ĐỌC HỒI KÝ TƯỚNG TÁ SÀI GÒN
Tác giả: Mai Nguyễn
Ebook: Cùi bắp
Tex: https://motthegioi.vn/
PHẦN 1
Tướng Nguyễn Cao Kỳ
1. Nguyễn Cao Kỳ một mình chống lại Ngô Đình Diệm?
Đối với anh em ông Diệm, 1.11.1963 là ngày kết thúc giấc mơ quyền lực
kéo dài 9 năm. Nhưng với nhiều người khác, mới chỉ là thời khắc phôi phai
những “mộng ban đầu”. Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, thừa nhận: “Đối với tôi
mọi việc bắt đầu từ ngày hôm ấy”!
Lẽ ra, “mọi việc bắt đầu” sớm hơn một ngày. Vì theo dự tính, đảo chính
nổ ra vào 31.10.1963 nhưng tướng Dương Văn Minh quyết định hoãn lại 24
tiếng đồng hồ. Thay đổi giờ chót đó do sơ suất không báo kịp đến Nguyễn
Cao Kỳ nên Kỳ vẫn “độc diễn” phần việc được giao: Ông ta tập hợp khoảng
gần 200 binh lính và sĩ quan dưới quyền vào một nhà kho lớn chứa máy bay
trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất.
Theo kế hoạch, ông cầm chân họ tại lớp học tâm lý chiến mà mình chủ
trì sao cho đến 1 giờ trưa để đợi tín hiệu là tiếng xe tăng tiến vào căn cứ
quanh chỗ tập họp. Nhận tín hiệu, ông sẽ bất thần tuyên bố: “Đảo chính bắt
đầu”, và phát lệnh hành động.
Nhưng, theo một VIP, K.K (sếp quân đội) kể lại, đến 1 giờ kém 5 phút,
Kỳ “lắng tai nghe vẫn không thấy động tĩnh gì hết”; 1 giờ đúng: vẫn vậy!.
VIP thuật: Năm phút sau “nghe tiếng động cơ hình như tiếng chiến xa vô
(như tín hiệu đã báo), Kỳ lật đật xô ghế đứng dậy, chưa kịp tuyên bố thì một
trung úy chạy vô cho biết đó là tiếng của một trực thăng Mỹ đang đáp” chứ
chẳng phải xe tăng xe tiếc gì cả. May quá, Kỳ kịp ngậm miệng bước xuống,
chưa hô “đảo chính” ai cả. Đợi thêm tới 1 giờ 30 trưa đó (31.10) đành giải
tán, quay về gặp tướng Minh và trách: “Tại sao đình lại mà không cho biết,
suýt một chút là chết hết cả đám!”. Ông Minh xin lỗi vì quên thông báo.
Thật là một cái quên chết người và rất “khó quên”!
Đúng 1 giờ 30 trưa hôm sau 1.11, không phải Nguyễn Cao Kỳ, mà
Dương Văn Minh tuyên bố: “Đảo chính bắt đầu” và tước vũ khí các tướng
tá phe Diệm. Lúc đó, Nguyễn Cao Kỳ đang…ăn trưa tại một nhà hàng Sài
Gòn. Tài xế ông ta từ căn cứ phóng xe tới phanh rít trước cửa, chạy vào
kêu: “Trung tá trở về căn cứ ngay. Có chuyện lạ đang xảy ra”. Lập tức, Kỳ
vọt ra xe đích thân cầm lái phóng như bay về Tân Sơn Nhất. Đến cổng,
Tham mưu trưởng không quân là đại tá M. chặn lại la lớn: “Trời! Có anh
đây rồi! Đảo chính đã bắt đầu và chúng tôi muốn anh bắt đại tá Nguyễn
Hữu Hiền!”.
Đại tá Hiền là tư lệnh không quân, vốn chơi thân với Ngô Đình Nhu. Kỳ
chụp một cây súng tiểu liên, lái xe thằng đến văn phòng Bộ Tư lệnh Không
quân, một mình gõ cửa bước vào. Đại tá Hiền dường như đoán trước việc
phải xảy đến, ông ta ngồi yên trên bàn viết, Kỳ lễ phép: “Thưa đại tá tư
lệnh, đại tá đã bị bắt giữ”.
Ông ta không mấy ngạc nhiên trước diễn biến bất lợi cho mình đó. Hồi
ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ông Hiền là một phi công xuất sắc, và trong vòng
mấy tháng tôi đã có thể vận dụng ảnh hưởng của tôi để tìm cho ông ta một
việc làm ở hàng không Việt Nam. Không bao lâu, ông ta được giao cho lái
một phản lực lớn, lãnh được nhiều tiền hơn hẳn số tiền mà chẳng bao giờ
tôi hy vọng lãnh được với tư cách là tư lệnh không quân”.
Sau khi bắt giữ đại tá Hiền, lúc gần 3 giờ chiều, cuộc tiến công tuy “ít đổ
máu nhưng tốc độ là điều sống còn” đó bị chận lại vì lực lượng trung thành
phòng vệ Phủ Tổng thống chống trả quyết liệt.
Trần Thiện Khiêm điện khẩn bảo Nguyễn Cao Kỳ “hành động ngay”. Kỳ
lệnh lấy vài chiếc máy bay và bay ngay bên trên dinh tổng thống ở cao độ
thấp để gây khiếp sợ, rồi bắn một vài tên lửa xuống thành lớn của bộ phim
đóng gần dinh: “Sau khi họ bắn chỉ có hai tên lửa: quân giữ thành của Diệm
đầu hàng. Đối với tôi đó là một giây phút lịch sử không phải chỉ vì đã làm
thay đổi được cán cân trong việc lật đổ chế độ Diệm mà lần đầu tiên, với
cương vị một người không quân, tôi còn thí nghiệm được giá trị của sức
mạnh không quân khi được sử dụng để yểm trợ bộ binh khi gặp khó khăn.
Tôi quả quyết rằng nếu tôi không ra lệnh hai chiếc máy bay nhỏ đó cất cánh
thì cuộc đảo chính đã thất bại”. (Chúng ta đã thua trận ở Việt Nam như thế
nào? – Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ) *. Mười ngày sau, bước xuống máy bay sau
một chuyến đi dự lễ bên ngoài Sài Gòn, tướng Minh bảo: “Kỳ à, tôi đã
quyết định bổ nhiệm anh làm tư lệnh không quân”.
Sang năm 1964, Kỳ tiếp tục thăng tiến trong bối cảnh Mỹ muốn dùng
“nhóm tướng trẻ” như Kỳ để mở rộng chiến tranh. Tháng 4 năm đó, Bộ
trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đến Việt Nam cao hứng hô khẩu hiệu:
“Việt Nam muôn năm” bằng tiếng Việt, sau đó tăng viện trợ quân sự lên 50
triệu đôla để Sài Gòn bắt thêm 50.000 thanh niên vào lính, huấn luyện và
tung 7.500 cán bộ “dày xéo nông thôn”, tăng cường hải lục không quân và
kho bãi hậu cần, quân tiếp vụ.
Đầu năm 1965, Kỳ đã được phong tướng, làm ủy viên ngoại giao của
thường vụ Hội đồng Quân lực Sài Gòn, tán thành sự kiện Mỹ đưa lực lượng
thủy quân lục chiến đầu tiên tới Đà Nẵng tham chiến và ném bom miền
Bắc. Sau khi đích thân lên máy bay chào từ biệt Nguyễn Khánh trong ngày
Khánh ra nước ngoài, Kỳ và “nhóm tướng trẻ” nắm lấy quyền bính, loại
thằng cò các “tướng già”, muốn độc quyền đứng dưới bóng tòa đại sứ Mỹ.
Đến giữa năm 1965, sau một loạt các biến động, chính phủ do ông Phan
Huy Quát làm thủ tướng lung lay, dẫn đến cuộc họp triệu tập vội vàng đêm
12.6 với sự có mặt của quốc trưởng Phan Khắc Sửu mà Nguyễn Cao Kỳ ghi
lại qua những dòng không mấy văn vẻ, đôi chỗ giọng điệu hơi xấc:
“Sửu có mặt tại phiên họp – với phần xác chứ không phải phần hồn, bởi
vì không có một ai có thể bàn luận nghiêm chỉnh với ông già này về bất cứ
một vấn đề gì được. Sửu luôn luôn nói lải nhải, giảng thuyết không mạch
lạc về nguyên tắc thượng tôn pháp luật và cách xử sự khi làm chính trị. Rốt
cuộc bất thình lình, Quát đập mạnh xuống bàn và không có một lời mở đầu
nào cả, đã nói một cách cộc cằn: Tôi xin từ chức. Vì hội đồng quân lực đã
chỉ định tôi làm thủ tướng, hôm nay tôi xin giao trả quyền hành thủ tướng
lại cho hội đồng quân lực”.
Như vậy, sau các “tướng già” bị loại, đến lượt các “chính khách già” tự
phủ nhận đứng bên lề chính trường. Kỳ (và Thiệu) mau chân nhảy lên “bàn
tiệc quốc gia” sau đêm đó.
Tìm Thủ tướng mới, Thiệu bảo: “Để cho thằng Kỳ làm!”
Cuộc họp trên kéo dài từ 8 giờ tối đến 12 giờ rưỡi khuya tạm ngưng.
Sáng hôm sau, họp tiếp tại tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Thủy quân lục chiến
để cử thủ tướng mới thay ông Quát. Có 50 thành viên cấp cao của Hội đồng
Quân lực và “nội các rệu rã” ngồi hai ngày một đêm để chỉ định người vào
chức vị ấy.
Nguyễn Văn Thiệu bấy giờ là trung tướng được ông Kỳ đề cử. Nhưng
Thiệu từ chối và đề cử “ngược lại” Kỳ. Kỳ lúc đầu đẩy đưa qua Nguyễn
Chánh Thi kèm theo lời “bình loạn” công khai trước mặt Thi: – Xét cho
cùng, hình như thiếu tướng là người có đủ điều kiện để lãnh đạo. Thiếu
tướng có ý thích chính trị nhiều hơn hầu hết các tướng lĩnh khác và thiếu
tướng khoái được nổi tiếng!
Nghe xong Nguyễn Chánh Thi nổi quạu, không chỉ từ chối một lần mà
đến cả chục lần đây đẩy: “Không! Không! Không!” trong suốt hai ngày
“nghị sự”. Cuộc họp “nghỉ ăn trưa với bánh “xăng-quych” và uống bia với
nước ngọt Hoa Kỳ và khi chúng tôi nhóm lại, tôi đã đề cử tướng Có”. Ông
Kỳ kể như vậy và tiếp “Có cũng từ chối”, mệt lả, cả hội trường tạm đình
phiên họp vào 10 giờ đêm, ngủ và ăn cơm tối tại chỗ.
Sáng sau nữa, “bầu” tiếp chưa xong, nghỉ uống cà phê, bất ngờ Thiệu
bước về phía Nguyễn Cao Kỳ nói thẳng: “Kỳ, tại sao anh không nhận làm
thủ tướng?”. Rồi vào họp, theo hồi ký của ông Kỳ, Thiệu nói với giọng van
nài:
-Yêu cầu anh Kỳ đứng ra thành lập chính phủ!Nhưng sau lưng Kỳ, ông
Thiệu kêu Kỳ bằng “thằng”, đã khoèo Nguyễn Chánh Thi ra đứng riêng
(như hồi ký của Thi kể) mà thì thầm vào tai:-Để cho thằng Kỳ làm đi!Đến
khi Nguyễn Cao Kỳ nhận lời làm “thủ tướng” được một tháng (bấy giờ
Thiệu lên làm quốc trưởng) bèn bảo Kỳ:-Chúng ta phải tổ chức một buổi lễ
liên hoan.Kỳ có hơi “ngớ người” hỏi lý do vì sao mở tiệc? Thiệu bảo: “Thì
chính phủ của anh đã tồn tại được một tháng rồi!”. Câu ấy hàm ý là “cái
chính phủ” của Kỳ lẽ ra phải bị ngã đổ một, hai tuần sau khi ra mắt kia chứ.
Tồn tại một tháng là “kỳ tích” đáng liên hoan rồi! Mặc kệ Thiệu mỉa mai,
nhân đó hàng tháng Kỳ cùng các đồng sự mở tiệc!
Cuộc họp trên có thể xem là một trong các điển hình về sinh hoạt chính
trị bát nháo trên sân khấu Sài Gòn tả-pí-lù thời đó. Mà “Thủ tướng” Kỳ,
vốn người trong cuộc, đã phải thốt lên là “đáng buồn cười”. Không lâu sau,
với sự hỗ trợ của Mỹ, thế lực phe Kỳ nhanh chóng át hẳn Thiệu từ hội nghị
Honolulu. Nhưng rồi Thiệu quật lại vào cuối năm 1967 lên làm “tổng
thống”, đẩy Kỳ xuống hàng “phó”. Đầu những năm 1970. Kỳ thất thế hẳn so
với Thiệu, tạm lui vào vòng tay người đẹp Đặng Tuyết Mai lúc ấy đã thành
vợ mình và bắt đầu sống với những hồi ức. Trong đó tiệc cưới Kỳ – Mai có
tiếng nổ đôm đốp của 7.800 chai sâm – banh mở đầu những ngày “mộng
dưới hoa” ? Thử giở lại hồi ký những trang đầu Kỳ chép
2. Cao Kỳ – Tuyết Mai: Một thời để yêu và một thời… đảo chính!
Trên chuyến máy bay sang Thái Lan vào năm 1964, Nguyễn Cao Kỳ bị
hớp hồn bởi “một sắc đẹp cổ kính nhất” của cô tiếp viên hàng không Đặng
Tuyết Mai 20 tuổi mà ông ta “chưa thấy bao giờ”.
Xuống phi trường Băng-cốc, Kỳ tìm cách mời cho được Mai dùng cơm
với mình chiều hôm đó và” qua sáng hôm sau biết được nàng sẽ rời Băng-
cốc sớm trong chuyến bay trở về Việt Nam, tôi cảm thấy là phải đến chào
từ giã nàng. Nhưng thông thường đàn ông không đường đột vào phòng ngủ
đàn bà lúc 6 giờ sáng. Tuy nhiên tôi cũng đã tìm ra được cách để vào phòng
nàng.
Mặc xong bộ quân phục thiếu tướng không quân màu trắng có hồ bột
cứng sẵn sàng để đi dự cuộc diễu hành chính thức, tôi kín đáo đứng chờ
người phục dịch khách sạn mang điểm tâm lên phòng nàng và tôi dúi cho
người này mấy đồng bạc (do người phục dịch “nhường” lại) đến gõ nhè nhẹ
cửa phòng của Mai. Nàng đang đứng nhìn ra ngoài cửa sổ và gần như không
ngó đến tôi khi nàng bảo để mâm điểm tâm xuống bàn…”.
Kỳ kể về lần đầu gặp Mai như vậy. Đến tháng 9-1, khi Mai đã trở thành
cô vợ sắp cưới của mình, lần đầu tiên Kỳ lái xe chở Mai đi chơi ra khỏi Sài
gòn vào sáng chủ nhật ngày 13. Nơi họ muốn đến thăm là sân bay Biên Hòa
và vùng phụ cận nằm cách 35 dặm phía Bắc. Trên đường, viên sĩ quan cận
vệ lưu ý về số đông binh lính đang di chuyển khác thường theo hướng
ngược lại họ, nhưng Kỳ không để tâm lắm vì mải trò chuyện với Mai. Tới
Biên Hòa, Kỳ biết chắc cuộc chuyển quân nói trên nằm trong âm mưu đảo
chính mới của viên tướng tư lệnh vùng sông Cửu Long và Dương Văn Đức.
Dương Văn Đức làm đại sứ tại Séoul thời ông Diệm và đã yêu một cô
gái Đức làm việc trong sứ quán Tây Đức ở Hàn Quốc hồi đó. Mặc dầu ông
Diệm tỏ ý không bằng lòng nhưng Đức vẫn cưới người mình yêu và bị cách
chức, đưa qua Mỹ học.
Về sau, ông Đức ở Pháp hoạt động chống Diệm, thường uống rượu say,
sống túng thiếu, sau ngày 1.11.1963 được trở về Việt Nam. Nay thì ông Đức
quay sang chống lại sự kềm siết của Nguyễn Khánh và đang kéo quân uy
hiếp Sài Gòn, trong lúc Khánh vừa bay lên Đà Lạt, còn Kỳ đi chơi với
người đẹp Tuyết Mai ở Biên Hòa.
Rõ ràng Đức đang nắm ưu thế ngay giờ đầu của mưu toan lật đổ, và nếu
căn cứ không quân rơi vào tay Đức, lực lượng đảo chính sẽ có thêm phương
tiện để có thể hành động phiêu lưu và nguy hiểm. Do vậy Kỳ phải lập tức
quay về Tân Sơn Nhất trước khi quân của Dương Văn Đức tràn đến. Không
thể để Mai ở lại Biên Hòa một mình, Kỳ điện Bộ Tư Lệnh cấp tốc đưa trực
thăng đến đón hai người. Cuộc du ngoạn ngắn ngủi bằng đường bộ chuyện
sang chuyến bay chiến thuật song song với cuộc tiến quân đang diễn ra
dưới đất.
Rất nhanh, khi trực thăng đưa Kỳ và Mai đáp xuống “ngôi nhà có giàn
hoa tím” của họ tại Tân Sơn Nhất, Sư đoàn bộ của tướng Dương Văn Đức
với xe tăng yểm trợ đã kiểm soát gần hết Sài Gòn, kể cả Bộ Tổng tham mưu
và Đài phát thanh. Qua làn sóng điện, tướng Lâm Văn Phát lên tiếng mạt
sát Nguyễn Khánh thậm tệ.
Từ Đà Lạt, Khánh nghe được giọng hậm hực của Phát đã tái mặt bảo
Trần Văn Đôn và Trần Thiện Khiêm (lúc đó giữ chức Tổng tư lệnh quân
đội, cũng đang có mặt ở cao nguyên và bỏ trống Sài Gòn):
-Nếu thằng Kỳ mà theo bọn ấy, nó sẽ cho phi cơ dội bom tụi mình ở
đây…Nên gia đình Khánh và Khiêm dời chỗ ở đi nơi khác và cho đặt súng
phòng không ở Dinh số 2. Nhưng họ quá lo xa, vì Kỳ vốn không ưa Lâm
Văn Phát, nay nghe Phát lên đài phát thanh với “nhiều lời tuyên bố mà tôi
(Nguyễn Cao Kỳ) chẳng thích. Mục đích được ông ta đưa ra là nhằm phục
hồi lại triết thuyết của Diệm (?)”. Không ăn cánh với Phát nhưng lại có
quan hệ không căng thẳng mấy với tướng Đức, nên Kỳ gọi điện nhắn
Dương Văn Đức là “nên quay trở về”.
Nhưng Đức vẫn tiến quân, đưa xe tăng áp sát căn cứ không quân Tân
Sơn Nhất và đến gần vị trí Bộ Tư lệnh của Kỳ chập tối ngày hôm đó. Để dễ
“nhận mặt nhau”, hỏa châu được bắn sáng cả bầu trời và Kỳ đích thân ra
khỏi vành đai phòng thủ gặp người chỉ huy các toán xe tăng.
Giữa hai binh chủng không quân và thiết giáp trong quá khứ vẫn chưa có
gì hiềm khích nhau nên việc dàn xếp để tránh đụng độ khá thuận lợi. Ra về,
Kỳ nhắn nhe: “Nếu các anh cho xe tăng tiến lên một bước nữa là tôi sẽ cho
ném bom”. Đêm đó, xe tăng án binh bất động.
Sáng ra Kỳ điện cho Dương Văn Đức: “Đã đến lúc trung tướng nên từ bỏ
ý định… Đây là lời nói sau cùng của tôi. Nếu trung tướng không rút lui, tôi
sẽ ném bom, xuống bộ chỉ huy của trung tướng”. Xét nhiều yếu tố bất lợi,
trong đó có sự bất hợp tác của lực lượng không quân nên Dương Văn Đức
bỏ cuộc. Sau lần ấy, theo lời Kỳ, ông ta nổi bật lên như “một lãnh tụ không
chính thức của nhóm sĩ quan trẻ” mà Kỳ ưa nhắc đến trong hồi ký với tên
gọi “nhóm tướng trẻ”.
Quà cưới: Chiếc Ford Facon lộng lẫy và bộ đồ trà chân quê
Nguyễn Cao Kỳ – Đặng Tuyết Mai thuở mặn nồng
Vài tháng sau cuộc đảo chính trên, Kỳ và Mai gửi thiệp hồng đến hàng
ngàn quan khách gồm toàn bộ nhân viên chính phủ, tư lệnh và chỉ huy
trưởng các đơn vị hải, lục, không quân, ngoại giao đoàn, cùng nhân vật cao
cấp Việt – Mỹ có thế lực tại Sài Gòn mời dự đám cưới.
Khánh lúc ấy với tư cách là “sếp bự” và là bạn cố tri của Kỳ đã tặng vợ
chồng Kỳ món quà lộng lẫy là chiếc xe Ford Falcon mà Khánh đang đi. Đó
là chiếc xe hơi đầu tiên Kỳ được làm chủ trong đời. Trước đó Kỳ chỉ luôn
lái chiếc xe jeep của quân đội cấp cho.
Kỳ viết: “Hương (Trần Văn Hương), lúc bấy giờ còn là thủ tướng đã gửi
đến chúng tôi một món quà mừng đám cưới sang trọng là 200.000 đồng, số
tiền này đã hết sức tiện lợi cho tôi để trang trải phí tổn tiệc cưới tại nhà
hàng Caravelle mà “ai ai” cũng đều được mời dự”.
Theo lời kể của dân Sài Gòn và báo chí thời đó, đêm cử hành hôn lễ của
Kỳ – Mai tại khách sạn Caravelle “quả là một đại dạ hội tưng bừng hiếm có
giữa Sài Gòn xáo trộn, báo hiệu cái thế giá đang lên của một nhân vật gặp
thời”. Kỳ và Mai, một bên là tư lệnh không quân, một bên là nữ tiếp viên
hàng không xinh đẹp, họ đã thật sự “bay lên mây” theo nghĩa bóng lẫn
nghĩa đen, và làm đám cưới vào độ đậm đà nhất của cuộc tình.
Người Mỹ đang cần đến “ lãnh tụ nhóm tướng trẻ” để ủng hộ việc tăng
180.000 quân Mỹ ở VN năm đó. Chính khách Sài Gòn cần có chỗ dựa để
khỏi lạnh gáy giữa thời buổi “đảo chính xảy ra như cơm bữa”. Nên quà
cưới của hai phía Mỹ – Việt gửi đến họ khá hào phóng, đắt tiền; trừ một
món quà chân quê, đó là bộ đồ trà đơn sơ nằm cứ như một dấu chấm than
trêu ngươi giữa các tặng vật hào nhoáng. Kỳ có hơi chột dạ chưa dám giới
thiệu với Mai chủ nhân vắng mặt của món quà đó: thiếu tướng Đỗ Mậu.
Đỗ Mậu viết:” Mùa xuân năm 1965, thiếu tướng tư lệnh không quân
Nguyễn Cao Kỳ làm lễ thành hôn với người đẹp nữ tiếp viên phi hành Đặng
Tuyết Mai. Đám cưới Kỳ – Mai là một trong những đám cưới linh đình
nhất Việt Nam từ mấy chục năm qua, chỉ thua đám cưới ông Trần Trung
Dung, cháu rể của Tổng Thống Diệm (trước kia), và dĩ nhiên phải thua đám
cưới ái nữ Tổng Thống Thiệu và con trai ông Nguyễn Tấn Trung (sau này)”.
Ngoài đại tiệc ở Caravelle, một đại tiệc khác dành riêng cho hai họ và bà
con thân thuộc được mở tại Chợ Lớn. Lễ tơ hồng:” tân lang trong chiếc áo
dạ hội màu đỏ đã tặng giai nhân chiếc nhẫn to bằng đầu ngón tay”! Đây là
cuộc hôn nhân lần thứ hai của Kỳ; ông viết:” Cuộc hôn nhân đầu tiên của
tôi với một phụ nữ Pháp – và chúng tôi đã có 5 đứa con với nhau – đã kết
thúc bằng ly thân và tiếp đó chúng tôi đã ly dị”.
Đời vợ trước của Kỳ, theo lời tướng Đỗ Mậu, không được hanh thông dư
dả lắm. Hàng năm cứ vào mùng một Tết, Kỳ thường dẫn vợ con đến nhà Đỗ
Mậu mừng tuổi và lạy bàn thờ gia tiên vì xem Đỗ Mậu” như người anh
trưởng của gia đình Kỳ’. Đến cuộc hôn nhân với Mai, Kỳ đích thân đến nhà
mời vợ chồng Đỗ Mậu dự tiệc, nhưng ông Mậu đã quá “chán chường không
muốn chen lấn vào những nơi tụ họp đông đảo của hạng người trưởng giả
nữa” nên không dự đại tiệc của Kỳ ở Caravelle. Có lẽ vì vậy đã dẫn đến
thái độ cao ngạo đáp trả của Kỳ đối với Đỗ Mậu khi Kỳ lên làm thủ tướng
vào khoảng nửa năm sau ngày cưới Mai. Chuyện như sau:
Kỳ phái viên thiếu tá chánh văn phòng của mình mời Đỗ Mậu đến dinh
thủ tướng, đợi hơn một tiếng đồng hồ mới tới. Tới rồi, Kỳ đi thẳng vào
phòng làm việc bắt Đỗ Mậu chờ thêm một tiếng nữa rồi mới ra tiếp. Sau
hai giờ chờ chực, tưởng Kỳ nói chuyện chi quan trọng lắm, ai dè chỉ buông
một câu trống không: “Lâu ngày không gặp nên tôi chỉ mời thiếu tướng vào
thăm thế thôi”. Đỗ Mẫu “cám ơn” rồi ra về, buồn bực vì cuộc gặp mặt lãng
nhách đó. Chắc Kỳ không mời đến để “thăm” vì thâm tình, bởi nếu vậy Kỳ
đã tìm đến nhà riêng tướng Mậu, người mà Kỳ từng tôn xưng là “đàn anh”
trước kia.Đỗ Mậu chẳng buồn vì cách đối xử quá “hỗn” của Kỳ làm chi, mà
nhớ đến “lá số tử vi” của một nhân vật “khắc tinh” của Kỳ và đang có mặt
bên cạnh Kỳ là Nguyễn Văn Thiệu. Hồi ký Đỗ Mậu viết: “Thiệu có đến 4
chữ Tý: Tuổi Giáp Tý 1924, sinh vào giờ Tý (nửa đêm), tháng Tý (11 âm
lịch) và cung Mệnh viên cũng nằm ở Tý”.Dựa vào “lá số” đó, trước kia Đỗ
Mậu xui Thiệu “làm cách mệnh” chống lại chế độ Diệm. Thiệu hoảng sợ
năn nỉ Đỗ Mậu là “ông Cụ” (tức Ngô Đình Diệm) cũng tin tử vi lắm, đừng
nói với “ông cụ” về lá số quá tốt của Thiệu, sợ “cụ” nghi kỵ:-Ông cụ biết
được ông sẽ chặt đầu cả hai đứa mình!
3 – Ông thầy tướng số “bí ẩn” sau lưng Nguyễn Văn Thiệu và
Nguyễn Cao Kỳ
Nguyễn Văn Thiệu lâng lâng nghe Đỗ Mậu giải đoán về “lá số tử vi đại
quý” của mình với một loạt chữ Tỵ. Đỗ Mậu dựa vào đó để “cổ vũ” Thiệu
theo hướng có lợi cho cuộc vận động các sĩ quan chống Diệm. Mớm cho
Thiệu phải “hành động quân sự” mới ứng hợp với bước đường thăng tiến
mà “lá số” cho thấy.
Nguyễn Văn Thiệu ra về, không bao lâu sau, cũng chính Đỗ Mậu, với tư
cách Giám đốc Nha an ninh quân đội, gọi điện thoại bắt Thiệu phải đến
trình diện mình gấp. Vội vã và lo lắng, Thiệu rời Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 do
mình nắm giữ, về ngay Nha an ninh quân đội vài giờ sau đó.
Lần này, Đỗ Mậu không mở đầu bằng những lời tiên đoán tốt đẹp như
trước đây, mà dọa “bắt giam” Thiệu vì tội “âm mưu lật đổ tổng thống”
Diệm! Nghe vậy Thiệu thất sắc, chưa biết phải nói năng ra sao, Ông Mậu
vội trấn an ngay, bảo mình giả vờ thôi, và bàn vào chuyện…lật đổ Diệm
thật!
Vậy là “ông thầy bói” thành “ngài đại tá” vận động làm binh biến và
trong đảo chính 1.11.1963 chính Nguyễn Văn Thiệu cầm quân trực tiếp
đánh vào thành Cộng hòa và dinh Gia Long, được thăng từ đại tá lên thiếu
tướng.
Theo những người thân cận dinh độc lập thì phần việc tham gia đảo
chính trên của ông Thiệu do tướng Dương Văn Minh giao.Thăng đến trung
tướng. Thiệu chuyển sang vai “quốc trưởng” (Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo
quốc gia). Năm 1964-1965, Nguyễn Văn Thiệu cùng “nhóm tướng trẻ” đưa
“ông thầy bói” Đỗ Mậu ra khỏi Sài Gòn quản thúc. Nguyễn Cao Kỳ cũng
vậy, trước được Đỗ Mậu dẫn đi coi bói bởi một “ông thầy” khác để biết
chuyện tương lai, sau lên làm “thủ tướng” đã góp tay đẩy ông Mậu về
vườn.
Chuyện như sau: Theo Đỗ Mậu, ông và Nguyễn Cao Kỳ có liên hệ “thắm
thiết” như anh em, chí lí tình nghĩa đến cả chia nhau chút ruốc mắm, lọn
nem, đòn chả, củ hành, dưa kiệu, nhét túi cho Kỳ đôi đồng uống bia là
thường. Ngày mẹ mất, Kỳ thống thiết thưa với đàn anh: -“ Buổi sinh tiền,
mẹ tôi ngỏ ý muốn khi mất sẽ được chôn cất ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi
mà tôi thì quá túng thiếu không làm sao báo hiếu được, vậy nhờ đại tá giúp
đỡ đàn em”. (Đỗ Mậu).
Cám cảnh Kỳ nghèo mà có hiếu, Đỗ Mậu bỏ tiền “mua biếu tặng bà cụ
đám đất trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi”, giúp Kỳ chôn cất mẹ như ý
nguyện. Kỳ dính líu tới nhóm sĩ quan nhảy dù mưu lật đổ Ngô Đình Diệm
vào năm 1960; lại buôn lậu hàng hóa rẻ từ Singapore về bị quan thuế bắt;
Đỗ Mậu bảo mình đều đứng ra che chở “đàn em”.
Đến ngày vận động lật đổ chế độ Diệm, tuy thân thiết như vậy, Đỗ Mậu
vẫn thi triển bài bản có lớp lang chu đáo. Đầu tiên, gọi Kỳ đến, mở miệng
là dọa “bắt” (như với Thiệu). Nhưng sau hạ giọng mát mẻ mời “tham gia
đại sự”, làm như bộ luôn tiện (thật ra có chủ ý, sắp xếp trước) lôi Kỳ đi coi
bói.
Theo lời Kỳ, hai người lên taxi chạy qua những phố vắng vẻ của Sài
Gòn, ngừng trước một căn nhà tồi tàn: “Một cụ già đưa chúng tôi vào một
gian phòng dơ dáy đầy sách vở, cuộn giấy, biểu đồ thiên văn…Đỗ Mậu đưa
cho ông ta những chi tiết về ngày sinh của tôi rồi hỏi ông ta hai câu. Câu
thứ nhất: “Người này (chỉ Nguyễn Cao Kỳ) có lương thiện không, có phải
là một người tôi có thể tin tưởng, sẽ không bao giờ phản lại tôi hay những
người khác không?”
Câu trả lời của cụ già khẳng định là Kỳ không phải loại người “phản
trắc”.Đoạn “mở đầu gieo quẻ” đó, Đỗ Mậu kể sinh động hơn: “Tôi (Đỗ
Mậu) bèn kéo Kỳ đến nhà thầy tử vi Minh Lộc ở đường Trần Quý Cáp (nay
là Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM) mà tôi đã sắp đặt từ trước. Sau khi gieo quẻ
bấm tay, ông MinhLộc nói rằng số Canh Ngọ này (của Nguyễn Cao Kỳ) làm
nghề đi mây về gió (!) tuy nhiên đến thu đông năm nay (nhằm khoảng thời
gian áng chừng nổ ra cuộc đảo chính Diệm; sau ấn định vào 1.11) phải làm
gì có tính cách bạo động rồi trở thành vương tướng, phú quý song toàn”
(!)Câu ấy hàm ý kích động Kỳ tham gia quân đội lật đổ Ngô triều.Tử vi của
ông này (Kỳ) có báo trước là một ngày nào đó ông ta sẽ đi tù không?Kỳ
viết: “Một lần nữa lão thầy bó nghiền ngẫm những biểu đồ và sách vở của
ông ta rồi quyết đoán: Không, suốt đời ông này sẽ không bao giờ đi tù
cả”.Câu hỏi đó của Đỗ Mậu là câu trả lời “không bao giờ đi tù” của ông
thầy bói nhằm trấn an Kỳ. Vì từ lời “thầy” mà suy ra, đảo chính bị “hụt”,
Kỳ vẫn an toàn không bị ở tù chi cả, vì “số” là như thế (!).Đến câu hỏi này
mới thật cột nhau vào thế kẹt: “Số này (của Kỳ) có phản bội tôi (Đỗ Mậu)
không?”. Minh Lộc khẳng định: “Không, bởi nếu phản bội sẽ bị chết bất
đắc kỳ tử”. Đỗ Mậu thưởng cho thầy tử vi một trăm đồng bạc rồi ra về:
“Trước khi chia tay, Kỳ thề suốt đời giữ trọng lòng trung nghĩa đối với tôi.
Sau này Kỳ phản tôi, cùng với nhóm tướng trẻ cô lập tôi ở Kon Tum, tại Nha
Trang nhưng Kỳ đã không chết bất đắc kỳ tử, vả lại trong thâm tâm tôi cũng
thật lòng không muốn ai phải chết bất đắc kỳ tử…”.
Tuy không “bất đắc kỳ tử nhưng tiếng đồn không mấy hay ho về Kỳ (và
Thiệu) tăng dần theo số quân Mỹ từng vào VN tham chiến mà đến Giáng
sinh năm 1965 đã lên 184.000 (so với tháng 7.1965 chỉ mới 81.400 quân –
số liệu dẫn từ Mc Namara).
Giữa năm đó, thuốc phiện cũng được thả dù xuống cao nguyên Trung
phần sau khi bí mật đưa lên máy bay gần Savanakhet của Lào. Một số trong
đó “lọt” vào chiếc chuyên cơ của Nguyễn Cao Kỳ với sự “hợp tác” của cả
Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Vĩnh Lộc, Cao Văn Viên.
Khi chuyến bay sắp cất cánh rời Pleiku về Sài Gòn thì bị phát giác và la
ầm lên bởi viên Tư lệnh Quân đoàn I vùng I chiến thuật: Nguyễn Chánh
Thi! Nguyễn Hữu Có (Tổng ủy viên quốc phòng) chặn không cho Thi tới
gần máy bay chở thuốc phiện. Ức khí, Thi gằn giọng:
–Định bán cho ai?
4: Chuyến hàng thuốc phiện của các tướng lĩnh đứng về phía…dân
nghiện!
Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng uỷ viên Quốc phòng (Tổng trưởng Quốc
phòng) và. Tư lệnh Vùng 1 Nguyễn Chánh Thi, ảnh chụp trước khi xảy ra
vụ biến động miền Trung
Ngay từ ngưỡng cửa của việc nắm trọn quyền lực, Nguyễn Cao Kỳ và
Nguyễn Văn Thiệu đã tạm thỏa hiệp ngồi lại với nhau trên “chiếc chiếu
thần” của nàng tiên nâu, để tổ chức những chuyến hàng thuốc phiện dài
ngày tội lỗi…
Những tướng lĩnh vừa đoạt quyền “điều khiển quốc gia” từ tay một
chính phủ dân sự bất lực của các ông Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát vào
tháng 6.1965 đang cấu kết mở rộng “con đường tơ nhện” trên không để đưa
thuốc phiện về Sài Gòn qua đoạn trung chuyển từ các sân bay nằm khuất
tận cao nguyên.
Một vài tay có vai vế cao nhất “thượng thủ, thượng thượng thủ” trong
họ, gồm “quốc trưởng” Thiệu, “thủ tướng” Kỳ, cùng Nguyễn Hữu Có và
Linh Quang Viên (thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội các chiến
tranh của Kỳ) đã có mặt cùng lúc tại sân bay Pleiku vào buổi chiều có
chuyến hàng thuốc phiện đó. Duyên do gì cả 4 tay nêu trên lại hội nhau ở
phố núi cao?
Nguyễn Chánh Thi trả lời qua hồi ký Một trời tâm sự: “Vào khoảng
tháng 9.1965, Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi, bảo phải đi Pleiku hội. Cuộc hội
có Thiệu, Kỳ, Có, Viên và tôi. Đến sân bay Pleiku lúc 9 giờ 30, tất cả lập
tức đi quan sát đồn Pleime, nơi vừa xảy ra trận đánh lớn…Về lạu Pleiku,
tất cả đến tư thất Vĩnh Lộc ăn một bữa cơm thật thịnh soạn. Ăn xong Thiệu
mới nói: – Cuộc họp mặt hôm nay quan trọng không phải vì trận Pleime, mà
vì chuyện của anh Vĩnh Lộc. Tướng Westmoreland cũng như đại sứ Lodge
đều yêu cầu phải thay thế Vĩnh Lộc ở chức vụ Tư lệnh vùng II chiến thuật.
Đó là do lời đề nghị của tướng Palmer, cố vấn của anh Vĩnh Lộc. Anh Vĩnh
Lộc đã làm mất lòng ông Palmer sao đó. Anh Thi nghĩ sao?
Tôi trả lời: – Phải để cho anh Vĩnh Lộc trình bày xem có gì nghiêm
trọng không đã, tôi mới có ý kiến được.
Thiệu chặn ngang: – Người Mỹ họ cằn nhằn tôi là anh Vĩnh Lộc không
có “tinh thần hợp tác”. Ông Palmer kêu qua họp mà anh ấy từ chối không
qua. Đã nhiều lần như thế”.
Vĩnh Lộc vội vã biện bạch, Thiệu tiếp tục “truy”. Hỏi qua đáp lại kéo
dài. Hãy khoan nhắc tới nội dung cà kê đó, xin tóm gọn là việc đi đến kết
luận cách chức Vĩnh Lộc hôm ấy bất thành, vì mãi đến chiều còn cãi nhau.
Nguyễn Hữu Có nhìn trời nhìn đất “quanh năm mùa đông” mới giục về Sài
Gòn cho kịp, tạm nhưng họp, Nguyễn Chánh Thi viết:“Thường lệ đi họp mà
muốn về lại Sài Gòn, thì tất cả tướng lĩnh đều được mời đi trên chiếc máy
bay tốt nhất mà Nguyễn Cao Kỳ đang dùng. Lần đó quen lệ và cũng đinh
ninh là mọi người sẽ đi chung một chiếc máy bay để có thêm thì giờ hàn
huyên hay giải quyết những chuyện phối hợp lặt vặt, nên tôi xăm xăm đi
thẳng tới chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ. Đột nhiên Nguyễn Hữu Có giơ
tay ngăn tôi lại: – Anh đi chiếc máy bay của anh thì hơn. Tôi sinh nghi:
Một ý nghĩ thoáng qua nhanh trong đầu: tụi này âm mưu gì đây”
Đúng là có “âm mưu” trong chiếc máy bay đặc biệt của Nguyễn Cao Kỳ
đậu kia. Mà Kỳ khi còn mang cấp bậc đại úy thời ông Diệm, bị dư luận cho
là đã dính dáng đến các chuyến bay của phi đội đặc nhiệm chở thuốc phiện.
Có hơn 2.500 tiệm hút hoạt động tại Chợ Lớn từ những năm đầu 60.
Dùng máy bay chở thuốc phiện về Sài Gòn không phải là điều hiếm thấy,
mà có đến hàng trăm chuyến mỗi tháng. Thậm chí mỗi ngày có từ 300 đến
600 cân thuốc sống được người “cộng tác mật thiết” với Ngô Đình Nhu là
Francisci dùng máy bay hai động cơ vận chuyển.
Khi hai anh em ông Diệm mất, Kỳ nắm chức tư lệnh không quân, việc
buôn lậu thuốc phiện mở rộng, thời điểm đó Thiệu mới “bước vào nghề”.
Như trên đã nói, Nguyễn Chánh Thi nghi chiếc “chuyên cơ” của Kỳ có gì
“lạ” lắm đây, nên cứ một mực bảo Có là máy bay của mình phải trở về
Quân đoàn, và mình cần “đi chung với các anh”.
“Nguyễn Hữu Có không ngăn được tôi, tỏ vẻ khó chịu. Tôi bước lên máy
bay lẹ làng. Vừa ngồi xuống ngó chung quanh, tôi thấy mọi người đang
nhìn nhau, nửa nghi ngại, nửa như bực dọc vì sự hiện diện của tôi”. Ai
chẳng biết tính tình của viên tướng vùng 1 này, ăn nói bặm trợn chẳng kể ai.
Có lần ông ta giúp Thiệu tránh được đám đông biểu tình “đòi làm thịt tại
chỗ”, Thiệu cho phụ tá của mình đến cảm ơn. Thi bạo miệng đùa: “ Ơn
nghĩa chi! Con chó bị thất thế như tôi cũng cứu huống cho ông Thiệu.
Đại khái ăn nói lua lua “ác khẩu” như vậy, thêm cái khí chất lúc nào
cũng nóng nảy như bốc cháy của viên tướng vùng “hỏa tuyến”, nên người ta
gọi Thi là “cục lửa to tướng mang hình dạng con người”. Mà “cục lửa” đó
lại đang ngồi chình ình trước mặt họ chẳng biết phực cháy khi nào.
Bực mình quá, Nguyễn Hữu Có vọt miệng nói huỵch toẹt: – Chúng tôi
vừa bắt được một vụ buôn thuốc phiện lậu, tịch thâu được khá nhiều, định
đem về bán lấy tiền làm quỹ đen. – “Chúng tôi” (Thiệu, Kỳ, Có, Viên) là
những phù thủy có đủ đòn phép đổi chữ “buôn” (lậu) thành chữ “bắt” (hàng
quốc cấm). “Bắt” rồi bán lấy tiền, cầm trên tay những đồng “sạch sẽ” được
“rửa” trước mắt Thi!
Nói “la ầm lên” thì không đúng hẳn, nhưng cái cách vừa cười nhạt vừa
hỏi “cung” của ông Thi nghe cũng đinh tai” –Thuốc phiện bắt được bao
nhiêu? Trị giá được bao nhiêu?Nguyễn Hữu Có tỉnh bơ: – Được vài trăm
ký, bán được vài chục triệu. Bán xong, nếu anh muốn, tôi sẽ gửi biếu anh
chút đỉnh tiêu…
5- Mẹ cựu hoàng Bảo Đại muốn gả cháu cho 'chuyên gia đảo chính'
Nguyễn Chánh Thi?
Tướng Nguyễn Chánh Thi.
Chiếc máy bay như “lết đi nặng nề” và “bầu không khí bỗng trở nên
nghẹt thở sau khi câu chuyện thuốc phiện bị Nguyễn Hữu Có đem nói toạc
ra” theo như Thi kể. Đã thế, Thi bồi thêm mấy câu pha trò, khích bác chơi.
Thiệu và Kỳ, cả hai chẳng thích thú gì khi đang gắng gạt hết các “tướng
già” như Đỗ Mậu, lại phải bận tâm với loại “tướng trẻ” ngang ngạnh như
Nguyễn Chánh Thi. Thi sinh tại Huế, 33 tuổi làm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù
(1956) là một trong những người cầm đầu cuộc đảo chính hụt Ngô Đình
Diệm hôm 11.11.1960, sau đó phải trốn sang Campuchia trong 3 năm.
Khi chế độ Diệm đổ, ông ta quay về Sài Gòn thì vợ đã chung chạ với
một người bạn cũ của ông. Từ đó, ông sống một mình, nuôi 4 con. Nhận
chức Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật từ năm 1964-1966, đóng
bản doanh tại Đà Nẵng nhưng hàng tuần Nguyễn Chánh Thi vẫn dùng trực
thăng bay ra Huế. Bay ra đó vì công việc của “đại biểu chính phủ” tại Trung
nguyên Trung phần mà ông ta kiêm nhiệm. Song dư luận báo giới đương
thời vẫn cho vì ông nặng lòng với một cô gái Huế.
Dưới tít lớn “Tướng râu miền hỏa tuyến (Nguyễn Chánh Thi) vừa yêu cô
dược sĩ, vừa…ghét ai nhứt?” một bài báo viết: lại trông đêm trông ngày
chờ ông đi cưới, thế mà…”. Chuyện đó ông ta không kể trong hồi ký mà chỉ
nhắc đến cô H.T.X.M nào đó trong đoạn “Chuyện trò thân mật với Đức Từ
Cung thân mẫu của cựu hoàng Bảo Đại” trích sau: “Cuối tháng 11.1964 một
buổi mai thứ bảy, tôi đang ngồi uống nước trà với bà chị cả tôi ở quê lên
thăm, thì vào khoảng 10 giờ sáng, một bà cụ già của Phước tộc ghé thăm.
Sau mấy lời xã giao, bà cụ nói: - Đức Từ Cung sai tôi đến đây có ý mời Ôn
qua nhà uống trà, luôn tiện có vài công chuyện muốn thưa với Ôn”.
Theo lời hẹn, sáng hôm sau chủ nhật ông ta đến nhà bà Từ Cung lúc 10
giờ sáng. Bà Từ Cung cho người nhà bận quần áo chỉnh tề ra đón khi ông
vừa bước xuống xe, mời vô nhà. Cửa vừa mở, đã thấy bà Từ Cung đứng sẵn
mặc áo màu vàng lạt, đầu tóc bạc phơ, mời Nguyễn Chánh Thi ngồi trên bộ
trường kỷ bằng mun đen cẩn xà cừ, uống nước trà sen.
Gần 10 năm trước, ông Thi đã gặp bà khi được biệt phái đến chỉ huy
Tiểu đoàn Ngự lâm quân. Nay đến thăm và nhờ nghe “một vài công chuyện
muốn thưa” gì đó. Bà Từ Cung cám ơn vài việc mà ông đã làm cho hoàng
tộc, rồi hạ thấp giọng: - Còn một chuyện quan trọng có tính cách gia đình
mà bà muốn giúp cho Ôn vì biết Ôn có 4 đứa con dại không có người trông
coi. Bà có đứa cháu gái giỏi, khôn ngoan, tên là H.T.X.M muốn cho Ôn đem
về làm vợ để nuôi 4 đứa con và săn sóc Ôn khi đau ốm trở trời.
Nói xong, bà cho gọi cô X.M ra chào. Dừng chập lâu, bà lại khuyên ông
nên “có vợ để lo gia đình”. Nguyễn Chánh Thi lúng túng, ngạc nhiên, thưa
là “có thể năm ba năm nữa, bảy tám năm nữa, cháu mới dám nghĩ đến
chuyện gia thất. Hiện chừ bổn phận làm cha cũng chưa đủ, huống chi thêm
vào trách nhiệm làm chồng. Xin đức Từ thông hiểu hoàn cảnh của cháu”.
Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi
khi đón tiếp Thiếu tướng Frederick Karch...
Bà Từ Cung mời Thi ăn bánh, đoán ông ta áy náy chuyện tuổi tác, chậm
rãi nói: - Bà thật thương Ôn Thi và cháu của bà. Nó đã thưa với bà là muốn
có tấm chồng gan dạ để được hy sinh với chồng, dù người chồng có hơn
tuổi bao nhiêu cũng chả răng, cho nên bà có ý cho (làm vợ) Ôn đó”. Còn cô
X.M ?
Hồi ký kể: “Tôi thấy cô X.M với cặp mắt trong xanh cũng cất đầu lên
nhìn tôi với những giọt nước mắt đang rớt xuống làm thấm chiếc áo dài
xanh lạt của cô. Lòng tôi lúc ấy thật là bùi ngùi, xúc động với những giây
phút bất ngờ đã xảy ra tại đây”. Nghĩ một lúc, Bà Từ Cung tiếp: - Thôi nói
rứa biết rứa, khi mô nghĩ lại thì đến cho bà biết để bà liệu cho và nhớ khi
mô rảnh đem mấy đứa tới thăm bà với cho vui.
Kiếu Bà Từ Cung ra về, ông Thi bào tài xế riêng của mình hãy mang xe
về trước, còn ông thả bộ chầm chậm dọc theo bờ sông An Cựu suy nghĩ
mông lung về chuyện hôn nhân. Trong tướng tá Sài Gòn quanh ông, có
người lỡ “lấn sân” qua bạn đời của kẻ khác. Bồ nhí thì không nhớ hết tên…
Khi Nguyễn Văn Thiệu nắm hết quyền lực vẫn muốn lợi dụng các vụ
mèo mỡ lăng nhăng của các tướng tá phe đối lập, ra lệnh cho các tờ báo do
mình đỡ đầu đem ra nện tới nơi để hạ uy thế đối thủ, mặc dù chính Thiệu
cũng lăng nhăng không kém. Người đương thời đồn đại nhiều vụ ăn vụng,
trăng hoa, như tướng Đỗ Cao Trí lấy vợ của dược sĩ V.H.T và bắt bồ với bà
chủ hãng Cosuman Film chẳng hạn. Hoặc Cao Văn Viên “mang lộn dép”
của vợ một sĩ quan dưới quyền vì tối trời điện cúp…
Ngoài câu chuyện liên quan đến H.T.X.M trong buổi gặp bà Từ Cung,
ông Thi cho bà biết đã bàn với phụ tá “đại biểu chính phủ” là ông Hồ Dũ
Châu, lo mượn hai chiếc máy bay C.130 lên Đà Lạt để chở trở lại 40 thùng
đồ cổ của Đại nội mà trước kia vợ chồng Ngô Đình Nhu đã lấy lên Đà Lạt,
tính trang hoàng cho ngôi biệt thự của họ.
Nguyễn Chánh Thi viết: “Thật ra, không chỉ một mình vợ chồng Nhu mà
sau này, sau vụ biến động miền Trung ngày 10.3.1966, dân chúng thành phố
Huế cho biết là bọn Thiệu – Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Hoàng Xuân Lãm,
Nguyễn Văn Toàn đã làm tiêu tán những bảo vật quý giá của hoàng tộc sau
Đại nội và tại Tòa đại biểu Huế”.
Trong số tướng tá mà Nguyễn Chánh Thi nêu trên có một tay “máu lạnh”
truyền kiếp: Nguyễn Ngọc Loan. Loan đã nói gì với Nguyễn Chánh Thi
trong một cơn say tí bỉ mà Thi mô tả là “như đứa con nít đang lên cơn
sốt”?...
PHẦN 2
Trung tướng Nguyễn Khánh họp báo sau cuộc chỉnh lý ngày 30.1.1964
6 – Sinh sự vì Dương Văn Minh lên đại tướng trước Nguyễn Khánh 3
ngày!
Vừa là bạn đồng sàng, vừa là phụ tá đắc lực của Nguyễn Cao Kỳ,
Nguyễn Ngọc Loan được “Thủ tướng” Kỳ tin cẩn lần lượt giao nắm các
chức vụ đầy quyền sinh sát trong ngành an ninh quân đội, tình báo và cảnh
sát Sài Gòn
Một bữa, Loan uống say, mặt đỏ và méo, kéo tay Nguyễn Chánh Thi lôi
vào một căn phòng ở Bộ Tổng tham mưu hét toáng lên: – Thôi ông ơi, ông
thì chịu khó đi ra ngoại quốc một thời gian đi! Chúng nó ngại ông lắm. Nếu
ông còn lẩn quẩn ở đây thì chúng nó còn khó chịu và còn làm nhiều chuyện
ồn ào lắm.
“Chúng nó” tức cánh Kỳ và Thiệu đang hợp tác tìm thủ đoạn đốn ngã
Thi, Loan vừa lè nhè mớm cho Thi hãy “chạy ra nước ngoài”, vừa đưa cao
chai bia đang cầm trong tay lên nốc, rồi chửi đổng một hồi vung vít…
Chừng sáu, bảy ngày sau, Loan tìm gặp Thi lần nữa, lần này có cả Mai
Đen – từng nhúng tay vào việc buôn vàng và thuốc phiện vùng biên giới
Lào – Việt thời Ngô Đình Nhu – đi kèm. Không say như hôm trước, mà rất
tỉnh táo, lạnh lùng “đề nghị” Thi: Ông nên chịu khó đi ra nước ngoài thì
hơn, nếu ông còn ở lại Việt Nam, chỉ sợ tính mạng của ông không được bảo
đảm.
Nguyễn Chánh Thi hiểu đó chẳng phải là lời đe dọa suông.
Sau này, khi lưu vong, ông viết hồi ký và ngán ngẩm về các “chiến hữu”
của mình thời đó như Kỳ, như Khánh. Với đầu óc quân phiệt, muốn làm
“cha dân” của Khánh. Có lần qua điện đàm, Thi tỏ thái độ không đồng tình
với Khánh về chuyện đó, khiến Khánh “rất khó chịu” và theo lời Thi: “ông
ta bỏ điện thoại xuống một cách giận dữ”.
Thi viết: “Dẫu sao sau đấy một chính quyền dân sự (!) được thành lập
bởi Thủ tướng Trần Văn Hương và cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng,
Trung tướng Dương Văn Minh và trung tướng Nguyễn Khánh được thăng
lên đại tướng”.
Vụ thăng đại tướng của hai ông Khánh và Minh hồi ấy cũng bộc lộ
những bất đồng sẵn có giữa họ vốn manh nha từ cuộc đảo chánh 1.11.1963.
Ông Khánh không muốn ông Minh đưa ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm Thủ
tướng. Ông Minh đợi đến buổi lễ gần thăng cấp cho các tướng tá có công
trong đảo chánh mới quay lại bảo Khánh: – Anh không muốn cho ông Thơ
làm thủ tướng chớ gì, chỉ chốc nữa đây chính ông Thơ sẽ gắn sao cho anh!
Làm sao Khánh có thể khước từ được? Chuyện xảy ra tại Câu lạc bộ Bộ
Tổng tham mưu Sài Gòn có đông đảo các tướng tá sĩ quan cùng biết nên
Khánh bực lắm. Đến 1964, khi ông Minh làm “Quốc trưởng” và Khánh làm
“Thủ tướng” rồi tự dàn cảnh phong mình lên “Chủ tịch Việt Nam Cộng
hòa”, thì hai bên “đụng” nhau hoài. Một lần, vào ngày 1.7.1964, hai ông
Minh và Khánh sừng sộ nhau tại Dinh số 2 Đà Lạt trước mặt các ông Trần
Thiện Khiêm, Lê Văn Kim quanh “quyền” của mỗi người. Ông Khánh bắt
đầu “nổ” ngay:
– Tại sao anh ra Huế và Đà Nẵng, anh gắn huy chương cho ông Tôn
Thất Xứng và ông Mỹ, tôi là “chủ tịch” mà anh không hỏi ý kiến tôi gì hết?
Dương Văn Minh đáp:
– Tôi tưởng tôi là “Quốc trưởng” thì có quyền chớ!
Khánh không chịu:
– Nhưng tôi là “Chủ tịch”, anh phải hỏi tôi.
– Thế anh có quyền thì ấn định quyền hạn cho tôi đi.
– Thì anh đề nghị quyền hạn lên tôi. Chuyện này nữa, tôi là Thủ tướng,
tôi cần dùng xe cộ, tôi cũng có khách để tiếp đón, tại sao bên anh lại sử
dụng gì đến một trăm hai mươi mấy chiếc xe, tôi cần anh trả lại một ít để
làm cái Pool: văn phòng tôi hỏi thì ông đổng lý văn phòng anh bảo là
không trả gì cả!
“Quốc trưởng”, “Thủ tướng” và “Chủ tịch nước” mà đè nhau ra chì chiết
những chuyện như thế thì khó nghe quá. Trần Văn Đôn cũng có mặt tại buổi
“tọa đàm nội bộ’ trên kéo dài từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, có chen vào
những “thắc mắc chung” của “từng người” khác và đã ghi lại mẩu “đối
chọi” giữa hai ông Minh và Khánh như vậy trong hồi ký Việt Nam nhân
chứng.
Vài tháng sau, cuối năm 1964, ông Khánh mới nhờ cậu ông ta là Nguyễn
Lưu Viên, bấy giờ giữ chức “Tổng trưởng Nội vụ” nói với ông Trần Văn
Hương đề nghị với Quốc trưởng Phan Khắc Sửu thăng Nguyễn Khánh và
Dương Văn Minh lên đại tướng, nhưng trong sắc lệnh phải ghi, ông Khánh
được “lên” trước ông Minh…1 ngày!
Theo ông Đôn, khi sắc lệnh được trình ký lên văn phòng quốc trưởng
“những sĩ quan làm việc tại đó phần nhiều là người của ông Minh. Thấy
thế, biết là ông Khánh chơi “thầy” mình nên họ đề nghị Quốc trưởng trình
lên Thượng hội đồng quốc gia (…). Nhận định rằng ông Minh là cựu Quốc
trưởng và ở chức vụ trung tướng thâm niên hơn ông Khánh, cho nên cuối
cùng họ (Thượng hội đồng quốc gia) đồng chấp thuận thăng hai ông lên đại
tướng, nhưng để ông Minh “lên” trước …3 ngày!”.
Thế là sinh sự . Khi nhận được điện thoại báo tin sắc lệnh trên đã được
ký, ông Khánh đang dùng cơm tối với Trần Văn Đôn ở Dinh số 2, chẳng
những không vui mà lộ hẳn vẻ ác cảm, bực tức đến nghẹn cơm vì cái “hội
đồng quốc gia” đã làm ông vỡ một cuộc chơi.
Về Sài Gòn, Khánh nhóm họ “nhóm tướng trẻ” quy cho “Thượng hội
đồng quốc gia đang âm mưu giành tất cả quyền hành, lấn át quân đội!”. Lúc
đó, theo hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ, có người về hùa với Khánh la to: “Hốt
chúng đi là xong!”. Thật loạn.
Bề nào thì hội đồng đó vẫn gồm các thành viên cao niên, hoặc tên tuổi
được chính giới Sài Gòn biết tiếng như các ông: Phan Khắc Sửu, Lê Văn
Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Đình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế,
Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô
Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn
Đình Lượng, Hồ Đắc Thắng, được thành lập hồi tháng 9.1964.
Nguyễn Cao Kỳ mỉa mai: “Hội đồng quá già nua đến độở các quán rượu
Sài Gòn người ta gọi đó là viện bảo tàng quốc gia”, và Kỳ cùng Khánh ra
lệnh “nhóm tướng trẻ” hốt hội đồng đó thật, bắt một số đem quản thúc
khiến đại sứ Mỹ M.Taylor phải ôm đầu bảo họ: “Các vị đã làm nát bét cả
rồi!” Nghĩa là làm mất cái “màu mè dân chủ”, cái “chính phủ dân sự” mà
Mỹ đang muốn có. Dĩ nhiên, nhiều nguyên do để Khánh “hốt” hội đồng ,
nhưng chắc chắn việc quyết định để Khánh lên đại tướng sau Dương Văn
Minh 3 ngày có tác động tâm lý thúc đẩy Khánh hành động nhanh hơn. Vả
lại, lúc ấy nghi án “5 tướng Đà Lạt” kết thúc rồi, các “tướng già” đang có
mặt ở Sài Gòn . Họ quen biết những nhân vật thân cận với đại sứ Taylor,
điều đó cũng đáng lo chứ?
7 – “Anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc với cuộc tình trên phố núi cao
Trung tướng Vĩnh Lộc thường cho máy bay quân sự “không vận” các nữ
ca sĩ lên phục vụ ở Vùng II chiến thuật
Đêm 28.5.1964, đường phố Đà Lạt thấp thoáng bóng nhiều chiếc xe jeep
gắn sao đỏ di chuyển về hướng dinh số 3. Có nhiều dấu hiệu rất rõ về sự
hiện diện bất ngờ của khá đông các tướng tá từ Sài Gòn lên.
Kết thúc nghi án năm tướng Đà Lạt “trung lập”
Trần Văn Đôn lúc đó cùng em rể là trung tướng Lê Văn Kim được đưa
từ Đà Nẵng về quản thúc tại nhà riêng số 16 đường Lê Thái Tổ, Đà Lạt.
Khoảng mười một giờ rưỡi khuya hôm đó, an ninh quân đội đến “mời” hai
ông Đôn và Kim ra xe, đưa về dinh 3. Ở đó, 4 tướng “Đôn-Đính-Kim-
Xuân” (và Vỹ) bị tình nghi “trung lập” được đưa ra đối chất trước hội đồng
tướng lĩnh ngồi xoay quanh theo hình chữ U.
Trần Văn Đôn được đưa vào phòng họp lúc …1 giờ sáng 29.5! Ông Đôn
kể: “Bước vào thật là buồn rầu, bỡ ngỡ. Trước mặt tôi là các tướng tá:
Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Phạm Xuân Chiểu, Dương
Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đỗ Mậu, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Chánh Thi,
Dương Ngọc Lắm, Trần Tử Oai, Lê Văn Nghiêm, Nguyễn Cao Kỳ (đến buổi
sáng sau). Chung Tấn Cang, các đại tá: Trần Thanh Bền, Nguyễn Mộng
Bích, Lê Văn Nhiêu. Tôi ngồi ở giữa, họ ngồi chung quanh…”.
Sau 4 tháng bắt giữ vì bị nghi “trung lập”, đến lúc đưa ra xét hỏi chẳng
thấy nhắc tới hai tiếng “trung lập” chi cả, chỉ loanh quanh mấy chuyện gì
đâu kéo tận tới 6 giờ rưỡi sáng . Nguyễn Chánh Thi cứ lôi chuyện bà Ngô
Đình Nhu hỏi Đôn: “Tại sao trung tướng trả các con của bà Nhu lại mà
không giữ làm con tin để đòi trao đổi tiền bạc của nhà Nhu?”. Trần Văn
Đôn viết là ông đã trả lời ông Thi một cách “bình tĩnh, ôn tồn” như sau:
– Sau cái chết của hai ông Diệm – Nhu dư luận trong và ngoài nước đều
xúc động nên đại sứCabot Lodge có yêu cầu chúng tôi trả con của bà Nhu
lại cho bà ta để làm dịu bớt tinh thần dân chúng Mỹ đang xúc động.
Ông Đôn bảo là đã trình lên hội đồng quân nhân đảo chính trước khi các
con bà Nhu lên máy bay ra nước ngoài và hội đồng chấp thuận. Sau những
thẩm vấn đại loại như vậy, các tướng gác chuyện bà Nhu sang một bên và
trao cho Trần Văn Đôn một danh sách dài thượt gồm tên họ các bà các cô
và bảo: – Có phải đây là tên họ các nhân tình của anh? Chúng tôi nhận thấy
anh thiếu tác phong. Chúng tôi nghỉ 15 phút để anh coi cho kỹ rồi trả lời.
Thật lạ lùng. “Hội đồng xét hỏi” đưa ra danh sách các bà các cô xem
chừng chẳng dính dáng gì tới “nghi án chính trị”? Ông Đôn đọc qua; khi trở
lại phiên họp, trả lời rằng “một số tên đúng” là nhân tình của ông ta, “một
số tên chưa hề quen biết”, có thể là nhân tình của ai đó đang ngồi đây? Cả
phòng họp cười ồ. Tướng Đỗ Cao Trí bảo hỏi chuyện đời tư nghe “xấu hổ
quá” : – Nếu ngày nào tôi ngồi vào ghế của trung tướng Đôn thì không phải
là một tờ giấy như vậy mà là chởmột xe GMC!
Ý ông Trí bảo nếu có điều kiện như ông Đôn, danh sách tình nhân của
ông ta chép trên giấy nhiều tới nỗi phải dùng xe quân sự loại lớn mới tải
hết!
Ngoài “Đôn-Đính-Kim-Xuân”, tướng Nguyễn Văn Vỹ cũng bị xét hỏi,
và kết quả rất chung chung cho 5 người là: “Chưa dứt khoát tư tưởng”,
“thiếu lãnh đạo chỉ huy”, kèm theo mục bồ bịch lung tung gọi là “thiếu tác
phong”. Rồi tuyên bố…trả tự do! Ưa thì bắt. Ưa thì thả. Chuyện như đùa,
xét hỏi như đùa. Đôn than: “Tôi ngủ một đêm tự do sau 4 tháng “đi nghỉ
mát” ở biển và cao nguyên. Qua ngày chủ nhật 31.5, tất cả gia đình tôi
đoàn tụở Đà Lạt sau 4 tháng đen tối nhất của đời tôi”.
Vụ “nghi án” 5 tướng Đà Lạt “trung lập” khép lại hồ sơ từ đó. Đường
binh nghiệp của họ cũng dần khép theo, một khung cửa hẹp mở ra để Trần
Văn Đôn bước vào chính trường theo con đường khác, sau này…
Bộ sưu tập “ảnh lạ cao nguyên” xẻ làm ba mảnh, vì đâu?
Không chỉ ông Đôn bị lôi chuyện bồ bịch đời tư vào “chương trình nghị
sự” mà nhiều tướng tá Sài Gòn khác như “anh cả Trường Sơn” Vĩnh Lộc
cũng bị vướng. Gọi “anh cả Trường Sơn” vì theo làng báo thời đó, ông Lộc
tuy thuộc hàng VIP. KK nhưng có máu văn nghệ, bỏ tiền thực hiện bộ phim
Anh cả Trường Sơn và nhảy vào đóng phim đó luôn!
Thuộc hoàng phái, từng làm việc trong văn phòng Bảo Đại, đến thời ông
Diệm suốt 10 năm trong quân vụ ông chỉ lên được một cấp: trung tá chỉ huy
trưởng một trung tâm huấn luyện nằm sát Sài Gòn. Chế độ Diệm đổ, thời
Thiệu – Kỳ chớm lên, Vĩnh Lộc làm Tư lệnh Vùng II chiến thuật đóng tại
“phố núi cao” Pleiku. Vĩnh Lộc thường sai viên sĩ quan tùy viên của mình
về Sài Gòn rủ một số văn nghệ sĩ , ký giả, và dĩ nhiên vài “người đẹp hậu
phương’ lên cao nguyên chơi vào cuối tuần. Qua sáng thứ hai, dùng máy
bay quân sự chở họ về Sài Gòn.
Những chuyến bay “văn nghệ tiền tuyến” đó nối chặt cuộc tình “anh cả
Trường Sơn” với cô ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn thời đó: Minh H.
Ca sĩ H. là “người vợ không bao giờ cưới” của nhạc sĩ T.T.T, tác giả của
các nhạc phẩm viết về chân trời tím, và tình thư của lính…
Khi mối tình vụng trộm của “anh cả” và ca sĩ H. chín mọng, vừa lúc
Thiệu và Kỳ hục hặc nhau nặng và Thiệu muốn hất Kỳ thẳng tay. Vì vậy khi
nghe em út dèm pha rằng nhóm văn nghệ sĩ hay lên Pleiku “giao duyên”
với Vĩnh Lộc là nhóm của Kỳ, cánh Thiệu nhất định không để yên cho “sinh
hoạt văn nghệ” đó. Họ tìm cách chụp lén hình tướng Lộc và ca sĩ H. ăn nằm
âu yếm nhau góp lại làm một “sưu tập”. Sau đó chia làm 3 phần. Một phần
đưa lên mặt báo. Một phần gửi cho người vợ lớn của ông Lộc có nhà nằm
trong khu đất Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn. Phần còn lại gửi cho người
chồng “chưa cưới” của ca sĩ H. là nhạc sĩ T.
Riêng hai phần sau có kèm theo mấy cuốn băng ghi âm những lời thề
thốt “yêu ai yêu cả một đời” của họ. Việc gì xảy ra sau đó? Theo dân làng
báo thời bấy giờ, sau khi xem ảnh và nghe xong băng, vợ “anh cả Lộc” nổi
cơn ghen ngút trời. Nhạc sĩ T. lận súng lên tận biệt điện Phượng Hoàng đòi
bắn ca sĩ H. Chuyện còn dài nhưng xin ngừng nơi đây. Tờ Quật Cường do
ông Thiệu cùng nhóm vây cánh của ông ta – phối hợp với các “diễn đàn”
khác – bôi nhọ Vĩnh Lộc, triệt hạ uy tín những người bị nghi là thuộc phe
Nguyễn Cao Kỳ, bằng cách moi móc chuyện phòng the làm cho phải
ngượng nghịu trước “quân dân bốn vùng chiến thuật”.
Bộ sưu tầm ảnh phải “xẻ làm ba mảnh” vì như thế. Cũng cần nhắc việc
xích mích giữa Vĩnh Lộc với cố vấn Mỹ Palmer mà chúng tôi có nói qua
trong bài viết về chuyến hàng thuốc phiện ở sân bay Pleiku. Theo Vĩnh Lộc:
“Ông Palmer trịch thượng, xem thường chức vụ của tôi. Nhiều khi ông ấy
hành động như là muốn sai khiến tôi thế nào cũng được. Vì muốn giữ thể
diện, nên đôi khi ông ấy làm quá, tôi phải tỏ thái độ”.
Nhưng Thiệu – Kỳ thì khác, họ muốn vâng lời, vâng lời và vâng lời đã!
Vĩnh Lộc đã khều Nguyễn Chánh Thi ra xa Thiệu – Kỳ sau một cuộc họp tại
cao nguyên và thẳng thừng mắng: “Tụi nó chó má chưa! Chỉ đi theo quan
thầy thôi. Thôi thì trăm sự nhờ “ainé” cả”. Ông Thi xác nhận đó là nguyên
văn lời Vĩnh Lộc. Nhưng một năm sau, trong nhóm “quan tòa” xử Nguyễn
Chánh Thi ngoài Thiệu – Kỳ – Có – Viên trong chuyến máy bay chở thuốc
phiện tháng 9.1965 có…Vĩnh Lộc ngồi chung, và là người đầu tiên cao
giọng chỉ trích Thi! Ông Thi viết một cách cay đắng:
– Bây giờ trong hàng ngũ quan tòa xử tội tôi, tôi chua chát thấy Vĩnh
Lộc ngồi chung với bọn “chó má”. Giá ông ta không có thái độ gay gắt, có
khi tôi vẫn tin rằng ông ta lẫn lộn với bọn “chó má” chẳng qua chỉ vì vạn
bất đắc dĩ mà thôi”.
Thi bị gạt vào Sài Gòn họp và bị bắt giữ bất ngờ. Những người tưởng
“tướng tá anh em” đã xử ông tội gì?
8 – Chân dung tướng Mỹ M.Taylor dưới “kính loạn hoa” của Thiệu –
Kỳ – Thi
Nguyên tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Chánh Thi bị ghép “13 tội” mà theo ông ta tội lớn nhất không
được nêu ra là “biết quá rõ những hành động tham ô, buôn lậu á phiện” của
phe Kỳ và Thiệu. Tội nữa là nặng đầu óc cát cứ miền Trung – bộc lộ qua
đòi hỏi phải thả, hoặc để những nhân vật người Trung cho Thi xử lý qua vụ
“hốt” Thượng hội đồng quốc gia cuối năm 1964.
Vụ “hốt” đó do Khánh và” nhóm tướng trẻ” của Kỳ chủ mưu. Nó là sự
tiếp tục tham vọng quân đội làm “vua” manh nha ngay sau đảo chính
1.11.1963, như Thiệu đòi hỏi:”Quân đội đảo chính thì quân đội phải
hưởng” (trong cuộc họp tìm người thay Nguyễn Ngọc Thơ làm thủ tướng ).
Trần Thiện Khiêm trong chuyến thăm Mã Lai, người nước đó hỏi: Ở Sài
Gòn đảng nào mạnh nhất, Khiêm trả lời:”Quân đội!”. Nghe kể lại, các
tướng tá Sài Gòn cười ầm lên, người hả hê nhất phải là Khánh. Một tuần
trước lễ Giáng sinh 1964, Khánh xuất hiện với bộ quân phục, gặp các ông
Đôn – Kim – Xuân tại Đà Lạt và hậm hực nói (giọng vẫn đầy ”ấn tượng”
với Dương Văn Minh):
– Thượng hội đồng quốc gia là người của ông Minh, tôi quyết định vấn
đề gì họ cũng bác hết. Các anh thấy tôi bận quân phục đây chắc là sẽ phải
có chuyện gì! Chiều nay (19.12) tôi về Sài Gòn nhóm anh em và sẽ có quyết
định: một là đảo chính, quân đội lên nắm chính quyền trở lại; hai là xúc
Thượng hội đồng quốc gia.
Thượng hội đồng đang soạn thảo hiến pháp để tiến tới thiết lập chính
quyền dân sự, nhưng điều đó thâm tâm Khánh-Kỳ-Thiệu–Khiêm và nhóm
tướng trẻ diều hâu, quân phiệt không muốn. Nguyễn Cao Kỳ xem rẻ
Thượng hội đồng, bảo Quốc trưởng Phan Quốc Sửu là “ông già lải nhải”,
gọi thủ tướng Trần văn Hương 61 tuổi, cựu đô trưởng Sài Gòn là “một
người mang lại tai họa. Ông ta không có nghị lực, không nhìn xa thấy
rộng…”. Tóm lại, Kỳ cũng đang nôn nóng lật ngã cái “Thượng hội đồng” bị
mỉa mai là “Viện bảo tàng quốc gia” đó, thì đùng một cái, như lời hứa,
Khánh về Sài Gòn tụ họp “nhóm tướng trẻ” suốt 6 tiếng đồng hồ để xem có
nên ra tay chưa.
Kỳ kể lại, cuối cùng tất cả biểu quyết bằng cách đưa tay, kết quả là đồng
ý “hốt” ngay hôm 20.12.1964 và: “Tôi còn nhớ lúc đó vào khoảng chập tối,
tướng Có (sau này là thành viên trong nội các của tôi cho đến khi tôi giải
nhiệm ông ta vì tham ô) nhìn vào đồng hồ tay và nói: Đã muộn rồi. Đến lúc
phải lùa về gà và bò vào chuồng thôi!”.
Việc “hốt”, “xúc”, hoặc “lùa” (chữ dùng của nhóm tướng tá kiêu binh,
quân phiệt) được tiến hành trong đêm tối; y hệt cuộc hợp đồng tác chiến
chống lại những ông già ốm yếu không một tấc sắc trong tay.
Kỳ ghi nhận: “Khánh cầm đầu các lực lượng vũ trang, tôi hoàn toàn
kiểm soát không quân. Những người khác kiểm soát lực lượng đặc biệt,
thủy quân lục chiến, nhảy dù. Tôi cho tìm những sĩ quan cấp nhỏ, cung cấp
chi tiết (danh sách, địa chỉ, nơi giam giữ), thế là họ cho quân đi bắt…”
Khuya đó, một số thành viên Thượng hội đồng và hàng chục chính
khách, giáo sư, lãnh tụ sinh viên mà Kỳ ghép vào “thành phần bất hảo” bị
bắt giữ đưa lên Pleiku và Kontum quản thúc ngay sáng hôm sau. Trong số
đó có cả thiếu tướng Đỗ Mậu, ông kể: “Khoảng 3 giờ đêm ngày 20.12.1964,
đại tá Nhiêu, một cộng sự viên của Khánh và đang là Giám đốc Sở Trung
ương tình báo, đi xe jeep cùng với 3 binh sĩ võ trang đến nhà riêng của tôi
mời tôi đến gặp Hội đồng tướng lĩnh đang nhóm họp tại Bộ Tổng tham mưu.
Tôi biết việc chẳng lành đang xảy ra nên dặn vợ con cứ yên tâm ở nhà (…),
Đến 7 giờ sáng, tướng Có mời tôi lên xe và đưa ra phi trường Tân Sơn
Nhất”. Ở đó, các ông Mai Ngọc Liệu, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Văn Lực, bác
sĩ Lê Khắc Quyến, luật sư Trần Thanh Hiệp…lần lượt được binh lính chở
tới cầu thang máy bay để đưa đi quản thúc tại Kontum và Pleiku.
Đại sứ Mỹ M.Taylor nhanh chóng biết tin và điện thoại cho Khánh,
Khánh nghe xong quay qua bảo mọi người có mặt: “Đại sứ Mỹ Taylor
muốn gặp tất cả chúng ta tại Đại sứ quán Mỹ ngay bây giờ. Nhưng tôi
không đi (…). Trong các anh có ai đại diện tôi không?”. Không ai đi thay
cả. Khánh nói: “Này Kỳ, anh là lãnh đạo của nhóm tướng trẻ, anh nên đi
đi”. Thiệu và Thi đồng ý đi. Đô đốc Chung Tấn Cang cũng thế. Rốt lại:
Thiệu-Thi-Kỳ-Cang đi gặp Taylor.
Thái độ và lời nói của Taylor nhằm vào 4 người được mô tả là “quá sỗ
sàng”. Ông ta bảo đại ý là cuộc đảo chính náo động tối hôm qua đã làm tiêu
tan quá trình hình thành chính phủ dân sự đang diễn tiến, khiến Mỹ có thể
cắt viện trợ. Hành động của nhóm tướng trẻ quá “loạn”. Lời nói của Taylor
đầy vẻ lên lớp, không làm tắt “loạn” được. Hai bên chỏi nhau.
Kỳ bảo: “Taylor vẫn cứ tiếp tục nói với chúng tôi như là những học sinh
lang thang bị bắt gặp đang trộm quả trong một vườn cây ăn trái”. Ngược
lại, các tướng đầy máu kiêu binh, quân phiệt, háo thắng đó lại nhìn Taylor
qua một “kính loạn hoa” để thấy ông ta chẳng phải là “ngài đại sứ” đang
mặc bộ thường phục trang nhã trước mặt họ mà là, như Kỳ viết, một vị
tướng “không sao che đậy được phong thái quân sự…Taylor thuộc về loại
người luôn luôn thuyết giảng cho người khác chứ không phải là để nói
chuyện với họ”.
Ông hiện ra trong ý nghĩ họ như một người đang mặc áo hoa rằn ri của
lính Mỹ với những lời như đạn réo. Thiệu ức lắm, dọa sẽ họp báo về thái độ
của Taylor. Thi điên lên. Còn Khánh? Kỳ bảo sẽ không bao giờ tha thứ
Khánh về việc ông ta “lẩn tránh không chịu đi dự cuộc họp đó”. Nhưng 3
ngày sau, Khánh lên Đà Lạt khoe trước Trần Văn Đôn, Linh Quang Viên, Lê
Nguyên Khang:
– Bây giờ tôi đã nắm ông Taylor trong tay rồi, ông ta không dám hành
động gì để chống tôi nữa. Ông Taylor muốn gặp tôi thì đến văn phòng tôi ở
Bộ Tổng tư lệnh – chứ tôi không đến văn phòng ông Taylor nữa đâu.
Ông Đôn không lạ về lối nói của Khánh, hỏi:
– Có phải anh gây với ông Taylor không?
Khánh khoái lắm, cười ha hả:
– Ừ, tôi đã mắng ông Taylor một mạch…
Và ông Taylor đã nhịn im?
9 – Nguyễn Khánh lừa đại sứ Henry Cabot Lodge và cái chết của
thiếu tá Nhung
Nguyễn Khánh khoe đã thâu băng cuộc nói chuyện tay đôi với đại sứ
Taylor: “Tôi nói ông (Taylor) là một tướng giỏi, tài ba ở nước ông, nhưng ở
đây ông là một nhà ngoại giao dở”.
“Ngoại giao dở” vì không lôi kéo được mà còn gây ra sự bất mãn của
các tướng lĩnh Sài Gòn như Thiệu – Kỳ – Thi và…Khánh! Có lẽ ông Taylor
đã nín nhịn, nhưng ngấm ngầm “vận động” thế nào đó để góp phần làm
Khánh phải văng ra khỏi Việt Nam, lưu vong mãi đến giờ.
Với đại sứ Cabot Lodge, ông Khánh “qua mặt” một lần. Frederick Flott,
một người thân cận với Tòa đại sứ Mỹ, đã đưa 3 đứa con của bà Ngô Đình
Nhu sang Roma hồi đảo chánh 1.11.1963, kể với Trần Văn Đôn chuyện đó.
Theo Flott, hôm vụ chỉnh lý 30.1.1964 nổ ra, đại sứ Cabot Lodge cho
mời Nguyễn Khánh đến lúc 5 giờ sáng, hỏi vì sao lại bắt mấy tướng Đôn-
Đính-Kim-Xuân? Khánh đáp: – Không bắt sao được, chúng tôi có tài liệu là
trong vài ngày nữa, các ông đó sẽ tuyên bố miền Nam trung lập!
– Thế anh chắc chắn có bằng chứng không?
– Sao lại không? Chúng tôi có đủ tất cả tài liệu đây nầy!
Ông Khánh chỉ vào một tập hồ sơ ông ta đang ôm trong tay.
– Thôi được, anh đưa tôi xem để tôi trình cho Hoa Thịnh Đốn.
– Không được, vì trưa nay chúng tôi có cuộc họp báo, cần tài liệu này để
trưng bằng cớ, rồi sau đó sẽ đưa lại cho ông.
Nói qua chuyện vậy thôi chứ ông Khánh không đến. Phía đại sứ Cabot
Lodge –nhắn, Khánh lại hứa “sẽ”. “Rồi một hai tháng trôi qua, ông Khánh
không đưa gì hết. Lúc ấy ông Lodge mới biết là bị gạt”, Đôn viết như vậy.
Đó là tập “hồ sơ giả” hoặc một mớ giấy lộn “giả làm hồ sơ” mà “ngài đại
sứ” không bao giờ đọc được. “Qua mặt”. Cabot Lodge, Khánh không đơn
độc mà có sự che chở của cố vấn Mỹ riêng của mình là Jasper Wilson.
Các hồi ký sau này của Trần Văn Đôn, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh
Thi viết và xuất bản ở nước ngoài đều cho người sắm “vai chánh” trong
chỉnh lý 30.1.1964 không phải Nguyễn Khánh mà là…Trần Thiện Khiêm
(lúc đó làm tư lệnh quân đoàn 3). Do vậy, đại sứ Cabot Lodge lẽ ra gặp ông
Khiêm thay vì Khánh mới “đúng người đúng việc”. Đêm có chỉnh lý, bắt
các tướng, ông Khánh chỉ được 5 phút để suy nghĩ nhận làm hay không làm
thủ tướng. Trần Văn Đôn viết:
“Ông Khánh cho tôi biết sau này là ông ta nhận làm thủ tướng quá bất
ngờ. Trong đêm đảo chánh (chỉnh lý 30.1.1964) Trần Thiện Khiêm yêu cầu
Nguyễn Khánh nhận chức vụ Thủ tướng và Khiêm chỉ để cho Khánh 5 phút
quyết định. Năm phút sau Khánh bằng lòng. Có lẽ vì vậy mà nhóm đảng Đại
Việt (…) nói là họ bị gạt và đòi “đảo chánh lại”.
Hồi ký Nguyễn Chánh Thi cũng viết Trần Thiện Khiêm là “vai chánh”
vụ đó: “Ngoài ra, bên cạnh ông Khiêm còn có một số quân nhân thuộc đảng
phái, cộng với một số sĩ quan khác bất mãn với chế độ “mới” (của ông
Dương Văn Minh) vì không được trọng dụng, không được lên lon v.v…Thì
ra cái thứ “cách mạng” (chỉ cuộc chỉnh lý 30.1.1964 lúc đầu được Thi ủng
hộ) mà tôi đã tin tưởng, đã lăn lưng vào, nó là như thế!”.
Ra nước ngoài hơn 35 năm nay, chưa thấy ông Khánh xuất bản hồi ký.
Trong một cuốn sách của Vĩnh Phúc ấn hành tại Mỹ năm 1998 có in lời đáp
của Nguyễn Khánh khi được hỏi quanh “cái chết của thiếu tá Nhung”
(người bắn hai anh em Diệm Nhu) với các chi tiết dưới đây.
Về lời đồn cho rằng Nguyễn Chánh Thi xuống nhà giam của lực lượng
nhảy dù đang nhốt Nhung rồi đi lên, mặt hầm hầm, một lát sau lại xuống,
lên lần nữa bảo thượng sĩ Hải: “Mầy xuống lấy dây giầy cột nó lên!”, có
không? Ông Khánh trả lời không được rõ ý và nhắc lại:
“Hôm đảo chánh 1.11.1963, những tư lệnh quân chủng, thủy quân lục
chiến, ông Khang nầy nọ…trước khi vô ăn cơm họ để khí giới ngoài .Ăn
cơm xong ông Minh mới tuyên bố có cuộc đảo chánh. Thì lúc đó thằng
Nhung nó có súng. Nó đi đi lại lại, sỉ vả mấy ông đại tá, kể cả ông đại tá
Cao Văn Viên. Hồi lâu lâu, nó buồn tình, nó nắm đầu một ông lên nó bắn!
Phải có lịnh chứ không phải vô tình. Nó nắm ông Tung (Lê Quang Tung) ra
sau hè nó bắn. Hồi nữa nó vô nó nắm em ông Tung là trung tá Triệu (Lê
Quang Triệu) đem ra ngoài bắn luôn. Thành ra, mấy ông nầy bị sỉ vả mà có
làm được gì đâu. Anh tưởng tượng mấy ông đại tá …bị một anh đại úy mà
hồi Bình Xuyên với tôi nó còn là trung sĩ, thượng sĩ là gì đó nó sỉ vả thì họ
nghĩ sao? Thành ra có nhiều “thèses” lắm. Tôi không dám quả quyết
được”.
Theo ông Khánh, việc Nhung chết rất đáng tiếc vì có nhiều chuyện cần
để Nhung nói ra.
Ông Nguyễn Chánh Thi phủ nhận việc dư luận gán cho ông là người đá
chết Nhung dưới hầm nhà giam. Ông bảo lúc bắt Nhung đưa về chỗ ông
tuồng như có Cao Văn Viên ở đó nữa, ông nói với Nhung: “Anh khai thật đi.
Vì cái chuyện mình nhà binh (…), thiên lôi chỉ đâu đánh đó! Có gì mà anh
phải sợ. Khai thật cho tôi nghe vì tôi có biết qua về chuyện giết ông Diệm
đó”.
Nghe lời, thiếu tá Nhung viết bản tường trình khai hoàn toàn không biết
gì về quyết định của Hội đồng quân nhân đảo chánh mà chỉ ra đi bắt hai ông
Diệm – Nhu theo lệnh của Viên “chỉ huy tổng quát vụ nầy là ông thiếu
tướng Thu” (?).
Xe từ nhà thờ cha Tam đi một hồi gặp một đoàn mấy xe jeep chạy ngược
lại, trên xe có tướng Thu (…). “Khi đó ông Thu đưa hai ngón tay (ngón trỏ
và ngón giữa) của bàn tay trái…tôi (thiếu tá Nhung) rút khẩu Colt 12 bắn
mỗi người 5 phát. Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào
ngực. Đồng thời đoàn xe thiết giáp dẹp đường chạy về Bộ Tổng tham
mưu…”.
Ông thiếu tướng Thu là ai? Nhung chết quá nhanh chưa kịp khai hết chi
tiết, nên “tướng Thu” vẫn còn là một dấu hỏi trong hồ sơ cũ.
10 – Bữa cơm gây oán của thị trưởng Đà Nẵng đãi “người hùng”
Honolulu
Thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ và tổng thống Mỹ Johnson ở “hội nghị
thượng đỉnh” Honolulu, tháng 2.1966
Đầu tháng 2.1966, Tổng thống Johnson triệu tập “hội nghị thượng đỉnh”
Việt – Mỹ tại Honolulu. Phía Sài Gòn chỉ được báo trước có …2 ngày! Gấp
gáp quá, diễn văn của “thủ tướng” Kỳ không soạn kịp và phải phác thảo
trên máy bay.
Trước khi lên đường, theo yêu cầu phía Mỹ cần có mặt một tư lệnh Quân
đoàn (đại diện cho 4 quân đoàn thuộc 4 vùng chiến thuật miền Nam) và Sài
Gòn chọn Nguyễn Chánh Thi. Tướng Nguyễn Cao Kỳ điện khẩn ra Đà Nẵng
bảo Thi chuẩn bị đi họp “thượng đỉnh”, nhưng Thi nổi đóa, phang: “Dù chỉ
hai thường dân mời nhau ăn bữa cơm, thì cũng không thể mời một cách
khiếm nhã như thế được”, thành ra giờ cuối đoàn Sài Gòn vắng Nguyễn
Chánh Thi.
Đến nơi, phía Mỹ hiện diện khá “hùng hậu”: ngoài Tổng thống Johnson ,
có Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng Mac Namara,
Trợ lý quốc phòng Mc Naughton, cố vấn trưởng đối ngoại Mc George
Bundy, Bộ trưởng Nông nghiệp Orville Freeman, Bộ trưởng Y tế Giáo dục
và Phúc lợi John Gardner, các tướng Earle Wheelr, W.Westmoreland,
Maxell Taylor, Đô đốc Grant Sharp và các đại sứ: Henry Cabot Lodge,
Averell Hamman và Leonard Unger.
Nguyễn Chánh Thi nhận định Thiệu, Kỳ qua họp chỉ để nhận “chỉ thị” về
“Mỹ hóa” cuộc chiến Việt Nam. Còn Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký là tại
hội nghị, Johnson đã “chấm dứt lắng tai nghe” diễn văn của Kỳ. Khi Kỳ dứt
lời “Johnson đã vươn mình về phía tôi” và khen “Thật hay, thủ tướng đã nói
giống như một người Hoa Kỳ” (!!!). Kỳ viết: “Tôi thích Johnson và ngay từ
lúc đầu chúng tôi đã ý hợp tâm đầu”. Phần Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn
Hữu Có ngồi hai bên Kỳ, đối diện với Johnson, họ chủ yếu gật, hoặc lắc, đôi
lúc tỏ đồng tình bằng cách…nhoẻn cười!
Báo chí Sài Gòn thời đó “điểm tin Honolulu” viết là “Johnson cưng
chiều Kỳ quá” đến nỗi trong bữa cơm trưa, Johnson dành phần lớn thời giờ
đàm đạo với Kỳ, còn quốc trưởng Nguyễn Văn Thiệu phải chịu cảnh ngồi
rờ râu cằm ngó trần nhà! Vào đêm cuối cùng của hội nghị, Johnson mời
Kỳ- Thiệu với Westmoreland uống vài ly. Sau đó, theo Kỳ, Johnson nói
nhỏ: “Mời Thủ tướng đến phòng ngủ của tôi độ vài phút…” Đóng cửa lại,
Johnson nói nếu Kỳ không thấy trở ngại thì Phó Tổng thống Hubert
Humphrey cùng đi với Kỳ về Việt Nam. Đây là điều khiến Kỳ ngạc nhiên vì
không có mặt Humphrey tại đó. Johnson điện về Hoa Thịnh Đốn bảo
Humphrey đến Honolulu ngay.
– Humphrey sẽ có mặt ở đây trước khi máy bay của thủ tướng cất cánh.
Humphrey và Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện bên nhau tại cầu thang máy bay
trước mắt công chúng. Đó là hình ảnh đầy “tính hợp tác Việt – Mỹ” có công
năng thông báo nhanh chóng đến dư luận sự ủng hộ của chính phủ Johnson
đối với “nội các chiến tranh” của Kỳ. Về Sài Gòn, Kỳ cấp tiền cho 4 vùng
chiến thuật biểu tình hoan hô thành quả Honolulu. Đến 19.2 Kỳ gửi công
điện cho biết sẽ ra thăm các “chiến lợi phẩm”. Thi trả lời: “Vùng 1 không
có gì để triển lãm” và cũng không tổ chức hoan hô “Lulu”.
Từ Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ điện đàm với tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh là
Nguyễn Văn Chuân tìm người thay thế Nguyễn Chánh Thi. Nguyễn Văn
Chuân đâm thọc sao đó để đại tá Nguyễn Văn Thiện bị cách chức thị trưởng
Đà Nẵng trước. Thi tính sau. Đại tá Thiện cho biết như vậy tại lễ bàn giao;
người nhậm chức tân thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn. Ông thị trưởng
này rất bực mình với danh xưng “chính phủ của dân nghèo” do Nguyễn Cao
Kỳ làm “thủ tướng”.
Buổi ra mắt chính phủ này, các “bộ trưởng” tổng ủy viên ăn mặc áo ngắn
tay, tỏ rõ quyết tâm làm “cách mạng”. Họ kéo lên Đà Lạt họp tại Dinh số 1,
bàn bạc chương trình hành động biện minh cho sự có mặt của quân Mỹ và
“đồng minh” ngày càng đông tại miền Nam. Cuối buổi họp, ăn cơm xong,
bàn ghế được dọn dẹp để các thành viên “chính phủ của dân nghèo” nhảy
đầm.
Nguyễn Chánh Thi thuật lại: buổi đó một số “gái gọi” được đưa đến “để
hầu các tướng lãnh” (chữ Thi dùng). Thị trưởng Mẫn muốn chơi “thủ
tướng” của cái chính phủ “nghèo” đó, nên hôm Kỳ ra thăm Đà Nẵng vào
1.3.1966, đã mời Kỳ một bữa cơm đạm bạc đúng nghĩa tại Tòa Thị chánh,
Nguyễn Chánh Thi viết:
“Ông thị trưởng là bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn dường như cố ý cho Kỳ một
bài học, nhất định đãi một bữa cơm đơn sơ, nhất định không đem rượu cho
Kỳ uống (mặc dù Kỳ đòi phải có rượu uống trước khi ăn cơm). Đã thế, ông
còn buông một câu làm Kỳ tím mặt: “Chúng tôi theo gương “chính phủ của
dân nghèo” xin thủ tướng hiểu cho! Đợi cho Kỳ thấm thía, bác sĩ Mẫn hỏi
tiếp: -Thiếu tướng ra kỳ này chắc phải có tin mừng cho chúng tôi? Cao Kỳ
nói: “-Hôm nay, Hoa Kỳ vừa chấp thuận 4,8 tỷ Mỹ kim cho chiến tranh Việt
Nam, và họ hứa sẽủng hộ tôi hết mình”.
Nghe vậy, ông Thi “kê tủ đứng” vào miệng Kỳ mấy câu, như: “Tiền của
ấy chỉ tăng thêm chết chóc, tăng thêm đĩ điếm, tham nhũng, rác rưởi…”.
Ngồi lặng một lúc, Kỳ đốp lại: “Nếu anh (Nguyễn Chánh Thi) có ý nghĩ như
thế, tôi đề nghị anh cầm đầu một phái đoàn đi ngoại quốc xem sao”.
“Đi ngoại quốc” trong tình huống đó là tín hiệu bị thất sủng, sắp mất
quyền: Ông Thi biết Kỳ không dọa chơi. Bữa ăn tiếp tục lạnh nhạt, buồn
nản. Kỳ ngó lảng đi nơi khác, nhưng tâm ý chắc hẳn vẫn chăm chăm đến
chuyện trả đũa thị trưởng Mẫn và bãi chức Thi. Chả thế mà vài tháng sau,
khi cuộc đấu tranh miền Trung nổ lớn, báo chí hỏi Kỳ:
– Nghe nói ông thị trưởng Đà Nẵng, bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn là người
Công giáo, nhưng lại giúp đỡ đồng bào Phật giáo miền Trung biểu tình
chống Chính phủ Sài Gòn. Có thật thế không?
Nguyễn Cao Kỳ trả lời đầy hằn học: “- Không cần biết. Chỉ biết rằng,
một là chính phủ này sụp đổ, hai là tên thị trưởng Mẫn bị bắn chết!”.
PHẦN 3
11 – Nguyễn Cao Kỳ trước biến động miền Trung 1966
Đang còn đắng họng vì “bữa cơm của dân nghèo” không rượu không gái
do thị trưởng Đà Nẵng bày ra khoản đãi để chửi khéo, Nguyễn Cao Kỳ lại
bị thêm một vố đau khác trong chuyến thăm Huế vào ngày hôm sau
2.3.1966.
Tại Huế, ông ta có buổi tiếp xúc với thân hào nhân sĩ và các đoàn thể
nhân dân ở Tòa đại biểu chính phủ bên sông Hương. Không khí cuộc gặp
mặt được hâm nóng bởi phát biểu “có lửa” của ông Hồng Dũ Châu:
– Thưa thủ tướng “Chính phủ của dân nghèo” ra đời tại Sài Gòn đã 8
tháng nay. Suốt thời gian ấy chưa thấy làm được gì cho dân nhờ, chỉ thấy
nay lệnh này mai lệnh khác trái ngược nhau, khiến chúng tôi bối rối không
biết lệnh nào đúng mà thi hành. Gạo cơm tiếp tế cứ bị thiếu hụt mãi…
Mặt ông Kỳ tái dần theo lời bài bác cái chính phủ quá “nghèo” do ông
làm thủ tướng. Mà chính ông, khi đảm nhiệm chức vụ ấy cũng không tin
mình làm tròn. Bằng chứng là 26 điểm trong chương trình hành động của
“chính phủ” không thực thi được: “Tôi công nhận quá non không biết gì
hết”. Ông tự xét mình một cách thảm hại với Trần Văn Đôn như thế và
Đôn chép lại trong hồi ký của mình.
Rồi việc cho dựng 5 cây trụ trước chợ Bến Thành để lập “pháp trường
cát” thi hành án tử hình, bị dư luận quở rằng bắn người công khai giữa chợ
là vô nhân đạo nên phải dẹp. Nghĩa là nhiều chuyện đáng bị công kích,
đánh đổ, nhưng thời gian đầu xem chừng vẫn sóng êm bể lặng.
Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ấy vậy mà chẳng có một âm mưu đảo chánh nào
để lật đổ tôi hoặc một sự chống đối ầm ĩ nào cả. Có thể nào lại xảy ra
trường hợp người không chuyên nghiệp đã thành công trong công việc mà
người lành nghề đã bị thất bại chăng?”. Nay “người không lành nghề” ấy
qua hội nghị Honolulu nhờ nhà chính trị “lành nghề” và “tâm đầu ý hợp”
là tổng thống Johnson ra tay đạo diễn giúp nổi bật trên chính trường Sài
Gòn. Nhưng đến Huế lại bị dân miền Trung chống đối, như ông Hồng Dũ
Châu vạch:
“Xin thưa thật với thủ tướng rằng chính phủ ông thật xứng đáng là
chính phủ của dân nghèo vì sau 8 tháng ông cầm quyền, dân đã nghèo lại
nghèo thêm”.
Theo Nguyễn Chánh Thi, ông Kỳ không nén nổi cơn giận “quên cả
cương vị thủ tướng của mình, xông ra ngắt lời ông Hồng Dũ Châu, sừng sỏ
như sắp đi đánh lộn ở một tiệm nhảy đầm nào đó.
– Ông là cái thớ gì mà dám nói với một vị thủ tướng chính phủ như thế?
Đồ vô phép! Câm mồm!
Mọi người hiện diện đều giận tím mặt. Nếu có ai hô lên một tiếng chắc
Cao Kỳ không nguyên vẹn mà về lại Sài Gòn”
Trước đó một ngày, ở Đà Nẵng, khi Kỳ hăm dọa Thi, trung tá Lê Ngọc
Uyển (Quân vụ thị trấn) và đại tá Đàm Quang Yêu (chỉ huy trưởng biệt
khu Quảng Đà) đã “gai mắt” muốn bắt giam Kỳ đột ngột chơi. Trung tá
Uyển mở miệng gợi ý trước:
– Cái thằng cao bồi này khó dung tha. Xin trung tướng (Thi) cho phép
chúng tôi bắt nó nhốt lại, xem quan thầy nó cứu nổi nó không?
Thi làm mặt nghiêm, ngăn Uyển. Nay ở Huế, Thi lại đứng ra “can gián
đôi bên cho xong chuyện”. Thời điểm đó ở vị trí tư lệnh Quân đoàn I Vùng
I chiến thuật, ông Thi đối diện trước cuộc đấu tranh đòi dân chủ chống Kỳ,
Thiệu, Có (Kỳ lúc này đang “nổi” hơn Thiệu) của dân miền Trung.
Tin tức liên quan đến việc Mỹ mở rộng chiến tranh, tướng Maxwell
Taylor đề nghị tiến hành phong tỏa cảng Hải Phòng bằng mìn,
Westmoreland đòi tăng mạnh tăng nhanh quân số Mỹ vào Việt Nam, đã
khơi dậy ngọn lửa đấu tranh đòi hòa bình. “Phe đối phương” tập kích hàng
loạt đồn bót dọc ranh giới vùng Bến Hải; súng nổ giao tranh khắp nơi từ
Cam Lộ, Khe Sanh đến Mộ Đức, Đức Phổ. Xe jeep chở Thi trúng mìn trên
đường đi Hội An khiến tài xế chết, một đại tá ngồi trên xe bị thương nặng.
Thi may mắn thoát hiểm đâm ra nghĩ ngợi: “nhiều nguy hiểm đang chờ
đợi mình”, mìn của “đối phương” gài hay của “phe ta”? Ông viết rằng tâm
trạng ông những ngày tháng đó thật rối bời, vì bên ngoài quân “đối
phương” đánh tơi bời, bên trong “toàn những phản bội rình rập (…) có
nhiều lúc tôi chỉ mong mình trúng quách một trái B40 cho nó…nhẹ nợ!”.
Nhưng vẫn phải sống đến ngày Kỳ đạp ngã ông để dẹp đường đưa quân từ
Sài Gòn ra bắn thẳng vào dân miền Trung tranh đấu.
Kỳ viết: “Đến tháng 3.1966 (sau chuyến đi miền Trung xui xẻo kể trên
của ông) đã xảy ra những cuộc biểu tình trong nhiều thành phố lớn, đặc
biệt là ở Huế và Đà Nẵng (…). Những người Phật tử đòi tổ chức bầu cử tự
do”. Điều mà ông Kỳ cho “tệ hại” và đáng lo ngại là binh sĩ của Quân đoàn
I do ông Thi làm tư lệnh có thể từ chối không chịu đánh nhau với những
người dân tham gia đấu tranh có vũ trang. Thậm chí báo cáo mật cho thấy
dấu hiệu các chỉ huy cao cấp nhất của Quân đoàn I đang có xu hướng đứng
về phía dân chúng nên nguy cơ binh biến thật sự chờn vờn trong giấc ngủ
của Kỳ.
Ông ta nhướng mắt về hướng Hoa Thịnh Đốn và phần nào yên tâm vì
“người Hoa Kỳ ủng hộ hành động và các kế hoạch của tôi; đại sứ Lodge đã
nhận thấy được là tôi không còn có cách gì khác hơn là phải củng cố chính
phủ bằng biện pháp gạt ra ngoài những phần tử chống đối”.
Qua hồi ký, khi kể lại giai đoạn đó, Nguyễn Cao Kỳ vẫn còn dùng
những lời lẽ hậm hực, khích bác các thượng tọa lãnh đạo cuộc đấu tranh
của Phật tử và khen “Tổng thống Johnson đã sáng suốt làm ra vẻ như
không nghe những lời kêu gọi của họ”. Tuy vậy “họ” (những lãnh tụ đấu
tranh) có lợi thế được tư lệnh các tỉnh miền Trung là Nguyễn Chánh Thi
ủng hộ. Kỳ cho biết đã chăm chú theo dõi Thi từ lâu: “Hàng ngày tôi đều
nhận được bằng chứng là thay vì duy trì trật tự tại vùng Huế – Đà Nẵng
trong tình hình đang hết sức sôi động. Thi trái lại đã giúp đỡ cho những
người Phật tử…”
Kỳ không thể chịu đựng hơn nữa những hình nộm được dân chúng và
thanh niên sinh viên học sinh dựng lên bêu rếu mình khắp nơi: “Tôi đã bị
gán cho là bù nhìn của Mỹ và trên tường trong nhiều thành phố đã xuất
hiện dòng chữ rất quen thuộc “Người Mỹ hãy cút đi!”. Hình ảnh “nhức
mắt” đó xảy ra thường xuyên trên “lãnh địa” do Thi làm tư lệnh, Kỳ hạ
bút: “Rõ ràng là Thi đang nuôi tham vọng muốn trở thành một lãnh chúa
của thời xa xưa!”.
12 – Bị kết tội cát cứ miền Trung, cặp bài trùng “Nguyễn Cao Kỳ –
Nguyễn Chánh Thi tan vỡ”
Cặp bài trùng Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi
Một dạo báo chí Sài Gòn gọi Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi là
cặp bài trùng trong “nhóm tướng trẻ”. Họ để râu, mặc quân phục, ảnh chụp
xa xa trông giông giống nhau. Kẻ trước người sau lần lượt nắm hai binh
chủng “anh em”: nhảy dù “anh cả đỏ” (Thi), không quân (Kỳ).
Ngày ông Thi mưu đảo chính Ngô Đình Diệm vào 11.11.1960 đem lực
lượng nhảy dù uy hiếp Sài Gòn, vây khốn dinh Độc Lập, chiếm Tân Sơn
Nhất. Căn cứ không quân lọt phũm trong tay đại tá Thi – lúc đó Kỳ mới
thiếu tá. Không may, ông Diệm – Nhu dùng kế “giả hòa”, hứa từ chức để
lập chính phủ “đoàn kết quốc gia”, rồi ngầm sai quân phản công. Thi trúng
kế, biết mặt trận sắp vỡ, rút khỏi các vị trí then chốt ở trung tâm “thủ đô”,
chạy về căn cứ không quân gặp Kỳ, bảo:
–“Kỳ, chúng tôi đã thất bại! Chúng tôi phải thoát khỏi nơi đây một cách
nhanh chóng bằng không thì Diệm sẽ chém đầu chúng tôi!”.
Phải có ngay một chiếc máy bay để nhóm Thi trốn sang Campuchia. Kỳ
viết: “Tôi muốn giúp đỡ họ, lúc nào nhảy dù và không quân cũng rất thân
thiết với nhau vì tính chất của công việc làm. Thế nhưng tôi không thể nào
đích thân lái máy bay chở họ đi vì nếu làm thế, tôi sẽ không bao giờ trở lại
Việt Nam được”. Làm sao đây? Kỳ cố tìm một lối thoát và sau “vài phút
lưỡng lự” đã quyết định:
“Tôi (Kỳ) “cho” ông ta (Thi) một chiếc DC3, thế là 15 người trong
nhóm âm mưu đảo chính đã được trốn đi. Dĩ nhiên là tôi không bao giờ lấy
lại được chiếc máy bay đó và Diệm đã tỏ ra nghi ngờ”. Phe Thi bắt giữ
trung tướng Thái Quang Hoàng “tư lệnh biệt khu thủ đô” để làm con tin.
Dinh Độc Lập lệnh hai phi cơ khu trục đuổi theo chiếc máy bay của nhóm
Thi xem họ đi về hướng nào. Đến biên giới Campuchia bắt kịp Thi, hai khu
trục cơ điện về xin chỉ thị dinh Độc Lập có nên bắn hạ hay không. Lúc đó
Nguyễn Khánh nghe bà Ngô Đình Nhu đứng bên cạnh la lên “Bắn rơi chiếc
máy bay đó đi. Giết hết tụi nhảy dù phản nghịch!”.
Khánh không đồng ý với bà Nhu, bảo bà ta với giọng bực dọc: “Tôi là
tổng tư lệnh ở đây. Xin bà để tôi quyết định”. Và ông Khánh ra lệnh cho
hai khu trục cơ quay về. Người ta thường nhắc đến chi tiết đó với lời khen
Nguyễn Khánh bộc trực. Máy bay Thi do đại úy Phan Phụng Tiên lái xin
hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong.
Dưới đất điện hỏi: “Máy bay nước nào?”. Đáp: “Air Việt Nam”. Phía
Campuchia yêu cầu cho biết chắc chắn danh tánh, xuất xứ, số hành khách
và lý do hạ cánh. Không dài dòng bất tiện, dòm thấy phi đạo trống, họ
quyết định không trả lời và liều lĩnh hạ cánh xuống phi trường Pocheng
Tong. Đồng hồ điểm 13 giờ ngày 12.11.1960. Cơ quan an ninh cảnh sát
Campuchia có mặt ngay, tịch thu súng đạn và tất cả mọi thứ, dẫn về khu
trại vãng lai dành cho sĩ quan.
Họ làm thủ tục tỵ nạn chính trị (3 năm) và thả trung tướng Thái Quang
Hoàng quay về Sài Gòn vài ngày sau đó. Chiếc máy bay của Nguyễn Cao
Kỳ đã “linh động” đưa Thi thoát đi nằm phơi mình trên đất Chùa Tháp như
một gợi nhớ Sài Gòn xa xăm. Kỳ sau đó phải trả lời chất vấn của dinh Độc
Lập. Ông ta đáp vì tình thế bắt buộc và bị binh lính vũ trang của Thi uy
hiếp. Được thêm Đỗ Mậu che chở nên về sau việc ấy cũng êm. Đó là kỷ
niệm thời trẻ của họ, năm ấy Thi mới 36 tuổi.
Vào 1963, Thi về Sài Gòn. Đến 1964, họ nổi bật giữa “nhóm tướng trẻ”.
Sang 1965, khi Kỳ làm “thủ tướng”, họ có khoảng cách…Đến 1966, Kỳ
(và Thiệu) thực sự muốn “nhổ” cái đinh chướng mắt: Thi. Họ ra mặt cạch
nhau. Báo chí đưa nhiều tin bài về sự vỡ đôi của “cặp bài trùng”. Tờ Tia
Sáng chẳng hạn, đi tít lớn: “Tướng Kỳ nhất quyết hạ tướng Thi: khu trục
cơ mang hỏa tiễn bay rợp trời Sài Gòn yểm trợ cho đề nghị cách chức
tướng Thi của ông Kỳ!”. Việc xảy ra tháng 3.1966 theo tóm lược dưới đây:
Bệnh “đau mũi” rất dễ lây trong bầu khí thanh trừng của Sài Gòn
1966
Nhóm Kỳ (và Thiệu) giăng bẫy sẵn tại Sài Gòn, ngày 9.3.1966 “đạt”
giấy mời Nguyễn Chánh Thi rời miền Trung vào họp. Trước đó trùm CIA
Rib Robinson đến văn phòng ông Thi nói thẳng những “ghi nhận” không
lành về ông, như: tinh thần “chống Mỹ” ngày càng rõ (chống hội nghị
Honolulu), làm ngơ và khuyến khích dân miền Trung bất hợp tác với
“chính quyền trung ương” ở Sài Gòn để mưu cát cứ Huế, Đà Nẵng…
Vì vậy Thi biết chuyến đi này được Mỹ và Sài Gòn bàn trước. Đến Bộ
tổng tham mưu lúc 9 giờ 30 sáng 10.3, nhiều xe thiết giáp đậu sẵn ngoài
cổng, máy bay gầm rú trên không, Thi viết: “Tôi phản ứng lại còn kịp,
nhưng không muốn…”. Vào phòng họp, Nguyễn Hữu Có nã ngay:
– Từ ngày anh Thiệu, anh Kỳ lên cầm quyền, ông Thi đã gây quá nhiều
rắc rối. Mệnh lệnh của trung ương, ông không thi hành.
Lê Nguyên Khang, Nguyễn Bảo Trị …nói hùa theo để Nguyễn Cao Kỳ
đứng lên “gút”: – Tôi hết chịu nổi rồi! Nếu quý vị còn tín nhiệm tôi thì ông
Thi phải ra đi. Một là ông Thi đi, hai là tôi đi.
Đi đâu?
Một là “đi” khỏi chức vụ đương nhiệm.
Hai là đi ra nước ngoài “chữa bệnh”.
Cả “hai thứ đi” đó phải diễn ra tương tục, không gián đoạn, và phải
được “hội đồng tướng lĩnh” thông qua. Nguyễn Cao Kỳ nêu ý kiến “bỏ
phiếu kín”(!). Tới đó, Thi đứng dậy, bước khỏi phòng họp. Mặc kệ họ!
Sáng hôm sau 11.3, Thi ra ngoài phi trường Tân Sơn Nhất định về lại Đà
Nẵng. Nhưng vừa tới sân bay đã thấy Nguyễn Hữu Có, “tổng ủy viên quốc
phòng”, đích thân chỉ huy một đám lính, giơ súng chặn Thi lại, buộc phải
quay về Bộ tổng tham mưu. Về đó có Nguyễn Văn Thiệu chờ sẵn tại cửa
phòng Cao Văn Viên, miễn cưỡng bắt tay Thi và nói: – Thôi, toa chịu khó
ở lại đây vài hôm. Hình như Mỹ đã bằng lòng mời toa đi “chữa bệnh” kia
mà!
Ai đứng ra “mời”?
Ngay ngày hôm đó, Nguyễn Ngọc Loan và Văn Văn Của mang bức thư
của tướng Westmoreland đến trao Thi, nội dung: “Dear General Thi, I
understand that you are interested in securing medical attention in the
United States…” (Tướng Thi thân. Tôi được biết ông đang quan tâm tới
việc được khám bệnh tình tại Mỹ nên tôi nghĩ ông có thể hoan hỉ đón nhận
lời mời của tôi (để rời Việt Nam đến Mỹ) nhân danh Ngũ Giác Đài để được
khám bệnh tổng quát và chữa trị cần thiết. Nếu đề nghị này được ông đồng
ý, xin nhắn lại cho tôi được rõ và tôi sẽ dàn xếp ngay mọi việc cần thiết.
Thành thật cùng ông. Ký tên: Tướng Westmoreland).
Như vậy đã quá rõ, Mỹ trực tiếp “mời” đi. Trước nơi giam lỏng Nguyễn
Chánh Thi ở số 9 đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng) luôn luôn
có xe quân cảnh Mỹ túc trực. Ba ngày sau khi nhận thư Westmoreland,
Phạm Văn Liễu (quen với Thi hồi lưu vong ở Campuchia) dẫn đại tá Sam
Wilson và ông Ted Britton đến gặp Thi.
Đó là ba người mà ông Thi cho “có thể đối thoại được”. Họ bảo tướng
Westmoreland viết thư trên theo “yêu cầu của Nguyễn Cao Kỳ” và gợi ý
ông Thi thử về miền Trung một chuyến trước khi qua Mỹ? Ngày 15.3, Kỳ
đồng ý để Thi về thăm Đà Nẵng, Huế. Tình hình miền Trung lúc đó sôi
bỏng, Kỳ – Thiệu tung tin “Nguyễn Chánh Thi là đầu mối của biến động”
và cần phải “trừ đầu mối ấy đi”.
Khoảng nửa tháng sau, khi phong trào đấu tranh dâng cao, Kỳ tuyên bố: