The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh Thuần Phong Nguyễn văn Khôi

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-08-30 01:06:41

Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh Thuần Phong Nguyễn văn Khôi

Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh Thuần Phong Nguyễn văn Khôi

ĐỜI SĨ QUAN TIỀN SÁT PHÁO BINH THUẦN PHONG NGUYỄN VĂN KHÔI


Chương I Đi Lính 1- Bỏ QGHC khoá 7 để vào …….. Trường Bộ Binh Thủ Đức Khóa 14 … 2- Anh tôi, Đ/Úy Nguyễn Văn Tiến bị tử trận 3-Tiền Lính! .............................. 4-Giai đoạn I tại Thủ Đức ……………... 5-Giai đoạn II: Sang Pháo Binh …… Kính dâng Linh hồn: Anh tôi, cố Đại Úy BĐQ Nguyễn Văn Tiến và anh linh Các Chiến Hữu trong Sư Đoàn 5 BB, Trung Đoàn 7 BB ,Trung Đoàn 8 BB Cố Y Sĩ Trung Úy Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhất. Cố Thiếu Tá …Phúc, cố Đại Úy …Hùng, cố Đại Úy Trần Văn Thinh và gia đình (vợ và con). Cố Th.Uý (14 PB).. Quýnh, cố Th.Uý (? PB) Hòa. Cố vợ, chồng Th.Uý..Sơn và cháu nhỏ. Cố Tr.Sĩ Tiểu Đoàn 1/7 Ký. Cố Tr.Sĩ VÔ DANH của Trung Đoàn 8 BB. Cố Tr. Sĩ Bường, Trung Đội 2 B của tôi. Cố Binh Nhì Quân Dịch Tr. Đội 2B PB…Mành và…khoảng hơn một trăm Tân Binh Quân Dịch QD (Khóa ….1965) ….. Bấy lâu hống hách rừng binh lửa, Vó ngựa đêm nay ngã quỵ rồi, Lời sẽ theo mây bay với gió, Đưa hồn binh tướng tới nơi nao (Tác giả?) Chương 1


Đi Lính Sau khi lấy xong cái Tú Tài Toán năm 1956, tôi trở thành một sinh viên của Viện Đại Học Sài Gòn, thành ra tôi thấy mình quan trọng hẳn ra, cứ tưởng mình là cái rốn của vũ trụ, đâu có nhớ rằng mình là một tên dốt nhất lớp IB3 năm đó !!! Hồi đó cả miền Nam Việt Nam chỉ có duy nhất một trường đại học, đó là trường Đại Học Sài Gòn với số khoảng duới 3000 sinh viên. Lúc này, trừ mấy trường có học bổng như Sư Phạm, QG Hành Chánh, Quân Y… sinh viên muốn học trường nào, ngành nào thì chỉ việc tới ghi tên vào ngành đó chẳng phải thi tuyển lôi thôi gì cả. Tôi thì chỉ muốn học Toán nhưng bố mẹ tôi lại muốn tôi trở thành quan Đốc Tờ, do đó tôi phải ghi tên học PCB ở Faculté des Sciences, nhưng lại ngu dại không ghi thêm vào lớp Math. Géné. Vì có ghi tên mà không chịu học thì …. bị rớt là cái chắc. Tuy vậy rớt thì rớt tôi chẳng thắc mắc gì cả vì cứ nghĩ là muốn học lúc nào mà chẳng được. Thật thế, từ sau Hiệp Định Genève đến lúc đó miền Nam với Viện Trợ Kinh Tế và quân sự của Mỹ đã có được một nếp sống khá ổn định nên tôi đã nghĩ rằng mình không cần vội vã kiếm một cái “bằng” gì đó để kiếm cơm. Lúc đó hình như toàn dân miền Nam VN đều sống trong cảnh tương đối thanh bình,không nghĩ rằng chiến tranh lại sẽ xẩy tới bởi sự “xâm lăng” của bọn Việt Cộng miền Bắc. Để chống lại sự xâm lăng này, thanh niên miền Nam VN trong một hạn tuổi nào đó đã bị kêu vào lính. Các thanh niên nào có bằng Tú Tài I hay tương đương trở lên đều bị kêu vào “Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức” để học ra chuẩn úy. Lúc đó tôi đang học năm thứ 2 tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh nhưng vì như tôi đã nói ở trên, tôi không nghĩ là tôi có thể sẽ bị vào lính, thành ra tôi đã có những quyết định sai lầm để rồi tôi đã phải mặc áo lính đấy !!! 1- Bỏ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Khóa 7 để vào …Trường Bộ Binh Thủ Đức Khóa 14. Đúng là trăm đường tránh không khỏi số, một khi cái số đã bắt mình làm


quan thì dù có xoay sở cách nào thì cuối cùng vẫn phải làm "quan", không làm cách nào khác được… và cái số của tôi lại đúng là cái số làm "quan". Cho nên, dù tôi đã cố ý từ quan, không phải là từ quan để đi ở chùa như anh chàng Ph. T. T. đã làm ra vẻ…trong khi thực ra là anh chàng này chỉ làm cái việc trốn… lính, nhưng tôi từ được cái vụ làm quan này thì tôi lại bị dính vào cái vụ làm quan khác. Vì không muốn làm quan cho chế độ của ông Diệm nên tôi đã từ bỏ Trường Quốc Gia Hành Chánh khóa 7. Ngày xưa vì nghe lời anh bạn Đỗ Quý Bái (hiện đang ở Tucson, Tiểu Bang Arizona) một anh bạn cùng ở Đại Học Xá Minh Mạng với tôi, nên tôi đã thi chơi vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khóa 7... và không ngờ lại đỗ nên học luôn vì… $2,000 (hai ngàn đồng) học bổng một tháng, trong khi lương một chuẩn úy độc thân hồi đó mỗi tháng chỉ có $3,300 (ba ngàn ba trăm đồng). Nhưng học thì học chứ tôi nhất dịnh không muốn ra trường nên đã bỏ ngang vì: - Không muốn làm quan dưới cái chế độ vừa độc tài gia đình trị, vừa... sặc mùi tôn giáo, nhất là họ lại bắt các sinh viên của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh phải gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, khi tôi đang học năm thứ hai, nhưng tôi đã tỏ thái độ chống đối bằng cách không ghi tên vào Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa. Tôi là người duy nhất của cả 3 khoá 6, 7 và 8 đã dám tỏ thái độ này. Tôi đã dựa vào một câu trong thông cáo bắt chúng tôi phải vào Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, câu đó là “… ai muốn vào thì vào…”. Mấy anh em ông tổng thống muốn rằng ai ai cũng phải theo cái đạo của họ, dù rằng tôi không theo một tôn giáo nào cả nhưng muốn bắt tôi phải theo cái đạo đó thì …không được! Tôi tin ở Thượng Đế, mà Thượng Đế là ai cũng được, nhưng nhất định tôi không tin một cách mù quáng vào mấy ông Cha, mấy ông Sư hay mấy ông Mục Sư... Đạo nào tôn trọng Tự Do, nghĩa là không bắt tôi phải tuyệt đối tin theo bất cứ một Tín Điều nào của họ, thì tôi theo. - Lại nữa, có người nói rằng nhà tôi quen với Giáo Sư Vũ quốc Thông, viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thì làm gì tôi thi mà chẳng


đậu, trong khi tôi thi vào trường này thì bố mẹ tôi đâu có hay. Tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh này sẽ được nhập ngạch đốc sự, ngày xưa thì gọi là đốc phủ sứ, nghĩa là sẽ được bổ làm quan (văn) có thể là... phó quận rồi phó tỉnh, như vậy bỏ trường này là... từ quan theo đúng nghĩa của nó? Nhưng, như tôi đã nói ở trên, số tôi là số làm "quan" nên…từ bỏ quan Văn thì phải đi làm quan Võ, nghĩa là vừa bỏ trường Hành Chánh là được ngay Trường Thủ Đức gọi… mà cái trường quân sự này đã gọi thì khó mà từ chối được. Thế là tôi vừa bỏ Trường Quốc Gia Hành Chánh khóa 7 thì phải vào ngay Trường Võ Bị Thủ Đức khóa 14. Tôi còn nhớ là tôi đã đi trình diện Nhập Ngũ tại Tiểu Khu Gia Định vào hạ tuần tháng 8 năm 1962. Chính ông anh tôi là Đại Uý Biệt Động Quân Nguyễn Văn Tiến lúc đó vừa có việc gì đó phải về Sài Gòn nên đã đưa tôi tới Tiểu Khu Gia Định, thời kỳ đó anh đang làm đại đội trưởng của một Đại Đội Biệt Động Quân ở Kontum. Vào thời gian này, Biệt Động Quân chưa thành lập cấp tiểu đoàn. Từ đây, Tiểu Khu Gia Định đã đưa chúng tôi tới Trại Nhập Ngũ Quang Trung để chờ được khám sức khỏe trước khi… bị đưa vào Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức thuộc Quận Thủ Đức, Tỉnh Biên Hòa. Vào Trại Nhập Ngũ Quang Trung mới chỉ là đặt chân lên ngưỡng cửa của đời lính, ở đây chúng tôi còn có thể đi lộn xộn, kéo nhau xuống “nhà bàn” để dùng cơm trưa hoặc cơm chiều, và trước giờ ăn còn được kêu “kính mời quý vị sinh viên sĩ quan xuống dùng cơm”…, còn nữa, khi được xe GMC chở về Tổng Y Viện Cộng Hòa để khám sức khỏe…, mỗi khi khám xong, có người còn lẻn trốn về nhà chơi tới chiều hôm đó mới lò mò trở lại trại. Mấy sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Trại Nhập Ngũ Quang Trung phụ trách những chuyến đưa đi đưa về cũng dễ dãi làm ngơ, coi như không thấy. Hậu quả là… chỉ khi vào Trường Quân Trường Thủ Đức rồi các ngài sinh viên sĩ quan mới thấy sự thực. Quân Trường Thủ Đức lúc này vừa có vị Chỉ Huy Trưởng mới, Đại Tá


Lam Sơn về thay Thiếu Tướng Hồ Văn Tố bị chết vì “thượng mã phong” với một cô gái bán quán trong Câu Lạc Bộ, bán hàng cho sinh viên sĩ quan của trường. Cái chết này làm cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm tức lắm, nên Tổng Thống đã không làm lễ “quốc táng” cho ông thiếu tướng chết vì gái kiểu này. Hôm đó chúng tôi được dời Trại Nhập Ngũ Quang Trung khá sớm để lên Thủ Đức. Tới nơi, được tiếp nhận xong là chúng tôi được đưa về Đại Đội 6 mà đại đội trưởng là Trung Úy… Hạc. Đại đội 6 này có 4 trung đội, từ Trung Đội 21 tới Trung Đội 24. Tôi được xếp vào Trung Đội 22. Trung Đội 22 của tôi có trung đội trưởng là một chuẩn úy, tên là gì thì tôi đã quên mất rồi, hình như tên là Sĩ thì phải, tôi chỉ còn nhớ rằng đó là một chàng chuẩn úy Tây lai, khá đẹp trai. Sau khi được chỉ định về phòng của trung đội mình rồi, chúng tôi được đưa đi làm một số thủ tục như điền vào một số giấy tờ, lăn tay rồi đi lãnh quân trang, quân dụng hay nói trắng ra là lãnh quần áo lính, lãnh súng đạn… Sắp đến giờ ăn trưa, chúng tôi được tạm nghỉ để tắm rửa rồi xếp hàng xuống nhà bàn. Không hiểu là mấy ông trung đội trưởng của chúng tôi vô tình hay cố ý mà sau khi xếp hàng trước đại đội xong chỉ định một anh SVSQ làm tuần sự đại đội, đưa chúng tôi đi, không có một ông sĩ quan nào theo chúng tôi cả… Quen như hồi còn ở Trại Quang Trung, chúng tôi tuy vẫn đi trong hàng nhưng chân đi lộn xộn, không đều bước và vừa đi vừa nói chuyện ầm ĩ. Đi được chừng 20 thước thì… một thiếu úy của đội ở đàng xa đi tới, chặn chúng tôi lại và xỉ vả chúng tôi một trận. Ông ta nói “Đây là Quân Trường chứ đâu phải là cái chợ mà các anh đi như đi chợ vậy? Đi đứng trong hàng thì phải im lặng và đi đều bước chứ không được đi kiểu vậy. Anh tuần sự đại đội kia, anh để cho anh em đi như thế này à! Bây giờ anh dẫn anh em chạy hai vòng Vũ Đình Trường cho tôi rồi mới được xuống phòng ăn, mà phải chạy đều bước đấy". Thế là chúng tôi đươc anh Tuần Sự Đại Đội cho sắp hàng lại rồi chạy đều bước, vừa chạy vừa hô: một, hai, ba, bốn, một, hai, ba, bốn... Cái Vũ Đình Trường này rộng và dài khoảng hai cái sân banh, đây là nơi để nhà trường đưa các đại đội tới làm lễ khai giảng cũng như làm lễ mãn khóa, thế mà chúng tôi phải chạy 2 vòng trước khi vào phòng ăn


đấy! Chạy xong 2 vòng rồi, chúng tôi mới được ông thiếu úy kia đưa vào… nhà bàn. Vừa mới chạy bở hơi tai xong, ai cũng khát nước muốn chết nên mới ngồi vào bàn xong là tên nào tên nấy rót vội đầy bát nước chè để tính uống thì… “ai cho các anh ngồi mà các anh đã ngồi xuống, lại còn uống nữa? Tất cả chú ý, rồi ông ta hô “ngồi”, chúng tôi đồng loạt hô “xuống” sau đó ông ta lại hô “đứng”, chúng tôi lại đồng loạt hô “lên”… Cứ thế lập đi lập lại đến 4, 5 lần chúng tôi mới được lệnh ngồi xuống ăn... Tới lúc này thì anh em ai cũng mệt nhoài người ra rồi nhưng vẫn phải ăn và uống cho lẹ vì… đã sắp hết giờ ăn! mà sau khi hết giờ ăn, chúng tôi sẽ còn phải xếp hàng về căn nhà Đại Đội để... ngủ trưa. Đấy mới là món quà đầu tiên của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức này tặng cho những thằng đã bước vào đây! (còn được gọi là Liên Trường Võ Khoanh vì tât cả các bài thi ở đây đều làm theo cách trắc nghiệm kiểu Mỹ nghĩa là a, b, c khoanh) Anh em trong Đại Đội 6 chúng tôi phần lớn là những kẻ bị động viên nên đã trình diện muộn nhất. Dân động viên thì hầu hết đã nhập trại từ sớm và đã được xếp vào các Đội 1, 2, 3 ….. trên rồi. Đại Đội 6 là đại đội cuối cùng của quân Chính Quy, 2 ₫ại ssội chót 7 và 8 là các đại đội của sinh viên sĩ quan bảo an. Chúng tôi đã vào Khóa 14 Thủ Đức, trong khoá này phần lớn là dân bị động viên, chỉ có một số nhỏ là dân“tình nguyện” thôi vì từ khóa 13, muốn tình nguyện chăng nữa cũng phải có Tú Tài I hay tương đương, mà đã có được cái Tú Tài 1 rồi thi ít ai lại chịu tình nguyện đi lính lắm, nhưng dĩ nhiên là vẫn có. Những người này đã tình nguyện vì những lý do riêng mà chúng ta cũng chẳng nên thắc mắc làm gì. Đời sống ở Quân Trường dĩ nhiên là rất gò bó trong một thứ kỷ luật, có thể gọi là kỷ luật sắt và nhất là những người thi hành cái kỷ luật sắt này lại là những người chỉ thích hành hạ người khác, họ không hiểu mục


đích của việc lập ra cái kỷ luật này là để làm gì. Thực ra câu “thi hành trước khiếu nại sau” cốt là để cho người lính chiến quen việc phục tùng các mệnh lệnh của cấp trên. Nếu người lính nào khi được lệnh đi tiếp cứu một đơn vị bạn đang trong tình trạng nguy ngập chẳng hạn, mà anh ta còn muốn khiếu nại là… anh ta vừa mới hoàn tất một công tác nặng nhọc xong, sao không cho anh ta nghỉ. Anh ta không biết rằng vị chỉ huy anh ta cũng đã biết như vậy lắm nhưng trong trường hợp khẩn cấp này, chỉ có anh ta là có thể thi hành công tác đặc biệt này một cách tốt đẹp mà thôi và vị chỉ huy của anh ta đã dự trù một tưởng thưởng xứng đáng cho anh ta rồi, trừ phi anh ta bị chết thì không kể, nhưng đã là lính rồi thì phải coi nhiệm vụ và tinh thần đồng đội là chính và sự chết chóc hay bị thương tổn cá nhân là nhỏ. Do đó nếu không quen cái tập tục thi hành trưóc khiếu nại sau thì thứ quân đội đó không còn là quân đội nữa vì nó sẽ chẳng có thể hoàn thành được bất cứ một nhiệm vụ nhỏ nào nữa. Mục đích của quân kỷ là vậy, nhưng phần lớn mấy ông quan trong quân trường này lại… không hiểu được như thế, ngoài ra còn một số trong các ông ấy lại có ý nghĩ là trước kia chúng mày chê bọn tao là ngu dốt thì bây giờ hãy mở mắt ra mà coi đi! Thật ra thì nghĩ thế cũng hơi quá… Đúng ra là trước kia chúng tôi đã không coi trọng nghề “Lính” nhưng không bao giờ dám coi thường ai cả. Chúng tôi biết rằng trên Thế Giới này, có biết bao nhiêu vị tướng tài xuất thân không có một bằng cấp văn học nào, nhưng vẫn là người hùng của dân tộc, gần chúng ta nhất như Nguyễn Huệ của Việt Nam. Người có phải là Cử Nhân Tiến Sĩ gì đâu mà vẫn là anh hùng của Dân Tộc ta! Có ai dám khinh các ông lính đâu! Nhưng dù sao đã vào đây rồi thì cũng phải chịu phép một bề thôi… nghĩa là ai sao, ta vậy. Chúng tôi phải làm quen với tất cả các luật lệ đã đặt ra ở đây, và thế là chúng tôi lần lần vào khuôn vào phép hết. Tôi không muốn nhắc lại ở đây những chuyện vụn vặt như phải lấy cái “túi ngủ” mới được phát cho để bọc lấy cái khung giường, sửa soạn cái giường ngủ của mình cho thật đẹp để… chỉ được nằm lên vào buổi tối, còn buổi trưa thì… ráng mà nằm xuống sàn đá hoa mà ngủ,vì nếu nằm lên giường thì lúc dậy sẽ... vất vả làm đẹp lại cái giường bởi… nếu trong


khi mình còn ở ngoài bãi tập mà có vị Thanh Tra nào tới, thấy cái giường của mình bị xộc sệch sai “tiêu chuẩn” thì sẽ được “trình diện Dã Chiến” sớm. 2- Anh tôi, Đại Úy Nguyễn Văn Tiến tử trận. Ở đây tôi muốn nhắc đến một chuyện nhỏ về phương diện “tâm linh”. Số là khi nhập trại được độ 3, 4 tuần gì đó thì … một sáng tôi thức dậy mặt đầy nước mắt, anh bạn nằm trên cái giường bên cạnh, anh Mai Văn Chính, hiện cũng đang ở bên Mỹ này, bèn chê tôi rằng “Lớn đầu như vậy rồi mà mới xa nhà một chút đã khóc!” . Lúc đó tôi còn độc thân và nhất là không thể nhớ nhà được vì tôi đã vào ở trong ĐHX Minh Mạng trên 4 năm rồi. Tôi chỉ biết rằng đêm hôm trước không hiểu tại sao tôi cảm thấy buồn vô hạn và nước mắt cứ thế trào ra… Sáng hôm đó, tôi vẫn theo anh em ra bãi tập như thường lệ, nhưng đến trưa, lúc về tới phòng rồi thì tôi được Trung Uý Đại Đội Trưởng kêu tôi lên và dục tôi về thay quần áo để về nhà, ông ta đưa cho tôi cái điện tín báo tin là… anh tôi Đại Úy Nguyễn Văn Tiến đã chết trên KonTum, nay đã đưa xác về Sài Gòn. Thế là tôi vội vã ra về với bộ đồ số 2 không huy hiệu gì cả, lúc đó chúng tôi chưa được gắn alpha. Tới lúc đó tôi và anh bạn Mai Văn Chính của tôi mới biết là không phải vô cớ mà tôi chẩy nước mắt. Phải nói thêm là vào thời đó một đại úy đã có thể là một tiểu đoàn trưởng rồi. Hồi đó anh tôi là đại đội trưởng một đại đội Biệt Động Quân (Lúc đó Biệt Động Quân chưa thành lập cấp tiểu đoàn). Thế mà anh tôi, một đại úy lại bị chết trận. Cái tin anh tôi bị chết làm cho một vài anh bạn, đã có gặp anh tôi lúc anh đưa tôi tới Tiểu Khu Gia Định trình diện, hết hồn. Họ nói “Đại úy mà còn bị chết như vậy thì sau này mình ra trường chỉ là chuẩn úy thôi, sẽ dễ chết như thế nào đây!". Tôi đã tính là ra trường rồi, tôi sẽ xin về Biệt Động Quân với anh tôi, nhưng nay thì… không được nữa rồi. Nhưng chính vì tôi về đưa đám anh tôi mà tôi gặp Thiếu Tá Pháo Binh Phạm Cao Đông một huynh trưởng của anh tôi., lúc này đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh


trong Bộ Tổng Tham Mưu. Sau này anh là đại tá tham mưu trưởng của Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I. Lúc anh tôi vào Khóa 7 Đà Lạt thì anh Phạm Cao Đông thì đã ở Khóa 6 Đà Lạt rồi. Có lẽ Thiếu Tá Đông đã đưa tôi về Pháo Binh. Sau này ở San Francisco tôi có gặp Trung Tá Pháo Binh Tống Mạnh Hùng (Khóa 5 Thủ Đức), anh ta cho biết là hễ ai có Tú Tài Toán là đều được tuyển về Pháo Binh hết. Nhưng điều này lại không đúng vì tôi có một anh bạn cùng ở trong Đại Học Xá Minh Mạng với tôi, anh Nguyễn Bá Nhâm, cũng vào Khóa 14 Thủ Đức như tôi, cũng có Tú Tài Toán, và dù anh ta không chạy chọt gì cả nhưng cũng đã không về Pháo Binh. Anh Nhâm về sau cũng bị “tái ngũ” rồi cũng được biệt phái về “dạy học như tôi”. Hiện nay anh đang ở vùng Westminster, Nam Cali. Nếu không bị lựa trước thì có thể là tôi sẽ đi Hành Chánh Tài Chánh, vì tôi đã học Quốc Gia Hành Chánh Khoá 7 ban Kinh Tài (nhưng tôi đã vừa bỏ ngang, không thi ra trường, sự việc mà bọn sinh viên chúng tôi thường gọi là Sortie Laterale) còn không thì tôi cũng về Truyền Tin vì bài trắc nghiệm của môn này tôi làm khá lắm. Thế là định mệnh đã đưa tôi về Pháo Binh, nhưng lúc đó, khi về đưa đám ông anh tôi thì tôi cũng chưa biết. Ngày hôm đó chờ mãi chưa thấy tôi về nên Thiếu Tá Nguyễn Hải Bình, cậu của bà chị dâu tôi, phải cho lính của ông đem xe Jeep lên Thủ Đức để đón tôi, trong khi đó thì tôi đã vừa ra khỏi trại. Thiếu Tá Bình này thời đó đang làm gì ở Sài Gòn thì tôi không biết, nhưng sau này hình như ông ta làm tổng giám đốc Quan Thuế, một vị tổng giám đốc khá nổi tiếng là trong sạch thì phải. Sau Tháng Tư 75, khi còn đang ở trong các trại Cải Tạo, tôi lại nghe nói rằng ông Bình này là người của Cộng Sản, chẳng biết có đúng không. Mới bước vào đời lính mà đã bị “xui” với cái chết của ông anh như vậy rồi thành thử cuộc đời lính tráng của tôi không khá được 3- Tiền Lính. Ở đây tôi muốn nói đến tiền lương của các sinh viên Sĩ Quan Thủ Đức.


Tôi không còn nhớ là lúc đầu, tôi đã đựơc lãnh bao nhiêu nhưng sau 3 tháng, lúc mà chúng tôi đã được gắn alpha, thì mỗi tháng tôi được lãnh lương của một trung sĩ độc thân nghĩa là lãnh $800 đồng, tương đương với 80 bát phở. Cầm $800 đồng, tôi thờ người ra, nghĩ đến mấy tháng trước, khi còn là sinh viên ở trong Đại Học Xá Minh Mạng, ngoài cái học bổng $2000/tháng (hai ngàn đồng) lãnh ở trường Quốc Gia Hành Chánh, tôi còn lãnh $1,500/tháng (một ngàn năm trăm đồng một tháng) phụ cấp cho chức vụ thủ quỹ Quán Cơm của Đại Học Xá Minh Mạng. Trước khi vào Thủ Đức tôi đã được anh em bầu vào chức vụ này. Thủ quỹ thì ăn cơm không mất tiền và có $1,500 tiền lương. Thêm vào đó tôi còn có $2,000/tháng (hai ngàn đồng một tháng) tiền dạy kèm Lý Hoá cho mấy em học lớp Đệ Nhất A nữa… Thế mà bây giờ chỉ còn được cầm có tám trăm đồng thôi, nghĩ có chán không! 4- Giai đoạn I tại Trường Thủ Đức. Trong 3 tháng đầu của giai đoạn I, nhà trường dạy chúng tôi những kỹ thuật cơ bản của người lính chiến bộ binh như học về các loại súng như súng Colt bát Tại sao gọi là Colt bát thì tôi không biết vì mỗi băng đạn của súng này chỉ chứa được tối đa là 7 viên thôi, nếu tính cả một viên lên nòng sẵn thì mới là 8 viên, mới có thể gọi Colt Bạt, tiếng gọi chệch đi của chữ Colt Bát hay Bạt là do chữ gì ra thì tôi… không biết, học về súng Garant M1,súng Carbine M-1, lúc này chưa có bán tiểu liên Carbine M-2, học về súng trung liên, đại liên, các loại lựu đạn, các loại mìn. Chúng tôi phải học cách sử dụng, cách tháo ráp chúng. Chúng tôi cũng được dạy sơ qua về những chiến thuật căn bản như khi hướng dẫn một vài chiến hữu đi làm một công tác nào đó thì phải nhớ là mỗi khi qua một khúc quanh nào mà mình phải khó khăn mới vượt qua được thì khi qua xong, phải nán lại chờ có người khác cũng qua được rồi mình mới tiếp tục đi, nếu không thì người bạn mình sẽ bị lạc vì mất dấu người hướng dẫn. Cũnh như ở bên Mỹ này nếu mình lái xe đi trước để dẫn đường cho xe sau, thì mỗi khi qua được một ngã rẽ có đèn xanh, đèn


đỏ thì phải nhớ quay lại xem xe kia có theo kịp xe mình không, hoặc đã bị đèn đỏ chặn lại. Nếu xe đó bị chặn lại thì xe trước phải liệu tắp vào lề để chờ xe kia qua rồi mới đi tiếp. Trong giai đoạn I này chúng tôi dĩ nhiên là còn được học về Thao Diễn Cơ Bản, học cách vừa đi vừa biến đổi đội hình, học cách leo đoạn đường Chiến Binh. Chỉ tiếc một điều là họ dạy các sĩ quan tương lai đủ thứ, nhưng lại không dạy bơi lội, như vậy sự việc không dạy bơi lội những kẻ không biết bơi lội như tôi thì thật là một thiếu sót lớn. Đã có nhiều lần tôi đã phải nhờ môt sĩ quan nào đó trong mấy người đi chung để ý lo cho tôi khi chúng tôi phải vượt sông. Bơi lội lẽ ra nên có trong chương trình để giúp một số những sinh viên sĩ quan không biết lội như tôi. 5- Giai Đoạn II: Sang Binh Chủng Pháo Binh, về trường Pháo Binh Dục Mỹ Hết giai đoạn I, chúng tôi được phân chia về từng ngành để học giai đoạn II với cái cầu vai mang dấu hiệu Alpha Một Gạch. Đến lúc gọi tên đi ngành tôi mới biết là tôi được chọn về Pháo Binh. Chúng tôi có tất cả khoảng 50, 60 người, cùng với khoảng một, hai chục sinh viên sĩ quan Bảo An bị đưa ra Nha Trang rồi vào trường Pháo Binh ở Dục Mỹ. Chúng tôi tới Nha Trang thì bằng phi cơ để từ đó nhà trường cho xe GMC ra chở chúng tôi về Dục Mỹ. Vào tới trường rồi chúng tôi mới thấy nản, trường Pháo Binh của chúng tôi nằm trên một ngọn đồi ở thị trấn Dục Mỹ mà thị trấn này lại toàn là những đồi với núi! Trường Pháo Binh của chúng tôi nằm bên cạnh Trường Biệt Động Quân và rồi chúng tôi nhận ra là so sánh với cách luyện tập bên đó thì chúng tôi đúng là đang được ở Thiên Đàng trong khi những quân nhân Biệt Động Quân kia lại đang ở dưới Địa Ngục. Chúng tôi đã thấy cả những thiếu úy từ Đà Lạt mới ra trường mà được chuyển về nơi đây để học Biệt Động Quân thì cũng phải chịu những kỷ luật khắt khe như những tên binh nhì về học đấy. Mới được đưa tới trường và vừa từ trên xe nhẩy xuống, với túi đeo trên lưng, họ đã phải hô


to “Sát, Sát..” và… bò về Văn Phòng Bộ Chỉ Huy của nhà trường để… trình diện. Đã tới trường Biệt Động Quân này rồi thì họ chỉ được mang lại cái lon thiếu úy vào những ngày thứ Bẩy, Chủ Nhật hay ngày Lễ để ra chợ Dục Mỹ hoặc ra Nha Trang chơi thôi, còn trong lúc đi học thì họ vẫn bị được coi như những tân binh thường. Nhìn thấy kỷ luật bên trường Biệt Động Quân như vậy, mới thấy rằng kỷ luật bên trường Pháo Binh này không thấm vào đâu cả. Kỷ luật bên Pháo Binh này thật là chẳng có gì ngay cả đối với kỷ luật ở trường Thủ Đức, chứ đừng nói đối với kỷ luật bên Biệt Động Quân ngay sát bên cạnh chúng tôi nữa. Tuy rằng đã được hưởng cái kỷ luật nhẹ nhàng như vậy, tôi vẫn cảm thấy… rất buồn, một mối buồn man mác vô căn cứ bởi cảnh vật quanh mình, với những núi non trùng điệp quanh trường, nhất là vào lúc cuối Đông ở dải đất miền Trung này. Sáng sáng có khi chỉ thấy sương mờ che phủ cả doanh trại, mấy căn phòng chúng tôi ở lại là những căn nhà mái tôn vách ván chứ không được là những căn nhà bằng gạch ngói khang trang như ở Thủ Đức, và tuy tôi không giã từ người yêu để vào quân trường, vì… người tôi yêu đã “chia tay” với tôi từ lâu, từ một năm nay rồi, nhưng tôi vẫn cảm thấy trong lòng tôi có một cái gì như nhớ nhung về dĩ vãng… Tôi tiếc nuối là đã không chịu học hành đàng hoàng để đến nỗi phải… đi lính!


Ra đây là để được học về Pháo Binh nên ngay ngày hôm sau là chúng tôi đã được đưa lên giảng đường để nghe nói về việc học hành sẽ như thế nào và mọi sinh hoạt ở đây sẽ ra sao. Lúc đó chúng tôi mới biết rằng Chỉ Huy Trưởng của trường Pháo Binh này là Thiếu Tá Hoàng Hữu Giang và trường Pháo Binh này sẽ dạy chúng tôi đủ thứ về chuyên môn Pháo Binh như: học về Súng Cối, về Đại Bác 105 ly rồi tới Đaị Bác 155 ly, về Truyền Tin, Địa Hình, Chiến Thuật, Quân Xa… Nếu chịu khó học hành cẩn thận thì những kiến thức thu thập ở đây sẽ rất hữu dụng về sau cho ngay cả trong đời sống dân sự, biết rành về quân xa thì sau này có thể biết sửa cái xe hơi của mình chẳng hạn. Nhưng khốn nỗi tôi chỉ ưa mỗi môn Toán của tôi nên tôi chỉ chú ý vào môn Trung Ương Tác Xạ vì môn này có sử dụng tới một chút vốn liếng Toán học của tôi, thí dụ như phải tính logarithm chẳng hạn. Môn này do Trung Úy Nguyễn Văn My phụ trách. Vì tôi khá xuất sắc trong môn học này nên Trung Úy My rất thích tôi. Trung úy này là người Bắc và đã phải động viên vào Khóa 5 Thủ Đức vào cuối năm 1954. Trung Uý My về sau lại là pháo đội trưởng của tôi.


Trong các sĩ quan huấn luyện viên ở đây chỉ có Trung Uý Lễ là người Nam, lúc này Trung Uý Lễ đang học Luật nên rảnh ra là Trung Uý Lễ lại cắm đầu vào học. Các môn khác ngoài môn Trung Ương Tác Xạ ra, tôi gần như không ngó tới, không biết rằng đối với chiến binh thì các môn Địa Hình cũng như Truyền Tin lại rất là cần thiết, mà đối với Pháo Binh thì lại rất là cần thiết. Đó là những môn có quan hệ thiết thân nhất. Máy truyền tin mà trục trặc thì làm sao liên lạc tốt với hậu cứ để xin yểm trợ đây? Còn như không rành về địa hình thì làm sao xác định tọa độ cho chính xác được để xin tiêu diệt địch cũng như khỏi bắn lầm vào quân bạn hay bắn lầm vào nhà dân trong khi mình vẫn chủ trương là Diệt Cộng, An Dân. Nhưng lúc đó tôi lại chẳng cần biết đến việc đó nên tôi đã lơ là về hai môn này để về sau phải học ngay trên trận địa! Về Trung Ương Tác Xạ, tôi không những giỏi về lý thuyết mà còn rất khá về thực hành nữa. Có một lần, để sửa soạn cho một cuộc thanh tra của Bộ Chỉ Huy Pháo Binh tôi đã được đóng vai trò của một sĩ quan Tiền Sát Pháo Binh và tôi đã bắn trúng mục tiêu chỉ định, bắn gẫy một cây cầu trên sân giảm xạ. Về Tác Xạ thì tôi rất khá. Hồi ở Thủ Đức, trên thềm 300 thước, trong một kỳ trắc nghiệm ở cuối giai đoạn I, trong 3 phát tôi bắn với súng Garant M-1 thì một phát trúng hồng tâm còn 2 phát kia thì chỉ cách hồng tâm hơn 1 cm. Với Carbine M-1 cũng vậy, nói chung là với súng trường và với mục tiêu cố định thì gần như tôi bắn đâu trúng đó, chỉ có đối với súng Colt là tôi chịu thua. Ngay cả sau này khi ra đơn vị rồi, tôi tập thế nào cũng không làm sao khắc phục được cái dở này. Kể cả với mục tiêu chỉ cách có khoảng 20 mét tôi cũng không thể dùng Colt để bắn cho trúng một mục tiêu cố định được. Súng này giật mạnh lắm mà tay tôi lại yếu thì làm sao bắn trúng đây. Về trường Pháo Binh Dục Mỹ, tôi mới gặp lại 2 người bạn cùng học trung học với tôi, hình như là sau khi đậu xong cái bằng Trung Học Phổ Thông, nghĩa là xong Đệ Nhất Cấp thì các anh hoặc tình nguyện hoặc bị động viên vào Khoá 5 Thủ Đức, nay họ là Trung Uý và là những người


dạy tôi. Đó là Trung Úy Nguyễn Hữu Trì và Trung Úy Trần Thượng Khải… Trung Úy Trì là Sĩ Quan An Ninh của nhà trường còn Trung Uý Khải thì dạy tôi môn Truyền Tin… Tôi còn nhớ một hôm ra bãi tập, khi tôi đang điều chỉnh cái Giác Bàn thì … Trung Uý Khải mà tôi đã biết từ trong lớp học, trên bục giảng, mỗi Huấn Luyện Viên đều có gắn bảng tên và cấp bậc của mình, ngập ngừng hỏi tôi - Có phải anh là anh Khôi, trước học ở Ngô Quyền Hải Phòng phải không? - Dạ, đúng! Tên em có ghi trên túi áo đây. - Tao là Trần Thượng Khải đây, có nhận ra tao không? - Dạ em nhận ra chứ, nhưng là trung úy to thấy mẹ, ai dám nhận quen. - Tiên sư mày, vừa thôi chứ! Thế nào vợ con gì chưa? - Có ai thèm lấy tao đâu mà vợ với con! - Thôi thứ Bẩy này ra nhà tao ở Ninh Hòa chơi, rồi tao bảo bà xã tao kiếm vợ cho, năm nay mày đã gần 30 rồi phải không? - Tao hãy còn trẻ mà, mới có… hai mươi tám tuổi thôi chứ đã già gì đâu! Tôi gặp lại anh bạn Trần Thượng Khải như vậy, còn anh Nguyễn Hữu Trì thì tôi gặp anh vào một tối khi tôi phải lên trình diện dã chiến vì… Sáng thứ Bẩy trước đó tôi đã sơ ý không đánh si lại đôi giầy bottes de saut của tôi. Nói đúng hơn là tôi đã quên không đánh si lại 2 cái gót giầy đó… thành ra tôi đã bị phạt 4 đêm dã chiến, nhưng ngay tại cái đêm đầu tiên khi tôi lên trình diện sĩ quan trực đêm đó thì vị sĩ quan trực lại là Trung Úy Nguyễn Hữu Trì, thế là tôi không bị hạch sách gì như sẽ bị hạch hỏi là: -Bi đông của anh có đầy nước không? Nước này có uống được không, anh uống thử cho tôi coi xem nào. Anh đã lau chùi súng kỹ chưa? Nòng súng có sạch không? vân vân và vân vân. …


Thế là tôi và anh Trì ngồi ôn chuyện cũ với nhau và dĩ nhiên là các đêm dã chiến còn lại của tôi đều được xóa bỏ. Sau này tôi nghe nói là đại úy hay Thiếu Tá Trì bị chết vì bị pháo kích ở Khe Sanh, còn Trần Thượng Khải thì về sau là thiếu tá tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 182 Pháo Binh ở Long Khánh, mà tôi có dịp ở trong trại của anh khi bị đi học tập cải tạo và bị thương, suýt chết ở đây. Hiện nay nghe nói là sau khi bị đi cải tạo về anh cũng đã sang được đất Mỹ này rồi, có diều tôi vẫn chưa liên lạc được dù đã hỏi nhiều người. Cũng ở Dục Mỹ này, tôi còn được Y Sĩ Trung Uý Phan Trần Đạo lái xe Jeep từ Ninh Hòa vào đón tôi ra đó chơi khi anh ra làm tại quân y viện Nha Trang hay Ninh Hòa gì đó tôi cũng chẳng hỏi làm gì, anh không lái xe đưa tôi ra Nha Trang vì… từ Ninh Hòa ra Nha Trang phải qua đèo Rù Rì mà lái xe qua đèo này thì rất…nguy hiểm. Bác Sĩ Đạo là người học trên tôi 2 hay 3 lớp và là người đã ở cùng phòng với tôi trong Đại Học Xá Minh Mạng mấy năm xưa (hiện nay anh đang hành nghề Y Sĩ tại San Diego, ở miền Nam California) Ở trường Dục Mỹ này chúng tôi mới thấy sự phân chia đẳng cấp giữa người binh nhì và sĩ quan, ngay cả với các sinh viên sĩ quan, rất là rõ rệt. Mặc dù là chúng tôi cũng phải chia nhau đi gác đêm ở các vọng gác của nhà trường để có thể thấy được cái cực nhọc của ngưới lính nhưng chúng tôi đã không phải dọn cầu tiêu, chính những người lính Pháo Binh tương lai phải dọn tất cả các cầu tiêu của cả trường. Nên biết cho là các cầu tiêu ở đây là những cầu tiêu có thùng đựng phân ở phía dưới chứ không được là các cầu tiêu giật nước như ở Thủ Đức. Không biết là những người lính khóa sinh này có được nghỉ để ra khỏi trại vào những ngày thứ Bẩy và Chủ Nhật hay không, nhưng sinh viên sĩ quan chúng tôi thì gần như... phải dời trường để ra Nha Trang hay đi đâu tùy ý. Ở Thủ Đức thì kiếm được một cái giấy phép ra trại vào những ngày này


thật rất khó, còn ở đây thì… muốn ở lại trường mới là khó vì như thế thì phải báo trước để nhà bếp làm cơm cho những người ở lại. Nếu mọi người đều đi hết thì họ khỏi phải nấu cơm cho ai hết, nhưng tiền để nấu ăn thì vẫn lãnh đủ. Cho tới lúc đó và ngay cả cho tới bây giờ, tôi vẫn thấy bãi biển Nha Trang là bãi biển đẹp nhất ở Việt Nam với cái bờ biển cong cong, bãi cát thì trắng tinh và rất sạch không bẩn thỉu rác rưới như bãi biển ở Cấp hay ở Đồ Sơn ngoài Bắc, và nước biển thì xanh ngắt, chỉ không xanh bằng nước biển ở Vịnh Hạ Long thôi. Ngày xưa tôi đã ở Hòn Gay vì ông bố tôi đã làm kế toán trưởng trong Trung Tâm Hà Tu, rồi Trung Tâm Hà Lầm thuộc Sở Than Hongay SFCT (Société Francaise de Charbon du Tonkin) tới năm 1947. Từ Hà Tu ra Hòn Gay chỉ có 11km, còn từ Hà Lầm ra Hòn Gay lại chỉ có 7 km thôi. Ngay ngày thứ Bẩy đầu tiên được đi phép ra Nha Trang, tôi đã gặp lại các bạn Hành Chánh Khoá 7 của tôi, họ cũng phải ra học quân sự nhưng ở trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Tôi còn nhớ anh Đỗ Tiến Đức có nói với tôi rằng “Thế nào, bỏ trường, bây giờ đã sướng chưa?”. Tôi đã trả lời rằng “Tôi đâu có biết rằng bỏ trường Hành Chánh ra là phải vào ngay trường Thủ Đức đâu?”. THUẦN PHONG Chương 2 Về Tiểu Đoàn Pháo Binh


1- Về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh. Mặc dù không chịu học hành gì cả nhưng ở cái trường quân sự này thì tôi không thể sortie latérale (học rớt vì thiếu khả năng) được, nghĩa là cuối khóa tôi vẫn sẽ bị gắn lon chuẩn úy, nghĩa là tôi vẫn đậu ra trường, chỉ có điều là đậu gần chót thôi. Nhưng dù là gần chót, nghĩa là không được ưu tiên chọn đơn vị, tôi vẫn được về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Tam Hiệp, Biên Hòa. Có tên là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh là để phân biệt với Tiểu Đoàn 5 Súng Cối. Sau này, vào cuối năm 1964 thì phải, loại Súng Cối chuyển sang cho Bộ Binh nên Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh chuyển thành Tiểu Đoàn 51 Pháo Binh, còn Tiểu Đoàn 5 Súng Cối cũ thì trở thành Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh với súng 105 ly. Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh này lúc này là Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu mà về sau là Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam. Tôi sang Pháo Binh vì khi tôi từ Thủ Đức về đưa đám ông anh tôi, thì Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh tại Bộ Tổng Tham Mưu... Tới khi tôi ra trường, lên Bộ Tổng Tham Mưu để nhận sự phân phối, tôi mới gặp lại ông Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh trên Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc này tôi mới biết là chính ông Thiếu Tá Đông này đã đưa tôi sang Pháo Binh và rồi đưa về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh. Gọi là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh vì là Tiểu Đoàn súng 105 ly thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Quân Đoàn 3. Mỗi Sư Đoàn Bộ Binh thời đó có 1 Tiểu Đoàn PB (105 ly), 1 TĐ Súng Cối (160 ly) và 1 TĐ Tổng Trừ Bị (155) ly. Sư Đoàn 5 Bộ Binh này có Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh, TĐ 5 Súng Cối và Tiểu Đoàn 38 Tổng Trừ Bị với súng 155 ly đầu bạc, gọi là đầu bạc vì phần đầu của cái nòng súng 155 ly này làm


bằng thép inoxydable nên sáng loáng và bạc trắng. Về tới tiểu đoàn rồi mới thấy cái “oai” của một người làm quan, dù mới chỉ là một vị quan hạng bét, quan… chuẩn úy. Hôm đó, sau khi đã qúa hạn trình diện tới một tuần rồi, tôi mới nhờ một anh bạn cùng phòng trong Đại Học Xá Minh Mạng chở tôi lên Ngã Ba Tam Hiệp bằng cái xe Lambretta số NA 1112 A của tôi. Lúc đi thì tôi lái, cái túi quân trang thì để trên sàn xe, anh bạn Nguyễn Hữu Nhâm của tôi thì ngồi trên cái yên sau (Thực ra anh Nhâm này học trên tôi ít nhất là 2 lớp, anh đã đậu Tú Tài từ Hà Nội, nhưng số anh cũng không được khá lắm. Anh cũng đã bị gọi đi lính vào khóa 14 Thủ Đức như tôi nhưng anh không muốn… bước vào đời lính nên đã không chịu trình diện, anh trốn liên tiếp khoảng 10 khóa để rồi cuối cùng cũng phải… vào Thủ Đức khoá 24 thì phải. Nhưng anh lại có cái may mắn hơn tôi là… đã không phải ăn cơm tù cải tạo vì anh đóng ở miền Tây nên sau ngày 30/4/1975 anh đã thoát được khỏi Việt Nam và hiện nay anh đang ở dưới Nam Cali.) Tới cổng tiểu đoàn rồi, tôi khệ nệ mang cái túi quân trang vào cổng trại. Anh lính gác thấy thế vội bảo tôi “Thiếu úy cứ để đấy để em bảo tụi nó mang vào cho, thiếu úy cứ lên văn phòng đi!”. Lúc đó tôi đang mặc bộ đồ số 2 nghĩa là mặc quần áo kaki với lon chuẩn úy hẳn hoi, nhưng vẫn được gọi là thiếu úy… Mấy tháng trước khi còn trong trường thì mỗi khi đi đâu chúng tôi đều phải tự mình mang theo mọi đồ dùng cá nhân của mình, nên lúc đó tôi cũng hơi khớp nhưng rồi hiểu ngay ra là mình bây giờ là sĩ quan rồi chứ không còn là sinh viên sĩ quan nữa, nên tôi để cái túi quân trang ở đó rồi lên Văn Phòng Tiểu Đoàn trình diện đại úy tiểu đoàn trưởng. Mặc dù đã lên trình diện trễ nhưng có lẽ đã được gửi gấm trước nên tôi cũng chẳng bị quân kỷ gì ngoài mấy lời khiển trách nhẹ nhàng. Hình như Thiếu Tá Phạm Cao Đông ngày xưa là tiểu đoàn trưởng hay pháo đội trưởng của ông đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh này thì phải. Tôi phải nói ngay ở đây rằng tôi lên trình diện trễ là vì tính tôi ham chơi từ nhỏ chứ không phải vì cậy có ông Thiếu Tá Phạm Cao Đông đỡ đầu, đỡ đít gì đâu. Đại úy tiểu đoàn trưởng này tên là Hồ Sĩ Khải, người hơi gầy nhưng cao


thành ra các sĩ quan trong tiểu đoàn thường gọi sau lưng ông ta là “Anh Ba Cao”. Ông ta còn có biệt danh nữa là “Anh Ba Răng Vàng” vì ông ta có mấy cái răng vàng, tên ông ta đẹp là thế mà cũng bị đổi thành “Đại Úy Hồ Sãi Khỉ” trong khi đó thì vị đại úy tiểu đoàn phó lại có một chiều cao khiêm nhường nên được mệnh danh là “Anh Ba Lùn”. Đại úy tiểu đoàn phó này tên là Dương khắc Cần (sau này Đại Úy Khải này lên tới chức đại tá và về làm chỉ huy trưởng Trường Pháo Binh cho tới ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông ta có bị tù cải tạo hay có dời khỏi Việt Nam được hay không thì tôi cũng không biết, riêng về Đại Uý Cần thì nghe nói bị tử trận vào năm 1972 trên đường tháo chạy từ Kontum, khi đó ông đang làm tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh ở đây). Trình diện xong thì tôi đươc Ban I ghi tên tôi vào sổ lương rồi được chỉ định về ở tạm với đại úy tiểu đoàn phó để đợi được phân phối về một pháo đội nào đó, thế là cái túi quân trang của tôi được một sĩ quan trong văn phòng sai lính mang về phòng Đại Uý Cần cho tôi. Ông Đại úy tiểu đoàn phó này không mang vợ con ở dưới quê theo, nên ở trong trại, còn Đại Uý Khải thì ở với gia đình bên ngoài, gần trại. Đại Uý Cần này rất là vui tính, lại nữa tuy là lính mới nhưng lúc đó tôi cũng đã gần ba chục tuổi đầu rồi và nhất là tôi lại là dân bị động viên nữa, vả lại tôi cũng đã là sĩ quan của tiểu đoàn nên tôi đã được Đại Uý Cần tiếp đãi rất tử tế Văn phòng của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nhìn thẳng ra cổng trại và cách cổng trại khoảng bốn, năm chục thước (mét). Bên trái văn phòng là mấy căn phòng, làm phòng ngủ cho Đại Uý Tiểu Đoàn Phó còn bên phải Văn Phòng là một dẫy mấy căn phòng dùng làm kho cho Ban 4, Ban Tiếp Liệu của tiểu đoàn. Sau lưng Ban 4 này là các khu dành cho Ban Quân Xa và các khu dùng làm hậu cứ cho ba Pháo Đội A, B, C. Ở với Đại Uý Cần được đâu 2 ngày thì tôi được phân phối về Pháo Đội B của Trung Uý Nguyễn Đôn Sâm.


Cho tới thời điểm đó mỗi tiểu đoàn chỉ có 3 pháo đội tác chiến và 1 pháo đội chỉ huy, mỗi pháo đội tác chiến chỉ có 2 trung đội với 2 khẩu đại bác 105 ly cho mỗi trung đội. Mấy năm sau thì cách tổ chức này được đổi thành Tứ Tứ Chế, nghĩa là mỗi tiểu đoàn có 4 pháo đội tác chiến và 1 pháo đội chỉ huy. Mỗi pháo đội tác chiến có 4 trung đội cùng với 2 khẩu đại bác cho mỗi trung đội. Thế là tôi lại phải dời sang hậu cứ của Pháo Đội B này để chờ khi nào có liên lạc tôi sẽ dược đưa tới Pháo Đội B lúc đó đang đóng trong tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa). Vài ngày sau đó, Trung Úy Sâm cho người về lấy đồ tiếp liệu và đón tôi đi. Ở tiểu đoàn thì chưa thấy mùi vị gì của lính tráng cho lắm, vì ở đây sĩ các quan cũng như hạ sĩ quan và binh lính của tiểu đoàn có lối sinh hoạt như sinh hoạt của các công chức nghĩa là đến giờ thì tới làm việc và hết giờ thì ai về nhà nấy, hoặc về phòng của mình để nghỉ. Nhưng khi tới pháo đội rồi thì lại khác, nơi trú quân của pháo đội thì nhỏ. Thực ra đây là nơi trú quân của Trung Đội I-B, một vị trí lỉnh kỉnh


đủ thứ với 2 khẩu đại bác 105 ly, 2 chiếc xe vận tải GMC, 1 chiếc xe Dodge-4, hầm chứa đạn, phòng ngủ cho binh lính, phòng ngủ cho sĩ quan. Tới vị trí pháo đội rồi, tôi phải trình diện Trung Uý Pháo Đội Trưởng Nguyễn Đôn Sâm. Ông này giới thiệu tôi với Thiếu Uý Trần Văn Thinh, trung đội trưởng Trung Đội I-B. Trung Úy Sâm là người Bắc, ông ta cỡ tuổi tôi hoặc hơn một hai tuổi là cùng. Trung úy này xuất thân từ Thủ Đức hay Đà Lạt, tôi cũng không để ý nữa. Thiếu Uý Thinh là ngưới Nam và ra trường khóa 7 Thủ Đức, thua tôi tới gần chục tuổi. Chẳng biết anh chàng Thiếu Úy Thinh này học hành đến đâu, tôi không hỏi làm gì, nhưng anh ta có tâm hồn thi sĩ lắm, vì trên bàn của anh ta, trên cuốn sổ ghi công việc hàng ngày, tôi thấy có câu thơ Tên tôi là Tăng gô Chỉ thích đi đề lô. (i) Chắc là anh ta mới giã từ chức vụ Đề Lô…và mới được cử lên làm trung đội trưởng. (i) Tăng gô là tiếng ngụy hóa chữ T (Thinh), còn đề lô là do tiếng Pháp D.L.O. hay "détachement de liaison et d’observation" nghĩa là biệt phái để liên lạc và quan sát pháo binh. Chức vụ này, trong quân đội Pháp thì do một vị sĩ quan có kinh nghiệm, là một trung úy thâm niên hay đại uý đảm nhiệm vì ông này phải theo chân Bộ Binh ra tiền tuyến, lấy tọa độ và tính toán đủ thứ rồi mới đưa các tính toán đó về cho ban tác xạ ở nhà, lính ở nhà chỉ việc theo những yếu tố của vị sĩ quan này để đưa vào súng mà bắn thôi… Trong quân đội Mỹ thì khác hẳn, việc đi theo Bộ Binh ra mặt trận lại do các sĩ quan mới ra trường lãnh, viên sĩ quan này được gọi là Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh (F.O. hay Forward Observer). Sĩ quan này thì chỉ có nhiệm vụ là theo sát bước tiến của Bộ Binh để khi cần, gửi về ban chỉ huy tác xạ ở phía sau những tọa độ muốn xin tác xạ. Theo cách của Mỹ thì mọi tính toán đều được làm sẵn và đã được ghi vào những cái thước


gọi là thước đo… (Tôi cũng chẳng nhớ gọi là thước đo xạ bàn hay là thước gì nữa). Với tầm xa đo được trên xạ bàn, thước này cho biết là sẽ phải dùng thuốc nạp bao nhiêu cho mỗi loại đạn, đạn khói, đạn nổ chạm, đạn nổ cao hay đạn nổ chậm, nghĩa là loại đạn khi đã chạm mục tiêu và chui xuống đất rồi vài giây sau mới nổ. Mỗi trái đạn 105 ly có 7 gói thuốc nạp tất cả. Tầm bắn tối đa của 105 ly nòng ngắn là 11 km và phải bắn với thuốc nạp 7, tức là phải dùng cả 7 gói thuốc nạp.Với 155 ly đầu bạc thì tầm bắn tối đa là 15 km. Những thước đo này để sẵn ở ban tác xạ và bất cứ một hạ sĩ nào cũng có thể tìm ra những yếu tố để ra lệnh khai hỏa một khi đã có những tọa độ để ghi lên xạ bàn mà sĩ quan tiền sát tức là sĩ quan Đề Lô đưa về. Trong Trung Đội 1-B này, các ông hạ sĩ quan, tức là mấy ông trung sĩ đều là người Nùng, chỉ có hai ông hạ sĩ là người Nam còn binh lính thì hầu hết là người Nam và hình như chỉ có một tên là người Bắc, đó là Binh Nhì Toản, làm tài xế cho Thiếu Úy Trung Đội Trưởng Thinh. Tôi không hiểu là mấy trung sĩ người Nùng này học hành đến đâu, nhưng phải công nhận là họ rất thông minh. Khi vào việc, sĩ quan chỉ cần ra một lệnh vắn tắt thôi là họ sẽ thi hành một cách chu đáo. Tôi được Thiếu Úy Thinh kể lại rằng khi Trung Tá Nguyễn Đức Thắng (nguyên là sĩ quan Pháo Binh Khoá I Nam Định và ông ta đã nổi tiếng về bắn nhanh, bắn trúng từ thời Pháp) về làm tư lệnh Sư Đoàn 5, trước Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, ông Thắng thường cho mở những cuộc khảo sát mấy sĩ quan Pháo Binh bằng cách cắm một ngọn cờ lên trên một ngọn núi nào đó rồi bắt mấy sĩ quan và hạ sĩ quan Pháo Binh tìm tọa độ của nơi cắm cây cờ ấy. Lần nào cũng vậy, Trung Sĩ Tài của pháo đội này bao giờ cũng tính ra trước tất cả các vị sĩ quan. Biết là ông ta tính theo kiểu Pháp nhưng bảo ông ta chỉ cho biết là đã làm như thế nào thì ông ta chịu không chỉ được, nhưng kết quả mà ông ta tìm thấy lại là kết quả đúng nhất vì thường chỉ sai tối đa là 15 mét thôi, còn kết quả của các quan tìm ra thì sai… ít nhất là 50 mét. (Sau này tôi nghe nói là ông trung sĩ này cũng đào ngũ luôn, vì nhà mà vợ con ông ta ở đã bị đạn 105 bắn sập và chết hết. Rõ ràng là nhà vợ con ông ta ở đã bị bắn lầm, hồi đó Việt Cộng chưa có mở đại tấn công nên không thể có súng lớn để bắn


vào nhà dân như sau này được!) Về Trung Đội 1 của cái Pháo Đội B này thì tôi đã biết rằng tôi sẽ là sĩ quan tiền sát của trung đội, chức vụ này đã dành sẵn cho những chuẩn uý mới ra trường, trừ khi có chạy chọt. Tuy rằng đã có mùi lính tráng ở cái pháo đội này nhưng vẫn chưa có mùi vị gì của chiến tranh cả vì vào thời gian đó, vào giữa năm 1963, chiến trường chỉ mới bắt đầu sôi động thôi chứ chưa ác liệt như về sau nên chúng tôi vẫn còn được hưởng một đời sống quân ngũ… thời bình trong một thời gian. Sáng sáng Thiếu Uý Thinh còn rủ tôi ra chợ Bà Rịa để ăn phở và dĩ nhiên là thiếu úy phải trả tiền vì có luật bất thành văn là trong mọi cuộc ăn uống như vậy, ai có cấp bậc cao nhất người ấy phải bao hết. Ngay hôm đầu tiên, sau khi ăn phở xong, Thiếu Uý Thinh hỏi tôi: - Có uống La De không? Tôi trả lời là không. Anh ta bèn bĩu môi chê tôi là “đàn bà, con trai mà không biết uống rượu! dở quá…”. Tôi trả lời rằng không phải tôi không biết uống La De mà tôi không muốn uống cái đó sau khi ăn phở, chứ rượu mà có gì không biết uống! - Có thật không, hôm nào đi uống thi với tao nhé. - Được hôm nào đi thì đi! Thế rồi vào một chiều nào đó hắn mang một phần ba chai Whisky Johny Đi Bộ cùng đi với tôi xuống Quận Đất Đỏ quan sát địa thế hay làm gì đó tôi không nhớ nữa, làm xong công tác đó hắn bèn rủ tôi tới một cái quán bên đường và thách tôi thi uống rượu với hắn. - Thế nào, cậu muốn uống sec hay uống với soda? - Tôi trả lời là…uống sec đi.


Thế là chúng tôi chia nhau 1/3 chai rượu đó, cứ anh một ly, tôi một ly cho đến hết với đồ nhắm là đĩa đậu phọng rang.. Nhậu xong hai chúng tôi ra về dĩ nhiên là Thiếu Úy Thinh lái chiếc Jeep để về… nhưng tôi thấy chàng ta lái có vẻ loạng quạng nên tôi phải nói: - Cậu hay quá nhỉ! Uống thế mà không say, vẫn lái xe được. Thôi cậu để tớ lái thử xem là có lái được không nào, nếu thấy tôi không lái được thì cậu dành lại tay lái mà lái nhé! - Ừ cậu lái thử xem…và hắn để cho tôi lái về, hắn sang ngồi ghế bên cạnh. Tối đó về tới nhà tôi phải kêu mấy tên lính ra …khiêng thiếu úy vào phòng, lúc đó hắn xỉn quá rồi nên không còn biết gì nữa. Từ xưa tới nay tôi không thích uống rượu nhất là tôi càng uống thì mặt tôi càng tái đi, nên tôi lại càng không muốn uống. Thuốc lá và rượu cũng như bài bạc tôi đều chơi được hết nhưng không bất cứ một thứ gì có thể khiến tôi đam mê được cả. Về môn uống rượu thì sau này tôi còn bị một lần thử thách nữa với mấy người lính, tôi sẽ xin kể lại sau. 2- Lần đầu tiên làm Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh (làm Đề Lô nói theo tiếng Pháp hay làm F.O. (Forward Observer) nói theo tiếng Mỹ) Lè phè như vậy được độ một hay hai tuần gì đó, một hôm tôi được Trung Uý Sâm cho lính đưa tôi lên Phòng Hành Quân Tiểu Khu Phước Tuy nhận lệnh hành quân. Đây là lần ra quân đầu tiên của tôi mà người Pháp gọi là baptême de feu. Pháo Binh đã có lệ là trong 3 lần xuất quân đầu thì vị sĩ quan mới ra trường được một sĩ quan cũ hay một hạ sĩ quan thâm niên hướng dẫn để chỉ bảo thêm những điều thực tế mà nhà trường không thể chỉ dậy được. Lần ra quân đầu tiên này của tôi là đi làm tiền sát Pháo Binh cho một đại đội Bảo An của Tiểu Khu Phước Tuy, và đã được Thiếu Úy Thinh đi


kèm, hay còn gọi là đi doublure. Vì chỉ là cuộc hành quân trong ngày nên toán tiền sát Pháo Binh của chúng tôi chỉ gồm có 2 sĩ quan và 2 người lính, một người lính để mang máy truyền tin PRC-9 (Portable Radio C 9), theo để liên lạc với hậu cứ, nghĩa là với Trung Đội Súng ở nhà và với Phòng Hành Quân của Tiểu Khu còn người kia thì mang nồi niêu và gạo cùng đồ ăn cho cả 4 người để tới trưa thì lo cơm nước cho cả toán. Thường thì trong mỗi cuộc hành quân, sĩ quan tiền Sát phải mang theo phóng đồ hành quân và địa bàn. Nếu hành quân trong ngày thì chỉ cần hai người lính để mang máy truyền tin và đồ ăn theo, còn nếu cuộc hành quân kéo dài từ 2 ngày trở lên thì sẽ phải có 3 binh sĩ đi cùng: Một người mang máy, một người mang đồ ăn và một người mang đồ ngủ, đồ ăn và đồ ngủ cho cả toán vì… khi đụng trận, sĩ quan tiền sát phải lo theo dõi bước tiến của quân bạn (bộ binh), ấn định tọa độ rồi cùng với người lình mang máy liên lạc với trung đội súng ở nhà để xin tác xạ, hai người này chỉ mang theo súng Colt với 2, 3 băng đạn cho khỏi vướng, trong khi hai người lính kia thì mỗi người mang theo một khẩu Carbine và vài băng đạn tùy theo ý của họ vì cho tới thời gian này, cuối 1963, chưa có trận đụng độ lớn đáng kể nào xẩy ra cả. Sáng hôm đó, vào khoảng 5 giờ, toán tiền sát chúng tôi trình diện Đại Đội Bảo An tại một bến đò, rồi tất cả khoảng một trăm người chúng tôi cùng lên mấy chiếc giang thuyền để tới một cái đảo nhỏ nào đó mà nay vì đã lâu qúa nên tôi không thể nhớ được nữa. Mấy chiếc giang thuyền này khi tới mục tiêu đã phải tắt máy để thuyền trôi sát vào bãi cát cho chúng tôi lên bờ. Vì đã có Thiếu Uý Thinh làm trưởng toán và cũng vì đây là lần đầu ra quân nên mọi việc đều do thiếu úy này định đoạt, tôi không hề tham dự vào mà chỉ biết… đi theo và nghe lời dặn bảo của thiếu uý thôi, mà ông thiếu úy này lại không chỉ bảo tôi một chút gì về công việc mà một Sĩ Quan Tiền Sát phải làm cả; trái lại anh chỉ dặn tôi là “phải cẩn thận mìn bẫy, phải bước theo dấu chân của người đi trước cho chắc ăn để khỏi


dẫm phải mìn”. Thế là tôi phải lò dò từng bước một theo dấu những vết chân trước in trên cát… Đi như thế độ 15 hay 20 phút gì đó, tôi thấy là mệt quá, nên sợ thì vẫn sợ, tôi bắt đầu bước càn đi chứ không lò dò như trước nữa. Đây chỉ là một cuộc hành quân bình định thường lệ và hôm đó không hề có một cuộc chạm súng nào cả, nó chỉ giống như một cuộc hành quân thực tập ở quân trường, chỉ khác là trong cuộc hành quân này tôi chẳng học hỏi thêm được gì về nhiệm vụ của một sĩ quan tiền sát cả ngoài cái… hồi hộp lo sợ lúc đầu. Chiều hôm đó mấy chiếc giang thuyền lại ra đưa chúng tôi trở về lại Phước Tuy. Tham dự cuộc hành quân hôm đó chỉ như đi dự một cuộc du lịch với đông người thôi. 3/ Ra quân lần thứ hai. Vài tuần lễ sau tôi lại được cử đi làm tiền sát cho một cuộc hành quân khác, lần này là cuộc hành quân của sư đoàn và tôi được cử đi với một tiểu đoàn Bộ Binh và dĩ nhiên là vẫn có một sĩ quan đàn anh đi kèm. Lần này vị sĩ quan đi doublure với tôi là Chuẩn Úy Nguyễn Duy Trạch, một anh bạn trong Đại Học Xá Minh Mạng của tôi, anh đã phải đi khóa 13 Thủ Đức (Năm 1995 tôi đã gặp lại anh trên trường SFSU của San Francisco khi tôi đang học ở đó và anh thì đưa con gái anh tới nhập học. Nhưng lâu nay thì đã mất liên lạc). Gặp anh, chúng tôi chỉ nói đến những chuyện ở Đại Học Xá thôi, chứ không đả động gì đến cuộc hành quân cả, nghĩa là mọi việc của một sĩ quan tiền sát như xác định tọa độ hay liên lạc với hậu cứ đều do một mình anh Trạch lo hết, tôi chỉ như một người bạn đi theo chơi thôi. Hôm đó chúng tôi hành quân lên núi Thị Vải ở tỉnh Phước Tuy. Lúc đầu thì mọi việc đều tiến hành suông sẻ, nhưng đến khoảng 5 hay 6 giờ chiều, khi tiểu đoàn đã chọn được địa diểm dừng quân thì trên nguyên tắc, chúng tôi phải báo cáo địa điểm dừng quân cho Trung Đội Súng ở nhà biết, đồng thời phải gửi về tọa độ của những điểm mà chúng tôi muốn xin bắn quấy rối qua đêm - harrassing fires- đến đây thì có sự trục trặc về truyền tin xẩy ra: chúng tôi không thể liên lạc được với nhà, dù chúng tôi đã thay cái antenne lá lúa, dùng trong khi di chuyển, bằng antenne cần, nghĩa là bằng cái antenne dài, nhưng vẫn không gọi được. Chúng tôi nói với đại úy tiểu đoàn trưởng Bộ Binh thì mới biết rằng cả máy GR của tiểu đoàn cũng


không liên lạc được với hậu cứ (máy GR = Ground Radio, là máy truyền tin lớn, chạy bằng điện quay tay, chỉ tiểu đoàn Bộ Binh mới có thể mang theo được vì cái máy phát điện khá nặng). Lúc đó trời lại tối nên phi cơ liên lạc L-19 cũng đã không còn thấy bay lên nữa. Bộ Binh mà không liên lạc được với Phòng Hành Quân Sư Đoàn cũng nhu Tiền Sát Pháo Binh chúng tôi mà không liên lạc được với súng ở nhà thì rất là nguy hiểm, giống như người mù đi trong con đường trong thành phố mà không có cây gậy dò đường. Sau này khi đã tham dự nhiều cuộc hành quân rồi tôi mới thấy rằng có nhiều vùng trời mà bao nhiêu tín hiệu hay lời nói phát đi từ những máy truyền tin, đều bị cản lại và không thể truyền đi được. Thí dụ như đang đi trong rừng cao su chẳng hạn, tôi đã thấy hầu như tất cả những tiếng nói phát ra từ các máy truyền tin đều bị hút đi mất tiêu, nhiều lắm là chỉ có thể liên lạc được với L-19 bay trên đầu là cùng. Hôm đó, trong lúc chúng tôi còn đang lo lắng với cái việc mất liên lạc này và trong lúc chúng tôi đang phải cố gắng gọi về nhà thì chúng tôi nghe đưọc tiếng trả lời trong máy, đúng là mừng hết lớn, chúng tôi còn phân bua là “Gọi các anh từ nãy đến giờ, nay mới nghe được các anh lên tiếng, mà các anh là ai vậy?” Chúng tôi cuối cùng phải hỏi vậy vì… tiếng trong máy nghe lạ hoắc, không phải là tiếng “nghe quen tai” của anh hạ dĩ Truyền Tin ở nhà. Cũng may mà chúng tôi còn chưa nói lên cái tọa độ điểm đứng của mình. Đáp lại câu hỏi của chúng tôi là mấy tiếng cười hề hề và lời chúc tụng “Thôi các anh ráng yên tâm đi và ngủ ngon đêm nay nhé!”. Nghe thấy thế tụi này sợ điếng người và dĩ nhiên là Chuẩn Uý Trạch phải báo ngay điều này với đại úy tiểu đoàn trưởng để ông lo xắp đặt phòng thủ cho kỹ hơn trong tình trạng “địch biết ta mà ta thì… chẳng biết gì cả”. Chúng tôi cũng xin ông đại úy tiểu đoàn trưởng là hạn chế tối đa việc cho lính biết điều này để cho họ khỏi mất tinh thần… Nhưng rồi đêm đó cũng qua không xẩy ra chuyện gì rắc rối thêm nữa và ngày hôm sau chúng tôi đã suống núi yên lành, không phải bắn một phát súng nào cả. Đó là hai cuộc hành quân đầu tiên của tôi khi tôi về với Pháo Đội B lúc pháo đội này đóng ở Tiểu Khu Phước Tuy (Bà Rịa).


Tôi ở đây được… một, hai tháng gì đó thì được gọi về Tiểu Đoàn. Về đây, tôi chờ Trung Đội 2B về để sẽ được chuyển sang đó với trung đội trưởng là Thiếu Úy Hoàng Chính. Anh Chính này là Sĩ Quan Đồng Đế và anh ta hơn tôi khoảng 3 hay 4 tuổi gì đó (Trường Võ Bị Đồng Đế ở Nha Trang là trường dành cho các hạ sĩ quan được cho đi học để thành sĩ quan. Sinh viên sĩ quan ở đây cũng như sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức sẽ ra trường với cấp bậc Chuẩn Uý). Chuẩn Uý Trạch, không biết là thuộc Pháo Đội nào trong Tiểu Đoàn, lúc này cũng đang có mặt ở đây. 4/ Trực phòng TOC của SĐ 5 BB. Trong khi chờ đợi như vậy, tôi phải tham gia trực phòng hành quân (TOC) của Sư Đoàn. TOC là chữ viết tắt của Tactical Operation Center. Trực liên tục 24 tiếng cùng với các Sĩ Quan của các Binh Chủng khác như Truyền Tin, Không Quân, Dù …, rồi Sau đó sẽ được nghỉ 24 tiếng. Phòng Hành Quân này là một căn phòng cao rộng và khá dài, mái tôn, vách ván. Trong thời gian chờ Trung Đội 2B về đón, tôi đã được hân hạnh đi trực phòng TOC một lần. Chúng tôi trực ở bên ngoài, bên trong là phòng thuyết trình hành quân. Trên bàn trực chúng tôi thấy có một tấm bảng đề “luôn luôn phải quân phục chỉnh tề”, như vậy nghĩa là không được cởi giầy, cởi áo trận để chỉ mặc T shirt nhưng đến trưa và nhất là dưới mái tôn thì trời rất nóng, nên tới khoảng 11 giờ trưa, thiếu tá trưởng Ban Trực hôm đó bảo chúng tôi là… chúng ta có thể cởi áo, miễn là đừng cởi giầy ra là được và chính ông ta cũng làm như vậy... mặc dù chúng tôi biết là tới 2 giờ chiều hôm đó sẽ có buổi họp hành quân ở phòng trong… Bất ngờ là mới tới 1 giờ Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đã từ trên Phòng Tư Lệnh xuống. Vừa thấy ông chúng tôi vội vàng vơ lấy mấy cái áo trận để khoác vội vào người. Thấy thế Đại Tá Thiệu chỉ cười và xua tay bảo “Các ông cứ tự nhiên đi, chúng tôi họp ở phía trong. Trời nóng quá mà”. Tôi tự bảo mình là… Ông này được! Sau này tôi còn biết được vài trường hợp khác nữa chứng tỏ là Đại Tá Thiệu này thực sự là có tư cách của một người làm lớn.


Trong khi nằm chờ tại hậu cứ của Pháo Đội B, ngoài việc bị cắt đi trực phòng TOC của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tôi không phải trực một phiên nào ở Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh này hết, thế nhưng tôi vẫn có một cuộc họp mặt với các sĩ quan trong tiểu đoàn. Đó là trong một buổi tiệc mừng Chuẩn Uý Trạch lên thiếu úy. Bữa tiệc được tổ chức tại một quán ăn ở Biên Hòa và do Đại Uý Cần tiểu đoàn phó (chứ không phải Đại Uý Khải tiểu đoàn trưởng) chủ tọa. Hôm đó, tôi được chỉ định để gọi món ăn vì tôi có cấp bậc nhỏ nhất tại bữa tiệc và sau khi coi qua cái thực đơn của nhà hàng, tôi thấy có món đầu cá, tôi bèn… anh dũng… kêu 6 cái đầu cá cho 6 người! Tên “phục vụ” của nhà hàng còn đang ngẩn người ra thì Đại Uý Cần và mấy Sĩ Quan khác đã phá ra cười. Tôi còn đang ngơ ngác không hiểu gì cả thì Đại Uý Cần đã kêu lại là “Cho một cái đầu cá” rồi ông giải thích với tôi là "Gọi là đầu cá, nhưng là gần một con cá đó, chỉ không có cái đuôi thôi, ông gọi cho mỗi người một cái đầu cá thì bộ ông không cho ai ăn cái gì khác nữa sao?” Tới lúc đó tôi mới thấy cái ngố của mình. (Tuy rằng tôi đã từng ở trong Đại Học Xá Minh Mạng khá lâu, nhưng quý vị có tin được là tôi hãy còn “mán xá” lắm không! Tôi không biết nhẩy đầm này, không biết chơi xì phé này, không biết đánh mạt chược này, nghĩa là những cái mà ai cũng cho là Sinh Viên Đại Học Xá Minh Mạng phải biết và phải nổi hơn những người khác thì… tôi lại không biết, mà đến ngay cái khoản “tán gái” hay là “tìm bò lạc để đưa về phòng…” thì tôi cũng không biết nữa. Anh bạn Đỗ Quý Bái của tôi đã phải nói rằng “Nói chuyện với các cô mà thằng này chỉ nói đến bóng tròn với bóng rổ thì cô nào mà thương nó được”. Thực ra thì cho tới lúc tôi bị động viên vào Thủ Đức, tôi chưa tìm được đối tượng nào đáng để tôi phải có thái độ thích hợp. Cho tới lúc đó, nói thật ra là cô nào chịu tôi cũng được mà không chịu tôi cũng tốt thôi. Với cô nào tôi cũng làm ra vẻ là mình yêu cô ta hết cỡ, nhưng thật ra là chẳng yêu ai cả. Chính vì thế mà cuộc đời lính tráng của tôi rất là rất là…là gì nhỉ? À rất là ngang chẳng bao giờ tôi sợ mấy ông tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, hay pháo đội trưởng cả. Còn trung đội trưởng thì không có gì đáng nói vì họ chẳng làm gì có quyền lớn đối với tôi hết.


5/ Coi một khẩu đại bác 105 trên đồi “Ba Trăm Chín Chục”. Đó là mấy kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã có được khi trở lại với tiểu đoàn. Về đây được ít lâu thì tôi được cho biết là tôi sẽ trở thành một khẩu đội trưởng và khẩu đội này của tôi sẽ đóng trên một ngọn đồi nào đó. Mấy ngày sau tôi lãnh một trung sĩ, một hạ sĩ và 2 hay 3 người lính của Trung Đội 2B để lên coi một khẩu 105 ly với vài người lính Bảo An đã chuyển sang từ lâu. Khẩu súng này đã được đặt sẵn trên đồi Ba Trăm Chín Chục, ngọn đồi này nằm giữa hai quận Tánh Linh và Hoài Đức thuộc Tỉnh Hàm Tân. Tên ngọn đồi là Ba Trăm Chín Chục, đó là để chỉ cao độ của ngọn đồi, tôi chỉ không biết rằng đó là ba trăm chín chục mét hay ba trăm chín chục yards thôi. Cái đồi này có cái tên đó từ trước hay là mới có đây thì tôi không rõ, có lẽ là tên này đã có từ trước, nếu thế thì 390 phải là 390 mét. Rồi một chiếc trực thăng H-26 đưa chúng tôi cùng quân trang, quân


dụng cũng như thực phẩm gạo, mắm, muối… lên ngọn đồi đó. Chiếc trực thăng H-26 này giống hình một qủa chuối cong lại ở giữa và có 2 cánh quạt ở 2 đầu, ngay trên buồng lái., hình như tới giữa năm 1964 thì loại trực thăng này bị xếp xó không dùng nữa vì vừa kềnh càng, vừa yếu. Tới nơi rồi, trực thăng của chúng tôi đáp xuống bãi cỏ trước cổng của một căn trại và đã được một ông Thiếu Uý Bảo An ra đón vào. Căn trại nằm trên đỉnh ngọn đồi, quanh trại có một hàng rào sắt và dây kẽm gai bao bọc. Bên trong hàng rào là những căn hầm cho binh sĩ ở. Ngoài trạm gác tại Cổng Chính, trại còn có 4 lô cốt để gác tại 4 góc trại. Một khẩu đại bác 105 ly được đặt ngay trên đỉnh ngọn đồi, trong một vòng đất đã được đào xâu xuống chừng nửa thước. Cái vòng đất này còn được đào xâu xuống thêm để làm hầm chứa đạn. Phía bên trong và quanh hàng rào của trại là những căn hầm dùng làm phòng cho binh sĩ ở. Bảo vệ khẩu súng và Khẩu Đội Pháo của chúng tôi là 1 Đại Đội Bảo An có chừng năm, sáu chục người và do một thiếu uý chỉ huy Vì Khẩu Đội Pháo Binh cũ đã được rút đi trước khi chúng tôi tới, nên tôi đã nhận lại từ ông thiếu úy già này khẩu đại bác 105 ly với những dụng cụ liên hệ và vài tên lính Bảo An, họ đã được chuyển sang Pháo Binh để coi và lau chùi súng. Những người lính Bảo An này đều là dân Thượng, gia đình của họ sống trong những làng xóm quanh quẩn dưới chân ngọn đồi này. Họ là những người lính đã được đưa sang khẩu đội pháo binh này từ trước và nay thì được chuyển sang khẩu đội của tôi. Tuy rằng chỉ là một khẩu đội nhưng vì phải sống biệt lập nên tôi cũng có được một hạ sĩ truyền tin đi theo với đầy đủ máy móc truyền tin như là trang bị của một trung đội. Sau khi tạm thu xếp xong chỗ ăn chỗ ở cho cả Khẩu Đội thì việc đầu tiên mà tôi phải làm ở đây là thiết lập hệ thống truyền tin để báo cáo mọi diễn tiến với Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi và nhất là để liên lạc với hai vị Quận Trưởng Tánh Linh và Hoài Đức. Tôi còn phải đi gióng lại hướng súng nữa cho chắc ăn, kiểm kê lại kho đạn và rồi còn phải hỏi ông thiếu úy về tình hình trong vùng trước khi kiểm tra lại với hai vị quận trưởng Tánh Linh và Hoài Đức.


Theo lời ông Thiếu Uý này thì tình hình ở đây rất yên ổn, binh sĩ trong trại muốn tắm thì cứ việc xuống tắm ở cái suối ở chân đồi phía sau, mà muốn cho chắc ăn thì mỗi lần đi tắm nên có vài người mang súng theo dể canh chừng và rồi chia nhau tắm và lấy nước lên nấu ăn, uống. Ông Thiếu Uý già này còn cho tôi biết là đến mùa gặt lúa của mấy người Thượng, nếu mấy mấy người lính Thượng có “Xin thiếu úy cho em được đào ngũ” thì tôi phải chấp thuận vì nếu không thì họ cũng bỏ về buôn làng của họ để giúp vợ con gặt hái và họ sẽ chỉ trở lại với mình khi họ đã gặt hái xong. Tôi còn được cho biết là dưới chân đồi phía trước là một cái thôn nhỏ nằm trên một Quốc Lộ chạy từ Sài Gòn ra Phan Thiết rồi Nha Trang…. Khi đi tiền sát thì tôi để cho vị sĩ quan đi kèm với tôi làm hết, nhưng ở đây thì tôi là trưởng toán nên tôi phải lo toan đủ mọi việc. Theo như lệnh của tiểu đoàn thì khẩu đội của tôi có nhiệm vụ là phải yểm trợ hai Quận Tánh Linh và Hoài Đức, trong vùng mà khẩu đại bác 105 ly của tôi có thể bao quát được và phải bảo vệ còn có cả một vùng được gọi là…. vùng Tác Xạ Tự Do. Vùng tác xạ tự do là vùng mà dân chúng không ai được lai vãng và tôi muốn bắn vào đó lúc nào cũng được chẳng phải xin phép hoặc báo cho ai cả. Nhưng theo như ông thiếu úy của toán nằm bảo vệ chúng tôi cho biết thì… hình như mấy ông quận trưởng đều… có cho phép một số người được đi vào vùng này nói là để lấy măng, đốn gỗ... Tôi thì nghĩ rằng như thế thì không được, nên thỉnh thoảng tôi có thông báo cho mấy quan trung úy quận trưởng này là đến ngày ấy, giờ ấy tôi sẽ cho tác xạ vào cái vùng tác xạ tự do này. Có khi tôi có cho tác xạ vào vùng đó đúng vào ngày giờ mà tôi đã báo, nhưng cũng có khi không. Nhưng thường thường thì không bắn phá gì hết, nếu có bắn thì sau đó lại phải báo cáo là đã bắn vào những tọa độ nào, tiêu thụ bao nhiêu đạn và đạn loại nào… lôi thôi lắm. Thế là chỉ ít lâu sau đó tôi được các quan quận trưởng của hai quận này lần lượt đánh điện lên mời tôi tới quận để dự một bữa cơm thân mật. Tôi có đáp lại lời


mời này nghĩa là có đến dự tiệc tại hai quận đó, về sau tôi còn nhận được những lời bắn tin xa gần bảo tôi đừng làm cái trò ấy nữa, nhưng tôi lờ đi coi như không hiểu gì cả và thỉnh thoảng tôi vẫn cho bắn vào cái vùng gọi là vùng tự do tác xạ của tôi, chỉ có điều là trước khi bắn ít nhất là một ngày, tôi đều có thông báo cho mấy vị quận trưởng này biết thế thôi. Muốn tới hai quận này thì tôi phải đi xuống chân đồi rồi đón xe đò rồi suôi hay ngược để tới một quận nào đó. Sau khi đã tới được 2 quận đó rồi, tôi thấy là con đường này rất an ninh, và nhất là… đã ở đây một thời gian khá lâu rồi mà không thấy có chuyện gì xẩy ra, nghĩa là tôi chẳng phải tác xạ để yểm trợ cho quận nào hết, nên tôi đã nổi máu Ba Gai (pagaille) và muốn dù về Sài Gòn chơi vài bữa. Thế là tôi sắp xếp nhờ ông trung sĩ của tôi tạm thay mọi mặt: Nếu có phải bắn yểm trợ ai thì nhờ ông tính toán và cho khẩu đội bắn dùm. Bắn theo cách của Mỹ thi rất dễ và với các ông trung sĩ thì ai cũng có thể bắn được hết, rồi tôi mặc thường phục, một cái quần kaki xanh, sơ mi trắng, giấy tờ mang theo là… cái thẻ sinh viên trường Khoa Học cũ. Những cái gì có hơi hướng nhà binh đều bỏ lại rồi mới xuống chân đồi đón xe về Saigon. Sau này tôi mới thấy rằng mấy cái việc phòng ngừa đó đều… vô ích vì ngay khi mình trèo lên xe thì… chú lơ xe cũng như những hành khách trên xe đã biết mình là ai rồi: Đón xe ở chân đồi Ba Trăm Chín Chục mà lại không phải là khách buôn quen thuộc thì là ai đây? Cần gì phải tới Rừng Lá khi bị Việt Cộng chặn hỏi thì mới lòi cái đuôi chuột ra! Nhưng cũng rất may là đã không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra cho tôi trong mấy lần nhẩy dù đó. Nếu có, thì giờ này chưa chắc đã có tôi ở đây để viết lên những dòng chữ này. Trong những cuộc nhẩy dù như vậy bao giờ tôi cũng tỏ ra ngoan ngõan dễ bảo, chú lơ xe đò chỉ tôi ngồi đâu là tôi ngồi đó không hề phàn nàn gì hết, mà tới chỗ mấy chú dân vệ xét giấy tờ tôi cũng để mặc họ làm việc, dù cho họ có hạch sách, mè nheo gì, tôi cũng lặng im không bao giờ có ý kiến, ý cò gì cả. Về sau tôi có được nghe kể lại một chuyện như sau: Chuyện kể rằng có vợ chồng một ông trung uý nào đó, cũng dùng xe đò trên con đường này,


trước khi đến Rừng Lá thì qua một ấp kia, chiếc xe đò bị chặn lại và mấy ông Dân Vệ nhà ta hạch hỏi ông trung úy cái gì đó, lúc đó vị trung úy đang mặc thường phục và hình như mấy ông tướng Dân Vệ này còn lên tiếng mắng mỏ gì trung úy nhà ta nữa nên bà vợ đã to tiếng nạt lại mấy chú Dân Vệ “Các chú có biết là các chú đang nói chuyện với một trung úy không, sao các chú hỗn thế!”. Việc này khiến trưởng toán Dân Vệ phải ra xin lỗi vợ chồng trung úy này, rồi cho xe chạy. Bà vợ ông trung úy có vẻ bằng lòng lắm. nhưng khi xe chạy tới Rừng Lá thì bị mấy tên du kích chặn lại, mọi người phải xuống xe để chúng dẫn vào phía sâu trong rừng nghe tuyên truyền rồi mới xét lý lịch, bắt giữ những quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ cho ra xe đi tiếp những thường dân mà thôi. Đến lúc này thì một hành khách đi trên xe chỉ ngay ông ông trung úy và nói lớn lên rằng ông này là trung úy đó. Dĩ nhiên là ông chồng trung úy bị dẫn đi nhưng bà vợ lại không bị gì! Không biết việc này có thật hay không. Nhưng để cho chắc ăn, chẳng bao giờ tôi tỏ ra mình là quan cách hết, mà tỏ ra quan cách với mấy anh lính Dân Vệ thì hãnh diện cái nỗi gì! Hơn nữa tôi nghĩ là mình cũng chỉ mới là chuẩn úy thôi, nghĩa là chỉ sắp là sĩ quan chứ đã là sĩ quan đâu mà hòng nạt nộ ai. Thuần Phong Thuần Phong Chương III 1-Đảo chính ở Sài Gòn, anh em Tổng Thống Diệm bị giết ………………….. .. 2-Vào Rạch Bắp với Th/Uý Chính, gặp Đ/Úy Thiết Giáp Hà Mai Việt ………. 3-Vào mật khu Bời Lời với Binh Nhì Quân Dịch Lý Văn Lời ………. 4-Cái Tết đầu tiên ngoài mặt trận, gặp Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Thành …………………


Chương 3 Thời Kỳ sau Đảo Chánh 1/11/1963 1- Đảo Chánh ở Sài Gòn, Anh Em Tổng Thống Diệm bị giết. Chẳng nhớ là tôi đã ở cái đồi “Ba Trăm Chín Chục” này bao nhiêu tháng nữa, tôi chỉ biết là tôi đã dù về Sài Gòn tới 3 hay 4 lần gì đó. Thường thường thì tôi dù về Sài Gòn để vào Đại Học Xá Minh Mạng chơi với anh em, nhưng lần cuối thì vì… trong đêm mồng Một tháng 11 năm 1963, trong khi tôi đang nằm suy nghĩ vớ vẩn trong căn hầm của tôi thì ông hạ sĩ Truyền Tin vào nói với tôi là “Saigon có đảo chánh rồi thiếu uý ơi”. Thế là tôi nhỏm dậy chạy sang Phòng Truyền Tin để nghe tin tức từ đài Sài Gòn qua cái máy truyền tin của khẩu đội. Đến khi đài này loan tin là anh em Ông Diệm đã bị giết thì tôi quyết định… lại dù về Sài Gòn một lần nữa. Phải nói thật rằng lúc đó nghe tin anh em Ông Diệm bị giết thì chúng tôi ai nấy đều hài lòng, không nghĩ rằng người hài lòng nhất phải chính là tên Cáo già Hồ Chí Minh. Tôi hài lòng vì vốn đã không ưa được cách độc tài gia đình trị và cái ý muốn của anh em ông ta, họ muốn toàn dân VN phải là con chiên ngoan ngoãn của Vatican, nhất là tôi không thể chịu được những lời tuyên bố láo xược của bà Cố Vấn Trần Lệ Xuân, vợ ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, chẳng hạn như là bà ta nói rằng người ta đã nướng nhà sư Thích Quảng Đức khi vị Sư này tự thiêu ở góc đường Phan Đình Phùng/Lê Văn Duyệt và còn nhiều lời tuyên bố láo xược khác nữa. Trong khi đó Hạ Sĩ Còn của tôi thì rất hài lòng vì ông ta là người theo đạo Hòa Hảo và ông ta vẫn oán hận ngấm ngầm hai anh em ông Diệm về việc đã giết Tướng Ba Cụt Lê quang Vinh của họ. Cuộc đảo chánh lôi họ ra khỏi cái ghế quyền lực tại miền Nam VN thì rất nên, nhưng giết chết anh em họ thì hơi kém chính trị, nhất là sau đó lại dùng toàn những người nô lệ chỉ biết cung phụng quan thầy Mỹ và quỵ luỵ trước thế lực của đồng đô la như mấy tướng, tá của nền Đệ Nhị


Cộng Hòa Việt Nam (tôi không muốn bàn về vấn đề chính trị ở đây, nên xin cho qua cái vụ này). Thế là ngay hôm sau, tôi đã xuống đồi để leo lên xe đò về Sài Gòn. Về đến Sài Gòn rồi, tôi vào ngay Đại Học Xá Minh Mạng để tán dóc với mấy anh bạn ở đó về cuộc đảo chính này, rồi sau đó đi lang thang trên đường Bonard để nghe ngóng xem có tin tức gì hay ho đặc biệt nữa hay không. Trong khi đang lang thang như thế thì tôi gặp Trung Uý Mầu, một trung úy của Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi. Ông này trợn mắt lên nhìn tôi và bảo tôi rằng "Tiểu đoàn sắp cho đón chúng mày về mà mày lại ở đây à! Có mau mau trở lại khẩu đội không, nếu không thì mày sẽ bị kẹt đấy!". Thế là tôi vội vàng ra xe đò để trở lại Đồi 390 ngay. Cũng may là hôm đó tôi về trại được chừng nửa giờ thì có một chiếc H 26 từ Biên Hòa bay lên để mang chúng tôi về lại tiểu đoàn. Trước đó ông trung sĩ của tôi đã cho anh em thu xếp mọi thứ gọn ghẽ và chỉ chờ có phi cơ tới là lên để về Tiểu Đoàn, dù không có tôi. Ông chỉ lo cho sự vắng mặt bất hợp pháp của tôi thôi, nên khi thấy tôi về kịp, ông ấy mừng qúa. Ông ấy hỏi tôi là “Tại sao thiếu úy lại biết mà về kịp vậy?”. Tôi cho ông ấy biết là ở Sài Gòn tôi đã gặp Trung Úy Mầu của tiểu đoàn và ông ấy bảo tôi phải về ngay vì hôm nay sẽ có phi cơ lên đón chúng ta về, do đó tôi mới biết mà về đấy chứ. Nhưng phi cơ tới mà chúng tôi cũng chưa về ngay được vì, cái ông phi công của chiếc trực thăng này không hiểu đã đáp xuống thế nào mà chiếc trực thăng H-26 đó đã bị gẫy một càng và đổ nghiêng xuống một bên. Thế là chúng tôi lại phải chờ hơn một giờ sau mới có một chiếc H26 khác lên đưa chúng tôi về lại tiểu đoàn ở Tam Hiệp, Biên Hòa. Về Tiểu Đoàn rồi, chúng tôi sẽ nhập lại với Trung Đội 2B của Thiếu Úy Hoàng Chính và nằm chờ… trung đội cho người về đón. Trong khi nằm chờ như vậy tôi được biết là Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Đại Tá Nguyễn văn Thiệu có tham dự cuộc Chính Biến vừa qua và Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh của tôi cũng có kéo súng về Saigon. Như vậy thì tiểu đoàn tôi sắp có sự thay đổi nhân sự lớn đến nơi rồi. Nhưng những chuyện đó chẳng can dự


gì tới tôi cả. Chuyện đó chưa sẩy ra thì Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đã được thăng thiếu tướng và chuyển lên làm tham mưu trưởng trong Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tại Sài Gòn. Người về thay làm tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh là Đại Tá Đặng Thanh Liêm (sau đó mới tới các Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, Trần Thanh Phong…. vào những thời điểm nào thì tôi không biết vì những lúc đó tôi đang bận hành quân cùng với các tiểu đoàn Bộ Binh. - Mới đây anh Lư Diệp, bạn cùng khóa 14 Thủ Đức cho biết thêm là Ông Liêm dời sư đoàn vào khoảng tháng 4-1964, tiếp theo là Chuẩn Tướng Cao Hảo Hớn, ông này lại dời SĐ khoảng tháng 8 cũng năm đó 1964 để Ch.T. Trần Thanh Phong về SĐ từ đó cho tới cuối 1965). Tối hôm bàn giao đó, tôi và các Sĩ Quan trong Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh đều đã được hân hạnh tham dự bữa tiệc tiễn đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu về Saigon và đón Đại Tá Đặng Thanh Liêm, Tư Lệnh mới của Sư Đoàn. 2- Vào Rạch Bắp trên Bến Cát với Thiếu Uý Chính và gặp Đại Uý Thiết Giáp Hà Mai Việt Sau đó vài ngày thì Thiếu Uý Chính cho xe về lãnh thêm pin cho Truyền Tin, lãnh thêm lương thực cho trung đội và đón chúng tôi đi. Khi đoàn xe chúng tôi tới Bình Dương, Hạ Sĩ Trưởng Xa hỏi tôi là “có cho đi tiếp hay không?” tôi hỏi lại là “Có đi được không?” thì ông ta nói là “đi được”. Tôi đúng là điếc không sợ súng, không biết rằng từ Bình Dương lên Bến Cát tuy chỉ chừng 20 Km thôi, nhưng xe rất dễ cán phải mìn, bẫy của tụi Việt Công, nếu không cho mở đường và dò mìn trước. Thế là vì tôi nói “đi được” nên họ đi tiếp. Khi chúng tôi lên tới Bến Cát rồi, ông Hạ Sĩ Trưởng Xa gọi vào cho Thiếu Uý Chính, nói là chúng tôi đang ở Bến Cát thì Thiếu Uý Chính gắt ầm lên trong máy “Chưa có mở đường mà sao ông dám cho đi ẩu vậy?”. Hạ Sĩ Trưởng Xa bèn trả lời là “Thiếu Úy Khôi bảo... cứ đi, nên tôi mới đi đấy chứ”. Tôi nghe thấy Thiếu Úy Chính nói tiếp “Thiếu úy ấy không biết thì ông phải biết chứ! Nếu lỡ có chuyện gì thì Ông chứ không phải thiếu úy ấy lãnh đủ đâu! Thôi đã lên tới đó rồi thì chờ ở đó vậy, khi nào mở đường xong mới được đi tiếp!”


Thiếu Uý Chính không nói gì tới tôi vì rõ ràng là tôi có biết gì đâu. Nhưng dầu sao thì tôi cũng cảm thấy hơi nhột. Lúc đó tôi mới hỏi lại mấy người và mới biét là mình đã…làm sai, nhưng cũng may là không có chuyện gì xẩy ra cả! Có thể chiếc xe của chúng tôi đã lẻ loi xuất hiện một cách bất ngờ nên tụi du kích nằm bên đường đã không biết phải phản ứng như thế nào cho phải và đã để cho xe chúng tôi qua. Cái lệnh “cho tiếp tục đi” sai lầm của tôi đã suýt nữa gây nguy hiểm cho bao nhiêu người. Lúc đó tôi mới nhớ lại một bài học ở Thủ Đức: Trước khi ra một lệnh gì thi phải nghiên cứu kỹ lưỡng truớc đã, sau đó, phải cho kiểm soát lại rồi mới đưa ra. Với cái lệnh mới, bắt chúng tôi phải chờ, thì chúng tôi phải chờ thôi. Thế là chúng tôi phải chờ ở Bến Cát cho đến khi quãng đường dài 7 km ngắn ngủi từ Bến Cát tới Rạch Bắp được… cho mở ra bởi một Chi Đội M 113 (loại Thiết Vận Xa này xuống nước thì thành "tầu há mồm”), chúng tôi mới được đi tiếp. Tới nơi rồi, dĩ nhiên là tôi phải trình diện Thiếu Úy Chính, lúc này thiếu úy đang ở trên một chiếc xe Dodge, ngồi cạnh chiếc máy truyền tin và đang báo cáo việc chúng tôi tới nơi an toàn với tiểu đoàn. Sau đó, thiếu úy cho người mang đồ cá nhân của tôi vào căn lều của thiếu úy. Trung Đội đang ở giữa rừng nên mọi người đều phải ở trong lều. Trong lúc tôi và Thiếu Uý Chính còn đang hỏi thăm lẫn nhau thì chuẩn úy Tiền Sát của Chi Đội Thiết Giáp M 113 (mà tôi quên mất tên rồi) đến thăm tôi, trong khi tán dóc với tôi, anh để tay lên chiếc cọc để căng giây kẽm gai làm hàng rào chung quanh Trung Đội Pháo của chúng tôi, thì tay anh bị một con bò cạp khá lớn cắn phải. Thế là anh phải đi tìm ông Trợ Y của Chi Đoàn M-113 để xin thuốc. Anh ta vừa đi thì chi đoàn trưởng Chi Đoàn M-113 là Đại Uý Hà Mai Việt tới gặp tôi, nói rằng "Hôm nọ thằng Hải (Phạm Ngọc Hải, em bà Phạm Thị Tự, bạn cùng học PCB với tôi trước kia, về sau đã xong văn bằng Cử Nhân Khoa Học Tự Nhiên và đã phải đi Thủ Đức Khóa 13) nó


bảo tao là nó có một thằng em sắp lên đây và nhờ tao chăm sóc dùm, hóa ra là mày". Tôi trả lời hắn là “Ừ, bây giờ thì tao đã lên, thế mày định chăm sóc tao thế nào đây?”. Tôi không nhớ là hắn đã trả lời tôi thế nào nữa (Hà Mai Việt cùng học Đệ Tam, trường Nguyễn Trãi niên khóa 1953-54 với tôi, nhưng khác lớp và hắn đã (được) động viên vào Khóa 5 Thủ Đức cuối niên khóa đó. Cấp bậc cuối cùng của hắn là đại tá. Hắn đã may mắn nhanh chân, dời khỏi Việt Nam sang Mỹ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, hiện ở Houston, Texas, nên đã không bị đi tù cải tạo). Gặp nhau sau hơn 9 năm xa cách, chúng tôi có bao nhiêu là chuyện để nói, nhưng rồi trời sắp tối, mọi người ai nấy đều có nhiệm vụ phải làm nên Đại Uý Việt phải về với Chi Đoàn của mình, còn tôi thì lúc đó mới có thời giờ đi thăm mọi nơi trong cái vị trí đóng quân của Trung Đội 2B của mình. Lần này là lần đầu tiên tôi lên Bến Cát, nhưng chỉ ở Rạch Bắp này có chừng 1 tháng thôi. Sau đó Trung Đội 2B, dĩ nhiên là trong đó có cả tôi, trở lại tiểu đoàn để chờ tham dự những cuộc hành quân khác. 3- Vào Mật Khu Bời Lời với Binh Nhì Quân Dịch Lý Văn Lời. Về tiểu đoàn được vài ngày thì trung đội của chúng tôi được lệnh tham dự một cuộc hành quân với một chiến đoàn để đi tảo thanh mật khu Bời Lời. Mật Khu này nằm trong quận Trung Lập ở giữa Củ Chi và Trảng Bàng, nó nằm trên Quốc Lộ 1 từ Sài Gòn đi Tây Ninh. Lần này tôi lại đi tiền sát cho một tiểu đoàn của Trung Đoàn 7 Bộ Binh và người đi doublure với tôi không phải là một sĩ quan mà là một ông trung sĩ. Trung đội Pháo Binh chỉ có 2 sĩ quan, Thiếu Uý Chính và tôi. Thiếu Úy Chính là trung đội trưởng thì phải ở lại với súng ở Quận Trung Lập rồi, nên một trung sĩ, cũng lại là người Nùng, phải đưa tôi đi. Vì cuộc hành quân dự trù sẽ kéo dài 5, 6 ngày nên chúng tôi có 3 người lính đi theo, trong đó có tên “Quân Dịch Lý Văn Lời”. Tên Lời này rất khó bảo, sau này tôi mới biết rằng hắn đã trốn quân dịch nhiều lần, kỳ này vì đã quá mệt nên hắn không trốn nữa nhưng đi lính thì đi chứ chẳng coi các cấp trên, nhất là không coi Thiếu Uý Chính ra cái cóc gì cả! Thiếu úy này bảo hắn làm cái này, cái nọ thì thường là hắn không làm hay làm


một cách bôi bác. Thiếu Uý Chính ghét hắn lắm và thường cắt hắn vào các toán tiền sát. Lần này hắn được cử đi theo tôi Sự hiện diện của một trung sĩ trong toán “đề lô” khiến cho vị đại úy tiểu đoàn trưởng Bộ Binh biết ngay tôi là một tên mới ra lò, nên sau khi xuất phát được chừng nửa giờ thi đại uý quay lại hỏi tôi: - Này thiếu úy Pháo Binh, chúng ta đang ở đâu vậy? -Thì tôi đang đứng với ông chứ ở đâu nữa! Trong đầu tôi thì nghĩ thế nhưng đâu dám nói ra và tôi phải quay lại đưa mắt cầu cứu ông trung sĩ của tôi. Ông này chỉ vội cho tôi một điểm trên phóng đồ hành quân, tôi phải tìm tọa độ cái điểm ấy rồi trả lời ông đại úy tiểu đoàn trưởng là chúng ta đang ở….. -Đúng rồi, chúng ta đang ở chỗ đó đó! Nói thế xong, ông ta lại quay lại điều động mấy đứa con (mấy đại đội) của ông. Đến lúc này ông trung sĩ của tôi mới bảo tôi rằng: “Thiếu úy phải theo dõi bản đồ chứ! Đây này, lúc nãy mình xuất phát ở bìa rừng từ cái ngã ba này, chúng ta đi theo cái phóng đồ về hướng này… và chúng ta đã qua những điểm mốc như… Giờ đây chúng ta tiếp tục theo hướng này, ông ta lại chỉ cái hướng đã được vẽ trên phóng đồ và chúng ta sẽ gặp những ngã ba ở bên phải này, rồi gặp cây Bàng Lăng bên trái đó…v.v. và vân vân. Từ bây giờ thì cứ khoảng 5 hay 10 phút hoặc khi gặp những điểm mốc nào đó thì Thiếu Uý phải dò lại cái bản đồ của mình một lần và nhất là thiếu úy cần phải đi sát ông thiếu úy Ban 3 của tiểu đoàn để theo kịp bước tiến của Bộ Binh, có như vậy khi đụng trận mình mới phản ứng kịp chứ!". Thế là từ đó tôi mới biết được cái công việc đầu tiên của một anh tiền sát là theo dõi bước tiến của quân ta và phối kiểm với bản đồ để có thể


nhanh chóng xác định tọa độ, còn đến khi cần phải xin tác xạ thì không thành vấn đề đối với tôi. Dĩ nhiên là từ đó tôi phải luôn luôn theo dõi bản đồ để biết được vị trí của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của chúng tôi cũng như của các Toán Tiền Tiêu tức là của các tiểu đội đi mở đường. Hành quân ở Bời Lời này thì lúc vào sẽ không gặp bất cứ một kháng cự nhỏ nào, nhưng khi rút ra thì thường là chiến đoàn phải để lại 2, 3 chục con… nghĩa là phải có khoảng 2, 3 chục mạng vừa bị chết vừa bị thương. Lần này cũng vậy chúng tôi không gặp khó khăn gì khi tiến vào và trong khi còn nằm lại trong đó, chúng tôi thỉnh thoảng gặp mấy tên du kích bắn A.K. lẻ tẻ chứ không có đụng lớn. Vào đây rồi thì “quân ta tha hồ mà bắt gà để ăn, vì đây rõ ràng là vùng của Việt Cộng mà! Gì chứ “bắt gà” thì Lý Văn Lời nhà tôi rành lắm, hắn nói “Tụi Bộ Binh ngu thấy mẹ cứ đuổi cho gà chạy tùm lum lên thì bắt làm sao được? Muốn có gà ăn thì phải chờ sẵn ở mộtt cái bụi nào đó, gà bị đuổi sẽ tìm mấy cái bụi để chui vào trốn, lúc đó mình chỉ quơ nhẹ một cái là được thôi!". Mấy ngày nằm trong Bời Lời này, toán Đề Lô chúng tôi được ăn gà thoải mái do công của tên Lời này. Hắn mang máy truyền tin, nhưng mỗi khi dừng quân để nghỉ trưa hay sửa soạn chỗ ngủ để qua đêm thì hắn giao ngay máy cho tôi để tôi liên lạc với súng còn hắn thì đi... bắt gà và làm gà. Ngay buổi trưa hôm đầu trong Bời Lời này, khi tôi và ông trung sĩ của tôi vừa gửi xong mấy báo cáo, thì chúng tôi đã thấy tên Lời sách một con gà đã làm lông sạch sẽ lên đưa cho tên làm bếp, hắn còn nói với tôi là tên X nhát quá, mới thấy tụi nó bắn tắc cù vài phát đã không dám ở dưới suối để cầm súng bảo vệ tôi để tôi làm gà nữa thiếu úy ạ! Tôi có tò mò hỏi: “Thế sau đó thì sao?”. Hắn nói “Thì kệ nó chạy đi núp, tôi vẫn tiếp tục làm gà và rửa gà chứ sợ gì chúng nó, tôi còn đi kiếm được một ít cải tầu bay để nấu canh nữa đây này. Chúng chỉ bắn hú họa


thôi chứ có dám đàng hoàng nhắm bắn mình đâu mà sợ?” (Cải Tầu Bay là một thứ rau dại mọc trong rừng, khi nấu canh thì nó có mùi vị như rau cải cúc, trong Nam gọi là Rau Tần Ô). Đã là lính tác chiến thì phải biết đến thứ rau này vì nó mọc đầy dẫy trong rừng cứ việc lấy mà nấu ăn. Về sau hình như có lệnh cấm, không cho lính ăn rau này bởi vì ăn nó sẽ làm cho máu bị chẩy hoài khó đông lại khi bị thương). Như tôi đã nói ở trên, khi còn ở trong cái Mật Khu Bời Lời này thì vẫn không có chuyện gì xẩy ra hết, nhưng đến hôm chiến đoàn bắt đầu rút thì chiến đoàn chúng tôi mới bắt đầu bị tấn công. Khi rút ra chúng tôi phải qua một trảng trống, cái bãi trống này dài khoảng 100 mét, mà cứ mỗi toán lính chạy qua thì lại có một hay vài con bị lật vì bị bắn sẻ. Đây là lần đầu tiên tôi đụng trận, đụng với Chết Chóc nên tôi còn đang lính quýnh chưa biết làm sao thì toán đề lô của tôi đã… mạnh ai nấy chạy ào qua và bỏ tôi lại. Thấy không còn ai quanh mình, tôi càng sợ thêm thì tên Lời đã chạy trở lại chụp tay tôi kéo tôi đi, vừa chạy vừa lầu bầu: "Ông phải chạy theo chúng tôi chứ!” nhờ thế tôi mới theo kịp được toán của tôi an toàn. Quý vị nên biết rằng mỗi lần chạy qua cái trảng trống đó là một lần nguy hiểm chết người. Khi tên Lời kéo tôi chạy như thế thì một lính bộ binh trong đám cùng chạy ra lúc đó đã bị bắn hạ! Thế mà tên Lý Văn Lời này dám chạy trở lại để kéo tôi đi đấy! Hành động này nói là do tình huynh đệ chi binh thì không đúng, vì chúng tôi mới biết nhau lần này là lần thứ nhất, nghĩa là chúng tôi chẳng có tình gì với nhau cả. Sau này nghĩ lại tôi càng không hiểu là cái hành động này của tên Lý Văn Lời đã được thúc đẩy bởi cái gì? Bởi tinh thần trách nhiệm hay tinh thần gì đại loại như vậy của hắn chăng? Cái đó tôi thấy là lại càng vô lý vì nói về trách nhiệm thì chính tôi phải có trách nhiệm lo cho hắn chứ hắn thì có trách nhiệm gì đối với tôi đâu! Sau này chúng tôi trở nên rất tương đắc với nhau vì hai chúng tôi đều là kẻ bị bắt lính chứ chẳng có ai muốn đi lính cả.


Tôi và tên Lời này còn đi hành quân với nhau khá nhiều lần nữa. Về sau hắn rất nghe lời tôi đến nỗi mỗi lần Thiếu Úy Chính muốn sai tên Lời làm việc gì thì thiếu úy đều phải nhờ tôi nói với hắn. Thiếu Úy Chính thường phàn nàn là tôi đã làm hư tên Lý Văn Lời này! Thật là oan cho tôi quá vì tôi có làm gì để ra ơn ra huệ cho hắn được đâu? Ở nhà với súng thì tôi chẳng có nhiệm vụ gì và như vậy tôi cũng chẳng có quyền hành gì thì làm sao ra ơn cho ai được, còn khi đã đi tiền sát thì tôi có thể làm gì để ra ơn cho mấy tên lính đi theo đây? Ra đến trung đội ở ngoài quận Trung Lập rồi, tôi thấy mấy ông trung sĩ vừa thu xếp hành trang để về vừa than phiền là: “Đây là chợ Trung Cộng chứ Trung Lập cái con mẹ nó. Tụi chúng cắt cổ mình chứ buôn bán cái chó gì!” Ở đây, trong khi chờ đợi mọi người để cùng ra về, tôi được ai đó cho biết là Trung Uý Thành, em của anh bạn Vinh, bạn đá bóng của tôi hồi nhỏ ở Hải Phòng, họ là con nhà hàng vàng Phúc Thành ở đường Võ Di Nguy Phú Nhuận gần ngõ Đội Có, đã đóng tại đây và cũng đã chết tại cái Quận Trung Lập này! Ngày xưa, hồi 1957 thì phải, tên Vinh đã nhờ tôi ký một tờ giấy chứng nhận rằng tôi đã dậy em Thành của hắn hết chương trình lớp Đệ Tứ rồi ra nhà Làng Phú Nhuận, cùng cái Chứng Chỉ Tú Tài Toán của tôi cho họ chứng thực, để em hắn kèm vào đơn xin đi Thủ Đức Khóa 8, chẳng hiểu cái tờ chứng thực đó có hiệu lực thế nào nhưng tên Thành này đã vào được Thủ Đức Khóa 8. Hồi đó vào Thủ Đức rất dễ cũng như hồi mấy năm 1947- 48 những ai ở ngoài Bắc mà muốn thi vào Trường Võ Bị Đà Lạt thì cũng rất dễ, chỉ cần nhờ một ai đó, giỏi Pháp Văn, đi thi dùm là xong. Trong thời gian mọi người mới hồi cư này, dân chúng trong vùng Tề chưa có các đi đông, đi tây (Carte d’idendité tức là Thẻ Căn Cước) gì cả, mà mỗi người trên 15 tuổi chỉ có một tờ giấy chứng nhận suông, không có cả hình nữa. Cứ cầm tờ giấy Chứng Nhận của một thí sinh nào đó là được vào thi thôi, ông Trung Tá T có nói với tôi là ông đã thi dùm nhiều lần như vậy và sau mỗi lần thi dùm như vậy, ông đã được đền ơn


bằng một bát Phở. Trong trận vào Bời Lời đó, chiến đoàn chúng tôi bị thiệt khoảng 25 người vừa bị chết vừa bị thương mà chẳng hạ được hay bắt được một tên Việt Cộng nào cả, ngoài việc tìm thấy được căn hầm nào là cho ném vài qủa lựu đản xuống những căn hầm đó để phá thôi! Tôi còn phải theo Bộ Binh vào Mật Khu này hai, ba lần nữa, mà lần nào những Chiến Đoàn của Sư Đoàn 5 của tôi cũng phải ôm đầu máu ra về! Nhưng rồi tôi nghe nói là cái Mật Khu Bời Lời này cuối cùng cũng bị phá. Chỉ không biết là dưới thời của ai làm Tu Lệnh Sư Đoàn 5 thôi. Vị Tướng Tư Lệnh này (Chắc chắn không phải là Thiếu Tướng Trần thanh Phong rồi) đã dùng một chiến thuật mới. Ông vẫn cho một Chiến Đoàn vào đó, ở vài ngày rồi mới ra như những lần trước, chỉ khác là lần này khi đại bộ phận của Chiến Đoàn rút ra thì một Trung Đội Thám Báo, với quần áo như quần áo của tụi du kích Việt Công ở lại. Họ nằm rải rác trong Mật Khu chờ. Đến đêm khi tụi Việt Cộng tưởng là quân ta đã rút hết, chúng mới mò ra để định ăn mừng thì lần này chúng bị hốt trọn. Trung Đội Thám Báo đã lập được kỳ công, họ đã theo dõi kỹ nên đã phá được phần lớn những địa đạo của tụi du kích. Sau đó thì ra vào Bời Lời không còn khó khăn, nguy hiểm như trước nữa. Sau trận hành quân đó, Trung Đội 2B của chúng tôi lại trở về nằm tại Tiểu Đoàn, chờ lệnh. Trung Độì 2B của tôi tới Quận Nhà Bè và tôi tới nằm tại Kho Đạn Cát Lái. Lần này ở Tiểu Đoàn được vài ngày thì Trung Đội của tôi được lệnh tới Quận Nhà Bè để yểm trợ cho quận này. Thế là chúng tôi lại lên đường. Tới nơi, chúng tôi được chỉ định cho đóng tại một vị trí gần Quận, ở bên trái và sát ngay con đường từ Saigon xuống. Lần này tôi chẳng phải làm gì cả vì mọi việc đã có Thiếu Uý Chính lo hết. Tới đây tôi muốn nói đến một chuyện hơi tức cười nho nhỏ. Đó là việc phải lo thiết lập một đường giây điện thoại giữa Quận và Trung Đội Pháo chúng tôi, đường giây điện thoại này phải kéo từ quận ra đường cái rồi mới đưa vào chỗ chúng tôi. Vì còn phải sắp đặt mọi thứ như cho 2


khẩu đại bác 105 ly vào vị trí, gióng hướng súng, thiết lập xạ bản…, nên đến gần 1 giờ chiều chúng tôi mới cho chiếc xe Dodge 4 của Trung Đội đưa Hạ Sĩ Truyền Tin với một toán lính đi lập đường giây. Khoảng 1 giờ sau chúng tôi thấy ông Hạ Sĩ này hớt hơ hớt hải về tìm Thiếu Úy Chính để báo cáo là “chiếc xe Dodge đã đụng gẫy một cột đèn ở ngoài đường rồi”. Chúng tôi vội hỏi ngay rằng: “Thế, giây điện có bị đứt không? Và có ai bị gì không? Mà đường đông xe lắm hay sao?” thì được ông Hạ Sĩ này nói rằng: “Thưa các Thiếu Uý, đường thì rất vắng nhưng tên tài xế này lái xe dở qúa nên mới có chuyện, cũng may mà hắn đã de xe chầm chậm nên đã dừng lại kịp thời, cái đụng không mạnh lắm nên chỉ làm chiếc cột đèn bằng xi măng bị cong đi một chút thôi”. Chúng tôi chỉ biết lắc đầu và Thiếu Úy Chính phải đánh điện sang cho Quận để báo cáo việc rủi ro này. Lúc đó tôi không hiểu là tại sao trên cái bằng lái của tên tài xế này có tới 3, 4 dấu hẳn hoi mà sao hắn lại dở đến thế. (Về sau tôi mới biết là bằng lái xe nhà binh thi thường là được cấp phát vô tội vạ, chính tôi sau này, khi mới tái ngũ, cũng được một anh Trung Úy bạn, anh đã cùng trình diện tái ngũ ở Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đã lấy cho tôi một cái bằng lái xe Jeep mà tôi không cần phải thi mà ngay cả lái thử cũng không nốt, nghĩa là bằng thì cứ cấp mà không cần biết người được cấp là ai, mặt ngang mũi dọc như thế nào và…. cũng chẳng cần biết là đương sự có lái được hay không nữa!) Đến quận Nhà Bè này rồi là tôi được cử đi nằm tại Kho Đạn Cát Lái, lần này thì sẽ nằm ở đây lâu nhưng không phải xê dịch đi đâu cả mà chỉ nằm trong một căn phòng của kho đạn để khi cần sẽ xin tác xạ vào những hỏa tập đã định sẵn, rồi có thể cũng sẽ phải Điều Chỉnh đôi chút nếu cần, thành ra lần này tôi chỉ có một binh nhì theo và dĩ nhiên lại là Lý Văn Lời. Căn phòng chúng tôi được cấp là một căn phòng ở từng dưới trong một cái bâtiment xây cất từ thời Pháp, rất đẹp và rất tiện nghi. Ở đây vài ngày tôi thấy quá nhàn, không có việc gì phải làm cả nhưng cho dù là từ Cát Lái này về Sài Gòn rất gần, tôi cũng không thể bỏ về như khi ở trên đồi 390 được, vì nếu tôi đi mà không có chuyện gì thì


không sao, nhưng nếu có chuyện gì thì chức quyền của Kho Đạn sẽ phải gặp ai đây ngoài tôi, thành ra ở đây tôi chỉ có thể đi loanh quanh trong cái phòng của tôi, hoặc ra đường và đi tới bến phà Cát Lái rồi về là cùng chứ chẳng đi đâu xa hơn được. Khi mới về Nhà Bè thì còn có anh bạn Đỗ Quý Bái đến thăm tôi, vì tới đó rồi tôi có xin phép Thiếu Uý Chính một buổi để về Sài Gòn, rồi vào Đại Học Xá Minh Mạng nói chuyện với mấy anh em ở đó nên họ mới biết tôi ở đâu mà đến thăm, còn lần này đến Kho Đạn Cát Lái thì mấy anh bạn của tôi chẳng ai biết gì hết cho nên không có ai đến thăm thì cũng phải thôi. 4- Cái Tết đầu tiên ngoài mặt trận, gặp Y Sĩ Trung Uý Nguyễn Ngọc Thành, em của Tướng Nguyễn Đức Thắng. Nằm tại Kho Đạn Cát Lái được hơn một tháng tới gần Tết Giáp Thìn (ngày 1 tháng giêng Giáp Thìn nhằm ngày 13-2-1964) thì phải, Trung Đội 2 B của chúng tôi được gọi trở về Tiểu Đoàn, sau đó Trung Đội được phái đi đâu thì tôi không biết, riêng tôi thì phải nằm lại ở Tiểu Đoàn chờ lệnh. Tới gần Tết chúng tôi được bắt thăm để xem ai sẽ được về nhà ăn Tết trước, về nhà trước thì mồng 2 Tết phải lên, còn về nhà sau, nghĩa là về nhà từ mồng 3 trở đi thì được ở nhà lâu hơn. Tôi được đi trước nên 29 Tết tôi đã có mặt tại nhà rồi. Cho tới lúc này, chưa Tết nào là tôi không có mặt tại nhà cả. Nhưng lần này thì ngay chiều ngày 29 đó, xe từ tiểu đoàn về kêu tôi lên gấp, giây phép bị hủy bỏ và tôi phải lên tiểu đoàn ngay để đi đề lô. Tới Tam Hiệp rồi, tôi được đưa ngay sang một chi đoàn Thiết Giáp M-113, chi đoàn này nhận tôi xong là lên đường về Sài Gòn ngay, rồi vào nằm chờ trong Quân Khu Thủ Đô để khoảng 5 giờ sáng hôm 30 Tết, Chi Đòan chúng tôi xuất phát đi Đức Hòa, Đức Huệ. Tới nơi, tôi vừa nhẩy ra khỏi chiếc M-113 thì gặp ngay Y Sĩ Trung Uý Nguyễn Ngọc Thành cũng ở đâu vừa tới. Bác Sĩ Thành này có lẽ đã học trước tôi 2 hoặc 3 năm nhưng cùng là sinh viên của Đại Học Xá Minh Mạng. Thấy anh, tôi hỏi đùa anh rằng: "Sao ông không đi với ông Thắng mà lại đi với tụi M-113 này vậy?" – "Ông ấy điên thấy mẹ đi, ai mà chịu được! Cậu biết không, ngày xưa tao


về với ông ấy và vào một sáng thứ Hai khi mọi người đã vào trong phòng sau khi chào cờ xong, ông ấy chửi tao: Anh em thì anh em ở nhà, chứ ở đây phải khác chứ, sao trung úy không chào tôi?” Tao tức quá đã trả lời rằng: “Thưa đại tá, tôi đã chào đại tá rồi, đại tá chưa chào lại tôi, tôi không nói thì chớ, sao đại tá còn mắng tôi?”. – "Thế à! Thế thì xin lỗi trung úy nhé", và ông ấy chào lại tao đấy. Lại nữa cứ nửa đêm khi nào ông ấy muốn có một Y Sĩ đi theo là ông ấy kêu tao dậy đi theo. Tao đã nói là sao đại tá không kêu tên Y Sĩ trực theo lại cứ kêu tôi. Cậu biết ông ấy trả lời sao không? Ông ấy đã trả lời là: "Bác sĩ là em thì tôi mới nhờ chứ, người khác thì tôi không muốn đâu!". – "Đấy mày xem, ông ấy như vậy thì ở với ông ấy thế đếch nào được!" Lúc này, chẳng hiểu ông Thắng đã lên Tướng hay chưa nữa! Tôi không biết hình dáng ông Thắng như thế nào chứ Bác Sĩ Thành thì rất là xinh xắn đẹp trai. Khi còn ở trong Đại Học Xá, anh Thành này rất tử tế với tôi, lần nào tôi thi PCB xong, anh cũng tới hỏi thăm tôi một cách rất ân cần, chỉ tiếc là lần nào tôi cũng làm anh thất vọng vì tôi chỉ thi rớt! Thế là vào ngày mồng một Tết năm Giáp Thìn đó, chúng tôi cùng ăn Tết ngoài mặt trận ở Đức Hòa hay Đức Huệ, tôi cũng không nhớ nữa. Trong cái trận đầu năm đó, chúng tôi chẳng thu được một kết qủa nào mà một anh lính lại bị chết vì vướng phải mìn treo. Trận đó chỉ mất có 3 ngày. Sau đó chúng tôi, nghĩa là Toán Tiền Sát Pháo Binh của tôi cùng chi đoàn M-113 trở về Biên Hòa và Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh cho xe ra đón toán Pháo Binh chúng tôi về Tam Hiệp. THUẦN PHONG Chương IV Tham gia các chiến dịch khác 1- Vào chiến khu Dương Minh Châu.. .… 2- Tr. đội 2B kéo súng vào làng để yểm trợ cho C.I.D.G. ………..


3- Tr.đ. kéo súng lên phía Bắc núi Bà Đen ... 4- Binh Nhì Quân Dịch ... Liễu bị chết vì mìn … Chương 4 Tham Gia Các Chiến Dịch Khác 1- Vào Chiến Khu Dương Minh Châu. (Lên Tây Ninh và làm Tiền Sát Pháo Binh cho Tiểu Đoàn 2/9 của Đại Úy Lê Nguyên Vỹ, vào Chiến Khu Dương Minh Châu, rồi vào Katum và làm Sĩ Quan Tiền Sát dài hạn cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân của Đại Úy Nguyễn văn Đương) Về tới Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh là chúng tôi lại trở lại với Trung Đội 2 B của Thiếu Uý Chính để mấy hôm sau, cùng đi Tây Ninh, tới nơi chúng tôi được cho ở trong một phần của cái lầu 2 của một cái bâtiment nằm trong một góc sân của tòa Tỉnh Tây Ninh. Tòa Tỉnh này nằm trên một ngọn đồi và lúc đó Tỉnh Trưởng Tây Ninh là Thiếu Tướng (Cao Đài) Lê văn Tất. Hai khẩu đại bác 105 của chúng tôi cũng được cho nằm ngay trong vòng rào của tòa Tỉnh. Lầu 2 của cái bâtiment kế cận thì đã dành cho Bộ Chỉ Huy của Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân với Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn văn Đương, Đại Úy Tiểu Đoàn Phó, mấy vị Thiếu Uý, cùng mấy người trong ban Cố vấn Mỹ. Từ đó tôi được chỉ định làm tiền sát viên cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân. Cùng với tiểu đoàn này, tôi thường vào làng Thanh Điền, nói đúng ra là vào mấy khu rừng thuộc làng Thanh Điền, hoặc hành quân quanh chân núi Bà Đen, vào Suối Vàng ở bên trái núi này nếu đi từ Tỉnh lên hay là vào Suối Đá ở bên phải. Như vậy là năm đó, năm 1964, tôi đã ra vào Suối Vàng cũng như Suối Đá nhiều lần. Trong năm đó, có một lần tôi được chỉ định đi theo Tiểu Đoàn 2/9 của


Click to View FlipBook Version