The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2023-01-31 14:42:38

Lâm Vĩnh Thế Sưu Tâp 01

Lâm Vĩnh Thế Sưu Tâp 01

35 Không Ðoàn 84 Chiến thuật, được thành lập tại Sóc Trăng sau dời về Cần Thơ, gồm có 3 phi đoàn UH-1 là các Phi Ðoàn 211, 225 và 227, và 1 biệt đội tải thương cũng sử dụng trực thăng UH-1 là Biệt Ðội 259H, với các vị chỉ huy, danh hiệu và huy hiệu như sau: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 211 Ðầu tiên: Ðại Úy Nguyễn Ðức Hớn Cuối cùng: Trung Tá Trần Quế Lâm Thần Chùy Phi Ðoàn 225 Trung Tá Lê Văn Châu Ác Ðiểu Phi Ðoàn 227 Trung Tá Trần Châu Rết Hải Âu Biệt Ðội 259H Thiếu Tá Nguyễn Trọng Thanh Nhân Ái Sư Ðoàn 5 Không Quân Huy hiệu Sư Ðoàn 5 Không Quân Sư Ðoàn 5 KQ được thành lập vào tháng 1-1971 tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt với Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Phan Phụng Tiên, về sau, vào ngày 1-11-1972, vinh thăng Chuẩn Tướng. Tướng Tiên tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Lợi) Trường Sĩ Quan


36 Trừ Bị Nam Ðịnh (tháng 6-1952) với cấp bậc Thiếu Úy. Sau đó ông chuyển sang KQ. Ông tốt nghiệp Khóa 52F1 tại Marrakech, Maroc, Bắc Phi cùng với các ônh Huỳnh Hữu Hiền (về sau là Ðại Tá Tư Lệnh KQ, 1962-1963), Phạm Ngọc Sang (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 6 KQ), và Huỳnh Bá Tính (về sau là Chuẩn Tướng Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 3 KQ). Năm 1954 ông thăng cấp Ðại Úy và làm Chỉ Huy Trưởng Phi Ðoàn 1 Vận Tải. Ông chính là phi công trưởng lái chiếc vận tải cơ C-47 đưa Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi và các sĩ quan nhảy dù sang tị nạn chính trị tại Cao Miên sau khi cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960 thất bại. Sau khi cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 thành công, ông trở về nước, thăng cấp Thiếu Tá. Năm 1968, ông thăng cấp Ðại Tá và được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Tân Sơn Nhứt sau khi Ðại Tá Lưu Kim Cương tử trận.33 Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên Sư Ðoàn 5 KQ gồm có 2 không đoàn: Không Ðoàn 33 Chiến Thuật và Không Ðoàn 53 Chiến Thuật. Không Ðoàn 33 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 33 Chiến Thuật Không Ðoàn 33 Chiến Thuật, đóng tại Tân Sơn Nhứt, được thành lập vào tháng 1-1964 với Chỉ Huy Trưởng lần lượt là các sĩ quan cao cấp sau đây:


37 Ðại Tá Hà Xuân Vịnh Ðại Tá Phạm Ngọc Sang Trung Tá Lưu Kim Cương Ðại Tá Dương Thiệu Hùng Ðại Tá Phan Phụng Tiên Ðại Tá Bùi Ðức Mỹ Không Ðoàn 33 gồm có tất cả 5 phi đoàn và 1 biệt đội: Phi Ðoàn đặc nhiệm 314, 2 Phi Ðoàn vận tải 429 và 431, 2 Phi Ðoàn không thám điện tử 716 và 718, và Biệt Ðội tải thương 259G. Phi Ðoàn đặc nhiệm 314, mang danh hiệu Thần Tiễn, với Phi Ðoàn Trưởng đầu tiên là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Trí, trên nguyên tắc là một phi đoàn vận tải, sử dụng một số phi cơ vận tải như C-47, DC-6B, nhưng trên thực tế đây là một phi đoàn đặc nhiệm chuyên phụ trách việc chuyên chở các yếu nhân chính trị và quân sự của chính phủ VNCH. Do đó trong giới KQ người ta thường gọi Phi Ðoàn 314 là Phi Ðoàn VIP (chữ tắt tiếng Anh mà giới truyền thông Hoa Kỳ thường sử dụng: Very Important Persons = Những Người Rất Quan Trọng).34 Phi cơ C-47 của Phi Ðoàn 314 Thần Tiễn


38 Phi cơ DC-6B của Phi Ðoàn 314 Thần Tiễn Hai Phi Ðoàn 429 và 431, cùng với Phi Ðoàn 427 (đã đề cập đến trong phần về Sư Ðoàn 1 KQ bên trên) đều là các phi đoàn vận tải sử dụng phi cơ C-7A Caribou. Cả 3 phi đoàn này đều được thành lập tại Căn Cứ KQ Phù Cát, thuộc tỉnh Bình Ðịnh, đầu tiên là Phi Ðoàn 427 (tháng 2-1972), kế đến là Phi Ðoàn 429 (tháng 4-1972), và sau cùng là Phi Ðoàn 431 (tháng 6-1972). Tháng 6-1972, Phi Ðoàn 427 di chuyển ra đóng tại Căn Cứ Ðà Nẵng và trực thuộc Không Ðoàn 41 của Sư Ðoàn 1 KQ. Phi Ðoàn 429, có danh hiệu là Sơn Long, với Chỉ Huy Trưởng là Trung Tá Cung Thăng An, Chỉ Huy Phó là Trung Tá Nguyễn Viết Xương; tháng 4-1973, phi đoàn di chuyển về Căn Cứ Tân Sơn Nhứt và trực thuộc Không Ðoàn 33 Chiến Thuật. Phi Ðoàn 431, có danh hiệu là Phương Long, với Chì Huy Trưởng là Trung Tá Nguyễn Viết Xương (từ Phi Ðoàn 429 chuyển sang), Chỉ Huy Phó là Thiếu Tá Huỳnh Ngọc Nghĩa, và Trưởng Phòng Hành Quân là Thiếu Tá Nguyễn Ðình Thảo; tháng 11-1972, phi đoàn di chuyển về Căn Cứ Tân Sơn Nhứt và trực thuộc Không Ðoàn 33 Chiến Thuật.35 Hai Phi Ðoàn 716 và 718 là những phi đoàn không thám điện tử, tuy là các đơn vị của Sư Ðoàn 5 KQ, nhưng thật ra là những phi đoàn đặt dưới sự điều động của Ðơn Vị 17 của Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu (đặc trách về tình báo tín hiệu –Signal Intelligence hay SIGINT--).36 Phi Ðoàn 716 sử dụng phi cơ U-6A Beaver là một kiểu đã được thiết kế lại của phi cơ quan sát L-20 của hảng de Havilland (Canada) như trong hình sau đây:


39 Phi cơ U-6A Beaver Phi cơ U-6A Beaver mang những đặc tính như sau: - Chiều dài: 9,24 m - Sải cánh: 14,63 m - Chiều cao: 2,74 m - Trọng lượng: 1.293 kg - Ðộng cơ: 1 động cơ cánh quạt Pratt & Whitner loại R-985-AN, với sức đẩy 450 mã lực - Vận tốc: bình phi 177 km/giờ, tối đa 225 km/giờ - Tầm hoạt động: 1.239 km - Phi hành đoàn: 1 phi công - Trang bị hỏa lực: không có Phi Ðoàn 718 được chính thức thành lập vào năm 1973 tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt với ban chỉ huy như sau: 37 - Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Nguyễn Hữu Bách - Phi Ðoàn Phó: Thiếu Tá Phan Văn Lộc - Phụ trách Ðiều Hành Viên: Thiếu Tá Nguyễn Văn Thắng Phi Đoàn 718 thực hiện các phi vụ không thám điện tử (thường có thời gian từ 3 đến 5 giờ đồng hồ), là một phi đoàn có quân số lớn nhất với hơn 500 quân nhân các cấp và 36 phi cơ EC-47 được trang bị với hệ thống ALR-34. Phi hành đoàn âm thầm thi hành nhiệm vụ, không bao giờ tiết lộ việc hành quân kể cả người thân. Nhân viên Phi Đoàn 718 phải qua máy nói sự thật (Polygragh test) và tuân theo những luật lệ đặc biệt như phải giữ bí mật về hoạt động và nhất là không được chụp ảnh của phi cơ bất luận bên trong hay bên ngoài. Vì lý do nầy hình ảnh hoạt động của Phi Đoàn 718 rất hiếm.


40 Phi cơ EC-47D Dakota Phi cơ EC-47D Dakota chính là một dạng phi cơ quân sự, được đặc biệt trang bị thêm các máy móc điện tử dùng trong không thám điện tử, của phi cơ DC-3 Dakota của hảng Douglas nổi tiếng là chiếc phi cơ được thiết kế thành công nhứt trong lịch sử hàng không thế giới (hiện nay DC-3 là phi cơ đang còn được sử dụng có tuổi đời cao nhứt thế giới –ra đời từ năm 1936-- ; vào năm 2013 người ta ước lượng vẫn còn có khoảng 2.000 chiếc DC-3 còn đang được sử dụng trên khắp thế giới). Phi cơ EC-47D Dakota mang những đặc tính như sau: 38 - Chiều dài: 19,43 m - Sải cánh: 29,41 m - Chiều cao: 5,18 m - Trọng lượng: 8.226 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney R-1830-90C, 1,200 mả lực mổi cái - Vận tốc: 380 km/giờ - Tầm hoạt động: 2,575 km - Cao độ tối đa: 8.045 m - Phi hành đoàn: 3 - Trang bị: không trang bị vũ khí, chỉ có 16 trái khói ở sau đuôi đề chống hỏa tiển tầm nhiệt SA7; bên trong phi cơ trang bị các máy móc điện tử để truy tầm và chận bắt các mẫu truyền tin của địch quân, và đặc biệt là để truy tầm và định vị các máy phát tín hiệu của địch quân thường được gọi tắt là ARDF (airborne radio direction finding), chuyện này rất quan trọng vì máy phát tín hiệu thường là bên cạnh các vị chỉ huy các đơn vị tác chiến ngay tại chiến trường. Sau khi xác định được đường kính của khu vực mục tiêu (khoàng 300 m), các oanh tạc cơ (có khi là cả phi cơ B-52) sẽ được gọi đến để thanh toán mục tiêu.


41 Biệt Ðội tải thương 259G, cũng như tất cả các biệt đội thuộc Phi Ðoàn 259, sử dụng phi cơ trực thăng UH-1. Bên dưới là bảng liệt kê danh hiệu và huy hiệu của các phi đoàn thuộc Không Ðoàn 33 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 314 Trung Tá Ðặng Ngọc Hiển Thần Tiễn Phi Ðoàn 429 Trung Tá Cung Thăng An Sơn Long Phi Ðoàn 431 Trung Tá Nguyễn Viết Xương Phương Long Phi Ðoàn 716 Ðầu tiên: Thiếu Tá Nguyễn Anh Tuấn Cuối cùng: Trung Tá Huỳnh Minh Thoại Hoàng Long Phi Ðoàn 718 Trung Tá Nguyễn Hữu Bách Thiên Long Biệt Ðội 259G Thiếu Tá Trần Quang Võ Nhân Ái


42 Không Ðoàn 53 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 53 Chiến Thuật Không Ðoàn 53 Chiến Thuật, với Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Huỳnh Văn Hiến, cũng đồn trú tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt, gồm có tất cả 8 phi đoàn: 6 phi đoàn vận tải: - Phi Ðoàn 413 sử dụng phi cơ C-119 Flying Boxcar; - 3 Phi Ðoàn 421, 423, và 425 sử dụng phi cơ C-123 Provider - 2 Phi Ðoàn 435 và 437 sử dụng phi cơ C-130 Hercules 2 phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunships, hay cường kích, hỏa long) là Phi Ðoàn 819 với phi cơ AC-119G Shadow và Phi Ðoàn 821 với phi cơ AC-119K Stinger. Phi Ðoàn 413, mang danh hiệu Xích Long, tiếp nhận 16 phi cơ C-119G vào năm 1968, hoạt động được 3 năm và bị giải tán vào cuối năm 1971, tất cả nhân viên của phi đoàn được điều sang Phi Ðoàn 821 sử dụng phi cơ AC-119K Stinger Phi Ðoàn 421 được thành lập vào tháng 4-1971 với Phi Ðoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Quế Sơn. Phi Ðoàn 423 được thành lập vào tháng 7-1971 với Phi Ðoàn Trưởng là Thiếu Tá Mạc Hữu Lộc. Phi Ðoàn 425 được thành lập vào tháng 12-1974 với Phi Ðoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Thế Thân. Mổi phi đoàn đều được trang bị 16 chiếc C-123K. Sau 2 năm hoạt động tổng cộng có tất cả 10 chiếc trong tổng số 48 chiếc C-123K Provider của 3 phi đoàn này đã bị rớt, trong đó có 4 chiếc bị hỏa lực địch bắn hạ. Cả 3 phi đoàn này bị giải tán vào đầu năm 1973 và toàn bộ phi cơ C-123 đã bị trả lại cho quân đội Mỹ.39 Hai Phi Ðoàn 435 và 437 đều được trang bị giống nhau: mổi phi đoàn 16 chiếc vận tải cơ C-130 Hercules. Phi cơ C-119 Flying boxcar là loại phi cơ vận tải với 2 động cơ cánh quạt do công ty Fairchild sản xuất như hình dưới đây:


43 Phi cơ vận tải C-119 Flying Boxcar Phi cơ C-119 Flying Boxcar mang những đặc tính như sau: 40 - Chiều dài: 26,37 m - Sải cánh: 33,3 m - Chiều cao: 8,08 m - Trọng lượng: 18.053 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney loại 28 xy-lanh R-4360-20W, với sức đẩy 3.500 mã lực mỗi cái - Vận tốc: bình phi 174 km/giờ, 242 km/giờ - Cao độ tối đa: 7.300 m - Tầm hoạt động: 2.849 km - Phi hành đoàn: 5 người gồm 2 phi công, 1 điều hành viên (navigator), 1 truyền tin (radio operator), và 1 crew chief - Khả năng vận chuyển: . người: 67 binh sĩ, hoặc 35 cáng thương binh . hàng hóa: 12.500 kg Phi cơ C-123 Provider cũng là 1 phi cơ vận tải với 2 động cơ cánh quạt do công ty Fairchild sản xuất như trong hình dưới đây:


44 Phi cơ vận tải C-123 Provider Phi cơ C-123 Provider mang những đặc tính như sau: 41 - Chiều dài: 23,25 m - Sải cánh: 33,53 m - Chiều cao: 10,39 m - Trọng lượng: 16.042 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Pratt & Whitney loại R-2800- 99W, với sức đẩy 2.500 mã lực mỗi cái; và 2 động cơ bán phản lực General Electric loại J85-GE-17 turbojet, với sức đẩy 2.850 lbf mỗi cái - Vận tốc: bình phi 278 km/giờ, 367 km/giờ - Cao độ tối đa: 6.430 m - Tầm hoạt động: 1.666 km - Phi hành đoàn: 4 người - Khả năng vận chuyển: . người: 60 binh sĩ, hoặc 50 cáng thương binh . hàng hóa: 11.000 kg Phi cơ C-130 Hercules là phi cơ vận tải lớn nhứt, với 4 động cơ cánh quạt, được Hoa Kỳ chuyển giao cho KQ VNCH trong kế hoạch Enhance Plus sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết vào đầu năm 1973:


45 Phi cơ vận tải C-130A Hercules Phi cơ C-130A Hercules mang những đặc tính như sau: 42 - Chiều dài: 29, m - Sải cánh: 40,4 m - Chiều cao: 11,6 m - Trọng lượng: 34.400 kg - Ðộng cơ: 4 động cơ cánh quạt loại Allison T56-A-15 turboprops, với sức đẩy 4590 mã lực mỗi cái - Vận tốc: bình phi 540 km/giờ, tối đa 592 km/giờ - Cao độ tối đa: 7.700 m - Tầm hoạt động: 3.800 km - Phi hành đoàn: 5 người gồm 2 phi công, 1 điều hành viên (navigator), 1 cơ phi, 1 phụ trách cất hàng (loadmaster) - Khả năng vận chuyển: . người: 92 hành khách, hoặc 64 binh sĩ nhảy dù, hoặc 74 cáng thương binh với 5 nhân viên quân y . xe cộ: 2-3 xe jeep loại Humvees, hoặc 2 thiết vận xa M113, hoặc 1 đại bác 155 mm loại Caesar self-propelled howitzer Phi Ðoàn 821, một phi đoàn yểm trợ hỏa lực (hay vận tải võ trang, gunships, hay hỏa long hay cường kich), mang danh hiệu Tinh Long, được thành lập khoảng đầu năm 1973 tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt, khi Không Lực Hoa Kỳ chuyển giao tất cả phi ơ AC-119K cho KQ VNCH theo Chương trình “Enhance Plus” sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết. Ngoài các phi đội đóng tại Tân Sơn Nhứt để yểm trợ cho Vùng III và Vùng IV, Phi Ðoàn 821 còn có thêm 2 Biệt đội, một đóng tại Ðà Nẵng để yểm trợ cho Vùng I và một Biệt Ðội đóng tại Phù Cát để yểm trợ cho Vùng II; sau vụ triệt thoái của Quân Ðoàn II giữa tháng 3-1975, Biệt Ðội đóng tại Phù Cát phải di chuyển về Phan Rang, và


46 vài ngày sau thì di chuyển về Tân Sơn Nhứt luôn. Phi Ðoàn 821 gồm có một ban chỉ huy như sau: 43, 44 - Phi Ðoàn Trưởng: Trung Tá Hoàng Nuôi - Phi Ðoàn Phó: Thiếu Tá Nguyễn Minh Nhựt - Sĩ quan hành quân: Thiếu Tá Nguyễn Hồng Sơn (Sơn voi) - Sĩ quan huấn luyện: Ðại Úy Nguyễn Văn Chẩn - Sĩ quan an phi: Ðại Úy Nguyễn Trọng Quỳnh (thay cho Ðại Úy Nguyễn Phúc Hải tử nạn trong một phi vụ huấn luyện) Phi Ðoàn 821 gồm khoảng 300 nhân viên bao gồm các hoa tiêu (phi công chánh và phụ), điều hành viên, cơ phi, chuyên viên hỏa châu và xạ thủ đại liên. Các phi vụ của Phi Ðoàn Tinh Long 821 luôn luôn được thực hiện vào ban đêm để yểm trợ cho các xã ấp, quận ly, tiền đồn, hẻo lánh, xa xôi đang bị Cộng quân lợi dụng việc tiếp viện khó khăn để tấn công và mưu toan tràn ngập. Phi Ðoàn Tinh Long 821 được trang bị phi cơ AC-119K Stinger mang những đặc tính sau đây: 45 - Chiều dài: 26,36 m - Sải cánh: 33,31 m - Chiều cao: 8,13 m - Trọng lượng: 36.468 kg - Ðộng cơ: 2 động cơ cánh quạt Wright R-3350s, 3.500 mả lực mổi cái; và 2 turbojet General Electric J85-GE-17, sức đẩy 1.293 kg mổi cái - Vận tốc: 330 km/giờ - Tầm hoạt động: 5 giờ đồng hồ - Cao độ tối đa: 2.133 m - Phi hành đoàn: 10 người gồm 1 phi công chánh, 1 phi công phụ, 1 điều hành viên (navigator), 1 quan sát viên (night observation sight NOS operator), 1 chuyên viên radar, 1 cơ phi, 1 chuyên viên hỏa châu, và 3 xạ thủ đại liên - Trang thiết bị và hỏa lực hỏa lực:


47 - 4 khẩu đại liên 7,62 mm loại SUU-11A với 21.500 viên đạn; về sau được thay bằng loại MXU-470/A - 2 khẩu đại liên 20 mm loại M61-A1 với 3.000 viên đạn (hai loại đại liên này đều được điều khiển bằng máy vi tính) - 24 hỏa châu loại MK-24 với máy phóng LAU-74/A - 1 đèn rọi có độ sáng 1,5 triệu nến - 3 loại máy radar: APQ-136 (forward looking radar), AAD-4 (forward looking infrared radar), và AN/APQ-133 (beacon tracking radar) - máy chống radar địch APR-25/26 (electronic countermeasures (ECM) warning device) Trong tháng 4-1975, cũng như một số đơn vị khác của Sư Ðoàn I đã di tản về đồn trú tại Căn Cứ KQ Tân Sơn Nhứt, Phi Ðoàn 821 vẫn còn tiếp tục chiến đấu và hy sinh trong ngày cuối cùng của cuộc chiến như trong bài viết sau đây: 46 “… Khoảng 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4, Tinh Long 7, chiếc AC-119K cuối cùng, đang tiêu diệt VC ở vòng đai phi trường Tân Sơn Nhât, bị trúng hỏa tiễn SA-7 bốc cháy và nổ tung trên bầu trời, phi hành đoàn hy sinh… “ Dưới đây là bảng tóm lược thông tin về các phi đoàn của Không Ðoàn 53 Chiến Thuật: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 413 Chưa tìm được Xích Long Phi Ðoàn 421 Thiếu Tá Nguyễn Quế Sơn Chưa tìm được Phi Ðoàn 423 Thiếu Tá Mạc Hữu Lộc Chưa tìm được Phi Ðoàn 425 Thiếu Tá Nguyễn Thế Thân Chưa tìm được Phi Ðoàn 435 Trung Tá Lâm Văn Phiếu Chưa tìm được


48 Phi Ðoàn 437 Trung Tá Mạc Mạnh Cần Chưa tìm được Phi Ðoàn 819 Ðầu tiên: Thiếu Tá Ðặng Văn Ðức Cuối cùng: Trung Tá Nguyễn Văn Hồng Hắc Long Phi Ðoàn 821 Trung Tá Hoàng Nuôi Tinh Long Sư Ðoàn 6 Không Quân Huy hiệu Sư Ðoàn 6 Không Quân Sư Ðoàn 6 Không Quân được thành lập vào tháng 6-1972 tại Pleiku, về sau, sau khi Ban Mê Thuột thất thủ và Quân Ðoàn II phải triệt thoái khỏi Pleiku giữa tháng 3- 1975, phải di chuyển về Phan Rang. Sư Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Phạm Ngọc Sang, về sau, vào ngày 1-4-1974, vinh thăng Chuẩn Tướng. Tướng Sang tốt nghiệp Khóa 1 (Khóa Lê Văn Duyệt) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức (tháng 6-1952) vơi cấp bậc Thiếu Úy. Tháng 10-1952, ông trúng tuyển vào KQ, được gởi sang Pháp và Maroc theo học các khóa hoa tiêu vận tải, và thăng cấp Trung Úy trong thời gian này. Ðầu năm 1955 ông về nước và tháng 10 thăng cấp Ðại Úy và giữ chức vụ Chỉ Huy Trường Phi Ðội liên lạc (tiền thân của Phi Ðoàn đặc vụ 314 sau này). Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 6 KQ, ông đã từng giữa các chức vụ: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang và Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 33 Chiến Thuật tại Tân Sơn Nhứt.47


49 Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang Sư Ðoàn 6 Không Quân gồm có hai không đoàn là Không Ðoàn 72 Chiến Thuật và Không Ðoàn 82 Chiến Thuật. Không Ðoàn 72 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 72 Chiến Thuật Không Ðoàn 72 Chiến Thuật, đồn trú tại Pleiku, với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Lê Bá Ðịnh và cuối cùng là Trung Tá Lê Văn Bút (trước là Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn trực thăng 229), gồm có các phi đoàn sau đây: Phi Ðoàn quan sát 118, 2 Phi Ðoàn trực thăng 229 và 235, Phi Ðoàn khu trục 530, và Biệt Ðội tải thương 259B, với các vị chỉ huy, danh hiệu và huy hiệu như sau: Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 118 Ðầu tiên: Thiếu Tá Võ Công Minh Thứ nhì: Trung Tá Võ Ý Cuối cùng (XLTV): Nguyễn Văn Ðược Bắc Ðẩu


50 Phi Ðoàn 229 Ðầu tiên: Trung Tá Lê Văn Bút Cuối cùng: Trung Tá Ðoàn Văn Quang Lạc Long Phi Ðoàn 235 Ðầu tiên: Thiếu Tá Vĩnh Quốc Cuối cùng: Trung Tá Huỳnh Hải Hồ Sơn Dương Phi Ðoàn 530 Ðầu tiên: Thiếu Tá Lê Bá Ðịnh Thứ nhì: Thiếu Tá Nguyễn Văn Mười Cuối cùng: Thiếu Tá Bạch Diễn Sơn Thái Dương Biệt Ðội 259B Ðại Úy Trịnh Viết Hảo Nhân Ái Không Ðoàn 82 Chiến Thuật Huy hiệu Không Ðoàn 82 Chiến Thuật Không Ðoàn 82 Chiến Thuật, đồn trú tại Căn Cứ KQ Phù Cát (Bình Ðịnh), với Không Ðoàn Trưởng đầu tiên là Trung Tá Nguyễn Văn Trương, gồm có các phi đoàn sau đây: Phi Ðoàn 241 với trực thăng CH-47 Chinook, Phi Ðoàn 243 với trực thăng UH1, Phi Ðoàn 532 với khu trục phản lực cơ A-37, và Biệt Ðội tải thương 259A với trực thăng UH-1, với các vị chỉ huy, hanh hiệu và huy hiệu như sau:


51 Ðơn Vị Chỉ Huy Trưởng Danh Hiệu Huy Hiệu Phi Ðoàn 241 Trung Tá Ðỗ Văn Hiếu Thiên Bằng Phi Ðoàn 243 Ðầu tiên: Trung Tá Nguyễn Văn Thân Cuối cùng: Trung Tá Huỳnh Văn Bông Mãnh Sư Phi Ðoàn 532 Thiếu Tá Lê Trai Gấu Ðen Biệt Ðội 259A Thiếu Tá Nguyễn Hữu Nghề Nhân Ái Trong 6 vị tướng Sư Ðoàn Trưởng của 6 sư đoàn KQ VNCH, Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang là vị tướng duy nhứt bị địch quân bắt làm tù binh ngay tại mặt trận ở Phan Rang vào ngày 16-4-1975, như lời kể lại sau đây của chính ông trong một bài viết về trận Phan Rang: 48 “… Lúc 9 giờ tối, dưới sự hướng dẫn của Đại tá Lương, đoàn người bắt đầu rời Thôn Mỹ Đức. Chưa đi được bao xa thì bị phục kích. Tr/Tướng Nghi, Ông Lewis và tôi cùng một số quân nhân bị địch bắt. Chúng dẫn 3 chúng tôi ngược về Nha Trang sáng hôm sau. Trên đường tôi thấy rất nhiều xe địch nằm la liệt dọc hai bên đường, và từng nhóm đồng bào ngơ ngác, thất thiểu, lang thang đi ngược trở về. Tôi bổng cảm nhận rất có tội đối với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành. Ở tại Đồn điền Yersin 2 ngày, chúng đưa chúng tôi ra Đà Nẳng bằng đường bộ. Tại đây, ngày 22.4.1975 chúng đem phi cơ chở chúng tôi ra Bắc, giam tại nhà giam Sơn Tây nơi từng giam giữ tù binh Mỹ. Chúng thả Ông Lewis vào tháng 8.1975, Tr/Tướng Nghi vào năm 1988 và tôi năm 1992….” Các Ðơn Vị Hỗ Trợ Ngoài các Không Ðoàn Chiến Thuật như đã trình bày trên đây, mỗi Sư Ðoàn KQ đều có một bộ chỉ huy (gọi là “Sư Ðoàn Bộ”) với đầy đủ các phòng ban tham mưu (Kế hoạch, An phi, Nhân viên, Tài Chánh, Chiến tranh Chính trị…) và một số Không Ðoàn phụ thuộc như sau: 1 Không Ðoàn Bảo Trì & Tiếp Liệu, mang phiên hiệu như sau:


52 - Sư Ðoàn 1: Không Ðoàn 10 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Ðà Nẵng, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Bình Trứ (mất tích vào lúc Ðà Nẵng thất thủ) - Sư Ðoàn 2: Không Ðoàn 20 Bảo Trì & Tiếp Liệu tại Căn Cứ Nha Trang - Sư Ðoàn 3: Không Ðoàn 30 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Biên Hòa, với Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Hoành (không rõ họ) - Sư Ðoàn 4: Không Ðoàn 40 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Bình Thủy (Cần Thơ) - Sư Ðoàn 5: Không Ðoàn 50 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Tân Sơn Nhứt - Sư Ðoàn 6: Không Ðoàn 60 Bảo Trì & Tiếp Liệu, tại Căn Cứ Cù Hanh (Pleiku), với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá Ðỗ Hữu Sung 1 (hoặc 2) Không Ðoàn Yểm Cứ, tùy theo số căn cứ có trong khu vực trách nhiệm của Sư Ðoàn: - Sư Ðoàn 1: Không Ðoàn Yểm Cứ Ðà Nẵng - Sư Ðoàn 2: Không Ðoàn Yểm Cứ Nha Trang, và Không Ðoàn Yểm Cứ Phan Rang với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Trần Ðình Giao - Sư Ðoàn 3: Không Ðoàn Yểm Cứ Biên Hòa, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Phùng Văn Chiêu - Sư Ðoàn 4: Không Ðoàn Yểm Cứ Bình Thủy (Cần Thơ), với Không Ðoàn Trưởng là Trung Tá (sau lên Ðại Tá) Bùi Quan Khương - Sư Ðoàn 5: Không Ðoàn Yểm Cứ Tân Sơn Nhứt, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Ðại Tá Nguyễn Trung Sơn - Sư Ðoàn 6: Không Ðoàn Yểm Cứ Pleiku, với Không Ðoàn Trưởng cuối cùng là Trung Tá Phạm Bá Mạo (cùng bị địch bắt làm tù bình cùng với Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang tại Phan Rang) và Không Ðoàn Yểm Cứ Phù Cát với Không Ðoàn Trưởng là Ðại Tá Phạm Hữu Phương. Mỗi Không Ðoàn Bảo Trì & Tiếp Liệu sẽ có một số Liên Ðoàn về Bảo Trì, Tiếp Liệu và Vũ Khí Ðạn Dược. Mỗi Không Ðoàn Yểm Cứ sẽ có một số Liên Ðoàn Trợ lực và Phòng Thủ. Sơ đồ tổ chức của Sư Ðoàn 3 KQ được trình bày sau đây để minh họa cho cơ cấu tổ chức của một Sư Ðoàn KQ của VNCH:


53 Sơ đồ tổ chức Sư Ðoàn 3 KQ VNCH (Nguồn: Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, tr. 165) Ngoài các đại đơn vị là 6 Sư Ðoàn KQ vừa trình bày bên trên, Không Lực VNCH còn có 3 đại đơn vị tương đương cấp sư đoàn nữa là: - Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật & Tiếp Vận Không Quân, đồn trú tại Căn Cứ Không Quân Biên Hòa, với Chỉ Huy Trưởng (từ đầu đến cuối) là Chuẩn Tướng Từ Văn Bê. - Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang, tại Căn Cứ Không Quân Nha Trang, với Chỉ Huy Trưởng cuối cùng là Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh (Chuẩn Tướng Oánh cũng chính là vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trung Tâm khi người Pháp giao lại cho Không Quân VN vào ngày 1-7-1955, lúc ông còn mang cấp bậc Ðại Úy). - Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân, tại Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt, với Chỉ Huy Trưởng sau cùng là Ðại Tá Vũ Văn Ước.


54 Thay Lời Kết Không Quân là một quân chủng rất quan trọng của QLVNCH và đã tham gia chiến đấu rất tích cực cũng như đóng góp không ít xương máu trong cuộc chiến bảo vệ tự do cho Miền Nam trong suốt 20 năm. Cùng với các quân chủng khác của QLVNCH, với viện trợ của Hoa Kỳ, KQ đã phát triển thành một lực lượng hùng hậu, đáng kể so với các nước trên thế giới. Rất tiếc, vào những năm tháng cuối của cuộc chiến, vì quân viện từ phía Hoa Kỳ bị cắt giảm nghiêm trọng, các Sư Ðoàn KQ đã không còn đủ khả năng yểm trợ tích cực cho các đơn vị của QLVNCH như trước nữa. Việc hy sinh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến của một phi hành đoàn AC-119K của Phi Ðoàn 821 Tinh Long tại Tân Sơn Nhứt (29-4-1975) và việc bị địch quân bắt làm tù binh (trong khi ông có thừa phương tiện để thoát thân) của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang Sư Ðoàn Trưởng Sư Ðoàn 6 KQ tại Phan Rang (16-4-1975) là những điểm son tiêu biểu cho tinh thần cùng chiến đấu và cùng hy sinh với các lực lượng bạn của các chiến sĩ KQ VNCH. Ghi Chú: 1. Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Melbourne : Lý Tưởng Úc Châu, 2005. Những thông tin tổng quát về lịch sử hình thành và phát triển của các ngành của Không Quân VNCH (quan sát, vận tải, khu trục, và trực thăng), cũng như những thông tin chi tiêt (ngày tháng thành lập, tên họ và cấp bậc của các vị chỉ huy trưởng) về các đơn vị (sư đoàn, không đoàn, phi đoàn, biệt đội) trong tài liệu này đã được sử dụng rất nhiều trong suốt bài viết này. 2. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. San Jose, Calif.: Hương Quê, 2011. Tr. 391-392. 3. Nguyễn Hữu Thiện. Ngành khu trục trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/content.php?4149-Ng%C3%A0nh-Khu-Tr%E1%BB%A5c-trongKh%C3%B4ng-L%E1%BB%B1c-Vi%E1%BB%87t-Nam-C%E1%BB%99ng-H%C3%B2a. Tài liệu này ghi là lúc tốt nghiệp, về nước năm 1957, gia nhập Phi Ðoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát (tiền thân của Phi Ðoàn 514), ông Nguyễn Ðức Khánh chỉ mới mang cấp bậc Chuẩn Úy. 4. Trần Mạnh Khôi. Sơ lược về sự thành lập các đơn vị Không Quân, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9293- S%C6%A1-l%C6%B0%E1%BB%A3c-v%E1%BB%81-s%E1%BB%B1-th%C3%A0nhl%E1%BA%ADp-c%C3%A1c-%C4%91%C6%A1n-v%E1%BB%8B-Kh%C3%B4ng-Qu%C3%A2n Tài liệu này cung cấp nhiều chi tiết quý hiềm về ngày tháng thành lập cũng như tên họ và cấp bậc của các vị chỉ huy của đơn vị của KQVNCH, và sẽ được sử dụng nhiều lần trong bài viết này. 5. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 529. Theo tài liệu này, ông Phạm Long Sửu sinh tháng 11-1925 tại Hà nội, tốt nghiệp khóa huấn luyện hoa tiêu tại Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang, cấp bậc sau cùng là Ðại Tá. Sau ngày 30-4-1975, bị tù 13 năm tại VN. Sau khi sang Hoa Kỳ theo diện HO, ông định cư tại thành phố Glandale, tiểu bang California, và mất năm 2011, thọ 86 tuồi.


55 6. Nguyễn Hữu Thiện. Ngành khu trục trong Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu đã dẫn, cho biết thêm một số chi tiết về ông Phạm Long Sửu như sau: ông đậu thủ khoa Khóa 1 Hoa Tiêu Quan Sát tại Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang, sau đó được gửi sang Pháp học lái phi cơ khu trục và phản lực tại Salon-de-Provence, và Mecknès, Maroc (Bắc Phi); khi đang mang cấp bậc Ðại Úy, ông trở thành Phi Ðoàn Trường đầu tiên của Phi Ðoàn 2 Khu Trục tại Nha Trang (năm 1964 chuyển ra Ðà Nẵng; tiền thân của Phi Ðoàn 516 Phi Hổ). Tài liệu này sẽ được sử dụng nhiều trong bài viết này khi đề cập đến các phi đoàn khu trục. 7. Nguyễn Hữu Thiện, “Phiên hiệu của các Phi Ðoàn Trong KQVN”, trong Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 352-353 8. Võ Ý. Ngành quan sát không lực VNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?9282-Ng%C3%A0nh-QuanS%C3%A1t-Kh%C3%B4ng-L%E1%BB%B1c-VNCH&s=cfaed16e0f4ddef9f7e5c62fb3a85ee2 Tài liệu này, mà tác giả đã từng là Phi Ðoàn Trường Phi Ðoàn Quan Sát 118 Bắc Ðẩu, cung cấp khá đầy đủ thông tin về ngành quan sát của KQ VNCH dựa vào một số tài liệu tham khảo cũng như đóng góp của các vị niên trưởng trong KQ. Tài liệu này sẽ được sử dụng nhiều trong bài viết này khi đề cập đến các phi đoàn quan sát. 9. Cessna O-1 Bird Dog, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Cessna_O-1_Bird_Dog 10. U-17 A/B Skywagon, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.redstar.gr/Foto_red/Eng/HAF/HAF_U17.html 11. Phạm Văn Cần. Phi Ðoàn 427 – C-7A- Caribou: không vận chiến thuật, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9466- Phi-%C4%91o%C3%A0n-427-c-7a-caribou 12. De Havilland Canada DHC-4 / C-7 Caribou, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://nhungdoicanh.blogspot.ca/2008/08/de-havilland-canada-dhc-4-c-7- caribou.html 13. Ðỗ Văn Hiếu. Ngành trực thăng trong Không Lực Việt N am Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9287- Ng%C3%A0nh-Tr%E1%BB%B1c-Th%C4%83ng-Trong-Kh%C3%B4ng-L%E1%BB%B1cVi%E1%BB%87t-Nam-C%E1%BB%99ng-H%C3%B2a Tài liệu này sẽ được sử dụng nhiều trong bài viết này khi đề cập đến các phi đoàn trực thăng. 14. Sikorsky H-34, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Sikorsky_H-34#Specifications_.28H-34_Choctaw.29 15. Boeing CH-47 Chinook, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://vietnamwar.wikia.com/wiki/Boeing_CH-47_Chinook 16. Frankum, Ronald B. Historical dictionary of the War in Vietnam. Lanham, Md.: ScarecrowPress, 2011. Tr. 196-200. 17. Nguyễn Kỳ Phong. Từ điển Chiến Tranh Việt Nam, 1954-1975. Garden Grove, Calif.: Tự Lực, 2009. Tr. 421-423 18. Bell UH-1 Iroquois, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Bell_UH-1_Iroquois 19. Cessna A-37 Dragonfly, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Cessna_A-37_Dragonfly 20. Northrop F-5A Freedom Fighter, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.wmof.com/f5a.htm 21. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 403. 22. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 179-180.


56 23. Douglas AC-47 Spooky, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Douglas_AC-47_Spooky#Specifications_.28AC-47.29 24. Bùi Tá Khánh. “Chuyến bay tử thần vào Ðồi 31 Hạ Lào”, trong Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 281-284. 25. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 450. 26. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 363-365. 27. Douglas A-1 Skyraider, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Douglas_A-1_Skyraider#Specifications_.28A-1H_Skyraider.29 28. Nguyễn Văn Ức. Phi Ðoàn 221 trực thăng, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?18598-Phi-%C4%90o%C3%A0n221-Tr%E1%BB%B1c-Th%C4%83ng 29. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 247-248. 30. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 428-429. 31. Trần Phước Hội. Thành lập Phi Ðoàn 217: giai đoạn H-34, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?9448- Th%C3%A0nh-l%E1%BA%ADp-Phi-%C4%90o%C3%A0n-217 32. Cố Trung Tá Phạm Văn Trung PÐT PÐ 249, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?2061 33. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 449. 34. Thành-Giang. Hoa không gian 1: những chị Hằng của Phi Ðoàn 314, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://hoiquanphidung.com/showthread.php?21896-Hoa-Kh%C3%B4ng-Gian-1- Nh%E1%BB%AFng-ch%E1%BB%8B-H%E1%BA%B1ng-c%E1%BB%A7a-Phi- %C4%90o%C3%A0n-314 35. Thành-Giang. Phi Ðoàn 431 Phượng Long, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://lhccshtd.org/LHCCSHTD_SH/kq/thanhgiang/2015/pd431/LSCCSHTD_SH_kq_thanhgiang_ 2015_pd431_hashPD431PhuongLong_2015AUG09.htm 36. Lâm Vĩnh Thế. Tình báo trong Chiến Tranh Việt Nam, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-lm/lam-vinh-the/tinh-bao-trong-chien-tranh-viet-nam 37. Phi Ðoàn 716 và Phi Ðoàn 718 Thiên Long, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://phong7bttm.blogspot.ca/2016/02/phi-oan-thien-long-718.html 38. Douglas EC-47D Dakota, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.wings-aviation.ch/11-RTAF/2-Aircraft/Douglas-EC-47/Dakota.htm 39. Quân sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 148. 40. Fairchild C-119 Flying Boxcar, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Fairchild_C-119_Flying_Boxcar#Specifications_.28C-119C.29 41. Fairchild C-123 Provider, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Fairchild_C-123_Provider 42. Lockheed C-130 Hercules, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Lockheed_C-130_Hercules#Specifications_.28C-130H.29 43. Thương tiếc phi hành đoàn AC-119 Tinh Long 7 KQVNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://hoiquanphidung.com/showthread.php?3136-


57 Th%C6%B0%C6%A1ng-Ti%E1%BA%BFc-Phi-H%C3%A0nh-%C4%90o%C3%A0n-AC-119- T%E1%BB%89nh-Long-7-KQVNCH 44. Phi Ðoàn Tinh Long 821: những hy sinh dũng cảm, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://chauxuannguyen.org/2013/03/12/phi-doan-tinh-long-821-nhung-hysinh-dung-cam/ 45. AC-119K Stinger, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.ac-119gunships.com/the119s/ac119k/gunshipk.htm 46. Trần Lý. Những phi vụ hành quân cuối cùng của Không Quân VNCH trên không phận Sàigòn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/html/bm%2015-6-24.htm 47. Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân, Lê Ðình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 425-427. 48. Phạm Ngọc Sang. “Trận Phan Rang: hồi ức của Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang,” trong Quân sử Không Quân Viêt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 297. Những người được nói đến trong phần trích dẫn này là: 1) Ðại Tá Lương: là Ðại Tá Nguyễn Thu Lương, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù; 2) Tr/Tướng Nghi: là Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, nguyên Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, tại thời điểm này là Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn III; Ông Lewis: là 1 người Mỹ, chuyên viên về truyền tin do Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn cử ra để liên lạc.


58 Phụ Ðính Danh Sách Các Phi Ðoàn với Phiên Hiệu và Danh Hiệu 1. Các Phi Ðoàn Quan Sát - Phi Ðoàn 110 Thiên Phong - Phi Ðoàn 112 Thanh Xà - Phi Ðoàn 114 Sao Mai - Phi Ðoàn 116 Sơn Ca - Phi Ðoàn 118 Bắc Ðẩu - Phi Ðoàn 120 Bạch Yến - Phi Ðoàn 122 Họa Mi - Phi Ðoàn 124 Thanh Ðiểu 2. Các Phi Ðoàn Trực Thăng - Phi Ðoàn 211 Thần Chùy - Phi Ðoàn 213 Song Chùy - Phi Ðoàn 215 Thần Tượng - Phi Ðoàn 217 Thần Ðiểu - Phi Ðoàn 219 Long Mã - Phi Ðoàn 221 Lôi Vũ - Phi Ðoàn 223 Lôi Ðiểu - Phi Ðoàn 225 Ác Ðiểu - Phi Ðoàn 227 Hải Âu - Phi Ðoàn 229 Lạc Long - Phi Ðoàn 231 Lôi Vân - Phi Ðoàn 233 Thiên Ưng - Phi Ðoàn 235 Sơn Dương - Phi Ðoàn 237 Lôi Thanh - Phi Ðoàn 239 Hoàng Ưng - Phi Ðoàn 241 Thiên BẰng - Phi Ðoàn 243 Mãnh Sư - Phi Ðoàn 245 Lôi Bằng - Phi Ðoàn 247 Lôi Phong - Phi Ðoàn 249 Mãnh Long - Phi Ðoàn 251 Lôi Thiên - Phi Ðoàn 253 Sói Thần


59 - Phi Ðoàn 255 Xà Vương - Phi Ðoàn 257 Cứu Tinh - Phi Ðoàn 259 Nhân Ái 3. Các Phi Ðoàn Ðặc Nhiệm - Phi Ðoàn 312 - Phi Ðoàn 314 Thần Tiễn 4. Các Phi Ðoàn Vận Tải - Phi Ðoàn 413 XÍch Long - Phi Ðoàn 421 (giải thể đầu năm 1973) - Phi Ðoàn 423 (giải thể đầu năm 1973) - Phi Ðoàn 425 Kim Long (giải thể đầu năm 1973) - Phi Ðoàn 427 Thần Long - Phi Ðoàn 429 Sơn Long - Phi Ðoàn 431 Phương Long - Phi Ðoàn 435 - Phi Ðoàn 437 5. Các Phi Ðoàn Khu Trục - Phi Ðoàn 514 Phượng Hoàng - Phi Ðoàn 516 Phi Hổ - Phi Ðoàn 518 Phi Long - Phi Ðoàn 520 Thần Báo - Phi Ðoàn 522 Thần Ưng - Phi Ðoàn 524 Thiên Lôi - Phi Ðoàn 526 Quỷ Vương - Phi Ðoàn 528 Hổ Cáp - Phi Ðoàn 530 Thái Dương - Phi Ðoàn 532 Gấu Ðen - Phi Ðoàn 534 Kim Ngưu - Phi Ðoàn 536 Thiên Ưng - Phi Ðoàn 538 Hồng Tiễn - Phi Ðoàn 540 Hắc Ưng - Phi Ðoàn 542 Kim Ưng - Phi Ðoàn 544 Hải Ưng - Phi Ðoàn 546 Thiên Sứ - Phi Ðoàn 548 Ó Ðen


60 - Phi Ðoàn 550 Nhện Ðen 6. Các Phi Ðoàn Oanh Tạc - Biệt Ðội 615 (giải thể tháng 4-1966) 7. Các Phi Ðoàn Không Thám Ðiện Tử - Phi Ðoàn 716 Hoàng Long - Phi Ðoàn 718 Thiên Long - Phi Ðoàn 720 Hải Long 8. Các Phi Ðoàn Yểm Trợ Hỏa Lực (hay Vận Tải Võ Trang, Gunship, hay Hỏa Long hay Cường Kích) - Phi Ðoàn 817 Hỏa Long - Phi Ðoàn 819 Hắc Long - Phi Ðoàn 821 Tinh Long 9. Các Phi Ðoàn Huấn Luyện - Phi Ðoàn 918 Phi Yến (phi cơ quan sát) - Phi Ðoàn 920 (phi cơ phản lực T-37)


1 Tiǹ h Báo Trong Chiến Tranh Viêṭ Nam Lâm Viñh Thế Tôn Tử (544-496 Trước Công Nguyên), binh gia nổi tiếng của Trung Hoa, đã dành hẳn môṭ chương trong cuốn Binh pháp nổi tiếng của ông, Thiên thứ 13, để bàn về vấn đề tiǹ h báo trong quân sự, cụ thể là tầm quan troṇ g của viêc̣ sử duṇ g gián điêp̣ trong chiến tranh. Hơn 2500 năm sau khi ông mất, những gì ông viết trong Thiên thứ 13 đó vẫn còn nguyên giá tri ̣của nó . Trong bất cứ cuôc̣ chiến tranh nào trong thờ i câṇ và hiêṇ đaị, từ các Thế Chiến I và II cho đến các cuôc̣ chiến tranh đi ̣a phương, cục bộ và giớ i haṇ , tiǹ h báo đều đóng môṭ vai trò quan troṇ g. Chiến tranh Viêṭ Nam cũng không đi ra ngoà i quy luâṭ này. Viêṭ Nam Côṇ g Hòa (VNCH) và Ðồng Minh Hoa Kỳ cũng như phe Côṇ g sản đều sử duṇ g tiǹ h báo đến mức độ tinh vi. Bà i viết này được thực hiêṇ nhằm giúp baṇ đoc̣ có môṭ cá i nhiǹ tổng quá t về hệthống tiǹ h báo của cả hai phe lâm chiến, và môṭ cá i nhiǹ chi tiết hơn trong một và i trâṇ đánh quan troṇ g của cuôc̣ chiến. Muc̣ Tiêu và Chức Năng của Công Tác Tình Báo Mục tiêu của công tác tiǹ h báo là cung cấp cho các cơ quan và cá nhân có trách nhiêṃ về chiń h tri ̣và quân sự những thông tin cần thiết về moị khiá caṇ h, đăc̣ biêṭ là về ý đồ, của phe đic̣ h để họ có thể kip̣ thờ i đối phó và chiến thắng đối phương. Do đó , chức năng chiń h yếu của công tác tiǹ h báo bao gồm 3 lãnh vực chiń h sau đây: Thu thâp̣ tin tức về đic̣ h Phân tić h / tổng hợp và đánh giá tin tức về đic̣ h Khai thác tin tức: suy đoán ý đồ của đic̣ h và tiên đoán hành đôṇ g của đic̣ h Ngoà i chức năng chiń h yếu vừa kể, công tác tiǹ h báo cũng bao gồm luôn cả các lãnh vực phản gián sau đây: bảo vệ an ninh, đề phòng sự xâm nhâp̣ của đic̣ h vào trong hệ thống của miǹ h nguỵ taọ tin tức để che dấu ý đồ và đánh lừa đic̣ h Trong lãnh vực thu thâp̣ tin tức, có rất nhiều phương thức khác nhau, trực tiếp cũng có mà gián tiếp cũng có , nhưng, nó i chung, hai phương thức chiń h là :


2 qua con ngườ i (thí du:̣ các điêp̣ viên), tức là tiǹ h báo nhân sự (tiếng Anh goị là Human Intelligence hay HUMINT) qua máy móc, theo dõi các tin tức của đic̣ h, tức là tiǹ h báo tiń hiêụ (tiếng Anh goị là Signal Intelligence hay SIGINT) HUMINT bao gồm công tác thu thâp̣ tin tức từ rất nhiều nguồn tin (loaị ngườ i) khác nhau, nhưng quan troṇ g nhứ t là những tin tức do điêp̣ viên của phe ta cung cấp bằng nhiều cách thức khác nhau, cũng như tin tức thu thâp̣ được qua thẩm vấn các tù hàng binh, các cá nhân hoạt động cho đi ̣ch bi ̣bắt hay các điêp̣ viên của đic̣ h đãvề hàng. SIGINT bao gồm tất cả các hiǹ h thức theo dõi, chăṇ bắt tiń hiêụ truyền thông và điêṇ tử giữa ngườ i và ngườ i, cũng như giữa máy và máy, trong đó có rất nhiều trường hợp phả i giả i mãvì các thông điêp̣ đãđược đối phương nguỵ trang bằng mãsố trước khi truyền đi. Do đò i hỏ i của các công tác chuyên môn phức tap̣ vừa kể trên, các hệthống tiǹ h báo luôn luôn phả i có các trung tâm huấn luyêṇ để đào taọ nhân viên, các trung tâm thẩm vấn để khai thác tin tức từ các ngườ i của phe đic̣ h, và phả i có đầy đủ các trang thiết bi ̣cần thiết để theo dõi và chăṇ bắt tiń hiêụ truyền thông và điêṇ tử của phe đic̣ h. HệThống Tình Báo của VNCH Những thông tin triǹ h bày dướ i đây phần lớn tâp̣ trung trong khung thờ i gian của nền Ðệ Nhi ̣Côṇ g Hòa, tức là trong thờ i gian cuôc̣ chiến đãleo thang vớ i sự tham gia của quân đôị My.̃ Trong thờ i Ðệ Nhất Côṇ g Hòa, hệ thống tiǹ h báo của VNCH còn rất thô sơ, gần như chỉ là môṭ bộ máy mâṭ vụ vớ i nhiêṃ vụ chiń h yếu là bảo vệ chế độ mà thôi. Cho đến cuối năm 1960, VNCH chỉcó 2 cơ quan sau đây: Sở Nghiên Cứu Chiń h Tri ̣Xã Hôị: thành lâp̣ năm 1956, trực thuôc̣ Phủ Tổng Thống, do Bác sĩTrần Kim Tuyến chì huy, có nhiêṃ vụ chiń h là công tác tiǹ h báo và bảo vệ chế đô.̣ Hoạ ṭ đôṇ g của Sờ bên ngoà i lãnh thổ VNCH rất giớ i haṇ , chủ yếu chỉ có taị Cao Miên. 1 Sở này bi ̣giả i thể năm 1962, sau vụ ném bom Dinh Ðôc̣ Lâp̣ của 2 phi công Không Lực VNCH là Nguyễn Văn Cử và Phaṃ Phú Quốc. Ðoàn Công Tác Ðăc̣ Biêṭ Miền Trung: thành lâp̣ năm 1957, do Dương Văn Hiếu chỉ huy, có nhiêṃ vụ chiń h là công tác tiǹ h báo, phản gián, nhằm phá vở các tổ chức nôị tuyến của Bắc Viêṭ taị Miền Nam. Ðoàn này bi ̣giả i tán sau vụ đảo chánh ngày 1-11-1963 lâṭ đổ chế độNgô Ðiǹ h Diêṃ . 2


3 Hệ thống tiǹ h báo của VNCH khá phức tap̣ , bao gồm môṭ số cơ quan và đơn vi,̣ vớ i chức năng về an ninh và tiǹ h báo chồng chéo lên nhau, trong đó quan troṇ g nhứ t là Khối Cảnh Sá t Ðăc̣ Biêṭ (thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sá t Quốc Gia), Nha An Ninh Quân Ðội, Tổng Nha An Ninh Hành Chánh, Phủ Ðăc̣ Ủy Trung Ương Tiǹ h Báo, Phòng 2 và Phòng 7 BộTổng Tham Mưu QLVNCH. Khối Cảnh Sát Ðăc̣ Biêṭ (CSÐB) Sắc Lêṇ h số 17A/TT/SL do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêụ ký ngày 1-3-1971 cả i tổ ngành cảnh sá t công an, biến Tổng Nha Cảnh Sá t Quốc Gia (CSQG) thuộc Bộ Nội Vụ, thành Bộ Tư Lêṇ h CSQG trực thuôc̣ Phủ Thủ Tướng. 3 Khối CSÐB là môṭ bộ phâṇ quan troṇ g của Bộ Tư Lêṇ h CSQG, dướ i quyền chỉhuy của 1 vi ̣Trưởng Khối, Phụ Tá Tư Lệnh CSQG, Ðaị Tá Huỳnh Thớ i Tây, về sau, ngày 1-2-1975, thăng cấp Chuẩn Tướng. 4 Nhiệm vụ của Khối CSÐB thuôc̣ về 2 lãnh vực Tiǹ h Báo và Phản Tiǹ h Báo: Tiǹ h Báo: thu thâp̣ tin tức về phe Côṇ g sản và những tổ chức ngoaị vi của Côṇ g sản thông qua 3 bộ phâṇ là Tiǹ h Báo Diêṇ Ðiạ , Tiǹ h Báo Xâm Nhâp̣ , và Kế Hoac̣ h Phượng Hoàng Phản Tiǹ h Báo: cà i ngườ i vào các đoàn thể chiń h tri,̣ tôn giáo, nghiêp̣ đoàn, thanh niên, sinh viên, vv. để phá t hiêṇ các phần tử Côṇ g sản trà trôṇ vào các đoàn thể này. Ðể thực hiêṇ tốt nhiêṃ vụ vừa kể trên, Khối CSÐB đãđược quy đi ̣nh vớ i môṭ hệ thống tổ chức có quy mô toàn quốc như sau: Tại trung ương, đứng đầu là 1 vi ̣Trưởng Khối được xếp ngang hàng vớ i môṭ Tổng Giám Ðốc, bên dướ i gồm môṭ số Nha do các vi ̣Giám Ðốc chỉ huy; đó là các Nha Tiǹ h Báo, Nha Phản Tiǹ h Báo, Nha Ðiều Hành Công Tác, và Nha Yểm Trợ; dướ i các Nha có các Sở (do Chánh Sở chỉhuy), Phòng (do Chủ sự chỉ huy), và Ban (do Trưởng Ban chỉhuy) đảm trách các công tác chuyên môn khác nhau Taị điạ phương có các cấp: - Cấp Ðô Thành và các Khu: do môṭ Giám Ðốc chỉ huy, vớ i 4 Sở (Nghiên Cứu, Huấn Luyêṇ , Công Tác và Yểm Trợ), bên đướ i có các Phòng, Ban chuyên môn - Cấp Tin̉ h và Thi ̣Xã: do môṭ Trưởng F chỉhuy, được xếp ngang hàng vớ i môṭ Chánh Sở , bên dướ i có các Trưởng G điều khiển 4 Phòng (Nghiên Cứu, Công Tác, Yểm Trợ, và Thẩm Vấn)


4 - Cấp Quâṇ : do môṭ Trưởng G chỉ huy, được xếp ngang hàng môṭ Chủ Sự, bên dướ i có các Trưởng Ban điều khiển 4 Ban (Nghiên Cứu, Công Tác, Khai Thác, và Văn Thư + Yểm Trợ) 5 Nha An Ninh Quân Ðội Tên của cơ quan an ninh này được giữnhư thế suốt thờ i ÐệNhất Côṇ g Hòa cho đến ngày 19-6-1965 thì đổi thành Cuc̣ An Ninh Quân Ðôị, trực thuôc̣ Tổng Cuc̣ Chiến Tranh Chiń h Tri.̣ 6 Nhiêṃ vụ chiń h yếu của Cuc̣ thuôc̣ lãnh vực phản gián, nhằm chống laị sự xâm nhâp̣ của đic̣ h vào hàng ngũquân nhân QLVNCH. Taị trung ương, Cuc̣ gồm có 5 Khối: Hành Chánh, Huấn Luyêṇ , An Ninh, Phản Gián, và Tiếp Vâṇ . Tại đi ̣a phương, Cuc̣ có các đơn vi ̣(Phòng, Ban) theo từng cấp: Khu: Thủ đô và tất cả 4 Vùng Chiến Thuâṭ Tiểu Khu: tất cả các Tin̉ h và Thi ̣Xã Chi Khu: tất cả các Quâṇ Ngoà i nhiêṃ vụ chiń h là phản gián như vừa kể trên, Cuc̣ còn được giao môṭ số nhiêṃ vụ khác về an ninh như: Nhâṇ xé t, cho ý kiến về các bổ nhiêṃ , thăng cấp trong QLVNCH Cấp thông hành về an ninh (security clearances) cho quân nhân và công chức Duyêṭ xé t và chấp thuâṇ cho các đơn xin xuất ngoaị du hoc̣ hay tu nghiêp̣ của các quân nhân và công chức Cục An Ninh Quân Ðội có môṭ đôị ngũnhân sự gồm tất cả 4328 ngườ i, trong đó Tổng Hành Dinh taị Sà i Gòn có 657 ngườ i, Biêṭ Khu Thủ Ðô có 221 ngườ i, mổi Quân Khu có 50 ngườ i, mỗi Tiểu Khu (cấp Tin̉ h) có 30 ngườ i, mỗi Chi Khu (cấp Quâṇ ) có 6 ngườ i; ngoà i ra mỗi Quân Ðoàn có 20 ngườ i,và mỗi Sư Ðoàn có 25 ngườ i. 7 Cuc̣ An Ninh Quân Ðôị được quyền bắt giữ và thẩm vấn moị công dân của VNCH, cả quân nhân lẩn dân sự. Tổng Nha An Ninh Hành Chánh Năm 1971, sau vụ gián điêp̣ Viêṭ côṇ g Huỳnh Văn Troṇ g, môṭ cơ quan an ninh tiǹ h báo cho phiá dân sự, giống như Cuc̣ An Ninh Quân Ðôị dành cho bên quân sự, được thành lâp̣ và mang tên là Tổng Nha An Ninh Hành Chánh. 8 Tổng Nha này hiǹ h


5 thành do quyết điṇ h nâng Nha An Ninh Hành Chánh của BộNôị Vụ lên thành Tổng Nha An Ninh Hành Chánh, đăṭ trực thuôc̣ Phủ Thủ Tướng, vớ i vi ̣Tổng Giá m Ðốc đầu tiên là Ðaị Tá Nguyễn Văn Tuấn, và gồm có môṭ số Sở . Sở đầu tiên được thành lâp̣ là Sở Huấn Luyêṇ vớ i vi ̣Chánh Sở là Thiếu Tá VõThành Ðức (từ Khối CSÐB của Bộ Tư Lêṇ h CSQG đăc̣ phá i sang). Sở Huấn Luyêṇ đãtổ chức được môṭ và i khóa huấn luyêṇ taị các Quân Khu cho các vi ̣Phó Quâṇ Trưởng Hành Chánh thuôc̣ các tin̉ h trong Quân Khu về các vấn đề An Ninh Cơ Sở , An Ninh Nhân Sự, và An Ninh Tà i Liêụ . 9 Tổng Nha này vẫn còn đang trong giai đoaṇ phá t triển cơ sở khi Miền Nam thất trâṇ nên chưa lập được nhiều thành tić h như Cuc̣ An Ninh Quân Ðôị. Phủ Ðăc̣ Ủy Trung Ương Tình Báo Phủ Ðăc̣ Ủy Trung Ương Tiǹ h Báo (sau đây sẽviết tắt là PÐU; tà i liêụ của Hoa Kỳ khi dic̣ h sang tiếng Anh thường dùng từ Central Intelligence Organization, hay Central Intelligence Office = CIO) được thành lâp̣ bở i Sắc Lệnh số 109/TTP do Tổng Thống Ngô Ðiǹ h Diêṃ ký ngày 5-5-1961.10 Tuy nhiên PÐU chỉchiń h thức hoaṭ đôṇ g từ năm 1962 sau khi hoàn tất cơ cấu tổ chức và bắt đầu tuyển duṇ g nhân viên và huấn luyện. 11 Sau cuôc̣ đảo chánh ngày 1-11-1963, lâṭ đổ chế độ Ngô Ðiǹ h Diêṃ , PÐU trả i qua nhiều xáo trôṇ vớ i 5 vi ̣Ðăc̣ Ủy Trưởng (toàn là quân nhân, 4 tướng lãnh và 1 đaị tá) trong 4 năm liền (1963-1967).12 Ngày 7-5-1968, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngoc̣ Loan, Ðặc Ủy Trưởng, bi ̣thương năṇ g trong môṭ cuôc̣ đuṇ g độ vớ i Viêṭ Côṇ g (trong đợt 2 của cuôc̣ Tổng Tấn Công Mâụ Thân) và được đưa ra nước ngoà i tri ̣thương. Tháng 9- 1968, Trung Tá Nguyễn Khắc Biǹ h (Bí thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêụ ) được cử thay thế và PÐU được đăṭ trực thuôc̣ Phủ Tổng Thống. Ðặc Ủy Trưởng Nguyễn Khắc Biǹ h về sau thăng lên cấp Ðaị Tá tháng 6-1969, thăng Chuẩn Tướng ngày 1-11- 1972, và thăng Thiếu Tướng ngày 1-2-1975.13 Chiń h Ðăc̣ Ủy Trưởng Biǹ h là ngườ i đã lên kế hoac̣ h và thực hiêṇ viêc̣ cả i tổ PÐU. Sau khi hoàn tất viêc̣ cả i tổ, PÐU có môṭ cơ cấu tổ chức như sau: 14


6 Khối Kế Hoac̣ h: bí danh là Ban A, có nhiêṃ vụ tổng hợp tất cả các tin từ 2 Khối Quốc Nôị và Quốc Ngoaị; 2 Ban quan troṇ g của Khối Kế Hoac̣ h là : - Ban A10: có nhiêṃ vụ soaṇ thảo bản tin tiǹ h báo hàng ngày để triǹ h lên Tổng Thống vào mỗi buổi sáng 15 - Ban A8: phụ trách các công tác đăc̣ biêṭ do Ðăc̣ Ủy Trưởng giao phó Khối Tiǹ h Báo Quốc Ngoaị: bí danh là Ban E, Khối này đăc̣ trách công tác tiǹ h báo taị môṭ số quốc gia như LÀo, Kampuchia, Thá i Lan, Nhâṭ, Hong Kong và Pháp. Cuc̣ Tiǹ h Báo Quốc Nôị: bí danh là Ban T, Cuc̣ này đăc̣ trách công tác phản gián trong nước, vớ i các 3 Phân cục được giao phó các công tác như sau: - Phân cuc̣ Ðiêp̣ báo: bí danh là Ban K, thu thâp̣ tin tức của đic̣ h qua các đôị công tác taị tất cả các tin̉ h và thi ̣xã. - Phân cuc̣ Phản gián: bí danh là Ban U, vớ i công tác chiń h là cà i ngườ i vào hàng ngũđic̣ h và phá t hiêṇ những điêp̣ viên của đic̣ h cà i vào hàng ngũcủa ta. - Phân cuc̣ An ninh Chiń h tri:̣ bí danh là Ban Z, công tác chiń h là theo dõi, xâm nhâp̣ vào các chiń h đảng, phong trào, hôị đoàn, nghiêp̣ đoàn để phá t hiêṇ và phá vở các âm mưu xâm nhâp̣ của đic̣ h. Khối Yểm Trợ: bí danh là Ban Y, ngoà i các công tác yểm trợ thông thường qua 2 Sở là Sở Nhân Viên và Sở Hành Chánh


7 Tà i Chánh, Khối này còn có Sở KỹThuâṭ, vớ i bídanh là Ban M, phụ trách tất cả các công tác kỹthuâṭ chuyên môn trong ngành tiǹ h báo như chup̣ hiǹ h, quay phim, in ấn, truyền tin, nhâṇ tin, giả i mã, vv. Trung Tâm Huấn Luyêṇ Tiǹ h Báo Quốc Gia: bí danh là Ban D, phụ trách huấn luyêṇ nghiêp̣ vụ tiǹ h báo cho tất cả nhân viên các cấp của PÐU Trung Tâm Quốc Gia Thẩm Vấn: bí danh là Ban Q, vớ i nhiêṃ vụ chiń h là thẩm vấn các tù hàng binh và cán binh Côṇ g sản đã được chiêu hồi. Từ tháng 11-1971, môṭ ban mớ i được thành lâp̣ trong Khối Kế Hoac̣ h vớ i bídanh là Ban A17 do môṭ Phụ tá Ðăc̣ biêṭ của Ðăc̣ Ủy Trưởng điều khiển, vớ i nhiêṃ vụ chiń h là theo dõi và xâm nhâp̣ vào các phong trào và tổ chức thanh niên - học sinh - sinh viên, đăc̣ biêṭ là Tổng Hôị Sinh Viên Sà i Gòn, để phá vở các âm mưu và hoaṭ đôṇ g của các cán bộ và đoàn viên mà Thành Ðoàn Thanh Niên Côṇ g Sản Hồ Chí Minh đãcà i vào các phong trào và tổ chức đó . 16 Tổng số nhân viên của PÐU là 1.400 ngườ i trong đó nhân viên cao cấp có triǹ h độ tốt nghiêp̣ đaị hoc̣ chiếm đến 60%, được hưởng các quy chế đăc̣ biêṭ như được hoản dic̣ h (gốc dân sự) hay được giả i ngũ(gốc quân nhân). 17 Tuy được tổ chức rất có quy củ vớ i ngân sách dồi dào và môṭ lực lượng nhân sự có triǹ h độ cao, PÐU đãkhông hoàn thành tốt trong công tác tiǹ h báo chiến lược vì càng ngày càng nghiêng năṇ g về chiń h tri ̣và sau cùng trở thành môṭ “cơ quan tình báo của Phủ Tổng Thống”. 18 Phòng 2 BộTổng Tham Mưu QLVNCH Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) QLVNCH là môṭ cơ cấu quân sự khổng lồ của VNCH vớ i nhiêṃ vụ yểm trợ và điều hợp hoaṭ đôṇ g của tất cả các quân binh chủng và các đaị đơn vi ̣của QLVNCH qua rất nhiều Nha Sở và Phòng Ban, trong đó Phòng 2 là Phòng giữ nhiêṃ vụ về tiǹ h báo nhân sự (HUMINT), do môṭ sĩquan cấp Ðaị Tá chỉ huy. Vi ̣Trưởng Phòng 2 cuối cùng của BTTM là Ðaị Tá Hoàng Ngoc̣ Lung, xuất thân Trường SĩQuan Nam Ðiṇ h, Khóa 1 (năm 1951). 19 Phòng 2 BTTM có cơ cấu tổ chức như sau: 20


8 Tuy không phả i là cơ quan tiǹ h báo duy nhứ t của QLVNCH (vì ngoà i Phòng 2 BTTM còn có Phòng 7 BTTM, Cuc̣ An Ninh Quân Ðôị, các cơ quan tiǹ h báo của Hả i Quân và Không Quân), Phòng 2 BTTM là bộ phâṇ quan troṇ g nhứ t chiụ trách nhiêṃ về quân báo, đăc̣ biêṭ là tiǹ h báo tác chiến (combat intelligence), của QLVNCH, vớ i môṭ hệ thống đơn vi ̣trực thuôc̣ trãi rôṇ g khắp các đơn vi ̣từ cấp Quân đoàn xuống đến cấp Tiểu đoàn, và từ cấp Vùng xuống đến cấp Chi Khu (Quận). Taị trung ương, Phòng 2 BTTTM có 2 đơn vi ̣là Ðơn Vi ̣101 phụtrách thu thâp̣ tin tức tiǹ h báo, và Ðơn Vi ̣306 tức Trung Tâm Quân Báo phụ trách khai thác tin tức tiǹ h báo. Sĩquan Phó Trưởng Phòng 2 đương nhiên kiêm mhiệm chức vụChỉHuy Trưởng Ðơn Vi ̣ 306. Ðơn Vi ̣ 101 Ðơn vi ̣này đãđược đổi tên nhiều lần như sau: 1961-1963: Biệt Ðội Sưu Tập 1964-1965: Biêṭ Ðoàn 300 1965-1968: Liên Ðoàn Yểm Trợ 924


9 1968-1975: Ðơn vi ̣ 101 Vi ̣ChỉHuy Trưởng cuối cùng của Ðơn Vi ̣101 là Ðaị Tá Lê Ðiǹ h Luân tốt nghiêp̣ Khóa 2 (tháng 4-1953) Trường SĩQuan Thủ Ðức. 21 Tất cả các sĩquan của đơn vi ̣đều phả i trả i qua khóa huấn luyêṇ tiǹ h báo taị Trường Tiǹ h Báo của Luc̣ Quân Hoa Kỳ taị Okinawa (Nhâṭ Bản). Ðơn Vi ̣ 101 có tổ chức hàng doc̣ như sau: 22 Ðoàn: ớ cấp Vùng hay Quân Ðoàn, có tất cả 5 Ðoàn mang bísố 65, 66, 67, 68, và 69 (cho Biêṭ Khu Thủ Ðô), chỉhuy trưởng là môṭ sĩquan mang cấp bậc Trung Tá Toán: ở cấp Khu hay Sư Ðoàn, chỉ huy trưởng là môṭ sĩquan mang cấp bậc Thiếu Tá Lướ i: ở cấp Tiểu Khu, chỉhuy trưởng là môṭ sĩquan mang cấp bậc Ðại Úy Công tác thu thâp̣ tin của Ðơn Vi ̣101 bao gồm cả 2 lãnh vực: tiǹ h báo tác chiến và tiǹ h báo lãnh thổ (territorial intelligence) và phương thức thu thâp̣ chiń h được sử dụng là tiǹ h báo nhân sự (HUMINT) qua 2 lối: Công khai: thu thâp̣ và khai thác tin của các Phòng 2 và Ban 2 của các cấp đơn vi ̣từ quân đoàn xuống đến tiểu đoàn, và các cấp lãnh thổ từ khu xuống đến chi khu, qua viêc̣ thẩm vấn và khai thác tin từ tù hàng binh, các tà i liêụ bắt được của đic̣ h, và viêc̣ châṇ bắt tiń hiêụ truyền tin của đic̣ h Bí mật: thu thâp̣ tin của mâṭ báo viên của các Lướ i được tổ chức cho xâm nhâp̣ vào các vùng xôi đâụ , ngay cả trong hâụ phương của đic̣ h Ðơn Vi ̣306 (Trung Tâm Quân Báo) Dướ i quyền chỉ huy của Phó Trưởng Phòng 2 BTTM, Ðơn Vi ̣306 thâṭ ra gồm nhiều trung tâm quân báo vớ i những chức năng khác nhau bao gồm: 23 Trung tâm quân báo hỗn hợp: cung cấp tin tiǹ h báo tác chiến và lãnh thổ cho Phòng 2 BTTM QLVNCH, và Ban 2 của Bộ Tư Lêṇ h Lực Lượng Hoa Kỳ taị Viêṭ Nam (J2-MACV) Trung tâm khai thác tà i liêụ hỗn hợp: tâp̣ trung và khai thác tất cả các loaị tà i liêụ (kể cả sách báo, phim ảnh chiń h thức của Bắc Viêṭ) thu được của đic̣ h, và báo cáo cho Phòng 2 TTM và J2-MACV


10 Trung tâm khai thác quân duṇ g hỗn hợp: tim̀ hiểu, khai thác tất cả các loaị vũkhí , đaṇ dược, quân duṇ g tic̣ h thu được của đic̣ h, và soaṇ thảo tà i liêụ Chiến cụcủa Viêṭ Côṇ g để phổ biến cho tất cả các đơn vi ̣của QLVNCH hoc̣ tâp̣ Trung tâm thẩm vấn hỗn hợp: có nhiêṃ vụ thẩm vấn các tù hàng binh, hồi chánh viên quan troṇ g, từ cấp đaị đôị trở lên; khi tiǹ h hiǹ h chiến trường sôi đôṇ g, có thể tăng phá i ngườ i cho các đại đơn vi ̣ Trung tâm quản tri ̣quân báo: quản tri ̣toàn thể nhân viên quân báo taị trung ương cũng như taị điạ phương. Sau khi quân Mỹrú t khỏ i VNCH, Ðơn Vi ̣306 được cả i tổ thành các Khối như sau: Khối Quốc nôị: gồm có các Ban như sau: - Ban quốc nôị taị 4 Vùng Chiến Thuâṭ - Ban ước tiń h: cung cấp các báo cáo điṇ h kỳ - Ban nghiên cứu: về tổ chức của đic̣ h Khối Quốc ngoaị: bao gồm các công tác: - Theo dõi tiǹ h hiǹ h Bắc Viêṭ, đăc̣ biêṭ là viêṇ trợ của các nước Côṇ g sản - Theo dõi tiǹ h hiǹ h chiń h tri,̣ quân sự của LÀo và Kampuchia - Gồm các Ban: Bắc Viêṭ, Ðông Nam Á, Nghiên Cứu, Liên Lac̣ Quốc Ngoaị (phối hợp, khai thác các báo cáo của các Tùy Viên Quân Sự taị các Tòa Ðaị Sứ của VNCH) Khối Sưu tâp̣ : thu thâp̣ , lưu trử , kiểm soá t tất cả các loaị tin thu thâp̣ được từ mâṭ bào viên, tù hàng binh, hồi chánh viên, cũng như từ các bộphâṇ tiǹ h báo tiń hiêụ (SIGINT) Khối Kế, huấn, tổ: phụ trách các lãnh vực kế hoac̣ h, huấn luyêṇ và tổ chức cho toàn ngành quân báo Viêc̣ huấn luyêṇ cho nhân viên Phòng 2 BTTM được thực hiêṇ taị Trường Cây Mai. Trước năm 1961 Trường Cây Mai mang tên là Trường Quân Báo và Chiến Tranh Tâm Lý mà ChỉHuy Trưởng là Thiếu Tá Phaṃ Văn Sơn. Từ đầu năm 1961, Trường Cây Mai đổi tên là Trường Quân Báo và bắt đầu cung cấp những khóa huấn luyêṇ về tiǹ h báo chiến trường (Field Operation Intelligence, hay FOI) do Biêṭ Ðôị Sưu Tâp̣ phối hợp tổ chức vớ i các huấn luyêṇ viên Hoa Kỳ , giảng daỵ trực tiếp bằng tiếng Viêṭ. Khóa 1 gồm 16 sĩquan, khóa 2 gồm 25 sĩquan, và các khóa kế tiếp về sau được gử i đi hoc̣ taị Okinawa, Nhâṭ Bản. 24 Phòng 2 BTTM còn có 1 bộ phâṇ nữa rất quan troṇ g, măc̣ dù không có hiêṇ diên ̣ trong sơ đồ tổ chức: đó là Phòng Tiǹ h Hiǹ h (Situation Room). Phòng này được sử


11 duṇ g như môṭ trung tâm hành quân của Phòng 2 BTTM trong những thờ i điểm sôi đôṇ g vớ i những trâṇ đánh lớn ngoà i chiến trường, vớ i những hệthống truyền tin trực tiếp vớ i các Quân đoàn, Sư đoàn, vv. để kip̣ thờ i trao đổi các tin tức về tiǹ h báo và chiến thuâṭ vớ i các đơn vi ̣đang lâm chiến. 25 Phòng 7 BộTổng Tham Mưu QLVNCH Phòng 7 BTTM QLVNCH chiụ trách nhiêṃ về công tác tiǹ h báo tiń hiêụ (SIGINT) và các hoaṭ đôṇ g về an ninh truyền tin. Về SIGINT, Phòng 7 đảm nhâṇ cả 2 lãnh vực: Tiǹ h Báo Thông Tin (Communications Intelligence = COMINT) và Tiǹ h Báo Ðiện Tử (Electronic Intelligence = ELINT). Vi ̣sĩquan đãchiụ trách nhiêṃ thành lâp̣ Phòng 7 vào năm 1964 và đảm nhâṇ chức vụ Trưởng Phòng 7 cho đến tháng 4-1975 là Chuẩn Tướng Phaṃ Hữu Nhơn, tốt nghiêp̣ Khóa SĩQuan Trừ Bi ̣Nam Ði ̣nh (1951). Phòng 7 BTTM được tổ chức như sau: 26 Phòng 7 BTTM gồm có tất cả 3.500 nhân viên phuc̣ vụ taị các đơn vi ̣ở trung ương và môṭ số đơn vi ̣taị điạ phương. Taị trung ương, Phòng 7 được chia thành 3 Khối, 3 đơn vi ̣đăc̣ biêṭ và Biêṭ Ðôị KỹThuâṭ. Taị điạ phương, nhân viên của Phòng 7 hoaṭ đôṇ g trong 4 Trung Tâm SIGINT taị Ðà Nẵng (Vùng I), PLeiku (Vùng II), Sà i Gòn (Vùng III), và Cần Thơ (Vùng IV). Khối I gồm có 3 Ban: 3, 4 và 5. Ban 3 phụ trách giữ liên lac̣ vớ i các Phòng 2 (Tiǹ h Báo) và Phòng 3 (Hành Quân) của BTTM, câp̣ nhâṭ thông tin về tiǹ h hiǹ h đic̣ h, soaṇ thảo và phổ biến các báo cáo về tiǹ h báo kỹthuâṭ. Ban 4 soaṇ thảo các báo cáo về không thám và phá t hiêṇ điêṇ đà i, theo dõi các chuyến bay và báo cáo những thay


12 đổi về kỹthuâṭ của các điêṇ đà i của đic̣ h. Ban 5 xử lý các cung từ của tù hàng binh liên quan đến tiǹ h báo tiń hiêụ , các bản tin của các đà i baṇ (BBC, VOA) và đic̣ h, soaṇ thảo các bản tin hàng ngày, và duy trì liên lac̣ vớ i các cơ quan tiǹ h báo dân sự và quân sự khác về những vấn đề có liên quan đến tiǹ h báo tiń hiêụ . Khối II gồm 2 Ban, Ban 6 và Ban 7, và phụ trách về an ninh truyền tin. Ban 6 xử lý các dữliêụ kỹthuâṭ và soaṇ thảo các báo cáo về an ninh truyền tin và đề nghi ̣những biêṇ pháp sửa chửa. Ban 7 nghiên cứu các biêṇ pháp an ninh về mâṭ mã, duy trì liên lac̣ vớ i Phòng 6 (Phản Gián) của BTTM và tổ chức thanh tra về mâṭ mãtrong toàn quân. Khối III, gồm 3 Ban là Ban 8, Ban 9 và Ban 10, chiụ trách nhiêṃ về nghiên cứu, cả i thiêṇ , và phối hợp giữa yểm trợ và huấn luyêṇ . Ban 8 lo về các vấn đề tổ chức, tuyển mô,̣ hoaṭ đôṇ g, yểm trợ, bảo trì và vâṇ chuyển. Ban 9 chiị trách nhiêṃ về kiểm tra các kế hoac̣ h hoaṭ đôṇ g ngắn haṇ . Ban 10 lo về huấn luyêṇ chuyên viên, theo dõ huấn luyêṇ , và soaṇ thảo tà i liêụ huấn luyêṇ . Ðơn Vi ̣15, trong khoảng thờ i gian 1961-70, là đơn vi ̣duy nhứ t chiụ trách nhiêṃ về kiểm thiń h. Về sau công tác này được giao cho các trung tâm SIGINT taị các vùng chiến thuâṭ, và đơn vi ̣này được giao nhiêṃ vụgiả i mãcác thông đic̣ h được mãhóa của đi ̣ch. Ðơn Vi ̣16 chiụ trách nhiêṃ về an ninh truyền tin cho QLVNCH và môṭ số cơ quan troṇ g yếu của chiń h phủ , soaṇ thảo các báo cáo về các vi phaṃ an ninh truyền tin, thanh tra các cơ sở về mâṭ mãvà tà i liêụ mâṭ, và phối hợp vớ i Phòng 6 (Phản Gián) của BTTM để duyêṭ xé t các thủ tuc̣ về mâṭ mãtrong QLVNCH. Ðơn Vi ̣17, được thành lâp̣ vào năm 1970 để phối hợp vớ i hai Phi Ðoàn 716 và 718 của Không Quân VNCH trong viêc̣ thiết lâp̣ các phi triǹ h cho các phi vụ tiǹ h báo tiń hiệu. Các Phi Ðoàn này là đơn vi ̣của Không Ðoàn 33 thuôc̣ Sư Ðoàn 5 Không Quân đóng taị căn cứ Tân Sơn Nhứ t. Phi Ðoàn 716 có 5 chiếc phi cơ U-6A, và Phi Ðoàn 718 có 33 chiếc phi cơ EC-47. Bốn Trung Tâm SIGINT taị 4 vùng chiến thuâṭ có trách nhiêṃ thu thâp̣ tin tức qua các công tác kiểm thiń h và khám phá điạ điểm phá t tuyến của các điêṇ đà i của đic̣ h. Ðể hỗtrợ cho hoaṭ đôṇ g của các Trung Tâm này còn có thêm môṭ số traṃ kiểm thiń h taị Phú Bà i (Vùng I), Sông Mao (Vùng II), Vũng Tàu (Vùng III) và đảo Côn Sơn. Taị các vùng chiến thuâṭ, mỗi sư đoàn bộ binh đều có 1 đơn vi ̣thuôc̣ Biêṭ Ðôị KỹThuật chiụ trách nhiêṃ về tiǹ h báo tiń hiêụ .


13 HệThống Tình Báo của Hoa Kỳ Hoa Kỳ cũng có 2 hệ thống tổ chức tiǹ h báo song hành taị VNCH. Ðó là Trạm CIA Sà i Gòn (CIA Saigon Station, Central Intelligence Agency = Cơ quan Trung Ương Tiǹ h Báo) nằm trong Tòa Ðaị Sứ Hoa Kỳ taị Sà i Gòn và Ban 2 của Bộ Tư Lêṇ h Lực Lượng Hoa Kỳ taị Viêṭ Nam (J2-MACV). Traṃ CIA Sà i Gòn Trong thờ i gian Chiến Tranh Viêṭ Nam, từ 1961đến 1975, Traṃ CIA Sà i Gòn đã trả i qua các đờ i Trưởng Traṃ (Chief of Station, hay COS) sau đây: 1961-1962: William Colby, về sau trở thành Giám Ðốc CIA (Director of Central Intelligence, hay DCI) 1973-1976 1962-1963: John Richardson 1963-1965: Peer de Silva 1965: John L. Hart 1966: John Lapham 1966-1968: Gordon L. Jorgensen 1968-1972: Theodore Shackley 1972-1975: Thomas Polgar Traṃ CIA Sà i Gòn không những thu thâp̣ tin tiǹ h báo về Viêṭ Côṇ g mà còn theo dõi tất cả các hoaṭ đôṇ g của chiń h phủ VNCH, và , sau khi Hoa Kỳ gử i quân tham chiến taị Miền Nam, soaṇ thảo và phổ biến những báo cáo hàng tuần về tiǹ h hiǹ h taị VNCH và cuôc̣ chiến. Loaị báo cáo hàng tuần này, vớ i tựa đề là “Situation in South Vietnam,” thường gồm khoảng 20-30 trang với một số bản đồ và biểu đồ, và được thực hiện theo một dàn bài thống nhứt như sau: 27 Toá t yếu Bản đồ Nam Viêṭ Nam TÌnh hiǹ h Miền Nam Viêṭ Nam - TÌnh hiǹ h chiń h tri ̣ - TÌnh hiǹ h quân sự - Xây dựng nông thôn Bản đồ Bắc Viêṭ Nam Các phá t triển trong Khối Côṇ g sản Các phá t triển taị các nước đệtam Phụđiń h: - Thống kê chiến trường của QLVNCH: số thương vong - Thống kê chiến trường của QLVNCH: số các cuôc̣ giao tranh và tấn công của đic̣ h


14 - Các chỉsố kinh tế của VNCH - Thống kê giá bán lẻ hàng tuần taị Sà i Gòn Ngoà i ra, Traṃ CIA Sà i Gòn còn thực hiêṇ rất nhiều công tác an ninh tiǹ h báo khác taị VNCH trong suốt thờ i gian chiến tranh. Công tác được nó i đến nhiều nhất là Chiến dic̣ h Phượng Hoàng nhằm nhâṇ diêṇ và tiêu diêṭ hạ tầng cơ sở của Măṭ Trâṇ Giả i Phóng Miền Nam (Việt Cộng) taị nông thôn Miền Nam. Từ 1965 cho đến 1972, Chiến dic̣ h Phượng Hoàng đã“vô hiêụ hóa” tổng côṇ g 81.740 cá nhân bi ̣tiǹ h nghi là ngườ i của Măṭ Trâṇ , 28 và “góp phần tiêu diệt và phá hoại đến 95% cơ sở cách mạng ở một số khu vực tại miền Nam Việt Nam.” 29 J2-MACV Khi Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ tại VNCH (MACV = Military Assistance Command Vietnam) được thành lâp̣ vào tháng 2-1962, sau rất nhiều tranh cả i trong chiń h phủ của Tổng Thống John F.Kennedy, và đăṭ dướ i quyền chỉhuy của môṭ vi ̣tướng 4-sao, Ðaị Tướng Paul Harkins, vai trò của Hoa Kỳ taị Viêṭ Nam trong viêc̣ giúp đở chiń h phủ VNCH chống laị phong trào nổi dâỵ (counterinsurgency) của Côṇ g sản taị Miền Nam được nâng lên môṭ tầm quan troṇ g cao hơn. Lúc đó Phá i BộCố Vấn Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ taị VNCH (MAAG = Military Assistance Advisory Group dướ i quyền chỉhuy của môṭ vi ̣tướng 3-sao, Trung Tướng Lionel C. McGarr) vẫn còn tiếp tuc̣ hoaṭ đôṇ g thêm môṭ thờ i gian gần môṭ năm mớ i bi ̣hủy bỏ và hoàn toàn sáp nhâp̣ vào MACV. Tuy nhiên, trong môṭ thờ i gian hơn 3 năm (từ tháng 2-1962 đến tháng 3-1965), bộ phận J2-MACV chì làm nhiêṃ vụ cố vấn, hỗtrợ và huấn luyêṇ cho hệ thống quân báo của VNCH mà thôi. Ðứng đầu J2-MACV lúc đó chỉ là môṭ sĩquan cấp Ðaị Tá , Ðaị Tá James M. Winterbottom, môṭ sĩquan Không Quân. 30 Ðầu năm 1964, sau khi cuộc cả i tổ cơ cấu chỉ huy của MACV được hoàn tất, do đề nghi ̣của Tướng Harkins và được BộTrưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara chấp thuâṇ , cấp số của chức vụ Phụ Tá Tham Mưu Trưởng MACV, Trưởng Ban 2 (Assistant Chief of Staff MACV, J2) được nâng từ cấp Ðaị Tá lên cấp Tướng. Ngày 15-1-1964, Chuần Tướng Carl A. Youngdale, thuộc Thủy Quân Luc̣ Chiến Hoa Kỳ , được cử làm Trưởng J2- MACV và tổng số nhân viên của J2 tăng từ 76 lên 135 ngườ i. 31 J2-MACV lần lượt hoaṭ đôṇ g dướ i quyền chỉhuy của các vi ̣tướng sau đây: Từ 1-1962 đến 7-1965: Chuẩn Tướng Carl A. Youngdale, Thủy Quân Luc̣ Chiến, hồi hưu vớ i cấp bâc̣ Thiếu Tướng Từ 7-1965 đến 5-1967: Thiếu Tướng Joseph A. McChristian, Lục Quân, hồi hưu vớ i cấp bâc̣ Thiếu Tướng Từ 5-1967 đến 5-1969: Thiếu Tướng Philip B. Davidson, Luc̣ Quân, về hưu vớ i cấp bâc̣ Trung Tướng


15 Từ 5-1969 đến 8-1972: Thiếu Tướng William E. Potts, Lục Quân, hồi hưu vớ i cấp bâc̣ Trung Tướng Về phần MACV, vì không tán thành chủ trương lâṭ đổ Tổng Thống Ngô Ðiǹ h Diêṃ , Tướng Harkins có mâu thuẩn lớn vớ i Ðaị sứ Hoa Kỳ lúc đó là ông Henry Cabot Lodge, Jr., và sau cùng bi ̣thay thế bằng phó tướng của ông là Trung Tướng (3-sao) William C. Westmoreland, được thăng lên cấp Ðaị Tướng (4-sao) vào cùng ngày 1-8- 1964 khi được cử nắm giữchức vụTư Lêṇ h MACV. Sau khi Hoa kỳ ồ aṭ đưa quân bộ chiến vào VNCH năm 1965 (vào cuối năm 1965, quân số Hoa Kỳ taị Miền Nam đãtăng từ 23.000 lên đến 184.000), nhu cầu về tiǹ h báo chiến trường (combat intelligence) của MACV gia tăng mảnh liêṭ. Cấp số của Trưởng Ban J2-MACV cũng được nâng thêm môṭ bâc̣ từ cấp Chuẩn Tướng lên cấp Thiếu Tướng. Thiếu Tướng Joseph A. McChristian được cử thay thế Chuẩn Tướng Carl A. Youngdale từ tháng 7-1965. Về sau những ngườ i kế nhiêṃ Trưởng J2-MACV đều mang cấp Thiếu Tướng: Thiếu Tướng Philip B. Davisdon và Thiếu Tướng William E. Potts. Cả 3 vi ̣Thiếu Tướng vừa nêu tên bên trên tiếp tuc̣ mở rôṇ g và phá t triển J2- MACV về cả 2 măṭ thu thâp̣ và khai thác tin tiǹ h báo, đồng thờ i phối hợp hoaṭ đôṇ g rất chăṭ chẻ vớ i phiá VNCH. Vớ i đà phá t triển maṇ h mẻ đó , dướ i quyền chỉhuy của Thiếu Tướng Joseph A. McChristian, đến giữa năm 1967, J2-MACV đãcó tổng số nhân viên trên 600 ngườ i. 32 vớ i môṭ cơ cấu tổ chức như trong biểu đồ sau đây: 33


16 Thâṭ ra, số ngườ i mà J2-MACV điều đôṇ g còn cao hơn rất nhiều. Theo tường triǹ h của chiń h Thiếu Tướng McChristian, các đơn vi ̣tiǹ h báo thuôc̣ Luc̣ Quân Hoa Kỳ đăṭ dướ i sự điều đôṇ g của ông vào tháng 6-1967 đãcó tổng số nhân sự từ 102 tăng lên đến 2.466, và tổng số cố vấn (cho các cơ quan tiǹ h báo của VNCH) đãtừ 218 tăng lên đến 622. Các đơn vi ̣tiǹ h báo thuôc̣ Luc̣ Quân Hoa Kỳ nó i trên bao gồm các đơn vi ̣ sau đây: 34 Ðoàn 525 Quân Báo (525th Military Intelligence Group) Ðoàn 149 Quân Báo (149 th Military Intelligence Group) có nhiêṃ vụThu Thập tin) Tiểu Ðoàn 1 Quân Báo (1 st Military Intelligence Battalion; phụ trách Yểm Trợ Không Thám = Air Reconnaissance Support) có nhiêṃ vụ cung cấp không ảnh cho các đơn vi ̣tác chiến) Tiểu Ðoàn 519 Quân Báo (519th Military Intelligence Battalion) cung cấp nhân sự và yểm trợ cho các Trung Tâm Hỗn Hợp) Riêng Ðoàn 525 Quân Báo thì chiụ trách nhiêṃ điều đôṇ g các đơn vi ̣quân báo sau đây: Môṭ đaị đôị tiń hiêụ (a signal company) có trách nhiêṃ châṇ bắt truyền tin của các đơn vi ̣đic̣ h Một phân đội không quân (an aviation detachment) có trách nhiêṃ thực hiêṇ và diển giả i các không ảnh về hoaṭ đôṇ g của các đơn vi ̣đic̣ h Ðoàn 135 Quân Báo (135th Military Intelligence Group) phụ trách công tác phản gián, vớ i các tổ phân phối khắp 4 Vùng Chiến Thuâṭ bên caṇ h các tổ của Cuc̣ An Ninh Quân Ðôị VNCH) Phối Hợp Công Tác Tình Báo Giữa VNCH và Hoa Kỳ Vìkhối lượng rất lớn cũng như mức độ phức tap̣ của tin tức tiǹ h báo (côṇ g thêm sự khác biêṭ về ngôn ngữAnh-Việt), và vìcùng chiến đấu chống laị môṭ kẻ đic̣ h chung, Phòng 2 BộTTM QLVNCH và Ban J2-MACV đãđồng ý thiết lâp̣ môṭ số cơ quan và đơn vi ̣tiǹ h báo hỗn hợp để chia sẻ tin tức và phối hợp hoaṭ đôṇ g. Vi ̣sĩquan QLVNCH đồng nhiêṃ vớ i Thiếu Tướng McChristian, Trưởng J2-MACV, là Ðaị Tá Hồ Văn Lờ i, Trưởng Phòng 2 BTTM QLVNCH. Ðaị Tá Hồ Văn Lờ i, sinh năm 1928 taị Ðiṇ h Tường, là môṭ sĩquan hiêṇ dic̣ h thuôc̣ BộBinh, tốt nghiêp̣ Khóa 3 Trường VõBi ̣Liên Quân Ðà Laṭ (Khóa Trần Hưng Ðaọ , năm 1951). 35 Sự thỏa thuâṇ giữa hai nước đồng minh trong cuôc̣ chiến đưa đến sự hiǹ h thành và hoaṭ đôṇ g của 4 Trung Tâm Hỗn Hợp về tiǹ h báo: Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Sự Hỗn Hợp (Combined Military Interrogation Center – CMIC), Trung Tâm Khai Thác Tà i Liêụ Hỗn Hợp (Combined Document Exploitation


17 Center – CDEC), Trung Tâm Khai Thác Quân Dụng Hỗn Hợp (Combined Materiel Exploitation Center – CMEC), và Trung Tâm Tiǹ h Báo Hỗn Hợp Viêṭ Nam (Combined Intelligence Center Vietnam – CICV). Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Sự Hỗn Hợp Công tác thẩm vấn các tù hàng binh và hồi chánh viên được cả 2 phiá Viêṭ Mỹ đăṭ ưu tiên cao trong công tác tiǹ h báo hỗn hợp. Các trung tâm thẩm vấn quân sự được thiết lâp̣ taị các quân đoàn và sư đoàn. Riêng taị các tiểu khu (tin̉ h) thìcác trung tâm thẩm vấn được đăṭ dướ i quyền điều khiển CSQG (đơn vi ̣CS đăc̣ biêṭ của điạ phương), nhưng khi cần thì các đơn vi ̣quân báo Viêṭ-Mỹcũng được quyền sử duṇ g. Trung tâm thẩm vấn hỗn hợp trung ương (CIMC) được đăṭ taị Sà i Gòn, dướ i sự chỉhuy kết hợp của Trung Tá Frederick A. Pieper, Thiếu Tá Lawrence Sutton và Ðaị Úy Lâm Văn Nghiã. 36 Công tác thẩm vấn được thực hiêṇ theo những quy điṇ h rất chăṭ chẽ. Trước tiên là sự phân biêṭ rõrêṭ giữa tù hàng binh và hồi chánh viên. Hồi chánh viên luôn luôn được đối xử môṭ cách thân thiêṇ và đăc̣ biêṭ hơn, vớ i chủ đić h taọ cho họ cảm giác ấm áp, và cho họ thấy rõlà sự “trở về” của họrất được hoan ngênh. Trong thờ i gian thẩm vấn, hồi chánh viên cũng được thoả i má i, có nhiều tự do hơn. Sau khi chấm dứ t thẩm vấn, họ được quyền choṇ trung tâm chiêu hồi mà họ muốn về làm viêc̣ . Môṭ số hồi chánh viên quan troṇ g, như Thượng Tá Tám Hà , Chiń h Ủy Sư Ðoàn 5 (Việt côṇ g), hồi chánh taị Biǹ h Dương năm 1970, hay Trung Tá Lê Xuân Chuyên, thuôc̣ bộ đôị chiń h quy của Bắc Viêṭ, hồi chánh taị Biǹ h Tuy năm 1967, đã được chiń h phủ VNCH cử nhiêṃ vào môṭ số chức vụ quan troṇ g taị Bộ Dân Vâṇ Chiêu Hồi hay Tổng Cuc̣ Chiến Tranh Chiń h Tri.̣ 37 Tuy có phân biêṭ đối xử , nhưng về nôị dung thẩm vấn thì hoàn toàn giống nhau đối vớ i tù hàng binh hay hồi chánh viên, vớ i muc̣ tiêu nhằm khai thác tin tức về 5 lãnh vực sau đây: Lực lượng đic̣ h bên ngoà i lãnh thổ của VNCH, nghiã là taị Bắc Việt, Miên, và Lào. Lực lượng đic̣ h bên trong lãnh thổ của VNCH. Chiến thuâṭ, vũkhí , quân duṇ g, hạ tầng cơ sở và các hoaṭ đôṇ g tâm lý chiến của đic̣ h. Phản gián: các kế hoac̣ h và hoaṭ đôṇ g phá hoaị, cà i ngườ i (nôị tuyến) vào các cơ sở của VNCH và các quân đôị đồng minh. Lộtriǹ h, hành lang, và phương thức xâm nhâp̣ từ Miền Bắc. Các báo cáo thẩm vấn thực hiêṇ taị các trung tâm thẩm vấn điạ phương phả i được đánh giá về mức độ quan trông của tin tức khai thác được, và sau đó chuyển về


18 trung ương. Các đối tượng thẩm vấn cũng phả i được xếp haṇ g về chức vụ của họ trong hệ thống của đic̣ h quân và tầm quan troṇ g của tin tức mà họ cung cấp. Tùy theo mức độ quan troṇ g, đối tượng thẩm vấn sẽđược bảo vệ và di chuyển nhanh hay châṃ về các trung tâm thẩm vấn ở cấp cao hơn, hay có thể đưa về ngay Trung Tâm Thẩm Vấn Trung Ương taị Sà i Gòn. Sau khi thẩm vấn hoàn tất, các tù hàng binh sẽđược đưa ra giam giữ taị traị giam trên đảo Phú Quốc. Trung Tâm Khai Thác Tà i Liêụ Hỗn Hợp Tà i liêụ thu thâp̣ được của đic̣ h cũng là môṭ nguồn tin tiǹ h báo rất quan troṇ g. Cả hai cơ quan quân báo của VNCH (Phòng 2 BTTM) và Hoa Kỳ (J2-MACV) đãđồng ý thành lâp̣ Trung Tâm Khai Thác Tà i Liêụ Hỗn Hơp, đăṭ trụ sở gần căn cứ không quân Tân Sơn Nhứ t và bắt đầu hoaṭ đôṇ g từ ngày 24-10-1966, vớ i trên 300 nhân viên quân sự và dân sự Viêṭ My.̃ Tiến triǹ h khai thác tà i liêụ của đic̣ h gồm các giai đoaṇ sau đây: Phân loaị tà i liêụ Ðánh giá tà i liêụ Phiên dic̣ h tà i liêụ Phân phối tà i liêụ Trong công tác phân loaị, tà i liêụ của đic̣ h được phân ra làm 5 loaị như sau: Loaị A: cần phả i được xử lý ngay lâp̣ tức, ví du môṭ bản kế hoac̣ h của đic̣ h nhằm phuc̣ kić h môṭ đơn vi ̣baṇ , vớ i kết quả được thông báo ngay bằng “đường dây nóng” (hot line) cho đơn vi ̣ bạn. Loại B: tà i liêụ có giá tri ̣tiǹ h báo chiến lược, thídụ như các giấy ban khen có ghi tên cá nhân và đơn vi ̣phuc̣ vu,̣ hay các sổ sách ghi chép thành phần, quân số, vi ̣trí đóng quân của các đơn vi ̣ đi ̣ch; loaị tà i liêụ này sẽnhanh chóng được dic̣ h sang tiếng Anh để phổ biến và đánh số tà i liêụ ngay; phần lớn tà i liêụ được xử lý taị Trung Tâm thuôc̣ loaị tà i liêụ này. Loại C: tà i liêụ không có giá tri ̣tiǹ h báo, thí dụ môṭ tấm bản đồ của Châu Phi; loaị tà i liêụ này sẽkhông được xử lý mà chuyển giao ngay cho phiá VNCH để tùy nghi. Loaị D: loaị tà i liêụ tuyên truyền, thí dụ môṭ tờ truyền đơn kêu goị liń h Mỹviết thư cho môṭ tổ chức phản chiến chẳng haṇ ; loại này bao gồm cả các loaị giấy bac̣ của Bắc Viêṭ; loaị này cũng không được xử lý taị Trung Tâm, tà i liêụ tuyên truyền thì được


19 chuyển giao cho các cơ quan chiến tranh tâm lý , giấy bac̣ thì chuyển cho các cơ quan thić h hợp. Loaị E: loaị tà i liêụ về mâṭ mãtruyền tin, loaị tà i liêụ này cũng sẽ không được xử lý taị Trung Tâm mà chuyển giao ngay cho các cơ quan về SIGINT. Sau đó , các tà i liêụ thuôc̣ 2 loaị A và B sẽđược chuyển đến môṭ nhóm các chuyên viên cao cấp về tà i liêụ để họ viết ra các bản tóm lược nôị dung cho từng tà i liêụ . Những tà i liêụ quá chi tiết sẽđược chuyển đến Ban DIc̣ h Thuâṭ để được dic̣ h sang tiếng Anh toàn văn tà i liêụ . Trong suốt thờ i gian hoaṭ đôṇ g, Trung Tâm đãxử lý môṭ số lượng tà i liêụ rất lớn, lên đến hàng triêụ trang. Xin đơn cử môṭ thí dụ để minh hoạ : nôị trong 2 tháng đầu năm 1967, vớ i 2 cuôc̣ Hành Quân lớn của quân đôi Mỹ(Cedar Falls, tháng 1-1967, trong Vùng Tam Giác Sắt; và Junction City, tháng 2-1967, taị Chiến Khu C ở Tây Ninh), gần môṭ triêụ trang tà i liêụ tic̣ h thu được của đic̣ h đã được xử lý taị Trung Tâm. Khoảng 10% của tổng số tà i liêụ này đãđược tóm lược hay chuyển dic̣ h sang tiếng Anh và phân phối đến các cơ quan và đơn vi.̣ Vớ i những trang thiết bi ̣tối tân nhứ t của thâp̣ niên 1960, trong đó có cả máy in có thể in đến 6.000 trang môṭ giờ , Trung Tâm đãcó thể cung cấp, ngay từ đầu năm 1967, mỗi ngày 1.400 cân anh (pounds) tà i liêụ đãđược tóm lược, chuyển dic̣ h và sao chup̣ . Tất cả các tà i liêụ đều được chup̣ vi phim, làm bảng dẫn (indexed) và đưa vào môṭ hệ thống máy tiń h (IBM 1401) đăṭ taị Trung Tâm Tiǹ h Báo Hỗn Hợp Viêṭ Nam (CICV).38 Trung Tâm Khai Thác VũKhíHỗn Hợp Ðối vớ i giớ i quân sự, thông tin về tất cả các loaị quân duṇ g do đic̣ h quân sử duṇ g được xem là rất quan troṇ g và cần thiết. Trung Tâm Khai Thác Quân Dụng Hỗn Hợp được thành lâp̣ để hai quân đôị đồng minh Viêṭ-Mỹ chia sẻ thông tin và kinh nghiêṃ về vũkhícủa đic̣ h. Trung Tâm được giao cho nhiêṃ vụ thu thâp̣ và khai thác tất cả các loaị vũkhí và quân duṇ g của đic̣ h. Công tác khai thác bao gồm các măṭ: xem xé t (observation), xác điṇ h (identification), phân tich (analysis), và đánh giá (evaluation). Muc̣ tiêu của công tác khai thác là tim̀ hiểu căṇ kẻ khả năng và giớ i haṇ của vũkhí - quân dụng, thông báo các thông tin này cho các cơ quan và đơn vi ̣có liên hệ để tim̀ biêṇ pháp đối phó . Trung Tâm được tổ chức vớ i các đơn vi ̣chuyên môn như sau: 39


20 Ban Hiǹ h Ảnh (Graphics Section): thực hiêṇ và cung cấp các ảnh vẻ và hiǹ h chup̣ Phòng Thí Nghiêṃ (Laboratory): thực hiêṇ các phân tić h hóa hoc̣ cần thiết để xác điṇ h thành phần của các chất lạ Ban Truyền Thông và Ðiêṇ Tử (Communications-Electronics Section): khai thác tất cả các loaị quân duṇ g có liên hệ đến truyền tin, nhiếp ảnh, và điêṇ tử Ban Cơ Ðôṇ g (Mobility Section): phân tić h và đánh giá tất cả các loaị miǹ bẩy cũng như các quân duṇ g và vâṭ liêụ về công binh, vâṇ tả i, và xây dựng Ban VũKhí và Ðaṇ Dược (Weapons and Munitions Section): xem xé t (tháo ra từng mảnh), phân tách và đánh giá tất cả các loaị vũkhívà đan dược tic̣ h thu được của đic̣ h Ban Y Khoa (Medical Section): đánh giá các loaị tiếp liêụ , thiết bi,̣ và khả năng về y khoa của đi ̣ch Ban Tiếp Liêụ và Thiết Bi ̣ Tổng Quá t (General Supply and Equipment Section): phân tić h và đánh giá các trang phuc̣ , vâṭ duṇ g cá nhân, lương thực, các sản phẩm về dầu khí , và các thiết bi ̣hóa hoc̣ , vi trùng và quang tuyến của đic̣ h. Tất cả các loaị vũkhí – quân duṇ g tic̣ h thu được của đic̣ h từ các đơn vi ̣chiến đấu đều được chuyển về các cấp lữđoàn hoăc̣ sư đoàn và từ đó chuyển về cho Trung Tâm để khai thác, ngoaị trừ các trường hợp cần khai thác ngay taị chổ thì Trung Tâm sẽgử i các toán cơ đôṇ g (“Go” Teams) đến để thực hiêṇ công tác này. Trung Tâm Tình Báo Hỗn Hợp Viêṭ Nam Cả 3 Trung Tâm vừa kể trên đều có môṭ muc̣ tiêu chung là taọ ra một cơ sở dữ liệu trung ương (centralized database), tối cần thiết cho hoạt động hữu hiêụ của Trung Tâm Tiǹ h Báo Hỗn Hợp Viêṭ Nam (CICV). Tòa nhà dành cho Trung Tâm được khánh thành ngày 17-1-1967 và Trung TÂm được đăṭ dướ i sự chỉhuy của Ðaị Tá Frank I. Schaf, Jr. và Thiếu Tá Cao Minh Tiếp, về nhân sự gồm có tất cả 651 nhân viên Mỹvà 164 nhân viên Viêṭ, vớ i sơ đồ tổ chức như sau:40


21 Trung Tâm hoaṭ đôṇ g 24 giờ mỗi ngày vớ i các ca nhân viên luân phiên nhau. Muc̣ tiêu của Trung Tâm là tâp̣ hợp, biên soaṇ và cung cấp tin tiǹ h báo về moị lãnh vực (quân số, diêṇ điạ , không ảnh, mục tiêu, vv.) cho các Ban 2 (TÌnh Báo) của tất cả các đơn vi ̣ tác chiến Việt-Mỹtừ cấp Quân đoàn xuống đến cấp Tiểu đoàn. Vớ i môṭ lực lượng nhân viên đông đảo như vâỵ , công thêm môṭ cơ sở dữ liêụ trung ương được tự đôṇ g hóa (của Bộ Phâṇ Xử Lý Ðiêṇ Tử , sử duṇ g máy tiń h tối tân nhứ t của thờ i đó là máy INM 360-30) và chứa đựng các thông tin về moị lãnh vực đã được thu thâp̣ từ những Trung Tâm Hỗn Hợp kể trên và đãđược các chuyên viên phân tić h và đánh giá , CICV đãcó thể hoaṭ đôṇ g vớ i hiêụ quả cao trong viêc̣ cung cấp một cách nhanh chóng và kip̣ thờ i tất cả các loaị tin tức tiǹ h báo cần thiết cho các cơ quan an ninh cũng như các đơn vi ̣tác chiến. HệThống Tình Báo Của Phe Côṇ g Sản Trong thờ i gian chiến tranh Viêṭ Nam, taị Bắc Viêṭ, cơ quan tiǹ h báo chiến lược là Cuc̣ Tiǹ h Báo thuôc̣ Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðôị Nhân Dân Viêṭ Nam. Cuc̣ Tiǹ h Báo, hay còn goị là Cuc̣ 2, được thành lâp̣ ngày 10-6-1957 do việc hợp nhất 2 cơ quan là Nha Liên Lac̣ (thuôc̣ Phủ Thủ Tướng, Giám Ðốc là ông Trần Hiệu) và Cuc̣


22 Quân Báo (Bộ Quốc Phòng), và vi ̣Cuc̣ Trưởng đầu tiên cũng chiń h là ông Trần Hiêụ (năm 1958, ông Trần Hiêụ được phong quân hàm Ðaị Tá). 41,42 Về phiá dân sự, sau sự hợp nhất này, Bắc Viêṭ không còn có môṭ cơ quan trung ương về tiǹ h báo nữa. Công tác tiǹ h báo dân sự được giao cho Bộ Công An vớ i maṇ g lướ i nhân viên dày đăc̣ từ trung ương xuống đến tâṇ các đơn vi ̣cấp nhỏ nhất taị điạ phương như Phường, Khóm, Xã, Ấp. Chiń h nhờ maṇ g lướ i này, Bắc Viêṭ đãngăn châṇ được sự xâm nhâp̣ của các toán điêp̣ viên của VNCH được gử i ra từ Miền Nam. Cục 2 có đầy đủ các Phòng, Ban chuyên môn phụ trách tất cả các lãnh vực chuyên môn về tiǹ h báo như thu thâp̣ tin (bao gồm cà tiǹ h báo nhân sự –HUMINT—và tiǹ h báo tiń hiêụ –SIGINT--, phân tić h và đánh giá tin, truyền và thông báo tin, và cả phản gián. Cụthể, Cuc̣ 2 gồm có tất cả 6 Khối vớ i trách nhiêṃ như sau: 43 Khối Hành Chánh: lo về nhân viên, lý lic̣ h, thăng thưởng, kỷ luật, vv Khối KỹThuâṭ: thu thâp̣ tất cả các loaị tà i liêụ của VNCH như giấy căn cước, con dấu, chữký để làm căn cước giả , cũng như cung cấp moị vâṭ liêụ và máy móc cần thiết cho các điêp̣ viên xâm nhâp̣ vào Miền Nam Khối Truyền Tin: điều hành các hệ thống truyền tin giữa Cuc̣ 2 vớ i các đơn vi ̣phụ thuôc̣ , vớ i các cơ quan tiǹ h báo chiến lược khác, và vớ i các điêp̣ viên do Cuc̣ 2 điều đôṇ g ở Miền Nam Khối Huấn Luyêṇ : phụ trách huấn luyêṇ nhân viên trong nước cũng như gử i đi hoc̣ taị Liên Xô và Trung Quốc từ 6 tháng đến 2 năm Khối Bảo Vê:̣ lo mảng công tác phản gián, theo dõi các đối tượng tiǹ h nghi phản đôṇ g, và ngăn châṇ ngườ i của VNCH xâm nhâp̣ và phá hoaị Khối Thu Thâp̣ : được tổ chức thành nhiều Ban; mổi Ban chiụ trách nhiêṃ thu thâp̣ tin taị môṭ quân khu ở Miền Bắc; đăc̣ biêṭ 3 Ban quan troṇ g nhứ t chiụ trách nhiêṃ taị 3 vùng Chiến trường C (VNCH), B (Lào), và C (Kampuchia); có cả 1 Ban chiụ trách nhiêṃ về Hoa Kỳ Taị Miền Nam, vìMăṭ Trâṇ Dân Tôc̣ Giả i Phóng Miền Nam (hay Viêṭ Côṇ g) chỉ là môṭ công cụ của Bắc Viêṭ, moị viêc̣ quan troṇ g về chiń h tri ̣và quân sự đều do Trung Ương Cuc̣ Miền Nam quyết điṇ h. Trung Ương Cuc̣ Miền Nam (sau đây sẽviết tắt là TUC; tà i liêụ của Mỹthường goị là COSVN = Central Office for South Vietnam) là cơ quan do Ðảng Lao Ðôṇ g Viêṭ Nam (tức Ðảng Côṇ g sản Viêṭ Nam taṃ thờ i đổi tên vào năm 1951) thành lâp̣ năm 1961 để thay cho Xứ Ủy Nam Bô,̣ vớ i nhiêṃ vụ tiến hành


23 cuôc̣ nổi dâỵ taị Miền Nam vớ i các Bí Thư liên tiếp sau đây: Nguyễn Văn Linh (1961- 1964), Nguyễn Chí Thanh (1964-1967), và Phaṃ Hùng (1967-1975), tất cả đều là Ủy Viên BộChiń h Tri ̣của Ðảng Lao Ðôṇ g Viêṭ Nam. Về mặt công tác tiǹ h báo, TUC, thâṭ ra, chỉchi ̣u trách nhiêṃ trong phaṃ vi lãnh thổ của Vùng III và Vùng IV của VNCH mà thôi (tức là 3 Quân Khu 7, 8, và 9 của Viêṭ Côṇ g). Công tác tiǹ h báo taị các phần lãnh thổ còn laị của VNCH (tức là Vùng I và Vùng II) vẫn thuộc sự điều khiển của Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam (xuyên qua Cuc̣ Tiǹ h Báo, tức là Cuc̣ 2). Do đó , hệ thống tổ chức tiǹ h báo của phe Côṇ g sản có sơ đồ tổ chức như sau: 44 Ghi chú : Chiến trường B3 là mâṭ ngữ của phe Côṇ g sản dùng để chỉ vùng Cao Nguyên Trung Phần của VNCH Quân Khu T.Thiên-Huế: gồm các tin̉ h Quảng Tri,̣ ThừaThiên và Thành phố Huế Quân Khu 5: gồm các tin̉ h duyên hả i Trung và Nam Trung Phần là Quảng Nam, Quảng Ngả i, Biǹ h Ðiṇ h, Phú Yên và Khánh Hòa Quân Khu 6: gồm các tin̉ h duyên hả i Nam Trung Phần là Ninh Thuâṇ , Biǹ h Thuâṇ , Biǹ h Tuy và các tin̉ h phiá Nam Cao


24 Nguyên Trung Phần là Darlac, Quảng Ðức, Tuyên Ðức và Lâm Ðồng Quân Khu 7: gồm các tin̉ h Miền Ðông Nam Bộ Quân Khu 8: gồm các tin̉ h Tiền Giang Quân Khu 9: gồm các tin̉ h Hâụ Giang, Miền Tây Nam Bộ Vớ i hệ thống tổ chức như trong sơ đố bên trên, viêc̣ cung cấp tin tức tiǹ h báo cho các sư đoàn Bắc Viêṭ đãxâm nhâp̣ vào Miền Nam và hoaṭ đôṇ g trong Vùng I và Vùng II Chiến Thuâṭ của VNCH hoàn toàn do Cuc̣ 2 đãm trách. Trong khu vực trách nhiêṃ của miǹ h, tức là 2 Vùng III và Vùng IV của VNCH, TUC có môṭ bộphâṇ chuyên lo công tác an ninh và tiǹ h báo goị là Cục An Ninh gồm có 3 bộ phận vớ i các nhiệm vụ chiń h như sau: 45 Ban Nội thám: vớ i bí danh K-35, có nhiêṃ vụ duy trì và bảo vệ an ninh cho mật khu; có quyền theo dõi, bắt giam, hỏ i cung, điều tra, giam giữcán bộ chiến sĩvà thường dân; ngăn châṇ sự xâm nhâp̣ của các điêp̣ viên của VNCH Ban Ngoaị thám: có nhiêṃ vụ thu thâp̣ tin tức tiǹ h báo qua hệ thống điêp̣ viên và nôị tuyến; cung cấp tất cả những duṇ g cu,̣ vũ khícần thiết cho các điêp̣ viên và nôị tuyến Ban Bảo vê:̣ bảo vệ yếu nhân, lãnh tụ của TUC và Măṭ Trâṇ ; đơn vi ̣được chỉ điṇ h làm công tác này là Trung Đoàn Bảo Vệ 180 gồm 2 Tiểu Ðoàn D-1 và D-2; D-1 phụ trách bảo vệ lãnh tụ và cơ sở ; D-2 phụtrách bảo vệngoaị vi. Ngoà i các tổ chức, cơ quan, đơn vi ̣chiń h thức như vừa triǹ h bày bên trên, phe Côṇ g sản còn có được tai mắt trong dân chúng qua cá i goị là “hệ thống tình báo nhân dân” ở khắp nơi trong lãnh thổ của VNCH, điều mà VNCH không làm được taị Miền Bắc. Hoaṭ Ðôṇ g Xâm Nhâp̣ Của Hai Bên Ngoà i các hoaṭ đôṇ g công khai của các cơ quan tiǹ h báo vừa kể trên, cả VNCH và Bắc Viêṭ đều có thực hiêṇ môṭ số điêp̣ vụ bí mâṭ qua các công tác gử i ngườ i, cà i ngườ i, kể cả trường kỳ mai phuc̣ , vào lãnh thổ, cơ quan, tổ chức của cả hai bên. VNCH Gử i Kiêṭ Kích Xâm Nhâp̣ Bắc Viêṭ Trong thờ i gian 300 ngày chuyển tiếp của viêc̣ thi hành Hiêp̣ Ðiṇ h Genève 1954, môṭ tổ CIA, dướ i sự chỉ huy của Ðaị Tá Edward Lansdale, đãtuyển mộ (từ các đảng viên của 2 chiń h đảng có chủ trương chống Côṇ g sản là Ðaị Viêṭ và Quốc Dân Ðảng), huấn luyêṇ và gà i đăṭ laị môṭ số tổ tiǹ h báo ở Miền Bắc. Kế hoac̣ h “trường kỳ mai


Click to View FlipBook Version