The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by doanhdoanh, 2016-05-20 05:42:07

Đi tìm sự thật về con người muôn mặt Hồ Chí Minh

Lê Minh Khôi (Danlambao)

thăm cụ Phan tại Bến Ngự đã viết: 

Vài năm sau cuộc hội kiến lịch sử này, khi Phan Bội Châu đã trở thành Ông Già Bến Ngự để
quãng đời cuối cùng trôi qua trên đất Huế, đã có đôi lần khi các thanh niên yêu nước hỏi cụ:

– Bây giờ cụ về nước thì ở nước ngoài còn có người Việt Nam nào thay cụ dẫn dắt đồng bào
được nữa?

Cụ đã không ngần ngại mà trả lời rằng:

–  Vẫn  còn,  còn  có  Nguyễn  Ái  Quốc,  ông  Nguyễn  giỏi  hơn  tôi,  ông  sẽ  làm  được  việc
đó! (Nguồn: Minh Võ­ Hồ Chí Minh, chương 45)

Một  tài  liệu  khác,  bọn  cộng  sản  đã  man  trá,  ngụy  tạo  thư  của  cụ  Phan  Bội  Châu  gửi  cho
Nguyễn Tất Thành như sau:

Người cháu rất kính yêu của Bác

Hôm trước anh Lâm (Đức Thụ) và anh Hồ (Hồ Tùng Mậu) gửi lại thư của Cháu, trong thư có
nói tường tận về chuyện ông Hy Mã (Phan Châu Trinh).

Tuy thư đưa trực tiếp trên chuyện thật nhưng ngụ ý thật sâu sắc, mà lối lập luận lại dựa trên
những  ý  tưởng  lớn,  nhân  đó  mới  biết  là  học  vấn,  tri  thức  của  cháu  nay  đã  tăng  trưởng  quá
nhiều, quả thực không phải như hai mươi năm về trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu gò án ngâm thơ, anh em cháu
đều chửa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành
một  tiểu  anh  hùng  như  thế  này.  Bây  giờ  đem  so  kẻ  gì  này  với  cháu  thì  bác  thật  rất  xấu  hổ.
Nhận  được  liên  tiếp  hai  lá  thư  của  cháu,  bác  cảm  thấy  vừa  buồn  vừa  mừng.  Buồn  là  buồn
cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau
giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai. Ngày xế đường cùng,
chỉ  sợ  không  được  thấy  ngày  đó,  làm  sao  bác  không  cảm  thấy  buồn  cho  chính  mình  được?
Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ
có  nhiều  người  hưởng  ứng  theo.  Việc  gây  dựng  lại  giang  sơn,  ngoài  cháu  có  ai  để  nhờ  ủy
thác  gánh  vác  trách  nhiệm  thay  mình.  Có  được  niềm  an  ủi  lớn  lao  như  thế,  làm  sao  bác
không cảm thấy vui mừng được.

Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông một chuyến để đàm luận với cháu, không biết
cháu  còn  ở  lại  Quảng  Đông  lâu  mau,  hoặc  giả  trong  tương  lai  có  định  đi  chỗ  khác  không?

Trong lòng bác có nhiều chuyện muốn hỏi ý kiến cháu, nhưng không gặp mặt thì làm sao có
thể  bàn  cho  hết  ý  được?  Làm  sao  được?  Nếu  không  coi  già  yếu  là  đồ  bỏ  thì  cháu  viết  thư
nhiều cho bác, bác thành thật yêu cầu cháu đấy.

Cần nhắc lại là Phan Bội Châu lúc rời nước đã gần bốn mươi (ba mươi chín tuổi đến Nhật)
lại  không  thể  tránh  khỏi  những  trách  nhiệm  này  nọ  đặng  chuyên  chú  học  hành,  cho  nên  tri
thức lúc bấy giờ cũng vẫn như xưa. Cháu học vấn rộng rãi, và từng đi nhiều nơi, hơn bác cả
chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu vượt sức đo lường của bác; không biết cháu
có thể chia sẻ cùng bác một hai việc? Bác rất hết sức mong đợi, mong cháu không ngại. Vì
nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm những khách tha hương than thở không đâu cho
hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã thì cũng giống Phan Bội Châu mà thôi!

Thư bất tận ngôn, mong cháu hiểu giùm cả những ý không viết thành lời. Chúc cháu bình an.

Ngày 21 tháng 1 lịch ta (14 tháng 2 năm 1925 dương lịch) viết dưới đèn dầu.

Chỗ  bác  ở  đâu  nơi  đất  khách  thì  Quốc  Đảng  (Hồ  Tùng  Mậu)  đã  biết  nên  không  ghi  ở  đây.
Thư này nhờ Quốc Đống chuyển giúp.

Đọc qua lá thư chúng ta thấy: Một ông chú ông bác không khi nào viết thư cho cháu mà lại
tôn xưng Người cháu rất kính yêu của Bác... khi thằng cháu này chẳng là gì cả! 

Cụ Phan lúc này nổi danh khắp nơi, còn Lý Thụy chỉ là một kẻ giấu mặt vô danh, làm gì mà
tôn xưng như vậy. Câu này là do bọn Việt Cộng bịa ra để tôn xưng Lý Thụy.

“...Cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này. Bây giờ đem so kẻ gì này với cháu thì
bác thật rất xấu hổ… Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên
tiền  đồ  đen  tối  sẽ  xuất  hiện  ánh  sáng  ban  mai.”  Câu  này  cho  biết  Lý  Thụy  lúc  đó  đã  có  dã
tâm cướp địa vị lãnh tụ cách mạng của Phan Bội Châu, và y có ý giết cụ để cướp đoạt công
trình của cụ Phan

"...Bác đang định tìm một dịp tốt về Quảng Đông”. Câu này ngụ ý ám chỉ rằng cụ Phan tự ý
về  Quảng  Đông  chứ  không  phải  do  Lý  Thụy  lập  mưu  sai  Lâm  Đức  Thụ  mời  cụ  Phan  về
Quảng Đông 

Bồi bút Cộng sản nói rằng Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu ca tụng Nguyễn Tất Thành. Đó là
điều bịa đặt trắng trợn. Hai cụ có thể thương Nguyễn Tất Thành vì Nguyễn Tất Thành bằng
tuổi con của các cụ và là con cụ Bảng Sắc. Chính vì vậy nên cụ Phan Chu Trinh đã nâng đỡ
Tất Thành để lâm cảnh "nuôi khỉ dòm nhà” , "nuôi ong tay áo”! Nhưng bảo rằng các cụ kính

trọng Nguyễn Tất Thành thì không phải vậy. 

Trong đời sống, việc giao thiệp, chia sẻ, giúp đỡ giữa những người không cùng tuổi tác hoặc
không  cùng  giai  tầng  xã  hội  là  chuyện  rất  bình  thường. Tuy  nhiên,  dù  muốn  nâng  đỡ  cách
mấy cũng thật khó có sự tôn trọng đến mực một người già viết thư xưng tụng ca ngợi một tên
vô danh tiểu tốt bất tài trước quốc dân, nhất là kẻ đó tuổi đáng con cháu. Tất Thành tuổi còn
trẻ. Tất Thành là kẻ thất học, chưa học hết bậc tiểu học trong khi các cụ là cử nhân, tiến sĩ.
Tất Thành không có tài cán gì đặc biệt và cũng chưa có một hành động nào hơn người. Tất
Thành từ năm 1919 đã phản bội Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, nổi danh là kẻ vô ơn bạc
nghĩa,  lưu  manh,  gian  ác,  lại  chạy  theo  cộng  sản,  dù  y  có  là  tỷ  phú,  là  vua,  là  lãnh  tụ  một
đảng, các cụ vẫn khinh bỉ những kẻ vô đạo đức như thế!

Cộng sản độc quyền xuất bản sách báo nên chúng tự tung tự tác sửa chữa, thêm bớt mà không
ai có thể thanh minh, cải chính. Chúng đã đặt các lời, các câu, vào miệng vào sách của Đào
Duy Anh,  Chương  Thâu,  Võ  Nguyên  Giáp,  Sơn  Tùng...  Đó  là  lũ  bồi  bút  hay  những  tên  dư
luận viên dấu mặt ăn lương. Vì vậy chúng ta không lạ khi thấy trong các tác phẩm của Cộng
Sản có nhiều chuyện bịa đặt ca tụng Hồ Chí Minh đến độ trơ trẽn ngu ngốc. Trong việc bán
đứng  cụ  Phan  Bội  Châu  chúng  đã  ngụy  tạo  các  chứng  cớ  lịch  sử  như  thư  tín  của  Phan  Chu
Trinh,  Phan  Bội  Châu.  Ngay  như  việc  dịch  quyển Tư  Phán,  bồi  bút  Chương Thâu  chê  bản
Anh Minh Huế là bản có chữ ký của Phan Bội Châu xem như bản phản động. Sau đó y chọn
bản khác có lẽ do bọn họ sửa chữa thêm bớt, có lợi cho việc ca tụng Hồ Chí Minh.

Nguyễn Tất Thành là một kẻ tàn ác, gian manh. Đầu óc của y lúc nào cũng đầy mưu mô gian
ác. Trước tiên, y đến thăm cụ Phan điều tra về hoạt động của tổ chức cụ Phan, cụ nghĩ rằng y
cũng  thật  thà  hiền  lương  và  yêu  nước  như  cụ  cho  nên  cho  biết  14  nhân  vật  trong  tổ  chức.
Bước thứ hai, y ban cho Lâm Đức Thụ địa vị lãnh đạo Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội
thay  Hồ Tùng  Mậu  khiến  cho  Lâm  Đúc Thư  hăng  hái  tuân  theo  lệnh. Tiếp  theo  y  sai  Lâm
Đức  Thụ  thi  hành  quỷ  kế,  mời  cụ  Phan  về  Quảng  Đông.  Khi  về  Quảng  Đông  phải  qua
Thượng  Hải  là  tô  giới  của  Pháp  để  Pháp  tiện  bắt  giữ.  Bước  thứ  ba  là  y  hãm  hại  bất  cứ  ai
không theo y.

Những điều trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ ràng là Lý Thụy và Lâm Đức Thụ đã bán
Phan Bội Châu để lấy tiền. Lý Thụy là chánh phạm còn Lâm Đức Thụ là tòng phạm.

Tất  Thành  phạm  nhiều  tội.  Y  là  tên  trộm  cướp  chuyên  nghiệp.  Tại  Pháp,  y  đã  trộm  tên
Nguyễn Ái Quốc và các tác phẩm cách mạng của nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường…
Tại  Trung  Quốc,  y  trộm  tên  Hồ  Chí  Minh  và  danh  hiệu  Việt  Nam  Độc  Lập  Đồng  Minh  hội
của  nhà  cách  mạng  Hồ  Học  Lãm.  Tại  Trung  Quốc,  y  cũng  cướp  sự  tự  do,  đời  hoạt  động  và
các tổ chức của Phan Bội Châu. Y phạm tội bán Phan Bội Châu, các nhà cách mạng quốc và

cả các đảng viên cộng sản mà y thù ghét và lo ngại...

Nguyễn Tất Thành  không  yêu  nước,  không  yêu  dân. Y  chỉ  yêu  tham  vọng  của  y.  ( Nguyễn
Thiên Thụ: Hồ Chí Minh­Huyền Thoại Và Mặt Nạ)


Minh
Khôi

(Danlambao) ­ Sau vụ bán cụ Phan Bội Châu, mùa thu 1928, Hồ Chí Minh lại được Quốc Tế
Cộng Sản chỉ định cải trang thành một nhà sư mang bí danh Thầu Chín xâm nhập Thái Lan
tuyên truyền huấn luyện và chiêu mộ Việt kiều tại miền Đông Bắc Thái là nơi có nhiều người
Việt  sinh  sống.  Theo  luật  lệ  khe  khắt  của  vương  quốc  Thái  Lan  lúc  bấy  giờ  thì  cho  dù  sinh
sống bao nhiêu đời trên đất Thái người Việt cũng không được nhập quốc tịch Thái, nhất là bị
cấm  làm  một  số  nghề  cũng  như  sự  đi  lại  bị  hạn  chế  trong  vùng.  Chính  vì  chủ  trương  kỳ  thị
này mà người Việt có khuynh hướng chống lại nhà cầm quyền và cũng chính vì vậy mà vùng
đất này là môi trường rất tốt cho Cộng Sản phát triển. Phải nói hầu hết người Việt ở đất Thái
vào những năm này nếu không là đảng viên Cộng Sản cũng thuộc thành phần thân Cộng.

Trong tập “Những Anh Hùng Tuổi Trẻ” (loại sách này nhan nhản đầy Sài Gòn nhằm đào tạo
anh hùng lao động, anh hùng hốt rác, anh hùng gánh phân đổ thùng) nhà xuất bản Bạn Trẻ,
Gia Định (một cơ quan tuyên truyền ngoại vi của Cộng Sản) in lần thứ 4 nơi trang18 đã cho
biết  kỹ  thuật  của  Hồ  Chí  Minh  đích  thân  trồng  người  tại  Thái  Lan.  trích  đoạn  dưới  đây  hòa
toàn  đúng  theo  bản  in,  không  sai  một  chữ,  không  thay  đổi  một  dấu  chấm  hay  dấu  phẩy  của
tập “Những Anh Hùng Tuổi Trẻ”.

Năm 1926, khi còn hoạt động bí mật, Bác đã đưa tám thiếu niên ra nước ngoài học tập, trong
số đó có LÝ TỰ TRỌNG, người thanh niên Cộng Sản đầu tiên, người thanh niên lý tưởng của
tất cả thiếu niên. Hồi ấy Lý Tự trong mới chín mười tuổi...

Cậu bé Lý Tự Trọng tên thật là Lê văn Trọng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1914 tại làng Bản
Mạy, tỉnh nakhon ­ Thái Lan, con một gia đình nông dân nghèo, được Bác chiếu cố vào năm
1923 lúc chỉ mới 9 tuổi, đưa sang Trung Quốc dưới tên Lý Tự Trọng để gia nhập Thanh Niên
Cách Mạng Đồng Chí Hội. Năm 1926, Lý Tự Trọng được đưa về nước hoạt động với nhiệm

vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng Sản Đông Dương và làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ với
Đảng  Cộng  sản  Việt  Nam.  Ngày  9  tháng  2  năm  1931,  trong  buổi  mít  tinh  kỷ  niệm  một  năm
cuộc  khởi  nghĩa  Yên  Bái  tổ  chức  tại  Sài  Gòn,  Lý  Tự  Trọng  đã  bắn  chết  viên  mật  thám  Le
Grand để bảo vệ diễn giả Phan Bôi đang diễn thuyết tại quảng trường Lareni. Sau đó ông đã
bị  bắt  giam  vào  Khám  Lớn  và  người  thanh  niên  lý  tưởng  của  tất  cả  thiếu  niên  bị  kết  án  tử
hình ngày 20 tháng 11 năm 1931...

Trích đoạn trên cho thấy Hồ Chí Minh thuộc loại tán tận lương tâm và vô cùng tàn nhẫn, lợi
dụng sự nghẻo khó của gia đình Lý Tự Trọng rồi dùng tiền của mật vụ của Nga Sô chu cấp để
mua hay dụ dỗ một đứa bé mới 9 tuổi đầu rời khỏi mái ấm gia đình làm công việc nguy hiểm
chết người. Đây là việc làm của thứ mẹ mìn. Bọn mẹ mìn dùng kẹo dụ dỗ trẻ thơ ra khỏi nhà
rồi bắt cóc các em nhỏ này đem bẻ gãy tay, gãy chân, làm như đứa bé bị tật nguyền bẩm sinh
để đánh động lòng nhân của thiên hạ, sau đó bắt đứa bé đi ăn mày, đi ăn xin. Nếu đứa bé lành
lặn khỏe mạnh thông minh thì tập cho nghiện hút, tập cho xài tiền, rồi bắt học nghề ăn cắp,
móc túi hay ăn cướp đem tiền về nuôi chúng. Hồ Chí Minh cũng vậy. Hồ Chí Minh dùng tiền
dụ dỗ trẻ thơ ra khỏi nhà, phong làm anh hùng rồi bắt đi làm công việc giết người cho băng
đảng Cộng Sản của ông ta.

Thật  không còn  hành động nào độc ác khốn nạn bỉ ổi hơn việc dụ dỗ  trẻ thơ hay lợi dụng
những kẻ điên khùng làm những việc ám sát, tung truyền đơn, gài mìn, đặt bom, giết người
rồi khi chết thì phong cho làm anh hùng.

Bắt  một  đứa  nhỏ  13  tuổi  đi  hoạt  động  thành  lập  đảng  thì  đảng  này  đúng  là  đảng  chết  tiệt,
đảng lưu manh, đảng khốn nạn. Tuổi 12 hay 13 là cái tuổi đẹp nhất của thời thơ ấu. Cái tuổi
ngây thơ, trong trắng, vô tư, hồn nhiên và dễ tin này rất dễ dàng bị lợi dụng bằng bánh kẹo
hay mấy đồng bạc hoặc vài câu bốc thơm phỉnh nịnh để rồi bị dụ dỗ xách túi đựng bom đựng
mìn đi đặt tại các quán nước quán cà phê hay tại các khu chợ búa đông người mà không ai để
ý.

Tội nghiệp các em! Các em xách túi bom mìn đi giết người mà không biết trong túi có chứa
bom  mìn  hay  lựu  đạn.  Các  em  bị  đẩy  vào  chỗ  chết  mà  cha  mẹ  không  biết  tại  sao  con  mình
phải chết. Trường hợp và số phận của Võ Thị Sáu lúc mới 14 tuổi đi đánh bom tại quận Đất
Đỏ  hay  các  em  Kim  Đồng,  Lê Anh  Xuân  (tên  thật  là  Ca  Lê  Hiến)  cũng  bị  lũ  mẹ  mìn  khốn
kiếp Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản đẩy lên làm “anh hùng tiên tiến hay chiến sĩ, liệt
sĩ” đều thuộc loại này.

Trở lại hoạt động của Nguyễn Tất Thành. Cuối năm 1929 Thành được lệnh rời Thái Lan quay
lại  Trung  Quốc.  Ngày  3  tháng  2  năm  1930,  theo  chỉ  thị  của  Quốc  tế  Cộng  sản  Nguyễn  Tất
Thành  đã  thành  công  trong  việc  thành  lập  Đảng  Cộng  Sản  Việt  Nam  tại  Cửu  Long  thuộc

Hương  Cảng  (sau  đó  đổi  tên  là  "Đảng  Cộng  Sản  Đông  Dương",  rồi  đổi  thành  "Đảng  Lao
Động  Việt  Nam"  và  hiện  nay  trở  lại  danh  xưng  khởi  thủy  là  "Đảng  Cộng  Sản  Việt  Nam".
Thực  ra  Đảng  Cộng  Sản  Việt  Nam  chỉ  là  một  bộ  phận  của  Đảng  Cộng  Sản  Nam  Hải  (the
South Seas Communist Party), tiền thân của một loạt các tổ chức cộng sản sau này, bao gồm
cả Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng vào năm này, khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra do
Đảng Cộng Sản chỉ đạo với khẩu hiệu’ TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO, ĐÀO TẬN GỐC, TRỐCTẬN
RỄ” Cuộc khởi nghĩa thất bại vì sự tàn bạo khát máu của người Cộng Sản. Pháp cấm Đảng
Cộng  sản  Đông  Dương  hoạt  động  và  Nguyễn  Ái  Quốc  bị  xử  tử  hình  vắng  mặt.  (Nguồn:
HCMSBK)

Sự  hoạt  động  của  Cộng  Sản  Quốc  Tế  đã  làm  cho  Quốc  Dân  Đảng  bừng  tỉnh  vì  vậy  Tưởng
Giới Thạch cho truy lùng những tên cộng sản Trung Quốc và Việt Nam. Năm 1931, dưới tên
giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt
giam ngày 6­6­1931 với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương.

Giáo sư Nguyễn Thế Anh trong bài viết “ Hồ  Chí  Minh  Thân  Thế  và  Sự  Nghiệp”  do  nhà  xuất
bản Nam Á Paris ấn hành năm 1990 ghi lại:

Hồ Chí Minh đã tường thuật vụ giam giữ này như một vở kịch hết sức ly kỳ. Luật sư Frank
Loseby viện dẫn luật haheas corpus để cãi cho ông, với sự ủng hộ của Sir Stafford Cripps, vị
cố vấn pháp lý nổi tiếng của Hoàng Gia Anh ở Luân Đôn, đòi cho ông được phóng thích. Sau
đó ông bí mật đáp tàu đi Anh nhưng đến Tân Gia ba lại bị bắt trở về Hương Cảng. Mật thám
Hương Cảng lấy cớ ông nhập cảnh không có giấy phép lại giam ông vào tù, luật sư Loseby
giúp ông vượt ngục trốn sang Thượng Hải, mãi đến mùa thu năm ấy nhờ gặp người quen cũ
trong  đảng  Cộng  sản  Pháp  là  Vaillant  Couturier  ông  mới  bắt  liên  lạc  được  với  các  lãnh  tụ
cộng  sản  Trung  Quốc,  sau  đó  đáp  tàu  di  Vladisvostok  và  đến  Mac  Tư  Khoa  vào  mùa  xuân
1934. Giáo sư Nguyễn Thế Anh kết luận “Đoạn này phần lớn là hư cấu”.

Chúng ta hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Giáo sư Nguyễn Thế Anh: Trừ phi là đồng đảng,
một  luật  sư,  nhất  là  một  luật  sư  danh  tiếng,  không  bao  giờ  dám  giúp  tù  nhân  vượt  ngục  vì
không  những  bị  mất  bằng  hành  nghề  mà  còn  bị  tù  tội.  Luật  sư  Frank  Loseby  không  phải  là
đảng viên Cộng sản. Ông ta được đền đáp những gì mà ngu dại đến nỗi phải tự thân đứng ra
làm công việc nguy hiểm giúp Hồ Chí Minh vượt ngục? Câu chuyện ngụy tạo và dựng đứng
hết sức vô lý.

Dennis  Duncanson  đã  viết  “Ho  Chi  Minh  in  Hongkong  1931­1932”  trên  tờ  The  China
Quarterly Jan­March 1974, ghi nhận sự kiện khó hiểu này nơi trang 84­100. Bernard B. Fall,
một ký giả thiên tả, một người đã được Hồ tiếp đón và được Hồ cho biết nhiều tài liệu, trong
cuốn  “Last  Reflections  On A  War”  xuất  bản  năm  1967  cũng  cho  là  cuộc  đời  Hồ  Chí  Minh

trong giai đoạn 1932­1941 có nhiều tối tăm mờ mịt. Tác giả Jean Lacouture trong cuốn “Ho
Chi  Minh”  cũng  đã  viết  rằng  tất  cả  những  gì  liên  quan  đến  cuộc  đời  Hồ  Chí  Minh  cho  đến
năm 1941 là chắp vá, phỏng chừng, gây nhiều tranh luận. Ngay cả những người thân cận ông
Hồ  được  nghe  kể  lại  cuộc  đời  của  ông  Hồ  cũng  bị  ông  Hồ  lừa  gạt. Tháng  7­1969  Hồ  Chí
Minh  đã  cho  ký  giả  Charles  Fourniau  của  báo  L’Humanité  là  Cơ  quan  ngôn  luận  của  Đảng
Cộng sản Pháp một cuộc phỏng vấn rất lâu và cuộc phỏng vấn đó được phổ biến ngày 15­7­
1969, sau đó được viết lại bằng tiếng Việt trong cuốn Hồ Chí Minh Tuyển Tập, tập II, cũng
chứa đựng nhiều dối trá và mâu thuẫn so với sự việc thật.

Theo tài liệu đương thời thì trong lần bị bắt này Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc đã chết vì
bệnh  lao  trong  bịnh  viện  của  khám  đường  Hong  Kong.  Ngay  đến  tờ  L'Humanité  là  cơ  quan
ngôn luận trung ương của đảng Cộng Sản Pháp số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 cũng đưa tin
Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố
cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp cấu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo
của  Đảng  Cộng  Sản  Đông  Dương.  Ngoài  ra  còn  có  tờ  Lao  Động  của  Anh,  tờ  Sự  Thật
(Pravda)  của  Nga.  Trong  tác  phẩm  của  mình  William  J.  Duiker  đã  ghi  lại  nơi  trang  209  và
212 như sau: Vào ngày 11 tháng 8 năm 1932, tờ nhật báo "Công Nhân" của Quốc tế cộng sản
phát  hành  tại  London,  đăng  tin  Nguyễn  Ái  Quốc  chết  trong  nhà  giam.  Nhóm  lưu  học  sinh
Việt Nam tại trường Đại học Stalin sớm đã biết tin Nguyễn Ái Quốc qua đời vì bệnh lao phổi
nặng  nên  đã  tổ  chức  lễ  truy  điệu  cùng  cử  hành  tang  lễ  tại  Đại  học  Phương  Đông,  Mạc Tư
Khoa.  Cũng  như  trước  đó,  vào  năm  1931,  họ  đã  tổ  chức  lễ  truy  điệu  Tổng  bí  thư  Trần  Phú.
Hồ sơ của cảnh sát Pháp năm 1933 đã ghi chép về sự kiện này và chú thích "Nguyễn Ái Quốc
đã chết tại Hương Cảng".

Tuy  nhiên  lịch  sử  vẫn  tiếp  diễn  và  vẫn  có  một  Nguyễn  Tất  Thành  tức  Nguyễn  Ái  Quốc  tức
Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cầm đầu” băng đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến ngày Hà
Nội công bố chính thức là Hồ Chí Minh đã chết vào ngày 3­9­1969, sau đổi lại là 2­9­1969,
vì nói dối bị lật tẩy.

Thật sự mọi việc sẽ qua đi nếu không có chuyện bất ngờ là vào năm 2008 giáo sư Hồ Tuấn
Hùng, một người tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan cho xuất
hiện tập “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài
Loan, mã số ISBN: 9789866820779, Thái Văn tuyển dịch.

Tập  sách  này  nhác  qua  tưởng  như  một  tập  sách  bình  thường  giống  như  trăm  ngàn  tập  sách
khác,  nhưng  càng  đọc  càng  thấy  đây  là  một  công  trình  biên  khảo  giá  trị  về  một  vấn  đề  hệ
trọng và được viết bởi một ngòi bút cẩn trọng.

Nhiều  chứng  liệu  cho  thấy  chính  vào  thời  điểm  Nguyễn  Tất  Thành  chết  tại  HồngKong  năm

1932  đã  xảy  ra  sự  kiện  “Ve  Sầu Thoát  Xác”. Theo  giáo  sư  Hồ Tuấn  Hùng  thì  Nguyễn Tất
Thành tức Nguyễn Ái Quốc sanh tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An đã chết thật
và kẻ đóng vai Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc sau này chính là một người trong gia
tộc của ông có tên Hồ Tập Chương.

Cũng  không  quên  là  trước  cả  giáo  sư  Hồ  Tuấn  Hùng,  vào  năm  2002,  nhà  sử  học  Sophie
Quinn ­ Judge đã cho xuất bản cuốn "Những Năm Tháng Mất Tích Của Hồ Chí Minh". Trong
tập sách này tác giả viết rằng “cuộc đời của Hồ Chí Minh còn rất nhiều nghi vấn”, đặc biệt
nơi  chương  sáu,  đặt  dấu  hỏi  nghi  ngờ  sự  kiện  "Chết  ở  Hương  Cảng,  mai  táng  ở  Mạc  Tư
Khoa".  Sự  mờ  ám  là  sau  khi  được  thả  đầu  vào  năm  1933 Tống Văn  Sơ  tức  Hồ  Chí  Minh
đi Thượng Hải (?). Từ đây ông được Đảng Cộng sản Trung Quốc bố trí đưa đi Nga Sô. Theo
tài liệu của Sophia Queen Judge, ông bị ép buộc phải ở lại Liên Xô và bị giam lỏng (hoặc nói
nhẹ hơn là bị kỷ luật) trong những năm 1933–1938 do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm
quyền Hương Cảng trả tự do, nhưng theo giáo sư Hồ Tuấn Hùng thì đây chính là thời gian Hồ
Tập  Chương  được  đào  luyện  để  nhập  xác  Nguyễn  Tất  Thành  tức  Nguyễn  Ái  Quốc  rồi  biến
thành Hồ Chí Minh. Ông rời Liên Xô vào mùa thu năm 1938.

Phải chăng Hồ Chí Minh thời kỳ 1890 ­ 1932 chính gốc là Nguyễn Tất Thành sinh tại huyện
Nam  Đàn  tỉnh  Nghệ An  còn  Hồ  Chí  Minh  thời  kỳ  1933  ­  1969  là  Hồ  Tập  Chương  người
Miêu Lật, Đồng La, gốc Hẹ?

Để có thêm dữ kiện trong việc đi tìm sự thật Hồ Chí Minh có phải là Nguyễn Tất Thành sinh
trưởng tại làng Sen tỉnh Nghệ An hay Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương người Hẹ gốc tích tại
Miêu Lật, Đồng La được Cộng Sản Trung Quốc bố trí giả làm Nguyễn Tất Thành, chúng tôi
làm  một  việc  trái  ngược  là  trình  bày  những  việc  làm  vào  những  năm  cuối  đời  của  Hồ  Chí
Minh lên trước. Lý do: Người chính là việc và việc nói lên người. Tất cả những việc làm của
Hồ Chí Minh và hậu quả của nó vẫn còn đó với rất nhiều nhân chứng còn sống hoặc đã để lại
những  tài  liệu  sống.  Từ  đó,  chúng  ta  có  thể  đi  tìm  được  câu  trả  lời  tại  sao  Hồ  Chí  Minh  lại
làm  như  vậy.  Con  người  có  thể  muôn  mặt  và  dối  trá  nhưng  việc  làm  thì  không  thể  che  đậy
được. Nhìn vào việc làm chúng ta sẽ nhìn được mặt thật của Hồ Chí Minh và sẽ nhận ra con
người.

“Sự nghiệp” của Hồ Chí Minh còn “ghi đậm” trong lịch sử dân tộc, có thể sắp xếp theo thứ tự
thời gian:

Cuộc khởi nghĩa 19 tháng 8 năm1945,

Cuộc chiến 1946­1954 chống Pháp

Các  cuộc  Cải  Tạo  Công  Thương  Nghiệp,  Cải  Cách  Ruộng  Đất  và  vụ  án  Nhân  Văn  Giai
Phẩm.

Cuộc  chiến  với  Miền  Nam  ngay  từ  sau  hiệp  định  Genève  1954  cho  đến  ngày  Hồ  Chí  Minh
qua đời 2­9­1969 cùng với hậu quả của cuộc chiến.

1. Khởi nghĩa 1945 Hồ Chí Minh cướp công kháng chiến

Hoạt  động  của  Hồ  Chí  Minh  trong  những  năm  1938  là  năm  Hồ  rời  Mạc  Tư  Khoa  cho  đến
năm  1945  là  năm  về  Hà  Nội  gần  như  không  có  gì  nổi  trội  ngoài  việc  về  hang  Pắc  Bó  ngồi
chồm hổm trên ghế đá chông chênh dịch sử đảng và dạy kèm chính trị (?) cho đồng chí cháu
gái  Nông  Thị  Trưng  rồi  cùng  cháu  gái  Nông  Thị  Trưng  hợp  soạn  ra  tác  phẩm  Nông  Đức
Mạnh. Phải chăng lúc này Hồ Chí Minh bị thất nghiệp vì kẻ đứng ra chi tiền là Nga Sô đang
bị Đức đánh cho tối tăm mặt mũi nên không có tiền chu cấp cho lũ tay sai.

Cùng vào thời gian này, trong khi Đức xâm chiếm Ba Lan và nuốt gần hết Âu Châu thì Nhật
đem quân xâm lăng Trung Hoa vào năm 1937 với ý đồ thống trị Á Châu. Năm 1939 quân Ý
dưới  quyền  Benito  Mussolini  (1883­1945)  xâm  chiếm Albania  đồng  thời  ký  một  thỏa  hiệp
với Đức (the Pact of Steel). Ba nước này tạo thành phe Trục “Nhật­Đức­Ý”. Một hiệp ước bất
tương  xâm  Nga  ­  Đức  cũng  được  bí  mật  ký  kết  giữa  hai  ngoại  trưởng  Molotov  (Nga)  ­
Ribbentrop  (Đức)  thỏa  thuận  để  Nga  và  Đức  chia  nhau  Âu  Châu  và  các  nước  vùng  biển
Baltiques.

Thế chiến thứ hai bùng nổ. Tháng 6­1941 quân Đức bất thần tiến đánh Nga Sô và xua quân
chiếm Bắc Phi. Thủ tướng Churchill của Anh Quốc đã thành công trong việc chống lại Đức ở
vùng  Bắc  Phi  và  vùng Atlantic.  Tháng  12­1941  Hoa  Kỳ  nhập  cuộc  khi  Nhật  tấn  công  Trân
Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7­12­1941 gây thiệt hại hơn 2,300 nhân mạng, đánh đắm
hai chiến hạm Arizona và Oklahoma cùng 12 tàu chiến khác, phá hủy và làm hư hại trên 300
phi cơ. Trước đây Hoa Kỳ chỉ yểm trợ nhưng không trực tiếp tham chiến. Sau vụ Trân Châu
Cảng Hoa Kỳ nhập cuộc và trở thành lãnh đạo của phe Đồng Minh. Từ năm này phe Trục gặp
khó khăn, nhất là khi Nhật thua trận tại Midway và Đức bị đánh bại tại Bắc Phi. Năm 1944
quân Đồng Minh tiến vào giải phóng nước Pháp buộc Đức phải đầu hàng vào ngày 8­5­1945.

Tại Việt  Nam,  Nhật  lật  Pháp  trong  cuộc  đảo  chính  ngày  9  tháng  3  năm  1945  chấm  dứt  80
năm đô hộ của thực dân Pháp. Lần đầu tiên một chính phủ gồm toàn người Việt Nam của một
nước  Việt  Nam  độc  lập  thống  nhất  được  thành  lập  vào  ngày  17­4­1945  và  ra  mắt  quốc  dân
ngày 19 tháng 4 năm 1945. Không thể tin rằng Nhật lật Pháp với chủ tâm dành độc lập cho
Việt Nam nhưng chắc chắn là Nhật muốn có một Việt Nam do người Việt Nam cầm đầu vì ơn
nghĩa này mà góp sức với Nhật trong lá bài Đại Đông Á. Tuy nhiên, với kỹ thuật tuyên truyền

đầu độc tinh vi xảo  trá khôn  khéo  của Cộng Sản không ít người đã  lầm lạc  tin theo  lời  vu
khống  rằng  chính  phủ  Trần  Trọng  Kim  theo  Nhật.  Sự  thật  chính  phủ  Trần  Trọng  Kim  chỉ
nương gió phất cờ để dành lại độc lập cho Việt Nam khi thời cơ đến, nhất là lúc đó Việt Nam
còn là một thuộc quốc của Pháp, không có lực lượng, không có vũ khí.

Tuy nhiên, cuộc chiến càng ngày càng bất lợi cho phe Trục. Đức đầu hàng ngày 8­5­1945 thì
Nhật  cũng  phải  đầu  hàng  sau  khi  Hoa  Kỳ  thả  hai  trái  bom  nguyên  tử  xuống  Hiroshima  và
Nagazaki vào hai ngày 6­8­1945 và ngày 9­8­1945. Vì nguy cơ cả nước bị hủy diệt nên ngày
15­8­1945 Hoàng Đế Nhật Bản cho ghi âm và cho phát thanh bài diễn văn quyết định chấm
dứt chiến tranh. Ngày 2­9­1945 Bộ Trưởng Ngoại Giao Nhật Bản Mamoru Shigemitsu ký văn
kiện  đầu  hànghoa  Kỳ  trên  chiến  hạm  USS  Missouri  trước  sự  chứng  kiến  của  tướng  Richard
K. Sutherland.

Thành phần nội các chính phủ Trần Trọng Kim ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4 năm 1945:

­ Thủ Tướng: Giáo sư Trần Trọng Kim
­ Bộ trưởng Nội Vụ: Bác sĩ trần Đình Nam
­ Bộ Trưởng Ngoại Giao: Luật sư Trần Văn Chương
­ Bộ Trưởng Tư Pháp: Luật sư Vũ Đình Hòe
­ Bộ Trưởng Giáo Dục: Giáo sư Hoàng Xuân Hãn
­ Bộ Trưởng Kinh Tế: Bác sĩ Hồ Tá Khanh,
­ Bộ Trưởng Tài Chánh: Luật sư Vũ Văn Hiền,
­ Bộ Trưởng Y Tế: Bác sĩ Vũ Ngọc Anh,
­ Bộ Trưởng Tư Pháp: Luật sư Trịnh Đình Thảo
­ Bộ trưởng thanh Niên: Luật sư Phan Anh,
­ Khâm sai Bắc Bộ: Phan Kế Toại,
­ Khâm sai Nam Bộ: Nguyễn Văn Sâm (bị ám sát ngày 10­10­1945)
­ Quốc Vụ Khanh đặc trách 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh: Đặng văn Hưởng.

Cụ Đặng Văn Hướng là thân sinh của con mèo què đường số 4 Đặng Văn Việt. Năm 1954 cụ
Hướng bị Việt Cộng đem nhốt chuồng trâu và bị đấu tố đến chết nhưng tên con khốn nạn bất
hiếu này vẫn cúc cung ca tụng Hồ Chí Minh là kẻ đã giết bố mình. Đăng Văn Việt được nổi
tiếng là một trong Tứ Đại Bất Hiếu của Việt Nam gồm Phạm Tuyên con Phạm Quỳnh (bị Việt
Cộng chôn sống), Nguyễn Khắc Viện con cụ Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niệm (bị đấu tố đến
chết) và Thu Tứ Đoàn Thế Phúc viết bài chửi bố là “ngoài tính rất đỗi cục bộ và tập trung
vào cái xấu hoặc bất thường, còn một đặc tính nữa là hay khuếch đại...”

Trở  lại  nội  các  Trần  Trọng  Kim.  Mặc  dù  chỉ  được  tồn  tại  trong  thời  gian  ngắn  ngủi  có  bốn
tháng, lại mang tiếng là chính phủ bù nhìn thân Nhật, nhưng Thủ tướng Trần Trọng Kim đã

hoàn tất những việc quan trọng như:

­ Tuyên bố nước Việt Nam độc lập và hủy bỏ Hiệp Ước Patenôtre 1884.

­ Thống nhất đất nước. Cải tổ cơ cấu hành chánh. Nam Kỳ là của Việt Nam.

­ Thả tù chính trị. Các tổ chức và hội đoàn chính trị được hoạt động công khai.

­ Chương trình học bằng tiếng Pháp được chuyển sang học bằng tiếng Việt và chữ Việt được
dùng chính thức trong tất cả các giao dịch của chính phủ…

Từ bao  lâu nay,  người  dân, nhất là  lớp trẻ học sinh sinh viên, bị chế độ nhồi  nhét đầu  độc
rằng cuộc cuộc Tổng Khởi Nghĩa 19/8/1945 đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Nhật thành
công là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh dưới sự chỉ
đường của chủ nghĩa Mac­Lênin.

Đây là việc bóp méo lịch sử một cách thô bạo.

Ngay cả người Cộng Sản cũng không thể phủ nhận công cuộc chống thực dân Pháp đã có từ
ngày Pháp vừa đặt chân đến Việt Nam: Phan Đình Phùng với hịch Cần Vương. Hùm Thiêng
Yên  Thế  với  Hoàng  Hoa  Thám.  Hỏa  hồng  Nhật  Tảo  với  Nguyễn  Trung  Trực.  Đầm  lầy  Bãi
Sậy với Tán Thuật Nguyễn Thiện Thuật. Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng
­  Nguyễn  Thái  Học.  Nhóm  Tâm  Tâm  Xã  của  Phạm  Hồng  Thái.  Việt  Nam  Quang  Phục  Hội
của  vua  Duy  Tân,Trần  Cao  Vân,  Thái  Phiên....  Ngoài  ra  chưa  kể  đến  các  Phong  Trào  Đông
Du của Phan Bội Châu, phong trào Tây Du của Phan Chu Trinh và của biết bao anh hùng liệt
nữ khác. Tất cả cùng chung chí hướng chống Pháp để dành độc lập tự do cho dân tộc. Tất cả
những đảng phái tổ chức cùng các vị anh hùng liệt nữ này chưa hề biết đến chủ nghĩa Cộng
Sản  hay  Mac­Lênin  là  thằng  nào,  hoặc  có  biết  mà  không  chấp  nhận  như  trường  hợp  các  cụ
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhóm Tâm Tâm Xã hay Việt Nam Quốc Dân Đảng.... chỉ vì
sáng suốt thấy rõ con đường Mác­Lê chỉ là con đường lừa dối bịp bợm.

Theo  Nghiêm  Kế Tổ,  một  nhân  vật  trọng  yếu  của  Đại Việt  cùng  hoạt  động  với  Nhất  Linh
Nguyễn  Tường  Tam,  trong  Việt  Nam  Máu  Lửa  (Saigon,1954,  Xuân  Thu  tái  bản,  California
1989) thì ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh Tổng Hội Công Chức Hà Nội triệu tập một
cuộc  họp  ở  Nhà  Hát  Lớn  vào  ngày  17­8  để  đòi  độc  lập  cho  dân  tộc.  Nắm  bắt  được  thời  thế
các  cán  bộ  Cộng  Sản  có  mặt  hôm  đó  đã  trương  lên  lá  cờ  đỏ  của  họ.  Một  cán  bộ  Dân  Chủ
Đảng, cô Tâm Kính, đứng ra kêu gọi mọi người đi biểu tình. Ngày 19­8 hàng mấy chục vạn
dân chúng đã tụ tập dưới sự hướng dẫn của Ủy Ban Khởi Nghĩa gồm đủ mọi thành phần và
đảng phái. Cuộc tuần hành tiến đến dinh Khâm sai Phan Kế Toại, sau đó đến Tòa Đốc Lý của

Thị trưởng Trần Văn Lai. Cả hai, Phan Kế Toại và Trần Văn Lai, đều chấp nhận đòi hỏi của
người biểu tình và không có sự phản kháng. Lá cờ nền đỏ sao vàng bỗng chốc trở thành biểu
tượng của cách mạng. Lúc đó người dân không biết Cộng Sản là gì mà chỉ biết Việt Minh vì
lầm tưởng Việt Minh là Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội.

Vào ngày này, 19­8­1945, Hồ Chí Minh còn ở Tuyên Quang, sau đó mới lục tục kéo nhau về
Hà Nội. Ngày 2­9­1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập tại công trường Ba Đình và
giới thiệu chính phủ lâm thời.

Một  nhân  chứng  khác,  cũng  trong  việc  Cộng  Sản  đánh  Pháp  đuổi  Nhật.  Ông  Trần  Đỉnh,
người  đã  viết  tiểu  sử  cho  Hồ  Chí  Minh,  người  có  vô  số  hình  ảnh  chụp  chung  với  Hồ  Chí
Minh, người tuy mang chức vụ khiêm tốn nhưng luôn luôn sát cạnh bên Hồ Chí Minh, người
từng ngồi một xe với Hồ Chí Minh, nghĩa là người mắt thấy tai nghe chứ không phải kẻ ăn ốc
nói mò, nguyên là đảng viên cộng sản, đã viết trong chương 50, tập 2, Đèn Cù, đưa ra bằng
chứng Cộng Sản cướp công kháng chiến như sau:

Ở  Hà  Nội,  sáng  ngày  17/8/1945,  Tổng  hội  công  chức  của  Chính  phủ  Trần  Trọng  Kim  đã  tổ
chức một cuộc mít tinh đông tới hàng chục ngàn người tại Nhà hát lớn để bày tỏ ý chí bảo vệ
tổ quốc. Cuộc mít tinh vừa bắt đầu thì một nữ thanh niên trí thức xưng tên là Nguyễn Khoa
Diệu Hồng (*) leo lên khán đài cướp micro, hô khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh“ và một người
khác rải một lá cờ đỏ sao vàng từ trên ban công xuống. Đám đông hô khẩu hiệu hưởng ứng.
Từ  đó  cuộc  mít  tinh  của  Tổng  hội  công  chức  biến  thành  cuộc  biểu  tình  của  Việt  Minh.  Khi
cướp  chính  quyền  ở  Hanoi,  Hồ  Chí  Minh  còn  ở  trên  Khu  căn  cứ  chưa  biết  gì.  Ông  Trường
Chinh và ông Võ Nguyên Giáp cũng chưa biết gì. Hai ngày sau, ngày 19/8/1945, Việt Minh
lại  tổ  chức  một  cuộc  mít  tinh  khác  kéo  đến  bao  vây  Bắc  Bộ  Phủ  để  cướp  chính  quyền  từ
Khâm  sai  Phan  Kế  Toại,  rồi  kéo  sang  Trại  Bảo  an  binh  (còn  gọi  là  trại  lính  khố  xanh)  trên
phố  Đồng  Khánh.  Một  cuộc  thương  lượng  đã  được  thỏa  thuận  giữa  Sĩ  quan  chỉ  huy  người
Nhật và đại diện Việt Minh, để Việt Minh treo cờ đỏ sao vàng trên trại Bảo an binh. Từ đó,
cuộc cướp chính quyền của Việt Minh từ chính phủ Trần Trọng Kim ở Hanoi đã thành công.

Chính phủ Trần Trọng Kim, từ Thủ tướng đến các khâm sai như Phan Kế Toại, Nguyễn Xuân
Chử đều từ chối gợi ý của phía Nhật can thiệp, đàn áp Việt Minh để giữ trật tự an ninh. . Dù
đã cướp được chính quyền nhưng Việt Minh muốn làm gì có liên quan đến trật tự an ninh đều
phải  được  phép  của  quân  đội  Nhật,  chẳng  hạn  Đội  quân  giải  phóng  của  Việt  Minh  từ  Thái
Nguyên  về  Hanoi,  muốn  qua  sông  Đuống  cũng  phải  xin  phép  quân  đội  Nhật.  Sau  này  Lê
Trọng  Nghĩa  kể  lại  với  Trần  Đĩnh:  ”Tôi  trực  tiếp  đàm  phán  với  Nhật  nên  tôi  biết  tuy  họ  đã
hàng đồng minh nhưng ở Việt Nam họ còn rất mạnh và rất oai. Ai nói quân Nhật đã mất tinh
thần và tan rã là nói không đúng sự thật. Nếu cứ theo quân lệnh số 1, nổ súng vào quân Nhật
thì  chắc  chắn  bị  đàn  áp  và  thất  bại“.  Khi  quân  đồng  minh  vào  Việt  Nam,  Việt  Minh  cũng

không có danh nghĩa gì để cùng đồng minh tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật. Vì vậy
nói rằng Việt Minh đã đánh Nhật để giành chính quyền từ tay quân Nhật cũng là nói lấy
được.

Một nhân chứng khác nữa, nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1945 Phạm Duy đang sống tại Saigon.
Ông thuộc Đội vũ trang tuyên truyền của Việt Minh và kể lại nơi chương 3, tập 2, trong cuốn
Hồi ký Phạm Duy như sau:

Tin  từ  Hanoi  báo  vào  ngoài  Bắc  đã  có  Mặt  trận  Việt  Minh.  Tôi  tham  gia  Thanh  Niên  Tiền
Phong  do  Phạm  Ngọc  Thạch  đứng  đầu  và  tham  gia  cướp  chính  quyền  ở  Saigon  ngày
25/8/1945.  Thật  ra  mọi  việc  đã  an  bài  kể  từ  khi  Việt  Minh  ở  Hanoi  đã  cướp  chính  quyền
thành công. Cuộc mít tinh ngày 25/8/1945 ở Saigon với “lá cờ vàng sao đỏ của Thanh Niên
Tiền Phong” chứ không phải là cờ đỏ sao vàng, chỉ để làm một việc là ủng hộ Ủy Ban Hành
Chính lâm thời của Saigon do ông Trần Văn Giàu làm Chủ tịch...

Chính vào thời điểm này thực lực băng đảng Cộng Sản vẫn chưa có gì. Biết mình biết người,
Hồ  Chí  Minh  quỷ  quyệt  giấu  kín  cái  đuôi  Cộng  Sản  của  mình  để  cả  nước  lầm  tưởng Việt
Minh  là  Việt  Nam  Độc  Lâp  Đồng  Minh  Hội  của  các  nhà  cách  mạng  Trương  Bội  Công,  Hồ
Học Lãm. Ngày 11­11­1945 Hồ Chí Minh còn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản thay vào đó
là Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mac và cử Trường Chinh Đặng Xuân Khu làm Chủ Tịch Hội.

Cuộc tổng tuyển cử ngày 6­1­1946 cho thấy phe đảng Hồ Chí Minh phải nhường 70 ghế cho
các đảng phái khác. Một chính phủ Liên Hiệp được thành hình gồm:

­ Chủ Tịch: Hồ Chí Minh
­ Phó Chủ Tịch, cụ Nguyễn Hải Thần (Việt Cách)
­ Cố vấn: Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại)
­ Bộ trưởng Bộ Nội Vụ: Huỳnh Thúc Kháng
­ Bộ Trưởng Bộ ngoại Giao Nguyễn Tường Tam (Đại Việt Dân Chính)
­ Bộ trưởng Quốc Phòng: Phan Anh
­ Bộ trưởng Tư Pháp: Vũ Đình Hòe (Dân Chủ)
­ Bộ trưởng Lao Động: Nguyễn Văn Tạo (Mác xít)
­ Bộ trưởng Tài Chánh: Lê Văn Hiến (Mác Xít)
­ Bộ trưởng Xã Hội Y Tế: Trương Đình Chi (Việt Cách)
­ Bộ trưởng Kinh Tế: Chu Bá Phượng (Việt Quốc)
­ Bộ trưởng Canh Nông:Bồ Xuân Luật (Việt Cách)
­ Bộ trưởng Công Chánh: Trần Đăng Khoa (Dân Chủ)

Những  diễn  biến  nêu  trên  cho  thấy  nếu  thật  sự  cuộc  cách  mạng  tháng  8  thành  công  là

do  đảng  Cộng  Sản  lãnh  đạo  thì  không  đời  nào  Hồ  Chí  Minh  lại  chịu  chia  ghế  cho  các
đảng phái khác và phải đấu kín cái đuôi Cộng Sản.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh lại thành công trong việc cướp giật chính quyền. Với cuộc đời bôn
ba trôi nổi cộng với sự trui luyện dạy dỗ tại một trường đào tạo mật vụ bậc nhất Nga Sô, phải
công nhận Hồ Chí Minh là một tay ma mãnh, quyền biến, biết nắm bắt thời cuộc, trong khi
các đảng phái khác lại bỏ lỡ thời cơ và không chạy kịp thời cuộc..

Tóm lại, chuyện Việt Cộng đánh Pháp đuổi Nhật rõ ràng là chuyện thần thoại vì Pháp đã bị
Nhật  xóa  sổ  tại  ba  nước  Việt  Miên  Lào  trong  cuộc  đảo  chính  tháng  3­1945.  Toàn  Quyền
Đông  Dương  lúc  bấy  giờ  là  Decoux  cũng  bị  Nhật  bắt  nhốt  và  một  chính  phủ  lâm  thời  gồm
toàn người Việt Nam do học giả Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng đã được thành lập. Về phần
Nhật thì Nhật Hoàng đã tuyên bố đầu hàng và quân binh Nhật đã buông bỏ vũ khí ở trong trại
chờ quân Đồng Minh đến giải giới.

Như vậy đâu còn Pháp và Nhật mà đuổi với đánh. Băng đảng Cộng Sản đuổi và đánh là đuổi
và đánh những người quốc gia không chấp nhận chủ nghĩa đảng trị, độc tài, độc ác, vô luân,
không tưởng và dối trá lừa bịp. Hồ Chí Minh đuổi và đánh là đuổi và đánh Việt Quốc, Việt
Cách, Trần Trọng  Kim,  Nguyễn  Hải Thần,  Huỳnh  Phú  Sổ,  Lý  Đông A,  Hoàng  Xuân  Hãn,
Nguyễn Tường Tam, Nhượng Tống, Khái Hưng... quy kết tất cả các đảng phái khác là phản
động rồi thẳng tay tiêu diệt, điển hình là vụ Ôn Như Hầu.

Bao nhiêu xương máu đã đổ ra, bao nhiêu anh hùng liệt nữ đã ngã xuống, bao nhiêu người đã
chịu tù đày hay lên máy chém để vun bồi cây độc lập cho đất nước nhưng cuối cùng Hồ Chí
Minh cùng băng đảng Cộng Sản nhanh tay hái trái. Vì sao lại có thể xảy ra sự kiện này? Câu
trả lời thật giản dị là phía người Quốc Gia hoạt động riêng lẻ và không có phương tiện. Tất cả
chỉ  do  lòng  yêu  nước  và  sự  hy  sinh  đóng  góp  của  từng  cá  nhân.  Trong  khi  đó  Cộng  Sản  là
một tổ chức lưu manh, có mục đích, có đường hướng, có kỹ luật sắt máu, được trui luyện kỹ
càng,  được  chỉ  huy  chặt  chẽ,  và  nhất  là  có  sự  yểm  trợ  tiền  bạc  tích  cực  từ  Nga  Sô, Trung
Cộng.

Cuộc chiến 1946­1954

Thế chiến thứ hai kết thúc nhưng Đông Dương là một thuộc địa béo bở của Pháp nên Pháp đã
tìm cách trở lại ngay khi có cơ hội. Theo sự sắp xếp của Đồng Minh, quân Trung Hoa được
vào miền Bắc và liên quân Anh­Ấn được vào Miền Nam để giải giới quân đội Nhật. Lợi dụng
cơ hội này Pháp núp theo chân Anh Ấn trở lại Việt Nam.

­ Ngày 1­12­1945 quân Pháp từ Nha Trang tiến lên chiếm đóng nhiều vùng ở Cao nguyên.

­ Ngày 9­1­1946 Pháp chiếm Long Xuyên và Sa Đéc.

­ Ngày 13­1­1946 bộ đội Việt Minh tấn công Quốc Dân Đảng tại Việt Trì.

­ Ngày 13­1­1946 Việt Cộng tấn công Việt Quốc tại Việt Trì.

­ Ngày 22­1­1946 Việt Minh (Cộng sản) lại ký thỏa hiệp với Việt Quốc (Việt Nam Quốc Dân
Đảng)  và  Việt  Cách  (Việt  Nam  Cách  Mạng  Đồng  Minh  Hội)  nhưng  ngày  23­1­1946  Việt
Cộng lại tấn công Việt Cách tại Tiên Yên.

­ Ngày 3­3­1946 thành lập Chính Phủ Liên Hiệp.

­ Ngày 6­3­1946 Hồ Chí Minh ký hiệp Định Sơ Bộ (Accords Preliminaires) với Pháp. Ngày
18­3­1946  quân  Pháp  dưới  quyền  Leclerc  tới  Hà  Nội.  Ngày  7­4­1946  quân  Pháp  tới  Nam
Định.

­ Ngày 01­6­1946 Việt Cộng đánh Việt Cách tại Phủ Lạng Thương. Ngày 22­6­1946 Hồ Chí
Minh cho thủ hạ lùng diệt Việt Cách tại thị xã Lạng Sơn.

­ Ngày 11­7­1946 Võ Nguyên Giáp lùng bắt Việt Quốc và Việt Cách tại Hà Nội, ngụy tạo vụ
thủ tiêu người và chôn súng tại nhà số 7 đường Bonifacy và số 46 đường Halais, thường gọi
là vụ Ôn Như Hầu.

­ Nửa đêm 14­9­1946 Hồ Chí Minh tới nhà Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại Marius Moutet
ký thỏa ước tạm thời (Modus Vivendi). Ngày 19­12­1946 cuộc kháng chiến bùng nổ trên toàn
quốc  sau  những  cuộc  đàm  phán  và  thương  thảo  thất  bại.  Với  sự  khôn  ngoan  quỷ  quyệt  Hồ
Chí  Minh  cho  rút  tất  cả  các  bộ  phận  đầu  não  của  Cộng  Sản  ra  mật  khu,  khoán  trắng  cuộc
kháng chiến chống Pháp cho Tự Vệ Thành và cho những người quốc gia yêu nước.

Cũng  trong  thời  gian  này,  lợi  dụng  thời  cuộc  lộn  xộn  tranh  tối  tranh  sáng,  Hồ  Chí  Minh  đã
cùng băng đảng tìm mọi cách triệt hạ những nhân vật và đảng phái có thể gây nên bất lợi cho
chúng:  Cộng  Sản  giết  Đức  Huỳnh  Giáo  Chủ  của  Phật  Giáo  Hòa  Hảo,  thủ  tiêu  các  nhà  cách
mạng  Lý  Đông A,  Nhượng  Tống,  Khái  Hưng,  lập  mưu  bôi  nhọ  và  triệt  hạ  Việt  Nam  Quốc
Dân Đảng. Ngay cả những người Cộng Sản khác mà không chịu đi cùng đường với chúng thì
cũng bị giết như Tạ Thu Thâu của nhóm Đệ Tứ, hoặc nếu không giết được thì mượn tay kẻ
khác như trường hợp Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm...

Cần phải minh bạch ở đây là những người đi kháng chiến hoặc tích cực ủng hộ đóng góp cho

kháng chiến thời 1945 hầu hết là vì lòng yêu nước chống Pháp chứ không phải vì theo Cộng
Sản. Một số người này sau khi thấy được mặt thật của Cộng sản đã rời bỏ kháng chiến rút vào
bóng tối và sau này trở thành những nhân tố chống Cộng tích cực. Tiêu biểu là Tổng Thống
Trần Văn Hương, Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Trần Chánh
Thành,  Bộ Trưởng Y Tế Trần  Ngươn Phiêu, Đổng Lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống  Quách
Tòng Đức, học giả Đoàn Thêm, học giả Hoàng Văn Chí, luật sư Lê Trọng Quát, kỹ sư Trần
Văn Văn (thân phụ anh hùng Trần Văn Bá), các tướng Nguyễn Bảo Trị, Lê Nguyên Khang,
Phan Hòa Hiệp…Về văn học giáo dục nghệ thuật như Vũ Hoàng Chương, Chu Tử (Chu Văn
Bình) Doãn Quốc Sỹ, Tạ Quang Khôi, Vũ Lai Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyên Sa, Phan
Lạc Phúc, Nguyễn Đức Quỳnh, Vũ Đức Diên, Như Phong, Phạm Đình Chương, Lê Thương,
Văn Phụng, Lê Trọng Nguyễn, Hoàng Thi Thơ, Y Vân, Tạ Tỵ, Mặc Thu, Thanh Nam, Ngọc
Bích, Văn Phụng, Vũ Đức Diên, ban Thăng Long……..Ngay cả ông Ngô Đình Nhu cũng đã
một thời đi theo kháng chiến và đã từng giữ chức Giám Đốc Nha Lưu Trữ Công Văn và Thư
Viện  Toàn  Quốc  qua  sắc  lệnh  bổ  nhiệm  số  21  ngày  8­9­1945  mang  chữ  ký  của  Võ  Nguyên
Giáp lúc đó giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ.

Tiếc thay vận nước không ngừng lại ở đây. Năm 1949, ngay sau khi chiếm được Trung Hoa
Mao Trạch Đông liền thực hiện âm mưu đồng hóa Việt Nam, nhằm biến Việt Nam thành một
thứ Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng.

Mao chi viện và hoạch định mặt trận Cao Bắc Lạng 1949­1950 (Nguyễn Huy Tưởng ­ Chiến
thắng Cao Bắc Lạng) và mặt trận Điện Biên Phủ 1954. Tất cả đều nằm trong kế hoạch dùng
xương máu người Việt đánh Tây rước Tàu và kẻ đứng ra thực hiện là Hồ Chí Minh. Nói tới
chiến tranh Pháp và CS/Việt Nam (1946 – 1954) không ai không biết tầm quan trọng của viện
trợ  quân  sự  từ  Cộng  Sản  Trung  Quốc  cho  Cộng  Sản  Việt  Nam.  Nó  đóng  vai  trò  quyết  định
tuyệt đối

Tài liệu dưới đây được nhà báo Hoàng Thanh Trúc ghi lại từ tư liệu giáo khoa lịch sử có tiêu
đề  “Đại  thắng  Điện  Biên  Phủ  và  Đoàn  Cố  vấn Trung  Quốc  tại Việt  Nam”  hiện  lưu  trữ  tại
trường Đại Học tỉnh Thái Nguyên, Bắc Việt, được đăng tải trên điện báo danlambaovn.

"Đặc biệt trong trận đánh Điện Biên Phủ năm 1954 một số cố vấn cao cấp quân sự và chính
trị Trung Quốc có mặt để hoạch định chiến lược, chỉ huy trực tiếp, gồm:

­ Vi Quốc Thanh (韦国清): trưởng đoàn cố vấn quân sự.
­ La Quý Ba (罗贵波): trưởng cố vấn chính trị.
­ Trong đoàn cố vấn chính trị, có nhiều ban chuyên môn:
­ Kiều Hiểu Quang (乔晓光), cố vấn đoàn phó đoàn cố vấn chính trị do La Quý Ba (罗贵波)
cầm đầu.

­ Có nhiều phụ tá như Hoàng Quần (黄群)
­ Tạ Ất (谢乙) , Vương Ngôn Đường (王言堂): tình báo.
­ Kim Chiếu Điện (金照殿): công an.
­ Trương Đức Cần (张德勤): tổ chức.
­ Triệu Tử Thiện (赵子善): tài chánh.
­ Vương Tử Cần (王子勤): hậu cần...
...

Mao Trạch Đông và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định ra sức tổng chi viện
cho cuộc Chiến tranh chống Pháp (trận ĐBP) của CS Việt Nam, lần lượt cử Đại tướng Trần
Canh thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đoàn Cố vấn Quân sự do Thượng
tướng Vi Quốc Thanh đứng đầu và Đoàn Cố vấn Chính trị do đồng chí La Quý Ba lãnh đạo,
sang hỗ trợ Việt Nam. Nhằm đối phó với ưu thế trên không và trọng pháo mãnh liệt của quân
Pháp,  Quân  ủy  Trung  ương  Đảng  Cộng  sản  Trung  Quốc  mệnh  lệnh  cho  Quân  giải  phóng
nhân dân TQ điều động tập kết 24 khẩu pháo 105 tốt nhất, hàng chục cao xạ pháo và hàng
trăm loại pháo tầm trung khác, cấp tốc vận chuyển đưa vào Việt Nam. Đứng trước tình hình
quân Pháp bố phòng nghiêm mật, công sự kiên cố, hỏa lực mãnh liệt, cố vấn Trung Quốc đã
chỉ đạo cách đánh gần, đào giao thông hào sát địch, còn cử những chuyên gia đào hào của
Quân  chí  nguyện  từ  mặt  trận  Triều  Tiên  về  nước  sang  Điện  Biên  Phủ  chỉ  đạo  thực  thi  tác
chiến hầm hào (Tư liệu giáo khoa Đại Học Thái Nguyên)

Chưa kể trước đó 1 năm (1952) Cộng Sản Trung Quốc đã viện trợ cho Hồ Chí Minh: 14.000
súng  trường  và  súng  lục,  1700  súng  máy  và  tiểu  liên,  150  súng  cối,  60  khẩu  pháo,  và  300
bazooka,  cùng  đạn  dược,  thuốc  men,  quần  áo  và  2800  tấn  thực  phẩm.  Số  liệu  này  lấy  từ
quyển “Các dữ kiện lịch sử về vai trò quân sự của Trung Quốc trong cuộc đấu tranh hổ trợ
Việt Nam chống Pháp” xuất bản ở Trung Quốc 1990)

Gần đây nhất, đáng chú ý là Tập Sách “China and the Vietnam Wars, 1950­1975” của Qiang
Zhai (Tường Trạch) giáo sư lịch sử Đại Học Auburn University Montgomery xuất bản 2000
và “Mao’s China and the Cold War” của Jian Chen (2001). Cả hai tập sách do NXB đại học
North Carolina ấn hành trong khuôn khổ lịch sử chiến tranh Việt nam. Sách của Qiang Zhai
được  nhiều  tờ  báo  đánh  giá  là  nghiên  cứu  sâu  sắc  nhất  về  quan  hệ  Trung­Việt  thời  chiến
tranh.

Bên cạnh đó là các thông tin do Trung Quốc công bố vài năm qua (gồm tài liệu nội bộ mới
giải mật, hồi ký, nhật ký và các quyển sử của các tác giả Trung Quốc), Tập tài liệu được nói
tới  ở  đây  là  một  tập  hợp  những  bài  viết  của  “một  số  lão  đồng  chí  đã  từng  công  tác  trong
Đoàn  cố  vấn  quân  sự  Trung  Quốc  tại  Việt  Nam  đầu  những  năm  50  của  thế  kỷ  20”  theo  lời
của nhóm biên tập sách viết trong Lời Cuối Sách vào tháng 12 năm 2001 tập sách có nhan đề

“Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Trung Quốc và Viện Trợ Quân Sự cho CS/Việt Nam
Chống  Pháp”  (Hồi  ký  của  những  người  trong  cuộc)  do  Nhà  Xuất  Bản  Lịch  Sử  Đảng  Cộng
Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và
Dương  Danh  Dy.  cựu  Tổng  lãnh  sự  của  Cộng  Sản  Việt  Nam  tại  Quảng  Châu,  Trung  Quốc
cũng là người hiệu đính. Bản dịch này không ghi nơi xuất bản cũng như tên nhà xuất bản với
lý  do  được  ghi  là  tài  liệu  lưu  hành  nội  bộ  và  được  gửi  từ  trong  nước  ra  hải  ngoại  qua  thư
điện tử.

Tập tài liệu này dày 280 trang, Tác giả đầu tiên là La Quý Ba, người được Trung Ương Đảng
Cộng  Sản  Trung  Quốc  bí  mật  cử  sang  Việt  Nam  đầu  năm  1950  làm  đại  diện  liên  lạc  giữa
Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương, sau
này là Đại Sứ đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc ở Việt Nam.

Tác giả thứ hai là Trương Quảng Hoa. Ông này xuất thân làm công tác ở văn phòng cố vấn
quân sự của Đoàn Cố Vấn, lo về thống kê nên nắm vững tình hình giao nhận vật tư để báo
cáo cho lãnh đạo của Đoàn.

Các cố vấn Trung Quốc trong tập “Ghi Chép Thực” kể trên đã gần như nói ngược lại những
gì  mà  chế  độ  CSVN  vẫn  thường  tự  đắc  phô  trương  với  người  dân  trong  nước  và  quốc  tế.
Không  những  thế  các  cố  vấn  Trung  Quốc  còn  viết  nhiều  hơn  nữa,  không  riêng  về  quân  sự
như  cung  cấp  dư  dả  súng  ống,  đạn  dược,  quân  trang,  quân  dụng,  soạn  thảo  tài  liệu  huấn
luyện, tái tổ chức lại quân đội với chủ trương đặt nặng vai trò của chinh trị trong quân đội,
thành  lập  và  võ  trang  những  đại  đơn  vị  mới  như  các  Đại  Đoàn  316,  320,  325,  351  và  một
trung đoàn công binh Trung Cộng bên cạnh các đại đoàn 304, 308, 312 và một số trung đoàn
đã có từ trước, mà còn giúp Việt Minh giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chánh, đặc
biệt là về lương thực để Việt Minh từ thế gần như thụ động, bị quân Pháp bao vây trên nhiều
mặt, sang chủ động làm chủ chiến trường. Các cố vấn Tàu còn cho biết họ đã soạn thảo các
chiến lược và trực tiếp tham gia chiến trận cùng với quân đội của Tướng Giáp từ đó đã giúp
cho Cộng Sản Việt Nam chiến thắng trong trận Điện Biên Phủ.

Đặt câu hỏi: Tại sao Trung Quốc nhiệt tình viện trợ to lớn cho CSVN như vậy?

Trả lời: Không phải viện trợ vì “tình đồng chí” hay vì “ý thức hệ chủ nghĩa Cộng Sản” mà vì
mưu toan bức thiết của Trung Cộng là dùng xương máu người Việt làm lá chắn cho mình ở
phía Nam và đánh đuổi Pháp đánh đuổi Mỹ để bành trướng biên giới về phía Nam.

Hồ Chí Minh và nhóm cố vấn CS/Tàu (bên trái) trước trận Điện Biên Phủ
 

Trận Điện Biên Phủ kết thúc đưa đến hiệp định Geneve 1954, chia cắt Việt Nam ra làm đôi,
Miền Bắc thuộc quyền Hồ Chí Minh, Miền Nam thuộc quyền chính phủ Ngô Đình Diệm và
Pháp phải rời khỏi Việt Nam.

Sự thật, đúng như lời Tổng Bí Thư Trung Ương Cộng Đảng Lê Duẫn xác nhận, Hồ Chí Minh
đánh Pháp đánh Mỹ là đánh cho Nga Sô Trung Cộng chứ không phải đánh Pháp vì độc lập tự
do cho dân tộc.

Thêm một bằng chứng khác cho thấy băng đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh chỉ là
cánh tay nối dài của Trung Cộng:

Trên tờ nhật báo Tiếng Dội số 462, năm thứ ba, 1951, âm lịch năm Tân Mão, giá bán 1 đồng,
chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, một cây bút thiên tả, tòa soạn và quản lý 216
đường  Gia  Long  Saigon,  có  in  nguyên  văn  một  tờ  truyền  đơn  do Trường  Chinh,  người  chỉ
đứng sau Hồ Chí Minh, đưa ra lời kêu gọi như sau:

ỦY  BAN  HÀNH  CHÁNH  KHÁNG  CHIẾN  VIỆT  NAM  DÂN  CHỦ  CỘNG  HÒA.  NĂM  THỨ
VII.
ĐỘC LẬP ­ TỰ DO ­ HẠNH PHÚC
TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM
SỐ 284/LĐ

Hỡi đồng bào thân mến!

Tại sao lại nhận vào nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư
hầu cho Trung Quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, cách viết chữ dị
kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế?

Không, đồng bào chúng ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy ­ một cách viết rõ ràng
có  mau  thật  đấy  ­  và  ta  hãy  trở  về  thứ  chữ  của  ông  bà  ta  ngày  trước,  là  thứ  chữ  nho  của
Trung Quốc.

Vả  chăng,  người  Trung  Hoa,  bạn  của  ta  ­  mà  có  lẽ  là  thầy  của  chúng  ta  nữa,  ta  không  hổ
thẹn  mà  nhìn  nhận  như  thế  ­  có  phải  là  dân  tộc  văn  minh  trước  nhất  hoàn  cầu  không?  Còn
nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!

Hỡi đồng bào yêu mến!

Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta!

Ta  hãy  từ  bỏ  nhà  bảo  sanh  của  chúng.  Bỏ  bệnh  viện  của  chúng,  ta  hãy  dùng  thuốc  dán  của
ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tầu danh tiếng khắp cả hoàn cầu!!!

Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra
khỏi  nước  Việt  Nam  yêu  mến  của  ta  bao  nhiêu  những  đồ  nhập  cảng  thực  dân  như  là  khoa
học, phát minh v.v...

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!

Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”

TRƯỜNG CHINH

ộ ả ạ ươ ệ ế ị ả ộCu c c i t o công th ng nghi p và chi n d ch c i cách ru ng
đất


Minh
Khôi

(Danlambao) ­ Sau khi ngư trị được miền Bắc Hồ Chí Minh lập tức tiến hành cái gọi là “Cải
Tạo  Công Thương  Nghiệp”  và  tiếp  tục  chiến  dịch  “Cải  Cách  Ruộng  Đất”  đã  phát  động  từ
cuối năm 1953 tại các vùng Cộng Sản kiểm soát như tại Thái Nguyên hoặc một số tỉnh thuộc
Liên  Khu  4,  Liên  Khu  5,  bao  gồm  các  tỉnh  Thanh  Hóa  Nghệ  An  Hà  Tĩnh,  Quảng  Bình,
Quảng Trị, Quảng Nam, Quãng Ngãi...

A. Cải tạo công thương nghiệp:

Theo  lập  luận  của  chủ  nghĩa  Mác  Lê  thì  hai  giới  CÔNG  và  THƯƠNG  nghiệp  là  bầy  lũ  ăn
bám, làm giàu nhờ bóc lột sức lao động của người khác. Chủ nhân các cơ sở CÔNG NGHIỆP
thuê mướn công nhân với một giá rẻ mạt để sản xuất vật dụng hàng hóa rồi bán ra với giá cắt
cổ, kiếm lời. Giới THƯƠNG NGHIỆP thì mua đi bán lại, mua rẻ bán đắt, mua một bán mười,
đầu cơ tích trữ, thao túng thị trường, ngồi mát ăn bát vàng. Vì thế, muốn có công bằng xã hội
thì cần phải dẹp bỏ hai giai cấp này.

Sự  thật  không  giản  dị  như  vậy.  Dù  mở  một  cơ  xưởng  công  kỹ  nghệ  hay  một  tiệm  bán  chạp
phô nhỏ nhoi trong một xóm làng hẻo lánh người chủ cũng phải lao tâm khổ trí lo tìm vốn,
góp  vốn,  hoặc  vay  nợ,  hoặc  cầm  thế  nhà  cửa.  Sau  đó  còn  phải  cạnh  tranh  với  những  hãng
xưởng hay các cửa hàng bên cạnh, làm sao cho món hàng của mình tốt hơn và giá bán rẻ hơn.
Giỏi, gặp thời thì thành công. Không may, thua lỗ thì tiêu tan cơ nghiệp, táng gia bại sản, đôi
khi  còn  nợ  nần  chồng  chất  đến  nỗi  phải  bỏ  xứ  trốn  đi  nơi  khác,  có  khi  cùng  đường  phải  tự
vẫn.

Chính vì có sự cạnh tranh giữa hãng xưởng này và hãng xưởng khác, giữa tiệm buôn này với
tiệm buôn khác nên người tiêu dùng, tức là người dân, được hưởng lợi. Phẩm chất hàng hóa
tốt  hơn, giá  cả rẻ  hơn. Bây  giờ  tất cả quy về một mối, chỉ có Cửa Hàng Quốc Doanh  Nhà
Nước, bán sao phải mua vậy, không bán cho thì chết đói, mà muốn hàng cũng không dễ, phải
có sổ hộ khẩu, sổ lương thực, sổ xanh, sổ đỏ.

Sau 1975 những tên hậu duệ kế thừa Hồ Chí Minh cũng đem áp dụng hai chiến dịch Cải Tạo
Công Thương Nghiệp và Cải Cách Ruộng Đất tàn ác này vào Miền Nam. Tuy nhiên, nhờ vào
kinh  nghiệm  thu  thập  được  trong  các  cao  trào  đấu  tố  tại  Miền  Bắc  vào  các  năm  1953­1956
nên không có những màn con cái đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng hay chôn sống người theo
kiểu dã man thời trung cổ.

Đợt I của chiến dịch Cải Tạo Tư Sản Miền Nam khởi đầu ngày 04/9/1975. Đợt II tiến hành
vào tháng 12 năm 1976. Những tên cán bộ đảng viên đầu trâu mặt ngựa dẫn lũ khố rách áo
ôm và những tên cơ hội chụp giật bất ngờ nửa đêm xông vào từng cơ xưởng, từng tiệm buôn,
từng cửa hàng phở, từng cửa tiệm bán xe đạp..., đóng chốt, bắt gia chủ kê khai tài sản, sau đó
dồn tất cả người trong gia đình vào một góc rồi chia nhau lục lạo, lật từng viên gạch, đổ đất
trong các chậu cảnh, lật nắp cầu tiêu, tháo gỡ các khung hình treo tường, thậm chí lật cả bàn
thờ,  đập  các  bức  tượng  để  tìm  tòi  vàng  ngọc  châu  báu  tiền  bạc  của  chủ  nhà  có  thể  cất  dấu
trong đó. Hột xoàn ngọc thạch kim cương thì ghi vào biên bản là đá quý. Vàng thì ghi là kim
loại màu vàng.

Chủ nhà in Phong Phú trên đường Bùi Thị Xuân là bà Ngọc kể lại: Khi lục soát nhà tôi chúng
tìm được ba chục lượng vàng dấu trong chậu cảnh. Biên bản chúng ghi là 10 lượng và bắt ký
xác nhận. Tôi nói: Số vàng là 30 lượng mà biên bản ghi có 10 lượng? Cán bộ trả lời: “Ghi
nhiều thì đi tù lâu, ghi ít thì được tha sớm. Chị muốn ghi thế nào?”. Tôi sợ quá vội vàng ký
ngay vào biên bản.

Chiến dịch cải Tạo Công Thương Nghiệp tại Miền Nam tuy không đổ máu nhưng không phải
là  không  tàn  nhẫn  và  không  có  người  chết  Những  tên  Cộng  Sản  tiếp  nối  Hồ  Chí  Minh  từ
Miền Bắc vào Nam đã phát huy việc giết người không cần súng đạn bằng cách tịch thu nhà
cửa tài sản, cưỡng bức nạn nhân định cư vĩnh viễn tại các vùng rừng núi hoang địa, khỉ ho cò
gáy không ai biết đến, chỉ có làm mà chẳng có ăn, được mệnh danh là các vùng kinh tế mới
và  buộc  phải  cư  trú  vĩnh  viễn  tại  đó.  Người  dân  bị  dồn  vào  bước  đường  cùng,  sớm  muộn
cũng chết, trước sau cũng chết, nên đành liều mạng vượt biên vượt biển, lợi dụng màn đêm
tăm tối xuống một chiếc ghe nhỏ ra khơi, mặc cho sóng dập gió vùi hay trôi giạt về đâu, ngàn
chết một sống.

Con số nạn nhân chết oan ức, chết tức tưởi, chết vì tự tử, chết vì đói khổ, chết vì thiếu thuốc
men trên các vùng kinh tế mới hoặc chết trên đường vượt biên vượt biển đến nay vẫn không
ai biết nhưng chắc chắn phải là một con số không nhỏ.

Nơi chương III trong hồi ký “Bên Thắng Cuộc” nhà báo Huy Đức, một đảng viên Cộng Sản,
ghi rõ chỉ thị của Bộ Chính Trị Hà Nội là phải đuổi dân thành phố về vùng quê hay lên các
vùng đất hoang vu để tịch thu nhà cửa tài sản:

Số người bị đuổi khỏi thành phố được xác nhận:

­ Từ năm 1976 đến năm 1979 có 1,5 triệu người, 95% là từ Sài Gòn.
­ Từ năm 1979 đến năm 1984 có 1.3 triệu người, 50% là từ Sài Gòn.

Cùng thời gian này chúng lùng bắt quân dân cán chính Miền Nam giam cầm trong các trại tù
tập trung gọi hoa mỹ là trại học tập cải tạo. Chúng “Vào Vơ Vét Về”. Chúng tàn ác đến nỗi
người  dân  phải  bỏ  nhà  bỏ  cửa  trốn  đi  vượt  biên.  Chúng  gài  bẫy,  chúng  bán  bãi,  chúng  tạm
giam rồi cướp nhà để tra khảo vàng bạc. Gần ba triệu người vượt biên thì một nửa chết vì hải
tặc,  vì  chìm  thuyền,  vì  thiếu  lương  thực.  Chuyện  vượt  biên  vượt  biển  khó  khăn  nguy  hiểm
chết chóc là thế, vậy mà bồi bút Nguyễn Thị Ngọc Diệp đã viết bài “Ba mươi năm nhìn lại tội
ác cưỡng ép di cư của Mỹ, Ngụy ở miền Nam Việt Nam”, được lưu trữ trong hồ sơ Tội Ác Mỹ
Ngụy tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia III tại Sài Gòn (1975­2005) như sau:

…Cho  đến  phút  cuối  cùng  của  cuộc  chiến  tranh  phi  nghĩa,  đế  quốc  Mỹ  vẫn  còn  phạm  thêm
tội ác “lợi dụng những dân tị nạn và trẻ mồ côi làm con tin”, cưỡng ép người Việt di cư sang
Mỹ  chẳng  khác  gì  việc  “buôn  bán  nô  lệ  trong  thế  kỷ  trước  mà  hàng  triệu  người  da  đen  từ
Châu Phi đã bị đưa sang Mỹ”

Nhiều người không muốn di cư đã bị Mỹ tiêm thuốc mê để đưa đi. Đại bộ phận những người
di cư đã phải trải qua một cuộc sống thiếu thốn, khổ nhục, bị đày ải và vô cùng hỗn loạn tại
các lều vải của Mỹ và các nơi khác như ở khu vực Thái Bình Dương. Cho đến hôm nay, 30
năm sau, những con số, có giá trị lịch sử và có ý nghĩa to lớn đối với các nhà nghiên cứu…

Có giá trị lịch sử và có ý nghĩa to lớn vì lịch sử đã bị Việt Cộng bóp méo vo tròn. Ngay cả
dưới  thời  thực  dân  Pháp,  phát  xít  Nhật  và  ngay  cả  nạn  đói  kinh  hoàng  năm  1945,  dân  số  cả
nước chỉ có hơn hai chục triệu người mà con số bị chết đói lên đến 2 triệu, nghĩa là cứ mười
người chết một, cũng không có một người Việt Nam nào đành đoạn rời bỏ quê hương và cũng
không có một người cha hay người mẹ nào bán cả cơ nghiệp tài sản để lấy tiền gữi gấm con
mình cho người lạ, hay đưa con mình xuống một chiếc thuyền mong manh ra biển giữa đêm
khuya, ngàn chết một sống.

Quả thật, gần đến ngày 30­4­1975 đã có trên dưới một trăm ngàn (100,000) người từng làm
việc cho DAO cho USOM, cho USIS… vì sợ bị kết tội ôm chân đế quốc, vì sợ bị hành hạ trả
thù,  nên  đã  chạy  một  mình,  hoặc  đem  theo  gia  đình  thoát  ra  khỏi  nước.  Số  còn  lại,  hơn  ba
triệu người liều chết vượt biên vượt biển trong nhiều năm sau này chỉ vì họ chạy không kịp,
hay vì phải sống với Cộng Sản nên biết được thế nào là Cộng Sản. Những người này bỏ nước
ra  đi  không  phải  vì  ôm  chân  đế  quốc  Mỹ.  Nhiều  người  còn  hận  Mỹ  là  đàng  khác  vì  họ  cho
rằng Mỹ đã bỏ rơi Miền Nam. Nhưng có một điều rất chắc chắn là họ không bị chích thuốc
mê vì thuốc mê và kim tiêm lấy ở đâu ra để chích cho một lúc hàng triệu người. Chích rồi ai
khiêng ai? Bị chích thuốc mê rồi làm sao nhúc nhích để tìm bến, tìm bãi, tìm tàu?

Thật sự, họ đã phải nộp tiền hay nộp vàng cho công an để mua bãi. Họ phải gom góp dành
dụm từng đồng bạc, lùng mua chợ đen từng lít dầu rồi lén lút chôn dấu ngoài bãi biển để có
dầu vượt biển. Họ phải bỏ lại cha mẹ vợ con tài sản. Họ sẽ bị tịch thu nhà cửa và bị trút lên
đầu đủ mọi thứ tội, kể cả tội phản quốc. Họ phải chịu ngồi tù nếu không vượt thoát. Họ phải
bỏ mạng vì lính biên phòng. Thân xác họ phải nằm trong bụng cá nếu tàu gặp giông bão hay
tàu thiếu dầu hư máy. Họ ra đi mà không biết trôi dạt về đâu. Không phải chỉ riêng dân Miền
Nam vượt biên vượt biển mà có cả trăm ngàn nười dân Miền Bắc cũng vượt biên vượt biển
chạy trốn cái gọi là “Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhạc sĩ Châu Đình An đã viết bài hát
“Đêm Chôn Dầu Vượt Biển” rất xúc động.

Thời  gian  qua  mau  mau!  Mới  ngày  nào  những  tên  Cộng  Sản  vào  đánh  chiếm  Miền  Nam  từ
trong rừng ra, vai đeo AK, hai bàn tay trắng, "đầu nón cối, chân dép râu, giữa lũng lẵng bác
“Hồ Chí Minh vĩ đại” bây giờ tên nào tên nấy giàu có nứt đố đổ vách. Chúng mua nhà mua
cửa. Chúng cho con cái du học và cho thân nhân ra ngoại quốc làm đầu cầu giữ tiền. Chúng
không dám chường mặt mà cho vợ con hay thân bằng quyến thuộc đứng tên làm chủ những
hãng xưởng hay những cơ sở kinh doanh trong nước và gọi “những người làm kinh doanh là
chiến sĩ của thời bình”.

Chúng lật lọng. Chúng nhổ rồi lại liếm. Nhà của một tên cán bộ xã còn to hơn nhà của ông
Nguyễn Văn Thiệu thời Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây, cần phải chú ý, chỉ có lũ đảng viên cán
bộ Cộng Sản là được hưởng bổng lộc giàu có uy quyền chứ người dân thường hoặc những ai
đi binh lính nghĩa vụ, nếu không phải là đảng viên thì dẫu “Sinh Bắc Tử Nam” cũng vẫn bị áp
bức bóc lột, vẫn trên răng, dưới dép, giữa lũng lẵng “Bác Hồ”.

Một thời Phạm Văn Đồng và băng đảng Cộng Sản từng gọi những người vượt biên là đĩ điếm
trộm  cướp,  là  cặn  bã  của  xã  hội.  Bây  giờ  chúng  quay  ngược  180  độ  gọi  những  người  vượt
biên là khúc ruột xa ngàn dặm và thi nhau rúc rỉa tất cả những gì trong khúc ruột non ruột già
ngàn dặm đó. Bỉ ổi hơn nữa, chúng vẫn không đả động gì đến việc trả lại tài sản cho những

khổ chủ từng bị chúng hành hạ và cướp giật trong các cuộc Cải Tạo Công Thương Nghiệp.

B. Chiến dịch cải cách ruộng đất

Song  hành  với  chiến  dịch  “Cải  Tạo  Công  Thương  Nghiệp”  là  “Chiến  dịch  Cải  Cách  Ruộng
Đất”.  Cộng  Sản  chia  giới  nông  dân  làm  năm  giai  cấp:  địa  chủ,  phú  nông,  trung  nông,  bần
nông  và  cố  nông  đồng  thời  đưa  ra  khẩu  hiệu  “Tiêu  diệt  địa  chủ,  cô  lập  phú  nông,  đoàn  kết
trung nông, giải phóng bần cố nông” với lập luận địa chủ phú nông là những cường hào ác bá
làm giàu trên xương máu bần cố nông nên cần phải tiêu diệt. Khởi đầu cán bộ cộng sản dưới
tên “Đội Cải Cách” đến những vùng quy định tìm cho ra 5% gia đình để đấu tố theo chỉ tiêu.
Những gia đình này tất nhiên là thuộc loại có bát ăn bát để trong vùng. Tuy nhiên đây chỉ là
mặt nổi. Mặt chìm và mặt chính là tìm ra những người có uy tín nhất trong vùng để triệt hạ
bởi vì Cộng Sản độc tài, độc tôn và độc ác, không muốn ai ngoài băng đảng của chúng. Cái
trò san bằng giai cấp chỉ là trò dối trá bịp bợm dùng làm chiêu bài đánh lừa người dân. Cái
chủ yếu là tiêu diệt hết những gì có thể là những chướng ngại nguy hiểm cho trò độc tài độc
tôn của chúng.

Việc  đầu  tiên  của  Đội  là  tìm  vào  các  gia  đình  nghèo  “bắt  rễ  xâu  chuỗi”  bằng  chính  sách  ba
cùng: “Cùng ăn, Cùng ở, Cùng làm” nghĩa là đội phân phối cán bộ đến ở những nhà nghèo
nhất, cùng ra đồng cầy cuốc làm việc với họ, tối về cùng ăn uống chung với họ. Sau đó gợi ý
cho  người  nghèo  kể  ra  những  nổi  khổ  và  dẫn  đến  kết  luận  sở  dĩ  người  dân  phải  chịu  nghèo
đói khổ sở chỉ vì bị bọn địa chủ phú nông bóc lột. Bây giờ phải tiêu diệt bọn chúng, lấy lại
ruộng đất để chia đồng đều cho mọi người.

Suốt trong thời gian chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất những gia đình bị quy kết là địa chủ bị
cô lập, con cái không được bước ra khỏi nhà, làng xóm không ai được lại gần. Trước đêm đấu
tố cán bộ còn bắt những “RỄ NÒNG CỐT” được gọi là “RỄ CÁI”, tên gọi tắt của những kẻ
sẽ đứng ra đóng vai đấu tố phải học thuộc lòng những tội trạng do cán bộ ghi sẵn. Phải nói
làm sao, khóc làm sao, lúc nào vung tay, lúc nào rấm rứt, uất nghẹn, lúc nào lau nước mắt, lúc
nào  ngất  xỉu  để  kích  động  sự  căm  thù  của  quần  chúng.  Những  bản  án  đều  được  quy  định
trước.

Thí điểm đầu tiên mở màn tại Đồng Bẩm, tỉnh Thái Nguyên vào tháng 4­1953. Nạn nhân là
một người đàn bà tên Nguyễn Thị Năm, thường được gọi là bà Cát Hanh Long, bị đưa ra đấu
tố, bị hành hạ và bị xử bắn ngay tại chỗ. Báo Nhân Dân đã tường thuật từng chi tiết diễn biến
vụ đấu tố này nhưng dấu nhẹm việc các thủ lãnh cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc
Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, đã nhiều năm đến núp váy bà,
gọi bà là mẹ nuôi, nhờ bà che chở bao bọc khi còn hoạt động trong bóng tối. Bà đã đóng góp
110  lạng  vàng  vào  những  ngày  đầu  kháng  chiến  và  được  tặng  danh  hiệu  địa  chủ  yêu  nước.

Hai con trai bà, ông Nguyễn Công làm chính uỷ trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội
phó bộ đội thông tin.

Điều  không  thể  không  nói  là  bà  Cát  Hanh  Long  cũng  như  ông Trịnh Văn  Bô  là  hai  người
được tuyên dương công trạng trong chiến dịch “Tuần Lễ Vàng Cứu Quốc”. Trong buổi công
bố kết quả Hồ Chí Minh đã từng nói với bà Cát Thanh Long và ông Trịnh văn Bô: “Cô Chú
là ân nhân của Đảng và của dân tộc”

­ Bà Cát Thanh Long Nguyễn Thị Năm có dồn điền ở tại Hải Phòng ngày Tuần Lễ Vàng ủng
hộ 110 lạng, từng nuôi lũ Tố Hữu, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Nguyễn
Lương Bằng... trong nhà

­  Trịnh  Văn  Bô,  vợ  là  Hoàng  Thị  Minh  Hồ  nhà  số  34  Hoàng  Diệu  ủng  hộ  5,147  lạng  vàng
(193  kg)  và  dùng  ngôi  nhà  số  48  Hàng  Ngang  của  ông  tại  Hà  Nội  làm  nơi  viết  bản  Tuyên
Ngôn Độc Lập. (Nguồn: Nguyễn Minh Cần­ Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước).

Sau này, Hoàng Tùng, Tổng Biên Tập tờ Nhân dân là Cơ Quan Ngôn luận Trung Ương Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã ghi lại trong tập hồi ký “Những Kỷ Niệm Về Bác”: Khi nhắc lại chiến
dịch cải cách ruộng đất thì Bác thấy điều sai lầm nhất là người bị đem ra đấu tố đầu tiên lại
là  một  người  đàn  bà,  rồi  Bác  nhắc  lại  rằng:  Người  ta  không  nên  đánh  đàn  bà  dù  là  đánh
bằng một cành hoa. Sự việc là do áp lực của đàn anh Trung Quốc. Nếu không làm vậy thì sẽ
bị cắt viện trợ...

Lời bào chữa bịp bợm của Hoàng Tùng đã bị lộ tẩy khi Trần Đỉnh, một người từng viết tiểu
sử cho Hồ Chí Minh, một người đi sát với Hồ Chí Minh và nhiều lần ngồi chung trong một xe
hay đi lại trong chiến khu với Hồ Chí Minh đã ghi lại nơi trang 85­86 trong tập hồi ký “Đèn
Cù”, Người Việt Books, California, ấn hành 2014, nguyên văn:

“....Để có phát pháo mở đầu cuộc cải cách ruộng đất, Trường Chinh chỉ thị báo Nhân Dân
tường thuật vụ đấu Nguyễn Thị Năm ­ Cát Hanh Long. Tôi nhận nhiệm vụ. Trường Chinh nói
phân công tôi vì cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu
tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu,
cáo trạng của đội. Tôi nói ngày hôm đó tôi không có mặt làm sao mà viết thì anh bảo tôi khai
thác Văn, người cấp dưỡng đi theo anh (Trường Chinh) tới tận Đồng Bẩm và đã chứng kiến
các buổi đấu tố. Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà
Nội có vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự
một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt....

Thế là tôi viết bài khai hỏa cải cách ruộng đất theo sự pha phách thêm nếm khó lòng tránh

khỏi của người cấp dưỡng đáng yêu của tổng bí thư.

Bài báo này tôi ký một tên ú ớ không còn nhớ và sau đó cũng không mó đến nó bao giờ."

Trên báo Nhân Dân số ra ngày 21­7­1953 xuất hiện bài " ĐỊA CHỦ ÁC GHÊ" dưới bút danh
CB (Của Bác). Sau này, năm 1955, bài viết được đưa vào tập tài liệu "Phát động quần chúng
và gia tăng sản xuất " của Hồ Chí Minh. Nguyên văn:

ĐỊA CHỦ ÁC GHÊ

Thánh hiền dạy rằng: "Vi phú bất nhân". Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân
dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khóa ­ thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không
nháy mắt. Đây là một thí dụ:

Mụ địa chủ Cát­hanh­Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

­ Giết chết 14 nông dân.

­ Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

­ Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người ­ năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá
rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá,
32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

­ Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân ­ Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái
Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã
chết ở xóm Chùa Hang.

­ Năm 1944­45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn
đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.
Thế là ba mẹ con địa chủ Cát­hanh­Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!

Còn  những  cảnh  chúng  tra  tấn  nông  dân  thiếu  tô  thiếu  nợ,  thì  tàn  nhẫn  không  kém  gì  thực
dân Pháp. Thí dụ:

­  Trời  rét,  chúng  bắt  nông  dân  cởi  trần,  rồi  dội  nước  lạnh  vào  người.  Hoặc  bắt  đội  thùng
nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

­ Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

­  Chúng  đóng  gióng  trâu  vào  mồm  nông  dân,  làm  cho  gẫy  răng  hộc  máu.  Bơm  nước  vào
bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

­ Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.

­ Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

­ Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với
Pháp  và  Nhật  để  bắt  bớ  cán  bộ.  Sau  Cách  mạng  tháng  Tám,  chúng  đã  thông  đồng  với  giặc
Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố
cáo.  Mẹ  con  Cát­hanh­Long  không  thể  chối  cãi,  đã  thú  nhận  thật  cả  những  tội  ác  hại  nước
hại dân. Thật là:

Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng.
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!
CB.

Nếu  đúng  như  hồi  ký  nói  về  “Mười  Nỗi  Buồn  Của  Bác  Hồ”  của  Hoàng  Tùng  viết  rằng  Hồ
Chí Minh không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm nhưng phải nghe cố vấn Trung Quốc. Vậy
thì Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch Nước hay là một tên bán nước?

Trần Đỉnh viết tiếp:

Dăm bữa sau bài “phóng sự nghe kể lại,” tôi xuống Đồng Bẩm. Tình cờ Tiêu Lang, báo Cứu
Quốc, trong đội cải cách về đây còn ở lại lo hậu sự. Tôi hỏi chuyện bắn, anh lè lưỡi lắc đầu
mãi rồi mới kể lại.

“Sợ lắm, tội lắm, đừng có nói với ai, chết tớ. Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy
có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh”. Du kích quát:
“Đưa  đi  chỗ  giam  khác  thôi,  im!”.  Bà  ta  vừa  quay  người  thì  mấy  loạt  tiểu  liên  nổ  ngay  sát
lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và
không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi
mua  cứ  bị  nhà  hàng  thắc  mắc  chưa  thấy  ai  đi  mua  áo  cho  người  nhà  mà  cứ  đòi  cái  rẻ  tiền
nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm
trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với
các ông nông dân không này?”. Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy

là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”

Trong  hồi  ký  của  tác  giả  “Màu  Tím  Hoa  Sim”  nhà  thơ  Hữu  Loan  còn  cho  biết  “Địa  chủ  bị
trói chặt chôn xuống dưới ruộng sâu chỉ để chừa cái đầu lòi ra rồi cho trâu bò kéo cày bừa
qua cổ...”.

Thật là:

Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng
Rửa không hết ác, dù tát cạn nước bể.
CB.

Khiếp thay miệng lưỡi đặt điều dựng chuyện của con rắn độc. Ai là kẻ tàn ác? Ai là kẻ giết
người không chớp mắt? Ai là kẻ “Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng. Rửa không hết ác,
dù tát cạn nước bể?”. Hỏi là đã trả lời. CB là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh. Tội
phạm chính là ác quỷ Hồ Chí Minh.

Một cuộc đấu tố khác, con đấu cha, vợ đấu chồng, do hồi chánh viên Nguyễn Văn Thân, kỹ
sư thuộc Bộ Thủy Lợi Miền Bắc, người đã từng tham gia nhiều vụ Cải Cách Ruộng Đất kể lại
và được nhà báo Vũ Thị Linh đưa lên điện báo Hải Ngoại Phiếm Đàm ngày 20­9­2014, như
sau:

“…Cuộc  đấu  tố  điển  hình  nhất  mà  tôi  được  dự  là  lần  đấu  tố  ông  Nguyễn  Văn  Đô,  Bí  thư
huyện  ủy  tại  Ô  Cầu  Giấy,  ngoại  thành  Hà  Nội.  Nạn  nhân  Nguyễn  Văn  Đô  rất  có  công  với
kháng  chiến  nhưng  lại  bị  kết  tội  là  cường  hào  ác  bá  và  có  chân  trong  tổ  chức  Quốc  Dân
Đảng. Chủ tịch đoàn nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Đảng để hoạt động cho Quốc Dân
Đảng.  Người  đứng  kể  tội  là  một  nông  dân  trước  kia  đi  chăn  ngựa  cho  ông  Đô.  Một  cụ  già
khác  lên  tố  về  việc  cướp  đất  ruộng  nương  và  cô  con  gái  của  ông  lên  đấu  tố  là  đã  bị  ông
cưỡng hiếp tất cả 177 lần.

Đến khi ông Đô buộc phải nói lời nhận tội, ông đã cứng cỏi trả lời: Ông không phải là Quốc
Dân  Đảng,  ông  chỉ  làm  việc  cho  Bác,  cho  kháng  chiến  mà  thôi.  Về  vụ  hiếp  dâm,  ông  quay
sang trả lời cô con gái: “Thưa bà, bà còn quên đấy, tôi đã hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà nữa”.

Câu trả lời này làm mọi người phải bật cười và làm đấu trường mất vẻ tôn nghiêm. Chủ tịch
đoàn vội vàng hô khẩu hiệu “Đả đảo tên Đô ngoan cố” để đàn áp và che lấp tiếng nói của
ông. Sau đó  họ không  cho ông  nói tiếp. Họ nghị án và quyết định xử tử  ông ngay  tại chỗ.
Cuộc đấu tố này kéo dài từ 5 giờ sáng tới 13 giờ trưa mới xong".

Những câu chuyện đấu tố trên là do chính người trong đảng và trong cuộc kể lại chứ không
phải “bọn xấu” đặt chuyện bôi bác. Có một điều khó hiểu là tại sao cô này lại đếm và nhớ kỹ
được là 177 lần chứ không phải là 90 lần hay 100 lần?

Thật không có sự tán tậm lương tâm bất nhân thất đức nào hơn sự tàn ác dã man lưu manh lật
lọng phản phúc của Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản. Thực dân Pháp xử tử phạm nhân
cũng chỉ chặt đầu hay bắn cho vài phát. Quân phiệt Nhật thì lia cho một nhát kiếm. Chỉ có ác
quỷ Hồ Chí Minh và băng đảng Cộng Sản Việt Nam mới có dư dã man tàn ác, trước khi giết
còn hành hạ nạn nhân, cho trâu bò cày bừa qua cổ, trói nạn nhân như con heo rồi ngâm nạn
nhân trong nước đông lạnh, kéo dài sự đau khổ của nạn nhân trước khi chết để thỏa mãn thú
tính man rợ.

Nếu vua Lê Lợi, người anh hùng áo vải Lam Sơn đã từng đánh đuổi quân Minh dành lại độc
lập cho đất nước, mà sống vào thời buổi này chắc chắn cũng bị Hồ Chí Minh đem ra đấu tố vì
tội địa chủ, phong kiến.

Kết quả Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất được đăng tải trên báo Nhân Dân số ra ngày 20­7­
1955 cho biết tiến hành tại 2730 xã giải thoát 1,068,000 nông dân khỏi ách bóc lột, tịch thu
810,000 hecta ruộng đất chia lại cho giai cấp bần cố nông.

Sự thực việc chia ruộng đất lại cho nông dân chỉ là màn giáo đầu. Màn chính là sau đó dồn ép
tất  cả  nông  dân  vào  Hợp  Tác  Xã  nghĩa  là  nông  dân  từ  “hai  bàn  tay  trắng”  trở  lại  “trắng  hai
bàn  tay”,  hôm  trước  được  chia  vài  sào  ruộng  hôm  nay  lại  mất  hết. Trước  đây  có  nhiều  địa
chủ, nếu không thích địa chủ này thì đi làm cho địa chủ khác. Nay tất cả vào tay một ông chủ
là Hợp Tác Xã Nông Hội, nếu không đi làm sẽ chết đói. Kết cuộc, nông dân trở thành nông
nô.  Cán  bộ  Cộng  Sản  trở  thành  chủ  nô  trong  khi  ngoài  miệng  vẫn  bô  bô  “Nhân  Dân  Làm
Chủ”, có làm mà không có ăn ngoài mấy danh hiệu bánh vẽ như anh hùng lao động tiên tiến,
anh hùng đổ thùng, anh hùng tải đạn...

Qua  các  vụ  đấu  tố,  ngay  cả  đảng  cộng  sản  cũng  không  thể  chối  cãi  được  tính  lừa  đảo  phản
bội, lưu manh bất lương, ăn cháo đá bát, tàn ác giảo quyệt và lừa đảo ngay cả hai giai cấp vô
sản công, nông, là hai giai cấp được chúng mệnh danh tiên phong của Đảng.

Thú tính và ác tính là điều kiện cần thiết và phải có của một tên cộng sản. Không lưu manh,
không  thủ  đoạn  phản  phúc,  không  lừa  đảo  tàn  ác  không  phải  là  cộng  sản.  Ngoài  miệng  thì
thơn thớt nhân nghĩa nhưng trong bụng là dao găm nọc độc. Khi cộng sản nói lời ngon ngọt
hay bàn chuyện hợp tác với ai là chúng đã có kế hoạch giết người đó rồi. Giết ngay cả người
chúng thọ ơn. Hôm trước giết người, hôm sau mang vòng hoa đến phúng điếu. Chính vì vậy
mà ngày nay tại Việt Nam khi chửi ai là hạng giả dối lừa đảo thì người dân chửi người đó là

thứ  “bịt  râu  đeo  kính”.”Mày  đừng  tưởng  bịt  râu  đeo  kính  mà  qua  được  mặt  tao...”.  Bốn
tiếng “bịt râu đeo kính” đã trở thành một thành ngữ trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam

Vì thấy lòng dân bất bình đến cực độ nên vào tháng 9 năm 1956, Hồ Chí Minh và băng đảng
Cộng  Sản  trình  diễn  màn  kịch  “Sửa  Sai”.  Trường  Chinh  phải  từ  chức  Tổng  Bí  Thư
Đảng, Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính trị, Lê Văn Lươngmất chức Ủy Viên dự khuyết Bộ
Chính Trị, Hồ Viết Thắngbị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 29 tháng 10
năm 1956, tại nhà hát lớn Hà Nội Võ Nguyên Giápthay mặt Hồ Chí Minh nhìn nhận sai lầm
và  phát  động  chiến  dịch  sửa  sai,  phục  hồi  các  chức  vụ  tài  sản  cho  cán  bộ,  bộ  đội  bị  đấu  tố.
Quả  thật  có  một  số  bộ  đội  được  phục  hồi  nhưng  không  được  trả  lại  những  nhiệm  vụ  ngày
trước và vẫn bị canh chừng theo dõi chặt chẽ cho đến lúc bị sa thải.

Theo  biên  khảo  của  tác  giả  Đặng  Chí  Hùng  trong  loạt  bài  Những  Sự  Thật  Không  Thể  Chố
Bỏ­ Phần 5­ đăng trên Dân Làm Báo, ghi lại cho biết: Trong Bộ Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam,
tập 2, 1955­1975, Viện Kinh Tế Việt Nam, Hà Nội 1974, Cộng Sản Hà Nội đã xác nhận con
số nạn nhân bị đấu tố oan sai như sau:

­  Địa  chủ  bị  quy  là  cường  hào  ác  bá  đem  ra  đấu  tố  26,453  người.  Số  bị  oan  sai  là  20,  493
người (77,4%)

­  Địa  chủ  thường  bị  đem  ra  đấu  tố  82,777  người.  Bị  quy  kết  oan  sai  là  51,  480  người  (
(62,19%)

­ Địa chủ kháng chiến bị đem ra đấu tố 586 người. Quy kết oan sai 290 người (49,4%)

­ Phú nông bị đem ra đấu tố 62, 192 người. Quy kết oan sai 51,003 người (82%)

Thật ra, ngay từ lúc vở tuồng “Sửa Sai” khai diễn ai cũng biết đó chỉ là trò hề rẻ tiền của lũ
mặt người dạ thú. Trường Chinh phải  từ  chức Tổng  Bí Thư  Đảng,  nhưng  chuyển  sang  làm
Chủ Tịch Quốc Hội và vẫn là Ủy viên Bộ Chính Trị,Hoàng Quốc Việt ra khỏi Bộ Chính Trị
nhưng  lại  chuyển  sang  làm  Chủ  Tịch  Mặt  Trận  Tổ  Quốc,  Lê  Văn  Lương  và  Hồ  Viết
Thắng tuy ngoài mặt là bị trừng phạt nhưng thực tế được thưởng công đi thư giản ở Nga, sau
đó trở về nhận nhiệm vụ mới.

Hơn  nữa,  nói  là  sửa  sai  nhưng  thực  ra  đâu  có  sai  mà  sửa.  Hai  chiến  dịch  cải  Tạo  Công
Thương Nghiệp và Cải Cách Ruộng Đất đã làm tròn kế hoạch tiêu diệt hết những kẻ tình nghi
có  thể  gây  nguy  hại  cho  chế  độ  và  gom  sạch  tài  sản  của  người  dân  đem  về  cho  băng  đảng
Cộng  Sản.  Những  giọt  nước  mắt  cá  sấu  của  Hồ  Chí  Minh  ngày  29­10­1956  rơi  tại  quảng
trường  Ba  Đình­  Hà  Nội  không  lừa  gạt  được  ai  mà  còn  bộc  lộ  thêm  bản  chất  hiểm  độc,  giả

dối, lật lọng, gian manh, kịch cỡm của tên lưu manh ác tặc.

Nếu Hồ Chí Minh có khóc là khóc cho cái ngu của chính hắn vì đã dại dột mở hai chiến dịch
Cải Tạo Công Thương Nghiệp và Cải Cách Nông Nghiệp quá sớm. Chính vì cái ngu này của
Hồ Chí Minh nên nhân dân Miền Bắc mới có cơ hội thấy rõ sự bạo tàn ác độc của bè lũ Cộng
Sản. Cũng nhờ cái ngu này của Hồ Chí Minh mà gần một triệu người Miền Bắc đã bỏ nhà bỏ
cửa, bỏ mồ mả ông bà cha mẹ, ào ạt tìm mọi cách di cư vào Nam và sau này trở thành một
nhân  tố  tích  cực  đóng  góp  cho  công  cuộc  chống  Cộng  của  quân  dân  Miền  Nam.  Nếu  Cộng
Sản không lập mưu ngăn cản và đón đường chận bắt thì con số người dân Miền Bắc di cư vào
Nam sẽ còn cao hơn rất nhiều.

Hai bức thư của Hồ Chí Minh gửi Stalin:

Nhìn kỹ, Hồ Chí Minh ký tên bằng chữ Tàu. Chi tiết nhỏ nhặt trên cho thấy Hồ Chí Minh lúc
này chính là Hồ Tập Chương và việc ký tên bằng chữ Tàu chỉ là một động tác vô tình của bản

năng
 

Bản dịch:

Đồng chí Stalin kính mến

Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới
thiệu với đồng chí trong thời gian tới.

­ Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những
vấn đề này.

1.  Cử  một  hoặc  2  đồng  chí  Liên  Xô  tới  Việt  Nam  để  làm  quen  và  tìm  hiểu  thực  trạng  ở  đó.
Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh
tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.

2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50­100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam,
trong số họ có người là Đảng viên và cũng có người chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ
từ 17­22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.

3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét) cho quân
đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm

4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau

(a)  Pháo  cao  xạ  37  li  cho  4  trung  đoàn,  tất  cả  là  144  khẩu  và  10  cơ  số  đạn  cho  mỗi  khẩu
pháo.

(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu

(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là
mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.

Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc tốt đẹp nhất.

Hồ Chi Minh
30­10­1952

Từ đây tất cả gom về một mối. Nông dân trở thành “nông nô”. Công nhân lao động trở thành
“lao nô”. Một khi con cá đã vào rọ thì chỉ còn chờ đem lên thớt. Từ đây mỗi gia đình phải có
một “Sổ Hộ Khẩu” ghi đầy đủ tên tuổi và năm sinh tháng đẻ của mỗi người trong gia đình.
Trẻ em không có tên trong “Sổ Hộ Khẩu” thì nhà trường không cho ghi tên nhập học. Người
lớn không có tên trong “Sổ Hộ Khẩu” thì hết đường sinh sống vì không một hãng xưởng hay
cơ sở nào dám chấp nhận cho việc làm. Kiểm tra không có tên trong “Sổ Hộ Khẩu” thì bị bắt
giam về tội cư ngụ bất hợp pháp. Muốn thay đổi chỗ cư trú phải được sự chấp thuận và giấy
chứng nhận đã được sự đồng ý của chính quyền của cả nơi đi và nơi đến.

Ngoài ra mỗi gia đình còn phải có một quyển “Sổ Lương Thực” ghi rõ tiêu chuẩn thực phẩm
được phân phối mua trong tháng. Người trực tiếp lao động được hưởng mức cao nhất. Người
già  và  trẻ  em  có  mức  thấp.  Công  nhân  viên  nhà  nước  được  phân  phối  tại  cơ  quan.  Cán  bộ
đảng viên được mua cửa hàng khác, dân thường mua ở cửa hàng khác.

Ngay cả khi ốm đau vào bệnh viện thì đảng viên cán bộ cũng có khu riêng biệt, tiện nghi đầy
đủ thuốc men. Tư liệu và hình ảnh của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cho thấy tại mỗi tỉnh hay mỗi
huyện  còn  có  “Bệnh  Viện  và  an  Bảo  Vệ  Chăm  Sóc  Sức  Khỏe”  dành  riêng  cho  cán  bộ  đảng
viên. Trong khi đó, dân thường bị bệnh thì nằm xếp cá mòi, hai người một giường, hay phải
nằm tràn lan ra cả hành lang.

Một chế độ rêu rao là công bằng tự do mà người dân bị kìm kẹp, người này rình rập người
kia, nhà này rình rập nhà khác, bới lông tìm vết, bươi móc những sơ hở của nhau để chứng tỏ
mình là thành phần trung kiên với Đảng.

Một chế độ ấm no hạnh phúc mà khi làm thịt một con gà do chính tay mình nuôi để cúng giỗ
ông  bà  cha  mẹ  và  để  cả  gia  đình  có  một  chút  dinh  dưỡng  tươi  mát  cũng  phải  lén  lút  giấu
diếm vì nếu bị phát giác sẽ bị ghép vào tội phá hoại công cụ sản xuất, phá hoại tài sản nhà
nước.

Một  chế  độ  con  đấu  cha,  vợ  tố  chồng,  trò  phản  thày,  em  giết  anh  chỉ  vì  theo  lệnh  Đảng  để
được sống còn.

Một chế độ rêu rao là công bằng tự do ấm no hạnh phúc mà khi sống thì phải có tên trong sổ
hộ khẩu, sổ lương thực. Hai sổ này cũng chia ra sổ đỏ sổ đen: sổ đỏ là của đảng viên cán bộ,
sổ đen là của nhân dân. Đến khi chết cũng còn phân chia giai cấp: Cán bộ đảng viên chôn ở
khu riêng biệt, dân thường thì vào nghĩa trang nhân dân. Những tên trong Bộ Chính Trị hay

Trung Ương Đảng thì được tống táng ở nghĩa trang MAI DỊCH.
Dân trong nước nói nhỏ với nhau: MAI DỊCH là nơi MAI táng những thằng mắc DỊCH.

Đời sống và bệnh viện của NHÂN DÂN ANH HÙNG

Đời sống và bệnh viện của cán bộ đảng viên Cộng Sản “ĐẦY TỚ NHÂN DÂN”

Tư liệu của Bác Sĩ ĐỖ HỒNG NGỌC

Vụ án nhân văn giai phẩm

Mùa  xuân  năm  1956  những  người  này  thấy  cần  phải  có  một  tiếng  nói  để  nói  lên  những  sự
thực nhằm cải thiện chế độ mà họ một thời bỏ cả tuổi xuân và hy sinh cả cuộc đời theo đuổi.
Những tiếng nói ấy kết hợp trên một tờ báo lấy tên là Nhân Văn­Giai Phẩm. Số báo đầu tiên
ấn hành vào mùa xuân nên gọi là Giai Phẩm Mùa Xuân. Tiếp theo là Giai Phẩm Mùa Thu...

Trong  các  số  báo  này  với  những  bài  viết  của  Trần  Dần  (Nhất  Định  Thắng,  Hãy  Đi  Mãi)
Hoàng  Cầm  (Em  Bé  Lên  Sáu  tuổi),  Phùng  Quán  (Lời  Mẹ  Dặn,  Chống Tham  Ô  Lãng  Phí)

Phùng  Cung  (Con  Ngựa  Già  Của  Chúa  Trịnh),  Nguyễn  Mạnh  Tường  (Qua  Những  Sai  Lầm
Trong  Cải  Cách  Ruộng  Đất,  Vừa  Khóc  Vừa  Cười)  Trần  Đức  Thảo  (Nội  Dung  Xã  Hội  Và
Hình Thức Tự Do) Hữu Loan (Cùng Những Thằng Nịnh Hót, Lộn Sòng), Văn Cao (Anh Có
Nghe Chăng) họa sĩ Trần Duy (tranh biếm họa), Sĩ Ngọc (Làm Cho Hoa Nở Bốn Mùa), Như
Mai (Thi Sĩ Máy) Tạ Hữu Thiện, Hoàng Tích Linh, Bùi Quang Đoài. Phan Khôi (Phê Bình
Lãnh Đạo Văn nghệ, Ông Năm Chuột, Nắng Chiều...) Trong tập Nắng Chiều cây bút lý luận
Phan  Khôi  đã  viết:  “Cây  Cộng  Sản”  còn  có  một  tên  khác  gọi  là  “Cây  Chó  Đẻ”,  ám  chỉ  Hồ
Chí Minh là thứ chó đẻ). Ngoài ra cụ Phan Khôi còn viết mấy truyện ngắn tưởng như là vô
hại nhưng thực ra là những nhát búa chắc nịch đóng đinh lên chiếc quan tài của Hồ Chí Minh
và chế độ nên đã làm chế độ điên cuồng nhức nhối.

Những đoạn in chữ nghiêng dưới đây được trích lại trong các tác phẩm “Trăm Hoa Đua Nở
Trên Đất Bắc”, nhà xuất bản Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa, học giả Hoàng Văn Chí xuất
bản dưới bút hiệu Mạc Định.

Đây là bài thơ “Nhất Định Thắng” của Trần Dần, nguyên Đại Úy Phóng Viên báo Quân Đội
Nhân Dân Miền Bắc, năm1948 tham gia Vệ quốc quân, Ban Chính Trị Trung đoàn 148, Sơn
La, nay thuộc Sư đoàn 316. Trần Dần từng được đưa sang tu nghiệp tại Trung Cộng:

...Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?

...Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những cơn mưa rơi mãi tối sầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi
– Đứng lại!
– Đi đâu?
– Làm gì?
Tôi muốn khóc giữ từng em bé...

...Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà

Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.

...Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
– Anh ạ.
Họ vẫn bảo chờ…
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi

Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã…

Một kiện tướng trong làng văn học, nhà văn Phan Khôi viết trong truyện “Cầm Vịt”:

Cuộc  sống  phiêu  lưu  nay  ở  vùng  này,  mai  ở  vùng  khác,  chủ  cũng  như  người  làm  công  đều
làm lụng cực khổ như nhau, không ai bóc lột ai cả. Cái nghề này tuy vất vả mà ăn ở như thế
thì đầy đủ lắm, giữa chủ và thợ không có chi khác nhau. Ông chủ nói rằng nếu không thế thì
không  thuê  được  người,  cuối  mùa  còn  phải  chia  hoa  hồng  cho  anh  em,  vì  thế  tuy  được  lãi
nhiều mà về tay người chủ không còn mấy....”

Mới  đọc  tưởng  như  chuyện  đồng  quê  nhưng  nhà  thực  ra  nhà  lý  luận  Phan  Khôi  mượn  câu
chuyện để xác định rằng việc đấu tranh giai cấp là việc được dựng lên nhằm gây hận thù để
lợi  dụng.  Qua  câu  chuyện  chúng  ta  thấy  rõ  ràng  ở  đây  “không  ai  bóc  lột  ai  cả,  chủ  và  thợ
cùng khổ như nhau” mỗi người có một cái khổ: Thợ thì khổ vì lao động tay chân vất vả, chủ
thì lao tâm tổn trí, lo vốn, lo nợ, lo điều hành, lo không kiếm được người làm, lo lương tiền
cho người làm, lo phá sản...

Trong truyện “Tiếng Chim” cụ Phan Khôi viết:

...  Một  lần  ở  Cần  Nhân  tôi  ngồi  nơi  nhà  sàn  thấy  hai  con  quạ  rình  bắt  gà  con,  một  con  bắt
được bay ra bờ ruộng xé con gà ra ăn, còn con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được cũng
bay ra đứng cạnh con thứ nhất, nó nhìn sững và đi đi lại lại rồi cũng bay đi tuốt, không hề
nói: “Mày phải cho tao với.”

Trong truyện này, ý cụ muốn nói là ai làm thì người nấy ăn, ngay như con quạ cũng không dở
trò cướp giật “Không làm mà đòi hưởng của người khác, đấu tranh giai cấp là chuyện vô lý
và bất nhân”

Trong truyện “Cây Cộng Sản” cụ viết:

...Có một thứ thực vật nữa cũng như sen Nhật Bản, ở xứ ta trước kia không có mà bây giờ có
rất nhiều, dân thường gọi là “Cây Cứt Lợn, Cây Chó Đẻ, Cây Bọ Xít”... nó mọc đầy cả đồn
điền,  trừ  khử  không  hết  được.  Cái  tình  trạng  ấy  có  bắt  đầu  từ  những  năm  1930­1931  đồng
thời  với  Đông  Dương  Cộng  Sản  đang  bắt  đầu  hoạt  động.  Phong  trào  Cộng  Sản  cũng  lan
nhanh như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy nên bọn Tây đồn điền gọi là
cây Cộng Sản (herbe communiste),.. Nó còn có một tên nữa rất lạ. Một ông già Thổ nói rằng
trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng thì thấy thứ cỏ ấy mọc
lên mọc đầy cả đường xá đồi đồng nên dân gọi là “Cỏ Cụ Hồ”...

Đem  “Cây  Cứt  Lợn,  Cây  Bọ  Xít,  Cây  Chó  Đẻ”  gọi  là  “Cỏ  Cụ  Hồ”  rõ  ràng  đặt  Hồ  Chí  Minh
ngang hàng với thứ chó đẻ, thứ bọ xít, thứ cứt lợn.

Truyện ngắn “Ông Bình Vôi” của cụ đã gợi ý cho nhà thơ Trần Dần viết lên những câu thơ để
đời:

...Có những người sống lâu trăm tuổi
Ỳ ra như một chiếc bình vôi
Càng sống càng tồi
Càng sống càng bé lại...

Gọi Hồ Chí Minh là thứ “ông Bình Vôi, càng sống càng tồi, càng sống càng bé lại...” đã làm
Hồ Chí Minh và chế độ điên cuồng nhục nhã.

Để trấn áp, Hồ Chí Minh hạ độc thủ bịt miệng báo chí bằng cách ký Sắc Lệnh Báo Chí ngày
15­12­1956  phạt  khổ  sai  chung  thân  và  tịch  thu  toàn  bộ  gia  sản  những  kẻ  vi  phạm.  Kết  cục
304 văn nghệ sĩ bị đưa đi chỉnh huấn cải tạo. Nguyễn Hữu Đang, người dựng lễ đài độc lập
ngày  2­9­1945,  và Thụy An  mỗi  người  bị  kết  án  15  năm  tù  giam  trong  Hỏa  Lò. Trần  Đức
Thảo bị cấm giảng dạy và bị cô lập, không ai được lại gần. Vợ của Thảo là Tiến sĩ Nguyễn
Thị Nhứt bị Đảng gã cho tên bồi bút Nguyễn Khắc Viện.

Trong “Mémoire d'un Vietcong” “Hồi ký của một Việt Cộng” trang 300, Trương Như Tảng,
nguyên  Bộ  Trưởng  Bộ  Tư  pháp  của  cái  gọi  là  “Chính  Phủ  Lâm  Thời  Mặt  Trận  Giải  Phóng
Miền Nam” ghi lại:

"Trần Đức Thảo bị công an bao vây, cô lập không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo nói chuyện
với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Ông
phải  sống  như  Robinson  Crusoe,  hoàn  toàn  cô  độc,  ngay  họ  hàng  thân  thích  cũng  không
được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man."

Về phần Nguyễn Mạnh Tường, dù là người năm 1946 được Hồ Chí Minh cử đi dự Hội Nghị
Trừ Bị Đalat họp với Cao Ủy D’Argenlieu, năm 1952 được cử đi Bắc Kinh dự Hội Nghị Hòa
Bình  Châu  Á  ­Thái  Bình  Dương  và  đến  năm  1956  được  cầm  đầu  một  phái  đoàn  Hà  Nội  đi
Bruxelles tham dự Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ Thế Giới để giải độc vụ Cải Cách Ruộng Đất,
rút  cuộc  cũng  bị  lột  chức  Khoa  Trưởng  Luật  Khoa,  Phó  Chủ  Tịch  Hội  Luật  Gia,  Thủ  Lãnh
Luật Sư Đoàn, phó Khoa Trưởng Sư Phạm và thành viên ban chấp hành Mặt Trận Tổ Quốc
Việt  Nam.  Trong  hồi  ký  Un  Excommunié  (Kẻ  Bị  Rút  Phép  Thông  Công)  bản  dịch  Nguyễn
Quốc  Vĩ,  phần  III,  “Hành  Trình  Đi  Vào  Sa  Mạc”  chúng  ta  được  Nguyễn  Mạnh  Tường  cho
biết cuộc sống trong gia đình:

...Mỗi  ngày  mỗi  người  trong  nhà  chỉ  được  một  bát  cháo.  Ông  phải  đi  ra  chợ  vào  lúc  chập
choạng tối mong không ai nhận ra mặt để nhặt những mớ rau vụn hư vất bỏ đem về ăn. Gia
tài cả nhà có một con gà đẻ trứng, mỗi người mỗi ngày thay phiên nhau ăn một cái trứng để
có  thể  sống  sót.  Quần  áo  đồ  đạc  trong  nhà  bán  hết,  ông  cùng  gia  đình  phải  chịu  khốn  khổ
suốt quãng đời còn lại...

Số phận ông Nguyễn Hữu Đang cũng không khá hơn. Sau 15 năm tù Hỏa Lò và bị quản chế
ông cũng chết khốn khổ nhưng cuối cùng cũng bị đào mồ lôi dạy trao tặng huy chương.

Nhà văn Phùng Quán ghi lại những ngày cuối đời của ông trong bài “Phùng Quán tìm thăm
Nguyễn Hữu Đang”

...Anh dọn ra hai cái đĩa, rồi chọn trong hai cái bát hương đậy viên gạch vỡ gắp ra năm sáu
viên gì đó tròn tròn, đen xỉn, nom rất khả nghi. Anh chỉ vào mỗi đĩa, giới thiệu thực đơn: “–
Đĩa này là chả cóc, đĩa này là chả nhái. Nhờ ăn thường xuyên hai thứ đặc sản này mà tôi rất
khỏe, còn khỏe hơn cả chú....

Tôi lấy đưa anh xem một số tư liệu liên quan đến ngày Đại lễ mồng 2 tháng 9 năm 1945, vừa
sao chụp: “Em suy luận ra anh là Trưởng ban Tổ chức Ngày Độc lập như trong tư liệu hiện
còn  giữ  được.  Em  muốn  được  tận  tai  nghe  anh  kể  lại  những  kỷ  niệm,  những  hồi  ức  mà  anh
cho là sâu sắc nhất... Mà nếu anh không dùng đến thì cho em xin” .

...Bữa  cơm  tiễn  tôi,  anh  có  vẻ  buồn.  Vừa  dùng  đũa  tém  tém  mấy  khúc  rắn  om  mặn  chát  nổi

muối trong đĩa, anh vừa nói: “Hiện tôi đang cố gắng hoàn thành thiên hồi ký thuật lại tất cả
những  gì  có  liên  quan  đến  thế  sự,  kể  từ  khi  tôi  bước  chân  vào  con  đường  hoạt  động  cách
mạng cho đến những năm tháng gần đây... Trong hồi ký, tôi sẽ đề cập đến những sự việc mà
từ trước đến nay tôi chưa hề tiết lộ với ai. Ví dụ như bản thảo bản Tuyên ngôn Độc lập cụ Hồ
viết...  Còn  hay  mất,  nếu  còn  thì  bây  giờ  đang  ở  đâu...  Hoặc  cụ  định  sửa  hai  câu  trong  bản
Tuyên ngôn, nhưng không kịp vì bản chính đã đưa in mất rồi. Là Trưởng ban Tổ chức ngày
lễ,  tôi  phải  phụ  trách  việc  in  ấn  những  tài  liệu  có  liên  quan  đến  vận  mệnh  đất  nước  này,
nhưng... Như chú biết đấy, hiện nay trong Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như Bảo làng Lịch sử,
không có bản thảo Tuyên ngôn Độc lập... Tôi sợ sẽ làm không kịp mất, gần tám chục tuổỉ đầu
rồi  còn  gì,  mà  lại  không  có  điều  kiện  làm  việc,  ban  đêm  coi  như  chịu  chết,  đèn  đóm  tù  mù,
đúng là đóm thật”... Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tiếp: “ Chú có biết
điều lo lắng nhất hiện nay của tôi là gì không?” Không đợi tôi đoán, anh nói luôn: “ Tôi lo
nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở
trên Hà Nội... Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một
người  không  phải  ruột  rà  máu  mũ  lại  nằm  chết  trong  nhà  mình?  Ngay  cả  cái  chái  bếp  này
cũng  vậy,  tôi  nằm  chết  sẽ  làm  phiền  đến  nhà  trường,  các  thầy  cô  giáo,  các  cháu  học  sinh...
Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã
chọn sẵn chỗ để nằm chết. Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy...”

Tôi theo anh ra đứng lên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa đông bắc lạnh thấu xương thổi
thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một búi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh
đồng,  ngọn  tre  đang  vật  vã  trong  gió  buốt.  “  Đấy,  dưới  chân  bụi  tre  ấy  có  một  chỗ  trũng
nhưng bằng phẳng, phủ dày lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phải
phiền  ai...  Tôi  đã  chọn  con  đường  ngắn  nhất  để  có  thể  bò  kịp  đến  đó,  trước  khi  nhắm  mắt
xuôi tay...”. (Phùng Quán, 1992)

Số phận trí thức đóng góp cho kháng chiến và cho sự nghiệp của Hồ Chí Minh là như thế. Từ
đây không còn báo chí  tư nhân  mà  chỉ có báo chí của Đảng và các đoàn thể ngoại  vi  nằm
dưới sự chỉ đạo của Đảng.

Điều  bỉ  ổi  ác  độc  nhất  của  Hồ  Chí  Minh  và  băng  đảng  Cộng  Sản  là  hành  hạ  đầy  ải  trù  dập
người  ta  cho  đến  chết  rồi  khi  xác  nằm  trong  quan  tài  thì  mang  vòng  hoa  đến  phúng  điếu  và
trao tặng huy chương.

Trần Đức Thảo năm 2000 được truy tặng huy chương Hồ Chí Minh về Khoa Học và Xã Hội.
Nguyễn  Manh  Tường  cũng  bằng  thưởng  cũng  huy  chương.  Nguyễn  Hữu  Đang  cũng  bằng
thưởng cũng huy chương. Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm Lê Đạt, Hoàng Cầm... cũng được cho
một ít tiền bịt mồm gọi là đền bù thiệt hại.

Vụ  “Nhân  Văn  Giai  Phẩm”  chỉ  là  một  cái  bẫy  sập  mà  Hồ  Chí  Minh  cóp  nhặt  từ  chiến  dịch
“Bách  Gia  Tranh  Minh,  Bách  Hoa  Tranh  Khai”  “Trăm  Nhà  Đua  Tiếng,  Trăm  Hoa  Đua  Nở”
của Trung Cộng. Theo cách nói của Lục Định Nhất, Cục Trưởng Cục Tuyên Huấn Cộng Sản
Trung  Hoa,  thì  đây  là  một  công  hai  việc:  “thăm  dò  dư  luận  và  dụ  rắn  ra  khỏi  hang”  để  tận
diệt mọi khả năng chống đối.

Đ ự ậ ề ườ ặ ồ ầi tìm s  th t v  con ng i muôn m t H  Chí Minh (ph n 7)


Minh
Khôi

(Danlambao)

Cuộc chiến xâm lăng miền Nam 1954­1975

Trước đây hơn nửa thế kỷ, trong tập Chính Đề Việt Nam (Tùng Phong ­ Sài Gòn ­ Việt Nam
1963) trang 212, ông Ngô Đình Nhu đã cảnh báo: Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính,
thì  việc  Trung  Cộng  thôn  tính  Việt  Nam  chỉ  là  một  vấn  đề  thời  gian  rõ  viễn  kiến  của  một
người yêu dân yêu nước.

Hồ  Chí  Minh  từng  ở  Tàu,  từng  ở  Nga.  Hồ  Chí  Minh  không  phải  không  biết  tham  vọng  của
người Tàu. Hồ Chí Minh không phải không thấy cuộc sống của người dân Nga dưới chế độ
Stalin và chủ nghĩa Mac­Lenin tệ hại như thế nào. Tuy nhiên, vì tham vọng ngu xuẩn và bản
tính  lưu  manh  tàn  ác  nên  đã  lợi  dụng  một  chủ  nghĩa  ngoại  lai  không  tưởng  lừa  bịp  dân  tộc,
đưa cả nước vào cùng khốn và tàn sát lẫn nhau, lấy giang sơn gấm vóc của tổ tiên làm nơi thử
bom  đạn  của  ngoại  nhân,  đem  xương  máu  của  đồng  bào  cả  nước  ra  làm  mồi  cho  súng  đạn,
gây  chết  chóc  cho  hàng  triệu  sinh  linh  và  oan  nghiệt  đói  khổ  cho  cho  hàng  chục  triệu  gia
đình, đẩy dân tộc vào thảm họa nghi kỵ thù hận chia rẽ, 

Nếu Hồ Chí Minh thực tâm yêu nước và tin rằng Xã Hội Chủ Nghĩa là lý tưởng tốt đẹp thì
sau hiệp định Geneve 1954, khi quân Pháp rút khỏi Miền Nam và khi quân Mỹ chưa đến, tại
sao Hồ Chí Minh lại vội vã cho thiết lập đường mòn Trường Sơn 759 và lập đường biển với
những chiếc tàu không số đưa người và vũ khí xâm lăng Miền Nam. Nếu Hồ Chí Minh thực
sự tin tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa là tốt đẹp là sẽ đưa đất nước đến chỗ phú cường tại sao Hồ
Chí Minh không lo xây dựng Miền Bắc cho thật phồn vinh để người dân được ấm no, hạnh

phúc, sau đó mở cửa cho hai miền Nam Bắc tự do đi lại và mời cả thế giới cùng đến chiêm
ngưỡng. Không cần phải thông minh chúng ta cũng thấy là người dân sẽ lựa chọn bên tốt đẹp
ấm no và hạnh phúc và chối bỏ bên bất công áp bức, và như vậy không cần tốn một giọt máu
Hồ Chí Minh cũng thống nhất được đất nước. 

Nên  biết,  ở  vào  thời  điểm  1954,  ngoài  những  người  đã  từng  sống  trong  vùng  Hồ  Chí  Minh
kiểm soát hoặc những người đã nếm mùi và biết thế nào là cộng sản thì tuyệt đại đa số người
dân không ai biết cộng sản là gì. Thêm nữa đa số lại còn rất say mê huyền thoại chiến thắng
Điện  Biên  nên  những  người  này  có  khuynh  hướng  ngã  theo  Hồ  Chí  Minh.  Nhưng  Hồ  Chí
Minh không làm những điều này vì Hồ Chí Minh có con đường của Hồ Chí Minh.

Hội  nghị  đình  chiến  Geneve  1954  quy  định  trong  vòng  1  năm  sau  ngày  ký  kết  hiệp  định
người dân hai miền có quyền chọn lựa nơi cư trú và sau 3 năm hai miền Bắc và Nam sẽ có
một cuộc Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước. Dân số cả nước lúc đó vào khoảng 30 triệu.
Miền Bắc chừng 17 triệu và Miền Nam chừng 13 triệu. Vì đã từng sống hoặc được nghe kể
lại những chuyện đấu tố của cộng sản nên gần một triệu người dân Miền Bắc đã ào ạt bỏ nhà
bỏ  cửa  chạy  vào  Miền  Nam  tạo  thành  cuộc  di  cư  lớn  nhất  lịch  sử.  Trong  khi  đó  số  người
Miền Nam tập kết ra sống với Miền Bắc chỉ gồm cán bộ bộ đội cùng thân nhân, tổng số chưa
tới bảy chục ngàn người. Tuy nhiên cuộc Tổng Tuyển Cử cũng đã không thành bởi vì Miền
Bắc quyết định xâm chiếm Miền Nam bằng vũ lực còn Miền Nam thì Pháp mới trao quyền,
tiếp  đó  là  vụ  truất  phế  Bảo  Đại  và  các  vụ  rối  loạn  giáo  phái  do  thực  dân  Pháp  giật  dây  nên
tình hình chưa được ổn định. 

Trở  lại  Miền  Bắc,  với  quyết  tâm  đánh  chiếm  Miền  Nam  nên  vào  tháng  5­1959,  sau  khi  ổn
định vụ Cải Cách Ruộng Đất, đập nát cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu­Nghệ An, giết
và đầy ải hơn 6000 người (Nguồn: Quynh Luu Uprising, Wikipedia), dẹp tan sự bất bình của
trí thức qua phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và nắm chặt được quyền kiểm soát cai trị, Hồ
Chí  Minh  và  Bộ  Chính  Trị  Cộng  Đảng  Hà  Nội  bắt  đầu  tiến  hành  mưu  đồ  xâm  lăng  Miền
Nam.

Hồ  Chí  Minh  dùng  những  con  đường  mòn  hiểm  hóc  chạy  dọc  theo  rặng  Trường  Sơn  làm
đường  chuyển  vận  binh  sĩ  và  vũ  khí.  Thoạt  đầu  con  đường  có  tên  là  đường  mòn  Hồ  Chí
Minh,  đường  mòn Trường  Sơn,  hay  đường  559,  do  thượng  tá Vũ  Bẩm  chỉ  huy.  Năm  1965
nâng lên thành cấp sư đoàn. Năm 1970 thành cấp Binh Đoàn dưới quyền chỉ huy của Đồng Sĩ
Nguyên. 

Ngoài ra vào tháng 7­1959 Hồ Chí Minh cũng cho thiết lập một đoàn tiếp tế trên đường biển.
Năm 1963 đoàn 759 được chỉ định trực thuộc binh chủng Hải Quân. Năm 1964 đổi tên thành
Trung  Đoàn  125,  hay  Đoàn  125.  Với  ngụy  trang  là  Tập  Đoàn  Đánh  Cá  Sông  Gianh  gồm

những tàu đánh cá không mang số chở vũ khí đạn dược cho chiến trường Miền Nam. Tháng
2­1965 Quân lực Miền Nam đã phát hiện và đánh chìm một chiếc tàu trọng tải hơn 100 tấn
của  đoàn  759  tại  Vũng  Rô,  tỉnh  Phú  Yên,  tịch  thu  vô  số  đạn  dược  quân  trang  quân  dụng
(Nguồn: Nguyễn Kỳ Phong. Tự Điển Chiến Tranh Việt Nam)

Việc nhân số Miền Bắc nhiều hơn Miền Nam không quan trọng. Điều quan trọng là tại Miền
Bắc bắt buộc mỗi người dân phải có tên trong Sổ Hộ Khẩu và Sổ Lương Thực. Muốn thay đổi
nơi cư trú người dân phải được sự chấp thuận của chính quyền địa phương của cả nơi đi và
nơi đến. Nếu một trong hai nơi không chấp thuận thì phải vĩnh viễn ở lại chỗ cũ, không khác
gì bị chỉ định cư trú, bị quản chế, hay bị biệt giam.

Lại nữa, thanh niên đến tuổi nghĩa vụ không còn sự lựa chọn nào khác vì nếu trốn tránh thì
cả gia đình sẽ bị liên lụy. Không những cả nhà bị cắt lương thực, cha mẹ vợ con còn bị bắt đi
trình diện ngày đêm cho đến khi nào người trốn tránh ra đầu thú. Vì thế, chẳng thà đi bộ đội
mà một năm có hai bộ quần áo mặc, ngày ngày có hai bữa cơm ăn và gia đình được yên ổn,
còn hơn là ở nhà chưa mở mắt đã nghe loa đài xoáy vào lỗ tai, mờ sáng nghe tiếng kẻng là
phải xếp hàng theo đội ngũ ra nông trường hay vào công trường làm việc, trưa đến chờ chực
như con chó của Pavlov mong được miếng ăn và chiều về chưa kịp lùa hết chén cơm đã phải
lên  hội  trường  ngồi  họp  hành  kiểm  thảo,  thi  đua,  bình  bầu  chiến  sĩ  xuất  sắc  cho  đến  nửa
khuya.

Còn  một  chuyện  khác  nữa.  Nhiều  người  lấy  làm  lạ  tại  sao  trong  đám  tù  binh  Miền  Bắc  bị
Miền  Nam  bắt  có  nhiều  em  chỉ  mới  15  hay  16  tuổi.  Có  người  giải  thích  là  bị  cưỡng  chế  ép
buộc. Có người cho là bị lừa phỉnh dụ dỗ. Có người nói vì tinh thần các em cao độ. Sự thật
hoàn toàn trái ngược.Chính các em này đã xung phong tình nguyện đi bộ đội để có hai bữa
cơm ăn và để cho gia đình bớt một gánh nặng.

Kẻ giàu có đầy đủ mới sợ chết còn những kẻ “trên răng dưới Bác Hồ” thì việc đổi mạng sống
lấy miếng ăn vẫn là chuyện thường ngày. Quân ăn cướp bao giờ cũng liều mạng hơn người
có tài sản.

Trong khi đó cuộc sống tại Miền Nam thanh bình no ấm đầy đủ nên ngoài những người đến
tuổi phải đi làm bổn phận công dân thì chỉ có một số người tự nguyện gia nhập quân đội. Lý
do: Đời sống quân ngũ gò bó kỷ luật và nhất là không được tự do sau khi làm việc. Sống đời
dân sự muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm. Thứ bảy chủ nhật, sáng dẫn vợ con đi chơi,
tối kéo nhau đi xem cải lương, đi nhà hàng, hay đi phòng trà ca nhạc nhảy nhót. Hai bên khác
nhau một trời một vực 

Lại nữa, tại Miền Nam còn một số không ít người hoặc vì thật thà ngây thơ, chưa sống, chưa

biết Cộng Sản là gì nên bị tuyên truyền, đầu độc, hoặc vì bất mãn cá nhân nên thấy cỏ đồng
xa xanh hơn cỏ đồng gần, biết cộng sản hoạt động ngay bên cạnh đã không nói ra lại còn bao
che.  Một  số  khác  đã  yểm  trợ  hoặc  làm  nội  tuyến  cho  Bắc  Việt,  hoặc  chứa  chấp  nuôi  dưỡng
Việt Cộng ngay trong nhà. Đây là trường hợp học giả Nguyễn Hiến Lê như chính ông đã thú
nhận  trong  Hồi  Ký  tập  III  cũng  như  một  số  trí  thức  sinh  viên  tả  khuynh  thời  đó  như  Trịnh
Công  Sơn,  Huỳnh  Tấn  Mẫm...  Chuyện  no  cơm  ấm  cật  cũng  là  cái  lợi  bất  cập  hại  của  Miền
Nam. 

Ngày 20­12­1960 Hồ Chí Minh cho thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đưa Nguyễn
Hữu  Thọ  ra  làm  Chủ  Tịch,  cùng  với  nhóm  Phùng  Văn  Cung,  Võ  Chí  Công,  Nguyễn  Văn
Hiếu, Trần Bạch Đằng... Ngày 2­1­1963 mở trận Ấp Bắc. Năm 1968, đêm giao thừa tết Mậu
Thân Hồ Chí Minh đã cho đọc bốn câu thơ chúc tết trên đài phát thanh Hà Nội như sau:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.

Thơ  không  ra  thơ,  thẫn  không  ra  thẫn.  Đó  là  mật  lệnh  của  Hồ  cho  cuộc  tắm  máu  mà  chúng
gọi là cuộc Tổng Nổi Dậy tết Mậu Thân 1968:

Toàn thắng đâu không thấy bởi vì sau những ngày đầu chiếm được ưu thế bất ngờ, nói chung
cuộc Tổng Nổi Dậy kể như hoàn toàn thất bại. Sở dĩ Huế là thành phố duy nhất bị Cộng Quân
tràn  ngập  và  cưỡng  chiếm  vì  có  bọn  thân  Cộng  trong  Hội  Đồng  Cứu  Quốc  của  Lê  Khắc
Quyến  và  những  kẻ  ôm  chân Trí  Quang,  Ấn  Quang,  Nguyễn  Đắc  Xuân,  Lâm Thị  Mỹ  Dạ,
Nguyễn  Đóa,  Nguyễn  Thị  Đoan  Trinh  và  anh  em  Hoàng  Phủ  Ngọc  Phan,  Hoàng  Phủ  Ngọc
Tường... làm nội tuyến. Ngày 20­4­1968, Việt Cộng cho ra đời thêm một hình nộm khác gọi
là  Liên  Minh  Các  Lực  Lượng  Dân  tộc,  Dân  Chủ  Và  Hòa  Bình  Miền  Nam  Việt  Nam,  đưa
Trịnh  Đình  Thảo  làm  Chủ  Tịch  gồm  các  tên  Thích  Đôn  Hậu,  Lâm  Văn  Tết,  Dương  Quỳnh
Hoa, Trương Như Tảng, Lữ Phương,… Tất nhiên đây chỉ là một trò hề bởi nhóm Trịnh Đình
Thảo,  Nguyễn  Hữu  Thọ  chỉ  được  dựng  lên  làm  bình  phong  chứ  đâu  có  quyền  hành  gì.  Tại
Huế Việt Cộng đã thành lập được Hội Đồng Cách Mạng do Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch. 

Để biết rõ sự thật về cái gọi là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên­Huế này chúng ta
hãy nghe Tiến Sỹ Lê Văn Hảo, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên­
Huế,  trả  lời  ký  giả  Nguyễn An  trong  cuộc  phỏng  vấn  của  Đài  Á  Châu Tự  Do  (Radio  Free
Asia, RFA) ngày 02­02­2008 về vai trò của ông trong vụ Tết Mậu Thân như sau:

Lê  Văn  Hảo:  Trong  tất  cả  khi  nổ  ra  Mậu  Thân  tức  là  trong  26  ngày  đêm  Cộng  Sản  chiếm

thành phố Huế thì tôi ngồi trên núi để nghe đài phát thanh suốt ngày, tất cả những gì xảy ra
dưới Huế tôi chỉ biết qua đài phát thanh của Hà Nội và đài phát thanh giải phóng.

Nguyễn An :  Tức  là  ông  không  biết  những  cái  gì  thêm  ngoài  những  điều  mà  đài  phát  thanh
nói?

Tiến sỹ Lê Văn Hảo: Tôi không thể biết được bởi vì tôi không có mặt ở Huế mà nó đâu có
dám để cho tôi về Huế vì anh biết khi nó đề nghị một chức vụ như vậy là cả một sự áp đặt. Nó
nói là anh phải nhận, nếu anh không nhận thì anh cũng không còn đường về thì cả một sự đe
dọa. Anh có thấy tính chất đe dọa đàng sau lời đề nghị đó không?

Nguyễn An: Đây là một chi tiết rất là mới bởi vì hồi xưa cho đến bây giờ người ta cứ tưởng
rằng là những đoàn quân họ chiếm đóng Huế hai mươi mấy ngày đó là Ông về trực tiếp điều
hành công việc ở đó, thì hóa ra hoàn toàn không có chuyện này!

Tiến sỹ Lê Văn Hảo: Than ôi! Đó không phải là sự thật lịch sử mà tôi chỉ là một con tin đã
bị ở trong thế kẹt phải nhận lấy chức vụ để bảo tồn sự sống còn để mà mong có ngày về với
vợ con thôi! Chớ tôi nói thật với anh vai trò của tôi trong Tết Mậu Thân là vai trò hoàn toàn
thụ động, tôi chỉ ngồi trên núi để nghe đài, nghe tin tức.

Nguyễn An: Thưa Ông, như vậy tức là Mậu Thân sau khi họ tấn công Huế thì sau đó họ đưa
ông về?

Tiến sĩ Lê Văn Hảo: Không! Tôi không có về lúc đó, lúc đấy là chỉ có mấy anh Cộng Sản về
đánh nhau ở dưới thành phố thôi, chớ còn tôi họ đâu có dám đưa tôi về! Họ biết rằng khi tôi
nhận thì tôi cũng miễn cưỡng mà nếu đưa tôi về thì tôi chắc cũng chuồn luôn thì họ đâu có
dám đưa tôi về…

Như vậy, chính người trong cuộc đã xác nhận cái gọi là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa
Thiên­Huế  cũng  như  cái  Liên  Minh  Dân  Tộc  Dân  Chủ  Hòa  Bình  được  nặn  ra  trước  và  sau
cuộc  Tổng  Công  kích  1968  chỉ  là  một  trò  lường  gạt.  Tóm  lại  trận  chiến  Mậu  Thân  1968  là
một thất bại lớn của Cộng Sản Hà Nội. Chúng thất bại vì tin là quần chúng sẽ nổi dậy cướp
chính  quyền  và  đứng  về  phía  họ. Thực  tế  là  đồng  bào  thấy  Cộng  quân  tới  đâu  thì  bồng  bế
nhau chạy thục mạng về vùng Việt Nam Cộng Hòa. 

Cũng do phát động cuộc tổng nổi dậy cho nên hầu hết những thành phần nằm vùng đều phải
xuất hiện đứng ra vận động thúc dục quần chúng. Khi cuộc chiến tàn, những thành phần này
hoặc bị bắt, hoặc bị lộ diện nên phải tháo chạy vào khu, vì vậy mà cơ sở cộng sản dày công
gây  dựng  trong  nhiều  năm  đã  bị  tan  nát  trong  mấy  ngày.  Sau  đó,  quân  lực  Miền  Nam  phản

công, chiếm lại Huế, quét sạch cộng sản tại những nơi chúng xuất hiện. Bị tổn thất quá nặng,
nhất là những cơ sở nằm vùng bí mật bị lộ diện và bị quan thầy Nga Sô Trung Cộng sỉ vả nên
Hồ  Chí  Minh  uất  ức  phát  bệnh  và  chết  vào  ngày  2­9­1969  cho  dù  bao  nhiêu  năm  ép  buộc
người dân hò hét Hồ Chí Minh muôn năm. 

Điều trớ trêu là ngày chết của Hồ Chí Minh lại trùng với ngày Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên
Ngôn  Độc  Lập  tại  quảng  trường  Ba  Đình  Hà  Nội  vào  năm  1945  nên  Cộng  Đảng  Hà  Nội  ra
công  bố  Hồ  Chí  Minh  chết  vào  ngày  3­9­1969.  Tuy  nhiên  về  sau  không  thể  dấu  diếm  được
nữa  nên  Hà  Nội  đành  phải  xác  nhận  Hồ  Chí  Minh  đã  chết  vào  ngày  3­9­1969.  Thế  là  xong
cuộc đời một tên ác tặc.

Những ngày cuối đời của Hồ Chí Minh:

Ở trong chăn mới biết chăn có rận. Có thể vì những việc làm đốn mạt bỉ ổi cùng những thủ
đoạn tàn ác thường ngày, hay có thể bọn Lê Duẩn Lê Đức Thọ đã biết được “con người thật”
của Hồ Chí Minh nên lúc cuối đời Hồ Chí Minh bị bọn đàn em coi không ra gì. 

Trong  tập  sách  “Viết  Cho  Mẹ  Và  Quốc  Hội”,  nhà  xuất  bản  Văn  Nghệ,  1995,  trang  328,  con
hùm xám Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, nguyên Chính Ủy Bộ Tư Lệnh khu 9 và Bí Thư Khu
Ủy, Đại Biểu Đại Hội Đảng lần thứ hai, Giáo Sư trường Nguyễn Ái Quốc và trường Đại Học
Nhân Dân tại Hà Nội, Vụ Phó Ban Tuyên Huấn Trung Ương, thuật lại lời nói của Bùi Công
Trừng về Hồ Chí Minh vào những ngày cuối đời:

...Mày coi có tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính mến của chung ta bận
bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà day mặt ra sân. Khi chướng quá quay vô đưa tay để nói thì
thằng Thọ lễ phép Bắc Hà: “Bác hãy để cho người anh em ta nói đã mà”. Tao đếm lão Hồ
đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn...

Bùi công Trừng nói với tôi như vậy. 

Thọ đây là Lê Đức Thọ, Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng. Một tay em của Lê Duẩn
mà dám đối xử với Hồ Chí Minh không ra gì, chứng tỏ uy tín của Hồ Chí Minh không là cái
gì gì cả. 

Tuy nhiên cuộc chiến xâm lăng Miền Nam vẫn tiếp diễn bởi lũ Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng, Lê
Đức  Thọ...  với  sự  tiếp  sức  tận  lực  của  Cộng  Sản  Quốc  Tế,  đặc  biệt  là  Trung  Cộng,  dẫn  đến
biến cố 30­4­1975.

Quốc tế cộng sản tham chiến tại chiến trường Việt Nam

Việt Nam Cộng Hòa Miền Nam mất về tay Việt Cộng Miền Bắc không phải vì tinh thần chiến
đấu thua sút mà vì sự lừa bịp, tuyên truyền, dối trá và bị đâm sau lưng. Trong khi cả thế giới
đều biết Hoa Kỳ cùng một số nước đồng minh đem quân đến Việt Nam nhưng việc Cộng Sản
Hà Nội được tiếp sức và tham chiến của cả khối Cộng Sản Quốc Tế thì không ai biết, hoặc có
biết nhưng lại nhắm mắt như mù, chủ yếu là bọn ký giả thiên tả ngu dốt thiển cận cùng với
một  nhóm  trí  thức  hoặc  lũ  nghệ  sĩ  kênh  kiệu  ngây  ngô  khờ  dại  như  Bertrand  Russell,  Tom
Hayden, Jane Fonda, Peter Arnett... Lũ ngợm này bị Cộng Sản ve vản lợi dụng và bị bịt mắt
nên trở thành đồng lỏa với Cộng Sản Quốc Tế đánh lừa dư luận thế giới, tạo chính nghĩa cho
Cộng  Sản  Hà  Nội,  tạo  bất  mãn  trong  dân  chúng  Hoa  Kỳ  và  nhân  dân  trong  các  nước  thuộc
thế giới tự do, tiếp tay cho Cộng Sản Hà Nội thôn tính Miền Nam. 

Nói  một  cách  khác  Miền  Nam  Việt  Nam  rơi  vào  tay  Cộng  Sản  là  vì  thua  trận  tại  Hoa
Thịnh Đốn chứ không phải thua trận tại Sài Gòn, trong đó có phần đóng góp không nhỏ
của những tên thân cộng và lũ trí thức thiển cận đui mù. 

Dưới đây là những bằng chứng sự tham chiến của Quốc Tế Cộng Sản trên chiến trường Việt
Nam:

Bob Seals trong một bài đăng trên Military History hồi 2008 đã trích nhiều tài liệu các tác giả
Trung Quốc có sách xuất bản ở Phương Tây như Địch Cường (Qiang Zhai) và Lý Tiểu Binh
(Li Xiaobing). Nội dung bài viết cho thấy. "Đỉnh điểm của sự can dự từ phía Trung Quốc vào
cuộc chiến Việt Nam là năm 1967, khi tổng số lực lượng phòng không lên tới 17 sư đoàn, với
150  nghìn  quân.  Tài  liệu  tối  mật  của  CIA  ghi  nhận  bảy  đơn  vị  lớn  của  Quân  Giải  phóng
Trung Quốc (PLA) tại Bắc Việt, gồm sư đoàn phòng không 67, và con số ước tính 25 đến 45
nghìn quân tác chiến.

Từ sau chiến dịch Xuân­Hè 1972 (Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive, Việt Nam Cộng Hòa gọi là
Mùa Hè Đỏ Lửa) Bắc Kinh lại tăng cường viện trợ cho Hà Nội, khi lực lượng cộng sản miền
Bắc thiệt hại nặng, mất tới 450 xe tăng và chừng 100 nghìn quân. Đợt tấn công này của Bắc
Việt ở miền Nam bằng 20 sư đoàn, đông hơn số quân tướng Patton chỉ huy thời Thế chiến 2
tại châu Âu."

Quân Liên Xô bắn máy bay Mỹ

Ngày thứ hai, 31 tháng 12, 2012 đài BBC đã đưa ra một số tư liệu lịch sử nước ngoài về sự
tham gia của Liên Xô và Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là trong các trận
chiến phòng không, không quân trên miền Bắc chống lại Không lực Hoa Kỳ:


Click to View FlipBook Version