Tháng 2 2008, hãng tin Nga (RIA Novosti) đưa tin một cựu phi công Liên Xô, ông Yury
Trushvekin, nói chính ông là người đã bắn hạ phi cơ của ông John McCain trên bầu trời Hà
Nội năm 1967 và hãng tin Nga cũng nói sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại Bắc Việt Nam
hồi đó “chưa bao giờ được công nhận chính thức” dù sau khi Liên Xô tan rã các nhóm “cựu
chiến binh từ Việt Nam’ của Nga vẫn làm lễ kỷ niệm không chính thức.
Ông Nicolai Kolesnhik, một cựu chiến binh Nga ở Việt Nam, trả lời trang web của Nga, nói
từ năm 1965, ông cùng các đơn vị Liên Xô tham gia phòng thủ Bắc Việt Nam bằng tên lửa
chống lại không quân Hoa Kỳ. Ông Kolesnhik cũng nói về sự giúp đỡ quân sự của Liên Xô
rất lớn "khoảng hai triệu USD một ngày trong suốt tất cả những năm chiến tranh" trong đó vũ
khí, khí tài chiếm số lượng lớn. "Hai nghìn xe tăng, bảy nghìn pháo và súng cối, hơn năm
nghìn súng cao xạ phòng không, 158 tổ hợp tên lửa phòng không, hơn 700 máy bay, 120 máy
bay trực thăng, hơn 100 tàu chiến.
Ông cũng cho biết: "Từ tháng 7/1965 đến cuối 1974 gần 6500 tướng lĩnh sĩ quan và hơn
4500 hạ sĩ quan binh lính của các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia tác chiến tại Việt
Nam."
Trường hợp Bắc Hàn tham chiến tại Việt Nam thì phải đến năm 2000, nghĩa là 25 năm sau
ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, lần đầu tiên Bắc Hàn và Việt Nam mới xác nhận rằng
phi công Bắc Hàn đã tham chiến chống các cuộc tấn công không quân của Hoa Kỳ tại miền
Bắc Việt Nam.
Tuy vậy, sự xác nhận đó không đi kèm theo việc công bố bằng chứng nào về sự hỗ trợ của
quân đội Bắc Hàn. Năm 2007 báo Tuổi Trẻ, Sài Gòn, tiết lộ vào năm 2002, 14 phi công Bắc
Hàn bị giết trong chiến tranh và được chôn ở tỉnh Bắc Giang hài cốt của họ nay được đưa về
lại Bắc Hàn.
Theo tài liệu này, ngày 21/9/1966, Bình Nhưỡng gửi một đơn vị không quân tình nguyện
sang Việt Nam chiến đấu. Đơn vị này sẽ "tổ chức thành từng đại đội nằm trong đội hình trung
đoàn không quân của ta, mặc quân phục Việt Nam, cùng sử dụng một sân bay". Theo văn bản
cuộc họp, Võ Nguyên Giáp kết luận: "Bộ đội không quân Triều Tiên mang danh nghĩa là
chuyên gia, nhưng thực chất là quân tình nguyện. Vì vậy, ta phải đoàn kết tôn trọng bạn"
(Wikipedia)
Báo Tuổi Trẻ năm 2007 tiết lộ vào năm 2002, 14 phi công Bắc Hàn bị giết trong chiến tranh
và được chôn ở tỉnh Bắc Giang hài cốt của họ nay được đưa về lại Bắc Hàn. Trong lá thư
gửi tờ báo để đính chính một số chi tiết, một viên tướng về hưu của Việt Nam cho hay 87
người lính Bắc Hàn đã phục vụ ở Việt Nam từ 1967 đến đầu 1969. 14 người được phong liệt
sĩ và các chiến binh Bắc Hàn được nói đã bắn rơi 26 máy bay Mỹ.
Báo Tuổi Trẻ Hanoi đăng hình quân nhân Bắc Triều Tiên đến giúp Hanoi trong thời chiến
tranh Việt Nam
Mặt thật của Hồ Chí Minh
Một kịch sĩ lưu manh quỷ quyệt:
Với bản chất xảo trá ranh mãnh lại được trui luyện tại lò Mật Vụ Cộng Sản Nga Sô nên Hồ
Chí Minh trở thành muôn mặt. Bởi vậy muốn biết mặt thật Hồ Chí Minh không còn cách nào
xác thực hơn là tìm kiếm những sự kiện liên quan đến cuộc đời của con người này.
Nhìn lại tình trạng đất nước vào thời điểm 1945: Nạn đói hoành hành giết gần hai triệu trong
tổng số hai mươi lăm triệu đồng bào. Dân tình cực khổ. Sự căm hận thực dân đế quốc sôi sục
trong lòng mọi người nên khi nghe chuyện đi kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp là toàn
dân ùn ùn hưởng ứng.
Tuy nhiên, đã có rất nhiều người từng đi kháng chiến cho đến khi biết được mặt thật của Hồ
Chí Minh liền dứt khoát bỏ về thành ẩn thân với tâm trạng uất hận cay đắng. Tiêu biểu nhóm
người này là cụ Trần Văn Hương, các ông Trần Chánh Thành, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
(Bộ Trưởng Ngoại Giao trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh), Vũ Hồng Khanh (Phó
Chủ Tịch Quân Ủy Hội Võ Nguyên Giáp làm Chủ Tịch), Trần Văn Văn (bị ám sát tại
Saigon và cũng là thân phụ anh hùng Trần Văn Bá), Hoàng Văn Chí, Quách Tòng Đức, Đoàn
Thêm, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ, Chu Tử, Lê Thương, Vũ Đức Diên, Văn Phụng, Y
Vân, Ngọc Bích, Thanh Nam, Võ Phiến, Lê Trọng Nguyễn, Phan Lạc Phúc....
Một số nghĩ rằng việc đánh thực dân Pháp là cần thiết, mọi chuyện trong nhà sẽ tính sau, để
rồi trở tay không kịp như cụ Nguyễn Văn Tố, các ông Nguyễn Hữu Đang, và nhóm Nhân
Văn Giai Phẩm.
Một số lầm đường mắc bẩy sau muốn thoát ra nhưng bị canh chừng nghiêm nhặt chặt chẽ
từng ly từng bước nên không tìm được lối thoát như Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Huy Thông,
Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Văn Cao....
Nên nhớ, khi vừa cướp được chính quyền vào năm 1945, Hồ Chí Minh đã dùng thủ đoạn lấy
lòng dân bằng cách mời một số nhân sĩ có uy tín trong nước tham gia Chính Phủ Liên Hiệp
Lâm Thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Cụ Nguyễn Hải Thần, Việt Cách (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội) làm Phó Chủ Tịch
Nước
Cựu Hoàng Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) làm Cố Vấn
Cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ.
Nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính) làm Bộ Trưởng Bộ ngoại
Giao.
Khi Hồ Chí Minh sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau năm 1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng
được cử làm Quyền Chủ Tịch nước Việt Nam. Ngoài ra cụ còn được giao cho chức vụ Chủ
tịch Mặt Trận Liên Việt (viết tắt của Liên Hiệp Quốc Dân Việt Nam).
Trong tác phẩm “Một Cơn Gió Bụi” sử gia Trần Trọng Kim ghi lại thì khi được hỏi về công
việc trong thời gian này, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói: "Bây giờ việc gì cũng do địa phương
tự trị cả, thành ra không có việc gì mấy, và khi có việc gì, thì họ làm sẵn xong cả rồi, tôi chỉ
có vài chữ ký mà thôi". Rõ ràng là Cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ được ăn bánh vẽ.
Ngoài những trường hợp kể trên còn có một số bị tha hóa vì quyền lực và lợi lộc, biết sai lầm
nhưng vẫn như bầy kên kên rúc rỉa xác người, sống thoải mái trên xương máu của đồng bào.
Tiêu biểu nhóm này là Nguyễn Đình Thi, Hoài Thanh, Hoài Chân, Huy Cận, Nguyễn Tuân,
Chế Lan Viên, Xuân Diệu....
Vào lúc cuối đời Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi đã viết những bài thơ sám hối.
Chế Lan Viên với Bánh Vẽ:
...Chưa cần cầm lên nếm
anh đã biết là bánh vẽ.
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp.
Chả là nếu anh từ chối,
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Ðêm vui....
Nguyễn Đình Thi rõ ràng hơn:
Tất cả người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh, nhuốm đỏ
Tay tôi vương nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình
Thôi!
Xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn…
(Sổ Tay Thơ, tập 5)
Riêng Nguyễn Tuân, sau này khi vào Sài Gòn đã tâm sự: “Tớ sống được là nhờ biết sợ”. Sợ
là phải! Đối mặt với ác quỷ sát nhân thì ai mà không sợ nhưng đã mang danh kẻ sĩ tại sao lại
không im lặng co rút lại như Văn Cao, Nguyên Hồng, Tử Phác.... Tệ hơn nữa, Nguyễn Tuân
và bầy kên kên lại ngày đêm viết bài ca tụng đánh bóng chế độ, lường gạt người dân.
Rõ ràng Nguyễn Tuân một lần nữa lại cố tình đánh lận con đen. Cho nên, nói sợ là không
đúng. Phải nói là hèn, là khiếp nhược, là tán tận lương tâm... Với Nguyễn Tuân, sau bộ mặt
cao ngạo kênh kiệu giả tạo là khúm núm khiếp nhược với Ngày đầy tuổi tôi cách mệnh xác
định sự vững tin (?) vào “lập trường Cách Mạng" (?), và bài tự kiểm thảo "Nhìn rõ sai lầm"
kế đó là “Nguyễn Tuân tự phê bình” in trên Văn nghệ tháng 5, năm 1958 để "nhận tội"
Theo lời kể của Nguyễn Đình Thi hôm trước B52 mới bỏ bom ác liệt thì ngay hôm sau trên
báo Nhân Dân đã có bài của Nguyễn Tuân viết về một đám cưới bên trận địa cao xạ. Với tập
Hà nội ta đánh Mỹ giỏi in năm 1972, Nguyễn Tuân đã trở thành cán bộ văn hóa (hay văn
nô?). Trường hợp Nguyễn Tuân đúng là tác phẩm gắn liền với cuộc đời: “Vang Bóng Một
Thời... Lưu Manh”
Đã có nhiều học giả Tây phương đã viết bài về khả năng đóng kịch với ý định lừa dối của tên
lưu manh xảo quyệt tàn hại dân tộc Việt Nam này.
"Gian dối là nền tảng trong sự nghiệp Hồ Chí Minh và đảng ông ta" (Blum 1982, 218). Hồ có
khả năng hèn nhát (Brocheux 2007, 159); ông ta có tài cải trang và nói láo (sđd., 137). "Hồ
Chí Minh là một tên lừa đảo xuất chúng, suốt đời giả bộ là một người hoàn toàn ngược lại
con người thực sự của ông ta" (Nixon 1986, 32). Jean Lacouture, một học giả Pháp, phóng
viên, sử gia, và tác giả nhiều sách tiểu sử về các lãnh tụ thế giới, viết Hồ Chí Minh là một
nhà sản xuất phim kịch chuyên nghiệp. "Ông ta lúc nào cũng dàn dựng sân khấu cho chính
ông ta, lúc nào cũng nhìn mọi tình trạng với mắt người sản xuất phim kịch." Lacouture kể
một chuyện tiêu biểu cho tài đóng kịch của Hồ. Khi Hồ tới Pháp năm 1946, ông ta được mời
tới tòa Đô chính. "Ban đầu ông ta từ chối mọi thức ăn thức uống, nhưng sau đó ông ta đổi ý,
lựa một trái táo đẹp, bỏ vào túi và, trước tia nhìn kinh ngạc của Chủ tịch [Hội đồng Thành
phố Paris, Henri Vergnolle], bước ra khỏi tòa nhà; kế tiếp ông ta bước vội xuống mấy bậc và,
trước đám đông reo hò, đưa trái táo cho một bé gái. Đối với những người ái mộ Hồ, hành
động đó phản ảnh bản chất hòa nhã lịch sự và lòng yêu thương trẻ em của ông ta. Tuy nhiên,
đối với đa số, đó chỉ là một thủ thuật rẻ tiền để lấy lòng thiên hạ.
Độc ác tàn nhẫn:
Trong quyển “Death by Government”, tác giả Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa chính trị học
đại học Yale, sau nhiều năm tìm tòi đã lập bảng thống kê cho biết con số nạn nhân tại một số
quốc gia dưới sự cai trị của các tên độc tài được xếp theo thứ tự như sau:
(1) Mao’s Regime 76,702,000 (19581962 là 35,236, 000; PRC từ 1928 1987 là 76,702,000
người).
(2) Lenine, Staline (Liên Xô) 61,911.000 người.
(3) The Nazi Genocide State (Hitler 20, 946, 000 người).
(4) Quân phiệt Nhật 5,964.000 người.
(5) Khmer đỏ 2,035.000 người. (ponpot)
(6) Thổ Nhĩ Kỳ 1,883.000 người.
(7) Hồ Chí Minh, Cộng sản Việt Nam 1.670.000 người.
(8) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người.
(9) Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.
Trong một bài diễn văn tố cáo chế độ tù đày của thực dân Pháp đọc ngày 151960, Hồ Chí
Minh đã công bố rằng 31 thành viên đương nhiệm của ban chấp hành trung ương của Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã bị giam tổng cộng là 222 năm trong các nhà tù của thực dân Pháp.
Để so sánh, trong buổi lễ khánh thành đài tưởng niệm nạn nhân cộng sản tại Washington ngày
1362117 Ban Tổ Chức lễ đài đã cho biết: Theo tài liệu nghiên cứu có tính hàn lâm tại Hoa
Kỳ và Âu Châu đã được phổ biến “According to the published academic studies in the United
States and Europe…” thì số nạn nhân của các “trại tù cải tạo” do Hà Nội thiết lập còn cao gấp
mấy trăm ngàn lần
...Có ít nhất 150 “trại tù cải tạo” sau khi Sàigòn sụp đổ. Hơn 1 triệu nạn nhân đã bị giam giữ
không bị chính thức kết tội hay xét xử (without formal charge or trial) 165,000 nạn nhân chết
tại các “trại tù cải tạo.”
Có những nạn nhân đã bị giam giữ tới 17 năm, và theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì đại đa số
nạn nhân bị giam giữ từ 3 tới 10 năm, “…according to the U.S. Department of State, most
term ranging from 3 to 10 years…” Nếu lấy con số trung bình là 3 năm tù cho mỗi người thì
số năm tù của một triệu nạn nhân là 3 triệu năm...
Tóm lại Hồ Chí Minh là một tên dối dân hại nước. Lòng tham vọng và tâm địa thấp hèn đã
biến Hồ Chí Minh thành tên đồ tể, tạo sự nghiệp cho mình trên chết chóc của hàng chục triệu
người dân vô tội. Với chủ trương lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện, Hồ Chí Minh
cùng băng đảng Cộng Sản đã gây ra vô vàn tội ác. Hồ Chí Minh kín đáo giết Hồ Tùng Mậu,
giết Huỳnh Thúc Kháng, giết Nguyễn Văn Tố, giết Nguyễn Bình, giết Nguyễn Mạnh Tường,
giết Trần Đức Thảo... rồi làm lễ truy tặng truy phong và cho đàn em mang vòng hoa tới
phúng viếng.
Lợi dụng và lường gạt giai cấp công nông:
Hồ Chí Minh từng sống tại nước Nga nhiều năm nên không thể không biết đời sống người
dân Nga Sô dưới chế độ độc tài đảng trị cùng khốn và cơ cực như thế nào. Hồ Chí Minh cũng
không thể không biết những vụ thủ tiêu, thanh trừng, hoặc những trại tập trung giết oan hàng
triệu người trong các trại tập trung ở Tây Bá Lợi Á. Vậy mà Hồ Chí Minh vẫn rêu rao đảng
Cộng Sản đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân và đem chủ thuyết
Mac Lenin về Việt Nam
Thực ra Cộng sản và Hồ Chí Minh chỉ lợi dụng hai giai cấp này để làm bàn đạp thâu tóm
quyền lực. Nhìn lại tất cả các nước từng theo chủ nghĩa Cộng Sản và ngay tại đất nước Việt
Nam, ai ai cũng thấy hai giai cấp công nhân và nông dân đã bị bóc lột một cách thậm tệ và
tàn nhẫn nhất.
Ngoài việc hai giai cấp công nông được phong thánh bằng cái búa và cái liềm trên lá cờ máu
thì ngày ngày phải làm việc trong các nông trường hay công trường tập thể và phải hoàn
thành chỉ tiêu như những người máy. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, làm thêm giờ
nghỉ. Hết thi đua mừng kỷ niệm lại thi đua lập thành tích dâng Đảng dâng Bác. Trung bình
một người mỗi ngày phải còng lưng làm việc 10 giờ mà mỗi tháng chỉ được 13 kí gạo, không
đủ hai bữa cơm ăn. Vinh quang duy nhất của họ là chiếc bánh vẽ anh hùng lao động, anh
hùng tiên tiến còn tất cả đặc quyền đặc lợi đều nằm trong tay bọn cán bộ đảng viên.
Khi bức tường Bá Linh bị đập nát kéo theo sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản trên toàn thế
giới thì Cộng Sản Việt Nam phải đưa ra chủ trương đổi mới để sống còn. Nhờ vậy cuộc sống
hai giới công nhân và nông dân mới hết cảnh phải ăn bo bo như trâu bò, hay cảnh phân phối
tem phiếu lương thực mỗi năm vài kí thịt, vài thước vải.
Mà đổi mới là gì? Là lập lại những gì của Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa ngày trước ngoại
trừ người dân được quyền hưởng tự do.
“Hạ bộ” của Hồ Chí Minh là Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Định số 37/2006/CT/TTg ngày
29/11/2006 kiên quyết không để tư nhân hóa báo chí với bất cứ hình thức nào trong khi điều
69/1992 Hiến Pháp Cộng Sản quy định công dân có quyền tự do báo chí thông tin lập hội
biểu tình.
Ngày nay, tuy trong nước có hàng chục đài phát thanh, phát hình, hàng chục tờ báo và hàng
trăm tạp chí khác nhau nhưng tất cả đều trực thuộc Ban Tuyên Huấn Đảng. Tổng Biên Tập
tức Chủ Nhiệm hay Chủ Bút đều phải là cán bộ Đảng. Bài viết, bài nói phải đi theo lề phải,
nghĩa là phải cúc cung ca tụng Đảng và phục vụ chế độ. Vì thế người dân bị bịt tai, khóa
miệng vì không còn nguồn thông tin nào khác. Rất may nhờ thời đại tin học nên một số người
có điều kiện và phương tiện đã lén lút truy cập được một số tin tức từ bên ngoài. Nhưng với
Cộng Sản, đây là một tội phạm hình sự phá hoại chế độ. Nếu bắt được sẽ bị truy tố và bị tống
giam vào trại tù cải tạo.
Cũng chính vì không cho người dân quyền tự do nên nảy sinh ra chế độ công an trị. Trong
một nước nhỏ bé mà có gần một chục viên Đại Tướng, Thượng Tướng Công An. Con số
Trung Tướng, Thiếu Tướng thì đếm không hết. Tổng số công an lên đến hàng triệu. Không có
ngành nghề gì mà không có con mắt cú vọ của công an: Công an chìm, công an nổi, công an
tổ, công an phường, công an khu phố, công an chính trị, công an văn hóa, công an tôn giáo...
hoặc dưới dạng cán bộ hoặc dưới dạng dân thường len lỏi khắp chỗ khắp nơi để rình rập và
kiểm soát người dân.
Chỉ với một xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, một xã rất nghèo, có
2.000 hộ mà có tới… 500 “cán bộ”. Chia đồng đều thì cứ 4 gia đình lại có một cán bộ kiểm
soát. Nguyên văn đoạn viết dưới đây trên báo Tiền Phong, cơ quan ngôn luận của thành đoàn
thành phố HCM, đã để lộ ra sự thật:
...Vì “cán bộ đông như châu chấu” nên người dân ở đây sống rất cơ cực. Không cơ cực sao
được khi một củ khoai, hạt lúa cõng trên mình nó gần 20 loại thuế (phí)? Và để có khoản tiền
khổng lồ nuôi đám “đầy tớ vĩ đại”, họ “bóp hầu, bóp họng” người dân bằng chính sách tận
thu.....
...Nông dân Quảng Vinh còn nghèo lắm, số hộ nghèo còn tới 30,6%. Trang trải cuộc sống
hàng ngày đã khó huống hồ phải đóng góp để nuôi cán bộ. Nhưng không đóng không được,
bởi tất cả các khoản đều được quy ra thóc, dân không tự nguyện thì cán bộ lấy lúa ngoài
đồng. Đừng có hòng chạy thoát. Mà giả sử có chạy đợt này thì xã lại ghi vào sổ nợ rồi cho
người đòi liên tục, đòi đến lúc nào thanh toán đủ mới thôi”...
Ông Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Cộng Sản Hà Nội đã xác nhận
thực trạng trong bài “Lạm phát đầy tớ” với câu mở đầu: “Ít ở đâu trên thế giới, đầy tớ (cán
bộ, quan chức) của nhân dân lại nhiều như ở ta!”.
Cán bộ Cộng Sản nhiều như giòi bọ, rút gan rút ruột người dân, nên thực chất chỉ Cộng Sản
chỉ là ký sinh trùng hại dân hại nước. Ngày nay ai cũng rõ băng đảng Cộng Sản là tụ điểm
của bọn cướp ngày, lưu manh, bịp bợm, côn đồ, ăn bám, phá nát, làm hại. Trong khi người
dân phải nai lưng làm việc thì cán bộ đảng viên đi họp đi hành. Khi chia điểm chia công thì
đảng viên cán bộ luôn luôn có số điểm cao nhất mà không ai dám hé miệng. Đó là chưa kể
những việc lộng quyền, cậy thế, hà hiếp, cưỡng đoạt rồi phủ bênh phủ huyện bênh huyện.
Đảng viên cán bộ nào phạm tội có chứng cớ không thể chối cãi được thì chỉ bị kiểm điểm rồi
thuyên chuyển đến chỗ khác, có khi còn nắm giữ chức vụ cao hơn.
Đố ai dẫn chứng được những tên Cộng Sản là những tên trực tiếp lao động sản xuất ra của cải
góp phần xây dựng trong đời sống. Chúng chỉ biết làm lãnh đạo và làm cán bộ, nghĩa là chỉ
biết nói dóc, lao động bằng miệng. Chúng chỉ biết phỉnh gạt, nói dối, lật lọng và phản bội.
Chúng nói nhân dân làm chủ nhưng thực tế nhân dân là kẻ phải còng lưng làm việc. Chúng
nói cán bộ đảng viên là đầy tớ nhân dân nhưng những tên đầy tớ này đè đầu cỡi cổ ông chủ
ăn trên ngồi trốc chỉ tay năm ngón, bắt ông chủ làm việc và khai thác ông chủ đến tận xương
tủy.
Tổng Bí Thư Cộng Đảng Nga Sô Boris Yeltzin cũng phải nhìn nhận: Cộng Sản phải hủy bỏ
chứ không thể thay đổi. Năm 1991 ông ta đã giải tán đảng Cộng Sản, vứt cờ búa liềm,
chuyển đổi đế quốc Nga Cộng thành nước Nga mới ngày nay.
Sổ ghi các thứ thuế người dân phải đóng.
Những thứ thuế lạ đời độc ác ngay cả thời phong kiến thực dân đế quốc cũng không có.
Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s th t v con ng i muôn m t H Chí Minh (ph n 8)
Hồ
Chí
Minh
dâng
Việt
Nam
cho
Tàu
cộng
Lê
Minh Khôi (Danlambao) Trung Cộng tận lực viện trợ cho Cộng Sản Việt Nam trong suốt
hai cuộc chiến không phải vì nghĩa vụ quốc tế hay vì tình đồng chí mà chỉ vì tham vọng bành
trướng, bá quyền.
Năm 1949, ngay sau khi chiếm đoạt được Trung Hoa thì Mao Trạch Đông lập tức thực hiện
giấc mộng thôn tính các nước láng giềng. Phía Tây xua quân chiếm Tây Tạng. Phía Bắc vào
tháng 31969 đụng độ với Nga tại vùng đảo Damansky (đảo Trân Bảo) trên sông Ussuri
(Nga) dù rằng Mao Trạch Đông và Cộng Đảng Trung Quốc được Cộng Đảng Nga Sô giúp đỡ
từ năm 1930. Phía Đông xua quân sang Triều Tiên giúp Kim Nhật Thành trong vỏ bọc kháng
Mỹ viện Triều và phía Nam tiếp tay Việt Cộng trong mặt trận Cao Bắc Lạng đánh tan quân
đoàn Le Charton và Le Page, sau đó cho nhóm cố vấn Trần Canh, Lã Quý Ba..... kín đáo chỉ
huy mặt trận Điện Biên Phủ hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam. Sau hiệp định Geneve năm
1954 Trung Cộng lại tiếp tục viện trợ tối đa vũ khí quân trang quân dụng và đưa quân đội
sang ăn mặc trá hình giống hệt Việt Cộng, giúp Việt Cộng giữ Miền Bắc để Việt Công dốc
toàn lực thôn tính Miền Nam và từng bước từng bước thôn tính Việt Nam, nằm trong kế sách
dùng người Việt giết người Việt, làm cho dân Việt hai bên giết nhau, chết càng nhiều càng
tốt, để dễ bề tràn xuống phương Nam.
Theo ghi nhận của hai cây bút biên khảo Mai Thái Lĩnh và Trương Nhân Tuấn thì Hồ Chí
Minh đã cắt đất Việt Nam dâng cho Trung Cộng một cách âm thầm lén lút như sau:
Năm 1953, nhượng khu vực Trà Mần và Suối Lũng, huyện Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng, tại
cột mốc biên giới số 136137 và cho Trung Quốc đưa dân xâm cư với tên xã mới "Si Lũng"
sâu trong lãnh thổ Việt Nam.
Năm 19551956, Cộng Sản Hà Nội đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ
1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới
dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa
ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần
thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong” Cũng vào thời gian 19551956 Hồ Chí
Minh nhượng sâu vào lãnh thổ Việt Nam 300 mét, xây dựng đoạn đường sắt khu vực Hữu
Nghị Quan, từ biên giới TrungViệt đến Yên Viên, gần Hà Nội. Cùng năm ấy, nhượng thêm
vùng đất của xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng thuộc tỉnh Lạng Sơn trên 3,100 km, chiều sâu
0,500 km.
Năm 1956 Hồ Chí Minh lại thầm lặng chấp thuận cho Trung Cộng san bằng núi Khâu Thúc
tại xã Thanh Loa thuộc huyện Cao Lộc, phá hủy ba cột mốc biên giới số 25, 26, 27, nhượng
xã Khẳm Khau thuộc tỉnh Lạng Sơn, phá hủy hai cột mốc biên giới số 1719. Tiếp theo là
nhượng đất tỉnh Hoàng Liên Sơn, chiều dài hơn 4 km, sâu vào lãnh thổ Việt Nam hơn 1 km;
diện tích hơn 300 héc ta. gồm hai thôn Minh Tân, Tả Lũng và một làng Phù Phìn, thuộc tỉnh
Cao Bằng. Phá hủy cột mốc biên giới số 14.
Năm 1957, nhượng quặng mõ than chì từ thị trấn Ái Ðiểm, Chi Ma thuộc tỉnh Lạng Sơn,
đến xã Bình Mãng và xã Sóc Giang, tỉnh Cao Bằng, phá hủy thêm hai cột mốc biên giới số
43114, và khu vực Phia Un hai cột mốc số 9495, thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Liền
đó nhượng thêm 500 mét sâu vào biên giới trên đỉnh núi Phia Un, khu vực Chi Ma thuộc tỉnh
Lạng Sơn. Đất của ba xã Kùm Mu, Kim Ngân, Mẫu Sơn thuộc tỉnh Cao Bằng mất trắng. Bốn
cột mốc biên giới số 136, 41, 42, và 43 thuộc tỉnh Lạng Sơn, chiều dài 2,5 km, diện tích gần
1.000 héc ta đã hoà tan vào đất Hán. Khu vực Nà Pảng, Kéo Trình thuộc tỉnh Cao Bằng, phá
hủy ba cột mốc số 29, 30, 31, chiều dài 6,450 km, sâu vào lãnh thổ Việt Nam 1,300 km; diện
tích gần 200 héc ta, nay thuộc về Trung Quốc.
Năm 19671968, nhượng cho Trung Cộng xóm dân Mèo, tại khu vực giữa cột mốc biên giới
số 2 và số 3, thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mường Khương, tỉnh Hoàng Liên Sơn, với tên mới
"Sìn Sài Thàng" sáp nhập vào tỉnh Vân Nam Trung Quốc.
Năm 1974 cho phép Trung Cộng phá đường biên giới của Công ước Pháp˗Thanh 1887, xây
dựng công xưởng, lập công xã trong lãnh thổ Việt Nam
Tiếp nối Hồ Chí Minh những tên Cộng Sản hậu duệ vì quyền lợi và sự sống còn của chúng đã
tiếp nối việc làm của tên đầu sỏ bán nước. Năm 1999 Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Cộng Sản
Hà Nội Lê Công Phụng đã chính thức ký hiệp nghị dâng một nửa thác Bản Giốc cho Trung
Cộng.
So sánh bản đồ về đường biên giới mới và các cột mốc mới tại vùng này với bản đồ “ Trùng
Khánh 6354IV” năm 1979 do Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 1980. Mặc dù địa hình
của cồn Pò Thoong và khu vực lân cận cũng như vùng đất phía tả ngạn ở hạ lưu của Thác
Bản Giốc đã bị phía Trung Quốc làm biến đổi khá nhiều nhằm che giấu việc chiếm đất,
chúng ta vẫn có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai đường biên giới mới và cũ. Cột
mốc số 53 đã bị dời về phía tâynam để tạo ra cột mốc mới 835 đối diện với cồn Pò Thoong.
Vì thế, đường biên giới đáng lẽ chỉ trùng với trung tuyến của dòng sông ở hạ lưu thác lại đi
ngang cồn Pò Thoong ở phía thượng lưu và sau đó chia cắt một nửa phần thác chính cho
phía Trung Quốc. (Nguồn: Điện báo Quê Choa).
Cùng với việc dâng thác Bản Giốc là việc dâng vùng đất thuộc ải Nam Quan. Chúng ta
không phủ nhận việc xây dựng ải Nam Quan là do người Tàu và xây dựng trên đất Tàu bởi
một lẽ giản dị là nếu Việt Nam xây cất cửa ải này thì phải gọi là ải Bắc Quan. Trước đây ải
Nam Quan nằm ngay lằn ranh giữa Việt Nam và Trung Cộng. Bây giờ lằn ranh đó lấn sâu
vào Việt Nam hơn nửa cây số. Nhiều chỗ dọc theo biên giới đã bị lấn sâu đến 2 km và ngày
23022009 là một ngày đau thương của dân tộc vì ngày này Trung Cộng đã chính thức làm
lễ tiếp nhận lãnh địa mới do Cộng Sản Hà Nội triều cống." (Nguồn: Mai Thái Lĩnh Trương
Nhân Tuấn)
Tấm bia ghi rõ 1 bên là lãnh thổ Chine và 1 bên là Annam.
Rõ ràng như thế tại sao giờ lại nằm hẳn trong lãnh thổ của Trung cộng???.
Chúng ta biết rằng Trung Quốc là một nước lớn dân đông nên thường ỷ lớn ỷ đông đem quân
xâm lăng những nước lân bang trong đó có Việt Nam. Tự xưng mình là Trung Quốc (nước
ngay giữa trung tâm) còn các nước chung quanh vì đất đai nhỏ hẹp và dân số ít nên bị gọi là
chư hầu hay là “rợ” (man rợ). Tuy nhiên Trung Quốc cũng nhiều phen khốn đốn vì các “rợ”
và từng bị các “rợ” cai trị. Từ phương Bắc người Mông Cổ đánh nhà Tống lập ra triều
Nguyên (12711380), người Mãn Châu đánh nhà Minh lập ra triều đại nhà Thanh (1644
1917). Việt Nam vào triều đại nhà Lý có Lý Thường Kiệt đem quân đánh nhà Tống để đòi lại
hai đất châu Khâm và châu Liêm. Chính vì vậy mà Trung Quốc phải xây Vạn Lý Trường
Thành để chống lại các rợ miền Bắc. Cũng chính vì vậy mà Trung Quốc phải xây dựng ải
Nam Quan để đề phòng một Lý Thường Kiệt khác của Việt Nam tiến đánh từ phương Nam.
Thật ra người Tàu chỉ đề phòng thôi vì nước Tàu đất rộng dân đông gốc gác Hán tự xưng là
và thường là Trung Quốc ỷ lớn đi đánh chiếm lân bang chứ các nước nhỏ thường thì chỉ đánh
nhau với Trung Quốc để tự vệ chứ rất ít trường hợp đem quân đánh Trung Quốc
Việt Nam là một nước nhỏ bé dân ít đất hẹp lại bất hạnh nằm bên nước một láng giềng vừa to
rộng vừa lưu manh tham lam quỷ quyệt thì phải biết tìm chỗ dựa để bảo vệ đất nước. Chỗ dựa
đây không phải là lệ thuộc mà là liên minh với nhiều nước trên nhiều mặt. Như thế, vì quyền
lợi đa phương họ sẽ không để cho Trung Cộng mặc sức tung hoành. Tiếc thay Hồ Chí Minh
lại là cánh tay nối dài của Trung Cộng nên đã tận lực thực hiện âm mưu bành trướng của
Trung Cộng.
Ông Ngô Đình Nhu trong tập “Chính Đề Việt Nam, Tùng Phong, Saigon, 1963, trang
212” đã cảnh báo: Giả sử Bắc Việt chiếm được Miền Nam thì việc Trung Cộng thôn tính
Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian”.
Những diễn biến thời cuộc cho thấy tầm nhìn của ông Ngô Đình Nhu đã trở thành sự thật.
Sau khi Hồ Chí Minh chết, nhóm thân Nga đã bám vào Nga Sô. Lập tức Trung Cộng tiến
hành một cuộc chiến tranh khốc liệt tàn phá nhiều tỉnh phía Bắc Việt Nam như Cao Bằng,
Lạng Sơn, Hà Giang... và lấn chiếm các khu vực ở gần biên giới. Từ đó, Hà Nội từng bước
nhân nhượng Trung Quốc về lãnh thổ và lãnh hải.
Tai hại hơn nữa là sau khi đế quốc Cộng Sản Nga Sô sụp đổ thì Cộng Sản Hà Nội quá lo sợ
chỉ còn biết bám víu vào Trung Cộng để sống còn và nắm giữ đặc quyền đặc lợi. Một phái
đoàn cao cấp của Hà Nội gồm Tổng Bí Thư Đảng lúc đó là Nguyễn Văn Linh vội cùng Chủ
Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, Cố vấn Ban chấp hành Trung ương ĐảngPhạm Văn
Đồng lén lén lút lút sang khấu đầu trước Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc Giang
Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ Viện Trung Quốc Lý Bằng vào các ngày 3 và 4 tháng 9
năm 1990 dẫn đến hội nghị Thành Đô.
Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã chính thức công bố những chi tiết mà hai cơ quan này
gọi là sự thật về “Kỷ Yếu Hội Nghị Thành Đô” như sau:
Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt
Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ
cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn có lâu đời giữa hai đảng và nhân dân hai
nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá
khứ. Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính
quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng,
Quảng Tây…. Phía Trung Quốc chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30
năm (19902020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho
việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”(Nguồn Mặc Lâm RFA. 20140806).
Nhiều cơ quan truyền thông trên mạng cũng như trên báo chí cũng đã đăng tải nguồn tin dưới
đây xuất phát từ Wikileak:"Việt Nam chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền
Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…
Phía Trung Quốc chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm" (1990
2020).
Từ sau Hội Nghị Thành Đô rất nhiều thỏa hiệp được ký kết một cách vội vã: Hiệp ước về
biên giới trên đất liền 30.12,1999. Hiệp ước phân định lãnh hải 25,12.2000, tự nguyện quàng
vào cổ dây thòng lọng “16 chữ vàng” và “4 tốt” để bè lũ Trung Cộng thực hiện cuộc xâm
lăng “mềm”. Cũng vào thời gian này Hà Nội đã để các đoàn lao động Trung Quốc xâm nhập
sâu vào các nơi hiểm yếu trong nội địa nước ta, chấp thuận cho khai thác quặng mỏ Beauxit,
cho thuê dài hạn rừng vùng biên giới, để kinh tế Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam,
văn hóa Trung Quốc tràn ngập đất nước bằng phim ảnh, sách báo, các trường dạy Hoa ngữ,
v.v… tạo ra nguy cơ mất nước rất hiển nhiên. Mới đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại
khấu đầu trước Thiên Triều Đỏ, ký chóng vánh một bản Tuyên bố chung và 10 văn kiện quan
trọng chỉ trong một ngày 21.06.2013. Đây là sự khuất phục toàn diện vô cùng nhục nhã của
tập đoàn thống trị CSVN trước kẻ thù của Dân tộc là bọn “đại bá” Trung Cộng. (Nguồn:
Nguyễn Minh Cần Chuyện Dài Ra Đảng Và Đa Đảng).
Khi xảy ra vụ tranh chấp lãnh hải giữa Trung Cộng và Phi Luật Tân về hai quần đảo Trường
Sa, Hoàng Sa, dẫn đến các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của nhân dân Việt Nam thì nhà
nước Việt Nam ngậm câm. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng:
Bằng chứng số 1:
Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý
Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm
trịnh trọng bày tỏ: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần
đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc". Vụ trưởng Vụ châu Á
Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và
chỉ rõ: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc
ngay từ đời Nhà Tống".
Bằng chứng số 2:
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung
Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: "Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước
Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa". Ngày 6/9, trên trang
nhất của "Báo Nhân Dân"cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn
văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 1491958, Thủ tướng Chính
phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc
Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và
tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa", "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết
định này".
Bằng chứng số 3:
Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính
phủ Mỹ lập "khu tác chiến" của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: "Việc Tổng thống Mỹ Giôn
xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng
một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là
khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng".
Bằng chứng số 4:
Tập "Bản đồ Thế giới" do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản
tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.
Bằng chứng số 5
Sách Giáo Khoa Lớp 9 Phổ Thông do nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam 1974, Hanoi, ghi rõ
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Trong bài “Nước Cộng Hòa Nhân
Dân Trung Hoa” của tập sách này viết rằng: Từ các đảo Nam Sa (Trường Sa) Tây Sa
(Hoàng Sa) đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, Bằng Hồ (Đông Sa) và Châu Sơn (Trung Sa) đã
là một hình vòng cung tạo nên một dãy trường thành bảo vệ đất liền Trung Quốc.
Vài chi tiết sau đây cho thấy chẳng cần Trung Cộng ép buộc mà chính Hồ Chí Minh và băng
đảng Cộng Sản Hà Nội tự nguyện dâng nước Việt Nam cho Trung Cộng:
Ung Văn Khiêm, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Cộng giải thích trong một cuộc họp
báo: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy tín
cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền
Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung Quốc với ta là hai nước sông
liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này. Trung Quốc sẽ sẵn
sàng giao lại.”(Nguồn: Nguyệt san Đi Tới số đặc biệt “Trả Ta Sông Núi”, tháng 34/ 2002,
Đoàn Minh Hóa, trang 1314.)
Trong khoảng thời gian tháng 6 và tháng 72015 Cộng Sản Việt Nam cho phát hình chương
trình “Khát Vọng Đoàn Tụ” nhưng nền nhạc lại là nhạc Tàu. Đánh hơi biết là nhân dân và dư
luận phản đối dữ dội nên ngày 27/7/2015 VTV (Đài truyền hình Việt Nam) đã vội vàng xóa
toàn bộ dấu vết nhạc Tàu và chỉ định một “Cơ quan cấp trên có thẩm quyền” tiến hành kỷ
luật: Khiển trách đối với Ban Giám đốc Trung tâm Phát thanhTruyền hình Quân đội và chỉ
đạo xử lý nghiêm túc kíp thực hiện chương trình” và ra thông báo lấp liếm như sau:
Nhân dịp kỷ niệm 68 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ, Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy
tập hài cốt liệt sĩ (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Quốc gia 1237) đã chỉ đạo Trung tâm Phát thanh
Truyền hình Quân đội thực hiện Chương trình giao lưu nghệ thuật: “Khát vọng đoàn tụ”
được truyền hình trực tiếp trên Kênh VTV1/Đài Truyền hình Việt Nam. Kịch bản chương
trình đã được Ban Chỉ đạo Quốc gia 1237 và các cơ quan chức năng thẩm định, thông qua
và được tiến hành sơ duyệt, tổng duyệt. Đây là chương trình có ý nghĩa chính trị xã hội sâu
sắc mang đậm tính nhân văn, khơi dậy truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền
ơn đáp nghĩa” của dân tộc. Chương trình được tổ chức công phu, gây xúc động đối với khán
giả xem truyền hình. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chương trình truyền hình trực tiếp
đã không kiểm soát được nội dung để xảy ra sai sót là sử dụng một đoạn nhạc nước ngoài
vào trong chương trình. Cơ quan cấp trên có thẩm quyền đã tiến hành kỷ luật: Khiển trách
đối với Ban Giám đốc Trung tâm Phát thanhTruyền hình Quân đội và chỉ đạo xử lý nghiêm
túc kíp thực hiện chương trình.”
Một phái Cộng Sản Hà Nội cùng với toán Văn Công sang đóng các vai Thi Sách, Hai Bà
Trưng cùng tướng tá sang Đông Hưng làm lễ tạ tội với Mã Viện
Văn công Việt cộng sang làm lễ tạ tội với Mã Viện
Báo chí Trung Quốc đăng tải tin tức văn công Việt Cộng sang làm lễ tạ tội với Mã Viện. Bài
văn tế được phiên âm ra tiếng Việt. Có chỉnh sửa chính tả rõ ràng để văn công Việt Nam phát
âm chuẩn. (Tư liệu của CHÂN MÂY đăng trên Dân Làm Báo)
Xướng ngôn viên đài truyền hình VTV ngồi đọc tin trước cờ 6 ngôi sao của Trung cộng
ngày 14102011
Cờ Trung Cộng cho đến nay chỉ có 5 ngôi sao gồm một ngôi sao lớn biểu tượng cho dân tộc
Hán, 4 ngôi sao nhỏ bao quanh biểu tượng cho Mãn, Mông, Hồi, Tạng (Mãn Châu, Mông
Cổ, Hồi Giáo vùng Tân Cương và Tây Tạng). Mới ngày trước đó, cũng trên chương trình
thời sự của VTV cũng có hình cờ Trung Quốc, nhưng chỉ với 5 ngôi sao. Nay Việt Cộng cho
thêm một ngôi sao nhỏ nữa biểu tượng cho Việt Nam sẽ sát nhập vào Trung Cộng.
Học sinh và thiếu nhi Việt Nam bị bắt buộc cầm cờ sáu ngôi sao đi đón hoàng đế Trung
Quốc Tập Cận Bình ngày 21122011 (Hình: AFP/Getty Images)
Bản đồ ghi địa danh thủ đô Hà Nội dời lên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc
“Dời thủ đô Hà Nội sang Tàu”: Sao mà sớm thế?
Hoàng Sa, Trường Sa đã biến mất trên vùng biển Việt Nam.
Hình ảnh nguyên bản dưới đây do VTV3 phát sóng vào tối 252015 trong chương trình
Nhìn vào ảnh thì dù một em học sinh cấp 1 cũng biết được thủ đô Hà Nội của Việt Nam nằm
ở chỗ nào, nhưng trong bức hình cho thấy Thủ Đô VN đã được “ai đó” dời lên mãi tận phía
trên còn xa hơn cả đảo Hải Nam, nằm trong đất liền thuộc tỉnh Quảng Châu
(Guangzhou). Nguồn Hoàng Thanh Trúc (Danlambao)
Hồ Chí Minh và tội diệt chủng:
Tổng thống Nga Medvedev viết trên blog của mình ngày 30 tháng 10, 2009, nhân dịp nước
Nga kỷ niệm "Ngày Tưởng nhớ Ðàn áp Chính trị," phóng viên nhật báo Balan, Gzeta
Wyborcza, tại Moskva ghi lại:
Tôi tin rằng, tưởng nhớ về bi kịch của dân tộc cũng thiêng liêng như tưởng nhớ về chiến
thắng. Không có lý do gì để biện giải cho sự đàn áp chính trị. Chúng ta chỉ cần nghĩ hàng
triệu người đã chết vì khủng bố cùng những cáo buộc dối trá. Cho đến ngày hôm nay, có thể
thấy, những tổn thất to lớn trên được biện minh bằng những mục đích cao hơn của nhà nước.
Sự thật, không có sự phát triển, sự thành công, và tham vọng nào của đất nước, có thể đạt
được bằng cái giá của bi kịch và mất mát. Không gì có thể được đặt trên giá trị cuộc sống
con người. Và không bất cứ sự biện minh nào cho sự đàn áp chính trị là có thể chấp nhận
được."
Sau khi Liên Xô giải thể, bằng chứng từ các tài liệu lưu trữ của Liên Xô cho thấy Stalin đã
bắt giam khoảng 800.000 tù nhân với tội danh chính trị hay hình sự, khoảng 1,7 triệu người
chết trong Gulag và khoảng 390.000 người tử vong trong quá trình tái định cư bắt buộc kulak
cho tổng số khoảng 3 triệu nạn nhân chính thức.
Cai trị bằng khủng bố kìm kẹp
Trong "Nhật ký Rồng Rắn" ông Trần Độ, cựu Trung Tướng trong đội quân Bắc Việt xâm lăng
Miền Nam, cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Sản Hà Nội đã nhận ra những sai lầm và các
tội ác của chế độ. Ông so sánh sự tàn bạo của chế độ toàn trị ở VN hiện nay với nhiều bạo
chúa và độc tài quân phiệt:
"Nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần
Thủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát
xít, độc tài.
Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ."
"Lãnh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục dối lừa, bằng cấp
giả dối, đến gia đình cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hô lừa dối, hứa hẹn lừa dối. Ôi, cay
đắng thay!
Thế là ta đập tan một cái xấu xa và lại phải chấp nhận một cái xấu xa mới giống như hoặc tệ
hại hơn tất cả những xấu xa mà ta từng chửi rủa, từng căm thù..."
Hồ Chí Minh và những tên kế thừa đã gây tang tóc thống khổ cho dân tộc Việt Nam qua
thống kê sau đây:
Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lan ngày 532011 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà
độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm
cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm
máu.
Tổng kết cuộc chiến 30 năm (19461975), theo công bố của Bộ Lao Động Thương Binh Xã
Hội Hà Nội phổ biến ngày 14121998 thì phía Cộng Sản Bắc Việt đã chết trên 3 triệu người.
Miền Nam chết 300,000 quân nhân tử trận. Pháp 55,000. Hoa Kỳ 58,000. Quảng Nam,
Quảng Bình bị thiệt hại nặng nhất, trung bình mỗi gia đình một người
Riêng cuộc chiến 19571975, bản thống kê tổn thất nhân mạng các bên thật là kinh hoàng:
+ VNCH có 241,000 chiến sĩ hy sinh. CSBV và MTGPMN tổn thất 1,100,000 tử thương.
+ Quân lực Hoa kỳ tổn thất 56,625 người trong tổng số 9,300,000 đã từng phục vụ tại VN.
+ Quân lực Đồng Minh Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi luật Tân, Thái Lan tổn thất
10,226 người, không kể số quân tham chiến và tử trận của Nga Sô, Trung Cộng, Bắc Hàn....)
+ Tổng số thường dân hai miền Nam Bắc VN thiệt mạng khoảng 2,000,000 người.
+ Kinh nghiệm thống kê tổn thất trong chiến tranh cho biết cứ một người thiệt mạng, thì có
hai người bị thương. (Nguồn: Đỗ Ngọc Nhận).
Ngày 15121956 Hồ Chí Minh ký Sắc Lệnh Báo Chí, buộc người dân muốn ra báo phải xin
phép, chấm dứt thời kỳ ai muốn ra báo chỉ cần đăng ký mà người dân được hưởng trong gần
một thế kỷ dưới thời thực dân Pháp, phạt khổ sai chung thân và tịch thu toàn bộ gia sản
những kẻ vi phạm. Kết cục 304 văn nghệ sĩ bị đưa đi chỉnh huấn cải tạo. Nguyễn Hữu Đang
Thụy An bị giam trong Hỏa Lò.
Lưu đày, (deportation), 1.5 triệu đồng bào Miền Nam tại những nơi rừng thiêng nước độc
mà chúng đặt cho cái nguỵ danh là “khu kinh tế mới”. Khí hậu khắc nghiệt tại những nơi lam
sơn chướng khí này đã gây ra những cái chết cho nhiều chục ngàn người.
Bộ đội của Hồ Chí Minh đã giết 160.000 người bằng cách đuổi theo pháo kích và bắn trực
xạ trong nhiều ngày vào đoàn người chạy giặc suốt theo chiều dài của Tỉnh Lộ 7B từ Pleiku
xuống duyên hải trong tháng 3/1975.
Giam cầm phi pháp, (imprisonment without formal charge or trial), 1,000,000 quân dân cán
chính VNCH trong những cái gọi là “trại cải tạo” với thời gian bị giam cầm là từ 3 tới 10
năm, và có nhìều người đã bị giam tới 17 năm. Thủ tiêu mất tích, (enforced disappearance of
persons), 165,000 quân dân cán chính VNCH bị chết vì đòn thù trong các trại tù cải tạo.
Chế độ độc tài khủng bố việt cộng đã là nguyên nhân xô đẩy 3,000,000 đồng bào Miền Nam
lao ra biển trên những con thuyền mỏng manh để đi tìm tự do, gây ra những cái chết thảm
cho 700,000 đồng bào trên biển cả.
Tổ chức vượt biên để thu vàng và cướp nhà của dân; khi thuyền vượt biên ra đến hải phận
quốc tế, chúng cho công an dùng thuyền cao tốc đuổi theo, bắn chìm thuyền và giết hết
những người đã nộp tiền cho chúng. Đây là một tội ác man rợ của loài cộng phỉ đối với đồng
bào Miền Nam.
Phá nát truyền thống dân tộc
Trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh không có một lời nói hay một việc làm nào dự trên đạo
lý hay trên căn bản yêu thương mà dốc toàn lực và tìm mọi cách khai thác triệt để bản năng
yếu kém thấp hèn của con người với mục đích gây hận thù chia rẽ để lợi dụng. Chính sách
trồng người và dùng người của Cộng Sản là tuyển chọn những kẻ cuồng tín vô học, càng ngu
càng tốt để dễ dàng sai khiến. Bởi vậy chúng ta không lấy làm lạ khi thấy một chị phu quét
đường, một anh thọc huyết heo hay một gã ăn mày chuyên nghiệp cả đời chưa cầm đến cây
viết và không đọc nổi tên của mình mà nắm giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân hay
Chánh Án Tòa Án. Những kẻ đáng thương này chỉ là những người máy và nếu cần thì đem ra
làm vật tế thần mỗi khi cần thay đổi đường lối và chính sách. Quyền hành chế độ thực sự
nằm trong tay những tên Bí Thư Đảng Ủy đứng phía sau giật dây.
Chính vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi thấy bọn hậu duệ tiếp nối Hồ Chí Minh,
quyền hành sinh sát, nắm giữ những chức vụ quan trọng mà nói năng cực kỳ ngu xuẩn.
Đơn cử một số câu nói sau đây của những “đỉnh cao trí tuệ của loài người” được báo chí
Cộng Sản đăng tải và cà nước ai ai cũng biết.
Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết (20062011) tuyên bố tại Havana trong chuyến viếng
thăm 2009: Cuba và Việt Nam là hai nước canh thức cho nền hòa bình thế giới. Cuba thức thì
Việt Nam ngủ. Việt Nam thức thì Cuba ngủ.
Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang (20112016): Vấn đề chủ quyền... Năm nay không xong
thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau...
Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH
còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam CS hay
chưa???.”
Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc Hội: "Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu,
chứ kỷ luật ai”
Vũ Đức Đam Phó Thủ tướng: “Nếu chúng ta không giáo dục cho con cháu rưng rưng khi
hát Quốc ca thì đất nước không thể giàu mạnh”.
Phó Thủ tướng CS Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa làm sức mạnh quốc gia tăng lên rõ rệt!!!”
Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Phùng Quang Thanh (đố biết Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng của
Việt Nam hay của Trung Quốc?) phát biểu hôm 29/12/2014 tại hội nghị triển khai Nghị quyết
của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015. “Tôi
thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét
Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho
dân tộc”
Thiếu tướng Trần Duân Giám đốc Công An Lai Châu họp báo khi cầu treo Chu Va bị sập
làm 9 người chết, 41 người bị thương. "Cầu sập là vì người Mông khi khiêng quan tài thường
đi rất nhanh"...
Vũ Huy Hoàng Bộ trưởng Bộ Công Thương “Cán bộ thị trường phải kiểm tra chất lượng
phân bón bằng… miệng”
Nguyễn Thị Kim Tiến Bộ trưởng Bộ Y tế: “Chúng tôi mà có con cháu mắc sởi, không bao
giờ dại cho vào đây (Bệnh viện Nhi trung ương)”.
Võ Thị Dung, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố
HCM đề xuất: "Quốc hội và Chính phủ cùng hứa không tham nhũng"
Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Tri, Viện phó phụ trách Viện Xã hội học và Khoa
học: "Cần luật hóa cho phép chạy chức, chạy quyền!!!".
Nguyễn Xuân Hồng Cục trưởng cục bảo vệ thực vật:“Khoai tây nhiễm độc của Trung
Quốc vẫn an toàn”
Trần Văn Truyền Nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ khi bị đồng chí tố cáo tham nhũng đã
giải thích về căn biệt thự và tài sản riêng: “Xây dựng nên ngôi nhà này một phần từ sự giúp
đỡ của nhiều người bạn cho đá, cho gạch…”
Trần Hữu Vĩnh Trưởng phòng Giáo dục & Đào tạo quận Bình Tân, thành phố HCM: "Bỏ
thuốc cho học sinh ngủ, trường mầm non có hoài, không có vấn đề gì lớn..."
Thẩm phán CS Lê Thị Thu của Tòa án Nhân dân CS huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa) nói với
người đưa tiền chạy án: "Vì anh là người nhà của cô Niên [Kiểm sát viên Viện Kiểm sát Nhân
dân CS huyện Triệu Sơn], là người trong ngành, trong cơ quan nên bọn em mới giúp, vì tình
cảm bọn em mới làm, còn là dân thì... bọn em sẽ làm theo quy định của pháp luật”.
Cục trưởng Cục Chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ Phạm Trọng Đạt tuyên
bố: “Tham nhũng là những người có chức vụ quyền hạn. Chúng tôi chống lại có khi chết
trước”.
Trung tá Công An Việt Cộng Hoàng Văn Dũng trong khi thẩm vấn nhà báo Điếu Cày
Nguyễn Văn Hải đã nói thẳng thừng: “Tao sẽ làm cho mày suy kiệt mà chết! Tao sẽ đánh cho
bác sĩ nhìn không ra, luật sư tìm không thấy! Tao sẽ làm cho mày mất khả năng đàn
ông!” (Nguồn: Nhà Báo Phạm Đình Trọng Dân Làm Báo)
Lãnh đạo mà ngu ngốc như thế thì đất nước ra sao không nói ai cũng biết. Những tên thủ hạ
tiếp nối “sự nghiệp” của Hồ Chí Minh đã phạm những đại tội với nhân dân Việt Nam như
sau:
Võ Văn Kiệt ký Nghị Định 31/ CP tháng 4/1997 Quản Chế Hành Chánh không cần xét xử
Phan Văn Khải ký Nghị định 56/NDCP ký 2005 hạn chế không được tụ họp quá 5 người.
Phan Văn Khải ký Nghị Quyết 36 phá Cộng Đồng VN Hải Ngoại ngày 26/3/2004
Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Định số 37/2006/CT/ttg ngày 29/11/2006 kiên quyết không để
tư nhân hóa báo chí với bất cứ hình thức nào trong khi điều 69/1992 Hiến Pháp Cộng Sản
quy định công dân có quyền tự do báo chí thông tin lập hội biểu tình.
Máu dâm dật và bệnh ấu dâm của Hồ Chí Minh
Có vợ, có bồ bịch, có nhân tình nhân ngãi, đó là chuyện rất thường không đáng nhắc tới nếu
Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản không thần thánh hóa ca tụng Hồ Chí Minh là người vì
nước quên mình không nghĩ đến chuyện vợ con. Quả thật Hồ Chí Minh không màng đến
chuyện vợ con vì Hồ theo thuyết duy vật Tam Vô: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Hồ
Chí Minh chỉ chơi rồi chạy (hit and run) nên tuy không có vợ nhưng lại có con rơi: Đó là
Nông Đức Mạnh với Nông Thị Ngát hay Nông Thị Trưng, và Nguyễn Tất Trung với Nông
Thị Xuân, sau đổi là Vũ Trung vì được Bí Thư Vũ Kỳ nhận làm con nuôi...
Ngoài ra, trong chiến dịch ca ngợi Hồ Chí Minh, một bài viết ký tên Nguyễn Minh Châu
đăng trên số chủ nhật 7/3/2010 báo Công An Nghệ An và báo Vinh của tỉnh này đã kể chuyện
Hồ Chí Minh đã có công giải phóng phụ nữ. Nguyên văn, trích từ bài ca ngợi viết:
...Khi đoàn phụ nữ miền Nam vượt Trường Sơn ra thăm Bác, các chị được Bác đón tiếp thân
tình. Thấy các chị gầy, xanh, hốc hác, Bác hỏi:
“Các cháu kinh nguyệt có đều không?
Khi nghe các cô trả lời là trồi sụt thất thường, Bác Hồ đã “ứa lệ…”
Bác Hồ đã “ứa lệ…”. Trời đất!!! Chẳng có nước nào phúc đức hơn nước Việt Nam có vị Chủ
Tịch Nước lo chị em ta kinh nguyệt không đều. Bài viết ca ngợi ông Hồ này đã làm Trung
Ương Đảng lúng túng, hiện đã bị gỡ xuống trên mạng Vinh (UBND Thành Phố Vinh), nhưng
ở mạng Công An chưa gỡ xuống: http://congannghean.vn/newsdetails.aspx?Newsid=3581.
Trong một bài viết khác được xếp loại bênh vực Hồ Chí Minh có tiêu đề “Tôi không cần biết
ông Hồ có mấy vợ” tác giả Nguyễn Hưng Quốc đã nhắc đến hồi ký của Giáo Sư Nguyễn
Đăng Mạnh, có đoạn viết:
...Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó tôi nhớ nhất chi tiết
này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh khi “Bác” hỏi “cháu”
Nguyễn Thị Hằng: “Cháu có buồn đái không? Chỗ đi đái phía bên kia....”
Đây không phải chuyện đáng để vào tập sách này nhưng đây cũng không phải là ngôn ngữ
của một kẻ giữ chức vụ Chủ Tịch Đảng hay Chủ Tịch Nhà Nước. Đây là hiện thân của loài
quỷ bất chợt xuất hiện không kiểm soát kịp. Khi cửa miệng Hồ Chí Minh nói đến kinh nguyệt
phụ nữ và hỏi cháu có buồn đi đái không thì trong đầu Hồ Chí Minh đang nghĩ đến cái gì.
Đây chính là tư tưởng vĩ đại của Hồ Chí Minh mà băng đảng Cộng Sản Việt Nam đang bắt
nhân dân học tập tôn thờ.
Ngoài ra Hồ Chí Minh còn mắc bệnh ấu dâm. Một số người nhận xét “Bác” thường có những
cử chỉ khác lạ với những bé gái lãnh trách nhiệm lên dâng hoa so với những người đồng
nhiệm. Lại có chuyện ngoài phố nói rằng mỗi khi có đoàn thiếu nhi vào thăm dinh “Bác” đều
được “Bác” cho quà. Em nào được “Bác” chú ý thì “Bác” thường cho ngồi lên lòng hoặc có
những táy máy bất thường mà cháu không dám khóc, không dám la, và khi về đến nhà cũng
không dám nói lại với cha mẹ, hoặc cha mẹ biết được thì bắt con gái phải ngậm câm vì quá
sợ hãi và không còn đường nào khác. Việc này thật khó mà kiểm chứng và cứ cho là “bọn
xấu” tung tin xuyên tạc bôi nhọ lãnh tụ, nhưng bản tin của UPI và bài đăng trên tờ báo
Sunday Times ngày 831959 xuất bản tại Nam Dương phản đối bệnh ấu dâm và tư cách bỉ ổi
của Hồ Chí Minh lợi dụng ôm hít gỡ gạc các em bé gái là điều có thật.
Chứng liệu dưới đây khó mà lấp liếm chối cãi. Nguyên thủ nước này đến nước kia, được tặng
hoa, dâng hoa, là chuyện thường tình, nhưng chưa có nguyên thủ nào tư cách “đốn mạt” và
“tai tiếng” như Hồ Chí Minh. Thật là thứ mặt dày làm nhục quốc thể và quả thật không còn
cái nhục nào hơn. Hồ Chí Minh lên báo vì chuyện ôm hôn con gái vị thành niên. Nguồn: The
Straits Times (SG), 8 March 1959
Lược dịch:
JAKARTA, Thứ Bảy (8 tháng Ba, 1959) Chủ tịch Bắc Việt Hồ Chí Minh bị nói phải ngưng
ngay việc ôm hôn nữ thiếu nhi Indonesia. Báo giới Indonesia đã chỉ trích ông Hồ về chuyện
ông thường ôm hôn (các em gái) trong chuyến viếng thăm chính thức 10 ngày tại đảo Java và
hòn đảo du lịch Bali...