về hướng bắc có mấy chiếc phi cơ lớn xuất hiện, thả một số bom xuống. Tới lúc đó, Thiếu Tá Cố Vấn Trưởng mới cho chúng tôi biết rằng đó là sự xuất trận của mấy chiếc phi cơ loại mới, phi cơ B-52. Nhưng mấy hôm sau chúng tôi lại được cho biết thêm rằng trong lần đầu xuất quân đó, đã có 2 chiếc B-52 đụng phải nhau nên đã bị rớt. Sau khi Lữ Đoàn Dù lên Bến Cát vài ngày, rồi rút đi thì Pháo Đội chúng tôi lại tiếp tục những nhiệm vụ thông thường là sẵn sàng yểm trợ cho Trung Đoàn 7. Lần này thì chúng tôi đã có Pháo Đội Trưởng mới. Đại Uý Thái lên thay Đại Uý Hạnh để đưa cả Pháo Đội lên Lộc Ninh. Lên đó rồi thì cứ từ 5 giờ chiều, chúng tôi về đóng tại sân bay của đồn điền Lộc Ninh để sáng hôm sau mới kéo súng vào một cánh rừng Cao Su nào gần tỉnh. Yểm trợ cho Trung Đoàn 7 Bộ Binh để làm gì lúc đó thì bây giờ tôi không còn nhớ nữa. Tôi không còn nhớ gì được bởi vì tôi không phải làm Tiền Sát cho ai trong mấy ngày hành quân đó. Chỉ lúc trở về lại Bến Cát thì sau khi qua Chơn Thành một ít lâu, toán Bộ Binh mở đường nói là có mìn bắt chúng tôi phải dừng lại để họ cho người gỡ mìn, chỉ khi nào xong chúng tôi mới được đi tiếp . Thuần Phong Chương 8 Trên Mặt Trận Dầu Tiếng 1- Lên Dầu Tiếng Về Bến Cát được ít lâu thì Pháo Đội chúng tôi được lệnh đi Dầu Tiếng. Tiểu Đoàn Trưởng Võ Văn Sáng đã phân phối như sau: Tôi (Thiếu Uý Khôi, Pháo Binh Khoá 14 Thủ Đức) làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 2/7 mà Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Uý Lường (?). Thiếu Uý Kỳ, Pháo Binh Khoá 16 thì được cho làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Tung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Vì cũng thấy rõ ràng là sự phân phối này hoàn toàn không hợp lý, nên
Đại Uý Sáng đã gọi phone cho tôi nói là: "Thiếu úy là sĩ quan đàn anh của Thiếu Úy Kỳ, lẽ ra phải để thiếu úy làm Sĩ Quan Liên Lạc bên cạnh Trung Tá Tư mới đúng, nhưng thiếu úy vừa thông minh lại vừa lanh lẹ hơn, nên thiếu úy hãy chịu khó đi với Tiểu Đoàn 2/7 nhé. Họ sẽ là tiểu đoàn đi mở đường từ Chơn Thành vào Dầu Tiếng, việc này Thiếu Uý Kỳ không thể bằng thiếu úy được đâu". Mọi người đều biết chắc là cái lý do mà Đại Uý Sáng đưa ra chỉ là giả tạo, cái lý do chính là bà vợ của cái ông Đại Uý Sáng này rất ghét tôi, tôi đã chụp hình đứa con nhỏ của hai ông bà này khi họ lên Bình Dương thăm pháo đội năm nào, nhưng tôi lại đã không đưa cho ông bà cái hình ấy dù bà ta có hỏi tôi. Tôi không đưa tấm hình ấy được vì tôi đã bỏ mất nó ở đâu đó rồi, nên bà đã ra lệnh cho ông ấy phải "trù" tôi như trước kia đã không cho tôi đi Bến Súc và lần này thì không cho tôi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh trung đoàn trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Đại Uý Thái Pháo Đội Trưởng và Trung Uý Thinh cũng như Trung Uý Minh và nhất là các binh sĩ trong toán của tôi đều bất mãn cho tôi, nhưng cũng không ai làm gì được. Riêng tôi thì cũng tốt thôi, tôi không hề hối hận vì đã làm mất lòng bà Tiểu Đoàn Trưởng. Ngay cả ông chồng của bà là ông tiểu đoàn trưởng, tôi cũng chẳng coi vào đâu. Thế rồi vào một buổi tối, tôi nói là buổi tối vì khi đoàn xe bắt đầu lăn bánh để lên Chơn Thành thì đã thấy mọi nhà trên Bến Cát bắt đầu lên đèn, cả Trung Đoàn 7 Bộ Binh và Pháo Đội chúng tôi đều lên xe, dĩ nhiên là tôi phải đi với Đại Uý Lường. Đoàn xe đi được chừng 15 hay 20 phút thì chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ ở một bên bìa rừng và đoàn xe phải tạm dừng lại chờ lệnh. Chúng tôi ai cũng phân vân không biết là địch nhiều ít thế nào.
Một lúc sau chúng tôi được thông báo là cuộc chạm súng vừa rồi chỉ là do ngộ nhận, quân ta đã bắn lầm vào quân bạn. Toán lính mở đường đã nhìn thấy một vài cái nón tai bèo đang len lỏi ở phía xa trong rừng nên cho rằng đó là tụi Việt Cộng, đâu có biết rằng đó là toán Biệt Kích mà Sư Đoàn đã cho đi mở đường trước! Điều đang trách ở đây là Phòng Hành Quân trên Sư Đoàn đã không thông báo cho Trung Đoàn biết sớm để câu chuyện đáng tiếc khỏi xẩy ra. Chẳng biết là có bao nhiêu kẻ đã bị thương hay bị chết vì sự thiếu sót vừa nói, chỉ biết là sau đó khi có lệnh cho đoàn xe được tiếp tục di chuyển thì chúng tôi thỉnh thoảng có nghe thấy những tiếng lốp bốp ở dưói gầm xe do bánh xe đã cán vỡ sọ của mấy cái xác chết trên đường. Ai chịu trách nhiệm về những sự việc chết chóc kiểu này đây? Không hiểu là ông Thiếu Tướng Trần Thanh Phong nghĩ thế nào khi được báo cáo về vụ này nhỉ? Mới bắt đầu cuộc hành quân mà đã sui như vậy,
không trách được là sau này… Tới Chơn Thành rồi, chúng tôi phải xuống xe và bắt đầu băng rừng về phía dầu Tiếng. Tiểu Đoàn 2/7 của tôi phải đi mở đường, nghĩa là phải đi trước vừa dò địch, vừa chặt cây, dọn đường cho Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn khác cùng Pháo Đội của chúng tôi theo sau …và rồi khi đến gần Dầu Tiếng, Tiểu Đoàn 2/7 sẽ dừng lại để chờ mọi người qua mặt, còn mình thì đi sau cùng. 2- Trận mở màn trên Dầu Tiếng. Chật vật 3, 4 ngày đêm, chúng tôi mới vào được gần Quận Dầu Tiếng. Tới lúc đó Tiểu Đoàn chúng tôi lại phải dừng lại để trở thành Tiểu Đoàn bọc hậu cho Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn kia cùng Pháo Đội Súng của chúng tôi vượt lên. Đêm thứ nhất khi chúng tôi làm hậu đội thì không có chuyện gì xẩy ra, chỉ đến đêm thứ hai hay thứ ba gì đó, lúc cả Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn lẫn pháo đội của chúng tôi đang sửa soạn để hôm sau tiến vào Quận Dầu Tiếng thì có chuyện. Trong các cuộc hành quân, chúng tôi phải thức dậy hay đi ngủ theo mặt trời, cứ khi nào mặt trời bắt đầu ngả xuống là chúng tôi cũng sửa soạn chỗ ngủ và khi nào mặt trời sắp xuất hiện là chúng tôi đã phải thu dọn chăn màn hay nói cho đúng hơn là đã phải dọn dẹp đồ ngủ, như xếp võng và poncho lại, cho vào túi đeo lưng để sẵn sàng đi tiếp. Khoảng hơn 6 giờ tối hôm đó khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi sắp sửa ngủ thì mìn chiếu sáng mà chúng tôi đã gài sẵn ở chung quanh vị trí đột nhiên bắn vọt những tia sáng lên, cái đó cho thấy là nghĩa là tụi Việt Cộng đã mò tới và chúng đã vướng phải những cái mìn chiếu sáng kia. Chúng tôi ai nấy đều vội vàng vào tư thế chiến đấu, riêng tôi thì tôi đã phải gọi ngay về Trung Đội Súng tại Dầu Tiếng để xin sẵn sàng yểm trợ, đồng thời tôi cũng báo cho Pháo Đội của tôi lúc đó đang nằm bên cạnh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn để họ đề phòng. Tôi phải nói thêm là tôi không thể nhờ Pháo Đội này của chúng tôi để yểm trợ chúng tôi được, lúc đó mấy khẩu súng của Pháo Đội chỉ có thể trực xạ để bảo vệ chính mình thôi chứ không thể yểm trợ cho ai được hết vì súng đã chưa có gióng hướng.
Anh em binh sĩ của tiểu đoàn có bắn ra những nơi mà mìn chiếu sáng đã bị đụng phải, đây dĩ nhiên chỉ là bắn vu vơ thôi, nhưng không thấy có bắn trả, tình trạng này kéo dài trong khoảng 5 hay 10 phút, khiến cho tôi nghĩ rằng mình không phải là mục tiêu của chúng, chắc chúng định đánh úp Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, do đó tôi gọi ngay về Pháo Đội cho Đại Uý Thái biết cái ý kiến của tôi. Tôi đã nhắc Đại Uý Thái là Đại Uý nên cho Pháo Đội sẵn sàng trực xạ, chúng nó sẽ hỏi thăm đại úy ngay bây giờ đó! Vài phút sau, phải, chỉ vài phút sau thôi là tôi đã nghe thấy có tiếng súng tay nổ ở phiá đó cùng với tiếng súng lớn bắn trực xạ nữa. Thế là tôi quay trở về chỗ ngủ của tôi để ngủ lại. Sáng hôm sau, mấy tên lính của tôi mới khen tôi: - Thiếu úy can đảm thật, tối hôm qua bắn nhau như thế mà thiếu úy vẫn ngủ được! Lúc đó tôi mới trả lời họ: - Lúc đó, nếu tao không ngủ thì còn làm được gì nữa đây, khi chúng đã gần như trộn lộn vào với chúng ta như vậy rồi. Lúc đó chẳng thể nào dùng Pháo Binh của mình được mà là phải dùng súng tay thôi, cái đó là việc của Bộ Binh, chỉ khi nào nó tới được chỗ này thì lúc ấy tao mới phải thức dậy chứ (sự thực thì tôi ngủ được là vì tôi rất dễ ngủ. Ở trong Đại Học Xá Minh Mạng mà không dễ ngủ thì chỉ có chết thôi. Nằm trong phòng mà đèn để sáng suốt đêm, thỉnh thoảng lại lào xào tiếng xoa mạt chược cộng với tiếng bàn tán ầm ĩ của ít nhất là bốn tay chơi bài thành ra không thể không dễ ngủ và do đó, dần dần thành quen thôi). Thế rồi cả trung đoàn chúng tôi sửa soạn kéo nhau vào Quận Dầu Tiếng. Trong khi sửa soạn tiến vào trong quận, đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/7 có nói với chúng tôi (anh em trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn) là: “Chúng ta sắp có được một cái may lớn lắm, tao không hiểu là may như thế nào, nhưng chắc chắn là …rất may”.
Tụi tôi có hỏi là “Tại sao đại úy lại nói thế?” Ông ta trả lời rằng “Tao đã kinh nghiệm nhiều lần rồi. Mỗi khi tao nằm mơ thấy một giấc mơ tương tự thì lần nào cũng gặp một cái may lớn. Tao nghĩ là trong mấy ngày tới chúng mình sẽ có được một cái may đặc biệt và bất ngờ” Lúc bấy giờ tôi mới nói là: “Vào Dầu Tiếng rồi thì tiểu đoàn mình được nghỉ lại ở đó trong khi mấy tiểu đoàn kia phải tiếp tục đi nữa, như vậy là chúng mình sẽ gặp may rồi chứ còn gì nữa!” Đại úy lắc đầu, nói rằng “Cái chuyện tiểu đoàn mình được nghỉ ở DầuTiếng thì là chuyện dĩ nhiên rồi, cái đó đã được định từ trước, đã có ghi sẵn trong Dự Lệnh Hành Quân. Cái may sắp tới của chúng mình là cái may khác cơ! Cái may mà chúng ta sắp gặp không phải là cái vụ chúng mình được nghỉ đâu". Nghe được lời khẳng định của Đại Uý như vậy, chúng tôi đều nghĩ rằng nếu đã chắc chắn là sẽ gặp được một cái may lớn thì tốt rồi còn phải thắc mắc làm gì nữa. Đã là sẽ gặp may thì gặp cái may nào mà chả được! Và với tinh thần vui vẻ nhờ những lời nói trên của Đại Uý Tiểu ĐoànTrưởng… chúng tôi tiến vào trong quận. Vào đến Dầu Tiếng rồi là Tiểu Đoàn 2/7 của chúng tôi được chính thức cho nghỉ tại quận vài ngày và chờ lệnh mới, đúng như đã định. Vào được trong quận và thu xếp xong chỗ nghỉ rồi, tôi mới đi sang Pháo Đội để hỏi thăm sự việc tối hôm trước, lúc ấy tôi mới biết được những chuyện như sau: Đại Uý Thái bị thương và đã được tản thương đi rồi, Thiếu Uý Kỳ thì không việc gì hết, nhưng chúng tôi đều không biết tại sao mà Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh lại cho Đại Uý Giỏi, Tiểu Đoàn Phó lên thay làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Tư, còn Th.Uý Kỳ thì được điều đi sang một mặt trận khác, đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào đó mà nay thì tôi đã không còn nhớ được nữa.
Đêm hôm trước tôi đã ngĩ rằng Đại Uý Thái sẽ báo cáo lên Tiểu Đoàn cũng như báo cáo lên Phòng Hành Quân Sư Đoàn về cái công của tôi là đã báo trước sự tấn công của Việt Cộng và đã đề nghị họ sẵn sàng trực xạ nên mới đẩy lui được tụi Việt Cộng, nhưng nay thì tôi đã không có được cái may mắn đó nữa rồi, Đại Uý Thái đã bị thương và Trung Uý Minh tạm thời lên làm Quyền Pháo Đội Trưởng. Về Thiếu Uý Kỳ đã được đưa đi nơi khác, thì mấy tên lính của tôi có nói với tôi rằng: “Rồi Thiếu Uý xem, tối nay Ông Kỳ lại chạy nữa cho mà coi!” Và đúng như vậy, tối đó chúng tôi lại được nghe thấy tiếng của Thiếu Uý Kỳ trong máy đang cuống quýt gởi điện văn xin tác xạ. Tiểu Đoàn của anh chàng này lại đang bị tấn công! Sau khi về Pháo Đội hỏi thăm mọi anh em xong, tôi mới thả bộ ra phố chợ Dầu Tiếng chơi. Phố này chỉ có một dẫy nhà nằm dài ở bên hông chợ, chợ ở đây thì nhỏ thôi. Hàng hóa thì không có gì mấy, nhưng nay thì lính tráng đầy đường. Mấy quán nước, hàng ăn đều chật ních những người là người, mà toàn là lính trận! Trong những quán nuớc này, có một quán được mấy ông Sĩ Quan mới tới chịu khó chiếu cố đến nhiều nhất, đó là quán của cô Dung. Cô này trắng trẻo và khá đẹp. Dĩ nhiên là Trung Tá Tư, Đại Uý Giỏi của tôi và Y Sĩ Trung Uý Nhất cũng vào quán này, tôi thì đã ra hơi muộn nên không còn chỗ nào để vào ngồi nữa. Thôi thì để hôm sau vậy, tôi đã nghĩ thế. Nhưng chỉ ít lâu sau tôi lại nghe thấy tiếng của một người lính trong quận nói với một người lính của Trung Đoàn 7 Bộ Binhh, một người bạn của anh ta rằng: - Bộ mày lại muốn hy sinh vì Tổ Quốc hay sao mà muốn dính vào con Dung này. Nó đã có 1 đứa con trai với một thằng Tầu rồi, nhưng thằng Tầu đó đã bỏ nó từ lâu, và sau này anh chàng lính tráng nào mà định sờ vào nó là đều được Tổ Quốc ghi ơn hết. Đầu tiên là một đại úy, sắp đến ngày ông ta cưới nó thì được lệnh đi hành quân và rồi ông ta đã đi luôn. Sau đó có một chuẩn úy trẻ, anh chàng này mới chỉ muốn cưới cô ta thôi nhưng cũng lại lãnh Tử Thương Bội Tinh! Ở đây ai mà chẳng thấy rằng
cô ta quả là đẹp nhất quận này, nhưng có ai mà dám tính đến một chuyện gì với cô ta đâu. Hôm sau, tôi đã cố tình ra sớm nên đã vào được quán nước của cô Dung này. Cô ta là người Bắc, nhưng đã được sinh trưởng trong Nam. Tôi thấy cô ta quả thật là vừa xinh đẹp lại vừa dễ thương, ăn nói rất dịu dàng thế mà trời lại bắt cô ta chịu một số phận trớ trêu đến thế. Không biết sau này khi đã có thêm được một vài tuổi nữa cô ta có thoát khỏi được cái số phận hẩm hiu này không! Trong mấy ngày này, tôi cũng đã gặp được Thiếu Úy Phạm Oanh, Sĩ Quan Tiền Sát của Trung Đội đóng ở đây. Thiếu Uý Oanh xuất thân khóa 13 Pháo Binh nên sắp được giải ngũ. Chính anh Oanh này sẽ đưa tôi vào Trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội sau này, khi tôi bị tái ngũ. 3- Trung Sĩ Bường của Pháo Đội chúng tôi bị chết. Tới tảng sáng ngày thứ ba trên quận Dầu Tiếng thì chúng tôi bị pháo kích. Bộ binh thì không sao nhưng Pháo Binh của chúng tôi thì có chuyện. Trung Sĩ Bường thuộc Trung Đội của Trung Uý Minh đã bị trúng một mảnh đạn vào tim nên đã chết. Về cái chết của Trung Sĩ Bường này thì Trung Uý Minh có nói với chúng tôi là: “Đúng là cái số của nó bị chết thật. Trước ngày dời Bến Cát để lên đường, Trung Sĩ Bường đã được phép về thăm nhà và thường thì tên này luôn luôn tìm cách trốn hành quân, nên tôi đã nghĩ là hắn sẽ cố tình trễ phép để được ở lại Bến Cát, thế mà lần này hắn lại lên đúng hẹn kịp dự cuộc hành quân này để rồi bị chết. Hơn nữa, hắn lại sắp được giải ngũ đấy”. Lúc ấy Trung Sĩ Nhất Hao A Dưỡng cũng cho mọi người biết là: “Tôi và Trung Sĩ Bường đã cùng nằm trên một tấm ván kê sát cái xe Truyền Tin mà tôi lại nằm ngoài nữa trong khi anh Bường thì nằm trong. Khi nghe tiếng nổ tôi đã vội vàng lăn xuống đất, chui vào gầm xe để tránh đạn, chui được vào trong gầm xe rồi, tôi không thấy Trung Sĩ Bường nhẩy
xuống mà vẫn nằm yên trên ván. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng tên này ngủ say thực. Tôi đâu có ngờ! Thật ra thì đạn đã nổ và mảnh đạn đã ghim vào người Trung Sĩ Bường rồi, tôi mới lăn xuống đất.Tôi đã thật may vì tôi thì nằm ở ngoài, thế mà tôi thì không sao trong khi anh ấy lại nằm ở bên trong, sát cái xe Dodge Truyền Tin thế mà lại bị chết!”. Sau mấy ngày nghỉ ở Dầu Tiếng, Trung Đoàn 7 Bộ Binh lại tiếp tục cuộc hành quân. Chiều hôm đó Trung Đoàn trừ (vì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ lại ở Dầu Tiếng) lên đường vào làng 13, Pháo Đội B thì tạm thởi nằm tại chỗ để yểm trợ cho cuộc di chuyển, vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau mới lên đường để bắt tay với Trung Đoàn trên làng 13. Vào chừng 6 giờ sáng hôm sau thì dân chúng ở trong quận nghe thấy có tiếng súng nổ ran về phía làng 13. Chúng tôi biết ngay là đụng độ lớn đã xẩy ra nơi đó. Không biết rằng lúc này có ai ở Trung Đoàn gọi về xin bắn không. Nhưng nếu có thì cũng chỉ có 2 khẩu đại bác của Quận Dầu Tiếng là có thể thỏa mãn được thôi, 4 khẩu súng của Pháo Đội B/5 Pháo Binh thì không thể làm gì được vì đã được xếp càng móc vào xe và đã ra đường để sửa soạn di chuyển. Ngay lúc đó chúng tôi đã thấy là tụi Việt Cộng đã tính toán thật hay về giờ giấc, chúng không cần phải pháo kích vào Pháo Đội làm gì mà vẫn làm câm họng được 4 khẩu súng cơ hữu của Trung Đoàn. Phải tới nửa giờ sau Trung Uý Minh mới ra lệnh cho súng trở lại vị trí cũ, rồi cho gióng hướng lại, nhưng hình như chẳng có ai gọi về xin bắn cả. Một lúc sau chúng tôi mới thấy có phóng pháo cơ và Phi Cơ L-19 bay lên. Phóng pháo cơ thì lên để dội bom quanh làng 13 còn phi cơ quan sát L-19 thì lên thay các Tiền Sát viên dưới đất để tìm tọa độ thích hợp, gửi về cho súng đại bác ở Dầu Tiếng tác xạ. Mặc dầu rằng trên nguyên tắc thì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ, nhưng gặp trường hợp này thì ai trong chúng tôi cũng biết rằng cái phép nghỉ đó coi như bị hủy rồi, nên chúng tôi vội vã sửa soạn súng đạn để chờ lệnh lên đường. Nhưng ngay ngày hôm ấy, chúng tôi không nhận được bất cứ một cái lệnh nào. Chỉ ngày hôm sau chúng tôi mới có lệnh
tiến vào làng 13. Tới lúc đó chúng tôi mới biết rằng gần như tất cả Trung Đoàn trừ, gần 800 người, đã bị tiêu diệt. Về Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn thì ít ra tôi cũng được biết Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh cùng với Đại Uý Pháo Binh Giỏi, Trung Uý Y Sĩ Nguyển Văn Nhất đều đã bị bắn chết. Chết chung trong đám này còn có 2 cô gái, thực ra là 2 con điếm mà Trung Tá Tư đã mang theo. Sau này tôi được nghe đồn rằng mấy cô này bị Việt Cộng bắn vì chúng cho rằng 2 cô đó là 2 cô Cán Bộ Hộ Lý. Trong trận này Sư Đoàn 5 Bộ Binh bị mất một số khá lớn quân nhân, từ Trung Tá đến Binh Nhì. Cũng chỉ sau trận này, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng tên nội tuyến chính là tên trung sĩ Truyền Tin của Sư Đoàn, vì ngay sau đó tên trung sĩ này trốn luôn. Thảo nào mà mọi chi tiết của cuộc hành quân đều bị bên địch biết hết (đến đây, tôi nhớ lại vụ ông Tướng Trần Thanh Phong ngày xưa, đã tức mình vì bị một tên lính nào đó chửi đổng trên Chiến Khu Đ, nên đã ra ngay một cái lệnh miệng bắt Trung Đoàn 8 cùng với Đại Đội 5 Thám Báo chúng tôi phải ở lại thêm một ngày, khiến tất cả chúng tôi đã thoát được một trận phục kích quy mô. Lẽ ra, thông minh một chút thì sau nhận được báo cáo về việc chúng tôi có nhìn thấy những hố cá nhân đã được của tụi nó đào sẵn và chỉ ít lâu sau là có cuộc tao ngộ chiến hôm đó, thì toàn thể những sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Sư Đoàn cũng như ông Tướng Tư Lệnh phải để ý xem là tại sao chứ! Các ông phải tự hỏi là: "Nếu đoàn quân đã ra về theo đúng như dự lệnh thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải là cả đoàn quân đã bị tiêu tùng rồi không?" Và chỉ vì ở lại thêm một ngày theo lệnh miệng, không có trong dự lệnh, nên đoàn quân mới thoát được một cuộc phục kích lớn. Có tự hỏi như thế thì các ông mới biết rằng mọi quyết định gì của Sư Đoàn mà đã qua hệ thống Truyền Tin thì cũng đã bị nội tuyến thấy hết rồi. Như thế thì phải chịu khó báo ngay cho an ninh để họ điều tra tìm ra tên nào là nội tuyến chứ! Mặc dù không được học về an ninh nhưng ngu dốt như tôi thì cũng thấy là ông Tướng có thể loại ngay những người đi theo mình vào Chiến Khu Đ hôm đó khỏi danh sách những kẻ bị nghi
ngờ. Còn lại thì dễ thôi. Lệnh Hành Quân thông thường sẽ phải qua những tay nào, sau đó ra vài cái lệnh giả, rồi theo dõi thì có ngay kết qủa chứ có khó gì. Nhưng nói đi thì phải nói lại, đầu óc của ông Tướng cùng như của mấy ông Tá trong Ban Tham Mưu của ông này thì làm sao có thể có được một ý kiến nào gọi là sáng suốt đây. Trong trận Dầu Tiếng này, không những địch có tin chính xác về mọi chi tiết về cuộc hành quân mà chúng còn nghiên cứu kỹ cả cái thói quen bê bối của cái ông Trung Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Tư nữa, nên chúng đã tấn công đúng lúc, khi mấy khẩu súng đã ra đứng trên đường, chờ di chuyển. Còn binh sĩ của Trung Tá trên làng 13 thì có người chưa kịp xỏ chân vào đôi bottes de saut, có người còn đang đánh răng… tất cả gần như chưa kịp thu dọn đồ ngủ. Như vậy thì còn đánh đấm làm sao được nữa! Khi Sư Đoàn cho phi cơ lên thì bọn Việt Cộng đã coi như thanh toán xong chiến trường và chúng đã phần lớn rút đi, chỉ còn lại một số nhỏ chưa kịp rút mà thôi. Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi mới chính thức được lệnh tiến về làng 13 để diệt những tên địch còn sót lại. Lúc này Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng của chúng tôi mới nói là: "Các ông thấy chưa, tôi đã nói là mình sẽ gặp một cái hên lớn mà! Nếu mình cùng đi với Trung Đoàn thì chắc hôm nay tụi mình cũng đã bị tiêu tùng rồi". Lúc đó chúng tôi mới thấy được cái may mắn lớn của mình. Rồi ngay ngày đầu khi tới làng 13 chúng tôi đã bắt được một tên Việt Cộng, tên này đã bị mù cả hai mắt. Ông trung sĩ của tiểu đoàn lấy giây dù trói tay hắn lại một cách hơi thô bạo nên đã bị tên Việt Cộng này hằn học mắng cho là: “Tôi cũng là chiến sĩ như các anh mà các anh đối xử thế này à!". Tụi tôi ai cũng nóng mắt vì câu nói này nhưng chẳng ai trả lời hắn cả và vẫn để ông trung sĩ kia trói chặt hắn lại, không ai mềm lòng vì hắn bị mù đâu. Đối với tụi Việt Cộng vừa ngu xuẩn, vừa dã man này,
thì nếu mình sơ hở một chút là khốn nạn với chúng nó ngay. Dắt tên đó đi theo mình thì mình phải trói hắn lại, nhưng có thể để cho hắn ở bên cạnh mình qua đêm không nhỉ? Đại úy tiểu đoàn trưởng có hỏi ý chúng tôi thì đượcThiếu Uý Ban Ba cho biết là không thể cho cọp ở bên mình được và anh ra hiệu cho ông trung sĩ đem hắn ra xa, bắn bỏ. Lúc đó chúng tôi đều nghĩ là nếu mình thương hại nó thì ai thương hại mấy trăm đồng bạn của mình vừa bị chúng tàn sát đây, hơn nữa dắt hắn đi theo thì có khi mình cũng bị hắn tìm cách giết luôn nữa không biết chừng. Những ngày sau thì không có chuyện gì đáng kể xẩy ra khi chúng tôi phải ngày ngày đi loanh quanh mấy làng 12 rồi làng 13, làng14, để làm gì nữa đây! Tụi chính quy Việt Cộng thì đã rút đi ngay từ sau khi chúng thành công lớn rồi, đâu còn lại ai nữa mà tìm. Tụi du kích thì lại càng dấu mặt đi chứ chúng đâu có dại gì mà dở thêm trò gì ra lúc này. Chúng biết là sư đoàn sẽ điều động môt lực lượng lớn mạnh lên để trả thù, nên mấy tên du kích này chắc chắn là đã có lệnh nằm im rồi. Nằm im nghĩa là không quấy rối thôi chứ không phải là không theo dõi quân ta. Thực vậy, trong khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi đi loanh quanh mấy làng 12, 13, 14 như vây thì luôn luôn chúng tôi thấy mấy cô gánh qùa bánh, báo chí đi theo để bán cho chúng tôi. Tôi đã nêu nhận xét này với Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng, nhưng ông ta cũng chịu thôi, không có cách nào cấm họ không theo chúng tôi được. Thành ra chúng tôi cũng phải lờ đi, chỉ bảo nhau là phải có ý tứ, không những chính mình mà còn phải bảo cả lính của mình là phải kín miệng, không được nói gì với những cô bán hàng này về sự đi đâu, về đâu và vào giờ nào, ngoài ra còn nếu có thể, thì cố thử dò xem tụi Việt Cộng bây giờ đang ở đâu và còn đang tính gì nữa. Cuối cùng thì Tiểu Đoàn 2/7 cũng được cho trở về Bến Cát để nghỉ, vì chỉ mấy hôm sau, Tiểu Đoàn 2/8 với Đại Úy Của và môt Trung Đoàn lính Mỹ lên Dầu Tiếng. Tiểu Đoàn 2/7 thì được cho nghỉ, nhưng tôi thì lại được chuyển sang làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Đại Úy Của, Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn
2/8, mới được phái lên. Cùng với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, tôi tiến vào một cái biệt thự bỏ trống, khá lớn và khá đẹp của “Tây Đồn Điền”, tôi vào ngay cái phòng chính và chiếm một chỗ rất đẹp trong phòng để sửa soạn làm chỗ ngủ. Xếp dọn vừa xong thì Đại Uý Của bước vào, sau khi nhìn ngắm quanh phòng một chút, ông ta ra lệnh cho tôi tìm chỗ khác mà làm nơi ngủ, để chỗ đó lại cho ông ta. Dĩ nhiên là tôi phải bỏ lại chỗ đó, nhưng tôi rất bực vì cái giọng lớn lối ra lệnh của ông ta nên tôi thu dọn vật dụng của tôi xong, là tôi kéo 2 tên lính của tôi trở về vị trí đóng quân của Pháo Đội tôi ngay. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng khi Tiểu Đoàn này di chuyển thì tôi sang để đi theo cũng vừa vì Pháo Đội của tôi và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/8 này chỉ cách nhau chưa tới 100 mét. Mấy hôm sau, tôi được Thiếu Uý Mai văn Phú, cùng Khóa 14 Pháo Binh với tôi, đã theo Trung Đoàn 8 lên. Chỉ không biết là anh làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào. Anh Phú này cho biết là: "Ông Của không còn thương bạn như xưa nữa đâu”. Thiếu Uý Phú này đã được biết là Đại Úy Của đã từ lâu rất thích tôi vì cái khả năng bắn nhanh, bắn chính xác của tôi, nay thấy ông ta không thích tôi nữa nên mới nói cho tôi hay. Tôi đã trả lời Thiếu Úy Phú: "Ông ấy thương hay không thương tôi thì mặc xác ông ấy. Tôi đâu có cần ai thương đâu. Mà ông ấy có thương thì tôi được cái lợi gì đây? Trong mọi cuộc hành quân thì chính ông ấy phải nhờ tôi, chứ tôi đâu có nhờ gì ông ấy. Tôi đâu phải là đấy tớ của ông ấy đâu mà ông ấy muốn tôi phải làm cái này, cái nọ là tôi phải răm rắp làm theo. Tôi đâu có xin đi lính để cho ông ấy sai bảo. Về vấn đề chỗ ngủ thì nếu ông ấy đừng ra lệnh mà nói với tôi lịch sự một chút thì tôi cũng sẵn sàng nhường cái chỗ đó lại chứ giữ làm gì, nhất là tất cả chúng mình chỉ ở tạm đây ít lâu thôi chứ có phải là ở dài hạn đâu. Ông ấy đâu có biết rằng tụi mình chỉ chịu phục tùng cái “cấp bậc”của ông ấy trong lúc hành quân thôi, chứ cá nhân các quan lớn như ông ta thì chúng mình đâu có coi ra cái quái gì!". Tôi biết có nhiều tên hãy còn ngớ ngẩn. Ở ngay trong Pháo Binh mình chứ đâu xa, ỷ vào sự đã được đi lính trước, ỷ có cấp bậc cao hơn, nên đã tự cho là bậc thầy và gọi tụi mình là đệ tử nữa đấy! Tôi đã từng nghe
thấy một tên Trung Tá Pháo Binh nói với ông Tướng Pháo Binh nào đó của hắn là: “Tôi có một tên đệ tử sang được Mỹ này, đã đi học lại và lấy được cái bằng …gì đó”. Ông ta muốn nói tới tôi đó. Ông ta tự coi là "Sư Phụ của tôi". Nhưng ông ta đâu có dạy tôi cái gì đâu. Hơn nữa về kinh nghiệm chiến trường thì liệu ông ta có hơn tôi được không? Ông ta đi lính từ thời Pháp mà vào thời đó thì chỉ những Đại Úy hay Trung Úy nhiều kinh nghiệm mới được cử làm Đề Lô, còn những Thiếu Úy mới ra trường như ông ta lúc đó thì lại chỉ nằm nhà với súng thôi, mà trong khi đó thì các Chuẩn Úy Pháo Binh mới ra trường sau này lại là những kẻ phải đi với Bộ Binh ra mặt trận. Vì thế các Chuẩn Úy này chắc chắn là có nhiều kinh nghiệm xương máu hơn các Sĩ Quan Pháo Binh cấp cao như ông Trung Tá kể trên chứ. Về vấn đề này thì ai là Sư Phụ của ai đây? Trong khi thực ra ông ta chỉ vì lớn hơn 1 hay 2 tuổi nên đã được đi lính sớm hơn tụi tôi, rồi vì chịu cơm nhà binh nên đã không xin giải ngũ và cuối cùng lên được chức Trung Tá để bây giờ lên mặt với mọi người. Hình như tôi chỉ đi với ông Đại Úy Của này đâu có 2 hay 3 trận ở trên Dầu Tiếng này thôi thì phải, vì mấy cuộc hành quân quanh vùng sau đó đều do một Trung Đoàn Mỹ, cũng được đưa lên tăng cường gần như cùng một lúc với mấy Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 8 Bộ Binh. Nói đến Trung Đoàn Mỹ này, tôi lại nhớ đến tinh thần chiến đấu và quân kỷ của họ. Nhiều người đã nói rằng: “Tụi lính Mỹ rất nhát gan trong các cuộc đụng trận.” Theo tôi thấy thì những người nào nói như vậy chỉ là những kẻ ăn ốc nói mò, chính bản thân tôi đã từng thấy tinh thần cao của các toán cố vấn Mỹ trong rất nhiều cuộc đụng trận ác liệt với Việt Cộng. Trong trận tôi đi với Đại Đội 5 Thám Báo mà tôi đã kể ở trên, khi cả Trung Đoàn 8 lẫn Đại Đội 5 Thám Báo bị tụi Việt Cộng nổ súng ở 3 mặt, thì mấy người trong ban Cố Vấn Mỹ đã anh dũng làm nhiệm vụ của họ, để rồi một Trung Úy Cố Vấn bị chết và một Hạ Sĩ bị thương nặng. Họ đã chẳng tỏ ra nhút nhát một chút nào hết. Ngày trước, khi tôi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân, tôi đã để ý và thấy rằng trong bất cứ cuộc đụng độ nào, khi nghe thấy tiếng súng nổ ở phía trước là toàn thể Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đều ào lên để nhận định tình hình hầu lấy quyết định. Tiểu Đoàn Trưởng,
Tiểu Đoàn Phó, Thiếu Úy Ban 3 và toán Tiền Sát Pháo Binh của tôi thì phải nhào lên ngay đã đành, mà toán Cố Vấn Mỹ cũng hối hả chạy lên chứ họ nào có chịu thua ai đâu! Như vậy chứng tỏ là tinh thần của họ rất cao chứ không phải như ai đó đã nói nhảm. Còn về kỷ luật của họ thì tôi nghĩ lại mà cảm thấy thật là xấu hổ cho tinh thần quân kỷ của mình. Trong bản doanh của Mỹ, chúng ta có thể trông thấy một Trung Sĩ ghé đít ngồi lên mép bàn giấy của một vị Trung Tá để nói chuyện gì đó khi ông Trung Tá này đang ngồi trong bàn giấy của ông ta. Chịu khó để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng lúc đó họ đang nói chuyện với nhau trong tư cách bạn bè hay ít nhất đó là một câu chuyện riêng tư, không dính dáng gì tới công vụ hết, trái lại khi nói đến công vụ thì lại khác, lúc viên Trung Sĩ nọ vì công vụ, phải gặp một vị Thượng Sĩ thôi, thì cũng phải đứng nghiêm, dơ tay chào kính hẳn hoi, rồi sau đó muốn trình bầy cái gì thì mới trình bầy. Trong các cuộc hành quân, chúng tôi được lệnh là không được nằm trong nhà dân mà phải nằm ở ngoài đất trống, nhưng trong thực tế thì ít nhất bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của chúng ta luôn luôn ngồi nghỉ trong một ngôi nhà nào đó cho mát. Quân đội bạn thì khác. Họ lúc nào cũng thi hành những mệnh lệnh ấy một cách triệt để. Hồi ở trên Dầu Tiếng tất cả chúng tôi đều đã thấy cảnh một Trung Tá Mỹ chịu ngồi, hoặc đứng cạnh một cái máy truyền Tin trong suốt mấy giờ liền (phiên trực của ông ta?) dưới một tấm vải dù ở trên đầu, ngay giữa đồng trống dưới trời nắng nực oi ả, nhiệt độ vào khoảng 40 độ C hay 104 độ F hay hơn, với quân phục gần như đầy đủ, có nghĩa là chỉ không mặc áo trận thôi, nhưng vẫn có mặc áo thung (T Shirt) ở trong. Thêm vào đó, lính Mỹ còn có tinh thần đáng ca ngợi là họ không bao giờ coi binh sĩ miền Nam Việt Nam như những kẻ dưới tay như kiểu quân đội Pháp đã coi thường những người lính khố xanh, khố đỏ của chúng ngày xưa. Thật vậy đã có nhiều lần, tôi thay mặt cho Pháo Đội sang họp hành quân bên Trung Đoàn bạn. Khi xe của tôi tới cổng trại, tôi nhẩy xuống đất, chưa kịp nói gì thì anh lính Mỹ gác cổng đã bồng súng lên nghiêm chỉnh chào tôi dù anh ta biết tôi chỉ mang cấp bậc Thiếu Uý.
Với sự can thiệp của quân lực bạn, chúng tôi được rảnh rỗi nên tôi và anh bạn Phú mới gặp nhau (Nghe nói là sau biến cố Tết Mậu Thân, anh Phú cũng đã bị tái ngũ và cũng đã được biệt phái về dạy học như tôi, chỉ không biết là anh có sang được Mỹ này hay không thôi) Lúc này Pháo Đội B của tôi ra đóng ở ngoài Quận phía đi ra làng 13. Pháo Đội tôi đóng ở một bên, bên kia đường là Bộ Chỉ Huy của Lữ Đoàn hay Trung Đoàn Mỹ (Tôi cũng không rõ). Lúc này Pháo Đội Trưởng, Đại Úy Thái của chúng tôi đã trở lại Dầu Tiếng, nhưng chúng tôi lại gần như không có việc gì làm vì quân đội bạn đã không dùng đến Pháo Binh. Làm gì còn Việt Cộng nữa mà phải dùng đến đạn pháo! Ngày ngày, mấy sĩ quan chúng tôi chỉ để một người ở nhà với súng còn thì lấy xe ra chợ Dầu Tiếng chơi. Quận Dầu Tiếng này nằm bên cạnh một con sông khá rộng thành ra Công Binh đã phải thiết lập một cây cầu dã chiến để cho xe qua bờ bên kia, vùng đất của một cái xã nào đó của Quận. Tôi đã lái xe Jeep sang cái xã đó, nhưng lúc về thi Trung Úy Thinh (mới lên Trung Úy một ít lâu, ở trên Dầu Tiếng này) đòi lái về để trổ tài lái xe trên 2 tấm sắt bắt qua sông, mỗi tấm chỉ rộng đâu chừng 50 cm. Tuy không phải là dân Tâm Lý Chiến nhưng tôi và Trung Úy Minh cũng la cà vào chơi với những thư ký của đồn điền, hỏi thăm tình hình sinh hoạt của họ. Rồi có một hôm, vợ chồng một nhà nọ có hỏi ngược lại về cách sống của chúng tôi thì Tr. Úy Minh có nói là ăn uống thì hàng quán ở Quận này đã đủ sức cung cấp mọi thứ cho tất cả chúng tôi chỉ có điều là chúng tôi hơi thiếu nước để tắm thôi. Nghe nói thế, hai vợ chồng chủ nhân gia đình này vội nói ngay là “Trung Úy và Thiếu Úy cứ việc ngày ngày tới nhà này mà tắm, ở đây chúng tôi có nhà tắm khá tiện nghi cho quý vị dùng, đừng ngại gì hết”. Qủa là nhà tắm của họ có đầy đủ vòi sen, bồn tắm, chỉ không có nước nóng, nước lạnh thôi. Nhưng ở miền Nam Việt Nam này thì cần gì nước nóng cơ chứ! Thế là từ đó hai chúng tôi thường lại đó để tắm. Quý vị nên hiểu cho
rằng Pháo Đội chúng tôi phải đóng ở một nơi trống trải, không có cây cối gì hết nên rất nóng nực mà nước lại phải lấy về từ khá xa, thành ra chúng tôi muốn dùng một cách không phí phạm, do đó có thể nhờ được một nguồn nước ở nơi khác là 2 chúng tôi sẵn sàng ngay. Tôi nói là 2 chúng tôi, như vậy nghĩa là không có Trung Úy Thinh, anh này có đến chơi nhà đó một vài lần, thấy nhà đó có con gái nên giữ ý không đến tắm, hắn có nói điều này cho chúng tôi biết, nhưng tôi và Trung Úy Minh có bảo hắn rằng hắn đã quá cẩn thận, vì cô gái kia chỉ là một đứa nhỏ mới chừng 12, 13 tuổi, mà trẻ Việt Nam 12, 13 tuổi thì hãy còn qúa nhỏ, việc gì mà phải quá giữ ý như vậy! Những ngày về sau, tuy rằng không có chuyện gì xẩy ra thêm nữa nhưng chúng tôi vẫn phải ở lại cái đất Dầu Tiếng này chờ các quan trên tìm quyết định. Chúng tôi, nói đúng hơn là Pháo Đội của chúng tôi, rốt cuộc đã phải ăn Tết ở trên Dầu Tiếng này. Trong một tháng trước Tết, chúng tôi có nhận đựơc một Công Điện từ Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh đánh lên, nói là: "Sĩ Quan nào muốn sang Pháo Binh Dù thì ghi tên”. Quên rằng mình đã nộp đơn xin giải ngũ từ mấy tháng trước, tôi vội gọi ngay cho Hiệu Thính Viên của Tiểu Đoàn yêu cầu ghi tên tôi vào danh sách đó nhưng anh ta vừa cười vừa nói rằng: “Thiếu úy cần gì phải sang Pháo Binh Dù nữa, thiếu úy dù từ lâu rồi còn gì”. Qua Tết được vài ngày, tôi nhận được Ccông điện gọi về trình diện tiểu đoàn để nhận lệnh thuyên chuyển sang Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh tại KonTum. Điều đó có nghĩa là tôi không được sang Pháo Binh Dù mà phải ra Vùng II. Thế là tôi tìm cách theo một cái trực thăng nào đó, dời Pháo Đội để về Tân Sơn Nhất, chứ không về ngay tiểu đoàn ở Phú Lợi.
Chương 9 Đổi qua Quân Đoàn II 1- Ra Quân Đoàn II. Vì lần này tôi phải ra tận Pleiku nên chắc chắn là khó có thể dù về Sài Gòn đều đều như xưa được nữa, ngoài ra kỳ này từ Dầu Tiếng về, tôi còn được một bà mợ của tôi đưa đi giới thiệu với một cô… khá đẹp…và nhất là hai bên chúng tôi đều đồng ý chịu nhau. Nên sau vài ngày được chính thức nghỉ phép, tôi đã lên Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Phú Lợi để nhận lệnh thuyên chuyển, tôi đã cố tình ở lại Sài Gòn khá lâu, tôi chỉ chịu lên đường sau khi đã ở nhà khoảng nửa tháng. Chỉ còn vài tháng nữa là tôi đã giải ngũ rồi việc gì còn sợ ai nữa! Tôi còn nhớ rõ hôm tôi lên lấy giấy thuyên chuyển, Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Võ Văn Sáng có nói với tôi là: - Thiếu úy cũng sắp được giải ngũ rồi phải không? - Đúng thế, xin cảm ơn đại úy đã cho tôi dời khỏi cái tiểu đoàn này, tránh khỏi bị cái ảnh hưởng của số sát quân của đại úy. Đại Úy Sáng lúc ấy tức lắm nhưng đành chịu không làm gì tôi được nữa rồi (khi ông này mới về thì đã xẩy ra một vụ chết người lãng xẹt. Một anh lính đứng gác ở ngoài cổng một pháo đội, tôi không nhớ là pháo đội nào và đang đóng ở Đức Hoà hay Đức Huệ thì phải, đã bị trúng một viên đạn từ bên kia sông bắn sang, trong khi tên Việt Cộng ở bên kia sông đã nhắm vào …ai đó trên một cái giang thuyền đang tuần tiễu ở giữa sông) Mãi sau này, lên tới KonTum được ít lâu rồi, tôi mới nghĩ ra rằng mình bị ra Vùng II là vì không những ông Sáng này rất ghét tôi mà còn vì ông ta không muốn tiểu đoàn ông ta mất người bởi vì trước đó ít lâu, tôi đã nghe nói rằng một thảm họa đã xẩy ra cho một đơn vị pháo binh ở vùng II. Tất cả các sĩ quan của một pháo đội nào đó đã bị tụi Fulrpo trong
pháo đội của mình giết hết. Tôi đã không hỏi kỹ về việc này nên không có những chi tiết để trình bầy thêm. Tôi chỉ không ngờ rằng mình lại bị gánh chịu hậu quả của cái sự nổi dậy của mấy tên Fulro này! Thật thế, để bổ sung sĩ quan cho đơn vị bất hạnh trên, tôi đã bị đưa đi. Bộ Chỉ Huy Pháo Binh đã ra lệnh cho vài Tiểu Đoàn ở Vùng III phải chuyển vài sĩ quan trong tiểu đoàn ra Vùng II. Đại Uý Sáng nếu không đưa tôi đi thì chắc chắn là chỉ vài tháng nữa ông ta cũng không có tôi, bởi vì tôi sẽ hoặc là tôi được giải ngũ hoặc là tôi sẽ sang Pháo Binh Dù, nếu ông ta chấp nhận yêu cầu của tôi. Như vậy thì cử một ai khác ra Vùng II, Tiểu Đoàn sẽ phải mất thêm một Sĩ Quan nữa. Cái việc sắp được giải ngũ mà còn phải ra miền Trung quả là một vận may cho tôi. Trong mấy tháng ở Vùng II này, tôi đã không đụng một trận lớn nào cả dù rằng tôi đã có tham dự vài cuộc hành quân lớn. Tôi đã cố tình ở lại Sài Gòn khá lâu, không ra trình diện Pháo Binh Vùng II ngay vì "ba gai" (Pagaille) đã đành, mà cũng còn vì hồi đó đang có lộn xộn ở Sài Gòn do mấy cái vụ lên đường, xuống đường của mấy tụi chính trị, chính em, Phật Giáo… gì đó! Cuối cùng thì tôi cũng phải ra phi trường Phi Long để lấy máy bay lên PleiKu vào một ngày đầu Xuân. Lên tới phi trường PleiKu rồi mới thấy nản, lúc đó cả cái Phi Trường chỉ có một chiếc phi cơ Caribou chở tôi, vừa đáp xuống, đậu lẻ loi ở một đầu của phi trường trên một ngọn đồi khá cao. Lúc này trời hơi lạnh, khoảng trên dưới 60 độ F, trên trời thì chỉ có một mầu xám xịt, dưới đất thì gió lạnh thổi từng cơn, làm cho tôi càng cảm nhận thấy được cái trạng thái lẻ loi cô độc của mình! Mà hôm đó phi cơ cũng chỉ chở có vài người, đúng hơn là vài sĩ quan vừa từ Sài Gòn trở lên. Những người kia thì còn có xe ra đón, riêng tôi thì vì không lên đúng hẹn và cũng chẳng báo trước cho Pháo Binh Quân Đoàn biết nên không có ai ra đón cả. Nhưng là một thiếu úy sắp giải ngũ, nghĩa là cũng đã có đủ một số kinh nghiệm cần thiết để đối phó với những tình trạng như thế này, tôi đã lại một phòng có thể đó là phòng trực của Phi
Trường, đúng ra thì đó là một phòng khá nhỏ ở một đầu phi đạo. Vào đây, tôi đã hỏi số điện thoại của Pháo Binh Quân Đoàn, rồi gọi về đó xin xe ra đón. Chừng 15 hay 20 phút sau, một chiếc xe Jeep đưa một vị trung úy ra đón tôi lên Quân Đoàn. Tới Quân Đoàn là tôi phải theo vị Trung Úy kia lên trình diện Trung Tá Pháo Binh Quân Đoàn (Trung Tá Lê Văn Thọ). Ông này thấy tôi là lên tiếng nạt tôi ngay, trách tôi là không chịu lên đúng hẹn. Tôi trả lời là: - Thưa trung tá, dạo này ở Sài Gòn lộn xộn lắm nên không thể có phi cơ để đi được. - Tại sao anh không đưa cái Lệnh Thuyên Chuyển ra để họ tìm cách cho anh đi. Tại anh không muốn đi ngay chứ gì? - Thưa trung tá, đây là lần đầu tiên tôi phải ra khỏi vùng, tôi đã không biết là có thể dùng cái Lệnh Thuyên Chuyển này để xin được phi cơ, nên tôi mới không làm đấy chứ! - Thôi được, anh ở tạm trên cái khu Vãng Lai này rồi sẽ đón xe lên trình diện Tiểu Đoàn 221 trên KonTum. Sau đó, ông ta bảo vị trung úy, người vừa đón tôi từ phi trường về, đưa tôi về phòng của trung úy đó trong khu Vãng Lai, ở ngay trong Quân Đoàn này. Thế là tôi về cùng ở chung phòng với vị trung úy này và một Trung Úy Pháo Binh khác nữa. Ngồi trong phòng nhìn qua cửa sổ, tôi thấy trời vẫn xam, xám một mầu, trên trời từng đám mấy bàng bạc vẫn còn treo lơ lửng, nên tôi không thể nào cố vui lên được. Tuy rằng trong phòng còn có hai người nữa, nhưng tôi chưa thể gần gũi với họ ngay lúc này dù đã được giới thiệu hẳn hoi. Nhưng dù là không thân thiết đi nữa thì đến giờ ăn chiều, hai vị trung úy cùng phòng cũng đưa tôi xuống phòng ăn để cùng dùng cơm chiều. Tôi theo họ vào phòng ăn nhưng tâm hồn cứ để tận đâu đâu, rồi ra lấy phần ăn một cách máy móc, cốt là để ăn cho xong còn về phòng nằm nghỉ
Đối với tôi thì việc ăn cơm ở nhà bàn như thế này thì tôi đã quen từ mấy năm nay khi còn ở trong Đại Học Xá rồi, chứ đâu có lạ lung bỡ ngỡ gì, nhưng hôm nay thì hơi khác. Trong khi tôi còn đang chán đời như thế thì giữa những tiếng nói cười ồn ào của không biết bao nhiêu người đang ngồi ăn ở chung quanh, tôi chợt nhận ra mấy giọng nói đặc biệt của một dân Đại Học Xá Minh Mạng. Giọng nói của những kẻ coi trời bằng vung và nói bất cứ chuyện gì, dù vô lý đến đâu cũng… luôn luôn tỉnh bơ như nói về môt chuyện có thực, thí dụ như khi có người thắc mắc là cái Đại Học Xá này ở ngay sát nách với Viện Bài Lao Hồng Bàng mà sao tụi sinh viên chúng nó ở đó lại không bị gì nhỉ? Thì đã được trả lời là: "Các bạn phải biết rằng con đường Hùng Vương này là con đường một chiều, mà Đại Học Xá của tụi này lại nằm ở phía trên cái Viện Bài Lao kia thì con vi trùng lao nào dám đi ngược chiều sang Đại Học Xá được mà hòng chui vào phổi của anh em sinh viên chúng tôi, chúng phải sợ mấy ông Cảnh Sát Quận 5 chứ! Đại loại, giọng nói của các sinh viên Đại Học Xá Minh Mạng là như thế đó, nên rất dễ nhận ra, cho dù là giọng nói đó được phát ra giữa đám ba quân, như trường hợp chiều hôm nay chẳng hạn. Nhận ra giọng nói thân thuộc này rồi, tôi vội quay về phía những tiếng nói đó ngay và vô cùng vui vẻ nhận ra mấy anh bạn quen, họ đang đấu hót với nhau một cách rất hăng say về một vấn đề gì đó không biết. Đó là các Y Sĩ Đại Úy Trần Huy Thọ, Nguyễn Như Chương, Nha Sĩ Đại Úy Nguyễn Hữu Phú. Thế là tôi chạy ngay sang bàn họ, cho họ biết là tôi mới tới, rồi ngồi ở đó góp chuyện với họ. Tối hôm đó tôi sang phòng anh bạn Phú chơi và dù không biết đánh xì phé, tôi cũng nhập cuộc với họ, hôm sau là Chủ Nhật thì phải, để thua hết nhẵn tiền túi đến nỗi phải mượn của anh Phú 500 đồng bạc VN hồi đó, tương đương với 5 tô phở mà cho tới giờ này tôi cũng quên chưa trả cho anh một đồng nào! Hôm sau, anh còn nói với tôi là:
- Sĩ quan việc gì phải ra đón xe để đi nhờ. Pháo đội của bạn phải cho xe lên đây đón bạn chứ. Bạn cứ ở đây đi, sáng sáng chịu khó dậy sớm một chút theo tôi ra thị xã và trong khi tôi làm việc thì bạn lấy xe của tôi mà đi chơi đến 11 giờ trưa thì tới đón tôi về. Khi nào có xe lên đón thì hãy đi. Thế là tôi làm đúng như lời anh Phú khuyên mà ở lại dong chơi thêm vài ngày trong cái thị xã PleiKu này. Ngay ngày hôm sau, một ngày Chủ Nhật, tôi được anh Phú và mấy anh kia đưa tôi ra thăm “Biển Hồ” của Pleiku. Lúc gần tới nơi, họ chỉ cho tôi thấy một cây hạt dẻ rất lớn (một cây cổ thụ) đứng sừng sững ở ngay giữa đường và bảo tôi: "Nếu bạn muốn thì có thể ra nhặt một ít hạt dẻ ở dưới gốc cây rồi mang về mà... luộc hay rang tùy ý". Nói thế nhưng họ vẫn đưa tôi ra thẳng cái Biển Hồ để cho tôi thấy cái rộng lớn của nó. Cái hồ này rộng thực, đứng bên này nhìn sang bờ hồ bên kia cũng như đứng trên bờ Hồ Tây, bên đường Cổ Ngư nhìn sang bờ đối diện vậy! Tối hôm đó, tôi còn được anh Chương đưa tôi về nhà anh ở gần chợ của thị xã để thăm bà nhạc và bà xã của anh. Ở đây tôi còn nhớ là đã được cho ăn một bát chè đường. Một bát chè đường thì có gì mà phải nhắc lại! Đúng thế, về vật chất thì thực không có gì đáng nói, nhưng các bạn nên hiểu cho rằng đã từ lâu tôi chỉ ăn uống trong rừng với lính tráng và tôi cũng đã nghĩ như vậy khi mới tới đây, chứ nào có biết là mình sẽ được dự một bữa ăn trong một không khí ấm cúng như thế này đâu! Ở chơi như vậy được vài hôm thì nhân có mở đường lên KonTum, Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh trên đó tính cho xe xuống đón tôi lên, sau khi cuộc mở đường (Quốc Lộ 14) đã hoàn tất, nhưng ngày hôm đó, một trung đội Pháo Binh của tiểu đoàn đang đóng ở quận Lệ Trung cũng có việc phải
về tiểu đoàn nên đã tiện đường đón tôi đi luôn. Trình diện tiểu đoàn rồi, tôi lại được đưa về ngay cái Trung Đội đã đưa tôi lên, tức là cái Trung Đội ở Quận Lệ Trung. Quận này nằm sát ngay thị xã Pleiku, chỉ cách Pleiku có một cây cầu ngắn. Tuy là ở ngay sát Pleiku nhưng tôi đã không có dịp đi thăm lại các anh bạn Đại Học Xá của tôi nữa, ngay cả việc trở về Pleiku cũng không mấy khi thực hành được, vì cho tới lúc này tôi vẫn chưa phải là Trung Đội Trưởng nên không có xe để đi. Mỗi trung đội trưởng Pháo Binh có một cái xe Jeep riêng, tiền sát viên thì làm gì có xe riêng mà đi. Tới Quận Lệ Trung là tôi được giới thiệu với Trung Úy Nguyễn Văn Đương, Quận Trưởng của quận này, vì trung đội của tôi nằm ngay trong vòng rào của Quận. (12 năm sau, đúng hơn là vào đầu năm 1976, tôi đã có dịp gặp lại ông Quận Trưởng này ở trại Cải Tạo Tân Hiệp hay là trại Suối Máu, mà cấp bậc của ông cựu Quận Trưởng lúc đó lại mới chỉ là đại úy như tôi thôi, chức vụ thì đã được… thăng lên làm Phường Trưởng, chỉ có điều là Phường Trưởng ở một Phường trong Quận 5 Chợ Lớn thôi). Có 2 điều khiến tôi không thể dễ dàng quên được Quận này, đó là: Điều thứ nhất là về vấn đề ăn sáng. Cả Quận chỉ có một quán, gọi là quán ăn thì không được vì quán này tuy có bán nước mắm, tương, chao, trứng gà, trứng vịt, gạo, muối, bánh tráng… Đồ ăn sáng thì chỉ có một món coi như hủ tíu. Mà không phải ngày nào cũng có thứ hủ tíu đặc biệt này. Những hôm ấy, ông chủ quán thường xun xoe nói với chúng tôi là: "Xin lỗi trung úy và thiếu úy, hôm qua chúng em không đi chợ nên hôm nay không có hủ tíu cho quý vị". Thế là nếu chúng tôi muốn ăn sáng thì chúng tôi phải nhờ ông chủ quán chiên cho mấy quả trứng để ăn với bánh tráng, bánh mì cũng không có luôn. Điều thứ hai là thái độ của ông cố vấn Mỹ của Quận. Đối với ông cố vấn này thì kể từ ngày mới về Quận này, ai muốn nói gì với ông ta thì phải nói bằng tiếng Mỹ, nếu không thì phải nhờ thông ngôn, ông ta coi như không hiểu tiếng Việt. Thế nhưng, vào ngày ông ta mãn hạn trở về nước,
vài tuần sau kể từ khi tôi tới Quận, quận trưởng có mở tiệc tiễn hành. Trong bữa tiệc, có một ông trung sĩ của Quận có rót một ly rượu và đưa lên mời ông cố vấn. Ông này đã nhận lấy ly rượu (đế) này và uống cạn, sau đó trả lại cho ông trung sĩ cái ly không và nói… “Đù mẹ nó, cay quá”. Tới lúc đó mọi người mới thấy là ông ta rất rành tiếng Việt chứ không phải là không biết. Sự việc này làm tôi nhớ đến hồi tôi còn học lớp PCB tại Faculté des Sciences ở Saigon. Hồi ấy giảng sư dậy môn Chimie Minérale là ông Léon Cossara, ông này có giọng đọc rất khó nghe. Một hôm, ngồi trong cái giảng đường lớn vừa mới xây xong, vào giờ Chimie Minérale. Ông thầy vừa nói xong một câu gì đó thì tôi nghe thấy ở phía sau tôi có tiếng “đọc như thế thì các bố đâu có nghe được”, tôi vội quay lại xem ai vừa há miệng chửi đó, thì mới biết đó là anh Lý Hồng Sen, em Bác Sĩ Lý hồng Chương vừa mới phát ngôn. Đại khái là ông Léon Cossara này luôn luôn bị chửi như thế. Có lẽ là thấy mình bị chửi nhiều quá, vì ai cũng cho là ông này không biết tiếng Việt nên…tự do chửi thẳng thừng không e dè gì cả, nên một hôm, ông ta dở trò điểm danh chơi, ông ta gọi đến tên …Mlle Công Tằng Tôn Nữ Nguyễn Thị Trí Tri thì mọi người mới ngớ ra, ông ta gọi không sai dấu một chút nào. Hóa ra là … Về sau hỏi ra mới biết rằng mẹ ông ta là dân…HUẾ đấy! Ngoài ra còn một việc nữa cũng làm tôi khó quên cái thời gian ở đây, đó là việc Trung Úy Trung Đội Trưởng, tên là Liêm hay Lễ, tôi đã quên mất rồi, đã dụ tôi rút đơn xin giải ngũ, anh ta sẽ nói với bác của anh ta là thiếu tá gì đó thăng cấp cho tôi lên trung úy sớm vài tháng (Còn chừng 3 tháng nữa là tôi đủ 2 năm thiếu úy thực thụ và sẽ được tự động thăng cấp lên trung úy) rồi ở lại làm trung đội trưởng trung đội này để anh ta lên sư đoàn với ông bác anh ta. Anh ta còn nói là khi đã ở trên Sư Đoàn rồi, anh ta sẽ hết sức nâng đỡ tôi. Tôi đã dứt khoát từ chối việc này vì thực sự là tôi đâu có muốn làm "quan". Thấy tôi không nghĩ đến chuyện thay hắn làm trung đội trưởng trung
ssội này nên nhân môt hôm vào khoảng 9 hay 10 giờ gì đó, hắn cho hai chiếc GMC đi Quy Nhơn mà chẳng có công vụ gì hết, tôi tuy có hơi thắc mắc một chút nhưng vì không phải là việc của mình nên tôi cũng chẳng hỏi làm gì. Đến chiều khi những chiếc xe đó về, ông trung úy trung đội trưởng của tôi mới nói nhỏ với tôi là: "Mỗi tuần mình có thể cho hai chiếc xe của trung đội đi Quy Nhơn chơi để lúc về chở dùm mấy người bạn trong thị xã một ít hàng là trung đội mình cũng kiếm được một ít tiền tiêu vặt đấy!". - Thế, nếu hôm đó có lệnh di chuyển thì sao? - Trong trường hợp đó thì mình phải kêu chúng về ngay chứ, nhưng thông thường thì lệnh di chuyển cũng phải tới trước một ngày. Vả lại khi nào có hành quân thì ông bác tôi trên sư đoàn sẽ cho mình biết trước, nên bạn khỏi lo những việc vặt ấy. Hắn đã tưởng rằng vì cái lợi nhỏ đó tôi sẽ rút đơn xin giải ngũ để ở lại làm trung đội trưởng cái trung đội đó thay hắn và hắn sẽ được lên sư đoàn, nhưng hắn đã thất vọng vì tôi vẫn …không làm gì cả. Ở Quận Lệ Trung này được chừng một tháng thì tôi được lệnh đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho một Chi Đoàn M-113 trong vòng nửa tháng. Lần này chúng tôi sẽ đi vào các quận Lệ Thanh, Đức Cơ. Đây chỉ là một cuộc hành quân bình định thông thường, đoàn M-113 của chúng tôi chẳng gặp địch ở đâu hết, chỉ có điều là trước khi vào thăm đồn Đức Cơ, đoàn thiết vận xa của chúng tôi đã phải chạy đi chạy lại, quần lên quần xuống cái bãi trống ở trước cổng cái trại Đức Cơ này nhiều lần để phá những cái mìn cá nhân, những cái mìn này đã do anh em binh sĩ trong đồn gài sẵn để ngăn không cho tụi Việt Cộng lại gần đồn. Thấy chúng tôi đến, ông trưởng đồn đã phải yêu cầu chúng tôi phá huỷ chúng đi trước khi cho anh em binh sĩ ra khỏi xe rồi dựng lều, dựng bếp nấu nướng. Nói đến nấu nướng, tôi lại nhớ đến tên Lý văn Lời ở Trung Đội 2B/51 Pháo Binh. Trong các cuộc hành quân, bất kể là đi với đơn vị nào, bộ binh, thiết vận xa, biệt động quân hay nhẩy dù, toán Tiền Sát chúng tôi
bao giờ cũng ăn riêng với nhau. Như tôi đã nói ở trên, vì tôi là tên thích ăn ngon nên trước mỗi cuộc hành quân dài từ hai hay ba ngày trở lên, tôi luôn luôn đưa tiền cho một tên lính nào đó trong toán để hắn ra chợ mua một ít thịt heo một ít hành, mỡ vv …rồi về nhà kho hay rang sẵn mang theo, dĩ nhiên là đôi khi cũng có việc mấy tên lính của tôi đã có bắt gà để làm cơm, nhưng việc đó chỉ được làm tại những nơi như Mật Khu Bời Lời …, nghĩa là ít khi xẩy ra. Vào Chiến Khu Đ, nằm mở đường dài hạn trên con đường từ Bình Dương lên Bến Cát hay đi từ làng Tân Thạnh Đông qua Paris Tân Quy để lên Phú Hòa Đông rồi trở về…, thì hoặc lấy gà đâu ra để bắt hoặc ai cho phép bắt gà của dân. Thông thường thì tên Lời hay giúp tôi đi mua những thứ lặt vặt đó và luôn luôn chúng tôi có những bữa ăn ngon lành. Kỳ này cũng không ngoại lệ, khi được lệnh là sẽ phải đi với Thiết Vận Xa chừng 15 ngày là tôi đã đưa tiền cho tên lính đi theo để lo nấu ăn, bảo hắn ra Pleiku mua chừng một nửa ký thịt heo mang đi để chúng tôi sẽ cùng ăn, nhưng ngay từ bữa ăn đầu tiên tôi đã phải thất vọng tràn trề, tôi đã không thể nuốt trôi được nồi canh cải Tầu Bay nấu với thịt heo mang từ nhà vì …mặn ơi là mặn, thịt heo thì sắt qúa nhỏ và đã kho với muối. Lúc đó thì đành chịu vì không thể làm gì hơn được nữa rồi. Tôi chỉ tính rằng lần sau thì mình phải chịu khó kiểm soát trước mới được. Nhưng may mắn cho tôi là cuộc hành quân này là cuộc hành quân thứ nhất và cũng là cuộc hành quân cuối cùng của tôi ở cái Vùng II đất đỏ này. Đây đúng là vùng đất đỏ thực. Ngoài Pleiku, trời nắng thì mỗi khi xe chạy là bụi đỏ sẽ bốc lên đầy trời, còn nếu trời mà nổi cơn mưa ,dù chỉ là mưa phùn thôi, thì bùn đỏ sẽ bám chặt vào các bánh xe. Mang giầy trận mà đi bộ thì thật là vất vả. Trong mấy ngày đầu của cuộc hành quân thì trời khô ráo nhưng sau khi chúng tôi dời Đức Cơ được một ngày thì trời đã bắt đầu chuyển sang mưa và đất đỏ tuy không gây được trở ngại gì lớn cho đoàn Thiết Vận Xa nhưng đã gây khó khăn lớn cho chúng tôi mỗi khi phải nấu ăn cũng như phải dựng lều để ngủ qua đêm. Tìm đất để nằm đã khó mà đôi khi còn bị sự thay đổi của hướng gío làm chúng tôi mất ngủ luôn. Đã nhiều
lần chúng tôi phải đóng cọc để căng võng thế nhưng cũng có lần nửa đêm gió đổi chiều nên đã tạt hết nước mưa vào chỗ chúng tôi nằm làm đêm đó mấy người chúng tôi phải thức luôn đến sáng. Thường thì chúng tôi chỉ căng mấy tấm Poncho làm như hai mái nhà để ngăn cản không cho mưa tạt vào mấy cái võng và đồ cá nhân đặt ở trong nhưng chừa hai đầu để chui ra chui vào chứ không bao giờ che kín cả bốn phía nên khi mà gió nổi cơn chuyển hướng thì…lãnh đủ. Như tôi đã nói ở trên, cuộc hành quân này cũng giống như một cuộc di hành xa thôi chứ không gặp một tên địch nào. Ngày cuối, trước khi trở lại Pleiku, đoàn xe đã dừng lại ở một buôn làng nào đó để anh em binh sĩ xuống mua mấy qủa mít rồi bổ ra ăn. Thú thực là tôi chẳng hiểu họ đã mua bán ra sao nhưng toán Tiền Sát chúng tôi cũng được anh em ở trong xe (xe của Thiết Đoàn Trưởng cùng với ban Chỉ Huy của Thiết Đoàn) đưa cho một nửa qủa mít và mặc dù là sau khi xuống xe rồi, tay ai cũng dính đầy đất đỏ nhưng chẳng có ai nghĩ đến chuyện phải rửa tay cho sạch mà chỉ chùi tay vào quần áo (trận) của mình, bóc lấy bóc để vài múi mít và đưa ngay vào mồm nhai, không hề nghĩ đến vi trùng vi triếc gì hết. 2- Dời quận Lệ Trung, lên Kontum gặp Thiếu Úy Toàn. Về được quận Lệ Trung được vài ngày, tôi đã định là khi nào có dịp tôi sẽ theo mấy chiếc GMC đi Quy Nhơn chơi cho biết. Nhưng chưa kịp thực hiện việc đó thì tôi được lệnh dời trung đội để trở về tiểu đoàn ở trên Kontum. Trở lên đây rồi tôi mới gặp Thiếu Úy Nguyễn Quang Toàn, cùng là dân 14 Pháo Binh và cũng sắp được giải ngũ như tôi. Chúng tôi được gọi về lại tiểu đoàn để thỉnh thoảng đi trực ở Văn Phòng Tiểu Đoàn hay sang trực bên Tiểu Khu nằm ngay cạnh tiểu đoàn, chứ không phải đi tiền sát nữa. Trong mấy ngày rỗi rãi này, chúng tôi thường la cà mấy phố trong tỉnh chơi. Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh của chúng tôi và Tiểu Khu đều nằm xa phố chợ vì vậy nếu muốn ra chợ, chúng tôi phải xem có ai ra đó thì mới xin đi theo được. Ra tới chợ rồi mới thấy rằng cái tỉnh Kontum này rất
sạch. Sạch sẽ hơn Pleiku nhiều. Đất ở trên này là đất cát trắng chứ không là đất đỏ như ở Pleiku nên đường xá trông đẹp con mắt lắm. Lên đây rồi, tôi cũng có ý muốn tới thăm nơi ngày xưa anh tôi đã đóng quân, nhưng tiếc thay là tôi đã không gặp một sĩ quan Biệt Động Quân nào thành ra không thực hiện được cái ý định đó. Chính ở trên Kontum này mà tôi đã chụp được một tấm hình “Th. Úy” rất đẹp, tiếc rằng tôi đã đốt nó đi mất khi… VC vào Sài Gòn năm 1975 rồi !!! Hơn nữa, chúng tôi cũng không ngờ là chúng tôi đã được Đại Úy Bửu Hạp, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh đã cho hai đứa chúng tôi nhận giấy giải ngũ và ra về trước ngày mà chúng tôi được chính thức một tháng. Sau khi trả hết quân dụng cho Tiểu Đoàn và nhận giấy giải ngũ, chúng tôi đã được dự một bữa tiệc tiễn hành do Tiểu Đoàn tổ chức với Chủ Tọa là Đại Úy Bửu Hạp. Trong bữa tiệc này Đại Úy có nói với chúng tôi là: "Tôi biết là các ông sắp giải ngũ mà khi sắp giải ngũ thì hay xẩy ra những chuyện đáng tiếc lắm, nên tôi đã đưa các ông về đây sớm để cho các ông được an toàn và tôi cũng được an tâm nữa. Trên nguyên tắc thì tháng này mới chỉ là tháng phép của các ông, nhưng chẳng lẽ tháng sau tôi lại bắt các ông ra đây một lần nữa để lấy giấy giải ngũ hay sao, nên tôi đã ký giấy giải ngũ cho các ông ngay từ bây giờ chứ chẳng phải là có gì đặc biệt với các ông đâu". Rồi vì tôi là người lớn tuổi hơn anh Toàn, nên tôi đã phải đứng lên ngỏ lời cảm ơn các vị sĩ quan trong tiểu đoàn, trong lời đáp từ tôi có đặc biệt cảm ơn sự lưu tâm của Đại Uý Bửu Hạp. Trong khi nói những lời cảm ơn đại úy, tôi đã tỏ ra hơi lúng túng, giọng nói thì nghẹn ngào. Phải thú thật là tôi chưa bao giờ thực sự bị xúc động đến như vậy.
Chương 10 Giã Từ Vũ Khí 1- Trở lại đời sống dân sự. Hôm sau, mấy anh trong tiểu đoàn đưa hai đứa chúng tôi ra sân bay để xin hai chỗ cho chúng tôi về Sài Gòn. Nhưng khi ông trung sĩ coi sân bay trông thấy chúng tôi mặc quần áo dân sự đã bảo chúng tôi là muốn lên phi cơ quân sự thì phải là quân nhân mới được, nghĩa là phải mang quân phục. Thế là anh trung úy, người vừa mới đưa chúng tôi ra sân bay lại phải đưa chúng tôi trở lại tiểu đoàn để chúng tôi xuống Ban Tư mượn lại mỗi người một bộ đồ số 2 mang vào. Sau đó anh trung úy này lại đưa chúng tôi ra sân bay để chúng tôi chờ. Với bộ đồ số hai, không có cấp bậc, cũng chẳng có huy chương, chúng tôi lúc đó trông giống như hai tên binh nhì được đi nghỉ phép! Chừng nửa giờ sau là chúng tôi được lên một chiếc Caribou về Sài Gòn. Khi tới sân bay của Phi Trường Tân Sơn Nhất, khu quân sự, chiếc phi cơ hạ cánh cho chúng tôi xuống. Mấy sĩ quan Mỹ thì có xe Jeep ra đón còn chúng tôi thì dĩ nhiên là không có ai ra đón cả, mà chúng tôi cũng không dám xin đi nhờ xe của mấy anh bạn sĩ quan Mỹ vì lúc đó chúng tôi chỉ là hai tên binh nhì, nên chúng tôi đã quyết định là đi bộ ra cổng cho yên chuyện. Chúng tôi cũng không ngờ là hôm ấy đã phải đi xa đến thế. Chúng tôi đã phải mất đến gần nửa giờ mới ra tới cổng trại Phi Long. Thấy chúng tôi vai mang ba lô lếch thếch từ trong sân bay đi ra, toán lính gác ở cổng trại đã tròn mắt ra nhìn chúng tôi, chắc là họ thắc mắc về sự xuất hiện gần như bất ngờ của chúng tôi, binh nhì gì mà lại đi nhờ được phi cơ của Mỹ và đã đến đây rồi thì sao lại chẳng có ai cho xe ra đón rước thế này! Qua được cổng trại rồi là chúng tôi đã kiếm xe taxi để về nhà, về đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Nhà tôi thì ở gần rạp Ciné Văn Cầm còn anh
Toàn thì ở trong Ngõ Hàng Goòng, ngõ này ở một bên đường Võ Di Nguy, phía bên kia là đường Nguyễn Minh Chiếu (hiện nay, tôi và anh Toàn đều đang ở Mỹ, tôi thì ở San Francisco, California, còn anh Toàn thì ở bên Mesa, Arizona) Cho tới lúc này, nếu tôi phải dùng đường hàng không để di chuyển thì tôi chỉ toàn được đi phi cơ quân sự không, chưa bao giờ tôi được trèo lên một chiếc phi cơ dân sự cả. Lần di cư vào Sài Gòn, tôi đã được phi cơ quân sự Pháp đưa tôi đi từ Phi Trường Gia Lâm. Và khi đã là lính thì phần lớn là đi trực thăng, đầu tiên là L-19 khi học quan sát bằng phi cơ khi còn ở Dục Mỹ, rồi chiếc trực thăng qủa chuối H-26 đã đưa tôi và vài người lên đồi 390, sau đó là mấy chiếc HU hoặc Chinook…, cuối cùng là chiếc máy bay vận tải Caribou chở tôi và anh Toàn từ Kontum về Tân Sơn Nhất vào cuối tháng 6 năm 1966. Từ đó thì tôi không còn có cái hân hạnh là được trèo lên một chiếc phi cơ quân sự nào nữa. Phi cơ quân sự thì không được đi nữa, nhưng quần áo lính thì tôi lại phải mặc thêm một lần nữa. Đúng là cái "số", nó bắt phải như thế. Khi trút bỏ quần áo lính, trả lại cho Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh, tưởng đã là xong. Thế mà lúc ra tới Sân Bay để xin phi cơ về Sài Gòn, họ lại bắt tụi tôi phải mặc quần áo lính vào thì mới được trèo lên phi cơ. Thành ra dù đã giải ngũ rồi, chúng tôi lại vẫn bị bắt buộc tái ngũ bởi cái biến cố Tết Mậu Thân sau khoảng một năm rưỡi được tự do. 2- Làm đại diện sinh viên tại Đại Học Xá Minh Mạng và dạy học tại quận Nhơn Trạch. Trong một năm rưỡi tự do này, tôi đã trở lại cư ngụ trong Đại Học Xá Minh Mạng, ra ứng cử làm ssại diện cho sinh viên trong Đại Học Xá theo lời khuyên của anh em, nhất là của anh Nguyễn Thanh Hùng (anh là một kỹ sư Hoá Học của miền Bắc, vượt tuyến vào Nam năm 1958 qua đường Lào. Anh Thanh Hùng này đã là người ngâm thơ cho Đài Phát Thanh Sài Gòn trong mục Tao Đàn, tiếng nói thi, văn kim cổ miền đất Tự Do).
Tôi còn nhớ là vào cuối tháng 12 năm 1966 và vào một tối thứ Bẩy trước ngày anh em Sinh Viên Đại Học Xá Minh Mạng bầu cử các chức vụ Đại Diện Sinh Viên và Thủ Quỹ cho Quán Cơm của họ, anh Thanh Hùng đã kéo Trịnh Công Sơn và Khánh Ly vào Đại Học Xá để làm một đêm "không ngủ" hầu giúp tôi thành công trong vụ bầu cử ngày Chủ Nhật hôm sau). Trong thời gian này, tôi cũng xin đi làm tư nhân dạy giờ cho một trường Trung Học ở Quận Nhơn Trạch, Biên Hòa. Hiệu Trưởng trường Trung Học Ngô Quyền ở Biên Hoà là ông …Bảo coi luôn cái trường ở quận Nhơn Trạch này. Mỗi lần tôi muốn tới quận Nhơn Trạch, tôi thường đi cái xe Lambretta cũ NA 1112A của tôi sang Cát Lái, chạy qua cái bâtiment của kho đạn mà tôi đã nằm ở đó mấy năm về trước, rồi qua phà. Sau khi qua phà, tôi còn phải đi thêm vài cây số nữa mới tới được cái trường mà tôi đã nhận dạy. Có một lần trên đoạn đường này, tôi đã gặp lại anh chàng Toản mà khi xưa đã làm tài xế xe Jeep cho Thiếu Úy Thinh, lúc này chú ta đã dời Pháo Binh về làm Địa Phương Quân ở quận này. Hôm tôi gặp chú ta là hôm chú ta đang gác trên con đường mà tôi phải qua để đến trường. Hôm đó chú Toản này đã dơ tay lên nghiêm chỉnh chào tôi, miệng thì hô "Chào thiếu úy". Tôi phải nói ngay với chú ta rằng: "Này, em nên biết rằng tôi đã giải ngũ rồi nhé, hơn nữa em gọi tôi như thế, tụi Việt Cộng nó để ý thì rất nguy cho tôi đó. Lần sau chỉ nên kêu “Chào Thày” thôi là được rồi". Nói thì nói thế, chứ thực ra tôi cũng chẳng sợ gì tụi Việt Cộng ở đây hết, con đường này gần kho đạn Cát Lái thì không an ninh sao được! Vả lại mỗi tuần tôi cũng chỉ sang đây có 2 ngày để dạy mỗi ngày 4 giờ về môn Toán cho lớp đệ Tứ thôi. Nhưng cuối cùng thì dạy ở đây cũng không được bền vì Biến Cố Tết Mậu Thân vào đầu năm 1968. 3- Tái ngũ vì biến cố “Tết Mậu Thân”. Cái vụ Việt Cộng vi phạm trắng trợn vào Hiệp Ước Ngừng Bắn trong
dịp Tết đã khiến tôi bị kêu tái ngũ. Có điều là lần này tôi đã trình diện tái ngũ tại Bộ Giáo Dục để đi làm Huấn Luyện Viên dạy Quân Sự Học Đường cho Sinh Viên Thủ Đô Sài Gòn theo thông cáo của Bộ Quốc Phòng. Cái thông cáo này đã được phổ biến trên hệ thống Truyền Hình, Truyền Thanh, kêu gọi các cựu quân nhân sinh từ 1935 trớ về sau phải ra trình diện tái ngũ, những ai là Sinh Viên hay Giáo Chức thì trình diện ở Bộ Giáo Dục. Lúc đó tôi vừa là sinh viên vừa là giáo chức, dù chỉ là Tư Nhân Dậy Giờ mà lại sinh vào năm 1935 (trên giấy tờ) nên tôi đã phải đi trình diện tái ngũ tại Bộ Giáo Dục. Cho tới lúc đó, tôi vẫn chỉ là thiếu úy thâm niên, trong khi các sĩ quan khóa đàn em của tôi, Khóa 15, Khóa 16 đã là trung úy. Khóa 14 chúng tôi chỉ còn thiếu hai tháng nữa mới đủ hai năm thiếu úy thực thụ, nghĩa là còn phải hai tháng nữa chúng tôi mới có thể là trung úy. Sĩ auan khóa đàn anh nay lại trở thành sĩ quan đàn em. Trớ trêu thế đấy! Mà muốn lên trung úy, chúng tôi phần lớn đã phải tự làm đơn lên Bộ Tổng Tham Mưu. Các vị thiếu tá, đại úy về coi chúng tôi thì một phần là họ cũng bỡ ngỡ chẳng hiểu gì về vấn đề này, phần nữa là họ đã không được chỉ thị gì từ cấp trên cả, nên họ đã không biết làm gì hết. Chính bản thân tôi, tôi cũng đã phải tự làm đơn xin thăng cấp rồi tự đi lên Tổng Tham Mưu nộp cho phòng quân số, sau đó tôi còn phải theo dõi và đã phải tự lên lấy quyết đinh thăng cấp. Vì vậy, khi đã cầm được quyết định này rồi là tôi tự động mang lon lấy, rồi sau đó mới đưa quyết định cho anh Sĩ Quan coi Ban IV để anh ta làm lương, chứ không đưa cái quyết định ấy cho ông thiếu tá đang coi tụi tôi. Ông thiếu tá này lúc đó đã không thể gắn cấp bậc cho tôi được vì có ai gửi cái quyết định thăng cấp của tôi cho ông đâu để ông có thể đưa ra trước mặt mấy tên trung úy, thiếu úy mới tái ngũ chúng tôi và đã như thế, thì làm sao ông dám gắn thêm cấp bậc cho tôi đây! Lúc đó chúng tôi đang đóng ở trường Trung Học Pétrus Trương Vĩnh Ký. Lúc đầu, tôi đã xin về trường Đại Học Khoa Học, tôi đã tính là sẽ ghi tên học cái lớp “Toán Học Đại Cương” ở đây, nhưng về sau tôi lại bị chuyển
sang trường Pétrus Ký ở bên cạnh rồi cuối cùng thì về ở hẳn trong Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (lúc này đã dọn về đường Trần quốc Toản). Gọi là dạy quân sự cho sinh viên nhưng thực ra là trong mấy ngày đầu, chúng tôi chỉ dạy qua loa về mấy động tác của Cơ Bản Thao Diễn và cho dù có phát súng Carbine loại M-1 cho họ, nhưng hình như chúng tôi chỉ dạy họ cách tháo ráp khẩu súng đó một cách qua loa thôi. 4-Tinh thần rất cao của anh em sinh viên Sài Gòn. Nhìn quang cảnh tại các phân khoa đại học Saigon mấy hôm đó, mọi người mới thấy là tinh thần của sinh viên Sài Gòn lúc đó lên rất cao. Họ đã tự ý đến trường rất đều đặn để dự những lớp huấn luyện do chúng tôi phụ trách. Nói chung thì phần lớn dân chúng ở Sài Gòn, ai ai cũng đều muốn góp sức với chánh quyền để tiêu diệt lũ côn đồ Cộng Sản. Những người như tôi chẳng hạn, nếu muốn thì cũng có thể không bị tái ngũ, vì tôi gần như là đứa con trai duy nhất còn lại trong gia đình: Anh tôi đã tử trận từ năm 1962, có một thằng em thì nó vừa bị tê liệt vừa bị mù. Nếu tôi nộp đơn xin miễn tái ngũ thì chắc chắn là được nhưng tôi vẫn ra trình diện tái ngũ để lại trở thành một tên lính như mọi người. Tôi còn nhớ là lúc đó anh Toản, một anh bạn khi xưa đã ở cùng dẫy trong Đại Học Xá Minh Mạng mà chúng tôi hay gọi là Cò Toản vì sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Luật, anh đã thi vào Cảnh Sát và nay đã ra trường và làm trong Cảnh Sát với chức vụ gì đó mà tôi không biết, Cỏ Toản có nói với tôi rằng: “Ông bảo ông Tam, anh của ông, xin cho ông vào, thì khỏi phải lại đi lính!”. Ông Tam, anh của tôi mà Cò Toản nói đây, là ônh Nguyễn Hồng Nhuận Tam (về sau tự ý đổi là Tâm), con ông bác tôi là ông Phó Chưởng Lý Tòa Thượng Thẩm Saigon Nguyễn Mạnh Nhụ, anh đang làm trong Tổng Nha Cảnh Sát, hình như đang làm Chánh Sự Vụ Sở Nghiên Cứu, Kế hoạch thì phải. Anh Tam mà xin cho tôi thì chắc chắn là tôi sẽ trở thành một Biên Tập Viên Cảnh Sát rồi, nhưng tôi đã trả lời anh Cò Toản này ngay lúc đó là: “Đi lính chết thì thôi, chứ tôi không muốn là Cảnh Sát". Bây giờ, nghĩ lại mới thấy rằng mình lúc đó đã hơi bất lịch sự với anh Cò Toản này, đáng lẽ là tôi cứ ừ ào cho qua chuyện, rồi không nói với
ông anh họ mình là xong, chứ việc gì phải trả lời một cách bất lịch sự như vậy! Tinh thần của anh em sinh viên đại học không những chỉ thể hiện bằng cách đến trường đều đặn để được huấn luyện quân sự mà còn được biểu lộ qua việc họ đã đến trường để được mang súng đạn đi vào Chợ Lớn, nằm trấn trong vài căn nhà của dân chúng (dĩ nhiên là nhà mấy người Tầu) ở gần mấy con kênh, con rạch như ở bến Chương Dương hay bến Hàm Tử chẳng hạn. Trong mấy ngày này, những sinh viên Đại Học Saigon của chúng ta không phải chỉ đến để được tập họp ở trước cổng trường của mình rồi xếp hàng vừa đi vừa đếm 1, 2, 3, 4, 1, 2, 1, 2... trên những con đường đầy an toàn như họ nghĩ nữa. Ít ra là đã có một lần, trong khu vực mà tôi và Thiếu Úy Đồng cùng với 11 hoặc 12 sinh viên do tôi làm trưởng nhóm, Thiếu Úy Đồng làm phó, đã có lộn xộn xẩy ra. Hôm đó chúng tôi được chỉ định lên trên sân thượng khá cao trong một căn nhà một gia đình người Hoa, để nhìn xuống đường quan sát. Sáng hôm đó, sau khi tôi đã sắp đặt vị trí quan sát cho từng sinh viên và cũng đã có dặn hờ cho mọi người là khi thấy bóng dáng tụi Việt Cộng ở dưới đường thì phải báo động cho mọi người cùng biết. Nhưng tuyệt đối không được nổ súng bắn hoảng bắn tườu. Các anh chỉ được nổ súng khi tôi hoặc Thiếu Úy Đồng bảo bắn. Tôi nói là dặn hờ vì tôi nghĩ rằng làm gì còn Việt Cộng trong Thành Phố này nữa, chúng đã bị quân lính của ta dẹp hết rồi còn đâu. Vì đã nghĩ như vậy nên sau khi phân bố anh em xong, tôi liền bỏ đi tìm một anh bạn, cũng đang coi một nhóm sinh viên ở một con đường gần đó, để tán dóc chơi. Trong khi chúng tôi vừa mới nói với nhau được vái câu thì có tiếng súng nổ tại khu của tôi, thế là anh bạn tôi thì vội vàng trở lên với các sinh viên trong toán anh ta, còn tôi thì trước hết là lên đạn khẩu Carbine của tôi rồi sau đó men theo mấy căn nhà mà về chỗ của chúng tôi. Cũng may là khi tôi mò về thì anh em sinh viên từ trên cao đã thấy nên
đã có anh xuống mở cửa cho tôi vào. (Lúc đó mọi nhà đều tự động đóng cửa lại ngay khi nghe thấy có tiếng súng của Việt Cộng nổ, tên Việt Cộng này thực ra là muốn nhắm bắn vào ai, hoặc vào cái gì thì chúng tôi không biết vì ngay sau đó thì Cảnh Sát Dã Chiến đã tới lục soát, để rồi đã chẳng thấy một tổn thất vật chất bé nhỏ nào cả. Anh em sinh viên thấy tôi khơi khơi đi về như vậy nên chịu lắm và đã có nói là “Thiếu úy can đảm thật!”. Họ đâu có biết rằng một vài tiếng súng lẻ tẻ này đâu có hù được tôi, hơn nữa cho dù có thêm nhiều tiếng súng nổ đi nữa thì tôi cũng vẫn phải mò về để lo cho anh em chứ, tôi là trưởng nhóm mà! Đúng như tôi đã lo, trở lại đây rồi, tôi đã thấy Thiếu Úy Đồng của tôi đang tái xanh, tái xám, quýnh quáng lên (hình như anh Đồng này lúc trước chỉ là Sĩ Quan Văn Phòng thôi, nghĩa là chưa ra trận bao giờ thì phải). Anh đã bắt các sinh viên phải vào vị trí của mình, lên đạn và chĩa súng xuống dưói đường. Thấy tình trạng đó, tôi vội vã bảo các anh em tháo gắp đạn trong súng ra, lấy cả viên đạn trong nòng súng ra nữa rồi chĩa súng lên trời bắn 2 phát an toàn, sau đó về lại vị trí của mình và nhìn xuống đường xem các anh em Cảnh Sát Dã Chiến làm việc. Hôm trước xẩy ra sự việc như vậy mà hôm sau các anh em sinh viên vẫn đến trường trình diện đầy đủ chứ không sợ hãi gì hết, điều đó đã chứng tỏ là tinh thần của họ rất cao có phải không các bạn! Cuộc hành quân trình diễn kiểu đó được vài hôm rồi cũng chấm dứt, chúng tôi lại tiếp tục trình diễn cách huấn luyện quân sự cho sinh viên tại các trường của họ. Tôi thì vẫn ở lại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và phụ trách huấn luyện quân sự cho các sinh viên của Học Viện. Trong thời gian này, các sinh viên cứ sáng tới, chiều về. Sáng sớm, họ tới trường, ăn sáng tại đây và vứt giấy gói bánh mì, lá chuối gói sôi đầy sân trường. Thấy thế ông Thiếu Tá coi chúng tôi đề nghị chúng tôi tìm biện pháp hòng chấm dứt tình trạng này. Sáng hôm sau, trước khi thực tập những động tác quân sự thường lệ, tôi đề nghị: - Tất cả các sinh viên hãy xếp hàng ngang ở một đầu sân vận động rồi từ từ tiến về đầu sân bên kia, vừa đi vừa cúi xuống nhặt tất cả rác rến trên
đường đi của mình. Dĩ nhiên là các sinh viên đã phải làm y như tôi nói, nhưng tôi chợt thấy một anh sinh viên Q.G. Hành Chánh Khóa 14 ở đây nói với mấy bạn mình là: “Tụi nó ngu dốt mới vào lính mà chưa gì đã làm phách, bắt tụi mình phải thế này thế nọ”. Nghe thấy thế, tôi lại ngay anh ta và nói với anh chàng này rằng: “lát nữa, vào giờ giải lao, anh đến hỏi anh Minh, người phát lương cho các anh hàng tháng ấy, xem là anh ấy có biết Thiếu Úy Khôi là ai không rồi mai trả lời cho tôi nhé.” Sáng hôm sau, tôi không thấy cậu sinh viên Khóa 14 đó gặp tôi, chắc chắn là cậu ta đã biết tôi là ai đối với cái trường này rồi. Tôi vẫn cho họ đi nhặt rác như hôm trước, có điều là trước khi làm việc này, tôi đã nói cho họ biết là: “Cái trường này là trường của các anh, dù các anh chỉ học ở đây có 2 năm thôi, thì nó vẫn là trường của các anh, không phải là trường của chúng tôi. Các anh làm sạch cái trường này là các anh tự làm đẹp cho chính các anh chứ không phải là làm đẹp cho chúng tôi và các anh nên biết rằng tình trạng này sẽ chóng qua và chúng tôi sẽ không còn ở đây nữa đâu. Các anh bây giờ đã lớn rồi và sau này ra trường các anh lại sẽ giữ những chức vụ chỉ huy nữa, nên làm gì, nói gì cũng phải suy nghĩ cho chín chắn rồi mới nói, mới làm nhé !” 5- Xin biệt phái ngoại ngạch. Thế rồi tình hình được ổn định lại, các trường học phải cho mở lại và chúng tôi đã dời trường Quốc Gia Hành Chánh để về đóng tại trường Trung Học Pétrus Ký. Về đây được ít lâu thì không biết anh bạn nào đã có ý kiến là: Chúng ta đã chiến đấu 4 năm rồi, nay là lúc phải nhường chỗ cho những người khác để họ ra chiến đấu cho được công bằng chứ! Sau đó là có phong trào xin biệt phái ngoại ngạch để những sĩ quan mà họ đã từng làm ở công sở nào thì xin lại được trở về làm việc tại công sở đó như nhà giáo thì được trở lại làm việc cho Bộ Giáo Dục.
Tôi cũng tích cực tham gia phong trào xin biệt phái này vì thấy ý kiến trên rất xác đáng. Nhưng tôi sẽ xin về trường nào đây? Chẳng lẽ lại xin về trường ở quận Nhơn Trạch hay trường Ngô Quyền ở Biên Hòa? Tôi có nêu cái thắc mắc này với anh Oanh, anh này ở ngoài tuổi bị tái ngũ và đang làm giám thị cho trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội, thì anh có nói rằng: - Nếu cậu muốn ở Sài Gòn thì cậu phải khai là đang làm Giám Thị cho trường Nguyễn Trãi, rồi tao bảo thằng Đàm nó xin về cho. Trường này đang cần một giám thị đấy, chứ khai là giáo sư của trường thì không được vì cậu đâu có dạy ở cái trường này bao giờ. Ai đã dạy học ở Sài Gòn thì phải có tên trên Bộ chứ, khai bậy là không xong rồi. Tôi liền trả lời: - Giám thị thì giám thị có sao đâu, miễn là được ở Saigon là tốt rồi, bạn nói với tên Đàm xin cho tôi nhé!”. Đàm này là anh Phạm Văn Đàm, Hiệu Trưởng Nguyễn Trãi, ngày xưa vào niên khóa 1955-56, anh học Chu Văn An lớp Đệ Nhất B-2 trong khi tôi học ở Đệ Nhất B-3 cùng trường. Anh đã học Sư Phạm ngay còn tôi thì lại chê cái nghề này để bây giờ lại phải nhờ anh ta. Thế là từ đó tôi quyết định xin về trường Nguyễn Trãi vì đang làm giám thị ở đây! Cuối cùng thì đơn thỉnh nguyện của tôi được chấp thuận và tôi được biệt phái ngoại ngạch về trường Nguyễn Trãi qua Bộ Giáo Dục. Bộ Trưởng Bộ này là ông Tăng Kim Đông đã ký vội quyết định cho chúng tôi trước khi ông ta dời nhiệm sở. Thế là từ tháng 9 năm 1968, tôi về Nguyễn Trãi làm giám thị và đồng thời nhận dạy Toán cho mấy lớp Đệ Nhất Cấp của trường này với tư cách của một tư nhân dạy giờ cho đến khi đi tù cải tạo, tức là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Miền Nam Việt Nam bị Đồng Minh Mỹ bán đứng cho Cộng Sản sau khi đã bắt tay được với Trung Cộng. Trong cuộc đời lính tráng của tôi, chỉ có bốn năm đầu tôi mới thực sự là
lính trận còn tám năm sau tôi chỉ là một công chức quèn ở hậu phương dù có khoác áo lính. 6- Những gì thu hoạch được trong đời lính Xin điểm lại những gì tôi đã thu hoạch được, những gì trong 4 năm tác chiến đó. - Về huy chương thì tôi đã có được 5 cái tất cả: 2 huy chương bạc và 3 huy chương đồng. Những huy chương này tôi đã được cấp trong những trường hợp hơi không hợp lý. Thật thế, lý do để cấp cái huy chương bạc đầu tiên cho tôi là tôi đã có công trong trận mà tôi đã đi với Đại Đội 5 Thám Báo và suýt chết trong Chiến Khu Đ; cái huy chương bạc thứ hai thì đã được trao cho tôi sau trận mở màn ở Dầu Tiếng. Trong 2 trận trên chúng tôi chỉ thua không, thế mà tôi lại được cấp huy chương đấy! Còn 3 cái huy chương đồng thì tôi đã không nhớ được là chúng đã được cấp cho tôi trong trường hợp nào nữa, nhưng chắc chắn là không phải vì chúng tôi đã thắng trận. Trong 4 năm làm lính chiến, tôi không bao giờ mong muốn có được bất cứ một cái huy chương nào cả, thế nhưng chính nhờ những cái huy chương này mà tôi được thăng cấp đại úy sau này, khi tôi đang là sĩ quan biệt phái ở Bộ Giáo Dục. Điểm thứ 2 mà tôi thu nhận được khi làm Sĩ Quan Tiền Sát là việc tôi nói năng vừa phải, không còn vội vàng hấp tấp như trước kia nữa. Nói chuyện trực tiếp với nhau mà nói nhanh thì khó cho người nghe rồi, còn nói chuyện qua máy mà nói nhanh thì tiếng nói sẽ bị biến dạng đi, không ai có thể biết là mình nói gì nữa. Muốn gửi điện văn xin bắn mà không nói chậm rãi rõ ràng là không được. Các bạn cứ thử nói nhanh qua điện thoại xem người nghe sẽ thấy thế nào. Điểm thứ ba, cũng là quan trọng nhất mà tôi đã thu hoạch được từ các
chiến trường là lạnh cẳng. Nói đúng ra là lạnh hai gan bàn chân, thành ra cho tới bây giờ tối nào tôi cũng phải mang tất (vớ) đi ngủ, ngay cả lúc nằm trong mấy trại Cải Tạo! Ngày xưa, ở trường Pháo Binh Dục Mỹ, không biết vị Sĩ Quan Huấn Luyện Viên nào đã nói với chúng tôi là khi đi hành quân thì phải luôn luôn mang theo 2 đôi tất theo để mang đôi tất khô lúc đi ngủ. Tôi đã làm như vậy nhưng tất khô mà giầy ướt thì cũng như không vì gần như đêm đêm chúng tôi đã phải mang giầy mà ngủ. Kết qủa là bây giờ phải lãnh đủ! Bây giờ nhớ lại 4 năm chiến đấu đó, tôi thấy rằng mình qủa là đã may mắn hơn rất nhiều người. Trong Khoá 14 Pháo Binh của tôi thì nghe đâu là đã có nhiều anh em rũ áo ra đi từ mặt trận. Riêng ở Pháo Đội B/51 Pháo Binh thì các Thiếu Úy Quýnh, Thiếu Úy Hoà đã ra đi hơi sớm. Trung Đội Trưởng 2B Hoàng Chính của tôi thì nghe nói là anh ta đã bị tù vì đã nóng tính gây gổ rồi bắn què một binh sĩ của mình, anh bị tù bao lâu và tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh ta đang ở đâu cũng như đang làm gì và nhất là cuối cùng anh ta có ra khỏi được cái miền đất Việt Nam Cộng Sản để tới được một nơi của thế giới tự do hay không, thì tôi đã không nghe thấy ai nói đến. Trung Đội Trưởng 1B Trần Văn Thinh thì cả gia đình đã bị chết khi anh là đại úy pháo đội trưởng của một pháo đội đóng ở một quận nào đó trong một tỉnh, không biết có phải là tỉnh Mỹ Tho hay không nữa! Nghe nói là hôm đó anh đã lên tỉnh để lãnh lương cho pháo đội. Chắc anh ta đã cho rằng con đường từ Quận đó lên Tỉnh rất an ninh, nên anh đã chất cả vợ con lên xe để cho họ ra tỉnh chơi luôn thể, nhưng đến khi mang tiền lương của pháo đội về thì trên đường đi, đã bị một số người có súng chặn lại cướp hết tiền và hạ sát toàn bộ gia đình anh để phi tang. Sau này có dư luận cho rằng đám cướp đó chính là mấy tên dân vệ, chúng đã giả dạng Việt Cộng để đánh cướp và vì có lẽ đã bị anh nhận mặt nên cho chắc ăn, chúng đã giết hết cả nhà anh!
Đại Úy Của thì đã lên đại tá, làm tỉnh trưởng Bình Dương hay Long Khánh gì đó nhưng đã chết trong tù Cải Tạo ở miền Bắc. Riêng về chú Lý Văn Lời thì sau khi hết hạn quân dịch, hắn lại không muốn trở về quê cũ của hắn nữa mà đã đăng vào Thủy Quân Lục Chiến để rồi trở thành thương phế binh vì đã bị què, đến lúc này thì hắn phải bị giải ngũ. Hồi có phong trào thương phế binh chiếm đất, cắm dùi ở Saigon (có thể là do ông Phó Tổng Thống râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ phát động để gây khó dễ cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thì phải) lúc đó tôi đã là trung úy và đang làm tại trường Nguyễn Trãi và dạy học tại mấy tư thục ở Sài Gòn, tôi đã gặp tên Lời này trong một tiệm ăn ở cạnh chợ Phú Nhuận khi tôi vào đó ăn tối, để rồi còn về chấm mấy bài thi của học sinh. Chú Lời cũng vào đó ăn, nên đã gặp tôi, chú ta bèn kéo tên bạn của chú ta, cũng là một thương phế binh, đến ngồi vào bàn tôi, giới thiệu tôi với anh bạn kia và nói một cách trịnh trọng rằng: “Thiếu úy muốn giết ai, cứ bảo em, tụi em sẽ giết tên đó cho thiếu úy. À, hôm nay tụi em đãi thiếu úy”. Tôi phải nói là: “Ừ, thế thì tốt, hiện thời thì chẳng có kẻ nào dám gây với tao hết, khi nào cần, tao sẽ kêu chú mày”. Ăn xong, tên Lời này đãi tôi thật, chú và tên bạn của chú ta ra chỗ trả tiền nhưng không trả gì hết mà chỉ nói gì đó với tên Tầu ngồi thu tiền rồi ung dung bước ra. Thấy vậy tôi biết ngay là chuyện gì đã xẩy ra và tôi phải ra quầy hàng đó để trả tiền nhưng người chủ này xua tay lia lịa bảo rằng mấy người kia đã trả hết rồi. Tôi phải bảo ông ta rằng: "Chúng là lính của tôi đó, ông đừng sợ gì cả, cứ lấy tiền đi. Nếu chúng có nói gì thì ông bảo chúng lại tìm tôi ở mà hỏi". Lúc đó ông ta mới dám nhận tiền. Tôi chỉ gặp tên Lời này có một lần đó ở Sài Gòn thôi. Về sau vì bận kiếm tiền bằng cách nhận dạy tư thêm tại các trường Nguyễn Bá Tòng ở đường Bùi Thị Xuân Sài Gòn, Đắc Lộ ở Ngã Tư Bẩy Hiền ..., chạy hết từ trường này đến truờng kia, hết công đến tư, nên đã không có thì giờ để nghĩ đến anh Lời này nữa. Không biết hiện nay chú ta đã ra sao. Câu chuyện lính tráng của tôi đến đây xin tạm ngưng và chân thành xin
các bạn chỉ ra cho tôi biết những điều thiếu sót hoặc sai lầm trong câu chuyện này để tôi có thể sửa chữa. Ở đây, tuy phần lớn nói về Pháo Binh nhưng các bạn hẳn đã thấy rằng tôi chỉ nói về công việc của một Sĩ Quan Tiền Sát cùng với mấy tên lính trong cái toán nhỏ nhoi của hắn thôi, chứ không nói gì về sinh hoạt của những người được kêu là Pháo Thủ cả, vì những người này phần lớn là những kẻ đi theo súng, nằm với súng ở một nơi tương đối an toàn, với ít ra là có một chi đội M-113 bảo vệ dù đang ở một nơi nào đó gần tỉnh, trong khi đó thì tôi lại chưa bao giờ có dịp được làm trung đội trưởng để được ở hậu cứ với họ, hòng quan sát những sinh hoạt của những người được ở lại với súng này. Đây cũng là một điều tốt lành cho tôi vì thật ra thì có lẽ là tôi không có tài chỉ huy. Nói cho đúng ra là tôi có nhu nhược, hay cả nể và… không thể tỏ ra cứng rắn khi ra một cái lệnh nào đó cho binh sĩ dưới quyền của mình được. Hơn nữa với cái tính gàn bướng và không biết nịnh nọt của tôi thì ông Tiểu Đoàn Trưởng nào lại muốn cho tôi làm trung đội trưởng vào thời gian này đây! Hết. Viết tại Mỹ sau khi đã dời Sài Gòn ngày 27-04-1990 và sang tới San Francisco ngày 04 tháng 5 năm 1990 NGUYỄN VĂN KHÔI San Francisco, ngày 25 tháng 6 năm 2006. (Chân thành cảm ơn bạn Phạm văn Tuấn, người đã trình bày lại cuốn sách cho tôi, em Huỳnh Phi Long, bạn Phạm Bá Đường và bạn Trần Ngọc Thế đã chỉ cho tôi nhiều chỗ sai lầm để sửa lại Đặc biệt xin cảm ơn anh Lư Diệp người bạn cùng khóa 14 Thủ Đức và cựu Đại Tá Pháo Binh Hồ Sĩ Khải, vị tiểu đoàn trưởng Pháo Binh đầu tiên của tôi, về việc đã cho tôi biết rằng người đã thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu là Đại Tá Đặng Thanh Liêm chứ không phải là Đại
Tá Trần Thanh Phong.) Xin các bạn đã đọc các bản trước tha lỗi Minh Cảnh Trích đoạn bài viết của Hội Viên Thuần Phong THUẦN PHONG Chương 5 Hành Quân vào Chiến Khu Đ 1- Suýt bị lôi thôi vì bắn quấy rối. Vào cuối năm 1965, tôi được nghỉ tại chỗ chừng vài ngày rồi lại phải đi làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 1/7 của Đại Uý Phúc. Lần này chúng tôi tới làng… bên cạnh quốc lộ 1 gần Hóc Môn. Đây là một làng của chính quyền miền Nam nhưng lại không được an ninh cho lắm nên chúng tôi có bổn phận tới lập lại an ninh cho làng này. Sau khi tiến vào làng, bộ chỉ huy Tiểu Đoàn chọn cái đình của làng này làm nơi tạm trú. Lúc này là lúc tôi phải bàn với Đại Uý Phúc để lập mấy hỏa tập quấy rối. Tôi phải biết chỗ đóng quân của các toán bộ binh ở đâu thì mới thiết lập các hỏa tập này để bắn quấy rối địch trong đêm được. Thế rồi vào khoảng 8 giờ tối hôm đó, tôi xin tác xạ vào vài hỏa tập kia. Và khoảng chừng nửa giờ sau thì chúng tôi thấy… một toán dân đốt đuốc khiêng một người bị trúng đạn Pháo tới chỗ của chúng tôi, nói là chúng tôi đã bắn phải dân làng. Đại Úy Phúc phải ra xin lỗi họ, hứa là sẽ cho chở người bị thương đi bệnh viện và sẽ không cho bắn bừa bãi nữa. .................................................. .................. Xin cho hỏi Thuần Phong (Khôi) có phải là khóa 14PB không? Tôi khóa 14 PB, về SĐ5BB nhưng ở TĐ5 Súng Cối 4.2”, sau này biến cải thành 52PB. Nếu đúng, xin IM cho tôi để mình liên lạc với nhau nhé. mc Thuần Phong
ĐÍNH CHÍNH Xin vui lòng sửa dùm vài sai lầm sau: Chương 2 Về Tiểu Đoàn Pháo Binh 1- Về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh. Mặc dù không chịu học hành gì cả nhưng ở cái trường quân sự này thì tôi không thể sortie latérale (học rớt vì thiếu khả năng) được, nghĩa là cuối khóa tôi vẫn sẽ bị gắn lon chuẩn úy, nghĩa là tôi vẫn đậu ra trường, chỉ có điều là đậu gần chót thôi. Nhưng dù là gần chót, nghĩa là không được ưu tiên chọn đơn vị, tôi vẫn được về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh ở Tam Hiệp, Biên Hòa. Có tên là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh là để phân biệt với Tiểu Đoàn 5 Súng Cối. Sau này, vào cuối năm 1964 thì phải, loại Súng Cối chuyển sang cho Bộ Binh nên Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh chuyển thành Tiểu Đoàn 51 Pháo Binh, còn Tiểu Đoàn 5 Súng Cối cũ thì trở thành Tiểu Đoàn 52 Pháo Binh với súng 105 ly. Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh này lúc này là Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu mà về sau là Tổng Thống của Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam. Tôi sang Pháo Binh vì khi tôi từ Thủ Đức về đưa đám ông anh tôi, thì Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh tại Bộ Tổng Tham Mưu... Tới khi tôi ra trường, lên Bộ Tổng Tham Mưu để nhận sự phân phối, tôi mới gặp lại ông Thiếu Tá Đông đang là trưởng phòng Quân Huấn Pháo Binh trên Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc này tôi mới biết là chính ông Thiếu Tá Đông này đã đưa tôi sang Pháo Binh và rồi đưa về Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh. Gọi là Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh vì là Tiểu Đoàn súng 105 ly thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh của Quân Đoàn 3. Mỗi Sư Đoàn Bộ Binh thời đó có 1 Tiểu Đoàn PB (105 ly),1 TĐ Súng Cối (80 ly) và 1 ….
XIN XÓA (80 LY) và THAY BẰNG (106 Ly) Chương IV Tham gia các chiến dịch khác 1-Vào chiến khu Dương Minh Châu .. .… 2-Tr. đội 2B kéo súng vào làng để yểm trợ cho C.I.D.G. ……….. 3- Tr.đ. kéo súng lên phía Bắc núi Bà Đen ... 4-Binh Nhì Quân Dịch ... Mành bị chết vì mìn … XIN XÓA TÊN (MÀNH) và THAY BẰNG TÊN (LIỄU) Những trang sau, xin thay tên MÀNH bằng tên LIỄU. Xin quý vị tha lỗi vì những bất tiện này ngày 15 tháng 5 năm 2011 THUẪN PHONG