Thực tế sau này mới đáng giá: Cơ sở cho một sự hợp tác tiếp theo với terre des hommes
9/12/75
Hôm nay diễn ra một trong những cuộc họp quan trọng nhất giữa Hội Chữ thập đỏ và terre des hommes, có sự
tham dự của Bs. Hưng, ủy viên Ủy ban Trung ương Hội Chữ thập đỏ, dược sĩ Nam, Tổng thư ký Hội Chữ thập đỏ,
và tôi là điều phối viên của terre des hommes.
Trong cuộc nói chuyện, những vấn đề trước đây chỉ được đặt ra khi ông Hưng đến thăm Trung tâm Y tế Xã hội thì
nay được thảo luận một cách dứt khoát. Ngoài ra, ông Nam đã chuẩn bị một dự thảo thỏa thuận được coi là cơ sở
cho sự hợp tác trong tương lai giữa Hội Chữ thập đỏ và terre des hommes. Cụ thể, các điểm sau đây có liên quan.
Giấy ủy quyền ngân hàng cho Ban điều hành: Sau nhiều lần đắn đo, Hội chữ thập đỏ đã ký vào lá thư của tôi gửi
ngân hàng, trong đó có cả chữ ký của ba người trong Ban điều hành, mà việc rút tiền chỉ có thể thực hiện khi có
đủ ba người. Để bổ sung biện pháp an toàn, Hội Chữ thập đỏ yêu cầu terre des hommes thông báo cho Hội Chữ
thập đỏ biết số tiền bằng điện tín mỗi lần chuyển tiền về Việt Nam. Sau đó đến lượt Ban điều hành được yêu cầu
xác nhận với châu Âu về số tiền đã tiếp nhận. Ngoài ra, Hội Chữ Thập Đỏ yêu cầu Ban điều hành cung cấp bản kê
các tài khoản hàng tháng, bản kê này cũng phải gửi đến terre des hommes. Ngoài ra, Ban điều hành cũng được lưu
ý rằng một cuộc kiểm toán đột xuất có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào tại Trung tâm Y tế Xã hội.
Tiêu chuẩn tiếp nhận trẻ vào trung tâm dinh dưỡng: Hội Chữ thập đỏ đã đồng ý với tiêu chuẩn tiếp nhận do bà
Ánh xây dựng. Khi các đại biểu Chữ thập đỏ đã hoàn thành xây dựng Ban điều hành Trung tâm Y tế Xã hội thì việc
tiếp nhận trẻ mới được bắt đầu. Số trẻ lớn tuổi đủ dinh dưỡng cũng có thể được trả về. Tôi đã trình một danh
sách về việc này.
Tiền lương cho nhân viên: Hội Chữ thập đỏ đồng ý rằng mức lương sẽ dao động từ 40 đến 80 đồng (tức là
20.000 đến 40.000 đồng tiền cũ). Ban điều hành phải trình danh sách chi tiết của tất cả nhân viên để quyết định
trước cuối tháng 12. Danh sách này cũng bao gồm khoản thanh toán lương trả chậm cho tháng 11. Tuy nhiên, quy
định tiền lương này sẽ được coi là tạm thời cho đến khi quy định tiền lương cuối cùng cho toàn bộ Việt Nam được
quyết định và công bố. Những người không có bản mô tả công việc rõ ràng, tức là vẫn đang thất nghiệp tại Trung
tâm, phải nhận mức lương tối thiểu là 20.000 đồng.
Phân phối hàng viện trợ: Nguồn hàng viện trợ đã đến Trung tâm vẫn chưa được thống kê đầy đủ. Do đó, Ban
điều hành sẽ bàn giao cho Hội Chữ thập đỏ một danh sách đầy đủ, đặc biệt là các loại thuốc và quần áo, vào một
thời điểm sau này, để Hội Chữ thập đỏ có thể thực hiện việc phân phối tập trung.
Mở rộng trung tâm dinh dưỡng: Nhà nôi sẽ được mở rộng tối đa 100 giường tại tòa nhà cũ. Tuy nhiên, đồng
thời, tòa nhà mới phải được lên kế hoạch và triển khai. Ngày hoàn thành dự kiến là cuối năm 1976. terre des
hommes sẽ mua cho Hội Chữ thập đỏ một mảnh đất, tài trợ chi phí xây dựng và trang thiết bị ban đầu, và cam kết
chịu chi phí hoạt động trong ba hoặc năm năm, luôn luôn với khả năng tiếp tục tài trợ. Hội Chữ Thập Đỏ muốn
cho tôi xem một địa điểm có thể xây dựng sớm nhất là vào thứ năm tới. Một kiến trúc sư sẽ được bổ nhiệm để
chuẩn bị kế hoạch. Đầu tiên, các kế hoạch sẽ được trình cho Ban điều hành, sau đó chuyển đến terre des hommes
ở Châu Âu để xem xét. Hội Chữ thập đỏ cũng sẽ cùng với Ban điều hành tính toán chi phí hoạt động. Hội Chữ thập
đỏ dường như muốn triển khai khả năng hợp tác quốc tế trong liên minh ba bên này giữa Chữ thập đỏ, Ban điều
hành và terre des hommes. Trung tâm dinh dưỡng mới sẽ được gọi là "Trung tâm Dinh dưỡng terre des hommes".
Sự kiểm soát của nhà nước trong khâu lập kế hoạch, khâu tuyển dụng và trong các hoạt động thường ngày được
cho là chỉ có mục đích là đảm bảo rằng các dự án vẫn nằm trong khuôn khổ chính sách quy hoạch của nhà nước.
Mong muốn của tôi nhằm duy trì tính cách đa ngành của Trung tâm Y tế Xã hội được chấp nhận. Các khía cạnh y
tế và giáo dục-xã hội sẽ tiếp tục có tầm quan trọng như nhau trong tương lai. Tôi đã nhấn mạnh rằng phải có ít
nhất một đại diện của terre des hommes là Milo Roten đến Việt Nam khi ký hợp đồng, theo tôi tính là tháng 2 hoặc
tháng 3 năm 1976. Tuy nhiên, có vẻ như cả ông Hưng và ông Nam đều rất muốn đến châu Âu. Xem ra sẽ là hoàn
hảo nếu terre des hommes có lời mời và đài thọ chi phí đi lại – có thể là cùng hợp tác với Hội Chữ thập đỏ quốc tế.
Một chuyến thăm của terre des hommes xem ra cũng được mong đợi cho dịp khánh thành.
Mở lại Trung tâm ở Đà Lạt: Tôi chỉ rõ ra rằng chắc chắn sẽ dễ dàng hơn cho terre des hommes trong việc thúc
đẩy các nhà tài trợ khởi sự những dự án mới nếu đảm bảo cho Trung tâm ở Đà Lạt được tái khởi động. Ông Hưng
hứa sẽ đi Đà Lạt trong tháng này cùng với ông Sơn là người đại diện cho Trung tâm ở Đà Lạt, để đánh giá tình
hình. Tôi tin là ông ấy hiểu rõ lời ám chỉ của tôi rằng không thể có thêm công trình mới chừng nào mà những cơ
sở mới hiện tồn tại chưa hoạt động trở lại. Ở Đà Lạt, dĩ nhiên là Chữ thập đỏ cũng chờ đợi việc tiếp tục công trình
mở rộng giai đoạn ba.
Hợp tác xã các trẻ mồ côi: Tôi đã nói rõ rằng việc xây dựng trung tâm dinh dưỡng và thành lập hợp tác xã cô
nhi viện nên được thực hiện với thời gian chênh lệch một chút. Điều này có nghĩa là khi đại diện của terre des
hommes đến Việt Nam để ký kết hợp đồng cho trung tâm dinh dưỡng, các chi tiết của dự án thứ hai này sẽ được
thảo luận đầu tiên. Dù sao thì việc thực hiện cũng phức tạp hơn nhiều và cần phải lựa chọn những nhân viên rất
giỏi. Tôi bỏ ý định xây dựng các trạm y tế và trạm hộ sinh ở các vùng kinh tế mới vì nó không có gì gây chú ý đối
với các nhà tài trợ. Dù sao thì cả đôi bên cũng đều chưa có ý tưởng chi tiết về dự án này. Tuy nhiên, Hội Chữ thập
đỏ đồng ý với ý tưởng cơ bản của dự án này, như tôi đã trình bày trong một bài viết chuyên đề: việc kết hợp các
yếu tố của một làng trẻ SOS, một kibbutz [khu định cư kiểu công xã hiện đại; chú thích của người dịch], của cộng đồng
làng xã Việt Nam truyền thống và hợp tác xã sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Giúp đỡ các trẻ bị bệnh tim: Ông Hưng, cũng như tôi, đều vẫn chưa thể hình dung được mức độ tiếp tục và mở
rộng các dịch vụ y tế xã hội mà Trung tâm hiện đang cung cấp cho số trẻ bị bệnh tim từ Thụy Sĩ trở về. Mặc dù có
một tài liệu nói về việc phát triển dự án này, tôi cũng đã đề xuất rằng dịch vụ hiện tại của Trung tâm có thể chỉ
đơn giản được bổ sung như một dịch vụ xã hội cho Bệnh viện Chợ Rẫy, nơi đang xây dựng lại khoa tim mạch của
họ. Tuy vậy ông Hưng muốn thảo luận chi tiết lại về việc này với ông Tùng ở Trung tâm vào ngày mai. Ngoài ra,
cũng cần làm rõ ca phẫu thuật sắp tới để đặt máy tạo nhịp tim sẽ được tiến hành như thế nào trong tháng này.
Nhập khẩu hàng cứu trợ cho Trung tâm Y tế Xã hội: Rõ ràng, do tình hình thiếu thốn quá lớn ở Việt Nam, nên
Hội Chữ thập đỏ rất ủng hộ chúng tôi nhập khẩu tất cả thuốc men, sữa và các nguồn hàng cứu trợ khác từ nước
ngoài. Đề xuất nhập khẩu hàng trực tiếp từ Bangkok về Saigon đã nhận được nhiều ý kiến thông cảm, bởi con
đường khác qua ngã Matxcơva và Hà Nội thì phức tạp hơn. Chữ thập đỏ đồng ý là hàng nhập khẩu sẽ thông qua
Chữ thập đỏ và sau đó được Chữ thập đỏ chuyển giao lại Trung tâm Y tế Xã hội.
Đại diện thường trực: Câu hỏi cần được làm rõ tùy theo liệu có một công việc cụ thể nào đòi hỏi sự hiện diện
thường xuyên của một người đại diện terre des hommes hay không. Ví dụ, sự hiện diện này có lẽ sẽ hữu ích trong
thời gian xây dựng. Tuy nhiên, không ai thực sự muốn quyết định câu hỏi đó vào lúc này. Tuy thế, cần lưu ý rằng
các điều kiện ở Hà Nội không thể là thước đo cho chính sách tương lai ở Sài Gòn, tức là của cả Việt Nam.
Đối tác trên hợp đồng: Câu hỏi ai nên là đối tác của terre des hommes trên hợp đồng và bộ nào sau này sẽ đứng
ra ký kết đã được trả lời một cách không dứt khoát. Mọi thứ chỉ ra rằng Hội Chữ thập đỏ vẫn sẽ ký các hợp đồng
trong tương lai, có nghĩa là nhiệm vụ liên hệ với các tổ chức quốc tế đã được giao cho Hội Chữ thập đỏ bởi bất kỳ
cơ quan chính phủ nào.
Số sữa đã được sử dụng ra sao: Với lý do phải trả lời các nhà tài trợ, tôi đã đặt câu hỏi về việc sử dụng các tấn
sữa bột. Sữa bột đã được đóng thành hộp và nhập vào tổng kho hàng cứu trợ của Hội Chữ Thập Đỏ, để phân phát
cho trẻ nhỏ cơ nhỡ, người bệnh, trẻ mồ côi ở các vùng kinh tế mới cũng như ở thành phố Sài Gòn.
Số tiền 150.000 Mark Đức sẽ sử dụng thế nào: Hội Chữ Thập Đỏ vẫn chưa có kế hoạch rõ ràng. Bs. Hưng cho
biết ông dự định sẽ sớm thảo luận với các trại trẻ mồ côi về việc sử dụng quỹ này. Tôi yêu cầu ghi cả hai điểm vào
biên bản cuộc họp.
Như mọi khi, cuộc trò chuyện diễn ra trong bầu không khí rất thân thiện và gần như là đồng đội, mặc dù không
phải là không có tính cách ngoại giao, rất tiếc là thường xuyên bị gián đoạn bởi các cuộc điện thoại và câu hỏi từ
văn phòng. Cả hai người đối thoại cũng ngập đầu trong những vấn đề khác. Ấn tượng chung vẫn là chủ yếu về đô
la, nhưng mặt khác, rõ ràng là không thể thực hiện điều này một cách đơn phương, mà phải có sự hợp tác nào đó
để tạo động lực cho các nhà tài trợ. Vì vậy mà các nhượng bộ cũng được thực hiện theo mong muốn của các nhà
tài trợ, miễn là chúng không đi ngược lại các nguyên tắc chung trong chính sách của chính phủ. Chẳng hạn, một
mặt người ta chỉ trích rằng 5 triệu đô la Mỹ mà Hội Chữ thập đỏ quốc tế hứa cho năm tới là khá ít, mặt khác người
ta cũng liên tục nhấn mạnh rằng Việt Nam dựa vào chuyên môn của các đại diện quốc tế. Có lẽ là một trong nhiều
ví dụ về phép lịch sự. Thực tế sau này mới đáng giá.
Tôi cũng được thông báo là một tiệc trà nhỏ để chia tay với tôi được dự kiến vào ngày thứ năm ở nhà Bs Thủ.
Không thể phủ nhận rằng các đại diện của Chữ thập đỏ cố gắng truyền đạt quan điểm của họ một cách ngoại giao
và gián tiếp, nhưng mặt khác họ rất cố gắng thể hiện thiện chí của mình và làm điều đó theo ý thích của các đại
diện từ nước ngoài. Terre des hommes cần phải trở thành một thứ ví dụ điển hình. Vì những vấn đề trong hợp tác
với Hội Chữ thập đỏ Quốc tế cho đến nay là khá lớn, và Làng trẻ SOS với những nguyên tắc cơ bản của nó thiếu
linh hoạt cho việc thiết kế dự án trong tương lai, nên có thể ví dụ về terre des hommes và các cơ hội hợp tác cũng
sẽ thúc đẩy các tổ chức khác chọn hợp tác với Hội Chữ thập đỏ theo cách tương tự, nhưng có lẽ còn mạnh hơn
nữa về mặt tài chính. Do sự hiện diện liên tục của terre des hommes tại Việt Nam, rõ ràng người ta mong đợi nhiều
từ sự hợp tác hơn là sự giúp đỡ vài chục nghìn đô la Mỹ từ các nguồn khác.
***
Sụp đổ và khởi đầu mới
Rüdiger Siebert nhận xét về Nhật ký Việt Nam của Walter Skrobanek
Rüdiger Siebert (1944-2009) là một nhà báo, nhà biên tập người Đức, từng làm việc cho đài Deutsche Welle và nhiều tờ báo khác ở Đức. Mối
quan tâm của ông là tình hình dân sinh ở châu Phi và Đông Nam Á, đặc biệt là Indonesia.
Cuộc chiến của ông cha? Tất nhiên rồi. Đã quá lâu rồi, những gì xảy ra ở Việt Nam vào những năm 1960 và 1970.
Điều đó trở nên rõ ràng với tôi một lần nữa sau một bài giảng gần đây. Tôi đã nói về Marx và Money và những
thay đổi ngoạn mục ở Việt Nam đương đại và chắc chắn là đã từng đưa tin về cuộc chiến trước đó, và tôi đã đề cập
đến chất độc màu da cam. Trong phần câu hỏi tiếp theo đó, một cậu thanh niên đã lên tiếng. Chất độc màu da cam
là gì? Tôi dừng lại, hít một hơi, và trước khi bắt đầu giải thích, tôi cảm ơn câu hỏi đã được đặt ra: rằng một người
trẻ ở đất nước này không chỉ sẵn sàng và tò mò quan tâm đến Việt Nam, mà còn đủ trung thực để bộc lộ lỗ hổng
kiến thức của mình với tư cách là người hỏi. Cả hai đều là ngoại lệ ngày nay.
Chất độc màu da cam ư? Cỏ từ lâu đã mọc trở lại ở Việt Nam, lớp cỏ lừa bịp được cho là bình thường. Việc trẻ em
sinh ra vẫn bị dị tật ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi chất độc da cam ngấm vào mạch nước ngầm, không phù hợp
với bức tranh thời đại mới, mà ngay cả các cơ quan chức năng ở Việt Nam hiện nay cũng thích tô vẽ bằng những
gam màu tươi sáng. Hãy làm rõ: Chất độc da cam là tên gọi chung của khoảng 70 triệu lít chất diệt cỏ hóa học có
chứa 170 kg dioxin nguyên chất, được rải từ năm 1961 đến năm 1971 trên Đường mòn Hồ Chí Minh và các vị trí
Việt Cộng ở Đông Dương, với hậu quả gây ung thư rõ ràng và tác hại làm hư hỏng vật chất di truyền để lại hậu
quả lâu dài trải qua nhiều thế hệ. Chất liệu quỷ quái đó được sản xuất tại các nhà máy hóa chất của Mỹ cũng như
của Đức và được thả từ máy bay Mỹ và máy bay của quân đồng minh Nam Việt Nam để làm lộ ra những nơi ẩn
náu của Việt Cộng.
Chất độc da cam là một cái tên quen thuộc đối với cả một thế hệ những người trẻ tuổi giật mình, phẫn nộ, biểu
tình công khai trên khắp thế giới, một cái tên để họ có thể gắn vào đó sự phản đối chiến tranh và phản đối sự can
dự của Mỹ. Ba mươi năm sau, một thanh niên, hiện bằng tuổi những người biểu tình hồi đó, hỏi chất độc màu da
cam là gì. Tôi cố gắng trả lời một cách bình tĩnh nhất có thể và thuật lại những hình ảnh đáng buồn tại một ngôi
làng hẻo lánh ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở đó, rất nhiều chất độc làm rụng lá đã được thường xuyên đổ lên đất
đai và con người. Ngày nay, số trẻ sinh ra bị khuyết tật về tinh thần và thể chất vẫn còn rất cao và rất có thể đó là
kết quả của chất độc đã xâm nhập vào cấu tạo gen của con người. Chiến tranh của cha ông vẫn còn gây thiệt hại
cho đám cháu và chắt; và hầu hết người dân ở Việt Nam không còn biết đến cái tên gọi chất độc da cam.
Việc đánh giá Việt Nam là một vấn đề về độ tuổi. Đối với những người thời '68, chiến tranh Việt Nam trở thành một
sự kiện quan trọng trong quá trình chính trị hóa của họ, một động lực trong quá trình nhận thức của họ, một bối
cảnh của những dự tính, ước mơ và hiểu lầm của họ. Các chiến tuyến đã rõ ràng. Một bên là giặc Mỹ, một bên là dân
tộc Việt Nam đấu tranh cho tự do, độc lập. Cuộc đấu tranh này có thể thể hiện qua câu hô Hồ-hồ-hồ-chí-minh một
cách ngắn gọn mà có hiệu quả qua phương tiện truyền thông. Từ quan điểm của cánh tả Đức, hy vọng về một thế
giới công bằng hơn đã được chuyển sang nước Việt Nam xa xôi. Truyền hình cung cấp hình ảnh miễn phí. Đó là cuộc
chiến tranh đầu tiên không chỉ diễn ra ở một nơi nào đó trên thế giới, mà – vào thời điểm đó với một độ trễ nhất
định – còn được chiếu lại bằng hình ảnh chuyển động và xúc động trên khung hình TV gia đình ở mọi nơi trên thế
giới. Đó là điều mới. Nó khiến những người ở nơi xa phải phấn khích và phẫn nộ. Nó kéo mọi người xuống đường. Vì
vậy, rất khác so với ngày nay, khi chỉ có một sự kiện thiên nhiên thảm khốc với khách du lịch phương Tây trong số
các nạn nhân cũng khiến truyền hình kích hoạt nhu cầu tự phát để giúp đỡ, để tham gia, muốn làm điều gì đó từ sự
bất lực vì không thể đưa người chết vì sóng thần trở lại cuộc sống. Chiến tranh Việt Nam cũng là một cuộc chiến
truyền hình trong bối cảnh hậu quả chính trị của sự phân cực của một giới trẻ châu Âu bị rúng động và một xã hội
đổ vỡ ở Mỹ. Những hình ảnh chiến tranh lúc đó chưa thể tráo đổi cho nhau và bị bào mòn như ngày nay.
Đối với những người như Walter Skrobanek, đó là một cuộc chiến không có bộ lọc truyền thông và không có khoảng
cách bảo vệ, thoải mái của những mơ tưởng chính trị ở đâu đó xa bom đạn. Ông ấy ở tại chỗ. Ông ấy là người muốn
giúp đỡ trực tiếp. Là nhân viên của terre des hommes, một tổ chức ra đời từ chiến tranh Việt Nam cách đây 40 năm,
trong sự bất lực của những người phương Tây không thể chấm dứt những hành động tàn bạo, nhưng muốn làm cho
cuộc sống nhiều hy vọng hơn một chút cho những người ít được bảo vệ nhất trong số các nạn nhân: trẻ bị thương tổn
do chiến tranh. Walter Skrobanek biết rõ chế độ thối nát, đạo đức giả, công giáo cố chấp ở miền Nam Việt Nam; ông
hiểu các mưu đồ của đám đồng minh của Mỹ và sớm hiểu rằng phương Tây không thể thắng cuộc chiến này. Chính phủ
Mỹ và các tướng lĩnh của họ, bị mắc kẹt trong cái lưới đen trắng của cuộc xung đột Đông-Tây, đã không thể thấy rằng
cuộc kháng chiến của cộng sản miền Bắc chống lại miền Nam bị phương Tây thống trị là một cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc tiếp nối việc lật đổ người Pháp, sau gần một thế kỷ đô hộ thực dân, đã bị nghiền nát năm 1954 tại cứ điểm Điện
Biên Phủ. Người Việt Nam cuối cùng cũng muốn trở lại làm chủ đất nước của mình. Điều này đã bị phủ nhận đối với
những người ở miền Nam bởi sự can thiệp của phương Tây và đẩy hàng trăm ngàn người vào cuộc đấu tranh ngầm
của Việt Cộng. Tuy nhiên, thực tế là Bắc Việt cũng đang tiến hành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm trong đó có lợi ích của
Liên Xô và các nước chư hầu của mình, và Trung Quốc cũng khăng khăng đòi ảnh hưởng của mình – tất cả những điều
này đã làm cho kịch bản của cuộc chiến trở nên phức tạp hơn so với những gì một số người có cảm tình và những
người biểu tình ở phương Tây muốn thừa nhận.
Walter Skrobanek thuộc số những người thực tế. Ông ấy đến Sài Gòn không phải như một kẻ mới đến ngơ ngác. Nhiều
năm trước đó, ông đã nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo và chính trị của Đông Nam Á và đã hoàn thành bằng tiến sĩ về
Phật giáo chính trị ở Thái Lan. Cuộc sống và công việc của ông gắn bó chặt chẽ với châu Á. Với người vợ Thái Lan
Siriporn, ông không chỉ được đồng hành cùng một người bạn đời đến Sài Gòn để làm việc tại terre des hommes, mà còn
bởi một người đồng đội sáng suốt, tận tụy với xã hội vì sự cân bằng và công bằng, người luôn truyền đạt sự nhạy cảm Á
đông từ kinh nghiệm và kiến thức của bản thân và có thể làm sáng tỏ góc nhìn từ con mắt của người Á đông. Sau nhiều
năm bạo tàn, sự kết thúc chiến tranh, dù đạt được bằng cách nào, cũng là sự kết thúc của đau khổ. Người Mỹ đã rút
quân vào năm 1973. "Hiệp định lập lại hòa bình ở Việt Nam" đã được ký kết trước đó. Việc quân đội Bắc Việt tiến đánh
Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975 được cảm nhận là một hành động giải phóng. Có rất nhiều hy vọng về một khởi đầu
mới hòa bình dưới sự lãnh đạo thống nhất mang dấu ấn cộng sản.
Walter Skrobanek kể lại những điều này trong nhật ký của ông về những ngày đó vào tháng 4 năm 1975. Các trang
giấy nằm trong ngăn kéo hàng chục năm. Ông đã dành việc xuất bản cho ngày nghỉ hưu của mình. Trong những
tháng sau khi rời công việc tại terre des hommes, ông muốn điểm lại và xử lý những tài liệu phong phú mà ông đã
thu thập trong nhiều chuyến đi. Tư liệu cần được xem xét và đánh giá trong yên tĩnh và có khoảng lùi. Ông muốn để
lại một thứ gì đó từ kinh nghiệm dày dặn của mình và sẽ có giá trị trong nhiều năm tháng về sau. Walter Skrobanek
không còn thời gian để tự mình tuyển chọn. Ông qua đời tại Bangkok vào ngày 9 tháng 10 năm 2006, chỉ vài tháng
sau sinh nhật lần thứ 65 của mình.
Vợ ông là Siriporn rà soát lại các tài liệu lưu trữ. Nhật ký từ Sài Gòn là một trong số đó. Đây là một trong những bằng
chứng đương thời và nguồn lịch sử giữ cho lịch sử cận đại sống mãi thông qua mối quan tâm trực tiếp của người ghi
chép. Nhiều thập kỷ sau, những căng thẳng, nghi ngờ và gian khổ vẫn còn nguyên vẹn một cách đáng ngại. Trong
trường hợp này, đây là một ví dụ điển hình về cách mà, trong vòng vài ngày, một hy vọng rụt rè về hòa bình biến
chuyển thành một nhận thức về những lạm dụng quyền lực mới. Thật là đáng ngạc nhiên khi Walter Skrobanek, một
người muốn đảm bảo sự sinh tồn cho các con “của mình” với sự giúp đỡ của terre des hommes, đã nhanh chóng nhìn
thấu, qua những diễn biến xảy ra trực tiếp, những gì các ông chủ mới và đồng bọn đang làm. Các trại cải tạo, sự ra đi
hàng loạt của thuyền nhân, các hành động tố giác đều là những sự kiện và diễn biến của những năm sau đó. Nhưng
Walter Skrobanek và vợ là Siriporn đã nhanh chóng nhận ra lối cai trị kiểu cộng sản đó dựa trên đàn áp và loại trừ.
Ông viết về điều đó trong tình trạng đau buồn tức thời và trong vai một nạn nhân của tham nhũng và lừa dối. Cuốn
nhật ký trở thành một chuỗi các bức ảnh và cho thấy những diễn biến thông qua chiếc kính lúp của sự tham gia tích
cực. Ngày qua ngày, mức độ thất vọng trở nên rõ nét hơn. Siriporn phải rời Sài Gòn trước tiên, sau đó là Walter
Skrobanek.
Năm 1976, ông thành lập văn phòng terre des hommes tại Bangkok, từ đó điều phối tiếp các dự án ở Đông Nam Á. Nó
trở thành trung tâm của các hoạt động terre des hommes – và cũng là trung tâm của một mạng lưới rộng lớn của
nhiều đối tác và bạn bè. Hơn ai hết, Walter Skrobanek đã theo dõi sự phát triển chính trị - xã hội của Đông Nam Á
liên tục trong nhiều thập kỷ. Ông liên kết chặt chẽ với các tổ chức đối tác và lấy thông tin từ tận lớp dưới cùng, tức là
nơi mà người dân thấp cổ bé miệng chịu tác động của những chính sách lớn. Ông đã tới lui thăm họ nhiều lần, đã
thực hiện những cuộc hành trình vất vả không chỉ để đào sâu những hiểu biết của mình từ góc nhìn của thủ đô, mà
còn để tìm hiểu những vùng khó tiếp cận mà terre des hommes có thể hợp tác và cần phải hợp tác.
Trong những chuyến đi Đông Nam Á, tôi thường đến thăm Walter Skrobanek và được tiếp đón ở nhà ông. Ông đưa
đến những đối tác có nhiều thông tin, giúp hiểu rõ bối cảnh và mở đường cho tôi đến làng trẻ bên sông Kwai. Ở đó,
tôi đã gặp gỡ những đứa trẻ bị ngược đãi và lạm dụng mà số phận của chúng đã cung cấp chất liệu cho quyển tiểu
thuyết của tôi “Đảo trên sông Đen – Câu chuyện về tuổi thơ bị bán đứng ở Thái Lan". Nhân đây: Câu chuyện vẫn còn
trong bộ "Sách cho một Trái đất của lòng nhân đạo" do terre des hommes xuất bản và rất tiếc là vẫn còn mang tính
thời sự với chủ đề về lao động trẻ em.
Tháng 11 năm 1997, chúng tôi đã cùng nhau thăm dò tỉnh Aceh, nơi xảy ra khủng hoảng ở phía bắc Sumatra của
Indonesia. Lúc đó là lần thứ hai tôi bị cấm nhập cảnh vào Indonesia. Các nhà báo chỉ trích chế độ Suharto không
được hoan nghênh ở vương quốc 17.000 hòn đảo. Aceh là một khu vực căng thẳng do sự phản kháng của các chiến
binh Hồi giáo chống lại sự giám sát và bóc lột của chính quyền trung ương và quân đội. Tôi sẽ không quên cảnh đó:
Tôi bay từ Singapore đến Medan, đi vào lãnh thổ bị áp bức của Suharto qua cửa sau, có thể nói như vậy. Cách đó đã
thành công. Walter Skrobanek đến trước và đón tôi tại sân bay. Tôi rất biết ơn. Cái ôm thân thiện mang lại sự an ủi
trong tinh thần thông đồng. Trong những tuần sau đó, chúng tôi đã gặp gỡ các nhà hoạt động chống lại sự áp bức từ
Jakarta, những người đàn ông và phụ nữ đã đấu tranh không phải bằng khẩu súng mà với tinh thần khai sáng. Họ đã
tham gia vào các dự án cấp cơ sở về giáo dục và giáo dục sức khỏe, về hỗ trợ phụ nữ và trẻ em lang thang. Đó là một
chuyến đi căng thẳng. Một số cuộc họp đã diễn ra trong hoàn cảnh thông đồng. Walter Skrobanek có nguy cơ bị cảnh
sát và quân đội bắt giữ. Vào thời điểm đó, những gương mặt da trắng như chúng tôi không phải là nhiều ở Aceh. Lời
giải thích rằng chúng tôi chỉ là những khách du lịch vô hại sẽ không qua mặt được một cuộc kiểm tra chặt chẽ.
Walter Skrobanek thường xuyên ở trong những tình huống như vậy. Điều khiến tôi luôn ngạc nhiên là ông không
rơi vào thất vọng, điều mà lẽ ra đã có đủ lý do để xảy ra sau những trải nghiệm của ông ở Việt Nam.
Hơn ba thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, giới lãnh đạo ở Hà Nội thực hiện việc duy trì quyền lực cộng sản và
đảm bảo không gian kinh tế cho các lợi ích tư bản chủ nghĩa có sự kiểm soát của nhà nước, qua đó lại làm lợi cho số
cán bộ thân cận. Các nhà phê bình gọi họ là "tư bản đỏ". Chiến trường của những năm trước đã trở thành thị trường
của ngày hôm nay, và hàng hóa vẫn được phân phối không công bằng. Hồ Chí Minh nay chỉ là một thần tượng trên
bàn thờ xã hội chủ nghĩa trong nước. Đồng tiền ngự trị. Walter Skrobanek đã theo dõi sự phát triển đó một cách sát
sao. Một văn phòng terre des hommes được thành lập trở lại tại Sài Gòn, nay do một nhân viên người Việt Nam quản
lý và hỗ trợ các dự án giúp trẻ em có tương lai tốt đẹp hơn. Kể cả số trẻ em bị dị tật là những nạn nhân đời sau của
chất độc da cam. Walter Skrobanek không bao giờ lãng phí nhiều thời gian cho các cuộc tranh luận lý thuyết cơ bản,
mặc dù chắc chắn ông dư sức với năng lực trí tuệ của mình. Walter Skrobanek thuộc loại người, sau khi một ngôi
nhà bị sụp đổ, không ngồi đó trên đống đổ nát để than khóc vì nghịch cảnh, mà chìa tay ra tìm đồng đội và vận động
họ cùng xây một ngôi nhà mới với nhiều phòng, mà ở đó những kẻ bị thiệt thòi và các nạn nhân của những tiến bộ
đáng ngờ sẽ có chỗ ở cho họ. Điều này cũng xảy ra như vậy cho Việt Nam.
Tư liệu
Trích thông tin từ terre des hommes dành cho các nhà tài trợ năm 1977
Việt Nam - Đóng góp của chúng tôi vào công cuộc tái thiết và hòa bình thế giới
Tại Việt Nam, các dự án terre des hommes đã phát triển theo lịch sử. Có liên quan trực tiếp đến trẻ em, các dự án
đó thể hiện hai hướng giúp đỡ quan trọng trong lĩnh vực phục hồi chức năng, cụ thể là:
- phục hồi trẻ mồ côi suy dinh dưỡng
- phục hồi chức năng trẻ bại liệt.
Cả hai dự án hiện là thành phần được kết hợp chặt chẽ vào kế hoạch khung của Bộ Lao động-Thương binh và Xã
hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Những dự án mà các đại diện của terre des hommes châu Âu đã chung tay giúp hình thành và hỗ trợ từ cuối những
năm 1960 giờ đây hoàn toàn nằm trong tay người Việt Nam. Phần lớn các nhân viên chuyên môn và nhân viên
khác của Trung tâm từng thuộc về đội ngũ terre des hommes trước năm 1975. Ở Việt Nam, chủ trương của terre
des hommes "giúp người Việt tự lực" đã được thực hiện. Cái gọi là Việt hóa các dự án đã hoạt động hiệu quả một
cách đáng ngạc nhiên, các mục tiêu vẫn không thay đổi và phù hợp với điều lệ của terre des hommes. (...)
Mốc thời gian
1971
Hiệp hội quốc tế terre des hommes mở ra Trung tâm Y tế Xã hội ở Sài Gòn cũ với các nhiệm vụ sau đây :
Giúp đở trẻ em bị bệnh: Hàng ngày có trên 100 bệnh nhi từ các gia đình nghèo được điều trị miễn phí tại phòng
khám. Thuốc được phát miễn phí, kể cả sữa bột và thực phẩm cho trẻ nhỏ. Đội ngũ terre des hommes bao gồm hai
bác sĩ người Việt và hai y tá người Việt và người Đức.
Giúp đỡ trẻ suy dinh dưỡng: Điều trị nội trú cho 80 trẻ suy dinh dưỡng đến từ các trại trẻ mồ côi ở miền Nam
Việt Nam và các gia đình nghèo.
Theo dõi chăm sóc: Nhân viên người Việt và người Đức tiếp tục theo dõi chăm sóc về y tế, xã hội, giáo dục và
nghề nghiệp cho số trẻ và thiếu niên Việt Nam hồi hương từ châu Âu. Toàn bộ chi phí theo dõi chăm sóc do terre
des hommes cung cấp.
1972
terre des hommes bắt đầu các đàm phán tại Việt Nam để xây dựng một trung tâm phục hồi chức năng dành cho trẻ
và thiếu niên bại liệt tại Đà Lạt (Việt Nam).
Nhóm trẻ cuối cùng của chiến dịch giải cứu được chuyển từ Việt Nam sang Cộng hòa Liên bang Đức. Lần này chỉ
bao gồm tám trẻ bị bại liệt do thương tích chiến tranh mà hy vọng sống sót là cực kỳ thấp do thiếu khả năng điều
trị tại nước nhà.
1973
Trung tâm Y tế Xã hội ở Sài Gòn mở rộng phạm vi hoạt động. Nhân viên chuyên môn về xã hội học, giáo dục và y
tế đến từ các nước Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Sĩ và Pháp thực hiện công tác terre des hommes ở Việt Nam
theo một khái niệm mới. Công tác bao gồm :
Chương trình cô nhi viện
Các đội y tế - xã hội đến thăm đều đặn hơn 20 cô nhi viện ở miền Nam Việt Nam.
Các nhân viên chuyên môn người châu Âu tiến hành công tác đào tạo và bồi dưỡng tại chỗ cho nhân viên cô nhi
viện kéo dài nhiều tháng.
Các điều dưỡng người Việt và người Âu của Trung tâm đến làm việc tại cô nhi viện trong nhiều tháng và cố gắng
cải thiện tình hình tại đấy. Vì những lý do đó, terre des hommes trả một phần lương cho nhân viên cô nhi viện, tài
trợ cho những thay đổi cần thiết về phòng ốc tại cơ sở và tham gia vào các chi phí duy trì những tiện nghi đó.
Giúp đỡ các gia đình nghèo
Đây là một chương trình thay thế cho công tác cô nhi viện và xuất phát từ nhận xét là nhiều gia đình nghèo đông
con phải bỏ con của họ cho cô nhi viện chỉ duy nhất vì lý do kinh tế. Chương trình chủ yếu mang đến sự giúp đỡ
vật chất cho các gia đình, nhưng bên cạnh đó cũng có các hoạt động về giáo dục, hướng dẫn và tư vấn.
Các kiến trúc sư người Việt bắt đầu lên kế hoạch cho việc xây dựng trung tâm phục hồi chức năng trẻ bại liệt tại
Đà Lạt.
Áp phích của terre des hommes năm 1975: Trẻ em Việt Nam, bị thương trong chiến tranh, bị bỏ quên khi hòa bình.
terre des hommes cứu giúp.
1974
Sau gần bốn tháng thi công, giai đoạn 1 xây dựng trung tâm phục hồi chức năng Đà Lạt được hoàn tất. Số trẻ đến
tuổi đi học và một số thiếu niên ở Trung tâm Giáo dục Bad Oeynhausen (Cộng hòa Liên bang Đức) được hồi
hương và đưa đến trung tâm mới ở Việt Nam. Các chuyên gia người Âu hợp tác chặt chẽ với đồng nghiệp người
Việt để tiếp tục chăm sóc số trẻ đã hồi hương về Việt Nam.
Xưởng chỉnh hình gắn với Trung tâm (được tổ chức bởi một kỹ thuật viên chỉnh hình người Thụy Sĩ) bắt đầu hoạt
động. Ngoài số trẻ hồi hương, Trung tâm Đà Lạt cũng tiếp nhận đối tượng mới là trẻ gái và trai bị bại liệt ở trong
nước. Do không đủ phương tiện chăm sóc, ngay cả một bé gái từ Campuchia cũng được nhận vào Trung tâm Đà
Lạt. Toàn bộ chi phí xây dựng và vận hành do terre des hommes cung cấp bằng tiền quyên góp.
1975
Nhân viên và trẻ tại trung tâm phục hồi chức năng Đà Lạt bị chính quyền lúc đó buộc phải di tản về Sài Gòn và
được tiếp nhận tạm trú tại Trung tâm Y tế Xã hội ở Sài Gòn.
Toàn bộ hệ thống y tế ở miền Nam Việt Nam sụp đổ, các bác sĩ và y tá rời bỏ các bệnh viện.
terre des hommes đưa 13 trẻ liệt nặng bay sang Lào để chăm sóc y tế. Số này được chăm sóc và điều trị bởi các
nhân viên chuyên môn người Việt và người Âu tại một cơ sở nhỏ tạm thời của terre des hommes tại Vientiane.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến 30 năm tại Việt Nam kết thúc với chiến thắng của quân đội cộng sản. Sài
Gòn trở thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngay cả trong giai đoạn cách mạng, công tác của terre des hommes vì trẻ cơ nhỡ ở Việt Nam vẫn tiếp tục.
Giữa tháng 5, việc tiếp tục các hoạt động của terre des hommes tại Việt Nam được thảo luận tại Hà Nội giữa các đại
diện của Ủy ban Hòa bình của Việt Nam và ủy viên terre des hommes châu Âu.
Kết quả: Việt Nam vẫn quan tâm đến việc hợp tác với terre des hommes theo tinh thần của bản Điều lệ.
Do việc tổ chức lại hệ thống chăm sóc sức khỏe và xã hội ở miền Nam Việt Nam, Trung tâm Y tế Xã hội ở Thành
phố Hồ Chí Minh có sự thay đổi về trọng tâm: Nhiệm vụ đầu tiên của Trung tâm terre des hommes nay là phục hồi
chức năng trẻ mồ côi suy dinh dưỡng.
Đến cuối năm, nhân viên người Âu tự nguyện rời Việt Nam. Dự án được bàn giao lại cho các đối tác người Việt
Nam.
Bà Huỳnh Thị Mai Xuân, một bác sĩ người Việt, tiếp nhận các nhiệm vụ điều phối công tác terre des hommes tại
Việt Nam.
Ba tháng sau ngày cách mạng, số 13 trẻ bại liệt và hai nhân viên đồng hành người Việt được tổ chức hồi hương về
Việt Nam với sự giúp đỡ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Hiệp hội quốc tế terre des hommes chuyển một chuyến hàng gạo một lần (200.000 Mác Đức) cho các cô nhi viện
ở miền Nam qua Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
1976
Trung tâm terre des hommes ở thành phố Hồ Chí Minh nay tiếp nhận trên 150 trẻ mồ côi suy dinh dưỡng. Chúng
tôi nhận được đều đặn các báo cáo hàng quý từ Trung tâm. Các cuộc đàm phán diễn ra vào tháng 10 tại Hà Nội
giữa terre des hommes và Ủy ban Hòa bình của Việt Nam về việc tiếp tục hợp tác.
Kết quả: terre des hommes vẫn là một đối tác được chào đón để hỗ trợ các chương trình dành cho trẻ mồ côi và
trẻ khuyết tật thể chất.
Chú thích từ vựng
Ánh : Nhân viên công tác xã hội của tdh, phụ trách ‘Chương trình Gia đình Nghèo’.
Áo bà ba : áo vạt ngắn có tay, thường bằng vải sợi bông.
Áo dài : áo vạt dài truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Ardin, Michael : nhân viên của tdh Thụy Sĩ, kỹ thuật viên vật lý trị liệu ở Trung tâm Đà Lạt.
Ariel, Bs : bác sĩ, nhân viên người Pháp gốc Ấn của tdh.
Bác Hồ : tên gọi tôn kính và phổ biến dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bảo Lộc : thành phố của tỉnh Lâm Đồng vùng Tây Nguyên, phía đông-bắc của Sài Gòn, ở nửa đường đi Đà
Bến Lức Lạt.
: thị trấn thuộc tỉnh Long An, nơi có một cô nhi viện.
Bích Thủy : Nhân viên của tdh, phụ trách hành chính quản trị.
Biên Hòa : Thủ phủ của tỉnh Đồng Nai, nơi có căn cứ không quân Mỹ cùng tên, 30 km phía đông Sài Gòn.
Bình, Nguyễn Thị Bình: Bà bộ trưởng ngoại giao của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời.
Bình Đông : địa phương thuộc quận 8 của Sài Gòn, nơi tdh có tổ chức một nhà trẻ.
Bộ đội : nghĩa là quân lính, lực lượng vũ trang của MTGP và của Bắc Việt.
Bùi Giáng : (1926-1998) nhà văn, nhà thơ, có quen biết Walter Skrobanek.
Bùi Thị Mè : Thứ trưởng Bộ Y tế, Xã hội và Thương binh của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
Cà Mau : Tỉnh tận cùng phía Nam của Việt Nam.
Châu Đốc : Thành phố thuộc tỉnh An Giang, ở thượng nguồn đồng bằng sông Cửu Long.
Chị Ba : Người giúp việc ở nhà Walter Skrobanek ở Sài Gòn.
Chị Mai : cán bộ MTGP.
Chợ Lớn : quận người Hoa ở Sài Gòn.
Chùa Bà Thiên Hậu: Chùa thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Bà được người Quảng Đông gọi là “A Phò” (Đức Bà). Người
Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là "Đạo Mẫu". Chùa được xây dựng khoảng năm 1760, hiện
tọa lạc tại số 710 đường Nguyễn Trãi, Quận 5, khu Chợ Lớn.
Côn Sơn : Côn Đảo, đảo ở Biển Đông, cách bờ biển đồng bằng sông Cửu Long 140 km và sử dụng làm nhà
tù từ thời Pháp thuộc.
: Chính phủ cách mạng lâm thời của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, cơ quan chính trị chính thức
CPCMLT của Mặt trận Giải phóng trong thời kỳ chế độ Thiệu.
Diệu Quang : cô nhi viện được tdh hỗ trợ, nằm ở vùng Phú Lâm, Sài Gòn.
Dung : nhân viên tdh, phụ trách Nhà trẻ Bình Đông.
Đà Lạt : thủ phủ của tỉnh Lâm Đồng, cách Sài Gòn 300 km về phía đông-bắc.
Đà Nẵng : Thành phố cảng lớn ở Nam Trung bộ Việt Nam, bên sông Hàn, cách Sài Gòn 961 km về phía bắc.
Đồng : đơn vị tiền tệ Việt Nam.
Đưng : nhân viên của tdh, chồng của y tá Maria.
Gallasch, Börries : nhà báo, thông tín viên của tờ Tấm Gương (Spiegel).
Gia Định : tên của thành lũy xây dựng vào đầu thế kỷ 18 để củng cố nền cai trị của Việt Nam, bao gồm Sài
Gòn hiện nay.
Hiếu : nhân viên của tdh, nhân viên công tác xã hội, gốc ở Đà Nẵng.
Hoa, Bs. Dương Quỳnh Hoa: Bà bộ trưởng Bộ Y tế, Xã hội và Thương binh thuộc Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
Hòa Hảo : Tông phái Phật giáo thành lập năm 1939 ở miền Nam Việt Nam. Một số phe phái Hòa Hảo thành
lập đơn vị vũ trang bất hợp pháp và hoạt động mạnh ở vùng Đồng bằng Cửu Long trong các năm
1950.
Học tập : học tập chính trị.
Huế : kinh đô cũ ở miền Trung, nằm khoảng nửa đường giữa Sài Gòn và Hà Nội.
Hưng, Bs : Ủy viên trung ương của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, cán bộ cấp cao của Bộ Y tế.
Huỳnh Tấn Phát : Chủ tịch nước Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969-1976).
Jean-Pierre : nhân viên của tdh, bác sĩ người Pháp.
Kiều, Truyện Kiều: Tên đầy đủ là “Đoạn Trường Tân Thanh”, thường gọi “Truyện Kiều”, truyện thơ kinh điển của
Việt Nam do Nguyễn Du (1766-1820) sáng tác.
Khmer Đỏ : Phong trào giải phóng dân tộc ở nước Campuchia.
: đơn vị khu phố.
Khóm
Khương : nhân viên hành chính kỳ cựu của tdh, làm công tác phiên dịch.
Kim Thanh : nhân viên của tdh, y tá trưởng, phụ trách Nhà nôi chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng.
Kon Tum : thủ phủ của tỉnh cùng tên ở vùng Tây Nguyên, sát với Lào và Campuchia.
Kutin, Helmut : người xây dựng Làng Trẻ SOS đầu tiên ở Việt Nam năm 1967 và phải rời đất nước năm 1976.
Lâm Tỳ Ni : cô nhi viện ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Lộc Uyển : cô nhi viện ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Long Bình : địa điểm cách Sài Gòn 35 km về phía bắc, trước đây có tổng kho và nhà tù của quân đội Mỹ.
: thị trấn cách Sài Gòn 32 km về phía đông, trước đây thuộc tỉnh Phước Tuy, nay thuộc tỉnh Đồng
Long Thành
Nai.
Long Xuyên : thủ phủ của tỉnh An Giang, nằm ở thượng nguồn đồng bằng sông Cửu Long.
Margrit Rohbani: nhân viên của tdh, nhà giáo dục xã hội và giám đốc Trung tâm phục hồi chức năng trẻ bại liệt ở
Đà Lạt.
Maria Đưng : nhân viên của tdh, nữ y tá người Đức.
Mỏ Cày : cô nhi viện ở đồng bằng sông Cửu Long.
MTGP : Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Mummenday, Dietrich: nhà báo, thông tín viên châu Á của nhật báo tiếng Đức “Thế Giới” (Die Welt) ở Sài Gòn.
Nam, Trương Xuân Nam: dược sĩ, tổng thư ký Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.
Ngọc : nhân viên của tdh, phụ trách phòng dược ở Trung tâm.
Ngụy : từ ngữ tiêu cực gán cho người của chế độ cũ.
Nguyễn Hữu Thọ: Chủ tịch của MTGP và Chủ tịch Hội đồng cố vấn của CPCMLT (1969-1976).
: bộ phận chăm sóc trẻ nằm nôi, dự án tdh.
Nhà nôi
Nhiệm, Ba Nhiệm: thủ trưởng của Trung tâm Y tế Xã hội do chính quyền miền Nam Việt Nam bổ nhiệm.
Phạm Văn Đồng : Thủ tướng của Bắc Việt.
Phật Huệ : cô nhi viện.
: địa điểm ở quận 6, Sài Gòn.
Phú Lâm
Phú Mỹ : cô nhi viện và nhà dưỡng lão ở vùng Thị Nghè, Sài Gòn.
Phú Nhuận : quận ở Sài Gòn, gần sân bay.
Phường : đơn vị dưới quận ở thành phố, xem thêm Xã.
Quận : đơn vị hành chính cấp thành phố ở Sài Gòn.
Quảng Ngãi : tỉnh thuộc Trung bộ, nơi có một cô nhi viện.
Quảng Trị : tỉnh duyên hải ở Trung bộ Việt Nam, gần Huế.
Roten, Milo : đại biểu của tdh ở Đức.
: nay là Thành phố Hồ Chí Minh.
Sài Gòn
Sài Gòn Giải Phóng: nhật báo, cơ quan của MTGP.
Sửu : nhân viên của tdh Đà Lạt, theo số trẻ bại liệt từ Vientiane về Việt Nam.
Tấn : nhân viên xã hội của tdh.
Tân Phú : quận của Sài Gòn.
Terzani, Tiziano : thông tín viên người Ý của tờ Spiegel.
: nhật báo ở Sài Gòn, thành lập trước ngày Giải phóng và hoạt động lại sau đó cho đến năm 1981.
Tin Sáng
Thiệu : Tổng thống của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam từ 1965 đến 1975.
Thủ, Bs Nguyễn Văn Thủ: Chủ tịch của Hội Chữ thập đỏ nước Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1973-1976).
Trần Văn Trà : Thượng tướng, tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam.
: tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Hòa cũ (nay là tỉnh Bến Tre) nằm ở đồng bằng sông Cửu Long; nơi đó có
Trúc Giang một cô nhi viện.
Trung Nhứt : Phường thuộc Quận Phú Nhuận, Sài Gòn; nơi tọa lạc Trung tâm Y tế Xã hội terre des hommes.
: khi viết hoa có nghĩa là Trung tâm Y tế Xã hội của tdh.
Trung tâm
Trung tâm giáo dục Đà Lạt: Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ bại liệt ở Đà Lạt.
Trường Chinh : Chủ tịch nước của Bắc Việt.
: thủ phủ của tỉnh cùng tên, ở Nam Trung bộ.
Tuy Hòa
Tùng : nhân viên của tdh, nhân viên công tác xã hội.
Tường : nhân viên của tdh, điều phối viên văn phòng tdh Đà Nẵng.
UBQQ : Ủy ban quân quản, chính quyền quân sự ở miền Nam Việt Nam sau giải phóng.
UPI : United Press International, cơ quan thông tấn nước ngoài.
Vĩnh Hưng, Bs : cán bộ cấp cao của Bộ Y tế.
Vũng Tàu : thủ phủ của tỉnh cùng tên, cách Sài Gòn 95 km về phía đông-nam.
Wulff, Erich : nhà tâm thần học xã hội và nhân chủng người Đức. Năm 1968 một tác phẩm của ông được xuất
bản dưới bút danh Georg W. Alsheimer bởi nhà xuất bản Suhrkamp là "Vietnamesische Lehrjahre"
(tạm dịch: Những năm dạy học ở Việt Nam).
Xã : đơn vị hành chính dưới quận ở nông thôn; xem Phường.
Các nhân chứng đương đại là một loại phóng viên rất đặc biệt:
giữa tính thời sự của bài báo và sự cô đọng cần thiết của những
suy xét lịch sử, họ cung cấp cho chúng ta một đoạn trích về thân
phận con người bằng cách ở đúng nơi, đúng lúc, thường không
phải hoàn toàn tự nguyện, và bằng cách dẫn chúng ta vào sự tham
gia của chính bản thân họ và vào quá trình sáng tạo ra chính sự
mô tả bằng hồi tưởng…
Nhật ký của Walter Skrobanek, bắt đầu tại Sài Gòn vào ngày 28
tháng 4 năm 1975, rõ ràng xuất phát từ linh cảm chắc chắn rằng
lịch sử đang hình thành và xảy ra xung quanh ông…
Phẩm chất đặc biệt nhân văn và chính trị trong "tinh thần đoàn kết
có phê phán" của Walter Skrobanek, cũng là một trong những
thành tựu xuất sắc của cánh tả Đức, và cái nhìn sâu sắc và chính
xác của ông về tình hình biến động gay gắt và then chốt ở Việt
Nam đã thúc đẩy cả hai chúng tôi với tư cách là biên tập viên đưa
tập nhật ký này đến các độc giả ngày nay.
Peter Franke Dr. Peter J. Bumke
Quỹ Châu Á, Essen Viện Goethe, Việt Nam