thăm cụ Phan tại Bến Ngự đã viết:
Vài năm sau cuộc hội kiến lịch sử này, khi Phan Bội Châu đã trở thành Ông Già Bến Ngự để
quãng đời cuối cùng trôi qua trên đất Huế, đã có đôi lần khi các thanh niên yêu nước hỏi cụ:
– Bây giờ cụ về nước thì ở nước ngoài còn có người Việt Nam nào thay cụ dẫn dắt đồng bào
được nữa?
Cụ đã không ngần ngại mà trả lời rằng:
– Vẫn còn, còn có Nguyễn Ái Quốc, ông Nguyễn giỏi hơn tôi, ông sẽ làm được việc
đó! (Nguồn: Minh Võ Hồ Chí Minh, chương 45)
Một tài liệu khác, bọn cộng sản đã man trá, ngụy tạo thư của cụ Phan Bội Châu gửi cho
Nguyễn Tất Thành như sau:
Người cháu rất kính yêu của Bác
Hôm trước anh Lâm (Đức Thụ) và anh Hồ (Hồ Tùng Mậu) gửi lại thư của Cháu, trong thư có
nói tường tận về chuyện ông Hy Mã (Phan Châu Trinh).
Tuy thư đưa trực tiếp trên chuyện thật nhưng ngụ ý thật sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên
những ý tưởng lớn, nhân đó mới biết là học vấn, tri thức của cháu nay đã tăng trưởng quá
nhiều, quả thực không phải như hai mươi năm về trước.
Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu gò án ngâm thơ, anh em cháu
đều chửa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành
một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ đem so kẻ gì này với cháu thì bác thật rất xấu hổ.
Nhận được liên tiếp hai lá thư của cháu, bác cảm thấy vừa buồn vừa mừng. Buồn là buồn
cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau
giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai. Ngày xế đường cùng,
chỉ sợ không được thấy ngày đó, làm sao bác không cảm thấy buồn cho chính mình được?
Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ
có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai để nhờ ủy
thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác
không cảm thấy vui mừng được.
Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông một chuyến để đàm luận với cháu, không biết
cháu còn ở lại Quảng Đông lâu mau, hoặc giả trong tương lai có định đi chỗ khác không?
Trong lòng bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu, nhưng không gặp mặt thì làm sao có
thể bàn cho hết ý được? Làm sao được? Nếu không coi già yếu là đồ bỏ thì cháu viết thư
nhiều cho bác, bác thành thật yêu cầu cháu đấy.
Cần nhắc lại là Phan Bội Châu lúc rời nước đã gần bốn mươi (ba mươi chín tuổi đến Nhật)
lại không thể tránh khỏi những trách nhiệm này nọ đặng chuyên chú học hành, cho nên tri
thức lúc bấy giờ cũng vẫn như xưa. Cháu học vấn rộng rãi, và từng đi nhiều nơi, hơn bác cả
chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu vượt sức đo lường của bác; không biết cháu
có thể chia sẻ cùng bác một hai việc? Bác rất hết sức mong đợi, mong cháu không ngại. Vì
nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm những khách tha hương than thở không đâu cho
hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã thì cũng giống Phan Bội Châu mà thôi!
Thư bất tận ngôn, mong cháu hiểu giùm cả những ý không viết thành lời. Chúc cháu bình an.
Ngày 21 tháng 1 lịch ta (14 tháng 2 năm 1925 dương lịch) viết dưới đèn dầu.
Chỗ bác ở đâu nơi đất khách thì Quốc Đảng (Hồ Tùng Mậu) đã biết nên không ghi ở đây.
Thư này nhờ Quốc Đống chuyển giúp.
Đọc qua lá thư chúng ta thấy: Một ông chú ông bác không khi nào viết thư cho cháu mà lại
tôn xưng Người cháu rất kính yêu của Bác... khi thằng cháu này chẳng là gì cả!
Cụ Phan lúc này nổi danh khắp nơi, còn Lý Thụy chỉ là một kẻ giấu mặt vô danh, làm gì mà
tôn xưng như vậy. Câu này là do bọn Việt Cộng bịa ra để tôn xưng Lý Thụy.
“...Cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ đem so kẻ gì này với cháu thì
bác thật rất xấu hổ… Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên
tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai.” Câu này cho biết Lý Thụy lúc đó đã có dã
tâm cướp địa vị lãnh tụ cách mạng của Phan Bội Châu, và y có ý giết cụ để cướp đoạt công
trình của cụ Phan
"...Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông”. Câu này ngụ ý ám chỉ rằng cụ Phan tự ý
về Quảng Đông chứ không phải do Lý Thụy lập mưu sai Lâm Đức Thụ mời cụ Phan về
Quảng Đông
Bồi bút Cộng sản nói rằng Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu ca tụng Nguyễn Tất Thành. Đó là
điều bịa đặt trắng trợn. Hai cụ có thể thương Nguyễn Tất Thành vì Nguyễn Tất Thành bằng
tuổi con của các cụ và là con cụ Bảng Sắc. Chính vì vậy nên cụ Phan Chu Trinh đã nâng đỡ
Tất Thành để lâm cảnh "nuôi khỉ dòm nhà” , "nuôi ong tay áo”! Nhưng bảo rằng các cụ kính
trọng Nguyễn Tất Thành thì không phải vậy.
Trong đời sống, việc giao thiệp, chia sẻ, giúp đỡ giữa những người không cùng tuổi tác hoặc
không cùng giai tầng xã hội là chuyện rất bình thường. Tuy nhiên, dù muốn nâng đỡ cách
mấy cũng thật khó có sự tôn trọng đến mực một người già viết thư xưng tụng ca ngợi một tên
vô danh tiểu tốt bất tài trước quốc dân, nhất là kẻ đó tuổi đáng con cháu. Tất Thành tuổi còn
trẻ. Tất Thành là kẻ thất học, chưa học hết bậc tiểu học trong khi các cụ là cử nhân, tiến sĩ.
Tất Thành không có tài cán gì đặc biệt và cũng chưa có một hành động nào hơn người. Tất
Thành từ năm 1919 đã phản bội Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, nổi danh là kẻ vô ơn bạc
nghĩa, lưu manh, gian ác, lại chạy theo cộng sản, dù y có là tỷ phú, là vua, là lãnh tụ một
đảng, các cụ vẫn khinh bỉ những kẻ vô đạo đức như thế!
Cộng sản độc quyền xuất bản sách báo nên chúng tự tung tự tác sửa chữa, thêm bớt mà không
ai có thể thanh minh, cải chính. Chúng đã đặt các lời, các câu, vào miệng vào sách của Đào
Duy Anh, Chương Thâu, Võ Nguyên Giáp, Sơn Tùng... Đó là lũ bồi bút hay những tên dư
luận viên dấu mặt ăn lương. Vì vậy chúng ta không lạ khi thấy trong các tác phẩm của Cộng
Sản có nhiều chuyện bịa đặt ca tụng Hồ Chí Minh đến độ trơ trẽn ngu ngốc. Trong việc bán
đứng cụ Phan Bội Châu chúng đã ngụy tạo các chứng cớ lịch sử như thư tín của Phan Chu
Trinh, Phan Bội Châu. Ngay như việc dịch quyển Tư Phán, bồi bút Chương Thâu chê bản
Anh Minh Huế là bản có chữ ký của Phan Bội Châu xem như bản phản động. Sau đó y chọn
bản khác có lẽ do bọn họ sửa chữa thêm bớt, có lợi cho việc ca tụng Hồ Chí Minh.
Nguyễn Tất Thành là một kẻ tàn ác, gian manh. Đầu óc của y lúc nào cũng đầy mưu mô gian
ác. Trước tiên, y đến thăm cụ Phan điều tra về hoạt động của tổ chức cụ Phan, cụ nghĩ rằng y
cũng thật thà hiền lương và yêu nước như cụ cho nên cho biết 14 nhân vật trong tổ chức.
Bước thứ hai, y ban cho Lâm Đức Thụ địa vị lãnh đạo Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội
thay Hồ Tùng Mậu khiến cho Lâm Đúc Thư hăng hái tuân theo lệnh. Tiếp theo y sai Lâm
Đức Thụ thi hành quỷ kế, mời cụ Phan về Quảng Đông. Khi về Quảng Đông phải qua
Thượng Hải là tô giới của Pháp để Pháp tiện bắt giữ. Bước thứ ba là y hãm hại bất cứ ai
không theo y.
Những điều trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ ràng là Lý Thụy và Lâm Đức Thụ đã bán
Phan Bội Châu để lấy tiền. Lý Thụy là chánh phạm còn Lâm Đức Thụ là tòng phạm.
Tất Thành phạm nhiều tội. Y là tên trộm cướp chuyên nghiệp. Tại Pháp, y đã trộm tên
Nguyễn Ái Quốc và các tác phẩm cách mạng của nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường…
Tại Trung Quốc, y trộm tên Hồ Chí Minh và danh hiệu Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hội
của nhà cách mạng Hồ Học Lãm. Tại Trung Quốc, y cũng cướp sự tự do, đời hoạt động và
các tổ chức của Phan Bội Châu. Y phạm tội bán Phan Bội Châu, các nhà cách mạng quốc và
cả các đảng viên cộng sản mà y thù ghét và lo ngại...
Nguyễn Tất Thành không yêu nước, không yêu dân. Y chỉ yêu tham vọng của y. ( Nguyễn
Thiên Thụ: Hồ Chí MinhHuyền Thoại Và Mặt Nạ)
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao) Sau vụ bán cụ Phan Bội Châu, mùa thu 1928, Hồ Chí Minh lại được Quốc Tế
Cộng Sản chỉ định cải trang thành một nhà sư mang bí danh Thầu Chín xâm nhập Thái Lan
tuyên truyền huấn luyện và chiêu mộ Việt kiều tại miền Đông Bắc Thái là nơi có nhiều người
Việt sinh sống. Theo luật lệ khe khắt của vương quốc Thái Lan lúc bấy giờ thì cho dù sinh
sống bao nhiêu đời trên đất Thái người Việt cũng không được nhập quốc tịch Thái, nhất là bị
cấm làm một số nghề cũng như sự đi lại bị hạn chế trong vùng. Chính vì chủ trương kỳ thị
này mà người Việt có khuynh hướng chống lại nhà cầm quyền và cũng chính vì vậy mà vùng
đất này là môi trường rất tốt cho Cộng Sản phát triển. Phải nói hầu hết người Việt ở đất Thái
vào những năm này nếu không là đảng viên Cộng Sản cũng thuộc thành phần thân Cộng.
Trong tập “Những Anh Hùng Tuổi Trẻ” (loại sách này nhan nhản đầy Sài Gòn nhằm đào tạo
anh hùng lao động, anh hùng hốt rác, anh hùng gánh phân đổ thùng) nhà xuất bản Bạn Trẻ,
Gia Định (một cơ quan tuyên truyền ngoại vi của Cộng Sản) in lần thứ 4 nơi trang18 đã cho
biết kỹ thuật của Hồ Chí Minh đích thân trồng người tại Thái Lan. trích đoạn dưới đây hòa
toàn đúng theo bản in, không sai một chữ, không thay đổi một dấu chấm hay dấu phẩy của
tập “Những Anh Hùng Tuổi Trẻ”.
Năm 1926, khi còn hoạt động bí mật, Bác đã đưa tám thiếu niên ra nước ngoài học tập, trong
số đó có LÝ TỰ TRỌNG, người thanh niên Cộng Sản đầu tiên, người thanh niên lý tưởng của
tất cả thiếu niên. Hồi ấy Lý Tự trong mới chín mười tuổi...
Cậu bé Lý Tự Trọng tên thật là Lê văn Trọng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1914 tại làng Bản
Mạy, tỉnh nakhon Thái Lan, con một gia đình nông dân nghèo, được Bác chiếu cố vào năm
1923 lúc chỉ mới 9 tuổi, đưa sang Trung Quốc dưới tên Lý Tự Trọng để gia nhập Thanh Niên
Cách Mạng Đồng Chí Hội. Năm 1926, Lý Tự Trọng được đưa về nước hoạt động với nhiệm
vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng Sản Đông Dương và làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ với
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 9 tháng 2 năm 1931, trong buổi mít tinh kỷ niệm một năm
cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, Lý Tự Trọng đã bắn chết viên mật thám Le
Grand để bảo vệ diễn giả Phan Bôi đang diễn thuyết tại quảng trường Lareni. Sau đó ông đã
bị bắt giam vào Khám Lớn và người thanh niên lý tưởng của tất cả thiếu niên bị kết án tử
hình ngày 20 tháng 11 năm 1931...
Trích đoạn trên cho thấy Hồ Chí Minh thuộc loại tán tận lương tâm và vô cùng tàn nhẫn, lợi
dụng sự nghẻo khó của gia đình Lý Tự Trọng rồi dùng tiền của mật vụ của Nga Sô chu cấp để
mua hay dụ dỗ một đứa bé mới 9 tuổi đầu rời khỏi mái ấm gia đình làm công việc nguy hiểm
chết người. Đây là việc làm của thứ mẹ mìn. Bọn mẹ mìn dùng kẹo dụ dỗ trẻ thơ ra khỏi nhà
rồi bắt cóc các em nhỏ này đem bẻ gãy tay, gãy chân, làm như đứa bé bị tật nguyền bẩm sinh
để đánh động lòng nhân của thiên hạ, sau đó bắt đứa bé đi ăn mày, đi ăn xin. Nếu đứa bé lành
lặn khỏe mạnh thông minh thì tập cho nghiện hút, tập cho xài tiền, rồi bắt học nghề ăn cắp,
móc túi hay ăn cướp đem tiền về nuôi chúng. Hồ Chí Minh cũng vậy. Hồ Chí Minh dùng tiền
dụ dỗ trẻ thơ ra khỏi nhà, phong làm anh hùng rồi bắt đi làm công việc giết người cho băng
đảng Cộng Sản của ông ta.
Thật không còn hành động nào độc ác khốn nạn bỉ ổi hơn việc dụ dỗ trẻ thơ hay lợi dụng
những kẻ điên khùng làm những việc ám sát, tung truyền đơn, gài mìn, đặt bom, giết người
rồi khi chết thì phong cho làm anh hùng.
Bắt một đứa nhỏ 13 tuổi đi hoạt động thành lập đảng thì đảng này đúng là đảng chết tiệt,
đảng lưu manh, đảng khốn nạn. Tuổi 12 hay 13 là cái tuổi đẹp nhất của thời thơ ấu. Cái tuổi
ngây thơ, trong trắng, vô tư, hồn nhiên và dễ tin này rất dễ dàng bị lợi dụng bằng bánh kẹo
hay mấy đồng bạc hoặc vài câu bốc thơm phỉnh nịnh để rồi bị dụ dỗ xách túi đựng bom đựng
mìn đi đặt tại các quán nước quán cà phê hay tại các khu chợ búa đông người mà không ai để
ý.
Tội nghiệp các em! Các em xách túi bom mìn đi giết người mà không biết trong túi có chứa
bom mìn hay lựu đạn. Các em bị đẩy vào chỗ chết mà cha mẹ không biết tại sao con mình
phải chết. Trường hợp và số phận của Võ Thị Sáu lúc mới 14 tuổi đi đánh bom tại quận Đất
Đỏ hay các em Kim Đồng, Lê Anh Xuân (tên thật là Ca Lê Hiến) cũng bị lũ mẹ mìn khốn
kiếp Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản đẩy lên làm “anh hùng tiên tiến hay chiến sĩ, liệt
sĩ” đều thuộc loại này.
Trở lại hoạt động của Nguyễn Tất Thành. Cuối năm 1929 Thành được lệnh rời Thái Lan quay
lại Trung Quốc. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản Nguyễn Tất
Thành đã thành công trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Cửu Long thuộc
Hương Cảng (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng Sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao
Động Việt Nam" và hiện nay trở lại danh xưng khởi thủy là "Đảng Cộng Sản Việt Nam".
Thực ra Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một bộ phận của Đảng Cộng Sản Nam Hải (the
South Seas Communist Party), tiền thân của một loạt các tổ chức cộng sản sau này, bao gồm
cả Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng vào năm này, khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra do
Đảng Cộng Sản chỉ đạo với khẩu hiệu’ TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO, ĐÀO TẬN GỐC, TRỐCTẬN
RỄ” Cuộc khởi nghĩa thất bại vì sự tàn bạo khát máu của người Cộng Sản. Pháp cấm Đảng
Cộng sản Đông Dương hoạt động và Nguyễn Ái Quốc bị xử tử hình vắng mặt. (Nguồn:
HCMSBK)
Sự hoạt động của Cộng Sản Quốc Tế đã làm cho Quốc Dân Đảng bừng tỉnh vì vậy Tưởng
Giới Thạch cho truy lùng những tên cộng sản Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1931, dưới tên
giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt
giam ngày 661931 với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương.
Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong bài viết “ Hồ Chí Minh Thân Thế và Sự Nghiệp” do nhà xuất
bản Nam Á Paris ấn hành năm 1990 ghi lại:
Hồ Chí Minh đã tường thuật vụ giam giữ này như một vở kịch hết sức ly kỳ. Luật sư Frank
Loseby viện dẫn luật haheas corpus để cãi cho ông, với sự ủng hộ của Sir Stafford Cripps, vị
cố vấn pháp lý nổi tiếng của Hoàng Gia Anh ở Luân Đôn, đòi cho ông được phóng thích. Sau
đó ông bí mật đáp tàu đi Anh nhưng đến Tân Gia ba lại bị bắt trở về Hương Cảng. Mật thám
Hương Cảng lấy cớ ông nhập cảnh không có giấy phép lại giam ông vào tù, luật sư Loseby
giúp ông vượt ngục trốn sang Thượng Hải, mãi đến mùa thu năm ấy nhờ gặp người quen cũ
trong đảng Cộng sản Pháp là Vaillant Couturier ông mới bắt liên lạc được với các lãnh tụ
cộng sản Trung Quốc, sau đó đáp tàu di Vladisvostok và đến Mac Tư Khoa vào mùa xuân
1934. Giáo sư Nguyễn Thế Anh kết luận “Đoạn này phần lớn là hư cấu”.
Chúng ta hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Giáo sư Nguyễn Thế Anh: Trừ phi là đồng đảng,
một luật sư, nhất là một luật sư danh tiếng, không bao giờ dám giúp tù nhân vượt ngục vì
không những bị mất bằng hành nghề mà còn bị tù tội. Luật sư Frank Loseby không phải là
đảng viên Cộng sản. Ông ta được đền đáp những gì mà ngu dại đến nỗi phải tự thân đứng ra
làm công việc nguy hiểm giúp Hồ Chí Minh vượt ngục? Câu chuyện ngụy tạo và dựng đứng
hết sức vô lý.
Dennis Duncanson đã viết “Ho Chi Minh in Hongkong 19311932” trên tờ The China
Quarterly JanMarch 1974, ghi nhận sự kiện khó hiểu này nơi trang 84100. Bernard B. Fall,
một ký giả thiên tả, một người đã được Hồ tiếp đón và được Hồ cho biết nhiều tài liệu, trong
cuốn “Last Reflections On A War” xuất bản năm 1967 cũng cho là cuộc đời Hồ Chí Minh
trong giai đoạn 19321941 có nhiều tối tăm mờ mịt. Tác giả Jean Lacouture trong cuốn “Ho
Chi Minh” cũng đã viết rằng tất cả những gì liên quan đến cuộc đời Hồ Chí Minh cho đến
năm 1941 là chắp vá, phỏng chừng, gây nhiều tranh luận. Ngay cả những người thân cận ông
Hồ được nghe kể lại cuộc đời của ông Hồ cũng bị ông Hồ lừa gạt. Tháng 71969 Hồ Chí
Minh đã cho ký giả Charles Fourniau của báo L’Humanité là Cơ quan ngôn luận của Đảng
Cộng sản Pháp một cuộc phỏng vấn rất lâu và cuộc phỏng vấn đó được phổ biến ngày 157
1969, sau đó được viết lại bằng tiếng Việt trong cuốn Hồ Chí Minh Tuyển Tập, tập II, cũng
chứa đựng nhiều dối trá và mâu thuẫn so với sự việc thật.
Theo tài liệu đương thời thì trong lần bị bắt này Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc đã chết vì
bệnh lao trong bịnh viện của khám đường Hong Kong. Ngay đến tờ L'Humanité là cơ quan
ngôn luận trung ương của đảng Cộng Sản Pháp số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 cũng đưa tin
Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố
cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp cấu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo
của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Ngoài ra còn có tờ Lao Động của Anh, tờ Sự Thật
(Pravda) của Nga. Trong tác phẩm của mình William J. Duiker đã ghi lại nơi trang 209 và
212 như sau: Vào ngày 11 tháng 8 năm 1932, tờ nhật báo "Công Nhân" của Quốc tế cộng sản
phát hành tại London, đăng tin Nguyễn Ái Quốc chết trong nhà giam. Nhóm lưu học sinh
Việt Nam tại trường Đại học Stalin sớm đã biết tin Nguyễn Ái Quốc qua đời vì bệnh lao phổi
nặng nên đã tổ chức lễ truy điệu cùng cử hành tang lễ tại Đại học Phương Đông, Mạc Tư
Khoa. Cũng như trước đó, vào năm 1931, họ đã tổ chức lễ truy điệu Tổng bí thư Trần Phú.
Hồ sơ của cảnh sát Pháp năm 1933 đã ghi chép về sự kiện này và chú thích "Nguyễn Ái Quốc
đã chết tại Hương Cảng".
Tuy nhiên lịch sử vẫn tiếp diễn và vẫn có một Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Ái Quốc tức
Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cầm đầu” băng đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến ngày Hà
Nội công bố chính thức là Hồ Chí Minh đã chết vào ngày 391969, sau đổi lại là 291969,
vì nói dối bị lật tẩy.
Thật sự mọi việc sẽ qua đi nếu không có chuyện bất ngờ là vào năm 2008 giáo sư Hồ Tuấn
Hùng, một người tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan cho xuất
hiện tập “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài
Loan, mã số ISBN: 9789866820779, Thái Văn tuyển dịch.
Tập sách này nhác qua tưởng như một tập sách bình thường giống như trăm ngàn tập sách
khác, nhưng càng đọc càng thấy đây là một công trình biên khảo giá trị về một vấn đề hệ
trọng và được viết bởi một ngòi bút cẩn trọng.
Nhiều chứng liệu cho thấy chính vào thời điểm Nguyễn Tất Thành chết tại HồngKong năm
1932 đã xảy ra sự kiện “Ve Sầu Thoát Xác”. Theo giáo sư Hồ Tuấn Hùng thì Nguyễn Tất
Thành tức Nguyễn Ái Quốc sanh tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An đã chết thật
và kẻ đóng vai Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc sau này chính là một người trong gia
tộc của ông có tên Hồ Tập Chương.
Cũng không quên là trước cả giáo sư Hồ Tuấn Hùng, vào năm 2002, nhà sử học Sophie
Quinn Judge đã cho xuất bản cuốn "Những Năm Tháng Mất Tích Của Hồ Chí Minh". Trong
tập sách này tác giả viết rằng “cuộc đời của Hồ Chí Minh còn rất nhiều nghi vấn”, đặc biệt
nơi chương sáu, đặt dấu hỏi nghi ngờ sự kiện "Chết ở Hương Cảng, mai táng ở Mạc Tư
Khoa". Sự mờ ám là sau khi được thả đầu vào năm 1933 Tống Văn Sơ tức Hồ Chí Minh
đi Thượng Hải (?). Từ đây ông được Đảng Cộng sản Trung Quốc bố trí đưa đi Nga Sô. Theo
tài liệu của Sophia Queen Judge, ông bị ép buộc phải ở lại Liên Xô và bị giam lỏng (hoặc nói
nhẹ hơn là bị kỷ luật) trong những năm 1933–1938 do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm
quyền Hương Cảng trả tự do, nhưng theo giáo sư Hồ Tuấn Hùng thì đây chính là thời gian Hồ
Tập Chương được đào luyện để nhập xác Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Ái Quốc rồi biến
thành Hồ Chí Minh. Ông rời Liên Xô vào mùa thu năm 1938.
Phải chăng Hồ Chí Minh thời kỳ 1890 1932 chính gốc là Nguyễn Tất Thành sinh tại huyện
Nam Đàn tỉnh Nghệ An còn Hồ Chí Minh thời kỳ 1933 1969 là Hồ Tập Chương người
Miêu Lật, Đồng La, gốc Hẹ?
Để có thêm dữ kiện trong việc đi tìm sự thật Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Tất Thành sinh
trưởng tại làng Sen tỉnh Nghệ An hay Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương người Hẹ gốc tích tại
Miêu Lật, Đồng La được Cộng Sản Trung Quốc bố trí giả làm Nguyễn Tất Thành, chúng tôi
làm một việc trái ngược là trình bày những việc làm vào những năm cuối đời của Hồ Chí
Minh lên trước. Lý do: Người chính là việc và việc nói lên người. Tất cả những việc làm của
Hồ Chí Minh và hậu quả của nó vẫn còn đó với rất nhiều nhân chứng còn sống hoặc đã để lại
những tài liệu sống. Từ đó, chúng ta có thể đi tìm được câu trả lời tại sao Hồ Chí Minh lại
làm như vậy. Con người có thể muôn mặt và dối trá nhưng việc làm thì không thể che đậy
được. Nhìn vào việc làm chúng ta sẽ nhìn được mặt thật của Hồ Chí Minh và sẽ nhận ra con
người.
“Sự nghiệp” của Hồ Chí Minh còn “ghi đậm” trong lịch sử dân tộc, có thể sắp xếp theo thứ tự
thời gian:
Cuộc khởi nghĩa 19 tháng 8 năm1945,
Cuộc chiến 19461954 chống Pháp
Các cuộc Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai
Phẩm.
Cuộc chiến với Miền Nam ngay từ sau hiệp định Genève 1954 cho đến ngày Hồ Chí Minh
qua đời 291969 cùng với hậu quả của cuộc chiến.
1. Khởi nghĩa 1945 Hồ Chí Minh cướp công kháng chiến
Hoạt động của Hồ Chí Minh trong những năm 1938 là năm Hồ rời Mạc Tư Khoa cho đến
năm 1945 là năm về Hà Nội gần như không có gì nổi trội ngoài việc về hang Pắc Bó ngồi
chồm hổm trên ghế đá chông chênh dịch sử đảng và dạy kèm chính trị (?) cho đồng chí cháu
gái Nông Thị Trưng rồi cùng cháu gái Nông Thị Trưng hợp soạn ra tác phẩm Nông Đức
Mạnh. Phải chăng lúc này Hồ Chí Minh bị thất nghiệp vì kẻ đứng ra chi tiền là Nga Sô đang
bị Đức đánh cho tối tăm mặt mũi nên không có tiền chu cấp cho lũ tay sai.
Cùng vào thời gian này, trong khi Đức xâm chiếm Ba Lan và nuốt gần hết Âu Châu thì Nhật
đem quân xâm lăng Trung Hoa vào năm 1937 với ý đồ thống trị Á Châu. Năm 1939 quân Ý
dưới quyền Benito Mussolini (18831945) xâm chiếm Albania đồng thời ký một thỏa hiệp
với Đức (the Pact of Steel). Ba nước này tạo thành phe Trục “NhậtĐứcÝ”. Một hiệp ước bất
tương xâm Nga Đức cũng được bí mật ký kết giữa hai ngoại trưởng Molotov (Nga)
Ribbentrop (Đức) thỏa thuận để Nga và Đức chia nhau Âu Châu và các nước vùng biển
Baltiques.
Thế chiến thứ hai bùng nổ. Tháng 61941 quân Đức bất thần tiến đánh Nga Sô và xua quân
chiếm Bắc Phi. Thủ tướng Churchill của Anh Quốc đã thành công trong việc chống lại Đức ở
vùng Bắc Phi và vùng Atlantic. Tháng 121941 Hoa Kỳ nhập cuộc khi Nhật tấn công Trân
Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7121941 gây thiệt hại hơn 2,300 nhân mạng, đánh đắm
hai chiến hạm Arizona và Oklahoma cùng 12 tàu chiến khác, phá hủy và làm hư hại trên 300
phi cơ. Trước đây Hoa Kỳ chỉ yểm trợ nhưng không trực tiếp tham chiến. Sau vụ Trân Châu
Cảng Hoa Kỳ nhập cuộc và trở thành lãnh đạo của phe Đồng Minh. Từ năm này phe Trục gặp
khó khăn, nhất là khi Nhật thua trận tại Midway và Đức bị đánh bại tại Bắc Phi. Năm 1944
quân Đồng Minh tiến vào giải phóng nước Pháp buộc Đức phải đầu hàng vào ngày 851945.
Tại Việt Nam, Nhật lật Pháp trong cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945 chấm dứt 80
năm đô hộ của thực dân Pháp. Lần đầu tiên một chính phủ gồm toàn người Việt Nam của một
nước Việt Nam độc lập thống nhất được thành lập vào ngày 1741945 và ra mắt quốc dân
ngày 19 tháng 4 năm 1945. Không thể tin rằng Nhật lật Pháp với chủ tâm dành độc lập cho
Việt Nam nhưng chắc chắn là Nhật muốn có một Việt Nam do người Việt Nam cầm đầu vì ơn
nghĩa này mà góp sức với Nhật trong lá bài Đại Đông Á. Tuy nhiên, với kỹ thuật tuyên truyền
đầu độc tinh vi xảo trá khôn khéo của Cộng Sản không ít người đã lầm lạc tin theo lời vu
khống rằng chính phủ Trần Trọng Kim theo Nhật. Sự thật chính phủ Trần Trọng Kim chỉ
nương gió phất cờ để dành lại độc lập cho Việt Nam khi thời cơ đến, nhất là lúc đó Việt Nam
còn là một thuộc quốc của Pháp, không có lực lượng, không có vũ khí.
Tuy nhiên, cuộc chiến càng ngày càng bất lợi cho phe Trục. Đức đầu hàng ngày 851945 thì
Nhật cũng phải đầu hàng sau khi Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và
Nagazaki vào hai ngày 681945 và ngày 981945. Vì nguy cơ cả nước bị hủy diệt nên ngày
1581945 Hoàng Đế Nhật Bản cho ghi âm và cho phát thanh bài diễn văn quyết định chấm
dứt chiến tranh. Ngày 291945 Bộ Trưởng Ngoại Giao Nhật Bản Mamoru Shigemitsu ký văn
kiện đầu hànghoa Kỳ trên chiến hạm USS Missouri trước sự chứng kiến của tướng Richard
K. Sutherland.
Thành phần nội các chính phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4 năm 1945:
Thủ Tướng: Giáo sư Trần Trọng Kim
Bộ trưởng Nội Vụ: Bác sĩ trần Đình Nam
Bộ Trưởng Ngoại Giao: Luật sư Trần Văn Chương
Bộ Trưởng Tư Pháp: Luật sư Vũ Đình Hòe
Bộ Trưởng Giáo Dục: Giáo sư Hoàng Xuân Hãn
Bộ Trưởng Kinh Tế: Bác sĩ Hồ Tá Khanh,
Bộ Trưởng Tài Chánh: Luật sư Vũ Văn Hiền,
Bộ Trưởng Y Tế: Bác sĩ Vũ Ngọc Anh,
Bộ Trưởng Tư Pháp: Luật sư Trịnh Đình Thảo
Bộ trưởng thanh Niên: Luật sư Phan Anh,
Khâm sai Bắc Bộ: Phan Kế Toại,
Khâm sai Nam Bộ: Nguyễn Văn Sâm (bị ám sát ngày 10101945)
Quốc Vụ Khanh đặc trách 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh: Đặng văn Hưởng.
Cụ Đặng Văn Hướng là thân sinh của con mèo què đường số 4 Đặng Văn Việt. Năm 1954 cụ
Hướng bị Việt Cộng đem nhốt chuồng trâu và bị đấu tố đến chết nhưng tên con khốn nạn bất
hiếu này vẫn cúc cung ca tụng Hồ Chí Minh là kẻ đã giết bố mình. Đăng Văn Việt được nổi
tiếng là một trong Tứ Đại Bất Hiếu của Việt Nam gồm Phạm Tuyên con Phạm Quỳnh (bị Việt
Cộng chôn sống), Nguyễn Khắc Viện con cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niệm (bị đấu tố đến
chết) và Thu Tứ Đoàn Thế Phúc viết bài chửi bố là “ngoài tính rất đỗi cục bộ và tập trung
vào cái xấu hoặc bất thường, còn một đặc tính nữa là hay khuếch đại...”
Trở lại nội các Trần Trọng Kim. Mặc dù chỉ được tồn tại trong thời gian ngắn ngủi có bốn
tháng, lại mang tiếng là chính phủ bù nhìn thân Nhật, nhưng Thủ tướng Trần Trọng Kim đã
hoàn tất những việc quan trọng như:
Tuyên bố nước Việt Nam độc lập và hủy bỏ Hiệp Ước Patenôtre 1884.
Thống nhất đất nước. Cải tổ cơ cấu hành chánh. Nam Kỳ là của Việt Nam.
Thả tù chính trị. Các tổ chức và hội đoàn chính trị được hoạt động công khai.
Chương trình học bằng tiếng Pháp được chuyển sang học bằng tiếng Việt và chữ Việt được
dùng chính thức trong tất cả các giao dịch của chính phủ…
Từ bao lâu nay, người dân, nhất là lớp trẻ học sinh sinh viên, bị chế độ nhồi nhét đầu độc
rằng cuộc cuộc Tổng Khởi Nghĩa 19/8/1945 đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Nhật thành
công là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh dưới sự chỉ
đường của chủ nghĩa MacLênin.
Đây là việc bóp méo lịch sử một cách thô bạo.
Ngay cả người Cộng Sản cũng không thể phủ nhận công cuộc chống thực dân Pháp đã có từ
ngày Pháp vừa đặt chân đến Việt Nam: Phan Đình Phùng với hịch Cần Vương. Hùm Thiêng
Yên Thế với Hoàng Hoa Thám. Hỏa hồng Nhật Tảo với Nguyễn Trung Trực. Đầm lầy Bãi
Sậy với Tán Thuật Nguyễn Thiện Thuật. Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Nguyễn Thái Học. Nhóm Tâm Tâm Xã của Phạm Hồng Thái. Việt Nam Quang Phục Hội
của vua Duy Tân,Trần Cao Vân, Thái Phiên.... Ngoài ra chưa kể đến các Phong Trào Đông
Du của Phan Bội Châu, phong trào Tây Du của Phan Chu Trinh và của biết bao anh hùng liệt
nữ khác. Tất cả cùng chung chí hướng chống Pháp để dành độc lập tự do cho dân tộc. Tất cả
những đảng phái tổ chức cùng các vị anh hùng liệt nữ này chưa hề biết đến chủ nghĩa Cộng
Sản hay MacLênin là thằng nào, hoặc có biết mà không chấp nhận như trường hợp các cụ
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhóm Tâm Tâm Xã hay Việt Nam Quốc Dân Đảng.... chỉ vì
sáng suốt thấy rõ con đường MácLê chỉ là con đường lừa dối bịp bợm.
Theo Nghiêm Kế Tổ, một nhân vật trọng yếu của Đại Việt cùng hoạt động với Nhất Linh
Nguyễn Tường Tam, trong Việt Nam Máu Lửa (Saigon,1954, Xuân Thu tái bản, California
1989) thì ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh Tổng Hội Công Chức Hà Nội triệu tập một
cuộc họp ở Nhà Hát Lớn vào ngày 178 để đòi độc lập cho dân tộc. Nắm bắt được thời thế
các cán bộ Cộng Sản có mặt hôm đó đã trương lên lá cờ đỏ của họ. Một cán bộ Dân Chủ
Đảng, cô Tâm Kính, đứng ra kêu gọi mọi người đi biểu tình. Ngày 198 hàng mấy chục vạn
dân chúng đã tụ tập dưới sự hướng dẫn của Ủy Ban Khởi Nghĩa gồm đủ mọi thành phần và
đảng phái. Cuộc tuần hành tiến đến dinh Khâm sai Phan Kế Toại, sau đó đến Tòa Đốc Lý của
Thị trưởng Trần Văn Lai. Cả hai, Phan Kế Toại và Trần Văn Lai, đều chấp nhận đòi hỏi của
người biểu tình và không có sự phản kháng. Lá cờ nền đỏ sao vàng bỗng chốc trở thành biểu
tượng của cách mạng. Lúc đó người dân không biết Cộng Sản là gì mà chỉ biết Việt Minh vì
lầm tưởng Việt Minh là Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.
Vào ngày này, 1981945, Hồ Chí Minh còn ở Tuyên Quang, sau đó mới lục tục kéo nhau về
Hà Nội. Ngày 291945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập tại công trường Ba Đình và
giới thiệu chính phủ lâm thời.
Một nhân chứng khác, cũng trong việc Cộng Sản đánh Pháp đuổi Nhật. Ông Trần Đỉnh,
người đã viết tiểu sử cho Hồ Chí Minh, người có vô số hình ảnh chụp chung với Hồ Chí
Minh, người tuy mang chức vụ khiêm tốn nhưng luôn luôn sát cạnh bên Hồ Chí Minh, người
từng ngồi một xe với Hồ Chí Minh, nghĩa là người mắt thấy tai nghe chứ không phải kẻ ăn ốc
nói mò, nguyên là đảng viên cộng sản, đã viết trong chương 50, tập 2, Đèn Cù, đưa ra bằng
chứng Cộng Sản cướp công kháng chiến như sau:
Ở Hà Nội, sáng ngày 17/8/1945, Tổng hội công chức của Chính phủ Trần Trọng Kim đã tổ
chức một cuộc mít tinh đông tới hàng chục ngàn người tại Nhà hát lớn để bày tỏ ý chí bảo vệ
tổ quốc. Cuộc mít tinh vừa bắt đầu thì một nữ thanh niên trí thức xưng tên là Nguyễn Khoa
Diệu Hồng (*) leo lên khán đài cướp micro, hô khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh“ và một người
khác rải một lá cờ đỏ sao vàng từ trên ban công xuống. Đám đông hô khẩu hiệu hưởng ứng.
Từ đó cuộc mít tinh của Tổng hội công chức biến thành cuộc biểu tình của Việt Minh. Khi
cướp chính quyền ở Hanoi, Hồ Chí Minh còn ở trên Khu căn cứ chưa biết gì. Ông Trường
Chinh và ông Võ Nguyên Giáp cũng chưa biết gì. Hai ngày sau, ngày 19/8/1945, Việt Minh
lại tổ chức một cuộc mít tinh khác kéo đến bao vây Bắc Bộ Phủ để cướp chính quyền từ
Khâm sai Phan Kế Toại, rồi kéo sang Trại Bảo an binh (còn gọi là trại lính khố xanh) trên
phố Đồng Khánh. Một cuộc thương lượng đã được thỏa thuận giữa Sĩ quan chỉ huy người
Nhật và đại diện Việt Minh, để Việt Minh treo cờ đỏ sao vàng trên trại Bảo an binh. Từ đó,
cuộc cướp chính quyền của Việt Minh từ chính phủ Trần Trọng Kim ở Hanoi đã thành công.
Chính phủ Trần Trọng Kim, từ Thủ tướng đến các khâm sai như Phan Kế Toại, Nguyễn Xuân
Chử đều từ chối gợi ý của phía Nhật can thiệp, đàn áp Việt Minh để giữ trật tự an ninh. . Dù
đã cướp được chính quyền nhưng Việt Minh muốn làm gì có liên quan đến trật tự an ninh đều
phải được phép của quân đội Nhật, chẳng hạn Đội quân giải phóng của Việt Minh từ Thái
Nguyên về Hanoi, muốn qua sông Đuống cũng phải xin phép quân đội Nhật. Sau này Lê
Trọng Nghĩa kể lại với Trần Đĩnh: ”Tôi trực tiếp đàm phán với Nhật nên tôi biết tuy họ đã
hàng đồng minh nhưng ở Việt Nam họ còn rất mạnh và rất oai. Ai nói quân Nhật đã mất tinh
thần và tan rã là nói không đúng sự thật. Nếu cứ theo quân lệnh số 1, nổ súng vào quân Nhật
thì chắc chắn bị đàn áp và thất bại“. Khi quân đồng minh vào Việt Nam, Việt Minh cũng
không có danh nghĩa gì để cùng đồng minh tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật. Vì vậy
nói rằng Việt Minh đã đánh Nhật để giành chính quyền từ tay quân Nhật cũng là nói lấy
được.
Một nhân chứng khác nữa, nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1945 Phạm Duy đang sống tại Saigon.
Ông thuộc Đội vũ trang tuyên truyền của Việt Minh và kể lại nơi chương 3, tập 2, trong cuốn
Hồi ký Phạm Duy như sau:
Tin từ Hanoi báo vào ngoài Bắc đã có Mặt trận Việt Minh. Tôi tham gia Thanh Niên Tiền
Phong do Phạm Ngọc Thạch đứng đầu và tham gia cướp chính quyền ở Saigon ngày
25/8/1945. Thật ra mọi việc đã an bài kể từ khi Việt Minh ở Hanoi đã cướp chính quyền
thành công. Cuộc mít tinh ngày 25/8/1945 ở Saigon với “lá cờ vàng sao đỏ của Thanh Niên
Tiền Phong” chứ không phải là cờ đỏ sao vàng, chỉ để làm một việc là ủng hộ Ủy Ban Hành
Chính lâm thời của Saigon do ông Trần Văn Giàu làm Chủ tịch...
Chính vào thời điểm này thực lực băng đảng Cộng Sản vẫn chưa có gì. Biết mình biết người,
Hồ Chí Minh quỷ quyệt giấu kín cái đuôi Cộng Sản của mình để cả nước lầm tưởng Việt
Minh là Việt Nam Độc Lâp Đồng Minh Hội của các nhà cách mạng Trương Bội Công, Hồ
Học Lãm. Ngày 11111945 Hồ Chí Minh còn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản thay vào đó
là Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mac và cử Trường Chinh Đặng Xuân Khu làm Chủ Tịch Hội.
Cuộc tổng tuyển cử ngày 611946 cho thấy phe đảng Hồ Chí Minh phải nhường 70 ghế cho
các đảng phái khác. Một chính phủ Liên Hiệp được thành hình gồm:
Chủ Tịch: Hồ Chí Minh
Phó Chủ Tịch, cụ Nguyễn Hải Thần (Việt Cách)
Cố vấn: Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại)
Bộ trưởng Bộ Nội Vụ: Huỳnh Thúc Kháng
Bộ Trưởng Bộ ngoại Giao Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính)
Bộ trưởng Quốc Phòng: Phan Anh
Bộ trưởng Tư Pháp: Vũ Đình Hòe (Dân Chủ)
Bộ trưởng Lao Động: Nguyễn Văn Tạo (Mác xít)
Bộ trưởng Tài Chánh: Lê Văn Hiến (Mác Xít)
Bộ trưởng Xã Hội Y Tế: Trương Đình Chi (Việt Cách)
Bộ trưởng Kinh Tế: Chu Bá Phượng (Việt Quốc)
Bộ trưởng Canh Nông:Bồ Xuân Luật (Việt Cách)
Bộ trưởng Công Chánh: Trần Đăng Khoa (Dân Chủ)
Những diễn biến nêu trên cho thấy nếu thật sự cuộc cách mạng tháng 8 thành công là
do đảng Cộng Sản lãnh đạo thì không đời nào Hồ Chí Minh lại chịu chia ghế cho các
đảng phái khác và phải đấu kín cái đuôi Cộng Sản.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh lại thành công trong việc cướp giật chính quyền. Với cuộc đời bôn
ba trôi nổi cộng với sự trui luyện dạy dỗ tại một trường đào tạo mật vụ bậc nhất Nga Sô, phải
công nhận Hồ Chí Minh là một tay ma mãnh, quyền biến, biết nắm bắt thời cuộc, trong khi
các đảng phái khác lại bỏ lỡ thời cơ và không chạy kịp thời cuộc..
Tóm lại, chuyện Việt Cộng đánh Pháp đuổi Nhật rõ ràng là chuyện thần thoại vì Pháp đã bị
Nhật xóa sổ tại ba nước Việt Miên Lào trong cuộc đảo chính tháng 31945. Toàn Quyền
Đông Dương lúc bấy giờ là Decoux cũng bị Nhật bắt nhốt và một chính phủ lâm thời gồm
toàn người Việt Nam do học giả Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng đã được thành lập. Về phần
Nhật thì Nhật Hoàng đã tuyên bố đầu hàng và quân binh Nhật đã buông bỏ vũ khí ở trong trại
chờ quân Đồng Minh đến giải giới.
Như vậy đâu còn Pháp và Nhật mà đuổi với đánh. Băng đảng Cộng Sản đuổi và đánh là đuổi
và đánh những người quốc gia không chấp nhận chủ nghĩa đảng trị, độc tài, độc ác, vô luân,
không tưởng và dối trá lừa bịp. Hồ Chí Minh đuổi và đánh là đuổi và đánh Việt Quốc, Việt
Cách, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Phú Sổ, Lý Đông A, Hoàng Xuân Hãn,
Nguyễn Tường Tam, Nhượng Tống, Khái Hưng... quy kết tất cả các đảng phái khác là phản
động rồi thẳng tay tiêu diệt, điển hình là vụ Ôn Như Hầu.
Bao nhiêu xương máu đã đổ ra, bao nhiêu anh hùng liệt nữ đã ngã xuống, bao nhiêu người đã
chịu tù đày hay lên máy chém để vun bồi cây độc lập cho đất nước nhưng cuối cùng Hồ Chí
Minh cùng băng đảng Cộng Sản nhanh tay hái trái. Vì sao lại có thể xảy ra sự kiện này? Câu
trả lời thật giản dị là phía người Quốc Gia hoạt động riêng lẻ và không có phương tiện. Tất cả
chỉ do lòng yêu nước và sự hy sinh đóng góp của từng cá nhân. Trong khi đó Cộng Sản là
một tổ chức lưu manh, có mục đích, có đường hướng, có kỹ luật sắt máu, được trui luyện kỹ
càng, được chỉ huy chặt chẽ, và nhất là có sự yểm trợ tiền bạc tích cực từ Nga Sô, Trung
Cộng.
Cuộc chiến 19461954
Thế chiến thứ hai kết thúc nhưng Đông Dương là một thuộc địa béo bở của Pháp nên Pháp đã
tìm cách trở lại ngay khi có cơ hội. Theo sự sắp xếp của Đồng Minh, quân Trung Hoa được
vào miền Bắc và liên quân AnhẤn được vào Miền Nam để giải giới quân đội Nhật. Lợi dụng
cơ hội này Pháp núp theo chân Anh Ấn trở lại Việt Nam.
Ngày 1121945 quân Pháp từ Nha Trang tiến lên chiếm đóng nhiều vùng ở Cao nguyên.
Ngày 911946 Pháp chiếm Long Xuyên và Sa Đéc.
Ngày 1311946 bộ đội Việt Minh tấn công Quốc Dân Đảng tại Việt Trì.
Ngày 1311946 Việt Cộng tấn công Việt Quốc tại Việt Trì.
Ngày 2211946 Việt Minh (Cộng sản) lại ký thỏa hiệp với Việt Quốc (Việt Nam Quốc Dân
Đảng) và Việt Cách (Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội) nhưng ngày 2311946 Việt
Cộng lại tấn công Việt Cách tại Tiên Yên.
Ngày 331946 thành lập Chính Phủ Liên Hiệp.
Ngày 631946 Hồ Chí Minh ký hiệp Định Sơ Bộ (Accords Preliminaires) với Pháp. Ngày
1831946 quân Pháp dưới quyền Leclerc tới Hà Nội. Ngày 741946 quân Pháp tới Nam
Định.
Ngày 0161946 Việt Cộng đánh Việt Cách tại Phủ Lạng Thương. Ngày 2261946 Hồ Chí
Minh cho thủ hạ lùng diệt Việt Cách tại thị xã Lạng Sơn.
Ngày 1171946 Võ Nguyên Giáp lùng bắt Việt Quốc và Việt Cách tại Hà Nội, ngụy tạo vụ
thủ tiêu người và chôn súng tại nhà số 7 đường Bonifacy và số 46 đường Halais, thường gọi
là vụ Ôn Như Hầu.
Nửa đêm 1491946 Hồ Chí Minh tới nhà Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet
ký thỏa ước tạm thời (Modus Vivendi). Ngày 19121946 cuộc kháng chiến bùng nổ trên toàn
quốc sau những cuộc đàm phán và thương thảo thất bại. Với sự khôn ngoan quỷ quyệt Hồ
Chí Minh cho rút tất cả các bộ phận đầu não của Cộng Sản ra mật khu, khoán trắng cuộc
kháng chiến chống Pháp cho Tự Vệ Thành và cho những người quốc gia yêu nước.
Cũng trong thời gian này, lợi dụng thời cuộc lộn xộn tranh tối tranh sáng, Hồ Chí Minh đã
cùng băng đảng tìm mọi cách triệt hạ những nhân vật và đảng phái có thể gây nên bất lợi cho
chúng: Cộng Sản giết Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, thủ tiêu các nhà cách
mạng Lý Đông A, Nhượng Tống, Khái Hưng, lập mưu bôi nhọ và triệt hạ Việt Nam Quốc
Dân Đảng. Ngay cả những người Cộng Sản khác mà không chịu đi cùng đường với chúng thì
cũng bị giết như Tạ Thu Thâu của nhóm Đệ Tứ, hoặc nếu không giết được thì mượn tay kẻ
khác như trường hợp Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm...
Cần phải minh bạch ở đây là những người đi kháng chiến hoặc tích cực ủng hộ đóng góp cho
kháng chiến thời 1945 hầu hết là vì lòng yêu nước chống Pháp chứ không phải vì theo Cộng
Sản. Một số người này sau khi thấy được mặt thật của Cộng sản đã rời bỏ kháng chiến rút vào
bóng tối và sau này trở thành những nhân tố chống Cộng tích cực. Tiêu biểu là Tổng Thống
Trần Văn Hương, Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Trần Chánh
Thành, Bộ Trưởng Y Tế Trần Ngươn Phiêu, Đổng Lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống Quách
Tòng Đức, học giả Đoàn Thêm, học giả Hoàng Văn Chí, luật sư Lê Trọng Quát, kỹ sư Trần
Văn Văn (thân phụ anh hùng Trần Văn Bá), các tướng Nguyễn Bảo Trị, Lê Nguyên Khang,
Phan Hòa Hiệp…Về văn học giáo dục nghệ thuật như Vũ Hoàng Chương, Chu Tử (Chu Văn
Bình) Doãn Quốc Sỹ, Tạ Quang Khôi, Vũ Lai Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyên Sa, Phan
Lạc Phúc, Nguyễn Đức Quỳnh, Vũ Đức Diên, Như Phong, Phạm Đình Chương, Lê Thương,
Văn Phụng, Lê Trọng Nguyễn, Hoàng Thi Thơ, Y Vân, Tạ Tỵ, Mặc Thu, Thanh Nam, Ngọc
Bích, Văn Phụng, Vũ Đức Diên, ban Thăng Long……..Ngay cả ông Ngô Đình Nhu cũng đã
một thời đi theo kháng chiến và đã từng giữ chức Giám Đốc Nha Lưu Trữ Công Văn và Thư
Viện Toàn Quốc qua sắc lệnh bổ nhiệm số 21 ngày 891945 mang chữ ký của Võ Nguyên
Giáp lúc đó giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ.
Tiếc thay vận nước không ngừng lại ở đây. Năm 1949, ngay sau khi chiếm được Trung Hoa
Mao Trạch Đông liền thực hiện âm mưu đồng hóa Việt Nam, nhằm biến Việt Nam thành một
thứ Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng.
Mao chi viện và hoạch định mặt trận Cao Bắc Lạng 19491950 (Nguyễn Huy Tưởng Chiến
thắng Cao Bắc Lạng) và mặt trận Điện Biên Phủ 1954. Tất cả đều nằm trong kế hoạch dùng
xương máu người Việt đánh Tây rước Tàu và kẻ đứng ra thực hiện là Hồ Chí Minh. Nói tới
chiến tranh Pháp và CS/Việt Nam (1946 – 1954) không ai không biết tầm quan trọng của viện
trợ quân sự từ Cộng Sản Trung Quốc cho Cộng Sản Việt Nam. Nó đóng vai trò quyết định
tuyệt đối
Tài liệu dưới đây được nhà báo Hoàng Thanh Trúc ghi lại từ tư liệu giáo khoa lịch sử có tiêu
đề “Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam” hiện lưu trữ tại
trường Đại Học tỉnh Thái Nguyên, Bắc Việt, được đăng tải trên điện báo danlambaovn.
"Đặc biệt trong trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954 một số cố vấn cao cấp quân sự và chính
trị Trung Quốc có mặt để hoạch định chiến lược, chỉ huy trực tiếp, gồm:
Vi Quốc Thanh (韦国清): trưởng đoàn cố vấn quân sự.
La Quý Ba (罗贵波): trưởng cố vấn chính trị.
Trong đoàn cố vấn chính trị, có nhiều ban chuyên môn:
Kiều Hiểu Quang (乔晓光), cố vấn đoàn phó đoàn cố vấn chính trị do La Quý Ba (罗贵波)
cầm đầu.
Có nhiều phụ tá như Hoàng Quần (黄群)
Tạ Ất (谢乙) , Vương Ngôn Đường (王言堂): tình báo.
Kim Chiếu Điện (金照殿): công an.
Trương Đức Cần (张德勤): tổ chức.
Triệu Tử Thiện (赵子善): tài chánh.
Vương Tử Cần (王子勤): hậu cần...
...
Mao Trạch Đông và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định ra sức tổng chi viện
cho cuộc Chiến tranh chống Pháp (trận ĐBP) của CS Việt Nam, lần lượt cử Đại tướng Trần
Canh thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đoàn Cố vấn Quân sự do Thượng
tướng Vi Quốc Thanh đứng đầu và Đoàn Cố vấn Chính trị do đồng chí La Quý Ba lãnh đạo,
sang hỗ trợ Việt Nam. Nhằm đối phó với ưu thế trên không và trọng pháo mãnh liệt của quân
Pháp, Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mệnh lệnh cho Quân giải phóng
nhân dân TQ điều động tập kết 24 khẩu pháo 105 tốt nhất, hàng chục cao xạ pháo và hàng
trăm loại pháo tầm trung khác, cấp tốc vận chuyển đưa vào Việt Nam. Đứng trước tình hình
quân Pháp bố phòng nghiêm mật, công sự kiên cố, hỏa lực mãnh liệt, cố vấn Trung Quốc đã
chỉ đạo cách đánh gần, đào giao thông hào sát địch, còn cử những chuyên gia đào hào của
Quân chí nguyện từ mặt trận Triều Tiên về nước sang Điện Biên Phủ chỉ đạo thực thi tác
chiến hầm hào (Tư liệu giáo khoa Đại Học Thái Nguyên)
Chưa kể trước đó 1 năm (1952) Cộng Sản Trung Quốc đã viện trợ cho Hồ Chí Minh: 14.000
súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300
bazooka, cùng đạn dược, thuốc men, quần áo và 2800 tấn thực phẩm. Số liệu này lấy từ
quyển “Các dữ kiện lịch sử về vai trò quân sự của Trung Quốc trong cuộc đấu tranh hổ trợ
Việt Nam chống Pháp” xuất bản ở Trung Quốc 1990)
Gần đây nhất, đáng chú ý là Tập Sách “China and the Vietnam Wars, 19501975” của Qiang
Zhai (Tường Trạch) giáo sư lịch sử Đại Học Auburn University Montgomery xuất bản 2000
và “Mao’s China and the Cold War” của Jian Chen (2001). Cả hai tập sách do NXB đại học
North Carolina ấn hành trong khuôn khổ lịch sử chiến tranh Việt nam. Sách của Qiang Zhai
được nhiều tờ báo đánh giá là nghiên cứu sâu sắc nhất về quan hệ TrungViệt thời chiến
tranh.
Bên cạnh đó là các thông tin do Trung Quốc công bố vài năm qua (gồm tài liệu nội bộ mới
giải mật, hồi ký, nhật ký và các quyển sử của các tác giả Trung Quốc), Tập tài liệu được nói
tới ở đây là một tập hợp những bài viết của “một số lão đồng chí đã từng công tác trong
Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời
của nhóm biên tập sách viết trong Lời Cuối Sách vào tháng 12 năm 2001 tập sách có nhan đề
“Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Trung Quốc và Viện Trợ Quân Sự cho CS/Việt Nam
Chống Pháp” (Hồi ký của những người trong cuộc) do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng
Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và
Dương Danh Dy. cựu Tổng lãnh sự của Cộng Sản Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc
cũng là người hiệu đính. Bản dịch này không ghi nơi xuất bản cũng như tên nhà xuất bản với
lý do được ghi là tài liệu lưu hành nội bộ và được gửi từ trong nước ra hải ngoại qua thư
điện tử.
Tập tài liệu này dày 280 trang, Tác giả đầu tiên là La Quý Ba, người được Trung Ương Đảng
Cộng Sản Trung Quốc bí mật cử sang Việt Nam đầu năm 1950 làm đại diện liên lạc giữa
Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương, sau
này là Đại Sứ đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc ở Việt Nam.
Tác giả thứ hai là Trương Quảng Hoa. Ông này xuất thân làm công tác ở văn phòng cố vấn
quân sự của Đoàn Cố Vấn, lo về thống kê nên nắm vững tình hình giao nhận vật tư để báo
cáo cho lãnh đạo của Đoàn.
Các cố vấn Trung Quốc trong tập “Ghi Chép Thực” kể trên đã gần như nói ngược lại những
gì mà chế độ CSVN vẫn thường tự đắc phô trương với người dân trong nước và quốc tế.
Không những thế các cố vấn Trung Quốc còn viết nhiều hơn nữa, không riêng về quân sự
như cung cấp dư dả súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng, soạn thảo tài liệu huấn
luyện, tái tổ chức lại quân đội với chủ trương đặt nặng vai trò của chinh trị trong quân đội,
thành lập và võ trang những đại đơn vị mới như các Đại Đoàn 316, 320, 325, 351 và một
trung đoàn công binh Trung Cộng bên cạnh các đại đoàn 304, 308, 312 và một số trung đoàn
đã có từ trước, mà còn giúp Việt Minh giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chánh, đặc
biệt là về lương thực để Việt Minh từ thế gần như thụ động, bị quân Pháp bao vây trên nhiều
mặt, sang chủ động làm chủ chiến trường. Các cố vấn Tàu còn cho biết họ đã soạn thảo các
chiến lược và trực tiếp tham gia chiến trận cùng với quân đội của Tướng Giáp từ đó đã giúp
cho Cộng Sản Việt Nam chiến thắng trong trận Điện Biên Phủ.
Đặt câu hỏi: Tại sao Trung Quốc nhiệt tình viện trợ to lớn cho CSVN như vậy?
Trả lời: Không phải viện trợ vì “tình đồng chí” hay vì “ý thức hệ chủ nghĩa Cộng Sản” mà vì
mưu toan bức thiết của Trung Cộng là dùng xương máu người Việt làm lá chắn cho mình ở
phía Nam và đánh đuổi Pháp đánh đuổi Mỹ để bành trướng biên giới về phía Nam.
Hồ Chí Minh và nhóm cố vấn CS/Tàu (bên trái) trước trận Điện Biên Phủ
Trận Điện Biên Phủ kết thúc đưa đến hiệp định Geneve 1954, chia cắt Việt Nam ra làm đôi,
Miền Bắc thuộc quyền Hồ Chí Minh, Miền Nam thuộc quyền chính phủ Ngô Đình Diệm và
Pháp phải rời khỏi Việt Nam.
Sự thật, đúng như lời Tổng Bí Thư Trung Ương Cộng Đảng Lê Duẫn xác nhận, Hồ Chí Minh
đánh Pháp đánh Mỹ là đánh cho Nga Sô Trung Cộng chứ không phải đánh Pháp vì độc lập tự
do cho dân tộc.
Thêm một bằng chứng khác cho thấy băng đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh chỉ là
cánh tay nối dài của Trung Cộng:
Trên tờ nhật báo Tiếng Dội số 462, năm thứ ba, 1951, âm lịch năm Tân Mão, giá bán 1 đồng,
chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, một cây bút thiên tả, tòa soạn và quản lý 216
đường Gia Long Saigon, có in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh, người chỉ
đứng sau Hồ Chí Minh, đưa ra lời kêu gọi như sau:
ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA. NĂM THỨ
VII.
ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC
TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
SỐ 284/LĐ
Hỡi đồng bào thân mến!
Tại sao lại nhận vào nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư
hầu cho Trung Quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!
Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, cách viết chữ dị
kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế?
Không, đồng bào chúng ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy một cách viết rõ ràng
có mau thật đấy và ta hãy trở về thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của
Trung Quốc.
Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ
thẹn mà nhìn nhận như thế có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn
nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!
Hỡi đồng bào yêu mến!
Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta!
Ta hãy từ bỏ nhà bảo sanh của chúng. Bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của
ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tầu danh tiếng khắp cả hoàn cầu!!!
Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra
khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa
học, phát minh v.v...
Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!
Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”
TRƯỜNG CHINH
ộ ả ạ ươ ệ ế ị ả ộCu c c i t o công th ng nghi p và chi n d ch c i cách ru ng
đất
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao) Sau khi ngư trị được miền Bắc Hồ Chí Minh lập tức tiến hành cái gọi là “Cải
Tạo Công Thương Nghiệp” và tiếp tục chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất” đã phát động từ
cuối năm 1953 tại các vùng Cộng Sản kiểm soát như tại Thái Nguyên hoặc một số tỉnh thuộc
Liên Khu 4, Liên Khu 5, bao gồm các tỉnh Thanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, Quảng Nam, Quãng Ngãi...
A. Cải tạo công thương nghiệp:
Theo lập luận của chủ nghĩa Mác Lê thì hai giới CÔNG và THƯƠNG nghiệp là bầy lũ ăn
bám, làm giàu nhờ bóc lột sức lao động của người khác. Chủ nhân các cơ sở CÔNG NGHIỆP
thuê mướn công nhân với một giá rẻ mạt để sản xuất vật dụng hàng hóa rồi bán ra với giá cắt
cổ, kiếm lời. Giới THƯƠNG NGHIỆP thì mua đi bán lại, mua rẻ bán đắt, mua một bán mười,
đầu cơ tích trữ, thao túng thị trường, ngồi mát ăn bát vàng. Vì thế, muốn có công bằng xã hội
thì cần phải dẹp bỏ hai giai cấp này.
Sự thật không giản dị như vậy. Dù mở một cơ xưởng công kỹ nghệ hay một tiệm bán chạp
phô nhỏ nhoi trong một xóm làng hẻo lánh người chủ cũng phải lao tâm khổ trí lo tìm vốn,
góp vốn, hoặc vay nợ, hoặc cầm thế nhà cửa. Sau đó còn phải cạnh tranh với những hãng
xưởng hay các cửa hàng bên cạnh, làm sao cho món hàng của mình tốt hơn và giá bán rẻ hơn.
Giỏi, gặp thời thì thành công. Không may, thua lỗ thì tiêu tan cơ nghiệp, táng gia bại sản, đôi
khi còn nợ nần chồng chất đến nỗi phải bỏ xứ trốn đi nơi khác, có khi cùng đường phải tự
vẫn.
Chính vì có sự cạnh tranh giữa hãng xưởng này và hãng xưởng khác, giữa tiệm buôn này với
tiệm buôn khác nên người tiêu dùng, tức là người dân, được hưởng lợi. Phẩm chất hàng hóa
tốt hơn, giá cả rẻ hơn. Bây giờ tất cả quy về một mối, chỉ có Cửa Hàng Quốc Doanh Nhà
Nước, bán sao phải mua vậy, không bán cho thì chết đói, mà muốn hàng cũng không dễ, phải
có sổ hộ khẩu, sổ lương thực, sổ xanh, sổ đỏ.
Sau 1975 những tên hậu duệ kế thừa Hồ Chí Minh cũng đem áp dụng hai chiến dịch Cải Tạo
Công Thương Nghiệp và Cải Cách Ruộng Đất tàn ác này vào Miền Nam. Tuy nhiên, nhờ vào
kinh nghiệm thu thập được trong các cao trào đấu tố tại Miền Bắc vào các năm 19531956
nên không có những màn con cái đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng hay chôn sống người theo
kiểu dã man thời trung cổ.
Đợt I của chiến dịch Cải Tạo Tư Sản Miền Nam khởi đầu ngày 04/9/1975. Đợt II tiến hành
vào tháng 12 năm 1976. Những tên cán bộ đảng viên đầu trâu mặt ngựa dẫn lũ khố rách áo
ôm và những tên cơ hội chụp giật bất ngờ nửa đêm xông vào từng cơ xưởng, từng tiệm buôn,
từng cửa hàng phở, từng cửa tiệm bán xe đạp..., đóng chốt, bắt gia chủ kê khai tài sản, sau đó
dồn tất cả người trong gia đình vào một góc rồi chia nhau lục lạo, lật từng viên gạch, đổ đất
trong các chậu cảnh, lật nắp cầu tiêu, tháo gỡ các khung hình treo tường, thậm chí lật cả bàn
thờ, đập các bức tượng để tìm tòi vàng ngọc châu báu tiền bạc của chủ nhà có thể cất dấu
trong đó. Hột xoàn ngọc thạch kim cương thì ghi vào biên bản là đá quý. Vàng thì ghi là kim
loại màu vàng.
Chủ nhà in Phong Phú trên đường Bùi Thị Xuân là bà Ngọc kể lại: Khi lục soát nhà tôi chúng
tìm được ba chục lượng vàng dấu trong chậu cảnh. Biên bản chúng ghi là 10 lượng và bắt ký
xác nhận. Tôi nói: Số vàng là 30 lượng mà biên bản ghi có 10 lượng? Cán bộ trả lời: “Ghi
nhiều thì đi tù lâu, ghi ít thì được tha sớm. Chị muốn ghi thế nào?”. Tôi sợ quá vội vàng ký
ngay vào biên bản.
Chiến dịch cải Tạo Công Thương Nghiệp tại Miền Nam tuy không đổ máu nhưng không phải
là không tàn nhẫn và không có người chết Những tên Cộng Sản tiếp nối Hồ Chí Minh từ
Miền Bắc vào Nam đã phát huy việc giết người không cần súng đạn bằng cách tịch thu nhà
cửa tài sản, cưỡng bức nạn nhân định cư vĩnh viễn tại các vùng rừng núi hoang địa, khỉ ho cò
gáy không ai biết đến, chỉ có làm mà chẳng có ăn, được mệnh danh là các vùng kinh tế mới
và buộc phải cư trú vĩnh viễn tại đó. Người dân bị dồn vào bước đường cùng, sớm muộn
cũng chết, trước sau cũng chết, nên đành liều mạng vượt biên vượt biển, lợi dụng màn đêm
tăm tối xuống một chiếc ghe nhỏ ra khơi, mặc cho sóng dập gió vùi hay trôi giạt về đâu, ngàn
chết một sống.
Con số nạn nhân chết oan ức, chết tức tưởi, chết vì tự tử, chết vì đói khổ, chết vì thiếu thuốc
men trên các vùng kinh tế mới hoặc chết trên đường vượt biên vượt biển đến nay vẫn không
ai biết nhưng chắc chắn phải là một con số không nhỏ.
Nơi chương III trong hồi ký “Bên Thắng Cuộc” nhà báo Huy Đức, một đảng viên Cộng Sản,
ghi rõ chỉ thị của Bộ Chính Trị Hà Nội là phải đuổi dân thành phố về vùng quê hay lên các
vùng đất hoang vu để tịch thu nhà cửa tài sản:
Số người bị đuổi khỏi thành phố được xác nhận:
Từ năm 1976 đến năm 1979 có 1,5 triệu người, 95% là từ Sài Gòn.
Từ năm 1979 đến năm 1984 có 1.3 triệu người, 50% là từ Sài Gòn.
Cùng thời gian này chúng lùng bắt quân dân cán chính Miền Nam giam cầm trong các trại tù
tập trung gọi hoa mỹ là trại học tập cải tạo. Chúng “Vào Vơ Vét Về”. Chúng tàn ác đến nỗi
người dân phải bỏ nhà bỏ cửa trốn đi vượt biên. Chúng gài bẫy, chúng bán bãi, chúng tạm
giam rồi cướp nhà để tra khảo vàng bạc. Gần ba triệu người vượt biên thì một nửa chết vì hải
tặc, vì chìm thuyền, vì thiếu lương thực. Chuyện vượt biên vượt biển khó khăn nguy hiểm
chết chóc là thế, vậy mà bồi bút Nguyễn Thị Ngọc Diệp đã viết bài “Ba mươi năm nhìn lại tội
ác cưỡng ép di cư của Mỹ, Ngụy ở miền Nam Việt Nam”, được lưu trữ trong hồ sơ Tội Ác Mỹ
Ngụy tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia III tại Sài Gòn (19752005) như sau:
…Cho đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ vẫn còn phạm thêm
tội ác “lợi dụng những dân tị nạn và trẻ mồ côi làm con tin”, cưỡng ép người Việt di cư sang
Mỹ chẳng khác gì việc “buôn bán nô lệ trong thế kỷ trước mà hàng triệu người da đen từ
Châu Phi đã bị đưa sang Mỹ”
Nhiều người không muốn di cư đã bị Mỹ tiêm thuốc mê để đưa đi. Đại bộ phận những người
di cư đã phải trải qua một cuộc sống thiếu thốn, khổ nhục, bị đày ải và vô cùng hỗn loạn tại
các lều vải của Mỹ và các nơi khác như ở khu vực Thái Bình Dương. Cho đến hôm nay, 30
năm sau, những con số, có giá trị lịch sử và có ý nghĩa to lớn đối với các nhà nghiên cứu…
Có giá trị lịch sử và có ý nghĩa to lớn vì lịch sử đã bị Việt Cộng bóp méo vo tròn. Ngay cả
dưới thời thực dân Pháp, phát xít Nhật và ngay cả nạn đói kinh hoàng năm 1945, dân số cả
nước chỉ có hơn hai chục triệu người mà con số bị chết đói lên đến 2 triệu, nghĩa là cứ mười
người chết một, cũng không có một người Việt Nam nào đành đoạn rời bỏ quê hương và cũng
không có một người cha hay người mẹ nào bán cả cơ nghiệp tài sản để lấy tiền gữi gấm con
mình cho người lạ, hay đưa con mình xuống một chiếc thuyền mong manh ra biển giữa đêm
khuya, ngàn chết một sống.
Quả thật, gần đến ngày 3041975 đã có trên dưới một trăm ngàn (100,000) người từng làm
việc cho DAO cho USOM, cho USIS… vì sợ bị kết tội ôm chân đế quốc, vì sợ bị hành hạ trả
thù, nên đã chạy một mình, hoặc đem theo gia đình thoát ra khỏi nước. Số còn lại, hơn ba
triệu người liều chết vượt biên vượt biển trong nhiều năm sau này chỉ vì họ chạy không kịp,
hay vì phải sống với Cộng Sản nên biết được thế nào là Cộng Sản. Những người này bỏ nước
ra đi không phải vì ôm chân đế quốc Mỹ. Nhiều người còn hận Mỹ là đàng khác vì họ cho
rằng Mỹ đã bỏ rơi Miền Nam. Nhưng có một điều rất chắc chắn là họ không bị chích thuốc
mê vì thuốc mê và kim tiêm lấy ở đâu ra để chích cho một lúc hàng triệu người. Chích rồi ai
khiêng ai? Bị chích thuốc mê rồi làm sao nhúc nhích để tìm bến, tìm bãi, tìm tàu?
Thật sự, họ đã phải nộp tiền hay nộp vàng cho công an để mua bãi. Họ phải gom góp dành
dụm từng đồng bạc, lùng mua chợ đen từng lít dầu rồi lén lút chôn dấu ngoài bãi biển để có
dầu vượt biển. Họ phải bỏ lại cha mẹ vợ con tài sản. Họ sẽ bị tịch thu nhà cửa và bị trút lên
đầu đủ mọi thứ tội, kể cả tội phản quốc. Họ phải chịu ngồi tù nếu không vượt thoát. Họ phải
bỏ mạng vì lính biên phòng. Thân xác họ phải nằm trong bụng cá nếu tàu gặp giông bão hay
tàu thiếu dầu hư máy. Họ ra đi mà không biết trôi dạt về đâu. Không phải chỉ riêng dân Miền
Nam vượt biên vượt biển mà có cả trăm ngàn nười dân Miền Bắc cũng vượt biên vượt biển
chạy trốn cái gọi là “Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhạc sĩ Châu Đình An đã viết bài hát
“Đêm Chôn Dầu Vượt Biển” rất xúc động.
Thời gian qua mau mau! Mới ngày nào những tên Cộng Sản vào đánh chiếm Miền Nam từ
trong rừng ra, vai đeo AK, hai bàn tay trắng, "đầu nón cối, chân dép râu, giữa lũng lẵng bác
“Hồ Chí Minh vĩ đại” bây giờ tên nào tên nấy giàu có nứt đố đổ vách. Chúng mua nhà mua
cửa. Chúng cho con cái du học và cho thân nhân ra ngoại quốc làm đầu cầu giữ tiền. Chúng
không dám chường mặt mà cho vợ con hay thân bằng quyến thuộc đứng tên làm chủ những
hãng xưởng hay những cơ sở kinh doanh trong nước và gọi “những người làm kinh doanh là
chiến sĩ của thời bình”.
Chúng lật lọng. Chúng nhổ rồi lại liếm. Nhà của một tên cán bộ xã còn to hơn nhà của ông
Nguyễn Văn Thiệu thời Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây, cần phải chú ý, chỉ có lũ đảng viên cán
bộ Cộng Sản là được hưởng bổng lộc giàu có uy quyền chứ người dân thường hoặc những ai
đi binh lính nghĩa vụ, nếu không phải là đảng viên thì dẫu “Sinh Bắc Tử Nam” cũng vẫn bị áp
bức bóc lột, vẫn trên răng, dưới dép, giữa lũng lẵng “Bác Hồ”.
Một thời Phạm Văn Đồng và băng đảng Cộng Sản từng gọi những người vượt biên là đĩ điếm
trộm cướp, là cặn bã của xã hội. Bây giờ chúng quay ngược 180 độ gọi những người vượt
biên là khúc ruột xa ngàn dặm và thi nhau rúc rỉa tất cả những gì trong khúc ruột non ruột già
ngàn dặm đó. Bỉ ổi hơn nữa, chúng vẫn không đả động gì đến việc trả lại tài sản cho những
khổ chủ từng bị chúng hành hạ và cướp giật trong các cuộc Cải Tạo Công Thương Nghiệp.
B. Chiến dịch cải cách ruộng đất
Song hành với chiến dịch “Cải Tạo Công Thương Nghiệp” là “Chiến dịch Cải Cách Ruộng
Đất”. Cộng Sản chia giới nông dân làm năm giai cấp: địa chủ, phú nông, trung nông, bần
nông và cố nông đồng thời đưa ra khẩu hiệu “Tiêu diệt địa chủ, cô lập phú nông, đoàn kết
trung nông, giải phóng bần cố nông” với lập luận địa chủ phú nông là những cường hào ác bá
làm giàu trên xương máu bần cố nông nên cần phải tiêu diệt. Khởi đầu cán bộ cộng sản dưới
tên “Đội Cải Cách” đến những vùng quy định tìm cho ra 5% gia đình để đấu tố theo chỉ tiêu.
Những gia đình này tất nhiên là thuộc loại có bát ăn bát để trong vùng. Tuy nhiên đây chỉ là
mặt nổi. Mặt chìm và mặt chính là tìm ra những người có uy tín nhất trong vùng để triệt hạ
bởi vì Cộng Sản độc tài, độc tôn và độc ác, không muốn ai ngoài băng đảng của chúng. Cái
trò san bằng giai cấp chỉ là trò dối trá bịp bợm dùng làm chiêu bài đánh lừa người dân. Cái
chủ yếu là tiêu diệt hết những gì có thể là những chướng ngại nguy hiểm cho trò độc tài độc
tôn của chúng.
Việc đầu tiên của Đội là tìm vào các gia đình nghèo “bắt rễ xâu chuỗi” bằng chính sách ba
cùng: “Cùng ăn, Cùng ở, Cùng làm” nghĩa là đội phân phối cán bộ đến ở những nhà nghèo
nhất, cùng ra đồng cầy cuốc làm việc với họ, tối về cùng ăn uống chung với họ. Sau đó gợi ý
cho người nghèo kể ra những nổi khổ và dẫn đến kết luận sở dĩ người dân phải chịu nghèo
đói khổ sở chỉ vì bị bọn địa chủ phú nông bóc lột. Bây giờ phải tiêu diệt bọn chúng, lấy lại
ruộng đất để chia đồng đều cho mọi người.
Suốt trong thời gian chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất những gia đình bị quy kết là địa chủ bị
cô lập, con cái không được bước ra khỏi nhà, làng xóm không ai được lại gần. Trước đêm đấu
tố cán bộ còn bắt những “RỄ NÒNG CỐT” được gọi là “RỄ CÁI”, tên gọi tắt của những kẻ
sẽ đứng ra đóng vai đấu tố phải học thuộc lòng những tội trạng do cán bộ ghi sẵn. Phải nói
làm sao, khóc làm sao, lúc nào vung tay, lúc nào rấm rứt, uất nghẹn, lúc nào lau nước mắt, lúc
nào ngất xỉu để kích động sự căm thù của quần chúng. Những bản án đều được quy định
trước.
Thí điểm đầu tiên mở màn tại Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên vào tháng 41953. Nạn nhân là
một người đàn bà tên Nguyễn Thị Năm, thường được gọi là bà Cát Hanh Long, bị đưa ra đấu
tố, bị hành hạ và bị xử bắn ngay tại chỗ. Báo Nhân Dân đã tường thuật từng chi tiết diễn biến
vụ đấu tố này nhưng dấu nhẹm việc các thủ lãnh cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc
Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, đã nhiều năm đến núp váy bà,
gọi bà là mẹ nuôi, nhờ bà che chở bao bọc khi còn hoạt động trong bóng tối. Bà đã đóng góp
110 lạng vàng vào những ngày đầu kháng chiến và được tặng danh hiệu địa chủ yêu nước.
Hai con trai bà, ông Nguyễn Công làm chính uỷ trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội
phó bộ đội thông tin.
Điều không thể không nói là bà Cát Hanh Long cũng như ông Trịnh Văn Bô là hai người
được tuyên dương công trạng trong chiến dịch “Tuần Lễ Vàng Cứu Quốc”. Trong buổi công
bố kết quả Hồ Chí Minh đã từng nói với bà Cát Thanh Long và ông Trịnh văn Bô: “Cô Chú
là ân nhân của Đảng và của dân tộc”
Bà Cát Thanh Long Nguyễn Thị Năm có dồn điền ở tại Hải Phòng ngày Tuần Lễ Vàng ủng
hộ 110 lạng, từng nuôi lũ Tố Hữu, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Nguyễn
Lương Bằng... trong nhà
Trịnh Văn Bô, vợ là Hoàng Thị Minh Hồ nhà số 34 Hoàng Diệu ủng hộ 5,147 lạng vàng
(193 kg) và dùng ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của ông tại Hà Nội làm nơi viết bản Tuyên
Ngôn Độc Lập. (Nguồn: Nguyễn Minh Cần Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước).
Sau này, Hoàng Tùng, Tổng Biên Tập tờ Nhân dân là Cơ Quan Ngôn luận Trung Ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã ghi lại trong tập hồi ký “Những Kỷ Niệm Về Bác”: Khi nhắc lại chiến
dịch cải cách ruộng đất thì Bác thấy điều sai lầm nhất là người bị đem ra đấu tố đầu tiên lại
là một người đàn bà, rồi Bác nhắc lại rằng: Người ta không nên đánh đàn bà dù là đánh
bằng một cành hoa. Sự việc là do áp lực của đàn anh Trung Quốc. Nếu không làm vậy thì sẽ
bị cắt viện trợ...
Lời bào chữa bịp bợm của Hoàng Tùng đã bị lộ tẩy khi Trần Đỉnh, một người từng viết tiểu
sử cho Hồ Chí Minh, một người đi sát với Hồ Chí Minh và nhiều lần ngồi chung trong một xe
hay đi lại trong chiến khu với Hồ Chí Minh đã ghi lại nơi trang 8586 trong tập hồi ký “Đèn
Cù”, Người Việt Books, California, ấn hành 2014, nguyên văn:
“....Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân
tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói
phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu
tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu,
cáo trạng của đội. Tôi nói ngày hôm đó tôi không có mặt làm sao mà viết thì anh bảo tôi khai
thác Văn, người cấp dưỡng đi theo anh (Trường Chinh) tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến
các buổi đấu tố. Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà
Nội có vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự
một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt....
Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh
khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của tổng bí thư.
Bài báo này tôi ký một tên ú ớ không còn nhớ và sau đó cũng không mó đến nó bao giờ."
Trên báo Nhân Dân số ra ngày 2171953 xuất hiện bài " ĐỊA CHỦ ÁC GHÊ" dưới bút danh
CB (Của Bác). Sau này, năm 1955, bài viết được đưa vào tập tài liệu "Phát động quần chúng
và gia tăng sản xuất " của Hồ Chí Minh. Nguyên văn:
ĐỊA CHỦ ÁC GHÊ
Thánh hiền dạy rằng: "Vi phú bất nhân". Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân
dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không
nháy mắt. Đây là một thí dụ:
Mụ địa chủ CáthanhLong cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:
Giết chết 14 nông dân.
Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.
Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá
rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá,
32 gia đình đã chết hết, không còn một người.
Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái
Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã
chết ở xóm Chùa Hang.
Năm 194445, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn
đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.
Thế là ba mẹ con địa chủ CáthanhLong, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!
Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực
dân Pháp. Thí dụ:
Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng
nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.
Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.
Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào
bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.
Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.
Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.
Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với
Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc
Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.
Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố
cáo. Mẹ con CáthanhLong không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước
hại dân. Thật là:
Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng.
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!
CB.
Nếu đúng như hồi ký nói về “Mười Nỗi Buồn Của Bác Hồ” của Hoàng Tùng viết rằng Hồ
Chí Minh không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm nhưng phải nghe cố vấn Trung Quốc. Vậy
thì Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch Nước hay là một tên bán nước?
Trần Đỉnh viết tiếp:
Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu
Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu
mãi rồi mới kể lại.
“Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy
có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát:
“Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!”. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát
lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và
không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi
mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền
nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm
trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với
các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy
là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”
Trong hồi ký của tác giả “Màu Tím Hoa Sim” nhà thơ Hữu Loan còn cho biết “Địa chủ bị
trói chặt chôn xuống dưới ruộng sâu chỉ để chừa cái đầu lòi ra rồi cho trâu bò kéo cày bừa
qua cổ...”.
Thật là:
Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng
Rửa không hết ác, dù tát cạn nước bể.
CB.
Khiếp thay miệng lưỡi đặt điều dựng chuyện của con rắn độc. Ai là kẻ tàn ác? Ai là kẻ giết
người không chớp mắt? Ai là kẻ “Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng. Rửa không hết ác,
dù tát cạn nước bể?”. Hỏi là đã trả lời. CB là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh. Tội
phạm chính là ác quỷ Hồ Chí Minh.
Một cuộc đấu tố khác, con đấu cha, vợ đấu chồng, do hồi chánh viên Nguyễn Văn Thân, kỹ
sư thuộc Bộ Thủy Lợi Miền Bắc, người đã từng tham gia nhiều vụ Cải Cách Ruộng Đất kể lại
và được nhà báo Vũ Thị Linh đưa lên điện báo Hải Ngoại Phiếm Đàm ngày 2092014, như
sau:
“…Cuộc đấu tố điển hình nhất mà tôi được dự là lần đấu tố ông Nguyễn Văn Đô, Bí thư
huyện ủy tại Ô Cầu Giấy, ngoại thành Hà Nội. Nạn nhân Nguyễn Văn Đô rất có công với
kháng chiến nhưng lại bị kết tội là cường hào ác bá và có chân trong tổ chức Quốc Dân
Đảng. Chủ tịch đoàn nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Đảng để hoạt động cho Quốc Dân
Đảng. Người đứng kể tội là một nông dân trước kia đi chăn ngựa cho ông Đô. Một cụ già
khác lên tố về việc cướp đất ruộng nương và cô con gái của ông lên đấu tố là đã bị ông
cưỡng hiếp tất cả 177 lần.
Đến khi ông Đô buộc phải nói lời nhận tội, ông đã cứng cỏi trả lời: Ông không phải là Quốc
Dân Đảng, ông chỉ làm việc cho Bác, cho kháng chiến mà thôi. Về vụ hiếp dâm, ông quay
sang trả lời cô con gái: “Thưa bà, bà còn quên đấy, tôi đã hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà nữa”.
Câu trả lời này làm mọi người phải bật cười và làm đấu trường mất vẻ tôn nghiêm. Chủ tịch
đoàn vội vàng hô khẩu hiệu “Đả đảo tên Đô ngoan cố” để đàn áp và che lấp tiếng nói của
ông. Sau đó họ không cho ông nói tiếp. Họ nghị án và quyết định xử tử ông ngay tại chỗ.
Cuộc đấu tố này kéo dài từ 5 giờ sáng tới 13 giờ trưa mới xong".
Những câu chuyện đấu tố trên là do chính người trong đảng và trong cuộc kể lại chứ không
phải “bọn xấu” đặt chuyện bôi bác. Có một điều khó hiểu là tại sao cô này lại đếm và nhớ kỹ
được là 177 lần chứ không phải là 90 lần hay 100 lần?
Thật không có sự tán tậm lương tâm bất nhân thất đức nào hơn sự tàn ác dã man lưu manh lật
lọng phản phúc của Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản. Thực dân Pháp xử tử phạm nhân
cũng chỉ chặt đầu hay bắn cho vài phát. Quân phiệt Nhật thì lia cho một nhát kiếm. Chỉ có ác
quỷ Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản Việt Nam mới có dư dã man tàn ác, trước khi giết
còn hành hạ nạn nhân, cho trâu bò cày bừa qua cổ, trói nạn nhân như con heo rồi ngâm nạn
nhân trong nước đông lạnh, kéo dài sự đau khổ của nạn nhân trước khi chết để thỏa mãn thú
tính man rợ.
Nếu vua Lê Lợi, người anh hùng áo vải Lam Sơn đã từng đánh đuổi quân Minh dành lại độc
lập cho đất nước, mà sống vào thời buổi này chắc chắn cũng bị Hồ Chí Minh đem ra đấu tố vì
tội địa chủ, phong kiến.
Kết quả Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất được đăng tải trên báo Nhân Dân số ra ngày 207
1955 cho biết tiến hành tại 2730 xã giải thoát 1,068,000 nông dân khỏi ách bóc lột, tịch thu
810,000 hecta ruộng đất chia lại cho giai cấp bần cố nông.
Sự thực việc chia ruộng đất lại cho nông dân chỉ là màn giáo đầu. Màn chính là sau đó dồn ép
tất cả nông dân vào Hợp Tác Xã nghĩa là nông dân từ “hai bàn tay trắng” trở lại “trắng hai
bàn tay”, hôm trước được chia vài sào ruộng hôm nay lại mất hết. Trước đây có nhiều địa
chủ, nếu không thích địa chủ này thì đi làm cho địa chủ khác. Nay tất cả vào tay một ông chủ
là Hợp Tác Xã Nông Hội, nếu không đi làm sẽ chết đói. Kết cuộc, nông dân trở thành nông
nô. Cán bộ Cộng Sản trở thành chủ nô trong khi ngoài miệng vẫn bô bô “Nhân Dân Làm
Chủ”, có làm mà không có ăn ngoài mấy danh hiệu bánh vẽ như anh hùng lao động tiên tiến,
anh hùng đổ thùng, anh hùng tải đạn...
Qua các vụ đấu tố, ngay cả đảng cộng sản cũng không thể chối cãi được tính lừa đảo phản
bội, lưu manh bất lương, ăn cháo đá bát, tàn ác giảo quyệt và lừa đảo ngay cả hai giai cấp vô
sản công, nông, là hai giai cấp được chúng mệnh danh tiên phong của Đảng.
Thú tính và ác tính là điều kiện cần thiết và phải có của một tên cộng sản. Không lưu manh,
không thủ đoạn phản phúc, không lừa đảo tàn ác không phải là cộng sản. Ngoài miệng thì
thơn thớt nhân nghĩa nhưng trong bụng là dao găm nọc độc. Khi cộng sản nói lời ngon ngọt
hay bàn chuyện hợp tác với ai là chúng đã có kế hoạch giết người đó rồi. Giết ngay cả người
chúng thọ ơn. Hôm trước giết người, hôm sau mang vòng hoa đến phúng điếu. Chính vì vậy
mà ngày nay tại Việt Nam khi chửi ai là hạng giả dối lừa đảo thì người dân chửi người đó là
thứ “bịt râu đeo kính”.”Mày đừng tưởng bịt râu đeo kính mà qua được mặt tao...”. Bốn
tiếng “bịt râu đeo kính” đã trở thành một thành ngữ trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam
Vì thấy lòng dân bất bình đến cực độ nên vào tháng 9 năm 1956, Hồ Chí Minh và băng đảng
Cộng Sản trình diễn màn kịch “Sửa Sai”. Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí Thư
Đảng, Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, Lê Văn Lươngmất chức Ủy Viên dự khuyết Bộ
Chính Trị, Hồ Viết Thắngbị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 29 tháng 10
năm 1956, tại nhà hát lớn Hà Nội Võ Nguyên Giápthay mặt Hồ Chí Minh nhìn nhận sai lầm
và phát động chiến dịch sửa sai, phục hồi các chức vụ tài sản cho cán bộ, bộ đội bị đấu tố.
Quả thật có một số bộ đội được phục hồi nhưng không được trả lại những nhiệm vụ ngày
trước và vẫn bị canh chừng theo dõi chặt chẽ cho đến lúc bị sa thải.
Theo biên khảo của tác giả Đặng Chí Hùng trong loạt bài Những Sự Thật Không Thể Chố
Bỏ Phần 5 đăng trên Dân Làm Báo, ghi lại cho biết: Trong Bộ Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam,
tập 2, 19551975, Viện Kinh Tế Việt Nam, Hà Nội 1974, Cộng Sản Hà Nội đã xác nhận con
số nạn nhân bị đấu tố oan sai như sau:
Địa chủ bị quy là cường hào ác bá đem ra đấu tố 26,453 người. Số bị oan sai là 20, 493
người (77,4%)
Địa chủ thường bị đem ra đấu tố 82,777 người. Bị quy kết oan sai là 51, 480 người (
(62,19%)
Địa chủ kháng chiến bị đem ra đấu tố 586 người. Quy kết oan sai 290 người (49,4%)
Phú nông bị đem ra đấu tố 62, 192 người. Quy kết oan sai 51,003 người (82%)
Thật ra, ngay từ lúc vở tuồng “Sửa Sai” khai diễn ai cũng biết đó chỉ là trò hề rẻ tiền của lũ
mặt người dạ thú. Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí Thư Đảng, nhưng chuyển sang làm
Chủ Tịch Quốc Hội và vẫn là Ủy viên Bộ Chính Trị,Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính Trị
nhưng lại chuyển sang làm Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc, Lê Văn Lương và Hồ Viết
Thắng tuy ngoài mặt là bị trừng phạt nhưng thực tế được thưởng công đi thư giản ở Nga, sau
đó trở về nhận nhiệm vụ mới.
Hơn nữa, nói là sửa sai nhưng thực ra đâu có sai mà sửa. Hai chiến dịch cải Tạo Công
Thương Nghiệp và Cải Cách Ruộng Đất đã làm tròn kế hoạch tiêu diệt hết những kẻ tình nghi
có thể gây nguy hại cho chế độ và gom sạch tài sản của người dân đem về cho băng đảng
Cộng Sản. Những giọt nước mắt cá sấu của Hồ Chí Minh ngày 29101956 rơi tại quảng
trường Ba Đình Hà Nội không lừa gạt được ai mà còn bộc lộ thêm bản chất hiểm độc, giả
dối, lật lọng, gian manh, kịch cỡm của tên lưu manh ác tặc.
Nếu Hồ Chí Minh có khóc là khóc cho cái ngu của chính hắn vì đã dại dột mở hai chiến dịch
Cải Tạo Công Thương Nghiệp và Cải Cách Nông Nghiệp quá sớm. Chính vì cái ngu này của
Hồ Chí Minh nên nhân dân Miền Bắc mới có cơ hội thấy rõ sự bạo tàn ác độc của bè lũ Cộng
Sản. Cũng nhờ cái ngu này của Hồ Chí Minh mà gần một triệu người Miền Bắc đã bỏ nhà bỏ
cửa, bỏ mồ mả ông bà cha mẹ, ào ạt tìm mọi cách di cư vào Nam và sau này trở thành một
nhân tố tích cực đóng góp cho công cuộc chống Cộng của quân dân Miền Nam. Nếu Cộng
Sản không lập mưu ngăn cản và đón đường chận bắt thì con số người dân Miền Bắc di cư vào
Nam sẽ còn cao hơn rất nhiều.
Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin:
Nhìn kỹ, Hồ Chí Minh ký tên bằng chữ Tàu. Chi tiết nhỏ nhặt trên cho thấy Hồ Chí Minh lúc
này chính là Hồ Tập Chương và việc ký tên bằng chữ Tàu chỉ là một động tác vô tình của bản
năng
Bản dịch:
Đồng chí Stalin kính mến
Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới
thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những
vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó.
Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh
tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam,
trong số họ có người là Đảng viên và cũng có người chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ
từ 1722. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét) cho quân
đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
pháo.
(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là
mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất.
Hồ Chi Minh
30101952
Từ đây tất cả gom về một mối. Nông dân trở thành “nông nô”. Công nhân lao động trở thành
“lao nô”. Một khi con cá đã vào rọ thì chỉ còn chờ đem lên thớt. Từ đây mỗi gia đình phải có
một “Sổ Hộ Khẩu” ghi đầy đủ tên tuổi và năm sinh tháng đẻ của mỗi người trong gia đình.
Trẻ em không có tên trong “Sổ Hộ Khẩu” thì nhà trường không cho ghi tên nhập học. Người
lớn không có tên trong “Sổ Hộ Khẩu” thì hết đường sinh sống vì không một hãng xưởng hay
cơ sở nào dám chấp nhận cho việc làm. Kiểm tra không có tên trong “Sổ Hộ Khẩu” thì bị bắt
giam về tội cư ngụ bất hợp pháp. Muốn thay đổi chỗ cư trú phải được sự chấp thuận và giấy
chứng nhận đã được sự đồng ý của chính quyền của cả nơi đi và nơi đến.
Ngoài ra mỗi gia đình còn phải có một quyển “Sổ Lương Thực” ghi rõ tiêu chuẩn thực phẩm
được phân phối mua trong tháng. Người trực tiếp lao động được hưởng mức cao nhất. Người
già và trẻ em có mức thấp. Công nhân viên nhà nước được phân phối tại cơ quan. Cán bộ
đảng viên được mua cửa hàng khác, dân thường mua ở cửa hàng khác.
Ngay cả khi ốm đau vào bệnh viện thì đảng viên cán bộ cũng có khu riêng biệt, tiện nghi đầy
đủ thuốc men. Tư liệu và hình ảnh của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho thấy tại mỗi tỉnh hay mỗi
huyện còn có “Bệnh Viện và an Bảo Vệ Chăm Sóc Sức Khỏe” dành riêng cho cán bộ đảng
viên. Trong khi đó, dân thường bị bệnh thì nằm xếp cá mòi, hai người một giường, hay phải
nằm tràn lan ra cả hành lang.
Một chế độ rêu rao là công bằng tự do mà người dân bị kìm kẹp, người này rình rập người
kia, nhà này rình rập nhà khác, bới lông tìm vết, bươi móc những sơ hở của nhau để chứng tỏ
mình là thành phần trung kiên với Đảng.
Một chế độ ấm no hạnh phúc mà khi làm thịt một con gà do chính tay mình nuôi để cúng giỗ
ông bà cha mẹ và để cả gia đình có một chút dinh dưỡng tươi mát cũng phải lén lút giấu
diếm vì nếu bị phát giác sẽ bị ghép vào tội phá hoại công cụ sản xuất, phá hoại tài sản nhà
nước.
Một chế độ con đấu cha, vợ tố chồng, trò phản thày, em giết anh chỉ vì theo lệnh Đảng để
được sống còn.
Một chế độ rêu rao là công bằng tự do ấm no hạnh phúc mà khi sống thì phải có tên trong sổ
hộ khẩu, sổ lương thực. Hai sổ này cũng chia ra sổ đỏ sổ đen: sổ đỏ là của đảng viên cán bộ,
sổ đen là của nhân dân. Đến khi chết cũng còn phân chia giai cấp: Cán bộ đảng viên chôn ở
khu riêng biệt, dân thường thì vào nghĩa trang nhân dân. Những tên trong Bộ Chính Trị hay
Trung Ương Đảng thì được tống táng ở nghĩa trang MAI DỊCH.
Dân trong nước nói nhỏ với nhau: MAI DỊCH là nơi MAI táng những thằng mắc DỊCH.
Đời sống và bệnh viện của NHÂN DÂN ANH HÙNG
Đời sống và bệnh viện của cán bộ đảng viên Cộng Sản “ĐẦY TỚ NHÂN DÂN”
Tư liệu của Bác Sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC
Vụ án nhân văn giai phẩm
Mùa xuân năm 1956 những người này thấy cần phải có một tiếng nói để nói lên những sự
thực nhằm cải thiện chế độ mà họ một thời bỏ cả tuổi xuân và hy sinh cả cuộc đời theo đuổi.
Những tiếng nói ấy kết hợp trên một tờ báo lấy tên là Nhân VănGiai Phẩm. Số báo đầu tiên
ấn hành vào mùa xuân nên gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân. Tiếp theo là Giai Phẩm Mùa Thu...
Trong các số báo này với những bài viết của Trần Dần (Nhất Định Thắng, Hãy Đi Mãi)
Hoàng Cầm (Em Bé Lên Sáu tuổi), Phùng Quán (Lời Mẹ Dặn, Chống Tham Ô Lãng Phí)
Phùng Cung (Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh), Nguyễn Mạnh Tường (Qua Những Sai Lầm
Trong Cải Cách Ruộng Đất, Vừa Khóc Vừa Cười) Trần Đức Thảo (Nội Dung Xã Hội Và
Hình Thức Tự Do) Hữu Loan (Cùng Những Thằng Nịnh Hót, Lộn Sòng), Văn Cao (Anh Có
Nghe Chăng) họa sĩ Trần Duy (tranh biếm họa), Sĩ Ngọc (Làm Cho Hoa Nở Bốn Mùa), Như
Mai (Thi Sĩ Máy) Tạ Hữu Thiện, Hoàng Tích Linh, Bùi Quang Đoài. Phan Khôi (Phê Bình
Lãnh Đạo Văn nghệ, Ông Năm Chuột, Nắng Chiều...) Trong tập Nắng Chiều cây bút lý luận
Phan Khôi đã viết: “Cây Cộng Sản” còn có một tên khác gọi là “Cây Chó Đẻ”, ám chỉ Hồ
Chí Minh là thứ chó đẻ). Ngoài ra cụ Phan Khôi còn viết mấy truyện ngắn tưởng như là vô
hại nhưng thực ra là những nhát búa chắc nịch đóng đinh lên chiếc quan tài của Hồ Chí Minh
và chế độ nên đã làm chế độ điên cuồng nhức nhối.
Những đoạn in chữ nghiêng dưới đây được trích lại trong các tác phẩm “Trăm Hoa Đua Nở
Trên Đất Bắc”, nhà xuất bản Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa, học giả Hoàng Văn Chí xuất
bản dưới bút hiệu Mạc Định.
Đây là bài thơ “Nhất Định Thắng” của Trần Dần, nguyên Đại Úy Phóng Viên báo Quân Đội
Nhân Dân Miền Bắc, năm1948 tham gia Vệ quốc quân, Ban Chính Trị Trung đoàn 148, Sơn
La, nay thuộc Sư đoàn 316. Trần Dần từng được đưa sang tu nghiệp tại Trung Cộng:
...Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?
...Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những cơn mưa rơi mãi tối sầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi
– Đứng lại!
– Đi đâu?
– Làm gì?
Tôi muốn khóc giữ từng em bé...
...Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.
...Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
– Anh ạ.
Họ vẫn bảo chờ…
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã…
Một kiện tướng trong làng văn học, nhà văn Phan Khôi viết trong truyện “Cầm Vịt”:
Cuộc sống phiêu lưu nay ở vùng này, mai ở vùng khác, chủ cũng như người làm công đều
làm lụng cực khổ như nhau, không ai bóc lột ai cả. Cái nghề này tuy vất vả mà ăn ở như thế
thì đầy đủ lắm, giữa chủ và thợ không có chi khác nhau. Ông chủ nói rằng nếu không thế thì
không thuê được người, cuối mùa còn phải chia hoa hồng cho anh em, vì thế tuy được lãi
nhiều mà về tay người chủ không còn mấy....”
Mới đọc tưởng như chuyện đồng quê nhưng nhà thực ra nhà lý luận Phan Khôi mượn câu
chuyện để xác định rằng việc đấu tranh giai cấp là việc được dựng lên nhằm gây hận thù để
lợi dụng. Qua câu chuyện chúng ta thấy rõ ràng ở đây “không ai bóc lột ai cả, chủ và thợ
cùng khổ như nhau” mỗi người có một cái khổ: Thợ thì khổ vì lao động tay chân vất vả, chủ
thì lao tâm tổn trí, lo vốn, lo nợ, lo điều hành, lo không kiếm được người làm, lo lương tiền
cho người làm, lo phá sản...
Trong truyện “Tiếng Chim” cụ Phan Khôi viết:
... Một lần ở Cần Nhân tôi ngồi nơi nhà sàn thấy hai con quạ rình bắt gà con, một con bắt
được bay ra bờ ruộng xé con gà ra ăn, còn con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được cũng
bay ra đứng cạnh con thứ nhất, nó nhìn sững và đi đi lại lại rồi cũng bay đi tuốt, không hề
nói: “Mày phải cho tao với.”
Trong truyện này, ý cụ muốn nói là ai làm thì người nấy ăn, ngay như con quạ cũng không dở
trò cướp giật “Không làm mà đòi hưởng của người khác, đấu tranh giai cấp là chuyện vô lý
và bất nhân”
Trong truyện “Cây Cộng Sản” cụ viết:
...Có một thứ thực vật nữa cũng như sen Nhật Bản, ở xứ ta trước kia không có mà bây giờ có
rất nhiều, dân thường gọi là “Cây Cứt Lợn, Cây Chó Đẻ, Cây Bọ Xít”... nó mọc đầy cả đồn
điền, trừ khử không hết được. Cái tình trạng ấy có bắt đầu từ những năm 19301931 đồng
thời với Đông Dương Cộng Sản đang bắt đầu hoạt động. Phong trào Cộng Sản cũng lan
nhanh như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy nên bọn Tây đồn điền gọi là
cây Cộng Sản (herbe communiste),.. Nó còn có một tên nữa rất lạ. Một ông già Thổ nói rằng
trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng thì thấy thứ cỏ ấy mọc
lên mọc đầy cả đường xá đồi đồng nên dân gọi là “Cỏ Cụ Hồ”...
Đem “Cây Cứt Lợn, Cây Bọ Xít, Cây Chó Đẻ” gọi là “Cỏ Cụ Hồ” rõ ràng đặt Hồ Chí Minh
ngang hàng với thứ chó đẻ, thứ bọ xít, thứ cứt lợn.
Truyện ngắn “Ông Bình Vôi” của cụ đã gợi ý cho nhà thơ Trần Dần viết lên những câu thơ để
đời:
...Có những người sống lâu trăm tuổi
Ỳ ra như một chiếc bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại...
Gọi Hồ Chí Minh là thứ “ông Bình Vôi, càng sống càng tồi, càng sống càng bé lại...” đã làm
Hồ Chí Minh và chế độ điên cuồng nhục nhã.
Để trấn áp, Hồ Chí Minh hạ độc thủ bịt miệng báo chí bằng cách ký Sắc Lệnh Báo Chí ngày
15121956 phạt khổ sai chung thân và tịch thu toàn bộ gia sản những kẻ vi phạm. Kết cục
304 văn nghệ sĩ bị đưa đi chỉnh huấn cải tạo. Nguyễn Hữu Đang, người dựng lễ đài độc lập
ngày 291945, và Thụy An mỗi người bị kết án 15 năm tù giam trong Hỏa Lò. Trần Đức
Thảo bị cấm giảng dạy và bị cô lập, không ai được lại gần. Vợ của Thảo là Tiến sĩ Nguyễn
Thị Nhứt bị Đảng gã cho tên bồi bút Nguyễn Khắc Viện.
Trong “Mémoire d'un Vietcong” “Hồi ký của một Việt Cộng” trang 300, Trương Như Tảng,
nguyên Bộ Trưởng Bộ Tư pháp của cái gọi là “Chính Phủ Lâm Thời Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam” ghi lại:
"Trần Đức Thảo bị công an bao vây, cô lập không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo nói chuyện
với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Ông
phải sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, ngay họ hàng thân thích cũng không
được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man."
Về phần Nguyễn Mạnh Tường, dù là người năm 1946 được Hồ Chí Minh cử đi dự Hội Nghị
Trừ Bị Đalat họp với Cao Ủy D’Argenlieu, năm 1952 được cử đi Bắc Kinh dự Hội Nghị Hòa
Bình Châu Á Thái Bình Dương và đến năm 1956 được cầm đầu một phái đoàn Hà Nội đi
Bruxelles tham dự Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ Thế Giới để giải độc vụ Cải Cách Ruộng Đất,
rút cuộc cũng bị lột chức Khoa Trưởng Luật Khoa, Phó Chủ Tịch Hội Luật Gia, Thủ Lãnh
Luật Sư Đoàn, phó Khoa Trưởng Sư Phạm và thành viên ban chấp hành Mặt Trận Tổ Quốc
Việt Nam. Trong hồi ký Un Excommunié (Kẻ Bị Rút Phép Thông Công) bản dịch Nguyễn
Quốc Vĩ, phần III, “Hành Trình Đi Vào Sa Mạc” chúng ta được Nguyễn Mạnh Tường cho
biết cuộc sống trong gia đình:
...Mỗi ngày mỗi người trong nhà chỉ được một bát cháo. Ông phải đi ra chợ vào lúc chập
choạng tối mong không ai nhận ra mặt để nhặt những mớ rau vụn hư vất bỏ đem về ăn. Gia
tài cả nhà có một con gà đẻ trứng, mỗi người mỗi ngày thay phiên nhau ăn một cái trứng để
có thể sống sót. Quần áo đồ đạc trong nhà bán hết, ông cùng gia đình phải chịu khốn khổ
suốt quãng đời còn lại...
Số phận ông Nguyễn Hữu Đang cũng không khá hơn. Sau 15 năm tù Hỏa Lò và bị quản chế
ông cũng chết khốn khổ nhưng cuối cùng cũng bị đào mồ lôi dạy trao tặng huy chương.
Nhà văn Phùng Quán ghi lại những ngày cuối đời của ông trong bài “Phùng Quán tìm thăm
Nguyễn Hữu Đang”
...Anh dọn ra hai cái đĩa, rồi chọn trong hai cái bát hương đậy viên gạch vỡ gắp ra năm sáu
viên gì đó tròn tròn, đen xỉn, nom rất khả nghi. Anh chỉ vào mỗi đĩa, giới thiệu thực đơn: “–
Đĩa này là chả cóc, đĩa này là chả nhái. Nhờ ăn thường xuyên hai thứ đặc sản này mà tôi rất
khỏe, còn khỏe hơn cả chú....
Tôi lấy đưa anh xem một số tư liệu liên quan đến ngày Đại lễ mồng 2 tháng 9 năm 1945, vừa
sao chụp: “Em suy luận ra anh là Trưởng ban Tổ chức Ngày Độc lập như trong tư liệu hiện
còn giữ được. Em muốn được tận tai nghe anh kể lại những kỷ niệm, những hồi ức mà anh
cho là sâu sắc nhất... Mà nếu anh không dùng đến thì cho em xin” .
...Bữa cơm tiễn tôi, anh có vẻ buồn. Vừa dùng đũa tém tém mấy khúc rắn om mặn chát nổi
muối trong đĩa, anh vừa nói: “Hiện tôi đang cố gắng hoàn thành thiên hồi ký thuật lại tất cả
những gì có liên quan đến thế sự, kể từ khi tôi bước chân vào con đường hoạt động cách
mạng cho đến những năm tháng gần đây... Trong hồi ký, tôi sẽ đề cập đến những sự việc mà
từ trước đến nay tôi chưa hề tiết lộ với ai. Ví dụ như bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập cụ Hồ
viết... Còn hay mất, nếu còn thì bây giờ đang ở đâu... Hoặc cụ định sửa hai câu trong bản
Tuyên ngôn, nhưng không kịp vì bản chính đã đưa in mất rồi. Là Trưởng ban Tổ chức ngày
lễ, tôi phải phụ trách việc in ấn những tài liệu có liên quan đến vận mệnh đất nước này,
nhưng... Như chú biết đấy, hiện nay trong Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như Bảo làng Lịch sử,
không có bản thảo Tuyên ngôn Độc lập... Tôi sợ sẽ làm không kịp mất, gần tám chục tuổỉ đầu
rồi còn gì, mà lại không có điều kiện làm việc, ban đêm coi như chịu chết, đèn đóm tù mù,
đúng là đóm thật”... Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tiếp: “ Chú có biết
điều lo lắng nhất hiện nay của tôi là gì không?” Không đợi tôi đoán, anh nói luôn: “ Tôi lo
nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở
trên Hà Nội... Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một
người không phải ruột rà máu mũ lại nằm chết trong nhà mình? Ngay cả cái chái bếp này
cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền đến nhà trường, các thầy cô giáo, các cháu học sinh...
Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã
chọn sẵn chỗ để nằm chết. Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy...”
Tôi theo anh ra đứng lên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa đông bắc lạnh thấu xương thổi
thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một búi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh
đồng, ngọn tre đang vật vã trong gió buốt. “ Đấy, dưới chân bụi tre ấy có một chỗ trũng
nhưng bằng phẳng, phủ dày lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phải
phiền ai... Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt
xuôi tay...”. (Phùng Quán, 1992)
Số phận trí thức đóng góp cho kháng chiến và cho sự nghiệp của Hồ Chí Minh là như thế. Từ
đây không còn báo chí tư nhân mà chỉ có báo chí của Đảng và các đoàn thể ngoại vi nằm
dưới sự chỉ đạo của Đảng.
Điều bỉ ổi ác độc nhất của Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản là hành hạ đầy ải trù dập
người ta cho đến chết rồi khi xác nằm trong quan tài thì mang vòng hoa đến phúng điếu và
trao tặng huy chương.
Trần Đức Thảo năm 2000 được truy tặng huy chương Hồ Chí Minh về Khoa Học và Xã Hội.
Nguyễn Manh Tường cũng bằng thưởng cũng huy chương. Nguyễn Hữu Đang cũng bằng
thưởng cũng huy chương. Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm Lê Đạt, Hoàng Cầm... cũng được cho
một ít tiền bịt mồm gọi là đền bù thiệt hại.
Vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” chỉ là một cái bẫy sập mà Hồ Chí Minh cóp nhặt từ chiến dịch
“Bách Gia Tranh Minh, Bách Hoa Tranh Khai” “Trăm Nhà Đua Tiếng, Trăm Hoa Đua Nở”
của Trung Cộng. Theo cách nói của Lục Định Nhất, Cục Trưởng Cục Tuyên Huấn Cộng Sản
Trung Hoa, thì đây là một công hai việc: “thăm dò dư luận và dụ rắn ra khỏi hang” để tận
diệt mọi khả năng chống đối.
Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s th t v con ng i muôn m t H Chí Minh (ph n 7)
Lê
Minh
Khôi
(Danlambao)
Cuộc chiến xâm lăng miền Nam 19541975
Trước đây hơn nửa thế kỷ, trong tập Chính Đề Việt Nam (Tùng Phong Sài Gòn Việt Nam
1963) trang 212, ông Ngô Đình Nhu đã cảnh báo: Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính,
thì việc Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian rõ viễn kiến của một
người yêu dân yêu nước.
Hồ Chí Minh từng ở Tàu, từng ở Nga. Hồ Chí Minh không phải không biết tham vọng của
người Tàu. Hồ Chí Minh không phải không thấy cuộc sống của người dân Nga dưới chế độ
Stalin và chủ nghĩa MacLenin tệ hại như thế nào. Tuy nhiên, vì tham vọng ngu xuẩn và bản
tính lưu manh tàn ác nên đã lợi dụng một chủ nghĩa ngoại lai không tưởng lừa bịp dân tộc,
đưa cả nước vào cùng khốn và tàn sát lẫn nhau, lấy giang sơn gấm vóc của tổ tiên làm nơi thử
bom đạn của ngoại nhân, đem xương máu của đồng bào cả nước ra làm mồi cho súng đạn,
gây chết chóc cho hàng triệu sinh linh và oan nghiệt đói khổ cho cho hàng chục triệu gia
đình, đẩy dân tộc vào thảm họa nghi kỵ thù hận chia rẽ,
Nếu Hồ Chí Minh thực tâm yêu nước và tin rằng Xã Hội Chủ Nghĩa là lý tưởng tốt đẹp thì
sau hiệp định Geneve 1954, khi quân Pháp rút khỏi Miền Nam và khi quân Mỹ chưa đến, tại
sao Hồ Chí Minh lại vội vã cho thiết lập đường mòn Trường Sơn 759 và lập đường biển với
những chiếc tàu không số đưa người và vũ khí xâm lăng Miền Nam. Nếu Hồ Chí Minh thực
sự tin tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa là tốt đẹp là sẽ đưa đất nước đến chỗ phú cường tại sao Hồ
Chí Minh không lo xây dựng Miền Bắc cho thật phồn vinh để người dân được ấm no, hạnh
phúc, sau đó mở cửa cho hai miền Nam Bắc tự do đi lại và mời cả thế giới cùng đến chiêm
ngưỡng. Không cần phải thông minh chúng ta cũng thấy là người dân sẽ lựa chọn bên tốt đẹp
ấm no và hạnh phúc và chối bỏ bên bất công áp bức, và như vậy không cần tốn một giọt máu
Hồ Chí Minh cũng thống nhất được đất nước.
Nên biết, ở vào thời điểm 1954, ngoài những người đã từng sống trong vùng Hồ Chí Minh
kiểm soát hoặc những người đã nếm mùi và biết thế nào là cộng sản thì tuyệt đại đa số người
dân không ai biết cộng sản là gì. Thêm nữa đa số lại còn rất say mê huyền thoại chiến thắng
Điện Biên nên những người này có khuynh hướng ngã theo Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí
Minh không làm những điều này vì Hồ Chí Minh có con đường của Hồ Chí Minh.
Hội nghị đình chiến Geneve 1954 quy định trong vòng 1 năm sau ngày ký kết hiệp định
người dân hai miền có quyền chọn lựa nơi cư trú và sau 3 năm hai miền Bắc và Nam sẽ có
một cuộc Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước. Dân số cả nước lúc đó vào khoảng 30 triệu.
Miền Bắc chừng 17 triệu và Miền Nam chừng 13 triệu. Vì đã từng sống hoặc được nghe kể
lại những chuyện đấu tố của cộng sản nên gần một triệu người dân Miền Bắc đã ào ạt bỏ nhà
bỏ cửa chạy vào Miền Nam tạo thành cuộc di cư lớn nhất lịch sử. Trong khi đó số người
Miền Nam tập kết ra sống với Miền Bắc chỉ gồm cán bộ bộ đội cùng thân nhân, tổng số chưa
tới bảy chục ngàn người. Tuy nhiên cuộc Tổng Tuyển Cử cũng đã không thành bởi vì Miền
Bắc quyết định xâm chiếm Miền Nam bằng vũ lực còn Miền Nam thì Pháp mới trao quyền,
tiếp đó là vụ truất phế Bảo Đại và các vụ rối loạn giáo phái do thực dân Pháp giật dây nên
tình hình chưa được ổn định.
Trở lại Miền Bắc, với quyết tâm đánh chiếm Miền Nam nên vào tháng 51959, sau khi ổn
định vụ Cải Cách Ruộng Đất, đập nát cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh LưuNghệ An, giết
và đầy ải hơn 6000 người (Nguồn: Quynh Luu Uprising, Wikipedia), dẹp tan sự bất bình của
trí thức qua phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và nắm chặt được quyền kiểm soát cai trị, Hồ
Chí Minh và Bộ Chính Trị Cộng Đảng Hà Nội bắt đầu tiến hành mưu đồ xâm lăng Miền
Nam.
Hồ Chí Minh dùng những con đường mòn hiểm hóc chạy dọc theo rặng Trường Sơn làm
đường chuyển vận binh sĩ và vũ khí. Thoạt đầu con đường có tên là đường mòn Hồ Chí
Minh, đường mòn Trường Sơn, hay đường 559, do thượng tá Vũ Bẩm chỉ huy. Năm 1965
nâng lên thành cấp sư đoàn. Năm 1970 thành cấp Binh Đoàn dưới quyền chỉ huy của Đồng Sĩ
Nguyên.
Ngoài ra vào tháng 71959 Hồ Chí Minh cũng cho thiết lập một đoàn tiếp tế trên đường biển.
Năm 1963 đoàn 759 được chỉ định trực thuộc binh chủng Hải Quân. Năm 1964 đổi tên thành
Trung Đoàn 125, hay Đoàn 125. Với ngụy trang là Tập Đoàn Đánh Cá Sông Gianh gồm
những tàu đánh cá không mang số chở vũ khí đạn dược cho chiến trường Miền Nam. Tháng
21965 Quân lực Miền Nam đã phát hiện và đánh chìm một chiếc tàu trọng tải hơn 100 tấn
của đoàn 759 tại Vũng Rô, tỉnh Phú Yên, tịch thu vô số đạn dược quân trang quân dụng
(Nguồn: Nguyễn Kỳ Phong. Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam)
Việc nhân số Miền Bắc nhiều hơn Miền Nam không quan trọng. Điều quan trọng là tại Miền
Bắc bắt buộc mỗi người dân phải có tên trong Sổ Hộ Khẩu và Sổ Lương Thực. Muốn thay đổi
nơi cư trú người dân phải được sự chấp thuận của chính quyền địa phương của cả nơi đi và
nơi đến. Nếu một trong hai nơi không chấp thuận thì phải vĩnh viễn ở lại chỗ cũ, không khác
gì bị chỉ định cư trú, bị quản chế, hay bị biệt giam.
Lại nữa, thanh niên đến tuổi nghĩa vụ không còn sự lựa chọn nào khác vì nếu trốn tránh thì
cả gia đình sẽ bị liên lụy. Không những cả nhà bị cắt lương thực, cha mẹ vợ con còn bị bắt đi
trình diện ngày đêm cho đến khi nào người trốn tránh ra đầu thú. Vì thế, chẳng thà đi bộ đội
mà một năm có hai bộ quần áo mặc, ngày ngày có hai bữa cơm ăn và gia đình được yên ổn,
còn hơn là ở nhà chưa mở mắt đã nghe loa đài xoáy vào lỗ tai, mờ sáng nghe tiếng kẻng là
phải xếp hàng theo đội ngũ ra nông trường hay vào công trường làm việc, trưa đến chờ chực
như con chó của Pavlov mong được miếng ăn và chiều về chưa kịp lùa hết chén cơm đã phải
lên hội trường ngồi họp hành kiểm thảo, thi đua, bình bầu chiến sĩ xuất sắc cho đến nửa
khuya.
Còn một chuyện khác nữa. Nhiều người lấy làm lạ tại sao trong đám tù binh Miền Bắc bị
Miền Nam bắt có nhiều em chỉ mới 15 hay 16 tuổi. Có người giải thích là bị cưỡng chế ép
buộc. Có người cho là bị lừa phỉnh dụ dỗ. Có người nói vì tinh thần các em cao độ. Sự thật
hoàn toàn trái ngược.Chính các em này đã xung phong tình nguyện đi bộ đội để có hai bữa
cơm ăn và để cho gia đình bớt một gánh nặng.
Kẻ giàu có đầy đủ mới sợ chết còn những kẻ “trên răng dưới Bác Hồ” thì việc đổi mạng sống
lấy miếng ăn vẫn là chuyện thường ngày. Quân ăn cướp bao giờ cũng liều mạng hơn người
có tài sản.
Trong khi đó cuộc sống tại Miền Nam thanh bình no ấm đầy đủ nên ngoài những người đến
tuổi phải đi làm bổn phận công dân thì chỉ có một số người tự nguyện gia nhập quân đội. Lý
do: Đời sống quân ngũ gò bó kỷ luật và nhất là không được tự do sau khi làm việc. Sống đời
dân sự muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm. Thứ bảy chủ nhật, sáng dẫn vợ con đi chơi,
tối kéo nhau đi xem cải lương, đi nhà hàng, hay đi phòng trà ca nhạc nhảy nhót. Hai bên khác
nhau một trời một vực
Lại nữa, tại Miền Nam còn một số không ít người hoặc vì thật thà ngây thơ, chưa sống, chưa
biết Cộng Sản là gì nên bị tuyên truyền, đầu độc, hoặc vì bất mãn cá nhân nên thấy cỏ đồng
xa xanh hơn cỏ đồng gần, biết cộng sản hoạt động ngay bên cạnh đã không nói ra lại còn bao
che. Một số khác đã yểm trợ hoặc làm nội tuyến cho Bắc Việt, hoặc chứa chấp nuôi dưỡng
Việt Cộng ngay trong nhà. Đây là trường hợp học giả Nguyễn Hiến Lê như chính ông đã thú
nhận trong Hồi Ký tập III cũng như một số trí thức sinh viên tả khuynh thời đó như Trịnh
Công Sơn, Huỳnh Tấn Mẫm... Chuyện no cơm ấm cật cũng là cái lợi bất cập hại của Miền
Nam.
Ngày 20121960 Hồ Chí Minh cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đưa Nguyễn
Hữu Thọ ra làm Chủ Tịch, cùng với nhóm Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Nguyễn Văn
Hiếu, Trần Bạch Đằng... Ngày 211963 mở trận Ấp Bắc. Năm 1968, đêm giao thừa tết Mậu
Thân Hồ Chí Minh đã cho đọc bốn câu thơ chúc tết trên đài phát thanh Hà Nội như sau:
Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.
Thơ không ra thơ, thẫn không ra thẫn. Đó là mật lệnh của Hồ cho cuộc tắm máu mà chúng
gọi là cuộc Tổng Nổi Dậy tết Mậu Thân 1968:
Toàn thắng đâu không thấy bởi vì sau những ngày đầu chiếm được ưu thế bất ngờ, nói chung
cuộc Tổng Nổi Dậy kể như hoàn toàn thất bại. Sở dĩ Huế là thành phố duy nhất bị Cộng Quân
tràn ngập và cưỡng chiếm vì có bọn thân Cộng trong Hội Đồng Cứu Quốc của Lê Khắc
Quyến và những kẻ ôm chân Trí Quang, Ấn Quang, Nguyễn Đắc Xuân, Lâm Thị Mỹ Dạ,
Nguyễn Đóa, Nguyễn Thị Đoan Trinh và anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc
Tường... làm nội tuyến. Ngày 2041968, Việt Cộng cho ra đời thêm một hình nộm khác gọi
là Liên Minh Các Lực Lượng Dân tộc, Dân Chủ Và Hòa Bình Miền Nam Việt Nam, đưa
Trịnh Đình Thảo làm Chủ Tịch gồm các tên Thích Đôn Hậu, Lâm Văn Tết, Dương Quỳnh
Hoa, Trương Như Tảng, Lữ Phương,… Tất nhiên đây chỉ là một trò hề bởi nhóm Trịnh Đình
Thảo, Nguyễn Hữu Thọ chỉ được dựng lên làm bình phong chứ đâu có quyền hành gì. Tại
Huế Việt Cộng đã thành lập được Hội Đồng Cách Mạng do Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch.
Để biết rõ sự thật về cái gọi là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa ThiênHuế này chúng ta
hãy nghe Tiến Sỹ Lê Văn Hảo, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên
Huế, trả lời ký giả Nguyễn An trong cuộc phỏng vấn của Đài Á Châu Tự Do (Radio Free
Asia, RFA) ngày 02022008 về vai trò của ông trong vụ Tết Mậu Thân như sau:
Lê Văn Hảo: Trong tất cả khi nổ ra Mậu Thân tức là trong 26 ngày đêm Cộng Sản chiếm
thành phố Huế thì tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả những gì xảy ra
dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát thanh giải phóng.
Nguyễn An : Tức là ông không biết những cái gì thêm ngoài những điều mà đài phát thanh
nói?
Tiến sỹ Lê Văn Hảo: Tôi không thể biết được bởi vì tôi không có mặt ở Huế mà nó đâu có
dám để cho tôi về Huế vì anh biết khi nó đề nghị một chức vụ như vậy là cả một sự áp đặt. Nó
nói là anh phải nhận, nếu anh không nhận thì anh cũng không còn đường về thì cả một sự đe
dọa. Anh có thấy tính chất đe dọa đàng sau lời đề nghị đó không?
Nguyễn An: Đây là một chi tiết rất là mới bởi vì hồi xưa cho đến bây giờ người ta cứ tưởng
rằng là những đoàn quân họ chiếm đóng Huế hai mươi mấy ngày đó là Ông về trực tiếp điều
hành công việc ở đó, thì hóa ra hoàn toàn không có chuyện này!
Tiến sỹ Lê Văn Hảo: Than ôi! Đó không phải là sự thật lịch sử mà tôi chỉ là một con tin đã
bị ở trong thế kẹt phải nhận lấy chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mà mong có ngày về với
vợ con thôi! Chớ tôi nói thật với anh vai trò của tôi trong Tết Mậu Thân là vai trò hoàn toàn
thụ động, tôi chỉ ngồi trên núi để nghe đài, nghe tin tức.
Nguyễn An: Thưa Ông, như vậy tức là Mậu Thân sau khi họ tấn công Huế thì sau đó họ đưa
ông về?
Tiến sĩ Lê Văn Hảo: Không! Tôi không có về lúc đó, lúc đấy là chỉ có mấy anh Cộng Sản về
đánh nhau ở dưới thành phố thôi, chớ còn tôi họ đâu có dám đưa tôi về! Họ biết rằng khi tôi
nhận thì tôi cũng miễn cưỡng mà nếu đưa tôi về thì tôi chắc cũng chuồn luôn thì họ đâu có
dám đưa tôi về…
Như vậy, chính người trong cuộc đã xác nhận cái gọi là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa
ThiênHuế cũng như cái Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình được nặn ra trước và sau
cuộc Tổng Công kích 1968 chỉ là một trò lường gạt. Tóm lại trận chiến Mậu Thân 1968 là
một thất bại lớn của Cộng Sản Hà Nội. Chúng thất bại vì tin là quần chúng sẽ nổi dậy cướp
chính quyền và đứng về phía họ. Thực tế là đồng bào thấy Cộng quân tới đâu thì bồng bế
nhau chạy thục mạng về vùng Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng do phát động cuộc tổng nổi dậy cho nên hầu hết những thành phần nằm vùng đều phải
xuất hiện đứng ra vận động thúc dục quần chúng. Khi cuộc chiến tàn, những thành phần này
hoặc bị bắt, hoặc bị lộ diện nên phải tháo chạy vào khu, vì vậy mà cơ sở cộng sản dày công
gây dựng trong nhiều năm đã bị tan nát trong mấy ngày. Sau đó, quân lực Miền Nam phản
công, chiếm lại Huế, quét sạch cộng sản tại những nơi chúng xuất hiện. Bị tổn thất quá nặng,
nhất là những cơ sở nằm vùng bí mật bị lộ diện và bị quan thầy Nga Sô Trung Cộng sỉ vả nên
Hồ Chí Minh uất ức phát bệnh và chết vào ngày 291969 cho dù bao nhiêu năm ép buộc
người dân hò hét Hồ Chí Minh muôn năm.
Điều trớ trêu là ngày chết của Hồ Chí Minh lại trùng với ngày Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên
Ngôn Độc Lập tại quảng trường Ba Đình Hà Nội vào năm 1945 nên Cộng Đảng Hà Nội ra
công bố Hồ Chí Minh chết vào ngày 391969. Tuy nhiên về sau không thể dấu diếm được
nữa nên Hà Nội đành phải xác nhận Hồ Chí Minh đã chết vào ngày 391969. Thế là xong
cuộc đời một tên ác tặc.
Những ngày cuối đời của Hồ Chí Minh:
Ở trong chăn mới biết chăn có rận. Có thể vì những việc làm đốn mạt bỉ ổi cùng những thủ
đoạn tàn ác thường ngày, hay có thể bọn Lê Duẩn Lê Đức Thọ đã biết được “con người thật”
của Hồ Chí Minh nên lúc cuối đời Hồ Chí Minh bị bọn đàn em coi không ra gì.
Trong tập sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, nhà xuất bản Văn Nghệ, 1995, trang 328, con
hùm xám Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, nguyên Chính Ủy Bộ Tư Lệnh khu 9 và Bí Thư Khu
Ủy, Đại Biểu Đại Hội Đảng lần thứ hai, Giáo Sư trường Nguyễn Ái Quốc và trường Đại Học
Nhân Dân tại Hà Nội, Vụ Phó Ban Tuyên Huấn Trung Ương, thuật lại lời nói của Bùi Công
Trừng về Hồ Chí Minh vào những ngày cuối đời:
...Mày coi có tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính mến của chung ta bận
bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Khi chướng quá quay vô đưa tay để nói thì
thằng Thọ lễ phép Bắc Hà: “Bác hãy để cho người anh em ta nói đã mà”. Tao đếm lão Hồ
đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn...
Bùi công Trừng nói với tôi như vậy.
Thọ đây là Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng. Một tay em của Lê Duẩn
mà dám đối xử với Hồ Chí Minh không ra gì, chứng tỏ uy tín của Hồ Chí Minh không là cái
gì gì cả.
Tuy nhiên cuộc chiến xâm lăng Miền Nam vẫn tiếp diễn bởi lũ Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng, Lê
Đức Thọ... với sự tiếp sức tận lực của Cộng Sản Quốc Tế, đặc biệt là Trung Cộng, dẫn đến
biến cố 3041975.
Quốc tế cộng sản tham chiến tại chiến trường Việt Nam
Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam mất về tay Việt Cộng Miền Bắc không phải vì tinh thần chiến
đấu thua sút mà vì sự lừa bịp, tuyên truyền, dối trá và bị đâm sau lưng. Trong khi cả thế giới
đều biết Hoa Kỳ cùng một số nước đồng minh đem quân đến Việt Nam nhưng việc Cộng Sản
Hà Nội được tiếp sức và tham chiến của cả khối Cộng Sản Quốc Tế thì không ai biết, hoặc có
biết nhưng lại nhắm mắt như mù, chủ yếu là bọn ký giả thiên tả ngu dốt thiển cận cùng với
một nhóm trí thức hoặc lũ nghệ sĩ kênh kiệu ngây ngô khờ dại như Bertrand Russell, Tom
Hayden, Jane Fonda, Peter Arnett... Lũ ngợm này bị Cộng Sản ve vản lợi dụng và bị bịt mắt
nên trở thành đồng lỏa với Cộng Sản Quốc Tế đánh lừa dư luận thế giới, tạo chính nghĩa cho
Cộng Sản Hà Nội, tạo bất mãn trong dân chúng Hoa Kỳ và nhân dân trong các nước thuộc
thế giới tự do, tiếp tay cho Cộng Sản Hà Nội thôn tính Miền Nam.
Nói một cách khác Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản là vì thua trận tại Hoa
Thịnh Đốn chứ không phải thua trận tại Sài Gòn, trong đó có phần đóng góp không nhỏ
của những tên thân cộng và lũ trí thức thiển cận đui mù.
Dưới đây là những bằng chứng sự tham chiến của Quốc Tế Cộng Sản trên chiến trường Việt
Nam:
Bob Seals trong một bài đăng trên Military History hồi 2008 đã trích nhiều tài liệu các tác giả
Trung Quốc có sách xuất bản ở Phương Tây như Địch Cường (Qiang Zhai) và Lý Tiểu Binh
(Li Xiaobing). Nội dung bài viết cho thấy. "Đỉnh điểm của sự can dự từ phía Trung Quốc vào
cuộc chiến Việt Nam là năm 1967, khi tổng số lực lượng phòng không lên tới 17 sư đoàn, với
150 nghìn quân. Tài liệu tối mật của CIA ghi nhận bảy đơn vị lớn của Quân Giải phóng
Trung Quốc (PLA) tại Bắc Việt, gồm sư đoàn phòng không 67, và con số ước tính 25 đến 45
nghìn quân tác chiến.
Từ sau chiến dịch XuânHè 1972 (Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive, Việt Nam Cộng Hòa gọi là
Mùa Hè Đỏ Lửa) Bắc Kinh lại tăng cường viện trợ cho Hà Nội, khi lực lượng cộng sản miền
Bắc thiệt hại nặng, mất tới 450 xe tăng và chừng 100 nghìn quân. Đợt tấn công này của Bắc
Việt ở miền Nam bằng 20 sư đoàn, đông hơn số quân tướng Patton chỉ huy thời Thế chiến 2
tại châu Âu."
Quân Liên Xô bắn máy bay Mỹ
Ngày thứ hai, 31 tháng 12, 2012 đài BBC đã đưa ra một số tư liệu lịch sử nước ngoài về sự
tham gia của Liên Xô và Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là trong các trận
chiến phòng không, không quân trên miền Bắc chống lại Không lực Hoa Kỳ: