Những Tên Biệt Kích Cầm Bút
Hoàng Hải Thủy
vietmessenger.com
phần 1
Tác giả dưới ngọn cờ đỏ quang vinh. Ảnh chụp tháng 12,
1975.
Khi báo với bạn đọc loạt bài "Những Tên Biệt Kích Cầm
Bút" sẽ được đăng trên tờ Bán nguyệt san Ngày Nay, ấn
hành ở Houston, tôi viết: "Mời bạn đọc trên Ngày Nay
"Những Tên Biệt Kích Cầm Bút", bản kết tội của Minh Kiên -
Nam Thi, nguyên Đại tá Tổng Biên Tập và Đại tá Phó Tổng
Biên Tập Tuần báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh.
Phần trả lời của Hoàng Hải Thủy, một trong những người bị
Cộng sản Việt Nam gọi là "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút."
Đọc lại, tôi thấy tôi thật ngớ ngẩn, vô duyên, không giống
ai, Công An Thành Hồ cho tôi nằm ngâm thơ của Cố Thi sĩ
Trần Văn Hương hai lần, trước sau là Tám Mùa Thu Lá
Bay. Họ đã bỏ tù tôi, và tôi đã ở tù. Tôi còn có gì để "trả lời"
họ và tôi cần gì, tôi việc gì phải "trả lời" họ. Bỏ nước chạy
lấy người không kịp, kẹt lại, ngẩn ngơ giữa một rừng cờ đỏ,
không ra đầu ngõ cũng bị bật ngửa vì nón cối, giép râu,
nhìn đâu cũng thấy ảnh Bác Hồ "Muôn Kính, Ngàn Yêu" với
những hàng chữ "Không có gì…." đỏ lòm, tôi không thể tự
làm tôi mắt mù, tai điếc, tay cùi, miệng câm, tôi can tội mần
một số thơ Con Cóc bắt chước Ca Dao mà tôi gọi là Phóng
Dao, ngồi gù lưng trên căn gác tối om viết một số bài kiểu
Tạp Ghi Tiền Tuyến để than thân, trách phận, thương nhớ
kẻ ở người đi, não nùng tâm sự, đời tàn ngõ hẹp, đói không
những chỉ đói cơm mà còn đói cả cà phê, thuốc lá, đói đủ
mọi thứ. Tôi viết những bài gọi văn huê là "tác phẩm chứng
nhân Thành Hồ Trần Ai Khoai Củ" và viết xong tôi không
cất chúng dưới đáy tủ, gầm giường, tôi gửi chúng ra nước
ngoài để anh em ta ở hải ngoại đăng báo. Và thế là tôi bị
Công An Thành Hồ đưa xe bông đến nhà rước đi cất kỹ
trong sáu niên. Sống giữa gọng kìm công an cộng sản mà
lén lút làm thơ phú vẩn vương diễn tả đời sống đen hơn
mõm chó mực của nhân dân để gửi ra nước ngoài thì bị
Công An Cộng sản bắt, bị Cộng sản cất đi năm bẩy niên
trong tù là chuyện tất nhiên.. Cũng là sòng phẳng. Có gì gọi
là "trả lời, trả vốn".
Cộng sản thù ghét nhất những anh Con Trai Bà Cả, Bà Hai
Đọi sống trong chế độ của họ mà bới móc, phơi bày những
cái xấu của họ qua văn thơ, châm biếm họ bằng thi ca. Họ
thù nhất là những anh viết và gửi những bài tố cáo chế độ
họ ác ôn côn đồ ra phổ biến ở nước ngoài. Chẳng cần phải
tố cáo, chỉ cần than khổ thôi là đã bị coi là phản động và
được công an ưu ái hỏi thăm sức khỏe. Mối hận thù truyền
kiếp bọn văn nghệ sĩ được đàn anh công an Nga Xô trích
vào máu thằng đàn em công an Việt Cộng "… thẳng tay
trấn áp bọn văn nghệ sĩ phản động, không cho chúng than
khóc…" Công an Việt cộng đã, đang và vẫn làm đúng lời
dậy ấy.
Năm 1988, khi bọn "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút", sau
bốn năm tù ở Trung Tâm Thẩm Vấn Số 4 Phan đăng Lưu
và Khám Lớn Chí Hòa, sắp "được" đưa ra xét xử lần thứ
hai ở cái gọi là Tòa Án Nhân Dân Thành Phố HCM, "Luật
sư" Triệu Quốc Mạnh vào nhà tù Chí Hòa gặp chúng tôi,
anh là người sẽ "biện hộ" cho nhóm bị gọi là Biệt Kích Văn
Nghệ trước tòa. Anh nói:
- Các anh viết bài gửi ra nước ngoài làm cho họ đau lắm.
Họ thù các anh và các anh đã bị khổ sở mấy năm rồi. Bây
giờ đưa các anh ra tòa tôi thấy họ có vẻ muốn làm cho
xong đi. Các anh làm họ đau, họ bỏ tù các anh. Như vậy là
huề. Lần này ra tòa, tôi nghĩ các anh không nên găng với
họ. Mềm dịu cho xong đi. Các anh ở tù mấy năm như vậy
cũng là đủ …
Ai tù hào hùng, khí phách thế nào tôi không biết, tôi chỉ biết
tôi tù thôi. Tất nhiên là tôi thấy tôi ở tù mấy mùa lá rụng
ngoài song sắt như vậy là - không phải đủ - mà là quá đủ.
Năm 1986, trước ngày Đại Hội Đảng Kỳ 6, Công An Thành
Hồ đã dàn dựng đưa bọn "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút"
ra tòa với cái tội "gián điệp". Năm ấy họ muốn dựng một vụ
Xử Án Điển Hình kiểu "Sát Nhất, Nhị, Tam, Tứ Nhân, vạn
vạn nhân cụ, " một vụ án làm cho tất cả những anh Con
Trai, Con Rể, Con Nuôi, Con Hoang, Con Rơi, Con Rớt
Nhà Bà Cả trên cõi đời này sợ teo luôn. Nói rõ hơn năm
1986 họ muốn xử chúng tôi với mức án đại khái như vầy:
1. Doãn Quốc Sĩ: Tử hình hay chung thân.
2. Hoàng Hải Thủy: Chung thân - 20 niên.
3. Dương Hùng Cường: 18 niên.
4. Lý Thụy Ý: 15 niên.
5. Nguyễn Thị Nhạn: 12 niên.
6. Hiếu Chân Nguyễn Hoạt: 10 niên.
7. Khuất Duy Trác: 8 niên.
8. Trần Ngọc Tự: 8 niên.
Xin quý vị thương cho mà đừng nghĩ là tôi tự đề cao anh
em chúng tôi. Việt Cộng sài Luật Rừng, nhưng Luật Rừng
cũng vẫn là Luật. Trong cái gọi là Bộ Luật Hình Sự
CHXHCNVN có điều quy định tội danh và án phạt bọn
"gián điệp" như sau.
Tôi đọc điều luật này trong Ô Ten 10 Sao Chí Hòa năm
1986 và tôi thuộc nằm lòng từ ngày đó:
- Bị coi là gián điệp những kẻ cung cấp tin tức, tài liệu an
ninh, quốc phòng cho những Cơ Quan Tình Báo Nước
Ngoài.
Cũng bị coi là gián điệp những người tuy không cung cấp
tin tức cho Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài nhưng bằng
cách nào đó vô tình tiết lộ những tin tức an ninh, quốc
phòng để những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài có thể
khai thác.
Án phạt từ 12 năm tù đến tử hình.
- Những tên gián điệp đầu sỏ bị tử hình.
- Những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình.
Theo điều luật về xử trị gián điệp trên đây thì nếu năm 1986
Công An Thành Hồ đưa bọn "gián điệp 8 tên" chúng tôi ra
tòa xử thì chuyện xẩy ra đã có thể là:
- Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: tử hình.
- Tay sai nguy hiểm Hoàng Hải Thủy: chung thân hoặc có
thể cho đi cùng chuyến xe bít bùng với Đầu Sỏ Doãn Quốc
Sĩ lên bãi bắn Thủ Đức trong buổi sáng mù sương lạnh.
Hai gián điệp cùng đi một chuyến xe không có bông cho đỡ
tốn xăng dầu và công sức của anh em công an chuyên giết
nhân dân.
Năm 1986, Công An Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, cho
quảng cáo tùm lum trên hai tờ Tuổi Trẻ-Công An: "… Ngày..
. tháng… năm… bọn gián điệp sẽ phải ra trước Tòa Án
Nhân Dân trả lời về những tội trạng của chúng…" Nhưng
rồi họ tẽn tò, không kèn, không trống, không lời xin khán
giả cảm phiền vì phiên tòa bị bãi bỏ, họ im luôn. Phiên tòa
năm 1986 hoãn dài ngày .
Năm anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng
Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, và tôi, được Công
An Thành Hồ cho xe bông đến nhà rước vào Số 4 Phan
Đăng Lưu cùng trong đêm Mùng 2 tháng 5 năm 1984. Chịu
thẩm vấn ở Phan Đăng Lưu một năm, tháng 5 năm 1985 xe
bông đưa chúng tôi sang Thánh thất Chí Hòa. Anh em
chúng tôi được đoàn tụ trong lòng xe tù khoảng 20 phút
đồng hồ. Trên xe có thêm hai em Trợ tá "Những Tên Biệt
Kích Cầm Bút Nữ": Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn.
Tù xa từ Bà Chiểu sang Đa Kao, qua rạp xi-nê Casino Đa
Kao, vào đường Hiền Vương một chiều, chạy qua bên
hông Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi - Đất Thánh Tây trước
1956 - nay đã thành công viên mang tên một anh cà chớn
mà tất cả nhân dân Sàigòn đều không ai từng biết: Công
viên Lê văn Tám. Chàng Công Tử Hà Đông ghé mắt nhìn
qua song sắt tù xa bỗng thấy trái tim chàng đi một đường
cảm khái. Đoạn đường Mayer - Hiền Vương từ Đa Kao đến
ngã tư Hai Bà Trưng là đoạn đường những năm từ 1954
đến 1958 anh qua lại mỗi ngày vài lần. Anh gặp tình yêu và
từng sống tình ái, yêu đương với nàng Alice trong căn nhà
78/5 của con đường Mayer-Hiền Vương này mấy mùa thu
vàng. Ngày ấy môi anh còn thắm, tóc anh còn đen, có bao
giờ anh ngờ rằng sẽ có ngày anh te tua trên tù xa đi qua
con đường thơ mộng này.
Tháng 5 năm 1986, từ Nhà Tù Chí Hòa bọn cai tù đưa
Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn
Thị Nhạn trở về nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu. Bọn Công
An Thành Hồ chia bọn "gián điệp" ra làm hai trước khi đưa
ra tòa. Lần đầu trong đời gặp cảnh tay còng, áo dấu ngơ
ngáo ra tòa, choáng váng nhận ra vợ con trong đám thân
nhân láo nháo chạy theo, tôi hồi hộp nghe tin con tôi báo:
"Hoãn xử…" Trên tiền sảnh chính của Pháp Đình Sàigòn,
nơi 50, 70 hay 80, 90 năm trước, các quan Đại Pháp xây
lên và cho đặt hai bức tượng Bà Đầm Pháp Luật Phú Lang
Sa to tổ bố đứng đưa … bàn cân công lý vào mặt con dân
A-na-mít - Anh Mít nào cao lớn lắm cũng chỉ đứng vừa đến
đầu gối Hai Bà chớ chưa với được đến bàn cân - Tòa
Cộng Thành Hồ có đặt tấm bảng đen ghi những hàng chữ
phấn đại khái như:
- Vụ Gián điệp Doãn Quốc Sĩ,
Phòng A …
Dưới hàng chữ có viết thêm hai chữ "Đình Xử", tức là hôm
nay tòa không xử Vụ Gián Điệp. Tòa đình xử, nhưng bọn
tòa án không báo cho bọn cai tù Chí Hòa biết. Cai tù Chí
Hòa, được lệnh cả tuần trước, cứ đúng lệnh áp giải bọn tội
nhân ra tòa. Xe chở tù đổ hàng xuống Tòa xong là đi ngay,
chiều mới đến đón tù trở về. Cai tù áp giải phải gọi điện về
Chí Hòa, phải chờ xe đến chở hàng về Chí Hòa. Nhờ vậy,
bọn "gián điệp 1986″ được ngồi ở tòa án từ sáng cho tới
trưa thơ thới hân hoan.
Thơ thới, hân hoan vì mấy anh được ngồi trò chuyện thân
mật với vợ con. Vợ con mấy ảnh hối lộ cai tù nên được cai
tù cho phép vào phòng cách ly ngồi với chồng, với bố. Hai
năm trời đằng đẵng mới được nhìn mặt nhau, ngồi gần
nhau, cầm tay nhau… Thương cảm, bùi ngùi đứt đuôi con
nòng nọc. Tình cảnh ấy khỏi cần diễn tả. Alice nói với tôi:
- Đừng sợ. Anh em mình bên ngoài mạnh lắm. Can thiệp
dữ dội. Nó phải hoãn xử, tối qua đài VOA đọc một bài dài
lắm, kêu gọi Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc bảo vệ văn nghệ
sĩ Việt Nam… Có người nghe thâu băng được cả bài… Lại
có tin triệu tập đến hai ngàn ký giả, văn nghệ sĩ khắp thế
giới về họp ở New York để lên tiếng về vụ mình…
Tôi hỏi ai triệu tập, Alice nói:
- Em không biết rõ. Nghe nói người đọc bài tố cáo đàn áp
văn nghệ sĩ trên đài VOA là Nguyễn Ngọc Linh…
Nguyễn Ngọc Linh hay Nguyễn Ngọc Bích…? Ngọc Linh,
Ngọc Bích đều là Ngọc cả. Hôm nay bình yên ngồi viết ở
Rừng Phong Lòng Vòng Hoa Thịnh Đốn, Virginia Đất Tình
Nhân, nhân danh tám anh em chúng tôi tù tội ở Thành Hồ -
hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường đã
chết thảm trong tù - tôi trân trọng nói lên lời cám ơn của
chúng tôi đến anh em bầu bạn khắp năm châu.
Năm 1986, chúng tôi bị kết tội "gián điệp", án tù tối thiểu 12
niên đến tối đa tử hình. Nhờ anh em bầu bạn khắp năm
châu la ó, phản đối dữ dội nên dù muốn, dù đã treo bảng
quảng cáo, đã cho bọn văn nô reo hò, nhẩy múa, Công An
thành Hồ cũng không xử được chúng tôi. Trở về Chí Hòa
nằm ngâm thơ Ngồi Rù thêm hơn một niên nữa đến đầu
năm 1988, chúng tôi mới lại "được" trở ra tòa án thành phố
HCM chuyên xử tội nhân dân lần thứ hai.
Lần này án "gián điệp" ác ôn đã được bỏ, thay vào đó là tội
"Tuyên truyền phản cách mạng". Tội này có thể gọi là "tội
nhẹ nhất trong các tội phản động dưới chế độ Xã Hội Chủ
Nghĩa." So với tội gián điệp, mức án xử bọn phạm tội tuyên
truyền phản cách mạng quá đỗi nhẹ hều: Tù từ 2 niên đến
12 niên tối đa. Không có bị tử hình, tử ảnh, chung thân,
chung sơ gì ráo trọi. Đang từ tối thiểu 12 đổi sang tối đa 12
niên, chàng Công Tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu,
chàng còn cay cú hay hung hăng con bọ xít gì nữa. Chàng
đã bóc được bốn cuốn lịch rồi.
Anh em tù gọi như thế là "đã có vốn." Tất nhiên khi ra tòa
chàng sẽ không nói năng gì để bọn Chánh án tay sai
phạng chàng 10 hay 12 mùa Tết Trung Thu Em Không
Rước Đèn Đi Chơi - Nàng Alice trẻ lâu thật nhưng nàng
cũng không có thể như nàng Hạ Cơ Đông Châu Liệt Quốc
trẻ mãi không già - Chàng đã trả cái nợ Hai Mươi Niên, từ
1954 đến 1975 chàng sống và để người khác chết, để vợ
con người khác khóc như vậy cũng tạm gọi là đủ, chàng
phải lo thân để trở về Ngã Ba Ông Tạ thôi .
Nhưng khi nghe "Luật sư" Triệu Quốc Mạnh khuyên nên
"mềm dẻo đừng nói gì gay cấn" để tòa xử cho xong đi, tôi
cũng nói:
- Nếu người ta không chửi bới chúng tôi thì chúng tôi sẽ
không nói gì đâu. Còn nếu người ta mạt sát chúng tôi thì
chúng tôi không thể nói trước được phản ứng của chúng
tôi sẽ ra sao.
phần 2
Nhân đây, xin viết vài hàng về nhân vật Triệu Quốc Mạnh.
Anh có chứng chỉ Cử nhân Luật, gia nhập Cảnh sát Quốc
Gia, mang lon đại úy Cảnh Sát. Anh được bổ nhiệm làm
Giám đốc Cảnh Sát Đô Thành Sài Gòn trong chính phủ hư
thai Dương Văn Minh. Sau Đại Hội Đảng kỳ 6, Tổng bí thư
Chăn Trâu Nguyễn Văn Linh tuyên bố: "đổi mới tư duy",
Triệu Quốc Mạnh và Nguyễn Đăng Trừng được phép mở
một cái gọi là Phòng Dịch Vụ Pháp Lý. Tiếp đó, để cho có
vẻ có pháp luật đôi chút Triệu Quốc Mạnh và Nguyễn Đăng
Trừng trở thành "luật sư" biện hộ những vụ án chính trị
được mang ra tòa xử. Triệu Quốc Mạnh biện hộ cho đám
"Những Tên Biệt Kích Cầm Bút," Nguyễn Đăng Trừng biện
hộ cho nhóm Tu Sĩ Già Lam Chống Đối trong có Thượng
Tọa Thích Đức Nhuận, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ
Phạm Văn Thương, Ni Cô Thích Trí Hải, v.v… Năm 1992,
trường Đại Học Luật Khoa được Võ Văn Kiệt cho mở ở
thành phố Hồ Chí Minh, Triệu Quốc Mạnh là khoa trưởng.
Nghe nói cái gọi là trường Đại Học Luật Khoa Thành Phố
HCM bị bọn lãnh đạo ở Hà nội coi là không được danh
chính, ngôn thuận. Thủ đô Hà Nội không có Đại Học Luật.
Bộ Nội Vụ Việt Cộng có cái trường gọi là Đại Học Pháp Lý
chuyên đào tạo các anh chị cán ngố làm nhân viên Bộ Nội
Vụ. Những cán đực, cán cái không cần có trình độ học vấn
vẫn vào được Đại Học Pháp Lý. Vì vậy người ta thấy có
những chị chuối chiên, vịt lộn viết cái biên lai giặt ủi cũng
mướt mồ hôi nách trở thành những vị "thẩm phán". Thời
cộng sản mở toang mọi cửa lớn, cửa nhỏ, cửa trước, cửa
sau để khều ngoại nhân vào đầu tư cho chúng ăn bám có
nhu cầu phải có những chuyên viên về luật thương mại -
chuyên viên cán sự thôi, đừng nói đến danh từ "luật sư"
đao to búa lớn. Võ Văn Kiệt cho Thành Hồ mở Đại Học
Luật Khoa, thu nhận sinh viên dân sự vào học, bọn cộng
sản Hà Nội không bằng lòng. Thành Hồ hiện có một số anh
được phong đại là "Luật gia" thường xuất hiện trên Tivi nói
lăng nhăng về các vấn đề luật pháp. Không ai biết những
anh "luật gia" này ở trường Luật nào ra. Lại thêm Đại Học
Luật mà Giáo sư Khoa trưởng là ông Cựu Đại úy Cảnh sát
Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới có chứng chỉ cử
nhân thì trình độ giảng huấn của trường tất nhiên là khá
quá rồi.
Triệu Quốc Mạnh - giống như những anh Trịnh Công Sơn,
Phạm Trọng Cầu, Vũ Hạnh - là một thứ "phi cầm, phi thú".
Mấy anh không phải là đảng viên cộng sản. Cộng sản
không nhận mấy anh là đồng đảng. Mấy anh phản bội
những người quốc gia Việt Nam Cộng Hòa từng nuôi
dưỡng mấy ảnh. Hai mươi mùa lá rụng qua rồi, thân phận
những anh "phi cầm, phi thú" không có gì đáng để nói .
Trở lại chuyện "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút" tôi nói rõ:
Tôi không "trả lời" hai anh Nam Thi - Minh Kiên. Hai anh ở
trong hàng ngũ bọn Công An Cộng sản đã bắt giam chúng
tôi, hai anh viết vung xích chó về đời tư, vợ con, cha mẹ,
việc làm của chúng tôi. Khi ở trong vòng kìm kẹp của các
anh, tôi không có điều kiện để viết về việc chúng tôi làm.
Hôm nay có điều kiện viết, tôi viết. Tôi đăng một số trang
hai anh viết về chúng tôi để bạn đọc của tôi biết các anh đã
- học mót bọn Nga cộng, Tàu cộng - "chửi bới" những
người phơi bầy những tội ác của Đảng các anh như thế
nào .
°°°
Mặt trận không tiếng súng… Đó là lời huê mỹ anh Phan
Hiền viết trong Lời Tựa "Quái Phẩm" NTBKCB. Trong cái
gọi là "Mặt trận không tiếng súng" ấy một bên là phe công
an Việt Cộng có súng, có nhà tù, có quyền bắt người, giết
người, giam người gần như hoàn toàn tự do tùy ý. Phe bên
kia, phe nạn nhân, không phải phe đối nghịch, là nhân dân,
chân tay không, những người dân khốn khổ không có qua
một chút bảo đảm nào về an ninh, những nạn nhân bị đàn
áp suốt đời chỉ chịu trận mà không có qua một cách nhỏ
nhất nào để có thể tự vệ, đỡ đòn, đừng nói đến chống trả.
Tôi - người viết loạt bài này - không cho việc Công An
Thành Hồ bắt giam chúng tôi là việc xẩy ra trên một "Mặt
Trận". Không phải tôi nhát đến độ sang được Xê Kỳ rồi vẫn
còn sợ không dám nhận mình có thời từng "chiến đấu" với
Công an Việt cộng trên "mặt trận", dù đó là "Mặt Trận Văn
Hóa." Theo tôi, gọi việc Công An Việt cộng bắt giam chúng
tôi là việc xẩy ra trên một "Mặt Trận" là danh không chính
và ngôn không thuận. Anh em chúng tôi chỉ có những cây
bút Bic. Và chúng tôi cũng không được sử dụng cây bút để
thể hiện một nửa khả năng của chúng tôi. Chúng tôi lén lút
viết, lén lút gửi đi. Viết rồi gửi đi thấy lòng ngẩn ngơ như thả
con mình đi vượt biên mà không biết nó sống chết ra sao.
Người viết có cái lạc thú đọc bài mình in trên trang báo,
trang sách, chữ in sáng sủa, gọn gàng. Những mùa thu lá
bay vàng võ ở Thành Hồ chúng tôi hoàn toàn không có cái
lạc thú đó.
Những ngày, những đêm dài u ám nằm ngâm Thơ Gãi
Háng đến chán ngấy ở những phòng giam Nhà Tù Số 4
Phan Đăng Lưu, Ô ten Chí Hòa, Trại Cải Tạo Z30A, Xuân
Lộc, Đồng Nai, đôi khi tôi nghĩ vẩn vương: "Nó có cả một
bộ máy tuyên truyền cực mạnh; các báo, các nhà xuất bản,
truyền thanh, truyền hình… của nó hết. Tại sao nó không
dùng những phương tiện đó để tranh luận với mình? Mình
viết về những cái xấu của nó, nó có thể phản bác, trưng
bằng cớ nó không có những cái xấu ấy, nhân dân sẽ quyết
định thằng nào đúng, thằng nào sai? Tại sao nó không làm
thế? Tại sao nó lại phải bắt mình, phải bỏ tù mình?"
Sau những lần nghĩ như vậy tôi vẫn bùi ngùi thương thân.
Trong tuyệt vọng tôi đã mong ước những người cộng sản
làm với tôi cái việc họ không bao giờ làm. Đó là việc tranh
luận để nhân dân làm Ngự sử. Mong cộng sản tranh luận
thì thật là ngu đến cỡ phi-ní lô đia, tức ngu hết nước nói.
Người cộng sản không đối thoại với bất cứ ai. Cách đối xử
duy nhất họ áp dụng với những người không ca tụng họ là
bắt, giết, bỏ tù đến chết. "Biết rồi. Khổ lắm. Nói mãi." Lời Cố
Hồng, Số Đỏ - Vũ Trọng Phụng.
Nón cối, dép râu, A-ka, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sài Gòn. Cuộc
biển dâu khủng khiếp bắt đầu.
Trải qua một cuộc biển dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Hai trăm năm trước người thơ xưa phải chứng kiến cuộc biển dâu
Lê-Trịnh-Nguyễn- Nguyễn phân tranh, ông chỉ thấy đau lòng thôi.
Con cháu ông không được cái may mắn chỉ chứng kiến biển dâu và
chỉ thấy đau lòng như ông. Chúng tôi bị nhận chìm trong biển dâu,
chúng tôi chết trong cái dâu biển ghê rợn, thê thảm ấy.
…. Ngươi đi bốn biển vui hò hẹn
Ta ở đây chìm dưới biển dâu
Mưa nắng xứ người ngươi gắng chịu
Sắt son dạ ấy chớ phai màu
Thôi ngươi đi nhé. Đừng quay lại
Ta khóc đây ngươi có biết đâu!
Thơ Mặc Thu tiễn Nhã Ca-Trần dạ Từ đi ODP ra nước ngoài. "Ta ở
đây chìm dưới biển dâu" là cái ý tôi mượn để tả tình cảnh chúng tôi
ở Thành Hồ sau ngày oan nghiệt Ba Mươi Tháng Tư 75.
phần 3
Ngày 2 tháng 5 năm 1984, tám anh em chúng tôi bị bắt
cùng trong một đêm. Trong số có hai người lần đầu nếm
mùi tù ngục Xã hội Chủ nghĩa: Anh Hiếu Chân Nguyễn
Hoạt và cô Nguyễn Thị Nhạn. Sáu anh em chúng tôi đều
đã qua một lần tù tội. Tôi gọi việc tôi trở vào Nhà Tù Số 4
Phan Đăng Lưu là "tái đáo Thiên Thai." Lưu Thần, Nguyễn
Triệu ngày xưa trở lại Thiên Thai buồn như thế nào lòng tôi
cũng não nùng như thế. Năm 1977 tôi đã bị còng tay đưa
vào đứng ngơ ngáo trong những hành lang nhà tù này.
Năm 1980 tôi xách cái túi du hành rách từ đấy đi trở ra.
Bốn năm sau tôi trở vào. Nhà tù nghèo nàn, u ám hơn,
những đoạn đường xi măng sụp, rạn nứt, những vách
tường dơ bẩn.
Công An Thành Hồ không loan tin chúng tôi bị bắt trên báo,
nhưng chỉ một năm sau - năm 1985 - bọn văn công Việt
cộng đã viết về cái gọi là "cuộc đời ái tình và sự nghiệp"
của anh em chúng tôi để đăng linh tinh, lang tang trên
nhiều báo tháng, báo tuần ở Hà Nội, Thành Hồ. Tuần báo
Công an Thành phố Hồ Chí Minh là tờ viết về đời tư chúng
tôi hung hãn nhất. Bọn Cớm Cộng thành Hồ có hồ sơ tài
liệu về chúng tôi, chúng khám xét nhà chúng tôi, chúng
được bọn "ăng ten" cung cấp nhiều sự kiện về chúng tôi
nên chúng có tài liệu để viết về chúng tôi nhiều hơn cả.
Năm 1988, "Quái Phẩm" NTBKCB được xuất bản thành
sách. Ở Nhà Tù Chí Hòa chúng tôi được đọc một số trang
NTBKCB đăng trên các báo, một số trang khác được người
nhà chúng tôi lén gửi vào tù cho chúng tôi. Trí Siêu Lê
Mạnh Thát cùng sống với tôi trong phòng 10, lầu Ba, Khu
ED Chí Hòa, sau khi đọc một số trang BKCB, nói với tôi:
- Sao chúng nó thù các bác quá?
Tôi không coi việc Công An VC kết tội chúng tôi trong một
quyển sách là một vinh hạnh. Tôi chỉ ghi nhận một sự kiện:
cùng thời gian chúng tôi bị tù có rất nhiều nhóm hoạt động
chính trị bị Việt Cộng đàn áp tàn bạo hơn bọn văn nghệ sĩ
chúng tôi rất nhiều. Tôi chỉ kể hai vụ tôi biết rõ, những
người trong hai vụ này cùng tù với tôi, nhiều người nằm
chung phòng với tôi: Vụ Luật sư Phạm Quang Cảnh bị VC
xử tử hình, hai người cùng nhóm với ông là Giáo sư
Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ sư Lê Công Minh chung thân,
nhiều người tù 18, 15 năm. Vụ thứ hai là Vụ Già Lam: Tuệ
Sĩ Phạm văn Thương, Trí Siêu Lê mạnh Thát mỗi người tù
20 năm, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận tù 10 năm. Nhưng
các ông không bị CAVC viết truyện vu cáo, mạ lỵ, mạt sát,
chửi rủa, bôi bẩn, bới móc đời tư đến cả đời ông, đời cha
như chúng tôi.
Tôi gọi NTBKCB là "Quái phẩm" vì không thể xếp nó vào
loại "dzăng phẩm" nào cả. Hai anh Nam Thi - Minh Kiên gọi
nó là "truyện". Tôi thấy nó không phải là "truyện" vì nhân
vật trong nó là người thật, đang ở tù thật. Những sự kiện
trong nó phần lớn do người viết bịa đặt, tưởng tượng -
ngôn từ VC học mót Tàu Cộng, gọi việc tưởng tượng bịa
đặt này là "hư cấu". Nó không phải là phóng sự điều tra vì
những sự kiện trong nó không có thật, không có những
thông số, thống kê, không có bằng chứng độc lập. Nó lại
càng không thể là phóng sự tiểu thuyết vì người ta không
thể tiểu thuyết hóa cuộc sống, chuyện đời của những nhân
vật có thật đang bị tù tội đến chết - và nhiều người đã chết -
trong ngục thất.
Việc viết, ấn hành những "Quái phẩm" như NTBKCB không
phải là việc làm mới mẻ do bọn CAVC nghĩ ra. Bọn Nga
Cộng đã làm chuyện ruồi bâu, kiến đậu này từ những năm
1922.
NTBKCB do hai anh Nam Thi - Minh Kiên, Tổng và Phó
Tổng Biên Tập báo Công An Thành Hồ viết, được xuất bản
thành sách, chỉ là một trong số năm bẩy loạt bài viết về
nhóm văn nghệ sĩ chúng tôi. Cái gọi là "truyện" đã được in
thành sách một lần vào năm 1987. Những trang in tôi trích
đăng ở đây lấy ở bản in năm 1994 do nhà xuất bản Văn
Nghệ Thành phố HCM tái bản. Ấn bản NTBKCB năm 1994,
ngắn hơn, chỉ còn 200 trang. Có nhiều đoạn bịa đặt, dựng
đứng trắng trợn, làm chính những người cộng sản cũng
cảm thấy lố bịch, ruồi bâu, kiến đậu, có tác dụng phản
tuyên truyền trong ấn bản 1987 được bỏ đi trong ấn bản
1994. Chẳng hạn như đoạn tả ông Biệt Kích Doãn Quốc
"thả lời ong bướm" với em Lý Thụy Ý, đoạn bịa chuyện anh
bạn Không quân Trần Ngọc chở em Nguyễn Thị Nhạn đi
chơi quán Cây Dừa Xa lộ làm bà xã anh bạn chúng tôi có
cái gọi là "cơ sở" để nghi ngờ và mất cảm tình với anh em
chúng tôi. Như đoạn viết về ông Ngoại tôi với câu kết mà
bất cứ người viết nào có chút thông minh nhỏ bằng đầu
que tăm xỉa răng cũng không hạ bút. Đó là câu: "…Ngày
xưa… tri phủ, tri huyện nào mà không nghiện thuốc
phiện…"
Người viết cộng sản phấn khởi, hồ hởi vu cáo mạ lỵ, bịa
đặt những chuyện xấu gán cho đời ông, đời cha những
người bị chúng bắt giam. Đó không phải là chuyện mới lạ.
Bọn Nga Xô đã làm cái việc tệ mạt ấy từ năm 1922, tiếp đó
là bọn Đức Cộng, bọn văn nô các nước chư hầu Đông Âu,
rồi Tầu Cộng. Bọn Việt Cộng chỉ làm cái việc học mót đàn
anh.
Trước khi nổ ra vụ Nhân Văn Giai Phẩm đòi văn nghệ phải
được tự do năm 1956-1957 ở Hà Nội, Phùng Quán, với bài
thơ Lời Mẹ Dặn, được coi là thi sĩ cách mạng vô sản điển
hình, là hình ảnh người đảng viên cộng sản kiên cường,
bất khuất. Phùng Quán có viết trong tập hồi ký Vượt Đảo.
Chế Lan Viên ca tụng Phùng Quán trong bài tựa quyển này
là: "… người đảng viên trung kiên, đứa con ưu tú của tổ
quốc…" Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm những bài viết chửi
bới tàn tệ Phùng Quán có chi tiết "Ông bố hắn làm Mật
thám cho Pháp. Bố như thế thì con không thể khá được
v.v…"
Sau Tháng Tư 1975, người Việt Nam đói sách báo, không
có sách báo để đọc "từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mâu"
như lời những ông rao bán thuốc ho bà Lang Trọc trong
những tác phẩm của ông Vũ Trọng Phụng. Tiểu thuyết
hoàn toàn không có mặt trong xã hội gọi là "Xã Hội Chủ
Nghĩa". Cái gọi là "truyện" được ấn hành ở miền Bắc Xã
Hội Chủ Nghĩa chỉ là những bản ca tụng Đảng, ca tụng Bác
Hồ và bọn đảng viên, diễn tả những cuộc sống giả tạo,
những tâm trạng và những mẫu người không có trong đời
sống thật. Anh Công An Huỳnh Bá Thành tung ra quyển
"Vụ án Hồ Con Rùa". Vì nhu cầu đọc của nhân dân quyển
sách này bán khá chạy. Từ đó một lô những "Vụ Án…" đủ
thứ được in ra. "Bọn xấu" trong những vụ án này là nhân
dân. "Bọn tốt" là những chiến sĩ công an phẩm chất đạo
đức sáng như gương Tầu, trình độ nghiệp vụ đạt đến đỉnh
cao của loài người tiến bộ, tác phong mẫu mực, trong sạch,
chí công, vô tư, xả thân vì nước, vì nhân dân, hành động
không chỗ nào chê. "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút", do
Nam Thi - Minh Kiên viết, nằm trong loại sách "Vụ Án" này.
Nhưng không mấy lâu, dù cần đọc, nhân dân cũng rất mau
chán ngấy loại sách "Vụ Án". Vậy thì đã xuất bản năm
1987, nếu không có người mua, tại sao năm 1994 quyển
NTBKCB lại được tái bản? Nguyên nhân vì Công An Việt
Cộng là lực lượng mạnh nhất trong xã hội Việt Nam hiện
nay. Hàng năm họ có khoản tiền lớn chi vào việc cung cấp
tài liệu, văn hóa phẩm bồi dưỡng chính trị cho cán bộ Công
an. Hai anh Đại tá Nam Thi - Minh Kiên đã về hưu. Quỹ
công an mua sách của hai anh để hai anh có khoản tiền.
Tôi trích đăng vài trang hai anh Nam Thi - Minh Kiên viết về
chúng tôi để bạn đọc thấy họ đã vu cáo, đã chửi rủa chúng
tôi như thế nào. Bị CAVC "chửi rủa" không phải là chuyện
nhục nhã mà cũng chẳng phải là một vinh hạnh. Tôi chẳng
cần "trả lời" họ. Tôi đăng vài trang họ viết để quý bạn thấy
việc làm đê tiện của bọn họ và để tôi viết lên, ghi lại những
cảm nghĩ của tôi về những năm tháng u ám tôi sống ở
Thành Hồ Ngục Tù.
Khi viết bài này, tôi không hỏi ý kiến các bạn tôi, những
người có tên trong quyển "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút."
Chúng tôi tám người bị bắt năm 1984 - hai anh Hiếu Chân
Nguyễn Hoạt và Dương Hùng Cường đã chết trong tù ngục
cộng sản - năm 1996 chúng tôi còn sống sáu người. Hai
người hiện ở Thành Hồ. Cô Nguyễn thị Nhạn hiện ở đâu tôi
không được biết. Ba người: anh Doãn Quốc Sĩ, Khuất Duy
Trác và tôi ở Hoa Kỳ. Tôi một mình chịu trách nhiệm về
những chuyện tôi viết ở đây.
Mời bạn đọc Lời Giới Thiệu truyện "Những Tên Biệt Kích
Cầm Bút" do Cán Cộng Phan Hiền viết.
Lời Giới Thiệu
Trong cuộc chiến tranh trường kỳ bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh
hoạt động quân sự mà mọi người đều biết, có những chiến
công thầm lặng của các chiến sĩ an ninh, trên một mặt trận
không có tiếng súng nhưng rất gay go quyết liệt.
Đặc biệt từ khi cuộc kháng chiến cứu nước giành được thắng lợi
hoàn toàn, một cuộc đấu tranh mới lại tiếp diễn vì các lực lượng
thù địch vẫn mưu toan phá hoại nền độc lập, xóa bỏ thành quả
cách mạng của nhân dân ta trong một cuộc chiến tranh mới.
Cuộc chiến tranh trên mặt trận văn hóa - tư tưởng lúc đầu được
kẻ thù hoạch định trong "kế hoạch hậu chiến", sau trở thành
một chiến lược diễn biến hòa bình.
Nhận biết rõ bộ mặt thật của các thế lực thù địch, trong khi
nhân dân ta tập trung sức xây dựng lại đất nước và mở rộng
các mối quan hệ quốc tế, nhân dân Việt Nam không lúc nào xao
lãng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững thành quả mà ông bà
ta và các thế hệ tiếp nối đã xây đắp nên bằng bao nhiêu máu
xương, mồ hôi, nước mắt suốt mấy ngàn năm lịch sử oai hùng.
Cùng với các lực lượng yêu nước trên mọi lĩnh vực xây dựng và
bảo vể Tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa, các chiến sĩ an ninh nhân
dân lại bước vào cuộc chiến đấu mới đầy cạm bẫy và đòi hỏi
nhiều trí thông minh, tinh thần sáng tạo trên mặt trận chính trị,
văn hóa và tư tưởng. Những chiến công thầm lặng trên mặt
trận này cần được phản ảnh, ghi lại một cách đầy đủ với nội
dung phong phú, hình thức đa dạng để nêu cao những tấm
gương cao đẹp của chiến sĩ và nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
"Những Tên Biệt Kích Cầm Bút" của Minh Kiên - Nam Thi là
một trong những tác phẩm văn học góp phần làm phong phú
thêm truyền thống đấu tranh bất khuất và ý chí quyết thắng của
dân tộc, bảo vệ và phát huy hồn thiêng sông núi Việt Nam.
Phan Hiền
phần 4
Hai trang 5,6 NTBKCB, người viết Phan Hiền. Có thể đây là
anh Phan Hiền, nhân viên Bộ Ngoại Giao VC. Lời lẽ chung
chung, bài tựa này có thể dùng để làm tựa cho tất cả
những "quái phẩm Cộng sản" mạ lỵ nhân dân ta trên cõi
đời này. Phan Hiền nhắc lại những lời cũ rích từ khươm
mươi niên. Theo đúng thông lệ anh ca tụng bọn công an
Việt cộng - những kẻ bị nhân dân căm thù nhất - là những
"chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc" hy sinh, mẫu mực, đấu tranh
gian khổ trường kỳ.
Bài học đầu tiên trong những khóa dậy nghề Công an Việt
cộng có câu: "Quân đội bảo vệ Tổ quốc, Công an bảo vệ
Đảng…" Bẩy mươi mùa đói rét trôi qua trên đất nước Liên
Xô vĩ đại, Thành trì của Chủ Nghĩa Xã Hội Thế Giới, đến
những năm 1988. 1989 bức tượng tên tội đồ Dherzinsky,
tên lập ra cơ quan KGB ác ôn nhất lịch sử nhân loại -
Tượng đá Vĩ Nhân Dherzinsky oai dũng đứng trước trụ sở
KGB - bị nhân dân Nga tròng xích sắt vào cổ, kéo xuống
cho ra nằm ở bãi rác. Bọn nhân viên Công an Nga, Tiệp,
Đức, Hung trở thành những tên "mặt người dạ thú". Tờ báo
Tuổi Trẻ Thành Hồ năm 1992 đăng một bài dịch từ một tạp
chí Tiệp Khắc. Anh công an Tiệp được phỏng vấn trong bài
báo này than:
- Đảng đã làm chúng tôi trở thành những kẻ thù của nhân
dân.
Quyền lợi của Đảng Cộng sản và quyền lợi của nhân dân
chưa bao giờ và không bao giờ đi đôi với nhau. Chuyện ấy,
trẻ con lên ba, cụ già chín bó đều biết. Với những người
cộng sản, việc "bảo vệ thành quả cách mạng của nhân
dân" có nghĩa là bảo vệ những đặc quyền, đặc lợi của bọn
đảng viên cộng sản, giữ vững mãi cái chế độ trong đó
"người đối xử với người tàn tệ hơn là lang sói", để yên cho
bọn cộng sản mặc tình ăn trộm, ăn cướp, ăn hại, đái nát,
hủy hoại đất nước, đầy đọa nhân dân, làm những thế hệ
con em sống dở, chết dở trong ngu dốt, nghèo đói.
"Trí thông minh, tinh thần sáng tạo…" của công an cộng
sản được biểu hiện bằng việc phóng tay "bắt hết, nhốt hết,
cho đi tù chết bỏ". Kể từ ngày Lenin "vĩ đại" gọi những
người chống đảng cộng sản là "bọn sâu bọ", Công an cộng
sản tất cả các nước chẳng may bị bọn cộng sản cướp
chính quyền, thẳng tay đàn áp, giết tróc những người
không may cùng một dân tộc với chúng.
Tôi sống ở K3 - Trại Cải Tạo Z30A trọn năm 1989, cùng
sống với tôi trong trại cải tạo này năm ấy có Thượng Tọa
Thích Đức Nhuận, Linh Mục Trần Đình Thủ, Dòng Đồng
Công Thủ Đức, Linh Mục Nguyễn Công Đoan, Trưởng
Dòng Tên Việt Nam, Tu Sĩ Phật Giáo Trí Siêu Lê Mạnh
Thát, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương, anh Doãn Quốc Sĩ, Tiến sĩ
Sử học Mã Thành Công, Giáo sư Nguyễn Quốc Sủng, Kỹ
sư Lê Công Minh cùng khoảng năm trăm người tù chính trị
từ khắp lãnh thổ Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1994
khi tôi đi khỏi thành phố HCM, Trí Siêu Lê Mạnh Thát còn ở
Z30A, Thượng Tọa Thích Đức Nhuận mãn án đã trở về mái
chùa xưa, Tuệ Sĩ Phạm Văn Thương năm 1990 bị điều ra
Trại cải tạo Phú Khánh. Trại này nằm trong rừng giữa hai
tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, nên được gọi là Phú Khánh.
Năm 1989 là năm cộng sản không rẫy chết mà chết ngắc ở
Đông Đức. Trong Z 30A chúng tôi phấn khởi truyền nhau
những tin tức như tin Bức Tường Ô Nhục Bá Linh bị phá
đổ, "Đồng chí Eric Honecker vĩ đại" - danh hiệu Việt Cộng
tôn xưng "Đồng chí Eric Honecker, Chủ tịch Đảng Cộng
sản Đức", Honecker có sang thăm Thành phố HCM năm
1976 - phải bỏ Đảng chạy ra nước ngoài. Chúng tôi phấn
khởi nghe tin nhân dân các nước Đông Âu, theo gương
nhân dân Ba Lan, tự phá gông xiềng Búa Liềm, tin vợ
chồng Sô-xét-cu, Chủ Tịt Đảng Cộng Lỗ Ma Ni, bị nhân
dân lôi cổ ra dí súng vào đầu, bắn bỏ. Những chuyện
chúng tôi không thể ngờ có thể xẩy ra trong đời mình.
Tháng Hai năm 1990, mãn án tù lần thứ hai sáu mùa cóc
chín, tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Mang giấy ra trại đến
phường công an khai báo để ghi tên trở vào sổ Hộ Khẩu -
vừa bị bắt là tên bị xóa ngay trong sổ - anh công an khu
vực, nay đổi tên là công an đường phố, bảo tôi:
- Chú viết bản tự kiểm…
Bị coi là có tội, bị bắt, bị ra tòa, bị kết án, mãn án tù, về nhà,
còn tự kiểm, tự cáo gì nữa? Tôi nghĩ. Tôi hỏi:
- Tôi tự kiểm về chuyện gì?
- Về những việc chú đã làm - Anh công an Ông Tạ trả lời
tôi, anh giải thích - Chú đã làm gì để bị bắt? Chú làm những
gì trong thời gian cải tạo. Chú có suy nghĩ gì? Và bây giờ
về chú dự định sẽ làm gì?
Tôi nghĩ thầm: "Anh mới là người phải viết tờ tự kiểm
những tội lỗi của anh và của bọn anh với nhân dân chứ?
Tại sao đến bây giờ tôi vẫn còn phải viết tờ tự kiểm với
anh…?" Cộng sản nó sụp ở những đâu đâu, ở quê hương
tôi nó còn vững lắm. Tôi bùi ngùi cầm bút viết trang tự kiểm
cho xong. Tôi vụng dại đủ mọi thứ, làm việc gì cũng bê bối
không giống ai, được cái viết vớ vẩn vô thưởng vô phạt thì
tôi mần khá dễ dàng.
Bọn công an cộng sản Nga, Đức, Tiệp, Hung, Ba Lan, Lỗ
đã phải "trả lời những tội trạng của chúng trước nhân dân",
đã "phải cúi đầu nhận tội", đã nhục nhã vì bị nhân dân chửi
rủa, khinh bỉ, vợ con tủi hổ, xa lánh.
Sẽ có ngày đẹp trời bọn cộng sản Việt Nam cũng phải chịu
chung số phận với bọn đàn anh của chúng. Ngày đẹp trời
ấy bao giờ đến? Tháng mấy? Năm hai ngàn mấy? Tôi có
được thấy ngày đẹp trời ấy chăng? Thôi thì đành tự an ủi
bằng ý nghĩ: "Mình đã thấy cộng sản sụp ở gốc rễ của nó
rồi. Trước sau gì mấy cành cây mục cũng chết theo thôi.
Đừng có nóng…"
Nhưng tại sao tôi lại bi quan nhỉ? Đời tôi còn những hai bó
nữa kia mà? Hai bó nhiều lắm, lâu lắm chứ. Hai bó là hai
mươi quyển lịch Tam Tông Miếu. Chịu khó bóc vài ba tập
lịch nữa thôi, ngày đẹp trời sẽ đến. Có thể lắm chứ. Biết
đâu đấy.
°°°
Trích NTBKCB, trang 7, 8, 9.
Hơn một tuần nay, Nguyễn Trí Văn được nhận vào làm lái xe
cho một Công ty Xuất khẩu hải sản. Nhờ người anh họ từ miền
Bắc vào công tác ở thành phố quen với Trưởng phòng Tổ chức
cán bộ Công ty giới thiệu nên Văn được nhận dễ dàng, vả lại
anh không có quan hệ chính trị gì phức tạp. Tuy là Thượng sĩ
trong quân đội Saigon cũ, nhưng anh ta chỉ biết cầm súng khi
còn ở quân trường, sau đó được tuyển vào đội bóng đá của Sư
Đoàn 3 Không Quân. Từ giã vị trí trung phong trên sân cỏ đã
mấy năm rồi nhưng phản xạ của cơ bắp vẫn còn tốt cho nghề
lái xe. Anh ta cảm thấy xin được việc làm ở một cơ quan Nhà
Nước là điều may mắn đối với mình.
Cũng trong thời gian này, điều may mắn thứ hai lại đến. Anh
vừa nhận được món hàng nhỏ từ Paris gửi về. Thật là của từ
trên trời rơi xuống, giữa lúc gia đình anh gặp khó khăn túng
thiếu. Gói hàng có kèm theo lá thư với mấy dòng vắn tắt:
Paris ngày…
Văn thân mến,
Xin gửi cho em món quà nhỏ. Gọi là của ít lòng nhiều. Mong
rằng em vẫn còn ở chỗ cũ và nhận được thư này. Hãy viết thư
ngay cho anh sau khi nhận được thư.
Thân ái,
Trần Tam Tiệp
Thật là một niềm vui bất ngờ đối với Nguyễn Trí Văn.
Khi nhận quà về, Văn đã khoe với vợ con, bạn bè rằng Tiệp là
anh em "kết nghĩa", mặc dầu ông ta vốn là Trung tá, "Mạnh
thường quân" của đội bóng ngày xưa của anh. Và đây là lần
đầu tiên anh được tin tức của cấp chỉ huy cũ sau ngày 30 tháng
4 năm 1975
Lúc này, nhiều sĩ quan cũ mà anh biết đi học tập chưa về, môt
số người được về lại đã dông ra nước ngoài. Trước đó, Văn cho
rằng có liên lạc với các ông "xếp" ấy cũng chả cần thiết. Thật
tình anh không còn nghĩ đến ai. Cái quá khứ ấy cũng nên quên
đi, trừ những lần đi xem những trận bóng ở sân Thống Nhất,
anh vẫn nhớ lại quãng đời cầu thủ ngắn ngủi của mình. Nay
được thư kèm theo quà, anh thấy cũng hay. Quá khứ lại sống
dậy trong anh. Hơn một tháng sau khi trả lời thư của Trần Tam
Tiệp, anh lại nhận được lá thư thứ hai của ông ta. Gói quà lần
này sộp hơn lần trước nhiều, đem ra chợ trời bán gần được
4000 đồng, đủ trang trải mấy món nợ, còn dư may sắm cho vợ
con. Trong thư Trần Tam Tiệp nhờ tìm gặp Trung úy Không
quân Trần Ngọc Thự và một số người khác để lấy địa chỉ gửi
qua cho Tiệp. Ông ta bảo những người đó là bạn thân, ông ta
cần biết địa chỉ để gửi quà về giúp. Văn thấy không thấy gì trở
ngại, vả lại đây là chuyện"tình nghĩa" không có lý do từ chối. Chỉ
trong hai Chủ nhật, Văn đã tìm gặp được mấy người bạn cũ, và
từ người này hỏi thăm người nọ, cuối cùng anh đã gặp hầu hết
những người Tiệp cần biết tin tức.
Sau lần ấy, Văn còn nhận thêm vài món quà nữa, rồi Tiệp viết
thư báo sắp bận đi làm ăn xa. Từ đó bặt tin luôn. Văn thấy như
vậy cũng đủ rồi. Làm một cái gạch nối cho viên chỉ huy cũ liên
lạc với anh em bạn bè, anh đã hoàn thành và cũng đã được trả
công. Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi chuyện
ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng quà làm kỷ niệm
Nhân vật Nguyễn Trí Văn có thật. Là một cầu thủ khá nổi trong đội
banh Không quân, Nguyễn Văn Trí được anh em không quân biết
tên, biết mặt. Nghe nói anh vẫn được gọi bằng cái tên thân thương
Trí Lùn.
Những Tên BKCB mở đầu bằng 3 trang nói đến Nguyễn Trí Văn tức
Nguyễn Văn Trí. Và từ Trí Lùn "giới thiệu" đến Trung tá Không quân
VNCH Trần Tam Tiệp, ông "Dượng Ba" thương mến của anh em
chúng tôi..
Công an Thành Hồ cay cú Dượng Ba của chúng tôi nhất. Mấy ảnh
kết tội Trần Tam Tiệp là người chủ động trong những việc:
1. Tranh đấu trong những tổ chức văn học - chính trị quốc tế để bảo
vệ những văn nghệ sĩ Saigon bị cộng sản đàn áp.
2. Tố cáo trước dư luận thế giới những hành động bạo tàn của VC ở
Việt Nam.
3. Làm nhịp cầu liên lạc giữa những văn nghệ sĩ Saigon sống dưới
ách đàn áp thô bạo của cộng sản với những tổ chức văn học-nhân
quyền quốc tế như PEN International, Amnesty International: Hội
Văn Bút Quốc Tế, Hội Ân Xá Quốc Tế.
4. Cung cấp sự giúp đỡ về tinh thần và tiền bạc cho những văn
nghệ sĩ kẹt giỏ ở Thành Hồ đỡ tả tơi, cuộc sống bớt chút màu sắc
đen hơn mõm chó mực.
Công an Thành Hồ gán cho Trần Tam Tiệp cái tội "thúc đẩy chúng
tôi viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài…"
Và Công an Thành Hồ cay cú nhất vì mấy ảnh cóc đụng được vào
cái lông chân nào của Trần Tam Tiệp. Dượng Ba của chúng tôi sống
ở Paris. Các anh Công an VC hung hăng con bọ xít bắt, bỏ tù mút
chỉ cà tha mấy tên dzăng nghệ sỡi kẹt giỏ bị mấy anh gọi là Biệt
Kích Cầm Bút - mấy ảnh là công an VC cầm súng -
nhưng mấy ảnh hận mà hổng có làm gì được Dượng Ba Trần Tam
Tiệp của chúng tôi. Vì vậy mấy ảnh cay cú dữ dội.
Trong thời gian tôi bị thẩm vấn ở Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu -
những tháng 5,6,7 năm 1984 - Sáu Khôi, một nhân viên cấp trung
của sở Công an thành phố HCM, đến nhà giam chỉ huy bọn thẩm
vấn chúng tôi. Sáu Khôi không đích thân thẩm vấn chúng tôi. Y chỉ
ghé vào các phòng đang thẩm vấn, ngồi nghe, góp vài ý kiến. Tôi
thấy rõ Sáu Khôi căm thù Trần Tam Tiệp. Mỗi lần nói đến Dượng Ba
của chúng tôi, Sáu Khôi đều gằn giọng: "… Thằng Tiệp… Thằng
Tiệp…"
Đọc mấy trang NTBKCB trên đây, ta thấy hai anh Nam Thi - Minh
Kiên viết về Trí Văn nhẹ hều. Đi tìm những ông không quân vất
vưởng ở Thành Hồ để những ông này liên lạc với Trung tá Trần Tam
Tiệp ở Paris, nhận được vài thùng quà. Rồi thôi. Chẳng có tội gì cả.
Nhưng… "Dziệc cộng dziếc dzậy mà hổng phải dzậy…" Dziệc cộng
công an nói và dziếc lại càng khác nhau. Sự thực não nùng bi đát
đúng kiểu VC là chỉ vì cái tội đi tìm mấy ông bạn đồng ngũ không
quân giúp Trung tá Trần Tam Tiệp, anh Nguyễn Trí Văn, tức Nguyễn
Văn Trí, tức Trí Lùn Đội Bóng Không Quân Quân Lực VNCH, bị
công an Thành Hồ cho xe bông đến tận nhà - nghe đâu Trí ở Gò
Vấp - ưu ái đưa vào Số 4 Phan Đăng Lưu cho nằm ngâm thơ Gãi
Háng - cơm tù bưng đến tận cửa xà lim, nước tù xịt xà lim cho tắm
vì những ống nước nhà tù đặc cứng rỉ sét - Không hề bao giờ là Biệt
Kích Cầm Bất Cứ cái gì, Nguyễn Trí Văn cũng nằm xà lim, ăn cơm
nhạt xỉu xỉu mười tháng.
… Văn thấy không có gì trở ngại, vả lại đây cũng là chuyện tình
nghĩa không có lý do gì từ chối…
Nguyễn Trí Văn không đến nỗi phải chết vì "tình nghĩa". Anh chỉ vì
"tình nghĩa" mà bị Công an Việt cộng cho đi tù gần một mùa lá
rụng…
… Anh trở về với nếp sống cũ và hầu như quên đi câu chuyện
ấy, chỉ còn giữ lại mấy cái hộp giấy đựng làm quà kỷ niệm…
Poste Phú Lang Sa văn minh hơn Post Mẽo ở những hộp các-tông
đựng quà. Những hộp giấy vàng vuông vắn, gọn đẹp. Những năm
đầu thập niên 80 một trong những lạc thú hào hứng nhất của những
Anh Con Trai, những Chị Con Dâu Bà Cả Đọi ở Thành Hồ là đến
Bưu Điện hay vào phi trường Tân Sơn Nhất lãnh đồ. Gần như cả
nước sống nhờ đồ ngoại quốc gửi về. Có đồ là có tất cả. Có đồ là
nỗi tuyệt vọng mênh mang trong lòng ta dịu bớt, vơi đi, ta được tiếp
đôi chút hy vọng để có thể không chết. Nỗi sợ hãi công an trong ta
cũng nhạt đi khi ta có đồ. Đồ càng lớn, càng nhiều, càng tốt. Tất
nhiên. Nhưng đồ nhỏ cũng rất tốt. Chỉ một paquet một ký lô thuốc
Tây từ Pháp quốc văn minh phồn hoa trữ tình lãng mạn sông Seine
mờ sương trắng - là áo sương mù hay váy em. Ga Lyon đèn
dzàng… Những anh Con Trai Bà Cả Đọi từ muôn kiếp trước đến
muôn kiếp sau chưa từng một lần được đặt những bước loạng
quạng đến Paris, chưa từng biết mùi Đầm là gì… vẫn xúc động khi
nghe chuyện lên xe tiễn em đi. Chưa bao giờ buồn thế… - những
paquet quà thơm phức từ Pháp quốc gửi về Thành Hồ. Mỗi paquet -
tuy không đủ lãng quên đời - cũng đủ cho hai vợ chồng và ba con
nhỏ sống được một tháng.
Đấy là thời gian những anh Con Trai Bà Cả Đọi ở thành Hồ được gọi
là những anh Tư Đê. Đúng ra mấy ảnh là mấy anh Năm Đê. Ngoài
một tiếng Đê, ngôn ngữ thuần túy dân tộc, mấy ảnh luôn luôn sài
bốn tiếng vần Đê:
- Đi, Đồ, Đói, Đợi
- Sao không đi? Còn ở đây?
- Đi không được. Sao lại không đi!
- Có tính đi không? Có đường đi không?
- Có đồ không?
- Đói thấy mồ…
- Đành đợi vậy…
Mấy ảnh nói mấy ảnh đợi, nhưng chính mấy ảnh cũng không biết
mấy ảnh đợi ai, đợi cái gì, đợi đến bao giờ…
phần 5
Thời ấy - những năm đầu thập niên 80 Thành Hồ có mấy
câu Phóng Dao tả cảnh những anh Con Bà Cả Đọi đi lãnh
đồ:
Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Anh ra Bưu điện lãnh đồ em cho
Đồ em vừa nặng vừa to
Anh đã con mắt, anh no cái mồm…
Thấy mấy cái hộp đồ Poste Pháp tốt quá Trí Văn giữ lại làm kỷ
niệm. Anh đâu biết mấy cái hộp giấy vô thưởng vô phạt đó sẽ bị
công an VC coi là những bằng chứng về tội anh liên lạc với người
nước ngoài. Tôi không gặp Trí Văn lần nào, nhưng tôi biết chắc mà
không cần hỏi là khi bắt Trí Văn, bọn công an CS tịch thâu mấy cái
hộp đựng quà, ghi vào biên bản bắt, coi đó là "tang vật".
Vợ chồng Anh Con Trai Bà Cả Đọi trong mấy mùa thu lá rụng ở
Thành Hồ - từ 1980 đến 1984 - có may mắn được hai vị sống ở
Pháp gửi thuốc tây cứu trợ nhiều nhất. Hai ân nhân của anh chị là:
- Dượng Ba Trần Tam Tiệp, Tổng Thư Ký Hội Văn Bút Việt Nam Hải
Ngoại.
- Cô Phương Hương Cao Ngọc Phượng, tu sĩ Phật giáo. Từ năm
1992, cô đã xuống tóc quy y, pháp danh Thích Chân Không.
Trong mấy mùa lá đa rụng ấy Alice làm hoa vải tại gia. Nàng giữ lại
những hộp giấy đựng đồ làm hoa. Trong căn nhà nhỏ ở Cư xá Tự
Do, Ngã Ba Ông Tạ của vợ chồng anh chị có đến mấy chục cái hộp
giấy của Poste Pháp.
Trong đêm công an Việt cộng đem chiếc xe bông thứ hai đến Cư Xá
Tự Do đón anh chồng đi lần thứ hai - đúng là tội nghiệp anh Con
Trai Bà Cả Đọi. Anh chỉ can tội dính líu tí ti vào bộ phim Hai Chuyến
Xe Bông dưới bóng cô đào Thanh Nga thôi. Dzậy mà đời anh cũng
tả tơi hoa lá vì hai chuyến xe bông thực sự. Trong vòng mười niên
mà hai lần đi xe bông công an Việt cộng thì đúng là đời anh đen hơn
mõm chó mực - Trong đêm anh bị bắt lần thứ nhì, công an xếp một
đống hộp đựng đồ từ Pháp gửi về ở giữa nhà, bắt vợ chồng anh
đứng "chụp ảnh với tang vật".
Trong đống "tang vật" có hai hộp cạc tông không phải hộp đựng quà
trả công cho gián điệp. Anh Con Trai đứng rũ liệt chân tay, chị Con
Dâu vẫn còn cố tranh đấu đến cái gọi là hộp giấy cuối cùng:
- Mấy cái hộp đó không phải là hộp đựng đồ ngoại quốc gửi về. Tôi
yêu cầu mấy anh bỏ ra…
Anh Con Trai nói với vợ:
- Thôi em ơi. Nếu không có tội thì dù ta có cả ngàn cái hộp như thế
này ta cũng không có tội. Còn có tội thì chỉ cần một cái hộp cũng đủ
rồi…
Như vậy là trong đêm Công an Thành Hồ đến bắt tôi lần thứ hai -
hai giờ đêm ngày 2 tháng 5 năm 1984 - Alice có vài bức ảnh chụp
chung với anh chồng vất vả trước đống tang vật. Những tấm ảnh
này hiện nằm trong Kho Hồ sơ Nhân dân Tù tại Sở Công an thành
phố HCM.
Hơn mười mùa mít chín trôi qua, hôm nay ngồi bình an viết những
dòng này ở Rừng Phong Arlington, bang Virginia của những người
Còn Trinh và Yêu Nhau, hồi tưởng lại giây phút vợ chồng sánh vai
nhau đứng trước ống kính máy ảnh của bọn công an Việt cộng nửa
đêm trong căn nhà nhỏ tôi có một nỗi bực mình nho nhỏ.
Tôi bực mình vì chính tôi. Đêm ấy khi bọn đầu trâu, mặt ngựa ùn ùn
kéo vào căn nhà nhỏ của tôi rồi tôi vẫn còn mong đợi một cách ngu
si, đần độn quá mức là chúng chỉ vào "xét sổ hộ khẩu" sơ sơ rồi đi.
Bởi nghĩ như vậy và muốn chúng ra mau mau đi ra khỏi nhà để
mình tiếp tục ngủ lại, tôi đã không sửa sang cho người ngợm tôi
đừng tả tơi quá.
Nửa đêm về sáng, đang ngủ mệt, bị công an đập cửa dựng dậy, hào
hoa phong nhã đến như các ông Phan An, Tống Ngọc, Tư Mã
Tương Như cũng… nát như tương. Lúc ấy tôi đầu bù, tóc rối, mắt
có ghèn, miệng hôi, áo quần xộc xệch. Phải chi tôi cứ mặc cho
chúng ngồi đợi - khi chưa đọc lệnh bắt giam, chúng chưa sẵng giọng
với mình - tôi đàng hoàng đi làm vệ sinh, đánh răng, rửa mặt, chải
đầu, bận sơ mi, quần tây săng pờli đàng hoàng rồi mới ra tiếp
chúng. Thì đã sao? Đầu tóc tả tơi, quần áo xộc xệch, mặt mũi nhơm
nhếch thì chúng cũng bắt, cũng tù. Trang phục chỉnh tề, bộ dạng
hào hoa phong nhã thì cũng chỉ đến đi tù thôi. Đằng nào cũng tù
nhưng tù đường hoàng, tại sao mình lại tù rúm ró thiểu não?
Than ôi… Khi tôi có được cái kinh nghiệm ấy thì đã muộn màng. Tôi
không còn có dịp dùng đến kinh nghiệm ấy… Qua hai lần bị Việt
cộng bắt, bị Việt cộng thẩm vấn, tôi có cảm tưởng như tôi là một em
trinh nữ lần đầu tiên bị đàn ông hiếp dâm - trinh nữ bị hiếp dâm lần
đầu, tôi không nói đến những trinh nữ bị hiếp dâm năm bẩy chục lần
dài dài và đều đều - Em trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu thường mềm
nhũn chân tay, không chống cự mà cũng chẳng phản ứng, thuận
ứng gì cả - Với bọn Việt cộng bắt tôi, hỏi cung tôi, đe dọa tôi, tôi
cũng mềm như bún. Nhiều đêm nằm vắt chân lên trán trong biệt
giam nhớ lại buổi hỏi cung trong ngày tôi vẫn bực bội với chính tôi:
- Sao mình lại có thể ngu đần quá đến như dzậy? Sao lúc nó hỏi
câu ấy mình lại không trả lời như vầy… như vầy… Trả lời như thế
thì tội mình đâu có nặng hơn? Tại sao mình lại trả lời một câu ngu
đến như thế chứ?
Tôi giống như các em trinh nữ bị hiếp dâm lần đầu nhưng tôi cũng
có một điểm khác các em. Đó là điểm có một số các em dường như
cũng mong, cũng thích bị hiếp dâm còn tôi, tôi không thích công an
Việt cộng hiếp dâm tôi một ly ông cụ nào.
°°°
Khi viết về những người bị các anh gọi văn huê là "Những
tên biệt kích cầm bút", những người bị các anh bắt giam
mút mùa trinh nữ và khép vào tội nặng "Gián Điệp Tử Hình"
v.v… hai anh cớm Minh Kiên - Nam Thi đã cố tình không
viết một chi tiết quan trọng. Hai anh đánh bài vờ như
chuyện đó không có. Họ chỉ nhắc qua đến chuyện đó trong
có một dòng.
Đó là sự kiện trong số 8 Biệt Kích Dzăng Bút bị bắt ở
Thành Hồ Tháng 5 năm 1984, có đến 6 mạng đã bị bắt đi
cải tạo, đi tù từ hai đến năm, sáu mùa lá rụng. Kể tên:
1. Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sĩ: Đã tù năm niên, năm
1981 từ trại Gia Trung - Gia Lai trở về đường An Dương
Vương, Sàigon.
2. Khuất Duy Trác: Năm niên, năm 1981 từ miền Bắc Xã
hội Chủ nghĩa trở về đường Lý Thái Tổ, Sàigon.
3. Trần Ngọc Tự: Năm niên, từ Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn
trở về khu bên trong Cổng Xe lửa số 6, Sàigòn.
4. Dương Hùng Cường: Ba niên, từ đâu đó hổng nhớ trở về
căn nhà ở gần cái gọi là "Trung tâm Nữ Quân Nhân"
đường Lý Thường Kiệt. Ngày xửa, ngày xưa trên mục "Cà
Kê Dê Ngỗng", báo Con Ong, chủ nhiệm Minh Vồ, Dê Húc
Càn, bút hiệu của Dương hùng Cuờng, từng viết một bài về
cái gọi là "Trung Tâm Nữ Quân Nhân". Anh théc méc
không hiểu cái Trung tâm ấy nó mô tả ký gì.
5. Lý Thụy Ý, nữ biệt kích, từng có thời giữ Trang Kaki
Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tù hai mùa mít chín.
6. Hoàng Hải Thủy: tù nhẹ nhất, 23 tháng ngồi rù trong trại
giam số 4 Phan Đăng Lưu, cuối 1979 trở về khu Hồ tắm
Cộng Hòa Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng về bộ môn Cầy Tơ dân
tộc.
7 và 8: Khứa lão Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và Em Ghế Tơ
Nguyễn Thị Nhạn là hai người mới nếm mùi tù cộng sản
lần thứ nhất.
Minh Kiên - Nam Thi bị bắt buộc giả vờ không biết bọn văn
nghệ sĩ Sàigòn bị bắt lại đã chịu một lần tù tội - ngôn ngữ
Việt cộng học mót Trung cộng là "cải tạo" - bởi vì nếu họ
viết ra chi tiết này thì kỳ quá. Té ra mấy tên Sè Goòng bại
trận này chúng nó gan cóc tía hay sao? Đã một lần tù rồi
chúng vẫn không tởn? Chúng vẫn coi như "nơ pa"? Dzậy
là sao? Nếu không phải bọn chúng gan lì thì chế độ "giáo
dục cải tạo bằng lao động" do đảng ta học mót và áp dụng
chẳng có qua một tí ti giá trị thực tiễn gì cả sao?? Mà nào
có phải là bọn chúng bị đi tù năm bẩy tháng gì cho cam?
Tên nhẹ nhất cũng hai mùa lá rụng, tên nặng là năm, sáu
năm.
Khi phịa ra cảnh Hoàng Hải thả lời ong bướm kiểu cải
lương miệt vườn với bà chủ Vi-la Kiều Trang, Nam Thi -
Minh Kiên gài cho Hoàng Hải nói:
- Tôi gác bút rồi. Viết ký gì bi giờ???
Sai. Dziệc cộng dzô Sè Goòng, Hoàng Hải - cũng như
những Anh Con Trai Bà Cả Đọi khác - bị bắt buộc phải gác
rất nhiều thứ nhưng bút thì anh không bao giờ "gác" cả.
Bằng chứng: Tạp chí Thời Tập, do Viên Linh chủ trương,
ấn hành số 1 tháng Tư năm 1979 ở Hoa Kỳ đã đăng bài
viết gửi đi từ Thành Hồ của Hoàng hải Thủy, có cả ảnh
đương sự ở trần, rầu rĩ triển lãm bộ xương bọc da trước lá
cờ đỏ sao vàng ở giữa lòng Thành Hồ.
Tôi đăng lại một số bài tôi viết trước 1977 và trước 1984,
được đăng ở hải ngoại trước nhất là để khoe, thứ hai là để
làm bằng chứng hai anh Nam Thi - Minh Kiên bảo tôi "gác
bút" là viết không đúng.
Ngay từ đầu năm 1976 tôi đã lai rai viết ra ngoại quốc với
mục đích diễn tả thực trạng đời sống của nhân dân Sàigòn.
Tôi diễn tả những nỗi buồn sầu tuyệt vọng nhiều hơn là
chửi bới Việt cộng, những bài tôi viết không hô hào người
khác cầm súng bắn Việt cộng. Nhưng dầu sao thì bọn văn
nghệ sĩ Sàigòn không nhanh chân bỏ của chạy lấy người
kịp chúng tôi cũng đã tìm cách viết ra nước ngoài rất sớm -
sớm đến cái độ có thể gọi là "Sớm nhất thế giới". Chỉ xỉu
xỉu sáu tháng sau ngày nón cối, dép râu, răng cải mả, tóc
bím, đít bự như cái thúng, ngơ ngáo kéo vào Sàigòn chúng
tôi đã có thư, tin, bài, thơ linh tinh đủ thứ gửi ra nước ngoài.
Chẳng phải là vì chúng tôi can đảm hay giỏi giang gì hơn
người, phần lớn tại vì đến năm 1975 tình hình chính trị thế
giới đã bắt đầu có những chuyển biến bất lợi cho bọn cộng
sản. Sự liên lạc bằng thư giữa những nước tư bản Âu Mỹ
với thành phố Sàigòn bị cưỡng hiếp đổi tên được tái lập
ngay sau ngày 30 Tháng Tư 75; thư từ Xê Kỳ, Pháp gửi về
Sàigòn tới tấp, thư con cá Sàigòn vượt đại dương đi các
nước tự do, tư bổn cũng nườm nượp. Nhờ vậy bọn chúng
tôi mới lén gửi được những bức thư tả oán ra khỏi nước.
Xin so sánh với tình trạng các nước đàn anh Xã hội Chủ
nghĩa: Khi bức màn sắt rơi xuống nước Nga, hai mươi mùa
trứng caviar đóng hộp sau vẫn chưa có một văn nghệ sĩ
Nga nào sống trong nước gửi được những tác phẩm chống
chế độ bạo tàn ra nước ngoài. Khi bức màn tre chụp xuống
Trung Quốc, sau hai mươi mùa lệ chi được gửi Express
đến Đảo Bồng Lai cho nàng Dương Thái Chân thưởng
thức, mới có lẻ tẻ vài ông chính khứa Tầu cộng bỏ đảng
dzọt được sang các nước Pháp, Anh lai rai viết tố cáo
những tội ác ghê rợn của chế độ Trung Cộng.
°°°
Le Parisien: Hoang Hai Thuy a refusé de se taire
Dưới đây là bản dịch bài báo viết về "Kiệt kích dzăng bút
Hoàng Hải Thủy" đăng trên nhật báo Le Parisien, Tháng
Tư năm 1988. Người viết là Nữ ký giả Catherine Monfazon:
Đáp ứng lời kêu gọi của Hiệp Hội Phóng Viên Không Biên Giới -
L’Association Reporters sans frontières - 38 cơ sở truyền thông
Pháp quốc đã nhận bảo lãnh mỗi cơ sở một ký giả bị tù vì làm
tròn công việc của mình. "Le Parisien" tự chọn tranh đấu cho
sự tự do của Hoàng Hải Thủy, ký giả Việt Nam, hiện đang bị bỏ
quên trong một trại lao động cải tạo.
Chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp quốc không những chỉ vận
động để đưa ông Thủy ra khỏi nhà tù mà còn, theo sự đòi hỏi
của gia đình ông ta, đưa ông ta ra khỏi quốc gia của ông ta…
Hoàng Hải Thủy không chịu câm miệng
Đừng nói đến cái tên Hoàng Hải Thủy ở Việt Nam, nói đến cái
tên đó trong điện thoại, đường dây sẽ bị cắt, trong đường phố
những đôi mắt sẽ nhìn xuống đất. Được nhờ đến Bộ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, được coi như là một động lực
của công cuộc đổi mới của Việt Nam, sẽ bực bội gạt bạn sang
Bộ Tư pháp, một cách từ chối, không tiếp khéo léo.
Hoàng Hải Thủy năm mươi chín tuổi, đêm đêm nằm ngủ trên
tấm ván rộng năm mươi phân giữa ba ngươi người bạn tù
chung phòng giam trong trại cải tạo Xuân Lộc, một nơi cách
thành phố HCM (Sàigòn) một trăm hai mươi cây số. Những lời
buộc tội thật mơ hồ "Lên tiếng chống chủ nghĩa cộng sản"
Người ta trách ông ta đã gửi ra nước ngoài những bài thơ, bài
viết không sao có thể đăng được trong những tờ báo Việt Nam
bị rọ mõm.
Hoàng Hải Thủy biết rất rõ những người cộng sản. Bên cạnh họ
ông đã tham gia kháng chiến năm 1945. Nhưng kề từ đó ông
chỉ đi theo một con đường: nhân bản. Thi sĩ, văn sĩ, ký giả, dịch
giả: ông được nhiều người biết vì tính tình hay nói thẳng, vì
niềm hăng say tố cáo những sự bất công. Ông tự ý làm những
việc ấy. Trước năm 1975 ông công khai chỉ trích chế độ cũ trên
những tờ báo châm biếm như tờ Con Ong (nghĩa đen là con
ong chuyên châm chích). Ông cũng là viên chức của Trung tâm
Thông Tin Hoa Kỳ, USIS.
Năm 1974, ông dịch "Trăm năm cô đơn" của Garcia Marquez.
Bản dịch truyện này bị cấm xuất bản. Bản dịch "Quần đảo ngục
tù" (Archipel du Goulag) cũng bị cấm. Lần này là đảng cấm.
Sau năm 1975 Hoàng Hải Thủy phải sống nhịn nhục. Nhưng
ông từ chối không chịu im tiếng. "Ông ấy không thể im lặng
trước những đau khổ của đồng bào ông. Ông ấy tức giận khi
thấy bọn cán bộ kêu gọi người khác hy sinh nhưng chính chúng
lại sống như vương giả". Đấy là lời một người bạn của Hoàng
Hải Thủy nói về ông.
Năm 1977 ông ta đã bị bắt lần thứ nhất, bị giam hai mươi ba
tháng trong nhà tù Chí Hòa. Vừa ra khỏi tù, ông lại cầm bút.
Ông bị bắt lần thứ hai năm 1984. Năm 1988, ông bị xử ở tòa
án. Người bạn của ông nói tiếp về ông: "Trong phiên xử, ông ấy
có nói ông không viết vì thù hận chính quyền mà viết để chống
lại tất cả những kẻ dối trá từ trong trái tim…"
Bị tuyên án sáu năm tù Hoàng Hải Thủy chỉ được trả tự do vào
tháng Năm năm 1990. Ông còn phải chịu đựng nhiều tháng
sống trong trại cải tạo vì thái độ tự do tư tưởng của ông, một
thái độ mà cái chính phủ vẫn tự nhận là đã mở nắp nồi và đổi
mới vẫn không thể chấp nhận được.
Nữ ký giả Catherine Monfazon
Nhật báo Parisien
phần 6
Quý vị vừa đọc bản dịch bài báo của nữ ký giả Catherine
Monfazon, Nhật báo Le Parisien, ấn hành ở Paris. Năm
1988, nữ phóng viên Monfazon đi Bắc Kinh, Trung Quốc,
rồi đến Hà Nội và thành phố HCM. Vì nhật báo Le Parisien
nhận bảo trợ và đòi trả tự do cho người viết Hoàng Hải
Thủy, cô Monfazon tìm đường đến gặp vợ con Hoàng Hải
Thủy. Khi cô thất vọng hoàn toàn và sắp lên phi cơ về Paris
tình cờ cô gặp một người bạn của Hoàng Hải Thủy. Nhờ
vậy cô đến được căn nhà nhỏ của vợ chồng Công Tử Hà
Đông trong Cư xá Tự Do giữa Ngã ba Ông Tạ và Ngã tư
Bảy Hiền.
Đây là bài báo nữ ký giả Monfazon viết về vợ con Hoàng
Hải Thủy đăng cùng trên trang báo Le Parisien với bài báo
trên.
Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu ông ấy
Hoàng Hải Thủy và cả gia đình ông phải trả giá đắt vì niềm
khao khát tự do của họ. Nhưng họ vẫn sát cánh với nhau và họ
hy vọng.
Đêm đen như mực ở thành phố HCM. Cô con gái của Hoàng
Hải Thủy, Giang, ba mươi hai tuổi, di chuyển vòng vèo giữa
rừng xe đạp và xe xích lô trên chiếc xe gắn máy mua trả góp.
Cô dừng xe trong một xóm đông dân cư. Con đường trở nên
sình lầy. Im lặng. Giang dựng xe trước cửa vào nhà, cạnh mấy
chuồng gà. Anh con và bà vợ Thủy chờ đón chúng tôi. Vài cái
ghế, hai cái giường không nệm, một tủ lạnh rỉ sét, sân nhà lát
gạch bông đỏ trắng rất sạch: tất cả toát lên một sự nghèo túng
được che dấu cẩn thận.
Mái tóc bạc được chải tươm tất, xanh xao, rất gầy, rất đường
hoàng, bà vợ của Thủy nói tiếng Pháp lần thứ nhất từ hơn hai
mươi năm nay.
Một bức ảnh rất đẹp của ông chồng trang hoàng bức tường lở
vôi, bên cạnh hai tờ thông cáo tuyên truyền của cộng sản mà
nhà nào cũng phải dán. Đỗ Thị Thủy không được gặp mặt
chồng từ hai tháng nay. "Ông bố tôi mạnh khỏe, bà mẹ tôi mới
chịu không nổi. Bà mất mười ký lô," anh con trai hai mươi tám
tuổi nói nhỏ.
Họ nói đến ông bố và ông chồng của họ với niềm kiêu hãnh, họ
nhắc đến những bài ông đã viết, những bài này đều bị công an
tịch thu, những gì ghi lại nỗi tuyệt vọng, sự đau khổ và cái đói
của nhân dân. "Ông ấy nói ít, viết nhiều". Bà Đỗ nói. Tôi hỏi:
"Có bao giờ bà yêu cầu ông ấy đừng viết để cả nhà được an
ninh không?" "Không bao giờ…" bà trả lời ngay, gần như bà
giận dữ vì câu hỏi ấy. Bỗng bà mỉm cười dịu dàng, xúc động:
"Chúng tôi đói, chúng tôi không có tiền, nhưng chúng tôi chấp
nhận tất cả những cái đó. Chúng tôi mạnh vì chúng tôi yêu
thương ông ấy, chúng tôi kiêu hãnh vì sự can đảm của ông ấy".
Cái giá của sự tự do tư tưởng của Thủy là một giá đắt. Để có
thể sống, họ phải bán hết. Nữ trang, đồ đạc, quần áo. Đến cả
ba ngàn quyển sách của Thủy, từ tủ sách lớn ấy, họ còn giữ
được khoảng trăm quyển cất kỹ trong một ngăn tủ nhỏ. Camus,
Nabokov, Nietzche, Zola, Sacha Guitry… Những sách này đều
được những người con của Thủy đọc đi, đọc lại. Từ nhiều năm
nay các con của Thủy bán bánh ngoài đường. Tất cả việc học
của họ đều bị cấm. Hiện nay họ đang muốn tin vào việc Thủy
sắp được thả tự do. Rồi sau sẽ ra sao? Họ lo âu. "Ông ấy lại sẽ
bị kiểm soát, bị theo dõi khắp nơi. Lại có sợ hãi. Ông ấy có thể
lại bị bắt. Chính phủ phải để cho chúng tôi ra đi. Không có tờ
báo nào ở đây nhận cho ông ấy làm việc. Với cái tên ấy, ông ấy
sẽ bị từ chối ở khắp nơi. Chúng tôi chỉ có thể có tự do ở một
miền đất khác. Cô có thể làm gì được không? Ở đây người ta
chỉ cho phép chúng tôi im lặng…"
Xin viết cho rõ: Người dịch The Gulag Archipelago của Alexandre
Sozhenytsin ra bản Việt ngữ "Quần đảo Ngục tù" là Ngọc Thứ Lang
Nguyễn Ngọc Tú. Anh đã từ trần trong trại cải tạo Phú Khánh
khoảng năm 1980. Tôi dịch The First Circle của A. Sozhenytsin,
"Tầng đầu Địa ngục" ấn hành ở Sàigòn năm 1973.
Năm 1977 đến năm 1979, thời gian là hai mươi ba tháng tôi bị bắt
lần thứ nhất ở trại giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Bị bắt lần thứ hai năm
1984 tôi sống bốn mùa lá rụng ngoài song sắt trong Thánh thất Chí
Hòa. Nữ ký giả Monfazon viết nguyên văn trong bài "…la presse
muselée vietnamienne…" tạm dịch: "… nền báo chí Việt Nam bị rọ
mõm…
Năm 1994 nữ phóng viên Catherine Monfazon lại đến thành phố
HCM, lần này tôi được gặp cô, được ăn với cô một bữa tối trong
nhà hàng Mini của bà Nguyễn Phước Đại đường Nguyễn Du. Từ
năm 1990 tình hình kinh tế tài chánh của những Anh Con Trai Bà
Cả Đọi kẹt giỏ ở thành Hồ có vẻ khá hơn, tôi vẫn dùng xế đạp đi lại
loanh quanh khu Ông Tạ, nhưng tôi đã có cái Honda 91. Tôi dùng
Honda đến khách sạn đón cô Monfazon, chở cô trở lại căn nhà nhỏ
của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, nơi cô đã đến năm năm trước. Cô
kém Kiều Giang con gái tôi hai tuổi, nói thông thạo tiếng Anh.
Catherine Monfazon là một trong những người đã đối xử ân cần và
giúp đỡ vợ chồng tôi trong cơn hoạn nạn. Vợ chồng tôi vẫn nhớ ơn
cô.
Chúng tôi như những người sắp chết đuối vớ được cái phao - được
ấm lòng và có thêm hy vọng để không chết nhờ rất nhiều người,
những người bạn ở nước ngoài. Trong khi bọn Việt cộng thù hận
chúng tôi, chỉ muốn chúng tôi khóc mếu, khổ sở, cố tình đầy ải cho
chúng tôi phải chết hoặc dở sống, dở chết, phải quỳ gối lậy van
chúng, những người bạn không quen biết từ xa ngoài vạn dặm đã
gửi tình thương cho chúng tôi. Xin cảm ơn tất cả.
°°°
Ngày xửa, ngày xưa…
Những năm 1940… trong thị xã Hà Đông nhỏ bé, hiền hòa
chú thiếu niên hai mươi mùa mít chín sau đó tự nhận là
Công Tử Hà Đông được đọc lại hai câu thơ:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Hai câu không nhớ của thi sĩ nào làm. Sau tìm và biết là của Xuân
Diệu. Chú thấy ý thơ hay hay. Hai câu ấy ở mãi trong trí nhớ của
chú.
Bốn mươi mùa sầu riêng trổ bông sau đó một người tù cải tạo ở trại
Lao động Xã hội chủ nghĩa Z30A Xuân Lộc Đồng Nai được con trai
lên thăm, đem cho quyển Anthology of English Poems do Đại học
Oxford ấn hành. Tuyển tập thơ Anh dầy hai ngàn trang giấy, hơn
một ngàn bài thơ của Shakespeare, Shelly, John Donne, Robert
Browing, Mary Elizabeth Coleridge. Trong tập thơ, người tù yêu thơ
tìm thấy bài thơ
The Call
Sound, sound the clarion, fill the file!
Throughout the sensual world proclaim:
One crowded hour of glorious life
Is worth an age without a name.
Thomas Osbert Mordaunt
Đêm buồn nằm thao thức trong tù nghe tiếng gió vi vu thổi đến từ
núi Chứa Chan, người tù cảm khái bèn mần thơ dịch:
Tiếng gọi
Kèn vang lên, trống nổi lên
Lặng yên nghe - Tiếng loa truyền
Sống một giờ quang vinh rực rỡ
Hơn tầm thường trọn kiếp không tên!
Như vậy là phải chăng năm sáu mươi mùa ổi chín trước đây, Xuân
Diệu đã đọc bài tứ tuyệt The Call của T.O Mordaunt và lấy ý ra làm
hai câu
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!
Hai câu thơ làm người tù đi một đường cảm khái, nhớ lại cả một
thời thơ ấu "ngày xưa còn bé".
Vèo trông lá rụng đầy sân.
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi
Thấp thoáng đấy mà đã năm mươi mùa tu hú kêu trong những
vườn vải đỏ. Còn nhớ như in những ngày Tháng Tám năm 1945 chú
thiếu niên Hà Đông náo nức đi biểu tình giành độc lập, những ngày
đi kháng chiến thật đẹp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, gót chân
liên lạc viên đi dưới núi Thiên Thai, cửa Chùa Tiêu Sơn, Rừng Khế,
nơi có lăng tẩm của các vị vua triều Lý ở trước làng Đình Bảng,
từng sống trong thành Cổ Loa có giếng nước tục truyền được dùng
để rửa ngọc trai thật tốt, trừng sống trong làng Phù Đổng ven đê
sông Đuống, quê hương của Thánh Gióng, những đêm mùa đông
nước cạn, buộc quần áo lên đầu, ôm cây chuối bơi qua sông
Đuống… Những năm xưa ấy, người tù Z30A "yêu mê" Việt Minh đến
là chừng nào.
Vật đổi sao dời, khi nón cối, dép râu, súng AK, cờ đỏ ngơ ngáo vào
Sàigòn, chú thiếu niên năm xưa nay đã ở vào số tuổi của Mã Giám
Sinh cùng không biết bao nhiêu người khác bị Bác và Đảng cho đi tù
mút mùa Lệ Thủy. Chú không bị Bác giết là may, chú không chết vì
bị Bác xách cổ đem đi trồng cũng là may.
Đã cảm khái người tù Z30A còn xúc động hơn khi anh đọc bài thơ
Respice Finem của Francis Quarles. Đêm cuối năm lạnh lẽo trong tù
anh nằm dịch bài thơ ra tiếng nước anh. Đây là nguyên bản:
Respice Finem
My soul, sit thou a patient looker-on
Judge not the play before the play is done
Her plot hath many changes , every day
Speaks a new scence, the last act crowns the play!
Francis Quarles
Vở tuồng đời
Ôi hồn ta ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Tuồng đang diễn, làm sao ta biết
Mỗi ngày qua là một đổi đời
Chờ đến lúc coi xong màn kết
Mới biết tuồng hay dở mà thôi.
Trại cải tạo Z30A. Tháng 10-1989
phần 7
Vài anh tù lỡ lời gọi cai tù là "đồng chí" liền bị các "đồng
chí" cự:
- Anh nói ký gì? Ai "đồng chí" mí anh? Bậy bạ…
Nội quy nhà tù Xã hội chủ nghĩa có điều bắt buộc người tù
phải gọi cai tù bằng cái tên chung là "Cán Bộ", không có
ông, anh, nhất là không có "đồng chí", "đồng rận" gì ráo
trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân
bị chúng bỏ tù là anh, chị, dù cho anh, chị có bẩy bó, tám
bó bằng tuổi ông bà nội ngoại chúng.
Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số những cán bộ lãnh đạo
văn nghệ Đảng những năm 1975-1985 lại ưu ái gọi một số
văn nghệ sĩ Sàigòn lơ láo đi dự cái gọi là "Khóa Bồi Dưỡng
Chính Trị" năm 1976 ở Nhà Hát thành phố HCM là "đồng
chí". Số là Việt cộng vào được Sàigòn từ Ba Mươi tháng Tư
năm 1975, nhưng mãi một niên sau - Tháng 5 năm 1976 -
họ mới nhân dịp cho cái gọi là Chánh phủ và Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi không xơi nước, phát
động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sàigòn
VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe
bông công an thành phố HCM đến tận nhà rước đi liền tù tì
trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.
Xin kể tên những người bị bắt theo trí nhớ của tôi: Vũ
Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ,
Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải
Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh,
Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc
Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm
Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng
Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân,
Tú Kếu Trần Đức Uyển, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn
Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu,
Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn "Hai chuyến xe bông"
v.v… Nhiều không nhớ xiết.
Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai
kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976 mới chấm dứt.
Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sàigòn đều bị bắt hết.
Những người chưa bị mặt mũi xanh xám không biết xe
bông công an đến rước mình lúc nào. Tháng Năm năm
1976, cái gọi là Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố HCM
tổ chức cái gọi là "Khóa Bồi dưỡng Chính trị" cho văn nghệ
sĩ Sàigòn "kẹt giỏ" hàng dân lơ láo ở Thành Hồ. Khóa Bồi
Dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới
văn nghệ Sàigòn đi dự: Thái Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng
Nguyễn Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng, Lệ Hằng Bản
Tango Cuối Cùng, Nguyễn Thụy Long Loan Mắt Nhung,
Phạm Thiên Thư Động Hoa Vàng v.v… Ông Mai Thảo may
mắn trốn thoát cuộc bắt bớ, ở ẩn đến hơn hai năm cho đến
đêm ông xuống tàu đi tìm đường cứu nước. Tử vi ông này
không có Sao Quả Tạ nên ổng không bị ở tù.
Khóa Bồi Dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không
nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai
Tháng Bẩy năm 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa
viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải
lương đông người nhất. Tất cả những anh em kéo màn,
chạy đề co - tức bầy dọn ngai vàng, bàn thờ Phật, bàn ghế,