The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-10-29 20:41:43

Ngô Vĩnh Long Thành Phần Thứ Ba

Ngô Vĩnh Long Thành Phần Thứ Ba

Tưởng nhớ Ngô Vĩnh Long

Mùa thu vắng Anh

22:39 (giờ Paris) thứ tư 11 tháng 10.2022, nhận được dòng thư ngắn của Ngô Vĩnh
Long gửi cho bạn bè:

“Tôi bị ung thư gan và tràn lan khắp người. Bác sĩ nói sẽ sống một vài tuần
nữa thôi. ”
Chiều hôm sau, tin từ cô sinh viên làm luận án tiến sĩ với Long: Thầy Long đã mất
sáng nay, 06:20 (giờ miền Đông Hoa Kỳ) ở bệnh viện.
Đầu tháng 10.2022 anh thông báo trên trang FB của mình:
“Xin báo cáo với bà con, bạn bè, là tại sao lâu rồi mà tôi không vào FB. Tôi
không muốn bà con lo giùm, nhưng nghĩ lại không biết lý do lại càng lo.

“Từ đầu tháng 9 nầy mắt trái của tôi tự nhiên không thấy được vì như có một
cái màn che. Đi 2 văn phòng bác sĩ mắt. Các dụng cụ của văn phòng đầu, tuy
khá tối tân, không nhìn qua sâu được đến võng mạc (retina). Họ giới thiệu đến
bác sĩ chuyên về võng mạc và viêm màng mạch nho (uveitis). Sau khi khám gần
hai tiếng đồng hồ ngày 16 vừa qua, họ nói là bị viêm rất sâu phía sau tròng
mắt, nhưng họ không biết lý do. Họ cho đi thử máu (16 ống máu được hút) và
chụp X-ray phổi. Phổi bên phải bị sưng một đường ống bề ngang là 9mm. Kết
quả thử máu đã về ngày 23 tháng 9 và tôi đã gặp lại ông bác sĩ chuyên về võng
mạch ngày 27. Lần nầy máy rọi qua mắt thấy được chút xíu võng mạch và có
chụp ảnh, nhưng họ vẫn không biết nguyên nhân nên đã cho đi thử máu lần 2
và hẹn với bệnh viện làm CAT-scan phổi tuần tới để xem rõ là viêm phổi như
thế nào. Họ trấn an là sưng phổi đường ống thì không phải là ung thư, đặc biệt
là vì tôi chưa bao giờ hút thuốc lá trong đời.

“Tôi vẫn phải đi dạy và làm bao việc khác, nhưng đang bị ho nhiều, thớ thịt
bán thân bên phải bị nhức và yếu cho nên hiện tôi đi không được vững lắm.
Không biết có phải vì ảnh hưởng của viêm mắt hay viêm phổi không. Mắt thì
đang tạm dùng loại thuốc nhỏ tên gọi là "difluprednate," một lọ bé tí chưa
bằng khúc trên của ngón tay cái mà 250 đô! Mỗi ngày nhỏ 4 giọt thôi và tối đa
là 10 ngày thì hết một lọ. Nhưng hầu hết các tiệm bán thuốc không trữ thuốc
nầy vì các công ty bảo hiểm không trả tiền và bệnh nhân phải tự trả lấy. Ngày
hôm kia văn phòng bác sĩ nầy phải gọi đến 10 tiệm bán thuốc mới tìm được
một chỗ còn 4 lọ. Văn phòng bác sĩ đặt cho tôi thêm 10 lọ nữa. Có nghĩa là họ
nghĩ phải đến khoảng 150 ngày nữa mắt trái tôi mới khỏi, nếu không dùng các
thứ thuốc khác hay phải mổ bằng tia laser.

“Cái khổ là mùa thu nầy lá cây sẽ rất rực rỡ, nhưng tôi không biết tôi có thể đi
chụp ảnh hay không. Vả lại mắt trái là mắt tốt của tôi và tôi quen dùng mắt
trái để chụp ảnh. ”
Như vậy là suốt một tháng trời, các bác sĩ chuyên môn về mắt và phổi chăm chú vào
chuyên môn của mình, không xét tới buồng gan, nguồn gốc của các biến chứng. Khi
tìm ra căn nguyên thì đã quá muộn. Hơn một ngày đêm, tôi oán trách họ, nhưng rồi
nghĩ lại, có lẽ sự đau xót đã dẫn tới trách oan: ung thư gan, dù phát hiện sớm hơn, y
học hiện vẫn còn chịu thua. Bạn chúng tôi, cũng tên Long – anh Nguyễn Thành Long,
kỹ sư cầu đường – tháng 6.2003 khám bệnh tổng quát, sức khỏe tốt, tháng 9 phát
bệnh, ba tháng sau từ trần.

*

Công trình nghiên cứu sử học và phát triển (Việt Nam, Đông Nam Á) của Ngô Vĩnh
Long, đã và sẽ có những người có thẩm quyền giới thiệu và đánh giá. Tiểu sử của
anh, từ thuở ra đời ở Vĩnh Long (quê cha ở Từ Sơn, Bắc Ninh ; quê mẹ, xứ Huế), lớn
lên ở khu Bàn Cờ, Sài Gòn, đến những cuộc biểu tình năm 1964 chống “Hiến chương
Vũng Tàu”, đến những giảng đường và thư viện đại học Harvard (anh là sinh viên
Việt Nam đầu tiên trúng tuyển trường này, rồi bảo vệ luận án tiến sĩ), những năm
miệt mài đấu tranh chống chính sách Mỹ ở Việt Nam (biểu tình, viết báo, nói chuyện,
vận động giới trí thức và chính khách Mỹ), kiên trì “ đi giữa hai làn đạn ” để đóng
góp về học thuật, giáo dục, đường lối chính trị đối nội và đối ngoại của anh... là cả
một đề tài nghiên cứu cho các nhà sử học sau này. Trước mắt, đã có một số bài viết,
phỏng vấn, mang lại cho bạn đọc những thông tin ban đầu.



Trong bài này, viết trong những giờ phút quá xúc động – hôm nay, gia đình anh sẽ tổ
chức hỏa táng tại Bangor (Maine, Hoa Kỳ) trong vòng gia đình – tôi chỉ xin ghi nhanh
một vài kỷ niệm cá nhân về con người xuất chúng ấy.

Mãi đến năm 1976, tôi mới được gặp anh, tại Paris. Trước đó, từ cuối thập niên 60,
chúng tôi chỉ biết nhau qua trao đổi thư từ – thời ấy chưa có internet, điện thoại viễn
liên rất đắt. Trao đổi một chiều là chính: anh cho nhiều mà nhận được ít. Thời báo
Gà – tại sao Gà? anh giải thích : Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau –, tờ báo mà anh
chủ trương và một mình quán xuyến là một nguồn thông tin quý báu, qua đó, chúng
tôi đọc được rất nhiều bài báo Sài Gòn và những thông tin về Quốc hội Mỹ, về phong
trào phản chiến. Anh Long hoạt động độc lập, nhất quán chống lại chính sách của các
chính quyền Hoa Kỳ nối tiếp ở Việt Nam, hợp tác với anh Trương Đình Hùng và chị
Nguyễn Ngọc Thoa ở Washington, nên được xếp là “thành phần ba”.
Một việc “riêng” không có anh Long thì không thành: khoảng 1965-1966, hội Liên
hiệp sinh viên Việt Nam tại Pháp (LHSVVNTP) gửi thư cho sinh viên và giới đại học
Mỹ. Thư được dịch sang tiếng Anh và “phát tán” trong các đại học Mỹ. Một hôm, tôi
nhận được thư cầu cứu của anh P., bạn học Chu Văn An. Anh P, sau tú tài, học Quốc
gia hành chính, được gửi sang Mỹ tu nghiệp. Do thái độ phản chiến, anh bị cắt học
bổng và triệu về Sài Gòn. Vì lá thư của LHSVVNTP dùng địa chỉ của tôi (15, rue
d'Arcole, Paris), anh P gửi thư cầu cứu: anh tìm đường sang tị nạn ở Canada, nhưng
không biết cách nào. Tôi phải cầu cứu anh Long. Anh giới thiệu ngay với Noam
Chomsky – nhà ngữ học, mà Aragon đã gọi rất đúng là “Descartes của thế kỷ 20”,
mà tôi đang nghiền ngẫm tác phẩm Syntactic Structures vì muốn tập tễnh làm ngôn
ngữ học toán học – và Noam Chomsky đã hồi âm nhanh chóng, mở đường dây cho
anh P. vượt biên, qua biên giới Canada thì được một tổ chức Tin Lành giúp đỡ tận
tình.

Tình bạn của chúng tôi này nở ở Paris. Chúng tôi gặp nhau nhiều lần, có dịp hai gia
đình đi chơi xa. Con trai lớn của tôi, Thái Bình, sinh tháng 7.1972 (ba tuần sau khi
anh Nguyễn Thái Bình bị CIA giết trên sân bay Tân Sơn Nhất), hơn Thái Ân, con gái
(con thứ nhì) của anh Long và chị Hội Chân, mấy tháng. Có lần vui miệng, chúng tôi
đã “đính hôn” cho hai đứa.

Chuyện không vui là có lẽ vì quá trình “thành phần ba”, anh Long không được lãnh
đạo phong trào Việt kiều ở Mỹ giới thiệu để xin visa về nước nghiên cứu. Anh Huỳnh
Trung Đồng, chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp, đã viết thư ngay cho ông Trần
Quang Huy, chủ nhiệm Ban Việt kiều Trung ương (tiền thân của Ủy ban về người
nước ngoài hiện nay), và tôi viết cho ông Hoàng Tùng, tổng biên tập báo Nhân Dân,
và anh Nguyễn Khắc Viện, giám đốc nhà xuất bản Ngoại văn và tổng biên tập tạp chí
Nghiên cứu Việt Nam, nguyên thủy có nhiệm vụ “tuyên truyền đối ngoại”, nhưng đã

trở thành một tạp chí có uy tín trong giới Việt Nam học bắt đầu phát triển trên thế
giới.

Anh Long đã về nước vào khoảng 1980-1981, phỏng vấn nhiều nhân vật (liên quan
tới lịch sử nửa đầu thế kỷ 20), nghiên cứu điền dã ở một vài làng xã đồng bằng sông
Hồng (do sự sắp xếp của tạp chí Nghiên cứu Việt Nam). Một hôm, đầu năm 1981, tôi
nhận được điện thoại của anh, gọi từ phi trường CDG Paris, nơi anh quá cảnh trên
đường từ Sài Gòn về Boston. Anh Long cho biết những băng ghi âm phỏng vấn của
anh bị công an biên phòng giữ lại ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Tháng 7.81, tôi về nước. Vừa về tới nhà, ở khu Vườn Chuối (hôm nay đọc một bài
báo, mới biết anh Long là người cùng khu), tôi được anh Dương Đình Thảo tới thăm,
chủ yếu để nói về “chuyện anh Long”. Anh Thảo nguyên là người phát ngôn phái
đoàn của bà Nguyễn Thị Bình ở Hội nghị Paris (đôi lần, phiên dịch của anh bị cảm
cúm, nên tôi, vốn là phiên dịch cho anh Nguyễn Thành Lê, đoàn miền Bắc, đã có dịp
“vượt tuyến” dịch cho anh Thảo trong cuộc họp báo), năm 1981 làm giám đốc Sở
văn hóa thông tin (hay Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy, hai chức vụ nối tiếp nhau,
tôi không nhớ rõ thứ tự và thời điểm). Anh Thảo cho biết, anh Long phỏng vấn nhiều
người, trong đó có nhà sử học Đào Duy Anh, đảng viên sáng lập Đảng Tân Việt
(1925-1929) – nếu tôi nhớ không lầm, thân sinh của anh Long cũng đã từng hoạt
động trong Tân Việt. Băng từ ghi âm còn ghi lời nói của cụ Đào về ông Lê Đức Thọ:
“chống Trung Quốc mà phụ trách việc này lại trao cho tay mao-ít số 1 là Lê Đức
Thọ!” “Tôi tin rằng anh Long sẽ không sử dụng câu nói đó – anh Thảo nói – nhưng
nếu vì sao, cuộn băng lọt ra ngoài, có người công bố, thì anh Long sẽ bị người ta quy
trách nhiệm. Nên chúng tôi buộc phải giữ lại các cuộn băng ghi âm”.

Ngô Vĩnh Long và học giả Đào Duy Anh (1981)

Vài ngày sau, tôi ra Hà Nội, đến thăm anh Nguyễn Khắc Viện ở phố Nguyễn Chế
Nghĩa. Anh Viện xác nhận là cơ quan đã giúp anh Long đi điền dã. Nhà xuất bản trực
thuộc Ban bí thư, nên họ có quyền không thông báo “hàng dọc” cho tỉnh, rồi huyện,
mà đưa xe về thẳng xã thôn. Theo đúng tác phong điều tra xã hội học nông thôn, anh
Long chụp ảnh bà con, hỏi chuyện từng người, lên cả đời cha, ông... Trong bối cảnh
sau chiến tranh Mỹ, vừa có chiến tranh xâm lược của Bắc Kinh, tác phong nhà khoa
học bị đồng hóa với phong cách “ tình báo từ Mỹ sang ”, công an xã báo lên huyện,
huyện báo lên tỉnh... Theo lời một đồng nghiệp báo Nhân Dân, cũng may là báo cáo
đến bàn ông Hoàng Tùng, tổng biên tập báo, thành viên Ban bí thư Trung ương, và
được ông Hoàng Tùng “ giải cứu ” trong “ vụ việc ” này.

Hôm sau, đi dự một cuộc họp “ báo chí Việt kiều ” ở Ban Việt kiều Trung ương, lúc
đó ở phố Quan Thánh, Hà Nội, tôi vừa bước chân vào phòng thì được anh Nguyễn
Văn Luỹ, chủ tịch hội Việt kiều tại Mỹ, chỉ mặt trách mắng : “ Tại các anh bên Pháp
mà thằng Long nó được về....”.
Từ đó, anh Long bị cấm cửa. Mãi tới sau đổi mới, khoảng 1987-1988, anh mới lại
được về, do sự can thiệp của ông Nguyễn Cơ Thạch, tham gia một khóa giảng về kinh
tế, phát triển do anh Vũ Quang Việt tổ chức. Tôi chỉ được biết một cách gián tiếp, vì

một năm sau, mùa hè 1982, tôi được “ tay mao-ít số 1 ” – nói theo lời cụ Đào Duy
Anh – ra lệnh cấm cửa, liên tục cho đến mùa thu năm 2001.

Đó là chuyện quan hệ với chính quyền Việt Nam của anh Long. Đối với những tổ
chức chống Cộng ở Mỹ, tất nhiên anh được chụp mũ Cộng sản. Từ năm 1981 đến ít
nhất năm 1995, anh bị ném bom xăng (trong khuôn viên đại học Harvard) và nhiều
lần bị đe dọa (xem bài Vài câu chuyện khi “được” FBI theo dõi, đã đăng trên Diễn
Đàn ngày 24.6.2019).

*
Mùa hè năm 1997 (hai năm sau ngày Mỹ ngừng cấm cửa tôi), tôi ghé qua New York,
ở nhà anh Việt. Một buổi trưa, bốn anh em chúng tôi, Vũ Quang Việt và Ngô Thanh
Nhàn, dân New York, Ngô Vĩnh Long từ Boston tới, và tôi từ Paris qua, gặp nhau,
chuyện trò. Biển Đông ‘mùa hè đỏ lửa’, đúng hơn, bốn mùa xuân hạ thu đông đều
nóng bỏng, biên giới trên đất liền, sau “hộị nghị Thành Đô” vẫn không hết căng thẳng.
Chúng tôi chợt nảy ra ý kiến: tại sao không tổ chức một cuộc hội thảo về tình hình
khu vực Biển Đông - Thái Bình Dương, tìm hiểu quan điểm của Trung Quốc, Mỹ,
Nga... và chính sách hiện có, nên có của Việt Nam, với sự tham gia của anh chị em ở
nước ngoài, và nếu có thể, của anh chị em ở trong nước. Một năm sau, ngày 15.8.1998,
Hội thảo Hè lần thứ nhất đã họp tại Trường đại học New York (nơi anh Nhàn nghiên
cứu) với sự tham gia của hai thành viên Ban biên giới của chính phủ Việt Nam – kết
quả sự kiên trì và cương quyết của anh Việt, vì lúc đó trong chính quyền có nhiều
người quan ngại về một cuộc hội thảo độc lập với mọi ‘cơ quan chủ quản’, trong ban
tổ chức lại có những phần tử ‘có vấn đề’. Từ đó đến nay, gần một phần tư thế kỷ đã
qua, Hội thảo Hè đã diễn ra 21 lần, trong đó có hai lần ở trong nước (2005 và 2008),
tại các trường đại học Bắc Mỹ, Tây Âu và Trung Âu, Châu Á. Nếu tôi nhớ không
lầm, anh Long bao giờ cũng có mặt và có bài tham luận.

Tham luận tại Hội thảo Hè 2010 (TĐH Temple, Philadelphia)

Đối với hàng trăm anh chị em đã có dịp tham gia hội thảo, ngoài tính chất nghiêm
túc (và dí dỏm) của tham luận, hình ảnh mà mọi người ghi nhớ là nụ cười trẻ trung,
hiền hậu và đôi mắt tinh anh của Ngô Vĩnh Long, nhất là trong những cuộc nói chuyện
ở hành lang hay trong các cuộc du ngoạn ngoài hội thảo. Qua chi tiết này, người ta
có thể khám phá ra bí quyết “sống lâu” của một hội thảo nghiêm túc mà mỗi người
tham gia phải tự túc về chi phí mọi mặt: học hỏi thì thật là có học hỏi được nhiều
điều, nhưng cốt yếu là dịp gặp gỡ với anh chị em “bốn biển là nhà” trong không khí
thẳng thắn, không nhân nhượng trong tranh luận, mà luôn luôn thân tình, tương kính.
Sự tương kính không mâu thuẫn với những giai thoại được kể lại một cách “cù không
cười”. Chắc nhiều người còn nhớ anh Long giải thích những hệ lụy của hai chữ
“gương mẫu”: gương là kính, kính là để nhìn thấy rõ, mẫu là mẹ, gương mẫu là...
thấy mẹ.

Những ai đã dự Hội thảo Hè cách đây đúng 20 năm ở Bangor (bang Maine) : “Toàn
cầu hóa và các vấn đề con người Việt Nam” tổ chức nơi anh Long là giáo sư sử học
(ghế Adelaide & Alan Bird Professor of History) chắc còn giữ nhiều kỷ niệm. Tôi
không còn nhớ gì về tham luận của anh, Ai được, ai thua trong việc Trung Quốc
vào WTO và những bài học có thể rút ra cho Việt Nam, nhưng còn nhớ mãi bữa
tiệc tôm hùm mà thầy trò anh đã lụi cụi cả đêm để đãi mọi người trong vườn nhà –
và tôi còn ghi nhớ tên tuổi, không tiện nêu ra ở đây, những thực khách đã thực tâm
ăn tới con thứ hai, thứ ba. Sau hội thảo, vợ chồng tôi còn đến ở nhà anh Long và chị
Mai thêm vài ngày nữa. Nhờ đó mới khám phá ra sự quán xuyến việc nhà của anh –
lúc ấy chị Mai đang mang thai cháu Vĩnh Nhân – và sự sành rượu của nhà sử học.

Tôi ngộ ra: Ngô Vĩnh Long suốt đời đam mê với sử học, với đất nước Việt Nam,
tuổi trẻ hăng hái bao nhiêu, thì tuổi già càng bền bỉ bấy nhiêu, như một thứ rượu
“đúng năm”, càng để lâu càng ngon.

*

Tháng 7.2022, nhân dịp gặp gỡ “50 năm” bạn bè ở California (Berkeley)
Ngày 1.10.2022, mười một ngày trước khi từ biệt cõi đời, mắt trái không nhìn thấy
gì, Long viết: “ Cái khổ là mùa thu nầy lá cây sẽ rất rực rỡ, nhưng tôi không biết tôi
có thể đi chụp ảnh hay không. Vả lại mắt trái là mắt tốt của tôi và tôi quen dùng mắt
trái để chụp ảnh. ”
Năm nay, mùa thu vùng đông bắc nước Mỹ, cũng như mọi năm, sẽ rực rỡ vàng đỏ
muôn sắc, chỉ vắng một con người, yêu đời và yêu thiên nhiên. Anh ra đi, mang theo
cả nụ cười.

Ngày gia đình tổ chức lễ hỏa táng, 14.10.2022
Nguyễn Ngọc Giao

Vài câu chuyện

Khi "được" FBI theo dõi

Ngô Vĩnh Long

Ngày 28 tháng 5 năm 2019 vừa qua, nhân vừa hết học kỳ và trước ngày lấy rác
vùng tôi ở, tôi soạn một vài thùng giấy chứa những tài liệu cũ để vứt bỏ những thứ
gì không cần. Tôi thấy trong một số thùng đó có báo cáo đã được giải mật của FBI
(Federal Bureau of Investigation = Cục điều tra Liên bang Mỹ) về hoạt động của tôi
từ năm 1966 và một số thư riêng của các nhân vật trong phong trào phản chiến và
những chính khách Mỹ quen biết với tôi.

Tôi đã nhận được, qua nhiều nguồn, mấy ngàn trang báo cáo về tôi đã được FBI
giải mật từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Nhưng tôi không muốn
công bố vì áy náy là có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đối với những người muốn hoạt
động xã hội nhưng không có quan hệ tốt để bảo vệ họ.

Nhưng hôm 28, sau một lúc do dự, tôi quyết định đưa lên trang FaceBook của tôi
(hệ “public” = công khai, tức ai đọc cũng được) 4 bài viết ngắn cho biết một vài ví
dụ báo cáo mật của FBI về tôi. Tôi nghĩ, với tình hình hiện nay ở Mỹ cũng như ở
nhiều nước khác trên thế giới, việc tôi đưa ra một vài ví dụ về trải nghiệm của tôi có
thể không gây tác động tiêu cực như tôi đã nghĩ trước đây.

Bốn bài viết ngắn tôi đưa liên tiếp lên FB không theo thứ tự thời gian mà theo thứ
tự những gì tôi lấy ra được từ các thùng giấy đề cập phía trên mà tôi nghĩ có thể cho
biết một vài khía cạnh điển hình. Hôm nay, ngày 31 tháng 5 năm 2019, một biên tập
viên của tờ Diễn Đàn viết thư cho tôi và yêu cầu tôi tập hợp 4 ví dụ đó thành một
“file” để có thể đưa lên báo. Do đó sau đây tôi xin tập hợp 4 ví dụ đó theo thứ tự
thời gian với những chú thích được cắt ngắn gọn lại để giải thích những ảnh các tài
liệu kèm theo đây.

Như đã đề cập ở trên, có hàng ngàn báo cáo mật của FBI về những hoạt động của
tôi từ đầu năm 1966. Một trong những lý do là năm 1964 tôi đã tham gia phong trào
gọi là “teach-in” (tức giảng trong các đại học và các nhà thờ) với các giáo sư nổi
tiếng như Noam Chomsky và Howard Zinn) để cảnh báo rằng Mỹ sẽ đưa quân vào
Việt Nam và sẽ gây chiến tranh tàn khốc có ảnh hưởng lâu dài ở Đông Nam Á cũng
như ở Mỹ. Với sự hiểu biết càng ngày càng sâu về chính sách của Mỹ ở Việt Nam,
sau khi Mỹ đưa thuỷ quân lục chiến vào Đà Nẵng ngày 3 tháng 3 năm 1965, thì
phong trào phản chiến ở Mỹ đã tổ chức được một cuộc biểu tình hơn 25 nghìn

người ở Hoa Thịnh Đốn ngày 14 và 15 tháng 4 năm 1965. Tôi là một trong những
người tổ chức cánh người biểu tình từ Cambridge, bang Massachusetts, trong đó có
sinh viên Harvard và MIT (Massachusetts Institute of Technology.)

Qua kinh nghiệm và sự kiện trên tôi ý thức được rằng phải có được thông tin và
phân tích sát thực thì mới có thể có những hoạt động tích cực và dài hơi, nếu không
thì sẽ có những hoạt động tự phát rất nguy hiểm (và đã có như thế!) Do đó tôi
nghiên cứu và viết bài đăng ở nhiều nơi cũng như cung cấp thông tin cho các nhà
báo và những nhóm hoạt động. Để có một cơ sở công khai cho nhiều người có thể
đến gặp hay liên lạc, đầu năm 1969 tôi thành lập Vietnam Resource Center (Trung
tâm Tư liệu Việt Nam, VRC) để cung cấp thông tin và phân tích cho tất cả những ai
cần. Ngoài những bài viết trên các báo Mỹ, VRC xuất bản một tờ nguyệt san tên là
Thời Báo Gà vì đó là năm Dậu và vì tôi mong người Việt đừng “cõng rắn cắn gà
nhà” hay làm cho “gà nhà bôi mặt đá nhau” như số báo đầu tiên lưu ý. Sau khi ra
đời VRC cung cấp tư liệu và phân tích cho mấy chục tờ báo Mỹ và nhiều văn phòng
của các hạ nghị sĩ, thượng nghị sĩ, cũng như những cơ quan của Bộ Ngoại Giao và
Bộ Quốc Phòng Mỹ.

Kèm theo đây là một báo cáo ngày 1 tháng 12 năm 1973 của văn phòng an ninh FBI
ở Boston cho Quyền Giám Đốc FBI (Acting Director, FBI) và các cơ quan ở một số
thành phố trên nước Mỹ. Lý do, như câu 3 và 4 của đoạn 3 cho biết, là tôi “đi cùng
khắp nước Mỹ rất thường để tổ chức các cuộc biểu tình và đọc diễn văn chống sự
can thiệp của Mỹ ở Việt Nam và chính quyền của THIỆU.” Bốn câu cuối của báo
cáo viết: “Những hoạt động của NGO đã được các truyền thông đại chúng đưa tin
rộng rãi và đã làm cho thiên hạ biết đến (publicity). NGO hiện nay đang bị bộ phận
Boston (Bufile 105-206201, Bsfile 105-145273) điều tra về những hoạt động và
những quan hệ của hắn.” [Xin xem tài liệu 1, trang 1 và trang 2].





Tài liệu 1, tr.1 và 2.
Tôi đã đọc hàng trăm báo cáo của địa phương sau đó và thấy những báo cáo nầy
thường sai lạc và sơ sài. Tuy tôi thường nói chuyện công khai ở các đại học, các nhà
thờ, và các câu lạc bộ thương mại như Lion Clubs và Rotary Clubs, các báo cáo
thường kết luận với từ “ominous” (đáng ngại hay có tính cách đe doạ.) Hình như
đây là một công thức là nếu ngại nói thật thì nói “đáng ngại” cho được việc! Đáng
ngại nhất là những thông tin rất sai lạc của bọn chỉ điểm nhưng các báo cáo cho là
những bọn nầy, gọi là “nguồn” (source), thường rất đáng tin cậy.Tôi xin đính kèm ở
đây báo cáo mật của FBI ngày 9 tháng 11 năm 1977 về tôi như là một ví dụ lấy tin
đồn nhảm rồi dùng để ám chỉ là đối tượng của cuộc điều tra thật sự đáng nghi ngờ
hay nguy hiểm. Vì báo cáo nầy ngắn , tôi xin dịch tất cả những chỗ không bôi đen ở
đây (tài liệu 2).

Tài liệu 2

Đoạn đầu viết:

“Vào ngày 19 tháng 10 [tên người chỉ điểm bị bôi đen] cho biết rằng ở một buổi
giảng tại Viện Á Đông tại trường Luật của Harvard đối tượng và [tên người bị bôi
đen] tiến đến [tên ai bị bôi đen] và giới thiệu nhau một cách thân mật. Nguồn cung
cấp tin tức nghĩ rằng sự cố nầy rất bất bình thường vì đối tượng là một người rất
ủng hộ SRV [Socialist Republic of Vietnam = Cộng hoà Xã hội Việt Nam]. [Bôi
đen] một [mấy dòng bị bôi đen]. Vì bối cảnh (hậu cảnh?) chính trị nầy cho nên
nguồn cung cấp tin tức nghĩ rằng việc LONG cố gắng khởi xướng giới thiệu với
[bôi đen] là đều bất thường.”

Tôi xin ghi chú ở đây là tôi không biết người tôi gặp là ai. Nhưng tôi quả quyết là
không có gì bất thường trong việc học giả giới thiệu nhau tại một buổi giảng hay ở
một hội thảo trong môi trường đại học. Việc ám chỉ nầy là cố tình để lại sự nghi ngờ
trong hồ sơ hầu có thể lấy cớ gây khó khăn về sau.

Đoạn cuối của báo cáo viết:

“Nguồn cung cấp thông tin cũng cho biết rằng LONG không còn nhận được tiền tài
trợ để làm việc tại Đại học Harvard và đang nuôi gia đình với số tiền từ 5000 đến
8000 đô la nhận được từ việc tặng kho tài liệu tiếng Việt cho Thư Viện Harvard-
Yenching."

Xin ghi chú là “nguồn cung cấp thông tin” nầy phải là một người làm việc ở
Harvard vì biết tôi tặng sách và có nhận được một số tiền, tuy không chính xác. Tài
liệu báo cáo mật của FBI khác cho biết là nhân viên của FBI đã đến gặp một giáo sư
Harvard và bảo người đó cắt tiền tài trợ của tôi nên tôi phải bán kho tài liệu. Đây là
một việc làm trái nguyên tắc, nếu không nói là bất hợp pháp. Năm ngoái (2018) tôi
đã đưa báo cáo đó lên trang FB của tôi để cho thấy là có những học giả Mỹ tuy bề
ngoài được coi là lương thiện, nhưng thật ra không có lương tâm. Nhưng chuyện
bao vây kinh tế là lối làm thường của các cơ quan an ninh ở nhiều nước và những
người cộng tác với các cơ quan nầy có những lý do riêng của họ, trong đó có lý do
tưởng như vậy là yêu nước. Cho nên dẫu tôi biết chính xác vị giáo sư đó là ai, tôi
không để lộ tên ra làm gì.

Thật ra những khó khăn đối với cá nhân tôi và nhiều người Mỹ một phần là do các
cơ quan an ninh của Mỹ cố tình dung túng những phần tử bạo động. Qua việc đọc
mấy nghìn trang báo cáo của FBI đã được giải mật thì tôi cũng thấy họ tìm mọi
cách để reo rắc nghi ngờ là chống chiến tranh và chính sách của Mỹ ở Việt Nam là
Cộng Sản. Và đã bị nghi ngờ là Cộng Sản thì các nhân viên của họ, nếu không tìm

được lý do chính đáng để đàn áp, thì rỉ tai cho các phần tử bạo động ra tay.
Tuy nhiên họ không dám quá lộ liểu như cách làm của Trump bây giờ.

Kèm theo đây là một báo cáo của Văn phòng Chưởng lý vùng Boston, bang
Massachusetts, cho FBI về việc mưu sát tôi (tài liệu 3). Tài liệu 4 là một lá thư của
“Liên minh vùng Boston chống đăng ký đi quân dịch” nói rằng họ phải tổ chức bảo
vệ tôi khi tôi đang thuyết trình. Họ nói là họ rất ân hận là tánh mạng tôi bị đe doạ
trong khi tôi trình bày trước công chúng. Thật ra một số diễn giả nổi tiếng Mỹ
chống chiến tranh hay chính sách đế quốc của Mỹ cũng gặp khó khăn. Nhưng người
ta đặc biệt nhắm vào những người da màu gốc nước ngoài như tôi vì dễ biện hộ cho
việc làm sai trái của họ. Đối với tôi, mãi đến sau khi Mỹ và Việt Nam “bình thường
hoá quan hệ” năm 1995 thì đe doạ đến an ninh bản thân mới bớt dần. Tuy nhiên tôi
có cảm nhận là từ khi Trump lên làm tổng thống thì nhiều người da màu chống
chính sách của ông ấy đang càng ngày càng bị đe doạ.



Tài liệu 3

Tài liệu 4
Ở đây tôi xin nhấn mạnh rằng tôi luôn luôn tìm mọi cách để tránh nổi tiếng để khỏi
bị ganh tị và ghét, tuy đã hoạt động xã hội thì âm thầm cách nào đi nữa cũng có
người biết đến. Do đó tôi cố tạo quan hệ cá nhân thật tình với cả những người khác
chính kiến vì mong rằng khi họ thấy chuyện quá bất bình thì họ bênh vực hay tìm
cách bảo vệ.

Kèm theo đây tôi xin đưa lên 4 trang (tài liệu 5) để chứng tỏ việc vừa nói ở trên.
Trang 1, có đóng mấy chữ “Mật” (Secret) là lá thư của William F. Weld, uỷ viên
công tố của Bộ Tư Pháp chính phủ Liên Bang tại vùng Massachusetts cho FBI về
việc đe doạ tính mạng của tôi sau khi nhận được thư ngày 17 tháng 8 năm 1985 của
American Friends Service Committee cho Robert S. Mueller III, lúc đó là trợ lý uỷ
viên công tố thứ nhất (First Assistant U.S. Attorney) của Bộ Tư Pháp Liên Bang (tài
liệu 5, trang 2).



Tài liệu 5, tr.1

Tài liệu 5, tr.2
Cùng với thư cho Mueller III có đính kèm 2 trang “Tuyên bố bày tỏ sự lo ngại”
(Statement of Concern) với chữ ký của 152 người khắp cùng nước Mỹ [tài liệu 5,

trang 3 và 4].



Tài liệu 5, tr.3

Tài liệu 5, trang 4
Thư của Weld do Mueller ký tên thay. Mueller sau nầy làm giám đốc FBI từ năm
2001 đến 2013. Gần đây ông là “luật sư đặc biệt” (special counsel) của Bộ Tư Pháp
trong việc điều tra vụ bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 và liên hệ với Nga và
Trump. Weld là thống đốc bang Massachusetts từ năm 1991-1997 và ngày 15 tháng
4 vừa rồi đã công bố làm ứng cử viên của đảng Cộng Hoà năm 2020 để đối đầu với
Trump. Weld nhỏ hơn tôi một tuổi, sinh năm 1945, nhưng học trước tôi hai năm tại
Harvard College (ra trường năm 1966). Tôi có quen với ông nầy và gặp nhau nhiều
lần trong khi còn đang học, cũng như sau đó. Nhưng tôi không muốn tự đem
chuyện cá nhân trình bày với ông ta. Do đó American Friends Service Committee
viết thư cho Mueller vì lúc đó ông ta đứng đầu “văn phòng tội phạm” (Criminal
Department), dưới quyền của Weld.

Tôi kể chuyện trên để cho biết là nếu không có nhiều người ủng hộ và có quen biết
nhiều thì có thể tôi đã bị trục xuất ra khỏi nước Mỹ hay bị các cơ quan an ninh của
Mỹ làm ngơ để cho các phần tử bạo động “xử lý” rồi. Đó là lý do tại sao tôi đã ngần
ngại trong bao nhiêu năm là nếu để cho nhiều người ở Mỹ biết những gì đã xảy ra
cho tôi, tuy tôi có quen biết nhiều ở Mỹ, thì có thể những người ít quen biết sẽ ngần
ngại hoạt động cho công bằng xã hội hay chống những chính sách mạo hiểm của
Mỹ. Nhưng tôi nghĩ trước tình thế hiện nay, ở Mỹ cũng như ở nhiều nước khác trên
thế giới, các thế hệ trẻ nên dấn thân với hiểu biết và khôn ngoan của họ vì tương lai
là của họ.

Sau khi được thư ngày 29 tháng 8 năm 1985 của William F. Weld (United States
Attorney) và Robert S. Muller III, cùng với thư của một số thượng nghị sĩ, tôi được
mời vào gặp ông giám đốc FBI tên William H. Webster. Ông nầy làm giám đốc
năm 1878-1987 và sau đó làm giám đốc CIA (Central Intelligence Agency = Trung
tâm Tình Báo) từ năm 1987 đến năm 1991. Tôi có trình bày việc dung túng bạo lực
để đe doạ những người khác chính kiến sẽ có hại cho nước Mỹ về xa về dài như thế
nào. Ông Webster sau đó ra lịnh cho hai phó giám đốc có mặt trong buổi họp, trước
sự chứng kiến của cựu Bộ trưởng Tư pháp Ramsey Clark (1966-1969), là nên thành
lập một “nhóm hành động chống khủng bố chính trị” (an anti-political terrorist task
force) và bổ nhân viên để bảo vệ tôi. Nhóm hành động nầy sau đó kết hợp với các
nhóm an ninh của các bộ khác và các bang để trở thành “Joint Terrorism Task
Force” và được dùng để khủng bố các thành phần chống đối. Do đó nhiều người
hoạt động xã hội ở Mỹ phàn nàn là vì tôi mà họ bị khủng bố!

Thật ra không biết ông Webster có biết rằng chính nhóm nầy đã tiếp tục theo dõi tôi
cho mãi đến năm 1995 (và có thể còn tiếp tục sau đó nữa) hay không! Không biết
nhóm này hay là ai đã dùng những trò rất đê tiện để phá hại gia cang của tôi. Các tổ

chức an ninh thường nghiên cứu tâm lý các đối tượng và gia đình rất kỹ. Nếu đối
tượng không có thể bị dụ dỗ hay cài vì tiếng tăm, tiền bạc và mỹ nhân kế, thì các tổ
chức nầy nhằm vào vợ, chồng, và người thân của các đối tượng đó. Đối với những
người vợ thì họ cài những đứa đàn ông hay dụ dỗ và khéo nịnh, nhưng quen với gia
đình, tìm cách lân la nói ra nói vào. Rốt cuộc “xấu trai không bằng chai mặt” và rồi
làm ly tán gia đình người ta. Có nhiều trường hợp như thế.

Kèm theo đây là báo cáo mật ngày 6 tháng 10 năm 1993 của trụ sở FBI ở New York
cho ông giám đốc [tài liệu 6]. Trang đầu nói rằng “nguồn [chỉ điểm] rất tin cậy
trong quá khứ cho biết có một cặp vợ chồng đến thăm tôi ở Boston từ ngày 11 tháng
9 đến 12 tháng 9 năm 1993.” Nhà tôi lúc đó ở Watertown (sát thành phố Boston) và
năm 1992 đến 1994 tôi nghỉ dạy ở nhà vì bị sốc chuyện riêng và vì lúc đó cũng
đang nghiên cứu ở Harvard và lâu lâu về Việt Nam thỉnh giảng. Báo cáo lầm lẫn tôi
là “học giả Việt Nam tại đại học Harvard”, rồi câu sau đó lại nói tôi là sinh viên.
Nguồn chỉ điểm cũng không biết rõ chính tôi đã dẫn cặp vợ chồng nầy đi thăm các
nơi, kể cả “Indian reservation” ở Nantucket. Tôi biết cặp vợ chồng nầy là ai. Họ từ
California, và bỗng nhiên xin đến thăm tôi một tuần vì khi đó họ biết chỉ có mình
tôi ở trong một căn nhà khá lớn. Sau khi đọc báo cáo của FBI tôi mới vỡ lẽ là họ
được phái đến để dò la xem tôi ra sao.



Tài liệu 6, tr.1 và 2
Câu cuối của trang 1 đến hết đoạn đầu trang 2 dịch sát nghĩa như sau: “LONG được
mô tả như là người cực kỳ đồng cảm với các phong trào ủng hộ SRV (Socialist
Republic of Vietnam = Cộng hoà Xã hội Việt Nam). Thông tin nguồn [chỉ điểm]

nhận được cho biết là LONG gần đây thật mất tinh thần vì vợ đã bỏ đi với người
khác và LONG không hiểu tại sao, cứ khóc tới khóc lui.”

Thật ra tôi hiểu rõ tại sao và đã cố gắng hết sức mình. Bọn thủ đoạn đã làm tôi đau,
nhưng lầm tưởng là đã đánh cho tôi ngã gục.

Ngô Vĩnh Long

Bài ngày 8/6

Bài sau đây và bài sắp tới có liên quan đến việc mưu sát tôi tại đại học Harvard vào
cuối tháng 4 năm 1981. Hai bài có liên quan mật thiết với nhau, nhưng có hai khía
cạnh khác nhau cho nên tôi muốn trình bày riêng biệt để đọc giả có thể tường tận
hơn phối cảnh của vấn đề. Khía cạnh thứ nhất là khía cạnh báo chí, hay nói cho
đúng hơn là trách nhiệm của một nền báo chí tự do trong việc bảo vệ sự thật. Khía
cạnh thứ hai mà tôi sẽ trình bày trong bài sắp tới là khía cạnh của đại học trong vấn
đề bảo vệ tự do học thuật (academic freedom). Ở đây tôi không muốn chỉ trích một
cá nhân nào cả, kể cả những người tổ chức mưu sát tôi như tôi đã công bố ngay sau
khi sự cố xảy ra. Tôi nhắc chuyện xưa với ý muốn bồi đắp hi vọng cho hiện tại và
tương lai.
Bài nầy tôi sẽ viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Phần tiếng Việt sẽ dài hơn phần
tiếng Anh vì tôi phải tóm tắt và giải thích một vài chỗ quan trọng của các tư liệu
kèm theo bài cho những ai không biết tiếng Anh giỏi. Những tư liệu nầy phần lớn
sẽ rõ đối với những ai đọc được tiếng Anh và do đó sẽ chỉ gì cần giới thiệu ngắn
thôi.
The following post and the next one have to do with the organized attempt on my
life at Harvard University in late April, 1981 The two posts are intimately related
but have two different aspects that require separate treatments for a clearer
understanding of the overall picture. The first aspect has to do with the press, or to
be more precise, the responsibility of a press in disseminating information
truthfully. The second aspect that I will present in the next post has to do with the
role the university in protecting academic freedom. This post is not meant as a
criticism of any individual, including those who were involved in organizing the
attempt on my life as I was on record for saying so after the incident. I am relating

an old story here because I think that it will help to nourish hopes for the present

and the future.

This post will be in both Vietnamese and English. The Vietnamese section will be

longer than the English portion because I need to summarize and explain some key

areas of the documents attached. The documents would be largely evident to those

who can read English and hence will only need brief references.

Sau việc ám sát hụt tôi ngày 23 tháng 4 năm 1981, tờ Boston Globe đăng một bài
tường thuật nói rằng vì tôi bị hành hung vì bị cho là đảng viên đảng Cộng Sản Việt
Nam. Và bài nầy đăng lại những lời tố cáo tôi của những người đã liên quan đến sự
việc hầu như muốn chứng minh tôi bị hành hung là xác đáng.
Hàng chục giáo sư nổi tiếng ở Harvard, MIT và Boston University nhanh chóng gọi
điện thoại cho tờ Boston Globe yêu cầu phải viết một bài đính chánh ngay. Nhưng
tờ BG không đính chính mà chỉ đăng một bài báo của Robert Levey phỏng vấn với
một số nhân vật liên quan, trong đó có tôi, vào ngày 7 tháng 5 năm 1981. Tôi sẽ đưa
ảnh chụp toàn bộ bài báo của Levey dưới đây. Nhưng không đưa lên bài “phóng sự”
đầu tiên vì tôi sẽ đưa lên một bài báo của tờ New York Times (NYT) ngày 6 tháng
5 năm 1981, tức là hơn một tuần sau sự cố xảy ra, với thông tin từa tựa như bài đầu
của tờ BG. Tờ báo Washington Post (WSP) cũng có một bài gần giống như tờ NYT.
Nhưng dưới đây tôi cũng không đưa lên bài đó, một là vì rất giống bài của NYT và
hai là tờ WSP hơn một năm sau lại đăng một bài ám chỉ tôi là Cộng Sản. Tôi sẽ đưa
một số tài liệu liên quan đến tờ WP ở phần cuối bài viết nầy của tôi.
Vấn đề đáng lưu ý là 3 tờ báo lớn nhất vùng Đông bắc Mỹ, và có uy tín nhất, lại gần
như cùng lúc đưa tin chụp mũ tôi là Cộng Sản hầu như để bênh vực cho những kẻ
dính líu đến chuyện mưu sát. Tại sao vậy? Việc nầy người đọc sẽ có thể tự kết luận
sau khi xem các tài liệu đính kèm dưới đây.
Tôi xin kèm dưới đây một số tài liệu theo thứ tự thời gian và đề cập đến chuyện nhỏ
trước khi đi vào những chuyện rắc rối hơn. Trước hết tôi xin đưa lá thư của Giáo Sư
John Womack viết ngày 27 tháng 4 và trao tay cho tờ Harvard Crimson (HC) cùng
ngày vì ông thấy là có việc gì bất thường trong việc không có tin tức gì cả ngày 24.
Ngày 25 thì chôn vùi dưới tin ống nước bị bể; và cho đến ngày 27 cũng không có
tin tức gì. Đoạn 2 của lá thư ông nói là ông rất hoang mang là tờ Crimson cũng
không viết được một bài xã luận về tự do ngôn luận và ông đưa lý do tại sao ông lo
ngại. Đoạn cuối thư ông yêu cầu báo tường thuật đầy đủ chuyện gì đã xảy ra và kêu
gọi có một cuộc điều tra bởi những “nhà chức trách thích hợp” (appropriate
authorities) về một sự việc có thể là một âm mưu để giết “Tiến sĩ Ngo.” Giáo Sư
Womack cho các giáo sư khác biết là khi ông nói “appropriate authorities” ông có
ám chỉ các lãnh đạo của đại học Harvard vì sự cố xảy ra ngay trên sân trường
(campus) nhưng lãnh đạo Harvard đã hoàn toàn im lặng về chuyện nầy. Ông
Womack là một giáo sư hàng đầu của Harvard và rất nổi tiếng ở Harvard cũng như

trong ngành nghiên cứu về Châu Mỹ Latin trên toàn thế giới. Tờ Crimson xuất bản
hơn 100 nghìn bản mỗi số và chính Nhà Trắng ở Hoa Thịnh Đốn mỗi ngày cũng
nhận được hơn 100 bản.
Tuy nhận được thư của GS Womack ngày 27 , tờ Crimson không đăng lá thư ấy
ngay mà chờ đến ngày 30 tháng 4 để tìm được một lá thư khác cho cân bằng như đã
cho một số người biết sau đó. Nhưng lá thư để cân bằng đó vu cáo tôi là tôi đã nói
rằng “những trại cải tạọ” ở Việt Nam là “cần thiết”. Thư của William R. Carter, một
sinh viên tiến sĩ về Lịch sử và Sinh ngữ Đông Á, viết cho tờ Crimson và được đăng
ngày 8 tháng 5 cho biết là anh ấy đã thu băng toàn bộ buổi nói chuyện và tôi chỉ nói
trại cải tạo là việc đang được tranh cãi trong xã hội và trong chính quyền Việt Nam
là có nên duy trì hay không và đến mức nào. (Xin xem tài liệu tựa đề “Investigate
The Attack”) William Carter đã cung cấp bản sao của tất cả các băng thu cho tờ
Crimson, Boston Globe, New York Times, và “Hiệp Hội Nghiên Cứu Á Châu”
(Association for Asian Studies). Hiệp Hội nầy sau đó đã nghe, gỡ băng, và đã đưa
ra một thông cáo chính thức về những gì đã được nói tại buổi thảo luận ở Harvard.
Thay vì đăng lá thư của GS Womack cho có thời gian tính, tờ Crimson đăng ngày
29 tháng 4 năm 1981 một bài có tựa đề “Legal Aid Fund Established for Refugee”
(Quỷ tài trợ chi phí luật sư cho người di tản được thành lập) trong đó để cho
Stephen B. Young, nhân vật có dính líu đến vụ việc và lúc đó hãy còn là “Dean of
Students” (người có trách nhiệm đối với sinh viên) của Harvard Law School (đại
học luật) nói rằng người thảy bơm xăng (tên Nghĩa Ngô) đã bị tra tấn trong tại cải
tạo và do đó cảm thấy là có nghĩa vụ phải chống đối sự bất nhân nầy của Cộng Sản.
Ám chỉ là việc tôi tham gia một diễn đàn hàn lâm ở Harvard là một sự bất nhân
không thể tha thứ được. (Xem đoạn cuối của bài).
Đoạn 2 và 3, cột 3 của bài viết rằng ông Ted Hartry, giám đốc trụ sở Boston của Uỷ
ban Cứu trợ Quốc tế (International Rescue Committee) đã cho biết là trụ sở nầy đã
được dùng làm nơi tổ chức vụ mưu sát tôi. Một lá thư có tính chất kích động (an
inflamatory letter) đã được gởi ra cho cộng đồng tị nạn vùng Boston nói rằng Long
V. Ngo (tôi) là tình báo của Cộng Sản Việt Nam và những người chống cộng hãy
đến buổi nói chuyện để “đánh tan xác tai hoạ của dân tộc và kẻ thù đã tàn sát gia
đình chúng ta.”
Trong bài của Robert Levey đăng ngày 7 tháng 5 năm 1981 trên tờ Boston Globe
Ted Hartry đã cung cấp thêm thông tin về việc tổ chức mưu sát tôi tại trụ sở
International Rescue Committee ở Boston nhiều ngày trước diễn đàn tại Harvard.
(Xem cột 3 của trang 1 và 2 đoạn đầu của trang 2.) Trước khi làm giám đốc chương
trình tị nạn ở vùng Boston Ted Hartry từng là đại sứ Mỹ ở Inđônesia. Quan trọng
của bài báo là thái độ của Stephen Young qua phỏng vấn (từ giữa cột 2 trang 2) đối
với những người chống chiến tranh ở Mỹ và việc ông ta đồng ý rằng mưu hại một
người “Cộng Sản” là một hành động nhân nghĩa (an act of moral righteousness).

Những lập luận của Young đã được phát biểu trong bài “Vietnamese Who Supports
Hanoi Angers Refugees” (Người Việt ủng hộ Hà Nội làm những người tị nạn nổi
giận) đăng trên tờ New York Times ngày 6 tháng 5 năm 1981. Trong bài nầy phóng
viên NYT cũng lập lại lời nói bịa đặt của một người khác mà William Carter đã chỉ
ra trong lá thư đăng ngày 8 tháng 5 trên tờ Crimson. Tài liệu của Carter và của
Hartry đã được cung cấp cho NYT.
Ngày 6 tháng 5 năm 1981 ông André Schiffrin, chủ nhiệm nhà xuất bản Pantheon
Books, và ông Tom Engelhardt, biên tập viên chính, gởi một lá thư phản đối bài báo
và đưa ra những lý do tại sao. Riêng về tôi hai ông cho biết là không thể nói tôi là
“ủng hộ” hay “chống” Hà Nội vì tôi là một trong những học giả về Việt Nam hàng
đầu ở Mỹ và có uy tín cao vì có các phân tích phức tạp. Đó là tại sao Pantheon
Books đã ký hợp đồng với tôi để về Việt Nam nghiên cứu viết một cuốn sách mà họ
nghĩ chỉ là trong những người ở ngoài Việt Nam chỉ có mình tôi là có thể làm được.
Tôi xin kèm theo lá thư của Pantheon dưới đây. Tiện đây tôi cũng xin đề cập đến
chuyện là trong khi nghiên cứu tôi cũng đã chia sẻ với học giả ở trong nước và một
số nhà làm chính sách về phân tích của tôi đối với nông thôn Việt Nam lúc đó. Tuy
những chia sẻ của tôi kín đáo tôi bị cho là phản lại đường lối của đảng và nhà nước
và bị cấm về Việt Nam cho đến cuối năm 1986. Chuyện nầy đã có nhiều người biết.
Gần đây tôi tình cờ thấy một bài viết của blogger Osin về vai trò của trí thức trong
đó có nhắc lại chuyện của tôi lúc đó. Do đó tôi xin phép tải lên sau đây để rộng
đường dư luận.
Trở lại bài báo NYT nói trên thì có rất nhiều học giả Mỹ đã gởi thư cho ban biên
thập phản đối cũng như phân tích các vấn đề gây khó khăn vì bài báo. Tôi chỉ xin
nạp ở đây thêm một lá thư của 6 học giả nổi tiếng ở Nữu Ước gởi NYT vào ngày 6
tháng 7 năm 1981 vì thấy sau một thời gian khá lâu mà tờ NYT vẫn chưa đăng một
tin đính chánh. Tờ Boston Globe và Washington Post tưởng như thế là xong rồi nên
cũng không đính chánh.
Một năm sau, sau khi thủ phạm được toà án tha bổng vì luật sư bào chữa biện hộ
rằng tạm thời nổi điên khi thấy mặt tôi thì hồi tưởng mặt của người tra tấn anh ta
trong trại cải tạo ở Việt Nam nên mới thảy bơm xăng vào tôi. Như ta thấy ở trên
việc nầy hoàn toàn khác với những tài liệu đã được đưa ra năm trước đó, đặc biệt là
tài liệu của ông Ted Hartry là việc mưu sát tôi đã được chuẩn bị ngay trong trụ sở
của cơ quan của ông ấy nhiều ngày trước khi sự việc xảy ra. Nhưng tờ Boston
Globe ngày 17 tháng 5 năm 1982 đã đăng một bài của phóng viên tên Paul Langner
với tựa đề “Verdict: Innocent by the reason of the horrors of Vietnam” trong đó nói
rằng vì tôi là một người “Cộng Sản Việt Nam” cho nên chính tôi lúc đó đang “khiêu
khích” (triggering) đương sự tấn công tôi vì tham gia hội thảo. Ngày 18 tháng 5 tờ
Washington Post đăng một bài ngắn gởi đến từ Cambridge, Mass, với tựa đề
“Vietnamese Ex-Officer Acquitted” (Cựu sĩ quan Việt Nam được tha bổng), trong

đó nói rằng Lo Vinh Long (tôi) đã “trình bày ủng hộ chính phủ Cộng Sản Việt
Nam” cho nên bị tấn công. Tôi kèm bài đó sau đây.
Ngày 25 tháng 5 một nữ giáo sư trường đại học Massachusetts ở Boston, Ann
Froines, viết thư cho chủ nhiệm báo BG, Thomas Winship, và ông thanh tra khiếu
nại (gọi là Ombudsman) của tờ báo. Lý do được phân tích rẩt kỷ trong hai trang
kèm theo đây. Đoạn cuối của thơ là đòi BG phải sửa sai và đính chánh đàng hoàng.
Khi không thấy BG đính chánh nhiều người lại gọi và viết thư thúc. Trong số đó có
thư của bà Sharon Bauer Breakstone (kèm theo đây) nói rằng bà ấy đã cùng tôi soạn
thảo những tài liệu giảng dạy về Đông Dương trong thời gian 9 năm trong nhóm
Indochina Curriculum Group. Bà ấy viết tiếp rằng tôi là một học giả rất cẩn thận và
đáng tin cậy, v.v., và mong rằng tờ BG sẽ sửa sai.
Thay vì làm như được hai nữ học giả trên yêu cầu, ngày 9 tháng 6 tờ BG lại đăng
một bài nữa của Langner trong đó nói tôi là người “bênh vực mạnh mẻ chính quyền
Hà Nội” (champions the Hanoi regime). Việc nầy làm cho những người biết tôi rất
phật lòng và lại viết thư cho BG. Ngày 11 tháng 6 BG đăng hai bức thư ngắn của
Doug Hostetter và Peter Forbes. Nhưng ngày 13 tháng 6 BG lại một lần nữa đăng
bài của Langner trong đó nói rằng tôi là người đã “bênh vực mạnh mẻ chính quyền
Việt Nam hiện tại.”
Cùng ngày với bài thứ 3 của BG bà Julie Fischer, một biên tập viên của “Boston
Publishing House,” không dằn lòng được nữa cho nên viết một là thư 3 trang cung
cấp lại những thông tin mà BG đã biết và đòi BG trình bày vấn đề lại cho đàng
hoàng và xin lỗi tôi. Tôi kèm bức thư đó ở đây. Tôi lưu ý những ai không biết rõ về
Mỹ trong thời điểm đó là việc chụp mủ Cộng Sản (Red-baiting) một người nào đó
thì có thể gây tổn thương lâu dài về sự nghiệp, nếu không nói là nguy hiểm cho tính
mạng. Cho nên muốn tồn tại phải tranh đấu quyết liệt.
Ngày 17 tháng 6, trước áp lực từ nhiều phía BG đăng một bài nhỏ gọi là “For the
Record” (để lưu lại), chứ không phải là đính chánh thực sự. Câu cuối cùng của bài
đó (tôi cung cấp ở đây) còn tìm cách chụp mủ tôi ở câu cuối nói rằng tôi cho biết là
trên một số phương diện tôi là người theo xã hội chủ nghĩa. Thật ra tôi không nói
như vậy. Câu hỏi là nếu tôi không chấp nhận cái mác Cộng Sản thì tôi có chấp nhận
tôi là người theo xã hội chủ nghĩa không? Tôi nói rằng tôi ủng hộ công bằng xã hội.
Phóng viên nói như thế là theo chủ nghĩa xã hội. Tôi nói nếu định nghĩa như thế thì
có thể phần nào đó tôi là người xã hội chủ nghĩa. Kinh nghiệm ở đây là phải rất
thận trọng với báo chí vì họ có thể bẻ cong sự trả lời của người được phỏng vấn, tuy
có thể không xa sự thật lắm, để phụng sự yêu cầu nào đó.
Sau việc đưa bài “For the Record” thì tờ BG vẫn im lặng. Nhưng vì bị nhiều người
gọi vào thúc ngày 16 tháng 8 năm 1982 ông Ombudsman (tên Robert L. Kierstead)
mới đăng một bài tựa đề “Case of a communications gap” (Sự kiện liên lạc bị cắt
quãng) để giải thích đây là việc xảy vì gặp lộn xộn bình thường chứ không phải cố

tình. Chữ được dùng ở câu đầu đoạn cuối là “snafu.” Ai không rõ nguồn gốc chữ
nầy tôi xin cho biết là ghép từ những chữ đầu của thành ngữ “situation normal all
fucked up.” Tạm dịch: “Chuyện hõng đéo hết là bình thường.” Bài nầy công nhận là
những sự sai lầm đã xảy ra nhưng không ngăn chặn kịp. Nhưng sau đó vẫn không
có một lời xin lỗi, dù riêng tư. Vì tôi cho họ cố tình dây dưa và như thế, theo luật
Mỹ, “có chủ định gây tổn hại’ (malicious), tôi quyết định mướn một hãng luật để
khởi kiện. Ngày 21 tháng 6 ông Robert J. Doyle, luật sư chính hãng luật đó, viết thư
đến BG trình bày vấn đề và tự nguyện cung cấp tài liệu để BG có cơ sở quyết định
là nên xin lỗi. Tôi kèm lá thư đó ở đây. Nhưng BF vẫn không động đậy. Tôi nghĩ
BG thấy hãng luật nhỏ nên kinh thường và nghĩ không thế nào có đủ lực để đương
đâù với tờ báo lớn nhất trong vùng New England, ngoài tờ NYT. Do đó tôi đi gặp
hãng luật lớn nhất ở Boston, gọi Palmer & Dodge, và thương lượng với họ việc đại
diện tôi để kiện BG. Ngày 4 tháng 10 năm 1982 hãng luật nầy viết thư cho BG là
đang khởi kiện. (Thư đó kèm theo đây).
Ngày 21 tháng 12 năm 1982 ông chủ tờ Boston Globe, William O. Taylor, viết thư
riêng cho tôi xin lỗi một cách rất khéo léo. Thư đó kèm theo đây. Tôi nghĩ như thế
cũng tạm được rồi vì nếu làm người ta mất mặt quá thì người ta sẽ không để cho

mình yên thân.

Ngày 25 tháng 2 năm 1983, sau khi để tin về việc xin lỗi của BG có đủ thời gian
truyền đến tờ NYT, Washington Post và một vài tờ báo lớn khác trên nước Mỹ tôi
nói luật sư của tôi nên viết thư cho họ nói là sẽ khởi kiện nếu họ không chiụ xin lỗi.
Tôi kèm theo đây lá thư hãng luật của tôi gởi cho tờ Washington Post và cái đính
chánh nhỏ xíu của WP. Tờ NYT và các tờ khác cũng có những đính chánh nhỏ
tương tự. Tôi nghĩ mình nhỏ thì thắng nhỏ cũng được rồi.
Câu hỏi ở đây là tại sao các tờ báo lớn ở trên đã chụp mũ tôi và đã dây dưa đến thế?
Một phần có thể là vì họ lớn nên không muốn bị mất mặt lớn. Nhưng tôi nghĩ lý do
chính là họ có quan hệ với các cơ quan an ninh ở Mỹ và thông tin nhận được nói tôi
là Cộng Sản hay tình báo cho Hà Nội là có căn cứ nên cố tình dây dưa. Như tôi đã
đưa ra một tài liệu được giải mật của FBI thì đến mãi cuối tháng 12 năm 1985 văn
phòng FBI ở Boston mới viết thư cho ông giám đốc xin thôi điều tra tôi vì sau bao
nhiêu năm chẳng bươi ra được chứng cớ gì cho biết tôi là Cộng Sản. Đoạn cuối của
báo cáo đưa ra những lý giải tại sao nghi ngờ tôi là vô lý mặc dầu những phân tích
của tôi có lợi cho chính quyền Việt Nam. Đây cũng là chuyện võ đoán vì làm sao
họ có thể đánh giá được cái gì có lợi và không có lợi cho Viêt Nam? Phần lớn các
quan chức lớn ở Việt Nam cũng không biết cái gì lợi cái gì hại cho đất nước nữa là!
Ở đây ta có thể thấy những nguồn hi vọng cho thế hệ trẻ ở Việt Nam và ở Mỹ.

English portion of this post:

After the failed attempt on my life on April 23, 1981, the Boston Globe published
an article claiming that I was attacked because I was suspected of being a member
of the Vietnamese Communist Party. This article cited accusations by people who
were involved in the incident, perhaps with the aim of creating the impression that I
deserved what had happened.
Dozens of famous faculty members from Harvard, MIT, and Boston University
called the Boston Globe requesting an immediate retraction. But instead of
publishing a correction the BG published an article by Robert Levey on May 7 in
which he cited from interviews with various people who were involved in the case,
including me. I will attach the entire article below. But I not the initial BG report
because I will attach an article by the New York Times (NYT) on May 7 that made
almost similar claims although it was published more than a week after the incident.
The Washington Post (WP) also published an article on the affair. Again, I will not
attach it here because it largely mirrored the articles by the BG and the NYT. I will
attach some documents that involved the WP toward the end of my post.
What I would like to draw attention to at this time is that the three largest and most
prestigious newspapers in the Northeast redbaited the target of the attack in those
articles as if to justify the activities of those involved in the assassination attempt.
How come? I think the reader will be able to draw a conclusion after I have
attached relevant documents below.
I will first attach a letter from Professor John Womack to the Harvard Crimson on
April 27 that he hand delivered on the same day the letter was dated because he felt
that something was unusual with the fact that the HR had not written anything about
the incident. The letter speaks for itself. But I want to point out here that, as he
informed other Harvard faculty members and me later, when he called “for an
investigation by the appropriate authorities of what may well be a conspiracy to
murder Dr. Ngo” he meant to include the administrators at Harvard. This was
because the incident happened on Harvard campus and yet Harvard administrators
were completely silent about the whole thing. Prof. Womack was a leading faculty
member at Harvard and was well-known not only there but also all over the world
among those who were working on Latin American history and current affairs. The
Crimson published over 100 thousand copies each issue and even sent the White
House over 100 copies each day.
Although the Crimson received Prof. Womack letter on the 27th it waited until
April 30th to publish it because it wanted to wait for a letter to create a balance as
stated later on. It turned out that the balancing letter, written by a junior faculty
member, made various false statements including the accusation that I had said the

reeducation camps in Vietnam was “necessary.” As pointed out in a letter from Mr.
William R. Carter, a Ph. D. candidate in History and East Asian Languages, that the
Crimson published on May 8 I never said anything such thing and that he had tape
recordings of the entire proceedings at the forum which he offered to supply the
Crimson. The letter captioned “Investigate the Attack” is attached below. Mr.
Carter then sent copies of the tapes to the Crimson, Boston Globe, New York Times
and the Association for Asian Studies (AAS). The AAS listened to the tapes,
transcribed them and later made an official pronouncement on what had been said at
the Harvard forum.
Instead of publishing Prof. Womack’s letter in as timely fashion, on April 29 the
Crimson published an article entitled “Legal Aid Fund Established for Refugee” in
which it cited statements by some of those involved in justifying the incident. This
included a statement by Stephen B. Young, who at that time was still a “dean of
students” at the Harvard Law School, as saying that the man who threw the
firebomb at me had been tortured in concentration camps in Vietnam and had a
“strong sense that moral people have to protest this [communist Vietnamese]
inhumanity.” (See the last paragraph of the article which is attached below). But the
article also cited information given by Ted Hartry, director of the International
Rescue Committee (IRC) that sponsored the attacker to the effect that the whole
attempt on my life had been organized in his center days before the actual attack.
Hartry had been ambassador to Indonesia before becoming director of IRC in
Boston.
In a Boston Globe article on May 7 Robert Levey gives additional detail from
interviews with Ted Hartry and Stephen Young. The article, which is attached
below, also described some of the attitude and the roles played by Young and his
wife. Some of Young’s responses had been cited in an article entitled “Vietnamese
Who Supports Hanoi Angers Refugees” that the NYT published on May 5. This
NYT article also repeated false accusations by another person that Mr. William
Carter disputed in his May 8 letter to the Crimson. Information from Mr. Carter and
Mr. Hartry had been supplied to the NYT.
On May 6 Mr. André Schiffrin, the publisher of Pantheon Books, and a senior
editor co-signed a letter to the NYT protesting the article in some detail. In it they
said that I was a top scholar on Vietnam and that I had been commissioned to go to
Vietnam to research for s book that Pantheon was going to publish. It further stated
that I was someone who had been known for complex analyses that could not be
characterized or dismissed as “pro” or “anti” Hanoi. In this connection I am also
attaching here for Vietnamese reader a posting by a famous Vietnamese journalist
about the roles of intellectuals in Vietnam where he mentioned that a top leader in

Vietnam had told him that I had gotten myself into trouble there for sharing my
views privately to scholars and policy makers.
Coming back to the NYT article, many top scholars on Asia also sent in letters of
protest and gave their analyses as to how the article was raising various problem. I
am attaching just one of those letters dated July 6 from 6 top scholars on Asia in
New York, mainly because they did not see any retraction by the NYT after an
extended period of time. The BG and the WP also never published any correction,
perhaps thinking that the whole affair had been blown over.
A year later, when the assailant had been acquitted for “temporary insanity”
because his lawyers argued that he had been tortured in Vietnam and so when he
saw me my appearance “provoked” his reaction. Never mind the evidence that had
been made public a year earlier. On May 17, 1982 the Boston Globe published an
article with the headline “Verdict: Innocent by the reason of the horrors of
Vietnam” in which it stated that I was responsible for “triggering” the attack
because I was known as a “Vietnamese Communist.” The Washington Post on May
18, 1982, published a blurb headlined “Vietnamese Ex-Officer Acquitted” in which
it stated that I had been attacked because I “had spoken on behalf of the Communist
government of Vietnam.” I am attaching that blurb here. But since the BG
publishing 3 successive articles saying that I was a Communist (in capital letters), I
am attaching three letters from three female scholars in the greater Boston area to
the Globe detailing how the 3 articles were detrimental to my welfare and to public
interest. They demanded corrective measures, including retractions.
Because of mounting pressures from scholars, on June 17, 1983, the BG published a
short “For the Record,” but not a Correction or a Retraction, that I am attaching
here. The last sentence is a snide attempt to continue to justify its redbaiting by
stating that in an interview with the Globe “Dr. Long said that in some respects he
is a socialist.” I explained in the Vietnamese portion of my current FB posting that
this was not exactly what really transpired. But it was somewhat involved and so I
am not repeating it here.
After the “For the Record” blurb the BG continued to remain silent. But because
many scholars and individuals in the Boston area did not give up, the Globe had to
print a piece by its Ombudsman on August 16 entitled “Case of a communications
gap” to explain what had happened. My own view was that the Globe did not want
its foot-dragging to be interpreted as intentional. The Ombudsman called it a
“snafu” in the concluding paragraph. I am attaching that piece here.
In fact, I concluded that it might have been malicious for some strange reasons. So,
I contacted a law firm, which was at the time situated near the Globe headquarters,
to represent me on as possible lawsuit. The senior of this law firm wrote to the
Globe on June 21, offering documentation so that the Globe would have the

necessary to make a decision. I am attaching that letter here. When the Globe did
not respond to the letter from my lawyer for an extended period I realized that may
be the law firm was too small for the biggest news organization in the New England
area (save for the NYT) to deal with. Hence, I went to the largest law firm in the
Boston area (Palmer & Dodge) to negotiated its representation. On October 4, 1982
this law firm sent a letter (attached here) to the Globe informing it that a legal
proceeding was going to take place. On December 21, 1982 the Boston Globe
publisher, William O. Taylor, wrote me a personal letter in which he apologized in
a very clever manner. I thought that was adequate because I did not want the Globe
to lose face and to have the whole affair dragged out. The letter from Mr. Taylor is
attached here.
After giving enough time for the news about what happened with the Globe to be
circulated internally by newspaper organizations, I asked the lawyer at Palmer &
Dodge to write letters to all the big newspapers that had published articles
slandering me to print retractions or they would be confronted by court cases. I am
enclosing the letter to the WP and attaching the Post’s tiny retraction. The NYT and
other papers did likewise. I thought that it was enough for a small man to gain small
victories.
A question here is why the big news organizations mentioned above red-baited me
and continued doing so for quite some time? Probably because they were big and
did not want to lose their big faces. But I think a main reason could be their
connections with American security and intelligence outfits and thought that
information supplied by them that I was possibly a communist for a spy for
Vietnam had some factual basis. After all, it was not until late 1985 that the FBI
Boston office asked the Director of the FBI to relieve it from the responsibility of
continuing investigations on me after so many years of fruitless tracking. I think I
disclosed this de-classified report some time ago. But I want to attach it here again
for convenience. I would like to draw the attention of the reader to the last
paragraph that says although evidences show that it was illogical that I would be a
spy for Vietnam, my writings and analyses were to the benefits of Vietnam. I don’t
know why the FBI officials writing the report could be so sure. Many top officials
in Vietnam don’t even know what really benefits their own country.
Herein lies sources of hope for young generations in Vietnam and in the United
States.




















Click to View FlipBook Version