The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by doanhdoanh, 2016-05-20 05:42:07

Đi tìm sự thật về con người muôn mặt Hồ Chí Minh

Lê Minh Khôi (Danlambao)

Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s  th t v  con ng i muôn m t H  Chí Minh (ph n 1)


Minh
Khôi

(Danlambao) ­ Dù chấp nhận hay chống đối, dù kính trọng hay khinh ghét, Hồ Chí Minh vẫn
là một nhân vật lịch sử đương đại. Viết về Hồ Chí Minh, khen cũng nhiều, chê cũng lắm, thần
thánh hóa cũng không ít mà bôi bác cũng không thiếu. 

Những người từng đứng dưới trướng Hồ Chí Minh thì ra sức bào chữa và che đậy tội ác của
Hồ Chí Minh, không phải vì họ thương tiếc kính trọng con người này, mà là để bảo vệ chính
họ. Càng che đậy được tội ác của Hồ Chí Minh càng chứng tỏ con đường đi của họ trong quá
khứ  không  có  gì  sai  lầm.  Ngược  lại,  tội  ác  của  Hồ  Chí  Minh  càng  bị  lột  trần  thì  họ  càng  bị
nhục nhã vì đã tiếp tay cho một tên ác quỷ hại dân hại nước và cuộc đời của họ hiện nguyên
hình chỉ là cuộc đời của những tên thời cơ, hoạt đầu, cuồng tín, ngu si, hại dân hại nước.

Với người chống Cộng, ngoài việc mong muốn trả lại sự thật cho lịch sử còn muốn lột trần
thủ đoạn và tội ác của Hồ Chí Minh. Trong việc làm này, nhiều sự thật phũ phàng tới độ khó
tin đã được phát hiện, đẩy người viết đến những cảm xúc và những bài viết quá mạnh. Cũng
chính vì vậy mà một số người cho rằng người viết mang nặng định kiến. 

Nhớ lại, năm 1954 cả triệu đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam, khi kể lại những chuyện đấu
tố, công an trị, xiết bao tử hoặc ngăn sông cấm chợ của Cộng Sản Hà Nội thì rất nhiều người
nghi ngờ cho là “dân Bắc Kỳ di cư xạo sự”. Cho đến tháng 4 năm 1975, không ít người Miền
Nam vẫn còn tỏ ra vui mừng lúc “đàn bò vào thành phố”. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, sau
khi chứng kiến tận mắt cộng sản sục sạo từng góc nhà, lập trạm kiểm soát dọc đường, chận
bắt từng ký gạo lạng thịt, bày trò đánh tư sản mại bản, cưỡng bức dân thành phố lên các vùng
rừng rú hoang địa được mệnh danh là các vùng kinh tế mới để cướp đoạt tài sản nhà cửa thì
chính những kẻ một thời từng mơ ước Cộng Sản và từng lên đường xuống đường chống phá
Miền Nam mới mở mắt và tìm cách vượt biên bất kể sống chết. Lúc này mọi người mới nhận

ra rằng mọi câu chuyện kể về tội ác của Cộng Sản đều là sự thật, và “nếu cái cột đèn biết đi
thì nó cũng đi”.

Vì vậy, để có một nhận định đúng về Hồ Chí Minh chúng ta không thể căn cứ hoàn toàn vào
những gì thấy trên các mạng truyền thông hay trên một trang sách mà cần phải phân tách tìm
hiểu các bài viết đó từ nhiều góc độ. Hơn thế nữa, chúng ta còn phải so sánh lời nói và việc
làm  của  chính  Hồ  Chí  Minh  mới  có  thể  nhận  diện  được  mặt  thật  của  con  người  muôn  mặt
này. 

Việc  đấu  tố  tại  Miền  Bắc  trong  những  năm  1953­1956  do  Hồ  Chí  Minh  phát  động  giết  oan
hàng  trăm  ngàn  người  là  có  thật.  Việc  triệt  hạ  các  đảng  phái  đối  lập  và  bắt  bớ  tù  đày  hàng
triệu  người  dân  vô  tội  chỉ  vì  nghi  ngờ  những  người  này  sẽ  gây  nguy  hiểm  cho  chế  độ  là  có
thật. Hình ảnh Hồ Chí Minh khóc lóc lau nước mắt trong màn kịch sửa sai ngày 29­10­1956
tại quãng trường Ba Đình­ Hà Nội cũng là có thật. Nhưng những giọt nước mắt của Hồ Chí
Minh chỉ là những giọt nước mắt cá sấu bởi vì hàng trăm ngàn nạn nhân bị đấu tố cùng thân
nhân của họ vẫn tiếp tục bị truy sát lý lịch, quản chế, cô lập, hành hạ, đầy đọa cho đến ba đời
con cháu vẫn không ngóc đầu lên được. Ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống Việt Nam
Cộng Hòa, từng có một câu nói để đời: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ
những gì Cộng Sản làm”.

Có hai tập sách của hai tác giả biết rất nhiều, biết rất rõ ràng, biết chi ly, biết hết những góc
cạnh uẩn khúc cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh từ tuổi ấu thơ cho đến ngày Hồ Chí
Minh “đi gặp cụ Các Mác cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác” theo bản di chúc. Hai
tập sách này do Hà Nội xuất bản: Tập thứ nhất có tựa đề “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt
Động Của Hồ Chủ Tịch” tác giả Trần Dân Tiên, nhà xuất bản Sự Thật, Cơ Quan Tuyên Huấn
Trung Ương Đảng, in lần thứ nhất năm 1949 và tái bản nhiều lần. Tập thứ hai có tựa đề “Vừa
Đi Vừa Kể Chuyện” của tác giả T. Lan do nhà xuất bản Thanh Niên Hà Nội ấn hành. 

Về  phía  ngoại  quốc,  ngoài  Jean  Lacouture,  Bernard  B.  Fall,  Jean  Francois  Revel,  Oliver
Tood...  còn  có  ba  tác  phẩm  nặng  ký  là  “Vietnam  A  History”  của  Stanley  Karnow,  Viking
Press,  1983,  “Ho  Chi  Minh  ­  The  Missing  Years  1919­1941”của  Sophie  Quinn­Judge,
Bekeley, University of California 2003 và “Ho Chi Minh” của William J. Duiker.

Stanley Karnow viết về Việt Nam giống như phò mã cỡi ngựa xem hoa hay một anh thợ chụp
hình, chỉ thấy được những gì “bên ngoài” chứ không biết được “bên trong”. Lại nữa, tài liệu
của Stanley Karnow phần lớn dựa theo tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cùng các nguồn
tin  của  Cộng  Sản  nên  hời  hợt,  không  cân  bằng.  Tuy  nhiên  dù  một  chiều  và  nhiều  thiếu
sót,  “Vietnam A  History”  của  Stanley  Karnow  lại  là  “A  Companion  to  the  PBS  Television
Series” nên ảnh hưởng không ít đến giới trẻ và những người không biết gì về Việt Nam. Hai

tác  phẩm  còn  lại,  “Ho  Chi  Minh  The  Missing  Years  1919­1941”  của  Sophie  Queen  Judge
và  “Ho  Chi  Minh”  của  William  J.  Duiker,  nhờ  ra  đời  sau  khi  đế  quốc  Liên  Sô  và  các  nước
Cộng Sản Đông Âu sụp đổ vào năm 1989 nên đã thu thập và khui ra được một số bí mật. Tuy
nhiên cũng còn vô số bí ẩn chưa tìm được lời giải.

Ở trong nước sách báo viết về Hồ Chí Minh nhiều hơn lá mùa thu, để câu cơm, để giữ ghế, để
chạy chức chạy quyền, để mỗi tháng trong sổ lương thực được bồi dưỡng thêm nửa lạng thịt
hay vài trăm gam bột ngọt nên đầy dẫy những tâng bốc và thần thánh hóa, đại loại như “Tác
Phẩm  Của  Chủ  Tịch  Hồ  Chí  Minh”  của  Hà  Minh  Đức,  nhà  xuất  bản  Khoa  Học  Xã  Hội  Hà
Nội 1984, “Thời Niên Thiếu Của Bác Hồ”của Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng, “Bác Hồ Trên
Đất  Pháp”,  “Bác  Hồ  Trên  Đất  Nước  Lê  Nin”  của  Hồng  Hà  hay“Di  Tích  Chủ  Tịch  Hồ  Chí
Minh” của Trần Minh Siêu... Những tập sau này tuy thêm một số chi tiết và mang nội dung
như những tập biên khảo nhưng thực chất chỉ là dựa theo hai quyển sách của Trần Dân Tiên
và  T.  Lan  rồi  vẽ  cọp  thêm  râu,  vẽ  rắn  thêm  chân,  bịa  đặt,  khuếch  đại.  Những  tập  sách  tâng
bốc ngu si và nhảm nhí này không đáng để mắt tới.

Dưới  đây  là  nguyên  bản  hai  trang  mở  đầu  của  Chương  I  trong  tập  “Những  Mẫu  Chuyện  Về
Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, tác giả Trần Dân Tiên, ấn bản đầu tiên 1949, tái bản tại
Hà Nội 1976:

Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân
rất giản đơn: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình. 

Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, lần đầu tiên tôi trông thấy Hồ Chủ tịch. Đó là một ngày lịch
sử.  Ngày  hôm  ấy,  đứng  trước  rất  đông  quần  chúng  hoan  hô  nhiệt  liệt,  Hồ  Chủ  tịch  trang
nghiêm đọc bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP của nước Việt­nam dân chủ cộng hòa.

Ngày  thứ  hai  tôi  viết  thư  xin  phép  được  gặp  Hồ  Chủ  tịch.  Ngay  chiều  hôm  ấy,  tôi  rất  sung
sướng tiếp được thư trả lời của Hồ Chủ tịch viết như thế này:

“Ngày mai 7 giờ 30 mời chú đến”

Ký tên HỒ­CHÍ MINH

Thư trả lời chóng, nội dung thư giản đơn và giờ hẹn gặp sớm khiến cho tôi rất băn khoăn.

“Sáng ngày 4­9­1945, đúng 7giờ 25 tôi đến dinh Chủ Tịch. Đúng 7 giờ 30, một người thanh
niên đến phòng khách, lễ phép nói với tôi: “Hồ Chủ Tịch đang đợi anh ở phòng làm việc”.

Phòng  làm  việc  của  Chủ  Tịch  là  một  gian  phòng  rất  rộng,  một  bên  có  nhiều  cửa  sổ  lớn.
Trong phòng có một cái bàn làm việc, một chiếc giường, một tủ sách nhỏ kê sát vào tường, và
hai bàn nhỏ của hai thư ký. Phía trên lò sưởi có một lọ hoa. Đây là tất cả những đồ trang trí
trong phòng làm việc, không có trang trí một thứ gì khác.

Hồ Chủ tịch thường mặc bộ quần áo ka­ki, đi giày vải đen. Tóc Người đã hoa râm, trán rộng
và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng, râu che nửa miệng, mặt gầy, da ngăm ngăm đen, khiến
người ta nghĩ đến sương gió dãi dầu trong rừng sâu và những nỗi gian khổ của chiến tranh
du kích...

Không  cần  mất  công  suy  nghĩ,  chỉ  đọc  một  trích  đoạn  ngắn  trên  chúng  ta  đã  thấy  ngay  có
những điều không ổn:

Theo tác giả Trần Dân Tiên, sau khi đến quảng trường Ba Đình chiêm ngưỡng Hồ Chủ Tịch
đọc diễn văn vào ngày Chủ Nhật 2­9­1945 thì ngày hôm sau, Thứ Hai 3­9­1945, ông về nhà
lập tức viết ngay một lá thư xin được gặp để làm cuộc phỏng vấn. Thư viết gửi đi buổi sáng
thì ngay chiều hôm ấy, nghĩa là cũng vào ngay chiều Thứ Hai 3­9­1945 ông đã nhận được thư
phúc đáp viết ngắn gọn như thế này:“Ngày mai 7 giờ 30 mời chú đến” Ký tên Hồ Chí Minh. 

Chuyện  sẽ  không  có  gì  đáng  nói  nếu  như  sự  việc  xảy  ra  vào  thời  buổi  tin  học  hiện  đại,  hai
người có địa chỉ điện thư của nhau, chỉ cần một cái nhấp chuột là người kia nhận được điện
thư và trả lời. Tiếc thay, vào thời điểm 1945, phương tiện truyền tin tối tân nhất chỉ nhờ vào
tín hiệu tạch tạch tè tè của ông Samuel Morse, và phương tiện này chỉ dành cho các cơ quan
công quyền hay sở bưu điện, còn đám dân thường thì chỉ trông cậy vào người đưa thư. 

Ông Trần Dân Tiên là một nhà báo, đâu có phương tiện như một cơ quan công quyền, còn Hồ
Chí  Minh  thì  mới  sáng  hôm  qua  còn  bận  bịu  đọc  Tuyên  Ngôn  Độc  Lập,  bề  bộn  công  việc,
đâu có thì giờ ngồi ở phòng nhận, đọc và trả lời điện tín. Như vậy chuyện một nhà báo buổi
sáng gữi thư đi, buổi chiều nhận được thư trả lời của một vị Chủ Tịch Nước, nhanh đến như
thế là một chuyện bịa đặt bá láp, cực kỳ vô lý, cực kỳ ngu xuẩn.

Bây giờ chúng ta cùng xem hai bác cháu gặp nhau rồi nói với nhau những gì! 

Nhà báo Trần Dân Tiên viết nơi trang 6: 

... Lúc mới gặp, tôi có cảm giác người như một thày giáo ở nông thôn. Tóc người hoa râm,
trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng, râu che nửa miệng, mặt gầy, da ngăm ngăm
đen,...

Người  bô  trai  quá!  Vừa  bô  trai  vừa  phong  sương  gấp  trăm  lần  anh  chàng  Dũng  trong  Đoạn
Tuyệt  của  Nhất  Linh!  Chưa  hết!  Người  còn  nhiều  cái  hay  kinh  hãi  khác  nữa.  Khi  nhà  báo
Trần Dân Tiên muốn được biết tiểu sử của Người thì Người cười và đáp:

“Tiểu sử. Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Chúng ta phải
làm những công việc hết sức cần kíp đi đã! Còn tiểu sử của tôi... hong thả sẽ nói đến...”

Và ký giả Trần Dân Tiên đưa ra nhận xét của mình nơi trang 7:

“Một  người  như  Hồ  Chủ  Tịch  của  chúng  ta  với  đức  khiêm  tốn  nhường  ấy  và  đương  lúc  bề
bộn bao nhiêu công việc làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của Người được?” 

Trời đất ơi là trời đất! Bác thì trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng, không chỉ đẹp
trai hết sẩy lại còn thêm đức khiêm tốn không muốn nói về mình. Còn cháu thì thông minh
giỏi  giang  (bởi  vì  không  giỏi  giang  làm  sao  có  được  cuộc  phỏng  vấn  và  viết  được
quyển Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch cho chúng ta đọc). 

Hai bác cháu khen nhau rối rít.

Có điều sau này vỡ lẽ ra trên mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S này từ thời Hồng Bàng lập
quốc đến nay chẵng có một ai mang tên Trần Dân Tiên làm nghề viết báo. Hồ Chí Minh
đã  dựng  lên  một Trần  Dân Tiên  không  có  thật  và  dựng  lên  cuộc  phỏng  vấn  không  có
thật để tự khen mình bô trai, thông minh, con nhà giàu, học giỏi, khiêm nhượng. Hồ Chí
Minh  đã  tự  đề  cao  mình,  tự  đánh  bóng  mình,  hay  nói  một  cách  đúng  hơn  là  để  tự
sướng.  Điều  này  đã  được  chính  thức  xác  nhận  bởi  ông  Nguyễn  Khánh  Toàn,  Thứ
Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục Hà Nội. Trong bài đề tựa quyển “Tác Phẩm Của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh”của tác giả Hà Minh Đức, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội, 1984, ông
Nguyễn Khánh Toàn viết: “Trần Dân Tiên là bút danh của Hồ Chủ Tịch ghi lại những sự
kiện lớn đã đi qua cuộc đời của Người do chính Người miêu tả...” Một số tác phẩm khác do
Hội Nhà Văn Việt Nam tại Hà Nội ấn hành từ giữa những năm 1990 về sau cũng xác nhận
tác  giả  tập  “Vừa  Đi  Vừa  Kể  Chuyện”  là  T.LAN  cũng  là  một  bút  hiệu  khác  của  Hồ  Chí
Minh.

Bởi  vì  Trần  Dân  Tiên  là  một  nhân  vật  không  có  thật  nên  cuộc  phỏng  vấn  đương  nhiên  là
không  có  thật  và  những  sự  việc  được  kể  ra  trong  quyển  Những  Mẩu  Chuyện  Về  Đời  Hoạt
Động  của  Hồ  Chủ Tịch  hoàn  toàn  không  có  thật.  Cũng  như  vậy,  những  mẫu  chuyện  trong
tập  Vừa  Đi  Vừa  Kể  Chuyện  của  T.LAN  viết  về  Hồ  Chí  Minh  cũng  chỉ  là  những  chuyện  Hồ
Chí  Minh  tưởng  tượng  tô  vẽ  về  mình.  Nói  trắng  ra  là  bịa  đặt,  là  phịa,  là  dối  trá,  là  bịp
bợm. Như vậy, các bài viết và những quyển sách của một số tác giả tại Hà Nội cũng như

của một vài cây viết ngoại quốc dựa theo mấy quyển sách này thì lấy đâu ra sự thật. Vì
thế,  muốn  biết  về  Hồ  Chí  Minh  không  gì  hơn  là  đi  tìm  tài  liệu,  đi  tìm  nhân  chứng  và  bằng
chứng để đối chiếu. 

Sáu tháng sau vụ khủng bố 9­11­2001, cựu Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Nga Sô và cũng là
cựu tổng thống Liên Bang Xô Viết Mikhail Gorbachev đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm nạn
nhân tại Trung Tâm Thương Mại New York. Sau đó ông có một buổi nói chuyện với thính giả
và sinh viên Columbia University. Tại đây ông xác nhận: "Đảng Cộng Sản mà tôi phục vụ cả
đời chỉ biết tuyên truyền. Chúng tôi, trong số đó có tôi, từng nói 'Tư bản đang dãy chết. Trên
thực tế, chúng tôi bị bỏ rơi lại đàng sau và chế độ đã tan rã..." 

Cộng Sản Việt Nam là tay sai của Cộng Sản Nga Sô nên việc tuyên truyền và dối trá là điều
đương nhiên. Kỹ thuật tuyên truyền của Cộng Sản là dựa trên một số sự kiện có thật để phịa
ra  những  điều  không  thật,  nhất  là  trong  việc  bịp  bợm  và  thần  thánh  hóa  lãnh  tụ.  Những  bịp
bợm này được lồng qua những bài viết trên các cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản như
Tạp  Chí  Cộng  sản,  Tạp  chí  Học  Tập,  trên  báo  chí,  trên  các  trang  mạng,  và  đầy  dẫy  trên
Wikipedia...

Đó  là  lý  do  tại  sao  chúng  tôi  cho  đăng  nguyên  văn  dưới  đây  một  số  trích  đoạn  tài  liệu  của
Cộng Sản để chúng ta dễ dàng phân tích, đối chiếu, lựa chọn, trong việc đi tìm sự thật. 

Xuất thân và quê quán:

Theo tài liệu của Hà Nội:

Gia  phả  của  dòng  họ  Nguyễn  ở  làng  Sen  xã  Kim  Liên  tại  huyện  Nam  Đàn,  Nghệ  An  thì
Hoàng  sơ  tổ  khảo  là  Nguyễn  Bá  Phụ,  tổ  đời  thứ  hai  là  Nguyễn  Bá  Bạc,  tổ  đời  thứ  ba  là
Nguyễn  Bá  Ban,  tổ  đời  thứ  tư  là  Nguyễn  Văn  Dân,  tổ  đời  thứ  năm  là  Nguyễn  Sinh  Vật  giữ
chức giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông năm thứ ba), tổ đời thứ sáu là Nguyễn
Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là
Nguyễn Sinh Nhậm. Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không
rõ năm sinh, năm mất.

Chủ  Tịch  tên  thật  là  Nguyễn  Sinh  Cung  (giọng  địa  phương  phát  âm  là  Công),  tự  là  Tất
Thành.  Quê  nội  là  làng  Kim  Liên  (tên  Nôm  là  làng  Sen).  Ông  được  sinh  ra  ở  quê  ngoại  là
làng Hoàng Trù (tên Nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho
đến năm 1895. Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện
Nam Đàn. Quê nội của ông, làng Kim Liên là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng
không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn

có tên là làng Đai Khố. Vào đời ông, phần lớn dòng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng
nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp.

Thân  phụ  ông  là  một  nhà  nho  tên  là  Nguyễn  Sinh  Sắc,  từng  đỗ  phó  bảng.  Thân  mẫu  là  bà
Hoàng Thị Loan. Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh
Khiêm  (tự  Tất  Đạt,  còn  gọi  là  Cả  Khiêm)  và  một  người  em  trai  mất  sớm  là  Nguyễn  Sinh
Nhuận 1900­1901, tên khi mới lọt lòng là Xin... 

Trên đây là lai lịch của Hồ Chí Minh trên trang mạng Wikipedia. Sự thật quan trọng đầu tiên
là  Hồ  Chí  Minh  không  hề  mang  huyết  tộc  họ  Nguyễn  và  Hồ  Chí  Minh  cũng  không  phải  là
con  của  ông  Nguyễn  Sinh  Sắc  (sau  này  dổi  tên  là  Nguyễn  Sinh  Huy)  mà  là  con  hoang  dâm
của bà Hoàng Thị Loan và Hồ Sĩ Tảo. 

Chúng ta có bằng chứng: 

Cuộc  tình  duyên  của  ông  Nguyễn  Sinh  Sắc  và  bà  Hoàng Thị  Loan  được  Ban  Nghiên  Cứu
Lịch  Sử  Đảng  Tỉnh  Ủy  Nghệ  Tĩnh  ghi  lại  nơi  trang  15  trong  “Những  Mẩu  Chuyện  Về  Thời
Niên Thiếu của Hồ Chủ Tịch”, nhà xuất bản Hà Nội, nguyên văn:

...Vào thời bấy giờ quan niệm “môn đăng hộ đối” trong hôn nhân phong kiến ràng buộc chặt
chẽ mọi người, nhất là đối với tầng lớp nho sĩ. Song bởi hết lòng yêu mến một học trò có đức
có  tài  nên  ông  bà  Đường  đã  gã  bà  Hoàng  Thị  Loan,  con  gái  đầu  lòng  của  mình  cho  ông
Nguyễn Sinh Sắc. Năm ấy bà Loan mới 13 tuổi...

Quả  thật  vào  thời  buổi  ấy  tại  một  vài  nơi  có  hủ  tục  tảo  hôn,  nghĩa  là  cha  mẹ  dựng  vợ  gã
chồng cho con ở lứa tuổi rất sớm. Có thể cha mẹ đôi bên là bạn bè thân thiết nên hứa hẹn với
nhau khi bào thai còn nằm trong bụng mẹ. Có thể gã con để trừ nợ. Có thể vì “Làm lẽ mà đắp
chăn bông. Còn hơn chánh thất mà không chiếu nằm”. Trường  hợp  chồng  lớn  tuổi  vợ  nhỏ
tuổi là rất thường vì đàn ông ai cũng thích có vợ trẻ. Tuy nhiên không hiếm trường hợp người
chồng rất nhỏ tuổi nhưng lại lấy vợ rất lớn tuổi. Chú rể hãy còn mặc quần thủng đáy, hỷ mũi
chưa sạch đã được cha mẹ cưới về cho một cô vợ mười tám đôi mươi. Chuyện ngược đời xảy
ra  có  thể  vì  nhà  trai  muốn  có  thêm  người  làm  hay  vì  công  việc  gia  đình  không  thể  trao  cho
người  ngoài,  còn  nhà  gái  vì  thương  con,  muốn  con  được  vào  chỗ  có  cơm  ăn  áo  mặc  không
phải chịu cảnh nghèo đói khổ cực. Người con trai cũng chẵng thiệt thòi gì vì khi trưởng thành
có thể cưới thêm nhiều bà vợ thứ.

Chồng già lấy vợ trẻ là để hưởng thụ. Chồng trẻ lấy vợ già là để gia đình nhà chồng có người
làm.  Tuy  nhiên  dù  ở  vào  trường  hợp  nào  đi  nữa  cả  hai  đều  rơi  vào  một  mẫu  số  chung  duy
nhất là người vợ luôn luôn phải ở vào lứa tuổi mười tám đôi mươi, một lứa tuổi sẵn sàng cáng

đáng ông việc nhà chồng, sẵn sàng làm vợ và làm mẹ. 

Ở  đây  câu  chuyện  hoàn  toàn  trái  ngược.  Bà  Hoàng  Thị  Loan  chỉ  mới  13  tuổi,  một  cái  tuổi
chưa đủ khôn ngoan để biết giúp đỡ và lo lắng công việc nhà chồng, một cái tuổi quá nhỏ để
biết làm vợ và làm mẹ. Vậy thì ông Nguyễn Sinh Huy rước về làm gì? Câu trả lời chỉ có thể
nằm  một  trong  ba  trường  hợp:  Thứ  nhất:  Ông  Nguyễn  Sinh  Huy  là  người  không  đường
hoàng, mắc bệnh ấu dâm. Thứ hai: Thầy đồ Hoàng Xuân Đường nhìn thấy tương lai sáng sủa
của ông Nguyễn Sinh Huy nên đã hành động như quan phủ họ Trần trong chuyện tình Lan và
Điệp. Thứ ba: Bà Hoàng Thị Loan có máu đa tình quá độ và quá sớm.

Cân nhắc kỹ càng ta thấy giả thiết thứ nhất không thể chấp nhận được bởi vì trong suốt cuộc
đời, từ lúc hàn vi thư sinh tới khi ra làm quan và cho tới khi bị sa thải sống đời phiêu bạt cũng
không tìm thấy nơi ông Nguyễn Sinh Huy có một chuyện tình lăng nhăng nhảm nhí nào.

Sở dĩ phải phân tích dài dòng chuyện vợ chồng của ông Nguyễn Sinh Huy vì nó là đầu mối
của nhiều bí ẩn: Việc bà Hoàng Thị Loan sinh thêm một đứa con tên Xin. Việc ông Nguyễn
Sinh Huy thất chí rồi mất chức. Việc Hồ Chí Minh cư xử bạc bẽo với ông Nguyễn Sinh Huy
cùng hai người anh chị cùng chung máu mủ là bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Tất Đạt.
Đây cũng là đầu mối dẫn đến cuộc đời gian tặc của Hồ Chí Minh.

Về  đứa  con  mang  tên  Nguyễn  Sinh  Xin  sách  Những  Mẫu  Chuyện  Về  Thời  Niên  Thiếu  Của
Hồ Chủ Tịch do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ An ấn hành năm 1976, trang
17, ghi rõ như sau:

...Xa mẹ, xa em, xa bà con làng xóm ấm áp nghĩa tình và rời bỏ ruộng vườn với những công
việc quen thuộc là điều mà bà Loan không muốn. Nhưng vì đường học hành thi cử của chồng,
với  tấm  long  yêu  chồng  và  thương  con  sâu  sắc,  bà  Loan  đã  gữi  cô  Thanh  lại  cho  bà  ngoại,
rồi cùng chồng dắt díu hai anh em cậu Thành, cậu Đạt vào kinh đô Huế...

Trang 19 viết tiếp:

...  Khóa  thi  Hội  năm  1898  ông  Sắc  vẫn  không  đỗ.  Cũng  thời  gian  ấy  bà  sinh  thêm  cậu
Nguyễn Sinh Xin.

Trang 20 viết:

Được một người bạn làm việc ở Huế giới thiệu, ông Sắc đưa hai anh em cậu Thành đi theo
và  đến  dạy  học  ở  nhà  cụ  Nguyễn  Sĩ  Độ  tại  làng  Dương  Nỗ,  huyện  Phú  Vang,  ngày  nay  là
huyện Hương Phú, cách thành phố Huế khoảng 7 ki lô mét. Bà Loan ở lại Huế tiếp tục làm

nghề dệt vải thuê và nuôi con nhỏ...

Trang 21 viết:

...Theo học với cha ở làng Dương Nỗ chưa được hai năm thì bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh.
Mặc  dù  ông  Sắc  và  bạn  bè  hết  lòng  chạy  chữa  nhưng  vì  bịnh  tình  quá  nặng  lại  không  đủ
thuốc thang nên bà Hoàng Thị Loan đã qua đời ngày 10­2­1901.

Những sự kiện nói trên trong quyển Những  Mẫu  Chuyện  Về  Thời  Niên  Thiếu  Của  Hồ  Chủ
Tịch do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ An đưa ra đã tạo nên nhiều dấu hỏi và
càng giải thích càng khó hiểu. 

Nói  rằng  bà  Loan  theo  chồng  vào  Huế  là  để  có  thể  lo  lắng  giúp  chồng  ăn  học,  vậy  thì  thời
gian  ở  Huế  tại  sao  ông  Nguyễn  Sinh  Huy  không  ở  với  vợ  mà  dẫn  hai  con  đến  nhà  ông
Nguyễn Sĩ Độ tại bến Hương Trà cách Huế hơn 7 cây số. Ông Nguyễn Sinh Huy đã từng một
mình ở Huế trước khi đón vợ con vào, điều này chứng tỏ ông Nguyễn Sinh Huy rất thương
vợ  thương  con  và  muốn  có  vợ  con  bên  cạnh.  Vậy  thì  lý  do  nào  đã  khiến  ông  Nguyễn  Sinh
Huy bỏ đi ở chỗ khác trong khi bà Hoàng Thị Loan mới sinh nở một đứa con mọn rất cần sự
có mặt của người chồng. Lúc này bà Loan ở đâu và ở với ai? Chẵng lẽ bà Loan ở một mình
trơ  trọi.  Với  đứa  con  mọn  trên  tay  cảnh  sống  chồng  một  nơi  vợ  một  nẻo  lại  càng  thêm  tốn
kém. Tự nuôi lấy thân đã rất khó mà có ở lại Huế cũng không được ở bên chồng, tại sao bà
Loan không ẵm đứa nhỏ trở về Nghệ An mà vẫn ở lại Huế để đến nỗi cả hai mẹ con đều chết
tức tưởi vì bệnh tật thiếu thốn.

Như ta đã biết ông Nguyễn sinh Huy là một tay khoa bảng nên mọi việc đều rất cẩn trọng để
xứng đáng với danh phận ưu đãi của xã hội dành cho giới sĩ phu thời bấy giờ. Hãy nhận xét
việc ông đặt tên cho ba người con trước. Nguyễn Thị Thanh tự Bạch Liên vì quê ở làng Kim
Liên. Rồi Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung và sau đó đổi ra Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn
Tất Thành. Bốn chữ Khiêm Cung Thành Đạt tự nó đã nói lên đức tính cẩn trọng của một nhà
nho đồng thời cũng nói lên kỳ vọng của một người cha gửi gấm vào các con. Với cả một sự
cẩn trọng như vậy thì tại sao lại lọt vào một cái tên Xin nôm na mách qué lọt vào phả hệ họ
Nguyễn. Xin có nghĩa là gì? 

Xin của ai? Xin ở đâu? Xin lúc nào?

Trong quyển Chân Tướng Hồ Chí Minh nơi trang 37 và 38 giáo sư Cao Thế Dung đã ghi lại:

...  Dòng  cử  nhân  Hồ  Sỹ  Tảo  nguyên  quán  làng  Quỳnh  Đôi,  huyện  Quỳnh  Lưu,  sau  di  sang
làng Thái Nhã, tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Ông là một người ngang ngược, theo tư

liệu  của  Hồng  Liên  Lê  Xuân  Giáo  thì  ông  Hồ  Sỹ  Tảo  lại  có  tật  nghiện  rượu,  thiếu  cốt  cách
nho phong, vì vậy cho dù là đồng môn và đồng hương với Hoàng Cao Khải, ông cử Tảo vẫn
không  được  Khải  đề  bạt  làm  quan  nên  Cử  Tảo  chung  thân  bất  mãn.  Câu  chuyện  phòng  the
oan trái vỡ lỡ, tiếng đồn lan khắp một tổng Lâm Thịnh qua lời nói đầy độc địa “Tảo đúc cốt,
Sắc tráng men”. Đây là một biến cố đối với nho sĩ Nam Đàn, vi phạm nghiêm trọng đến nho
phong  và  danh  giá.  Cử  Tải  bị  Nho  lâm  và  đồng  môn  Nghệ  An  mặc  nhiên  không  nhìn  nhận.
Do vật gốc gác thụ sinh ra ông Hồ không phải là điều quá bí mật với lớp cao niên Nghệ Tĩnh.

Lớn lên lúc 7, 8 tuổi cậu Cung tức ông Hồ cũng đã biết gốc gác không đẹp trong việc sinh ra
mình cho nên thuở thiếu thời, theo lời cụ Cao Xuân Ôn người làng Hương Khê, Hà Tĩnh, cậu
Cung rất ít nói, trong lòng cũng như mang mối hận mênh mang...

Câu chuyện Tảo đúc cốt Sắc tráng men lan tràn khắp làng Quỳnh Đôi và làng Sen đất Nghệ
An, ai ai cũng biết nhưng không dám hó hé đả động, cho mãi tới thập niên 1990 một sử gia
Miền Bắc là ông Trần Quốc Vượng mới kín kín hở hở đề cập tới trong bài viết Thật Mà Chưa
Chắc Là Thật và sau đó triển khai thêm trong quyển “Trong Cõi”. Nối tiếp sự khám phá của
sử  gia  Trần  Quốc  Vượng  là  các  bài  viết  của  hai  ông  Sơn  Tùng  (sử  gia  miền  Bắc)  và  ông
Phạm Xuân Cần. 

Tuy nhiên bài viết mập mờ “Thật Mà Chưa Chắc Là Thật”của ông Trần Quốc Vượng lại tiết
lộ rằng ông Hồ Sỹ Tảo thông dâm với cô Đèn tức là thông dâm với bà Hà Thị Hy là vợ của
ông  Nguyễn  Sinh  Nhậm  rồi  đẻ  ra  ông  Nguyễn  Sinh  Sắc  (sau  này  ông  Sắc  tự  đổi  tên  là
Nguyễn Sinh Huy). Như vậy là Hồ Sỹ Tảo gian dâm với bà nội của Hồ Chí Minh chứ không
phải gian dâm với mẹ Hồ Chí Minh, và cũng vì vậy ông Nguyễn Sinh Sắc tức Nguyễn Sinh
Huy và tất cả các con của ông là Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Tất Đạt cũng như Nguyễn Tất
Thành đều mang giòng máu Hồ Sĩ Tảo. 

Sử  gia  Trần  Quốc  Vượng  hoặc  đã  lầm  hoặc  không  dám  viết  đúng  sự  thật,  vì  theo  lời  người
dân hai làng Quỳnh Đôi và Kim Liên truyền miệng thì chỉ có một mình Hồ Chí Minh mang
dòng  máu  Hồ  Sĩ  Tảo  mà  thôi,  và  người  hoang  dâm  với  Hồ  Sĩ  Tảo  là  mẹ  ruột  Hồ  Chí  Minh
tức là bà Hoàng Thị Loan chứ không phải bà Hà Thị Hy. Điều này còn được ông Đào Bình
Giang trong Phụ Nữ Diễn Đàn số 115, xuất bản tháng 8­1993, trưng dẫn cuốn sách cổ Quốc
Triều  Đăng  Khoa  Lục  của  cụ  đại  thần  Cao  Xuân  Dục  làm  minh  chứng.  Theo  sách  này  cử
nhân  Nguyễn  Sinh  Sắc  sinh  năm  1862  còn  cử  nhân  Hồ  Sỹ Tảo  sinh  năm  1869.  Hồ  Sĩ Tảo
kém  cha  của  Hồ  Chí  Minh  là  Nguyễn  Sinh  Sắc  đến  bảy  tuổi,  không  thể  nào  là  cha  của
Nguyễn Sinh Sắc được.

Hồ Chí Minh có nhiều năm sinh khác nhau. Ngay cả ngày chết cũng ghi khác nhau. Theo lý
lịch chính thức, Hồ Chí Minh có tên đầu đời là Nguyễn Sinh Cung sinh ngày 19 tháng 5 năm

1890. Tuy nhiên, căn cứ theo nhiều tài liệu khả tín thì ngày sinh 19­5 cũng chỉ cũng là một sự
ngụy tạo. Theo nhiều tài liệu thì khi thế chiến thứ hai kết thúc, Nhật bại trận nên bị giải giới
và  Pháp  lại  nuôi  ý  định  quay  trở  lại  Đông  Dương.  Ngày  19­5­1946  một  phái  bộ  Pháp  do
tướng  D’Argenlieu  cầm  đầu  đến  Hải  Phòng  rồi  lên  Hà  Nội.  Để  tiếp  đón  phái  đoàn  này  Hồ
Chí  Minh  cho  treo  cờ  hai  bên  dọc  đường,  nhưng  sợ  nhân  dân  phản  đối  nên  nhận  vơ  đó  là
ngày sinh của mình.

Một  sự  việc  khác,  ngay  cả  ngày  chết  của  Hồ  Chí  Minh  cũng  bị  Bộ  Chính  Trị  Trung  Ương
Đảng cộng sản sửa đổi. Hồ Chí Minh chết ngày 2­9­1969 nhưng ngày 2­9 lại trùng với ngày
Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn tại Ba Đình 2­9­1945, mà theo niềm tin của dân chúng người
khai sinh chế độ lại chết trùng vào ngày này thì đây là một điềm bất tường có ảnh hưởng gây
nguy hại cho chế độ. Vì vậy Bộ Chính Trị đảng cộng sản Hà Nội quyết định ra công bố ngày
từ trần của Hồ Chí Minh là 3­9­1969. Sau này vì che đậy không được nên Bộ Chính Trị Tung
Ương  Cộng  Đảng  Hà  Nội  lại  phải  ra  thông  báo  chính  thức  công  nhận  là  Hồ  Chí  Minh  chết
ngày 2­9­1969.

Điều  này  cho  thấy  từ  ngày  tháng  năm  sinh  cho  đến  ngày  chết  của  Hồ  Chí  Minh  do  Hà  Nội
đưa ra đều vì lý do chính trị chứ không đúng sự thật 

Theo  lý  lịch  chính  thức,  Nguyễn  Sinh  Cung  sinh  ngày  19  tháng  5  năm  1890,  tuy  nhiên  có
những thông tin khác không đồng nhất.

­  Năm  1911  trong  đơn  xin  học  trường  Hành  Chính  Thuộc  Địa  để  ra  làm  quan  cho  thực  dân
Pháp, Hồ Chí Minh tự ghi là sinh năm 1892.

­ Năm 1920, ông khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm
1894.

­ Theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng
làng Kim Liên, quê nội của ông, thì ông sinh tháng 4 năm 1894.

­  Trong  tờ  khai  của  ông  tại  Đại  sứ  quán  Liên  Xô  ở  Berlin,  vào  tháng  6  năm  1923,  thì  ngày
sinh là 15 tháng 2 năm 1895.

­ Lý lịch lần đầu đến Nga Sô khai sinh năm 1892.

­  Lý  lịch  sau  cái  chết  vào  năm  1933  tại  Hương  Cảng,  khi  trở  lại  Nga  Sô  Hồ  Chí  Minh  khai
sinh năm 1903. Lý do có sự sai biệt hơn 10 năm (lúc 1890, lúc 1892, lúc 1894, lúc 1895, cuối
cùng là 1903) vì sự thật có hai Hồ Chí Minh (?)

­ Trong cuốn Chân Tướng Hồ Chí Minh, Giáo sư Cao Thế Dung ghi rằng Hồ Chí Minh sinh
năm Tân Mão (1891), có tên thánh là Gioan Bao Ti Xi Ta, cha là Hồ Sỹ Tảo chứ không phải
Nguyễn  Sinh  Huy.  Giáo  sư  Cao  Thế  Dung  trích  các  tác  giả  Hoàng  Văn  Chí,  Hồng  Liên  Lê
Xuân  Giáo  cho  biết  Hồ  Chí  Minh  là  con  hoang  dâm  của  ông  Hồ  Sỹ  Tảo  với  bà  Hoàng  Thị
Loan, vợ ông Cử Sắc. 

­ Trong kỳ thi Tiểu học niên khóa 1949­1950 tại Liên Khu 4 gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tỉnh, đề thi môn luận văn ra như sau: “Em hãy viết thư dâng lên Hồ Chủ Tịch nhân
dịp “60 tuổi của Người”. Như vậy là Hồ Chí Minh sinh vào năm 1890. 

Với những năm sinh mù mờ nói trên ta chỉ có thể phỏng đoán Hồ Chí Minh sinh vào khoảng
thời gian 1890­1895.

Về phần ông Nguyễn Sinh Sắc, sau này tự đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, trên danh nghĩa là cha
của ba người con: Con trai đầu lòng, thường gọi con trưởng hay con cả, là ông Nguyễn Sinh
Khiêm tục gọi Cả Khiêm sau đổi tên là Nguyễn Tất Đạt, con thứ hai là bà Nguyễn Thị Thanh
hiệu Bạch Liên vì quê ở làng Sen, và con út là Nguyễn Sinh Cung sau đổi tên là Nguyễn Tất
Thành. Nghiệt ngã thay, đứa con thứ ba mang tên Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành,
tức Hồ Chí Minh, lại là đứa con gian dâm của bà Hoàng Thị Liên với Hồ Sĩ Tảo. Sau này bà
Hoàng Thị Loan, con gái của ông đồ Hoàng Đường, tức là mẹ ruột của Hồ Chí Minh lại còn
hoang dâm với một kẻ vô danh khác đẻ ra một đứa nhỏ đặt tên là Xin và chết tại Huế. Bà này
được báo chí cộng sản ca tụng là bậc nữ lưu trinh tiết. 

Viết về một người đúng lẽ chỉ nên viết về cá nhân người đó nhưng vì Cộng Sản đã đưa ra một
sự  mạo  nhận  huyết  thống  để  lừa  bịp  mọi  người.  Đã  có  nhiều  bài  viết  của  rất  nhiều  tác  giả
khác nhau, trong đó có bài vở của một số sử gia, kể cả sử gia Trần Quốc Vượng của Cộng sản
Hà  Nội  nói  về  sự  kiện“Tảo  đúc  cốt  Sắc  tráng  men”.  Chúng  ta  cũng  đang  đi  tìm  sự  thật,  vì
vậy phải hiểu rằng những dẫn chứng được đưa ra ở đây không hàm chứa bôi bác mà chỉ là để
đóng  góp  và  soi  sáng  vấn  đề.  Hơn  thế  nữa,  cho  dù  Hồ  Chí  Minh  có  là  giọt  máu  của  ông
Nguyễn Sinh Huy hay chỉ là giọt máu rơi của Hồ Sỹ Tảo thì cũng không có gì đáng chê trách.
Xã  hội  dẫu  nghiêm  khắc  cách  mấy  cũng  chỉ  có  thể  lên  án  việc  làm  dâm  loạn  của  bà  Hoàng
Thị Loan chứ không thể chê trách Hồ Chí Minh bởi lẽ con cái không thể chọn lựa được cha
mẹ.

Luân  lý  Á  Đông  thoạt  nhìn  có  vẻ  khó  khăn  chật  hẹp  nhưng  thật  ra  lại  rất  cởi  mở.  Lịch  sử
Trung  Hoa  chép  rằng  ông  Cổn  rất  hung  ác  nhưng  có  con  trai  là  vua  Vũ  được  người  đời  ca
tụng  là  bậc  thánh  quân,  vua  Thuấn  là  bậc  nhân  đức  nhưng  lại  có  người  cha  là  Cổ  Tẩu  hung
tàn bạo ngược. Lịch sử nước ta cũng ghi rằng vua Lê Đại Hành vốn là con không cha, bà mẹ

đi  tắm  sông  gặp  con  rái  cá  rồi  thụ  thai.  Trường  hợp  vua  Thái  Tổ  nhà  Lý  cũng  rất  mập  mờ.
Ngoại sử chép rằng bà mẹ vua Lý Thái Tổ một đêm nằm mộng gặp thần nhân rồi sinh ra Lý
Công Uẩn. Đứa nhỏ được nhà sư Lý Khánh Vân nuôi dưỡng sau này lớn lên đã sáng lập ra
triều đại cực thịnh nhà Lý. Có người còn suy luận rằng Lý Công Uẩn chính là con của nhà sư
Lý Khánh Vân. Nói một cách khác, gia thế nhân thân của hai vị hoàng đế Lê Đại Hành và Lý
Thái  Tổ  có  nhiều  nghi  vấn.  Tuy  nhiên  công  đức  của  hai  vị  minh  quân  vẫn  được  người  dân
Việt Nam đời đời ghi nhớ chứ không vì thế mà suy giảm. 

Ở nhiều nơi tại Miền Bắc và Miền Trung nước ta có tục lệ thờ Thành Hoàng. Vị thần không
nhất thiết phải là người trong làng mà có thể là một người không biết từ đâu đến nằm chết đói
bên cạnh bờ tre bụi rậm được dân làng chôn cất và thắp cho vài nén nhang. Đền Bảo Hà dưới
chân đồi Cấm, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thờ thi thể một xác chết trôi trên sông Hồng dạt
vào  bờ  sông  chảy  qua  làng.  Từ  ngày  an  táng  thi  thể  người  chết  tại  đây  dân  trong  làng  cảm
thấy có nhiều linh ứng thay đổi: Người trong làng khỏe mạnh không bệnh tật, nhà nhà làm ăn
phát đạt nên tin tưởng là người chết đã chết nhằm giờ thiêng (?) và có công phù trợ dân làng
nên  tôn  là  Thành  Hoàng,  quanh  năm  lễ  bái  nhang  khói.  Có  địa  phương  còn  thờ  cả  Cá  Ông
như trường hợp làng Kiến Phước, quận Hòa Tân, tỉnh Gò Công, vì từ ngày có một con cá ông
chết trôi lạc vào vùng này được dân làng chôn cất đường hoàng thì từ đó ngư dân trong làng
ra biển làm ăn đều được bình an, không có tai nạn. 

Kể  lại  những  chuyện  trên  để  thấy  rằng  con  người  Việt  Nam  vốn  rất  nhân  ái  khoáng  đạt,  có
tình,  có  nghĩa.  Truyền  thống  ngàn  đời  của  người  Việt  Nam  là  luôn  luôn  tôn  kính  và  ghi  ơn
công đức những ai đã giúp đỡ mình. Cho dù Hồ Chí Minh có là con hoang dâm của bà Hoàng
Thị  Loan  với  Hồ  Sĩ  Tảo  hay  là  một  đứa  bé  trôi  sông  lạc  chợ  của  một  ai  khác  từ  xứ  Hẹ  bên
Tàu trôi qua xứ Việt Nam mà có công với đất nước Việt Nam thì cũng vẫn được người dân
Việt Nam kính trọng, tôn thờ. Ngược lại, bất cứ ai dù mang huyết thống hoàng tộc quyền quý
cao  sang  nhưng  làm  điều  hại  dân  hại  nước  như Trần  Ích Tắc,  Lê  Chiêu Thống,  Mạc  Đăng
Dung... Cũng sẽ bị muôn đời nguyền rủa khinh khi phỉ nhổ. 

Trở lại huyết thống của Hồ Chí Minh. Từ 7, 8 tuổi Hồ Chí Minh đã biết gốc gác của mình, và
chỉ có riêng mình mang dòng máu Hồ Sĩ Tảo nên khi có uy quyền trong tay Hồ Chí Minh đã
bất nhân với ông Cử Sắc và cư xử rất bạc bẽo với hai người anh chị cùng mẹ khác cha là ông
Cả  Khiêm  tức  Nguyễn Tất  Đạt  và  bà  Nguyễn Thị Thanh  hiệu  Bạch  Liên.  Mộ  ông  Nguyễn
Sinh Huy tại Cao Lảnh mặc cho lau sậy và cỏ hoang phủ kín. Em làm Chủ Tịch Nước mà anh
là ông Nguyễn Sinh Khiêm phải đi coi bói và chị là Nguyễn Thị Thanh phải đi bán trầu bán
cau tại chợ Sa Nam để kiếm sống. Ông Nguyễn Sinh Huy tuy không có công sinh nhưng có
công dưỡng. Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành hay Hồ Chí Minh được nuôi dưỡng
và được học hành hiểu biết là nhờ công ơn của ông Nguyễn Sinh Huy. Vậy mà Hồ Chí Minh
đã bất hiếu bất nhân bất nghĩa với ngay cả người cha của mình. Rạch Cái Tôm là một vùng

đất  ban  đêm  do  Việt  Cộng  kiểm  soát.  Việc  đem  cây  vú  sữa  từ  Miền  Nam  ra  Miền  Bắc  còn
làm được thì việc Hồ Chí Minh ra lệnh bốc mộ cha mình tại xẻo rạch Cái Tôm hẻo lánh đem
ra  Nghệ An  hay  đem  ra  Hà  Nội  để  thờ  phụng  cho  trọn  tình  hiếu  thảo  là  điều  không  khó.
Nhưng Hồ Chí Minh không làm chỉ vì Hồ Chí Minh nghĩ mình mang giòng máu của Hồ Sĩ
Tảo, đâu có mắc mớ gì đến ông Nguyễn Sinh Huy. Thật đáng thương cho ông Nguyễn Sinh
Huy đã uổng công dưỡng dục một tên lưu manh bất nhân bất hiếu. Có điều làm mọi người vô
cùng kinh ngạc và bội phục là vào năm 1956 chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh
cho  Bộ  Trưởng  Bộ  Kiến  Thiết  là  kỹ  sư  Hoàng  Hùng  tái  tạo  ngôi  mộ  này.  Tổng  Thống  Ngô
Đình  Diệm  đã  cho  tái  tạo  ngôi  mộ  cho  bố  Hồ  Chí  Minh  trong  lúc  Hồ  Chí  Minh  lại  không
thèm nhòm ngó đến mồ mã của người đã dày công nuôi dưỡng mình. 

Về  lai  lịch  của  Hồ  Chí  Minh  chỉ  riêng  phần  tên  họ  cũng  đủ  nhức  đầu.  Theo  cuốn
sách “Những bí danh, bút danh của Hồ Chủ Tịch” nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội,
2001,  thì  Hồ  Chí  Minh  có  tới  169  tên  họ,  bí  danh,  bút  danh  khác  nhau:  Nguyễn  Sinh  Côn,
Nguyễn  Sinh  Cung,  Nguyễn Tất Thành,  Paul Tất Thành  là  những  tên  của  Hồ  Chí  Minh  từ
thời ấu thơ đến khi xuống tàu sang Pháp. Sau đó là Nguyễn Ái Quốc 1919, Cheng Vang 1923,
Lin 1924, Lý Thụy 1924, Vương Sơn Nhi 1925, Tống Văn Sơ 1931, Hồ Quang 1938, P.C.Lin
(PC  Line),  1938,  ông  Trần,  1940,  Cúng  Sáu  Sán  1941,  Già  Thu  1941,  Hoàng  Quốc  Tuấn,
1941, Hồ Chí Minh, X.Y.Z 1947, Trần Lực 1949, CB 1950...

Tuổi ấu thơ

Gia  cảnh  Hồ  Chí  Minh  ở  tuổi  ấu  thơ  không  được  suôn  sẻ.  Tuy  nhiên,  dù  cho  khó  khăn  đến
mấy ông Nguyễn Sinh Huy cũng đã hết sức vượt mọi chướng ngại để lo cho con cái, nhất là
đường học vấn. 

Nguyên  văn  một  đoạn  nơi  trang  trang  36  quyển  “Những  Mẫu  Chuyện  Về  Thời  Niên  Thiếu
Của Bác Hồ” của Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ Tỉnh ghi lại: 

Trong lúc còn bận sắp xếp việc gia đình sau ngày bà Loan từ trần ông Phó Bảng gữi hai anh
em cậu Thành đến học tại nhà thày đồ Trần Thân ở làng Ngọc Đình bên cạnh Kim Liên. Là
một nhà nho khẳng khái sống trong xã hội đen tối đạo lý đổi thay vàng thau lẫn lộn bất mãn
trước  thời  cuộc  nên  thày  đồ  Trần  Thân  chọn  nghề  dạy  học  và  làm  thuốc  chữa  bệnh  để  giữ
tròn  khí  tiết.  Tuy  vậy  thầy  là  một  nhà  nho  bảo  thủ,  một  mực  trung  thành  với  lễ  giáo  phong
kiến và những điều răn dạy trong sách vở nho giáo. Trong các buổi học với thầy cậu thường
nêu ra các câu hỏi trái với ý nghĩ của thày. Vì vậy học chưa đầy một tháng cậu Thành đã bị
thầy Thân trả lại cho ông Phó Bảng. Cậu trở về học với cha...

Như vậy cụ đồ Trần Thân đã được chính Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Tỉnh Ủy Nghệ Tỉnh

xác nhận là một nhà nho khí tiết khẳng khái bất mãn với thời cuộc. Trước khi qua đời cụ còn
di ngôn cho con cháu: “Độc thị môn tâm hạ vấn. Hào vô kim hắc chi tâm” nghĩa  là  “Phải
biết lòng tự nhủ lòng. Đừng để đồng tiền làm hoen ố lương tâm”. Một người thầy như thế mà
gặp người học trò có chí lớn cùng khắc khoải với thời cuộc như mình thì tất hẵn thày trò tâm
đầu ý hợp. Từ ngàn xưa đến nay chưa có một người thầy nào lại đuổi khỏi cửa một học trò
thông  minh  giỏi  giang  lại  cùng  có  tâm  tư  khắc  khoải  như  mình. Vậy  thì  tại  sao  cậu Thành
không được thầy đồ giữ lại rèn luyện thêm để sau này có người tiếp nối chí hướng. Tại sao
đến  khi  học  thì  cả  hai  anh  em  nhưng  cậu  Thành  chỉ  học  với  thầy  chưa  đầy  một  tháng  thì  bị
đuổi. Thầy  Nhan  Uyên  học  trò  của  Đức  Khổng  Phu Tử  qua  đời  lúc  mới  30  tuổi.  Nghe  tin
người  học  trò  của  mình  mất  vị  Vạn  Thế  Sư  Biểu  ngửa  mặt  lên  trời  than:  Y!  Thiên  táng  dư!
Thiên táng dư! Có nghĩa: Ôi! Trời lấy mất người truyền đạo của ta! 

Biết  rõ  con  không  ai  bằng  cha  mẹ.  Biết  rõ  trò  không  ai  hơn  được  thầy.  Sự  việc  này  do  Ban
Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng tỉnh Nghệ Tỉnh tiết lộ tự nó xác nhận là ngay từ lúc còn nhỏ Hồ
Chí Minh đã là một hạng người bất trị và không ra gì. Cái bản chất “mất dạy”, xin cố gắng
hiểu là không thể dạy được, trong con người Hồ Chí Minh càng được biểu hiện rõ rệt khi Hồ
leo lên bàn độc.

Vì  gia  cảnh  rối  rắm  cộng  thêm  hoạn  lộ  quan  trường  trắc  trở  nên  ông  Nguyễn  Sinh  Huy
thường say sưa mượn rượu tiêu sầu. Rất nhiều bài viết, trong đó có cả bài viết của cựu Đại Tá
bộ đội Bắc Việt Bùi Tín, cũng ghi nhận trong lúc nóng giận ông đã sai thủ hạ đánh chết một
nông dân nên bị cách chức. Tuy nhiên sách vở tài liệu của Hà Nội thì vẫn một mực viết rằng
ông  Nguyễn  Sinh  Huy  bị  cách  chức  vì  giúp  đỡ  nhân  dân  chống  thuế  và  thường  ghi  lại  một
câu  nói  gán  cho  là  của  ông:  Quan  trường  thị  nô  lệ,  trung  chi  nô  lệ,  hựu  nô  lệ,  có
nghĩa “Những người làm quan là kẻ nô lệ trong đám nô lệ lại càng nô lệ hơn”. 

Lập  luận  này  cần  được  xét  lại  vì  ở  vào  cái  thời  buổi  mà  thực  dân  Pháp  và  triều  đình  phong
kiến coi người dân rẻ như bèo, ông nghè Trần Quý Cáp vì lãnh đạo phong trào chống thuế mà
bị xử yêu trảm nghĩa là bị xử chém ngang lưng, Ông Nguyễn Hàng Chi anh ruột ông Nguyễn
Hiệt  Chi  người  tỉnh  Bình  Định  cũng  vì  tội  chống  thuế  mà  bị  xử  trảm.  Một  số  vị  khoa  bảng
trước hay cùng thời với ông Nguyễn Sinh Huy như ông nghè Ngô Đức Kế sinh năm 1879 quê
làng Trảo  Nha  đỗ Tiến  Sĩ  khoa Tân  Sửu  1901,  ông  Đặng  Nghiêm  Cẩn  sinh  năm  1867  quê
làng Lương Điền huyện Thanh Chương đỗ Phó Bảng khóa Ất Mùi 1895, ông Đặng Ngiêm Bá
hiệu Nghiêm Giang đậu Cử Nhân cùng khoa với cụ Phan Bội Châu, ông Lê Văn Nghiêm hiệu
Lâm Ngu đậu Giải Nguyên năm 1875 tại làng Lạc Thiện huyện Đức Thọ, Hà Tỉnh, ông Phan
Châu Trinh đậu Phó Bảng cùng khóa với ông Nguyễn Sinh Huy, tất cả đều bị triều đình Huế
bắt đày ra Côn Đảo chỉ vì bị tình nghi chống đối. Ông Nguyễn Sinh Huy đang là quan lại của
triều đình mà lại dám yểm trợ dân chống thuế mà chỉ bị cách chức thì thật là điều khó hiểu.
Cũng  may,  người  tìm  ra  câu  trả  lời  cho  điều  khó  hiểu  của  chúng  ta  là  ông  Bùi  Tín,  nguyên

Phó  Tổng  Biên  Tập  báo  Nhân  Dân  Hà  Nội.  Theo  ông  Bùi  Tín  thì  “Ông  Cụ  (tức  là  ông
Nguyễn  Sinh  Huy)  là  tri  huyện  Bình  Khê  vì  đánh  chết  một  nông  dân  nên  bị  đuổi  ra  khỏi
ngành quan lại”. (RFA 18­5­2007). Sau khi bị cách chức vì tội say rượu đánh chết người thì
ông Nguyễn Sinh Huy vào Nam làm nghề bốc thuốc Bắc tại các tiệm thuốc bắc Thiên Phúc
Đường và Tế Xuyên Đường nằm trên phố Lagrandiere và Rue d’Espagne ngày nay rồi sau đó
đến ở nhờ nhà ông Năm Giáo bên cạnh rạch Cái Tôm quận Cao Lãnh và chết tại đó. 

Như chúng ta đã biết, thời niên thiếu Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế. Ông sống và theo
học tại đây cho đến khi cha bị cách chức vào năm 1909 thì phải thôi học. Đầu năm 1910 ông
vào Phan Thiết. Nhờ sự quen biết trước đây giữa ông Nguyễn Sinh Huy và ông Hồ Tá Bang
nên Nguyễn Tất Thành  được vào  dạy Pháp Văn lớp Ba (Cour Elementaire) tại trường  Dục
Thanh. Hiệu trưởng trường này là cụ Nguyễn Thông. Ban sáng lập gồm có các ông Trần Lê
Chất (867­1970), Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang (thân phụ Bác Sĩ Hồ Tá
Khanh, Tổng Trưởng Kinh Tế của nội các Trần Trọng Kim) và ông Nguyễn Hiệt Chi quê ở
Can Lộc Hà Tĩnh (anh ruột của ông Nguyễn Hàng Chi, người bị chém đầu vì lãnh đạo dân Hà
Tĩnh  chống  thuế).  Nhưng  lương  lậu  của  trường  tư  thục  không  có  là  bao  nên  đến  cuối  năm
1910  Nguyễn  Tất  Thành  rời  Phan  Thiết  vào  Saigon  kiếm  sống.  Thất  bại,  Hồ  Chí  Minh  tìm
đường sang Pháp. 

Trong tập Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch, tác giả “Trần Dân Tiên”
cũng chính là Hồ Chí Minh đã viết về mình như sau: 

“Vì muốn chống lại sự cai trị của thực dân Pháp mà cha ông là Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy
đã  từ  chức  Tri  Huyện  Bình  Khê.  Nối  chí  cha,  và  nhất  là  thấy  những  nhà  cách  mạng  trong
nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh... lúng
túng  trong  việc  chống  lại  bọn  thực  dân  đế  quốc  nên  năm  1911  Nguyễn  Tất  Thành  dưới  tên
Văn  Ba  xin  được  một  chân  làm  phụ  bếp  trên  tàu  Đô  đốc  Latouche­Tréville  sang  Pháp  tìm
đường cứu nước.”

Đây  cũng  là  một  sự  vẽ  rắn  thêm  chân.  Tài  liệu  ghi  rõ  bà  Hoàng  Thị  Loan  chết  ngày  10­2­
1901 nhằm ngày 12 tháng 12 năm Canh Tý. Ông Nguyễn Sinh Huy sau khi thi trượt các khóa
Ất Mùi 1895 và Mậu Tuất 1898, mãi đến khóa Tân Sửu 1901 mới đậu Phó Bảng, cùng khóa
với cụ Phan Châu Trinh, nghĩa là mấy tháng sau khi vợ chết ông mới thi đậu. Cả hai đều làm
việc ở bộ Lễ dưới quyền ông Ngô Đình Khả nhưng đến năm 1904 cụ Phan Châu Trinh rũ áo
từ quan. Vào các năm 1907­1908 liên tiếp có những vụ biểu tình chống thuế rầm rộ ở Quảng
Nam, Quảng Ngải, Phú Yên, Thừa Thiên, cụ Phan Chu Trinh bị thực dân Pháp nghi ngờ là kẻ
chủ mưu nên bị bắt và bị xử tử hình, sau được đổi thành bản án lưu đày Côn Đảo, trong khi
Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc vẫn tiếp tục hoạn lộ với chức vụ tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình
Định, cho đến khi bị cách chức vào năm 1909. Như vậy việc ông Nguyễn Sinh Huy từ quan

chỉ là một sự bịa đặt trắng trợn và thô bỉ. 

Ông Bùi Tín, cựu đại tá Quân Đội Miền Bắc có hơn 40 năm tuổi đảng và 37 năm tuổi lính và
cũng  là  người  tiếp  thu  dinh  Độc  Lập  từ  tên  hàng  tướng  Dương  Văn  Minh  ngày  30­4­1975.
Hơn thế nữa ông Bùi Tín lại là con trai của ông Bùi Bằng Đoàn, cựu Chủ Tịch Quốc Hội Việt
Cộng,  người  đã  đứng  ngang  hàng  với  Hồ  Chí  Minh  trao  quân  hàm  Đại  Tướng  cho  Võ
Nguyên  Giáp  vào  năm  1948.  Tuy  chỉ  mang  cấp  bậc  Đại  Tá  nhưng  ông  Bùi  Tín  lại  nắm  giữ
chức vụ Phó Tổng Biên Tập báo Nhân Dân Hà Nội (tương đương với cấp Trung Tướng) và là
người  từng  gặp  và  làm  việc  với  Hồ  Chí  Minh,  từng  giao  tiếp  thường  trực  với  Võ  Nguyên
Giáp  nên  có  cơ  hội  biết  được  nhiều  chuyện  thuộc  loại  thâm  cung  bí  sử.  Đây  là  lời  ông  Bùi
Tín trong một cuộc phỏng vấn được ghi âm đài RFA ngày 18­5­2007 do phóng viên Trà Mi
thực hiện: 

“Ông Hồ Chí Minh là một nhà chính khách, một nhân vật lịch sử mà hiện nay trong và ngoài
nước  có  những  đánh  giá  trái  ngược  hẳn  nhau.  Một  số  người  ca  ngợi  ông  ta  đến  mức  như
thần  thánh,  như  một  con  người  tuyệt  đối  không  bao  giờ  có  sai  lầm.  Trong  khi  đó,  cũng  có
những người xem ông ta là một nhân vật tiêu cực và gây ra những tàn phá ghê gớm cho đất
nước. Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng
sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương,
và  mở  rộng  chủ  nghĩa  cộng  sản  ở  Đông  Nam  Á.  Con  đường  ấy,  theo  tôi  bây  giờ,  đó  là  con
đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.

Sự đánh giá của tôi về ông Hồ là cả một quá trình thay đổi khác nhau. Trước đây khi còn ở
trong nước thì khác. Dần dần, qua sự so sánh và nghiền ngẫm thì cách nhìn của mình trở nên
đúng  mức  hơn,  công  bằng  và  khoa  học  hơn.  Theo  tôi,  khi  ông  Hồ  sang  Pháp  năm  1911  lúc
đầu không phải vì mục đích đi tìm đường cứu nước. Lúc bấy giờ ông ta gặp phải một bi kịch
gia đình tha phương ở phía Nam. Mất chỗ dựa, ông Hồ quyết định ra đi tìm kế sinh nhai và
giúp đỡ gia đình...”

Như  vậy,  điều  khẳng  định  đầu  tiên  về  những  bài  viết  cho  rằng  Hồ  Chí  Minh  xuống  tàu
Latouche Treville xuất dương tìm đường cứu nước chỉ là sản phẩm của tuyên truyền lừa bịp.
Hồ Chí Minh xuất dương là để tìm đường cứu mình và cứu gia đình.

Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s  th t v  con ng i muôn m t H  Chí Minh (ph n 2)


Minh
Khôi

(Danlambao)  ­  ...Sự  việc  Nguyễn  Tất  Thành  lấy  tên  là  Văn  Ba,  từ  bến  Nhà  Rồng  xuống  tàu
sang Pháp vào năm 1911 là có thật, nhưng nói rằng Nguyễn Tất Thành “ra đi tìm đường cứu
nước”  là  hoàn  toàn  sai  sự  thật.  Bằng  chứng:  Ngay  khi  vừa  chân  ướt  chân  ráo  đến  cảng
Marseille  là  Hồ  Chí  Minh  đã  nộp  hai  lá  đơn  cùng  đề  ngày  15­9­1911,  một  gửi  cho  Tổng
Thống Pháp, một gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp, xin đặc cách được cho vào học
Trường Thuộc Địa để làm một viên chức cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Điều này
chứng  tỏ  Hồ  Chí  Minh  đã  có  mục  đích  của  chuyến  đi  là  sang  Pháp  để  tìm  đường  cứu
mình và cứu gia đình. Hai lá thư này bị dấu nhẹm cho mãi đến khi Giáo Sư Nguyễn Thế Anh
phát hiện trong kho tài liệu Chi Nhánh Hải Ngoại, Văn Khố Quốc Gia, Paris...

*

Phần 1 đã đăng: 
danlambaovn.blogspot.com/2016/04/i­tim­su­that­ve­con­nguoi­muon­mat­ho.html

Trong  phần  1,  có  1  lỗi  lớn.  Thay  vì  Mạc  Đăng  Dung  tác  giả  đã  đánh  lầm  thành  Mạc  Đỉnh
Chi. Xin thành thật cáo lỗi quý bạn đọc.

*

Thời kỳ ở Pháp: 

Theo Tạp Chí Học Tập và những tài liệu của Hà Nội viết về Hồ Chí Minh thì vào năm 1911
Nguyễn Tất Thành, đổi tên là Văn Ba, từ Bến Nhà Rồng lên đường sang Pháp với nghề phụ
bếp  trên  chiếc  tàu  buôn  Latouche­Tréville  của  hãng  vận  tải  Hợp  Nhất  (Compagnie  des

Chargeurs Réunis), ra đi với mục đích tìm đường cứu nước.

Đến Pháp, sau khi gia nhập đảng Xã Hội, Nguyễn Ái Quốc đã viết "Yêu sách của nhân dân
An Nam", gồm tám điểm bằng tiếng Pháp (Revendications du peuple annamite), gửi tới Hội
nghị  Hòa  bình  Versailles,  đòi  chính  phủ  Pháp  ân  xá  chính  trị  phạm,  thực  hiện  các  quyền  tự
do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Giữa năm 1920, đọc Sơ thảo lần thứ
nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên báo L'Humanité
(tờ này là cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Pháp), nên ông đi theo chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1921 tham dự Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Marseille và ra báo Le Paria
(Người cùng khổ). Ngoài ra, ông còn viết bài cho hàng loạt báo khác. Tác phẩm Bản án chế
độ thực dân Pháp (Procès de la colonisation française) do ông viết được xuất bản năm 1925,
đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các
dân tộc thuộc địa. 

Trong toàn bộ thời gian sống trên đất Pháp, ông trang trải cuộc sống bằng cách làm việc nửa
ngày. Thoạt đầu, ông làm thuê tại một tiệm rửa ảnh và thuê lại một căn phòng của Phan Văn
Trường.  Sau  đó,  ông  đi  vẽ  khoán  cho  một  xưởng  vẽ  truyền  thần  và  thuê  một  phòng  tại  căn
nhà số 9 ngõ Compoint, Quận 17, Paris. Ông theo học dự thính tại Đại học Sorbonne và được
coi là mọt sách tại Thư viện Quốc gia Pháp.

Đi tìm sự thật

Sự việc Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, từ bến Nhà Rồng xuống tàu sang Pháp vào năm
1911 là có thật, nhưng nói rằng Nguyễn Tất Thành “ra đi tìm đường cứu nước” là hoàn toàn
sai  sự  thật.  Bằng  chứng:  Ngay  khi  vừa  chân  ướt  chân  ráo  đến  cảng  Marseille  là  Hồ  Chí
Minh đã nộp hai lá đơn cùng đề ngày 15­9­1911, một gửi cho Tổng Thống Pháp, một gửi
cho  Bộ  Trưởng  Bộ  Thuộc  Địa  Pháp,  xin  đặc  cách  được  cho  vào  học  Trường  Thuộc
Địa để làm một viên chức cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp.Điều này chứng tỏ Hồ
Chí Minh đã có mục đích của chuyến đi là sang Pháp để tìm đường cứu mình và cứu gia
đình. Hai lá thư này bị dấu nhẹm cho mãi đến khi Giáo Sư Nguyễn Thế Anh phát hiện trong
kho tài liệu Chi Nhánh Hải Ngoại, Văn Khố Quốc Gia, Paris. 

Giáo sư Nguyễn Thế Anh nguyên là Viện trưởng Viện Đại học Huế, chủ nhiệm khoa Văn Sử
Đại  học  Sài  Gòn,  giám  đốc  Viện  nghiên  cứu  Centre  National  de  la  Recherche  Scientifique,
Paris, học giả tại viện Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, giáo sư thỉnh giảng Đại
học Harvard, giáo sư chuyên ngành Lịch sử và Văn hóa bán đảo Đông Dương ("History and
Civilisations  of  the  Indochinese  Peninsula")  tại  trường  Ecole  Pratique  des  Hautes  Etudes  và
Đại học Sorbonne. 

Nói  rằng  “ra  đi  tìm  đường  cứu  nước”  tại  sao  lại  làm  đơn  xin  vào  học  trường  Thuộc  Địa  để
làm  quan  cho  thực  dân  Pháp?  Ngược  lại,  nếu  như  đây  là  kế  sách  “Chui  Vào  Lòng  Địch  Để
Đánh Địch” đúng như ngụy biện của lũ bồi bút thì tại sao Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng
Sản không đưa vào tiểu sử cho thêm rạng rỡ mà vẫn dấu kín việc này?

Theo  cây  bút  biên  khảo  Phạm  Đình  Hưng  thì  Tổng  Thống  Pháp  đã  bác  đơn  xin  nhập  học
trường École Coloniale của Nguyễn Tất Thành vì xét thấy đương sự có một trình độ học vấn
quá kém. Ngay trong một lá đơn ngắn viết tay bằng tiếng Pháp của Nguyễn Tất Thành cũng
đã có tới 3 lỗi về chánh tả và văn phạm: 

­ Lỗi chánh tả: Viết substance (bản chất) thay vì subsistance(sinh sống);

­ Lỗi văn phạm: Viết employé à la Compagnie thay vìemployé par la Compagnie (nhân viên
do Công ty tuyển dụng);

­ Viết agréer Monsieur le President thay vì Veuillez agréer Monsieur le President.

Biết thân biết phận nên ngay khi nhận được thư trả lời của Bộ Thuộc Địa Pháp cho biết hai lá
đơn  xin  đặc  cách  vào  học  Trường  Thuộc  Địa  của  mình  bị  bác  bỏ  Hồ  Chí  Minh  liền  rời
Marseille lên Paris làm đủ thứ nghề để kiếm sống. Trang 27 của “Những Mẫu Chuyện Về Đời
Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” được nhà báo Trần Dân Tiên cũng chính là ông, kể lại: 

Hôm  thứ  nhất  tôi  nhận  việc  cào  tuyết  trong  một  trường  học.  Một  công  việc  mệt  nhọc.  Mình
mẫy  tôi  đẫm  mồ  hôi  mà  tay  chân  thì  rét  cóng.  Hai  ngày  sau  tôi  tìm  được  việc  đốt  lò,  trong
hầm hết sức nóng, ngoài trời hết sức rét, và không có đủ quần áo nên tôi bị cảm...

Sống cực khổ tại Paris như thế nên khi biết được bạn đồng khóa với cha mình là cụ Phan Chu
Trinh cũng đang ở Paris nên Hồ Chí Minh mò đến cụ Phan xin giúp đỡ. Cái tình đồng hương
nó  lạ  lắm,  nhất  là  ở  kẻ  sống  xa  xứ,  nên  khi  khi  biết  Nguyễn  Tất  Thành  là  con  trai  của  ông
Nguyễn  Sinh  Huy  thì  cụ  Phan  Châu  Trinh  cho  về  nhà  ở  chung  với  con  trai  của  cụ  là  Phan
Châu  Dật  và  dạy  cho  nghề  rửa  ảnh  kiếm  sống.  Mấy  tháng  sau  vì  một  lý  do  mà  người  danh
cao đức trọng như cụ Phan không muốn nói ra nên Cụ không chứa chấp nữa, Vì vậy Hồ Chí
Minh phải dọn ra số 9 ngõ Compoint, quận 17, Paris. 

Trang 36 cùng quyển sách “Bác” viết:

“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê
một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về
mùa đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách

sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ
rét.” 

Rõ ràng là “Bác” bịp: Một cục gạch bị đốt nóng không thể gói bằng tờ giấy báo đem lên tận
lầu hai nơi “Bác” ở được. Tờ báo không cháy thì “Bác” cũng bị phỏng tay, đâu còn bàn tay để
sau này vừa bắt nhịp bài ca “Kết Đoàn” vừa giết những người không chấp nhận cùng đi con
đường  Cộng  Sản  ngu  muội  hoang  tưởng  tàn  bạo  lưu  manh  độc  ác.  Hơn  nữa,  một  cục  gạch
nếu bị đốt nóng cũng không giữ nhiệt được quá mấy tiếng đồng hồ...

Tiếp theo “Bác” mượn cái tên Trần Dân Tiên phịa ra ông già Mai lạ hoắc để kể lại đời mình
vào thời gian này nơi trang 39:

...Mỗi buổi sáng ông Nguyễn nấu cơm trong một cái sành nhỏ bằng sắt tây đặt trên ngọn đèn
dầu với một con cá mắm và một tí thịt. Ông ăn một nửa và để dành một nửa đến chiều. Có
khi một miếng bánh mì và một miếng phó mát là đủ cho cả ngày...

Tuy nhiên cuộc sống bế tắc nghiệt ngã tại Pháp không thể làm cho một tay giang hồ liều lĩnh
nhụt chí mà trái lại còn thôi thúc Hồ Chí Minh có thêm quyết tâm vượt qua nghịch cảnh để
tìm đến những vùng đất hứa mới. Tuy nhiên, sau năm năm bươn chải, từ 1912 đến 1917, hết
rửa  chén  lau  bát  nhặt  rau  cho  khách  sạn  Carlton  tại Anh  đến  làm  chân  đốt  lò  cho  một  tiệm
bánh  tại  tiểu  bang  Massachusett,  Hoa  Kỳ,  Hồ  Chí  Minh  vẫn  không  thoát  được  khốn  khó.
Cuối cùng đành phải trở lại nước Pháp vào ngày 3­12­1917 vì thấy rằng ở đâu cũng phải đổ
mồ hôi sôi nước mắt mới có miếng cơm. Ngoài ra ở đất Pháp lại ít bị nạn kỳ thị hơn ở Anh
hay ở Mỹ.

Cũng vào thời gian này các ông Nguyễn Thế Truyền, Bùi Quang Chiêu và ông Phan Văn
Trường cùng một số trí thức yêu nước Việt Nam tại Pháp đang tranh đấu để có một sự thay
đổi chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam với mong muốn đời sống người dân Việt Nam được
thăng tiến hơn, tự do hơn. Ông Phan Văn Trường là luật sư, ông Bùi Quang Chiêu là một kỹ
nghệ  gia  giàu  có,  cả  hai  đều  là  người  Miền  Nam.  Riêng  ông  Nguyễn Thế Truyền  là  người
sinh trưởng tại Hà Đông, Miền Bắc, sang Pháp học ngành kỹ sư, đã có huyền thoại một thời
ông là người tình của công chúa nước Bỉ và là người từng tát tai Tổng Đốc Vi Văn Định. Cả
ba ông đều xuất thân từ giai cấp tư sản, mang nặng tính tư sản, vốn không phải là chính trị gia
chuyên  nghiệp  mà  chỉ  là  thứ  tay  ngang  nặng  lòng  yêu  dân  yêu  nước.  Ba  ông  này  tranh  đấu
theo kiểu chính trị gia phòng trà, làm chính trị như một thú tiêu khiển, thích thì làm, chán thì
thôi, viết bài nhưng không muốn ký tên thật của mình vì không muốn rắc rối. Cả ba lấy một
cái tên chung chung là Nguyễn Ái Quốc. Trước đây ba ông thường viết bài trên một số báo
khác nhưng nhiều khi có bài được đăng có bài bị loại nên vào năm 1922 quyết định ra một tờ
báo lấy tên là Le Paria (Người Cùng Khổ). Tờ này ra được 38 số với mỗi số bán được quãng

1000 tới 5000 bản.

Nguyễn Tất Thành sau những ngày làm thuê làm mướn cực khổ đã tìm đến ba ông này và xin
được  một  chân  lấy  báo,  giao  báo  và  bán  báo.  Với  sự  khôn  ngoan  lanh  lợi  của  một  kẻ  nhiều
năm lăn lóc bươn chải trên trường đời cộng với những tiểu xảo mánh mung thủ đoạn nên dần
dần  Nguyễn  Tất  Thành  được  tín  cẩn  hơn.  Một  ngày  vào  cuối  tháng  3­1923  Nguyễn  Tất
Thành  rời  khỏi  chỗ  ở  của  mình  tại  Impasse  Compoint  dọn  về  ở  ngay  trong  phòng  làm  việc
của tờ Le Paria. 

Sống nhờ sống bám vào người khác như thế nhưng sau này Hồ Chí Minh cùng lũ văn nô bồi
bút  đã  bịp  bợm  dựng  lên  chuyện  một  nhóm  Ngũ  Long  tại  Pháp  gồm  Phan  Chu
Trinh,  Nguyễn  Thế  Truyền,  Phan  Văn  Trường,  Nguyễn  An  Ninh,  và  Nguyễn  Tất
Thành nhằm đánh bóng tên tuổi của mình. 

Chẵng cần phải thông minh chúng ta cũng thấy vào cái thuở còn mang nặng tính tôn ti trật tự
không đời nào những ngưởi cùng thời lại xếp hàng cụ Phan Chu Trinh, người bạn đồng khóa
với  bố  của  Nguyễn Tất Thành  ngang  với  Nguyễn Tất Thành  là  một  thiếu  niên  chưa  có  sự
nghiệp.  Cũng  như  vậy,  các  ông  Luật  sư  Phan  Văn  Trường,  kỹ  sư  Nguyễn  Thế  Truyền,  kỹ
nghệ gia Bùi Quang Chiêu, Cử Nhân Nguyễn An Ninh cũng không đời nào chịu ngồi chung
một  chiếu  với  một  cậu  học  trò  khố  rách  áo  ôm  chưa  xong  bậc  tiểu  học  mới  từ  trong  nước
bước ra. Tại Paris nhân tài tứ xứ, trong đó có Việt Nam, lúc đó nhiều lắm. Phải nói là Thiên
Long Vạn Long chứ không phải chỉ có Ngũ Long. Nhóm Ngũ Long chỉ là một sự bịa đặt bịp
bợm  nhằm  tô  màu  trát  phấn  cho  Hồ  Chí  Minh.  Nói  một  cách  chính  xác:  Ở  thời  điểm  đó
không có “Ngũ Long” mà chỉ có “Nhất Khuyển” là Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh. 

Như đã trình bày, các ông Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Bùi Quang Chiêu vì không
muốn rắc rối với nhà đương cuộc Pháp nên các bài viết thường ký một cái tên chung chung là
Nguyễn Ái Quốc. Riêng Thành là kẻ đến sau cũng có viết một vài bài, nhờ các ông này sửa
lại rồi cũng được cho đăng dưới tên Nguyễn Ái Quốc. Lẽ đương nhiên mạch văn của một bậc
thức giả tất phải khác hẵn mạch văn của một anh học trò lớp ba trường làng, cho nên dù bài
viết  có  được  sửa  đi  sửa  lại  cũng  không  qua  nổi  mắt  người  đọc.  Vì  thấy  nhiều  người  cho
rằng  “Le  Procès  de  la  colonisation  francaise”  là  của  Nguyễn  Thế  Truyền  nên  Jean
Lacouture,  một  tay  thiên  tả  nổi  tiếng,  bày  trò  phá  bĩnh  bới  lông  tìm  vết  bằng  cách  đưa  ra
những điểm yếu kém của tập sách đó qua nhận xét như sau:

He  ends  the  penultimate  chapter  with  a  manifesto  for  the  International  Union,  concluding
with Karl Marx’s famous “Workers of the world, unite...”

Ho had chosen his line­ though it was by no mean inflexible, as we shall see. But he was not

yet in command of his talent. The work is so clumsy, and often so mediocre in tone,that there
are grounds for wondering whether the author of the preface, Nguyen The Truyen, Ho’s friend
and  collaborator,  may  not  have  written  the  entire  book….shapeless  series  of  anecdotes  and
rapid social sketches..., the banal choice of material and poor presentation seem unworthy of
Ho Chi Minh. (Ho Chi Minh, Jean Lacouture, 1968, page 36)

Có  thể  đây  cũng  là  một  thủ  thuật  kín  đáo  bênh  vực  Hồ  Chí  Minh  bởi  vì  viết  dở  viết  tệ  như
vậy thì tập sách chắc chắn không phải được viết bởi các ông Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn
Trường hay Nguyễn An Ninh mà là của một anh học trò lớp Ba trường làng.

Nhận  xét  của  Jean  Lacouture  đã  bị  ông  Phạm  Đình  Hưng  phản  bác.  Ông  Phạm  Đình  Hưng
còn chứng minh rõ ràng: 

Từ  cuối  năm  1925  đến  năm  1926,  nhật  báo  L’Humanité  (Nhân  Đạo)  của  đảng  Cộng  Sản
Pháp  ở  Paris  trích  đăng  tác  phẩm  Le  Proces  de  la  Colonisation  Francaise  của  một  tác  giả
đứng tên Nguyễn Ái Quốc. 

Khi  nhật  báo  L’Humanité  bắt  đầu  đăng  tác  phẩm  Le  Proces  de  la  Colonisation  Francaise
vào cuối năm 1925 thì Nguyễn An Ninh đã về Sài Gòn lần thứ ba cùng với Phan Châu Trinh
để hợp tác với Luật sư Phan văn Trường (đã về nước từ năm 1923) đấu tranh trực diện chống
lại chế độ đô hộ của thực dân Pháp. Vào thời điểm nầy, chỉ còn một mình Nguyễn Thế Truyền
ở lại Paris, kết hôn với một công chúa Bỉ; Nguyễn Tất Thành (lấy bí danh Nguyễn Ái Quốc)
đang công tác cho Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Quảng Đông từ năm 1924. Như vậy, chỉ có
thể  Nguyễn  Thế  Truyền  là  người  cho  trích  đăng  trên  nhật  báo  L’Humanité  quyển  Le
Proces de la Colonisation Francaise do ông ta viết trước đó cùng với Nguyễn An Ninh và
Nguyễn Đắc Lộc nhưng sử dụng bút hiệu Nguyễn Ái Quốc. Giả thuyết Nguyễn Tất Thành
là tác giả của quyển sách Le Proces de la Colonisation Francaise cần phải gạt bỏ vì Nguyễn
Ái Quốc chỉ là bút hiệu tập thể. Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ tiểu học, hoàn toàn không
có khả năng viết quyển sách nầy bằng tiếng Pháp. 

Không thể che giấu được sự bất tài vô tướng của mình, ký giả “Trần Dân Tiên” cũng chính là
Hồ Chí Minh đành phải thú nhận sự thiếu học của mình nơi trang 35 trong tập“Những Mẫu
Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”:

Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường
viết thay. Ông Trường viết giỏi nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn phải ký tên
những bài báo. Nhược điểm về trí thức làm cho ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường
không  viết  những  điều  ông  Nguyễn  muốn  nói.  Vì  vậy  ông  Nguyễn  bắt  tay  vào  việc  học  làm
báo.

Ra ngoài, Hồ Chí Minh thuỗng luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc, tư nhận là của mình. Các ông
Nguyễn Thế Truyền, Bùi Quang Chiêu và ông Phan Văn Trường biết điều đó, nhưng như đã
nói  ở  trên,  cả  ba  ông  muốn  tránh  lôi  thôi  phiền  phức  với  bọn  thực  dân  mũi  lõ  nên  không
những im lặng mà lại còn khuyến khích. 

Về  khả  năng  chính  trị  thì  chính  Hồ  Chí  Minh  đã  tự  thú  như  sau  nơi  trang  34  trong
quyển “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”:

...  Một  người  quen  ông  Nguyễn  (Hồ  Chí  Minh)  ở  Paris  đã  cho  chúng  tôi  (ký  giả  Trần  Dân
Tiên)  nhiều  tài  liệu  quý  báu:  Lúc  ấy  ông  Nguyễn  quyết  tâm  hy  sinh  tất  cả  vì  tổ  quốc  nhưng
ông Nguyễn rất ít hiểu về chính trị., không biết thế nào là công hội, không biết thế nào là bãi
công và thế nào là chính đảng...

Tóm lại, vào thời điểm này chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh đã phấn đấu, đã làm đủ thứ nghề
cực nhọc để kiếm sống nhưng làm công việc nhẹ thì chữ nghĩa không đủ, làm công việc tay
chân nặng nhọc thì sức khỏe không bằng dân Phi Châu hay bọn Rệp (A Rập) nên cuộc sống
bị bế tắc. Cuối cùng ông theo nghề bán nước bọt.

Đây là lý do tại sao Hồ Chí Minh có mặt trong Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale
­ Association des indigènes de toutes les colonies) hay Đảng Cộng Sản Pháp. Tìm đến các hội
đoàn  là  mong  có  cơ  hội  làm  quen  với  nhiều  người  và  hy  vọng  được  hội  giúp  tìm  công  việc
làm. Hình như Ed Martinez đã nói: “Trong bước đường cùng, con gái thì có nghề làm đĩ, con
trai thì có nghề làm chính trị”. Tại Việt Nam cũng có một câu ví von tương tự. “Em làm đĩ
bán trôn nuôi miệng. Anh bịp đời bán miệng nuôi trôn” để ám chỉ bọn chính khách salon, chỉ
muốn đòi chia quyền chia ghế chứ không vì nhân dân hay đất nước. 

Từ  đó  Hồ  Chí  Minh  dốc  hết  “tài  lanh  bịp  đời”  của  mình  lao  đầu  vào  việc  bán  miệng  nuôi
trôn.  Cuộc  hội  họp  nào  cũng  mò  đến.  Cuộc  biểu  tình  đấu  tranh  nào  cũng  có  mặt.  Hồ  Chí
Minh  chôm  chĩa  luôn  cái  tên  Nguyễn  Ái  Quốc  của  ba  ông  Phan Văn Trường,  Nguyễn Thế
Truyền và Bùi Quang Chiêu trong bản "Yêu sách của nhân dân An Nam", gồm tám điểm và
được  viết  bằng  tiếng  Pháp  (Revendications  du  peuple  annamite)  gửi  tới  Hội  nghị  Hòa  bình
Versailles và nhận là của mình. Ông lần mò tới tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội
Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương. Lúc đó Đông Dương đang nằm dưới sự
bảo hộ của Pháp nên rất cần một người Đông Dương có mặt trên sân khấu. Hồ Chí Minh đã
xuất  hiện  đúng  lúc  và  đúng  chỗ,  kiếm  được  đất  đứng  và  tạo  được  huyền  thoại  là  một  trong
những  sáng  lập  viên  của  Đảng  Cộng  sản  Pháp,  lập  ra  Hội  Liên  hiệp  Thuộc  địa  (Union
intercoloniale ­ Association des indigènes de toutes les colonies). 

Trở lại câu hỏi ai là tác giả đích thực của “Procès de la colonisation française” “Bản Án Chế
Độ  Thực  Dân  Pháp”và  “Revendications  du  peuple  annamite”  “Yêu  sách  của  nhân  dân  An
Nam”. Có người đồng ý với lập luận của lũ bồi bút Cộng Sản, cho rằng Hồ Chí Minh là tác
giả,  nhưng  viết  xong  đã  nhờ  các  ông  Phan  Văn  Trường,  Nguyễn  Thế  Truyền  và  Bùi  Quang
Chiêu  nhuận  sắc.  Báo  chí  Cộng  Sản  táo  bạo  hơn  quả  quyết  rằng  tuy  Hồ  Chí  Minh  tuy  yếu
sinh  ngữ  nhưng  đã  hướng  dẫn  cho  ba  ông  Phan  Văn  Trường,  Nguyễn  Thế  Truyền  và  Bùi
Quang Chiêu viết loạt bài này.

Đặt câu hỏi một cậu học trò chưa xong bậc tiểu học làm sao có thể ngồi ngang hàng với một
luật sư và hướng dẫn luật sư viết bài theo ý của mình. Cho dù nhẹ dạ hay ngu độn cách mấy
cũng không thể tin nổi một anh chàng xứ thuộc địa trình độ bậc Tiểu Học mới sang đất Pháp
mới có mấy năm lại có đủ khả năng xông xáo múa may trên chính trường Pháp như vào chỗ
không người. Báo chí Cộng Sản và những bồi bút, trong đó có một số nhà báo ngoại quốc, trơ
trẽn  đến  độ  nhẫn  tâm  lường  gạt  những  người  cả  tin  nhẹ  dạ  rằng  Hồ  Chí  Minh  là  tác
giả “Procès de la colonisation française” “Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp”, Hồ Chí Minh
cũng  là  người  viết  “Revendications  du  peuple  annamite”  “Yêu  sách  của  nhân  dân  An
Nam”  gồm  tám  điểm  dưới  tên  Nguyễn  Ái  Quốc  và  gửi  tới  Hội  nghị  Hòa  bình  Versailles  và
cũng chính Hồ Chí Minh là người chủ trương tờ báo “Le Paria” tức là tờ Người Cùng Khổ,
giữ chức Chủ Bút kiêm Chủ Nhiệm, kiêm Quản Lý, kiêm... bán báo.

Tội nghiệp thì thôi. Cứ như là nói chuyện với đầu gối. 

Trong  việc  tìm  hiểu  thêm  khả  năng  Pháp  ngữ  của  Hồ  Chí  Minh,  khi  làm  Tuần  Báo  Gió
Mới  tại  Virginia  người  viết  có  may  mắn  gặp  được  một  nhân  chứng  sống  qua  một  số  bài  lai
cảo gửi đến tòa soạn ký tên Nguyễn Đại Thắng. Tôi kính Cụ như bậc tiền bối, ngược lại Cụ
nhất mực đối xử với tôi như bạn vong niên. 

Cụ cho biết cụ sinh năm 1915, xuất dương du học năm 1937. Thế chiến thứ hai xảy ra cụ bị
động viên vào học khóa sĩ quan cấp tốc tại Fréjus (Var) rồi đưa vào Lữ Đoàn Đại Liên Thứ
52  (52e  Brigade  de  Mitrailleures  Coloniaux).  Khi  phòng  tuyến  Maginot  bị  quân  Đức  chọc
thủng cụ bị bắt và bị cầm tù, lúc thế chiến thứ hai kết thúc cụ mang cấp bậc Đại Úy. Sau khi
giải ngũ, cụ cùng một nhóm thân hữu người Việt thành lập Tổng Ủy Ban Đại Diện Việt Nam
tại  Pháp  (Delegation  Generale  des  Vietnamien  de  France)  cử  Bác  sĩ  Lê  Tấn  Vĩnh  làm  Chủ
Tịch, Bác sĩ Hoàng Xuân Mãn Phó Chủ Tịch, Thạc sĩ Trần Đức Thảo Phó Chủ Tịch, Luật sư
Lê Văn Lộc đặc trách sinh viên và tôi (tức cụ Nguyễn Đại Thắng) đặc trách Chiến Binh. Vì
việc  làm  của  chúng  tôi  là  tranh  đấu  cho  quyền  lợi  của  thợ  thuyền  người  Việt  trên  đất  Pháp
nên tôi lại bị Pháp bỏ tù. Năm 1946 Hồ Chí Minh dẫn phái đoàn Việt Nam sang Pháp dự hội
nghị Fontaineebleau tôi được thả ra và cùng ban đại diện đến Hotel Royal Monceau gặp Hồ
Chí Minh bàn việc cứu nước. Người hướng dẫn chúng tôi đến gặp Hồ Chí Minh là ông Trần

Văn Danh, đại diện cho ông Hồ tại Pháp. Trước sau như thế tổng cộng 5 lần. Một hôm ông
Albert  Oshinsky  là  bạn  của  tôi  và  cũng  là  đồng  chí  với  Hồ  Chí  Minh  khi  hai  người  còn  ở
trong đảng Xã Hội SFIO (Section Francaise de l’Internationale Ouvriere) nói nhỏ cho tôi biết
Hồ Chí Minh đã là đảng viên Đệ Tam Quốc Tế. Từ đó tôi không tiếp xúc với Trần Văn Danh
nữa  và  ở  lại  Pháp  cho  đến  năm  1948  mới  trở  về  nước  làm  Cố  Vấn  Chính  Trị  cho  Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Xuân. Tôi bị tù tất cả 8 lần và trên 15 năm nằm khám. Cụ Nguyễn Đại
Thắng  cho  biết  thêm  Hồ  Chí  Minh  nói  tiếng  Pháp  rất  dở,  thường  sai  cả  cú  pháp  lẫn  văn
phạm. 

Trong  một  bài  viết  cho  tờ  Gió  Mới  có  tiểu  đề  “Hồ  Chí  Minh  Nói  Tiếng  Tây  Viết  Tiếng
Tây” hiện tôi còn lưu giữ làm tài liệu, cụ Nguyễn Đại Thắng phân giải: Ngay cả người chính
quốc nếu ít học cũng có thể nói tiếng bồi hay viết sai văn phạm cú pháp huống hồ chi Nguyễn
Tất  Thành  là  dân  thuộc  địa  mới  đến  đất  Pháp  được  mấy  năm.  Cho  nên  khi  nghe  ông  ta  nói
mình  viết  những  tập  “Procès  de  la  colonisation  française”,  “Revendications  du  peuple
annamite”... thì thật là chuyện hoang đường, dẫu ngu cách mấy cũng không thể nào tin được,
Vậy  mà  Hồ  Chí  Minh  tự  nhận  là  tác  giả“Procès  de  la  colonisation  française”,
“Revendications  du  peuple  annamite”và  những  bài  viết  khác  ký  tên  Nguyễn  Ái  Quấc  tại
Paris. Ai có thể tin được một anh học sinh trình độ chưa xong bậc tiểu học lại có thể là tác giả
cuốn “Le procès de la colonisation française “ (Bản Án chế độ thực dân Pháp) xuất bản năm
1925 (1926, theo bản lưu trữ ở Thư Viện Quốc Gia, Paris). Ai tin thì cứ tin, nhưng quả thật
tôi không tin được điều này.

Nhà  bình  luận  Thuỵ  Khuê  sau  khi  sưu  khảo  văn  bản  cùng  nội  dung  “Procès  de  la
colonisation  française”,  “Revendications  du  peuple  annamite”  đi  đến  kết  luận  chắc  nịch
là “Hồ Chí Minh chưa đọc nổi mấy bài viết này chứ đừng nói gì đến chuyện là tác giả”. 

Để biết thêm trình độ tiếng Pháp của Hồ Chí Minh, xin nghe và xem và những câu trả lời của
Hồ  Chí  Minh  trong  buổi  phỏng  vấn  bằng  tiếng  Pháp  của  INA  (Viện  Tồn  Trữ  Tài  Liệu  Âm
thanh và Hình Ảnh Quốc Gia Pháp). Những chữ in đậm dưới đây là những câu trả lời của Hồ
Chí Minh:

Est­ce que vous pensez, Monsieur le Président, qu’il y a une solution militaire à la guerre
du Sud Viêt Nam?

Non, parce que ah, vous savez bien que le peuple Viêt Nam, c’est un Un, et le pays du Viêt
Nam, c’est Un.

Les Américains veulent faire une guerre d’agression, comme qu’ils disent, une guerre non
déclarée. 

Comme  vous  savez  aussi,  vous  avez  pu  lire  dans  la  presse  mondiale,  que  plus  la  guerre
prolonge, plus les Américains et leurs valets, comment dire ça, (se tournant vers quelqu’un
à  côté),  sa  lầy…  s’enliser…  et  plus,  ils  supportent  des  échecs  comme  vous  savez  là
récemment.

Par conséquent, la guerre ne peut pas durer éternellement, et je suis très heureux que les
politiciens haut placés français ont reconnu cela.

Vous  pensez  que  le  général  de  Gaulle  pourrait  en  quelque  sorte,  à  un  certain  moment,
arbitrer le conflit?

Arbitrer!  Qu’est­ce  que  vous  comprenez  par  le  mot  arbitrer?  Nous  ne  sommes  pas  des
équipes de foot ball. Rire et ricanement.

Au­delà  des  Accords  de  Genève  si  je  ne  me  trompe,  une  idée  du  général  de  Gaulle  est  la
neutralisation de tout le Sud­Est Asiatique. Est­ce c’est une idée qui vous paraît intéressante?

Comme j’ai déjà dit quelquefois, c’est une idée intéressante, mais ça dépend la volonté de
ces peuples, et… la manière comment on procède.. À la réaliser.

C’est une grande question.. Et je ne peux pas dire que je suis d’accord,…je ne dis pas que
je ne suis pas d’accord, n’est­ce pas? Parce que... Vous dites fleurs, fleurs; il y a beaucoup
de  sortes  de  fleurs,  il  y  a  des  roses,  des  blanches,  des  rouges,  des  fleurs  qui  sentent  bon,
d’autres qui ne sentent pas bon…, mais on dit fleurs, n’est­ce pas?

Monsieur le Président, nous avons constaté avec chagrin au cours de notre voyage au Nord
Viêt  Nam,  que  l’influence  française  est  devenue  à  peu  près  inexistante  dans  votre  pays.  Les
moins de 25 ans ne comprennent plus du tout le français. Et je me demande si, à votre idée,
des  rapports  peuvent  se  rétablir  tels  que  la  France  continue  à  jouer…  une  sorte  de  rôle
culturel?

Avec  la  France  surtout,  et  avec  tous  les  autres  pays,  nous  voulons  avoir  une  coopération
amicale, culturelle, économique, etc…, mais je suis sûr que vous ne voulez pas avoir, n’est­
ce pas, que la France ait l’influence qu’elle avait avant, … c’est une autre chose … mais
coopération culturelle, économique, qu’est ce qu’il y a encore?, sportive par exemple, etc…
etc… nous, nous désirons.

Si la guerre se cristallise au Sud et se poursuit encore pendant quelques années, pensez­vous
que l’avenir économique du Nord Viêt Nam soit viable?

Je suis sûr que ça non seulement viable, mais ça progresse. Parce que vous avez vu vous­
même,  vous  avez  constaté  vous­même  que,  ici,  nous  travaillons  beaucoup,  notre  peuple
travaille  beaucoup,  avec  abnégation,  n’est­ce  pas?,  et  avec  dévouement,  avec
enthousiasme.

D’un  côté,  nous  travaillons  pour…,  comment  dirais­je,  pour  principalement,  n’est­ce  pas,
de nos propres forces, et aussi nous avons l’aide fraternelle des pays socialistes.

Jusqu’ici,  nous  avons  déjà  réalisé  des  progrès,  pas  tant  comme  nous  le  voulons,  nous
avons réalisé des progrès et dans l’avenir, nous progressons nous­mêmes.

Vous  mentionnez  là  l’aide  des  pays  socialistes.  Est­ce  que  cette  aide  ne  s’est  pas  trouvée
légèrement compromise à la suite du conflit idéologique entre la Russie et la Chine?

Non...  parce  que  ces  questions,  n’est­ce  pas,  n’est  pas  différence  idéologique  entre  nos
différents  partis­frères,  c’est  nos  affaires  intérieures;  ça  passera  et  l’union…l’unité,  ça  se
fera. Mais l’aide fraternelle continue, continuera, c’est très précieuse pour nous.

Certains ont l’impression chez nous, Monsieur le Président, que le Nord Viêt Nam se trouve
actuellement  assez  isolé,  asphyxié  même,  et,  politiquement,  il  ne  pourra  difficilement  éviter
de devenir une sorte de satellite de la Chine. Qu’est­ce que vous répondez à ça?

JAMAIS! (Comme un cri).

Nguyễn Ngọc Quỳ ghi lại. Paris, 5­4­2011. 

Về chuyện Hồ Chí Minh theo học dự thính tại Đại học Sorbonne và được coi là mọt sách tại
Thư viện Quốc gia Pháp cũng là một chuyện bịa đặt của chính Hồ Chí Minh hoặc của những
tên bồi bút Cộng Sản chứ chưa có một nguồn tin khả tín nói về việc này.

Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s  th t v  con ng i muôn m t H  Chí Minh (ph n 3)


Minh
Khôi

(Danlambao) ­ Như đã trình bày, từ ngày đặt chân lên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành đã chấp
nhận  làm  đủ  thứ  nghề  để  kiếm  sống  nhưng  vì  không  có  trường  sở  hay  nghề  nghiệp  chuyên
môn cho nên dù đã xoay trở trăm phương ngàn kế vẫn không có lối thoát. Bị dồn vào bước
đường  cùng  Nguyễn  Tất  Thành  bèn  đi  theo  “Đường  Kách  Mệnh”.  Thực  ra  Nguyễn  Tất
Thành  không  biết  Đường  Kách  Mệnh  nó  như  thế  nào  cũng  như  học  thuyết  Duy Vật  là  cái
gì. Nguyễn Tất Thành chỉ biết đi tìm đường cứu mình. Hồ Chí Minh đã tự thú điều này nơi
trang 46 trong Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch như sau:

"...Ông  Nguyễn  lắng  nghe  nhưng  không  hiểu  rõ  lắm  vì  người  ta  thường  nhắc  đi  nhắc  lại
những  tiếng  những  câu:  chủ  nghĩa  tư  bản,  giai  cấp  vô  sản,  bóc  lột,  chủ  nghĩa  xã  hội,  cách
mạng  không  tưởng,  chủ  nghĩa  vô  chính  phủ,  chủ  nghĩa  cải  lương,  sản  xuất,  luận  đề,  chủ
nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng sản..."

Chính vì vậy nên sau khi công việc lần mò sang Pháp để cứu bản thân và cứu gia đình thất
bại  Hồ  Chí  Minh  (Nguyễn Tất Thành)  quyết  định  đổi  hướng.  Làm  đầy  tớ  cho  Pháp  không
được thì làm đầy tớ cho Nga. Làm đầy tớ cho ai thì cũng là làm đầy tớ, miễn là có tiền và có
cơm ăn chỗ ở. Phải thật công bằng, lúc đó Hồ Chí Minh chưa nghĩ đến việc buôn dân hay bán
nước. Lúc đó trong đầu Hồ Chí Minh chỉ nghĩ đến miếng cơm. 

Như  chính  Hồ  Chí  Minh  xác  nhận  lúc  đó  trình  độ  chỉ  đủ“lắng  nghe  nhưng  không  hiểu  rõ
lắm”,  chữ  nghĩa  đâu  mà  đọc  Tư  Bản  Luận  của  Karl  Marx  hay  các  bài  viết  của  Friedrich
Engels, Joseph Proudhon, Ludwig Fuerbach... Chính vì vậy mà chúng ta không trách Hồ Chí
Minh  đã  chọn  tà  thuyết  Duy Vật. Trước  và  sau  Hồ  Chí  Minh  cũng  đã  có  vô  số  khoa  bảng
bằng  cấp  đầy  mình  mê  say  tà  thuyết  Duy  Vật  như  con  thiêu  thân  sa  vào  ánh  đèn.  Tà  thuyết
này vừa có vẻ khoa học vừa có sức hấp dẫn người nghe, lấy thuyết biến hóa của Darwin làm

căn  bản,  lấy  tư  tưởng  Marx,  Engels  và  Lenin  làm  kim  chỉ  nam,  lấy  sự  công  bằng  bác  ái  mê
hoặc trí thức, lấy việc đấu tranh giai cấp san bằng giàu nghèo để chiêu dụ lớp nông dân thợ
thuyền  cùng  khổ.  Tà  thuyết  này  xếp  hàng  còn  người  ngang  con  vật:  Cũng  sống,  Cũng  chết.
Cũng  ăn  uống.  Cũng  truyền  giống.  Cũng  tranh  giành.  Cũng  tiêu  diệt  nhau  để  sinh  tồn,  cho
nên sống là phải tranh đoạt. Hồ Chí Minh và đồng đảng tin theo chủ nghĩa Duy Thú Vật bởi
vì  chúng  là  hạng  không  muốn  làm  mà  chỉ  muốn  ăn,  chờ  người  khác  làm  ra  tiền  của  rồi  bày
trò  “đấu  tranh  giai  cấp”  để  cướp  giật.  Hồ  Chí  Minh  chạy  theo  chủ  nghĩa  Duy  Thú  Vật  vì
trong con mắt và tầm hiểu biết của mình Hồ Chí Minh nhìn thấy con người cũng như con vật.
Hồ  Chí  Minh  không  tin  tôn  giáo.  Hồ  Chí  Minh  không  tin  quy  luật  vay  trả.  Hồ  Chí  Minh
không  cần  đạo  đức  nhân  nghĩa.  Hồ  Chí  Minh  chỉ  thấy  cái  lợi  trước  mắt,  và  vì  cái  lợi  mà  sẽ
không ngại dùng mọi thủ đoạn, cho dù lưu manh hay bất nhân, cho dù bẩn thỉu, độc ác hay
khốn nạn. Hồ Chí Minh chủ trương lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện, cho rằng chết là
hết. Hồ Chí Minh tìm thấy chủ nghĩa Duy Thú Vật hợp với bản chất của mình.

Vào thời điểm này Nga đang muốn tranh giành ảnh hưởng và thuộc địa với các đế quốc Anh,
Pháp nên đã tung cán bộ sang các nước tuyển dụng người đem về huấn luyện rồi phái đi hoạt
động thành lập các đảng Cộng Sản tại các nước đó theo quỹ đạo của Nga Sô. Tại Pháp có bọn
Cachin,  Frossard,  Marceau  Pivert,  Vaillant  Couturier,  André  Berton...  Được  Vaillant
Couturier  giới  thiệu  và  móc  nối  với  điệp  viên  Nga  Sô  Dmitri  Manuilsky  nên  một  ngày  vào
cuối  tháng  6­1923  Hồ  Chí  Minh  mang  thông  hành  tên  Chen  Vang  từ  Paris  sang  Đức  rồi  từ
Đức  xuống  cảng  Hamsburg  trên  chiếc  tàu  Karl  Liebknecht  đi  St  Petrograd,  sau  đó  đến
Moscova, vào học trường Đại Học Đông Phương là trường đào tạo cán bộ gián điệp tình báo
để hoạt động tai các nước Á Châu. 

Những tài liệu của Cộng Sản Hà Nội viết về tiểu sử Hồ Chí Minh đã ghi lại một cách lố bịch
rằng trong thời gian ở Nga Sô Nguyễn Ái Quốc đã đến tham dự và đọc tham luận tại Đại hội
lần  thứ  5  của  Quốc  tế  Cộng  sản  (1924),  chỉ  ra  sự  to  lớn  của  hệ  thống  thuộc  địa.  Một  đoạn
trong bài tham luận của Hồ Chí Minh đăng trên Wikipedia nguyên văn như sau: 

"... Ngày 23­6­1924, phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội 5, Nguyễn Ái Quốc nói: "Tôi đến
đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại, và
vạch  ra  để  Quốc  tế  Cộng  sản  thấy  rằng:  cách  mạng,  ngoài  vấn  đề  tương  lai  của  các  thuộc
địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa
hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là
vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của
giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những
vấn đề và nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa..."

Nghe mà khoái cái lỗ nhĩ, tưởng như Hồ Chí Minh là một vị khách lớn được đảng Cộng Sản

Sô  Viết  và  chính  quyền  Sô  Viết  mời  tới  cố  vấn  dạy  dỗ.  Những  câu  nói:  Tôi  đến  đây  không
ngừng  lưu  ý  Quốc  tế  Cộng  sản  đến  một  sự  thật...  Tôi  sẽ  thức  tỉnh  các  đồng  chí  về  vấn  đề
thuộc  địa...  rõ  ràng  là  một  chỉ  thị  hay  một  huấn  từ  của  cấp  trên  nói  với  cấp  dưới.  Hồ  Chí
Minh ngon lành quá. Hồ Chí Minh uy dũng quá. Sang nước người xin việc kiếm ăn mà nói
năng cứ như vào chỗ không người. 

Tài  lừa  bịp  và  bốc  phét  của  những  tên  văn  nô  băng  đảng  Cộng  Sản Việt  Nam  quả  thật  hết
biết.

Chỉ cần xem qua một vài lá thư xin phục vụ và xin tiền của Hồ Chí Minh gửi đảng Cộng sản
Nga Sô sẽ thấy ngay Hồ Chí Minh có phải hạng người dám nói những câu ngông cuồng như
lũ bồi bút tô vẽ hay chỉ là một thứ tay sai bán nước và bán cả linh hồn, tháng tháng ngửa tay
lãnh lương của quan thầy. 

Những tài liệu dưới đây được trích từ Hồ Chí Minh Toàn Tập ­ tập 2. Hà Nội.

Gửi đồng chí Pêtơrốp, Chủ tịch Ban Phương Đông

Tôi đã nhận được bức tối hậu thư của Sở quản lý nhà giục phải trả 40 rúp 35 côpếch về chỗ
ở của tôi, không có thì tôi sẽ bị đưa ra tòa. Trong những tháng, tháng mười hai, tháng giêng
và tháng hai tôi thuê phòng số 176, ở đây bao giờ cũng có 4 và 5 người thuê. Ban ngày thì
tiếng ồn liên tục ngăn trở tôi làm việc. Ban đêm tôi bị rệp ăn thịt, không cho tôi nghỉ ngơi. Từ
tháng  ba,  tôi  nhận  một  phòng  nhỏ,  rất  nhỏ.  Sở  quản  lý  nhà  buộc  tôi  gánh  13  rúp  74  cho
tháng ba, và 11 rúp 61 cho những tháng sau.

So sánh không gian hẹp và trang bị nội thất quá đơn sơ với các phòng khác rộng hơn nhiều,
tiện  nghi  hơn,  có  nhiều  đèn,  điện  thoại,  tủ,  ghế  bành  dài,  phòng  tắm,  v.v.  Và  tiền  thuê  thỏa
đáng  thì  giá  mà  người  ta  muốn  buộc  cho  tôi  là  hoàn  toàn  đáng  công  phẫn.  Vì  vậy  tôi  xin
đồng chí vui lòng làm một cuộc điều tra. Và sau cuộc điều tra đó, với mọi quyết định của mọi
tòa án, tôi tuân theo tinh thần của đồng chí về công bằng và bình đẳng. 

3­1924

*

Thư gửi ban chấp hành Quốc tế Cộng sản

Từ  lúc  tôi  tới  Mátxcơva  đã  có  quyết  định  rằng  sau  3  tháng  lưu  lại  ở  đây,  tôi  sẽ  đi  Trung
Quốc. Bây giờ đã là tháng thứ chín tôi lưu lại và tháng thứ sáu tôi chờ đợi, vậy mà việc lên

đường  của  tôi  chưa  được  quyết  định.  Vậy  chuyến  đi  sẽ  là  một  chuyến  đi  để  khảo  sát  và
nghiên cứu.

Thiết lập những quan hệ giữa Đông Dương và Quốc tế Cộng sản.

B­  Thông  báo  cho  Quốc  tế  Cộng  sản  về  tình  hình  chính  trị,  kinh  tế  và  xã  hội  của  thuộc  địa
này.

C­ Tiếp xúc với các tổ chức đang tồn tại ở đó, và

D­ Tổ chức một cơ sở thông tin và tuyên truyền.

Tôi hành động thế nào để hoàn thành nhiệm vụ này? Số tiền cần thiết cho sự ăn ở của tôi sẽ
là bao nhiêu? ­ Hẳn là tôi sẽ phải đổi chỗ luôn, duy trì những mối liên hệ với các giới khác
nhau, trả tiền thư tín, mua những ấn phẩm nói về Đông Dương, tiền ăn và tiền trọ, v.v., v.v..
Tôi  tính  rằng,  sau  khi  tham  khảo  ý  kiến  các  đồng  chí  người  Trung  Quốc  phải  có  một  ngân
sách xấp xỉ 100 đôla Mỹ mỗi tháng, không kể hành trình Nga ­ Trung Quốc (vì tôi không biết
giá vé).

Ngày 11­4­1924.

*

Báo cáo gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản

Từ tháng 11­1924, tôi được Ban Phương Đông Quốc Tế Cộng Sàn và Đảng Cộng sản Pháp
phái  đến  Quảng  Châu  để  làm  việc  cho  Đông  Dương.  Tôi  tiếp  tục  đi  Mátxcơva  để  trình  bày
yêu cầu của tôi.

Yêu cầu của tôi: Ngay bây giờ tôi không thể lập một dự trù ngân sách chi tiết cho công tác
của tôi ở Đông Dương (đi qua Xiêm). Vì vậy, tôi chỉ có thể lập dự trù theo cách áng chừng
với  những  con  số  phù  hợp  với  hoàn  cảnh.  Biết  sự  khó  khăn  về  liên  lạc  từ  Đông  Dương  đi
Mátxcơva,  và  định  thời  gian  cư  trú  ở  thuộc  địa  này  khoảng  chừng  2  năm,  tôi  trình  bày  với
các đồng chí một yêu cầu về ngân sách tính theo Mỹ kim như sau: 

Lương tháng 150 đôla trong 2 năm (cho tôi và những người giúp việc:) $3.600.00

Quỹ để công tác trong 2 năm (mỗi tháng 200 đôla): $ 4,800.00 

Tiền chi bất thường $1,100.00

Tổng cộng $9,500.00 

Tất nhiên, ở đây tiền lương chỉ là tượng trưng vì ngoài phần trợ giúp tối cần thiết cho chúng
tôi, phần còn lại sẽ chuyển sang quỹ công tác. Và nếu các đồng chí vui lòng chấp thuận thì
ngân sách này chỉ được thực hiện từ ngày tôi đến Băng Cốc. 

Trong  khi  chờ  đợi  quyết  định  của  các  đồng  chí,  xin  các  đồng  chí  vui  lòng  đưa  tôi  vào  bệnh
viện. Khi tôi ra bệnh viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của
tôi và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Mátxcơva tháng 6­1927

(Nguồn: http://saohomsaomai.wordpress.com/).

Bây  giờ  thì  chúng  ta  đã  rõ  đồng  tiền  của  Hồ  Chí  Minh  kiếm  được  là  như  thế  nào.  Nên  nhớ
một đô la ngày đó giá trị bằng hàng trăm hàng ngàn đôla bây giờ. Đó là tiền bán nước, tiền
bán xương máu của đồng bào, tiền khom lưng làm tay sai cho Trung Cộng và Nga Sô. 

Mặt thật đã lòi ra! Khi nơi ăn chốn ở chật hẹp hay được cấp nhà nhỏ quá thì than van, kêu nài
phải xét lại và đòi cho được một chổ ở thoải mái hơn. Ba lá thư trích dẫn nói trên cho thấy Hồ
Chí  Minh  chẳng  hề  gian  khổ  hay  nhịn  đói  để  đi  tìm  đường  cứu  nước.  Chẳng  qua  Hồ  Chí
Minh  chỉ  đi  làm  lao  động  nước  ngoài".  Nghề  lao  động  của  Hố  Chí  Minh  là  nghề  "bán
nước".

Sau Hồ Chí Minh cũng đã có một số thanh niên đã tìm đường đến Nga như Lê Hồng Phong,
Hàn Rue và Đặng Tư Mỹ theo học tại các học viện quân sự tại Nga. Tất cả đều am hiểu tình
hình Đông Dương với những nhận xét khá xác thực vì họ mới rời khỏi Việt Nam không lâu.
Họ đã cho Mạc Tư Khoa biết những hình ảnh của nhân dân Đông Dương thời đó. So lại với
các bài thuyết trình về tình hình Đông Dương trước đây 3 năm của Nguyễn Ái Quốc khi ông
tham dự Đại hội Nông dân Quốc Tế và Đại hội 5 Quốc Tế Cộng Sản thì thấy ngay Nguyễn Ái
Quốc đã không nắm vững và không cập nhật vì ông rời Đông Dương từ năm 1911. Những bài
thuyết trình của Hồ Chí Minh cho thấy ông chỉ có thể mô tả lại tình cảnh bị áp bức của dân
tộc Việt Nam thời cụ Phan Chu Trinh phát động phong trào chống sưu thuế năm 1908. Trong
khi  đó  thực  tế  đã  đổi  khác  quá  xa.  Ông  báo  cáo  là  trong  3  đợt  huấn  luyện  ông  dạy  được  75
thanh  niên  trong  khi  thực  tế  chưa  tới  2/3  số  đó.  Ông  báo  cáo  rằng  ông  tổ  chức  được  nhiều

toán  điệp  báo  với  tên  gọi  khác  nhau  như  Tổ  chức  nông  hội  ở  Thái  Lan.  Tổ  chức  thiếu  niên
mầm non tuyển chọn từ Thái Lan và đưa sang học hành tại Quảng Châu. Tổ chức hội Phụ Nữ
Cách Mạng... nhưng nhìn lại không ai có thể tìm được dấu vết trong tài liệu hay trong lời kể
lại  của  các  nhân  vật  đương  thời  ngoài  việc  đưa  được  một  cậu  bé  mới  9  tuổi  tên  là  Lê  Văn
Trọng con trai út của một gia đình nghèo khó tại làng Bản Mạy, tỉnh Nakhon ­ Thái Lan, đem
về Trung Hoa sau đổi tên thành Lý Tự Trọng.

Tuy nhiên nhờ vào quyết tâm dấn thân liều lĩnh và các thủ đoạn mánh mung, lưu manh nên
Hồ Chí Minh vượt trội hơn hẳn những tên lau nhau thời cơ chụp giật cùng sang Nga lúc đó
như  Lê  Hồng  Phong,  Hàn  Rue,  Đặng  Tư  Mỹ,  Nguyễn  Khánh  Toàn...  Chính  vì  vậy  Hồ  Chí
Minh được quan thầy Nga Sô lựa chọn và trở thành tên bán nước hại dân số một.

Thời kỳ ở Tàu

Cuối năm 1924, sau khi được trui luyện kỹ thuật cần thiết cho một tay điệp báo như len lỏi, tổ
chức, sinh hoạt, thông tin, tuyên truyền, kích động, cài người, phá hoại... Hồ Chí Minh được
lệnh đi Tàu, bề ngoài làm công tác phiên dịch cho phái bộ Mikhail Markovich Borodin, bên
trong hợp tác với cộng sản Tàu chiêu mộ đảng viên và khơi dậy những căm thù bất mãn của
lớp người nghèo khổ. 

Tiểu sử của Hồ Chí Minh đăng trên nội san Học Tập và được đăng lại trên Wikipedia ghi rõ:

Sau khi được trui luyện tại Liên Xô, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng
Châu  theo  phái  đoàn  cố  vấn  của  chính  phủ  Liên  Xô  do  Mikhail  Markovich  Borodin  làm
trưởng đoàn đến giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch, làm phiên dịch
lấy tên là Lý Thụy.

Vậy  mà  Hồ  Chí  Minh,  đã  tự  bôi  son  trát  phấn  đeo  râu  đội  mão  lên  mặt  của  mình
trong “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch”. Trần Dân Tiên (bút hiệu
của Hồ Chí Minh) viết nơi trang 64, 65 như sau: 

...Bấy giờ ông Nguyễn ở Trung Quốc, ông bắt đầu đi bán báo và bán thuốc lá để kiếm sống.
Đọc quảng cáo trên tờ Quảng Châu Nhật Báo ông tìm đến làm phiên dịch cho ông Borodin,
cố vấn chính trị cho bác sĩ Tôn dật Tiên và chính phủ Quảng Châu...

Rõ  ràng  lúc  nào  Hồ  Chí  Minh  cũng  lừa  dối  bịp  bợm. Tại  Quảng  Châu, Hồ  không  có  một
ngày đi bán báo, bán thuốc lá, tìm đọc quảng cáo, rồi đi xin việc như những điều bịa đặt
kể  trên  để  lừa  gạt  mọi  người.  Qua  tài  liệu  dẫn  chứng  trên  chúng  ta  thấy:  Sau  khi  được  trui
luyện  tại  Liên  Xô,  cuối  năm  1924,  Nguyễn  Ái  Quốc  lấy  tên  là  Lý  Thụyrời  Liên

Xô  tới  Quảng  Châu  theo  phái  đoàn  cố  vấn  của  chính  phủ  Liên  Xô  do  Mikhail  Markovich
Borodin  làm  thông  dịch  viên.  Điều  này  cho  thấy  Hồ  Chí  Minh  nhận  lương  bổng  từ  Nga  Sô
đều đều.

Tóm lại, sau khi thụ huấn tại trường Đại Học Phương Đông tức là trường đào tạo mật vụ gián
điệp hoạt động tại các dân tộc thuộc địa thì Hồ Chí Minh tiền bạc lúc nào cũng dư dã. Căn cứ
vào lá thư của Hồ Chí Minh gửi Ban Phương Đông Quốc Tế Cộng Sàn cho thấy ngoài việc
xin tiền và nhận nhiệm vụ của Cộng Sản Nga dể đi thẳng từ Mạc Tư khoa tới Quảng Châu rồi
đến Thái Lan hoạt động, Hồ Chí Minh lại còn xin được học thêm những môn học cần thiết.
Những môn đó là môn gì nếu không phải là kỹ thuật tuyên truyền, kỹ thuật lừa dối, kỹ thuật
kích động, kỹ thuật phá hoại... (xem lá đơn xin tiền Nga Sô của Hồ Chí Minh.)

Một  bài  viết  của  tác  giả  Người  Buôn  Gió  đăng  trên  điện  báo  Đàn  Chim  Việt  ngày  06­01­
2010, tiểu đề “Nguyễn Ái Quốc Hơi Nhiều Tiền” châm biếm như sau:

Năm 1925 bác Hồ kính yêu của chúng ta lúc đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã có vai trò to
lớn  trong  đảng  cộng  sản  quốc  tế.  Lúc  đó  bác  Nguyễn  Ái  Quốc  hơi  bị  nhiều  tiền  không  phải
nghèo khó như chúng ta vẫn thường nghe kể đâu.

Thu nhập của bác Quốc hồi ấy là do Thông Tấn Xã Nga cung cấp, chắc là tiền nhuận bút. Eo
ơi, chứng tỏ hồi ấy viết báo cũng dễ kiếm tiền hơn bây giờ.

Sở dĩ nói bác Quốc có ảnh hưởng to lớn là vì bác Quốc gửi thư yêu cầu Cộng Sản quốc tế tài
trợ tiền bạc cho Quốc Dân Đảng hoạt động, chứ bấy lâu nay toàn do bác Quốc bỏ tiền túi ra
giúp đỡ. Mà tiền toàn tiền USD thôi nhé.

Có hai đảng viên Quốc Dân Đảng có việc đi từ Quảng Châu sang Trung Kỳ (Việt Nam), bác
Quốc rút túi chi ngay cho mỗi chú vài trăm đô la đi đường. Chứng tỏ ngày ấy hoạt động cách
mạng cũng tốn kém, ngày nay có từng ấy tiền đi lại là cũng xông xênh rồi.

Công  nhận  là  bác  Quốc  tức  bác  Hồ  của  chúng  ta  tài  giỏi,  không  những  là  nhà  cách  mạng
xuất sắc mà còn kiếm tiền ác. Ở bên Trung Quốc xứ người khó khăn thế mà bét nhất lúc nào
bác cũng có mớ tiền, cần cho ai là móc túi đưa ngay, dễ như chủ tịch nước móc kẹo trong túi
cho trẻ con vậy... 

Một bài báo khác trong mục “Thư Gửi Bạn Ta” ký giả Bùi Bảo Trúc đã trích đăng một đoạn
trong  bài  viết  “Những  Kỷ  Niệm  Về  Bác”  của  chính  Thủ  Tướng  Cộng  Sản  Phạm  Văn  Đồng
trên  tờ  Nhân  Dân  là  cơ  quan  ngôn  luận  của  Trung  Ương  Đảng,  số  ra  ngày  08­01­1990,  nơi
trang 3. 

...Trước khi về Cao Bằng có một thời gian Bác và chúng tôi phải ở bên kia biên giới, giữa các
dân tộc vùng đó nơi người ta chỉ sống bằng cháo bẹ. Bấy giờ Bác có nhiều tiền, hai xếp giấy
bạc như hai cuốn tự điển và Bác giao cho tôi giữ tiền. Tôi phải mặc một cái áo trong với
hai cái túi to để giữ hai xấp bạc đó...

Nên nhớ là đồng bạc thời bấy giờ rất có giá trị, chỉ cần một đồng là đủ mua năm tạ gạo, hay
vài ba đồng là mua được một con trâu. Nhân dân nghèo đói phải ăn cháo bẹ sống qua ngày.
Bác đi làm cách mạng gian khổ hy sinh (?!) thì tiền bạc cả sấp nhét đầy hai túi áo.

Với tiền bạc dồi dào Nga Sô tài trợ như thế Hồ Chí Minh đã thành công trong việc truyền bá
và mở một số lớp huấn luyện bỏ túi đào tạo cán bộ Cộng Sản trong vùng Đông Nam Á cũng
như phá nát hay lũng đoạn hàng ngũ người quốc gia. Hồ khéo léo chui vào tổ chức Việt Nam
Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội hay Việt Nam Quang Phục Hội của Trương Bội Công,
Hồ Học Lãm ở Quảng Châu, dùng tiền tài trợ của Mật Vụ Nga Sô mua chuộc và lôi kéo được
một số đảng viên của các tổ chức cách mạng khác như bọn Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong,
Lê Hồng Sơn, Lâm Đức Thụ thuộc nhóm Tâm Tâm Xã của nhà cách mạng Phạm Hồng Thái.
Cùng năm này và cùng bài bản này Hồ chui vào tổ chức Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
ở  Á  Đông  của  Liêu  Trọng  Khải  cũng  như  chui  sâu  ẩn  kín  vào  một  số  tổ  chức  khác  theo  kế
hoạch tu hú đẻ trứng trong tổ quạ.

Ở đây cũng cần nhắc lại chủ trương cài người trồng người của Cộng Sản mà Hồ Chí Minh là
một tay chuyên nghiệp. Với Cộng Sản thì những kẻ khoa bảng bằng cấp chỉ dùng được làm
bình phong, bơm lên thật cao, trao cho những danh hiệu thật kêu để làm chiêu bài, còn đảng
viên  cán  bộ  thì  phải  là  lũ  ngu  si  hoặc  ngây  thơ  khờ  dại.  Ngu  thì  bảo  sao  làm  vậy.  Ngây  thơ
khờ dại thì nói gì tin nấy. Cho nên ta thấy sau 1975 chị phu quét đường Phạm Thị Thêu được
làm đại biểu quốc hội tại Thủ Thiêm, mấy anh hốt rác đá cá lăn dưa được đưa lên làm Chủ
Tịch Phường, Chủ Tịch Xã. Hạng người này, một sớm một chiều đang từ kẻ cùng đinh mạt
vận bỗng chốc được trao cho những chức vị có quyền hành có bổng lộc thì sướng mê tơi, con
người trở thành cái máy, chỉ biết tuyệt đối thi hành lệnh cấp trên mà không cần suy nghĩ đúng
sai  phải  trái.  Những  người  này  thật  đáng  thương  hại  vì  họ  gieo  tội  ác  mà  không  biết  mình
đang làm tội ác. Nói đúng hơn họ không có kiến thức hay đầu óc suy nghĩ để biết mình làm
gì.

Việc “kết nạp đồng chí” Lý Tự Trọng là một điển hình trong công việc trồng người của Hồ
Chí Minh. Đồng chí “Anh Hùng Tuổi Trẻ” này sinh đẻ ở Thái Lan, nhà nghèo, được Hồ Chí
Minh “bồi dưỡng kết nạp” vào năm 1926 khi mới lên 9 tuổi, đem sang Tàu huấn luyện. Kết
cuộc đồng chí Lý Tự Trọng bị xử bắn ngày 2­11­1931 khi mới 15 tuổi về tội cầm súng giết
người theo lệnh đảng. 

Muốn biết rõ tại sao em bé Lý Tự Trọng phải chết bi thảm như vậy thì không gì dễ dàng hơn
là bỏ một vài phút lướt qua tập Những anh hùng tuổi trẻ của nhà xuất bản TRẺ thành phố Hồ
Chí Minh, bản in lại tháng 4­2001. Nguyên văn chủ trương và cũng là câu mở đầu trong bài
viết về“Anh hùng Lý Tự Trọng” nơi trang 18 như sau:

Bác Hồ kính yêu và Đảng quang vinh của chúng ta luôn luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau.

“Bồi  dưỡng  thế  hệ  cách  mạng  cho  đời  sau”  của  Bác  Hồ  kính  yêu  và  Đảng  quang  vinh  là
như thế nào? Là đẩy trẻ thơ còn nhỏ dại mới 9 hay 10 tuổi đầu vào chỗ chết. Là chia cắt cốt
nhục gia đình. Là lợi dụng sự khốn khổ của kẻ khác vì lợi ích của mình... Đây cũng là “chính
sách  trồng  người”  của  Hồ  Chí  Minh,  hành  động  tàn  nhẫn  đốn  mạt  còn  hơn  lũ  mẹ  mìn.  Rõ
ràng ác tặc mặt người dạ thú Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản không có một chút lương
tri. Chúng hả hê dùng máu của trẻ thơ và máu của những kẻ ngu dại làm phương tiện để đạt
mục tiêu của chúng.

Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s  th t v  con ng i muôn m t H  Chí Minh (ph n 4)


Minh
Khôi

(Danlambao) ­ Cũng vào thời gian này Hồ Chí Minh đã cùng Lâm Đức Thụ âm mưu tổ chức
bán đứng nhà cách mạng Phan Bội Châu cho thực dân Pháp vào ngày 5­7­1925 (15 tháng 5
năm  Ất  Sửu)  lấy  15  vạn  bạc  Đông  Dương  ($150,000.00).  Để  chối  tội  cho  Hồ  Chí  Minh,
những tên bồi bút văn nô Cộng Sản tìm mọi cách thay trắng đổi đen che dấu sự thật, đổ tội
cho Lâm Đức Thụ.

Ngay  sau  khi  cụ  Phan  bị  bắt  vào  năm  1925  thì  nhiều  nguồn  tin  khác  nhau  đã  được  loan
truyền.  Một  số  người  thuộc Thanh  Niên  Cách  Mạng  Đồng  Chí  Hội  có  mặt  trong  buổi  họp
quyết định bán cụ Phan đã bất bình ra khỏi tổ chức. Nhà cách mạng Sở Cuồng Lê Dư sững sờ
khi  biết  tin  này  vì  Cụ  đã  từng  nghe  Lâm  Đức  Thụ  thuật  lại  ý  kiến  của  Lý  Thụy  (Hồ  chí
Minh): Cụ Phan đã gần đất xa trời mà chẳng nên công việc gì, chi bằng bán cho Pháp, vừa
có  tiền  sinh  hoạt  Đảng,  vừa  khơi  dậy  lòng  dân  trong  nước.  Cụ  tưởng  rằng  đây  chỉ  là  câu
chuyện tầm phào không ngờ biến thành chuyện thật nên sau này nói lại cho con rể của mình
là  ông  Hoàng  Văn  Chí,  một  người  từng  đi  kháng  chiến,  từng  là  chuyên  viên  phụ  trách  đúc
tiền,  làm  giấy  in  bạc,  chế  tạo  hóa  chất  cho  quốc  phòng,  thiết  lập  hệ  thống  thủy  điện  và  đã
được Thủ Tướng Việt  Cộng  Phạm Văn  Đồng  đích  thân  tuyên  dương  công  trạng  nhiều  lần.
Nhờ cuộc sống chung đụng nên ông nhận rõ được mặt thật Cộng Sản nên bỏ về thành và di
cư  vào  Nam  năm  1954.  Học  giả  Hoàng  Văn  Chí  chính  là  tác  giảFrom  Colonialism  to
Communism viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Sách được dịch ra trên 15 ngôn ngữ, sau này
được  dịch  sang  tiếng  Việt  với  tên  “Từ  Thực  dân  đến  Cộng  sản”.  Học  giả  Hoàng  Văn  Chí
cũng là tác giả biên tập “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” dưới bút hiệu Mạc Định. Có một
thời gian Cụ nhận nhiệm vụ Phó Lãnh sự tại New Delhi, Ấn Độ.

Cũng nên nhắc lại là nhà cách mạng Sở Cuồng Lê Dư đã từng hoạt động trong Tâm Tâm Xã

cùng  với  Phạm  Hồng  Thái.  Sau  khi  Phạm  Hồng  Thái  hy  sinh  với  tiếng  bom  Sa  Điện  cụ  gia
nhập tổ chức của cụ Phan Bội Châu và đang tiến hành việc cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội
thành Việt Nam Quốc Dân Đảng theo khuôn mẫu Trung Hoa Quốc Dân Đảng thì cụ Phan Bội
Châu bị bắt.

Học  giả  Hoàng  Văn  Chí  ghi  lại  sự  kiện  này  trong  tác  phẩm  “Từ  Thực  Dân  đến  Cộng  sản”,
trang 38,39,40 như sau:

“Giữa  lúc  phong  trào  Quang  phục  Hội  đang  gặp  khó  khăn  nhưng  chưa  tan  rã  hẳn  thì  cụ
Phan bị ông Nguyễn Ái Quốc lập mưu bán cho Pháp lấy 10 vạn đồng (hồi ấy một con trâu trị
giá  5  đồng).  Cụ  Phan  vốn  biết  ông  Nguyễn  Ái  Quốc  là  cộng  sản,  nhưng  Cụ  cho  rằng  cộng
sản  cũng  nhiệt  tình  yêu  nước  như  quốc  gia,  nên  Cụ  quý  trọng  và  hoàn  toàn  tín  nhiệm  ông
Nguyễn. Cụ theo lời ông đến một địa điểm ở Thượng Hải mà Cụ không biết là thuộc tô giới
Pháp.  Cụ  bị  cảnh  sát  Pháp  bắt  và  đưa  về  Việt  Nam  để  xử  tội.  Giới  cách  mạng  Việt  Nam  ở
Trung Quốc đều biết rõ việc này, và một người đồ đệ của ông Nguyễn Ái Quốc đã thuật lại
với chúng tôi rằng sau vụ này ông đã giải thích hành động của ông như sau: Cụ Phan đã già
lẫn, không còn ích lợi cho cách mạng; việc Pháp bắt Cụ và xử án Cụ tất nhiên sẽ gây phong
trào phản đối trong quốc nội, rất có lợi cho tinh thần cách mạng; sau hết, tiền nhận được của
Pháp sẽ dùng để đưa thêm thanh niên trong nước xuất ngoại.

Việc  này  ông  Nguyễn  Ái  Quốc  đồng  mưu  với  Lâm  Đức  Thụ  (tên  thật  là  Nguyễn  Công  Viễn)
một thời là đại diện cho cụ Phan ở Hồng Kông và sau theo cộng sản. Hai người chia đôi số
tiền  nhận  được  của  Pháp.  Về  phần  ông  Nguyễn  Ái  Quốc  thì  quả  thật  ông  dùng  tất  cả  phần
tiền  của  ông  để  chi  phí  cho  Thanh  niên  Cách  mệnh  Đồng  chí  Hội  do  ông  tổ  chức  ở  Quảng
Châu, nhưng còn Lâm Đức Thụ thì hắn tiêu xài hết phần tiền của hắn vào cuộc đời sa đọa ở
Hồng Kông.

Việc buôn bán cách mạng này tiếp tục trong nhiều năm. Mỗi thanh niên Quang phục Hội đưa
sang  Tàu  phải  nộp  cho  Lâm  Đức  Thụ  ở  Hồng  Kông  hoặc  cho  đại  diện  của  hắn  ở  Quảng
Châu hai bức hình nói là để lập hồ sơ xin vào trường Hoàng Phố. Đến ngày những sinh viên
này  tốt  nghiệp,  sẵn  sàng  lên  đường  về  nước  để  hoạt  động  cách  mạng  thì  số  phận  của  mỗi
người  đã  được  định  sẵn.  Những  người  đã  nghe  theo  tuyên  truyền  cộng  sản  và  đã  gia  nhập
Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội thì được an toàn trở về quê hương để hoạt động bí mật.
Còn những người vẫn khăng khăng giữ vững lập trường quốc gia thì hễ qua khỏi biên giới là
bị  mật  thám  Pháp  đón  bắt,  theo  ám  hiệu  của  cộng  sản,  vì  họ  không  thu  phục  được.  Những
thanh niên này bị bắt và đưa dần vào tù, khiến phong trào quốc gia ở Việt Nam mất liên lạc
với trụ sở ở Quảng Châu. Những người trong nước phái ra liên lạc với bên ngoài cũng hoặc
bị cộng sản thu hút, hoặc bị Pháp bắt vào tù. Tình trạng cứ tiếp diễn đến nỗi những sinh viên
tốt  nghiệp  Hoàng  Phố  mà  không  chịu  theo  cộng  sản  thường  không  dám  về  nước  và  chỉ  còn

cách là gia nhập quân đội Quốc dân Đảng Tàu. Dần dà phong trào quốc gia mỗi ngày mỗi
suy  sụp  và  phong  trào  cộng  sản  mỗi  ngày  một  bành  trướng.  Vì  đưa  thanh  niên  ra  ngoài  để
sau  ít  năm  bán  cho  Pháp  nên  Lâm  Đức  Thụ  được  mệnh  danh  là  “lái  thanh  niên”.  Hắn  trở
nên cực kỳ giàu có và sống rất sa hoa ở Hồng Kông. Nhưng chỉ mấy năm sau, vì không còn
thanh niên để bán nên Thụ hết tiền, không còn phương tiện sinh nhai, phải xin Pháp trợ cấp
và  che  chở  cho  về  Nam  Vang,  và  sau  cùng  về  sinh  quán  ở  Thái  Bình.  Gặp  cuộc  khởi  nghĩa
Việt Minh, Thụ hoảng sợ, nhưng để thoát thân, hắn bí mật đến yết kiến ông Hồ, lúc ấy đã trở
thành Chủ tịch chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông Hồ hứa che chở cho Thụ, nhưng
bảo Thụ phải về sống yên ổn ở làng, không được tiết lộ những hoạt động của hai người lúc
còn  ở  Hồng  Kông.  Thụ  về  Kiến  Xương  sống  yên  ổn  trong  mấy  năm  liền,  nhưng  vào  khoảng
năm  1950,  khi  quân  đội  Pháp  tiến  gần  đến  huyện,  thì  cán  bộ  Việt  Minh  theo  cẩm  nang  của
Đảng đã giao sẵn từ trước, bỏ Lâm Đức Thụ vào rọ mang trôi sông. Thụ để lại một người vợ
Tàu và mấy đứa con Tài liệu của Duiker đã đề cập bản báo cáo của Hà Huy Tập lên quốc Tế
3 đề ngày 20­4­1935 về việc Lý Thụy thu tiền và bắt các người Việt chống Pháp ghi tên tuổi,
địa chỉ, kết quả hàng trăm người bị Pháp bắt."

Theo  Hà  Huy  Tập,  Hồ  Chí  Minh  đã  sai  lầm  khi  đòi  hỏi  những  người  gia  nhập  tổ  chức  phải
khai rõ lý lịch, nộp hình ảnh và tin cậy Lâm Đức Thụ nên những tài liệu này rơi vào tay mật
thám Pháp khiến hàng trăm người đã bị Pháp bắt giam.

Sau cụ Sở Cuồng Lê Dư, năm 1928 ký giả Nhượng Tống đã viết bài “Ai bán đứng cụ Phan
Bội  Châu”  nêu  đích  danh  kẻ  chủ  mưu  là  Lý  Thụy  và  Lâm  Đức  Thụ.  Nhượng  Tống  tên
thật  là  Hoàng  Phạm  Trân,  một  nhân  vật  thân  tín  của  Nguyễn  Thái  Học,  lãnh  tụ  Việt  Nam
Quốc Dân Đảng, và cũng là người bị Việt Cộng thủ tiêu ngay những ngày đầu kháng chiến.
Vào  thời  điểm  này,  Nhượng  Tống  cũng  như  người  dân  Việt  Nam  không  biết  Lý  Thụy  cũng
như Lâm Đức Thụ là ai. Nhượng Tống chỉ cho biết đó là những người cùng trong hội với ông
Phan Bội Châu. Vì vậy không ai để ý tới Lý Thụy và Lâm Đức Thụ mà chỉ nghĩ đây là hai
tên phản bội vô danh tiểu tốt.

Nhà biên khảo Bùi Anh Trinh cho biết thêm chi tiết:

Năm 1945 sau khi Nhật bất thần đảo chánh Pháp thì lại có thêm một bằng chứng khác. Đó là
tập tài liệu gồm 5 tập, nhan đề là “Góp Vào Lịch Sử Chính Trị Vận Động Ở Đông Pháp” do
Louis Marty, giám đốc sở Mật thám chính trị Đông Dương sưu tầm và, chỉ phổ biến cho một
số cơ quan trách nhiệm tại Đông Dương để nghiên cứu. Trong tập sách 60 trang giấy này có
ghi lại các lời khai của Hoàng Đức Thi khi bị Pháp bắt và có một đoạn nói về hội nghị bán cụ
Phan Bội Châu

Rất tiếc vì là lời cung với tòa án nên Thi không giải thích những chi tiết khó hiểu. Riêng về

phía  Hà  Nội  thì  các  tập  sách  của  Marty  được  gom  về  cho  Trần  Huy  Liệu  là  trưởng  Ban
nghiên  cứu  lịch  sử  Trung  ương  Đảng,  ông  này  giấu  biến  chuyện  Phan  Bội  Châu  bị  bán  mà
cũng không có một lời nào thanh minh cho Lý Thụy mặc dầu phía Sài Gòn tố rất mạnh.

Năm  1955,  để  trả  lời  các  cáo  buộc  của  phía  Sài  Gòn,  Phạm  Văn  Đồng  chỉ  thị  cho  ông
Chương Thâu  dịch  quyển  hồi  ký  của  cụ  Phan  Bội  Châu  (không  phải  bản  của  nhà  xuất  bản
Anh Minh), trong đó cụ Phan có viết:

“… Ai  dè  lúc  tôi  ra  đi,  thì  cái  thời  giờ  hành  động  của  tôi  đã  có  kẻ  nhất  nhất  mật  báo  với
người  Pháp  mà  cái  người  mật  báo  đó  lại  chính  là  người  ở  chung  với  tôi,  từng  nhờ  tôi  nuôi
nấng… Người ấy nghe nói tên là Nguyễn Thượng Huyền… gọi cụ Thượng Hiền bằng ông
chú,  thông  chữ  Hán,  đã  từng  đậu  cử  nhân,  chữ  Pháp,  chữ  quốc  ngữ  cũng  đủ  xài.  Tôi  nhân
yêu tài nó, lưu nó làm thư ký còn như nó làm ma cho Pháp thì tôi có nghĩ tới đâu!”....

Căn cứ vào lời của cụ Phan Bội Châu, một số sử gia quốc tế đoan quyết rằng ông Nguyễn Tất
Thành vô tội trong vụ này vì Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thượng Huyền chưa hề quen biết
nhau.

Sau khi sách của Chương Thâu xuất bản thì dư luận bàn tán xôn xao, phe tố cáo ông Hồ Chí
Minh  đành  phải  im  tiếng.  Chuyện  này  tới  tai  ông  Nguyễn  Thượng  Huyền  đang  sinh  sống  ở
Hồng  Kông.  Ông  này  một  mực  cho  rằng  mình  bị  oan.  Năm  1956,  nhân  dịp  ký  giả  Lê  Tâm
Việt  ghé  thăm  Hồng  Kông,  ông  Nguyễn  Thượng  Huyền  nhờ  Lê  Tâm  Việt  thanh  minh  giùm
ông và tố cáo đích danh Lý Thụy bán cụ Phan Bội Châu trên báo Tự Do số 548 ngày 19­11­
1956. Năm 1965 Nguyễn Thượng Huyền lại về Sài Gòn họp báo để cải chính và viết bài đăng
trên tạp chí Bách Khoa số 73. Tuy nhiên ông Huyền chỉ thề bán sống bán chết kêu oan chứ
không  đưa  ra  được  bằng  chứng  nào  để  có  thể  buộc  tội  ông  Hồ  Chí  Minh  và  giải  oan  cho
mình.

Năm  1968,  Kỳ  Ngoại  Hầu  Cường  Để  cho  xuất  bản  tại  Sài  Gòn  tập  hồi  ký  kể  lại  việc  Lâm
Đức Thụ gởi thơ và tiền cho cụ Phan tại Hàng Châu và hẹn cụ Phan về Quảng Châu làm lễ kỷ
niệm ngày Phạm Hồng Thái hy sinh. Nhưng sau đó thì có tin cụ Phan đã bị bắt đưa về Việt
Nam. 

Hồi  ký  của  Kỳ  Ngoại  Hầu  Cường  Để  cho  biết  “Lâm  Đức  Thụ  ở  Quảng  Châu,  lúc  đầu  cố
phao vu cho người này người khác để che lấp tội ác của mình nhưng về sau thấy ông Phan bị
bắt về đến trong nước, thành ra một cuộc tuyên truyền có hiệu lực cho cách mệnh, Lâm Đức
Thụ mới khoe rằng đó là công hắn, vì chính hắn bắt ông Phan”.

Nhiều  người  khi  đọc  hồi  ký  này  lại  nghĩ  rằng  Nguyễn  Tất  Thành  không  có  bán  Phan  Bội

Châu mà là một người nào đó tên Lâm Đức Thụ.

Câu chuyện vẫn còn trong vòng suy diễn mãi cho đến năm 1990, trong tác phẩm  “Hồ  Chí
Minh: de l’Indochine au Viet Nam”, sử gia Pháp Daniel Hémery cho phổ biến một số thư của
mật  báo  viên  có  mật  danh  là  Pinot  gởi  cho  chánh  mật  thám  tô  giới  Pháp  tại  Quảng  Châu
Loan. Căn cứ vào các chi tiết trong báo cáo người ta xác nhận được Pinot chính là Lâm
Đức Thụ, một lãnh tụ Cộng sản cùng với Nguyễn Tất Thành trong tổ chức Việt Nam Thanh
Niên  Cách  Mạng  Đồng  Chí  Hội,  là  người  cùng Thành  đóng  góp  tiền  lương  hằng  tháng  để
thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí. Thụ cũng là người cùng Thành lập ra
tổ  chức  Á  Tế  Á  Áp  Bức  Nhược  Tiểu  Dân  Tộc,  là  người  đầu  tiên  được  Thành  giới  thiệu  gia
nhập  Đảng  Cộng  Sản Trung  Quốc,  là  một  trong  5  người  đầu  tiên  nằm  trong  tổ  chức  Đông
Dương Quốc Dân Đảng của Nguyễn Tất Thành. Ngoài ra trong thân tình thì Lâm Đức Thụ đã
làm mai Nguyễn Tất Thành với Tăng Tuyết Minh là một nữ y tá bạn thân của vợ Thụ.

Đến lúc này thì dư luận mới thấy tội nghiệp cho ông Nguyễn Thượng Huyền vì rõ ràng là ông
ta bị hàm oan mà không làm sao nói cho thiên hạ tin. Gẫm lại câu nói của cụ Phan Bội Châu:
“Người ấy nghe nói tên là Nguyễn Thượng Huyền” thì rõ ràng là có người nào đó rỉ tai cụ cái
tên này chứ không phải là do cụ có bằng cớ hay do cụ suy đoán ra (Bùi Anh Trinh)

Sau này, theo suy luận, có thể kẻ rỉ tai với Cụ Phan Bội Châu là người con rể tên Vương Thúc
Oánh.  Mới  đầu  Oánh  sang Trung  Hoa  để  theo  chân  cụ  Phan  Bội  Châu  đang  sống  tại  Nam
Kinh, nhưng khi tới Quảng Đông thì ngã theo Nguyễn Tất Thành, phụ trách đường dây đưa
rước các thanh niên Việt Nam sang học các khóa tuyên truyền. Đến năm 1927 Thành chạy về
Nga thì Vương Thúc Oánh cũng từ bỏ Cộng Sản trở về Việt Nam gặp cụ Phan đang bị quản
thúc tại Huế. 

Có lẽ trong dịp này ông Vương Thúc Oánh và cụ Phan Bội Châu bị sa vào kế “Tá đao
sát  nhân”  của  Nguyễn  Tất  Thành.  Đây  là  một  trong  tam  thập  lục  kế,  mượn  đao  Vương
Thúc Oánh giết Nguyễn Thượng Huyền. Những vụ giết Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu hay
giết Nguyễn Bình cũng đều tương tự như thế cả. Lê Hồng Phong và Nguyễn Bình thì bị Pháp
giết nhưng do Hồ Chí Minh tiết lộ từng đường đi nước bước, còn Hồ Tùng Mậu thì nói là bị
máy  bay  Pháp  bắn  ở Thanh  Hóa  nhưng  thật  khó  tin  bởi  vì  thời  đó  máy  bay  Pháp  bay  vào
Thanh Hóa chỉ để bỏ bom hay xạ kích một mục tiêu rõ ràng chứ không có chuyện máy bay đi
bắn sẻ vào một người đang cỡi xe đạp. Vô lý hơn nữa là máy bay nã nhiều tràng đạn vào Hồ
Tùng Mậu mà tên cận vệ sát bên lại không hề hấn gì. 

Hồ  Tùng  Mậu  gốc  Tâm  Tâm  Xã  lúc  đó  giữ  chức  Chủ  Tịch  Ủy  Ban  Kháng  Hành  (Kháng
Chiến  kiêm  Hành  Chánh)  Liên  Khu  4,  bị  Hồ  Chí  Minh  giết  vì  sẽ  là  một  đối  thủ  chính  trị
tương  lai.  Trường  hợp  này  cùng  một  sách  một  tuồng  như  Mao  Trạch  Đông  giết  Lưu  Thiếu

Kỳ. Nguyễn Bình tức Nguyễn Phương Thảo gốc Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Vậy thì câu hỏi đặt ra: Lâm Đức Thụ là người thế nào?

Nhà  biên  khảo  Bùi Anh Trinh  đã  viết  trong  “Hồ  Chí  Minh  Thú  Nhận  Có  Bán  Phan  Bội
Châu”:

Lâm  Đức  Thụ  tên  thật  là  Nguyễn  Công  Viễn,  còn  có  tên  là  Hoàng  Chấn  Đông,  con  của  cụ
Nguyễn  Hữu  Dân,  bạn  học  của  cụ  Nguyễn  Sinh  Sắc  tại  trường  Quốc  Tử  Giám.  Thụ  tốt
nghiệp trường Võ Bị Bắc Kinh nhưng không phục vụ trong quân đội Bắc Kinh mà về cư trú
tại Quảng Châu, sinh sống bằng nghề chụp ảnh. Năm 1924 nhiệt tình tham gia các hoạt động
chính trị của Phan Bội Châu. Ngay từ thời này ông đã biết rất rõ những nhà ái quốc Việt Nam
như Nguyễn Thượng Hiền, Lê Tán Anh, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Hải Thần, Lê Hồng Phong,
Lê Quang Đạt, Lưu Bích, Ngô Chính Cốc, Phạm Hồng Thái…

Người ta không rõ Lâm Đức Thụ hợp tác làm ăn với mật thám Pháp từ lúc nào nhưng báo cáo
đầu tiên của ông ta còn lưu trong hồ sơ lưu trữ là ngày 4­3­1925 báo cáo về việc ông ta cùng
với  Nguyễn  Hải  Thần,  Nguyễn  Tất  Thành,  Đinh  Tế  Dân  cùng  nhau  đóng  góp  tiền  lương  để
chuẩn bị thành lập một đảng chính trị mới. Sau đó là báo cáo về chuyến đi từ Hàng Châu về
Quảng Châu của Phan Bội Châu.

Đến tháng 9­1925 thì mật thám Pháp có được một tấm hình Nguyễn Tất Thành đứng với các
học viên và cán bộ của Trung Tâm huấn luyện chính trị của Bành Bái. Có lẽ tấm hình này do
Lâm Đức Thụ chụp vì ông ta đang sinh sống bằng nghề chụp ảnh, Thành đã nhờ ông ta chụp
giùm  để  gởi  về  Mạc  Tư  Khoa  làm  bằng  chứng  nhưng  Thụ  đã  sao  thêm  một  bản  để  gởi  cho
mật thám Pháp. Đến tháng 10­1926 Lâm Đức Thụ lại báo cáo về việc đám cưới của Nguyễn
Tất Thành, nói rõ vợ của Thành là một người nữ hộ sinh, bạn đồng nghiệp của vợ ông ta. Báo
cáo cũng cho biết là Lê Tán Anh, Nguyễn Hải Thần phản đối cuộc hôn nhân này.

Những tài liệu này chứng tỏ Lâm Đức Thụ rất thân thiết với Nguyễn Tất Thành, nhưng cũng
căn cứ vào những lời lẽ trong các báo cáo, người ta có thể thấy rõ là Thành không dính líu tới
chuyện  Lâm  Đức  Thụ  làm  ăn  với  phía  mật  thám  Pháp;  mà  trái  lại,  Thành  là  đối  tượng  theo
dõi  của  mật  thám  Pháp.  Ngoài  ra,  cũng  qua  các  báo  cáo  này  người  ta  có  thể  thấy  mặc  dầu
Lâm Đức Thụ hoạt động giữa tập thể các lãnh tụ Cọng sản Việt Nam nhưng cho tới ngày ông
ta bị lộ diện năm 1931 thì không có một lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nào trong địa bàn hoạt
động  của  ông  bị  bắt.  Đặc  biệt  là  ngay  cả  Nguyễn  Tất  Thành,  một  nhân  vật  được  mật  thám
Pháp đặt tên là Nguyễn Ái Quốc, cũng không hề bị bắt cho dầu Nguyễn Tất Thành ăn ở trong
nhà Lâm Đức Thụ.

Ngoài tài liệu trong Văn khố Pháp được công bố năm 1980 và 1992, các tài liệu mật khác của
Cộng Sản Quốc Tế cũng được đưa ra trước công chúng. Người ta tìm thấy một báo cáo của
Hà Huy Tập vào tháng 4 ­1935, nói rằng Nguyễn Tất Thành biết Lâm Đức Thụ là một tay chỉ
điểm của Pháp nhưng vẫn giao du liên lạc. 

Đối chiếu với tài liệu của mật thám Pháp thì năm 1930 Lâm Đức Thụ đã bị Hồ Tùng Mậu, Lê
Quang  Đạt  phát  hiện  là  mật  thám,  Thụ  phải  bán  nhà  tại  Hồng  Kông  và  trốn  vào  một  nơi  bí
mật;  thế  mà  năm  1931  ông  Nguyễn  Tất  Thành  từ  trong  nhà  giam  vẫn  liên  lạc  với  Thụ,  nhờ
Thụ coi sóc tổ chức của mình cũng như giúp đỡ vợ của mình là Lý Ứng Thuận..

Ngày  nay,  khi  mà  mọi  hành  động  làm  việc  cho  mật  thám  Pháp  của  Lâm  Đức  Thụ  đã  được
đưa  ra  ánh  sáng  thì  rõ  ràng  Lâm  Đức  Thụ  là  một  điệp  viên  hai  mang.  Nhưng  một  dấu  hỏi
lớn được nêu lên là trong thâm tâm của ông thì mang bên nào mới là mang thực sự của
ông? Ông cộng tác với Nguyễn Tất Thành hay ông cộng tác với Pháp?

Câu trả lời dễ dàng là nếu ông thực sự cộng tác với Pháp thì năm 1931 ông đã nộp Nguyễn
Tất  Thành  cho  Pháp  vì  ông  Thành  và  ông  cùng  sinh  sống  tại  khu  vực  Tam  Khẩu  của  Hồng
Kông trong khi mật thám Pháp đang truy lùng ráo riết Hồ Tùng Mậu và Nguyễn Tất Thành.

Hơn nữa, sau khi bị lộ diện vào năm 1931 Lâm Đức Thụ đã dời về Cam Bốt sinh sống. Vậy
thì tại sao năm 1945 ông ta lại ngang nhiên về Hà Nội tìm gặp Hồ Chí Minh? Lấy gì bảo đảm
an toàn cho ông khi ông quyết định trở về Thái Bình hoạt động chính trị trở lại trong khi Thái
Bình đang thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh? Đặc biệt tại sao Nguyễn Tất Thành lúc này
không  cho  lệnh  bắt  Lâm  Đức Thụ  mặc  dù  chính  vì  Lâm  Đức Thụ  mà  ông  suýt  bị  Quốc  tế
Cộng Sản lên án tử hình sau khi nhận được báo cáo của Hà Huy Tập.?

Những dân quân du kích chứng kiến Việt Minh hành quyết Lâm Đức Thụ vào năm 1947 tại
Thái  Bình  đã  kể  lại  rằng  ông  không  chịu  bịt  mắt  trước  khi  bắn  và  ông  hỏi  câu  cuối  cùng:
“Trước khi bắn, xin cho hỏi, ai ra lệnh giết?”. Đáp: “Cấp trên”!  Ông  lại  hỏi:  “Cấp  trên  là
ai?”. Tất cả lặng thinh. Ông nói: “Không nói được hả?! Thế thì bắn đi”. Nguyên văn câu nói
cuối cùng chứng tỏ trước khi chết Lâm Đức Thụ biết mình bị chết vì tay ai.

Cái  chết  của  Lâm  Đức Thụ  chứng  minh  ông  ta  không  phải  là  người  của  Pháp  hay  là
theo Pháp. Nếu theo Pháp thì ông ta đã sống trong vùng Pháp chiếm đóng như Hà Nội
hay Hải Phòng để không đến nỗi bị giết. Trái lại, ông ta sẽ kiếm được rất nhiều tiền khi ông
ta  ra  trình  diện  với  chính  quyền  Pháp  để  chứng  nhận  với  dư  luận  rằng  ông  ta  đã  hội  cùng
Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu. Vậy thì Nguyễn Tất Thành có thực sự đồng mưu với
Lâm Đức Thụ trong việc bán cụ Phan Bội Châu hay không?

Trả  lời  câu  hỏi  này  chính  là  người  thân  cận  của  Hồ  Chí  Minh:  Người  đó  là  Hoàng  Tùng,
Tổng  Biên  tập  tờ  Nhân  Dân  trong  nhiều  năm.  Trong  bài  viết  “Những  Kỷ  Niệm  Về  Bác  Hồ”
Hoàng Tùng ghi lại:

Trong một hội nghị bàn về tổ chức, một cán bộ phát biểu: “Đối với con cái cán bộ thì không
cần thời gian dự bị điều tra”. Hồ Chí Minh liền ngắt ngang: “Chú nói như thế không đúng,
đối với cách mạng phải xem người ấy cụ thể như thế nào vì có chuyện hổ phụ sinh khuyển
tử. Phan Bá Ngọc là con của Phan Đình Phùng đã đưa mật thám bắt Phan Bội Châu”.

Sự  thật,  Phan  Bá  Ngọc  bị  Lê Tán Anh  giết  vào  ngày  rằm  tháng  giêng  năm  1922  tại  Hàng
Châu  trong  khi  Phan  Bội  Châu  bị  bắt  là  ngày  11  tháng  5  năm  1925  (Âm  lịch).  Làm  sao  mà
Phan Bá Ngọc có thể đội mồ sống dậy để bán cụ Phan cho được.

Lúc cụ Phan bị bắt thì Nguyễn Tất Thành đang ở tại Quảng Châu tất ông phải biết rõ hơn ai
hết. Đặt điều vu oan giá họa cho Phan Bá Ngọc như thế chứng tỏ Hồ Chí Minh tìm cách đổ
tội  việc  bán  cụ  Phan  Bội  Châu  cho  người  khác  và  để  mọi  người  quên  đi  tên  mình  trong  vụ
này.(Bùi Anh Trinh)

Cũng trong việc đi tìm thủ phạm, tác giả Đặng Chí Hùng đã dẫn chứng một số sự kiện trong
loạt bài biên khảo “Những Sự Thật Không Thể Chối Bỏ” có tựa đề“Ai Bán Đứng Phan Bội
Châu?” như sau:

­ David Halberstam và J. P. Honey là hai tác giả thiên tả, rất có thiện cảm với ông Hồ cũng
xác nhận vụ “bán người. “Việc Hồ chí Minh bán đứng nhà ái quốc nổi tiếng Phan Bội Châu
cho  Pháp  lúc  ấy  đang  sống  lưu  vong  ở  Trung  Hoa  minh  họa  chân  dung  (cá  tính)  đích  thực
của  con  người  đó.  Sau  này  ông  ta  đã  chứng  minh  cho  đồng  chí  thấy  việc  làm  đó  là  chính
đáng bằng cách nêu lên 3 lý do thúc đẩy ông ta làm: Một, Phan Bội Châu không phải cộng
sản  mà  là  người  "quốc  gia"  và  có  thể  sẽ  là  đối  địch  với  cộng  sản  trong  kế  hoạch  kiểm  soát
phong trào kháng chiến chống Pháp. Phản Phan Bội Châu là loại bỏ được một đối thủ tương
lai.  Hai,  món  tiền  thưởng  nhận  được  của  Pháp  có  thể  được  dùng  một  cách  tối  ưu  để  phát
triển  phong  trào  cộng  sản  Việt  Nam.  Ba,  việc  Pháp  xử  tử  Phan  Bội  Châu  sẽ  tạo  nên  một
không khí phẫn nộ mạnh trong nước lúc ấy đang cần có.

­ Trong cuốn “Vietnam at War” của tác giả Phillip B. Davidson – một cựu sỹ quan tình báo
của  quân  đội  Mỹ  đã  viết:“The  French  say  that  in  June  1925,  Ho  betrayed  to  the  Surete  in
Shanghai for 100,000 piaster…”. Đại ý dịch lại là ông Hồ Chí Minh với bí danh Lý Thụy lúc
đó đã bán đứng cụ Phan cho nhà cầm quyền thực dân Pháp lấy tiên.

­  Theo  Joseph  Buttinger,  “A  Dragon  Embattled”  (New  York:  Praeger,  1967)Tập  1,  của

Joseph Buttinger). Ông này khẳng định rằng Nguyễn Ái Quốc nhận 150.000 đồng bạc Đông
dương  từ  Pháp  và  bán  cụ  Phan.  Trong  cuốn  sách  có  đoạn  viết:  “Lam  Duc  Thu  and  Thanh
(Ho  Chi  Minh)  split  150,000  piasters,  which  Thanh  later  used  to  fund  his  own  fledgling
communist  organization,  “Vietnamese  Revolutionnary  Youth  Association”…  ”Ho  Chi  Minh
promised  to  protect  Thu  with  condition  that  Thu  must  keep  a  low  and  “quiet”  life  in  the
village  and  not  to  reveal  the  secret  about  “activities”  of  both  when  they  had  lived  in  Hong
Kong..”.

Nội  dung  của  cuốn  sách  này  nói  về  số  tiền  mà  ông  Hồ  và  Lâm  Đức  Thụ  nhận  được  từ  việc
bán thông tin cụ Phan cho Pháp là 150 vạn bạc đông dương và ông Hồ đã hứa với Lâm Đức
Thụ về bí mật giữa hai người này. Điều này thêm khẳng định mục đích bán cụ Phan lấy tiền
để  vừa  triệt  tiêu  đối  thủ  chính  trị,  củng  cố  tổ  chức  của  ông  Hồ.  Sự  xuất  hiện  của  đoạn  văn
dưới với nội dung ông Hồ hứa sẽ bảo vệ ông Thụ với điều kiện ông Thụ phải giữ im lặng về
những việc họ hoạt động ở hongkong đã đánh bật luận điểm cho rằng ông Hồ vô can trong
vụ án cụ Phan, đổ tội hoàn toàn cho Lâm Đức Thụ. Lâm Đức Thụ được đảng cộng sản Việt
Nam  tuyên  truyền  như  một  kẻ  phản  bội  đã  bán  đứng  cụ  Phan.  Tuy  nhiên  nếu  Hồ  Chí  Minh
(Lý Thụy) không biết thì lý do gì ông ta phải yêu cầu Lâm Đức Thụ im lặng để đổi lấy cuộc
sống  bình  yên?  Đó  chính  là  việc  Hồ  Chí  Minh  (Lý  Thụy)  đồng  mưu  bán  đứng  cụ  Phan  cho
Pháp.

­ Trong cuốn Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển của tác giả Trịnh Vân Thanh (giáo
sư Trịnh Chuyết) được Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2008. trang 742, trong mục nói
về  Phan  Bội  Châu,  các  nhà  soạn  sách  đã  viết  việc  Phan  Bội  Châu  bị  bắt  như  sau:  “Năm
1925,  nghe  theo  lời  của  Lý  Thụy  và  Lâm  Đức  Thụ,  Phan  Bội  Châu  gia  nhập  vào  tổ  chức
“Toàn  thế  giới  bị  áp  bức  nhược  tiểu  dân  tộc”,  nhưng  sau  đó  Lý  Thụy  và  các  đồng  chí  lập
mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:

1  –  Tổ  chức  lấy  được  một  số  tiền  thưởng  (vào  khoảng  15  vạn  bạc)  hầu  có  đủ  phương  tiện
hoạt động. 2 – Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong
quốc dân.”.

Cần phải nhìn nhận đây là cuốn sách được nhà xuất bản Văn học, nó thuộc nhà nước cộng
sản Việt Nam. Nói cách khác, nhà nước cộng sản đã công nhận sự kiện này là có thật. 

Như  chúng  ta  đã  biết  Hồ  Chí  Minh  trong  thời  gian  này  có  bí  danh  là  Lý  Thụy.  Và  như  thế,
căn cứ vào cuốn tự điển của nhà cầm quyền Cộng Sản xuất bản năm 2008 thì Lý Thụy chính
là Hồ Chí Minh đã bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp với những lý do đã nêu trên. 

Trước đó còn có những bài viết khác như của ông Đào trinh Nhất, trong loạt bài “Một bí mật

chưa  ai  nói  ra”  đăng  trên  báo  Cải  Tạo,  Hà  Nội,  số  tháng  10­1948,  được  Joseph  Buttinger
trích  lại  cũng  viết  rằng,  chính  Lý  Thụy  là  thủ  phạm  bán  đứng  cụ  Phan  Bội  Châu  cho  mật
thám Pháp, hay của ông Đào Văn Hội, tác giả "Ba Nhà Chí Sĩ Họ Phan" còn cho biết thêm
một chi tiết:

Sau  khi  Phan  Bội  Châu  đi  Hàng  Châu,  Lý  Thụy  và  Lâm  đức  Thụ  đã  triệu  tập  các  nhà  cách
mạng tại Quảng Châu lại, trừ Nguyễn Hải Thần, để bàn về vấn đề tài chánh. Không ai đưa
ra được giải pháp nào về vấn đề này. Lâm đức Thụ đã đề nghị hy sinh Cụ Phan Bội Châu…
Và hội nghị đã ủy cho Lâm đức Thụ liên lạc với tòa lãnh sự Pháp ở Hồng Kông để tiến hành
việc bán cụ Phan...

Nếu đúng như cụ Sở Cuồng Lê Dư nói thì Nguyễn Tất Thành là bộ óc. Lâm đức Thụ là cái
miệng.

Một tài liệu khác rất khả tín là Hồi Ký của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ấn hành tại Sài Gòn năm
1968 ghi lại nguyên ủy và diễn tiến sự việc như sau:

“Cuối  tháng  5  năm  1925,  Lâm  Đức  Thụ  viết  thư  và  gửi  tiền  lên  Hàng  Châu  cho  ông  Phan
Bội Châu, mời về Quảng Châu nhân dịp kỷ niệm Phạm Hồng Thái ngày 19 tháng 6, làm một
cuộc tuyên truyền lừng lẫy cho cách mệnh Việt Nam. Ông Phan nhận được thư và tiền, liền đi
Thượng Hải để đáp tàu thủy về Quảng Châu. Ông Phan đi rồi, mãi không thấy có thư từ gì
về, bọn Hồ Học Lãm ở Hàng Châu lấy làm lạ, viết thư hỏi các đồng chí ở Quảng Châu. Thư
trả lời nói không thấy ông Phan xuống đó, ai cũng lo.

Hơn một tháng sau, Lâm Chi Hạ, chủ nhiệm Quân Sự Biên Tập Xứ, tiếp được một phong thư
từ Sán Đầu gửi tới, có kèm theo một mảnh thư do ông Phan viết, mới biết là ông bị bắt rồi.
Gửi thư ấy đến Lâm Chi Hạ là một học sinh Tàu. Người này cho biết rằng nhân dịp nghỉ hè,
từ Thượng Hải về Sán Đầu thăm nhà, gặp ông Phan ở trên tàu thủy, ông Phan thừa lúc người
đi  kèm  không  ở  cạnh,  nói  chuyện  với  y  và  viết  mảnh  giấy  ấy,  nhờ  y  gửi  đi  Hàng  Châu  cho
Lâm  Chi  Hạ.  Cứ  như  lời  ông  Phan  nói  trong  mảnh  giấy  ấy  thì  khi  ông  đi  xe  lửa  từ  Hàng
Châu đến Thượng Hải, vừa ra khỏi cửa ga, liền bị mấy người cảnh sát tô giới Anh núm lấy,
điệu  lên  xe  hơi  đưa  đến  tô  giới  Pháp  giao  cho  người  Pháp.  Ông  bị  giam  ở  đó  ít  lâu,  rồi  bị
giải về nước bằng tàu thủy.

Lâm Đức Thụ ở Quảng Châu, lúc đầu cố phao vu cho người này người khác để che lấp tội ác
của  mình  nhưng  về  sau  thấy  ông  Phan  bị  bắt  về  đến  trong  nước,  thành  ra  một  cuộc  tuyên
truyền có hiệu lực cho cách mệnh, Lâm Đức Thụ mới khoe với mọi người đó là công hắn, vì
chính hắn bắt ông Phan. Hắn lại nói sở dĩ bắt ông Phan là vì hắn nghĩ ông đã trở nên già hủ,
không thích hợp với thời đại mới nữa, ở ngoài bất quá biết làm mấy câu văn tuyên truyền hão

bằng chữ Nho, chẳng được chuyện gì, không bằng đưa ông về nước lấy tiền cho Đảng ta...

Tuy nhiên, sự thật đôi khi cũng bị bóp méo. Trong hàng ngũ các nhà biên khảo về chiến tranh
Việt Nam, có một số cảm tình với Cộng sản. Vì thích Việt Cộng, họ tin theo sách báo và lời
nói Cộng sản cho nên họ bỏ qua việc Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu. Nếu đề cập đến,
thì  lại  nói  hay  viết  theo  giọng  điệu  biện  hộ  như  J.  P.  Honey  hay  Hallberstam,  tuy  cũng  xác
nhận việc Nguyễn Tất Thành bán Phan Bội Châu nhưng lại ca tụng Nguyễn Tất Thành và coi
như đó là một hành động tài trí. 

Mọi người đều biết Cộng Sản tồn tại là nhờ nói dối. Nói dối lem lẻm. Nói dối sùi bọt mép.
Nói dối như Cuội. Nói dối không ngượng miệng. Nói dối ngày này qua ngày khác. Biết là nói
dối mà vẫn cứ nói dối, cho nên sách báo của Cộng Sản là xuyên tạc, là sửa chữa không còn
trung thực theo nguyên bản. 

Từ trước tới nay Cộng Sản luôn luôn nói là chiến đấu để dành độc lập cho dân tộc nhưng thực
tế  lại  dâng  đất  dâng  biển  cho  Tàu  Cộng.  Bàn  tay  Cộng  Sản  đẫm  máu  trong  vụ  “Thảm  sát
6000 thường dân vô tội trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân tại Huế”, bây giờ chúng
lại ngày đêm tuyên truyền là do quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Cho nên chúng ta cũng không
ngạc nhiên khi thấy những bài viết bịa đặt dựng đứng của Việt Cộng về việc giao thiệp giữa
Phan Bội Châu và đại diện cộng sản tại Bắc Kinh, hay việc gặp gỡ giữa Nguyễn Tất Thành
và Phan Bội Châu, cho rằng cụ Phan Bội Châu đã đi theo cộng sản. 

Ban Tuyên Huấn Cộng Sản đã cho lũ bồi bút viết về cụ Phan Bội Châu trên Wikipedia:

“Cuối  năm  1924,  Hồ  Chí  Minh  từ  Mạc  Tư  Khoa  trở  lại  Quảng  Đông.  Hồ  và  Phan  liên  lạc
thư  tín  nhiều  lần  về  chương  trình  tổ  chức  mới  và  Phan  cố  gắng  thực  hiện  các  việc  như
thế.”. Ra tù, Phan Bội Châu lại tiếp tục hoạt động cách mạng. Năm 1922, phỏng theo Quốc
dân  Đảng  của  Tôn  Trung  Sơn,  ông  cải  tổ  Việt  Nam  Quang  phục  Hội  thành  Việt  Nam  Quốc
dân  Đảng.  Được  Nguyễn  Ái  Quốc  (lúc  này  đang  làm  Ủy  viên  Đông  phương  bộ,  phụ  trách
Cục  phương  Nam  của  Quốc  tế  cộng  sản)  góp  ý,  Phan  Bội  Châu  định  thay  đổi  đường  lối
theo hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa kịp cải tổ thì ông bị bắt cóc ngày 30 tháng 6 năm
1925."(Wikipedia­ Bản Việt ngữ).

Sự  thật,  trên  mặt  nổi,  Lý  Thụy  làm  cán  bộ  phiên  dịch  cho  phái  đoàn  cố  vấn  của  Chính  phủ
Liên Xô đến giúp Chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc nhưng trọng tâm của Lý Thụy là
chui  vào  Tâm  Tâm  Xã  và  các  tổ  chức  yêu  nước  khác  cũng  như  Việt  Nam  Quang  Phục  Hội
của cụ Phan Bội Châu, tung tiền mua chuộc, lũng đoạn cài người, và tuyên truyền chủ thuyết
Cộng Sản ngay trong khi cụ Phan bội Châu đang cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt
Nam Quốc Dân Đảng. 

Chúng xuyên tạc: Nguyễn Ái Quốc viết thư góp ý kiến với cụ Phan Bội Châu về đường lối và
phương pháp cách mạng.Cụ Phan tiếp thu những ý kiến đó(?!) nhưng chưa kịp sửa chữa sai
lầm của mình thì cụ đã bị đế quốc Pháp bắt đưa về nước năm 1925.

Đây cũng là một sự lừa bịp trắng trợn. Qua tài liệu của cả hai phía, Quốc gia cũng như Cộng
Sản, cho thấy cụ Phan Bội Châu là một nhà cách mạng có tinh thần cởi mở. Cụ đã gặp người
Nhật,  người  Trung  Quốc,  và  Cụ  cũng  muốn  tìm  hiểu  về  cách  mạng  Nga.  Vì  thế  năm  1920,
nhà cách mạng Phan Bội Châu đã đi Bắc Kinh gặp hai người Nga và thẳng thắn ghi lại cuộc
gặp gỡ đó trong tập Tự Phán các trang 196 ­ 198 như sau:

“Năm  Canh  Thân  (1920),  tháng  11,  tôi  nghe  được  người  của  Đảng  Xã  Hội  Cộng  Sản  của
nước Hồng Nga nhóm họp ở Bắc Kinh khá nhiều mà đại bản doanh của họ chính là nhà Bắc
Kinh đại học. Tôi vì tính sẵn ham lạ mà nghiên cứu chân lý của đảng Cộng Sản. Tôi đi Bắc
Kinh… tới thăm Thái Nguyên Bồi tiên sinh… Thái mới giới thiệu tôi với hai người Nga, một
người lao nông Nga La Tư du Hoa đoàn đoàn trưởng (tên chữ Nga tôi không nhớ được), một
người là Hán văn tham tán Lạp tiên sinh là thuộc viên của đại sứ Gia­Lạp­Hãn. Lần này là
lần thứ nhất mà tôi trực tiếp kết giao với người Nga. Tôi có hỏi Lạp tiên sinh rằng: “Người
nước  tôi  muốn  đi  du  học  quý  quốc,  nhờ  tiên  sinh  chỉ  vẽ  đường  lối  cho”.  Lạp  nói  rằng:
“Chính phủ Lao Nông đối với đồng bào thế giới ở nước Nga rất là hoan nghênh, người Việt
Nam nay du học lại tiện lợi lắm. Do Bắc Kinh đến Hải Sâm Uy, đường thủy, đường bộ thông
được  cả.  Do  Hải  Sâm  Uy  đến  Xích  Tháp  có  đường  sắt  vào  Tây  Bá  Lợi  Á,  đi  thấu  được  vào
Mạc  Tư  Khoa,  kể  hành  trình  chỉ  có  10  ngày  thôi.  Học  sinh  tới  Nga  tất  trước  phải  đến  Bắc
Kinh, có đại sứ nước Lao Nông ở đó, vào xin lĩnh chứng thư và giấy giới thiệu. Được chứng
thư của đại sứ thì từ Xích Tháp đến Mạc Tư Khoa, các tổn phí tiền xe và thực dụng thảy có
chính  phủ  Lao  Nông  ưu  đãi  cho.  Kể  từ  Việt  Nam  đến  đất  Nga,  nhu  phí  chỉ  trong  200  đồng
chắc dễ biện lắm.

Nhưng du học sinh trước khi vào học tất phải quyết tâm thừa nhận những điều kiện như dưới
này: 

2– Học thành rồi, về nước tất phải gánh lấy những việc tuyên truyền chủ nghĩa Lao Nông.

3– Học thành rồi, về trong nước mình phải ra sức làm những sự nghiệp cách mệnh.

Còn như phí tổn chi dụng trong khi tại học và khi về nước, nhất thiết do chính phủ Lao Nông
đảm nhiệm.

Bấy  nhiêu  lời  như  trên  là  những  lời  mà  lúc  ấy  tôi  hội  thoại  với  ông  Lạp.  Ông  Hoàng  Đình

Tuân  dùng  tiếng  Anh  thông  dịch  cho  tôi…  Người  Nga  khi  nói  chuyện  với  tôi  biểu  hiện  một
cách  hòa  ái  thành  thực,  tư  sắc  rành  thấy  là  không  đạm  không  nồng.  Tôi  còn  nhớ  một  câu
rằng: “Chúng tôi được thấy người Việt Nam là bắt đầu từ ông. Ông nếu dùng được chữ Anh
làm một bản sách kể cho hết chân tướng người Pháp ở Việt Nam đem cho chúng tôi, chúng
tôi cảm tạ mà không dám quên”.

Sau lần tiếp xúc này, Phan Bội Châu nhận thấy rõ “sự xảo quyệt của người Nga” nên từ khi
trở về Quảng Châu, cụ không gặp gỡ người Nga nữa. Nếu cụ muốn thì cụ đã đáp ứng yêu cầu
của người Nga cần gì đến Nguyễn Tất Thành. Chung quanh cụ thiếu gì người giỏi ngoại văn
như ông Hoàng Đình Tuân. Khi từ chối viết bản báo cáo này tức là cụ tháo lui sau khi nhìn
thấu lòng dạ bọn cộng sản Nga, cũng là một lũ thực dân đế quốc. 

Từ những sự kiện có thực trên, nhà biên khảo Nguyễn Thiên Thụ đưa ra kết luận: 

Việc Cộng Sản nói rằng Phan Bội Châu nghe lời Nguyễn Tất Thành là bịp bợm dối trá vì
nếu cụ Phan đồng ý thì cần gì phải trao đổi thư từ nhiều lần!

Nhà biên khảo Nguyễn Thiên Thụ kết luận: Phan Bội Châu khác với Nguyễn Tất Thành.

­ Phan Bội Châu sinh trưởng trong một gia đình nho giáo truyền thống, đã được cha già săn
sóc  và  huấn  luyện  còn  Nguyễn  Tất  Thành  sinh  trưởng  trong  một  gia  đình  bần  nông,  nguồn
gốc thuộc loại ba cha bảy mẹ, cha lại say mê rượu, nghèo phải bế em đi xin sữa. Cái nghèo
cực độ và sự bất hạnh của gia đình đã khiến ông trở thành tàn nhẫn và lưu manh!

­  Phan  Bội  Châu  đã  có  học  vấn  cao,  lại  kinh  lịch  nhiều.  Cụ  đã  kinh  qua  cuộc  giao  tiếp  với
Nhật Bản và Trung Quốc, cụ đã hy vọng và thất vọng cho nên cụ đã chủ trương tự lập. Trong
khi  đó,  Nguyễn  Tất  Thành  tuổi  trẻ  nhiều  tham  vọng,  được  ai  hứa  hẹn  là  xông  vào,  chỉ  nhìn
thấy lợi trước mắt mà quên hại sau lưng cho nên được Nga hứa hẹn là lăn xả vào bất chấp
đạo nghĩa.

­ Cộng sản luôn đề cao mình mà khinh miệt người. Trần Dân Tiên luôn đề cao mình chỉ nói
về  Phan  Bội  Châu  trong  một  câu  ngắn  ngủi,  chê  cụ  Phan  là  "đuổi  cọp  cửa  trước,  rước  beo
cửa sau.”(20). Thực tế thì hai bên cũng giống nhau mà cũng khác nhau. Giống nhau vì hai
bên đều vọng ngoại, một bên tin Nhật, một bên tin Nga, Tàu. Nhưng rồi năm 1909, Nhật trở
mặt, khiến cho Phan Bội Châu nhận thức được cái tai hại của vọng ngoại mà thức tỉnh, còn
Nguyễn Tất Thành thi say mê Nga Tàu, bán mình và bán nước cho Nga Tàu, hậu quả là ông
đã gây ra những cuộc diệt chủng kinh hoàng và đưa nước ta vào vòng lệ thuộc Trung Cộng.

Một  tên  bồi  bút  cộng  sản  khác  tên  Đặng  Hòa  khi  thuật  lại  chuyện  ông  Đào  Duy Anh  đến


Click to View FlipBook Version