì vậy mà một số người cho rằng người viết mang nặng định kiến.
Nhớ lại, năm 1954 cả triệu đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam, khi kể lại những chuyện đấu
tố, công an trị, xiết bao tử hoặc ngăn sông cấm chợ của Cộng Sản Hà Nội thì rất nhiều người
nghi ngờ cho là “dân Bắc Kỳ di cư xạo sự”. Cho đến tháng 4 năm 1975, không ít người Miền
Nam vẫn còn tỏ ra vui mừng lúc “đàn bò vào thành phố”. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, sau
khi chứng kiến tận mắt cộng sản sục sạo từng góc nhà, lập trạm kiểm soát dọc đường, chận
bắt từng ký gạo lạng thịt, bày trò đánh tư sản mại bản, cưỡng bức dân thành phố lên các vùng
rừng rú hoang địa được mệnh danh là các vùng kinh tế mới để cướp đoạt tài sản nhà cửa thì
chính những kẻ một thời từng mơ ước Cộng Sản và từng lên đường xuống đường chống phá
Miền Nam mới mở mắt và tìm cách vượt biên bất kể sống chết. Lúc này mọi người mới nhận
ra rằng mọi câu chuyện kể về tội ác của Cộng Sản đều là sự thật, và “nếu cái cột đèn biết đi
thì nó cũng đi”.
Vì vậy, để có một nhận định đúng về Hồ Chí Minh chúng ta không thể căn cứ hoàn toàn vào
những gì thấy trên các mạng truyền thông hay trên một trang sách mà cần phải phân tách tìm
hiểu các bài viết đó từ nhiều góc độ. Hơn thế nữa, chúng ta còn phải so sánh lời nói và việc
làm của chính Hồ Chí Minh mới có thể nhận diện được mặt thật của con người muôn mặt
này.
Việc đấu tố tại Miền Bắc trong những năm 19531956 do Hồ Chí Minh phát động giết oan
hàng trăm ngàn người là có thật. Việc triệt hạ các đảng phái đối lập và bắt bớ tù đày hàng
triệu người dân vô tội chỉ vì nghi ngờ những người này sẽ gây nguy hiểm cho chế độ là có
thật. Hình ảnh Hồ Chí Minh khóc lóc lau nước mắt trong màn kịch sửa sai ngày 29101956
tại quãng trường Ba Đình Hà Nội cũng là có thật. Nhưng những giọt nước mắt của Hồ Chí
Minh chỉ là những giọt nước mắt cá sấu bởi vì hàng trăm ngàn nạn nhân bị đấu tố cùng thân
nhân của họ vẫn tiếp tục bị truy sát lý lịch, quản chế, cô lập, hành hạ, đầy đọa cho đến ba đời
con cháu vẫn không ngóc đầu lên được. Ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống Việt Nam
Cộng Hòa, từng có một câu nói để đời: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ
những gì Cộng Sản làm”.
Có hai tập sách của hai tác giả biết rất nhiều, biết rất rõ ràng, biết chi ly, biết hết những góc
cạnh uẩn khúc cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh từ tuổi ấu thơ cho đến ngày Hồ Chí
Minh “đi gặp cụ Các Mác cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác” theo bản di chúc. Hai
tập sách này do Hà Nội xuất bản: Tập thứ nhất có tựa đề “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt
Động Của Hồ Chủ Tịch” tác giả Trần Dân Tiên, nhà xuất bản Sự Thật, Cơ Quan Tuyên Huấn
Trung Ương Đảng, in lần thứ nhất năm 1949 và tái bản nhiều lần. Tập thứ hai có tựa đề “Vừa
Đi Vừa Kể Chuyện” của tác giả T. Lan do nhà xuất bản Thanh Niên Hà Nội ấn hành.
Về phía ngoại quốc, ngoài Jean Lacouture, Bernard B. Fall, Jean Francois Revel, Oliver
Tood... còn có ba tác phẩm nặng ký là “Vietnam A History” của Stanley Karnow, Viking
Press, 1983, “Ho Chi Minh The Missing Years 19191941”của Sophie QuinnJudge,
Bekeley, University of California 2003 và “Ho Chi Minh” của William J. Duiker.
Stanley Karnow viết về Việt Nam giống như phò mã cỡi ngựa xem hoa hay một anh thợ chụp
hình, chỉ thấy được những gì “bên ngoài” chứ không biết được “bên trong”. Lại nữa, tài liệu
của Stanley Karnow phần lớn dựa theo tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cùng các nguồn
tin của Cộng Sản nên hời hợt, không cân bằng. Tuy nhiên dù một chiều và nhiều thiếu
sót, “Vietnam A History” của Stanley Karnow lại là “A Companion to the PBS Television
Series” nên ảnh hưởng không ít đến giới trẻ và những người không biết gì về Việt Nam. Hai
tác phẩm còn lại, “Ho Chi Minh The Missing Years 19191941” của Sophie Queen Judge
và “Ho Chi Minh” của William J. Duiker, nhờ ra đời sau khi đế quốc Liên Sô và các nước
Cộng Sản Đông Âu sụp đổ vào năm 1989 nên đã thu thập và khui ra được một số bí mật. Tuy
nhiên cũng còn vô số bí ẩn chưa tìm được lời giải.
Ở trong nước sách báo viết về Hồ Chí Minh nhiều hơn lá mùa thu, để câu cơm, để giữ ghế, để
chạy chức chạy quyền, để mỗi tháng trong sổ lương thực được bồi dưỡng thêm nửa lạng thịt
hay vài trăm gam bột ngọt nên đầy dẫy những tâng bốc và thần thánh hóa, đại loại như “Tác
Phẩm Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh” của Hà Minh Đức, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà
Nội 1984, “Thời Niên Thiếu Của Bác Hồ”của Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng, “Bác Hồ Trên
Đất Pháp”, “Bác Hồ Trên Đất Nước Lê Nin” của Hồng Hà hay“Di Tích Chủ Tịch Hồ Chí
Minh” của Trần Minh Siêu... Những tập sau này tuy thêm một số chi tiết và mang nội dung
như những tập biên khảo nhưng thực chất chỉ là dựa theo hai quyển sách của Trần Dân Tiên
và T. Lan rồi vẽ cọp thêm râu, vẽ rắn thêm chân, bịa đặt, khuếch đại. Những tập sách tâng
bốc ngu si và nhảm nhí này không đáng để mắt tới.
Dưới đây là nguyên bản hai trang mở đầu của Chương I trong tập “Những Mẫu Chuyện Về
Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, tác giả Trần Dân Tiên, ấn bản đầu tiên 1949, tái bản tại
Hà Nội 1976:
Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân
rất giản đơn: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình.
Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, lần đầu tiên tôi trông thấy Hồ Chủ tịch. Đó là một ngày lịch
sử. Ngày hôm ấy, đứng trước rất đông quần chúng hoan hô nhiệt liệt, Hồ Chủ tịch trang
nghiêm đọc bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP của nước Việtnam dân chủ cộng hòa.
Ngày thứ hai tôi viết thư xin phép được gặp Hồ Chủ tịch. Ngay chiều hôm ấy, tôi rất sung
sướng tiếp được thư trả lời của Hồ Chủ tịch viết như thế này:
“Ngày mai 7 giờ 30 mời chú đến”
Ký tên HỒCHÍ MINH
Thư trả lời chóng, nội dung thư giản đơn và giờ hẹn gặp sớm khiến cho tôi rất băn khoăn.
“Sáng ngày 491945, đúng 7giờ 25 tôi đến dinh Chủ Tịch. Đúng 7 giờ 30, một người thanh
niên đến phòng khách, lễ phép nói với tôi: “Hồ Chủ Tịch đang đợi anh ở phòng làm việc”.
Phòng làm việc của Chủ Tịch là một gian phòng rất rộng, một bên có nhiều cửa sổ lớn.
Trong phòng có một cái bàn làm việc, một chiếc giường, một tủ sách nhỏ kê sát vào tường, và
hai bàn nhỏ của hai thư ký. Phía trên lò sưởi có một lọ hoa. Đây là tất cả những đồ trang trí
trong phòng làm việc, không có trang trí một thứ gì khác.
Hồ Chủ tịch thường mặc bộ quần áo kaki, đi giày vải đen. Tóc Người đã hoa râm, trán rộng
và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng, râu che nửa miệng, mặt gầy, da ngăm ngăm đen, khiến
người ta nghĩ đến sương gió dãi dầu trong rừng sâu và những nỗi gian khổ của chiến tranh
du kích...
Không cần mất công suy nghĩ, chỉ đọc một trích đoạn ngắn trên chúng ta đã thấy ngay có
những điều không ổn:
Theo tác giả Trần Dân Tiên, sau khi đến quảng trường Ba Đình chiêm ngưỡng Hồ Chủ Tịch
đọc diễn văn vào ngày Chủ Nhật 291945 thì ngày hôm sau, Thứ Hai 391945, ông về nhà
lập tức viết ngay một lá thư xin được gặp để làm cuộc phỏng vấn. Thư viết gửi đi buổi sáng
thì ngay chiều hôm ấy, nghĩa là cũng vào ngay chiều Thứ Hai 391945 ông đã nhận được thư
phúc đáp viết ngắn gọn như thế này:“Ngày mai 7 giờ 30 mời chú đến” Ký tên Hồ Chí Minh.
Chuyện sẽ không có gì đáng nói nếu như sự việc xảy ra vào thời buổi tin học hiện đại, hai
người có địa chỉ điện thư của nhau, chỉ cần một cái nhấp chuột là người kia nhận được điện
thư và trả lời. Tiếc thay, vào thời điểm 1945, phương tiện truyền tin tối tân nhất chỉ nhờ vào
tín hiệu tạch tạch tè tè của ông Samuel Morse, và phương tiện này chỉ dành cho các cơ quan
công quyền hay sở bưu điện, còn đám dân thường thì chỉ trông cậy vào người đưa thư.
Ông Trần Dân Tiên là một nhà báo, đâu có phương tiện như một cơ quan công quyền, còn Hồ
Chí Minh thì mới sáng hôm qua còn bận bịu đọc Tuyên Ngôn Độc Lập, bề bộn công việc,
đâu có thì giờ ngồi ở phòng nhận, đọc và trả lời điện tín. Như vậy chuyện một nhà báo buổi
sáng gữi thư đi, buổi chiều nhận được thư trả lời của một vị Chủ Tịch Nước, nhanh đến như
thế là một chuyện bịa đặt bá láp, cực kỳ vô lý, cực kỳ ngu xuẩn.
Bây giờ chúng ta cùng xem hai bác cháu gặp nhau rồi nói với nhau những gì!
Nhà báo Trần Dân Tiên viết nơi trang 6:
... Lúc mới gặp, tôi có cảm giác người như một thày giáo ở nông thôn. Tóc người hoa râm,
trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng, râu che nửa miệng, mặt gầy, da ngăm ngăm
đen,...
Người bô trai quá! Vừa bô trai vừa phong sương gấp trăm lần anh chàng Dũng trong Đoạn
Tuyệt của Nhất Linh! Chưa hết! Người còn nhiều cái hay kinh hãi khác nữa. Khi nhà báo
Trần Dân Tiên muốn được biết tiểu sử của Người thì Người cười và đáp:
“Tiểu sử. Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Chúng ta phải
làm những công việc hết sức cần kíp đi đã! Còn tiểu sử của tôi... hong thả sẽ nói đến...”
Và ký giả Trần Dân Tiên đưa ra nhận xét của mình nơi trang 7:
“Một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề
bộn bao nhiêu công việc làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của Người được?”
Trời đất ơi là trời đất! Bác thì trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng, không chỉ đẹp
trai hết sẩy lại còn thêm đức khiêm tốn không muốn nói về mình. Còn cháu thì thông minh
giỏi giang (bởi vì không giỏi giang làm sao có được cuộc phỏng vấn và viết được
quyển Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch cho chúng ta đọc).
Hai bác cháu khen nhau rối rít.
Có điều sau này vỡ lẽ ra trên mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S này từ thời Hồng Bàng lập
quốc đến nay chẵng có một ai mang tên Trần Dân Tiên làm nghề viết báo. Hồ Chí Minh
đã dựng lên một Trần Dân Tiên không có thật và dựng lên cuộc phỏng vấn không có
thật để tự khen mình bô trai, thông minh, con nhà giàu, học giỏi, khiêm nhượng. Hồ Chí
Minh đã tự đề cao mình, tự đánh bóng mình, hay nói một cách đúng hơn là để tự
sướng. Điều này đã được chính thức xác nhận bởi ông Nguyễn Khánh Toàn, Thứ
Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục Hà Nội. Trong bài đề tựa quyển “Tác Phẩm Của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh”của tác giả Hà Minh Đức, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội, 1984, ông
Nguyễn Khánh Toàn viết: “Trần Dân Tiên là bút danh của Hồ Chủ Tịch ghi lại những sự
kiện lớn đã đi qua cuộc đời của Người do chính Người miêu tả...” Một số tác phẩm khác do
Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hà Nội ấn hành từ giữa những năm 1990 về sau cũng xác nhận
tác giả tập “Vừa Đi Vừa Kể Chuyện” là T.LAN cũng là một bút hiệu khác của Hồ Chí
Minh.
Bởi vì Trần Dân Tiên là một nhân vật không có thật nên cuộc phỏng vấn đương nhiên là
không có thật và những sự việc được kể ra trong quyển Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt
Động của Hồ Chủ Tịch hoàn toàn không có thật. Cũng như vậy, những mẫu chuyện trong
tập Vừa Đi Vừa Kể Chuyện của T.LAN viết về Hồ Chí Minh cũng chỉ là những chuyện Hồ
Chí Minh tưởng tượng tô vẽ về mình. Nói trắng ra là bịa đặt, là phịa, là dối trá, là bịp
bợm. Như vậy, các bài viết và những quyển sách của một số tác giả tại Hà Nội cũng như
của một vài cây viết ngoại quốc dựa theo mấy quyển sách này thì lấy đâu ra sự thật. Vì
thế, muốn biết về Hồ Chí Minh không gì hơn là đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng và bằng
chứng để đối chiếu.
Sáu tháng sau vụ khủng bố 9112001, cựu Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Nga Sô và cũng là
cựu tổng thống Liên Bang Xô Viết Mikhail Gorbachev đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm nạn
nhân tại Trung Tâm Thương Mại New York. Sau đó ông có một buổi nói chuyện với thính giả
và sinh viên Columbia University. Tại đây ông xác nhận: "Đảng Cộng Sản mà tôi phục vụ cả
đời chỉ biết tuyên truyền. Chúng tôi, trong số đó có tôi, từng nói 'Tư bản đang dãy chết. Trên
thực tế, chúng tôi bị bỏ rơi lại đàng sau và chế độ đã tan rã..."
Cộng Sản Việt Nam là tay sai của Cộng Sản Nga Sô nên việc tuyên truyền và dối trá là điều
đương nhiên. Kỹ thuật tuyên truyền của Cộng Sản là dựa trên một số sự kiện có thật để phịa
ra những điều không thật, nhất là trong việc bịp bợm và thần thánh hóa lãnh tụ. Những bịp
bợm này được lồng qua những bài viết trên các cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản như
Tạp Chí Cộng sản, Tạp chí Học Tập, trên báo chí, trên các trang mạng, và đầy dẫy trên
Wikipedia...
Đó là lý do tại sao chúng tôi cho đăng nguyên văn dưới đây một số trích đoạn tài liệu của
Cộng Sản để chúng ta dễ dàng phân tích, đối chiếu, lựa chọn, trong việc đi tìm sự thật.
Xuất thân và quê quán:
Theo tài liệu của Hà Nội:
Gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Sen xã Kim Liên tại huyện Nam Đàn, Nghệ An thì
Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ hai là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ ba là
Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ tư là Nguyễn Văn Dân, tổ đời thứ năm là Nguyễn Sinh Vật giữ
chức giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông năm thứ ba), tổ đời thứ sáu là Nguyễn
Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là
Nguyễn Sinh Nhậm. Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không
rõ năm sinh, năm mất.
Chủ Tịch tên thật là Nguyễn Sinh Cung (giọng địa phương phát âm là Công), tự là Tất
Thành. Quê nội là làng Kim Liên (tên Nôm là làng Sen). Ông được sinh ra ở quê ngoại là
làng Hoàng Trù (tên Nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho
đến năm 1895. Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện
Nam Đàn. Quê nội của ông, làng Kim Liên là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng
không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn
có tên là làng Đai Khố. Vào đời ông, phần lớn dòng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng
nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp.
Thân phụ ông là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh Sắc, từng đỗ phó bảng. Thân mẫu là bà
Hoàng Thị Loan. Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh
Khiêm (tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh
Nhuận 19001901, tên khi mới lọt lòng là Xin...
Trên đây là lai lịch của Hồ Chí Minh trên trang mạng Wikipedia. Sự thật quan trọng đầu tiên
là Hồ Chí Minh không hề mang huyết tộc họ Nguyễn và Hồ Chí Minh cũng không phải là
con của ông Nguyễn Sinh Sắc (sau này dổi tên là Nguyễn Sinh Huy) mà là con hoang dâm
của bà Hoàng Thị Loan và Hồ Sĩ Tảo.
Chúng ta có bằng chứng:
Cuộc tình duyên của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan được Ban Nghiên Cứu
Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ Tĩnh ghi lại nơi trang 15 trong “Những Mẩu Chuyện Về Thời
Niên Thiếu của Hồ Chủ Tịch”, nhà xuất bản Hà Nội, nguyên văn:
...Vào thời bấy giờ quan niệm “môn đăng hộ đối” trong hôn nhân phong kiến ràng buộc chặt
chẽ mọi người, nhất là đối với tầng lớp nho sĩ. Song bởi hết lòng yêu mến một học trò có đức
có tài nên ông bà Đường đã gã bà Hoàng Thị Loan, con gái đầu lòng của mình cho ông
Nguyễn Sinh Sắc. Năm ấy bà Loan mới 13 tuổi...
Quả thật vào thời buổi ấy tại một vài nơi có hủ tục tảo hôn, nghĩa là cha mẹ dựng vợ gã
chồng cho con ở lứa tuổi rất sớm. Có thể cha mẹ đôi bên là bạn bè thân thiết nên hứa hẹn với
nhau khi bào thai còn nằm trong bụng mẹ. Có thể gã con để trừ nợ. Có thể vì “Làm lẽ mà đắp
chăn bông. Còn hơn chánh thất mà không chiếu nằm”. Trường hợp chồng lớn tuổi vợ nhỏ
tuổi là rất thường vì đàn ông ai cũng thích có vợ trẻ. Tuy nhiên không hiếm trường hợp người
chồng rất nhỏ tuổi nhưng lại lấy vợ rất lớn tuổi. Chú rể hãy còn mặc quần thủng đáy, hỷ mũi
chưa sạch đã được cha mẹ cưới về cho một cô vợ mười tám đôi mươi. Chuyện ngược đời xảy
ra có thể vì nhà trai muốn có thêm người làm hay vì công việc gia đình không thể trao cho
người ngoài, còn nhà gái vì thương con, muốn con được vào chỗ có cơm ăn áo mặc không
phải chịu cảnh nghèo đói khổ cực. Người con trai cũng chẵng thiệt thòi gì vì khi trưởng thành
có thể cưới thêm nhiều bà vợ thứ.
Chồng già lấy vợ trẻ là để hưởng thụ. Chồng trẻ lấy vợ già là để gia đình nhà chồng có người
làm. Tuy nhiên dù ở vào trường hợp nào đi nữa cả hai đều rơi vào một mẫu số chung duy
nhất là người vợ luôn luôn phải ở vào lứa tuổi mười tám đôi mươi, một lứa tuổi sẵn sàng cáng
đáng ông việc nhà chồng, sẵn sàng làm vợ và làm mẹ.
Ở đây câu chuyện hoàn toàn trái ngược. Bà Hoàng Thị Loan chỉ mới 13 tuổi, một cái tuổi
chưa đủ khôn ngoan để biết giúp đỡ và lo lắng công việc nhà chồng, một cái tuổi quá nhỏ để
biết làm vợ và làm mẹ. Vậy thì ông Nguyễn Sinh Huy rước về làm gì? Câu trả lời chỉ có thể
nằm một trong ba trường hợp: Thứ nhất: Ông Nguyễn Sinh Huy là người không đường
hoàng, mắc bệnh ấu dâm. Thứ hai: Thầy đồ Hoàng Xuân Đường nhìn thấy tương lai sáng sủa
của ông Nguyễn Sinh Huy nên đã hành động như quan phủ họ Trần trong chuyện tình Lan và
Điệp. Thứ ba: Bà Hoàng Thị Loan có máu đa tình quá độ và quá sớm.
Cân nhắc kỹ càng ta thấy giả thiết thứ nhất không thể chấp nhận được bởi vì trong suốt cuộc
đời, từ lúc hàn vi thư sinh tới khi ra làm quan và cho tới khi bị sa thải sống đời phiêu bạt cũng
không tìm thấy nơi ông Nguyễn Sinh Huy có một chuyện tình lăng nhăng nhảm nhí nào.
Sở dĩ phải phân tích dài dòng chuyện vợ chồng của ông Nguyễn Sinh Huy vì nó là đầu mối
của nhiều bí ẩn: Việc bà Hoàng Thị Loan sinh thêm một đứa con tên Xin. Việc ông Nguyễn
Sinh Huy thất chí rồi mất chức. Việc Hồ Chí Minh cư xử bạc bẽo với ông Nguyễn Sinh Huy
cùng hai người anh chị cùng chung máu mủ là bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Tất Đạt.
Đây cũng là đầu mối dẫn đến cuộc đời gian tặc của Hồ Chí Minh.
Về đứa con mang tên Nguyễn Sinh Xin sách Những Mẫu Chuyện Về Thời Niên Thiếu Của
Hồ Chủ Tịch do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ An ấn hành năm 1976, trang
17, ghi rõ như sau:
...Xa mẹ, xa em, xa bà con làng xóm ấm áp nghĩa tình và rời bỏ ruộng vườn với những công
việc quen thuộc là điều mà bà Loan không muốn. Nhưng vì đường học hành thi cử của chồng,
với tấm long yêu chồng và thương con sâu sắc, bà Loan đã gữi cô Thanh lại cho bà ngoại,
rồi cùng chồng dắt díu hai anh em cậu Thành, cậu Đạt vào kinh đô Huế...
Trang 19 viết tiếp:
... Khóa thi Hội năm 1898 ông Sắc vẫn không đỗ. Cũng thời gian ấy bà sinh thêm cậu
Nguyễn Sinh Xin.
Trang 20 viết:
Được một người bạn làm việc ở Huế giới thiệu, ông Sắc đưa hai anh em cậu Thành đi theo
và đến dạy học ở nhà cụ Nguyễn Sĩ Độ tại làng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, ngày nay là
huyện Hương Phú, cách thành phố Huế khoảng 7 ki lô mét. Bà Loan ở lại Huế tiếp tục làm
nghề dệt vải thuê và nuôi con nhỏ...
Trang 21 viết:
...Theo học với cha ở làng Dương Nỗ chưa được hai năm thì bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh.
Mặc dù ông Sắc và bạn bè hết lòng chạy chữa nhưng vì bịnh tình quá nặng lại không đủ
thuốc thang nên bà Hoàng Thị Loan đã qua đời ngày 1021901.
Những sự kiện nói trên trong quyển Những Mẫu Chuyện Về Thời Niên Thiếu Của Hồ Chủ
Tịch do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ An đưa ra đã tạo nên nhiều dấu hỏi và
càng giải thích càng khó hiểu.
Nói rằng bà Loan theo chồng vào Huế là để có thể lo lắng giúp chồng ăn học, vậy thì thời
gian ở Huế tại sao ông Nguyễn Sinh Huy không ở với vợ mà dẫn hai con đến nhà ông
Nguyễn Sĩ Độ tại bến Hương Trà cách Huế hơn 7 cây số. Ông Nguyễn Sinh Huy đã từng một
mình ở Huế trước khi đón vợ con vào, điều này chứng tỏ ông Nguyễn Sinh Huy rất thương
vợ thương con và muốn có vợ con bên cạnh. Vậy thì lý do nào đã khiến ông Nguyễn Sinh
Huy bỏ đi ở chỗ khác trong khi bà Hoàng Thị Loan mới sinh nở một đứa con mọn rất cần sự
có mặt của người chồng. Lúc này bà Loan ở đâu và ở với ai? Chẵng lẽ bà Loan ở một mình
trơ trọi. Với đứa con mọn trên tay cảnh sống chồng một nơi vợ một nẻo lại càng thêm tốn
kém. Tự nuôi lấy thân đã rất khó mà có ở lại Huế cũng không được ở bên chồng, tại sao bà
Loan không ẵm đứa nhỏ trở về Nghệ An mà vẫn ở lại Huế để đến nỗi cả hai mẹ con đều chết
tức tưởi vì bệnh tật thiếu thốn.
Như ta đã biết ông Nguyễn sinh Huy là một tay khoa bảng nên mọi việc đều rất cẩn trọng để
xứng đáng với danh phận ưu đãi của xã hội dành cho giới sĩ phu thời bấy giờ. Hãy nhận xét
việc ông đặt tên cho ba người con trước. Nguyễn Thị Thanh tự Bạch Liên vì quê ở làng Kim
Liên. Rồi Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung và sau đó đổi ra Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn
Tất Thành. Bốn chữ Khiêm Cung Thành Đạt tự nó đã nói lên đức tính cẩn trọng của một nhà
nho đồng thời cũng nói lên kỳ vọng của một người cha gửi gấm vào các con. Với cả một sự
cẩn trọng như vậy thì tại sao lại lọt vào một cái tên Xin nôm na mách qué lọt vào phả hệ họ
Nguyễn. Xin có nghĩa là gì?
Xin của ai? Xin ở đâu? Xin lúc nào?
Trong quyển Chân Tướng Hồ Chí Minh nơi trang 37 và 38 giáo sư Cao Thế Dung đã ghi lại:
... Dòng cử nhân Hồ Sỹ Tảo nguyên quán làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, sau di sang
làng Thái Nhã, tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Ông là một người ngang ngược, theo tư
liệu của Hồng Liên Lê Xuân Giáo thì ông Hồ Sỹ Tảo lại có tật nghiện rượu, thiếu cốt cách
nho phong, vì vậy cho dù là đồng môn và đồng hương với Hoàng Cao Khải, ông cử Tảo vẫn
không được Khải đề bạt làm quan nên Cử Tảo chung thân bất mãn. Câu chuyện phòng the
oan trái vỡ lỡ, tiếng đồn lan khắp một tổng Lâm Thịnh qua lời nói đầy độc địa “Tảo đúc cốt,
Sắc tráng men”. Đây là một biến cố đối với nho sĩ Nam Đàn, vi phạm nghiêm trọng đến nho
phong và danh giá. Cử Tải bị Nho lâm và đồng môn Nghệ An mặc nhiên không nhìn nhận.
Do vật gốc gác thụ sinh ra ông Hồ không phải là điều quá bí mật với lớp cao niên Nghệ Tĩnh.
Lớn lên lúc 7, 8 tuổi cậu Cung tức ông Hồ cũng đã biết gốc gác không đẹp trong việc sinh ra
mình cho nên thuở thiếu thời, theo lời cụ Cao Xuân Ôn người làng Hương Khê, Hà Tĩnh, cậu
Cung rất ít nói, trong lòng cũng như mang mối hận mênh mang...
Câu chuyện Tảo đúc cốt Sắc tráng men lan tràn khắp làng Quỳnh Đôi và làng Sen đất Nghệ
An, ai ai cũng biết nhưng không dám hó hé đả động, cho mãi tới thập niên 1990 một sử gia
Miền Bắc là ông Trần Quốc Vượng mới kín kín hở hở đề cập tới trong bài viết Thật Mà Chưa
Chắc Là Thật và sau đó triển khai thêm trong quyển “Trong Cõi”. Nối tiếp sự khám phá của
sử gia Trần Quốc Vượng là các bài viết của hai ông Sơn Tùng (sử gia miền Bắc) và ông
Phạm Xuân Cần.
Tuy nhiên bài viết mập mờ “Thật Mà Chưa Chắc Là Thật”của ông Trần Quốc Vượng lại tiết
lộ rằng ông Hồ Sỹ Tảo thông dâm với cô Đèn tức là thông dâm với bà Hà Thị Hy là vợ của
ông Nguyễn Sinh Nhậm rồi đẻ ra ông Nguyễn Sinh Sắc (sau này ông Sắc tự đổi tên là
Nguyễn Sinh Huy). Như vậy là Hồ Sỹ Tảo gian dâm với bà nội của Hồ Chí Minh chứ không
phải gian dâm với mẹ Hồ Chí Minh, và cũng vì vậy ông Nguyễn Sinh Sắc tức Nguyễn Sinh
Huy và tất cả các con của ông là Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Tất Đạt cũng như Nguyễn Tất
Thành đều mang giòng máu Hồ Sĩ Tảo.
Sử gia Trần Quốc Vượng hoặc đã lầm hoặc không dám viết đúng sự thật, vì theo lời người
dân hai làng Quỳnh Đôi và Kim Liên truyền miệng thì chỉ có một mình Hồ Chí Minh mang
dòng máu Hồ Sĩ Tảo mà thôi, và người hoang dâm với Hồ Sĩ Tảo là mẹ ruột Hồ Chí Minh
tức là bà Hoàng Thị Loan chứ không phải bà Hà Thị Hy. Điều này còn được ông Đào Bình
Giang trong Phụ Nữ Diễn Đàn số 115, xuất bản tháng 81993, trưng dẫn cuốn sách cổ Quốc
Triều Đăng Khoa Lục của cụ đại thần Cao Xuân Dục làm minh chứng. Theo sách này cử
nhân Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862 còn cử nhân Hồ Sỹ Tảo sinh năm 1869. Hồ Sĩ Tảo
kém cha của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Sắc đến bảy tuổi, không thể nào là cha của
Nguyễn Sinh Sắc được.
Hồ Chí Minh có nhiều năm sinh khác nhau. Ngay cả ngày chết cũng ghi khác nhau. Theo lý
lịch chính thức, Hồ Chí Minh có tên đầu đời là Nguyễn Sinh Cung sinh ngày 19 tháng 5 năm
1890. Tuy nhiên, căn cứ theo nhiều tài liệu khả tín thì ngày sinh 195 cũng chỉ cũng là một sự
ngụy tạo. Theo nhiều tài liệu thì khi thế chiến thứ hai kết thúc, Nhật bại trận nên bị giải giới
và Pháp lại nuôi ý định quay trở lại Đông Dương. Ngày 1951946 một phái bộ Pháp do
tướng D’Argenlieu cầm đầu đến Hải Phòng rồi lên Hà Nội. Để tiếp đón phái đoàn này Hồ
Chí Minh cho treo cờ hai bên dọc đường, nhưng sợ nhân dân phản đối nên nhận vơ đó là
ngày sinh của mình.
Một sự việc khác, ngay cả ngày chết của Hồ Chí Minh cũng bị Bộ Chính Trị Trung Ương
Đảng cộng sản sửa đổi. Hồ Chí Minh chết ngày 291969 nhưng ngày 29 lại trùng với ngày
Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn tại Ba Đình 291945, mà theo niềm tin của dân chúng người
khai sinh chế độ lại chết trùng vào ngày này thì đây là một điềm bất tường có ảnh hưởng gây
nguy hại cho chế độ. Vì vậy Bộ Chính Trị đảng cộng sản Hà Nội quyết định ra công bố ngày
từ trần của Hồ Chí Minh là 391969. Sau này vì che đậy không được nên Bộ Chính Trị Tung
Ương Cộng Đảng Hà Nội lại phải ra thông báo chính thức công nhận là Hồ Chí Minh chết
ngày 291969.
Điều này cho thấy từ ngày tháng năm sinh cho đến ngày chết của Hồ Chí Minh do Hà Nội
đưa ra đều vì lý do chính trị chứ không đúng sự thật
Theo lý lịch chính thức, Nguyễn Sinh Cung sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tuy nhiên có
những thông tin khác không đồng nhất.
Năm 1911 trong đơn xin học trường Hành Chính Thuộc Địa để ra làm quan cho thực dân
Pháp, Hồ Chí Minh tự ghi là sinh năm 1892.
Năm 1920, ông khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm
1894.
Theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng
làng Kim Liên, quê nội của ông, thì ông sinh tháng 4 năm 1894.
Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày
sinh là 15 tháng 2 năm 1895.
Lý lịch lần đầu đến Nga Sô khai sinh năm 1892.
Lý lịch sau cái chết vào năm 1933 tại Hương Cảng, khi trở lại Nga Sô Hồ Chí Minh khai
sinh năm 1903. Lý do có sự sai biệt hơn 10 năm (lúc 1890, lúc 1892, lúc 1894, lúc 1895, cuối
cùng là 1903) vì sự thật có hai Hồ Chí Minh (?)
Trong cuốn Chân Tướng Hồ Chí Minh, Giáo sư Cao Thế Dung ghi rằng Hồ Chí Minh sinh
năm Tân Mão (1891), có tên thánh là Gioan Bao Ti Xi Ta, cha là Hồ Sỹ Tảo chứ không phải
Nguyễn Sinh Huy. Giáo sư Cao Thế Dung trích các tác giả Hoàng Văn Chí, Hồng Liên Lê
Xuân Giáo cho biết Hồ Chí Minh là con hoang dâm của ông Hồ Sỹ Tảo với bà Hoàng Thị
Loan, vợ ông Cử Sắc.
Trong kỳ thi Tiểu học niên khóa 19491950 tại Liên Khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tỉnh, đề thi môn luận văn ra như sau: “Em hãy viết thư dâng lên Hồ Chủ Tịch nhân
dịp “60 tuổi của Người”. Như vậy là Hồ Chí Minh sinh vào năm 1890.
Với những năm sinh mù mờ nói trên ta chỉ có thể phỏng đoán Hồ Chí Minh sinh vào khoảng
thời gian 18901895.
Về phần ông Nguyễn Sinh Sắc, sau này tự đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, trên danh nghĩa là cha
của ba người con: Con trai đầu lòng, thường gọi con trưởng hay con cả, là ông Nguyễn Sinh
Khiêm tục gọi Cả Khiêm sau đổi tên là Nguyễn Tất Đạt, con thứ hai là bà Nguyễn Thị Thanh
hiệu Bạch Liên vì quê ở làng Sen, và con út là Nguyễn Sinh Cung sau đổi tên là Nguyễn Tất
Thành. Nghiệt ngã thay, đứa con thứ ba mang tên Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành,
tức Hồ Chí Minh, lại là đứa con gian dâm của bà Hoàng Thị Liên với Hồ Sĩ Tảo. Sau này bà
Hoàng Thị Loan, con gái của ông đồ Hoàng Đường, tức là mẹ ruột của Hồ Chí Minh lại còn
hoang dâm với một kẻ vô danh khác đẻ ra một đứa nhỏ đặt tên là Xin và chết tại Huế. Bà này
được báo chí cộng sản ca tụng là bậc nữ lưu trinh tiết.
Viết về một người đúng lẽ chỉ nên viết về cá nhân người đó nhưng vì Cộng Sản đã đưa ra một
sự mạo nhận huyết thống để lừa bịp mọi người. Đã có nhiều bài viết của rất nhiều tác giả
khác nhau, trong đó có bài vở của một số sử gia, kể cả sử gia Trần Quốc Vượng của Cộng sản
Hà Nội nói về sự kiện“Tảo đúc cốt Sắc tráng men”. Chúng ta cũng đang đi tìm sự thật, vì
vậy phải hiểu rằng những dẫn chứng được đưa ra ở đây không hàm chứa bôi bác mà chỉ là để
đóng góp và soi sáng vấn đề. Hơn thế nữa, cho dù Hồ Chí Minh có là giọt máu của ông
Nguyễn Sinh Huy hay chỉ là giọt máu rơi của Hồ Sỹ Tảo thì cũng không có gì đáng chê trách.
Xã hội dẫu nghiêm khắc cách mấy cũng chỉ có thể lên án việc làm dâm loạn của bà Hoàng
Thị Loan chứ không thể chê trách Hồ Chí Minh bởi lẽ con cái không thể chọn lựa được cha
mẹ.
Luân lý Á Đông thoạt nhìn có vẻ khó khăn chật hẹp nhưng thật ra lại rất cởi mở. Lịch sử
Trung Hoa chép rằng ông Cổn rất hung ác nhưng có con trai là vua Vũ được người đời ca
tụng là bậc thánh quân, vua Thuấn là bậc nhân đức nhưng lại có người cha là Cổ Tẩu hung
tàn bạo ngược. Lịch sử nước ta cũng ghi rằng vua Lê Đại Hành vốn là con không cha, bà mẹ
đi tắm sông gặp con rái cá rồi thụ thai. Trường hợp vua Thái Tổ nhà Lý cũng rất mập mờ.
Ngoại sử chép rằng bà mẹ vua Lý Thái Tổ một đêm nằm mộng gặp thần nhân rồi sinh ra Lý
Công Uẩn. Đứa nhỏ được nhà sư Lý Khánh Vân nuôi dưỡng sau này lớn lên đã sáng lập ra
triều đại cực thịnh nhà Lý. Có người còn suy luận rằng Lý Công Uẩn chính là con của nhà sư
Lý Khánh Vân. Nói một cách khác, gia thế nhân thân của hai vị hoàng đế Lê Đại Hành và Lý
Thái Tổ có nhiều nghi vấn. Tuy nhiên công đức của hai vị minh quân vẫn được người dân
Việt Nam đời đời ghi nhớ chứ không vì thế mà suy giảm.
Ở nhiều nơi tại Miền Bắc và Miền Trung nước ta có tục lệ thờ Thành Hoàng. Vị thần không
nhất thiết phải là người trong làng mà có thể là một người không biết từ đâu đến nằm chết đói
bên cạnh bờ tre bụi rậm được dân làng chôn cất và thắp cho vài nén nhang. Đền Bảo Hà dưới
chân đồi Cấm, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thờ thi thể một xác chết trôi trên sông Hồng dạt
vào bờ sông chảy qua làng. Từ ngày an táng thi thể người chết tại đây dân trong làng cảm
thấy có nhiều linh ứng thay đổi: Người trong làng khỏe mạnh không bệnh tật, nhà nhà làm ăn
phát đạt nên tin tưởng là người chết đã chết nhằm giờ thiêng (?) và có công phù trợ dân làng
nên tôn là Thành Hoàng, quanh năm lễ bái nhang khói. Có địa phương còn thờ cả Cá Ông
như trường hợp làng Kiến Phước, quận Hòa Tân, tỉnh Gò Công, vì từ ngày có một con cá ông
chết trôi lạc vào vùng này được dân làng chôn cất đường hoàng thì từ đó ngư dân trong làng
ra biển làm ăn đều được bình an, không có tai nạn.
Kể lại những chuyện trên để thấy rằng con người Việt Nam vốn rất nhân ái khoáng đạt, có
tình, có nghĩa. Truyền thống ngàn đời của người Việt Nam là luôn luôn tôn kính và ghi ơn
công đức những ai đã giúp đỡ mình. Cho dù Hồ Chí Minh có là con hoang dâm của bà Hoàng
Thị Loan với Hồ Sĩ Tảo hay là một đứa bé trôi sông lạc chợ của một ai khác từ xứ Hẹ bên
Tàu trôi qua xứ Việt Nam mà có công với đất nước Việt Nam thì cũng vẫn được người dân
Việt Nam kính trọng, tôn thờ. Ngược lại, bất cứ ai dù mang huyết thống hoàng tộc quyền quý
cao sang nhưng làm điều hại dân hại nước như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Mạc Đăng
Dung... Cũng sẽ bị muôn đời nguyền rủa khinh khi phỉ nhổ.
Trở lại huyết thống của Hồ Chí Minh. Từ 7, 8 tuổi Hồ Chí Minh đã biết gốc gác của mình, và
chỉ có riêng mình mang dòng máu Hồ Sĩ Tảo nên khi có uy quyền trong tay Hồ Chí Minh đã
bất nhân với ông Cử Sắc và cư xử rất bạc bẽo với hai người anh chị cùng mẹ khác cha là ông
Cả Khiêm tức Nguyễn Tất Đạt và bà Nguyễn Thị Thanh hiệu Bạch Liên. Mộ ông Nguyễn
Sinh Huy tại Cao Lảnh mặc cho lau sậy và cỏ hoang phủ kín. Em làm Chủ Tịch Nước mà anh
là ông Nguyễn Sinh Khiêm phải đi coi bói và chị là Nguyễn Thị Thanh phải đi bán trầu bán
cau tại chợ Sa Nam để kiếm sống. Ông Nguyễn Sinh Huy tuy không có công sinh nhưng có
công dưỡng. Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành hay Hồ Chí Minh được nuôi dưỡng
và được học hành hiểu biết là nhờ công ơn của ông Nguyễn Sinh Huy. Vậy mà Hồ Chí Minh
đã bất hiếu bất nhân bất nghĩa với ngay cả người cha của mình. Rạch Cái Tôm là một vùng
đất ban đêm do Việt Cộng kiểm soát. Việc đem cây vú sữa từ Miền Nam ra Miền Bắc còn
làm được thì việc Hồ Chí Minh ra lệnh bốc mộ cha mình tại xẻo rạch Cái Tôm hẻo lánh đem
ra Nghệ An hay đem ra Hà Nội để thờ phụng cho trọn tình hiếu thảo là điều không khó.
Nhưng Hồ Chí Minh không làm chỉ vì Hồ Chí Minh nghĩ mình mang giòng máu của Hồ Sĩ
Tảo, đâu có mắc mớ gì đến ông Nguyễn Sinh Huy. Thật đáng thương cho ông Nguyễn Sinh
Huy đã uổng công dưỡng dục một tên lưu manh bất nhân bất hiếu. Có điều làm mọi người vô
cùng kinh ngạc và bội phục là vào năm 1956 chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh
cho Bộ Trưởng Bộ Kiến Thiết là kỹ sư Hoàng Hùng tái tạo ngôi mộ này. Tổng Thống Ngô
Đình Diệm đã cho tái tạo ngôi mộ cho bố Hồ Chí Minh trong lúc Hồ Chí Minh lại không
thèm nhòm ngó đến mồ mã của người đã dày công nuôi dưỡng mình.
Về lai lịch của Hồ Chí Minh chỉ riêng phần tên họ cũng đủ nhức đầu. Theo cuốn
sách “Những bí danh, bút danh của Hồ Chủ Tịch” nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội,
2001, thì Hồ Chí Minh có tới 169 tên họ, bí danh, bút danh khác nhau: Nguyễn Sinh Côn,
Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, Paul Tất Thành là những tên của Hồ Chí Minh từ
thời ấu thơ đến khi xuống tàu sang Pháp. Sau đó là Nguyễn Ái Quốc 1919, Cheng Vang 1923,
Lin 1924, Lý Thụy 1924, Vương Sơn Nhi 1925, Tống Văn Sơ 1931, Hồ Quang 1938, P.C.Lin
(PC Line), 1938, ông Trần, 1940, Cúng Sáu Sán 1941, Già Thu 1941, Hoàng Quốc Tuấn,
1941, Hồ Chí Minh, X.Y.Z 1947, Trần Lực 1949, CB 1950...
Tuổi ấu thơ
Gia cảnh Hồ Chí Minh ở tuổi ấu thơ không được suôn sẻ. Tuy nhiên, dù cho khó khăn đến
mấy ông Nguyễn Sinh Huy cũng đã hết sức vượt mọi chướng ngại để lo cho con cái, nhất là
đường học vấn.
Nguyên văn một đoạn nơi trang trang 36 quyển “Những Mẫu Chuyện Về Thời Niên Thiếu
Của Bác Hồ” của Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ Tỉnh ghi lại:
Trong lúc còn bận sắp xếp việc gia đình sau ngày bà Loan từ trần ông Phó Bảng gữi hai anh
em cậu Thành đến học tại nhà thày đồ Trần Thân ở làng Ngọc Đình bên cạnh Kim Liên. Là
một nhà nho khẳng khái sống trong xã hội đen tối đạo lý đổi thay vàng thau lẫn lộn bất mãn
trước thời cuộc nên thày đồ Trần Thân chọn nghề dạy học và làm thuốc chữa bệnh để giữ
tròn khí tiết. Tuy vậy thầy là một nhà nho bảo thủ, một mực trung thành với lễ giáo phong
kiến và những điều răn dạy trong sách vở nho giáo. Trong các buổi học với thầy cậu thường
nêu ra các câu hỏi trái với ý nghĩ của thày. Vì vậy học chưa đầy một tháng cậu Thành đã bị
thầy Thân trả lại cho ông Phó Bảng. Cậu trở về học với cha...
Như vậy cụ đồ Trần Thân đã được chính Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ Tỉnh
xác nhận là một nhà nho khí tiết khẳng khái bất mãn với thời cuộc. Trước khi qua đời cụ còn
di ngôn cho con cháu: “Độc thị môn tâm hạ vấn. Hào vô kim hắc chi tâm” nghĩa là “Phải
biết lòng tự nhủ lòng. Đừng để đồng tiền làm hoen ố lương tâm”. Một người thầy như thế mà
gặp người học trò có chí lớn cùng khắc khoải với thời cuộc như mình thì tất hẵn thày trò tâm
đầu ý hợp. Từ ngàn xưa đến nay chưa có một người thầy nào lại đuổi khỏi cửa một học trò
thông minh giỏi giang lại cùng có tâm tư khắc khoải như mình. Vậy thì tại sao cậu Thành
không được thầy đồ giữ lại rèn luyện thêm để sau này có người tiếp nối chí hướng. Tại sao
đến khi học thì cả hai anh em nhưng cậu Thành chỉ học với thầy chưa đầy một tháng thì bị
đuổi. Thầy Nhan Uyên học trò của Đức Khổng Phu Tử qua đời lúc mới 30 tuổi. Nghe tin
người học trò của mình mất vị Vạn Thế Sư Biểu ngửa mặt lên trời than: Y! Thiên táng dư!
Thiên táng dư! Có nghĩa: Ôi! Trời lấy mất người truyền đạo của ta!
Biết rõ con không ai bằng cha mẹ. Biết rõ trò không ai hơn được thầy. Sự việc này do Ban
Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng tỉnh Nghệ Tỉnh tiết lộ tự nó xác nhận là ngay từ lúc còn nhỏ Hồ
Chí Minh đã là một hạng người bất trị và không ra gì. Cái bản chất “mất dạy”, xin cố gắng
hiểu là không thể dạy được, trong con người Hồ Chí Minh càng được biểu hiện rõ rệt khi Hồ
leo lên bàn độc.
Vì gia cảnh rối rắm cộng thêm hoạn lộ quan trường trắc trở nên ông Nguyễn Sinh Huy
thường say sưa mượn rượu tiêu sầu. Rất nhiều bài viết, trong đó có cả bài viết của cựu Đại Tá
bộ đội Bắc Việt Bùi Tín, cũng ghi nhận trong lúc nóng giận ông đã sai thủ hạ đánh chết một
nông dân nên bị cách chức. Tuy nhiên sách vở tài liệu của Hà Nội thì vẫn một mực viết rằng
ông Nguyễn Sinh Huy bị cách chức vì giúp đỡ nhân dân chống thuế và thường ghi lại một
câu nói gán cho là của ông: Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ, có
nghĩa “Những người làm quan là kẻ nô lệ trong đám nô lệ lại càng nô lệ hơn”.
Lập luận này cần được xét lại vì ở vào cái thời buổi mà thực dân Pháp và triều đình phong
kiến coi người dân rẻ như bèo, ông nghè Trần Quý Cáp vì lãnh đạo phong trào chống thuế mà
bị xử yêu trảm nghĩa là bị xử chém ngang lưng, Ông Nguyễn Hàng Chi anh ruột ông Nguyễn
Hiệt Chi người tỉnh Bình Định cũng vì tội chống thuế mà bị xử trảm. Một số vị khoa bảng
trước hay cùng thời với ông Nguyễn Sinh Huy như ông nghè Ngô Đức Kế sinh năm 1879 quê
làng Trảo Nha đỗ Tiến Sĩ khoa Tân Sửu 1901, ông Đặng Nghiêm Cẩn sinh năm 1867 quê
làng Lương Điền huyện Thanh Chương đỗ Phó Bảng khóa Ất Mùi 1895, ông Đặng Ngiêm Bá
hiệu Nghiêm Giang đậu Cử Nhân cùng khoa với cụ Phan Bội Châu, ông Lê Văn Nghiêm hiệu
Lâm Ngu đậu Giải Nguyên năm 1875 tại làng Lạc Thiện huyện Đức Thọ, Hà Tỉnh, ông Phan
Châu Trinh đậu Phó Bảng cùng khóa với ông Nguyễn Sinh Huy, tất cả đều bị triều đình Huế
bắt đày ra Côn Đảo chỉ vì bị tình nghi chống đối. Ông Nguyễn Sinh Huy đang là quan lại của
triều đình mà lại dám yểm trợ dân chống thuế mà chỉ bị cách chức thì thật là điều khó hiểu.
Cũng may, người tìm ra câu trả lời cho điều khó hiểu của chúng ta là ông Bùi Tín, nguyên
Phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân Hà Nội. Theo ông Bùi Tín thì “Ông Cụ (tức là ông
Nguyễn Sinh Huy) là tri huyện Bình Khê vì đánh chết một nông dân nên bị đuổi ra khỏi
ngành quan lại”. (RFA 1852007). Sau khi bị cách chức vì tội say rượu đánh chết người thì
ông Nguyễn Sinh Huy vào Nam làm nghề bốc thuốc Bắc tại các tiệm thuốc bắc Thiên Phúc
Đường và Tế Xuyên Đường nằm trên phố Lagrandiere và Rue d’Espagne ngày nay rồi sau đó
đến ở nhờ nhà ông Năm Giáo bên cạnh rạch Cái Tôm quận Cao Lãnh và chết tại đó.
Như chúng ta đã biết, thời niên thiếu Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế. Ông sống và theo
học tại đây cho đến khi cha bị cách chức vào năm 1909 thì phải thôi học. Đầu năm 1910 ông
vào Phan Thiết. Nhờ sự quen biết trước đây giữa ông Nguyễn Sinh Huy và ông Hồ Tá Bang
nên Nguyễn Tất Thành được vào dạy Pháp Văn lớp Ba (Cour Elementaire) tại trường Dục
Thanh. Hiệu trưởng trường này là cụ Nguyễn Thông. Ban sáng lập gồm có các ông Trần Lê
Chất (8671970), Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang (thân phụ Bác Sĩ Hồ Tá
Khanh, Tổng Trưởng Kinh Tế của nội các Trần Trọng Kim) và ông Nguyễn Hiệt Chi quê ở
Can Lộc Hà Tĩnh (anh ruột của ông Nguyễn Hàng Chi, người bị chém đầu vì lãnh đạo dân Hà
Tĩnh chống thuế). Nhưng lương lậu của trường tư thục không có là bao nên đến cuối năm
1910 Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Saigon kiếm sống. Thất bại, Hồ Chí Minh tìm
đường sang Pháp.
Trong tập Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, tác giả “Trần Dân Tiên”
cũng chính là Hồ Chí Minh đã viết về mình như sau:
“Vì muốn chống lại sự cai trị của thực dân Pháp mà cha ông là Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy
đã từ chức Tri Huyện Bình Khê. Nối chí cha, và nhất là thấy những nhà cách mạng trong
nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh... lúng
túng trong việc chống lại bọn thực dân đế quốc nên năm 1911 Nguyễn Tất Thành dưới tên
Văn Ba xin được một chân làm phụ bếp trên tàu Đô đốc LatoucheTréville sang Pháp tìm
đường cứu nước.”
Đây cũng là một sự vẽ rắn thêm chân. Tài liệu ghi rõ bà Hoàng Thị Loan chết ngày 102
1901 nhằm ngày 12 tháng 12 năm Canh Tý. Ông Nguyễn Sinh Huy sau khi thi trượt các khóa
Ất Mùi 1895 và Mậu Tuất 1898, mãi đến khóa Tân Sửu 1901 mới đậu Phó Bảng, cùng khóa
với cụ Phan Châu Trinh, nghĩa là mấy tháng sau khi vợ chết ông mới thi đậu. Cả hai đều làm
việc ở bộ Lễ dưới quyền ông Ngô Đình Khả nhưng đến năm 1904 cụ Phan Châu Trinh rũ áo
từ quan. Vào các năm 19071908 liên tiếp có những vụ biểu tình chống thuế rầm rộ ở Quảng
Nam, Quảng Ngải, Phú Yên, Thừa Thiên, cụ Phan Chu Trinh bị thực dân Pháp nghi ngờ là kẻ
chủ mưu nên bị bắt và bị xử tử hình, sau được đổi thành bản án lưu đày Côn Đảo, trong khi
Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc vẫn tiếp tục hoạn lộ với chức vụ tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình
Định, cho đến khi bị cách chức vào năm 1909. Như vậy việc ông Nguyễn Sinh Huy từ quan
chỉ là một sự bịa đặt trắng trợn và thô bỉ.
Ông Bùi Tín, cựu đại tá Quân Đội Miền Bắc có hơn 40 năm tuổi đảng và 37 năm tuổi lính và
cũng là người tiếp thu dinh Độc Lập từ tên hàng tướng Dương Văn Minh ngày 3041975.
Hơn thế nữa ông Bùi Tín lại là con trai của ông Bùi Bằng Đoàn, cựu Chủ Tịch Quốc Hội Việt
Cộng, người đã đứng ngang hàng với Hồ Chí Minh trao quân hàm Đại Tướng cho Võ
Nguyên Giáp vào năm 1948. Tuy chỉ mang cấp bậc Đại Tá nhưng ông Bùi Tín lại nắm giữ
chức vụ Phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân Hà Nội (tương đương với cấp Trung Tướng) và là
người từng gặp và làm việc với Hồ Chí Minh, từng giao tiếp thường trực với Võ Nguyên
Giáp nên có cơ hội biết được nhiều chuyện thuộc loại thâm cung bí sử. Đây là lời ông Bùi
Tín trong một cuộc phỏng vấn được ghi âm đài RFA ngày 1852007 do phóng viên Trà Mi
thực hiện:
“Ông Hồ Chí Minh là một nhà chính khách, một nhân vật lịch sử mà hiện nay trong và ngoài
nước có những đánh giá trái ngược hẳn nhau. Một số người ca ngợi ông ta đến mức như
thần thánh, như một con người tuyệt đối không bao giờ có sai lầm. Trong khi đó, cũng có
những người xem ông ta là một nhân vật tiêu cực và gây ra những tàn phá ghê gớm cho đất
nước. Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng
sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương,
và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con
đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.
Sự đánh giá của tôi về ông Hồ là cả một quá trình thay đổi khác nhau. Trước đây khi còn ở
trong nước thì khác. Dần dần, qua sự so sánh và nghiền ngẫm thì cách nhìn của mình trở nên
đúng mức hơn, công bằng và khoa học hơn. Theo tôi, khi ông Hồ sang Pháp năm 1911 lúc
đầu không phải vì mục đích đi tìm đường cứu nước. Lúc bấy giờ ông ta gặp phải một bi kịch
gia đình tha phương ở phía Nam. Mất chỗ dựa, ông Hồ quyết định ra đi tìm kế sinh nhai và
giúp đỡ gia đình...”
Như vậy, điều khẳng định đầu tiên về những bài viết cho rằng Hồ Chí Minh xuống tàu
Latouche Treville xuất dương tìm đường cứu nước chỉ là sản phẩm của tuyên truyền lừa bịp.
Hồ Chí Minh xuất dương là để tìm đường cứu mình và cứu gia đình.
Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s th t v con ng i muôn m t H Chí Minh (ph n 2)
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao) ...Sự việc Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, từ bến Nhà Rồng xuống tàu
sang Pháp vào năm 1911 là có thật, nhưng nói rằng Nguyễn Tất Thành “ra đi tìm đường cứu
nước” là hoàn toàn sai sự thật. Bằng chứng: Ngay khi vừa chân ướt chân ráo đến cảng
Marseille là Hồ Chí Minh đã nộp hai lá đơn cùng đề ngày 1591911, một gửi cho Tổng
Thống Pháp, một gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp, xin đặc cách được cho vào học
Trường Thuộc Địa để làm một viên chức cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Điều này
chứng tỏ Hồ Chí Minh đã có mục đích của chuyến đi là sang Pháp để tìm đường cứu
mình và cứu gia đình. Hai lá thư này bị dấu nhẹm cho mãi đến khi Giáo Sư Nguyễn Thế Anh
phát hiện trong kho tài liệu Chi Nhánh Hải Ngoại, Văn Khố Quốc Gia, Paris...
*
Phần 1 đã đăng:
danlambaovn.blogspot.com/2016/04/itimsuthatveconnguoimuonmatho.html
Trong phần 1, có 1 lỗi lớn. Thay vì Mạc Đăng Dung tác giả đã đánh lầm thành Mạc Đỉnh
Chi. Xin thành thật cáo lỗi quý bạn đọc.
*
Thời kỳ ở Pháp:
Theo Tạp Chí Học Tập và những tài liệu của Hà Nội viết về Hồ Chí Minh thì vào năm 1911
Nguyễn Tất Thành, đổi tên là Văn Ba, từ Bến Nhà Rồng lên đường sang Pháp với nghề phụ
bếp trên chiếc tàu buôn LatoucheTréville của hãng vận tải Hợp Nhất (Compagnie des
Chargeurs Réunis), ra đi với mục đích tìm đường cứu nước.
Đến Pháp, sau khi gia nhập đảng Xã Hội, Nguyễn Ái Quốc đã viết "Yêu sách của nhân dân
An Nam", gồm tám điểm bằng tiếng Pháp (Revendications du peuple annamite), gửi tới Hội
nghị Hòa bình Versailles, đòi chính phủ Pháp ân xá chính trị phạm, thực hiện các quyền tự
do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Giữa năm 1920, đọc Sơ thảo lần thứ
nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên báo L'Humanité
(tờ này là cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Pháp), nên ông đi theo chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1921 tham dự Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Marseille và ra báo Le Paria
(Người cùng khổ). Ngoài ra, ông còn viết bài cho hàng loạt báo khác. Tác phẩm Bản án chế
độ thực dân Pháp (Procès de la colonisation française) do ông viết được xuất bản năm 1925,
đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các
dân tộc thuộc địa.
Trong toàn bộ thời gian sống trên đất Pháp, ông trang trải cuộc sống bằng cách làm việc nửa
ngày. Thoạt đầu, ông làm thuê tại một tiệm rửa ảnh và thuê lại một căn phòng của Phan Văn
Trường. Sau đó, ông đi vẽ khoán cho một xưởng vẽ truyền thần và thuê một phòng tại căn
nhà số 9 ngõ Compoint, Quận 17, Paris. Ông theo học dự thính tại Đại học Sorbonne và được
coi là mọt sách tại Thư viện Quốc gia Pháp.
Đi tìm sự thật
Sự việc Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, từ bến Nhà Rồng xuống tàu sang Pháp vào năm
1911 là có thật, nhưng nói rằng Nguyễn Tất Thành “ra đi tìm đường cứu nước” là hoàn toàn
sai sự thật. Bằng chứng: Ngay khi vừa chân ướt chân ráo đến cảng Marseille là Hồ Chí
Minh đã nộp hai lá đơn cùng đề ngày 1591911, một gửi cho Tổng Thống Pháp, một gửi
cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp, xin đặc cách được cho vào học Trường Thuộc
Địa để làm một viên chức cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp.Điều này chứng tỏ Hồ
Chí Minh đã có mục đích của chuyến đi là sang Pháp để tìm đường cứu mình và cứu gia
đình. Hai lá thư này bị dấu nhẹm cho mãi đến khi Giáo Sư Nguyễn Thế Anh phát hiện trong
kho tài liệu Chi Nhánh Hải Ngoại, Văn Khố Quốc Gia, Paris.
Giáo sư Nguyễn Thế Anh nguyên là Viện trưởng Viện Đại học Huế, chủ nhiệm khoa Văn Sử
Đại học Sài Gòn, giám đốc Viện nghiên cứu Centre National de la Recherche Scientifique,
Paris, học giả tại viện Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, giáo sư thỉnh giảng Đại
học Harvard, giáo sư chuyên ngành Lịch sử và Văn hóa bán đảo Đông Dương ("History and
Civilisations of the Indochinese Peninsula") tại trường Ecole Pratique des Hautes Etudes và
Đại học Sorbonne.
Nói rằng “ra đi tìm đường cứu nước” tại sao lại làm đơn xin vào học trường Thuộc Địa để
làm quan cho thực dân Pháp? Ngược lại, nếu như đây là kế sách “Chui Vào Lòng Địch Để
Đánh Địch” đúng như ngụy biện của lũ bồi bút thì tại sao Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng
Sản không đưa vào tiểu sử cho thêm rạng rỡ mà vẫn dấu kín việc này?
Theo cây bút biên khảo Phạm Đình Hưng thì Tổng Thống Pháp đã bác đơn xin nhập học
trường École Coloniale của Nguyễn Tất Thành vì xét thấy đương sự có một trình độ học vấn
quá kém. Ngay trong một lá đơn ngắn viết tay bằng tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành cũng
đã có tới 3 lỗi về chánh tả và văn phạm:
Lỗi chánh tả: Viết substance (bản chất) thay vì subsistance(sinh sống);
Lỗi văn phạm: Viết employé à la Compagnie thay vìemployé par la Compagnie (nhân viên
do Công ty tuyển dụng);
Viết agréer Monsieur le President thay vì Veuillez agréer Monsieur le President.
Biết thân biết phận nên ngay khi nhận được thư trả lời của Bộ Thuộc Địa Pháp cho biết hai lá
đơn xin đặc cách vào học Trường Thuộc Địa của mình bị bác bỏ Hồ Chí Minh liền rời
Marseille lên Paris làm đủ thứ nghề để kiếm sống. Trang 27 của “Những Mẫu Chuyện Về Đời
Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” được nhà báo Trần Dân Tiên cũng chính là ông, kể lại:
Hôm thứ nhất tôi nhận việc cào tuyết trong một trường học. Một công việc mệt nhọc. Mình
mẫy tôi đẫm mồ hôi mà tay chân thì rét cóng. Hai ngày sau tôi tìm được việc đốt lò, trong
hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét, và không có đủ quần áo nên tôi bị cảm...
Sống cực khổ tại Paris như thế nên khi biết được bạn đồng khóa với cha mình là cụ Phan Chu
Trinh cũng đang ở Paris nên Hồ Chí Minh mò đến cụ Phan xin giúp đỡ. Cái tình đồng hương
nó lạ lắm, nhất là ở kẻ sống xa xứ, nên khi khi biết Nguyễn Tất Thành là con trai của ông
Nguyễn Sinh Huy thì cụ Phan Châu Trinh cho về nhà ở chung với con trai của cụ là Phan
Châu Dật và dạy cho nghề rửa ảnh kiếm sống. Mấy tháng sau vì một lý do mà người danh
cao đức trọng như cụ Phan không muốn nói ra nên Cụ không chứa chấp nữa, Vì vậy Hồ Chí
Minh phải dọn ra số 9 ngõ Compoint, quận 17, Paris.
Trang 36 cùng quyển sách “Bác” viết:
“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê
một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về
mùa đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách
sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ
rét.”
Rõ ràng là “Bác” bịp: Một cục gạch bị đốt nóng không thể gói bằng tờ giấy báo đem lên tận
lầu hai nơi “Bác” ở được. Tờ báo không cháy thì “Bác” cũng bị phỏng tay, đâu còn bàn tay để
sau này vừa bắt nhịp bài ca “Kết Đoàn” vừa giết những người không chấp nhận cùng đi con
đường Cộng Sản ngu muội hoang tưởng tàn bạo lưu manh độc ác. Hơn nữa, một cục gạch
nếu bị đốt nóng cũng không giữ nhiệt được quá mấy tiếng đồng hồ...
Tiếp theo “Bác” mượn cái tên Trần Dân Tiên phịa ra ông già Mai lạ hoắc để kể lại đời mình
vào thời gian này nơi trang 39:
...Mỗi buổi sáng ông Nguyễn nấu cơm trong một cái sành nhỏ bằng sắt tây đặt trên ngọn đèn
dầu với một con cá mắm và một tí thịt. Ông ăn một nửa và để dành một nửa đến chiều. Có
khi một miếng bánh mì và một miếng phó mát là đủ cho cả ngày...
Tuy nhiên cuộc sống bế tắc nghiệt ngã tại Pháp không thể làm cho một tay giang hồ liều lĩnh
nhụt chí mà trái lại còn thôi thúc Hồ Chí Minh có thêm quyết tâm vượt qua nghịch cảnh để
tìm đến những vùng đất hứa mới. Tuy nhiên, sau năm năm bươn chải, từ 1912 đến 1917, hết
rửa chén lau bát nhặt rau cho khách sạn Carlton tại Anh đến làm chân đốt lò cho một tiệm
bánh tại tiểu bang Massachusett, Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh vẫn không thoát được khốn khó.
Cuối cùng đành phải trở lại nước Pháp vào ngày 3121917 vì thấy rằng ở đâu cũng phải đổ
mồ hôi sôi nước mắt mới có miếng cơm. Ngoài ra ở đất Pháp lại ít bị nạn kỳ thị hơn ở Anh
hay ở Mỹ.
Cũng vào thời gian này các ông Nguyễn Thế Truyền, Bùi Quang Chiêu và ông Phan Văn
Trường cùng một số trí thức yêu nước Việt Nam tại Pháp đang tranh đấu để có một sự thay
đổi chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam với mong muốn đời sống người dân Việt Nam được
thăng tiến hơn, tự do hơn. Ông Phan Văn Trường là luật sư, ông Bùi Quang Chiêu là một kỹ
nghệ gia giàu có, cả hai đều là người Miền Nam. Riêng ông Nguyễn Thế Truyền là người
sinh trưởng tại Hà Đông, Miền Bắc, sang Pháp học ngành kỹ sư, đã có huyền thoại một thời
ông là người tình của công chúa nước Bỉ và là người từng tát tai Tổng Đốc Vi Văn Định. Cả
ba ông đều xuất thân từ giai cấp tư sản, mang nặng tính tư sản, vốn không phải là chính trị gia
chuyên nghiệp mà chỉ là thứ tay ngang nặng lòng yêu dân yêu nước. Ba ông này tranh đấu
theo kiểu chính trị gia phòng trà, làm chính trị như một thú tiêu khiển, thích thì làm, chán thì
thôi, viết bài nhưng không muốn ký tên thật của mình vì không muốn rắc rối. Cả ba lấy một
cái tên chung chung là Nguyễn Ái Quốc. Trước đây ba ông thường viết bài trên một số báo
khác nhưng nhiều khi có bài được đăng có bài bị loại nên vào năm 1922 quyết định ra một tờ
báo lấy tên là Le Paria (Người Cùng Khổ). Tờ này ra được 38 số với mỗi số bán được quãng
1000 tới 5000 bản.
Nguyễn Tất Thành sau những ngày làm thuê làm mướn cực khổ đã tìm đến ba ông này và xin
được một chân lấy báo, giao báo và bán báo. Với sự khôn ngoan lanh lợi của một kẻ nhiều
năm lăn lóc bươn chải trên trường đời cộng với những tiểu xảo mánh mung thủ đoạn nên dần
dần Nguyễn Tất Thành được tín cẩn hơn. Một ngày vào cuối tháng 31923 Nguyễn Tất
Thành rời khỏi chỗ ở của mình tại Impasse Compoint dọn về ở ngay trong phòng làm việc
của tờ Le Paria.
Sống nhờ sống bám vào người khác như thế nhưng sau này Hồ Chí Minh cùng lũ văn nô bồi
bút đã bịp bợm dựng lên chuyện một nhóm Ngũ Long tại Pháp gồm Phan Chu
Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, và Nguyễn Tất
Thành nhằm đánh bóng tên tuổi của mình.
Chẵng cần phải thông minh chúng ta cũng thấy vào cái thuở còn mang nặng tính tôn ti trật tự
không đời nào những ngưởi cùng thời lại xếp hàng cụ Phan Chu Trinh, người bạn đồng khóa
với bố của Nguyễn Tất Thành ngang với Nguyễn Tất Thành là một thiếu niên chưa có sự
nghiệp. Cũng như vậy, các ông Luật sư Phan Văn Trường, kỹ sư Nguyễn Thế Truyền, kỹ
nghệ gia Bùi Quang Chiêu, Cử Nhân Nguyễn An Ninh cũng không đời nào chịu ngồi chung
một chiếu với một cậu học trò khố rách áo ôm chưa xong bậc tiểu học mới từ trong nước
bước ra. Tại Paris nhân tài tứ xứ, trong đó có Việt Nam, lúc đó nhiều lắm. Phải nói là Thiên
Long Vạn Long chứ không phải chỉ có Ngũ Long. Nhóm Ngũ Long chỉ là một sự bịa đặt bịp
bợm nhằm tô màu trát phấn cho Hồ Chí Minh. Nói một cách chính xác: Ở thời điểm đó
không có “Ngũ Long” mà chỉ có “Nhất Khuyển” là Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh.
Như đã trình bày, các ông Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Bùi Quang Chiêu vì không
muốn rắc rối với nhà đương cuộc Pháp nên các bài viết thường ký một cái tên chung chung là
Nguyễn Ái Quốc. Riêng Thành là kẻ đến sau cũng có viết một vài bài, nhờ các ông này sửa
lại rồi cũng được cho đăng dưới tên Nguyễn Ái Quốc. Lẽ đương nhiên mạch văn của một bậc
thức giả tất phải khác hẵn mạch văn của một anh học trò lớp ba trường làng, cho nên dù bài
viết có được sửa đi sửa lại cũng không qua nổi mắt người đọc. Vì thấy nhiều người cho
rằng “Le Procès de la colonisation francaise” là của Nguyễn Thế Truyền nên Jean
Lacouture, một tay thiên tả nổi tiếng, bày trò phá bĩnh bới lông tìm vết bằng cách đưa ra
những điểm yếu kém của tập sách đó qua nhận xét như sau:
He ends the penultimate chapter with a manifesto for the International Union, concluding
with Karl Marx’s famous “Workers of the world, unite...”
Ho had chosen his line though it was by no mean inflexible, as we shall see. But he was not
yet in command of his talent. The work is so clumsy, and often so mediocre in tone,that there
are grounds for wondering whether the author of the preface, Nguyen The Truyen, Ho’s friend
and collaborator, may not have written the entire book….shapeless series of anecdotes and
rapid social sketches..., the banal choice of material and poor presentation seem unworthy of
Ho Chi Minh. (Ho Chi Minh, Jean Lacouture, 1968, page 36)
Có thể đây cũng là một thủ thuật kín đáo bênh vực Hồ Chí Minh bởi vì viết dở viết tệ như
vậy thì tập sách chắc chắn không phải được viết bởi các ông Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn
Trường hay Nguyễn An Ninh mà là của một anh học trò lớp Ba trường làng.
Nhận xét của Jean Lacouture đã bị ông Phạm Đình Hưng phản bác. Ông Phạm Đình Hưng
còn chứng minh rõ ràng:
Từ cuối năm 1925 đến năm 1926, nhật báo L’Humanité (Nhân Đạo) của đảng Cộng Sản
Pháp ở Paris trích đăng tác phẩm Le Proces de la Colonisation Francaise của một tác giả
đứng tên Nguyễn Ái Quốc.
Khi nhật báo L’Humanité bắt đầu đăng tác phẩm Le Proces de la Colonisation Francaise
vào cuối năm 1925 thì Nguyễn An Ninh đã về Sài Gòn lần thứ ba cùng với Phan Châu Trinh
để hợp tác với Luật sư Phan văn Trường (đã về nước từ năm 1923) đấu tranh trực diện chống
lại chế độ đô hộ của thực dân Pháp. Vào thời điểm nầy, chỉ còn một mình Nguyễn Thế Truyền
ở lại Paris, kết hôn với một công chúa Bỉ; Nguyễn Tất Thành (lấy bí danh Nguyễn Ái Quốc)
đang công tác cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Quảng Đông từ năm 1924. Như vậy, chỉ có
thể Nguyễn Thế Truyền là người cho trích đăng trên nhật báo L’Humanité quyển Le
Proces de la Colonisation Francaise do ông ta viết trước đó cùng với Nguyễn An Ninh và
Nguyễn Đắc Lộc nhưng sử dụng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc. Giả thuyết Nguyễn Tất Thành
là tác giả của quyển sách Le Proces de la Colonisation Francaise cần phải gạt bỏ vì Nguyễn
Ái Quốc chỉ là bút hiệu tập thể. Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ tiểu học, hoàn toàn không
có khả năng viết quyển sách nầy bằng tiếng Pháp.
Không thể che giấu được sự bất tài vô tướng của mình, ký giả “Trần Dân Tiên” cũng chính là
Hồ Chí Minh đành phải thú nhận sự thiếu học của mình nơi trang 35 trong tập“Những Mẫu
Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”:
Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường
viết thay. Ông Trường viết giỏi nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn phải ký tên
những bài báo. Nhược điểm về trí thức làm cho ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường
không viết những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy ông Nguyễn bắt tay vào việc học làm
báo.
Ra ngoài, Hồ Chí Minh thuỗng luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc, tư nhận là của mình. Các ông
Nguyễn Thế Truyền, Bùi Quang Chiêu và ông Phan Văn Trường biết điều đó, nhưng như đã
nói ở trên, cả ba ông muốn tránh lôi thôi phiền phức với bọn thực dân mũi lõ nên không
những im lặng mà lại còn khuyến khích.
Về khả năng chính trị thì chính Hồ Chí Minh đã tự thú như sau nơi trang 34 trong
quyển “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”:
... Một người quen ông Nguyễn (Hồ Chí Minh) ở Paris đã cho chúng tôi (ký giả Trần Dân
Tiên) nhiều tài liệu quý báu: Lúc ấy ông Nguyễn quyết tâm hy sinh tất cả vì tổ quốc nhưng
ông Nguyễn rất ít hiểu về chính trị., không biết thế nào là công hội, không biết thế nào là bãi
công và thế nào là chính đảng...
Tóm lại, vào thời điểm này chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã phấn đấu, đã làm đủ thứ nghề
cực nhọc để kiếm sống nhưng làm công việc nhẹ thì chữ nghĩa không đủ, làm công việc tay
chân nặng nhọc thì sức khỏe không bằng dân Phi Châu hay bọn Rệp (A Rập) nên cuộc sống
bị bế tắc. Cuối cùng ông theo nghề bán nước bọt.
Đây là lý do tại sao Hồ Chí Minh có mặt trong Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale
Association des indigènes de toutes les colonies) hay Đảng Cộng Sản Pháp. Tìm đến các hội
đoàn là mong có cơ hội làm quen với nhiều người và hy vọng được hội giúp tìm công việc
làm. Hình như Ed Martinez đã nói: “Trong bước đường cùng, con gái thì có nghề làm đĩ, con
trai thì có nghề làm chính trị”. Tại Việt Nam cũng có một câu ví von tương tự. “Em làm đĩ
bán trôn nuôi miệng. Anh bịp đời bán miệng nuôi trôn” để ám chỉ bọn chính khách salon, chỉ
muốn đòi chia quyền chia ghế chứ không vì nhân dân hay đất nước.
Từ đó Hồ Chí Minh dốc hết “tài lanh bịp đời” của mình lao đầu vào việc bán miệng nuôi
trôn. Cuộc hội họp nào cũng mò đến. Cuộc biểu tình đấu tranh nào cũng có mặt. Hồ Chí
Minh chôm chĩa luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc của ba ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thế
Truyền và Bùi Quang Chiêu trong bản "Yêu sách của nhân dân An Nam", gồm tám điểm và
được viết bằng tiếng Pháp (Revendications du peuple annamite) gửi tới Hội nghị Hòa bình
Versailles và nhận là của mình. Ông lần mò tới tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội
Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương. Lúc đó Đông Dương đang nằm dưới sự
bảo hộ của Pháp nên rất cần một người Đông Dương có mặt trên sân khấu. Hồ Chí Minh đã
xuất hiện đúng lúc và đúng chỗ, kiếm được đất đứng và tạo được huyền thoại là một trong
những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union
intercoloniale Association des indigènes de toutes les colonies).
Trở lại câu hỏi ai là tác giả đích thực của “Procès de la colonisation française” “Bản Án Chế
Độ Thực Dân Pháp”và “Revendications du peuple annamite” “Yêu sách của nhân dân An
Nam”. Có người đồng ý với lập luận của lũ bồi bút Cộng Sản, cho rằng Hồ Chí Minh là tác
giả, nhưng viết xong đã nhờ các ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Bùi Quang
Chiêu nhuận sắc. Báo chí Cộng Sản táo bạo hơn quả quyết rằng tuy Hồ Chí Minh tuy yếu
sinh ngữ nhưng đã hướng dẫn cho ba ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Bùi
Quang Chiêu viết loạt bài này.
Đặt câu hỏi một cậu học trò chưa xong bậc tiểu học làm sao có thể ngồi ngang hàng với một
luật sư và hướng dẫn luật sư viết bài theo ý của mình. Cho dù nhẹ dạ hay ngu độn cách mấy
cũng không thể tin nổi một anh chàng xứ thuộc địa trình độ bậc Tiểu Học mới sang đất Pháp
mới có mấy năm lại có đủ khả năng xông xáo múa may trên chính trường Pháp như vào chỗ
không người. Báo chí Cộng Sản và những bồi bút, trong đó có một số nhà báo ngoại quốc, trơ
trẽn đến độ nhẫn tâm lường gạt những người cả tin nhẹ dạ rằng Hồ Chí Minh là tác
giả “Procès de la colonisation française” “Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp”, Hồ Chí Minh
cũng là người viết “Revendications du peuple annamite” “Yêu sách của nhân dân An
Nam” gồm tám điểm dưới tên Nguyễn Ái Quốc và gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles và
cũng chính Hồ Chí Minh là người chủ trương tờ báo “Le Paria” tức là tờ Người Cùng Khổ,
giữ chức Chủ Bút kiêm Chủ Nhiệm, kiêm Quản Lý, kiêm... bán báo.
Tội nghiệp thì thôi. Cứ như là nói chuyện với đầu gối.
Trong việc tìm hiểu thêm khả năng Pháp ngữ của Hồ Chí Minh, khi làm Tuần Báo Gió
Mới tại Virginia người viết có may mắn gặp được một nhân chứng sống qua một số bài lai
cảo gửi đến tòa soạn ký tên Nguyễn Đại Thắng. Tôi kính Cụ như bậc tiền bối, ngược lại Cụ
nhất mực đối xử với tôi như bạn vong niên.
Cụ cho biết cụ sinh năm 1915, xuất dương du học năm 1937. Thế chiến thứ hai xảy ra cụ bị
động viên vào học khóa sĩ quan cấp tốc tại Fréjus (Var) rồi đưa vào Lữ Đoàn Đại Liên Thứ
52 (52e Brigade de Mitrailleures Coloniaux). Khi phòng tuyến Maginot bị quân Đức chọc
thủng cụ bị bắt và bị cầm tù, lúc thế chiến thứ hai kết thúc cụ mang cấp bậc Đại Úy. Sau khi
giải ngũ, cụ cùng một nhóm thân hữu người Việt thành lập Tổng Ủy Ban Đại Diện Việt Nam
tại Pháp (Delegation Generale des Vietnamien de France) cử Bác sĩ Lê Tấn Vĩnh làm Chủ
Tịch, Bác sĩ Hoàng Xuân Mãn Phó Chủ Tịch, Thạc sĩ Trần Đức Thảo Phó Chủ Tịch, Luật sư
Lê Văn Lộc đặc trách sinh viên và tôi (tức cụ Nguyễn Đại Thắng) đặc trách Chiến Binh. Vì
việc làm của chúng tôi là tranh đấu cho quyền lợi của thợ thuyền người Việt trên đất Pháp
nên tôi lại bị Pháp bỏ tù. Năm 1946 Hồ Chí Minh dẫn phái đoàn Việt Nam sang Pháp dự hội
nghị Fontaineebleau tôi được thả ra và cùng ban đại diện đến Hotel Royal Monceau gặp Hồ
Chí Minh bàn việc cứu nước. Người hướng dẫn chúng tôi đến gặp Hồ Chí Minh là ông Trần
Văn Danh, đại diện cho ông Hồ tại Pháp. Trước sau như thế tổng cộng 5 lần. Một hôm ông
Albert Oshinsky là bạn của tôi và cũng là đồng chí với Hồ Chí Minh khi hai người còn ở
trong đảng Xã Hội SFIO (Section Francaise de l’Internationale Ouvriere) nói nhỏ cho tôi biết
Hồ Chí Minh đã là đảng viên Đệ Tam Quốc Tế. Từ đó tôi không tiếp xúc với Trần Văn Danh
nữa và ở lại Pháp cho đến năm 1948 mới trở về nước làm Cố Vấn Chính Trị cho Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Xuân. Tôi bị tù tất cả 8 lần và trên 15 năm nằm khám. Cụ Nguyễn Đại
Thắng cho biết thêm Hồ Chí Minh nói tiếng Pháp rất dở, thường sai cả cú pháp lẫn văn
phạm.
Trong một bài viết cho tờ Gió Mới có tiểu đề “Hồ Chí Minh Nói Tiếng Tây Viết Tiếng
Tây” hiện tôi còn lưu giữ làm tài liệu, cụ Nguyễn Đại Thắng phân giải: Ngay cả người chính
quốc nếu ít học cũng có thể nói tiếng bồi hay viết sai văn phạm cú pháp huống hồ chi Nguyễn
Tất Thành là dân thuộc địa mới đến đất Pháp được mấy năm. Cho nên khi nghe ông ta nói
mình viết những tập “Procès de la colonisation française”, “Revendications du peuple
annamite”... thì thật là chuyện hoang đường, dẫu ngu cách mấy cũng không thể nào tin được,
Vậy mà Hồ Chí Minh tự nhận là tác giả“Procès de la colonisation française”,
“Revendications du peuple annamite”và những bài viết khác ký tên Nguyễn Ái Quấc tại
Paris. Ai có thể tin được một anh học sinh trình độ chưa xong bậc tiểu học lại có thể là tác giả
cuốn “Le procès de la colonisation française “ (Bản Án chế độ thực dân Pháp) xuất bản năm
1925 (1926, theo bản lưu trữ ở Thư Viện Quốc Gia, Paris). Ai tin thì cứ tin, nhưng quả thật
tôi không tin được điều này.
Nhà bình luận Thuỵ Khuê sau khi sưu khảo văn bản cùng nội dung “Procès de la
colonisation française”, “Revendications du peuple annamite” đi đến kết luận chắc nịch
là “Hồ Chí Minh chưa đọc nổi mấy bài viết này chứ đừng nói gì đến chuyện là tác giả”.
Để biết thêm trình độ tiếng Pháp của Hồ Chí Minh, xin nghe và xem và những câu trả lời của
Hồ Chí Minh trong buổi phỏng vấn bằng tiếng Pháp của INA (Viện Tồn Trữ Tài Liệu Âm
thanh và Hình Ảnh Quốc Gia Pháp). Những chữ in đậm dưới đây là những câu trả lời của Hồ
Chí Minh:
Estce que vous pensez, Monsieur le Président, qu’il y a une solution militaire à la guerre
du Sud Viêt Nam?
Non, parce que ah, vous savez bien que le peuple Viêt Nam, c’est un Un, et le pays du Viêt
Nam, c’est Un.
Les Américains veulent faire une guerre d’agression, comme qu’ils disent, une guerre non
déclarée.
Comme vous savez aussi, vous avez pu lire dans la presse mondiale, que plus la guerre
prolonge, plus les Américains et leurs valets, comment dire ça, (se tournant vers quelqu’un
à côté), sa lầy… s’enliser… et plus, ils supportent des échecs comme vous savez là
récemment.
Par conséquent, la guerre ne peut pas durer éternellement, et je suis très heureux que les
politiciens haut placés français ont reconnu cela.
Vous pensez que le général de Gaulle pourrait en quelque sorte, à un certain moment,
arbitrer le conflit?
Arbitrer! Qu’estce que vous comprenez par le mot arbitrer? Nous ne sommes pas des
équipes de foot ball. Rire et ricanement.
Audelà des Accords de Genève si je ne me trompe, une idée du général de Gaulle est la
neutralisation de tout le SudEst Asiatique. Estce c’est une idée qui vous paraît intéressante?
Comme j’ai déjà dit quelquefois, c’est une idée intéressante, mais ça dépend la volonté de
ces peuples, et… la manière comment on procède.. À la réaliser.
C’est une grande question.. Et je ne peux pas dire que je suis d’accord,…je ne dis pas que
je ne suis pas d’accord, n’estce pas? Parce que... Vous dites fleurs, fleurs; il y a beaucoup
de sortes de fleurs, il y a des roses, des blanches, des rouges, des fleurs qui sentent bon,
d’autres qui ne sentent pas bon…, mais on dit fleurs, n’estce pas?
Monsieur le Président, nous avons constaté avec chagrin au cours de notre voyage au Nord
Viêt Nam, que l’influence française est devenue à peu près inexistante dans votre pays. Les
moins de 25 ans ne comprennent plus du tout le français. Et je me demande si, à votre idée,
des rapports peuvent se rétablir tels que la France continue à jouer… une sorte de rôle
culturel?
Avec la France surtout, et avec tous les autres pays, nous voulons avoir une coopération
amicale, culturelle, économique, etc…, mais je suis sûr que vous ne voulez pas avoir, n’est
ce pas, que la France ait l’influence qu’elle avait avant, … c’est une autre chose … mais
coopération culturelle, économique, qu’est ce qu’il y a encore?, sportive par exemple, etc…
etc… nous, nous désirons.
Si la guerre se cristallise au Sud et se poursuit encore pendant quelques années, pensezvous
que l’avenir économique du Nord Viêt Nam soit viable?
Je suis sûr que ça non seulement viable, mais ça progresse. Parce que vous avez vu vous
même, vous avez constaté vousmême que, ici, nous travaillons beaucoup, notre peuple
travaille beaucoup, avec abnégation, n’estce pas?, et avec dévouement, avec
enthousiasme.
D’un côté, nous travaillons pour…, comment diraisje, pour principalement, n’estce pas,
de nos propres forces, et aussi nous avons l’aide fraternelle des pays socialistes.
Jusqu’ici, nous avons déjà réalisé des progrès, pas tant comme nous le voulons, nous
avons réalisé des progrès et dans l’avenir, nous progressons nousmêmes.
Vous mentionnez là l’aide des pays socialistes. Estce que cette aide ne s’est pas trouvée
légèrement compromise à la suite du conflit idéologique entre la Russie et la Chine?
Non... parce que ces questions, n’estce pas, n’est pas différence idéologique entre nos
différents partisfrères, c’est nos affaires intérieures; ça passera et l’union…l’unité, ça se
fera. Mais l’aide fraternelle continue, continuera, c’est très précieuse pour nous.
Certains ont l’impression chez nous, Monsieur le Président, que le Nord Viêt Nam se trouve
actuellement assez isolé, asphyxié même, et, politiquement, il ne pourra difficilement éviter
de devenir une sorte de satellite de la Chine. Qu’estce que vous répondez à ça?
JAMAIS! (Comme un cri).
Nguyễn Ngọc Quỳ ghi lại. Paris, 542011.
Về chuyện Hồ Chí Minh theo học dự thính tại Đại học Sorbonne và được coi là mọt sách tại
Thư viện Quốc gia Pháp cũng là một chuyện bịa đặt của chính Hồ Chí Minh hoặc của những
tên bồi bút Cộng Sản chứ chưa có một nguồn tin khả tín nói về việc này.
Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s th t v con ng i muôn m t H Chí Minh (ph n 3)
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao) Như đã trình bày, từ ngày đặt chân lên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành đã chấp
nhận làm đủ thứ nghề để kiếm sống nhưng vì không có trường sở hay nghề nghiệp chuyên
môn cho nên dù đã xoay trở trăm phương ngàn kế vẫn không có lối thoát. Bị dồn vào bước
đường cùng Nguyễn Tất Thành bèn đi theo “Đường Kách Mệnh”. Thực ra Nguyễn Tất
Thành không biết Đường Kách Mệnh nó như thế nào cũng như học thuyết Duy Vật là cái
gì. Nguyễn Tất Thành chỉ biết đi tìm đường cứu mình. Hồ Chí Minh đã tự thú điều này nơi
trang 46 trong Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch như sau:
"...Ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm vì người ta thường nhắc đi nhắc lại
những tiếng những câu: chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghĩa xã hội, cách
mạng không tưởng, chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa cải lương, sản xuất, luận đề, chủ
nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng sản..."
Chính vì vậy nên sau khi công việc lần mò sang Pháp để cứu bản thân và cứu gia đình thất
bại Hồ Chí Minh (Nguyễn Tất Thành) quyết định đổi hướng. Làm đầy tớ cho Pháp không
được thì làm đầy tớ cho Nga. Làm đầy tớ cho ai thì cũng là làm đầy tớ, miễn là có tiền và có
cơm ăn chỗ ở. Phải thật công bằng, lúc đó Hồ Chí Minh chưa nghĩ đến việc buôn dân hay bán
nước. Lúc đó trong đầu Hồ Chí Minh chỉ nghĩ đến miếng cơm.
Như chính Hồ Chí Minh xác nhận lúc đó trình độ chỉ đủ“lắng nghe nhưng không hiểu rõ
lắm”, chữ nghĩa đâu mà đọc Tư Bản Luận của Karl Marx hay các bài viết của Friedrich
Engels, Joseph Proudhon, Ludwig Fuerbach... Chính vì vậy mà chúng ta không trách Hồ Chí
Minh đã chọn tà thuyết Duy Vật. Trước và sau Hồ Chí Minh cũng đã có vô số khoa bảng
bằng cấp đầy mình mê say tà thuyết Duy Vật như con thiêu thân sa vào ánh đèn. Tà thuyết
này vừa có vẻ khoa học vừa có sức hấp dẫn người nghe, lấy thuyết biến hóa của Darwin làm
căn bản, lấy tư tưởng Marx, Engels và Lenin làm kim chỉ nam, lấy sự công bằng bác ái mê
hoặc trí thức, lấy việc đấu tranh giai cấp san bằng giàu nghèo để chiêu dụ lớp nông dân thợ
thuyền cùng khổ. Tà thuyết này xếp hàng còn người ngang con vật: Cũng sống, Cũng chết.
Cũng ăn uống. Cũng truyền giống. Cũng tranh giành. Cũng tiêu diệt nhau để sinh tồn, cho
nên sống là phải tranh đoạt. Hồ Chí Minh và đồng đảng tin theo chủ nghĩa Duy Thú Vật bởi
vì chúng là hạng không muốn làm mà chỉ muốn ăn, chờ người khác làm ra tiền của rồi bày
trò “đấu tranh giai cấp” để cướp giật. Hồ Chí Minh chạy theo chủ nghĩa Duy Thú Vật vì
trong con mắt và tầm hiểu biết của mình Hồ Chí Minh nhìn thấy con người cũng như con vật.
Hồ Chí Minh không tin tôn giáo. Hồ Chí Minh không tin quy luật vay trả. Hồ Chí Minh
không cần đạo đức nhân nghĩa. Hồ Chí Minh chỉ thấy cái lợi trước mắt, và vì cái lợi mà sẽ
không ngại dùng mọi thủ đoạn, cho dù lưu manh hay bất nhân, cho dù bẩn thỉu, độc ác hay
khốn nạn. Hồ Chí Minh chủ trương lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện, cho rằng chết là
hết. Hồ Chí Minh tìm thấy chủ nghĩa Duy Thú Vật hợp với bản chất của mình.
Vào thời điểm này Nga đang muốn tranh giành ảnh hưởng và thuộc địa với các đế quốc Anh,
Pháp nên đã tung cán bộ sang các nước tuyển dụng người đem về huấn luyện rồi phái đi hoạt
động thành lập các đảng Cộng Sản tại các nước đó theo quỹ đạo của Nga Sô. Tại Pháp có bọn
Cachin, Frossard, Marceau Pivert, Vaillant Couturier, André Berton... Được Vaillant
Couturier giới thiệu và móc nối với điệp viên Nga Sô Dmitri Manuilsky nên một ngày vào
cuối tháng 61923 Hồ Chí Minh mang thông hành tên Chen Vang từ Paris sang Đức rồi từ
Đức xuống cảng Hamsburg trên chiếc tàu Karl Liebknecht đi St Petrograd, sau đó đến
Moscova, vào học trường Đại Học Đông Phương là trường đào tạo cán bộ gián điệp tình báo
để hoạt động tai các nước Á Châu.
Những tài liệu của Cộng Sản Hà Nội viết về tiểu sử Hồ Chí Minh đã ghi lại một cách lố bịch
rằng trong thời gian ở Nga Sô Nguyễn Ái Quốc đã đến tham dự và đọc tham luận tại Đại hội
lần thứ 5 của Quốc tế Cộng sản (1924), chỉ ra sự to lớn của hệ thống thuộc địa. Một đoạn
trong bài tham luận của Hồ Chí Minh đăng trên Wikipedia nguyên văn như sau:
"... Ngày 2361924, phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội 5, Nguyễn Ái Quốc nói: "Tôi đến
đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại, và
vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc
địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa
hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là
vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của
giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những
vấn đề và nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa..."
Nghe mà khoái cái lỗ nhĩ, tưởng như Hồ Chí Minh là một vị khách lớn được đảng Cộng Sản
Sô Viết và chính quyền Sô Viết mời tới cố vấn dạy dỗ. Những câu nói: Tôi đến đây không
ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật... Tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề
thuộc địa... rõ ràng là một chỉ thị hay một huấn từ của cấp trên nói với cấp dưới. Hồ Chí
Minh ngon lành quá. Hồ Chí Minh uy dũng quá. Sang nước người xin việc kiếm ăn mà nói
năng cứ như vào chỗ không người.
Tài lừa bịp và bốc phét của những tên văn nô băng đảng Cộng Sản Việt Nam quả thật hết
biết.
Chỉ cần xem qua một vài lá thư xin phục vụ và xin tiền của Hồ Chí Minh gửi đảng Cộng sản
Nga Sô sẽ thấy ngay Hồ Chí Minh có phải hạng người dám nói những câu ngông cuồng như
lũ bồi bút tô vẽ hay chỉ là một thứ tay sai bán nước và bán cả linh hồn, tháng tháng ngửa tay
lãnh lương của quan thầy.
Những tài liệu dưới đây được trích từ Hồ Chí Minh Toàn Tập tập 2. Hà Nội.
Gửi đồng chí Pêtơrốp, Chủ tịch Ban Phương Đông
Tôi đã nhận được bức tối hậu thư của Sở quản lý nhà giục phải trả 40 rúp 35 côpếch về chỗ
ở của tôi, không có thì tôi sẽ bị đưa ra tòa. Trong những tháng, tháng mười hai, tháng giêng
và tháng hai tôi thuê phòng số 176, ở đây bao giờ cũng có 4 và 5 người thuê. Ban ngày thì
tiếng ồn liên tục ngăn trở tôi làm việc. Ban đêm tôi bị rệp ăn thịt, không cho tôi nghỉ ngơi. Từ
tháng ba, tôi nhận một phòng nhỏ, rất nhỏ. Sở quản lý nhà buộc tôi gánh 13 rúp 74 cho
tháng ba, và 11 rúp 61 cho những tháng sau.
So sánh không gian hẹp và trang bị nội thất quá đơn sơ với các phòng khác rộng hơn nhiều,
tiện nghi hơn, có nhiều đèn, điện thoại, tủ, ghế bành dài, phòng tắm, v.v. Và tiền thuê thỏa
đáng thì giá mà người ta muốn buộc cho tôi là hoàn toàn đáng công phẫn. Vì vậy tôi xin
đồng chí vui lòng làm một cuộc điều tra. Và sau cuộc điều tra đó, với mọi quyết định của mọi
tòa án, tôi tuân theo tinh thần của đồng chí về công bằng và bình đẳng.
31924
*
Thư gửi ban chấp hành Quốc tế Cộng sản
Từ lúc tôi tới Mátxcơva đã có quyết định rằng sau 3 tháng lưu lại ở đây, tôi sẽ đi Trung
Quốc. Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên
đường của tôi chưa được quyết định. Vậy chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và
nghiên cứu.
Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.
B Thông báo cho Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của thuộc địa
này.
C Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và
D Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.
Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ
là bao nhiêu? Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác
nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v..
Tôi tính rằng, sau khi tham khảo ý kiến các đồng chí người Trung Quốc phải có một ngân
sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga Trung Quốc (vì tôi không biết
giá vé).
Ngày 1141924.
*
Báo cáo gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản
Từ tháng 111924, tôi được Ban Phương Đông Quốc Tế Cộng Sàn và Đảng Cộng sản Pháp
phái đến Quảng Châu để làm việc cho Đông Dương. Tôi tiếp tục đi Mátxcơva để trình bày
yêu cầu của tôi.
Yêu cầu của tôi: Ngay bây giờ tôi không thể lập một dự trù ngân sách chi tiết cho công tác
của tôi ở Đông Dương (đi qua Xiêm). Vì vậy, tôi chỉ có thể lập dự trù theo cách áng chừng
với những con số phù hợp với hoàn cảnh. Biết sự khó khăn về liên lạc từ Đông Dương đi
Mátxcơva, và định thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 năm, tôi trình bày với
các đồng chí một yêu cầu về ngân sách tính theo Mỹ kim như sau:
Lương tháng 150 đôla trong 2 năm (cho tôi và những người giúp việc:) $3.600.00
Quỹ để công tác trong 2 năm (mỗi tháng 200 đôla): $ 4,800.00
Tiền chi bất thường $1,100.00
Tổng cộng $9,500.00
Tất nhiên, ở đây tiền lương chỉ là tượng trưng vì ngoài phần trợ giúp tối cần thiết cho chúng
tôi, phần còn lại sẽ chuyển sang quỹ công tác. Và nếu các đồng chí vui lòng chấp thuận thì
ngân sách này chỉ được thực hiện từ ngày tôi đến Băng Cốc.
Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng đưa tôi vào bệnh
viện. Khi tôi ra bệnh viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của
tôi và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt.
Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.
Mátxcơva tháng 61927
(Nguồn: http://saohomsaomai.wordpress.com/).
Bây giờ thì chúng ta đã rõ đồng tiền của Hồ Chí Minh kiếm được là như thế nào. Nên nhớ
một đô la ngày đó giá trị bằng hàng trăm hàng ngàn đôla bây giờ. Đó là tiền bán nước, tiền
bán xương máu của đồng bào, tiền khom lưng làm tay sai cho Trung Cộng và Nga Sô.
Mặt thật đã lòi ra! Khi nơi ăn chốn ở chật hẹp hay được cấp nhà nhỏ quá thì than van, kêu nài
phải xét lại và đòi cho được một chổ ở thoải mái hơn. Ba lá thư trích dẫn nói trên cho thấy Hồ
Chí Minh chẳng hề gian khổ hay nhịn đói để đi tìm đường cứu nước. Chẳng qua Hồ Chí
Minh chỉ đi làm lao động nước ngoài". Nghề lao động của Hố Chí Minh là nghề "bán
nước".
Sau Hồ Chí Minh cũng đã có một số thanh niên đã tìm đường đến Nga như Lê Hồng Phong,
Hàn Rue và Đặng Tư Mỹ theo học tại các học viện quân sự tại Nga. Tất cả đều am hiểu tình
hình Đông Dương với những nhận xét khá xác thực vì họ mới rời khỏi Việt Nam không lâu.
Họ đã cho Mạc Tư Khoa biết những hình ảnh của nhân dân Đông Dương thời đó. So lại với
các bài thuyết trình về tình hình Đông Dương trước đây 3 năm của Nguyễn Ái Quốc khi ông
tham dự Đại hội Nông dân Quốc Tế và Đại hội 5 Quốc Tế Cộng Sản thì thấy ngay Nguyễn Ái
Quốc đã không nắm vững và không cập nhật vì ông rời Đông Dương từ năm 1911. Những bài
thuyết trình của Hồ Chí Minh cho thấy ông chỉ có thể mô tả lại tình cảnh bị áp bức của dân
tộc Việt Nam thời cụ Phan Chu Trinh phát động phong trào chống sưu thuế năm 1908. Trong
khi đó thực tế đã đổi khác quá xa. Ông báo cáo là trong 3 đợt huấn luyện ông dạy được 75
thanh niên trong khi thực tế chưa tới 2/3 số đó. Ông báo cáo rằng ông tổ chức được nhiều
toán điệp báo với tên gọi khác nhau như Tổ chức nông hội ở Thái Lan. Tổ chức thiếu niên
mầm non tuyển chọn từ Thái Lan và đưa sang học hành tại Quảng Châu. Tổ chức hội Phụ Nữ
Cách Mạng... nhưng nhìn lại không ai có thể tìm được dấu vết trong tài liệu hay trong lời kể
lại của các nhân vật đương thời ngoài việc đưa được một cậu bé mới 9 tuổi tên là Lê Văn
Trọng con trai út của một gia đình nghèo khó tại làng Bản Mạy, tỉnh Nakhon Thái Lan, đem
về Trung Hoa sau đổi tên thành Lý Tự Trọng.
Tuy nhiên nhờ vào quyết tâm dấn thân liều lĩnh và các thủ đoạn mánh mung, lưu manh nên
Hồ Chí Minh vượt trội hơn hẳn những tên lau nhau thời cơ chụp giật cùng sang Nga lúc đó
như Lê Hồng Phong, Hàn Rue, Đặng Tư Mỹ, Nguyễn Khánh Toàn... Chính vì vậy Hồ Chí
Minh được quan thầy Nga Sô lựa chọn và trở thành tên bán nước hại dân số một.
Thời kỳ ở Tàu
Cuối năm 1924, sau khi được trui luyện kỹ thuật cần thiết cho một tay điệp báo như len lỏi, tổ
chức, sinh hoạt, thông tin, tuyên truyền, kích động, cài người, phá hoại... Hồ Chí Minh được
lệnh đi Tàu, bề ngoài làm công tác phiên dịch cho phái bộ Mikhail Markovich Borodin, bên
trong hợp tác với cộng sản Tàu chiêu mộ đảng viên và khơi dậy những căm thù bất mãn của
lớp người nghèo khổ.
Tiểu sử của Hồ Chí Minh đăng trên nội san Học Tập và được đăng lại trên Wikipedia ghi rõ:
Sau khi được trui luyện tại Liên Xô, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng
Châu theo phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô do Mikhail Markovich Borodin làm
trưởng đoàn đến giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch, làm phiên dịch
lấy tên là Lý Thụy.
Vậy mà Hồ Chí Minh, đã tự bôi son trát phấn đeo râu đội mão lên mặt của mình
trong “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch”. Trần Dân Tiên (bút hiệu
của Hồ Chí Minh) viết nơi trang 64, 65 như sau:
...Bấy giờ ông Nguyễn ở Trung Quốc, ông bắt đầu đi bán báo và bán thuốc lá để kiếm sống.
Đọc quảng cáo trên tờ Quảng Châu Nhật Báo ông tìm đến làm phiên dịch cho ông Borodin,
cố vấn chính trị cho bác sĩ Tôn dật Tiên và chính phủ Quảng Châu...
Rõ ràng lúc nào Hồ Chí Minh cũng lừa dối bịp bợm. Tại Quảng Châu, Hồ không có một
ngày đi bán báo, bán thuốc lá, tìm đọc quảng cáo, rồi đi xin việc như những điều bịa đặt
kể trên để lừa gạt mọi người. Qua tài liệu dẫn chứng trên chúng ta thấy: Sau khi được trui
luyện tại Liên Xô, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thụyrời Liên
Xô tới Quảng Châu theo phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô do Mikhail Markovich
Borodin làm thông dịch viên. Điều này cho thấy Hồ Chí Minh nhận lương bổng từ Nga Sô
đều đều.
Tóm lại, sau khi thụ huấn tại trường Đại Học Phương Đông tức là trường đào tạo mật vụ gián
điệp hoạt động tại các dân tộc thuộc địa thì Hồ Chí Minh tiền bạc lúc nào cũng dư dã. Căn cứ
vào lá thư của Hồ Chí Minh gửi Ban Phương Đông Quốc Tế Cộng Sàn cho thấy ngoài việc
xin tiền và nhận nhiệm vụ của Cộng Sản Nga dể đi thẳng từ Mạc Tư khoa tới Quảng Châu rồi
đến Thái Lan hoạt động, Hồ Chí Minh lại còn xin được học thêm những môn học cần thiết.
Những môn đó là môn gì nếu không phải là kỹ thuật tuyên truyền, kỹ thuật lừa dối, kỹ thuật
kích động, kỹ thuật phá hoại... (xem lá đơn xin tiền Nga Sô của Hồ Chí Minh.)
Một bài viết của tác giả Người Buôn Gió đăng trên điện báo Đàn Chim Việt ngày 0601
2010, tiểu đề “Nguyễn Ái Quốc Hơi Nhiều Tiền” châm biếm như sau:
Năm 1925 bác Hồ kính yêu của chúng ta lúc đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã có vai trò to
lớn trong đảng cộng sản quốc tế. Lúc đó bác Nguyễn Ái Quốc hơi bị nhiều tiền không phải
nghèo khó như chúng ta vẫn thường nghe kể đâu.
Thu nhập của bác Quốc hồi ấy là do Thông Tấn Xã Nga cung cấp, chắc là tiền nhuận bút. Eo
ơi, chứng tỏ hồi ấy viết báo cũng dễ kiếm tiền hơn bây giờ.
Sở dĩ nói bác Quốc có ảnh hưởng to lớn là vì bác Quốc gửi thư yêu cầu Cộng Sản quốc tế tài
trợ tiền bạc cho Quốc Dân Đảng hoạt động, chứ bấy lâu nay toàn do bác Quốc bỏ tiền túi ra
giúp đỡ. Mà tiền toàn tiền USD thôi nhé.
Có hai đảng viên Quốc Dân Đảng có việc đi từ Quảng Châu sang Trung Kỳ (Việt Nam), bác
Quốc rút túi chi ngay cho mỗi chú vài trăm đô la đi đường. Chứng tỏ ngày ấy hoạt động cách
mạng cũng tốn kém, ngày nay có từng ấy tiền đi lại là cũng xông xênh rồi.
Công nhận là bác Quốc tức bác Hồ của chúng ta tài giỏi, không những là nhà cách mạng
xuất sắc mà còn kiếm tiền ác. Ở bên Trung Quốc xứ người khó khăn thế mà bét nhất lúc nào
bác cũng có mớ tiền, cần cho ai là móc túi đưa ngay, dễ như chủ tịch nước móc kẹo trong túi
cho trẻ con vậy...
Một bài báo khác trong mục “Thư Gửi Bạn Ta” ký giả Bùi Bảo Trúc đã trích đăng một đoạn
trong bài viết “Những Kỷ Niệm Về Bác” của chính Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng
trên tờ Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Trung Ương Đảng, số ra ngày 08011990, nơi
trang 3.
...Trước khi về Cao Bằng có một thời gian Bác và chúng tôi phải ở bên kia biên giới, giữa các
dân tộc vùng đó nơi người ta chỉ sống bằng cháo bẹ. Bấy giờ Bác có nhiều tiền, hai xếp giấy
bạc như hai cuốn tự điển và Bác giao cho tôi giữ tiền. Tôi phải mặc một cái áo trong với
hai cái túi to để giữ hai xấp bạc đó...
Nên nhớ là đồng bạc thời bấy giờ rất có giá trị, chỉ cần một đồng là đủ mua năm tạ gạo, hay
vài ba đồng là mua được một con trâu. Nhân dân nghèo đói phải ăn cháo bẹ sống qua ngày.
Bác đi làm cách mạng gian khổ hy sinh (?!) thì tiền bạc cả sấp nhét đầy hai túi áo.
Với tiền bạc dồi dào Nga Sô tài trợ như thế Hồ Chí Minh đã thành công trong việc truyền bá
và mở một số lớp huấn luyện bỏ túi đào tạo cán bộ Cộng Sản trong vùng Đông Nam Á cũng
như phá nát hay lũng đoạn hàng ngũ người quốc gia. Hồ khéo léo chui vào tổ chức Việt Nam
Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội hay Việt Nam Quang Phục Hội của Trương Bội Công,
Hồ Học Lãm ở Quảng Châu, dùng tiền tài trợ của Mật Vụ Nga Sô mua chuộc và lôi kéo được
một số đảng viên của các tổ chức cách mạng khác như bọn Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong,
Lê Hồng Sơn, Lâm Đức Thụ thuộc nhóm Tâm Tâm Xã của nhà cách mạng Phạm Hồng Thái.
Cùng năm này và cùng bài bản này Hồ chui vào tổ chức Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
ở Á Đông của Liêu Trọng Khải cũng như chui sâu ẩn kín vào một số tổ chức khác theo kế
hoạch tu hú đẻ trứng trong tổ quạ.
Ở đây cũng cần nhắc lại chủ trương cài người trồng người của Cộng Sản mà Hồ Chí Minh là
một tay chuyên nghiệp. Với Cộng Sản thì những kẻ khoa bảng bằng cấp chỉ dùng được làm
bình phong, bơm lên thật cao, trao cho những danh hiệu thật kêu để làm chiêu bài, còn đảng
viên cán bộ thì phải là lũ ngu si hoặc ngây thơ khờ dại. Ngu thì bảo sao làm vậy. Ngây thơ
khờ dại thì nói gì tin nấy. Cho nên ta thấy sau 1975 chị phu quét đường Phạm Thị Thêu được
làm đại biểu quốc hội tại Thủ Thiêm, mấy anh hốt rác đá cá lăn dưa được đưa lên làm Chủ
Tịch Phường, Chủ Tịch Xã. Hạng người này, một sớm một chiều đang từ kẻ cùng đinh mạt
vận bỗng chốc được trao cho những chức vị có quyền hành có bổng lộc thì sướng mê tơi, con
người trở thành cái máy, chỉ biết tuyệt đối thi hành lệnh cấp trên mà không cần suy nghĩ đúng
sai phải trái. Những người này thật đáng thương hại vì họ gieo tội ác mà không biết mình
đang làm tội ác. Nói đúng hơn họ không có kiến thức hay đầu óc suy nghĩ để biết mình làm
gì.
Việc “kết nạp đồng chí” Lý Tự Trọng là một điển hình trong công việc trồng người của Hồ
Chí Minh. Đồng chí “Anh Hùng Tuổi Trẻ” này sinh đẻ ở Thái Lan, nhà nghèo, được Hồ Chí
Minh “bồi dưỡng kết nạp” vào năm 1926 khi mới lên 9 tuổi, đem sang Tàu huấn luyện. Kết
cuộc đồng chí Lý Tự Trọng bị xử bắn ngày 2111931 khi mới 15 tuổi về tội cầm súng giết
người theo lệnh đảng.
Muốn biết rõ tại sao em bé Lý Tự Trọng phải chết bi thảm như vậy thì không gì dễ dàng hơn
là bỏ một vài phút lướt qua tập Những anh hùng tuổi trẻ của nhà xuất bản TRẺ thành phố Hồ
Chí Minh, bản in lại tháng 42001. Nguyên văn chủ trương và cũng là câu mở đầu trong bài
viết về“Anh hùng Lý Tự Trọng” nơi trang 18 như sau:
Bác Hồ kính yêu và Đảng quang vinh của chúng ta luôn luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau.
“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” của Bác Hồ kính yêu và Đảng quang vinh là
như thế nào? Là đẩy trẻ thơ còn nhỏ dại mới 9 hay 10 tuổi đầu vào chỗ chết. Là chia cắt cốt
nhục gia đình. Là lợi dụng sự khốn khổ của kẻ khác vì lợi ích của mình... Đây cũng là “chính
sách trồng người” của Hồ Chí Minh, hành động tàn nhẫn đốn mạt còn hơn lũ mẹ mìn. Rõ
ràng ác tặc mặt người dạ thú Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản không có một chút lương
tri. Chúng hả hê dùng máu của trẻ thơ và máu của những kẻ ngu dại làm phương tiện để đạt
mục tiêu của chúng.
Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s th t v con ng i muôn m t H Chí Minh (ph n 4)
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao) Cũng vào thời gian này Hồ Chí Minh đã cùng Lâm Đức Thụ âm mưu tổ chức
bán đứng nhà cách mạng Phan Bội Châu cho thực dân Pháp vào ngày 571925 (15 tháng 5
năm Ất Sửu) lấy 15 vạn bạc Đông Dương ($150,000.00). Để chối tội cho Hồ Chí Minh,
những tên bồi bút văn nô Cộng Sản tìm mọi cách thay trắng đổi đen che dấu sự thật, đổ tội
cho Lâm Đức Thụ.
Ngay sau khi cụ Phan bị bắt vào năm 1925 thì nhiều nguồn tin khác nhau đã được loan
truyền. Một số người thuộc Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội có mặt trong buổi họp
quyết định bán cụ Phan đã bất bình ra khỏi tổ chức. Nhà cách mạng Sở Cuồng Lê Dư sững sờ
khi biết tin này vì Cụ đã từng nghe Lâm Đức Thụ thuật lại ý kiến của Lý Thụy (Hồ chí
Minh): Cụ Phan đã gần đất xa trời mà chẳng nên công việc gì, chi bằng bán cho Pháp, vừa
có tiền sinh hoạt Đảng, vừa khơi dậy lòng dân trong nước. Cụ tưởng rằng đây chỉ là câu
chuyện tầm phào không ngờ biến thành chuyện thật nên sau này nói lại cho con rể của mình
là ông Hoàng Văn Chí, một người từng đi kháng chiến, từng là chuyên viên phụ trách đúc
tiền, làm giấy in bạc, chế tạo hóa chất cho quốc phòng, thiết lập hệ thống thủy điện và đã
được Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng đích thân tuyên dương công trạng nhiều lần.
Nhờ cuộc sống chung đụng nên ông nhận rõ được mặt thật Cộng Sản nên bỏ về thành và di
cư vào Nam năm 1954. Học giả Hoàng Văn Chí chính là tác giảFrom Colonialism to
Communism viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Sách được dịch ra trên 15 ngôn ngữ, sau này
được dịch sang tiếng Việt với tên “Từ Thực dân đến Cộng sản”. Học giả Hoàng Văn Chí
cũng là tác giả biên tập “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” dưới bút hiệu Mạc Định. Có một
thời gian Cụ nhận nhiệm vụ Phó Lãnh sự tại New Delhi, Ấn Độ.
Cũng nên nhắc lại là nhà cách mạng Sở Cuồng Lê Dư đã từng hoạt động trong Tâm Tâm Xã
cùng với Phạm Hồng Thái. Sau khi Phạm Hồng Thái hy sinh với tiếng bom Sa Điện cụ gia
nhập tổ chức của cụ Phan Bội Châu và đang tiến hành việc cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội
thành Việt Nam Quốc Dân Đảng theo khuôn mẫu Trung Hoa Quốc Dân Đảng thì cụ Phan Bội
Châu bị bắt.
Học giả Hoàng Văn Chí ghi lại sự kiện này trong tác phẩm “Từ Thực Dân đến Cộng sản”,
trang 38,39,40 như sau:
“Giữa lúc phong trào Quang phục Hội đang gặp khó khăn nhưng chưa tan rã hẳn thì cụ
Phan bị ông Nguyễn Ái Quốc lập mưu bán cho Pháp lấy 10 vạn đồng (hồi ấy một con trâu trị
giá 5 đồng). Cụ Phan vốn biết ông Nguyễn Ái Quốc là cộng sản, nhưng Cụ cho rằng cộng
sản cũng nhiệt tình yêu nước như quốc gia, nên Cụ quý trọng và hoàn toàn tín nhiệm ông
Nguyễn. Cụ theo lời ông đến một địa điểm ở Thượng Hải mà Cụ không biết là thuộc tô giới
Pháp. Cụ bị cảnh sát Pháp bắt và đưa về Việt Nam để xử tội. Giới cách mạng Việt Nam ở
Trung Quốc đều biết rõ việc này, và một người đồ đệ của ông Nguyễn Ái Quốc đã thuật lại
với chúng tôi rằng sau vụ này ông đã giải thích hành động của ông như sau: Cụ Phan đã già
lẫn, không còn ích lợi cho cách mạng; việc Pháp bắt Cụ và xử án Cụ tất nhiên sẽ gây phong
trào phản đối trong quốc nội, rất có lợi cho tinh thần cách mạng; sau hết, tiền nhận được của
Pháp sẽ dùng để đưa thêm thanh niên trong nước xuất ngoại.
Việc này ông Nguyễn Ái Quốc đồng mưu với Lâm Đức Thụ (tên thật là Nguyễn Công Viễn)
một thời là đại diện cho cụ Phan ở Hồng Kông và sau theo cộng sản. Hai người chia đôi số
tiền nhận được của Pháp. Về phần ông Nguyễn Ái Quốc thì quả thật ông dùng tất cả phần
tiền của ông để chi phí cho Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội do ông tổ chức ở Quảng
Châu, nhưng còn Lâm Đức Thụ thì hắn tiêu xài hết phần tiền của hắn vào cuộc đời sa đọa ở
Hồng Kông.
Việc buôn bán cách mạng này tiếp tục trong nhiều năm. Mỗi thanh niên Quang phục Hội đưa
sang Tàu phải nộp cho Lâm Đức Thụ ở Hồng Kông hoặc cho đại diện của hắn ở Quảng
Châu hai bức hình nói là để lập hồ sơ xin vào trường Hoàng Phố. Đến ngày những sinh viên
này tốt nghiệp, sẵn sàng lên đường về nước để hoạt động cách mạng thì số phận của mỗi
người đã được định sẵn. Những người đã nghe theo tuyên truyền cộng sản và đã gia nhập
Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội thì được an toàn trở về quê hương để hoạt động bí mật.
Còn những người vẫn khăng khăng giữ vững lập trường quốc gia thì hễ qua khỏi biên giới là
bị mật thám Pháp đón bắt, theo ám hiệu của cộng sản, vì họ không thu phục được. Những
thanh niên này bị bắt và đưa dần vào tù, khiến phong trào quốc gia ở Việt Nam mất liên lạc
với trụ sở ở Quảng Châu. Những người trong nước phái ra liên lạc với bên ngoài cũng hoặc
bị cộng sản thu hút, hoặc bị Pháp bắt vào tù. Tình trạng cứ tiếp diễn đến nỗi những sinh viên
tốt nghiệp Hoàng Phố mà không chịu theo cộng sản thường không dám về nước và chỉ còn
cách là gia nhập quân đội Quốc dân Đảng Tàu. Dần dà phong trào quốc gia mỗi ngày mỗi
suy sụp và phong trào cộng sản mỗi ngày một bành trướng. Vì đưa thanh niên ra ngoài để
sau ít năm bán cho Pháp nên Lâm Đức Thụ được mệnh danh là “lái thanh niên”. Hắn trở
nên cực kỳ giàu có và sống rất sa hoa ở Hồng Kông. Nhưng chỉ mấy năm sau, vì không còn
thanh niên để bán nên Thụ hết tiền, không còn phương tiện sinh nhai, phải xin Pháp trợ cấp
và che chở cho về Nam Vang, và sau cùng về sinh quán ở Thái Bình. Gặp cuộc khởi nghĩa
Việt Minh, Thụ hoảng sợ, nhưng để thoát thân, hắn bí mật đến yết kiến ông Hồ, lúc ấy đã trở
thành Chủ tịch chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông Hồ hứa che chở cho Thụ, nhưng
bảo Thụ phải về sống yên ổn ở làng, không được tiết lộ những hoạt động của hai người lúc
còn ở Hồng Kông. Thụ về Kiến Xương sống yên ổn trong mấy năm liền, nhưng vào khoảng
năm 1950, khi quân đội Pháp tiến gần đến huyện, thì cán bộ Việt Minh theo cẩm nang của
Đảng đã giao sẵn từ trước, bỏ Lâm Đức Thụ vào rọ mang trôi sông. Thụ để lại một người vợ
Tàu và mấy đứa con Tài liệu của Duiker đã đề cập bản báo cáo của Hà Huy Tập lên quốc Tế
3 đề ngày 2041935 về việc Lý Thụy thu tiền và bắt các người Việt chống Pháp ghi tên tuổi,
địa chỉ, kết quả hàng trăm người bị Pháp bắt."
Theo Hà Huy Tập, Hồ Chí Minh đã sai lầm khi đòi hỏi những người gia nhập tổ chức phải
khai rõ lý lịch, nộp hình ảnh và tin cậy Lâm Đức Thụ nên những tài liệu này rơi vào tay mật
thám Pháp khiến hàng trăm người đã bị Pháp bắt giam.
Sau cụ Sở Cuồng Lê Dư, năm 1928 ký giả Nhượng Tống đã viết bài “Ai bán đứng cụ Phan
Bội Châu” nêu đích danh kẻ chủ mưu là Lý Thụy và Lâm Đức Thụ. Nhượng Tống tên
thật là Hoàng Phạm Trân, một nhân vật thân tín của Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Việt Nam
Quốc Dân Đảng, và cũng là người bị Việt Cộng thủ tiêu ngay những ngày đầu kháng chiến.
Vào thời điểm này, Nhượng Tống cũng như người dân Việt Nam không biết Lý Thụy cũng
như Lâm Đức Thụ là ai. Nhượng Tống chỉ cho biết đó là những người cùng trong hội với ông
Phan Bội Châu. Vì vậy không ai để ý tới Lý Thụy và Lâm Đức Thụ mà chỉ nghĩ đây là hai
tên phản bội vô danh tiểu tốt.
Nhà biên khảo Bùi Anh Trinh cho biết thêm chi tiết:
Năm 1945 sau khi Nhật bất thần đảo chánh Pháp thì lại có thêm một bằng chứng khác. Đó là
tập tài liệu gồm 5 tập, nhan đề là “Góp Vào Lịch Sử Chính Trị Vận Động Ở Đông Pháp” do
Louis Marty, giám đốc sở Mật thám chính trị Đông Dương sưu tầm và, chỉ phổ biến cho một
số cơ quan trách nhiệm tại Đông Dương để nghiên cứu. Trong tập sách 60 trang giấy này có
ghi lại các lời khai của Hoàng Đức Thi khi bị Pháp bắt và có một đoạn nói về hội nghị bán cụ
Phan Bội Châu
Rất tiếc vì là lời cung với tòa án nên Thi không giải thích những chi tiết khó hiểu. Riêng về
phía Hà Nội thì các tập sách của Marty được gom về cho Trần Huy Liệu là trưởng Ban
nghiên cứu lịch sử Trung ương Đảng, ông này giấu biến chuyện Phan Bội Châu bị bán mà
cũng không có một lời nào thanh minh cho Lý Thụy mặc dầu phía Sài Gòn tố rất mạnh.
Năm 1955, để trả lời các cáo buộc của phía Sài Gòn, Phạm Văn Đồng chỉ thị cho ông
Chương Thâu dịch quyển hồi ký của cụ Phan Bội Châu (không phải bản của nhà xuất bản
Anh Minh), trong đó cụ Phan có viết:
“… Ai dè lúc tôi ra đi, thì cái thời giờ hành động của tôi đã có kẻ nhất nhất mật báo với
người Pháp mà cái người mật báo đó lại chính là người ở chung với tôi, từng nhờ tôi nuôi
nấng… Người ấy nghe nói tên là Nguyễn Thượng Huyền… gọi cụ Thượng Hiền bằng ông
chú, thông chữ Hán, đã từng đậu cử nhân, chữ Pháp, chữ quốc ngữ cũng đủ xài. Tôi nhân
yêu tài nó, lưu nó làm thư ký còn như nó làm ma cho Pháp thì tôi có nghĩ tới đâu!”....
Căn cứ vào lời của cụ Phan Bội Châu, một số sử gia quốc tế đoan quyết rằng ông Nguyễn Tất
Thành vô tội trong vụ này vì Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thượng Huyền chưa hề quen biết
nhau.
Sau khi sách của Chương Thâu xuất bản thì dư luận bàn tán xôn xao, phe tố cáo ông Hồ Chí
Minh đành phải im tiếng. Chuyện này tới tai ông Nguyễn Thượng Huyền đang sinh sống ở
Hồng Kông. Ông này một mực cho rằng mình bị oan. Năm 1956, nhân dịp ký giả Lê Tâm
Việt ghé thăm Hồng Kông, ông Nguyễn Thượng Huyền nhờ Lê Tâm Việt thanh minh giùm
ông và tố cáo đích danh Lý Thụy bán cụ Phan Bội Châu trên báo Tự Do số 548 ngày 1911
1956. Năm 1965 Nguyễn Thượng Huyền lại về Sài Gòn họp báo để cải chính và viết bài đăng
trên tạp chí Bách Khoa số 73. Tuy nhiên ông Huyền chỉ thề bán sống bán chết kêu oan chứ
không đưa ra được bằng chứng nào để có thể buộc tội ông Hồ Chí Minh và giải oan cho
mình.
Năm 1968, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để cho xuất bản tại Sài Gòn tập hồi ký kể lại việc Lâm
Đức Thụ gởi thơ và tiền cho cụ Phan tại Hàng Châu và hẹn cụ Phan về Quảng Châu làm lễ kỷ
niệm ngày Phạm Hồng Thái hy sinh. Nhưng sau đó thì có tin cụ Phan đã bị bắt đưa về Việt
Nam.
Hồi ký của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để cho biết “Lâm Đức Thụ ở Quảng Châu, lúc đầu cố
phao vu cho người này người khác để che lấp tội ác của mình nhưng về sau thấy ông Phan bị
bắt về đến trong nước, thành ra một cuộc tuyên truyền có hiệu lực cho cách mệnh, Lâm Đức
Thụ mới khoe rằng đó là công hắn, vì chính hắn bắt ông Phan”.
Nhiều người khi đọc hồi ký này lại nghĩ rằng Nguyễn Tất Thành không có bán Phan Bội
Châu mà là một người nào đó tên Lâm Đức Thụ.
Câu chuyện vẫn còn trong vòng suy diễn mãi cho đến năm 1990, trong tác phẩm “Hồ Chí
Minh: de l’Indochine au Viet Nam”, sử gia Pháp Daniel Hémery cho phổ biến một số thư của
mật báo viên có mật danh là Pinot gởi cho chánh mật thám tô giới Pháp tại Quảng Châu
Loan. Căn cứ vào các chi tiết trong báo cáo người ta xác nhận được Pinot chính là Lâm
Đức Thụ, một lãnh tụ Cộng sản cùng với Nguyễn Tất Thành trong tổ chức Việt Nam Thanh
Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là người cùng Thành đóng góp tiền lương hằng tháng để
thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí. Thụ cũng là người cùng Thành lập ra
tổ chức Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc, là người đầu tiên được Thành giới thiệu gia
nhập Đảng Cộng Sản Trung Quốc, là một trong 5 người đầu tiên nằm trong tổ chức Đông
Dương Quốc Dân Đảng của Nguyễn Tất Thành. Ngoài ra trong thân tình thì Lâm Đức Thụ đã
làm mai Nguyễn Tất Thành với Tăng Tuyết Minh là một nữ y tá bạn thân của vợ Thụ.
Đến lúc này thì dư luận mới thấy tội nghiệp cho ông Nguyễn Thượng Huyền vì rõ ràng là ông
ta bị hàm oan mà không làm sao nói cho thiên hạ tin. Gẫm lại câu nói của cụ Phan Bội Châu:
“Người ấy nghe nói tên là Nguyễn Thượng Huyền” thì rõ ràng là có người nào đó rỉ tai cụ cái
tên này chứ không phải là do cụ có bằng cớ hay do cụ suy đoán ra (Bùi Anh Trinh)
Sau này, theo suy luận, có thể kẻ rỉ tai với Cụ Phan Bội Châu là người con rể tên Vương Thúc
Oánh. Mới đầu Oánh sang Trung Hoa để theo chân cụ Phan Bội Châu đang sống tại Nam
Kinh, nhưng khi tới Quảng Đông thì ngã theo Nguyễn Tất Thành, phụ trách đường dây đưa
rước các thanh niên Việt Nam sang học các khóa tuyên truyền. Đến năm 1927 Thành chạy về
Nga thì Vương Thúc Oánh cũng từ bỏ Cộng Sản trở về Việt Nam gặp cụ Phan đang bị quản
thúc tại Huế.
Có lẽ trong dịp này ông Vương Thúc Oánh và cụ Phan Bội Châu bị sa vào kế “Tá đao
sát nhân” của Nguyễn Tất Thành. Đây là một trong tam thập lục kế, mượn đao Vương
Thúc Oánh giết Nguyễn Thượng Huyền. Những vụ giết Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu hay
giết Nguyễn Bình cũng đều tương tự như thế cả. Lê Hồng Phong và Nguyễn Bình thì bị Pháp
giết nhưng do Hồ Chí Minh tiết lộ từng đường đi nước bước, còn Hồ Tùng Mậu thì nói là bị
máy bay Pháp bắn ở Thanh Hóa nhưng thật khó tin bởi vì thời đó máy bay Pháp bay vào
Thanh Hóa chỉ để bỏ bom hay xạ kích một mục tiêu rõ ràng chứ không có chuyện máy bay đi
bắn sẻ vào một người đang cỡi xe đạp. Vô lý hơn nữa là máy bay nã nhiều tràng đạn vào Hồ
Tùng Mậu mà tên cận vệ sát bên lại không hề hấn gì.
Hồ Tùng Mậu gốc Tâm Tâm Xã lúc đó giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Hành (Kháng
Chiến kiêm Hành Chánh) Liên Khu 4, bị Hồ Chí Minh giết vì sẽ là một đối thủ chính trị
tương lai. Trường hợp này cùng một sách một tuồng như Mao Trạch Đông giết Lưu Thiếu
Kỳ. Nguyễn Bình tức Nguyễn Phương Thảo gốc Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Vậy thì câu hỏi đặt ra: Lâm Đức Thụ là người thế nào?
Nhà biên khảo Bùi Anh Trinh đã viết trong “Hồ Chí Minh Thú Nhận Có Bán Phan Bội
Châu”:
Lâm Đức Thụ tên thật là Nguyễn Công Viễn, còn có tên là Hoàng Chấn Đông, con của cụ
Nguyễn Hữu Dân, bạn học của cụ Nguyễn Sinh Sắc tại trường Quốc Tử Giám. Thụ tốt
nghiệp trường Võ Bị Bắc Kinh nhưng không phục vụ trong quân đội Bắc Kinh mà về cư trú
tại Quảng Châu, sinh sống bằng nghề chụp ảnh. Năm 1924 nhiệt tình tham gia các hoạt động
chính trị của Phan Bội Châu. Ngay từ thời này ông đã biết rất rõ những nhà ái quốc Việt Nam
như Nguyễn Thượng Hiền, Lê Tán Anh, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Hải Thần, Lê Hồng Phong,
Lê Quang Đạt, Lưu Bích, Ngô Chính Cốc, Phạm Hồng Thái…
Người ta không rõ Lâm Đức Thụ hợp tác làm ăn với mật thám Pháp từ lúc nào nhưng báo cáo
đầu tiên của ông ta còn lưu trong hồ sơ lưu trữ là ngày 431925 báo cáo về việc ông ta cùng
với Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tất Thành, Đinh Tế Dân cùng nhau đóng góp tiền lương để
chuẩn bị thành lập một đảng chính trị mới. Sau đó là báo cáo về chuyến đi từ Hàng Châu về
Quảng Châu của Phan Bội Châu.
Đến tháng 91925 thì mật thám Pháp có được một tấm hình Nguyễn Tất Thành đứng với các
học viên và cán bộ của Trung Tâm huấn luyện chính trị của Bành Bái. Có lẽ tấm hình này do
Lâm Đức Thụ chụp vì ông ta đang sinh sống bằng nghề chụp ảnh, Thành đã nhờ ông ta chụp
giùm để gởi về Mạc Tư Khoa làm bằng chứng nhưng Thụ đã sao thêm một bản để gởi cho
mật thám Pháp. Đến tháng 101926 Lâm Đức Thụ lại báo cáo về việc đám cưới của Nguyễn
Tất Thành, nói rõ vợ của Thành là một người nữ hộ sinh, bạn đồng nghiệp của vợ ông ta. Báo
cáo cũng cho biết là Lê Tán Anh, Nguyễn Hải Thần phản đối cuộc hôn nhân này.
Những tài liệu này chứng tỏ Lâm Đức Thụ rất thân thiết với Nguyễn Tất Thành, nhưng cũng
căn cứ vào những lời lẽ trong các báo cáo, người ta có thể thấy rõ là Thành không dính líu tới
chuyện Lâm Đức Thụ làm ăn với phía mật thám Pháp; mà trái lại, Thành là đối tượng theo
dõi của mật thám Pháp. Ngoài ra, cũng qua các báo cáo này người ta có thể thấy mặc dầu
Lâm Đức Thụ hoạt động giữa tập thể các lãnh tụ Cọng sản Việt Nam nhưng cho tới ngày ông
ta bị lộ diện năm 1931 thì không có một lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nào trong địa bàn hoạt
động của ông bị bắt. Đặc biệt là ngay cả Nguyễn Tất Thành, một nhân vật được mật thám
Pháp đặt tên là Nguyễn Ái Quốc, cũng không hề bị bắt cho dầu Nguyễn Tất Thành ăn ở trong
nhà Lâm Đức Thụ.
Ngoài tài liệu trong Văn khố Pháp được công bố năm 1980 và 1992, các tài liệu mật khác của
Cộng Sản Quốc Tế cũng được đưa ra trước công chúng. Người ta tìm thấy một báo cáo của
Hà Huy Tập vào tháng 4 1935, nói rằng Nguyễn Tất Thành biết Lâm Đức Thụ là một tay chỉ
điểm của Pháp nhưng vẫn giao du liên lạc.
Đối chiếu với tài liệu của mật thám Pháp thì năm 1930 Lâm Đức Thụ đã bị Hồ Tùng Mậu, Lê
Quang Đạt phát hiện là mật thám, Thụ phải bán nhà tại Hồng Kông và trốn vào một nơi bí
mật; thế mà năm 1931 ông Nguyễn Tất Thành từ trong nhà giam vẫn liên lạc với Thụ, nhờ
Thụ coi sóc tổ chức của mình cũng như giúp đỡ vợ của mình là Lý Ứng Thuận..
Ngày nay, khi mà mọi hành động làm việc cho mật thám Pháp của Lâm Đức Thụ đã được
đưa ra ánh sáng thì rõ ràng Lâm Đức Thụ là một điệp viên hai mang. Nhưng một dấu hỏi
lớn được nêu lên là trong thâm tâm của ông thì mang bên nào mới là mang thực sự của
ông? Ông cộng tác với Nguyễn Tất Thành hay ông cộng tác với Pháp?
Câu trả lời dễ dàng là nếu ông thực sự cộng tác với Pháp thì năm 1931 ông đã nộp Nguyễn
Tất Thành cho Pháp vì ông Thành và ông cùng sinh sống tại khu vực Tam Khẩu của Hồng
Kông trong khi mật thám Pháp đang truy lùng ráo riết Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Tất Thành.
Hơn nữa, sau khi bị lộ diện vào năm 1931 Lâm Đức Thụ đã dời về Cam Bốt sinh sống. Vậy
thì tại sao năm 1945 ông ta lại ngang nhiên về Hà Nội tìm gặp Hồ Chí Minh? Lấy gì bảo đảm
an toàn cho ông khi ông quyết định trở về Thái Bình hoạt động chính trị trở lại trong khi Thái
Bình đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh? Đặc biệt tại sao Nguyễn Tất Thành lúc này
không cho lệnh bắt Lâm Đức Thụ mặc dù chính vì Lâm Đức Thụ mà ông suýt bị Quốc tế
Cộng Sản lên án tử hình sau khi nhận được báo cáo của Hà Huy Tập.?
Những dân quân du kích chứng kiến Việt Minh hành quyết Lâm Đức Thụ vào năm 1947 tại
Thái Bình đã kể lại rằng ông không chịu bịt mắt trước khi bắn và ông hỏi câu cuối cùng:
“Trước khi bắn, xin cho hỏi, ai ra lệnh giết?”. Đáp: “Cấp trên”! Ông lại hỏi: “Cấp trên là
ai?”. Tất cả lặng thinh. Ông nói: “Không nói được hả?! Thế thì bắn đi”. Nguyên văn câu nói
cuối cùng chứng tỏ trước khi chết Lâm Đức Thụ biết mình bị chết vì tay ai.
Cái chết của Lâm Đức Thụ chứng minh ông ta không phải là người của Pháp hay là
theo Pháp. Nếu theo Pháp thì ông ta đã sống trong vùng Pháp chiếm đóng như Hà Nội
hay Hải Phòng để không đến nỗi bị giết. Trái lại, ông ta sẽ kiếm được rất nhiều tiền khi ông
ta ra trình diện với chính quyền Pháp để chứng nhận với dư luận rằng ông ta đã hội cùng
Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu. Vậy thì Nguyễn Tất Thành có thực sự đồng mưu với
Lâm Đức Thụ trong việc bán cụ Phan Bội Châu hay không?
Trả lời câu hỏi này chính là người thân cận của Hồ Chí Minh: Người đó là Hoàng Tùng,
Tổng Biên tập tờ Nhân Dân trong nhiều năm. Trong bài viết “Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ”
Hoàng Tùng ghi lại:
Trong một hội nghị bàn về tổ chức, một cán bộ phát biểu: “Đối với con cái cán bộ thì không
cần thời gian dự bị điều tra”. Hồ Chí Minh liền ngắt ngang: “Chú nói như thế không đúng,
đối với cách mạng phải xem người ấy cụ thể như thế nào vì có chuyện hổ phụ sinh khuyển
tử. Phan Bá Ngọc là con của Phan Đình Phùng đã đưa mật thám bắt Phan Bội Châu”.
Sự thật, Phan Bá Ngọc bị Lê Tán Anh giết vào ngày rằm tháng giêng năm 1922 tại Hàng
Châu trong khi Phan Bội Châu bị bắt là ngày 11 tháng 5 năm 1925 (Âm lịch). Làm sao mà
Phan Bá Ngọc có thể đội mồ sống dậy để bán cụ Phan cho được.
Lúc cụ Phan bị bắt thì Nguyễn Tất Thành đang ở tại Quảng Châu tất ông phải biết rõ hơn ai
hết. Đặt điều vu oan giá họa cho Phan Bá Ngọc như thế chứng tỏ Hồ Chí Minh tìm cách đổ
tội việc bán cụ Phan Bội Châu cho người khác và để mọi người quên đi tên mình trong vụ
này.(Bùi Anh Trinh)
Cũng trong việc đi tìm thủ phạm, tác giả Đặng Chí Hùng đã dẫn chứng một số sự kiện trong
loạt bài biên khảo “Những Sự Thật Không Thể Chối Bỏ” có tựa đề“Ai Bán Đứng Phan Bội
Châu?” như sau:
David Halberstam và J. P. Honey là hai tác giả thiên tả, rất có thiện cảm với ông Hồ cũng
xác nhận vụ “bán người. “Việc Hồ chí Minh bán đứng nhà ái quốc nổi tiếng Phan Bội Châu
cho Pháp lúc ấy đang sống lưu vong ở Trung Hoa minh họa chân dung (cá tính) đích thực
của con người đó. Sau này ông ta đã chứng minh cho đồng chí thấy việc làm đó là chính
đáng bằng cách nêu lên 3 lý do thúc đẩy ông ta làm: Một, Phan Bội Châu không phải cộng
sản mà là người "quốc gia" và có thể sẽ là đối địch với cộng sản trong kế hoạch kiểm soát
phong trào kháng chiến chống Pháp. Phản Phan Bội Châu là loại bỏ được một đối thủ tương
lai. Hai, món tiền thưởng nhận được của Pháp có thể được dùng một cách tối ưu để phát
triển phong trào cộng sản Việt Nam. Ba, việc Pháp xử tử Phan Bội Châu sẽ tạo nên một
không khí phẫn nộ mạnh trong nước lúc ấy đang cần có.
Trong cuốn “Vietnam at War” của tác giả Phillip B. Davidson – một cựu sỹ quan tình báo
của quân đội Mỹ đã viết:“The French say that in June 1925, Ho betrayed to the Surete in
Shanghai for 100,000 piaster…”. Đại ý dịch lại là ông Hồ Chí Minh với bí danh Lý Thụy lúc
đó đã bán đứng cụ Phan cho nhà cầm quyền thực dân Pháp lấy tiên.
Theo Joseph Buttinger, “A Dragon Embattled” (New York: Praeger, 1967)Tập 1, của
Joseph Buttinger). Ông này khẳng định rằng Nguyễn Ái Quốc nhận 150.000 đồng bạc Đông
dương từ Pháp và bán cụ Phan. Trong cuốn sách có đoạn viết: “Lam Duc Thu and Thanh
(Ho Chi Minh) split 150,000 piasters, which Thanh later used to fund his own fledgling
communist organization, “Vietnamese Revolutionnary Youth Association”… ”Ho Chi Minh
promised to protect Thu with condition that Thu must keep a low and “quiet” life in the
village and not to reveal the secret about “activities” of both when they had lived in Hong
Kong..”.
Nội dung của cuốn sách này nói về số tiền mà ông Hồ và Lâm Đức Thụ nhận được từ việc
bán thông tin cụ Phan cho Pháp là 150 vạn bạc đông dương và ông Hồ đã hứa với Lâm Đức
Thụ về bí mật giữa hai người này. Điều này thêm khẳng định mục đích bán cụ Phan lấy tiền
để vừa triệt tiêu đối thủ chính trị, củng cố tổ chức của ông Hồ. Sự xuất hiện của đoạn văn
dưới với nội dung ông Hồ hứa sẽ bảo vệ ông Thụ với điều kiện ông Thụ phải giữ im lặng về
những việc họ hoạt động ở hongkong đã đánh bật luận điểm cho rằng ông Hồ vô can trong
vụ án cụ Phan, đổ tội hoàn toàn cho Lâm Đức Thụ. Lâm Đức Thụ được đảng cộng sản Việt
Nam tuyên truyền như một kẻ phản bội đã bán đứng cụ Phan. Tuy nhiên nếu Hồ Chí Minh
(Lý Thụy) không biết thì lý do gì ông ta phải yêu cầu Lâm Đức Thụ im lặng để đổi lấy cuộc
sống bình yên? Đó chính là việc Hồ Chí Minh (Lý Thụy) đồng mưu bán đứng cụ Phan cho
Pháp.
Trong cuốn Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (giáo
sư Trịnh Chuyết) được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. trang 742, trong mục nói
về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau: “Năm
1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức
“Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc”, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập
mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:
1 – Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện
hoạt động. 2 – Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong
quốc dân.”.
Cần phải nhìn nhận đây là cuốn sách được nhà xuất bản Văn học, nó thuộc nhà nước cộng
sản Việt Nam. Nói cách khác, nhà nước cộng sản đã công nhận sự kiện này là có thật.
Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh trong thời gian này có bí danh là Lý Thụy. Và như thế,
căn cứ vào cuốn tự điển của nhà cầm quyền Cộng Sản xuất bản năm 2008 thì Lý Thụy chính
là Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên.
Trước đó còn có những bài viết khác như của ông Đào trinh Nhất, trong loạt bài “Một bí mật
chưa ai nói ra” đăng trên báo Cải Tạo, Hà Nội, số tháng 101948, được Joseph Buttinger
trích lại cũng viết rằng, chính Lý Thụy là thủ phạm bán đứng cụ Phan Bội Châu cho mật
thám Pháp, hay của ông Đào Văn Hội, tác giả "Ba Nhà Chí Sĩ Họ Phan" còn cho biết thêm
một chi tiết:
Sau khi Phan Bội Châu đi Hàng Châu, Lý Thụy và Lâm đức Thụ đã triệu tập các nhà cách
mạng tại Quảng Châu lại, trừ Nguyễn Hải Thần, để bàn về vấn đề tài chánh. Không ai đưa
ra được giải pháp nào về vấn đề này. Lâm đức Thụ đã đề nghị hy sinh Cụ Phan Bội Châu…
Và hội nghị đã ủy cho Lâm đức Thụ liên lạc với tòa lãnh sự Pháp ở Hồng Kông để tiến hành
việc bán cụ Phan...
Nếu đúng như cụ Sở Cuồng Lê Dư nói thì Nguyễn Tất Thành là bộ óc. Lâm đức Thụ là cái
miệng.
Một tài liệu khác rất khả tín là Hồi Ký của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ấn hành tại Sài Gòn năm
1968 ghi lại nguyên ủy và diễn tiến sự việc như sau:
“Cuối tháng 5 năm 1925, Lâm Đức Thụ viết thư và gửi tiền lên Hàng Châu cho ông Phan
Bội Châu, mời về Quảng Châu nhân dịp kỷ niệm Phạm Hồng Thái ngày 19 tháng 6, làm một
cuộc tuyên truyền lừng lẫy cho cách mệnh Việt Nam. Ông Phan nhận được thư và tiền, liền đi
Thượng Hải để đáp tàu thủy về Quảng Châu. Ông Phan đi rồi, mãi không thấy có thư từ gì
về, bọn Hồ Học Lãm ở Hàng Châu lấy làm lạ, viết thư hỏi các đồng chí ở Quảng Châu. Thư
trả lời nói không thấy ông Phan xuống đó, ai cũng lo.
Hơn một tháng sau, Lâm Chi Hạ, chủ nhiệm Quân Sự Biên Tập Xứ, tiếp được một phong thư
từ Sán Đầu gửi tới, có kèm theo một mảnh thư do ông Phan viết, mới biết là ông bị bắt rồi.
Gửi thư ấy đến Lâm Chi Hạ là một học sinh Tàu. Người này cho biết rằng nhân dịp nghỉ hè,
từ Thượng Hải về Sán Đầu thăm nhà, gặp ông Phan ở trên tàu thủy, ông Phan thừa lúc người
đi kèm không ở cạnh, nói chuyện với y và viết mảnh giấy ấy, nhờ y gửi đi Hàng Châu cho
Lâm Chi Hạ. Cứ như lời ông Phan nói trong mảnh giấy ấy thì khi ông đi xe lửa từ Hàng
Châu đến Thượng Hải, vừa ra khỏi cửa ga, liền bị mấy người cảnh sát tô giới Anh núm lấy,
điệu lên xe hơi đưa đến tô giới Pháp giao cho người Pháp. Ông bị giam ở đó ít lâu, rồi bị
giải về nước bằng tàu thủy.
Lâm Đức Thụ ở Quảng Châu, lúc đầu cố phao vu cho người này người khác để che lấp tội ác
của mình nhưng về sau thấy ông Phan bị bắt về đến trong nước, thành ra một cuộc tuyên
truyền có hiệu lực cho cách mệnh, Lâm Đức Thụ mới khoe với mọi người đó là công hắn, vì
chính hắn bắt ông Phan. Hắn lại nói sở dĩ bắt ông Phan là vì hắn nghĩ ông đã trở nên già hủ,
không thích hợp với thời đại mới nữa, ở ngoài bất quá biết làm mấy câu văn tuyên truyền hão
bằng chữ Nho, chẳng được chuyện gì, không bằng đưa ông về nước lấy tiền cho Đảng ta...
Tuy nhiên, sự thật đôi khi cũng bị bóp méo. Trong hàng ngũ các nhà biên khảo về chiến tranh
Việt Nam, có một số cảm tình với Cộng sản. Vì thích Việt Cộng, họ tin theo sách báo và lời
nói Cộng sản cho nên họ bỏ qua việc Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu. Nếu đề cập đến,
thì lại nói hay viết theo giọng điệu biện hộ như J. P. Honey hay Hallberstam, tuy cũng xác
nhận việc Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu nhưng lại ca tụng Nguyễn Tất Thành và coi
như đó là một hành động tài trí.
Mọi người đều biết Cộng Sản tồn tại là nhờ nói dối. Nói dối lem lẻm. Nói dối sùi bọt mép.
Nói dối như Cuội. Nói dối không ngượng miệng. Nói dối ngày này qua ngày khác. Biết là nói
dối mà vẫn cứ nói dối, cho nên sách báo của Cộng Sản là xuyên tạc, là sửa chữa không còn
trung thực theo nguyên bản.
Từ trước tới nay Cộng Sản luôn luôn nói là chiến đấu để dành độc lập cho dân tộc nhưng thực
tế lại dâng đất dâng biển cho Tàu Cộng. Bàn tay Cộng Sản đẫm máu trong vụ “Thảm sát
6000 thường dân vô tội trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân tại Huế”, bây giờ chúng
lại ngày đêm tuyên truyền là do quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Cho nên chúng ta cũng không
ngạc nhiên khi thấy những bài viết bịa đặt dựng đứng của Việt Cộng về việc giao thiệp giữa
Phan Bội Châu và đại diện cộng sản tại Bắc Kinh, hay việc gặp gỡ giữa Nguyễn Tất Thành
và Phan Bội Châu, cho rằng cụ Phan Bội Châu đã đi theo cộng sản.
Ban Tuyên Huấn Cộng Sản đã cho lũ bồi bút viết về cụ Phan Bội Châu trên Wikipedia:
“Cuối năm 1924, Hồ Chí Minh từ Mạc Tư Khoa trở lại Quảng Đông. Hồ và Phan liên lạc
thư tín nhiều lần về chương trình tổ chức mới và Phan cố gắng thực hiện các việc như
thế.”. Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1922, phỏng theo Quốc
dân Đảng của Tôn Trung Sơn, ông cải tổ Việt Nam Quang phục Hội thành Việt Nam Quốc
dân Đảng. Được Nguyễn Ái Quốc (lúc này đang làm Ủy viên Đông phương bộ, phụ trách
Cục phương Nam của Quốc tế cộng sản) góp ý, Phan Bội Châu định thay đổi đường lối
theo hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa kịp cải tổ thì ông bị bắt cóc ngày 30 tháng 6 năm
1925."(Wikipedia Bản Việt ngữ).
Sự thật, trên mặt nổi, Lý Thụy làm cán bộ phiên dịch cho phái đoàn cố vấn của Chính phủ
Liên Xô đến giúp Chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc nhưng trọng tâm của Lý Thụy là
chui vào Tâm Tâm Xã và các tổ chức yêu nước khác cũng như Việt Nam Quang Phục Hội
của cụ Phan Bội Châu, tung tiền mua chuộc, lũng đoạn cài người, và tuyên truyền chủ thuyết
Cộng Sản ngay trong khi cụ Phan bội Châu đang cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt
Nam Quốc Dân Đảng.
Chúng xuyên tạc: Nguyễn Ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và
phương pháp cách mạng.Cụ Phan tiếp thu những ý kiến đó(?!) nhưng chưa kịp sửa chữa sai
lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước năm 1925.
Đây cũng là một sự lừa bịp trắng trợn. Qua tài liệu của cả hai phía, Quốc gia cũng như Cộng
Sản, cho thấy cụ Phan Bội Châu là một nhà cách mạng có tinh thần cởi mở. Cụ đã gặp người
Nhật, người Trung Quốc, và Cụ cũng muốn tìm hiểu về cách mạng Nga. Vì thế năm 1920,
nhà cách mạng Phan Bội Châu đã đi Bắc Kinh gặp hai người Nga và thẳng thắn ghi lại cuộc
gặp gỡ đó trong tập Tự Phán các trang 196 198 như sau:
“Năm Canh Thân (1920), tháng 11, tôi nghe được người của Đảng Xã Hội Cộng Sản của
nước Hồng Nga nhóm họp ở Bắc Kinh khá nhiều mà đại bản doanh của họ chính là nhà Bắc
Kinh đại học. Tôi vì tính sẵn ham lạ mà nghiên cứu chân lý của đảng Cộng Sản. Tôi đi Bắc
Kinh… tới thăm Thái Nguyên Bồi tiên sinh… Thái mới giới thiệu tôi với hai người Nga, một
người lao nông Nga La Tư du Hoa đoàn đoàn trưởng (tên chữ Nga tôi không nhớ được), một
người là Hán văn tham tán Lạp tiên sinh là thuộc viên của đại sứ GiaLạpHãn. Lần này là
lần thứ nhất mà tôi trực tiếp kết giao với người Nga. Tôi có hỏi Lạp tiên sinh rằng: “Người
nước tôi muốn đi du học quý quốc, nhờ tiên sinh chỉ vẽ đường lối cho”. Lạp nói rằng:
“Chính phủ Lao Nông đối với đồng bào thế giới ở nước Nga rất là hoan nghênh, người Việt
Nam nay du học lại tiện lợi lắm. Do Bắc Kinh đến Hải Sâm Uy, đường thủy, đường bộ thông
được cả. Do Hải Sâm Uy đến Xích Tháp có đường sắt vào Tây Bá Lợi Á, đi thấu được vào
Mạc Tư Khoa, kể hành trình chỉ có 10 ngày thôi. Học sinh tới Nga tất trước phải đến Bắc
Kinh, có đại sứ nước Lao Nông ở đó, vào xin lĩnh chứng thư và giấy giới thiệu. Được chứng
thư của đại sứ thì từ Xích Tháp đến Mạc Tư Khoa, các tổn phí tiền xe và thực dụng thảy có
chính phủ Lao Nông ưu đãi cho. Kể từ Việt Nam đến đất Nga, nhu phí chỉ trong 200 đồng
chắc dễ biện lắm.
Nhưng du học sinh trước khi vào học tất phải quyết tâm thừa nhận những điều kiện như dưới
này:
2– Học thành rồi, về nước tất phải gánh lấy những việc tuyên truyền chủ nghĩa Lao Nông.
3– Học thành rồi, về trong nước mình phải ra sức làm những sự nghiệp cách mệnh.
Còn như phí tổn chi dụng trong khi tại học và khi về nước, nhất thiết do chính phủ Lao Nông
đảm nhiệm.
Bấy nhiêu lời như trên là những lời mà lúc ấy tôi hội thoại với ông Lạp. Ông Hoàng Đình
Tuân dùng tiếng Anh thông dịch cho tôi… Người Nga khi nói chuyện với tôi biểu hiện một
cách hòa ái thành thực, tư sắc rành thấy là không đạm không nồng. Tôi còn nhớ một câu
rằng: “Chúng tôi được thấy người Việt Nam là bắt đầu từ ông. Ông nếu dùng được chữ Anh
làm một bản sách kể cho hết chân tướng người Pháp ở Việt Nam đem cho chúng tôi, chúng
tôi cảm tạ mà không dám quên”.
Sau lần tiếp xúc này, Phan Bội Châu nhận thấy rõ “sự xảo quyệt của người Nga” nên từ khi
trở về Quảng Châu, cụ không gặp gỡ người Nga nữa. Nếu cụ muốn thì cụ đã đáp ứng yêu cầu
của người Nga cần gì đến Nguyễn Tất Thành. Chung quanh cụ thiếu gì người giỏi ngoại văn
như ông Hoàng Đình Tuân. Khi từ chối viết bản báo cáo này tức là cụ tháo lui sau khi nhìn
thấu lòng dạ bọn cộng sản Nga, cũng là một lũ thực dân đế quốc.
Từ những sự kiện có thực trên, nhà biên khảo Nguyễn Thiên Thụ đưa ra kết luận:
Việc Cộng Sản nói rằng Phan Bội Châu nghe lời Nguyễn Tất Thành là bịp bợm dối trá vì
nếu cụ Phan đồng ý thì cần gì phải trao đổi thư từ nhiều lần!
Nhà biên khảo Nguyễn Thiên Thụ kết luận: Phan Bội Châu khác với Nguyễn Tất Thành.
Phan Bội Châu sinh trưởng trong một gia đình nho giáo truyền thống, đã được cha già săn
sóc và huấn luyện còn Nguyễn Tất Thành sinh trưởng trong một gia đình bần nông, nguồn
gốc thuộc loại ba cha bảy mẹ, cha lại say mê rượu, nghèo phải bế em đi xin sữa. Cái nghèo
cực độ và sự bất hạnh của gia đình đã khiến ông trở thành tàn nhẫn và lưu manh!
Phan Bội Châu đã có học vấn cao, lại kinh lịch nhiều. Cụ đã kinh qua cuộc giao tiếp với
Nhật Bản và Trung Quốc, cụ đã hy vọng và thất vọng cho nên cụ đã chủ trương tự lập. Trong
khi đó, Nguyễn Tất Thành tuổi trẻ nhiều tham vọng, được ai hứa hẹn là xông vào, chỉ nhìn
thấy lợi trước mắt mà quên hại sau lưng cho nên được Nga hứa hẹn là lăn xả vào bất chấp
đạo nghĩa.
Cộng sản luôn đề cao mình mà khinh miệt người. Trần Dân Tiên luôn đề cao mình chỉ nói
về Phan Bội Châu trong một câu ngắn ngủi, chê cụ Phan là "đuổi cọp cửa trước, rước beo
cửa sau.”(20). Thực tế thì hai bên cũng giống nhau mà cũng khác nhau. Giống nhau vì hai
bên đều vọng ngoại, một bên tin Nhật, một bên tin Nga, Tàu. Nhưng rồi năm 1909, Nhật trở
mặt, khiến cho Phan Bội Châu nhận thức được cái tai hại của vọng ngoại mà thức tỉnh, còn
Nguyễn Tất Thành thi say mê Nga Tàu, bán mình và bán nước cho Nga Tàu, hậu quả là ông
đã gây ra những cuộc diệt chủng kinh hoàng và đưa nước ta vào vòng lệ thuộc Trung Cộng.
Một tên bồi bút cộng sản khác tên Đặng Hòa khi thuật lại chuyện ông Đào Duy Anh đến