Bài ngày 13/6
Bài nầy sẽ viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tiếng Việt trước, tiếng Anh sau.
This post will be in both Vietnamese and English. The Vietnamese section will
preceed the English version.
Cách đây vài ngày tôi đã đưa lên một bài viết về khía cạnh báo chí liên quan đến
việc mưu sát tôi tại Đại học Harvard cuối tháng 4 năm 1981. Tôi hứa là khi tìm
được một tí thời gian tôi sẽ viết thêm một bài về khía cạnh đại học trong việc bảo vệ
tự do học thuật (academic freedom). Cụ thể là vai trò của Đại học Harvard lúc đó,
một phần là để cho biết đại học nầy có xử sự như là “tường thành của chủ nghĩa tiến
bộ ở Mỹ” (the bulwark of American liberalism) như lời rêu rao huyền thoại hay
không. Để trả lời sơ lược câu hỏi nầy thì người đọc không những cần được cung cấp
một số tài liệu lúc đó, như đã nạp trong bài trước về khía cạnh báo chí, mà còn phải
có tài liệu và phân tích trong nhiều năm trước đó nữa.
Trước hết tôi xin nhắc lại lá thư của GS John Womack ngày 27 tháng 4 năm 1981
cho tờ Harvard Crimson trong đó cho lý do tại sao ông ấy rất lo âu về thái độ bất
bình thường của tờ báo trường nầy. Ở đoạn cuối của lá thư ông “thúc đẩy có tường
thuật đầy đủ những gì đã xảy hôm thứ năm tuần trước và kêu gọi một cuộc điều tra
bởi những nhà chức trách về một sự kiện mà có thể là một việc mưu sát có tổ chức
Tiến sĩ Ngo [Vĩnh Long.]”
Như đã đề cập trong bài trước, ông John Womack là một giáo sư danh tiếng và kỳ
cựu ở Harvard và ông ta biết những chuyện bên trong nhưng không thể bộc lộ thẳng
thừng trước công chúng. Nhưng sau lá thư ông ấy và nhiều giáo sư danh tiếng khác
đã cho biết là họ đã gọi điện cho ông hiệu trưởng Đại học Harvard yêu cầu có một
một cuộc điều tra cũng như có một phát biểu về sự kiện trước công chúng. Nhưng
ông hiệu trưởng Derek Bok im hơi lặng tiếng.
Về phần tôi, tôi nghĩ việc xẩy ra trên sân trường là để trường lo. Vả lại lúc đó tôi
phải lo đấu tranh với các tờ báo lớn nhất ở Mỹ vì tôi cho đây là mối nguy hại lớn
đối với bản thân tôi cũng như đối với việc bảo vệ tự do ngôn luận tại Mỹ. Tôi cho
việc chụp mũ tôi là Cộng Sản trên các tờ báo danh tiếng hàng đầu ở Mỹ gần như
cùng lúc không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà là có tổ chức của những người có thế
lực. Việc mấy chục giáo sư danh tiếng ở Harvard, MIT, Boston University và từ đại
học các bang khác gọi vào cho các tờ báo nầy phản đối và đòi đính chánh nhưng
ban biên tập của các báo nầy không chịu làm gì, dầu khá nhỏ, để sửa sai cho biết là
có dấu hiệu bất thường.
Sau khi tin tức về việc mưu sát tôi được truyền đến nhiều đại học và viện nghiên
cứu ở Mỹ cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới, rất nhiều học giả uy tín viết thư
cho ông Hiệu Trưởng Derek Bok yêu cầu ông ấy phải lên tiếng mạnh mẻ và công
khai chống những hành động khủng bố tôi đã xảy ra cũng như tìm mọi biện pháp để
bảo vệ an ninh cho bản thân tôi và nhân quyền của tôi. Tôi chỉ xin đưa lên 4 ví dụ
sau đây.
Ví dụ thứ nhất là lá thư đề ngày 19 tháng 5 năm 1981 của Phó GS Norman G. Owen
từ “The University of Michigan, Ann Arbor”. Ông ấy cho biết đã đọc nhiều bài báo,
trong đó kể cả tờ New York Times, và thấy là các báo đó đã cố tình bôi nhọ tôi
bằng cách nói là tôi quá khích để bào chữa cho những hành động tấn công tôi. Ông
ấy nói (đoạn 2 của lá thư) là những quan điểm của tôi về Việt Nam là thực tế, không
giáo điều, và thường được trình bày một cách dung hoà và nhẹ nhàng. GS Owen
viết tiếp: “Dẫu quan điểm của ông ấy [Long] thế nào đi nữa thì các nổ lực bôi nhọ
thanh danh học giả, hăm doạ, và kể cả mưu sát ông âý là xâm phạm tất cả mọi
nguyên tắc hàn lâm và cuộc sống ở Mỹ.”
Ví dụ thứ hai là lá thư đề ngày 29 tháng 5 năm 1981 của 6 giáo sư từ Viện Sử Thái
Bình Dương & Đông Nam Á ở Đại học Quốc Gia Úc (The Australian National
University). Đây là 6 giáo sư hàng đầu trong ngành nghiên cứu Châu Á Thái Bình
Dương và Đông Nam Á và tất cả đã đến Harvard thỉnh giảng hay dự hội thảo nhiều
lần. Người ký tên cuối cùng là GS Wang Gung-wu, đã và đang là chủ tịch của viện
ISEAS (Institute for Southeast Asian Studies), hiện nay tên chính thức là ISEAS
Inshak Institute. Tôi đã được gặp và nói chuyện với ông ấy vài lần khi đến thăm
Harvard. Đại ý của lá thư thì cũng giống như lá thư của GS Norman Owen, và câu
cuối viết: “Chúng tôi mong rằng ông, là hiệu trưởng, sẽ dùng tất cả những bước đi
cần thiết để hồi phục địa vị của Harvard như là một thành trì của tự do ngôn luận.
Phải thú thật là tất cả chúng tôi, dầu ở xa tận bên Úc, cũng cảm thấy bị đe doạ bởi
sự tấn công Ngô Vĩnh Long.”
Ví dụ thứ ba là lá thư đề ngày 3 tháng 6 năm 1981 của gần 30 giáo sư của đại học
“The University of Adelaide” ở Úc. Thư được gởi đến cho hiệu trưởng đại học
Harvard và Trung tâm Nghiên cứu Châu Á vì lúc đó tôi vẫn còn là thành viên của
trung tâm nầy. Tôi chỉ đưa lên hai trang đầu của lá thư vì nhưng sẽ không nạp trang
sau với những chữ ký. Trong 3 đoạn đầu lá thư tóm tắt những gì họ biết về sự cố
qua báo chí và về tôi qua những nghiên cứu và bài viết. Đoạn 4 của lá thư nhấn
mạnh: “Chúng tôi đề nghị ông lên tiếng chống những hành động xâm phạm Ngô
Vĩnh Long và công báo rằng cộng đồng đại học của ông sẽ mạnh mẻ từ khước các
hành động khủng bố. Sự leo thang tấn công Long trong hai năm qua chứng minh
rằng một phản ứng nhẹ hơn sẽ chỉ khuyến khích những vi phạm nghiêm trọng hơn.”
Ví dụ thứ tư là lá thư ngày 22 tháng 5 của chủ biên tập san “Journal of
Contemporary Asia,” ông Peter Limqueco, cho hiệu trưởng Harvard nói rằng đã có
đủ bằng chứng cho thấy một vài giáo viên ở Harvard đã thông đồng với các cựu
chiến binh Sài Gòn để mưu sát tôi. Ông Limqueco đã nhắc lại lời Stephen Young đã
tuyên bố trong cuộc phỏng vấn với tờ Boston Globe rằng “theo nguyên tắc cổ
truyền Á Châu thì một cá nhân có thể đánh giết bất cứ một nhân vật lãnh đạo nào
mà người ấy cho là ‘tàn ác’ vì việc nầy không bị coi là phạm tội.” Ông Limqueco
viết tiếp: “Đây là việc dùng sự kỳ thị chủng tộc để biện hộ cho một hành động tội
phạm và để che đậy sự đồng loã.” (Xem đoạn 2 của lá thư.) Đoạn cuối của lá thư
viết: “Tôi mạnh dạn yêu cầu ông điều tra 2 sự cố kể trên và bảo vệ tự do học thuật
và nhân quyền của Tiến sĩ Ngô Vĩnh Long."
Ông hiệu trưởng Derek Bok trả lời tất cả những người đã viết cho ông với những lá
thư gần như giống hệt (chỉ thay đổi địa chỉ và ngày viết) như thư ngày 1 tháng 6
năm 1981 cho GS Norman Owen kèm theo đây. Trong đó, bắt đầu từ đoạn, ông nói
là theo ông biết “việc cật vấn Tiến sĩ Long là do những người di tản không có quan
hệ với Harvard.” Câu sau nói rằng: “Mặc dầu có những đồn đãi nhặt nhạnh qua
người khác (secondhand rumors) là có một hay vài người [của Harvard] có dính líu
như thế nào đó đến việc đối đãi Tiến sĩ Long, nhưng chúng tôi đã xem xét vấn đề và
không thấy bằng chứng về việc dính líu.”
Mặc dầu ông Bok là luật sư và đã là hiệu trưởng Trường luật Harvard (Harvard’s
Law School) trước khi trở thành hiệu trưởng đại học Harvard, đây rõ ràng là một
việc chẻ tóc khá thô thiển trong khi đánh lạc người đọc và dư luận bằng cách chỉ tay
vào một cá nhân. Xin nhắc là ông Ted Hartry, giám đốc trụ sở ở Boston của Uỷ ban
Cứu trợ Quốc tế (International Rescue Committee) đã chính tay đưa báo chí tài liệu
cho biết là trụ sở nầy đã được dùng làm nơi tổ chức vụ mưu sát tôi. Tờ The Harvard
Crimson đã đăng tin nầy ngày 29 tháng 4 năm 1981 cho biết rằng một lá thư đã
được gởi ra cho cộng đồng người Việt khắp nơi nói tôi là tình báo của Cộng Sản
Việt Nam và thúc đẩy những người chống cộng hãy đến buổi nói chuyện để “đánh
tan xác tai hoạ của dân tộc và kẻ thù đã tàn sát gia đình chúng ta.” Bài báo của
Robert Levy đăng ngày 7 tháng 5 trên tờ Boston Globe cho biết thêm là bao nhiêu
“tờ rơi” (leaflets) đã được phát ra trong cộng đồng người Việt ở bang Massachusetts
và các bang kế cận khích động kéo người đến buổi nói chuyện để hành hung tôi.
Qua cuộc phỏng vấn với Stephen Young, lúc đó còn là Dean of Students ở trường
luật Harvard và là thành viên của Harvard’s Center for International Affairs, Levy
cho biết Young nói rằng tuy chính ông ta không trực tiếp khích động cộng đồng di
tản làm hại tôi nhưng ông ta có đưa tin về buổi nói chuyện cũng như đã thường làm.
Nguyên văn: “Young denies the charge, but concedes that, as a devoted friend of
the refugees and as a speaker of the Vietnamese language. he provides all kinds of
information to the refugee community, including news of relevant speaking events.”
Theo bài báo, cột 2 trang 2, Stephen Young cho biết rằng hai vợ chồng ông ta đã
gây quỹ để trả chi phí bào chữa cho thủ phạm ném bom xăng và vợ của Young là
thủ quỹ. Young đổi thừa là chính tôi khiêu khích việc tấn công tôi vì tôi có mặt ở
các buổi thảo luận như là một người biện hộ cho Cộng Sản Việt Nam. Nguyên văn:
“Rather, he said, Long "provokes" reaction by appearing on platforms as an
apologist for the Communists in Vietnam.”
Đây vẫn là cách chụp mũ và đổi thừa nạn nhân (tiếng Mỹ gọi là “victim-blaming”)
để tránh án. Nhưng sự thật chính Young là người tổ chức buổi nói chuyện ở
Harvard và cho một sinh viên liên lạc với tôi để dấu tay. Lúc đầu, khi Stephen bảo
một sinh viên Mỹ gọi tôi nói là do GS Roger Fisher của trường Luật mời và ông ấy
sẽ là người điểu hành (moderator) buổi thảo luận tại trường Kennedy. Nhưng trong
khi GS Fisher tạm đi vắng thì Stephen Young đã cố tình thay nơi nói chuyện đến
thính phòng dưới hầm của Trung tâm Khoa học, không có cửa hậu để có thể thoát
ra khi gặp sự cố. Các người được tổ chức đến hành hùng tôi đã biết chỗ và đến
trước với gậy gộc, chứ không chỉ thủ phạm với 2 quả bom xăng. Như bài báo của
Robert Levy cho biết, khi tôi đến nơi thì tôi biết ngay là tôi bị bẫy và lập tức cho
người gọi cảnh sát của trường. Những người cảnh sát nầy sau đó cũng công nhận
với báo chí là họ đã bị lừa cho nên phản ứng không kịp. (Xin đọc lại bài của trên
của Robert Levy và các bài khác sau nầy để biết những chi tiết liên quan vì tôi
không muốn lập lại ở đây.)
Tôi muốn lưu ý là tất cả những việc trên và nhiều chi tiết khác ông Hiệu trưởng
Derek Bok đều đã có thông tin trước khi viết trả lời các học giả khắp nơi đã thúc
đẩy ông nên lên tiếng về việc đã xảy ra và cho biết là sự cố đó không thể chấp nhận
được. Thế nhưng ông không làm việc nầy, nói rằng một công bố như thế chả có ích
lợi gì. Ông cho biết lý do là những người trong cộng đồng Harvard không phải là
những người có trách nhiệm đối với sự cố. Thêm nữa, những người trực tiếp dính
liú đến sự cố thì không có quan hệ với Harvard nên không chắc là họ sẽ đọc công
bố và họ cũng chẳng cần thiết để ý đến thông điệp của một công bố như thế.
Nguyên văn tiếng Anh: “In these circumstances, it seems rather fruitless to issue a
statement condemning the incident. Members of the Harvard community, to whom
such a statement would be directed, were not responsible for the actions involved.
Those who were involved are persons not connected with Harvard who would
presumably not read the statement nor care particularly about the message it
conveyed.”
Thay vì làm một việc không ích lợi như ông nói ở trên, ở đoạn cuối ông Derek viết
(bắt đầu từ câu 4 ở đoạn cuối thư): “Điều chúng tôi có thể làm là khuyến khích môt
sự truy tố mạnh mẻ cá nhân đã thảy bom xăng vào Tiến sĩ Long và sẽ đặc biệt chịu
khổ (take particular pains) để cung cấp các biện pháp an ninh khi Tiến sĩ Long hay
những diễn giả gây ra tranh cãi khi họ có mặt ở Harvard.” Nguyên văn: “What we
can do is to encourage a vigorous prosecution of the individual who threw the
firebomb at Dr. Long and take particular pains to provide strong security measures
whenever Dr. Long or other controversial speakers appear at Harvard.”
Không những ông Derek Bok tránh né việc điều tra hay lên tiếng rõ ràng là không
chấp nhận việc một nhóm người đã tổ chức mưu hại tôi bằng cách chỉ tay vào một
cá nhân độc nhất, ông còn cố tình ám chỉ tôi là người gây sự (controversial) và đã
làm cho Harvard đặc biệt phải chịu khổ. Tại sao có trò ảo thuật với ngôn ngữ luật sư
như vậy?
Ông Derk Bok bắt đầu làm hiệu trưởng Harvard từ năm 1971 và trước đó là hiệu
trưởng Trường Luật của Harvard như tôi đã đề cập ở trên. Ông biết thừa là từ khi
tôi đến Harvard năm 1964 cho đến khi tôi lấy bằng tiến sĩ năm 1978, tôi không bao
giờ gây ra tranh cãi hay gây sự, tuy thường có nói chuyện công khai về chính sách
của Mỹ và tình hình ở Việt Nam. Phần lớn là tôi thỉnh giảng trong lớp của các giáo
sư và cộng tác cả với những vị cố vấn chính phủ Mỹ về chính sách ở Việt Nam với
lý do là tôi mong dần dần có thể ảnh hưởng họ. Nếu ông Bok quên là tôi đã hoạt
động như thế nào thì ông chỉ cần gọi điện cho một vài giáo sư đã làm việc với tôi tại
Harvard trong nhiều năm là biết ngay.
Xin nhắc quan hệ giữa tôi với GS Samuel P. Huntington mà ông ta đã đề cập trong
thư cho INS tháng 6 năm 1968 như là một ví dụ điển hình. Trong thư nầy ông
Huntington đã nói là lúc đó ông đã biết tôi được 18 tháng và tôi đã gặp ông thường
mỗi tuần vì ông là người hướng dẫn “luận án danh dự” (Honors thesis) của tôi.
Đúng là tôi có gặp ông mỗi tuần, nhưng không phải chủ yếu vì ông hướng dẫn luận
án cho tôi. Không ai bao giờ làm thế mỗi tuần, kể cả với sinh viên tiến sĩ. Một tháng
1 lần là quá may rồi.
Ông gặp tôi thường như thế vì lúc đó ông là cố vấn cho Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc
Phòng. Ông thấy chính sách “bình định nông thôn” ở miền Nam từ năm 1966 trở đi
là không có hiệu quả nên ông cần tôi cung cấp tài liệu và tranh luận với ông để có
thể hiểu những lý do tại sao. Sau đó ông đưa ra chính sách gọi là “bắt buộc đô thị
hoá” (forced-draft urbanization). Ngắn gọn thì chính sách đó như sau: Dồn những
người ở thôn quê vào các thành thị (chứ không phải vào các “trại cải tạo” mà làm
cho người ta càng bất mãn và chống đối thêm) rồi sau đó chính phủ Mỹ chỉ cần chi
một số tiền không lớn là sẽ có thể kéo họ về phía chính quyền Sài Gòn. Ông còn gọi
đây là “Cách mạng xe Honda” (the Honda Revolution) vì chỉ cần khoảng 300 đô la
là mua được một xe gắn máy Honda cho một gia đình từ nông thôn để tạo điều kiện
sinh sống cho gia đình nầy. Qua đó, dần dần chính phủ Mỹ và chính quyền Sài Gòn
sẽ lấy được hậu thuẩn của người dân. Tôi hỏi GS Huntington là ông ấy có bao giờ
nghĩ rằng một cán bộ Việt Cộng có thể chạy xe Honda nhưng trong đầu vẫn nghĩ
đến việc làm cách mạng hay không? Nếu ông Huntington còn sống thì chắc ông ta
sẽ cười vào mặt tôi: “Long, mầy thấy không? Mấy thằng cán bộ ở Việt Nam bây giờ
lái xe Honda, Toyota, BMW, v.v., và quên mẹ cách mạng là gì rồi!” Nhưng đó là
chuyện khác.
Tôi kể lại quan hệ với Huntington để cho biết nếu tôi là người hay gây tranh cãi hay
gây sự thì không thể nào đã có thể làm việc với ông ấy, và nhiều cố vấn cho chính
phủ Mỹ như Henry Kissinger và Ithiel de Sola Poole, một giáo sư chính trị học ở
MIT có chương trình dùng máy tính để đo lường thay đổi tình hình xã hội và chính
trị ở nông thôn miền Nam (gọi là Hamlet Evalution System, HES). Tuy tôi không
thích gần những người có quyền lực hay những người thích có quyền lực (như
Kissinger đã nói “quyền lực là thuốc kích dục tối thượng”) tôi đã ôn hoà với mong
ước là có thể thuyết phục họ đến mức nào đó vì lợi ích của Mỹ, của Việt Nam và
của cộng đồng con người.
Ông Bok đã được nhiều giáo sư ở Harvard nhắc về quá khứ của tôi sau sự cố, và
được nhiều lá thư từ khắp nơi viết vào cho biết cá nhân tôi là người như thế nào.
Thế nhưng ông ấy vẫn bỏ qua những thông tin đã được cung cấp và, trái lại, dùng
lời lẽ ngoằn ngèo để đổi thừa nạn nhân như trong thư trả lời GS Norman Owen và
bao nhiêu học giả khác ở Mỹ và ở nước ngoài.
Tôi cũng xin lấy cơ hội nầy để cho biết thêm là trong những năm từ giữa thập kỷ 60
đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước tôi được nhiều nơi biết đến không phải chỉ vì
những trình bầy của tôi về chính sách của Mỹ Việt Nam, về lịch sử và xã hội Việt
Nam, hay về Trung Quốc và Nhật (hai môn học chính thức của tôi khi lên cao học).
Kể cả khi tôi viết về Việt Nam tôi muốn qua đó để nói đến những vấn đề chung của
lịch sử và phát triển xã hội các nơi khác trên thế giới. Lấy ví dụ cuốn sách đầu tay
của tôi về nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (Before the Revolution: The
Vietnamese Peasants under the French) mà tôi đã viết xong năm 1969 và được
Harvard nhận xuất bản. Nhưng vì một số trắc trở, mà không thể giải thích ở đây vì
quá dài dòng, mãi đến tháng giêng năm 1973 mới được đại học MIT cho ra đời.
Tôi viết sách nầy chủ yếu là để trình bày với các giáo sư Harvard và MIT là việc
nếu họ không lưu ý đến vấn đề nông thôn và nông dân, đặc biệt là những gì đã xảy
ra dưới thời Phấp thuộc, thì dẫu có tàn phá đến đâu đi nữa rốt cuộc sẽ không có thể
thắng ở Việt Nam. (Xin đọc lời giới thiệu ban đầu và lời giới thiệu thứ hai sau khi
được đại học Columbia tái bản năm 1991 để biết rõ thêm các lý do.) Nhưng việc
cuốn sách nầy được coi là một “tác phẩm kinh điển” (classic) không lâu sau khi ra
đời là vì tôi trình bày những vấn đề mà các chuyên gia về Việt Nam, về Trung
Quốc, và về nông dân không để ý trước đó. Tôi xin chỉ đưa ra hai ví dụ sau đây:
Ví dụ thứ nhất là trong chương 4, với tựa “Usury and Agrarian Credit” (Vay nặng
lãi và Tín dụng Nông thôn), tôi giải thích tại sao cho vay nặng lãi vì thiếu tín dụng
cho nông thôn và việc tín dụng chỉ tập trung vào tay những địa chủ lớn đã dẫn đến
việc họ dùng tiền để làm tiền vì có lợi hơn gấp nhiều lần dùng tiền để đầu tư cho
tăng gia sản xuất. Do đó sản lượng lúa và các nông phẩm khác càng ngày càng giảm
thiểu và xuống cấp. Đây cũng là vấn đề lớn cho nền kinh tế Mỹ trong hơn hai thập
kỷ vừa qua. Tư bản càng ngày càng dùng tiền để làm thêm tiền qua thị trường
chứng khoán, qua tín dụng của các ngân hàng, v.v., thay vì đầu tư vào phát triển
kinh tế và xã hội. Do đó, chỉ trong một thời gian ngắn, 1% những gia đình chóp bu
đã giàu thêm gấp hai—chiếm hữu 45% toàn bộ tài sản (total wealth) ở Mỹ và cũng
đang chiếm hữu tỷ lệ tương đương của Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP). Các gia
đình thuộc thành phần gọi là “trung lưu” trong hơn chục năm qua cũng phải có hai
đầu lương mới đủ sống.
Ví dụ thứ hai là trong chương 5, với tựa “Industry and Foreign Trade” (Công
nghiệp và Ngoại thương), tôi cho biết đến năm 1929, tức là năm cao điểm nhất, thì
toàn bộ “công nhân” (kể cả những người làm trong các “xí nghiệp” chưa đến 10
người) ở 3 nước Đông Dương cũng chỉ có 86 ngàn người. Nếu tính cả những người
trong các mỏ và các đồn điền (cao su, v.v.) thì cũng chưa đến 150 ngàn người.
Thương mại chủ yếu là xuất khẩu lúa gạo, than và cao su; và phần lớn là trong tay
Hoa Kiều và người Pháp. Rốt cuộc là công nghiệp hoá và đô thị hoá không phát
triển.Không phát triển kỷ nghệ và đô thị thì không phát triển được nông thôn vì
không thể cung cấp được cho nông thôn những thứ cần thiết. Mà muốn phát triển
nông thôn thì phải chú trọng đến việc phát triển con người, trong đó có đầu tư cho
giáo dục và y tế. Đây là những vấn đề nhiều người đến nay vẫn chưa hiểu thấu đáo.
Ở Việt Nam thì mãi đến những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 nhiều
chuyên gia vẫn nói đến phát triển “cây và con” (cây lúa, cây ăn trái… con gà, con
trâu, con bò, con lợn…) Nhưng nhiều người nhìn tôi trố mắt, tưởng tôi đùa, khi tôi
hỏi: “Còn con người thì sao?”
Vì tôi để ý đến quan hệ cộng sinh giữa phát triển nông thôn (chứ không phải chỉ
nông nghiệp) và phát triển thành thị, trong đó vấn đề phát triển con người là chính,
tôi được nhiều nơi mời thỉnh giảng trong những năm cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ
70. Trào lưu lúc đó là nói về “thiếu phát triển” (under-development) ở các “nước
chậm tiến” (under-developed countries). Các chuyên gia thường cho là một trong
những vấn đề chính cho sự chậm tiến là nạn “nhân mãn” (over-population). Tôi,
ngược lại, đưa ra phân tích cho biết tại sao từ “nhân mãn” là từ có tính chất chính trị
chứ không phản ánh thực chất của vấn đề chậm tiến. Tôi trình bày những vấn đề
chính trị và kinh tế, trong đó có sự bất bình đẳng, làm cho “vốn con người” (human
capital) không phát triển được. Ở các nước nghèo, và ở các vùng nghèo trong một
nước giàu, người ta thường sinh đẻ nhiều hơn vì những lý do như cần thêm nhân
lực để tồn tại, cần an ninh về tâm lý, v.v.
Kèm theo đây là lá thư đề ngày 15 tháng 10 năm 1974 của ông thống đốc bang
Massachesetts, Francis Sargent (đảng Cộng Hoà), cám ơn tôi đã nhận lời tham dự
ngày “Hội thảo Liên Hiệp Quốc về Dân số Toàn Cầu.” Tôi đã để cả ngày nói
chuyện với mấy trăm học sinh và sinh viên ngoại quốc học ở bang Massachusetts và
trao đổi với họ về những vấn đề cá biệt của nước họ hay khu vực họ đang ở. Tôi
cũng kèm theo đây lá thư ngày 29 tháng 10 năm 1974 của trợ lý ông thống đốc cám
ơn tôi là đã giúp các học sinh, sinh viên đến dự hiểu một số vấn đề quan trọng tuy
một số em, vì sinh ngữ kém, nên có thể hiểu không hết.
Tôi xin thêm một ví dụ về việc tôi không chỉ đi thỉnh giảng về Việt Nam với lá thư
kèm theo đây của GS William W. Goldsmith, giám đốc “Viện Nghiên Cứu về Kế
hoạch hoá Quốc tế” (International Studies in Planning) của Đại học Cornell danh
tiếng. Tôi được mời đến trình bày về một số vấn đề về kế hoạch hoá (hay thiếu kế
hoạch hoá) đô thị ở một số nước Đông Nam Á và bài học rút ra cho vấn đề phát
triển. Có thể vì quảng cáo quá tốt, hay vì sinh viên và giáo viên Cornell đã nghe tôi
thỉnh giảng nhiều lần, khoảng 300 người đến hội trường để tham dự. Theo lá thư
cám ơn tôi đề ngày 10 tháng 6 năm 1981 ông giám đốc cho biết là theo đánh giá của
sinh viên thì chưa bao giờ thấy họ mãn nguyện đến thế. Ông cũng cho biết thêm là
chưa bao giờ có đông người đến dự như thế. Câu cuối nói rằng mọi người đến nghe
đã rất thích nhận được những thông tin rất vững chắc của tôi về một đề tài rất mơ
hồ đối với thính giả Mỹ.
Tôi đưa ra những ví dụ trên để cho biết là tôi không thể nào quá khích như những
người đã vu cáo tôi. Và tôi không thể tưởng tượng được là ông Derek Bok đã có thể
đi đến những kết luận trong thư ông viết cho hàng chục giáo sư và trí thức ở Mỹ và
nhiều nước khác như trên. Tôi nghĩ tôi có thể giải thích thủ đoạn của ông ấy với
những tài liệu hiện có. Tôi không nghĩ ông ấy bị “điên chớp nhoáng tạm thời”
(temporary insanity) như luật sư đã biện hộ cho thủ phạm ném bom xăng vào tôi.
Nhưng tôi cần phải cung cấp tài liệu dẫn chứng và việc nầy cần thời gian mà tôi
không có đủ hôm nay.
Hạ hồi phân giải vậy!
English section:
A few days ago I uploaded a piece from the angle of the press about the attempt on
my life at Harvard University in late April 1981. I promised then that when I could
find a little spare time I would write another post from the perspective of a
university in regard to protecting academic freedom. Specifically, I would like to
show whether the behavior of Harvard University at the time reflected the oft-
quoted myth that it was “the bulwark of American liberalism.” In an attempt to
answer this question a reader will not only need to be supplied with some
documentary evidences, as in the case of the former post from the perspective of the
press, but also documents and analyses from previous years.
First of all I would like to call attention to the letter by Prof. John Womack printed
in the Harvard Crimson on April 27, 1981. In particular to the last lines of that
letter: “I urge you to report fully on the events of last Thursday and to call for an
investigation by the appropriate authorities of what may well be as conspiracy to
murder Dr. Ngo.”
As stated in my last post, Prof. Womack was a long-time famous faculty member at
Harvard and had inside information that he felt he could not very well announce
publicly at that time. But he and other famous professors did make private appeals
to President Bok to open an investigation and to make a public statement about the
events. But Mr. Bok remained silent.
As far as I was concerned the incidents occurred on Harvard campus and hence
Harvard had the responsibility to deal with it. Moreover, at that time I had to face
some of the biggest newspapers in the United States because I perceived this was a
big danger to me personally as well as to the need for protecting freedom of
expression in the United States generally. I thought that the red-baiting against me,
almost simultaneously, by the most well-known newspapers in the United States
was not accidental, but was a coordinated campaign by people who had influence.
The fact that scores of faculty members from Harvard, MIT, Boston University and
from universities in other states called in and registered their protests as well as
requests for retractions failed to get those newspapers to make any effort, no matter
how small, to redress the situation indicated that things were not normal.
After news about the attempt on my life arrived in many universities and research
institutions in the United States and in countries elsewhere in the world, many
respected scholars wrote to President Bok and asked him to make a strong public
statement to denounce acts of violence against me. I am attaching a letter from Prof.
Norman G. Owen of The University of Michigan (Ann Arbor); a letter of May 29
from 6 famous professors at The Australian National University (one of them is the
pre-eminent Wang Gungwu who has been chair of the Institute for Southeast Asian
Studies, ISEAS, in Singapore); a letter of June 3rd, 1981 signed by some 30 faculty
members from The University of Adelaide (South Australia), and a letter from Mr.
Peter Limqueco, editor of the Journal of Contemporary Asia (headquartered in
Stockholm at that time). In these letters the professors testify that I was a reasonable
and low-key person, that I was one of the top scholars in the field of Asian studies,
that President Bok should make strong statements against “… these attempts to
blacken his [Long’s] scholarly reputation, to intimidate him, and even to murder
him violate every principle of academic and of American life. I expect Harvard,
which both train this brilliant scholar and witnessed these despicable attacks on
him, to lead in the defense of these principle.” (quoting from the last 4 sentences of
the letter by Prof. Owen)
The response from President Bok to Prof. Owen and all other writers is almost
identical, except for the dates and the addresses. So, I am going to attach only the
one to Prof. Owen here. But I would like to extract some sentences from the letter
and paste them here so that I could comment on them without making the reader go
back and forth to the document:
"As best we can determine, the heckling of Dr. Long was also carried on by
Vietnamese immigrants not connected with Harvard. Although vague and
secondhand rumors reached us that one or more Harvard persons might have
somehow been involved with the treatment accorded Dr. Long, we have examined
the matter and found no evidence of such involvement."
"In these circumstances, it seems rather fruitless to issue a statement condemning
the incident. Members of the Harvard community, to whom such a statement would
be directed, were not responsible for the actions involved. Those who were
involved are persons not connected with Harvard who would presumably not read
the statement nor care particularly about the message it conveyed."
Although Bok was a lawyer and Dean of the Harvard’s Law School before
becoming the president of Harvard University this was a clear case of hairsplitting
and obfuscation. Recall the report by the Harvard Crimson on April 29, 1981 and
the article by Robert Levy in the Boston Globe on May 7, 1981 stating that Ted
Hartry, the director of the International Rescue Committee, had given firsthand
documentations to both newspapers showing that the attacks against me had been
organized in the basement of this institute, that Stephen had admitted that he gave
information about the forum to the Vietnamese communities in Massachusetts and
neighboring states, that Young himself had organized the forum, using the name of
Prof. Roger Fisher to bait me and to camouflage his plan. (Please read the 2
mentioned reports and other documents loaded with my last FB post if you want to
refresh your memory about the details.)
Bok’s legalese in the following sentence to sidestep the whole thing while implying
that I was a “controversial” speaker is curious: “What we can do is to encourage a
vigorous prosecution of the individual who threw the firebomb at Dr. Long and take
particular pains to provide strong security measures whenever Dr. Long or other
controversial speakers appear at Harvard.” As we have seen, Harvard never did
anything to encourage any kind of prosecution “on the individual who threw the
firebomb” and the accused was found “innocent by reason of temporary insanity” a
year later.
But I don’t think Mr. Bok became temporarily insane when he threw a verbal
incendiary bomb at me by implying that I was “controversial” (and hence by
implication I had somehow provoked the attack by those who were involved in
organizing the attempt on my life.) Before becoming president of Harvard
University in 1971 Bok was Dean of the Harvard’s Law School. He knew full well,
through talks with his colleagues and my professors, that I was never a
controversial figure during my entire association with Harvard from 1964-1978. I
did give public lectures analyzing U.S. policies in Vietnam. But a large portion of
my time at Harvard was spent in giving guest lectures in classes and working, for
extended periods, with those who were advisors to the U.S. government. I did so in
hopes that I could provide useful information and analyses so a to affect certain
kind of change in U.S. policies indirectly. All Bok had to do was to pick up a phone
and called a few of these people to get some information.
Recall Prof. Samuel P. Huntington’s letter to the INS in June 1968 in which he
stated that he had known me for 18 months and that we met regularly every week
because he was my Honors thesis advisor. It was true that I had met with him every
week for 18 months, but not for getting advice on my thesis. Nobody ever did that
with their advisees, even at the Ph. D. level. Once a month was already stretching it.
I met with Huntington regularly because at that time he was a consultant to the State
Department and the Defense Department and he realized that the U.S. “rural
pacification program” was not working. He needed information and analyses with
which he could use to convince the policy makers in Washington. We had different
views and we debated, as he admitted in his letter. But he was using me to test his
theories, like someone using a wall to bounce his balls.
From these sessions and interactions with me he came out with a strategy called
“forced-draft urbanization.” The idea was that since the rural population was
becoming increasingly supportive of the “Viet Cong,” admittedly because all the
devastation caused by the bombing, the artillery shelling, the spraying of
“defoliants,” it might be best to force the rural population into urban areas (instead
of the so-called “refugee camps” where they would become increasingly frustrated
and anti-US as a result) and provided them with some means for making a living.
He said, for example, that if the U.S. government was to give Vietnamese families
moved from rural areas into urban areas each a Honda moped (motor cycle), which
cost about $300 at the time, that might well buy its support for the Saigon regime
and the United States. Huntington also officially nicknamed his strategy "The
Honda Revolution." My response was that I was wondering whether a Vietcong
cadre riding a Honda would be any less socially concerned or less revolutionary.
Come to think of it, Huntington might have had a point there. If he is still alive
today he might laugh at me to my face, saying: “Long, what did I tell you?
Government officials in Vietnam are now driving Honda's, Toyota's, BMW's, etc.,
and they seem forget what the hell it means to be a revolutionary.” But that is
another story altogether.
The point I want to make here by recalling my relationship with Prof. Huntington is
that I was never at all that “controversial.” I had definite views of my own and was
never afraid to express them to people of different political bents. I was able to
work with Huntington and most of his associates like Henry Kissinger and Ithiel de
Sola Poole, a political science professor at MIT who had a project that used
computers to evaluate changing social and political conditions in the rural of South
Vietnam (HES, Hamlet Evaluation System).
Although I did not like to be near people in power or people who wanted to have
power (like Kissinger who once stated publicly that “power is the ultimate
aphrodisiac”), I was reasonable and low-key in hopes of gaining support for ideas
that might be beneficial to the interests of the United States, of Vietnam, and of the
human community. Mr. Bok was actually reminded by Harvard professors directly
and those who wrote him that I was always reasonable and low-key.
I would also like to take this opportunity to point out that from mid-1960s to mid-
1980s I became known in many circles not only because of my presentations on
U.S. policies in Vietnam, on Vietnamese history and society, or on China and Japan
(the two main areas of my graduate studies). Even when I wrote about Vietnam,
most of the time I was trying to connect the issues presented to general historical
and social developments elsewhere in the world. Take my first book (Before the
Revolution: The Vietnamese Peasants under the French), for example, that the MIT
press issued in January 1973 whose manuscript had been completed in 1969 and
Harvard had tentatively agreed to publish in monograph form. Why I took this
manuscript to MIT and revised it down for publication is too involved to explain
here.
I produced this book manuscript mainly for showing some Harvard and MIT
professors who were advising the U.S. government at the time that if they refused to
pay attention to the problems confronting the rural areas and the peasantry in
Vietnam, especially those already arose during the French colonial period, then the
United States would never be able to win in spite of all the destruction. (Please read
both the introductions to the MIT edition in 1973 and the Columbia University
edition in 1991 for details on the reasons for the book.)
The fact that the book was widely considered a “classic” not long after it was first
issued had to do with questions posed therein that specialists on Vietnam, China,
and peasants had not paid too much attention to previously. I would like to point out
only two examples from the book here.
The first example has to do with Chapter 4, entitled “Usury and Agrarian Credit,” in
which I tried to explain that interests on loans were extremely high because of the
lack of credits in the agrarian sector and because what credit there was got
concentrated in the hands of the big landlords. The high loan interests, many times
what the landlords could get from sharecropping and land rents, led them to use
money to make more money instead of investing in improving or maintaining
yields. Therefore, the productivity of rice and other crops decreased drastically in a
relatively short period of time.
A seemingly similar phenomenon has produced increasing big problem in the
United States where capital has been used for making more money through the
stock markets and through bank loans rather than through investments in
production. A a result, in a relatively short period of about 25 years, the top 1% of
the American households have doubled their ownership of total wealth (about 45%)
and have been able to control a similar percentage of the annual GDP. Even so-
called middle-class American households now each normally has to have two
incomes in order to make ends meet.
Another example from my book is Chapter 5, entitled “Industry and Foreign
Trade,” in which I show that in the peak year of 1929 the total number of “workers”
(including those in workshops employing less than 10 workers each) for the three
countries of Indochina was only 86,000 persons. If one were to include all those
employed in the extractive industries such as the mines and the rubber plantations
as workers, then the total number did not even reach 150,000. Commercial activities
were mostly concentrated in the export of rice and other raw materials such as latex
from rubber trees, activities which were mostly in the hands of the Chinese minority
and French colonialists. As a result, there was a lack of industrialization and
urbanization that I pointed out were much needed for rural development because
commodities needed for the rural areas for development were not available.
Furthermore, I argued that rural development had to place priorities on the rural
population with such needed resources as education and health care.
These are issues that many people do not even fully comprehend even today. In
Vietnam, even in the late 1980s and early 1990s, many experts I met were still
concentrating almost exclusively on what was known as “plants and animals” (rice
plants and pigs, for example). And they stared at me in bewilderment, thinking that
I was joking, when I asked: “What about the human animals?”
Because I paid attention to the symbiotic relationship between urban development
and rural development (and not only agricultural development), where I thought
human development was a central factor, I was invited to give guest lectures in
many places during the late 1960s and early 1970s. The fad during this period was
to talk about “under-development” in “under-developed countries.” The experts
usually attributed so-called “over-population” as a main cause. I presented
evidences to show why “over-population” was a political term that did not truly
reflect the real reasons behind under-development. I gave political and economic
evidences, among them social inequality, as reasons for causing human capital to be
stymied. In poor countries, and in poor regions of rich countries, poor families had
higher birthrates because of the need for additional labor for survival, because of
psychological insecurity, and so on.
Attached is a letter of October 15, 1974, from Governor Francis Sargent (a
Republican), thanking me for having agreed to speak to an audience of foreign
students gathered from different areas in Massachusetts for the “United Nations
Day Symposium on World Population." I spent almost the whole day speaking to
several hundred students on general issues as well as on specific problems in the
particular areas, and even countries, where the students came from. Also attached is
a letter from Governor Sargent’s top assistant after the symposium, thanking me for
having given useful information and analyses.
Another example of me giving guest lectures not only on Vietnam is given by the
attached letter from Prof. William W. Goldsmith, director of the International
Studies in Planning Institute at Cornell University. About 300 students from all over
the University had come to my lecture in March 1981. But Prof. Goldsmith wanted
to wait until he could read the participants’ evaluations before writing me on June
10, 1981. He added: “Turns out, it was worth it. The evaluations were a real
pleasure to read. We have never had such a pleased (and large) audience.”
The above examples are meant to show that I could not have been as provocative as
my detractors claimed. What surprised me was the fact that Derek Bok threw a
sneaky verbal parting shot at me in his response to letters by scores of professors
and intellectuals from all over the United States and from universities and
institutions elsewhere. I don’t think that he had been affected by “temporary
insanity,” the defense excuse given by lawyers for the person who actually threw
the firebomb at me.
I think I know some of the reasons behind Bok’s prestidigitation. But this will take
several hours to present with documentation while I do not currently have the
needed time to perform this task.
I will try to do this in an upcoming post.
Bài ngày 23/6, hay tại sao Ngô Vĩnh Long không thể được bổ nhiệm làm giáo
sư ở Harvard dù có Thư giới thiệu nhiệt thành của nhiều học giả lừng danh thế
giới trong lĩnh vực nghiên cứu của ông.
Bài viết sau đây là để cung cấp thêm thông tin cơ sở về việc mưu sát tôi tại đại học
Harvard cuối tháng 4 năm 1981 mà tôi đã trình bày trong bài viết ở trang FaceBook
nầy vào ngày 8 tháng 6 và ngày 13 tháng 6 vừa qua. Khó có thể hiểu rõ thái độ của
những tờ báo lớn nhất ở Mỹ và phản ứng của ông hiệu trưởng Harvard như tôi đã
trình bày nếu không biết được hậu cảnh tại Harvard và bối cảnh chính trị tại Mỹ
trong những năm sau chiến tranh Việt Nam kết thúc đến giữa thập kỷ 80 của thế kỷ
trước.
This post is meant to supply additional background information about the attempt
on my life at Harvard in late April 1981 that I described in the June 8 and June 13
posts on this FaceBook account. It is difficult to have a clear understanding of the
attitudes of the largest American newspapers and the reactions of the president of
Harvard University that I presented in those two posts without knowing some of the
things that went on behind scene at Harvard as well as the political atmosphere in
the United States from the end of the war in Vietnam until the mid-1980s.
Bài nầy sẽ viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Phần tiếng Việt trước, phần tiếng Anh
sau.
This post will be in Vietnamese and English. The Vietnamese section precedes the
English version.
Về hậu cảnh ở đại học Harvard thì tôi xin lưu ý đọc giả đến lá thư của GS John
King Fairbank đề ngày 19 tháng 8 năm 1968 cho Sở Nhập Cư (Immigration
Service) của chính phủ Mỹ tại Boston. Đoạn cuối ở trang 1 nói rằng lúc đó Harvard
đang thiết lập một chương trình học về lịch sử cận đại của Việt Nam và cần có sự
trợ giúp của tôi và người vợ tôi lúc đó để chương trình nầy có thể phát triển vì ông
cho rằng chúng tôi là hai sinh viên cao học giỏi nhất mà Harvard đã có thể tuyển
chọn. Ông cho biết thêm là lúc đó Harvard (tức ông và chương trình nghiên cứu Á
Đông) đã “thu thập tài trợ của cựu sinh viên, sách vở, sinh viên, và nhiều nguồn lực
khác” cho chương trình nầy.
Tôi đã biết GS Fairbank từ năm 1966 qua những lần thuyết trình cùng với ông về
các vấn đề Á Đông, tuy lúc đó tôi đang học bên chương trình quan hệ quốc tế. Đến
đầu năm 1968 thì ông thuyết phục tôi đổi qua chương trình nghiên cứu Á Đông Học
(East Asian Studies) vì ông thấy tôi có thể đóng góp cho việc ông muốn phát triển
chương trình. Lúc đó người vợ mới cưới của tôi đang học về y khoa cũng muốn
theo học cùng ngành và được tuyển vào chương trình thạc sĩ gọi là “Khu vực học
Đông Á” (East Asia-Regional Studies). Chương trình nầy lúc đó có 64 sinh viên.
Đến năm 1970 cả hai đứa chúng tôi và 1 trong 62 sinh viên kia được chọn vào
chương trình tiến sĩ về “Lịch sử và Sinh ngữ Á Đông” (East Asian History and Far
Eastern Languages). Chương trình cũng chọn thêm 2 sinh viên khác từ các đại học
khác. Thường chỉ có 3 đến 4 sinh viên được chọn, nhưng năm đó đặc biệt là có đến
5 sinh viên.
Mặc dầu chúng tôi đã được chọn vào chương trình tiến sĩ, chính phủ Mỹ vẫn còn
tìm cách trục xuất tôi như hồi năm 1968. Lại phải tranh đấu một thời gian mới được
cho ở lại, với sự hiểu ngầm là có bằng tiến sĩ thì phải rời nước Mỹ. Do đó tôi cố
tình trì trệ bằng cách xin học đủ thứ lớp về kinh tế, v.v., nói rằng tôi cần biết những
môn đó để khỏi phải lấy bằng tiến sĩ sớm. Năm 1975 chiến tranh ở Việt Nam chấm
dứt. Lúc đó GS Fairbank đã gầy được một quỹ khoảng 5 triệu đô la (tôi không biết
chắc) cho chương trình gọi là “Nghiên cứu Trung-Việt” (Sino-Vietnamese Studies).
Khoảng một nữa là từ Asia Foundation (Quỹ tài trợ Á Đông). Lúc đó, trong giới
nghiên cứu, nhiều người cho biết rằng quỹ nầy là một chương trình của CIA.
Sau năm 1975 thì ghế giáo sư ở Harvard trong chương trình Sino-Vietnamese
Studies được đặt tên là The Kenneth T. Young Professorship vì ông ta là cố giám
đốc Asia Foundation. Như Stephen Young cho phóng viên Levy biết trong bài đăng
ngày 7 tháng 5 năm 1981, bố anh ta là Kenneth Young và là cựu đại sứ Mỹ ở Thái
Lan cũng như là người đã đề ra chương trình bình định nông thôn ở Đông Nam Á
(Việt Nam). Do đó một số giáo sư ở Harvard cười và nói đặt tên như thế thì không
khác gì đặt tên một chức giáo sư về Do Thái với tên Heinrich Himmler hay Adolf
Eichmann (hai vị cố vấn của Adolf Hitler). GS Alexander Woodside, lúc đó đã là
giáo sư chính ngạch (full professor) và được bổ vào ghế giáo sư Kenneth T. Young
nầy. Nhưng sau đó không lâu thì ông ta bỏ đi đại học Vancouver ở Canada với lý do
ông là người gốc Canada nên muốn trở về quê cũ. Có người cho rằng ông ta cảm
thấy khó chịu với cái ghế giáo sư đó và bị nhiều áp lực nên bỏ đi.
Không biết Woodside có bị áp lực của Stephen Young và phe cánh của anh ta hay
không. Nhưng anh ta cho phóng viên Levy biết, trong bài báo đã trích ở trên, là anh
ta quyết liệt chống những “kẻ thù ý thức hệ.” Anh ta cũng cho Levy biết thêm là
chính anh ta đã là một quan chức trong “chương trình phát triển nông thôn” của
Agency for International Development (AID) taị miền Nam từ năm 1968 đến năm
1971. Ở miền Nam AID trong suốt thời gian chiến tranh là một chương trình của
CIA. Ngoài ra, Stephen Young cũng thường rêu rao là anh ta sẽ tìm mọi cách để
những ai khác chính kiến với anh ta không ngồi được vào ghế giáo sư được đặt với
tên bố của mình.
Về phần tôi khi thấy Mỹ vội vả cấm vận cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam ngay
sau chiến tranh mới chấm dứt thì tôi phải lập tức đưa Trung tâm Tư liệu Việt Nam
(Vietnam Resource Center) vào tổ chức gọi là “Truyền giáo Quốc tế ở Cambridge”
(International Ministry of Cambridge). Một phần vì tôi biết một tổ chức riêng rẻ của
một nhóm người gốc Việt Nam thế nào cũng bị người ta tìm cách đập tan. Phần
khác thì tôi muốn, qua các tổ chức tôn giáo ở Mỹ và các nước khác trên thế giới,
thúc đẩy các nơi giúp nhân dân Việt Nam tái thiết đất nước. Để làm việc nầy tôi quy
tụ mấy chục người nổi tiếng trong các nghành (trong đó có một vài giáo sư có giải
Nobel) họp tác xuất bản một tạp chí 4 kỳ một năm gọi là Vietnam Quarterly. Số thứ
nhất của tờ báo ra đời vào đầu tháng 10 năm 1975, dài hơn 90 trang, có những bài
bàn đến các vấn đề xã hội, kinh tế, và môi trường ở Việt Nam trước và sau chiến
tranh chấm dứt. Số thứ hai, xuất bản đầu tháng Giêng năm 1976 tiếp tục bàn những
vấn đề hậu chiến. Ảnh bên trong bìa (kèm theo đây) của số hai cho thấy tên của các
bài và tên của những người trong ban biên tập. Phía dưới bên phải cho biết tờ
Vietnam Quarterly và Vietnam Resource Center là chương trình của International
Ministry of Cambridge.
Tôi kể việc trên để cho thấy là tôi đã cố tình lặng lẽ hoạt động với các nhóm nhà thờ
và các nhóm trí thức, chứ không làm gì để đánh tiếng hay “gây hấn” như ông hiệu
trưởng Harvard đã nói khi viết thư trả lời các học giả trên thế giới sau vụ mưu sát
tôi ở Harvard. Đến hè năm 1976, sau khi tôi bị áp lực bên ngoài đưa tờ Vietnam
Quarterly vào một hội sinh viên ở Mỹ để họ kiểm soát, tôi lập tức báo cáo với ban
biên tập và nhân viên là tôi đình chỉ tờ báo và đóng cửa Trung tâm Tư liệu Việt
Nam. Tôi thấy một tổ chức đứng riêng biệt của người Việt không có lợi, và có thể
rất nguy hiểm cho những thành viên. Ban biên tập đồng ý với phân tích của tôi và
viết thư cho tất cả những người mua báo dài hạn là chúng tôi sẽ hoàn tiền lại cho
những ai có yêu cầu. Còn không thì chúng tôi sẽ đưa số tiền còn lại cho một tổ chức
gọi là “Medical Aid to Indochina” (Viện trợ Y tế cho Đông Dương).
Kèm theo đây là lá thư đề ngày 20 tháng 10 năm 1976 của ông Joseph Buttinger nói
là ông ấy không muốn lấy lại tiền, nhưng ông ấy muốn Vietnam Resource Center
được duy trì. Ông Buttinger là ân nhân của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông ta
đã thành lập cái hội gọi là “Friends of Vietnam” (Bạn của Việt Nam), trong đó có
những người nổi tiếng như là Hồng Y Spellman, John F. Kennedy. Những người
nầy đã giới thiệu ông Ngô Đình Diệm cho Tổng thống Dwight Eisenhower và sau
đó ông Diệm được gởi về miền Nam để trở thành lãnh tụ. Ông Buttinger viết 4 cuốn
sách về Việt Nam: “The Smaller Dragon -- A Political History of Vietnam" (1958);
"Vietnam: A Dragon Embattled" (1967); "Vietnam: A Political History" (1968); "A
Dragon Defiant: A Short History of Vietnam" (1972); "Vietnam: The Unforgettable
Tragedy" (1977). Ba cuốn sách đầu là những công trình nghiên cứu rất cẩn thận.
Cuốn cuối cho chi tiết về quan hệ giữa ông với ông Ngô Đình Diệm và tại sao quan
hệ đó góp phần tạo nên “bi kịch không thể nào quên” ở Việt Nam.
Ông Buttinger quen với tôi từ năm 1968, sau khi đọc một số bài của tôi trên một số
tập san và trên báo, nên ông ấy viết thư trao đổi với tôi về lịch sử Việt Nam. Từ đó,
tôi thường gởi những bài tôi viết để ông ấy đọc và cho ý kiến. Khi ông ấy viết cuốn
sách cuối về Việt Nam thì ông ấy cũng gởi cho tôi những chương vừa viết xong
(ông ấy không dùng thư ký và thường viết tay mặc dầu rất rất giàu). Ông Buttinger
có một thư viện riêng ở thành phố New York với trên 25 ngàn cuốn sách tiếng Pháp
và các thứ tiếng ngoại quốc khác về Việt Nam và Đông Dương mà ông ấy mở cửa
cho bất cứ ai muốn đến nghiên cứu. Khi ông ấy nghe Harvard đang thành lập một
chương trình nghiên cứu về Việt Nam ông ấy đã tặng hầu hết các sách ấy cho thư
viện Widener. Khi tôi còn ở Harvard thì các tài liệu nầy được để vào một khu riêng
biệt gọi là “The Buttinger Collection.” Không biết bây giờ còn như thế không, hay
là đã bị phân tán rồi.
Trở lại quan hệ của tôi với Harvard. Sau chiến tranh Việt Nam chấm dứt thì GS
Fairbank thúc tôi xin giấy đi Pháp nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ cho
nhanh. Phải mất hơn 6 tháng, với sự ủng hộ của một số chính khách nổi tiếng của
Mỹ, tôi mới được “Travel Permit” (Giấy phép đi ra nước ngoài) và được phép sang
Pháp mùa xuân năm 1976 để nghiên cứu ở các kho lưu trữ tài liệu thời thuộc địa.
Theo tài liệu được giải mật của FBI thì khi tôi về Mỹ đầu tháng 11 năm 1976 Sở
Nhập Cảnh định ngăn tôi và gia đình ở phi trường và tìm cách trục xuất. Nhưng nhờ
sự can thiệp của ai đó (các tên bị xoá đen) nên họ đổi ý và cho tôi về nhà ở
Cambridge, bang Massachusetts.
Sau khi sắp xếp chuyện đóng cửa Trung tâm Tài liệu Việt Nam và đình bản tờ
Vietnam Quarterly, tôi bắt đầu viết luận án. Đến tháng 10 năm 1977 thì luận án
xong (dài 750 trang với gần 200 trang chú thích) và tôi đã bảo vệ luận án thành
công. Nhưng vì phải đánh máy lại luận án trên giấy 100% tố chất vải (100% cloth
content) và không được chửa những lỗi đánh máy bằng bất cứ một hình thức nào
nên tôi không nộp được trước thời hạn để lấy bằng tiến sĩ vào tháng 12 năm 1977
mà phải chờ đến tháng 6 năm 1978 mới chính thức nhận bằng. Nhưng trong khoảng
7 tháng chờ đợi tôi đã gởi các bản luận án đó đến nhiều học giả danh tiếng ở Mỹ, ở
Âu Châu và ở Úc có nghiên cứu liên quan đến Việt Nam để xin ý kiến. Cùng lúc tôi
cũng nợp một bản cho nhà xuất bản trường MIT và nhà xuất bản nầy cũng gởi luận
án đó của tôi cho một số học giả để đánh giá. Tôi đã được hứa là sau khi tôi có bằng
tiến sĩ thì tôi sẽ được phong làm “phó giáo sư” (Assistant Professor) trong chương
trình nghiên cứu về Á Đông. Nhưng tôi thận trọng và muốn xuất bản luận án ấy
càng sớm càng tốt phòng khi có sự trắc trở bất ngờ gì đó.
Đến khoảng cuối tháng 4 năm 1978 thì Khoa Lịch Sử của Harvard đăng thông cáo
tuyển chọn một phó giáo sư về “Trung Quốc và Việt Nam.” Tôi lấy làm lạ. Và lạ
hơn nữa là GS Fairbank bảo tôi phải nhanh chóng nộp hồ sơ xin việc và cùng lúc
xin thư giới thiệu và ủng hộ của các học giả trong ngành. Như tôi được biết hơn
chục lá thư của các nhà nghiên cứu khắp nơi gởi vào ủng hộ tôi. Tôi xin chỉ nạp sau
đây 4 lá thư trong hàng chục lá thư đó.
Lá thư đầu là của GS Trần Văn Dĩnh, lúc đó là chủ nhiệm khoa “Pan-African
Studies” ở Temple University, đề ngày 22 tháng 5 năm 1978. Giáo sư Dĩnh có
nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam. Ông cũng đã là đại sứ của Việt Nam
Cộng Hoà tại Mỹ (kế vì ông Trần Văn Chương, cha của bà Ngô Đình Nhu) và kiêm
đại sứ Việt Nam cho Argentina.
Tôi đã biết ông Dĩnh từ năm 1968 và đã gởi cho ông phần lớn những bài viết của
tôi. Như ông nói ở trang đầu thư của ông, ông đã đọc hai cuốn sách đầu tay của tôi
và gần 200 bài viết của tôi trên các tập san và các báo. Ông cho biết là ông và nhiều
nhà nghiên cứu về Việt Nam cho tôi “như là một trong những người có khả năng
nhất và chịu khó nhất trong ngành” (as one of the most talented and most dedicated
in the field). Ông cũng cho biết thêm: “Chúng tôi khâm phục và kính trọng anh ấy
không phải chỉ vì những thành quả hàn lâm… nhưng cũng vì phẩm chất chính trực
và tính trung thực trong hoạt động trí tuệ của anh ấy” (We admire and respect him
not only for his academic achievements… but also for his moral integrity and his
intellectual honesty.) Sau đó, ông cho biết ở trang 2 tại sao luận án của tôi là một
đóng góp quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử cận đại của Việt Nam cũng
như đối với nghiên cứu về nông thôn và vai trò của nông dân trong cách mạng.
Lá thư thứ 2 là từ 3 vị giáo như danh tiếng nhất ở Pháp về Việt Nam: Daniel
Hemery, George Boudarel và Pierre Brocheux. Ở đoạn thứ 2 trang 1 của lá thư 3
ông cho biết tại sao cuốn sách đầu tay của tôi (Before the Revolution) là một đóng
góp quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử hiện đại của Việt Nam, đặc biệt
trong việc đặc vấn đề và việc sử dụng tư liệu. Câu cuối của đoạn nầy viết: “Cuốn
sách của ông NGO VINH LONG là một nguồn tham khảo không thể thiếu được đối
với tất cả những ai chú trọng đến lịch sử xã hội của Việt Nam” (L'ouvrage de
M.NGO VINH LONG est une reference indispensable pour tous ceux qui
s'interessent à la sociologie historique du Vietnam.)
Đoạn thứ 3 thư của 3 vị giáo như trên bắt đầu với câu: “Với luận án tiến sĩ ông
NGO VINH LONG đã thật sự nâng cao sự hiểu biết của chúng ta một cách căn bản
đối với xã hội Việt Nam và người ta không thể phóng đại khi nói rằng nghiên cứu
nầy là một sự đổi mới về phương pháp luận lịch sử.” (Avec sa thèse de doctorat,
M.NGO VINH LONG a véritablement fait avancer notre connaissance de la société
vietnamienne d'une manière fondamentale et il n'est pas exagéré de dire que cette
étude présente un tournant historiographique.) Sau đó 3 vị giáo sư nầy cho biết một
cách chi tiết tại sao họ đi đến nhận định trên, bắt đầu từ phương pháp luận đến việc
dùng tài liệu của các kho lưu trữ ở Pháp một cách rất cẩn thận để phân tích những
sai lầm của nhiều nghiên cứu trước đó trên các lãnh vực số liệu, kinh tế, xã hội,
chính trị, v.v.
Lá thư thứ 3 là lá thư viết tay của ông Joseph Buttinger đề ngày 5 tháng 5 năm
1978. Lá thư nầy ngắn nhưng rất quan trọng vì phần lớn ai biết lịch sử quan hệ Mỹ-
Việt, dầu có sơ sài đến mấy đi nữa, cũng biết vai trò của ông ta đối với việc Mỹ sử
dụng ông Diệm làm lãnh tụ của miền Nam Việt Nam như thế nào. Đối với Harvard
thì ông Buttinger càng được biết đến vì ông mới vừa tặng Harvard gần 20 ngàn
cuốn sách để trợ giúp chương trình nghiên cứu về Việt Nam đang được hình thành.
Vì lá thư ngắn và có thể không rõ trong ảnh chụp kèm theo đây, tôi cũng xin kèm
theo bản sao của lá thư đó. Trong thư ông ấy viết: “Sau khi tôi đã đọc rất kỷ những
gì Ngô Vĩnh Long đã viết về chính sách thuộc địa của Pháp đã tạo ra ở Việt Nam,
đặc biệt là sau năm 1930, và những hậu quả chính trị đối với tương lai của Việt
Nam (việc mà tôi đã học hỏi và và trình bày trong 22 năm qua), tôi cùng với D.
Hemery, G. Boudarel và P. Brocheux (cả ba đều là sử gia người Pháp giỏi về Việt
Nam) nghĩ rằng ông Ngô Vĩnh Long chắc chắn là người có khả năng nhất cho chức
vụ giáo sư môn học về Trung Quốc và Việt Nam tại đại học Harvard.”
Lá thư thứ 4 là của Martin Murray, một phó giáo sư tại đại học Michigan và là
người đã nghiên cứu về Việt Nam ở các kho lưu trữ tài liệu bên Pháp cũng như đã
đọc hai cuốn sách đầu tay của tôi và nhiều bài nghiên cứu đã được xuất bản. Hai
đoạn đầu của thư ông ấy cho biết hai cuốn sách đã xuất bản quan trọng ở phương
diện nào đối với người nghiên cứu. Từ đoạn 4 trang 1 đến gần cuối trang 2 ông
trình bày một số lý do tại sao luận án tiến sĩ của có những đóng góp rất đặc biệt,
trong đó có việc sử dụng những tài liệu trong các kho lưu trữ ở Pháp một cách rất
cẩn thận và sáng tạo và, qua đó, phân tích những sai lầm của các nghiên cứu trước
đó.
Bắt đầu đoạn cuối thư có 3 câu như sau: “Thật vậy, bất cứ một bổ nhiệm hàn lâm
nào trong lãnh vực nghiên cứu Việt Nam cũng không tránh khỏi hàm ý chính trị.
Chiến tranh Việt Nam đã không những gây tàn phá ghê gớm ở Việt Nam nhưng
cũng đã gây rạn nứt sâu sắc trong xã hội Mỹ. Một sự bổ nhiệm vào hàng ngũ giáo
sư của trường ông một người có khả năng trí tuệ và phẩm chất trung thực cao như
Ngô Vĩnh Long có thể là một bước đi thật quan trọng về hướng tái tạo việc nghiên
cứu Việt Nam ở Mỹ trên bình diện học thuật.” (Nguyên văn: “Indeed, any academic
appointment in the field of Vietnamese studies is not without political implications.
The Vietnam war created not only terrible destruction in Vietnam but also deep rifts
in American society. An appointment to your faculty of a person of the high
intellectual caliber and integrity as Ngo Vinh Long can be a very important step in
the direction of re-establishing Vietnamese studies in the United States on a
scholarly plane.”)
Ba câu trên của GS Murray cho thấy ông ta đã đoán là sẽ có vấn đề chính trị trong
việc bổ nhiệm tôi vào ghế giáo sư tại Harvard vì thời gian đó là cao điểm của việc
chính quyền Tổng thống Carter, dưới sự thúc đẩy của Cố vấn An ninh Quốc gia
Zbigniew Brzezinski, đánh Việt Nam (với sự trợ giúp của Trung Quốc) như là một
chiến tranh qui ước chống Liên Xô. Những người muốn hoà hoãn với Việt Nam,
như Ngoại trưởng Cyrus Vance và Andrew Young, đại sứ tại Liên Hiệp Quốc và
người đã có công rất lớn trong việc giúp Carter thắng cử tổng thống, cũng bị đẩy ra
rìa.
Sau sau nộp đơn xin vào chức giáo sư kể trên tôi chờ hơn hai tháng nhưng không
thấy rục rịch gì hết. Tôi bèn hẹn gặp ông Chủ tịch Chương trình Nghiên Cứu Á
Đông vì tôi biết những người bên đó mới chính thức quyết định chứ không phải
Khoa Sử. Lúc ấy GS Fairbank vừa mới từ chức chủ tịch nên tôi gặp người mới lên
thay. Tôi hỏi thẳng ông nầy chuyện gì đã xảy ra. Ông ấy nói chức giáo sư quảng cáo
đã được rút đi rồi. Tôi hỏi tại sao không cho tôi biết gì hết. Và tôi nhắc lại tôi đã
được hứa là sẽ được phong phó giáo sư khi có bằng tiến sĩ. Ông ấy không trả lời
thẳng mà nói rằng bố ông ấy từ Đông Đức đến Mỹ và muốn trở thành một học giả
nhưng không kiếm được việc dạy. Do đó ông bố phải làm việc ở một tiệm thuốc
(drugstore) để nuôi ông chủ tịch lớn lên thành một học giả. Rồi ông ấy nói tiếp
ngay: “Anh không có thể làm việc gì khác à?”
Tôi chưa từng thấy ông nầy thô lỗ như vậy nên lập tức đứng dậy bỏ ra khỏi văn
phòng ông ấy. Ông ấy gọi vói theo: “Chờ một tí. Đi đâu vậy?” Tôi trả lời: “Tôi đi
đến một tiệm thuốc.” Lúc ấy GS Fairbank đang ngồi ở văn phòng đối diện xéo xéo
văn phòng vị giáo sư kia và cửa đang mở toang. Chắc ông ấy đã nghe hết cuộc đối
thoại. Khi tôi đi ngang qua ông ấy khẻ ngoắc tôi vào, đóng cửa, rồi nói: “Em đã
xuất bản hai cuốn sách và nhiều bài nghiên cứu. Sắp tới Em sẽ có ít nhất một cuốn
sách nữa ra đời. Hãy kiên nhẫn. Không ai có thể cản chân Em.” Tôi nói tôi muốn
rời khỏi Cambridge ngay vì tôi không muốn có người hiểu lầm là tôi muốn chức
giáo sư đã được hứa. Tôi nói tôi nghĩ là có ai đó sẽ gây rắc rối cho tôi nếu họ tưởng
tôi muốn tranh chức giáo sư đó. GS Fairbank khuyên là nếu có đi xa trong một thời
gian thì cũng nên cố gắng giữ chân thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Á Đông
(East Asian Research Center) tại Harvard. Qua lời nói nầy tôi hiểu là đang có áp lực
từ đâu đó nên ông Fairbank cũng cảm thấy là tôi có thể sẽ gặp khó khăn nên muốn
tôi giữ quan hệ để lỡ có cần giúp đỡ.
Như tôi đoán, tình hình chính trị ở Mỹ lúc đó làm nhiều người, vì lý do ý thức hệ
hay vì tham vọng cá nhân, đang tìm vật hi sinh. Và một người gốc Việt Nam có
thành tích chống chiến tranh là một đối tượng dễ được chấp nhận nhất để bào chữa
các hành động hung bạo và vô pháp luật của họ. Bắt đầu từ hè năm 1978 bất cứ tôi
đi thỉnh giảng ở đại học nào ở Mỹ cũng thường bị những đám được tổ chức đến phá
rối. Lý do là vì tôi đã chống chiến tranh và làm cho Mỹ rút khỏi Việt Nam nên tôi
đã giúp cho Cộng Sản chiến thắng.
Tôi xin chỉ đưa lên đây một bài báo với tựa đề “Xuất hiện nơi nào, lãnh thẹo nơi đó!
Cộng sản vỡ mặt ở đại học Washington” đăng trên tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong,
số 69, ngày 1-15 tháng 12 năm 1978. Giọng điệu và cách mô tả của bài báo cũng đủ
cho độc giả thấy thái độ của phóng viên tờ báo vào hàng đầu của cộng đồng Việt
Nam ở Mỹ lúc bấy giờ. Ở đây tôi chỉ muốn lưu ý một số thông tin sai lạc của bài
báo.
Ngay dòng đầu phóng viên đã sai khi viết: “Đại hội thường niên lần thứ bảy của
Hiệp Hội Nghiên Cứu Á Châu đã khai mạc vào ngày thứ Sáu 27-10 vừa qua…”
Đây không phải đại hội thường niên vì đại hội thường niên thường tổ chức vào cuối
tháng 3 với mấy ngàn hội viên khắp nơi trên thế giới đến dự. Đây là cuộc họp vùng
của Association of Asian Studies (AAS) ở các bang gọi là mid-Atlantic của Mỹ.
Đoạn thứ 3 của bài báo cũng hoàn toàn sai vì chỉ có mình tôi là người gốc Việt đến
thuyết trình. Lúc đó tôi là thành viên của Hội đồng Đông Nam Á (Southeast Asia
Council, gồm 6 thành viên) của AAS cũng như chủ tịch Nhóm Nghiên Cứu Việt
Nam (Vietnam Studies Group) của hiệp hội nầy.
Bài báo nói đúng là chỉ mình tôi trình bày ba lần: sáng, chiều, và tối ngày 27 tháng
10 năm 1978. Bài báo không đúng khi nói là ông Nguyễn Ngọc Bích và ông Hoàng
Văn Chí có đứng lên đặt câu hỏi từ hàng ghế thính giả và làm tôi xanh mặt, run lập
cập. Tôi đã quen với ông Bích từ năm 1964 và thường đối đãi thân mật với nhau
nên không có việc thách đố nhau trước công chúng. Còn về ông Hoàng Văn Chí thì
tôi đã có gặp mấy lần, và khi ông đặt câu hỏi thì chính tôi đã mời ông lên bàn diễn
giả để trình bày ý kiến. Đại ý ông ấy nói là không có thể dùng tài liệu trong nước
được vì đó là tuyên truyền của Cộng Sản.
Ông ấy chưa đọc bài trình bày của tôi đã được xuất bản từ đầu tháng 10 năm 1978
trong tập san “Bulletin of The Committee of Concerned Asian Scholars” nên không
rõ là bài đó của tôi đã có 114 dẫn chứng từ các nguồn báo cáo bí mật hiện lưu trữ ở
Pháp. Các học giả người Mỹ trên bàn hội thảo (conference panel) đã đọc bài của tôi
và họ giải thích là nghiên cứu của tôi đã dùng hầu hết các tài liệu có được trong các
kho lưu trữ bên Pháp và đã chứng minh rằng Đảng Cộng Sản Đông Dương đã phạm
một số sai lầm nghiêm trọng trong thời “Xô-viết Nghệ-Tĩnh.” (Mục lục số báo đó
kèm theo đây.)
Việc bài báo không đề cập đến đây là một cuộc hợp hàn lâm của các nhà nghiên
cứu về Đông Nam Á để so sánh các vấn đề của những thập kỷ trước Đệ Nhị Thế
Chiến. Những người vào dự phải trả tiền và ghi tên trước. Nhưng, như bài báo cho
biết, người ta đã tổ chức nhào vào hội trường quậy phá và đe doạ các học giả và
thính giả để cuối cùng đi đến kết luận ở trang 2 bài báo: “Buổi hội thảo đã chấm dứt
lúc 11 giờ đêm với kết quả: màn lưới phe ta trinh bạch, phe địch lãnh nhiều bàn
không gỡ được bàn nào!”
Một học giả Mỹ nói với tôi ngay sau buổi hội thảo: “It’s obvious that you’ve been
used as a lightning rod.” (Rõ ràng anh đã bị dùng như là một ống dẫn lôi.) Từ
những việc hành hung có tổ chức đem người từ nhiều bang khác nhau đến, tôi biết
là người ta muốn đánh tôi dạt ra khỏi các đại học và các cộng đồng nghiên cứu về Á
Đông. Hơn thế nữa tôi nghĩ là những người làm chính sách ở Mỹ lúc đó cố tình thúc
đẩy những người trong cộng đồng người Việt hành hung nhau để biện minh cho
chính sách là Mỹ phải được sự ủng hộ của dân chúng đánh thắng mọi nơi Mỹ có
can thiệp (như ở vùng Trung Đông, ở Angola, ở Mozambique, ở El Salvadore, v.v.)
Nếu không và nếu bị thua như ở Việt Nam thì thế nào cũng có những người ở các
nước đó di tản sang Mỹ. Rồi họ cũng có những hành động bất chấp luật pháp và
thiếu văn minh như những người Việt Nam được dùng quậy phá.
Lúc đó tôi cảm thấy là các cơ quan an ninh của Mỹ có thể thả lỏng cho đến khi có
án mạng vì lý do tôi vừa đưa ra ở trên. Do đó, năm 1980 tôi viết thư cho MIT xin
hoãn lại việc xuất bản cuốn sách đã được ký hợp đồng với tôi vì nghĩ rằng người ta
có thể cho tôi thách đố mà tăng cường việc ám hại tôi. (Kèm theo đây là thư của
MIT trả lời tôi về việc nầy.) Nhà xuất bản Pantheon cũng đồng ý là xuất bản sách
về nông thôn Việt Nam của tôi cũng sẽ gây khó khăn cho tôi tại Mỹ cũng như ở
Việt Nam.
Thay vì cho xuất bản 2 cuốn sách trên, tôi dồn sức viết mấy trăm trang “Historical
Background” (Bối cảnh Lịch sử) cho việc xây dựng bộ phim tài liệu 13 tập gọi là
“Vietnam: A Television History” (Việt Nam: Thiên Lịch Sử Truyền Hình). Bộ
phim nầy, bắt đầu chiếu đầu tháng 10 năm 1983, và theo Wikepedia, mỗi tập đã
được trung bình 9,7 triệu người xem. Qua đó đã giúp thay đổi không khí chính trị ở
Mỹ cũng như thúc đẩy dần dần quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam tốt lên.
English section of this post:
Regarding the background at Harvard I would like to draw attention again to the
letter by Prof. John King Fairbank of August 19, 1968, to the U.S. Immigration
Service in Boston. The last paragraph of that letter says that Harvard needed the
help of my wife and myself in establishing a program study on modern Vietnamese
history. He added: “Their academic assistance is a rare commodity and can be of
great help to us in an effort we believe Harvard should make and for which we had
been pulling together alumni donations, books, students, and other resources.”
I got to know Prof. Fairbank since 1966 through appearances with him at
presentations about East Asian issues, although I was studying in the program on
international relations at the time. Beginning in 1968 Prof. Fairbank persuaded me
to switch to the East Asian Studies program because he thought I could be of
assistance in developing it. My newly wedded wife was pursuing a medical career
but she wanted to switch to the MA program called East Asia-Regional Studies and
was accepted. This program had 64 students at the time. In 1970 the two of us and
one of the other 62 students were selected to the program on East Asian History and
Far Eastern Languages. The program also recruited 2 other students from other