“Huế và Đà Nẵng bị cổng sản chiếm đóng!”. Lần này với lối “chụp mũ
cối” to tướng đó, Kỳ đang manh tâm chuẩn bị nổ súng thẳng vào mặt dân
chúng miền Trung. Quả vậy, ngày 4.4.1966 Kỳ thử cho quân đổ bộ ra Đà
Nẵng bằng máy bay nhưng đồng bào phẫn nộ chắn bít các lối vào thành
phố. Nguyễn Hữu Có cấp tốc “bay ra” định bụng đàn áp bằng súng đạn,
nhưng không hiểu vì đâu lại “bay vào” Sài Gòn ngay. Kỳ phải nhờ Mỹ chở
quân lùi về, đóng tại Chu Lai. Viên tướng chỉ huy Nguyễn Văn Chuân
chuồn mất (về Sài Gòn), Kỳ và Thiệu đưa Tôn Thất Đính ra thay, ai dè đến
Huế, ông Đính tuyên bố chống Thiệu – Kỳ nảy lửa. Hồi ký Nguyễn Chánh
Thi ghi lại phát biểu của Tôn Thất Đính với dân Huế nguyên văn:
–Chúng ta phải xiết chặt hàng ngũ, phải cắt cổ những thằng Việt gian
bán nước, những tên thời cơ, lừa thầy phản bạn ở Sài Gòn. Chúng nó là lũ
tôi tớ ngoại bang, chỉ biết lừa gạt đồng bào và nói láo với quan thầy…
Nghe Tôn Thất Đính tuyên bố, ông Hồng Dũ Châu bảo nhỏ với ông Thi:
“Coi bộ không ổn rồi! Thái độ ông Đính thế này thì tất Sài Gòn không tha
chúng ta đâu!”
Ông Đính nhận lệnh triệu về Sài Gòn để “họp”. Biết hễ về là nguy, nên
ông Đính không thi hành. Nguyễn Chánh Thi viết: “Có lẽ bị ông Đính làm
cho điên đầu, Sài Gòn lại tìm cách thương lượng với tôi” và nhờ đại tá
Phạm Văn Liễu, trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra miền Trung đưa thư tay
của Kỳ. Thư mở đầu: “Anh Thi thân mến, sau một thời gian tĩnh dưỡng
ngoài đó, tôi tin rằng sức khỏe của anh chắc được dồi dào hơn. Hôm nay,
bệnh mũi của anh chắc được đỡ nhiều…”. Thi tức giận bảo viên tướng đưa
thư:
–Bệnh mũi? Tôi có đau mũi bao giờ đâu? Hắn tự bịa ra những chuyện
kỳ quái như thế mà nghe được à?
Không có “bệnh mũi” vẫn phải bệnh khác để “đi” Mỹ chữa! Thi vò nát
thư, liệng xuống đất. Đồng bào miền Trung đòi bắt Chiểu làm con tin.
Chiểu hốt hoảng lên máy bay chuồn về Sài Gòn. Đến nước đó, Kỳ bộc lộ
toàn vẹn tính hung hãn võ biển, đưa quân tập kích vào Đà Nẵng với sự yểm
trợ của máy bay và xe tăng phun lửa…
13- Cuộc họp bí mật trước giờ tập kích miền Trung
Đoàn thanh niên Đà Lạt tuyên thệ quyết tử năm 1966
Như đã nói trung tướng Tôn Thất Đính – người theo đạo Phật được cử
nắm trọng trách tại miền Trung với hy vọng đối thoại dễ dàng hơn cùng
các lãnh tụ Phật giáo để làm dịu tình hình. Nhưng đến Huế, tướng Đình đã
khuấy nóng “chảo lửa” này lên bằng những lời công kích và hạch tội Thiệu
– Kỳ – Có! Ông bỏ nhiệm sở, chống lại lệnh gọi về Sài Gòn và chạy thẳng
vào Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tỵ nạn chính trị.
Cay cú, Kỳ và Thiệu bèn chỉ định tướng Huỳnh Văn Cao là tín đồ Công
giáo ra Trung thay. Tới nơi, thấy đông đảo quân nhân và công chức ly khai
hoặc lãn công chống đối nhà cầm quyền Sài Gòn. Cao bất lực bỏ doanh trại
chạy luôn về Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tá túc y hệt
…tướng Đính!
Chỉ huy trưởng của Bộ tư lệnh Mỹ nói trên là thượng tướng Lewis
W.Walt, đồng thời làm cố vấn Quân đoàn I, sau này phản ứng gay gắt với
Nguyễn Cao Kỳ trong những giờ đầu Kỳ triển khai cuộc tập kích đàn áp
miền Trung. Ông ta không khỏi bất ngờ vì chỉ trong một thời gian ngắn mà
phải đón đến hai tư lệnh “tháo chạy tán loạn”: Tôn Thất Đính và Huỳnh
Văn Cao.
Tiếp đó miền Trung gần như “vô chính phủ”, theo lời các cơ quan
truyền thông đại chúng lúc bấy giờ gọi. Ngoài đường và trong các khu phố
xuất hiện lực lượng “quyết tử” chống chế độ Sài Gòn. Đã có nhiều tín hiệu
“bất an” đối với Thiệu – Kỳ trước khi xảy đến tình trạng đó, như cuộc
chiến tranh của Phật tử, lực lượng thanh niên sinh viên học sinh (SVHS)
yêu nước bùng nổ dữ dội tại Huế và Đà Nẵng ngày 24.3.1966. Hôm sau
25.3, tại Sài Gòn, sinh viên trường Hồng Lạc bãi khóa, xuống đường, vây
đài phát thanh với sự tham gia của đông đảo thanh niên từ ngã bảy kéo về
hỗ trợ.
Đúng một tuần sau, vào 31.3, hơn 10.000 người mở phiên xử và đốt
hình nộm của Thiệu – Kỳ ngay “pháp trường cát” do chính Kỳ dựng lên
trước chợ Bến Thành. Cơn sốt chính trị rõ ràng lan rộng vào các thành phố
phía Nam. Kỳ ghi nhận: “Bầu không khí căng thẳng ở Sài Gòn đã lên cao.
Người ta tổ chức biểu tình hằng ngày ở Sài Gòn và Chợ Lớn (…). Khoảng
2.000 người ngồi một cách kiên nhẫn trong 3 giờ đồng hồ trước Viện hóa
đạo để nghe thuyết pháp” và cổ xúy đấu tranh chẳng hạn.
Riêng phía thanh niên SVHS thời đó, dựa nhiều nguồn tư liệu và mới
đây nhất là cuốn Sơ thảo lịch sử phong trào học sinh – sinh viên Việt Nam
và Hội Sinh viên Việt Nam 1945 – 1998 do Nhà xuất bản Thanh Niên (Hà
Nội 1999) ấn hành thì: trước làn sóng đấu tranh của thanh niên và nhân
dân, Thiệu phải tuyên bố tình trạng chiến tranh và ra lệnh đóng cửa các
trường học vào ngày 4.4.1966.
Nhưng những ngày tiếp đó, các trường đại học Y khoa, Dược khoa, Văn
khoa, Khoa học vẫn thay nhau mở hội thảo chống đàn áp đồng bào miền
Trung. Nguy hiểm cho Thiệu – Kỳ là phong trào bắt đầu xuất hiện công
khai khẩu hiệu: US go home! (Mỹ hãy cút về nước!) ngay trước tòa đại sứ
Mỹ ở Sài Gòn trong cuộc biểu tình đông ngót 100.000 người ngày
1.5.1966. Khẩu hiệu kẻ bằng sơn trắng trên lòng đường chạy ngang trước
tòa đại sứ.
Cuối tháng đó, Tòa lãnh sự Mỹ ở Huế nằm trên đường Đống Đa bị
SVHS Huế đốt cháy rụi. Tại sân chùa Linh Sơn (Đà Lạt) vào thượng tuần
tháng 5.1966 đã mở “phiên tòa” xử Johnson và McNamara về tội tăng
cường chiến tranh Việt Nam cũng như ủng hộ Thiệu – Kỳ đàn áp Phật giáo
đồ và SVHS yêu nước; đốt hình nộm của “hai tội phạm chiến tranh” trên!
Xu thế chống Mỹ lan khắp Huế – Đà Nẵng – Sài Gòn – Đà Lạt…khiến
Hoa Thịnh Đốn lo ngại. Ngay trước khi điều đó bùng nổ, người Mỹ đã xót
ruột muốn Thiệu – Kỳ phải nhanh chóng “giải quyết vấn đề nội bộ” nếu
không sẽ “xét lại” thái độ của Mỹ về đường lối hiện hành. Nguyễn Cao Kỳ
điểm: “Từ mồng 9 đến 20.4, tại Nhà Trắng có 5 phiên họp được triệu tập
một cách khẩn trương vì cuộc khủng hoảng ở Nam Việt Nam và tại các
phiên họp này, các thành viên trong chính quyền Mỹ đã duyệt xét lại các
đường lối hành động mà Hoa Kỳ còn có thể áp dụng được”.
Đang bị phía Mỹ chăm chú quan sát và đang lúng túng vì “sự cố” do các
tướng Thi, Đính, Cao và thị trưởng Mẫn gây ra làm vướng tay chân, Thiệu
– Kỳ lại choáng váng trước tin tướng Nhuận, Tư lệnh Sư đoàn I bộ binh,
công khai đi theo phong trào tranh đấu, lôi cuốn binh lính dưới quyền cầm
súng gia nhập đội ngũ “quyết tử” miền Trung, khiến các cố vấn Mỹ “cảm
thấy nghẹn ngào vì bất thình lình họ bị lâm vào tình trạng phải cố vấn cho
những quân nhân quyết tâm muốn lật đổ chinh phủ mà người Hoa Kỳ đã
cam kết ủng hộ”.
Nguyễn Cao Kỳ viết tiếp: “Một sư đoàn bộ binh (của tướng Nhuận) đã
thực sự liên kết với những người Phật tử. Những lực lượng thuộc đặc khu
Quảng Đà (của đại tá Đàm Quang Yên) cũng vậy”. Ông ta lo ngại: “Rồi
đây họ sẽ tuyên bố vùng này (miền Trung) là một vùng tự trị”. Đài phát
thanh, các cơ sở của thị xã và tổng hành dinh quân đội ở Đà Nẵng bị lực
lượng tranh đấu chiếm giữ. Tình trạng cũng xảy ra cùng lúc ở nơi khác
như Huế. Đặc biệt là sự kết hợp giữa “lực lượng tranh đấu” với cán bộ
“Việt Cộng” trong hoạt động lật đổ chế độ Sài Gòn và đòi “Mỹ cút”, như
nhận định của Cyrus L.Sulzberger: “Từ hai ngả khác nhau, những người
Phật tử và Cộng sản đã gặp nhau tại ngã ba đường và bây giờ họ đã cùng
nhau đi chung lối”. Nguyễn Cao Kỳ dẫn lời Sulzberger gọi biến động của
Huế và Đà Nẵng là bệnh ung thư cần được “giải phẫu” gấp, nếu không “sẽ
sụp đổ”.
Lời báo động đó và sự thèm muốn được thể hiện quyền lực “trung
ương” của mình đẩy Kỳ đi nhanh đến quyết định dùng hung khí để “mổ
thịt” miền Trung. Nhằm giữ bí mật, Kỳ triệu tập các chỉ huy quân sự trung
thành họp lúc 3 giờ sáng ngày 14.5.1966 để phổ biến kế hoạch tập kích Đà
Nẵng.
Theo lời Kỳ, cuộc tập kích huy động lực lượng quân sự hỗn hợp được
phác thảo âm thầm và kín đáo bởi “một mình tôi” (!). Ông ta giao quyền
chỉ huy hành quân cho viên tướng Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài
Gòn. Những đơn vị chỉ định tham dự tập kích bay ra Đà Nẵng trong đêm
tối, lúc các lực lượng “quyết tử” đang còn ngủ. Yếu tố bất ngờ giúp mũi
tiên phong của quân nhảy dù và thủy quân lục chiến lọt vào nội thành
trước khi trời sáng. Người Mỹ ở các vị trí cố vấn kinh hoàng khi phát hiện
một lực lượng đặc biệt của “quân đội Sài Gòn đang tấn công quân đội Đà
Nẵng”. Tướng Lewis W.Walt “tỏ ra giận dữ trước cuộc tấn công trên vùng
lãnh thổ mà Walt tự cho là mình chịu trách nhiệm nhưng không được biết
trước”. Lúc đó, binh lính ly khai của Quân đoàn I đang hướng nòng pháo
đến căn cứ không quân Đà Nẵng chực nhả đạn về phía máy bay đang đáp
xuống…
14 – Nguyễn Ngọc Loan và Huỳnh Văn Cao trước cuộc đọ sức giữa
bàn thờ và xe bọc thép
Nguyễn Cao Kỳ viết : “Một số binh sĩ thuộc Quân đoàn I đi theo những
người Phật tử đã thực sự chĩa pháo của họ về phía căn cứ không quân Đà
Nẵng khi máy bay của chúng tôi đáp xuống và đã đe dọa cho nổ súng.”
Từ trên cao, máy bay phe Kỳ quần thấp nhiều vòng quanh căn cứ pháo
binh của quân đội ly khai để “thả xuống một thông điệp” đanh thép, đại ý
bảo rằng nếu dưới đất phát pháo, “không đoàn máy bay khu trục và ném
bom” sẽ hành động trả đũa bằng cách oanh kích san bằng căn cứ.
Xa xa, ngoài vòng đai sân bay, tiếng súng giao tranh nổ vang trên đường
phố Đà Nẵng vọng đến tận bãi biển Honolulu, đánh thức tướng
Westmoreland trong tuần nghỉ phép hiếm có. Ông được Washington báo
tin tướng Kỳ vừa xua lực lượng đặc nhiệm từ Sài Gòn ra Đà Nẵng tập kích.
Và lính nhảy dù, thủy quân lục chiến, có xe tăng yểm trợ đã tiến chiếm đài
phát thanh, tòa thị trưởng, sở chỉ huy quân đoàn và các địa điểm then chốt.
Trước diễn biến nóng bỏng đó, Westmoreland được lệnh ngưng ngay
đợt nghỉ phép với gia đình trước thời hạn. Bộ trưởng Quốc phòng
McNamara yêu cầu ông tức tốc về lại Sài Gòn vào ngày 20.5.1966, khi
cuộc tập kích đã qua giai đoạn mở đầu. Ông ghi chép nhiều sự việc trước
và sau khoảng thời gian ấy trong hồi ký xuất bản năm 1975 tại NewYork.
Trong đó có các chi tiết liên quan đến xung đột giữa Nguyễn Ngọc Loan,
Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia của chế độ Sài Gòn và Huỳnh Văn Cao,
Tư lệnh Quân đoàn I, quanh quyết định tấn công chùa chiền và đạp đổ “bàn
thờ Phật xuống đường”.
Westmoreland viết là vào lúc Huế, Đà Nẵng lâm vào tình trạng gần như
“vô chính phủ”, Huỳnh Văn Cao vẫn làm Tư lệnh Quân đoàn I về danh
nghĩa . Theo Westmoreland, thâm tâm Cao không muốn nhậm chức tại
vùng đất đang sôi sục ngoài Trung. Một lần Cao “chấp nhận” bay ra Huế
trên chiếc trực thăng cùng phụ tá cố vấn cao cấp Arch Hamblen, Cao cố
gắng thuyết phục một cách yếu ớt các sĩ quan Sư đoàn I và sinh viên học
sinh Huế lại là Phật tử. Gia đình họ theo Phật giáo lâu đời, cha mẹ anh chị
em và bà con họ đang tham gia đấu tranh chống Thiệu – Kỳ, đòi bầu cử
dân chủ, nên lời nói của Cao còn khoảng cách rất xa mới đến được “bàn
thờ Phật”. Cao và cố vấn Hamblen quay về Đà Nẵng. Westmoreland thuật :
“Sắp lên máy bay thì một đám đông khoảng 100 sinh viên và lính tráng
ùa tới. Chiếc trực thăng khởi động chực nhích khỏi mặt đất thì một sĩ quan
Nam VN cấp bậc trung úy rút khẩu súng cỡ 45 bắn hai phát vào cánh quạt
đằng đuôi máy bay. Lính Mỹ gác súng máy ở cửa máy bay, theo hiệu lệnh
của cố vấn Hamblen, liền nổ súng giết viên trung úy Nam VN. Mặc dù bị
hư hỏng, chiếc trực thăng vẫn được viên phi công cố lái vượt thoát lên rồi
tìm cách hạ xuống bên ngoài thành phố để chuyển những người đi trên
máy bay sang chiếc trực thăng hộ tống”.
Cao hiện rõ lo lắng trên chuyến bay về Đà Nẵng, có lẽ tái xanh mặt vì
chuyện vừa rồi, khiến Westmoreland ấn ngòi bút nhiếc: “Cao quá tồi!”. Về
Đà Nẵng, Nguyễn Ngọc Loan bấy giờ được Kỳ cử ra miền Trung chỉ huy
cảnh sát “chống nổi loạn” đã bất thần tự tung tự tác hạ lệnh tấn công các
chùa chiền mà Loan cho rằng nằm trong tay “bọn ly khai” có vũ trang. Các
đợt tấn công rất ác liệt do không quân đảm nhiệm mà Nguyễn Chánh Thi
lúc đó đang có mặt ngoài Trung ghi nhận là khó mà đếm hết một lượt số
“chùa chiền và nhà cửa bị trúng bom cháy rụi!”.
Quyết định Nguyễn Ngọc Loan khiến Cao ức lắm. Vì Cao là người
Công giáo, sợ rằng tấn công chùa sẽ khơi dậy lời đồn “đàn áp tôn giáo”.
Nên lúc đầu, Cao dè dặt, tránh né và từ chối ra lệnh tấn công đó. Thế mà
Loan dám làm. Cuộc xung đột của Cao và Loan dẫn đến cãi vã tay đôi tại
một địa điểm chỉ huy của Quân đoàn I. Hồi ký Westmoreland kể : “Cố vấn
Hamblen “đã nhìn qua cửa sổ thấy Loan đang chống nạnh tranh luận hùng
hổ với Cao trong khi các sĩ quan đi đi lại lại, một người khác đứng sau
Cao đang vung một khẩu súng lục gần đầu Cao (ý chừng sắp bắn),
Hamblen chạy vội lại …. Về sau Cao nhắc việc Hamblen cứu mình thoát
chết”.
Cao xin tỵ nạn chỗ tướng Walt, hàng ngày ẩn mặt trong văn phòng
Thompson, hầu như không làm gì ngoài cầu nguyện. Ông chỉ tin Chúa lòng
lành trên cao kia, còn dưới đất, Westmoreland viết: “Cao nói ông không tin
người Việt Nam nào, trừ vợ ông” (!!!).
Thế người Mỹ? Cao phó mặc cố vấn Hamblen thay mình mọi sự, quá là
hợp lý. Westmoreland: “Cứ để Cao ẩn náu trong sở chỉ huy của Mỹ, đồng
thời về danh nghĩa cứ để ông ta làm tư lệnh Quân đoàn I là có lợi vì nó
cho phép Arch Hamblen thực tế nắm quyền chỉ huy Quân đoàn I” (!). Khi
Cao lọt hẳn sau cánh lá chắn của sở chỉ huy Mỹ, Loan ở bên ngoài mặc
tình tiếp tục đánh phá chùa chiền , đàn áp Phật tử, sinh viên học sinh, thỏa
tính hung hãn. Loan là tay hiếu sát mà sau này người ta gớm mặt, khi Loan
tự tay giương súng bắn vào đầu tù binh trên đường phố Sài Gòn đầu xuân
Mậu Thân 1968. Còn dạo đó, theo Tiếng hát những người đi tới “Báo
Thanh Niên – Báo Tuổi Trẻ – Nhà Xuất Bản Trẻ 1993): “lần đầu tiên ngày
7.6.1966, đồng bào Phật tử Huế huy động nhà nhà đưa bàn thờ xuống
đường làm chướng ngại vật. Biện pháp này gây xúc động tâm lý trong
nhân dân, nhưng đối với bọn Nguyễn Ngọc Loan thì không ăn thua gì. Y ra
lệnh cho xe tăng …tới luôn!”.
Kết quả cuộc đọ sức giữa các bàn thờ bất động với xe bọc thép, dĩ nhiên
lư hương, tượng Phật phải ngã lăn lóc bên đường. Về phía Mỹ, Washington
đã chỉ thị cho tướng Walt phải giữ “thái độ trung lập” đối với hai phe “nội
chiến”. Nhưng thật khó giữ điềm tĩnh trong cảnh lửa bỏng và cuộc va
chạm đầu tiên giữa thủy quân lục chiến Mỹ với binh lính Nam Việt Nam
xảy ra đến bên bờ sông Hàn vào ngày 18.5.1966 khi khối chất nổ lớn được
cài dưới chân cầu với lời đe dọa sẽ kích hỏa để diệt một toán quân Mỹ sắp
ngang qua.
15 – Hai cuộc chạm trán của tướng Walt với tư lệnh hai phe “nội
chiến”
Thủ tướng Nam VN Nguyễn Cao Kỳ (trái) tham dự lễ tấn phong Thiếu
tướng Huỳnh Văn Cao (phải) là chỉ huy quân sự mới để trấn áp nổi loạn
tại Đà Nẵng, ngày 18.5.1966
Lẽ nào quân ly khai đóng bên kia cầu lại đi khiêu khích lính thủy đánh
bộ Mỹ gác bên này sông Hàn? Họ không dại gì làm như thế. Để tìm hiểu
nguyên do và làm dịu bớt “khối chất nổ”, tướng Walt quyết định đích thân
ra giữa cầu gặp tư lệnh quân ly khai, nói “lập trường trung lập” của Mỹ và
thuyết phục hãy gỡ bỏ chất nổ cài sẵn dưới chân cầu.
16 – Miền Trung: “con rắn khổng lồ” trong ác mộng của Nguyễn
Cao Kỳ
Tướng Westmoreland cùng tổng thống Mỹ Lyndon Johnson trong
chuyến viếng thăm Nam VN tháng 10.1966. Đón tiếp là trung tướng
Nguyễn Văn Thiệu và thủ tướng VNCH Nguyễn Cao Kỳ
Bầu trời yên tĩnh lại sau khi máy bay chiến đấu của phe Kỳ quay về căn
cứ và tướng Walt cũng lệnh đội phản lực của mình thôi bay. Họ ngưng
lườm nhau để cùng nhìn về một hướng: nơi cuộc khủng hoảng lan rộng
thành đợt đấu tranh chính trị kéo dài 100 ngày, từ tháng 3 đến quá tháng
6.1966
Hơn 3 triệu 30 vạn lượt người thuộc 4 thành phố lớn và 29 thị xã của
miền Nam xuống đường biểu tình, bãi khóa, bãi công, bãi thị liên tục.
Theo Địa chỉ văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (Trần Văn Giàu – Trần Bạch
Đằng – Nguyễn Công Bình chủ biên) Sài Gòn có 800.000 người tham gia;
toàn đợt bắt đầu từ việc phản đối Thiệu – Kỳ cách chức Nguyễn Chánh
Thi, phát triển đến chỗ đòi lật đổ chế độ Sài Gòn, đòi quân Mỹ rút khỏi
miền Nam Việt Nam! Trong 33 thành phố, thị xã đứng lên; sôi sục mở đầu
là Huế, Đà Nẵng. Dải đất ven biển miền Trung thành nỗi ám ảnh của Kỳ:
–Theo tôi bờ biển miền Trung giống như một con rắn.
Kỳ nói tiếp với Walt: “Tôi đã không muốn giết chết con rắn này, việc
mà tôi có thể làm được nếu tôi tấn công Huế…”
Huế, thành phố mà Westmoreland nhắc đến trong hồi ký A soldier
reports (NXB Trẻ đã in một phần dưới nhan đề Tường trình của một quân
nhân, trích bản dịch của Phòng khoa học Quân khu 9, không để tên người
dịch. Chúng tôi sử dụng trích dẫn theo bản đó), với câu trả lời không chút
do dự khi Tổng thống Johnson hỏi ông tại khách sạn Honolulu hồi đầu năm
1966 là “Nếu ông là cộng sản, sắp tới ông sẽ làm gì?”.
–Chiếm Huế?
Kế đó vào tháng 3.1966, lực lượng đặc biệt bị đánh bật khỏi thung lũng
A Shau mở một cửa cho “đối phương” phóng tầm nhìn tiến về Huế. Khủng
hoảng chính trị miền Trung ngăn cản việc xây dựng một sân bay gần Huế
nhằm mục đích quân sự trong đó có việc chuyển quân, tiếp tế, bảo vệ cố đô
khi bị tấn công. Ngưng xây vì “sân bay mới này đòi hỏi phải chuyển đi cả
nghìn ngôi mộ. Đại sứ Lodge đã yêu cầu tôi hủy bỏ dự án này vì sợ các
phần tử ly khai nắm lấy để kích động dư luận thêm nữa”.
Đại sứ Lodge thấy mục tiêu của dân chúng và sinh viên học sinh trong
đấu tranh không dừng lại chỗ “bênh vực tướng Thi” mà tiến xa tới khẩu
hiệu “chống Mỹ” nên ông thận trọng và yêu cầu Westmoreland như trên.
Westmoreland cũng biết điều đó. Ông ghi nhận chưa đầy 24 giờ sau khi
tướng Thi bị cách chức, hàng ngàn thanh niên học sinh Đà Nẵng xuống
đường biểu tình, đòi trả lại chức vụ cho Thi, thị trưởng Đà Nẵng đồng tình,
không ngăn cản, tuy nhiên:
“Điều đó (chỉ việc tướng Thi bị cách chức) không phải là nguyên nhân
mà chỉ là cái cớ mà sinh viên và Phật giáo viện ra để châm ngòi nổ cho sự
bất mãn của họ và tranh thủ cho sự ủng hộ đối với mục tiêu của họ là gạt
bỏ chính phủ quân sự ở Sài Gòn”.
Và thành phố Huế là “nơi sinh viên đã chiếm Đài phát thanh của chính
phủ, phát liên tục những lời tố cáo chính phủ. Các khẩu hiệu chống Mỹ
bằng tiếng Anh nhằm khiêu khích gây những vụ xung đột với lính Mỹ xuất
hiện trên các đường phố của hai thành phố (Huế và Đà Nẵng)”. Đòi Mỹ rút
khỏi miền Nam là nội dung “chạm nọc” Westmoreland. Nữ sinh Nguyễn
Thị Vân, 17 tuổi, học trường Bồ Đề, tự thiêu ngày 31.5.1966 tại Huế. Các
cuộc đàn áp dữ dội những ngày sau đó không dập tắt hẳn ngọn lửa đấu
tranh chuyền cháy về lâu dài nên Kỳ vẫn mơ “thấy rắn” mà Huế là “đầu
rắn” (chữ Kỳ dùng trong hồi ký). Chắc hẳn Kỳ nhập tâm về chuyến ra Huế
bị đại diện các đoàn thể nhân dân vạch tội đòi trị “cho biết tay”. Thêm
tướng ba sao Phạm Xuân Chiểu do Kỳ phái ra bị sinh viên Huế “bắt sống”
làm Kỳ nhức nhối.
Phạm Xuân Chiểu mang lon thiếu tướng từ thời Ngô Đình Diệm. Ông
được Trần Văn Đôn mời soạn thảo các kế hoạch hoạt động chính trị và văn
hóa hồi “tiền đảo chánh 1.11.1963” . Từ năm 1956, ông Diệm hỏi Trần
Văn Đôn: “Trong hàng ngũ tướng lãnh toàn là người Nam và người Trung.
Không có người Bắc. Ông thấy thế nào?”. Lúc đó Phạm Xuân Chiểu là đại
tá, người Bắc vào , ông Đôn đáp: “Tôi thấy người có khả năng nhất trong
số các đại tá là ông Phạm Xuân Chiểu”.
Sau ông Chiểu được phong tướng, làm tham mưu trưởng liên quân. Dầu
ông Diệm không tin dùng như các tướng khác, nhưng Phạm Xuân Chiểu
vẫn trụ được dưới triều Ngô qua những đợt thanh trừng lớn. Chừng đó
thôi, Nguyễn Cao Kỳ đã bái huynh rồi. Khi Kỳ làm thủ tướng, xảy ra biến
động ngoài Trung, phái ông Chiểu mang thư ra trao Nguyễn Chánh Thi,
luôn tiện dò xem tình hình của “rắn”.
Ai ngờ ra Huế chưa kịp thở, Chiểu bị đồng bào sinh viên học sinh bao
vây, buộc xuống xe hơi, lên xe xích lô về “nghỉ ngơi” ở trụ sở của lực
lượng sinh viên tranh đấu Huế” – bị quản thúc ở đó 3 ngày với sự canh giữ
của sinh viên đấu tranh – và “sau khi được thả về Sài Gòn, bị mất chức
Tổng thư ký hội đồng quân lực”. Nguyễn Cao Kỳ hẳn phải e dè với Huế
sau những vụ như vậy. Huống gì, tại nơi mà Nguyễn Cao Kỳ cho là đang cố
chứng minh “trái tim của phong trào tranh đấu” đã sớm tập hợp tiếng nói
trí thức qua nhóm Việt Nam Việt Nam: “Mỗi cái chết đều chứa đựng một
sự thật. Đã có hàng triệu người Việt Nam chết trong cuộc chiến tranh trên
đất này; nên cũng có hàng triệu sự thật cần được nói”.
Và sự thật làm Kỳ-Thiệu hoảng sợ là nhóm đã vạch rõ chính Mỹ và
những “đồng minh” đưa quân vào Việt Nam đã gây cảnh chết chóc và miền
Nam là “một xã hội bệnh hoạn lâu năm” cần được giải phẫu, cắt bỏ những
khối u như chế độ của Kỳ và Thiệu. Để át những tiếng nói tương tự, Kỳ ra
lệnh tiếp tục nổ súng. Ngày 20.5.1966, một số khu vực quanh Đà Nẵng tan
hoang…
17 – Miền Trung với cuộc dàn trận của 2.000 quân ly khai chống
Thiệu – Kỳ
Lính thủy đánh bộ Mỹ được sự yểm trợ của xe tăng trên chiến trường
miền Trung 1966
Cuộc tập kích Đà Nẵng bằng lực lượng quân sự hỗn hợp được phác thảo
bởi “một mình tôi” (!). Kỳ viết như vậy và nhấn mạnh: “Đây là một kế
hoạch được giữ bí mật cho đến độ mà ngay cả tướng Thiệu tôi cũng không
cho biết”.
Đối với Mỹ, Kỳ cân nhắc có nên tiết lộ hay không và mãi đến giờ G
người Mỹ vẫn chưa được thông báo gì cả. Lúc toán quân đầu tiên chạm
cửa ngõ Đà Nẵng vào một đêm giữa tháng 5.1966 đại sứ Lodge không có
mặt tại Việt Nam. Ông đang ở Mỹ. Đến khi nhiều vị trí then chốt mang
tính chất quyết định thành bại của cuộc tiến quân lọt vào tay phe Kỳ, đại
sứ Cabot Lodge mới quay lại Sài Gòn, nhằm 20.5.1966, tỏ lời hân hoan:
– Tôi lấy làm vui sướng biết được thủ tướng (Kỳ) đã lấy quyết định
hành quân ra miền Trung. Nếu thủ tướng không làm việc đó, có thể thủ
tướng đã khiến cho tôi thất vọng.
Vậy thì đại sứ Mỹ đã đặt “hy vọng” vào “thái độ cứng rắn” của Kỳ từ
trước khi Kỳ “làm việc đó”. Nghĩa là ông Lodge ủng hộ giải pháp vũ lực
nhằm dập tắt khủng hoảng ngoài Trung và nói ra rõ ràng để Kỳ yên tâm
tiếp tục cuộc hành quân “bí mật”. Về phía Westmoreland, tư lệnh trưởng
bộ chỉ huy viện trợ Mỹ tại Sài Gòn (MACV), đã “theo dõi chặt chẽ cuộc
khủng hoảng” và tại sao bỗng rời Việt Nam đi nghỉ mát với gia đình tại bãi
biển Honolulu chỉ một, hai ngày trước khi xảy ra cuộc tập kích?
Hồi ký Westmoreland cho biết ông “đã bàn bạc thường xuyên với
Thiệu” và nhiều người khác trong bộ máy cầm quyền của Sài Gòn. Tướng
Walt, các cố vấn Arch Hamblen, Samuel Thomson … đều được tham khảo
trực tiếp về diễn tiến của biến động ngoài Trung. Các nhân viên quân sự
Mỹ được lệnh không được lai vãng vào Huế và Đà Nẵng để đề phòng bất
trắc.
Westmoreland chỉ thị “cố vấn Mỹ và tất cả mọi phương tiện yểm trợ của
Mỹ phải rút ra khỏi bất cứ đơn vị nào của quân đội Nam Việt Nam không
còn tuân theo mệnh lệnh của chính phủ (Sài Gòn) mà lại đi giúp đỡ những
người ly khai”.
Ông ta gợi ý với đại sứ Lodge cần nêu rõ với tướng Kỳ sự lo ngại của
Mỹ về 228 người Mỹ ở vùng Quân đoàn I đã chết ngoài mặt trận trong
vòng 3 tuần lễ xảy ra xáo trộn tại nội thành: “Tôi cho môt sĩ quan tình báo
báo cáo với các nhà lãnh đạo Nam VN về mối đe dọa của Việt cộng và Bắc
Việt Nam đang tăng lên ở vùng Quân đoàn I đồng thời gợi ý chuyển tin này
cho thị trưởng Đà Nẵng, nhà sư Thích Trí Quang, để họ dùng ảnh hưởng
chấm dứt các cuộc biểu tình”.
Nhưng vô hiệu, phong trào bùng nổ dây chuyền, lan đến Sài Gòn,
Pleiku, Nha Trang, Đà Lạt, nguy hiểm hơn khi “một số chỉ huy quân đội
Nam Việt Nam ở địa phương bắt đầu phát súng đạn cho sinh viên. Điều rắc
rối hơn hết là hôm 2.4, 3.000 quân thuộc Sư đoàn I quân đội Nam Việt Nam
mặc quân phục diễu hành qua các đường phố ở Huế sau đội quân nhạc của
sư đoàn, hô các khẩu hiệu đòi lật đổ chính phủ”.
Hai ngày sau, vào 4.4 (hơn một tuần trước cuộc tập kích), Thiệu – Kỳ
đưa 3 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ra Đà Nẵng “biểu dương lực lượng”.
Giờ xuất phát, họ đã báo trước để Westmoreland biết là “quân Sài Gòn” sẽ
chiếm đóng căn cứ không quân. Nhưng không dễ gì, vì lực lượng ly khai ở
Đà Nẵng giương súng về phía họ, và bóng ma nội chiến treo lơ lửng trên
các cỗ pháo tầm xa. Những giờ phút căng thẳng của vụ việc được tướng
Westmoreland viết lại trong Tường trình của một quân nhân (A Solider
report). Chúng tôi tóm lược dưới đây dựa vào bản dịch của Phòng Khoa
học Quân khu 9.
Chỉ huy trưởng biệt khu Quảng Đà: Đại tá Đàm Quang Yêu với 4
khẩu “Đại tá ru êm”.
Trước ngày đưa quân ra Đà Nẵng bằng máy bay C-47 của Mỹ, Nguyễn
Cao Kỳ họp báo tại Sài Gòn. Ông ta nói quanh co, đôi lúc trả lời các nhà
báo bằng những câu không ăn khớp với điều được hỏi. Hồi ký Nguyễn
Chánh Thi ghi lại chất vấn của một ký giả ngoại quốc:
–Ông nói rằng Cộng sản đã chiếm Huế và Đà Nẵng, có thật thế không?
Kỳ đáp dường như chỉ để “Kỳ nghe” còn các ký giả bị “tịt ngòi”:
–Đó là chuyện của người Việt Nam.
Đã là chuyện “nhà” vậy nói ra “ngoài phố” làm gì?
Kỳ muốn “thuyết trình” về lý do tiến quân (đợt 1 vào 4.4) ra Đà Nẵng,
nhưng những lời công kích của ông được thuật lại trên đài phát thanh Sài
Gòn càng làm không khí miền Trung thêm oi bức. Phản ứng quyết liệt và
tức khắc của phe ly khai đối với lực lượng do Kỳ mới đưa tới Đà Nẵng là
tiến quân bao vây.
Theo Westmoreland, “một lực lượng ly khai của quân đội Nam Việt Nam
gồm khoảng 2.000 quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Đàm Quang Yêu” di
chuyển nhanh về hướng căn cứ không quân, nơi thủy quân lục chiến của
Kỳ mới từ Sài Gòn ra trú đóng. Một nửa số quân của đại tá Yêu “vượt khỏi
một chiếc cầu cách Đà Nẵng mấy dặm”, một nửa khác còn nằm bên kia
sông đang tiếp tục khởi động tiến theo.
Chính lúc đó, tướng Walt muốn cản họ lại để hai bên đừng nổ súng vào
nhau. Mặc dù trước đó Westmoreland lưu ý tướng Walt hãy giữ “thái độ
trung lập”, không can thiệp vào cuộc khủng hoảng, nhưng Walt thấy cần
“làm một cái gì đó” ngăn cản đổ máu sắp diễn ra trước mắt. Và đại đội
thủy quân lục chiến Mỹ đã tự lật nhào một chiến xe tải ngay trên lòng cầu
chặn đường tiến của quân ly khai còn lại. Họ muốn đại tá Yêu dừng chân
để cùng tướng Walt bàn bạc cách gì đó nhằm dàn xếp “hòa bình” với phe
Kỳ đang đóng trong sân bay.
Nhưng đại tá Yêu, người từng dọa bắt nhốt Nguyễn Cao Kỳ vào quân
lao Đà Nẵng, nhất quyết ra lệnh “chĩa 4 khẩu đại pháo vào căn cứ không
quân”. Để ngăn chặn lại, đại tá John Chaisson đã hối hả và “cố ý cho máy
bay lên thẳng của mình hạ trước mũi cỗ đại bác của đại tá Yêu, trong đó
có 2 khẩu 155mm”.
Chaisson là sĩ quan do tướng Walt phái đến gặp đại tá Đàm Quang Yêu,
với nhiệm vụ ngăn không để quân ly khai khai hỏa. Hai người, Chaisson và
Yêu, trò chuyện trong tiếng máy bay ném bom của Mỹ đang lượn trên đầu
họ. Để tăng thêm độ mặn của buổi đối thoại ngoài trời, phía Chaisson
“trung lập” dựng một hàng rào bảo vê “hòa bình” bằng dãy đại bác nằm
đối mặt với các nòng pháo của Yêu, ngấm ngầm tỏ thái độ: “Nếu Yêu ra
lệnh bắn vào sân bay, đại bác Mỹ sẽ “lên tiếng” can thiệp!”.
Hàng trăm lính Mỹ bận đồ rằn ri xanh được tung tới nằm phục tại các vị
trí quanh đó. Chaisson hỏi nếu đạn pháo rót thẳng vào căn cứ không quân
Đà Nẵng, liệu máy bay của Mỹ đậu trên phi đạo và cả người Mỹ trong khu
vực không bị “văng miểng” chứ? Chẳng ai dám đoan chắc. Chaisson nói:
– Chúng tôi không muốn thấy máy bay Mỹ và sinh mạng người Mỹ bị
đại bác của chính người Mỹ cấp cho người Việt Nam hủy diệt!
Vì thế người Mỹ không để yên cho các cỗ đại bác đang hướng nòng về
phía họ khai hỏa mà “sẽ nổ tung” dập tắt. Mặc Chaisson, đại tá Yêu không
tỏ chút nhượng bộ nào và “các pháo thủ của ông bắt đầu mở hòm đạn, đặt
ngòi nổ để chuẩn bị bắn”. Phía pháo binh Mỹ động đậy đáp trả. Chaisson
buông lời cảnh cáo cuối cùng vọt lên máy bay dạt ra xa.
18 – Bắt hai tướng Đính và Thi sau “cuộc cờ tàn”
Tướng Tôn Thất Đính (giữa) cùng tướng Nguyễn Chánh Thi bị điều về
Sài Gòn giam ở số 2 Tú Xương
Chiếc trực thăng chở đại tá John Chaisson (sau là thiếu tướng giám đốc
trung tâm hành quân chiến đấu thuộc Bộ tham mưu của tướng Walt ở Đà
Nẵng) bốc lên cao, ra khỏi cụm pháo sắp nhoáng lửa và bay nhanh về bên
kia sông.
Đứng bên này đại tá Đàm Quang Yêu nghĩ nếu ông khai hỏa, máy bay
Mỹ trong căn cứ không quân tất bị hư hại, quân Mỹ chết lây, chừng đó Mỹ
phản ứng bằng những trận mưa pháo mà Chaisson cảnh cáo là sẽ trút
xuống cùng lúc với bom hạng nặng. Nếu 2.000 quân ly khai dưới quyền
ông “quyết tử” vì trận huyết chiến với lực lượng Thiệu – Kỳ – Có từ Sài
Gòn đưa ra ắt họ sẵn lòng, nhưng đằng này do sự va chạm có thể tránh
được với Mỹ thì hãy kiềm chế đã. Đại tá Yêu bàn với sĩ quan tùy viên của
mình đình chỉ bắn phá sân bay. Cách đó không xa lắm, các pháo thủ Mỹ
chưa hay biết quyết định trên của đại tá Yêu nên họ vẫn đứng yên cạnh các
cỗ đại pháo chờ nã đạn đáp trả.
Dưới cái nắng gay gắt giữa trưa, tình trạng căng thẳng kéo dài hầu như
không thể chấm dứt được. Thần kinh mọi người đang căng thì lính thủy
đánh bộ Mỹ nhìn qua ống nhòm thấy đàm pháo thủ (quân ly khai) dừng lại,
không chuẩn bị bắn nữa mà tháo ngòi nổ và bỏ các quả đạn vào hòm. Cuối
cùng, cơn khủng hoảng trước mắt cũng qua đi. Westmoreland, viết tiếp là
sau đó mặc dầu bầu không khí ở Huế, Đà Nẵng vẫn ngấm ngầm chờ bộc
phát nhưng dẫu sao cũng yên tĩnh hơn những cuộc dàn quân rầm rộ và “tôi
đã lợi dụng dịp yên tĩnh này đáp máy bay sang Honolulu ngày 12.5” nghỉ
mát ở bãi biển với gia đình.
Nhưng ông phải trở lại Việt Nam sau đó mấy ngày, chứng kiến thảm
cảnh cuộc tập kích “giải phóng Đà Nẵng” (chữ Kỳ dùng) với những đợt
bắn phá, bỏ bom của không quân xuống chùa chiền, doanh trại quân ly
khai, bắn thẳng vào dân chúng đấu tranh và đàn áp triệt để lực lượng thanh
niên sinh viên học sinh yêu nước từ nơi ẩn náu.
Tại Sài Gòn, Đại hội sinh viên “Chống nội chiến miền Trung” tổ chức
ngày 24.5.1966. Sau buổi đại hội, sinh viên tràn xuống đường, xông đến
trụ sở Tổng hội sinh viên Sài Gòn (lúc bấy giờ đang do Thiệu – Kỳ khống
chế đưa người vào khuynh loát) buộc Tô Lai Chính từ chức. Lực lượng
sinh viên nắm quyền chi phối tổng hội từ đó.
Đứng lên cùng phong trào Huế và Đà Nẵng, từ 1.6 đến 4.6, Lực lượng
thanh niên sinh viên học sinh tranh thủ dân chủ bao vây và chiếm giữ Đài
phát thanh Đà Lạt. Bị tấn công lấy lại, trước khi rút lui, sinh viên học sinh
đã đốt cháy rụi đài phát thanh trên. Sau chiếc xe Mỹ đầu tiên bị sinh viên
đốt tại Viện hóa đạo Sài Gòn vào tuần đầu tháng 5.1966, thanh niên vùng
Bàn Cờ – Ngã Bảy (được xem là căn cứ địa đấu tranh) tỏa ra truy tìm xe
Mỹ từ ngày 16.6.1966 và đốt cháy 10 xe, giết chết công an Kiều Công Hai,
dựng chướng ngại vật, lập phòng tuyến làm chủ “khu tứ giác” Bàn Cờ suốt
mấy tuần lễ. Thiệu – Kỳ phải cho loan báo trên Đài phát thanh Sài Gòn dọa
sẽ kết án tử hình những ai lãnh đạo đấu tranh.
Vào đoạn cuối biến động đẫm máu ngoài Trung, Huỳnh Văn Cao từ nơi
ẩn náu an toàn đã ký lệnh tấn công chùa chiền, ra lời kêu gọi quân ly khai
buông súng. Cầm các bản in lời kêu gọi với chữ ký của Cao, phụ tá cố vấn
cao cấp Arch Hamblen và Thomson đi từ đồn bót này đến các đơn vị khác
thuyết phục. Đang lúc đó, xe tăng và phi pháo của Kỳ phái tới vẫn thi nhau
khạc đạn vào các ổ kháng cự. Đến ngày 23.5, Đà Nẵng tạm yên tĩnh trở lại.
Khi đó, Huế đang bị phong tỏa. Các đường vận chuyển thực phẩm và hàng
nhu yếu trên bộ trên biển bị Kỳ ra lệnh cắt đứt từ trước. Thay vì đổi gạo,
thuốc men, dầu thắp và nhiều vật dụng thiết yếu khác, Kỳ lại gửi quân
nhảy dù bất thần đến cố đô ngày 15.6, làm nốt phần việc “bình định miền
Trung”.
Điểm lại biến động miền Trung 1966 có 242 người vừa chết vừa bị
thương, chùa chiền, nhà cửa trúng bom cháy rụi khắp nơi. Theo tài liệu của
Trần Văn Đôn, “khoảng 6.000 sĩ quan, hạ sĩ quan và quân nhân đào ngũ,
một số người phải chạy lên chiến khu của Việt cộng”. Hồi ký Nguyễn
Chánh Thi viết não nùng:
Hoàn toàn bất lực, đứng bên lề nhưng tự thấy mình có trách nhiệm phần
nào, tôi lại lăn lưng ra dàn xếp (…). Tôi đi từng ổ kháng cự, năn nỉ đồng
báo, năn nỉ các tổ chức chống đối, hãy mở đường cho quân Sài Gòn tiến
vào, rồi muốn ra sao thì ra … Một lần nữa, nhờ táng tận lương tâm, đã
thẳng tay bắn giết đồng bào mà Thiệu – Kỳ đã “thắng”.
Tránh đẩy Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính vào thế chân tường,
Westmoreland đã gặp Thi ở Chu Lai và Walt gặp Đính trước ngày cuộc
biến động lắng xuống. Hai tướng Mỹ hứa sẽ can thiệp “sâu” để Thiệu và
Kỳ đối xử tử tế hai ông Thi và Đính. Đối với Huỳnh Văn Cao,
Westmoreland mỉa mai: “Cuối cùng tướng Cao trở vào Sài Gòn sống cùng
người vợ mà ông tin cậy” ngoài ra, ông không tin vào bất cứ người Việt
Nam nào cả như nói ở chương trước. Huỳnh Văn Cao đã viết thư cho tôi
(tướng Westmoreland) xin được trở thành dân Mỹ” (!!!). Cao vào Sài Gòn,
tướng Hoàng Xuân Lãm, chỉ huy sư đoàn 23 ra Đà Nẵng thay, làm tư lệnh
mới của Quân đoàn I. Tướng Lãm lệnh quân lính ra khỏi thành phố Huế và
Đà Nẵng để tiếp tục “ổn định tình hình” nội thành.
Dầu có sự hứa hẹn của Westmoreland và Walt, nhưng Tôn Thất Đính
vẫn bị bắt đưa về Sài Gòn. Với Nguyễn Chánh Thi, Thiệu – Kỳ có cách
“mời khéo”, cũng đưa về Sài Gòn. Cả hai ông, Đính và Thi bị giam tại số 2
đường Tú Xương, tuyệt đối không được liên lạc với bên ngoài vì bị coi là
“can phạm trọng tội”. Phạm Xuân Nhuận, tư lệnh sư đoàn I ly khai, cũng
bị bắt đưa ra Tòa án quân sự. Ngày 14.7.1966, quân cảnh áp giải tất cả đến
bộ Tổng tham mưu xử. Tại đó, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ,
Nguyễn Hữu Có, Linh Quang Viên, Vĩnh Lộc và các tướng vây cánh với
Thiệu – Kỳ đã ngồi sẵn trong phòng dành cho Hội đồng tướng lãnh xét xử
vụ án. Linh Quang Viên đọc cáo trạng xong. Thiệu hỏi:
–Tướng Thi, ông có gì trình bày không?
Nguyễn Chánh Thi đáp:
–Không.
19 – Diễn biến phiên tòa đặc biệt xử Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất
Đính
Nguyễn Văn Thiệu kết tội vòng vo, mục đích cuối là tước quyền và đẩy
tướng Thi đi ngoại quốc cho rảnh nợ
Không, không có gì để trình bày! Sau mấy lời đầy vẻ bất cần đó,
Nguyễn Chánh Thi thòng một câu móc Hội đồng quân lực: “Bây giờ loại
trừ được tôi, các anh đã có tất cả: an ninh quân đội, cảnh sát công an, Mỹ
và đô-la của Mỹ…”.
Vĩnh Lộc đứng phắt dậy, gay gắt ngắt lời Thi khi thấy bị can bắt đầu
muốn đả kích “quan tòa” và e ngại Thi lôi chuyện máy bay chở thuốc
phiện ở Pleiku ra xỉa xói, tố cáo, thì ê quá. Phiên xử tạm ngưng đến hai giờ
chiều. Vẫn Linh Quang Viên, thiếu tướng, tổng ủy viên an ninh trong nội
các chiến tranh của Kỳ, ngồi ghế “công tố viên” nổ trước:
Tôi xin đề nghị: trung tướng Thi đã được thưởng xứng đáng thì ông Thi
phải nhận lãnh một hình phạt tương xứng với những tội trạng do ông gây
ra!
Cuối lời, Viên có “vớt” xin “tỏ lượng khoan hồng dành cho trung tướng
Thi một ân huệ, làm sao để giữ cho khỏi bất mãn”.
Đến lượt Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách trung tướng chủ tịch hội đồng
kỷ luật quân đội Sài Gòn, nhận xét nhân thân và quá trình phạm tội, đưa ra
mức trừng phạt cụ thể đối với Nguyễn Chánh Thi.
Để bạn đọc thấy lối ăn nói “có ít xít ra nhiều” của ông Thiệu thời đó,
chúng tôi giữ nguyên văn lời kết tội mà ông ta nhằm vào Thi, được Hoàng
Đại Minh ghi lại trong loạt tài liệu đặc biệt đăng hàng chục kỳ báo trước
năm 1975 tại Sài Gòn.
Mở đầu:
–“Nói về ông Thi trong vụ âm mưu lật đổ chính quyền thì ông Thi không
có khả năng. Chính ông cũng nhìn nhận ông không có khả năng, nhưng
cũng nhìn nhận ông có tâm nếu như ai lật đổ được chính phủ cho ông ta
làm quốc trưởng, thủ tướng thì ông cũng làm. Vì mặc cảm tự cho ông là
anh hùng cách mạng. Khi về đây (ý nói lúc ông Thi làm đảo chính hụt Ngô
Đình Diệm, phải sống lưu vong 3 năm tại Nam Vang (Campuchia), và về
lại Sài Gòn sau ngày 1.11.1963 – MN), hồi ông Dương Văn Minh bắt ông
ra ngoài đó ông được uy tín với miền Trung. Ông ráng tạo uy tín đó đến
khi nào có chuyện gì ông sử dụng cái uy tín đó. Cũng vì ông như vậy người
ta lợi dụng ông. Thật sự ông cũng có tham vọng. Ông thường chỉ trích
chính phủ trung ương là ông Kỳ làm không nên thân, mấy cha trong này
nói cách mạng miệng chớ không làm gì hết!”.
Với cương vị “quốc trưởng” và về sau là “tổng thống”, Thiệu vẫn không
chữa được lối nói thiếu khúc chiết, vòng vo trước đám đông, từa tựa như
trên. Một dạo dân chúng miền Nam, nhất là thanh niên sinh viên học sinh
không nhịn được cười khi nghe Thiệu phát biểu trên truyền hình, đại loại
như: “Tại Mỹ nó làm áp lực tôi thế này thế nọ. Đó là lịch sử”(!). Ở đây,
tiếp tục hài tội Nguyễn chánh Thi, Thiệu thỉnh thoảng chen vài tiếng Tây,
tiếng Mỹ vào:
–“Thấy ông có khả năng ở miền Trung thôi chứ tham vọng của ông rất
lớn (?). Nói về Complicite (tiếp tay) với đối phương thì rất ít, sự đồng lõa
với đối phương trong vụ tranh đấu này cũng rất ít (…). Bởi vì trách nhiệm
của người chef militaire (sếp quân đội) cách chức ông rồi tự nhiên ông
không còn quyền hạn gì để mà bàn cãi. Nói về phản bội anh em một cách
trắng trợn hay là vi phạm cái danh dự quân đội, tôi thấy cái trường hợp
của ông không có cái hành động rõ rệt. Nếu như ông có chủ trương ông
làm thì ông khó ngụy trang công việc của ông. Nhưng mà khi nói về cái
nhân phẩm của ông đối với tướng lĩnh thì phải nhìn nhận rằng ông Thi thứ
nhất là con người dễ bị sách động, dễ bị nâng lên, thổi phồng lên, dễ khiến
ông làm một việc gì! Thành thử trong cái giai đoạn khó khăn của nước nhà
này nếu như mai mốt, trở đi trở lại như thế này mãi đó (ý nói cuộc biến
động miền Trung tái phát – MN), rủi ro có chuyện gì cho mình trong lúc
mà họ (những người lãnh đạo đấu tranh chống Thiệu – Kỳ – MN) khai thác
được ông Thi thì cũng là một mối lo ngại rất lớn. Do đó tôi thấy rằng làm
sao cho ông Thi đừng có tiếp xúc với ai hết. Ông đừng có cái cơ hội vật
chất nào (?), cái sự thuận tiện nào để ông có thể lợi dụng ở trong lãnh
thổ”.
“Ở trong lãnh thổ” ý nói ở trong nước. Đừng để ông Thi “có cơ hội vật
chất” có lẽ không để ông nắm thực quyền. Tóm lại ý Thiệu muốn nói: Thi
phải bị cách chức và đẩy ra nước ngoài. Đúng là Thiệu, Kỳ và cả 20 tướng
trong phiên tòa là những người nắm quyền cao nhất của Sài Gòn lúc bấy
giờ rất sợ sự có mặt của những “chuyên viên nổi dậy” và “sẵn sàng nổi
dậy” như Nguyễn Chánh Thi. Huống gì “sự có mặt” đó kèm theo lực lượng
ủng hộ, làm đảo chánh được chứ?
Trong các tội của Thi, Thiệu – Kỳ rất ớn “tội” nắm thực quyền. Mặc
dầu bị cách chức tại Sài Gòn trước ngày biến động miền Trung, nhưng
theo “tin tức riêng” của tướng Westmoreland, “trên thực tế Thi vẫn nắm
chặt quyền chỉ huy sư đoàn I quân đội Nam VN” và đã “tung ra những lời
tuyên bố gay gắt từ một nơi bí mật tại Huế”. Nơi bí mật mà Westmoreland
đề cập tới hẳn là chùa chiền, các trụ sở đấu tranh của sinh viên học sinh
hoặc doanh trại binh lính ly khai… Do vậy, Nguyễn Văn Thiệu cày lui cày
tới quanh biện pháp cô lập hẳn Nguyễn Chánh Thi. Nhân danh “chủ tịch
hội đồng kỷ luật” đồng thời “chủ tọa phiên tòa”, Thiệu đanh lại:
–Theo tội ông Thi thì phải phạt ông, phạt tối đa và quân kỷ nhưng mà
cái quan trọng là phải cô lập hẳn đừng cho ông nắm một cơ hội, đừng cho
ông có một phương tiện (…). Nếu như con người ông mà có cơ hội thuận
tiện, có phương tiện được thúc đẩy, hoặc được bơm lên, thì bấy giờ ông
làm super man (siêu nhân) ông cũng làm. Tóm lại biện pháp của tôi là phải
phạt quân kỷ tối đa. Quan trọng nhất là phải cô lập ông, đừng cho ông có
cơ hội tiếp xúc để cho mình qua các giai đoạn thật là “nguy hiểm (ý muốn
nói vượt qua hẳn biến động miền Trung để củng cố bộ máy cầm quyền giai
đoạn đó – MN). Theo tôi bây giờ thì cái ý định của tôi đưa ra cho các anh
em (Hội đồng quân lực Sài Gòn) thấy không cho ông đi ngoại quốc với tính
cách cá nhân của ông thì phải cô lập ông một chỗ nào xa lánh thời cuộc,
chính trị, phương tiện, đạo đức, thượng tọa v.v… Làm sao cho ông đừng
tiếp xúc với quân nhân, làm sao cho ông như người đi tu vậy!
Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Bảo Trị không đồng ý với Thiệu phạt ông Thi
“như người đi tu vậy”, tại sao?
20 – Sát phạt và sợ bị trả thù trước giờ tuyên án tướng Thi
Nghe Nguyễn Văn Thiệu vạch tội Nguyễn Chánh Thi lê thê luộm thuộm
quá, tổng ủy viên thông tin trong nội các của Nguyễn Cao Kỳ là thiếu
tướng Nguyễn Bảo Trị đứng dậy đỡ lời và “tém lại” cho gọn.
Ông Trị gióng tiếng cảnh giác Hội đồng kỷ luật do Thiệu làm chủ tịch
hãy thật công bằng, đừng dựa vào “lời khai một phía” của “thằng Hộ” nào
đó mà kết tội Thi, Thiệu ngắt lời :
Thằng Hộ (?) cũng là một source d’information (nguồn thông tin)…
Bây giờ anh em muốn décider (quyết định) liền hay là để mình đi lần lượt
mình làm comparaison (đối chiếu) sau, hay là mình cứ đưa ra một cái gần
như draft (phác thảo) trước?
Hỏi như vậy Thiệu làm rối chuyện lại và chẳng ai trả lời. Nguyễn Cao
Kỳ giả bộ không nghe câu Thiệu hỏi, đẩy mũi dùi thẳng vào Thi:
–Xin dùng danh từ ông Thi là cái ngòi mà cái người châm ngòi không
phải ông Thi. Ông Thi chỉ là cái ngòi trước sự xáo trộn và nhất là trong
cái vụ xáo trộn Thi chỉ là cái ngòi thuốc súng và cái người châm ngòi là
Trí Quang và tất cả phe nhóm chính trị đứng đàng sau.
Trí Quang mà Kỳ nói là “cái người châm ngòi” tức thượng tọa Thích
Trí Quang – lãnh đạo Phật tử đấu tranh chống Thiệu – Kỳ tại Đà Nẵng và
Huế. Kỳ viết trong hồi ký rằng sau biến động miền trung, Kỳ đã ra lệnh bắt
giữ thượng tọa Thích Trí Quang và đưa vào Sài Gòn “chữa bệnh”. Kỳ tiếp:
–Các quý vị còn nhớ, đại tướng Khánh hỏi rằng ông Thi ra nắm được
miền Trung không, cũng đã nhiều lần tôi đã nói với ông Khánh là phải cho
một số anh em ở trung ương (Sài Gòn) ra cạnh ông Thi (ở miền Trung) để
mà conseiller (khuyên can bớt) ông đó. Ông Thi chưa nắm được miền
Trung đâu trái lại chính miền Trung lại nắm ông Thi để làm cái paravent
(bình phong) mà che cho họ núp đàng sau… Trước ngày ông bị cách chức
(10.3.1964 tại Sài Gòn ) thì ông đã bị lợi dụng. Có người(?) đã tính đường
xa hai ba năm về sau là nó thúc đẩy “conseiller” (chỉ vẻ) để thổi phồng
lên hầu nó có một bộ mặt chính thức và ông Thi đã vô tình cũng như có
một phần nào có ý mắc vào cái mưu mẹo đó (…). Ông biết rằng ông không
thể nào đơn phương độc mã mà làm chuyện gì ghê gớm đâu. Thế nhưng mà
ngồi ở đó (tư lệnh quân đoàn I và vùng I chiến thuật, kiêm đại biểu chính
phủ tại trung nguyên Trung Phần) thằng nào tới nói “Oui” (Ừ! Được) ông
cũng “Oui”, mà nói “Non” (Không!) thì ông cũng “Non”!
Nói tới đó, Nguyễn Cao Kỳ hạ thấp dần cường độ khích bác để đưa đến
nhận xét có lợi một cách bất ngờ cho ông Thi khiến Thiệu chưng hửng:
–Ông Thi có những hành động nào tiếm quyền và dùng quân đội (ý nói
trực tiếp chỉ huy quân ly khai chiến đấu chống trả cuộc tập kích của Thiệu
– Kỳ – MN) trong vụ xáo trộn này không, thì không có một bằng cớ nào tỏ
ra ông Thi có cái việc tiếm quyền phản loạn. (Thật ra Nguyễn Cao Kỳ biết
rõ ông Thi thực chất nắm quyền điều động Sư đoàn I trong tầm tay và cổ
xúy binh lính ly khai như “tin riêng” của tướng Westmoreland nhận được).
Tất nhiên lúc tuyên bố thế này thế nọ cũng có, không thể nào tránh được.
Thêm nữa theo như témoignage (làm chứng) của thiếu tướng Lãm thì trong
những ngày cuối cùng (của cuộc biến động) ông Thi tỏ ra hiểu biết và hợp
tác (kêu gọi ngưng đánh nhau – MN). Tất nhiên yếu tố chính là ông đã
thấy sự tranh đấu đó không thể thắng được… Tôi đề nghị phạt trọng cấm
và đi an trí.
Mức hình phạt do Kỳ đề nghị làm nhiều thành viên của hội đồng kỷ luật
sửng sờ vì nó… “nhẹ hều”!
Chỉ trọng cấm, an trí!!!
Và rồi đây có thể phục hồi vai vế của Thi trong quân đội???!!! Một
luồng khí lạnh tanh thổi qua gáy các tướng lĩnh từng công khai mạt sát Thi
khi ông bị cách chức. Nhất là ngay phiên xử này, nhiều cặp mắt lạnh nhạt
hoặc lỡ lườm ngó Thi trước đó nay nghe Kỳ phát biểu đều phải chột dạ. Vì
sao? Vì sợ Thi trả thù nếu Thi không bị đẩy hẳn ra nước ngoài, hoặc bị bao
vây cô lập một chỗ “ như người tu”. Nóng ruột tỏ thái độ không đồng ý với
mức án của Kỳ quá nhẹ dành cho Thi, trung tướng tổng ủy viên quốc
phòng Nguyễn Hữu Có bật dậy mổ xẻ:
–Phải xét lại cho kỹ cái cá nhân con người đó (Nguyễn Chánh Thi) đối
với tương lai. Nếu mà mình vì cái cảm phục cho một ngày nào ông trở lại,
tôi nói thật với các anh em khó lắm chứ không phải dễ. Tôi đã thấy ông
qua bữa chỉnh lý (hôm 31.1.1964, Thi ủng hộ Khánh “lật” Dương Văn
Minh, bắt Đôn-Đính- Kim- Xuân- Vỹ, nhưng không lâu sau đó thất vọng vì
Nguyễn Khánh tham quyền và muốn làm “cha” dân! – MN), tôi đứng ngoài
cửa, cái cách ông (Thi) bắt ông Đôn (Trần Văn Đôn) cùng ông này ông kia
(các tướng khác) với cử chỉ căm thù. Huống chi mà mình đem ông đem ra
trước đây để xử ông, mình bắt ông, mình giam ông. Mà một ngày nào ông
có cái cơ hội thuận tiện mà ông còn trong quân đội không giải ngũ, còn cái
chức tước với cái chính phủ khác, ông cũng vẫn là một vị tướng, thì tôi e
rằng có hại cho quân đội. Tôi không nói là cá nhân ông Thiệu, ông Kỳ, ông
Có gì cả mà tôi nói quân đội thôi. Ông sẽ làm một cái représaille (báo thù)
ghê gớm lắm! Không phải riêng ông Thiệu, ông Kỳ, ông Có mà cái
représaille đó có thể đi lần xuống dưới nữa (…) Vì ông Thi là người hết
sức “ambitieux” (“có dã tâm”), hết sức dám làm! Liều lĩnh! Liều lĩnh!
Liều lĩnh! Và “ambitieux” (dã tâm) thì nguy hại vô cùng!
Nguyễn Hữu Có nói một hơi đầy vẻ lo sợ, thống thiết, khẩn cầu Kỳ gấp
gấp rút lại mức phạt “chẳng thấm thía gì” với Thi và tăng nó lên để bóp
chặt Thi, không cho Thi cơ hội nắm lấy “cán dao” báo thù. Có sợ cũng
phải, vì Có từng chĩa súng vào ngực buộc Thi không được lên máy bay về
Trung và nhiều lần “đụng” khác… Chẳng lẽ Kỳ không biết tính Thi “dữ
như cọp” sẵn sàng ăn miếng trả miếng đó sao? Kỳ quá rành! Nhưng vẫn đề
nghị giảm nhẹ cho Thi chẳng phải Kỳ yêu mến cảm phục gì Thi mà chẳng
qua vì… phía Mỹ có cảnh báo! Đại sứ Cabot Lodge gặp Kỳ trước khi mở
phiên tòa quân sự đặc biệt đó và đánh tiếng: “Phải dè dặt và kín đáo kẻo
dư luận báo chí bên Mỹ nó ồn ào rùm beng lên thì mang tiếng”. Kỳ đành
lập lại câu nói Cabot Lodge giữa tòa khiến hội đồng kỷ luật của Thiệu ngớ
người trước khuyến cáo mới!
PHẦN 4
Hình: Tướng Nguyễn Hữu Có và nhiều tướng khác sợ nếu không lột lon
tướng Thi sẽ bị trả thù..
21 – Nguyễn Hữu Có và Đặng Văn Quang, hai tướng quyết liệt chống
lại giải pháp “nửa chừng xuân”
Đại sứ Cabot Lodge khuyến cáo Nguyễn Cao Kỳ và hội đồng kỷ luật của
quân đội Sài Gòn hãy dè chừng dân chúng và báo chí Mỹ. Vì lần này đem
xét xử không chỉ một mình Nguyễn Chánh Thi mà cùng lúc những 4 tướng
nữa: Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận (chống đối, ly khai), Nguyễn Văn
Chuân, Huỳnh Văn Cao (đào tẩu, thiếu trách nhiệm…).
Nếu cả 5 tướng đều bị lột lon cách chức, đưa về vườn một lượt, sợ sẽ
gây chấn động trong quân đội. Tiếng đồn về mối bất hòa dai dẳng giữa các
tướng lĩnh Sài Gòn một lần nữa sẽ vang ra ngoài và thế nào báo chí Mỹ
cũng xoáy vào đàm luận.
Khi ấy, một số có xu hướng phản chiến trong báo giới Mỹ có thể nhân đó
công kích Tổng thống Johnson đang ủng hộ một chính phủ mất đoàn kết,
không đáng tin cậy như Thiệu – Kỳ và hâm nóng bầu khí chống chiến tranh
Việt Nam vốn sôi bỏng cách đó hơn nửa năm vào tháng 11.1965 với 25.000
người biểu tình kéo về đài tưởng niệm Washington tố cáo Johnson leo
thang chiến tranh.
Chiến tranh Việt Nam 1965-1966 đã khiến phải rút giảm các quỹ xã hội
Mỹ. Ngân sách giáo dục và chương trình cung cấp sữa cho học sinh bị cắt
đầu tiên. Mục sư Martin Luther King hỏi: “Chúng ta thích cuộc chiến
chống nghèo khó hay chúng ta thích chiến tranh ở Việt Nam?”. Một luật gia
Mỹ bảo: nền kinh tế không thể cùng lúc đưa lại cả súng và bơ! Vậy cần
chọn lựa một trong hai. Nhưng Tổng thống Johnson đã cột Mỹ vào hai cuộc
chiến tranh cùng một lúc: chiến tranh chống nghèo khó và chiến tranh Việt
Nam. Làn sóng phản đối dâng cao tràn ra Đại lộ số 5 New York diễu hành,
la ó, ném trứng, đốt thẻ quân dịch… Đó là những hình ảnh nhức đầu mà
Cabot Lodge không muốn chúng tiếp tục diễn ra từ “một đám cháy” tận
Việt Nam. Nên Lodge khuyên “dè dặt”, nhất là “đối với Nguyễn Chánh
Thi”. Để chiều đại sứ Cabot Lodge, Nguyễn Cao Kỳ muốn phạt quân kỷ cả
5 tướng vài tháng, rồi “tính bước nữa” chả muộn. Nhưng Nguyễn Hữu Có
nằng nặc đòi giải ngũ Thi lập tức, đưa về làm dân không dính gì tới quân
đội nữa:
– Cho nên ông (Thi) còn mang trung tướng mà không phải một người
dân thì ông còn sử dụng cấp bực trung tướng, khi mình ra biện pháp này
những người tay chân bộ hạ của ông, về chính trị cũng như trong quân đội,
vẫn còn nuôi hy vọng là ông Thi vẫn còn là một vị trung tướng. Cho nên ở
trong đó còn “réserver” (dành riêng) cho một cái “carte” (lá bài) để sau
này ông sử dụng lại. Họ còn ủng hộ, còn tiếp tục liên lạc với ông Thi thì
các ảnh hưởng đó gây khó khăn cho mình nữa! Theo ý kiến tôi hết sức
khách quan không vì cá nhân, vì tư thù nói rằng bây giờ tôi còn cầm quyền;
có quyền hạn ăn nói ở đây để buộc tội người ta, làm cho người ta sợ (sợ
không thôi cũng chưa đủ) mà trên thực tế nếu mình biết ông là người
“dangereux” (nguy hiểm) mà mình còn giữ cho ông lá bài, không giải ngũ
ông thì “half and half ” lấy biện pháp nửa chừng xuân, thì cái hậu quả đó
có nguy hại đến cho mình không? Có lợi không?
Câu hỏi báo động đỏ chưa tắt, ông Có ném cái “phao dỏm” chen mấy
tiếng Tây cố hữu:
– Mình muốn “réserver” (dành chỗ) cho ông còn trung tướng để
“sauver” (cứu) ông là người tư cách đối với anh em chúng mình, đối với
miền Trung. Nếu thấy ông Thi hoàn toàn không lỗi (mà chỉ) vì chỉ bị người
ta lợi dụng – (thì) tôi nói thật với anh em, tôi xin nhường chức vụ của tôi
cho ông Thi để “sauver” (cứu) ông, để cho ông có một “avenir” (tương lai)
đường hoàng (!!!), chớ đừng bắt bỏ tù ông (!!!). Nếu nói ông Thi là người
“capable” (có khả năng) và không tội gì, một người xứng đáng, có tư cách,
thì tôi sẵn sàng nhường chỗ tôi cho ông!
Cái “phao dỏm” muốn “cứu” ông Thi của Nguyễn Hữu Có vừa ném ra,
một trung tướng trong hội đồng quân lực đã tức tốc nhào lên phát pháo,
đâm lủng tòe loe, không cho “nổi” lên một chút gió:
– Xin phép anh em suy nghĩ lại cái nguy hiểm cho tương lai (….) ông Thi
sẽ trả thù từng đứa (…) tôi ơn ớn chuyện đó (…).
Còn cả một tràng dài bồi đắp cái “nấm mộ” tố khổ đã cao càng cao
thêm, trù dập chôn Thi chết đứng giữa phiên tòa. “Ngài trung tướng” có
công “bồi thêm” đòn chí tử kia là Đặng Văn Quang. Hồi ký Đỗ Mậu viết:
Quang là: “người con nuôi tinh thần của bà Ấm, chị ruột tổng thống
Diệm và là thân mẫu của giám mục Nguyễn Văn Thuận. Vợ Quang là em
ruột cựu Bộ trưởng Bộ Nội vụ Bùi Văn Lương thời Diệm (…). Quang cũng
là người điều động hệ thống buôn thuốc phiện lậu để chia lời với Thiệu như
Ngô Đình Nhu trước kia buôn thuốc phiện lậu để làm giàu mà Mac Coy đã
nói rõ trong The Politics of Heroine in Southeast Asia”.
Đặng Văn Quang tai tiếng vì tham nhũng thời còn làm Tư lệnh Quân
đoàn 4 đóng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thiệu đắc cử tổng thống năm
1967 dùng Quang làm phụ tá đặc biệt về quân sự, an ninh, tình báo. Ở chức
vụ sinh sát đó, Quang lấn tới kiểm soát luôn lực lượng đặc biệt để tung về
Kontum, Pleiku đột kích sang những vùng thuốc phiện nằm sâu tận hạ Lào
vơ vét. Đứng chân được ở miền cao, Quang quay dòm con đường thủy tiến
vào lãnh thổ Campuchia, chuyển ma túy từ Phnom Penh đến Niếc Lương
qua Tân Châu, Bình Thủy, về Sài Gòn bằng các giang thuyền của lực lượng
hải quân – với sự thỏa hiệp của Lâm Ngươn Thanh và của đô đốc Chung
Tấn Cang.
Chung Tấn Cang, bạn ông Thiệu, Tư lệnh Hải quân từng được Thiệu che
chở khỏi cơn bĩ cực một dạo, nên phục tùng Thiệu, nhập với Quang thành
“liên minh ma quỷ”. Mỉa mai là, khi Mỹ than phiền thuốc phiện lậu “chảy”
xiết vào Sài Gòn, Quang cử Chung Tấn Cang làm trưởng ban bài trừ ma túy
của hải quân Sài Gòn! Đặng Văn Quang nắm trong tay nguồn lợi khổng lồ
từ thuốc phiện. Trần Văn Đôn viết: “Đặng Văn Quang là người đứng sau
Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm và Cao Văn Viên về quyền uy, nhưng
đứng hàng đầu về tham nhũng” như chúng tôi sẽ nhắc đến ở ngay sau đoạn
mở đầu.
22 – Tại sao TT Marcos khuyên Nguyễn Cao Kỳ “để sẵn va-li đầu
giường ngủ” và câu chuyện về “Quế tướng công”?
Do khi làm Tư lệnh Sư đoàn 2 đóng trên miền núi phía Nam Đà Nẵng,
tướng Toàn đã thèm thuồng và phù phép vơ không nguồn lợi từ những rừng
quế đắt giá ở đó. Ông ta sai linh lấy trộm cả “núi” bán chợ đen. Quế được
chở lén lút bằng xe nhà binh xuống thị trong những đêm “hành quân ma”.
Việc vỡ lỡ thì Toàn đã no bụng.
Nguyễn Cao Kỳ viết: “ông ta (tướng Toàn) đã tạo được một tài sản lớn
nhờ đánh cắp loại cây gia vị rất quý giá này”. Theo Đỗ Mậu, tướng Toàn là
người có công với Thiệu Kỳ vì “từng chỉ huy thiết giáp đàn áp Phật tử
trong biến cố 1966”. Có lẽ nhờ vậy, Toàn được Kỳ làm ngơ vụ đó, nhưng
dân làng báo đương thời chơi ác, phong Toàn cái danh bất hư truyền: “Quế
tướng công” từ đó. Mãi sau Toàn vẫn phây phây bon tới chức Tư lệnh quân
đoàn III Vùng III chiến thuật, nơi đóng quân và hoạt động của 3 sư đoàn
tinh nhuệ, 7 lữ đoàn biệt kích, gần 700 xe bọc thép và hàng trăm máy bay,
bao gồm cả “thủ đô” Sài Gòn trong tầm phòng thủ!
Nắm trong tay lực lượng quân sự lớn, Toàn với cấp bậc trung tướng nằm
trong Hội đồng An ninh quốc gia của Thiệu bên cạnh những tay tham nhũng
khét tiếng như phụ tá quân sự Đặng Văn Quang, Tổng giám đốc Công an
Nguyễn Khắc Bình…
Nay, hắc danh “Quế tướng công” vẫn thấy nhắc đến trong các sách báo
của người Việt xuất bản ở nước ngoài!
Lúc Toàn biết “ăn” quế, Kỳ mới lên làm thủ tướng, chưa mảy may kinh
nghiệm việc “nước”. Ngay chuyện nhậm chức đứng đầu chính phủ là “quốc
gia đại sự” mà Kỳ phải chạy về hỏi vợ có nên nhận không rồi mới làm.
Nghe tưởng đùa, nhưng thật 100%. Kỳ thuật lại, hôm hội đồng tướng lĩnh
chỉ định Kỳ làm “thủ tướng”, ông ta dùng dằng một hồi rồi đưa thêm điều
kiện vào cuối phiên họp:
“- Tôi phải xin phép vợ tôi đã!
Phản ứng của vợ tôi là “cấm không cho”! Lúc ấy chúng tôi (Kỳ và Tuyết
Mai) là cặp vợ chồng trẻ, chúng tôi không muốn bận bịu bởi chuyện chính
trị. Tuy nhiên sau khi nghe giải thích, vợ tôi đã hiểu và đồng ý với việc tôi
quyết định đứng ra thành lập chính phủ. Ngày hôm sau tôi trở lại phòng
họp của hội đồng quân lực để xác nhận quyết định này!”.
Việc “nước” việc “nhà” của “tướng trẻ” cứ lẫn vào nhau như quyền và
lợi của họ. Mới nắm quyền, Kỳ lúng túng nhờ cố vấn Bùi Diễm lo gánh vác
nhưng đâu xuể. Trần Văn Đôn viết: “Nguyễn Cao Kỳ ưa chơi đá gà, đánh
mạt chược, chuyện quốc gia lơ là nên tham nhũng càng lúc càng trầm
trọng. Những tên tham nhũng buôn bán gạo chợ đen, đầu cơ tích trữ, những
tay thầu lớn, đều là tay chân thân tín, bà con với những người đang cầm
quyền lãnh đạo lúc bấy giờ”.
Càng về sau, cái thế “gia đình ta” cùng làm cùng ăn càng rõ tợn. Như
Tổng trưởng Nội vụ Trần Thiện Khiêm (sau cùng là thủ tướng, 1969) đưa
cả nhà vào cuộc. Em ruột Khiêm là Trần Thiện Khởi nắm quyền kiểm tra
xuất nhập khẩu tại sân bay Tân Sơn Nhất với mối lợi béo bở nhờ việc che
chở các đầu mối buôn lậu vàng và thuốc phiện. Người em nữa là trung tá
Trần Thiện Phương làm Giám đốc Cảng Sài Gòn. Một người nắm quyền lên
trời, một người vùng vẫy dưới nước, toàn ở vị trí có nhiều cơ hội làm ăn
lớn. Thêm em bên vợ là tướng Trần Thanh Phong làm giám đốc tổng nha
cảnh sát; em rể là Đỗ Kiến Nhiễu làm Đô trưởng Sài Gòn; thế mạnh như
cọp mọc sừng!
Ở những vị thế cao ngất cỡ Kỳ, chỉ ngồi “nhà” cũng “thường xuyên được
các công ty nước ngoài đến thăm dò ý kiến”. Một công ty Nhật bắn tiếng
nếu Kỳ đồng ý “cho phép thành lập xí nghiệp ráp xe hơi” họ sẽ biếu Kỳ “1
triệu đô-la tiền mặt và 300 chiếc xe hơi để tặng bè bạn” như chính Kỳ kể về
thời mới nắm quyền thủ tướng. Với cương vị đó, tại hội nghị lãnh đạo
chính phủ các nước Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Hàn Quốc, Thái Lan nhóm họp
tại thủ đô Manila vào cuối năm 1966, Kỳ gặp Tổng thống Marcos của
Philippines và Marcos kéo ông ra riêng để khuyên:
– Anh nên nghĩ đến nguy cơ của một cuộc đảo chính để lo trước cho
tương lai của mình!
Lo cách nào? Kỳ viết: “Có lẽ tất cả các tổng thống tại các nước không
ổn định đã tìm cách làm ra tiền cho riêng họ để đề phòng khi bị mất chức”.
Marcos nói về mình song hàm ý mách nước để Kỳ làm theo:
– Tôi luôn luôn để sẵn hai va-li bên giường ngủ của tôi.
Chỉ hai va-li? Thua “tông tông” Thiệu! Kỳ viết: “Người ta nói là Thiệu
đã mang theo những 5 va-li chứa đầy đô-la” chạy ra nước ngoài cùng “tẩu
tướng” Trần Thiện Khiêm vào cuối tháng 4.1975 (chưa kể vàng tấn chuyển
ra Tân Sơn Nhất).
Dưới Thiệu và Kỳ, các tư lệnh cùng, tỉnh trưởng, quận trưởng đều có
1.001 cách tham nhũng, vòi hối lộ. Ăn cắp thì có hệ thống “quân giai” –
như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967.
Ngoài tủ lạnh, ti vi, xe gắn máy…súng cũng được bán với giá 25 đến 30 đô-
la một khẩu. Vài tay liều mạng đánh cắp lựu đạn rao bán và bị theo dõi
còng tay ở chợ Qui Nhơn. Nguyễn Cao Kỳ viết:
“Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc
đó cũng có thể dàn xếp được!”. Mặt hàng này đặc biệt hấp dẫn đối với
mafia châu Á cùng những đội quân thuốc phiện ở vùng “Tam giác vàng”!
Chúng được đưa ra khỏi các kho vũ khí bởi các VIP KK.
Trung tướng Vĩnh Lộc hối lộ cho ai?
Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp: “Nguyên tư lệnh các lực lượng
Nam VN ở đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và
24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị” và sớm tiêu thụ chúng sạch sành
sanh. Tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết “Việt cộng” đã sở hữu phần
lớn số đó! Không có điều kiện vẫy vùng, dậy sóng như các VIP KK nhưng
các sĩ quan và quan chức địa phương cũng rất ấm túi nhờ các món tiền lo
lót để được miễn dịch (khỏi đi lính) chẳng hạn. Việc mua quan bán chức có
giá ấn định theo từng cấp, từng vùng, thậm chí từng quận. Ví dụ ở Sài Gòn,
quận 5 sáng giá. Kỳ kể hồi nhóm tướng trẻ mới nổi, các người bạn lái máy
bay của Kỳ nói đùa:
– Này Kỳ, nếu sau này có lúc nào đó anh lên làm thù tướng và muốn tìm
việc cho bạn bè cũ thì xin anh đừng băn khoăn nghĩ đến chuyện bố trí
chúng tôi vào một chức bộ trưởng nào trong nội các của anh cả! Mà anh
chỉ cần cho một người trong chúng tôi làm trường ty cảnh sát quận 5 là
đủ!.
Muốn làm quận trưởng ở đó phải hối lộ đúng chỗ 15 triệu đồng nhưng
người ta yên chí chồng tiền vì sẽ thu gấp ba lần số bỏ ra chỉ sau 2 năm tại
chức do nhiều nguồn thu nhập như “hợp tác” làm ăn, hiếu hỷ “vượt mức”
v.v…Riêng khoản chạy chọt giấy tờ miễn dịch đưa tới hàng năm một món
khá to rồi. Vì Chợ Lớn với 90% dân Hoa kiều thời đó không ai muốn bị đẩy
ra chiến trường bom đạn, chết chóc nên “hầu hết những người cha trong gia
đình đều cố trả những món tiền hối lộ thật lớn để cho con của họ được miễn
dịch”.
Giấy miễn dịch được những người có thẩm quyền cấp phát dưới sự
mách nước lắm khi từ các …bà vợ của họ. Một đoạn hồi ký khá hóm hỉnh
viết:
“Số tiền 100.000 đồng mà các bà vợ nhận được mỗi khi họ (bảo chồng
mình) giúp cho con của bè bạn được khỏi bị gọi đi lính – đã trở thành một
món tiền phổ biến đến mức các bà đánh xì-phé trong các canh bạc lớn mỗi
lần đi tiền thêm đã hô:
– Tôi tố thêm một tân binh quân dịch!”.
“Một tân binh” nghĩa là đặt thêm 100.000 đồng nữa (theo Địa chí Văn
hóa thành phố Hồ Chí Minh, 1 đô-la Mỹ ăn 118 đồng tiền Sài Gòn vào giữa
năm 1965-1966). Ngoài giấy miễn dịch, các loại giấy khác để hoàn tất thủ
tục xuất ngoại, hoặc môn bài, bằng cấp…đều cần nạp lễ bằng tiền, hoặc
bánh trung thu nhân hột xoàn. Dân hối lộ quan chức và các tướng tá là sự
thường, tướng tá hối lộ dân có không? Có. Chắc bạn đọc còn nhớ chuyện
trung tướng Vĩnh Lộc (người kết án Nguyễn Chánh Thi rất gay gắt) dan díu
với ca sĩ Minh H. bị dư luận “pha đèn”. “Rét” quá, Vĩnh Lộc sai người khệ
nệ ôm một bó bạc bọc giấy hoa, khiêng dàn máy Akai loại “đời mới” thời
đó, thêm hai chiếc đồng hồ Seiko sáng chói khép nép đến làm lễ ra mắt
một…nhà báo. Mục đích xin đừng viết về “mối tình nghệ sĩ” của ông trung
tướng nữa.
Nhưng trung tướng hoàng gia đã “lầm địa chỉ”.
23 – Trung tướng Nguyễn Chánh Thi bị xử 60 ngày biệt cấm tại …
Mỹ!
Trung tướng Nguyễn Chánh Thi (ngồi giữa) – ảnh chụp năm 1964
Người mà ông Vĩnh Lộc “tặng không” dàn máy âm thanh, đồng hồ, bạc
bó là một ký giả có vai vế ở báo Quật Cường. Tờ đó do Hoàng Đức Nhã và
các cán sự thông tin báo chí của ông Thiệu lập ra với sự thường xuyên hỗ
trợ của Tổng Giám đốc Cảnh sát quốc gia kiêm Đặc ủy trưởng tình báo
trung ương Nguyễn Khắc Bình
Sự “phối hợp nghệ thuật” giữa họ đề ra ban biên tập sẵn sàng “quật” đối
lập, trong đó có một số cây bút quân đội kéo từ “Cây đèn cầy” về. “Cây đèn
cầy” tức vùng 1 chiến thuật. Con số “1” đính nơi áo giống hình cây đèn cầy
thắp lên giữa vùng hỏa tuyến, xui lắm! Binh nhì đưa ra tác chiến ở đó dễ
thành “cố binh nhất” vĩnh viễn. Đã bị đẩy trú quân vùng 1 mà được chuyển
về Sài Gòn coi bằng thoát miền tử địa, khỏi ăn cháo lú. Nhưng bù lại, các
cây bút hưởng “ân huệ” đó cần quên mình, viết theo chỉ thị đưa ra từ phủ
đầu rồng.
Dạo đó có tin Quật Cường chuẩn bị “quật” chuyện tình vụng trộm của
mình lên mặt báo, trung tướng Vĩnh Lộc lo lắm. Tuy là tờ báo hẻo lánh, ít
bạn đọc so với các tờ khác trong làng báo Sài Gòn, nhưng tướng Lộc sợ các
tờ khác xía vô “nổ dây chuyền” phiền phức.
Cũng thời điểm đó, ký giả “có vai vế” mà tướng Lộc muốn nhờ đỡ đang
bị “hạ tầng công tác” vì việc gì không rõ và em rể của nhà thơ Nguyên Sa
Trần Bích Lan (người họ Trịnh) được đưa về thay thế. Không biết việc thay
đổi về nhân sự trên, ông Lộc cứ truyền lễ lạc mang tới. Ký giả kia bảo mình
không có quyền hạn chi. Nhưng phía ông trung tướng tưởng quà cáp còn ít
cứ nài nỉ “xin nhận cho”…Việc cũng qua, trung tướng Vĩnh Lộc băng băng
lên tới Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn nhưng chỉ tại chức có …1
ngày, vào 29.4.1975 theo quyết định muộn màng của đại tướng Dương Văn
Minh, ông Vĩnh Lộc được các tướng tá viết hồi ký nhắc đến là sĩ quan “có
học vấn cao” (Đỗ Mậu), thuộc hàng “tướng lĩnh thâm niên nhất” (Trần Văn
Đôn). Còn Nguyễn Chánh Thi ghép ông với các tướng tham nhũng cạnh
nhau, gọi bằng “chúng nó”.
Và phiên tòa của “chúng nó” như chữ ông Thi gọi, tiếp tục cuối chiều đó
bằng phát biểu của Nguyễn Cao Kỳ sau khi nghe Nguyễn Hữu Có và Đặng
Văn Quang chống lại hướng xử “nửa chừng xuân”:
“Tôi quên không nói rõ là cá tính của ông Thi thù hằn ghê lắm. Phải
mường tượng ngày hôm nay hội đồng kỷ luật từng này người mà phạt ông
60 ngày trọng cấm, ngày nào ông ngồi ông xét xử lại, ông kể lại từng tên
một này ra, không xót một tên nào! (…) Tôi xin kể anh em nghe câu
chuyện: Thiếu tá Phan Phụng Tiên lái máy bay cho ông đi trốn ở Cao Miên
chỉ vì sang đó (1960) nó hành động này nọ, nó chỉ trích rồi nó không chơi
với ông nữa. Thì hôm đầu tiên ông về đây (1963) gặp tôi ông bảo, thằng
Tiên nó đâu rồi mày. Hôm đó ông định giết nó. Tôi phải can ông mãi trong
hành lang Tổng tham mưu. Tôi bảo nó là đàn em, dầu nó có tội mà nó có
công lái máy bay nếu không làm sao anh trốn được. Thằng Tiên sợ quá
xanh mặt về nói với tôi thôi rồi ông Thi về đây tôi chết. Vì ông đó là ông
ghê gớm lắm!
Ghi lại các phát biểu trên, Hoàng Đại Minh, người đưa tài liệu đặc biệt
về phiên xử lên mặt báo Tia Sáng, đã nhận xét: “Dẫu sao lúc này sau những
tháng rối ren đẫm máu mà (nguyên cớ) cũng tại việc ông (Kỳ) cách chức
tướng Thi nên đứng ở địa vị thủ tướng chính phủ đứng đầu ngành hành
pháp…ông Kỳ phải thận trọng. Lần kết tội này đối với tướng Thi nếu suôn
sẻ không nói chi ngược bằng rối ren lại ầm ầm dấy lên thì chưa chắc ông
còn giữ vững được ngôi vị…”. Đoán ý Nguyễn Cao Kỳ tuy có chuyển sau
những lời kết tội mạnh mẽ của hai ông Có và Quang nhưng vẫn còn dè dặt,
chờ đợi, thiếu tướng Vỹ tiếp thêm:
– “Tôi e rằng nếu không giải ngũ ông Thi là mình tự thổi phồng ông
lên…”. Tướng Lê Nguyên Khang thì: “Sở dĩ ông Thi được coi là thần
tượng trong thời gian vừa rồi vì nhiều người thấy ông hò hét như vậy nể
nang, riêng mình phải nhận một phần lỗi, chứ nếu mình đã đưa ông đi an
trí với những biện pháp, rồi cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc rồi thì tôi tin
rằng ông không còn cái gì nữa…”.
Phiên xử lấn cấn chỗ nên “cắt đứt tất cả sợi dây liên lạc ngay” (biệt
cấm) đồng lúc với giải ngũ hay hoán từng giai đoạn. Lui tới “phe ông Có”
đòi “bứng gốc” bị can Nguyễn Chánh Thi khỏi đất Việt Nam quăng ra nước
ngoài. Một lần cuối, ông Kỳ cố thuyết phục hãy chầm chậm chút đỉnh:
– Nếu trên thực tế mình chấp nhận ông ấy phải ra khỏi quân đội, thì bây
giờ (như đòi hỏi gấp gáp của tướng Có) hay hai tháng sau, cũng vậy. Vì từ
giờ đến hai tháng nếu mình chấp nhận mọi hình phạt trọng cấm hay biệt
cấm xong là 60 ngày thì trong 60 ngày ông không “contacter” (tiếp xúc)
được với ai!
Phiên xử đến hồi phải gút. Đến 17 giờ 5 phút ngày 9.7.1966 (ông Thi ghi
14.7). Hội đồng kỷ luật quân đội Sài Gòn do ông Thiệu đứng đầu tuyên án
60 ngày biệt cấm, hưu trí đối với tướng Thi. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi
viết:
“Cuộc hỏi tội chấm dứt lúc nào tôi cũng không biết. Tôi bâng khuâng
bước ra khỏi phòng hội Bộ Tổng tham mưu, đầu óc trống rỗng”. Ông và
Tôn Thất Đính, Phan Xuân Nhuận bị áp giải về lại số 2 đường Tú Xương.
Cơm tối xong, ông Đính hối hả chạy sang gặp Nguyễn Chánh Thi, bảo:
– Anh có nghe radio không? Chúng nó loan báo phạt mình và đuổi ra
khỏi quân đội rồi!
Ông Đính quát tháo, chửi bới Thiệu – Kỳ – Có toáng lên. Lính gác ngỡ
có xô xát ôm súng chạy đến. Họ đứng nghe, im lặng “im lặng nhìn nhau rồi
bỏ đi”.
Mấy hôm sau, Nguyễn Hữu Có cho xe đến đón Nguyễn Chánh Thi vào
nơi làm việc tại Bộ Quốc phòng. Ông Thi thuật lại buổi nói chuyện cuối
cùng với ông Có tại Sài Gòn hôm đó:
Gặp tôi hắn có vẻ ngài ngại, cố làm ra vui vẻ, hỏi:
– Anh có được mạnh khỏe không?
Tôi không trả lời. Hắn nói tiếp: Chính phủ (?-Ông Thi đánh dấu hỏi) và
người Mỹ đã chịu điều kiện anh đòi hỏi, anh nghĩ sao?
– Điều kiện ấy là gì?
– Thì anh sẽ chịu đi ra ngoại quốc với điều kiện là thả tất cả những
người phạm tội trong vụ biến động miền Trung.
Tôi cố làm ra vui vẻ nói đùa với Nguyễn Hữu Có:
– Té ra tôi cũng quan trọng thế hả? Bứng được tôi chắc các anh mừng
lắm hỉ?…
Có lặng thinh nhẫn nhịn. Tôi trêu thêm:
– Hôm nay tôi cứ tưởng anh gọi đến chia tiền bán thuốc phiện, mừng
quá…”
Không đợi đến “60 ngày biệt giam” mà khoảng hơn 10 ngày sau, vào
ngày 20.7.1966, đại tướng Samuel Wilson, “Giám đốc cải cách điền địa”
mà ông Thi biết là người của CIA đến nhà giam thúc: “đã đến lúc tôi phải
đi khỏi nước càng sớm càng tốt”!
24 – Nguyễn Văn Thiệu hứa cuội với Nguyễn Chánh Thi và hạ đo ván
tướng Kỳ lần đầu tiên ra sao?
Đích thân vào ‘thăm” Nguyễn Chánh Thi tận nơi giam giữ, đại tướng
Mỹ Samuel Wilson thông báo chính ông ta đứng ra “dàn xếp như ý muốn”
của ông Thi. Nghĩa là “những anh em can dự vào biến động miền Trung sẽ
được thả”. Phần tướng Thi, còn được một tuần đến 10 ngày để chuẩn bị rời
khỏi Việt Nam vô thời hạn.
Theo ông Thi, ông không có trương mục gửi nhà băng Thụy Sĩ hoặc các
ngân hàng khác. Hội đồng quân lực Sài Gòn phải trợ giúp ông 5.000 đô la,
may cho 5 bộ đồ lớn tại hiệu may Tân Tân đường Tự Do và mua “tặng” tấm
vé máy bay Sài Gòn đi Hoa Thịnh Đốn không đăng ký khứ hồi. Một trời
tâm sự của Nguyễn Chánh Thi viết:
“Ngày 29.7.1966, tôi và hai đứa nhỏ, Nguyễn Chánh Hiển 9 tuổi và
Hoàng Thị Hoàng Yến 7 tuổi được đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất đi Mỹ”.
Số ông lận đận, ngay chuyến bay biệt xứ đó cũng gặp trắc trở. Theo một
tờ báo đương thời: “Tướng Thi cùng 2 trong 4 đứa con (vợ ông sống với
người khác từ hồi ông bị Ngô Đình Diệm kết tội “phản nghịch” phải trốn
sang Campuchia năm 1960-1963) và một hầu cận (?) rời Sài Gòn đi Hoa
Thịnh Đốn nhưng một cuộc đình công của nhân viên hàng không làm họ kẹt
ở Honolulu”. Cả bốn người chuyển sang chiếc phản lực cơ Air Force One đi
nhờ đoạn đường còn lại. Ông Thi viết:
“Chuyến lưu đày nào mà không buồn! Đi thì đi nhưng tôi không ngờ lại
bị giam hãm ở nước này (Mỹ) lâu đến thế!”
Bốn năm sau, vào giữa tháng 12.1970, tờ Baltimore Sun tiết lộ “phó
tổng thống Nguyễn Cao Kỳ trong chuyến sang Mỹ đã gặp tướng Thi” nhưng
cuộc gặp gỡ này đầy kịch tính và được nữ phái viên Rose Kusnher tường
thuật khá sinh động:
Ông Kỳ “ngồi hàng ghế đầu ở câu lạc bộ quốc gia báo chí tại Hoa Thịnh
Đốn ghì lấy lưng ghế rồi quay lại ra lệnh một cách vội vàng … Liền đó, ông
Đặng Đức Kh. (tuân lệnh) đi nhanh đến dãy bàn nằm đối diện diễn đàn rồi
ngồi mọp xuống bên cạnh chiếc ghế của một người Việt Nam khác cũng có
bộ râu như ông Kỳ là trung tướng Nguyễn Chánh Thi để chuyển lời mời
tướng Thi đến ngồi với phó tổng thống Kỳ tại bàn tiệc đặt ở hàng đầu,
tướng Thi đã từ chối”.
Đến bữa cơm được dọn ở trụ sở trên, những người biểu tình thuộc nhiều
phe nhóm hò hét bên ngoài, ông Kỳ được bảo vệ kỹ lưỡng, nhưng hẳn nhiên
không thoải mái lắm bởi hàng rào an ninh chìm nổi vây quanh, trong lúc
“tướng Thi tự do đi đi lại lại trong phòng tiệc đầy người, ngưng lại nói
chuyện với thân hữu cũ như tướng Lewis Walt, cựu tư lệnh bộ chỉ huy thủy
quân lục chiến Mỹ tại Đà Nẵng thời miền Trung biến động. (…) Tướng Thi
phà khói sau khi hít những hơi thuốc trong chiếc ống điều ngà cũ xì và
thuật lại những diễn biến đưa đến việc ông bị hạ bệ”.
Ông nói vào lúc đó (1966), Mỹ tung một lúc quân lính và đô la ào ào vào
Nam Việt Nam. Đô la Mỹ làm mờ mắt nên không ai muốn từ bỏ quyền
hành của mình đang nắm, vì “có quá nhiều cơ hội để trở nên giàu có”,
ngược lại họ lanh lùng loại trừ những tiếng nói phản kháng. Thậm chí họ
đành tâm nghe theo ý kiến ngấm ngầm chỉ vẽ của “đại sứ Cabot Lodge và
vị phụ tá là ông Philip Habib cho phi cơ Mỹ dội bom Đà Nẵng khi dân
chúng nổi dậy phản đối …”!
Những lời bộc trực cứng cỏi đó chắn hẳn phải gây khó cho ông trong
chuyện ông xin hồi hương về Việt Nam vào đầu năm 1972. Ông Thiệu bắn
tin qua báo Sóng Thần (một tờ báo “thông thạo nhất về tin tức của phía
chính quyền”) là “sự trở về của ông Thi có một vài khiếm khuyết về thủ tục,
ông (Thiệu) cũng sẽ ra lệnh cho các viên chức thừa hành thông qua”.
Thế là sau 6 năm sống lưu vong, sáng 23.2.1972 ông Thi về đến phi
thường Tân Sơn Nhất trên chuyến phi cơ 747 của hãng PANAM. Dư luận
báo chí hết sức ngạc nhiên, như Mạc Kinh viết: “Nhiều lầnông (Thi) vẫn
tuyên bố chống chính sách can thiệp của Mỹ, điều làm cho Hoa Kỳ không
mấy hài lòng. Mới đây ông cũng xác nhận quan điểm đó cho nên người ta
đã ngạc nhiên làm sao tướng Thi lại được Hoa Kỳ chấp thuận cho trở về
Việt Nam. Một vài nguồn tin còn đi xa hơn cho rằng chính Hoa Kỳ đã áp
lực tổng thống Thiệu, yêu cầu ông Thiệu để cho ông Thi về với một sứ mạng
đặc biệt nào đó trong tương lai” (!)
Thật ra chẳng có “một sứ mạng” nào cả mà thực tế xảy ra khác hẳn với
lời Nguyễn Văn Thiệu hứa. Nghĩa là thay vì đón mừng, theo Hiếu Chân
thuật lại, sáng sớm hôm đó một đại đội cảnh sát dã chiến nai nịt gọn gàng,
trang bị lựu đạn cay, súng M-16, ma trắc và cả lá chắn được tung đến phục
sẵn quanh chỗ máy bay sắp hạ cánh. Hỗ trợ bên trong các phòng hành
chánh của phi trường còn có cảnh sát áo trắng chở tới đông ngót hàng chục
xe túc trực với đồ nghề cầm tay gồm máy truyền tin liên lạc, máy đánh chữ
và súng lục bên hông.
Tất cả đợi khi chiếc máy bay có chở tướng Thi vừa đáp xuống thì cùng
một lượt hướng tầm mắt về phía cầu thang lên xuống … Ở đó, theo hãng
UPI, có giám đốc cảnh sát đô thành Trang Sĩ Tấn. Trang Sĩ Tấn xuất hiện
chặn tướng Thi lại, yêu cầu ông không được bước vào phòng khách của Tân
Sơn Nhất và ngồi yên tại chỗ để quay trở về Mỹ trong vòng 10 phút nữa!
Vào lúc đó, từ đại sảnh của phòng trà sân bay, hàng trăm thân hữu của
ông Thi nhướng mắt chờ đợi ông với bữa tiệc hứa hẹn sẽ đầy đủ các chính
khách quan trọng đến dự ngay trưa ấy tại Sài Gòn. Nhưng ngoài kia ông bị
giữ lại. Cuối cùng, chiếc phi cơ phản lực khổng lồ gầm rú và hối hả cất
cánh quay về Mỹ với người khách độc nhất là tướng Nguyễn Chánh Thi.
Như vậy chuyến hồi hương về Việt Nam đó ông chỉ được nhìn khung
cảnh Sài Gòn qua cửa máy bay, rồi bị buộc phải độc hành viễn xứ lập tức.
Báo chí Sài Gòn lại rộ lên dư luận chỉ trích Thiệu – Kỳ xử sự với ông Thi
không công bằng và đưa tin hãng PANAM chưa đồng ý về khoản bồi
thường 200.000 đô la cho “sự cố” trên.
Qua vụ đó, người ta liên tưởng đến việc ông Thiệu hạ đo ván tường Kỳ
thời kỳ vận động tranh cử tổng thống 1967. Lúc đầu, Nguyễn Cao Kỳ và
Nguyễn Văn Thiệu đều muốn ghi danh. Song Kỳ bảo: “Nếu hai chúng tôi
cùng ganh đua để tranh ghế tổng thống thì điều này có thể sẽ được người ta
coi là một sự rạn nứt trong quân đội”. Để giải quyết, tướng Cao Văn Viên
với tư cách “bộ trưởng bộ quốc phòng” triệu tập 48 tướng lãnh bàn cãi một
ngày dài. Nhưng không tới đâu, và hai bên quay mặt choảng nhau. Màn
ngoạn mục đầu tiên là Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố ứng cử tổng thống để
Thiệu làm phó nhưng …
25 – Thiệu – Kỳ và cuộc chạy đua “có người lái” vào Dinh Độc Lập
Thật ra không đợi đến cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 mà ngay giai
đoạn thành lập nội các chiến tranh hồi 1965 đã nảy sinh va chạm ngấm
ngầm giữa “cái ngã” của hai ông Thiệu và Kỳ.
“Lúc mới đầu, Thiệu và tôi (Nguyễn Cao Kỳ) đã đối xử với nhau khá hòa
thuận nhưng có sự rắc rối tế nhị giữa chúng tôi. Trong địa vị quốc trưởng,
Thiệu không nắm bất cứ quyền hạn gì trên thực tế. Chính tôi đã phải chịu
lấy trách nhiệm về các quyết định và việc này khiến Thiệu đâm ra ghen tỵ.
Tôi có thể hiểu chuyện này dễ dàng hơn nếu Thiệu đã không từ chối thành
lập một chính phủ trước đó bởi vì Thiệu sợ vướng trách nhiệm. Thiệu muốn
có quyền lực và danh vọng, nhưng lại không muốn nhận những công việc
nặng nhọc khó khăn. Thiệu là hạng người như vậy”.
Dẫu không ưa “hạng người như vậy” nhưng ông Kỳ vẫn phải chung sống
một cách khổ sở chỉ vì cả hai đang cùng hợp sức quật ngã những tướng tá
có máu khinh bạc như Thi. Thi đi rồi, đến lượt Nguyễn Hữu Có bị “chiếu
tướng”. Do bệnh “công thần”, lại cậy mình là phó thủ tướng kiêm tổng
trưởng quốc phòng, nên tướng Có hớ hênh, nhiều lời. Biết Thiệu – Kỳ để
tâm. Có thổ lộ với Trần Văn Đôn muốn làm đảo chánh cho “yên bề”.
Nhưng chưa kịp động thủ, cuối năm 1966 Có đi thăm Đại Hàn và Đài Loan
về đến Hồng Kong bất ngờ nhận được lệnh của Thiệu – Kỳ cấm không cho
trở lại Việt Nam, phải sống lưu vong dài hạn ở nước ngoài! Dòm trong
nước, các “tướng già” Đôn – Đính – Kim – Xuân đã bị loại bằng nhiều
cách. Như Đôn và Kim thì bị lấy cớ “25 năm ở trong quân đội” phải “hưu”.
Dương Văn Minh “công du” biệt tăm, về Bangkok thì chặn lại, mãi đến
1970 mới hồi hương. Nguyễn Khánh thì khỏi nói – làm “đại sứ lưu động
suốt đời”… Thế là thoáng. Nhóm “tướng trẻ” do Kỳ và Thiệu đứng đầu giờ
đây nắm quyền, cả chính trị lẫn quân sự. Không còn ai đối thủ, Kỳ và Thiệu
đối mặt nhau, tranh ghế tổng thống.
Như nói trên, 48 tướng lĩnh thuộc hội đồng quân lực Sài Gòn họp nhằm
giải quyết hai vụ ông Kỳ và Thiệu đều là người của quân đội lại đứng ra lập
2 liên danh riêng để tranh phiếu coi không được. Binh lính sẽ ủng hộ ai?
Lối thoát vạch ra là yêu cầu ông Thiệu rút lui khỏi quân đội và sau đó ra
ứng cử với tư cách dân thường.
Nhưng ông Thiệu nêu “hai không”:
– Thứ nhất, không rút khỏi quân đội, vì nếu rút khỏi đó ông sẽ mất
phiếu!
– Thứ hai? (nói sau).
Bàn đi cãi lại mãi không ngã ngũ, 40 tướng lĩnh nhường quyền quyết
định cuối cùng cho hội nghị cấp cao nhất của họ và rút ra khỏi phòng họp
chờ đợi. Thiệu và Kỳ cũng vậy, cùng ngồi ngoài hành lang xem 7 thành
viên ủy ban lãnh đạo quốc gia sẽ công bố gì. Kết quả, ủy ban gạt những bất
đồng để cùng đòi hỏi ông Thiệu giải ngũ trước, ra ứng cử sau. Thiệu sừng
sộ:
– Quý vị không thể buộc tôi rút lui khỏi quân đội.
Dường như tới đó ông Thiệu làm lung lay lòng kiên nhẫn của ông Kỳ khi
ông ta lặp đi lặp lại cái “không rút lui” đó. Nghệ sĩ tính nơi Kỳ nổi dậy vừa
đủ để thấy “một nỗi chua chát dâng lên” và sau đó buông một câu trong hồi
ký:
– Thật là hèn hạ hết chỗ nói!
Đoạn tiếp theo là “tự bạch” thời xâu xé vất vả:
“Trước đây tôi đã thực sự không ưa thích gì hoạt động chính trị dầu cho
tôi từng giữ chức thủ tướng. Nhưng tôi phải trải qua nhiều tháng với sự
thách thức để giành lấy quyền hành tối cao, với những tranh chấp về chức
vụ hoặc địa vị và bỗng nhiên tôi cảm thấy ghê tởm và mệt mỏi”. Rồi bằng
sự buông bỏ tự tâm, ông Kỳ khiến hội đồng quân lực trố mắt bởi tuyên bố:
– Nếu ông Thiệu muốn là ứng cử viên của quân đội thì hãy để ông ta làm
một mình. Tôi sẽ quay về với nhiệm vụ trước đây của tôi trong không quân.
Bầu khí lúc đó được ghi nhận là “yên lặng đầy kinh ngạc”, trước sự hy
sinh của Kỳ. Không đợi lâu, tướng Hoàng Xuân Lãm (được Kỳ giao chức tư
lệnh vùng I sau xáo trộn miền Trung) la lớn lên:
– Vì ông đã hy sinh để giúp củng cố tình đoàn kết trong quân đội, vậy thì
tại sao ông không thể hiện sự hy sinh ấy tới cùng!
Lý do Kỳ phải “hy sinh” là ông Thiệu ứng cử một mình chưa chắc thắng
nổi các đối thủ dân sự. Vậy nên ông cần đứng chung liên danh với Thiệu.
Lúc đầu, nói như Trần Văn Đôn “phiên họp tiền hội nghị quyết định ông Kỳ
là ứng cử viên tổng thống và ông Thiệu ứng cử viên phó tổng thống”. Tới
đó Thiệu lòi ra cái “không” thứ hai:
– Không làm “phó” cho Kỳ!
Tiếp tục hục hặc. Mỹ nhảy vào làm “trọng tài”…bênh Thiệu: “Tối đó,
Mỹ đi tìm một số tướng lãnh để bàn thảo, thuyết phục các tướng rằng
Nguyễn Cao Kỳ bồng bột, bốc đồng v.v…” Bảo các tướng hãy để Thiệu
đứng tên ứng cử viên tổng thống. Kỳ làm phó. Sáng ra, hội đồng quân lực
chung quyết. Rốt cuộc, sau nhiều ngày lao tâm, Kỳ “hy sinh” hết điều này
đến điều nọ, để cuối cùng chịu làm “ứng cử viên phó tổng thống đứng dưới
ông Thiệu”.
Tạo màu sắc dân chủ, Tòa đại sứ Mỹ khuyến khích hình thành một số
liên danh tranh cử với Thiệu – Kỳ như các liên danh của: Phan Khắc Sửu –
Phan Quang Đán, Trần Văn Hương, Mai Thọ Truyền, Hà Thúc Ký –
Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Hòa Hiệp – Nguyễn Thế Truyền, Vũ Hồng
Khanh – Nguyễn Văn Đang, Hoàng Cơ Bình – Lưu Quang Khình, Nguyễn
Đình Quát – Lê Ngọc Chấn, Phạm Huy Cơ – Lý Quốc Sỉnh, Trần Văn Lý –
Nguyễn Văn Đương, và có cả liên danh đối lập của Trương Đình Dzu. Như
thế, Mỹ trở thành “người cầm lái” cho cuộc chạy đua vào dinh Độc Lập, Ở
nước rút, Kỳ thừa hiểu khi đứng vai ứng cử viên “phó”, vai trò “toàn
quyền” của mình ở vị thế thủ tướng trong hai năm 1965 – 1967 sẽ chuyển
sang tay Thiệu (với vị thế tổng thống). Điều đó được quyết định từ sân sau
của tòa đại sứ Mỹ.
Để chia sẻ quyền hành, không thả hết cho Thiệu, các tướng mưu lập một
hội đồng giám sát hành pháp. Hai tướng Nguyễn Đức Thắng và Linh Quang
Viên soạn nội quy với sự chấp nhận của Thiệu: “Sau này dầu là Tổng thống
nhưng Nguyễn Văn Thiệu lại là hội viên của Hội đồng tướng lãnh (quân ủy
hội) nên phải chịu sự giám sát của Nguyễn Cao Kỳ”!
Liệu “một tổ chức bí mật, ngoài quy định hiến pháp” kiểu như vậy được
Mỹ để cho thành cơm, thành cháo không? Nội tình chính trường Sài Gòn
đang loay hoay quanh dinh Độc Lập thì ngoài kia, xa hút phía ngoại ô,
những cơn sấm sét sắp về theo ngọn đông phong 1967.
26 – Những dấu hiệu “Không bình thường” trước Tết Mậu Thân
1968
Trước ngày “hy sinh”tuột xuống vị trí ứng cử viên phó tổng thống để
Thiệu nổi lên, Nguyễn Cao Kỳ đã tìm gặp Trần Văn Đôn và dịu giọng:
– Tôi tiếc rằng hiến pháp không cho anh ứng cử tổng thống hoặc phó
tổng thống. Nếu không tôi đã mời anh ra phó tổng thống với tôi. Tôi cần
một phó tổng thống người miền Nam.
Hiến pháp mà ông Kỳ nhắc trên soạn thảo xong cuối năm 1966 theo đòi
hỏi nóng bỏng của cuộc tranh đấu ngoài Trung. Khác hiến pháp dưới thời
Ngô Đình Diệm cho phép người “có quốc tịch Việt Nam liên tục ít nhất 10
năm” quyền ghi danh ứng cử tổng thống, phó tổng thống.
Hiến pháp “đệ nhị cộng hòa” soạn thảo thời Thiệu – Kỳ nắm quyền bắt
buộc “có quốc tịch Việt Nam từ lúc mới sinh” nên Andre Trần Văn Đôn
(sinh 1917 tại Pháp) bị loại. Tuy vậy, ông có quyền ứng cử quốc hội nên đã
cùng Tôn Thất Đính và 8 người khác đứng chung một liên danh và đắc cử
vào Thượng viện Sài Gòn qua cuộc bầu cử tổ chức trước đó, tháng 5.1967.
Nay, tuy không ra tranh cử tổng thống, phó tổng thống được, nhưng ông
Đôn đã có ghế nghị sĩ, nghĩ “đúng lúc phải ngồi lại với nhau” nên giới thiệu
với Kỳ luật sư Nguyễn Văn Lộc thay mình. Kỳ đồng ý.
Khi ráp với Thiệu, Kỳ nêu yêu sách sau trúng cử sẽ để Nguyễn Văn Lộc
làm thủ tướng. Ông Thiệu chấp thuận. Và giữa tháng 11.1967, ông Lộc
trình diện nội các với các tổng trưởng: bác sĩ Trần Văn Đỗ (ngoại giao),
trung tướng Nguyễn Văn Vỹ (quốc phòng), trung tướng Linh Quang Viên
(nội vụ), trung tướng Nguyễn Đức Thắng (xây dựng nông thôn), ông
Trương Thái Tôn (kinh tế), ông Lưu Văn Tính (tài chính), giáo sư Tăng
Kim Đồng (văn hóa giáo dục), giáo sư Phó Bá Long (lao động), bác sĩ Trần
Lữ Y (y tế), ông Bửu Đôn (công chánh), ông Huỳnh Đức Bửu (tư pháp),
ông Paul Nur (phát triển sắc tộc), ông Tôn Thất Trình (canh nông, điền địa),
bác sĩ Nguyễn Phúc Quế (xã hội và tỵ nạn), ông Lương Thái Siêu (giao
thông vận tải) và hai tổng trưởng phụ trách các lĩnh vực khác. Thứ trưởng
có ông Phạm Đăng Lâm (ngoại giao), ông Trần Lưu Cung (giáo dục; đặc
trách đại học và chuyên ngành), giáo sư Lê Trọng Vinh (giáo dục; đặc trách
đệ nhất, đệ nhị cấp và phổ thông), luật sư Hồ Thới Sang (giáo dục; đặc
trách thanh niên học đường), giáo sư Bùi Xuân Bào (văn hóa), ông Nguyễn
Chánh Lý (thương mại), ông Võ Văn Nhung (công kỹ nghệ). Giáo sư
Nguyễn Văn Tường và ông Đoàn Bá Cang giữ chức bộ trưởng phủ thủ
tướng.
Nhìn vào danh sách trên, chính giới Sài Gòn thời ấy nhận xét nội các
Nguyễn Văn Lộc bớt “mùi thuốc súng” hẳn so với nội các chiến tranh của
Nguyễn Cao Kỳ. Song cơ cấu nặng “tính chất chuyên viên” đó tự thân đã
chuyển động chậm, lại bị lực cản từ phía Thiệu đón đầu, nên chẳng nhích
được tý nào trên đường hành pháp. Ngay từ thai nghén, Thiệu chẳng mặn
mà gì, vì là nội các do người của Kỳ đưa ra (thủ tướng Lộc). Nhân cuộc
tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968 của “đối phương”, Thiệu mượn đà hất
ngã luôn “phe mình”, đưa tướng Trần Thiện Khiêm thay Nguyễn Văn Lộc
làm thủ tướng và lập nội các mới. Tướng tá cánh Kỳ bị bắn tan hàng.
Thế cô lực kém, Kỳ không làm sao bắt Thiệu tuân theo “tổ chức bí mật”
gọi là Hội đồng tướng lãnh (Quân ủy hội) do Kỳ làm chủ tịch được. Ngược
lại, Thiệu sổ toẹt hội đồng ma đó, xóa lời hứa “chịu sự giám sát” trước kia,
một mình tự tung tự tác. Nhiều lần “chủ tịch” Kỳ nhắc nhở, mời họp, Thiệu
giả điếc không nghe. Kỳ đành đưa cái hội đồng lãng mạn đó vào…hồi ký,
trách: “Ông Thiệu mánh khóe xảo quyệt giành lấy thêm nhiều quyền hành
cho ông ta”. Kỳ, với danh hờ “phó tổng thống”, bị hất đứng bên lề từ đó.
Thiệu lên.
Việc chính quyền Thiệu gây “ấn tượng mới” là hủy bỏ lệnh cấm đốt
pháo vào những ngày đầu xuân 1968. Mấy năm trước cấm hẳn. Thiệu vui,
nhưng Mỹ rất lo, Westmoreland kiểm lại các diễn biến quân sự đáng để ý
vào cuối năm: “Mùa thu đã trôi qua, ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy
(Việt cộng) đang hình thành thế thay đổi chiến thuật nào đó, mà thay đổi
lớn! Điều này đã được thể hiện ở Lộc Ninh trong tháng 10 và ở Dakto trong
tháng 11.1967 với tính chất khác thường. Số lượng các trận tấn công ở mức
trung bình nhưng tăng đều khắp cả nước (…). Lực lượng đối phương ở khu
phi quân sự tăng lên. Số xe vận tải phát hiệnđược dọc đường Hồ Chí Minh
tăng lên khoảng 200%!”.
Một dấu hỏi lớn màu đỏ được chấm đằng sau con số kia. Câu trả lời
phỏng đoán của Westmoreland là việt cộng đang nỗ lực chuyển quân nhằm
“đánh tràn vào”. Nhưng đánh ở đâu? Và khi nào?
CIA ở Sài Gòn cố thu lượm và tập hợp các bằng chứng để củng cố thêm
“về một chiến lược đánh tới”, đánh quyết liệt của “đối phương” sắp đến.
Nhưng tướng Võ Nguyên Giáp từ Hà Nội tuyên bố tiến hành cuộc chiến
tranh kéo dài và kêu gọi bảo toàn lực lượng. So với thực tế chiến trường,
lời nói tướng Giáp đăng trên báo tháng 9.1967 khác xa. Vì qua tháng
11.1967, lữ đoàn dù bắt được tài liệu “nêu lên những nét lớn cho đợt tiến
công quy mô” và rằng “Bộ chỉ huy miền Trung (của Việt cộng) kết luận là
đúng lúc phải có một cuộc cách mạng (do các lực lượng quần chúng) trực
tiếp hành động và đến thời cơ tổng tấn công, nổi dậy”. Phải chăng lời kêu
gọi “bảo toàn lực lượng” của tướng Giáp chỉ nhằm đánh lạc hướng đối thủ?
Westmoreland viết: “Sau những trận đánh mùa thu, tôi kết luận rằng (lời
tướng Giáp) là một cách ngụy trang, một lối tỏ vẻ như thất vọng có tính
toán”.
Với những nhận định trên, Westmoreland về Washington tháng 11.1967
để gặp tổng thống Mỹ. Người phụ tá ở Sài Gòn là tướng Abrams đã điện
cho Westmoreland tài liệu bắt được gần Dakto kêu gọi “có một nỗ lực tấn
công tập trung phối hợp với các đơn vị khác ở khắp chiến trường miền
Nam Việt Nam!”. Westmoreland đem tài liệu đó thảo luận ngay với Lầu
Năm Góc. Tuy có bàn tới, nhưng cuộc tổng tiến công vẫn bất ngờ, hết sức
bất ngờ đối với Westmoreland vào Tết Mậu Thân nhằm ngày 31.1.1968.
Trước đó nửa tháng, Westmoreland lúng túng:
“Như tôi đã báo cáo trước Hội đồng phái bộ Mỹ ngày 15.1.1968, tôi thấy
khả năng là 60 đến 40% đối phương sẽ đánh trước Tết, có thể vào ngày
25.1. Ngược lại, tướng Davidson, sĩ quan tình báo của tôi, lại thấy khả năng
là 40 đến 60% đối phương sẽ vận động, chuẩn bị trong thời gian ngưng bắn
và sẽ đánh sau Tết”.
Nhưng cuộc tổng tiến công nổ ra không phải “trước” hoặc “sau” mà
đúng vào ngày Tết! Westmoreland và Davidson đều đoán sai! Trong lúc các
tướng chỉ huy cao cấp nhất của Mỹ ở Việt Nam đang điên đầu vì các dự
đoán, thì ông Thiệu sắm sửa chuẩn bị về quê vợ tại Mỹ Tho ăn Tết và ông
Kỳ trầm trồ về “dinh tổng thống Việt Nam rộng lớn không kém gì Nhà
Trắng ở Washington!”.
27 – Vụ đánh bom Dinh Độc Lập năm 1962 và tướng Kỳ “hạ cánh
không an toàn”
Bà Trần Lệ Xuân tại hiện trường vụ ném bom Dinh Độc lập năm 1962
Cuối năm 1967, với “33 phần trăm số phiếu bầu” liên danh Nguyễn Văn
Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ dẫn đầu cuộc chạy đua “có người lái” vào dinh
Độc Lập.
Một lần nữa, dinh Độc Lập thành nơi tập trung quyền lực cao nhất của
nhà cầm quyền Sài Gòn với danh xưng mới: nền “đệ nhị cộng hòa”. Nơi đó
diễn ra những cuộc họp tối quan trọng do Tổng thống Thiệu triệu tập.
Ai ngờ những dự án quốc gia, những tin tức chiến lược đem ra bàn bạc
tại đó được nhanh chóng thu thập, phúc trình về Hà Nội bởi cụm tình báo
A.22 và bởi “cố vấn Tổng thống Thiệu”: tướng Vũ Ngọc Nhạ cài ngay trong
dinh.
Phía Mỹ thì tìm cách “nghe trộm”. Phương pháp của họ dựa vào kỹ thuật
“cách không truyền âm” như Trần Văn Đôn kể qua hồi ký Việt Nam nhân
chứng. Theo đó, vào những ngày quân đội Sài Gòn bắt đầu rơi vào tình
trạng hoảng loạn trước cuộc tiến công xóa sổ của quân giải phóng, ông Đôn
được phái ra nước ngoài thăm các nước phi liên kết, điện đàm với Thủ
tướng Pháp Chirac và gặp đại sư Mỹ ở Hồng Kông là Robert “tham khảo”
tình hình và giải pháp cho Sài Gòn.
Về đến Tân Sơn Nhất ngày 5.4.1975, ông Đôn đi thẳng tới dinh Độc Lập
gặp ông Thiệu trình bày những điều mà 2 ông Chirac và Robert tán đồng.
Không ngờ văn phòng CIA tại Singapore “nghe rõ ràng tiếng tôi (Trần Văn
Đôn) và ông Thiệu nói chuyện với nhau”. Ông Đôn biết điều đó nhờ một
người bạn tên T.P.L tiết lộ sau ngày 30.4.1975 tại Mỹ.
Ông L. bảo trưa đó (5.4) ông có mặt tại văn phòng CIA ở Singapore (để
liên lạc với CIA ở Sài Gòn sắp xếp cho gia đình rời Việt Nam) nên tình cờ
nghe được những mẩu đối thoại truyền về từ Sài Gòn. Ông Đôn viết: “Thì
ra lúc dinh Độc Lập được sửa lại sau vụ ném bom năm 1962, trong mấy
năm trời xây cất (đến năm 1965 hoàn tất), Mỹ đã đặt máy ghi âm để nghe
tất cả những gì xảy ra trong dinh”.
Vụ ném bom năm 1962 (thời Ngô Đình Diệm) mà ông Đôn nhắc tới đã
phá hủy bên trên nơi làm việc của ông Ngô Đình Nhu nằm phía trái dinh
Độc Lập. Đó cũng là sự kiện được nhắc đến trong nhiều hồi ký Đỗ Mậu
viết:
“Sáng ngày 27.2.1962, khoảng 7 giờ, tôi đang chuẩn bị đến văn phòng
thì bỗng nghe tiếng nổ dữ dội, rồi một vùng khói đen nghịt cuồn cuộn từ
phía dinh Độc Lập tỏa lên cao, trong lúc trên bầu trời quận một và quận
nhì thành phố, 2 chiếc chiến đấu cơ đang bay lượn theo đội hình tác chiến.
Không cần phải kiểm chứng tôi cũng biết được dinh Độc Lập đã bị ném
bom…”.
Khi Đỗ Mậu đến dinh thấy cửa ngoài đóng kín, xung quanh quân phòng
vệ phủ tổng thống bố trí sẵn sàng chiến đấu. Ông Nhu không hề gì dù mục
tiêu cuộc bỏ bom nhằm vào ông. Bà Nhu bị xây xát nhẹ ở mặt vì bị gạch vỡ
văng trúng. Người nhà ông Diệm chạy vào trú tại căn phòng xây vững chắc
nhất nằm dưới cầu thang đại sảnh “mọi người im thin thít, mặt xanh như
tàu lá chuối”.
Ông Diệm, gia đình ông Nhu và cả giám mục Ngô Đình Thục cũng có
mặt tại đó. Đỗ Mậu (và Nguyễn Khánh) chào và quay ra, lát sau nhận tin:
“Hải quân đã bắn hạ một chiếc phóng pháo cơ của không quân (vừa tấn