The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-01-31 14:42:38

Lâm Vĩnh Thế Sưu Tâp 01

Lâm Vĩnh Thế Sưu Tâp 01

1 Vụ Trực Thăng MỹBắn Lầm Taị Trường Phước Ðức, ChợLớn Chiều Ngày 2-6-1968 Lâm Viñh Thế 2-6-68.- Lúc 18 giờ hơn, môṭ trực thăng Mỹbắn lầm vào bộchỉ-huy hành-quân taị đường Khổng Tử Chợ Lớn, 6 si-̃quan VNCH tử thương: Các Trung-tá Nguyêñ Văn Luâṇ , Lê Ngoc̣ Tru,̣ Phó Quốc Chu,̣ Ðào Bá Phước, các Thiếu-tá Nguyêñ Bảo Thùy và Nguyêñ Ngoc̣ Sinh. Ðaị-tá Văn Văn Của, Ðô-trưởng Sà i-Gòn, cùng Trung-tá Trần Văn Phấn cũng bi ̣ thương. (Trić h: Ðoàn Thêm. 1968: viêc̣ từng ngày. Tựa của Lãng-Nhân. Sà i Gòn: Cơ-sở xuất-bản Phạm Quang Khai, 1969. Los Alamitos, Calif.: Nhà xuất bản Xuân Thu tá i bản, 1989. Tr. 195) Trên Bâc̣ Thềm Trường Phước Ðức Ngay Sau VụTrực Thăng MỹBắn Lầm (Xuất xứ của ảnh: từ bà i viết trên Internet ở điạ chỉsau đây: https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/24486690482/in/photostream/ )


2 Sau đây là bản tin đăng trên trang 1 của nhâṭ báo Chiń h Luâṇ , số 1268, ra ngày Thứ Ba, 4-6-1968 (tức ngày Mùng 9 Tháng 5 Năm Mâụ Thân) về vụ trực thăng Mỹbắn lầm này:


3 Viêc̣ trực thăng Mỹbắn lầm này đãgây chấn đôṇ g lớn taị Sà i Gòn, taọ ra môṭ nghi án về chiń h tri ̣taị VNCH trong môṭ thờ i gian khá dà i và đến nay, gần 50 năm sau, vẫn còn là môṭ dấu hỏ i lớn trong lic̣ h sử hết sức ngắn ngủ i (1967-1975) của nền ÐệNhi ̣ Côṇ g Hòa. Bà i viết này cố gắng đăṭ vụ viêc̣ trở laị khung thờ i gian của nó và tim̀ hiểu nguyên nhân, diễn biến và hâụ quả của nó . Bối Cảnh Của VụViêc̣ Không Gian Viêc̣ trực thăng Mỹbắn lầm này xảy ra ngay taị môṭ trường trung hoc̣ của ngườ i Hoa trong Chợ Lớn (Quâṇ 5, Sà i Gòn), Trường Phước Ðức, nằm trên đường Khổng Tử , cách phiá sau nhà hàng nổi tiếng của Chợ Lớn là Soá i Kiǹ h Lâm độ chừng trên 50 m đường chim bay, như trong không ảnh sau đây: Không Ảnh Vùng ChợLớn: Trường Phước Ðức và Nhà hàng Soá i Kình Lâm Trong Vòng Tròn (Xuất xứ của ảnh: lấy từ Internet taị điạ chỉsau đây: https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/25199326986/in/album-72157663358987650/ )


4 Bản Ðồ Khu Vực Nhà hàng Soá i Kình Lâm và Trường Phước Ðức (Xuất xứ của bản đồ: lấy từ Internet taị điạ chỉsau đây: https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/25199326986/in/photostream/ ) Nhà hàng Soá i Kiǹ h Lâm vào thờ i điểm này đã bi ̣ môṭ lực lượng Viêṭ Côṇ g chiếm đóng và cố thủ . Liên Ðoàn 5 (LÐ 5) Biệt Ðộng Quân (BÐQ), gồm 3 Tiểu Ðoàn 30, 33 và 38 BÐQ, đang hành quân giả i tỏa khu vực này. Bộ ChỉHuy (BCH) lưu động của LÐ 5, đăṭ taị Trường Phước Ðức, đang lên kế hoac̣ h tấn công đánh chiếm laị tòa nhà có nhà hàng Soá i Kiǹ h Lâm, và vì vâỵ đãgoị về Bộ Tư Lêṇ h Quân Ðoàn III để xin trực thăng võtrang (gunship) của Mỹđến oanh kić h yểm trợ. Thờ i Gian Vào đầu tháng 6-1968, đợt 2 của cuôc̣ tổng tấn công Tết Mâụ Thân của phe Côṇ g sản taị Sà i Gòn đang diễn ra ác liêṭ. Một lực lượng khá lớn của Viêṭ Côṇ g đã chiếm đóng môṭ khu phố quan troṇ g của vùng Chợ Lớn, bao gồm các con phố chánh là Ðồng Khánh, Tổng Ðốc Phương và Khổng Tử . Ngày 2-6-1968, LÐ 5 BÐQ đãgiả i tỏa được phần lớn khu phố nhưng đơn vi ̣Viêṭ Côṇ g đang chiếm đóng Nhà hàng Soá i Kiǹ h Lâm vẫn cố thủ . Các tiểu đoàn của LÐ 5 BÐQ không tiến lên được. Vào lúc 6 giờ chiều, BCH của LÐ 5 BÐQ, đăṭ taị Trường Phước Ðức trên đường Khổng Tử , ngay


5 phiá sau nhà hàng Soá i Kiǹ h Lâm, bắt buôc̣ phả i kêu trực thăng võtrang của Mỹđến oanh kić h yểm trợ. Môṭ gunship Mỹđược phá i đến, đãbắn lầm một rocket vào ngay Trường Phước Ðức (thay vìbắn vào nhà hàng Soá i Kiǹ h Lâm), gây tử thương cho 6 sĩ quan cao cấp của QLVNCH: Trung Tá Ðào Bá Phước, ChỉHuy Trường LÐ 5 BÐQ Trung Tá Nguyễn Văn Luâṇ , Giám Ðốc Cảnh Sá t Ðô Thành Trung Tá Lê Ngoc̣ Tru,̣ Trưởng Ty Cảnh Sá t Quâṇ 5, Sà i Gòn Trung Tá Phó Quốc Chu,̣ Giám Ðốc Nha Thương Cảng Sà i Gòn Thiếu Tá Nguyễn Ngoc̣ Sinh, Phụ Tá Giám Ðốc Cảnh Sá t Ðô Thành Thiếu Tá Nguyễn Bảo Thùy, Chánh Sở An Ninh Quân Ðôị Ðô Thành (em ruôṭ của Trung Tướng Nguyễn Bảo Tri)̣ và làm bi ̣thương 2 sĩquan cao cấp sau đây: Ðại Tá Văn Văn Của, Ðô Trưởng Sà i Gòn Trung Tá Trần Văn Phấn, Phụ Tá Tổng Giám Ðốc Cảnh Sá t Quốc Gia Những Câu Hỏ i Không Có Câu Trả Lờ i Ðây có phả i là môṭ vụthanh toán chính tri?̣ Khi vụ viêc̣ xảy ra, lâp̣ tức có ngay môṭ luồng dư luâṇ cho rằng đây là môṭ vụ thanh toán mang tiń h chiń h tri,̣ nó i rõhơn là “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thanh toán phe Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ .” Taị sao laị có dư luâṇ này? Trước hết là vìmôṭ sự thâṭ không thể chối cả i được là tất cả những ngườ i chết đều là ngườ i thuôc̣ phe của ông Kỳ . Thứ hai là vi ̣viêc̣ này xảy ra ngay vào đúng giai đoạn ông Thiêụ bắt đầu ra măṭ đối phó và tim̀ moị cách tiêu diêṭ vây cánh của ông Kỳ . Từ tháng 3-1968, sau vụ Tổng Tấn Công Tết Mâụ Thân của Viêṭ Côṇ g, qua môṭ nhân viên CIA (Central Intelligence Agency = Cơ Quan Trung Ương Tiǹ h Báo của Hoa Kỳ), ông đãgián tiếp báo cho ngườ i Mỹbiết là ông sẽkhông để cho phe ông Kỳ tiếp tuc̣ đe doạ và phá hoaị uy quyền tổng thống hiến điṇ h của ông nữa. Ṓng nhứ t quyết loaị bỏ dần ngườ i của ông Kỳ và thay bằng ngườ i của ông. Viêc̣ đầu tiên ông thực hiện là thay môṭ loaṭ 14 tin̉ h trưởng qua chương triǹ h cả i tổ hành chánh trong tháng 3-1968. Ngày 7-5-1968, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngoc̣ Loan, cánh tay măṭ của ông Kỳ , ngườ i đang giữ cùng môṭ lúc cả 3 chức vụ troṇ g yếu về an ninh là Ðăc̣ Ủy Trưởng Phủ Ðăc̣ Ủy Trung Ương Tiǹ h Báo, Tổng Giám Ðốc Cảnh Sá t Quốc Gia và Giám Ðốc Nha An Ninh Quân Ðôị, đãbi ̣bắn troṇ g thương taị khu Tự Ðức. Trong cùng ngày 7-5-1968, Ðaị Tá Ðàm Văn Quí , Phụ Tá Tổng Giám Ðốc Cảnh Sá t Quốc Gia, cánh tay măṭ của Tướng Loan,


6 cũng bi ̣tử thương trong môṭ cuôc̣ luc̣ soá t trên đường Luc̣ Tin̉ h. Kế tiếp, lấy lý do chiń h phủ đãbất lực để xảy ra vụViệt Côṇ g tấn công vào thủ đô Sà i Gòn lần thứ hai (thường được báo chí goị là vụ Mâụ Thân đợt 2) vào đầu tháng 5-1968, ông giả i nhiêṃ Chiń h phủ Nguyễn Văn Lôc̣ và đề cử ông Trần Văn Hương thành lâp̣ chiń h phủ mớ i vào ngày 25-5-1968. Trong vụ trực thăng Mỹbắn lầm này, môṭ lần nữa, có khá nhiều ngườ i chết hay bi ̣thương thuôc̣ lực lượng cảnh sá t, tức là tay chân của Tướng Loan. Ngoà i ra, ngay sau vụ trực thăng Mỹbắn lầm này, ông bổ nhiêṃ liên tiếp ngườ i của ông vào 2 chức vụ quan troṇ g sau đây: 1) Ngày 4-6-1968, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Minh, nguyên Tư Lêṇ h Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, được bổ nhiêṃ vào chức vụ Tư Lêṇ h Biêṭ Khu Thủ Ðô thay cho Ðaị Tá Nguyễn Văn Giám; và 2) Ngày 7-6-1968, Ðaị Tá ÐỗKiến Nhiểu được bổ nhiêṃ Ðô Trưởng thay cho Ðaị Tá Văn Văn Của, và Ðaị Tá Trần Văn Hai được cử thay Tướng Loan trong chức vụ Tổng Giám Ðốc Cảnh Sá t Quốc Gia. Hai tháng sau, ngày 5-8-1968, Trung Tướng ÐỗCao Trí được cử thay Trung Tướng Lê Nguyên Khanh làm Tư Lêṇ h Quân Ðoàn III. 1 Tại sao ngườ i của Ṓng Kỳ có măṭ taị Trường Phước Ðức vào ngày hôm đó ? Trong số các sĩquan cao cấp của VNCH chết và bi ̣thương trong vụ trực thăng Mỹbắn lầm này, ngoà i Ðaị Tá Giám, Tư Lêṇ h Biêṭ Khu Thủ Ðô, và Trung Tá Phước, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 5 BÐQ, sự hiêṇ diêṇ của các vi ̣sĩquan còn laị taị bộ chỉ huy của cuôc̣ hành quân này của BÐQ thâṭ rất khó giả i thić h. Phần lớn các vi ̣này đều thuôc̣ ngành Cảnh Sá t và hoàn toàn không có vai trò gìhết trong cuôc̣ hành quân này, vâỵ họ đến đây để làm gi?̀ Chắn chắn đây không phả i là môṭ buổi hop̣ măṭ baṇ bè để vui chơi, ăn nhậu vớ i nhau vì đây là môṭ điạ điểm đang có giao tranh ác liêṭ giữa các tiểu đoàn của Liên Ðoàn 5 BÐQ vớ i các lực lượng đang cố thủ của VC. Nhưng đây cũng dứ t khoá t không thể là môṭ cuôc̣ găp̣ gở nhau tiǹ h cờ , mà nhất điṇ h phả i do có heṇ vớ i nhau trước. Vâỵ ai là ngườ i đãđứng ra tổ chức cuôc̣ heṇ này, và heṇ găp̣ nhau có muc̣ đić h gi?̀ Chúng ta hảy nghe lờ i kể laị của môṭ sĩquan BÐQ, cựu Thiếu Tá Hà Kỳ Danh, Trưởng Ban 3 (hành quân) của Liên Ðoàn 5 BÐQ, có măṭ taị Trường Phước Ðức hôm đó và may mắn sống só t. Lờ i tường thuâṭ của Thiếu Tá Danh được ghi laị trong môṭ cuôc̣ phỏng vấn dành cho Tập San BÐQ như sau: “Nhưng có điều nầy tôi nghĩ cũng nên nói cho các anh nghe, khi BCH/HQ/LĐ5 vừa đến trường Phước Đức thì có một phái đoàn ký giả và phóng viên chiến trường quốc tế đủ mọi thứ Anh, Mỹ, Pháp v.v.. kéo đến. Có lẽ họ biết BCH/LĐ5 đến trường Phước Đức vì Tr/tá Phước gọi về BKTĐ xin pháo binh bắn vào Soái kình Lâm nhưng vì đã có lệnh từ trước là không dùng phi pháo vì sợ thiệt hại cho dân chúng. Có lẽ đám ký giả nầy đang ở BTL/BKTĐ nên họ biết và kéo đến đây lấy tin, họ nói chuyện với Tr/TáPhước một lúc rồi kéo nhau đi. Khi đám ký giả đi rồi thì các ông Lê ngọc Trụ Trưởng ty Cảnh Sát quận 5 đến và sau


7 đó là Th/Tá Phó quốc Chụ giám đốc thương cảng Sàigòn, Đại tá Phấn, ông Luận thuộc Tổng nha cảnh Sát và Nha cảnh Sát Đô Thành, Th/tá Xinh CSQG, Th/tá Nguyễn bảo Thùy Phân Khu Đô Thành, Th/tá Tô, Biệt đội trưởng CSDC và có cả Đại tá Văn văn Của Đô trưởng Sàigòn. Sau đó tôi được biết Đại tá Giám, Tư lệnh BKTĐ sẽ đến BCH/LĐ5 để thị sát tình hình và cho chỉ thị. Khi Đại tá Giám đến thì tất cả các vị nói trên đều có đủ mặt.” 2 Qua lờ i kể bên trên của Thiếu Tá Danh, chúng ta được biết hai chi tiết quan trọng sau đây: Các vi ̣sĩquan bi ̣thương vong trong vụ này rõràng là có heṇ nhau từ trước, rõnhứ t là trường hợp của Ðaị Tá Giám, Tư Lêṇ h BKTÐ, vìngay từ lúc ông chưa đến thìThiếu Tá Danh đãbiết là ông sẽđến; nhưng ai nó i cho ông Danh biết thìông Danh không có nó i ra. Trước khi các vi ̣sĩquan này đến hiêṇ trường thì có môṭ phá i đoàn ký giả và phóng viên chiến trường quốc tế đến rồi sau đó bỏ đi trước khi các vi ̣sĩquan này đến. Taị sao họ bỏ đi ? Chắc chắn là do yêu cầu của Trung Tá Phước. Taị sao Trung Tá Phước yêu cầu họ rờ i đi? Có thể vì Trung Tá Phước không muốn cho họ găp̣ các vi ̣sĩquan đó chăng ? Trong lờ i tường thuâṭ của Thiếu Tá Danh trong cuôc̣ phỏng vấn nó i trên còn có thêm môṭ số chi tiết khá đăc̣ biêṭ, rất đáng quan tâm về Ðaị Tá Nguyễn Văn Giám, Tư Lêṇ h Biêṭ Khu Thủ Ðô như sau: “…Sau khi Đại tá Giám đến nơi và biết rõ tình hình thì đích thân ông gọi máy lên QĐIII xin cho gunship yểm trợ .” “…sau khi chuẩn bị xong xuôi hết rồi thì cũng là lúc đại tá Giám nói với tôi: '' Anh Danh à, anh vẽ cho tôi cái sơ đồ khu vực hành quân của các anh lên bản đồ của tôi để tôi đem về theo dõi.'' Tôi đang ngồi tại hành lang trường học cùng các ông ấy, khi nghe vậy, tôi đứng lên và cầm bản đồ của ông bước vào trong để vẽ thì cũng là lúc gunship chuẩn bị bắn. Trong lúc tôi đang lui cui vẽ khoảng 2 phút sau thì đại tá Giám bước vào đến bên cạnh tôi và hỏi: ''Anh Danh vẽ xong chưa, đưa cho tôi để tôi còn về BTL/BKTĐ.'' Tôi trả lời: '' Khoan chút đã đại tá, để vẽ thêm mấy chi tiết nữa và ghi chú đàng hoàng rồi đại tá hãy lấy.'' Bỗng nhiên ngay


8 lúc đó nghe một tiếng nổ rầm thật lớn và tiếp theo là tiếng súng đại liên.” “…Ngoài ra tôi cũng còn nhớ là lúc tôi chạy ra khỏi phòng thì đại tá Giám cũng đã vọt ra trước và lên xe chạy về BKTĐ rồi.” Như vâỵ , Ðaị Tá Giám chiń h là ngườ i đãgoị về Bộ Tư Lêṇ h Quân Ðoàn III để xin trực thăng đến oanh kić h yểm trợ. Ông đãrờ i bâc̣ thềm Trường Phước Ðức và vào bên phòng trong để xem Thiếu Tá Danh vẻ bản đồ nên không bi ̣thương vong. Và môṭ điều bất ngờ , tương đối kỳ lạ và khó giả i thić h là ngay sau đó ông vôị vàng lên xe bỏ chaỵ về BKTÐ ngay, bỏ măc̣ các chiến hữu của ông đang bi ̣thương vong taị hiện trường. Có lẽvì thế về sau đãcó những dư luâṇ nghi ngờ không tốt dành cho ông. Nguyên nhân của tin đồn về “ông Thiêụ thanh toán phe ông Kỳ ,” như trên đã nó i, là do sự kiêṇ các sĩquan bi ̣thương vong nầy đều là ngườ i của ông Kỳ . Từ đó có thêm nhiều chuyêṇ thêu dêṭ để tăng thêm sự khả tiń của tin đồn: nào là Ðaị Tá Trần Văn Hai, lúc đó là Tư Lêṇ h BÐQ và sau đó được cử làm Tổng Giám Ðốc Cảnh Sá t Quốc Gia thay cho Tướng Loan, có măṭ trên chiếc trực thăng đãbắn lầm đó ; nào là Tướng Khang, Tướng Viên, và cả Tướng Kỳ củng đang trên đường đến Trường Phước Ðức khi biến cố xảy ra. Môṭ cựu sĩquan BÐQ, Trung Tá Ðăṇ g Kim Thu, lúc đó là sĩquan tùy viên của Tướng Viên, tự nhâṇ miǹ h là môṭ nhân chứng trong biến cố đó , đãtường thuâṭ vụ viêc̣ như sau: “Một buổi sáng nọ, cuối tháng 5/68, hai thầy trò tôi vừa tới văn phòng chừng 15 phút thì Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới rủ Đại Tướng đi thăm Liên Đoàn 5/ BĐQ đang chiến đấu ở Chợ Lớn. Cả hai ông cùng ra đi trên hai chiếc xe Jeep, chạy tới góc đường Đồng Khánh và Tổng Đốc Phương thì dừng lại. Hai vị tướng xuống xe đứng bên lề đường. Đại Úy Lương Xuân Đương, tùy viên của Tướng Khang và tôi cùng đứng cạnh hai ông thầy, lúc đó tôi nghe Tướng Khang nói với Đại Tướng Viên: - “Tôi điều động thêm TĐ35/BĐQ từ Nhà Bè về đây tăng cường cho LĐ5/BĐQ. Chờ tiểu đoàn tới nơi, tôi chỉ thị cho tiểu đoàn trưởng xong rồi mình sẽ tới LĐ5/BĐQ, đang ở trường tiểu học Phước Đức gần đây thôi. Lực lượng bên ngoài là TĐ30/BĐQ đang dánh nhau với VC”. Sau đó vài phút, Hồ Văn Hòa, TĐT/TĐ35 BĐQ tới, xuống xe chào Tướng Khang: - Trình Trung Tướng, TĐ35 BĐQ về tới, đang ở khu BV chợ Rẫy, chờ lệnh Trung Tướng.


9 Trung Tướng Khang bảo Hồ Văn Hòa cho bố trí quân tại chỗ, đừng cho lính đi lang thang phá phách dân chúng, ứng chiến 100% chờ lệnh. Hồ Văn Hòa tuân lệnh và vừa quay ra đi thì Đại Tá Trần Văn Hai đến. Tướng Khang bảo Đ/Úy Lương Xuân Đương liên lạc xem Tướng Kỳ gần tới chưa, rồi quay sang nói với Tướng Viên: - Mình ở đây chờ anh Kỳ tới rồi cùng vào Liên Đoàn 5 luôn. Đại Tướng Viên hỏi lại: - Phó tổng thống tới làm gì chỗ người ta đang đánh giặc? Tướng Khang đáp: - Chẳng biết nữa? Liền sau đó anh Đương báo cáo với Tướng Khang: - Trình trung tướng, Phó Tổng thống vừa rời khỏi nhà, đang trên đường tới đây. Ngay lúc đó, bỗng thấy một trực thăng võ trang lượn vòng vòng trên vùng trời nơi chúng tôi đang đứng rồi bất ngờ phóng hỏa tiễn xuống về phía BCH/LĐ5 BĐQ, nơi mà PTT Kỳ cùng hai Tướng Viên Khang chuẩn vị tới, chúng tôi tưởng là trực thăng bắn vào mục tiêu VC, yểm trợ hỏa lực cho BĐQ đang hành quân phía dưới, nhưng liền sau đó thì Đại úy Đương báo cho Tướng Khang biết tin một đại họa vừa xẩy ra. Trực thăng đã bắn “lầm” vào trường Phước Đức, nơi BCH/LĐ5 BĐQ đang họp, gây một số thương vong. Sự việc xẩy ra quá bất ngờ, Đại Tá Hai và Tướng Khang cùng vội vã xin phép ra đi xem xét tình hình, còn Đại Tướng thì quay gấp về văn phòng. Khi Trung Tâm Hành Quân Bộ TTM báo cáo cho Đại Tướng biết số người chết và bị thương trong tai nạn “bắn lầm” này thì Đại Tướng ngạc nhiên rồi giận dữ trách rằng: - Ai kêu mấy ông ấy tới đó để làm gì?” 3 Tà i liêụ này có khá nhiều điểm không chiń h xác nên mức độkhả tín rất thấp. Thứ nhứ t, tác giả sai hoàn toàn về ngày giờ của biến cố khi tác giả cho biết: “Một buổi sáng nọ, cuối tháng 5/68, …” Biến cố này xảy ra vào buổi chiếu, sau 6 giờ , và ngày là ngày Chúa Nhựt 2-6-1969. Thứ hai, tác giả nó i là Tướng Viên cùng đi vớ i vớ i Tướng Khang đến khu vực đó . Bức ảnh sau đây, chup̣ vào buổi sáng ngày hôm đó , cho thấy Tướng Khang chỉcó môṭ miǹ h, không có Tướng Viên bên caṇ h:


10 Tấm ảnh trên báo Chính Luâṇ được phóng lớn Lờ i ghi chú bên dướ i tấm ảnh như sau: “Ðây ảnh hai trong số các vi ̣bi ̣tử naṇ . Từ phả i qua Trung Tá Lê Ngoc̣ Trụvà Trung Tá Nguyễn Văn Luâṇ . Hình chup̣ hồi sáng cùng ngày [tức là ngày 2-6-1968; ghi chú của tác giả bà i viết này] khi hai ông cùng Trung Tướng Lê Nguyên Khang (ngườ i mang kính) đi thi ̣sát trâṇ đánh. (LV)” Như vâỵ , rõràng là lờ i tường thuâṭ của Trung Tá Thu bên trên cần phả i được xem xé t và đánh giá laị, không thể tin được 100%. Rất có thể, sau môṭ thờ i gian quá lâu (í t nhứ t cũng phả i là trên 30 năm rồi), tác giả không còn nhớ rõvà có thể đãlẫn lôṇ chuyêṇ này qua chuyêṇ khác.


11 Kết Quả Cuôc̣ Ðiều Tra Về Biến Cố Này Và i ngày sau khi biến cố xảy ra, môṭ cuôc̣ điều tra hỗn hợp Viêṭ-Mỹđãđược tổ chức để tim̀ hiểu nguyên nhân đưa đến viêc̣ bắn lầm này. Sau khi cuôc̣ điều tra kết thúc, phá i bộ Mỹhoàn toàn nhâṇ trách nhiêṃ trong vụ này và chiń h thức xin lổi Chiń h phủ VNCH: Bản tin trên trang 1 nhựt báo Chính Luâṇ , số 1270, ngày Thứ Năm, 6-8-1968


12 Ngườ i viết xin ghi laị sau đây nôị dung của bản tin trên của nhâṭ báo Chính Luận: “Hôm nay, mồng 4 tháng sáu, phá i bộHK taị Saigon thông cáo rằng: Sau khi điều tra thêm về tai naṇ xảy ra hôm Chủ nhâṭ, 2-6 taị Cholon làm cho môṭ số sĩquan cảnh sát và quân lực Viêṭ Nam Côṇ g Hòa bi ̣tử thương và bi ̣thương, giớ i quân sự HK xác nhâṇ lờ i tuyên bố về tai naṇ này của phá i bộHK hôm thứ Hai 3-6 vừa qua nó i rằng hỏa tiển bi ̣truc̣ trăc̣ máy móc do 1 trực thăng của HK bắn đi đãrơi nhầm vào chổ sĩquan cảnh sát và quân lực VNCH nó i trên. Cuôc̣ điều tra nó i trên căn cứ vào lờ i khai của phi hành đoàn và những nhân viên ở dướ i đất, cùng viêc̣ giảo nghiêṃ những mảnh đaṇ thu lượm được nơi xảy ra tai naṇ . Nhân danh đaị sứ HK E. Bunker và Thống tướng Westmoreland đương bâṇ công vụvắng măṭ, và nhân danh toàn thể phá i đoàn HK taị VN, Ðaị sứ Samuel Burger và Ðaị tướng Abrams trân troṇ g tỏ bày sự hối tiếc của chính phủ HK vớ i TT VNCH Nguyễn Văn Thiêụ , PTT Nguyễn Cao Kỳ về tai naṇ đãxảy ra làm cho VNCH phả i mất môṭ số sĩquan và nhân viên cao cấp ưu tú .” Thiếu Tá Hà Kỳ Danh, trong bà i phỏng vấn nó i trên, cũng có cung cấp môṭ số thông tin liên quan đến cuôc̣ điều tra hỗn hợp Viêṭ-Mỹnày như sau: “HKD: Mấy ngày sau đó khi đã trở về lại trường đua Phú Thọ thì có phái đoàn của BTTM (hỗn hợp Việt Mỹ) đến điều tra, họ gọi Tống viết Lạc lên để hỏi. Cũng có tôi ở đó nữa nhưng lạ một điều là không ai hỏi tôi một câu nào cả, mà chỉ chú trọng vào hỏi Tống viết Lạc mà thôi. Sau đó tôi gặp riêng Tống viết Lạc và hỏi: ''Theo tôi biết, gunship bắn rất chính xác và độ chính xác của nó lên đến độ 5 đến 10 thước, vậy tại sao trường Phước Đức cách nhà hàng Soái kình Lâm đến 50 thước mà gunship lại bắn nhầm.'' Tống viết Lạc trả lời: ''Không phải là bắn nhầm, pilot cho biết là khi anh ta bắn trái rocket thứ nhất thì bị trở ngại kỷ thuật và anh đã bắn trái thứ nhì và không hiểu vì trở ngại gì đó trái thứ nhì đã bị ngắn tầm và đi trật mục tiêu, khi biết đã bắn trật mục tiêu tôi đã cho ngưng tác xạ ngay cho nên chỉ bắn duy nhất có một trái mà thôi.'' Tất cả những giải thích của phi công Mỹ cũng chỉ được biết có bấy nhiêu thôi. BBT: Anh Danh, xin hỏi anh câu nầy : '' Tại sao anh Tống viết Lạc lại để cho gunship bắn qua đầu quân bạn.'' HKD: Vì muốn bắn vào cửa sổ tầng trên của nhà hàng Soái kình Lâm nơi VC đặt súng - nhà hàng có rất nhiều cửa sổ nhưng các cửa sổ khác đều bị vướng các cao ốc chung quanh không có hướng tác xạ - Tống viết Lạc đã chọn cái cửa


13 sổ nằm hướng sau lưng trường Phước Đức là hướng duy nhất có thể tác xạ được và chỉ cần một trái rocket bắn lọt vào trong là tiêu diệt trọn ổ VC đang cố thủ ở đó. Đó là lý do tại sao lại bắn qua đầu quân bạn.” (Ghi chú : Ngườ i mang tên Tống Viết Lac̣ nó i trên là Ðaị Úy Trưởng Ban 3 (Hành quân) của Tiểu Ðoàn 30 BÐQ đang có nhiêṃ vụ tấn công lực lươṇ g Viêṭ công đang cố thủ trong cao ốc có Nhà hàng Soá i Kình Lâm. Sau khi Ðaị Tá Giám goị về BộTư Lêṇ h Quân Ðoàn III xin trực thăng yểm trợ, phía Hoa Kỳ đãcho 2 chiếc gunship đến. Môṭ chiếc đãđáp xuống đường Tổng Ðốc Phương để bốc Ðaị Úy Lac̣ . Sau đó đích thân Trung Tá Phước đãgoị cho Ðaị Úy Lac̣ để cho toạ độtác xa.̣) Măc̣ dù Phá i Bộ Hoa Kỳ , sau cuôc̣ điều tra hỗn hợp nó i trên, đãnhâṇ hoàn toàn trách nhiêṃ trong vụ oanh kić h lầm này, dư luâṇ taị Sà i Gòn về cá i goị là “thanh toán chính tri”̣ vẫn tiếp tuc̣ lan truyền vì môṭ chuyêṇ tương đối khó hiểu: viên phi công lá i chiếc trực thăng đãgây tai naṇ thảm khốc đó được lêṇ h rờ i khỏ i Viêṭ Nam ngay lâp̣ tức. Môṭ ngày sau khi Phá i bộ Hoa Kỳ đãnhâṇ trách nhiêṃ và chiń h thức xin lỗi Chiń h phủ VNCH, nhâṭ báo Công Chúng, số 529, ra ngày Thứ Sáu, 7-6-1968, vẫn tiếp tuc̣ nghi ngờ , và đưa tin ở trang 1 như sau:


14 Taị sao nhâṭ báo Công Chúng đưa tin như thế và tờ báo có lâp̣ trường chiń h tri ̣ như thế nào? Tờ nhâṭ báo này là của phe Tướng Kỳ và Tướng Loan. Do đó họ tránh né không đề câp̣ đến chuyêṇ “thanh toán chiń h tri” ̣ vì nếu họ đề câp̣ đến vụ này họ sẽ găp̣ môṭ khó khăn lớn là làm sao giả i thić h sự hiêṇ diêṇ của ngườ i của Tướng Kỳ và Tướng Loan taị hiêṇ trường trong khi những ngườ i này không có môṭ nhiêṃ vụ gì cả trong cuôc̣ hành quân đó . Do đó tờ báo đãquyết điṇ h chuyển dư luâṇ sang nghi ngờ ngườ i Mỹvì lúc đó mối quan hệViêṭ-Mỹđang khá căng thẳng do viêc̣ Hoa Kỳ tiến hành đàm phán vớ i phe Côṇ g sản mà không có sự tham dự của VNCH. Ngườ i Mỹcũng hiểu rất rõchuyêṇ này. Ngay hôm sau, ngày Thứ Bảy, 8-6-1968, tờ Washington Post đã đăng ngay môṭ bà i biǹ h luâṇ như sau:


15 Môṭ điều cần lưu ý là bà i báo này do môṭ côṇ g tác viên ngườ i Viêṭ, Nguyễn Ngoc̣ Rao, cho thấy đây là môṭ ký giả rất am tường tiǹ h hiǹ h chiń h tri ̣của VNCH. Dĩnhiên, cả 2 chiń h phủ Hoa Kỳ và VNCH đều tránh, không đề câp̣ gì nữa hết đến vụtrực thăng Mỹbắn lầm này, xem như môṭ vụoanh kić h lầm giống như bao nhiêu vụ khác đãtừng xảy ra trong cuôc̣ chiến từ nhiều năm nay. Vớ i thờ i gian trôi qua, đặc biêṭ là vớ i năm 1968 đầy biến cố quan troṇ g này (bầu cử Tổng Thống My,̃ Thượng Nghi ̣ SĩRobert Kennedy bi ̣ám sá t ngày 6-6-1968, Hòa Ðàm Paris vớ i đôṭ biến ngày 30-10- 1968 khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêụ từ chối không chiụ kỳ Thông Cáo Chung vớ i Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson và quyết điṇ h không cử phá i đoàn VNCH tham dự Hòa Ðàm Paris, vv), biến cố này đãhoàn toàn bi ̣lãng quên. Thay Lờ i Kết Nguyên nhân vụ trực thăng bắn lầm này đãđược biết khá rõràng qua cuôc̣ điều tra hỗn hợp Viêṭ-My:̃ bộ phâṇ điều khiển bắn hỏa tiển của chiếc gunship đãbi ̣hư hỏng máy móc và gây ra tai naṇ chết ngườ i này. Ðiều này được xác nhâṇ bở i vi ̣sĩquan QLVNCH có măṭ trên chiếc trực thăng đó . Sự hiêṇ diêṇ của chiếc gunship taị điạ điểm hành quân cũng hoàn toàn không phả i do môṭ thế lực chiń h tri ̣nào hay do chiń h ngườ i Mỹdàn xếp trước. Chiếc gunship có măṭ taị điạ điểm hành quân này là do chiń h Ðaị Tá Tư Lêṇ h Biêṭ Khu Thủ Ðô, là ngườ i chỉhuy toàn bộ măṭ trâṇ taị Thủ Ðô, sau khi đến duyêṭ xé t tiǹ h hiǹ h taị BộChỉHuy của Liên Ðoàn 5 BÐQ taị Trường Phước Ðức, đãgọi điêṇ thoaị về BộTư Lêṇ h Quân Ðoàn III yêu cầu. Ngoà i ra, cũng chiń h Ðại Úy Trưởng Ban 3 (phụ trách về hành quân) của Tiểu Ðoàn 30 BÐQ đang hành quân trong khu vực giao tranh và có măṭ trên gunship cung cấp toạ độtác xạ cho phi công của gunship. Và toạ độ này thìdo chiń h vi ̣Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 5 BÐQ báo cho biết. Và chiń h vi ̣Liên Ðoàn Trưởng này cũng đãtử thương trong vụ bắn lầm. Như vâỵ , cả 2 giả thuyết về “thanh toán chiń h tri ̣” và “nghi ngờ có âm mưu của ngườ i My” ̃ đều không có cơ sở vững chắc. Chúng ta có thể tin đây thâṭ ra chỉ là môṭ vụoanh kić h lầm. Sở dĩcó dư luâṇ về môṭ cuôc̣ thanh toán chánh tri ̣là vì 3 lý do sau đây: 1) Biến cố xảy ra đúng vào giai đoaṇ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêụ bắt đầu tim̀ cách nắm laị quyền hành bằng cách thay ngườ i của ông Kỳ bằng ngườ i của ông; 2) Những vi ̣sĩquan bi ̣tử naṇ và bi ̣thương đều là ngườ i thân câṇ vớ i Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ ; và 3) Sự có mặt của nhiều ngườ i trong số họ taị hiêṇ trường trong thờ i điểm đó không thể giả i thić h được. Ghi Chú: 1. Lâm Viñh Thế, “Công điêṇ mâṭ của CIA ngày 06-03-1968,” trong Bac̣ h hóa tà i liêụ mâṭ của Hoa Kỳ về Viêṭ Nam Côṇ g Hòa. Hamilton, Ont.: Hoà i Viêṭ xuất bản, 2008. Tr. 77-93.


16 2. 29 năm … nhìn laị II: sự kiêṇ Trường Trung hoc̣ Phước Ðức, tà i liêụ trực tuyến, có thể đoc̣ toàn văn taị điạ chỉ Internet sau đây: http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/so12/haichinnam.html 3. Ðặng Kim Thu, SĨquan tùy viên của môṭ đaị tướng, tà i liêụ trực tuyến, có thể đoc̣ toàn văn taị điạ chỉ Internet sau đây: http://www.bietdongquan.com/baochi/munau/so36/syquantuyvien.htm


1 Các Sư Ðoàn Không Quân Của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Lâm Vĩnh Thế Lời Nói Ðầu: Tác giả bài viết này không phải là một người đã từng phục vụ trong Không Lực QLVNCH. Bài viết này được biên soạn xuất phát từ lòng ngưỡng mộ của tác giả đối với Quân Chủng này, và nó được viết ra nhằm giúp những độc giả ở bên ngoài Quân Chủng có thể hiểu rõ phần nào cách thức tổ chức của các Sư Ðoàn Không Quân của Không Lực VNCH. Trong quá trình biên soạn, tác giả đã tham khảo rất nhiều tác phẩm Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa cũng như các bài viết của các tác giả Không Quân đã đăng trong các Trang Web như Hội Quán Phi Dũng, Cánh Thép, vv. Tác giả xin được đặc biệt cảm tạ những hướng dẫn về tài liệu và góp ý vô cùng quý báu của tác giả Nguyễn Hữu Thiện, một cựu sĩ quan Không Lực VNCH, thành viên Ðặc trách biên soạn trong Ban Thực Hiện của bộ quân sử nói trên. Những sai sót chắc chắn không thể tránh được trong bài viết nầy hoàn toàn thuộc trách nhiệm của người viết. Người viết rất mong được các độc giả đã từng phục vụ trong Không Lực VNCH, đặc biệt là các vị sĩ quan niên trưởng của Quân Chủng, giúp thêm ý kiến để bổ sung những điểm còn thiếu sót hay điều chỉnh những điểm sai trong bài viết. Người viết xin thành thật cảm tạ. Không Quân (viết tắt KQ) của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một quân chủng đã phát triển vượt bực trong suốt thời gian Chiến Tranh Việt Nam. Từ một bộ phận nhỏ của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam còn lệ thuộc rất nhiều vào lực lượng không quân của Quân Ðội Viễn Chinh Pháp (1951-1955), KQ Việt Nam đã liên tục phát triển nhanh chóng và đến giữa thập niên 1970 đã được xem như là không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới về số lượng phi cơ (sau Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Cộng). Lịch sử hình thành và phát triển của KQ VNCH có thể được chia làm 5 thời kỳ như sau: 1 Thời kỳ thành lập: 1951-1955 Thời kỳ phát triển: 1956-1964


2 Thời kỳ hiện đại hóa: 1965-1968 Thời kỳ bành trướng: 1969-1972 Thời kỳ sau Hiệp Ðịnhh Paris: 1973-1975 Vào cuối năm 1974, KQ VNCH đã có một quân số là 61.147 người, gồm 65 phi đoàn với tổng số 2071 phi cơ đủ loại, và được tổ chức thành 6 sư đoàn KQ bố trí trên khắp lãnh thổ của VNCH như sau: Sư Ðoàn 1: đóng tại Ðà Nẵng, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Nguyễn Ðức Khánh, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn I, và gồm 3 Không Ðoàn Chiến Thuật 41, 51, và 61. Sư Ðoàn 2: đóng tại Nha Trang, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn II, và gồm 2 Không Ðoàn Chiến Thuật 62 và 92. Sư Ðoàn 3: đóng tại Biên Hòa, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn III, và gồm 3 Không Ðoàn Chiến Thuật 23, 43, và 63. Sư Ðoàn 4: đóng tại Cần Thơ, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn IV, và gồm 3 Không Ðoàn Chiến Thuật 64, 74, và 84. Sư Ðoàn 5: là một sư đoàn vận tải, trực thuộc Bộ Tư Lệnh KQ, đóng tại Sài Gòn (căn cứ Tân Sơn Nhứt), với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên, và gồm 2 Không Ðoàn Chiến Thuật 33 và 53. Sư Ðoàn 6: đóng tại Pleiku, sau ngày 16-4-1975 dời về Phan Rang, với Sư Ðoàn Trưởng là Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, có nhiệm vụ chính là yểm trợ các cuộc hành quân của Quân Ðoàn II, và gồm 2 Không Ðoàn Chiến Thuật 72 và 82. Sư Ðoàn 1 Không Quân Huy hiệu Sư Ðoàn 1 Không Quân


3 Sư Ðoàn 1 KQ được chính thức thành lập vào tháng 9-1970 tại Căn Cứ KQ Ðà Nẵng với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Nguyễn Ðức Khánh, về sau, ngày 1-4-1974, vinh thăng Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Nguyễn Ðức Khánh Không như phần lớn các tướng lãnh KQ VNCH là những sĩ quan bị động viên và tốt nghiệp các trường sĩ quan trừ bị Nam Ðịnh hay Thủ Ðức sau đó mới chuyển sang KQ, Chuẩn Tướng Khánh tình nguyện vào KQ năm 1954, và trúng tuyển kỳ thi du học ngành phi hành tại Trường Võ Bị KQ Pháp Salon-de-Provence, và tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy Hoa Tiêu Khu Trục,2,3 Tướng Khánh, khi còn mang cấp bậc Trung Tá, trong khoảng 1967-1970, cũng đã từng là Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 41 Chiến Thuật tại Ðà Nẵng, là không đoàn chiến thuật nồng cốt của Sư Ðoàn 1 KQ. Sư Ðoàn 1 KQ gồm có tất cả 3 Không Ðoàn Chiến Thuật là các Không Ðoàn 41, 51, và 61. Không Ðoàn 41 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 41 Chiến Thuật


4 Không Ðoàn 41 Chiến Thuật được thành lập vào đầu năm 1964 với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Phạm Long Sửu. 4,5,6 Sau năm 1972, Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Thái Bá Ðệ và Không Ðoàn Phó là Trung Tá Nguyễn Văn Vượng. Không Ðoàn 41 gồm có tất cả 3 phi đoàn với phiên hiệu như sau: Phi Ðoàn 110, Phi Ðoàn 120, và Phi Ðoàn 427. Trước khi tìm hiểu thêm về các phi đoàn này chúng ta cần biết là từ khoảng đầu thập niên 1960, KQ VNCH bắt đầu sử dụng một hệ thống phiên hiệu, gồm 3 số, để đặt tên cho các phi đoàn, mà con số đầu tiên được quy định như sau: số 1 là các phi đoàn quan sát, số 2 là các phi đoàn trực thăng, số 3 là các phi đoàn đặc nhiệm, số 4 là các phi đoàn vận tải, số 5 là các phi đoàn khu trục (kể cả phản lực), số 6 có thể xem như không được sử dụng (lúc đầu định dành cho thủy phi cơ nhưng không thành, sau đó dùng cho các phi đoàn oanh tạc cơ nhưng cũng không tồn tại được lâu, vì chỉ có một phi đội oanh tạc duy nhứt, sử dụng oanh tạc cơ B-57 Canberra, được thành lập là Biệt Ðội 615 do Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Biện làm Chỉ Huy Trưởng, nhưng sớm bị giải thể vào tháng 4-1966 vì phi cơ B-57 không đáp ứng được nhu cầu chiến trường và bị thiệt hại quá nhiều), số 7 là các phi đoàn không thám điện tử, tiếng Anh gọi là Electronic Intelligence = ELINT hay Communications Intelligence = COMINT, một bộ phận của công tác tình báo tín hiệu, Signal Intelligence = SIGINT), số 8 là các phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunship, hỏa long hay cường kích), và số 9 là các phi đoàn huấn luyện. Cách thức đặt phiên hiệu như sau: - Con số hàng trăm (tức số đầu tiên): là con số dành cho ngành - Con số hàng chục (tức số thứ nhì): khởi sự là số 1 - Con số hàng đơn vị (tức số thứ ba): lấy số ngành trừ cho số 1, thì dụ, số của ngành quan sát là số 1, 1-1 = 0; vậy phiên hiệu của phi đoàn quan sát đầu tiên sẽ là 110 Sau khi đã có phiên hiệu của phi đoàn đầu tiên rồi thì cứ cộng thêm 2 sẽ có các phiên hiệu của các phi đoàn kế tiêp. Do đó, phiên hiệu của tất cả các phi đoàn của KQ VNCH được quy định như sau: 7 - Ngành quan sát: 110, 112, 114 … - Ngành trực thăng: 211, 213, 215 … - Ngành đặc nhiệm: 312, 314 - Ngành vận tải: 413, 415, 417 … - Ngành khu trục: 514, 516, 518 … - Ngành oanh tạc: 615 - Ngành không thám điện từ: 716, 718 - Ngành yểm trợ hỏa lực: 817, 919, 821 - Nganh huấn luyện: 918, 920 …


5 Theo hệ thống phiên hiệu của KQ VNCH vừa trình bày trên đây, hai Phi Ðoàn 110 và 120 là 2 phi đoàn quan sát. Phi Ðoàn 110, trong thời Pháp thuộc, mang tên là 1er GAOAC (Group Aérien d’Observation et d’Accompagnement au Combat, gọi tắt là GAO) được thành lập ngày 1-10-1952 tại Nha Trang, chuyển về TSN năm 1953, di chuyển ra Huế năm 1954, về lại TSN năm 1955, di chuyển ra Ðà Nẵng tháng 11 năm 1956, và chính thức trở thành Phi Ðoàn 110 Quan Sát vào tháng 01 năm 1963. Phi Ðoàn còn được biết dưới nhiều tên khác nhau như Phi Ðoàn 1 Quan Sát, Ðệ Nhất Phi Ðoàn Quan Sát, và Phi Ðoàn Thiên Phong. Các vị Phi Ðoàn Trưởng lần lượt là: Nguyễn Ngọc Oánh, Trần Phước, Nguyễn Trọng Ðệ, Ngô Tấn Diêu, Phan Văn Mạnh, Võ Trung Nhơn, Lê Sĩ Thắng, Nguyễn Tài Hiệp (Xử Lý Thường Vụ).8 Phi Ðoàn 120, được thành lập vào tháng 5-1971 tại Ðà Nẵng; Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Lê Công Thịnh. Cả 2 phi đoàn đều được trang bị những loai phi cơ quan sát hiện đại nhứt của thập niên 1970 do Hoa Kỳ cung cấp: Phi cơ O-1 Bird Dog: Phi cơ quan sát O-1 Bird Dog Phi cơ O-1 Bird Dog, do hảng Cessna sản xuất, là phi cơ liên lạc được thiết kế lại từ phi cơ L-19 đã được KQ VNCH sử dụng từ giữa thập niên 1950. O-1 Bird Dog có những đặc tính như sau: 9 - Chiều dài: 7,88 m - Sải cánh: 10,97 m - Chiều cao: 2,23 m - Trọng lượng: 734 kg - Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt Continental O-470-11, 6 xi-lanh, 213 mả lực - Vận tốc: bình phi 167 km/giờ; tối đa 185 km/giờ


6 - Tầm hoạt động: 853 km - Khả năng cất cánh / đáp: chỉ cần một khoảng cách 170-180 m Phi cơ U-17 A/B Skywagon: Phi cơ quan sát U-17 A/B Skywagon Phi cơ quan sát U-17 A/B Skywagon, cũng do hảng Cessna sản xuất, có những đặc tính như sau: 10 - Chiều dài: 7,8 m - Sải cánh: 10,92 m - Chiều cao: 2,3 m - Trọng lượng: 783 kg - Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt Continental, kiểu A động cơ IO470, 260 mả lực, kiểu B động cơ IO-520, 300 mả lực - Vận tốc: bình phi 210 km/giờ; tối đa 330 km/giờ - Tầm hoạt động: 4 giờ 30 phút - Khả năng vận chuyển: có thể chở được 6 người kể cả phi công Phi Ðoàn Vận Tải 427, mang danh hiệu Thần Long, được thành lập vào tháng 2- 1972 tại Căn Cứ KQ Phù Cát, Bình Ðịnh, thuộc Vùng II, với ban chỉ huy như sau: 11 - Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Phạm Văn Cần - Phi Ðoàn Phó: Thiếu Tá Nguyễn Bá Ðạm - Trưởng Phòng Hành Quân: Thiếu Tá Trần Văn Minh - Trưởng Phòng Huấn Luyện: Thiếu Tá Hà Văn Hòa - Trưởng Phòng An Phi: Thiếu Tá Nguyễn Văn Kim Phi Ðoàn 427 là phi đoàn đầu tiên của KQ VNCH được trang bị phi cơ C-7 Caribou do công ty De Havilland (của Canada) sản xuất:


7 Phi cơ vận tải C-7A Caribou Phi cơ C-7 Carbou là một phi cơ vận tải thuộc loại không cần phi đạo dài (chỉ cần khoảng 300 m thôi) trong lúc đáp và cất cánh (STOL: short takeoff and landing), mang những đặc tính như sau: 12 - Chiều dài: 22,12 m - Sải cánh: 29,13 m - Chiều cao: 9,65 m - Trọng lượng: 8.283 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney R-2000-7M2, 14 xi-lanh, 1,450 mả lực mổi cái - Vận tốc: 348 km/giờ - Tầm hoạt động: 2,103 km - Cao độ tối đa: 7.559 m - Phi hành đoàn: 3 - Khả năng vận chuyển: có thể chở được khoàng 1 trung đội binh sĩ, hoặc 2 xe Jeep hoặc xe quân sự cở nhỏ Nhờ khả năng đặc biệt của phi cơ C-7 Caribou, như có thể đáp xuống bất cứ đường băng nào, bằng cỏ hay đất nện, không cần bằng bê-tông, và chỉ cần dài khoảng 300 m là đủ, Phi Ðoàn 427 đã hằng ngày thực hiện được những phi vụ vô cùng nguy hiểm để tiếp tế và tải thương cho các đơn vị Biệt Ðộng Quân Biên Phòng (cũng như các đơn vị bạn khác) đồn trú tại các địa điểm rừng núi hiểm trở và hẻo lánh trong phạm vi trách nhiệm của Quân Ðoàn I.


8 Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 41 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 110 Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Ngọc Oánh Cuối Cùng (XLTV): Trung Tá Nguyễn Tài Hiệp Thiên Phong Phi Ðoàn 120 Trung Tá Lê Công Thịnh Bạch Yến Phi Ðoàn 427 Trung Tá Phạm Văn Cần Thần Long Không Ðoàn 51 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 51 Chiến Thuật Ðóng tại Ðà Nẵng, Không Ðoàn 51, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Văn Vượng, gồm có tất cả 6 phi đoàn trực thăng là các phi đoàn 213, 233, 239, 247, 253, và 257. So với các ngành liên lạc, vận tải, và khu trục, ngành trực thăng tương đối sinh sau đẻ muộn, nhưng lại là ngành phát triển tương đối nhanh và mạnh mẻ nhứt của KQ VNCH. 13


9 Thông thường các phi đoàn trực thăng UH-1 đều có 4 phi đội, 3 phi đội trang bị nhẹ (slick) và 1 phi đội võ trang (gun), mỗi phi đội có 8 chiếc, tổng cộng 32 chiếc trực thăng UH-1. Một vài phi đoàn có thể có đến 38 chiếc trực thăng UH-1. Các phi đoàn CH-47 Chinook thì cấp số là 16 chiếc. KQ VNCH, tính đến trước ngày 30-4-1975, đã tiếp nhận từ quân đội Mỹ tổng cộng khoảng 800 trực thăng UH-1 và 100 trực thăng CH47 Chinook. Các phi cơ trực thăng UH-1 của KQ VNCH đã được sử dụng trong rất nhiều phị vụ khác nhau, từ đổ quân (trong các cuộc hành quân trực thăng vận), tải thương, cho đến tiếp tế (các đơn vị, tiền đồn bị địch bao vây), và cứu nạn (truy tầm và tiếp cứu các phi công bị địch bắn rơi), vv. Phi Ðoàn 213 là phi đoàn kỳ cựu nhứt của Không Ðoàn 51. Phi đoàn được thành lập vào ngày 1-10-1961 với 20 chiếc trực thăng H-34 và với thành phần Ban Chỉ Huy như sau: - Chỉ Huy Trưởng: Ðại Úy Nguyễn Xuân Trường - Chỉ Huy Phó: Ðại Úy Nguyễn Hữu Hậu - Sĩ quan Kỹ Thuật: Trung Úy Ngô Khắc Thuật - Trưởng Phòng Hành Quân: Thiếu Úy Nguyễn Văn Trang Trực thăng H-34 mang những đặc tính như sau: 14 Phi cơ trực thăng H-34 - Chiều dài: 17,28 m - Chiều cao: 4,85 m - Trọng lượng: 3.583 kg - Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt (rotor) Wright R-1820-84 radial engine, có đường kính 17,07 m, 1.525 mả lực - Vận tốc: tối đa 278 km/giờ - Tầm hoạt động: 293 km - Cao độ tối đa: 1.495 m - Phi hành đoàn: 2 phi công chánh và phụ - Khả năng vận chuyển: từ 12 (loại A) đến 18 binh sĩ (loại C); hoặc 8 cáng tải thương


10 So với trực thăng H-19 do KQ Pháp để lại thì H-34 đã mạnh hơn, bay nhanh hơn và có tầm hoạt động rộng hơn. Từ sau 1965, khi quân Mỹ đã vào Việt Nam, và chiến thuật trực thăng vận được áp dụng gần như cho tất cả các cuộc hành quân lớn nhỏ, trực thăng H-34 đã dần dần được thay thế bởi trực thăng UH-1 có tầm hoạt động rộng hơn và có trang bị hỏa lực. Các phi đoàn trực thăng còn lại của Không Ðoàn 51 đều được thành lập sau 1970. Tất cả các Phi Ðoàn này (trừ Phi Ðoàn 247) cùng với Phi Ðoàn 213 đều sử dụng trực thăng UH-1. Phi Ðoàn 247 là phi đoàn duy nhứt của Không Ðoàn 51 Chiến Thuật sử dụng phi cơ CH-47 Chinook. Phi cơ trực thăng CH-47 Chinook là loại trực thăng lớn có khả năng vận tải và tiếp tế rất quan trọng. Phi cơ trực thăng CH-47 Trực thăng Chinook mang những đặc tính như sau: 15 - Chiều dài: 30,1 m - Chiều cao: 5,7 m - Trọng lượng: 10.185 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt (rotor) Lycoming T55-GA-714A turboshaft, 4.733 mả lực mổi cái - Vận tốc: bình phi 240 km/giờ, tối đa 315 km/giờ - Tầm hoạt động: 741 km - Cao độ tối đa: 5.640 m - Phi hành đoàn: 3 người gồm phi công chánh, phi công phụ, và cơ phi - Khả năng vận chuyển: từ 33 đến 55 binh sĩ; 12.700 kg vật dụng - Trang bị hỏa lực: có thể trang bị 3 đại liên 7,62 mm loại M24/FN MAG ở phía sau và 2 bên sườn Trực thăng UH-1, với biệt danh (nickname) là “Huey,” là loại trực thăng đa dụng, và về sau đã trở thành 1 biểu tượng của Chiến Tranh Việt Nam. Có thể nói mà không


11 sợ sai lầm là khi nói đến Chiến Tranh Việt Nam thì cái hình ảnh đầu tiên mà mọi người Mỹ cũng như Việt nghĩ đến là chiếc trực thăng Huey. Trên thực tế, cái tính cách làm cho quân đội Mỹ khác hẳn quân đội Pháp chính là tính cơ động của quân Mỹ, và việc đó chính là do việc lục quân Mỹ sử dụng triêt để các phi cơ trực thăng trong các cuộc hành quân của họ. QLVNCH, từ sau 1965, cũng mang tính di động cao này, với những cuộc hành quân trực thăng vận lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ. Tuy nhiên, trực thăng Huey không phải chỉ được sử dụng để chuyển quân thôi, mà còn được sử dụng trong rất nhiều công tác khác, như thám thính, yểm trợ hỏa lực, khai quang, tải thương, tiếp tế, tiếp cứu, vv. Chính vì thế, trực thăng UH-1 đã có rất nhiều kiểu (model) khác nhau, 1A, 1B, 1D, 1H, vv mỗi kiểu thích hợp cho một loại công tác khác nhau.16,17 Phần lớn phi cơ trực thăng của KQ VNCH là loại UH-1H. Phi cơ trực thăng UH-1 Huey Phi cơ trực thăng UH-1 mang những đặc tính như sau: 18 - Chiều dài: 17,4 m - Chiều cao: 4,39 m - Trọng lượng: 2.365 kg - Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt (rotor, có đường kính 14,63 m) loại Lycoming T53-L-11 turboshaft, 1.100 mã lực mổi cái - Vận tốc: bình phi 201 km/giờ, tối đa 217 km/giờ - Tầm hoạt động: 507 km - Cao độ tối đa: 5.910 m - Phi hành đoàn: 1-4 người gồm phi công chánh, phi công phụ, cơ phi, xạ thủ đại liên - Khả năng vận chuyển: 14 binh sĩ, hoặc 6 cáng tải thương, hoặc 1.760 kg vật dụng - Trang bị hỏa lực: có thể trang bị 2 đại liên 7,62 mm loại GAU17/A hai bên sườn, và 2 ổ hỏa tiển loại 7 hay 19 hỏa tiển loại 70 mm


12 Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn trực thăng của Không Ðoàn 51 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trường Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 213 Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Xuân Trường Cuối cùng: Trung Tá Cao Quang Khôi Song Chùy Phi Ðoàn 233 Ðầu tiên: Thiếu Tá Bùi Quang Chính Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Thanh Thiên Ưng Phi Ðoàn 239 Ðầu tiên: Thiếu Tá Trần Duy Kỳ Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Anh Toàn Hoàng Ưng Phi Ðoàn 247 Trung Tá Nguyễn Văn Mai Lôi Phong Phi Ðoàn 253 Ðầu tiên: Thiếu Tá Phạm Ðăng Luân Cuối cùng: Thiếu Tá Hùynh Văn Phố Sói Thần Phi Ðoàn 257 Trung Tá Lê Ngọc Bình Cứu Tinh


13 Không Ðoàn 61 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 61 Chiến Thuật Ðóng tại Ðà Nẵng, Không Ðoàn 61, thuộc Sư Ðoàn 1 KQ, gồm có tất cả 4 phi đoàn khu trục 516, 528, 538, và 550, sử dụng 2 loại phi cơ khu trục phản lực A-37B Dragonfly và F5-A/B Freedom Fighter. Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Thái Bá Ðệ. Phi Ðoàn 516 là phi đoàn kỳ cựu nhứt của Không Ðoàn 61: - Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Phạm Long Sửu - Gọi là Phi Ðoàn II Khu Trục, mang danh hiệu là Phi Hổ - Ðược thành lập từ tháng 12-1961 tại Nha Trang, và được trang bị phi cơ T-28 - Năm 1964 di chuyển ra Ðà Nẵng, và được trang bị phi cơ A1-H Skyraider - Năm 1968, tất cả đoàn viên của phi đoàn được gởi sang Mỹ để xuyên huấn về phi cơ khu trục phản lực A-37B Dragonfly Các phi đoàn còn lại của Không Ðoàn 61 đều được thành lập sau năm 1970: - Phi Ðoàn 528, danh hiệu Hổ Cáp, thành lập năm 1970, Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Cao Văn Khuyến, và được trang bị phản lực cơ A-37B Dragonfly - Phi Ðoàn 538, danh hiệu Hồng Tiễn, thành lập cuối năm 1972, Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Phạm Ðình Anh, và được trang bị phản lực cơ F-5A và F-5B. Qua năm 1973, Phi Ðoàn 538 được trang bị bằng phản lực cơ F-5E Tiger II, tối tân hơn và chuyên biệt về không chiến. (Ghi chú quan trọng: Về mặt quản lý, Phi Ðoàn này trực thuộc Không Ðoàn 63 Chiến Thuật của Sư Ðoàn 3 KQ tại Biên Hòa; Phi Ðoàn này được đưa ra


14 đóng tại Ðà Nẵng là để đề phòng phản lực cơ MIG của Bắc Viêt xâm nhập) - Phi Ðoàn 550, danh hiệu Nhện Ðen, thành lập cuối năm 1972, Chỉ Huy Trưởng đầu Tiên là Thiếu Tá Lê Trai, và được trang bị phản lực cơ A-37B Dragonfly Phản lực cơ A-37B Dragonfly mang những đặc tính như sau: 19 Phi cơ khu trục phản lực A-37B Dragonfly - Chiều dài: 8,62 m - Sải cánh: 10,93 m - Chiều cao: 2,70 m - Trọng lượng: 2.817 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ phản lực loại General Electric J85-GE-17A turbojet, với sức đẩy 2.850 pounds mổi cái - Vận tốc: bình phi 787 km/giờ, tối đa 816 km/giờ - Tầm hoạt động: 1.480 km - Cao độ tối đa: 12.730 m - Phi hành đoàn: 1 phi công - Trang bị hỏa lực: . 1 đại liên 7,62 mm loại GAU-2B/A ở trước mủi . 8 ổ để gắn đại liên ở dưới cánh . 4 ổ để gắn hỏa tiển Sidewinder ở dưới cánh . 8 quả bom loại 500 cân Anh


15 Trang bị hỏa lực cũa Phản lực cơ A-37B Dragonfly Phản lực cơ F-5A/B Freedom Fighter mang các đặc tính sau đây: 20 Phi cơ khu trục phản lực F-5A/B Freedom Fighter - Chiều dài: 14,45 m - Sải cánh: 8,13 m - Chiều cao: 4,08 m - Trọng lượng: 4.349 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ phản lực loại General Electric J85-GE-13 turbojet, với sức đẩy 4.080 pounds mổi cái - Vận tốc: bình phi 0.84 Mach (1.037 km/giờ), tối đa 1,4 Mach (1.728 km/giờ) - Tầm hoạt động: 2.253 km - Cao độ tối đa: 15.240 m - Phi hành đoàn: 1 phi công - Trang bị hỏa lực: . 2 đại liên 20 mm loại GAU-2B/A ở trước mủi . 2 ổ hỏa tiển Sidewinder . có thể mang nhiều loại bom khác nhau


16 Dưới đây là bảng tóm lực thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 61 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 516 Ðầu tiên: Ðại Úy Phạm Long Sửu Phi Hổ Phi Ðoàn 528 Ðầu tiên: Thiếu Tá Cao Văn Khuyên Hổ Cáp Phi Ðoàn 538 Ðầu tiên: Thiếu Tá Phạm Ðình Anh Hồng Tiễn Phi Ðoàn 550 Ðầu tiên: Thiếu Tá Lê Trai Nhện Ðen Sư Ðoàn 2 Không Quân Huy hiệu Sư Ðoàn 2 Không Quân Sư Ðoàn 2 KQ được chính thức thành lập vào tháng 7-1970 tại Nha Trang, với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Nguyễn Văn Lượng, về sau, vào ngày 1-11-1972, vinh thăng Chuẩn Tướng.


17 Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng Cũng như phần lớn các tướng lãnh KQ VNCH, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng bị động viên vào Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh, tốt nghiệp (tháng 6-1952) với cầp bậc Thiếu Úy. Tháng 12-1952, ông trúng tuyển vào KQ, theo học và tốt nghiệp Khóa 2 Hoa Tiêu Quan Sát tại Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang vào tháng 8- 1953.21 Sư Ðoàn 2 KQ gồm có 2 Không Ðoàn Chiến Thuật là Không Ðoàn 62 và Không Ðoàn 92. Không Ðoàn 62 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 62 Chiến Thuật Không Ðoàn 62 được thành lập vào tháng 3-1964 tại Pleiku, và đến tháng 1- 1965 thì dời về Nha Trang. Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Trần Văn Minh,


18 về sau là Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân.22 Không Ðoàn Phó là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tần, về sau là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 KQ. Không Ðoàn 62 gồm có tất cả 4 phi đoàn và 1 biệt đội: Phi Ðoàn 114, Phi Ðoàn 215, Phi Ðoàn 219, Biệt Ðội 259C, và Phi Ðoàn 817. Phi Ðoàn 114, theo phiên hiệu do KQ VNCH sử dụng, là một phi đoàn quan sát, mà tiền thân là Phi Ðoàn 3 Quan Sát được thành lập vào tháng 12-1961 tại Ðà Nẵng, được đổi tên Phi Ðoàn 114 vào tháng 1-1963, di chuyển lên Pleiku cuối năm 1963, và sau cùng về Nha Trang từ tháng 1-1965. Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Phan Quang Phúc. Phi Ðoàn 114 cũng sử dụng 2 loại phi cơ quan sát là O-1 và U-17 như các Phi Ðoàn 110 và 120, thuộc Sư Ðoàn 1 KQ đã trình bày bên trên. Phi Ðoàn 215, phi đoàn thứ nhì mang phiên hiệu này, là một phi đoàn trực thăng. Phi Ðoàn 215 thứ nhứt được thành lập vào đầu năm 1963 tại Tân Sơn Nhứt để phụ trách huấn luyện nhưng không có kết quả tốt nên đã bị giải tán vào tháng 5-1964. Ðến tháng 9-1964, một phi đoàn trực thăng mới được thành lập tại Ðà Nẵng và được mang phiên hiệu 215 này, với danh hiệu Thần Tượng và ban chỉ huy gồm: - Ðại Úy Trần Minh Thiện: Chỉ Huy Trưởng - Trung Úy Ðặng Trần Dưỡng: Chỉ Huy Phó - Thiếu Úy Nguyễn Văn Trang: Trưởng Phòng Hành Quân - Thiếu Úy Phạm Bính: Phụ Tá Phi Ðoàn 215 cùng với Phi Ðoàn 213, đều sử dụng trực thăng UH-1, phụ trách huấn luyện và hành quân cho đến đầu năm1965 thì chuyển về Nha Trang. Phi Ðoàn 219, mang danh hiệu Long Mã, được thành lập tại Ðà Nẵng vào đầu năm 1966 do sự sáp nhập của 2 biệt đội trực thăng H-34 chuyên thả các toán Lôi Hổ của Lực Lượng Ðặc Biệt. Trong thời gian đầu, Phi Ðoàn 219 trực thuộc Biệt Ðoàn 83 đóng tại Tân Sơn Nhứt cho đến khi Biệt Ðoàn 83 bị giải tán vào năm 1969 thì chuyển sang trực thuộc Không Ðoàn 62 Chiến Thuật. Khi mới thành lập Phi Ðoàn 219 có ban chỉ huy đầu tiên như sau: - Ðại Úy Hồ Bảo Ðịnh: Chỉ Huy Trưởng - Ðại Úy Trần Văn Luân: Chỉ Huy Phó - Ðại Úy Nguyễn Văn Nghĩa: Trưởng Phòng Hành Quân - Ðại Úy Nguyễn Phi Hùng: Sĩ Quan Phụ Tá - Trung Úy Nguyễn Hữu Lộc: Sĩ Quan Huấn Luyện - Trung Úy Ðỗ Văn Hiếu: Sĩ Quan An Phi Sau khi thành lập, Phi Ðoàn 219, sử dụng trực thăng H-34, vẫn tiếp tục thực hiện các phi vụ thả các toán Lôi Hổ. Cuối năm 1971, cũng như các Phi Ðoàn 213 và 215, Phi Ðoàn 219 chuyển sang sử dụng trực thăng UH-1.


19 Biệt Ðội 259C là Biệt Ðội C của Phi Ðoàn 259, mang danh hiệu Nhân Ái, là một phi đoàn sử dụng trực thăng UH-1 và chuyên về tải thương. Phi Ðoàn 259 gồm có tất cả 8 biệt đội mang ký hiệu từ chữ A đến chữ H, và trú đóng tại các Căn Cứ KQ như trong bảng liệt kê sau đây: Phi Ðội 259A: Phù Cát (Bình Ðịnh) Phi Ðội 259B: Pleiku Phi Ðội 259C: Nha Trang Phi Ðội 259D: Phan Rang Phi Ðội 259E: Biên Hòa Phi Ðội 259F: Cần Thơ Phi Ðội 259G: Tân Sơn Nhứt Phi Ðội 259H: Bình Thủy Phi Ðoàn 817, theo hệ thống phiên hiệu của KQ VNCH, là một phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunship, cường kích hay hỏa long) được trang bị phi cơ AC-47D Spooky như trong hình dưới đây: Phi cơ AC-47D Spooky chính là một chiếc phi cơ DC-3 Dakota được trang bị hỏa lực hùng hậu để thực hiện các phi vụ yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị bạn hay các tiền đồn hẻo lánh bị địch bao vây. Loại phi cơ này mang những đặc tính như sau: 23 - Chiều dài: 19, m - Sải cánh: 28,9 m - Chiều cao: 5,2 m - Trọng lượng: 8.2 kg


20 - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney R-1830-90C, 1,200 mả lực mổi cái - Vận tốc: bình phi 280 km/giờ; tối đa 375 km/giờ - Tầm hoạt động: 3,500 km - Cao độ tối đa: 7.450 m - Phi hành đoàn: 7 người, gồm, phi công chính, phi công phụ, navigator, cơ phi, loadmaster, và 2 xạ thủ đại liên - Trang bị hỏa lực: . 3 đại liện 7,62 ly loại GAU-2/M134 minigun, có thể bắn với vận tốc 2000 viên/phút . hoặc 10 đại liên 7,62 ly loại Browning AN/M2 . 48 hỏa châu loại Mk 24 Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 62 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 114 Ðầu tiên: Ðại Úy Phan Quang Phúc Cuối cùng(XLTV): Trung Tá Võ Văn Oanh Sao Mai Phi Ðoàn 215 Ðầu tiên: Thiếu Tá Trần Minh Thiện Cuối cùng: Trung Tá Khưu Văn Phát Thần Tượng Phi Ðoàn 219 Ðầu tiên: Thiếu Tá Hồ Bảo Ðịnh Cuối cùng: Trung Tá Phạm Ðăng Luân Long Mã Biệt Ðội 259C Thiếu Tá Nguyễn Minh Lương Nhân Ái Phi Ðoàn 817 Trung Tá Huỳnh Quang Tòng Hỏa Long


21 Trong cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 của QLVNCH tấn công sang Hạ Lào để phá hủy các căn cứ hậu cần trên đường mòn Hồ Chí Minh của địch quân trong 2 tháng 2 và 3-1971, các phi đoàn trực thăng của KQ VNCH đã tham chiến, thực hiện rất nhiều những phi vụ đổ quân, tiếp tế, và tải thương, và đã chịu nhiều thiệt hại. Rất tiếc hiện nay vẫn chưa có một tài liệu nào tổng kết những thiêt hại của ngành trực thăng trong cuộc hành quân hết sức quan trọng này. Bài viết “Chuyến bay tử thần vào Ðồi 31 Hạ Lào” của tác giả Bùi Tá Khánh, một phi công của Phi Ðoàn 219 Long Mã, ghi lại những hy sinh bi thương và hùng tráng của 2 phi hành đoàn thuộc Phi Ðoàn 219, mà chính tác giả là một nhân chứng.24 Một chi tiết cần lưu ý là trong bài viết này, tác giả cho biết Phi Ðoàn 219, tại thời điểm này (tháng 2-1971), vẫn còn sử dụng trực thăng H-34 và vẫn còn thuộc Không Ðoàn 51, Sư Ðoàn 1 KQ trú đóng tại Ðà Nẵng. Không Ðoàn 92 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 92 Chiến THuật Không Ðoàn 92 được thành lập vào giữa năm 1972 và đóng tại Phan Rang, với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá (sau thăng cấp lên Ðại Tá) Lê Văn Thảo, gồm có 3 phi đoàn khu trục phản lực cơ A-37 là các Phi Ðoàn 524, 534, và 548, và một Biệt Ðội tải thương là Biệt Ðội 259D với phi cơ trực thăng UH-1. Phi Ðoàn 524, mang danh hiệu Thiên Lôi, mà tiền thân là 1 Biệt Ðội của Phi Ðoàn 516, được thành vào ngày 15-9-1965 tại Nha Trang, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Nguyễn Quang Ninh, và Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Sử Ngọc Cả. Phi Ðoàn 524 là phi đoàn đầu tiên tiếp nhận khu trục phản lực cơ A-37. Phi Ðoàn 534, mang danh hiệu Kim Ngưu, cũng là một phi đoàn khu trục phản lực cơ A-37, được thành lập vào giữa năm 1972 tại Phan Rang với Phi Ðoàn Trường đầu tiên và cũng là duy nhứt (cho đến ngày 30-4-1975) là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thi (về sau thăng Trung Tá)


22 Phi Ðoàn 548, mang danh hiệu Ó Ðen, cũng được trang bị khu trục phản lực cơ A-37, được thành lập vào cuối năm 1972 tại Phan Rang, với Phi Ðoàn Trường đầu tiên là Thiếu Tá Trần Mạnh Khôi (sau thăng Trung Tá). Ngoài các phi đoàn khu trục phản lực cơ vừa kể trên, Không Ðoàn 92 Chiến Thuật còn có Biệt Ðội tải thương 259D với phi cơ trực thăng UH-1. Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 92 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trường Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 524 Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Quang Ninh Cuối cùng: Trung Tá Sử Ngọc Cả Thiên Lôi Phi Ðoàn 534 Trung Tá Nguyễn Văn Thi Kim Ngưu Phi Ðoàn 548 Trung Tá Trần Mạnh Khôi Ó Ðen Biệt Ðội 259D Thiếu Tá Tô Thành Nhân Nhân Ái


23 Sư Ðoàn 3 Không Quân Huy hiệu Sư Ðoàn 3 Không Quân Sư Ðoàn 3 KQ được thành lập vào tháng 5-1970 tại Biên Hòa với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Hỳnh Bá Tính, về sau, vào ngày 1-11-1972, vinh thăng Chuẩn Tướng. Chuần Tướng Tính tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Văn Duyệt) của Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức (tháng 6-1952) với cấp bậc Thiếu Úy, trúng tuyển vào KQ, và tốt nghiệp khóa huấn luyện hoa tiêu tại Marrakech, Maroc, Bắc Phi, trờ thành một trong những phi công đầu tiên của KQ VNCH. Trước khi đảm nhận chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 3 KQ, Tướng Tính đã từng giữ các chức vụ: Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn 2 Quan Sát tại Nha Trang và Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 74 Chiến Thuật tại Cần Thơ.25 Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính


24 Sư Ðoàn 3 KQ gồm có 3 không đoàn là các Không Ðoàn 23 Chiến Thuật, Không Ðoàn 43 Chiến Thuật, và Không Ðoàn 63 Chiến Thuật. Không Ðoàn 23 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 23 Chiến Thuật Không Ðoàn 23 Chiến Thuật được thành lập vào giữa năm 1964 tại Biên Hòa, với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Phạm Long Sửu, và Không Ðoàn Phó là Thiếu Tá Phạm Phú Quốc. Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Hoàng Thanh Nhã. Không Ðoàn 23 gồm có tất cả 4 phi đoàn: 2 phi đoàn quan sát là các Phi Ðoàn 112 và Phi Ðoàn 124 sử dụng các phi cơ O-1 Bird Dog và U-17 Skywagon; và 2 phi đoàn khu trục là các Phi Ðoàn 514 và Phi Ðoàn 518 sử dụng phi cơ khu trục A-1 Skyraider. Phi Ðoàn 112, mà tiền thân là Phi Ðoàn 2 Quan Sát và Trợ Chiến được thành lập vào tháng 1-1952 tại Nha Trang, di chuyển về Tân Sơn Nhứt tháng 10-1959, đổi tên thành Phi Ðoàn 112, danh hiệu là Thanh Xà, vào tháng 1-1963, và sau cùng chuyển về Biên Hòa tháng 6-1964. Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Võ Dinh (cấp bậc sau cùng là Chuẩn Tướng, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Không Quân 26 ), và Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Lý Thành Ba). Phi Ðoàn 124, phi đoàn quan sát cuối cùng của KQ VNCH, mang danh hiệu Thần Ðiểu, được thành lập vào cuối năm 1971 tại Biên Hòa, với Phi Ðoàn Trưởng là Trung Tá Võ Trung Nhơn. Phi Ðoàn 514, mang danh hiệu Phượng Hoàng, là phi đoàn khu trục kỳ cựu nhứt của Không Lực VNCH. Tiền thân của nó chính là Phi Ðoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát được thành lập vào năm 1956, trang bị phi cơ F-8F Bearcat, với Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Huỳnh Hữu Hiền (về sau thăng cấp Ðại Tá và là Tư Lệnh Không Quân trong một thời gian ngắn, 1962-1963). Năm 1960, phi đoàn đổi tên thành Phi Ðoàn 514, trang bị phi cơ A1-H Skyraider, với Chỉ Huy Trưởng là Ðại Úy Nguyễn Quang Tri. Ðại Tá Tri là một trong những phi công khu trục đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp từ


25 Trường Võ Bị Không Quân Pháp nổi tiếng Salon-de-Provence, là vị chỉ huy đã đào tạo rất nhiều phi công khu trục tài ba cho KQVNCH. Một trong những phi công này là ông Lê Bá Ðịnh về sau là Thiếu Tá Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn khu trục 530 Thái Dương và Trung Tá Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 72 Chiến Thuật thuộc Sư Ðoàn 6 KQ ở Pleiku. Ðại Tá Tri về sau thăng lên cấp Ðại Tá, và là Phụ Tá Tư Lệnh KQ đặc trách về Phòng Không tại Bộ Tư Lệnh KQ. Sau khi sang Mỹ trong diện HO, Ðại Tá Tri là người chủ trương hai Trang Web nổi tiếng trong giới cựu quân nhân Không Quân là Bạn Già Không Quân và Cánh Chim Tự Do. Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng của Phi Ðoàn 514 Phượng Hoàng là Trung Tá Nguyễn Văn Vượng. Phi Ðoàn 518, danh hiệu Phi Long, được thành lập vào đầu năm 1964, trang bị phi cơ khu trục A1-H Skyraider, với Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Phạm Phú Quốc (là một trong 2 phi công đã ném bom Dinh Ðộc Lập vào ngày 27-2-1962; ngày 19- 4-1965, lúc đó đã thăng lên cấp Trung Tá và đang giữ chức vụ Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 23 Chiến Thuật, ông đã hy sinh khi chỉ huy 6 phi tuần Skyraider trong một phi vụ Bắc Phạt oanh tạc Hà Tỉnh). Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Lê Quốc Hùng Phi cơ khu trục A1-H Skyraider mà 2 Phi Ðoàn 514 và 518 được trang bị chính là phi cơ khu trục AD-6 của hảng Douglas như trong hình dưới đây: Phi cơ khu trục A1-H Skyraider mang những đặc tính như sau: 27 - Chiều dài: 11,84 m - Sải cánh: 15,25 m - Chiều cao: 4,78 m - Trọng lượng: 5.429 kg - Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt loại Wright R-3350-26WA, với sức đẩy 2.700 mã lực


26 - Vận tốc: bình phi 319 km/giờ, tối đa 518 km/giờ - Tầm hoạt động: 2.115 km - Cao độ tối đa: 8.685 m - Phi hành đoàn: 1 phi công - Trang bị hỏa lực: . 4 đại liên 20 mm loại AN-M3 . 15 rack để gắn bom hay hỏa tiển dưới cánh và thân mình tối đa là 3.600 kg Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 23 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðòan 112 Ðầu tiên: Ðại Úy Võ Dinh Cuối cùng: Trung Tá Lý Thành Ba Thanh Xà Phi Ðoàn 124 Trung Tá Võ Trung Nhơn Thanh Ðiểu Phi Ðoàn 514 Ðầu tiên: Ðại Úy Huỳnh Hữu Hiền Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Vượng Phượng Hoàng Phi Ðoàn 518 Ðầu tiên: Thiếu Tá Phạm Phú Quốc Cuối cùng: Thiếu Tá Lê Quốc Hùng Phi Long


27 Không Ðoàn 43 Chiến Thuật Huy hiện Không Ðoàn 43 Chiến Thuật Không Ðoàn 43 Chiến Thuật, được thành lập tại Biên Hòa, là một không đoàn chuyên về trực thăng, gồm có tất cả 6 phi đoàn và 1 biệt đội là: 1 phi đoàn trang bị trực thăng CH-47 Chinook là Phi Ðoàn 237, 5 phi đoàn trang bị trực thăng UH-1 là các Phi Ðoàn 221, 223, 231, 245, 251, và Biệt Ðội 259E phụ trách tải thương cũng trang bị trực thăng UH-1. Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Vũ Quang Triệu. Dưới đây là bảng liệt kê các đơn vị của Không Ðoàn 43 Chiến Thuật với tên họ các vị chỉ huy trưởng, cùng với danh hiệu và huy hiệu: Ðơn Vị Chỉ Huy Trường Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 221 Ðầu tiên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Trọng Lôi Vũ Phi Ðoàn 223 Trung Tá Trần Văn Luân Lôi Ðiểu Phi Ðoàn 231 Trung Tá Nguyễn Hữu Lộc Lôi Vân Phi Ðoàn 237 Ðầu tiên: Trung Tá Hồ Bảo Ðịnh Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Phú Chính Lôi Thanh


28 Phi Ðoàn 245 Trung Tá Nguyễn Hữu Lai Lôi Bằng Phi Ðoàn 251 Trung Tá Dương Quang Lễ Lôi Thiên Biệt Ðội 259E Ðầu tiên: Thiếu Tá Ðặng Kim Quy Cuối cùng: Thiếu Tá Huỳnh Văn Du Nhân Ái Vào mùa hè 1972, Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức, Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn 221 (từ tháng 1-1973, là Trung Tá Không Ðoàn Phó, Không Ðoàn 64 Chiến Thuật, thuộc Sư Ðoàn 4 KQ ở Cần Thơ), là người chỉ huy tất cả các cuộc hành quân trực thăng vận (đổ quân), tiếp tế, và tải thương của Phi Ðoàn 221 cho chiến trường An Lộc.28 Không Ðoàn 63 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 63 Chiến Thuật Ðây là một không đoàn gồm toàn khu trục phản lực cơ F-5. Do đó Không Ðoàn 63 Chiến Thuật cũng được biết đến dưới biệt danh (nickname) là Không Ðoàn F-5 và hồm có tất cả 6 Phi Ðoàn sử dụng phản lực cơ F-5: đó là các Phi Ðoàn 522, 536, 538 (biệt phái cho Sư Ðoàn 1 KQ tại Ðà Nẵng, như đã ghi chú bên trên), 540, 542, và 544, với danh hiệu, huy hiệu, và chỉ huy trưởng như sau:


29 Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 522 Ðại Úy Nguyễn Quốc Hưng Thần Ưng Phi Ðoàn 536 Thiếu Tá Ðàm Thượng Vũ Thiên Ưng Phi Ðoàn 538 Thiếu Tá Phạm ÐÌnh Anh Hồng Tiễn Phi Ðoàn 540 Thiếu Tá Nguyễn Tiến Thành Hắc Ưng Phi Ðoàn 542 Thiếu Tá Trịnh Bửu Quang Kim Ưng Phi Ðoàn 544 Thiếu Tá Nguyễn Văn Tường Hải Ưng Sư Ðoàn 4 Không Quân Huy hiệu Sư Ðoàn 4 Không Quân Sư Ðoàn 4 KQ được thành lập vào tháng 3-1970 tại Cần Thơ với Sư Ðoàn Trưởng đầu tiên là Ðại Tá Nguyễn Huy Ánh, về sau, vào ngày 1-11-1971, vinh thăng Chuẩn Tướng. Tướng Ánh là dân chính trúng tuyển vào KQ, được gửi sang Pháp theo học các khóa huấn luyện hoa tiêu, và tốt nghiệp thủ khoa khóa 1955 với cấp bậc Thiếu Úy. Ông cũng là một trong những phi công trực thăng đầu tiên được huấn luyện tại Hoa Kỳ. Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 4 KQ, Tướng Ánh đã từng là Phi Ðoàn Trưởng các Phi Ðoàn trực thăng 215, 211, và Không


30 Ðoàn Trưởng các Không Ðoàn Chiến Thuật 74 và 62. Chuẩn Tướng Ánh tử nạn trực thăng vì công vụ ngày 27-4-1972, và được truy thăng lên cấp Thiếu Tướng 29 Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh Sau đó Ðại Tá Nguyễn Hữu Tần, đang giữ chức vụ Tham Mưu Phó Hành Quân tại Bộ Tư Lệnh KQ, được đề cử thay thế Thiếu Tướng Ánh làm Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 4 KQ vào cuối tháng 4-1972. Ngày 1-4-1974, Ðại Tá Tần vinh thăng Chuẩn Tướng. Tướng Tần tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Lợi) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh (tháng 6-1952) với cấp bậc Thiếu Úy; sau đó chuyển sang KQ, theo học và tốt nghiệp Thủ Khoa Khóa 5 Hoa Tiêu Quan Sát (1956) tại Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang. Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Lệnh Sư Ðoàn 4 KQ, ông đã từng giữ các chức vụ: Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn 1 và Phi Ðoàn 2 Quan Sát, Không Ðoàn Phó Không Ðoàn 62 Chiến thuật lúc mới thành lập do Trung Tá Trần Văn Minh (sau là Trung Tướng Tư Lệnh KQ) là Không Ðoàn Trưởng.30 Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần


31 Sư Ðoàn 4 KQ gồm có 3 không đoàn là Không Ðoàn 64 Chiến Thuật, Không Ðoàn 74 Chiến Thuật, và Không Ðoàn 84 Chiến Thuật. Không Ðoàn 64 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 64 Chiến Thuật Không Ðoàn 64 Chiến Thuật đóng tại Cần Thơ, với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá Trương Thành Tâm (trước là Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn trực thăng 217), gồm có tất cả 3 phi đoàn và 1 biệt đội trực thăng: 2 phi đoàn trực thăng UH-1 là Phi Ðoàn 217 và Phi Ðoàn 255, 1 phi đoàn trực thăng CH-47 Chinoook là Phi Ðoàn 249, và 1 biệt đội tải thương là Biệt Ðội 259F cũng sử dụng trực thăng UH-1. Phi Ðoàn 217, mang danh hiệu Thần Ðiểu, là một trong những phi đoàn trực thăng đầu tiên của KQ VNCH khi chuyển từ trực thăng H-19 của KQ Pháp giao lại sang trực thăng H-34. Thành lập tại Ðà Nẵng vào tháng 4-1964, Phi Ðoàn 217 có ban chỉ huy đầu tiên như sau: 31 - Chỉ Huy Trưởng: Ðại Úy Ong Lợi Hồng (cấp bậc sau cùng là Ðại Tá, Sư Ðoàn Phó Sư Ðoàn 4 KQ) - Chỉ Huy Phó: Trung Úy Mai Văn Hải - Sĩ Quan Hành Quân: Thiếu Úy Nguyễn Văn Phú Hiệp - Sĩ Quan An Phi: Thiếu Úy Hồng Văn Tý - Sĩ Quan Kỹ Thuật: Chuẩn Úy Trần Phước Hội Sau đó phi đoàn chuyển về đóng tại Tân Sơn Nhứt một thời gian rồi chuyển về và đổn trú vĩnh viễn tại phi trường Trà Nóc ở Cần Thơ. Một thời gian sau, Phi Ðoàn 217 có ban chỉ huy mới với Thiếu Tá (về sau thăng lên Trung Tá) Trương Thành Tâm làm Phi Ðoàn Trưởng và Ðại Úy Nguyễn Thanh Hải (về sau thăng lên Trung Tá, công tác tại Phòng Thanh Tra, phụ trách về An Phi, tại Bộ Tư Lệnh KQ) là Phi Ðoàn Phó. Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Nguyễn Văn Vọng. Sau khi về Trà Nóc một thời gian, Phi Ðoàn 217 chuyển sang trang bị trực thăng UH-1.


32 Phi Ðoàn 255, mang danh hiệu Xà Vương, là một trong những phi đoàn trực thăng UH-1 được thành lập sau cùng (đầu năm 1973) của KQ VNCH, với Phi Ðoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn Kim Huờn. Phi Ðoàn 249 là phi đoàn trực thăng CH-47 Chinook được thành lập sau cùng (tháng 12-1972) của KQ VNCH, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Tống Phước Hào (về sau thăng cấp lên Trung Tá). Ðơn vị cuối cùng của Không Ðoàn 64 Chiến Thuật là một phi đội UH-1 chuyên thực hiện các phi vụ tải thương: đó là Biệt Ðội 259F mà Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Thành Quới. Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các đơn vị của Không Ðoàn 64 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 217 Ðầu tiên: Ðại Úy Ong Lợi Hồng Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Vọng Thần Ðiểu Phi Ðoàn 249 Ðầu tiên: Thiếu Tá Tống Phước Hào Thứ nhì: Thiếu Tá Phạm Văn Trung Cuối cùng: Thiếu Tá Phạm Xuân Việt Mãnh Long Phi Ðoàn 255 Trung Tá Nguyễn Kim Hườn Xà Vương Biệt Ðội 259F Thiếu Tá Nguyễn Thành Quới Nhân Ái Ghi chú: Thiếu Tá Phạm Văn Trung, vào KQ Khóa 63A, đã từng phục vụ tại các phi đoàn trực thăng 215, 219, 237, 241, nhậm chức Phi Ðoàn Trường Phi Ðoàn 249 (Chinook) ngày 10-12-1974, và hy sinh ngày 12-12-1974 tại chiến trường Mộc Hóa khi chiếc Chinook của ông bị trúng hỏa tiển tầm nhiệt SA7. Ông được truy thăng lên Trung Tá.32


33 Không Ðoàn 74 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 74 Chiến Thuật Không Ðoàn 74 Chiến Thuật được thành lập tại Cần Thơ vào tháng 4-1964 với các vị Không Ðoàn Trưởng lần lượt như sau: đầu tiên là Trung Tá Trần Văn Minh (về sau là Trung Tướng Tư Lệnh KQ), thứ nhì là Trung Tá Huỳnh Bá Tinh (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 3 KQ), thứ ba là Trung Tá Nguyễn Huy Ánh (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 4 KQ), và cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Quang Ninh. Không Ðoàn 74 Chiến Thuật gồm có tất cả 5 phi đoàn: - 2 phi đoàn quan sát: Phi Ðoàn 116 sử dụng phi cơ O-1 Bird Dog, và Phi Ðoàn 122 sử dụng phi cơ U-17A/B Skywagon - 3 phi đoàn khu trục: Phi Ðoàn 520, Phi Ðoàn 526, và Phi Ðoàn 546 tất cả đều trang bị khu trục phản lực cơ A-37B Dragonfly Phi Ðoàn 116, mang danh hiệu Sơn Ca (trước là Thần Ưng), được thành lập vào tháng 6-1964 tại Nha Trang, sau đó chuyễn về Cần Thơ vào tháng 7-1964. Phi Ðoàn Trưởng cuối cùng (xử lý thường vụ) là Trung Tá Bùi Thanh Sử. Phi Ðoàn 122, mang danh hiệu Hoa Mi (trước là Thần Tiễn), được thành lập vào tháng 8-1972, với Phi Ðoàn Trưởng là Trung Tá Trần Trọng Khương. Phi Ðoàn 520, mang danh hiệu Thần Báo, được thành lập năm 1964 tại Biên Hòa, với Chỉ Huy Trưởng đầu tiên là Ðại Úy Nguyễn Ngọc Biện, trang bị phi cơ khu trục cánh quát A-1H Skyraider, di chuyển về Cần Thơ vào giữ năm 1965, và đến năm 1968 thì chuyển sang trang bị với khu trục phản lực cơ A-37. Phi Ðoàn 526, mang danh hiệu Quỷ Vương, được thành lập năm 1971 tại Cần Thơ, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hải. Phi Ðoàn 546, mang danh hiệu Thiên Sứ, được thành lập vào cuối năm 1972, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Lê Mộng Hoan.


34 Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 74 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 116 Trung Tá Bùi Thanh Sử Sơn Ca Phi Ðoàn 122 Trung Tá Trần Trọng Khương Họa Mi Phi Ðoàn 520 Ðại Úy Nguyễn Ngọc Biên Thần Báo Phi Ðoàn 526 Thiếu Tá Huỳnh Hữu Hải Quỷ Vương Phi Ðoàn 546 Thiếu Tá Lê Mộng Hoan Thiên Sứ Không Ðoàn 84 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 84 Chiến Thuật


Click to View FlipBook Version