The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Đọc Hồi Ký Tướng Tá Saigon Mai Nguyễn

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-06-17 17:51:29

Đọc Hồi Ký Tướng Tá Saigon Mai Nguyễn

Đọc Hồi Ký Tướng Tá Saigon Mai Nguyễn

công dinh Độc Lập) trên sông Nhà Bè, cách công xưởng hải quân chỉ độ
một cây số và đã biết được viên phi công là trung úy Phạm Phú Quốc, còn
chiếc máy bay thứ hai thì đã mất dạng”.

Vài giờ sau, “ông Diệm ra lệnh dời phủ tổng thống về dinh Gia Long tức
khắc” và gọi ông Mậu đi theo. Ông Diệm ngồi sững sờ đến năm phút mới
hỏi:

– “Mậu có biết thằng Quốc không?”
– “Thưa cụ, nếu nói là Phạm Phú Quốc thì y là người Quảng Nam thuộc
dòng dõi cụ Phạm Phú Thứ”.
Ông Diệm chau mày, Đỗ Mậu quan sát nơi bom thả, đoán hai phi công
bỏ bom dinh Độc Lập chỉ muốn giết vợ chồng Ngô Đình Nhu chứ không có
ý sát hại ông Diệm nên tìm cách nói xa gần nhận định trên để ông Diệm
nghe… Rời dinh Gia Long, ông Mậu về Nha An ninh quân đội. Tại đó, Cục
An ninh hải quân bắt trung úy Nguyễn Văn Đính (anh ruột của trung úy phi
công Nguyễn Văn Cử. Cử trực tiếp ném bom dinh Độc Lập và đã bay thoát
qua Campuchia) giải về điều tra, khai thác nguyên do, đầu mối “tạo loạn”
và đánh cả hai người “mặt mày thâm tím, sưng vù trông rất đáng thương”.
Đỗ Mậu viết: “Tôi ra lệnh ngừng ngay cuộc hỏi cung và cho dẫn Quốc,
Đính về phòng giam tạm của nha. Ba hôm sau, bà mẹ của Phạm Phú Quốc
từ Đà Nẵng vào xin gặp tôi để được phép thăm con” và “chính tôi đích
thân dẫn bà cụ vào phòng giam thăm Quốc”.
Bà cụ bình tĩnh giữ gương mặt cười thản nhiên và hỏi con:
-Vì sao mặt con sưng lên như thế?
Quốc trả lời:
-Thưa mẹ, khi máy bay rớt xuống nước, mặt con đụng vào thân phi cơ.
Chứng kiến, nghe và viết lại những cảnh, những lời đó, Giám đốc Nha
An ninh quân đội Đỗ Mậu biết rằng “nét mặt bình tĩnh và nụ cười trên môi
bà cụ chỉ là thái độ gượng gạo bên ngoài để che giấu lòng dạ đang héo hon
của bà. Cũng như việc Quốc không nói lên sự thật đã bị tra tấn cũng chỉ là
lời che giấu để mẹ được yên tâm. Tôi khâm phục mẹ Quốc (…). Tôi liền
thưa với bà cụ:

-Thưa bác, anh Quốc muốn giấu bác đó, chính nhân viên điều tra của tôi
đã tra khảo anh ta đến nỗi mang thương tích nặng nề. Tôi xin lỗi bác…

Bà Thiệu lập vườn hoa tren nóc dinh Tổng thống để… chống Nguyễn
Cao Kỳ

Khi Phạm Phú Quốc bị bắt, chiếc máy bay thứ hai cùng đánh bom dinh
Độc Lập hôm đó do phi công Nguyễn Văn Cử lái cũng trúng đạn phòng
không. Nhưng may mắn nhẹ hơn và Cử cố lái bay thoát về hướng biên giới,
vào vùng trời Campuchia. Ngày đó, Nguyễn Chánh Thi cũng đang tị nạn
chính trị vì đảo chính hụt chế độ Diệm và tá túc trong căn nhà thuê gần sân
bay Po Cheng Tong kể lại:

“Hôm 27.2.1962, ông Thi đi xuống phố thăm dò những tin tức thử xem
Sài Gòn có biến động gì không. Và khi “đi vừa gần sân bay Po Cheng Tong
thì chợt thấy một chiếc máy bay khu trục có cờ Việt Nam đang sửa soạn hạ
cánh. Chiếc máy bay bị trúng nhiều đạn, tỏa ra một loạt khói đen ngắt
trông thật dễ sợ. Sau đó được biết thêm viên phi công là Nguyễn Văn Cử
ném bom vào dinh Độc Lập và bay sang Cao Miên xin tị nạn. Ngày hôm sau
tôi đến công an Miên xin phép được vào thăm Cử, đem theo một vài thứ cần
dùng cho anh ta. Nguyễn Văn Cử người (tầm vóc) trung bình, rất là bình
tĩnh, không một chút dao động, Anh đưa ý kiến muốn được như ý, ra ngoài
cùng Nguyễn Chánh Thi, thường thường “đi ăn tại những cái quán nhỏ xíu,
chúng tôi vừa ăn uống vừa bàn chuyện phiếm, trào lộng, thậm chí có lúc
tiền túi sạch bách mà vẫn tui nhộn vô cùng”!

Căn cứ vào các tài liệu và lời kể của người đương thời, Trần Văn Đôn
viết là khi đến Campuchia máy bay Nguyễn Văn Cử bị trúng đạn hỏng hóc
nhiều “chỉ còn sử dụng được một bánh xe, mất thăng bằng” nên chao đảo,
rất khó hạ cánh. Ông Cử phải “bay vòng cho hết xăng” và với “sự khéo léo
tuyệt cùng” đưa chiếc máy bay tật nguyền đáp xuống an toàn trong tiếng vỗ
tay của nhiều người Mỹ có mặt trên sân bay Po Cheng Tong.

Vụ ném bom nằm trong kế hoạc đảo chính bất khả thi do cụ Nguyễn Văn
Lực, thân phụ phi công Nguyễn Văn Cử, chủ trương. Ông Đôn viết: “Vụ
ném bom làm cho một người giúp việc của bà Nhu chết (…). Vài tháng sau

phủ tổng thống gửi thông tư đến các nơi đề nghị yểm trợ xây cất lại dinh
Độc Lập. Lần xây cất này trang bị tối tân, quy mô hơn dinh cũ nhưng cũng
chính vì chuyện này mà Mỹ (…) cho người len lỏi vào đám chuyên viên để
đặt đường dây truyền tin” khiến văn phòng CIA ở Sài Gòn, rồi Singapore,
nghe hết những báo cáo tối mật bằng miệng cho Tổng thống Thiệu tại dinh
Độc Lập suốt thời gian cầm quyền”.

Bên trong dinh là vậy. Nóc dinh cũng đụng chuyện, lần này dính đến…
bà Thiệu. Khi ông Thiệu làm tổng thống, ông Kỳ phó tổng thống, cả hai
được quyền ở trong dinh. Riêng ông Kỳ tiếp tục ở lại nhà cũ nằm trong căn
cứ không quân Tân Sơn Nhất. Vợ ông, bà Tuyết Mai, nhất định không chịu
rời mái nhà xưa. Bà bảo đó là tổ ấm bén hơi từ khi hai người lấy nhau,
chẳng cần dời đi đâu.

Hằng ngày “tôi đi làm và trở về căn cứ không quân bằng máy bay lên
thẳng thuộc quyền sử dụng của tôi”. Ông Kỳ kể tiếp, thời gian đầu mỗi
sáng ông lái máy bay đáp xuống một bệ sân bay trực thăng được thiết lập
trên mái nhà của dinh tổng thống và“không hề hay biết là sân bay nằm
ngay bên trên phòng ngủ của Tổng thống Thiệu ở tầng thứ tư”. Ông Thiệu
hay dậy muộn, rất khó chịu vì bị đánh thức bởi tiếng máy bay trực thăng
đáp xuống vào mỗi sớm. Nhưng, Kỳ bảo “Thiệu không tự nêu lên vấn
đề”,mà đi mượn bà vợ Nguyễn Thị Mai Anh của ông nói ra. Bà Mai Anh
“nói với tôi (Kỳ) theo một kiểu nói quanh co, bà ta nói rằng bà ta đang
thực hiện một vườn bông trên mái nhà để bà có thể lên hóng gió mát vào
những đêm nóng nực”. Xong, bà tiếp một cách buồn rầu:

– Tôi e sợ sẽ khó mà thực hiện được. Luồng gió cuồn cuộn quá sức mạnh
mỗi khi chiếc trực thăng của ông đáp trên mái sẽ quạt hư hết các cây cỏ tôi
trồng!

Ông Kỳ: ?!!!!
28 – Nguyễn Cao Kỳ và Trần Văn Đôn thuật lại cuộc tấn công mùa
xuân 1968
Bà Mai Anh ( vợ ông Thiệu) nói bóng gió về sự bất tiện của việc máy
bay Kỳ làm ồn cái “vườn địa đàng” của bà mỗi sớm. Vì nó đáp ngay trên

mái phòng ngủ Tổng thống Thiệu tại tầng 4 dinh Độc Lập. Rồi ra cánh quạt
không kiêng nể gì của nó sẽ khiến vườn hoa non nớt mà bà sắp trồng trên
đó phải tả tơi vì gió!

Nghe chuyện, Kỳ làm thinh, hiểu chuyện và mấy bữa sau thôi không hạ
cánh trên bệ trực thăng ở nóc dinh nữa. Ông đáp xuống bãi cỏ dưới đất,
phía đại sảnh nhìn ra. Kỳ gọi “đây là trường hợp điển hình của Thiệu; dù
cho tiếng ồn ào đã làm cho ông ấy thức giấc, ông đã không tự mình nêu
lên” mà đùn vợ ra nói! Với Kỳ, từ “chuyện nhỏ” đó tới “chuyện lớn” ông
Thiệu luôn là người đưa đẩy công việc khó khăn cho kẻ khác, bo bo lo lấy
thân mình, như hồi 26.4.1975 đã chạy trước khỏi Sài Gòn và chấm dứt 9
năm cầm quyền ở dinh Độc Lập.

Dinh Độc Lập (Hội trường Thống Nhất ngày nay) từng bị tiến công bất
ngờ lúc 1 giờ khuya mồng một rạng ngày mồng hai Tết Mậu Thân 1968.
Cụm biệt động thành thuộc đơn vị F.100 bí mật di chuyển từ hướng khu vực
đường Trần Quý Cáp (tức đường Võ Văn Tần, quận 3 hiện nay) về phía
trung tâm trong đêm tối.

Đúng giờ nói trên, họ đột ngột xuất hiện trước cổng dinh Độc Lập phía
trổ ra đường Nguyễn Du và nổ súng, bắn hạ ngay toán lính gác. Lực lượng
phòng vệ phủ tổng thống sau phút đầu hoảng hốt, quay ra đánh trả. Hai bên
giao tranh quyết liệt suốt đêm. Qua sáng mồng hai, quân Sài Gòn tăng
cường từ các ngả vây đánh, có xe tăng yểm trợ. Hỏa lực từ trong dinh bủa
ra càng mạnh. Thấy tình thế bất lợi, cụm biệt động rút vào các dãy lầu, cố
thủ trên tầng cao nhà 56 đường Thủ Khoa Huân, tiếp tục chiến đấu đến
khuya mồng hai Tết. Bắn hết đạn, 8 người hy sinh, đội biệt động còn lại 7
người, chuyền qua các mái nhà lân cận về khu chợ Bến Thành, nhưng họ bị
bắt tại khu vực đường Gia Long cũ …

Khi cuộc tiến công nổ ra, Thiệu đang ở Mỹ Tho. Westmoreland ở Sài
Gòn sửng sốt dẫu đoán biết chắc chắn “có cuộc tiến công quan trọng được
địch trù tính mở trong dịp Tết”, nhưng một trong những vị tướng tài ba
nhất này của nước Mỹ thật sự kinh hoàng trước quy mô toàn miền, khí tiết
đương đầu cảm tử trong những trận đánh rung chuyển Sài Gòn để chiếm

Tòa đại sứ Mỹ chẳng hạn. Tòa đại sứ Mỹ bị đánh vỗ mặt khiến dư luận
nước Mỹ rúng động, Westmoreland có mặt tại chỗ sau khi trận đánh kết
thúc và lính nhảy dù Mỹ được tung xuống nóc nhà đại sứ, đã kể lại trong
hồi ký:

“Các nhà báo và các nhà quay phim vô tuyến truyền hình Mỹ hình như
có mặt khắp mọi nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và tâm trạng không
tin tưởng như thể giờ tận cùng của thế giới đã đến nơi rồi”.

Vào thời điểm đó, Westmoreland muốn che giấu tâm trạng đang có,
thậm chí “nói trái ngược với tin đồn: không một Việt Cộng nào vào được
trong sứ quán (!). Sứ quán chỉ hư hại nhẹ (!!)”. Những lời đó thật vô ích, bị
dư luận công kích, như Don Oberdorfer báo Washington Post viết: “Cuộc
tấn công vào sứ quán hình như đã bác bỏ những lời dự đoán có tình chất tô
hồng và những lời khoe khoang thắng lợi mà Westmoreland và những người
khác đã tung ra”.

Oberdorfer nói các nhà báo khó mà tin ở lỗ tai mình nữa. Westmoreland
đã phải đứng trước cảnh đổ nát và nói mọi việc đao to búa lớn! Chính
Westmoreland đưa nhận xét đó của Oberdorfer vào hồi ký của mình sau
này: “Thái độ của nhà báo Mỹ chắc chắn đã góp phần vào thắng lợi tâm lý
mà địch đã giành được ở Mỹ”.

Không chỉ Tòa đại sứ Mỹ và Dinh Độc Lập, hai cơ quan đầu não của Mỹ
nhà nhà cầm quyền Sài Gòn, mà còn 7 mục tiêu nữa tại nội thành được Bộ
Chỉ huy Miền chỉ thị đánh chiếm, hoặc làm tê liệt một thời gian, chờ lực
lượng mũi nhọn bên ngoài vào tiếp ứng.

Tất cả gồm 9 mục tiêu: 1/ Dinh Độc Lập, 2/ Đài Phát thanh, 3/ Bộ tổng
tham mưu Sài Gòn, 4/ Đại sứ quán Mỹ, 5/ Sân bay Tân Sơn Nhất, 6/ Tổng
nha Cảnh sát, 7/ Biệt khu thủ đô, 8/ Bộ tư lệnh Hải quân, 9/ Khám Chí Hòa.
Các đội biệt động đồng loạt ra quân theo giờ quy định. Súng nổ khắp nơi,
Nguyễn Cao Kỳ viết: “Khi đó ông Thiệu không có mặt ở Sài Gòn và với tư
cách là phó tổng thống, tôi đã lãnh trách nhiệm đối phó với cuộc tấn công
này. Vào 4 giờ sáng, chỉ huy trưởng căn cứ không quân đã báo cho tôi biết
như sau: Bộ đội Cộng sản hiện đang có mặt ngay cả bên trong căn cứ. Tôi

không nghĩ rằng tôi có thể ngăn chặn họ lâu hơn nữa; phó tổng thống và
gia đình nên rời khỏi nơi đây”.

Kỳ lại càng luýnh quýnh hơn khi được báo: “Cộng quân đã nổ súng vào
cổng Phi Long của Bộ tổng tham mưu từ lúc 2 giờ khuya” (31.1.1968).
Theo tài liệu của ban nghiên cứu lịch sử Đảng TP. Hồ Chí Minh, 2 cánh
quân biệt động thành đánh vào Bộ Tổng tham mưu do Ba Phong, Ba Tâm
và Đức chỉ huy, gồm 27 người thuộc cụm số 679. Cả hai cụm lợi dụng địa
hình khu vực đường Trương Quốc Dung, chiến đấu từ khuya mồng Tết tới
sáng mồng hai. Không đẩy lùi cụm 679 ra khỏi khu vực nổi, Bộ tham mưu
Sài Gòn điều lực lượng thiết giáp và tăng thêm bộ binh đến đánh. Hồi ký
Trần Văn Đôn viết:

“Mồng một Tết, lính Việt Cộng vào đến Bộ tổng tham mưu mà không ai
hay. Ở Tổng tham mưu, cổng chính trước là nơi dành cho sĩ quan ra vô. Việt
Cộng đã tìm hiểu kỹ nên cho một toán vào cổng sau hô lớn: “Đảo chánh!
Đảo Chánh!”. Lính gác ở Tổng tham mưu tưởng thật, để lọt vào trong”.

Lọt vào trong cổng số 4 Bộ tổng tham mưu Sài Gòn lúc 7 giờ 5 phút
sáng 1.2.1968 là một mũi tiến quân khác của tiểu đoàn bộ binh số 2 tức tiểu
đoàn Gò – Môn (Gò Vấp – Hóc Môn) từ ngoại ô bôn tập ép sát mục tiêu từ
4 giờ sáng hôm đó. Mũi này khống chế ngay khu vực đã chiếm. Tới 9 giờ,
Bộ tổng tham mưu Sài Gòn buộc phải tung tiểu đoàn 8 nhảy dù thuộc lực
lượng tổng trù bị với thiết giáp xa yểm trợ mở cuộc phản công lấy lại cho
được khu cổng số 4 vừa mất. Bộ binh quân giải phóng sử dụng ngay đại
liên vừa tịch thu được và tựa vào thế phòng thủ từ các công sự đào sẵn, hất
ngược các đợt phản kích trong ngày. Quân dù Sài Gòn không tiến lên nổi.
Để chiếm ưu thế tỏa rộng tầm hỏa lực, tiểu đoàn số 2 Gò – Môn chế ngự
các cao ốc đường Võ Di Nguy quét co cụm lại và bắn cháy một tăng M41
trên đường. Qua ngày hôm sau, tiểu đoàn 2 chiến đoàn B thủy quân lục
chiến bổ sung từ Cai Lậy về tham chiến cũng bị quân giải phóng đánh bật.
Lần này, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn tung thêm một tiểu đoàn nhảy dù nữa,
tiểu đoàn 6 thuộc lực lượng tổng trù bị vào mặt trận! Westmoreland viết:

“Đáng lo ngại về mặt quân sự hơn hết là các cuộc tấn công vào Tân Sơn

Nhất, khu Bộ tổng tham mưu cạnh đó …”. Mặc dù trực thăng Mỹ tuôn đạn
xối xả khu vực, cuộc tấn công vẫn tiếp tục “ngoài dự kiến” như nhận xét
của Westmoreland.

29 – Westmoreland và vành đai phòng thủ Sài Gòn 1968
Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ngay trước khi biết được những gì đã xảy
ra, chúng tôi phải chiến đấu cho mạng sống của chúng tôi trên các đường
phố Sài Gòn, Huế tại khoảng 12 tỉnh khác”.
Theo cuốn Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định kháng chiến (1945-
1975) do Ban Tổng kết chiến tranh Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chỉ
đạo biên soạn (Trần Hải Phụng – Lưu Phương Thanh chủ biên). NXB TP.
Hồ Chí Minh 1994, thì: “Giờ G ngày N trên toàn miền được qui định là 00
giờ đến 2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968 tức đêm mồng 1 sáng mồng 2 tết
theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ huy các cụm biệt động đã được
phổ biến 48 giờ trước giờ G. Một việc đáng tiếc là do đổi lịch ở miền Bắc,
khu 5 và Tây nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ (có nhận được lệnh hoãn
nhưng quân đã ém nên xin đánh trước. B2 nhận được lệnh hoãn, nổ súng
đúng lịch mới)” (trang 479).
Cuốn Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn – Gia
Định của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, NXB
TP. Hồ Chí Minh 1995, viết: “Do thời gian nổ súng tấn công trên toàn miền
không thông nhất (Khu 5, Tây nguyên tấn công trước) – vì lịch ta và lịch
Trung Quốc không thống nhất, có khác nhau (chệch đi một ngày). Vì vậy ở
Sài Gòn địch tăng cường bố phòng chặt chẽ hơn” (trang31).
Từ Sài Gòn, tại Bộ Chỉ huy MACV của Mỹ, tướng Tư lệnh
Westmoreland nhận tin cấp báo dồn dập điện về ngay đêm giao thừa.
Westmoreland viết:
“Lúc 0 giờ 35 phút sáng 30.1.1968, nghĩa là hơn nửa giờ sau khi năm
con khỉ (Mậu Thân) bắt đầu, các pháo thủ của Cộng sản đã bắn 6 phát súng
cối vào trung tâm huấn luyện hải quân Việt Nam tại Nha Trang (…). Một
giờ sau, lúc người ta đang còn dạo lễ Tết trên đường phố Buôn Ma Thuột,
đốt những tràng pháo dài, thì một loạt súng cối và rốc-kết nã vào thành phố

mởmàn cuộc tấncông bằng bộ binh. Cũng khoảng thời gian ấy, một tiểu
đoàn địch đánh vào quận lỵ Tân Cảnh, kế cận Dakto.

Nửa giờ sau, ba tiểu đoàn Việt Cộng tiến đánh thị xã Kon Tum, trong khi
đó một tiểu đoàn khác tấn công thành phố Nha Trang. Chưa đầy một giờ
sau đó, một cuộc tấn công trên bộ diễn ra tại Hội An, một thành phố cổ nằm
ở phía Nam Đà Nẵng. Ngay tại Đà Nẵng, Việt Cộng với một đại đội bất thần
đánh vào doanh trại sở chỉ huy Quân đoàn I của Việt Nam. Đến 4 giờ 10
phút sáng (mồng một Tết), hai tiểu đoàn Việt cộng tấn công vùng ngoại ô
Qui Nhơn, ở đây nhờ đã có báo động trước đó hai ngày nên viên chỉhuy địa
phương cấm đốt pháo, tuy nhiên quân thâm nhập vẫn nhanh chóng chiếm
lĩnh đài phát thanh chính phủ tại địa phương…”

Những tin tức chiến sự rối bời như trên liên tục báo về suốt đêm. Rạng
sáng 31.1.1968, Westmoreland rã rời trước tin doanh trại cố vấn Bộ Chỉ
huy MACV của mình tại Huế bị bao vây và “phần lớn Huế đã nằm trong
tay địch, kể cả hầu hết khu vực thành nội! Lá cờ màu xanh và đỏ với ngôi
sao vàng của Việt Cộng đã bay trên cột cờ thành Huế!”.

Westmoreland viết rằng đây là lần đầu tiên cờ Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên kỳ đài cố đô trong cuộc chiến
tranh. Và khắp nơi: “Quân địch đã vào Sài Gòn, Quảng Trị,Đà Nẵng, Nha
Trang, Qui Nhơn, Kon Tum, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Phan Thiết, Mỹ Tho,
Cần Thơ, Bến Tre, … đánh vào 36 thành phố, thị xã của 44 tỉnh lỵ, 64 quận
lỵ và 50 ấp….Đó là cuộc tiến công trên một mặt trận rộng lớn!”.

Có thánh mới biết trước đích xác ngày giờ nổ súng ở từng nơi. Riêng
“cuộc tấn công mà người ta chờ đợi từ lâu vào Pleiku” theo ghi nhận của
Westmoreland trong hồi ký đã diễn ra ngay lúc 4 giờ 40 phút sáng mồng
một Tết nhằm 30.1.1968 dương lịch. Khi ấy, tư lệnh cao nguyên không có
mặt tại trận địa; mãi sau này nhắc đến giờ phút nguy ngập đó
Westmoreland vẫn còn cay cú. Ông viết khi hay tin Pleiku bị tấn công
“tướng Vĩnh Lộc từ Sài Gòn vội vã quay về (Pleiku), hình như để lo cho biệt
thự của ông hơn là cho trận đánh đang diễn ra”.

Không chỉ Vĩnh Lộc, mà với hàng tướng tá Sài Gòn, kể cả Nguyễn Văn

Thiệu, Westmoreland tỏ thái độ “kinh ngạc và thất vọng” vì họ có vẻ lo
chuyện “ăn Tết” nhiều hơn là quan tâm đến lời cảnh báo. Trong khi ngược
lại, thời điểm đó, những sĩ quan tình báo của ông nằm trong Bộ chỉ huy
MACV như tướng Davidson luôn trong tâm trạng lo lắng.

Khoảng 10 ngày trước Tết, Davidson đã tự ý bỏ cuộc hẹn gặp với vợ, bà
Jeanne, tại Hawaii như dự định để dán mắt dán mũi vào các dấu hiệu khả
nghi về cuộc lui quân của đối phương quanh Sài Gòn. Gấp tới nỗi Davidson
nhờ “ nói hộ cho Jeanne biết làtôi không thể gặp bà ta. Nhờ giải thích,
trong phạm vi bí mật, là tình hình trực chiến căng thẳng không cho phép tôi
đến chỗ hẹn được. Xin cám ơn”.

Vậy mà Thiệu và Cao Văn Viên không để tâm đúng mức đến các tin tình
báo về khả năng Sài Gòn là mục tiêu quan trọng nhất của cuộc đại tấn công.
Dường như, Bộ tổng tham mưu Sài Gòn quá tin vào ba tuyến vành đai ngăn
chặn các lực lượng vũ trang cách mạng thâm nhập nội đô. Theo Ban tổng
kết chiến tranh Thành ủy TP.HCM qua cuốn Lịch sử Sài Gòn – Chợ Lớn –
Gia Định kháng chiến 1945-1975 (do Trần Hải Phụng – Lưu Phương Thanh
chủ biên) thì lực lượng bảo vệ Sài Gòn trước Tết Mậu Thân “tương đương
4 sư đoàn Mỹ, 4 sư đoàn ngụy, 8 tiểu đoàn dù và thủy quân lục chiến, 1tiểu
đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân, bảo an, dân vệ, cảnh sát…tại
các tuyến phòng thủ Sài Gòn”.

Đó là tuyến bảo vệ vòng ngoài với căn cứ Đồng Dù, cách Sài Gòn 30 km
có sư đoàn bộ sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” Mỹ, thêm lữ 1 và 2 của sư
đoàn này; cộng sư đoàn 25 bộ binh Sài Gòn cùng biệt động quân, bảo an. Ở
hướng Bắc, sư đoàn 1 bộ binh Mỹ chốt Lai Khê; cạnh đó là sư đoàn 5 bộ
binh, mấy chục tiểu đoàn biệt động quân, đại đội bảo an, dân vệ án ngữ; từ
Bến Cát qua Ba Ri, Tân Quy đến Lái Thiêu, Tân Uyên. Hướng đó còn có
trung đoàn 11 thiết giáp Mỹ hoạt động ở Bến Cát cách Sài Gòn 50 km. Phía
Đông và Đông Bắc có lực lượng quân Nam Triều Tiên chốt ở Dĩ An, lữ
đoàn dù Mỹ ở Biên Hòa, quân Úc ở Long Bình, sư đoàn 18 đóng Xuân
Lộc… Hướng Nam, hải quân với sự sẵn sàng chi viện của lực lượng tổng
trù bị bao gồm sư đoàn thủy quân lục chiến và lữ đoàn dù Sài Gòn. Phía

Tiền Giang và Bắc sông Hậu, sư đoàn 9 Mỹ sẵn sàng tiến về Long An bảo
vệ phía Nam Sài Gòn.

Vào sâu nữa có tuyến phòng thủ bên trong gần lực lượng bảo vệ trị an
lãnh thổ của Biệt khu thủ đô, cảnh sát dã chiến và biệt động quân. Phải kể
thêm sư đoàn không quân số 7 Mỹ ở Tần Sơn Nhất và lực lượng đồn trú tại
các yếu khu quân sự như trại Đống Đa, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Tô
Hiến Thành… Các tuyến phòng thủ trên không ngăn chặn được sự thâm
nhập của quân giải phóng như Westmoreland nêu trong hồi ký:

“Khi thâm nhập, lính của ViệtCộng dùng căn cướcgiả giống dânthường
không thểphát hiện được trong đám người đông đúc đi chơi Tết”. Trong lúc
đó, biệt động nội thành “mởnhững cuộc tấn công cảm tử vào các mục tiêu
như đài phát thanh, các khu doanh trại, các côngsở của chính phủ, (…)
hoặc ngôi nhà mới đồ sộ 6 tầng ở đườngThốngNhất – Sài Gòn: sứ quán
Mỹ!”.

Westmoreland viết gì về trận đánh đại sứ quán đó?

PHẦN 5

Hình: Ông Cao Văn Viên – vị đại tướng tổng tham mưu nhiều lần xin từ
chức nhưng không được tổng thống Thiệu chấp thuận

41 – Tướng Cao Văn Viên: Tổng tham mưu trưởng kỳ lạ nhất Sài
Gòn

Năm 1971, choáng váng bởi tổn thất nặng sau chiến dịch Lam Sơn 719,
ông Thiệu nhờ Trần Văn Đôn nói với đại tướng Cao Văn Viên (trong hình),
Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, hãy quét tầm nhìn chiến lược đến
các quân khu, chịu khó tiếp xúc với các tư lệnh vùng để tăng cường quân
lực, chứ đừng ở mãi trong văn phòng riêng như ông Viên vẫn làm.

Tại sao ông Thiệu không trực tiếp nói với Cao Văn Viên mà phải nhờ
Trần Văn Đôn? Bởi Thiệu có nói nhưng đại tướng Viên vẫn không nhúc
nhích, cứ ngồi một chỗ để chỉ huy ngót một triệu quân qua…điện đàm là
chính. Ông Đôn gặp Cao Văn Viên hỏi lý do. Ông Viên bảo:

“Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp thuận nên tôi cứ

ở văn phòng làm việc mà thôi!”
Trong khi đất nước có chiến tranh, nhất là năm 1972 chiến trường sôi

động, mà ông Tổng tham mưu trưởng chỉ “ngồi văn phòng làm việc miễn
cưỡng” làm sao các sĩ quan binh lính ngoài mặt trận khỏi dị nghị được?
Ông Đôn viết trong hồi ký như thế và thêm:

“Tôi hỏi ông Thiệu:
–Nếu tổng thống không bằng lòng…thì sao không đổi người khác để làm
việc hữu hiệu hơn?
–Hai người này (kể thêm Trần Thiện Khiêm, thủ tướng) là người của Mỹ
chọn, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó
khăn. Cái khó khăn của tôi âu cũng nghĩ chỉ là (chỉ) đối đầu với Cộng sản.
Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ. Ví dụ như việc bổ nhiệm người
trong nội các, người nào Mỹ không phản đối thì được, còn phản đối thì khó
mà làm việc”.
Rõ vậy! Ngay Cao Văn Viên có lần ngán ngẩm buột miệng sổ toẹt về
tính chất “tầm gửi” của đội quân Sài Gòn vào Mỹ khi phái đoàn nghị sĩ và
dân biểu đến gặp để hỏi “về chiến lược quân sự của Bộ Tổng tham mưu”:
–Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh (!). Trách nhiệm chiến
đấu ở đây là người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà
thôi!
Câu trả lời quá rõ. Xin miễn bàn.
Cứ như thế, ông Viên tà tà đến bàn giấy làm việc hệt cung cách công
chức. Vềnhà, theo người thân kể lại, ông quẳng những ưu tư ven đường,
dường như không nghĩ tới tấm bản đồ hành quân, hoặc cục diện chiến
trường, mà suy tưởng đến những chuyện đâu đâu ngoài cõi thực. Nhưng oái
ăm, chính một phần vì thái độ đó mà đại sứ Mỹ… yên tâm! Trần Văn Đôn
kể:
“Mỗi khi Mỹ đề nghị điều gì khó khăn, nếu về hành chính thì Tổng thống
Thiệu giao cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, còn về quân sự thì giao cho
Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Dĩ nhiên hai ông này sẽ làm theo
đường lối của Mỹ. Hai ông này không hẳn thích Mỹ nhưng trải qua kinh

nghiệm của những người đi trước họ hiểu rằng muốn sống yên trên địa vị
cao sang của mình thì phải chiều theo ý của Mỹ. Vì vậy mà Mỹ thích hai
ông đó nắm trọn lực lượng quân sự và chính trị trong nước. Đó cũng là
cách hay nhất để nắm luôn Tổng thống Thiệu bởi vì nếu cần thì… hai người
đó sẽ đảo chính dễ dàng!”

Thiệu hẳn nhiên dùng nhiều biện pháp đề phòng những người quanh
mình. Ông đặt máy truyền tin trong phòng làm việc để khi cần liên lạc nói
chuyện thẳng với tư lệnh 4 vùng chiến thuật, hoặc trực tiếp điều động các
sư đoàn cứu viện. Cẩn thận hơn, ông Thiệu đặt Phòng hành quân sát phòng
mình và giao sĩ quan trực đảm nhiệm theo dõi, ghi chép hướng di chuyển
của các đơn vị lớn thuộc các binh chủng.

Vào mỗi sáng, ngoài việc nắm tình hình qua báo cáo, ông còn nghe
ngóng động tĩnh tại các quân khu bằng hệ thống truyền tin riêng không nhất
thiết phải qua trung gian của Bộ Tổng tham mưu. Hệ thống đó cũng cho
phép Thiệu gọi đến tận các địa phương để trực tiếp ra lệnh cho các tỉnh
trưởng, thị trưởng trong trường hợp cấp bách. Dẫu hết sức cảnh giác, đảo
mắt quan sát các tướng tá thân cận, nhưng Thiệu lại không mặn mà lắm với
ý kiến của cố vấn Hoàng Đức Nhã khi Nhã thúc hãy thay gấp hai ông Trần
Thiện Khiêm và Cao Văn Viên.

Vì theo Thiệu, đó là hai viên tướng ăn cánh “lâu đời” với ông ta, không
dễ gì trở mặt phản phé được. Nếu họ không làm việc tốt so với trọng trách
đã giao thì ít ra họ cũng án ngữ giùm ông hai cánh cổng quyền lực của chế
độ mà nhiều đối thủ dòm ngó. Huống gì ông Thiệu rất mực tin tưởng vào
“lòng trung thành” của Cao Văn Viên vốn từng biểu lộ trong phút lâm
chung của Ngô triều.

Theo hồi ký Đỗ Mậu, đêm xảy ra đảo chính Diệm 1.11.1963: “tại văn
phòng của tướng Khiêm, nơi được chọn làm bộ chỉ huy, tướng Dương Văn
Minh, hỏi từng người “ai theo cách mạng” (phe đảo chính) và ai còn theo
ông Diệm”? Tất cả đều hoan hỉ trả lời: “Theo cách mạng!” trừ đại tá Cao
Văn Viên, tư lệnh quân nhảy dù, trả lời:

– Tôi là một quân nhân kỷ luật. Tôi không làm chính trị, tôi chỉ biết tuân

lệnh Tổng thống Diệm”.
Thời còn cấp bậc trung úy vào năm 1953, Đỗ Mậu cùng Cao Vãn Viên và

Nguyễn Văn Thiệu gặp nhau tại Hưng Yên. Ông Mậu cho biết: “Chúng tôi
coi nhau như bạn thân. Cao Văn Viên là người ít nói trong lúc Thiệu và tôi
hay thảo luận chính trị, thời thế”.Năm 1958, Ngô Đình Diệm đưa Cao Văn
Viên về dinh Độc Lập giữ chức Tham mưu trưởng biệt bộ.

Khi Nguyễn Chánh Thi đem lữ đoàn nhảy dù tấn công dinh Độc Lập
mưu đảo chính Diệm nhưng thất bại phải chạy qua Campuchia tỵ nạn; ông
Diệm giao Cao Văn Viên chỉ huy lữ đoàn nhảy dù thay ông Thi – đồng thời
thăng cấp cho ông Viên lên đại tá. Trong lúc ông Viên gắng giữ trách nhiệm
ở phạm vi được giao thì vợ ông lại là một “phu nhân” hiếu động cộng tác
đắc lực với bà Nhu trong “phong trào phụ nữ liên đới”.

Người đương thời cho là dưới trào ông Diệm có ba “bà tướng”. Bà Thái
Quang Hoàng dám đấu khẩu với bà Ngô Đình Nhu về vụ đảo chính hụt của
quân nhảy dù. Bà Nguyễn Văn Là “thiện xạ số hai” sau “thiện xạ số một”
Ngô Đình Lệ Thủy (con bà cố vấn Nhu) xuất hiện đêm đêm trên màn ảnh
xi-nê để thi nhau tác xạ vào… bong bóng, hoặc bò qua các lỗ châu mai giả
định tại “chiến trường Thị Nghè”! Bà Cao Văn Viên thích nổi tiếng tương
tự. Trở lại chuyện mấy ông chồng, hồi ký Trần Văn Đôn kể hai tướng Trần
Thiện Khiêm và Cao

Văn Viên “là đôi bạn thân nhau” nhưng lúc lật đổ chế độ Diệm lại tỏ ra
lập trường khác nhau:

“Ngày đảo chính 1.11.1963, thiếu tướng Khiêm sốt sắng tham gia còn
đại tá Viên thì trung thành với ông Diệm nên buộc lòng chúng tôi phải giữ
lại chung với các sĩ quan cấp tá như Chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt,
Chỉ huy trưởng lữ đoàn phòng vệ Phủ tổng thống… Lúc đó từ Bộ Tư lệnh
Quân đoàn III (bao gồm Sài Gòn), ông Đính (trung tướng Tôn Thất Đính)
điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn nói chuyện với đại tá Cao Văn Viên… Tôi cho
người đưa ông Viên đến… Ông Viên phân trần (qua điện thoại với Tôn Thất
Đính):

–Anh phải hiểu cho tôi, tôi không thể làm việc này được. Tôi không thể

theo ủy ban để đảo chính ông cụ được!
Rồi ông Viên trao trả máy cho tôi nói chuyện với ông Đính. Ông Đính

nói:
–Nó không chịu theo tụi mình, nhưng anh giữ nó bên cạnh đừng nhốt nó

tội nghiệp!
Tôi để Viên ngồi trong văn phòng tôi, từ lúc tôi điều động lính đảo chính

cho đến 8 giờ
sáng ngày 2.11.1963, mọi việc xong xuôi tôi cho Viên về nhà”.
Theo tài liệu khác, ban đầu phía đảo chính định khử Viên, nhưng tướng

Đính cứu ông, bảo Viên “là người vô hại” nên thôi. Sau Viên được giao chỉ
huy sư đoàn dù Sài Gòn. Năm 1975, với cấp bậc đại tướng, Tổng tham mưu
trưởng, ông vẫn không nảy sáng kiến mới lạ gì hơn trong việc điều quân
khiển tướng mà giữ đúng nội dung “những chỉ thị” của Thiệu về rút lui
chiến thuật và dần đến thua trắng miền Nam.

Ngày 28.4.1975, sau khi sắp xếp nội vụ Tổng tham mưu, giao tướng
Đồng Văn Khuyên xử lý thường vụ, ông Viên mặc thường phục với áo sơ-
mi, quần jean, đáp máy bay sang Bangkok – Thái Lan, với sự hỗ trợ của cơ
quan lo việc tản cư của Mỹ DAO.

Tại đó, ông lấy vé hàng không dân sự bay thẳng tới Washington như một
du khách. Hồi chế độ Sài Gòn sắp “tàn cuộc hoa này”, nghe nói đại tướng
Viên thực tế đã tự về vườn, thường tĩnh tâm trong am nhỏ.

Ở đó ông không ngẫm nghĩ ngày đêm để “chắp tay sau lưng mà vẫn
quyết định sự thắng bại ngoài nghìn dặm” theo luật làm tướng ghi trong
binh pháp. Mà để trốn khỏi rối rắm và gánh nặng chức trách của người
đứng đầu đội quân đông ngót một triệu người! Thời cuộc vẫn để ông ngồi ở
vị trí liên quan tới sự sống chết của cả triệu sinh linh một cách hững hờ và
miễn cưỡng!

Ở khía cạnh này, tướng Cao Văn Viên là một tổng tham mưu trưởng kỳ
lạ nhất của quân đội Sài Gòn “năm xưa”.

42 – Nguyễn Cao Kỳ cũng sợ “Anh Cả đỏ“! Vì sao?
Đã nhiều lần ông Cao Văn Viên bày tỏ ý không muốn giữ chức vụ Tổng

tham mưu trưởng quân đội nữa và xin từ chức. Hồi ký Trần Văn Đôn ghi
nhận đến “ba lần ông Nguyễn Cao Kỳ xin đảo chính Nguyễn Văn Thiệu
nhưng ông Viên không chấp nhận”. Kỳ vừa giận vừa lo nhưng chưa dám
động tới Viên, mệnh danh “Anh Cả đỏ”. Vì sao?…

Biết Cao Văn Viên không hợp tác đảo chính theo tính toán của Kỳ nên
“ông Thiệu càng thích hơn, cho dù chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân
đội, ông Viên làm miễn cưỡng lơ là chăng nữa, cũng còn hơn đặt người
khác vào có thể đảo chính. Đã nhiều lần ông Viên bày tỏ ý không muốn giữ
chức vụ đó nữa, xin từ chức hoài nhưng ông Thiệu không chấp nhận”.

Hồi ký của Trần Văn Đôn ghi nhận đến “ba lần ông Nguyễn Cao Kỳ xin
đảo chính (Thiệu) nhưng ông Viên không chấp nhận”. Kỳ vừa giận vừa lo
nhưng chưa dám động tới Viên. Vì ngoài “cái tướng oai vệ, biết lái trực
thăng”, từng làm tư lệnh “anh cả đỏ”, một binh chủng mà Kỳ nể mặt, mà
qua nhiều năm đứng đầu bộ tham mưu, Viên còn tạo dựng sẵn nhóm tay
chân em út không dễ gì Kỳ đương cự nổi.

Rõ ràng Thiệu sợ nguy cơ bị mất hậu thuẫn khi thay người. Cứ để Viên
trấn trị, bày quân bố trận khắp 4 vùng chiến thuật như cũ mà đỡ lo hơn! Dù
các sư đoàn lá chắn đã bị đánh vỡ và chọc thủng vào giai đoạn hấp hối của
chế độ cũng mặc.

Tới nước đó, một trưa giữa tháng tư 1975, 5 tướng tá Sài Gòn tìm đến
nhà ông Đôn trên đường Alexandre de Rhodes nằm trước dinh Độc Lập để
chỉ trích tổng tham mưu trưởng của họ:

– Cấp chỉ huy quân đội từ mấy năm nay quá yếu. Đại tướng Cao Văn
Viên không đủ khả năng, không làm đúng bổn phận, làm việc không hữu
hiệu mà lại ngồi chỉ huy suốt 9 năm trời!

Những người đưa ra lời phê bình muộn màng đó gồm trung tướng Vĩnh
Lộc, chỉ huy trưởng Trường Cao đẳng Quốc phòng: trung tướng Nguyễn
Bảo Trị, phụ trách các trường huấn luyện quân sự; và các đại tá Nguyễn
Huy Lợi, Vũ Quang, Trần Ngọc Huyến…Ông Đôn đã nói gì trước những lời
công kích ông Viên?

Trần Văn Đôn viết: “Theo tôi biết, ông Cao Văn Viên nhảy dù giỏi, tham

mưu giỏi, nhưng ông ta làm việc không hăng say, không tự quyết, tự quản.
Ông làm việc theo lịnh của tổng thống, vì tổng thống là Tổng tư lệnh, hoặc
làm việc theo lệnh của Tổng trưởng quốc phòng hoặc Thủ tướng. Không
bao giờ ông Viên đề nghị, phê bình hoặc từ chối một chỉ thị nào của thượng
cấp nên Mỹ, ông Thiệu, ông Khiêm đều thích một ông Tổng tham mưu
trưởng như ông Viên. Trong quân đội, ông Viên không hề khích lệ tinh thần
cho anh em hăng say chiến đấu. Sau năm 1970, tôi gặp ông Viên nên biết
ông bận lo thi lấy bằng cao học văn chương Pháp, chú trọng đến thiền học.
Chiều tối nào ông cũng leo trên mái tôn cao sau nhà để hành thiền và ngủ
luôn ở đó. Dầu có xảy ra việc gì cũng không ai được quấy rầy ông!…”.

Một Tổng tham mưu trưởng quân đội có xu hướng đi sâu vào thế giới tư
duy “trừu tượng” như vậy khó mà quyết định cấp thời những chiến thuật
“cụ thể”.

Song muốn thay Cao Văn Viên phải dòm tới dòm lui như trung tướng
Trần Văn Minh, Tư lệnh không quân, trung tướng Chung Tấn Cang, Tư
lệnh hải quân, trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh biệt khu thủ đô, kế
là chuẩn tướng Thọ, trưởng phòng III hành quân, hoặc đại tá Lung, trưởng
phòng II tình báo Bộ tổng tham mưu…Lúc dầu sôi lửa bỏng, việc thay
Tổng tham mưu trưởng tuy cần nhanh chóng song không thể làm bừa.
Những ai trong họ từng được Cao Văn Viên cất nhắc hoặc có công chuyện
gì đó liên hệ mật thiết với Viên trong quá khứ hẳn phải gợn nhiều lo nghĩ.

Chần chừ mãi đến tuần lễ cuối cùng của chế độ vẫn chưa thay được
Viên. Ông Đôn hỏi:

– Ai có thể thay thế đại tướng Viên?
Trung tướng Nguyễn Bảo Trị đáp:
– Trung tướng Nguyễn Đức Thắng, gần hai năm nay ông ấy không có
việc làm.
Tôi (Đôn) biết khả năng ông Thắng, đã gợi ý nhưng ông ấy từ chối…
Viên “có số” làm to; mãi ngày ông Thiệu nhường ghế cho “tân tổng
thống” Trần Văn Hương, ông Viên vẫn giữ chức vụ cũ. Thậm chí, “tân tổng
thống” Hương còn “tín nhiệm” Viên tới mức đề bạt lên cao hơn nữa, tới

Tổng tư lệnh quân đội (trước do ông Thiệu giữ)!
Trần Văn Đôn kể một cách rõ ràng trong hồi ký:
“Tân tổng thống Hương định đưa ông Viên lên làm Tổng tư lệnh (!), là

cấp bậc cao hơn Tổng tham mưu trưởng. Lúc ông Hương nói với tôi tại
dinh Độc Lập ngày 25.4.1975 (có ông Viên ở đó), ông Viên nhìn tôi có vẻ
không hứng thú. Ông Viên đã không thích nhận trọng trách điều khiển quân
đội, huống chi bây giờ ông Thiệu và ông Khiêm đã từ chức (thì ông Hương
khó mà “năn nỉ” Viên làm Tổng tư lệnh được!)”.

Số Viên còn đỏ. Khi “tân tổng thống” Trần Văn Hương sắp trao quyền
cho Dương Văn Minh, Dương Văn Minh điện thoại dặn Trần Văn Đôn phải
“cố giữ ông Viên ở lại chức vụ tổng tham mưu trưởng, đừng cho ông Viên
đi”. Nhưng sáng sớm 29.4, Đôn trả lời:

– Viên đã đi rồi!
Như vậy, từ anh em ông Ngô Đình Diệm đến Mỹ – Thiệu, Kỳ, Khiêm,
Trần Văn Hương, và cuối cùng là Dương Văn Minh đều muốn dùng và giữ
Cao Văn Viên. Chẳng phải vì ông là vị tướng quá giỏi không ai thay thế nổi
mà trước hết bởi ông là con người của sự “thực thi mệnh lệnh” và “trung
thành” với tổng tư lệnh của mình.
Ra nước ngoài, Cao Văn Viên viết hồi ký, có đoạn: “Binh sĩ miền Nam
Việt Nam (Sài Gòn) trong những năm 1972-1975 ra trận nhưng quá sức lo
lắng về việc tiếp tế đạn dược không được nhanh như yêu cầu và nếu bị
thương phải chờ khá lâu mới được bốc khỏi mặt trận, thời tiếp liệu thừa
thãi và không vận nhanh đã qua rồi…”
Cao Văn Viên xin Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Schlesinger, tướng
tham mưu trưởng Creighton Abrams, thiếu tướng phụ tá quân sự Bộ Quốc
phòng John Wickham tăng quân viện nhưng bị từ chối vì quyết định
“không viện trợ vũ khí nữa” của Quốc hội Mỹ. Chính quyết định đó báo
trước ngày tàn của quân đội Sài Gòn, mà theo Harry Thurk, đông đến hơn
1.300.000 người với hàng nghìn máy bay “thường nằm dưới đất nhiều hơn
là tung cánh lên trời”…
43 Mỹ gắn điện đài bí mật cho tướng Kỳ liên lạc Nhà Trắng như thế

nào?

Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cùng một nhóm binh sĩ đi thị sát vùng
ven Sài Gòn

Có lời đồn Mỹ âm thầm nuôi Nguyễn Cao Kỳ để “làm con bài” dự
phòng canh bạc chính trị nóng lạnh ở Sài Gòn. Nghi vấn trên đã được chính
tướng Kỳ nhắc tới khá chi tiết qua đoạn cuối hồi ký:“Mỹ nói với tôi rằng
họ đồng cảm với quan niệm chính trị của tôi và rất buồn thấy tôi ra đi. Cho
nên họ ngỏ ý muốn dựng cho tôi một trung tâm truyền tin. Và họ đã làm
thật…”

Không được Cao Văn Viên tán đồng đảo chính Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ đã
lui về đồn điền Khánh Dương. Ông ta vẫn giữ liên lạc trực tiếp với các viên
chức tình báo cao cấp của Nhà Trắng qua hệ thống điện đài bí mật do
chuyên viên Mỹ thiết lập trong một khu rừng vắng (?). Có lời đồn đại Mỹ
âm thầm “nuôi Nguyễn Cao Kỳ” để “làm con bài” dự phòng canh bạc chính
trị nóng lạnh bất thường ở Sài Gòn. Tướng Kỳ nhắc tới nghi vấn trên khá
chi tiết qua đoạn cuối hồi ký:

“Lúc tôi quyết định xây dựng đồn điền, các bạn người Mỹ của tôi nói với
tôi rằng họ đồng cảm với quan niệm chính trị của tôi và rất buồn thấy tôi
ra đi, cho nên họ ngỏ ý muốn dựng cho tôi một trung tâm truyền tin. Họ đã
làm thật. Cách lytrong rừng rậm, hệ thống điện đài của tôi mạnh tới nỗi
không những tôi có thể nói chuyện với vợ con tôi ở Sài Gòn mà còn có thể
nói chuyện với người ở nước ngoài”.

Những lúc ông rời ngôi nhà nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất để đến
cánh rừng vắng sống những phút giây yên tĩnh xa hẳn thành phố ông vẫn có
thể “liên lạc thường xuyên với gia đình vì tói có một đài vô tuyến truyền tin
dân sự tốt nhất miền Nam (…). Khi biết chuyện người Mỹ dựng cho tôi cái
đài truyền tin đó, người ta đâm ra suy đoán lung tung.

Vào dịp tôi về Sài Gòn, một anh bạn thân đến thăm tôi tại căn cứ không
quân đã hỏi:

– Nhà Trắng nghĩ thế nào về khó khăn của chúng ta (chế độ Sài Gòn)
hiện nay?

Tôi ngạc nhiên nhìn anh ta và hỏi lại:
– Làm thế nào tôi có thế biết được?
Đến lượt anh ta ngạc nhiên:
–Người ta bảo tôi là anh vẫn liên lạc thẳng với Nhà Trắng qua điện đài
trong rừng của anh mà!”
Nói về ông Thiệu, sau cuộc “bầu cử độc diễn” năm 1971 hợp thức hóa
việc ông tiếp tục ngồi ghế tổng thống thêm nhiệm kỳ nữa, ông ta luôn phải
đốì phó với tình hình chiến sự cam go trong nước và mặc cảm bị Mỹ hất
đứng bên lề hội nghị Paris, cũng như sẵn sàng thay ông bằng người khác
nếu thấy cần thiết. Thiệu hết sức lo sợ “bị ám sát”, nhất là mỗi khi ông
chưa đáp ứng kịp hoặc trù trừ do dự trước các ý kiến một chiều của phía
Mỹ. Cố vấn của ông viết:
“Ông ta thường lo lắng rằng người Mỹ đang chuẩn bị cho việc trừ khử
ông (…) mỗi khi rời dinh Độc Lập lên xe đến trụ sở Quốc Hội ở đường Tự
Do. Thiệu lại cảm thấy lo rằng CIA có thể đặt kế hoạch khử ông ta và đổ lỗi
cho Việt Cộng. Ông ta biết rằng những phòng làm việc của mình đều bị Mỹ

đặt máy nghe trộm và sống trong trạng thái lo sợ cho tính mạng”.
Ông ta từng nói với tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng chỉ tạm thấy đôi chút yên

ả chóng qua trong lòng mỗi lần chơi quần vợt, nhưng hễ bỏ vợt xuống cứ
như phải gánh lên nỗi ám ảnh không rời về một cuộc “đảo chính tưởng
tượng” đang đến sát nách “rồi trong đầu Thiệu lóe lên chiếc xe bọc thép
MA 13 với hai cái xác bị bắn lỗ chỗ đạn của Diệm và Nhu”.

Tâm bệnh đó khiến tóc ông càng trắng. Để khuây khỏa, theo giới nghệ sĩ
kể, ông giao du rồi dan díu với một hai “bóng hồng” nho nhỏ, đáng nhớ là
sau một bữa tiệc “văn nghệ” ở dinh Độc Lập, ông đã ép một nữ ca sĩ trẻ ăn
nằm với mình. Chuyện lộ ra, người làm báo ở Sài Gòn mới gọi ông là “F.M
– đầu bạc”. Biệt danh đó thấy nhắc đến trên sách báo người Việt xuất bản ở
nước ngoài sau năm 1975.

Nhớ lại khoảng tháng 3.1972 lúc quân giải phóng miền Nam mở cuộc
tân công lớn chiếm Quảng Trị, đánh Tây Nguyên và Đông Nam bộ, Thiệu
phải điều trung tướng Ngô Quang Trưởng đang chỉ huy Quân đoàn 4 miền
Tây ra ngoài Trung thay thế Hoàng Xuân Lãm chỉ huy Quân đoàn I. Đối với
quân đội Sài Gòn, tướng Trưởng được ca ngợi là một tư lệnh có tiếng bản
lĩnh nhưng ông vẫn bó tay không chiếm lại được thị trấn Đông Hà và sân
bay Ái Tử.

Hai nơi đó nằm gọn trong tay quân giải phóng cho đến ngày ông Trưởng
gạt nước mắt lùi khỏi Huế, nằm ở núi Sơn Trà cùng tướng Bùi Thế Lân và
phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (anh ruột của Hồ Văn Kỳ Tường, chỉ huy
trưởng Hải khu Đà Nẵng)… Trở lại chuyện 1972, bản đồ ở phòng hành
quân của Thiệu trong dinh Độc Lập bị “thủng nhiều lỗ” bởi làn đạn bắn từ
chiến trường miền Trung trong “mùa hè đỏ lửa”.

Một “làn đạn” khác, vô hình, xuất phát từ Paris vào tháng 10.1972 khi
đoàn Việt Nam đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại
hòa bình”. Sau đó vài ngày Kissinger đến Sài Gòn cùng phái đoàn cao cấp
Mỹ thông báo cho Thiệu biết về dự thảo đã thỏa thuận. Thiệu chưng hửng.
Là người được Thiệu cử theo dõi diễn tiến Hội nghị Paris, Trần Văn Đôn
kể:

“Sau 2 tháng thương nghị (8 đến 10.1972), Mỹ đồng ý chấm dứt ném
bom miền Bắc, vớt thủy lôi và chấp thuận trên nguyên tắc dự thảo hòa ước
do Lê Đức Thọ và Kissinger soạn (…). Kissinger đến Sài Gòn trình Thiệu
dự thảo đó (…). Phái đoàn Mỹ (Kissinger) đến họp vào lúc 11 giờ trưa tại
Phòng hành quân trong dinh Độc Lập. Ngoài Tổng thống Thiệu, còn có Phó
tổng thống Trần Văn Hương, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Tống tham mưu
trưởng Cao Văn Viên, Đại sứ Phạm Đăng Lâm, Trưởng phái đoàn Việt
NamCộng hòa tại hòa đàm Ba Lê, ông Trần Kim Phượng, Đại sứ Việt Nam
Cộng hòa tại Mỹ, Hoàng Đức Nhã, bí thư đặc biệt của tổng thống Thiệu,
ông Trần Văn Lắm, Tổng trưởng ngoại giao, ông Nguyễn Phú Đức, Phụ tá
ngoại giao phủ tổng thống (…). Kissinger đưa cho Tổng thống Thiệu bản
dự thảo hiệp ước 5 điểm bằng Anh văn mà không nói thêm về những điều đã
thỏa thuận với ông Lê Đức Thọ. Nguyễn Văn Thiệu bực mình vì không được
hỏi ý kiến trước… ”.

Ông Đôn kể tiếp, vì Thiệu dùng dằng nên Kissinger ở lại Sài Gòn họp
thêm phiên khác. Khi Thiệu xoay lưng rà lại bản đồ, Kissinger nói cho
người bên cạnh đủ nghe:

– Tổng thống của ông nghĩ rằng mình là“thần tượng ”, thật ra ông ta
không phải là “thần tượng” gì hết!

Rồi Kissinger dọa:
–Mỹ có thể ký hiệp định riêng với Hà Nội (không cần Sài Gòn). Tôi
không bao giờ trở lại Sài Gòn nữa.
Nghe Kissinger nói, Nguyễn Văn Thiệu xoay lại chỉ mấy tấm bản đồ
bảo:
-(…) Nếu Mỹ không tiếp tục chiến đấu ở đây thì chúng tôi chiến đấu một
mình cho đến khi hết phương tiện rồi chúng tôi chết. Nếu tôi ký hiệp định là
tôi tự sát.
Nhưng Thiệu đã đồng ý ký hiệp định Paris 1973 và ông ta vẫn sống đến
ngày chạy khỏi miền Nam tháng 4.1975, sang ngoại ô Luân Đôn nước Anh
sống yên ổn với vợ và cô con gái. Riêng sưu tập kim cương của vợ ông, bà
Mai Anh, góp từ các “quà tặng” ngót 10 năm cầm quyền đủ để ông thư thả

làm vườn, quên đi những cánh rừng cháy đỏ vấy máu và bom lửa.
45: Hội đồng an ninh quốc gia “mất an ninh”
Trước ngày đám cưới con gái mình 3 hôm, ông Thiệu triệu tập Hội đồng

An ninh quốc gia trưng cầu ý kiến về bức thư “bốc lửa” (14.1) của Nixon.
Thủ tướng Trần Thiện Khiêm: “ủng hộ bất kỳ quyết định gì của tổng
thống”. Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên: “luôn luôn đặt quân đội
dưới mệnh lệnh của tổng thống”. Một cố vấn bảo “nếu Mỹ muốn, hãy nên
ký Hiệp định…”.

Ông Thiệu nghe nhiều ý kiến chung chung, không thấy ai trong hội đồng
nêu giải pháp hành động. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhận xét qua “sự cố”
đó. Thiệu phải “tự hỏi tại sao ông ta lại chọn những đồng sự (thiếu nhạy
bén, thiếu phán đoán, thiếu đảm lược) như vậy để giao nắm giữ vị trí then
chốt trong chính phủ”. Tại cuộc họp, Hoàng Đức Nhã nói: “Còn nước còn
tát…” cứ tiếp tục trì hoãn với Nixon thử coi. Và Thiệu viết thư yêu cầu giải
thích rõ những điểm mập mờ, xác định các cam kết của Mỹ đối với sự tồn
tại của chế độ Sài Gòn.

Như hạn định Nixon nêu, Thiệu trả lời trước đêm 17.1, nhưng không
trực tiếp trao đổi với đại tướng Haig mà đưa Haig bức thư niêm phong
chuyển tổng thống Mỹ. Tiên đoán “bức thư gay cấn” ấy không hay ho lắm
như mình muốn, Haig mở ngay nó ra khi về sứ quán…

Từ Washington, Tổng thống Nixon nhận thư Thiệu do Haig chuyển và
trả lời ngay là Hoa Kỳ công nhận chính quyền Thiệu là “chính quyền hợp
pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam” (hứa hẹn – MN) và mặt khác “nếu
các ông từ chối ký Hiệp định Paris thì Chính phủ Việt Nam (Sài Gòn) phải
chịu mọi trách nhiệm về các hậu quả sau này” (đe dọa – MN). Vừa hứa hẹn,
vừa đe dọa, Nixon không để Thiệu chần chừ thêm nữa, vì theo thỏa thuận
giữa Lê Đức Thọ và Kissinger trong cuộc họp riêng cuối cùng hôm 13.1, thì
sau khi thông báo cho chủ nhà Pháp (biết về kết quả hội nghị) vào 19.1; tiếp
đó sẽ:

– 23.1.1973: ký tắt Hiệp định.
– 24.1: công bố tin Hiệp định đã được ký tắt. Công bố toàn văn Hiệp

định và các nghị định thư.
– 27.1: Lễ ký kết chính thức tại Trung tâm Kléber.
– 29.1: Ban Liên hợp quân sự bốn bên họp tại Sài Gòn. Ủy ban Quốc tế

bắt đầu hoạt động.
Để bảo đảm đúng thời biểu thỏa thuận trên, ngày 20.1 Nixon đòi Thiệu

trả lời trước 12 giờ Washington ngày 21.1 và cảnh cáo nếu Thiệu “lắc đầu”
Nixon sẽ ủy quyền để Kissinger ký Hiệp định không cần có sự đồng ý của
Thiệu.

Đây mới thật là tốì hậu thư, Thiệu lập tức triệu tập Hội đồng An ninh
quốc gia lần nữa. Lần này, như tiến sĩ Hưng thuật lại: “Không ai đưa ra đề
nghị có nên hòa hoãn với Nixon hay không. Thay vì nhận được những đề
nghị, những dự đoán về tình hình, Thiệu chí nhận được“những cái vuốt ve”
như Hoàng Đức Nhã nhận xét… Họ ca ngợi Thiệu”. Những ca ngợi thời
điểm đó chẳng ích gì mấy cho Thiệu. Ngày hôm sau 21.1 theo giới hạn của
Nixon nêu ra. Thiệu “nói lời cuối cùng” mà Nixon và đại sứ Bunker mong
đợi: Đồng ý!

Hai ngày sau, theo đúng thời biểu, 9 giờ 35 sáng 23.1.1973, Lê Đức Thọ
và Xuân Thủy gặp lại Kissinger tại Hội trường Kléber trong bầu khí rỡ
ràng. Cố vấn tổng thống Thiệu: TS Nguyễn Tiến Hưng (và Jerrold
L.Schecter) thuật quang cảnh lễ ký tắt:

“Trong cơn mưa lất phất và cái lạnh cắt da lúc 12 giờ 45 trưa thứ ba
23.1 sau một hồi trao đổi một số vấn đề, so sánh các điều khoản, Kissinger
và Lê Đức Thọ tiến hành ký Hiệp định Paris, thực hiện các nghi lễ ngoại
giao ở trung tâm hội nghị quốc tế tại khách sạn Hoàng Gia trên đại lộ
Kléber. Kissinger ký liền nhau hai chữ H. và K., còn phía Bắc Việt Nam ký
chữ Thọ như chữ tiếng Anh (không dấu). Kissinger dùng một loạt viết, ngòi
màu đen và trao mỗi thành viên trong ban tham mưu một cây. Lê Đức Thọ
trao viết mình cho Kissinger “đế nhắc phía Mỹ phải thực hiện đúng Hiệp
định”. Cả Lê Đức Thọ và Kissinger đọc hai bài diễn văn trên tinh thần hòa
giải. Giờ dây cuộc chiến tranh xem như đã chấm dứt”. (Sđd., nhiều người
dịch)

Cùng ngày, Tổng thống Nixon thông báo trên truyền hình rằng “Tổng
trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) là ông
Trần Văn Lắm đích thân tham gia vào giai đoạn cuối của các cuộc đàm
phán”. Đối với Lắm, người không bao giờ lưu tâm đến bất cứ điều gì ngoài
những chi tiết kỹ thuật, lời tuyên bố” trên (của Nixon) thật lố bịch (huỵch
toẹt trước dư luận quốc tế là ông Lắm chỉ “đích thân” tham gia vào “giai
đoạn cuối”, còn đầu dây múi nhợ mọi diễn tiến hòa đàm với “phía bên kia”
đều do Mỹ).

Nixon lưu ý rằng “ngài Kissinger sẽ bàn bạc chi tiết vấn đề và làm việc
với ngoại trưởng Lắm khi họ gặp nhau ở Paris” (Sđd).

Một tài liệu khác viết: “Ông Thiệu cử Tổng trưởng Ngoại giao Trần Văn
Lắm sang Paris để nắm tình hình đợt đàm phán chót, một hình thức giữ thể
diện”.

Và 4 ngày sau ký tắt, lễ ký kết chính thức Hiệp định Paris diễn ra tại Hội
trường Kléber, cùng ký các văn bản có ông Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng
Bộ ngoại giao, thay mặt chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; bà Nguyễn
Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay mặt chính phủ Cách mạng Lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; ông William P.Rogers, Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao, thay mặt chính phủ Hoa Kỳ; ông Trần Văn Lắm, Tổng trưởng
Ngoại giao, thay mặt Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Như vậy ý đồ lớn của Washington và Sài Gòn là không ghi tên Chính
phủ Cách mạng Lâm thời trên bất cứ văn bản nào, không muốn thừa nhận
miền Nam có hai chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát, muốn “đẩy
quân miền Bắc trở về miền Bắc”… đều không thực hiện được qua Hiệp
định Paris. Do vậy, Thiệu cứ dùng dằng như trên.

Trước lễ ký chính thức 5 ngày, Thiệu yêu cầu Trần Văn Đôn qua lại
Paris theo dõi việc ký kết và ông Đôn ghi lại những dòng thiểu não:

“Hiệp ước ký xong, tôi trở về Việt Nam. Không còn muốn tìm hiểu thêm
gì nữa. Trên chuyến máy bay có phái đoàn Mặt trận Giải phóng miền Nam
giờ đây họ về thẳng Sài Gòn để thực thi hiệp định. Tôi đi chỉ một mình nên
họ chẳng biết tôi là ai. Trên máy bay còn có đại sứ Ba Lan thuộc Ủy hội

quốc tế kiểm soát đình chiến. Phái đoàn Ủy hội có 8 người, trưởng phái
đoàn là một đại tá từ 55 đến 60 tuổi, nói tiếng Pháp rành, mặcyphục giản
dị, còn 7 người kia đều mặc quần áo mới toanh. Có một trung tá Mỹ theo
đểhướng dẫn. Tại Bangkok, chính quyền Thái Lan cho một phái đoàn ra phi
trường đón. Còn Việt Nam Cộng hòa cho một máy bay Dakota của không
quân loại VIP chờ sẵn để đưa phái đoàn này từ Bangkok về Sài Gòn”.

Trần Văn Đôn thở dài: Ngày 27.1 là “ngày buồn” của chính quyền Sài
Gòn. Còn anh em Marvin Kalb và Bernard Kalb bảo một cách hóm hỉnh là
với việc Hiệp định Paris:

“Nixon được tù binh trở về. Lê Đức Thọ được Mỹ rút ra. Thiệu được giữ
lại chính quyền và Chính phủ Việt Cộng (Chính phủ Cách mạng Lâm thời)
được một mức độ hợp pháp chính trị ở Nam Việt Nam. Mỗi người được một
cái gì đó nhưng không có ai được tất cả mọi cái”.

Với tham vọng “được tất cả”, Thiệu và Hội đồng An ninh quốc gia quyết
định mở cuộc đại tấn công “tràn ngập lãnh thổ”, nổ súng vào giờ Hiệp định
Paris bắt đầu có hiệu lực. “Mất an ninh” quá

46 – Cuộc lấn chiếm và vẽ cờ sau hiệp định Paris
Vào 7 giờ sáng 28.1.1973, đúng lúc phải thực hiện ngừng bắn theo Hiệp
định Paris, thì ngược lại, Thiệu xua bộ binh và xe tăng tấn công Cửa Việt,
một căn cứ do quân giải phóng kiểm soát nằm gần bờ Nam khu phi quân
sự, tỉnh Quảng Trị. Sa Huỳnh và nhiều nơi ở miền Trung súng vẫn nổ do
các đợt đánh, lấn chiếm khác. Chiến trận do quân Sài Gòn phát động nóng
bỏng như hồi chưa ký hiệp định Paris đã diễn ra ở đồng bằng sông Cửu
Long, phần lớn vùng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam VN tại đây bị lấn chiếm. Lấn được xã nào, ấp nào, đội quân bình định
của Thiệu áp dụng chiến thuật “mũi súng đi trước, cờ phướn theo sau” dùng
sơn vàng sơn đỏ kẻ hình lá cờ ba sọc trên tường nhà dân, mặt tiền đình chợ,
quán xá… Hình lá cờ kẻ đậm trên cả mái tôn với kích thước to dị thường
để máy bay dòm xuống thấy ngay. Thiệu làm thế để “đánh dấu” vùng “quốc
gia kiểm soát” dẫu những nơi đó bị Thiệu tạm chiếm bởi hành động quân
sự vi phạm hiệp định. Người ta sơn cơ man hình lá cờ ba sọc đỏ chẳng

buồn biết đến lai lịch của nó. Hỏi thì “cán bộ nông thôn” của Thiệu trả lời
tiếng được tiếng mất. Ai vẽ ra lá cờ đó? Từ bao giờ?

Đỗ Mậu, trong cuốn Tâm thư (Hòa Trân và Thân Hữu xuất bản, Houston,
Mỹ, 1995) trích bài của ông Vũ Hoàng Anh Bốn Phương nhan đề Thử nhìn
lại vấn đề quốc kỳ, quốc ca (quốc kỳ: lá cờ ba sọc, quốc ca: lấy bài hát của
Lưu Hữu Phước – MN) đăng trên Ngàn lau, Người dân và báo Ngày nay ở
Houston viết: “Bản quốc ca, lá quốc kỳ được người dân miền Nam biểu
quyết qua người đại diện dân cử của mình ” vì vậy “có tính pháp lý, tính
dân chủ của nó”. Ông Mậu không đồng ý về “tính dân chủ” thông qua biểu
quyết của quốc hội như ông Phương nêu. Mặc dầu “Tôi biết ông Phương là
người chững chạc đàng hoàng, nhưng còn trẻ (…).Ở trong Nam, thời Đệ
nhất cộng hòa (chế độ ông Diệm) nếu muốn ra tranh cử để thắng thì ông
phải được đảng Cần Lao hay Phong trào Cách mạng quốc gia đỡ đầu.
Ngoài ra ông phải được ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, Đức cha Thục, bà
Nhu…. giới thiệu mới hòng đắc cử. Còn ông mà thân cô, thế cô mà muốn ra
(tranh cử quốc hội) thì cứ đóng tiền để mua lấv thất cử thì ra! Còn mánh
lới như thế nào thì ông tìm hỏi mấy người lớn tuổi có liên quan đến tranh
cử sẽ rõ”.

Nói về “bộ máy dân chủ”, về các “đại diện dân cử” quốc hội thực tế là
vậy. Đến chuyện các “đại diện dân cử” đó biểu quyết chọn quốc kỳ ba sọc
đỏ thì Đỗ Mậu bảo “tôi đi tìm tòi lục lọi mà KHÔNG THẤY văn kiện nào
của Tổng thống Diệm ký hợp thức hóa lá cờ và quốc ca cả. Cũng chẳng
thấy văn kiện nào của quốc hội biếu quyết về lá cờ đó”.

Chỉ có một việc liên quan, ông Mậu tiếp, là thời Ngô Đình Diệm “dự
định thay lá cờ và bài quốc ca của Lưu Hữu Phước. Quốc hội đã tuyển 350
mẫu cờ của 350 người dự thi mà không chọn được mẫu cờ nào cả, chắc quý
vị đã hiểu không có mẫu cờ nào “đẹp hơn” lá cờ cũ nên “ngày 17.10.1956,
sau nhiều tháng bàn thảo, lựa chọn, quốc hội tuyên bố không chọn được
bản quốc ca hay mẫu quốc kỳ nào mà thôi!”. Vậy lá cờ ba sọc có sẵn trước
thời ông Diệm cầm quyền và ai đã ký pháp quy tạm thời chọn lá cờ đó làm
“quốc kỳ”?

Hồi ký ‘Việt Nam nhân chứng“của Trần Văn Đôn ghi năm 1948 khi Bảo
Đại muốn thành lập chính phủ mới:

“Bảo Đại mời Nguyễn Văn Xuân. Nguyễn Văn Xuân nói tiếng Việt không
được nhưng hiểu và biết việc, nên được Bảo Đại mời làm thủ tướng chính
phủ lâm thời trung ương ba miền chứ không phải riêng một mình Nam
phần…. Ngày 24.4.1948, Nguyễn Văn Xuân trở về Sài Gòn để tổ chức
mộtđại hội quy tụ khoảng 40 đại biểu. Đại hội do ông Lê Văn Kim và tôi
(Trần Văn Đôn) tổ chức. Chính trong hội nghị này chúng tôi đề nghị thay lá
cờ vàng chữ Ly có từ chính phủ Trần Trọng Kim ra cờ vàng ba sọc đỏ tượng
trưng dòng máu dân của ba miền và lấy bài “Thanh niên hành khúc” của
Lưu Hữu Phước làm quốc ca vì lời ca hùng hồn”.

Ớ đoạn hồi ký khác ông Đôn nhắc lần nữa chi tiết “Nguyễn Văn Xuân có
tài nhưng nói tiếng Việt không được” và chính ông Xuân ngày 2.6.1948 đã
“ban hành một hiến chương lâm thời, gọi là Pháp quy tạm thời (Statut
Provisoire) trong đó ghi quốc kỳ, quốc ca và thành phần nội các. Quốc kỳ:
cờ màu vàng với ba sọc đỏ. Quốc ca: Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu
Phước”.

Vậy người ký “giấy khai sinh” cho lá cờ ba sọc mà chế độ ông Diệm, rồi
Thiệu, dùng làm “quốc kỳ” lại là người không nói được “tiếng nước tôi”!

Cũng trong sách đã dẫn, Đỗ Mậu viết tình cờ đọc “một tác phẩm của
Tiziano Terzani cho biết linh mục Thanh là tác giả đã vẽ nên lá cờ ba sọc
tượng trưng “ba miền ” –nhưng “cũng là ba ngôi (Trinity, Tam vị nhất thể,
Chúa cha, Chúa con và thánh thần) như “ông (linh mục Thanh) đã có lần
giải nghĩa cho tôi (Terzani) nghe thế”.’

Đỗ Mậu viết:“Như vậy, người vẽ ra lá cờ vàng ba sọc đỏ là Linh mục
dòng Tên: Trần Hữu Thanh, người chấp nhận là quốc trưởng Bảo Đại…
người ký pháp quy tạm thời cho thi hành treo quốc kỳ vàng ba sọc đỏ và bài
quốc ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1.6.1948 là thủ tướng dân Tây
Nguyễn Văn Xuân có vợ đầm, có đổng lý văn phòng phủ thủ tướng của mình
là ông Tây André Bauvais. Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay lá
cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn… Tôi chẳng thấy có chỗ nào là có tính

dân chủ, chỗ nào là biểu quyết cả (…) và cũng chẳng thấy chỗ nào là biểu
tượng quốc gia”.Ông cũng nêu tên ông Nguyễn Văn Tam, “hùm xám Cai
Lậy” tự nhận “tác quyền” cờ ba sọc đỏ để làm gì khi mà, như Đỗ Mậu viết:
“đối với quốc tế lá cờ đó đã là dĩ vãng, không còn nữa ”!

Như trên, Nguyễn Văn Xuân ký văn bản lưu hành luôn bài Tiêng gọi
thanh niên của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm “quốc ca” (cùng lúc với lệnh
dùng lá cờ ba sọc đỏ làm “quốc kỳ”). Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lúc còn sống
đã phản đối việc tiếm dụng nhạc phẩm của ông để làm “quốc ca” cho các
chế độ ở Sài Gòn trước 1975.

Ông Diệm xót ruột bàn với quốc hội đương thời mở cuộc thi sáng tác
quốc ca mới. Sàng đi lọc lại lên danh mục 50 bài dự thi. Sau chọn Việt Nam,
minh châu trời Đôngcủa nhạc sĩ Hùng Lân với các câu mở đầu: “Việt Nam
minh châu trời Đông. Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng. Non sông như gấm
hoa, uy linh một phương… ”. Đang hào hứng thì bị bác bỏ vì bài ca trên bị
đảng Đại Việt hớt trớt, lấy làm “đảng ca” của họ, nên thôi. Rốt cuộc không
đạt kết quả, chẳng có bài nào chọn thay Tiếng gọi thanh niên cả. Tới thời
Thiệu vẫn “quốc ca” đó. Chừng ra nước ngoài sau 1975, một số” người Việt
“đặt lại vấn đề quốc ca” dùng riêng cho họ và nảy sinh tranh luận trên báo
chí với nhiều bài của các tác giả Thái Chính Châu, Nông Anh Ngọc, Vũ
Trung Hiền, Phạm Kim Vinh… cả một số người có tên tuổi trước đây ở Sài
Gòn như bác sĩ Phan Quang Đán, tướng Nguyễn Chánh Thi, đại tá Phạm
Văn Liễu, cựu phát ngôn viên báo chí Vũ Trung Hiền, soạn giả Đỗ Đức
Thái… cũng tham gia. Họ mơ tưởng xa xăm đến ngày hồi sinh của chế độ
Sài Gòn cũ với “quốc ca” mới. Đỗ Mậu đăng lại “bản tin tham khảo” từ San
Francisco:

“Trong bầu không khí ấm cúng tại biệt thự Hương Tâm trên đại lộ
Hoàng Hôn (Sunset Boulevard) thành phố Cựu Kim Sơn, khoảng 50 người
gồm các giới văn nghệ sĩ, kỹ thuật gia, thương gia, cựu quân nhân các quân
binh chủng với đủ lớp tuổi đã họp mặt sinh hoạt văn hóa văn nghệ vào
chiều tối thứ bảy ngày 5.12.1987. Trong buổi sinh hoạt này một vấn đề đang
nóng bỏng (…) là vấn đề quốc ca đã được đem ra bàn luận (…) và chọn bài

“Việt Nam – Việt Nam” làm bài ca chính thức. Nhưng rồi sau đó không lâu
“kết quả là tình trạng vẫn như cũ, nghĩa là bản nhạc của Lưu Hữu Phước
vẫn được đứng dậy trang nghiêm hát trong những buổi họp của người Việt
(…). Ở nước ngoài thì quý vị tranh luận với nhau, rồi coinhau như kẻ thù,
còn ở trong nước Trần Bạch Đằng mỉa mai viết trong “Tiếng hát những
người đi tới” như sau:“Ta nhớ chính phủ “Nam kỳ quốc”Nguyễn Văn Thinh
chọn không xong bài “quốc ca” đành dùng bài phổ nhạc Chinh phụ ngâm
của Võ Văn Lúa. Các chế độ bù nhìn từ năm 1950, không còn con đường
nào khác, dùng bài Tiếng gọi thanh niên của tên “Việt minh”,tên“Việt
cộng” Lưu Hữu Phước làm “quốc ca”. (Sđd)

Cuộc tranh luận về “quốc ca” nổi đình đám đã cách đây hơn 12 năm. Hồi
ấy ông Nguyễn Chánh Thi ghi trong hồi ký Một trời tâm sự là ông ta còn
“hy vọng rất mong manh” vào người Mỹ để “phục quốc”. Nhưng sau ngày
Mỹ chính thức thiết lập quan hệ bình thường với Việt Nam thì bài Tiến
quân ca với quốc kỳ cờ đỏ sao vàng được chính người Mỹ nghiêm chào
trong lễ tiết ngoại giao. Những hy vọng mong manh như ông Thi chỉ còn là
giấc mơ hoa bên cầu biên giới…

47: Tổng thống một tuần Trần Văn Hương “liên hiệp” với hoàng hôn
Đó là một trong những cố gắng cuối cùng trước ngày tan rã. Chỉ 6 hôm
sau, ông Trần Văn Hương “đăng quang”, thay Thiệu làm tổng thống tô đậm
thêm hình ảnh tàn tạ của buổi hoàng hôn chế độ: “Lúc đó ông Hương đã 71
tuổi, không khí buổi lễ (trao quyền tổng thống) hôm ấy buồn tẻ, ông Hương
lọm khọm nói không rõ ràng mạch lạc… ”.
Khi các đội quân lấn chiếm của Thiệu triển khai các mũi đánh phá thì
Trần Văn Đôn đã từ Paris về đến Sài Gòn và trao ông Thiệu danh sách các
chính khách đối lập đang sống tại miền Nam, đề nghị liên hiệp “thành lập
nội các có những người từ hữu cho đến tả và trung lập để làm việc với
nhau” theo tình hình mới sau hiệp định. Thiệu dò xét:
– Ông Đôn, tôi thấy người đứng ra lập nội các đó được chính là trung
tướng!
Đôn chột dạ, bảo:

– Tôi đưa ra nguyên tắc, chứ không đưa ra cá nhân tôi.
Hồi năm 1967, lúc Đôn bị nhóm tướng trẻ hất ra khỏi quân đội, ông
“thoát hiểm” bằng cách ứng cử vào thượng viện Sài Gòn với sự hỗ trợ vận
động của một hiệp hội chiến sĩ do chính Đôn làm chủ tịch. Hiệp hội này
gồm các tướng tá tên tuổi, các nhân vật giao tiếp rộng của Sài Gòn như:
Thái Quang Hoàng (đệ nhất phó chủ tịch), Lê Quang Vinh (đệ nhị phó chủ
tịch), Lê Văn Nghiêm (tổng thư ký), Nguyễn Văn Chuân (phó tổng thư ký),
Huỳnh Hữu Hiền, Trần Tử Oai, Phan Đình Ngọc, Trịnh Văn Thanh, Mai
Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, Hồng Sơn Đông và nhiều cố vấn: Lâm Văn Tết,
Vông A Sáng, Nguyễn Khắc Tân, Trịnh Khánh Vàng, Nguyễn Gia Thu.
Để tạo thế “hai chân” vững chắc, Trần Văn Đôn gia nhập Hội liên trường
Pétrus Ký, Mỹ Tho, Cần Thơ, Chasseloup Laubat và có niên khóa được bầu
làm hội trưởng, với 2 phó hội: nha sĩ Ngô Quang Doãn và bác sĩ Trương
Ngọc Hơn, tổng thư ký: luật sư Nguyễn Văn Lộc, phó tổng thư ký: kỹ sư Vũ
Văn Nhung, cùng kỹ sư Ngô Văn Hoài, kỹ sư Bùi Quang Phương, kỹ sư Lê
Văn Danh, cố vấn: thạc sĩ Trần Quang Đệ, kỹ nghệ gia Trần Văn Văn, luật
sư Trần Văn Liêm, tham sự Võ Văn Để… Ông thừa nhận qua hồi ký, hai
hội trên ủng hộ ông trong vận động tranh cử quôc hội. Cộng mối quan hệ
tăng thêm sau nhiều năm làm nghị sĩ, dân biểu, Trần Văn Đôn có thể trở
thành nhân vật “khó tính” đốì với Thiệu khi “nội các có cả tả và hữu” mà
Đôn nói tới được hình thành. Ông Đôn viết là đã bàn với giáo sư Bùi Anh
Tuân, tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, bác sĩ Trần Văn Du, giáo sư Phạm Văn
Diêu về “giải pháp phi liên kết” và trình bày với ông Thiệu những thuận lợi
của giải pháp đó tại dinh Độc Lập ngày 31.1.1973 nhưng Thiệu ừ è, rồi bỏ
qua.
Lình xình, nghi kỵ, chần chừ mãi đến hơn 2 năm sau khi quân giải phóng
tiến sát Sài Gòn. Thiệu mới giao Trần Văn Đôn giữ chức Phó Thủ tướng
kiêm Tổng trưởng Quốc phòng ngày 14.4.1975 trong chính phủ do ông
Nguyễn Bá Cẩn làm Thủ tướng. Ông Đôn nhắc lại việc “thành lập một nội
các liên hiệp mà năm 1973 tôi đã từng đề nghị. Tôi vừa nói đến đó thì ông
Thiệu lắc đầu…

– Mà liên hiệp thế nào? Bây giờ liên hiệp mình ở thế yếu. Năm 1973
mình ở thế mạnh hơn (!) ”.

Không được thực hiện “giải pháp chính trị” do mình đề ra, Trần Văn
Đôn bay ra chiến trường. Bấy giờ áp lực của cuộc tổng tiến công làm vỡ
tuyến phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở mặt trận cực nam Trung bộ. Trần
Văn Đôn thuật:

Đêm 18.4, Phan Rang mất, ở đó có nhiều đơn vị chiến đấu giỏi, nhưng
có lẽ binh lính mất tinh thần và cấp chỉ huy bối rối. Tướng Nguyễn Vĩnh
Nghi bị Việt Cộng bắt. Tối hôm sau 19.4, Phan Thiết bị mất vì binh sĩ không
còn tinh thần chiến dấu, dù đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa bố trí binh sĩ
khắp các nơi có tính cách chiến lược, nhưng nghe tiếng đoàn xe tăng Việt
Cộng vào thành phố là lính bỏ súng chạy thoát thân. Trong lúcđi thăm tình
hình chiến sự ở các nơi thì nhiều sĩ quan than phiền với tôi:

– Những ông tướng tá làm mất các tỉnh Cao nguvên và miền Trung, bây
giờ nhởn nhơđi chơi ở Sài Gòn, có xe hộ tống đi ăn uống trong khi chúng
tôi ở đây nhận chịu hậu quả các việc làm của họ…

Trung tướng Lê Nguyên Khang điều tra và ngày 18.4 đã trao Thiệu danh
sách các tướng tá cần quản thúc vì làm mất miền Trung, gồm trung tướng
Lâm Quang Thi, trung tướng Phạm Quốc Thuần, thiếu tướng Phạm Văn
Phú, thiếu tướng Lâm Quang Thơ và chuẩn tướng không quân Nguyễn Đức
Khánh, cùng đại tá tỉnh trưởng thuộc các tỉnh và thành phố bị rơi vào tay
quân giải phóng như Quảng Tín, Đà Lạt, Nha Trang, Phan Rang…

Những tướng tá trên đều bị quản thúc, trừ Ngô Quang Trưởng, lý do
“đang phụ tá hành quân cho đại tướng Cao Văn Viên” theo lời Thiệu thông
báo. Nhưng ông Trưởng vẫn tự đến gia nhập vào “nhóm sĩ quan bỏ mất
miền Trung”.

Trong khi quân đội tan rã thì ông Đôn lấy làm “tiếc là ông thủ tướng
Nguyễn Bá Cẩn không phải là người của tình thế, cũng không phải là người
dốc tâm dốc sức để giải quyết cơn bệnh đến lúc ngặt nghèo của Việt Nam
Cộng hòa”. Ông Cẩn đứng đầu nội các có nhiều chuyên viên và chính trị
gia, được xem là “mạnh” nhiều lần hơn so với các nội các của Sài Gòn

trước đó với tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo (Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng
canh nông và kỹ nghệ), kỹ sư Dương Kích Nhưỡng (Phó thủ tướng đặc
trách cứu trợ và định cư); các quốc vụ khanh gồm: luật sư Lê Trọng Quát,
giáo sư Phạm Thái, ông Nguyễn Xuân Phong, luật sư Vương Văn Bắc
(Tổng trưởng ngoại giao), luật sư Ngô Khắc Tịnh (Tổng trưởng tư pháp),
ông Bửu Viên (Tổng trưởng nội vụ), tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Tổng
trưởng kế hoạch), giáo sư Trần Văn Mãi (Tổng trưởng xã hội), nghị sĩ Tôn
Thất Niệm (Tổng trưởng y tế), kỹ sư Nguyễn Xuân Đức (Tổng trưởng công
chánh giao thông), giáo sư Nguyễn Duy Xuân (Tổng trưởng văn hóa) và
nhiều tổng trưởng, thứ trưởng, cố vấn khác như thẩm phán Huỳnh Đức
Bửu, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, kỹ sư Đoàn Minh Quan, kỹ sư Nguyền
Hữu Tân, ông Nguyễn Quang Diệp, Lê Quang Trường, Nguyễn Long
Châu…

Đó là một trong những cố gắng cuối cùng trước ngày tan rã.
Chỉ 6 hôm sau, ông Trần Văn Hương “đăng quang”, thay Thiệu làm tổng
thống tô đậm thêm hình ảnh tàn tạ của buổi hoàng hôn chế độ: “Lúc đó ông
Hương đã 71 tuổi, không khí buổi lễ (trao quyền tổng thống) hôm ấy buồn
tẻ, ông Hương lọm khọm nói không rõ ràng mạch lạc…”.
48 – Đoạn cuối Sài Gòn qua hồi ký Nguyễn Cao Kỳ
Trước khi chợp mắt, Nguyễn Cao Kỳ còn thấy đại sứ Martin cũng xuống
tàu Blue – Ridge. Vậy là ông đại sứ không thể rời Sài Gòn và di tản hết
những người ghi trong danh sách đã hứa theo đường Tân Sơn Nhất vì sân
bay đã bị quân giải phóng khống chế. Từ ngoài biển, tất cả lắng nghe diễn
tiến ngày 30.4 qua làn sóng phát thanh…
Nguyễn Cao Kỳ phóng xe jeep đến dinh Độc Lập để gặp Trần Văn
Hương và viết trong Hồi ký “phải mất hơn một tiếng đồng hồ mới đến được
trung tâm”, cảnh hoảng loạn trên đường phố làm cản trở giao thông. Kỳ
viết: “Tôi thấy một anh lính xắn cao tay áo, lấy làm hãnh diện khoe hai
cánh tay ra với người bạn. Hai cánh tay của anh ta… đeo đầy đồng hồ lên
đến tận khuỷu tay! Vòng qua một góc phố, tôi phải ngưng xe lại một lát và
thấy một đứa trẻ ngồi trên xe ba gác, cổ đeo lủng lẳng một vật gì trông

giống cái máy ảnh. Song đáng để ý là nó còn có một thứ khác nữa: một
khẩu súng ngắn và một cây tiểu liên bên cạnh. Quanh tòa đại sứ Mỹ, những
người hôi của đang khiêng đi những tấm thảm, bồn tắm bằng sứ, trường kỷ
và cả những tủ đựng hồ sơ. Khắp nơi mùi hôi thối xông lên, mùi nước sông,
trộn lẫn với mùi cống rãnh lộ thiên không ai vét sạch, mùi cá khô, cả mùi
của những thùng rượu whisky bị vỡ…”.

Ngay khi tới dinh Độc Lập, Kỳ được đưa vào gặp Trần Văn Hương. “Ôi,
ông già Hương chân tình, người đã tặng tôi 200.000 đồng làm quà cưới vợ
(đủ để trang trải chi phí nặng nề của lễ cưới tại khách sạn Caravelle…).
Lúc này mắt ông ta đã kém đến nỗi gần như không thấy chữ nữa…” và Kỳ
“quyết gắng sức lần chót” bằng cách yêu cầu Hương bổ nhiệm chính Kỳ chỉ
huy quân đội. Ông Hương trả lời:

– Không thể được. Song tôi có thể để thiếu tướng làm phụ tá quân sự đặc
biệt cho tôi vào vài ngày nữa…

Nhưng lúc 5 giờ chiều hôm đó 28.4.1975, tại phòng họp dinh Độc Lập,
ông Trần Văn Hương trao quyền lại cho Dương Văn Minh thay làm tổng
thống – Phó tổng thống là ông Nguyễn Văn Huyền và thủ tướng là ông Vũ
Văn Mẫu. Trung tướng Vĩnh Lộc được chỉ định làm tổng tham mưu trưởng
(thay Cao Văn Viên). 11 giờ 30 trưa 29.4, bàn giao phủ thủ tướng, Trần Văn
Đôn thuật: “Ông Mầu đến đúng nghi lễ, đi bằng xe Mercedes dành cho thủ
tướng… Ông Mẫu nói chuyện với mấy ông tổng trưởng:

– Tôi vừa lên đài phát thanh tuyên bố, yêu cầu Mỹ phải rút khỏi Nam
Việt Nam trong vòng 24 giờ đồng hồ kể từ 5 giờ sáng nay.

Nghe ông Mẫu nói, tôi (Trần Văn Đôn) dùng điện thoại màu xanh lá cây
dành riêng cho thủ tướng và phó thủ tướng để liên lạc với tòa đại sứ Mỹ:

Chuyện gì xảy ra đó? Tôi vừa nghe ông tân thủ tưởng (Vũ Văn Mẫu)
yêu cầu DAO rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ?
Không phải riêng DAO mà tất cả những người Mỹ sẽ rút. Nếu ông
muốn đi thì lên Tòa đại sứ Mỹ trước 2 giờ trưa này.

Tôi chào mọi người và ra về lúc 12 giờ. ”

Đến 7 giờ 30 tối hôm đó (29.4), Trần Văn Đôn cùng đại tá Khấu lên
chuyến trực thăng bốc khỏi sân thượng tầng 9 của tòa nhà dùng làm cơ sở
CIA trên đường Gia Long và đáp xuống chiến hạm Hancock vào ban đêm.

Những người khác? Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm trong lúc vội
vã đã “bỏ quên’’ Đặng Văn Quang (đứng đầu cơ quan an ninh phủ tổng
thống). Quang đã gây oán với khá nhiều người nên khi bị kẹt lại Sài Gòn,
em út Nguyễn Cao Kỳ đòi bắn Quang:

– Quang hiện ở Bộ tổng tham mưu và người ta bảo là hắn ta tức giận
điên cuồng vì Thiệu đã hứa cho hắn đi theo nhưng rồi lại ra đi mà không
cho hắn biết. Thưa thiếu tướng (Kỳ), chúng tôi có thể bắt hắn đem hành
hình được không?…”

Kỳ bảo: “Hãy bắt hắn nhưng đừng hành hình”.
Số hên giúp Quang thoát khỏi vòng lùng bắt và ra được chiến hạm
Hancock ở đó có tướng Ngô Dzu và 2000 người di tản.
Sáng sớm 30.4. trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng, trung
tướng Trần Văn Trung. Tổng giám đốc Nha chiến tranh chính trị, đại tá
Trần Ngọc Huyến và một số sĩ quan khác lên đoàn xe rời Bộ Tổng tham
mưu đến công xưởng hải quân, dùng một chiếc tàu hư duy nhất còn để ở
xưởng vượt sông Sài Gòn. Đến cửa biển, tàu chỉ chạy một máy, bị hỏng hóc
ngừng hẳn. Nhờ máy truyền tin kêu cứu, đề đốc Chung Tấn Cang và phó đề
đốc Diệp Quang Thụy phái tàu tới vớt.
Nguyễn Cao Kỳ thì đã “đưa Mai và các con tôi đi Honolulu trên chiếc
máy bay quân sự cuối cùng cửa Mỹ cất cánh rời căn cứ không quân Tân
Sơn Nhất. Vợ tôi chỉ có 20 phút để xếp va-li sau bữa điểm tâm và tôi cũng
không có mặt để mà chia tay”.
Kỳ kể vậy và bảo trong tuyệt vọng ông bay đến bộ tổng tham mưu thấy
“khu nhà này trước kia tấp nập hàng nghìn sĩ quan và binh sĩ giờ đây vắng
ngắt… lúc bước xuống cầu thang tôi gặp tướng Ngô Quang Trưởng, tôi hỏi:
“Anh làm gì ở đây?”. Trưởng đáp:
– Tôi không biết phải làm gì nữa!
Gia đình Trưởng đã di tản từ nhiều ngày trước vì thế tôi bảo ông ta “vậy

thì hãy đi với tôi”.
Tập hợp 6, 7 phi công khác trên chiếc máy bay lên thẳng. Kỳ tự lái rời

Sài Gòn đáp xuống tàu sân bay Midway ngoài khơi. Đô đốc Harris đưa tất
cả sang tàu chỉ huy Blue-Ridge bằng trực thăng Mỹ:

“Khi 14 người chúng tôi, toàn là sĩ quan cao cấp, bước ra khỏi máy bay
thì một đại tá Mỹ của tàu Blue-Ridge mở miệng chào đón chúng tôi bằng
một tiếng quát lớn:”Tất cả các ông hãy lại đây!”. Ông ta dẫn chúng tôi đến
một cái bàn và nói “Các ông cảm phiền cho chúng tôi khám người”. Khám
được nửa chừng thì có người nói thầm gì đó, ông ta thấp giọng bảo tôi:
“Xin ông đi theo tôi”. Ông ta dẫn vào một buồng ngủ nhỏ, hỏi: “Ông từ đâu
tới? Sài Gòn phải không?”. Tôi gật đầu. Cuối cùng: “Ông là ông Kỳ?”. Tôi
lại gật đầu. Đêm ấy sau khi tôi gặp viên chỉ huy tàu, ông đại tá Mỹ đến xin
lỗi tôi. Tôi nói rằng tôi biết rõ là hiện nay ở mọi nơi đều có sự lẫn lộn và
ngay cả nghi ngờ. Nhưng không sao nhịn được, tôi lại nói thêm:

– Điều mà tôi không sao hiểu được là tại sao ông ta lại đối xử với tôi và
các sĩ quan đi cùng tôi như ông đã làm? Chúng tôi có thể đã thua, nhưng
không phải chỉ riêng chúng tôi thua – người Mỹ các ông cũng thua!”..

Sau những lời cay đắng đó, Kỳ xin vài viên thuốc ngủ. Viên sĩ quan quân
y Mỹ chỉ đưa đúng một viên, với một cốc nước, chờ ông uống xong mới
chịu quay đi.

Trước khi chợp mắt, Kỳ còn thấy đại sứ Martin cũng xuống tàu Blue –
Ridge. Vậy là ông đại sứ không thể rời Sài Gòn và di tản hết những người
ghi trong danh sách đã hứa theo đường Tân Sơn Nhất vì sân bay đã bị quân
giải phóng khống chế. Từ ngoài biển, tất cả lắng nghe diễn tiến ngày 30.4
qua làn sóng phát thanh…./. (Hết)

Nguồn: Nghiên cứu Lịch sử tổng hợp từ Một thế giới


Click to View FlipBook Version