hàng dừa, chiều chiều lên tuốt Chuồng Cu Nhà Quốc Hội
ngồi với Từ Chung, Cát Hữu, Xuân Mai - hôm nào Từ
Chung không đi thì có Phan Nghị - dự phiên họp Quốc hội
để viết bài tường thuật trên báo Sàigònmới. Những ngày ấy
đã xa rồi trong dĩ vãng. Những năm 1980, tôi gầy ốm
xương xẩu, đen đủi, thân xác chỉ còn xương với da. Nhiều
lúc đứng trước gương trong nhà tôi thấy tôi như con trâu
già. Một cô em văn nghệ của tôi, cô Thục Viên, hiện ở
Houston, Texas, có lần nói với tôi ở Thành Hồ những ngày
xa xưa đó:
- Em thấy anh đi qua, nhưng em không biết có phải anh
không nên em không gọi. Sao anh ốm quá…
phần 14
Trong những ngày đen hơn mõm chó mực ấy nhiều lần
đạp xế lang thang trên những nẻo đường Thành Hồ tôi
cũng có nhìn thấy vài người đàn bà trước 1975 có cảm tình
với tôi. Tôi có thể ghé xe đạp vào vỉa hè nói chuyện vài câu
với các nàng. Nhưng tôi không ghé. Ghé làm gì. Chỉ thêm
buồn tủi. Nhan sắc tôi tàn phai thảm thiết quá đỗi. Tôi muốn
giấu mặt tôi đi để các nàng đừng nhìn thấy. Hôm nay tôi xin
nói rõ: Tôi không hề có hân hạnh được "nịnh bà chủ vila
Kiều Trang" như chuyện diễn tả trong NTBKCB. Tự xét
thân tôi, tôi thấy dường như cả đời tôi chẳng nịnh, chẳng
bốc thơm, chẳng nâng bi qua một người đàn bà nào trên
cõi đời này. Ca tụng những nữ nhân vật trong tiểu thuyết
thơm hơn múi mít thì có, nhưng ca tụng đàn bà bằng
xương, bằng thịt, bằng da, đàn bà có ăn, có ngáo thực sự
trên đời này thì không. Nhiều người đọc truyện tôi viết thấy
tôi có vẻ vi vút phong tình, nhưng đấy toàn là chuyện tôi
phịa ra mà thôi. Tôi là anh đàn ông cơm nhà, quà vợ tầm
thường nhất cõi đời này. Quả đáng tội cũng có vài người
đàn bà chẳng may dính líu ái tình mí tôi nhưng đó là vì các
nàng kiếp trước quỵt nợ tôi nên kiếp này các nàng phải trả.
Dzậy thôi. Tôi không hề thả lời ong bướm quyến rũ rủ rê
bất cứ người đàn bà nào.
Về nữ minh tinh Kiều Trang thì cái gọi là quen biết giữa
nàng với tôi là như vầy: Năm 1956 có hai bộ phim Việt do
đạo diễn Phi Luật Tân thực hiện ra đời: Phim "Chúng tôi
muốn sống" và phim "Ánh sáng miền Nam". Những tên tuổi
Mai Trâm, Thu Trang, Khánh Ngọc, Lê Quỳnh nổi lên từ hai
phim này. Anh Đỗ Bá Thế, Giám đốc hãng phim Đông
Phương thực hiện phim "Ánh sáng miền Nam", nhờ bạn tôi
Minh Đăng Khánh, giúp phần quảng cáo trên các báo. Năm
đó tôi đang phụ trách cái gọi là Trang Điện ảnh cho nhật
báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của chủ
nhiệm Hồ Anh.
Gần Tết hay vừa Tết xong, hãng phim Đông Phương tổ
chức cuộc Thi Hoa Hậu Đông Phương ở Hội Chợ Quang
Trung, Minh Đăng Khánh chở tôi lên hội chợ trên chiếc
Lambretta của anh. Hội chợ buổi tối vắng còn hơn chùa Bà
Đanh. Khách dự cuộc thi hoa hậu ngồi ngoài trời lạnh thấy
mồ. Dự thi hoa hậu chừng mười lăm em. Các em toàn bận
áo dài - không hở cổ vì bà Lệ Xuân chưa lăng xê mốt hở
cổ, hở vai - có mặc quần đàng hoàng, đi qua đi lại vài vòng,
không có mặc áo tắm một mảnh, hai mảnh chi cả. Ta có thể
coi đây là cuộc thi hoa hậu thứ nhất ở Sàigòn.
Người về sau trở thành nữ minh tinh Kiều Chinh - người
được gọi là Kiều Trang trong NTBKCB - cũng lên đài biểu
diễn. Lẽ ra nàng được chọn làm Hoa Hậu Đông Phương,
nhưng vì nàng không ghi danh dự tuyển nên Ban Giám
khảo trao tặng nàng một giải đặc biệt. Tôi theo Minh Đăng
Khánh vào cái gọi là hậu trường quây bằng cót để phỏng
vấn nàng đôi câu về đăng báo.
Sau đó nàng bốc lên - không như diều gặp gió mà như phi
cơ phản lực - nàng lên hình bìa tạp chí Kịch Ảnh Số Một,
đóng phim "Hồi Chuông Thiên Mụ" v.v…và v.v… Thành
công với phim "Người Tình Không Chân Tay", nàng trở
thành người cả nước biết mặt, biết tên v.v… và v.v…
Người có tài như cây kim nằm trong bọc chẳng ai bóp cũng
thò ra. Người đã có tài mà lại là đàn bà đẹp thì mũi kim của
các nàng còn thò ra nhanh gấp bội. Kiều Chinh có tài nên
Kiều Chinh nổi. Anh Con trai bà Cả Đọi lục lục thường tài
nên anh không nổi, không chìm, anh lình bình vất vả suốt
một đời chẳng lúc nào được trội hơn người.
- Khuất Duy, Dương Hùng, Hoàng Hải không bao giờ gọi
Đoàn Quốc bằng "cụ", bằng "bác" cả.
- Hoàng Hải có nhờ Trần Tam Tiệp, với tư cách Tổng Thư
ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, liên lạc với mấy nhà xuất
bản bên Xê Kỳ đã tái bản vài quyển truyện của y để xin tí
tiền cứu đói. Nhờ Tiệp tôi được chi - qua Tiệp - khoảng 400
đô. Trong mấy năm trời, tôi nhận được nhiều lần quà của
Tiệp. Nhưng tôi chỉ nhận được phần quà của tôi như anh
em có tên trong Danh Sách Con Cá của Tiệp. Khi tôi viết
bài gửi sang, Tiệp đưa đăng báo, anh em thường nhờ Tiệp
gửi tiền về cho tôi là tôi có tiền riêng mà thôi.
- Trong buổi gặp tối ấy chúng tôi có đọc một thư của Tiệp
nhưng thư ấy không phải là lá thư được đăng ở đoạn trên.
Thư của Tiệp viết cho chúng tôi có kèm theo một thư tiếng
Anh của vị Trưởng ban Writers in Prison Committtee của
Ban Chấp Hành PEN Intern gửi cho Tiệp, thư này nói đến
chúng tôi.
°°°
Tháng Chín 1977 công an Thành Hồ đưa xe bông đến Cư
xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ, đón tôi đi. Tôi nằm 12 tháng 2
ngày trong hai phòng Biệt giam 15 khu B, phòng biệt giam
6 khu C Một - kỷ lục nằm xà lim có thể là vô địch trong
hàng ngũ văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bị giam ở cái gọi là
Trại Tạm Giam số 4 Phan Đăng Lưu - Tháng Mười Một
năm 1979 tôi trở về Ngã Ba Ông Tạ. Lần tù thứ nhất này tôi
nằm ngâm thơ Ngồi Rù 23 tháng mây bay trong Số 4 Phan
Đăng Lưu.
Người bạn tôi gặp lần đầu tiên khi vừa về đến nhà là Lê
Trọng Nguyễn Nắng Chiều. Khi ấy Mai Thảo, Hoài Bắc
Phạm Đình Chương, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu - Thiệp
và Hiệu sống cùng khu Ông Tạ với tôi - đã vượt biên sang
Mỹ. Nhiều bạn tôi bị bắt trước tôi: Thái Thủy, Duyên Anh,
Thanh Thương Hoàng, Tú Kếu còn mỏi mòn trong những
trại cải tạo. Những ngày tháng đen hơn mõm chó mực ở
Thành Hồ cuối 79 tôi chỉ có một người bạn thân là Lê Trọng
Nguyễn.
Lê Trọng Nguyễn đi sang Hoa Kỳ với vợ con theo diện
đoàn tụ gia đình năm 1983. Gia đình vợ anh bảo lãnh cho
con gái và thế là Nguyễn và bốn con đàng hoàng lên máy
bay sang Mỹ. Gia đình Nguyễn là một trong số những gia
đình đầu tiên đi đoàn tụ gia đình.
Nếu Lê Trọng Nguyễn không đi khỏi Thành Hồ năm 1983
anh đã bị bắt cùng chúng tôi trong đêm 2 tháng Năm năm
1984 hoặc ít ngày sau đó. Chuyện đó chắc hơn đinh đóng
cột. Nếu Nguyễn bị bắt cùng chúng tôi, không biết đời anh
sẽ ra sao? Khi nhìn thấy nhau xách túi quần áo đứng chờ
trước cửa xà-lim, chúng tôi không ai nghĩ đến chuyện hai
anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường lại chết
trong tù.
Nguyên nhân Lê Trọng Nguyễn - nếu còn có mặt ở thành
Hồ tháng Năm 1984 - bị tóm là anh làm một bản nhạc hành
khúc. Anh đưa cho tôi và bảo:
- Mày làm lời bài này cho tao. Tao tặng Kháng Chiến
Quân…
Tôi nói chỉ có người soạn nhạc lấy thơ phổ nhạc, tôi không
thể làm lời nhạc được vì lẽ giản dị tôi mù tịt về âm nhạc, mù
tịt luôn cả dương nhạc. Nguyễn làm lời rồi đưa bản nhạc
cho tôi gửi sang Mỹ. Tôi đặt tên cho bản nhạc rồi viết thêm
vài dòng:
Tiếng hát trở về
Tặng các bạn Kháng Chiến Quân. Nhạc và lời Trung Nhơn.
Trung Nhơn là một nhạc sĩ nổi tiếng của chúng ta từ lâu trước 1975.
Hiện ông đang sống ở Sàigòn. Vậy chúng ta cứ tạm biết ông với cái
tên Trung Nhơn.
Tôi gửi bản nhạc đi. Năm ấy là năm 82. Thấm thoát vậy mà đã
mười mấy mùa lá rụng. Những ngày như lá tháng như mây - Thơ
Thanh Nam, - tôi không nhớ tôi gửi cho ai, cho báo nào. Thế rồi
Nguyễn đi khỏi Thành Hồ vào cuối năm 1983, đi khỏi đường Nguyễn
Minh Chiếu bị đổi tên là Nguyễn Trọng Tuyển, tôi mất thêm một
người bạn tốt.
Vào hai giờ sáng ngày 2 tháng 5, 1984, bọn đầu trâu mặt ngựa
cháu Bác Hồ, mười mấy tên kéo vào căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi.
Lực lượng công an đi vồ phản động lần này thật hùng hậu. Hai máy
ảnh nháng đèn liên hồi. Ít nhất nội trong đêm ấy chúng cũng phái
năm đội như thế đi bắt anh em chúng tôi: Doãn Quốc Sĩ, Dương
Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự và tôi bị bắt trong
cùng một đêm.
Xét nhà tôi chúng tóm được mấy bức thư Nguyễn từ Mỹ gửi về cho
tôi. Nhờ có kinh nghiệm vì đã bị bắt một lần tôi cẩn thận cất giấu tất
cả những gì tôi viết. Khi ta đã cất đến ông nội chúng nó cũng không
tìm thấy. Chỉ vì ta như những em gái trinh hớ hênh, ta để tài liệu
khơi khơi trên bàn, bên gối, trên giường, trong tủ nên chúng mới dễ
dàng tóm được mà thôi. Chúng vớ được mấy lá thư của Nguyễn vì
tôi thấy thư viết chuyện đời sống của Nguyễn và gia đình ở bên Mỹ,
toàn chuyện vô thưởng vô phạt nên để thư trong ngăn kéo bàn.
Theo đúng thông lệ và thủ tục thẩm vấn người mới bị bắt vô là bị hỏi
liên tiếp trong những ngày đầu. Tôi không chối tội vì tôi thấy tôi
không có gì phải xấu hổ vì những việc tôi làm. Hai nữa tôi không
chối vì tôi biết có chối cũng vô ích. Khi bắt mình chúng đã định
trước mức án. Chối thì mười năm mà nhận thì cũng mười năm. Chi
bằng nhận mình hách hơn. Ít nhất mình cũng không hổ thẹn với
chính mình. Lý do thứ ba làm tôi dễ dàng khai báo nhận tội là tôi
không thích nói dối. Tất nhiên không phải tôi nói dzậy là suốt đời tôi
không bao giờ nói dối. Có chứ. Nhưng tôi đã viết: theo tôi thấy qua
kinh nghiệm mồ hôi và máu tươi của tôi - mồ hôi vì trong tù đông
người nóng quá, máu tươi vì phải đem thân gầy nuôi rệp xuất khẩu
thâu ngoại tệ về cho đảng Cộng sản bỏ túi và nằm trần không mùng
cho muỗi tha hồ đốt - với Công an cộng sản thì người tù chối hay
nhận tội cũng vậy thôi. Thêm nữa tôi dễ dàng nhận tội vì tôi chỉ
nhận những cái gì gọi là tội của tôi, tôi không phải khai báo việc làm
của anh em tôi. Đây là điều thoải mái nhất cho lương tâm tôi. Những
gì tôi biết về việc làm của anh em tôi bọn cớm cộng cũng đã biết.
Chúng còn biết về những việc anh em tôi làm nhiều hơn tôi nữa.
Công an Thành Hồ có sách báo của người Việt hải ngoại dễ hơn
chúng đớp cơm sườn. Tay sai của chúng ở các nước tư bản mua
đủ thứ sách báo Việt gửi về. Chúng chỉ việc nghiên cứu những bài
viết tìm xem tên nào đang sống trong vòng kìm kẹp ác ôn của
chúng dám liều mạng viết những bài tố cáo tội ác của chúng gửi ra
nước ngoài. Huỳnh Thành Trung, tên anh Công an thẩm vấn tôi,
mang vào Phan Đăng Lưu chừng năm bẩy tờ tạp chí hải ngoại.
Trong những tờ báo này có những bài chúng nghi là do tôi viết.
Chúng mang báo vào cho tôi đọc và hỏi rằng có phải bài này do tôi
viết không?
Chúng chỉ cho tôi đọc riêng bài nào chúng nghi tôi là người viết. Một
trong những lạc thú của những người viết là được đọc những bài
viết của mình được in rõ ràng, sáng sủa trên những trang sách báo.
Lâu lắm rồi tôi không được hưởng cái lạc thú ấy. Tôi khoái chí đọc
từ đầu đến cuối những bài tôi viết được in ở nước ngoài. Và tôi
nhận của tôi nếu bài viết đó do tôi viết, tôi nói không nếu bài viết đó
không phải do tôi viết. Tôi dùng nhiều bút hiệu dưới những bài ấy:
Ngụy Công Tử, Văn Kỳ Thanh, Yên Ba, Con Trai Bà Cả Đọi, Dương
Hồng Ngọc, Hồ Thành Nhân, Triều Đông, Hạ Thu v..v… Trên mấy
bài chúng nghi tôi là tác giả tôi thấy tên nào đó ghi mấy chữ "H2T?"
Hát Đơ Tê và dấu hỏi. Như vậy là có tên nào đó biết khá rõ về lối
viết, về cái gọi là "văn phong, ngôn ngữ" của HHT đã đọc bài viết
này và nghi bài đó là của Hát Đơ Tê.
Trong một số báo như thế tôi thấy đăng bản nhạc "Tiếng Hát Trở Về
tặng các bạn Kháng Chiến Quân, Nhạc và lời của Trung Nhơn,"
đăng nguyên con, đăng y chang. Ông bạn nhà báo nào đó nhận
được bản nhạc đã đưa luôn bản viết tay của chúng tôi lên máy chụp
luôn, in luôn. Chữ tôi viết lời giới thiệu, chữ Lê Trọng Nguyễn Nắng
Chiều Trung Nhơn Rởm lù lù trên trang báo. Còn chối chăng chi
nữa. Chối là con nít. Chữ mình viết rõ ràng. Có là con nó thì may ra
chối nó để yên, còn là bố nó mà đến nước ấy còn ngang ngạnh chối
nó cũng đá cho hộc máu.
Tôi nói:
- Đúng. Bài này tôi viết. Bản nhạc này do tôi gửi đi. Tác giả nó là
bạn tôi, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, anh bạn tôi đã sang Hoa Kỳ.
Anh công an nghiêm giọng:
- Anh nên khai báo nghiêm chỉnh. Đừng tưởng cứ đổ hết tội cho
người đã ra đi nước ngoài là được đâu.
Tôi chỉ nói:
- Mấy dòng chữ trên bản này là của tôi, những dòng này là chữ Lê
Trọng Nguyễn. Các anh đã bắt được thư của Nguyễn ở nhà tôi, so
tự dạng là các anh biết ngay chứ gì.
Anh công an thẩm vấn tôi lần tôi bị bắt thứ hai này chưa đầy ba
mươi tuổi. Anh sinh trưởng ở Sàigòn, thuộc loại con nhà "gia đình
cách mạng", tức có cha, anh, chú, bác là Việt cộng nên anh được
đưa vào ngành công an. Tên anh, bí danh hay tên thật tôi không rõ,
là Huỳnh Trung Thành. Tôi thấy tên anh ghi trên biên bản thẩm vấn
tôi. Dường như tôi có duyên nợ với những anh công an Việt cộng họ
Huỳnh tên Thành. Người thẩm vấn tôi lần trước 77-79 là Huỳnh Bá
Thành, lần 84-90 này là Huỳnh Trung Thành.
Trong những buổi thẩm vấn tôi Huỳnh Bá Thành thường ngưng hỏi
để trò chuyện với tôi, Huỳnh Trung Thành nói chuyện riêng ít hơn.
Anh còn quá trẻ so với tôi, anh không biết gì nhiều để nói. Có lần
anh tâm sự:
- Tôi sống ở Sàigòn nhưng các ông anh, bà chị tôi mới biết các ca sĩ
Thái Thanh, Anh Ngọc. Tôi không biết.
Xin kể một chuyện bên lề dính dáng đến hai ông Mít nổi tiếng trong
giới Mít Dzăng nghệ dzăng gừng hải ngoại nói chung, Xê Kỳ nói
riêng. Hai ông đó là ông Lê Văn đài VOA, và ông Đỗ Ngọc Yến nhật
báo Người Việt.
Như tôi đã viết hơn một lần: sau 1975 sợi dây liên lạc mong manh
duy nhất mà những Anh Con Trai Bà Cả Đọi kẹt giỏ Thành Hồ còn
có được với thế giới bên ngoài là những giờ phát thanh tiếng Việt
của hai đài VOA, BBC: Vợ Ông Anh, Bà Bán Cam, Bà Bán Cháo.
Mỗi ngày chỉ cần nghe hai đài này là chúng tôi có thể yên tâm là
mình biết tạm đủ tin tức trên thế giới.
Nhưng cũng có nhiều ông nghiện nghe đài nặng - tiếng đài là do ta
bị ảnh hưởng của người miền Bắc xã hội chủ nghĩa: Mua đài, nghe
đài, đài nói láo, báo nói sai - ngoài việc chờ nghe hai đài VOA, BBC
các ông này còn chịu khó nghe đài Úc. Có thể nói kể từ ngày những
đài VOA, BBC bầy ra giờ phát thanh tiếng Việt chưa bao giờ hai đài
lại được thính giả Mít chiếu cố nhiều như những năm sau 1975.
phần 15
Việt cộng có luật cấm nhân dân nghe những đài phát thanh
tư bản. Luật này lâu lâu lại được vẩn vương đem ra đăng
lại trên các nhật báo. Nhưng ngơ ngáo vào Sàigòn Việt
cộng bị tràn ngập bởi các máy radio. Sàigòn quá nhiều
radio Việt cộng kiểm soát không nổi. Việc nghe VOA, BBC
trở thành một nhu cầu phải có của nhiều người dân Việt
Nam Cộng Hòa thua trận. Những tháng năm đen tối ấy anh
Cao Hữu Đính, ông bạn vong niên của tôi, trang bị một máy
radio vừa dùng được điện vừa xài được pin. Anh đề phòng
những lúc Thành Hồ mất điện anh vẫn nghe được tin và để
buổi sáng anh mang radio theo anh vào phòng vệ sinh.
Giáo sư Cao Hữu Đính, nguyên giáo sư Phật học Đại học
Vạn Hạnh, nguyên Tổng Thư ký Hội Đồng Liên Tôn thời
Phật Giáo chống Tổng thống Ngô Đình Diệm, anh đã mãn
phần tại Thành Hồ năm 1993. Anh chị có bẩy người con.
Tất cả các con của Cao lão gia đều thành đạt và hiện nay
ở Canada, Hoa Kỳ và Pháp. Anh Đính chăm nghe radio,
nhớ những tin liên can đến Việt Nam để nói lại cho chúng
tôi nghe.
Hai ông Mít Ra-đi-ô ở hải ngoại được nhân dân Thành Hồ
nhắc nhở đến, hai ông cùng tên Văn, ông Lê Văn Đài VOA,
ông Đỗ Văn Đài BBC - Những năm 82, 83 buổi phát thanh
Tạp Chí Đông Nam Á chín giờ tối thứ năm trong tuần của
Đài BBC được Anh Con Trai Bà Cả đón nghe kỹ nhất. Tối
nào có mục đi ăn nhậu viả hè anh đều chăm chăm đạp xế
về nhà trước chín giờ tối để nghe Tạp Chí Đông Nam Á.
Tối nào vui bạn hay có mồi ngon, rượu tốt không đành lòng
nhẩy lên xế đạp trở về nhà để nghe BBC Đông Nam Á
được anh tiếc hùi hụi. Một trong những nguyên nhân làm
anh đón nghe đài BBC, VOA là để anh có điều kiện bàn tán
với thiên hạ. Sáng hôm sau đến tiệm hớt tóc hay quán cà
phê vỉa hè, nghe ai nói tối qua Bà Bán Cam loan tin này, tin
nọ, anh có thẩm quyền phát biểu: "Hổng phải thế ông ơi.
BiBiSi nói như vầy nè…". Nếu anh không nghe được buổi
phát thanh ấy khi thiên hạ bình loan anh bán tín bán nghi.
Ông Văn ra-đi-ô thứ hai là ông Lê Văn. Ông này được bà
con cô bác biết tên nhờ mục Âm Nhạc Việt Nam Hải Ngoại
VOA. Những năm 1980 nhạc chiến đấu của Việt Dzũng,
Nguyệt Ánh đang ở trong vòng hào quang sáng chói nhất.
Giờ phát thanh nhạc Việt hải ngoại có nội dung đả kích Việt
cộng đến nơi đến chốn. Bởi dzậy Việt cộng rất không ưa
ông Lê Văn. Sau khi Hoa Kỳ bang giao với Việt cộng, VOA
phái ông Lê Văn làm phát viên VOA ở Hà Nội, Việt cộng đã
không chịu cho ông về nước. Trong khí đó thì Đỗ Văn BBC,
một Công Tử Hà Đông rất ít khi chịu nhận mình là Công tử
Hà Đông, cùng đi với bà Judy Stowe BBC, đã đàng hoàng
trở về Hà Nội, Thành Hồ với tư cách đặc phái viên BBC từ
những năm 88, 89..
Bà con kẹt giỏ nghe Đài VOA, kể cả những văn nghệ sĩ, chỉ
biết Lê Văn là ông Lê Văn. Bỗng dưng tuần báo Tuổi Trẻ,
cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành
phố HCM, đăng một bài đả kích đài VOA, gọi đích danh Lê
Văn VOA là ký giả Đỗ Ngọc Yến.
Anh Con Trai Bà Cả từng có hân hạnh được quen biết ông
Đỗ Ngọc Yến từ năm nhà ông còn ở gần Ngã Tư Hàng
Xanh xa lộ. Ngày 25, 26 chi đó Tháng Tư năm 1975, anh
còn gặp ông Đỗ Ngọc Yến ở Sàigòn. Ông và các ông Đỗ
Quý Toàn, Lê Tất Điều, Vũ Ngự Chiêu, Phạm Hậu, Phạm
Huấn, Thanh Nam v.v.. cùng nhiều ông khác dzọt đi thật lẹ.
Từ khi tờ Tuổi Trẻ loan tin Lê Văn VOA là Đỗ Ngọc Yến
bang chúng Cái bang Saìgòn đều cho là đúng. Chẳng còn
ai théc méc gì.
Bị bắt, anh Con Trai Bà Cả Đọi cùng người anh em cùng
vợ mí anh là Công Tử Hà Đông không thấy phiền hà gì với
những buổi được gọi làm việc, tức là đi chịu thẩm vấn. Cai
tù đến dùng sâu chìa khóa đập mạnh vào cửa xà lim - Hán
Việt văn huê gọi là Biệt Giam - và gọi: "Hát… Hát… Tê… đi
làm việc…". Phải viết là "được" đi thẩm vấn vì phòng tù xã
hội chủ nghĩa, nếu là phòng biệt giam, tức sà-lim thì người
tù nằm một mình quá buồn, muốn được ra ngoài cho
thỏang khoát, muốn được nói chuyện dù là nói chuyện với
kẻ thẩm vấn mình, nếu ở phòng tập thể thì phòng nhồi nhét
quá đông người. Bẩn, nóng, ồn ào, hôi thối. Mùi người.
Đụng chạm. Đó là những gì có mặt thường trực Vảnh Sít
xuya Vảnh Cát ở tất cả những phòng tù Việt cộng nhốt
nhân dân thân thương, nhốt những đồng bào của chúng
không những chỉ ở Thành Hồ mà là ở khắp nước Việt Nam
đau khổ. Được gọi đi thẩm vấn, ít nhất cũng được ra khỏi
cái phòng giam bẩn thỉu ấy trong vòng hai tiếng đồng hồ,
được ngồi tương đối thoải mái ở một chỗ tương đối vắng
người, được công an Việt cộng mời hút thuốc lá Mai, Vàm
Cỏ v.v…
Trong một buổi thẩm vấn thường lệ khoảng Tháng 8 năm
1984 anh công an Huỳnh Trung Thành mở cặp lấy ra
quyển sổ bìa đen. Anh để một tấm các nửa trong nửa ngoài
trong sổ, phần tên tuổi người trong tấm các được che đi,
chỉ cho tôi thấy tấm ảnh căn cước cỡ cát-xít. Thành hỏi tôi:
- Anh biết ai đây không?
Tôi nhìn ảnh. Tôi gặp người trong ảnh này cuối tháng Tư
1975. Bi giờ là tháng Sáu 1984. Thấm thoát dzậy mà đã
chín mùa lá rụng. Tôi tưởng như tôi mới gặp ông ấy có
ngày hôm qua. Tuy không được giao du thân mật với ông
nhưng tôi không làm sao quên được dung nhan của ông.
Ông trán cao, tai lớn, mặt vuông cương nghị. Đặc biệt ông
có cặp kính trắng cận thị hơi dầy nên trông rất trí thức.
Chắc hơn bắp là mình nói đúng, mình cũng là tay kha khá
ở Sàigòn vì mình quen biết nhiều người quan trọng, tôi trả
lời:
- Nếu tôi không lầm thì đây là ảnh anh Đỗ Ngọc Yến…
Và để lấy điểm tôi tự khai báo thêm:
- Anh này hiện ở Mỹ. Nghe nói anh ta là Lê Văn đài Vê-Ô-
A.
Huỳnh Trung Thành gật đầu:
- Anh nói đúng đấy.
Tấm các được lấy ra cho tôi xem. Chẳng cần nhìn tên tôi
cũng biết đó là Đỗ Ngọc Yến. Đây là tấm phiếu lý lịch của
anh khi anh khai lấy thẻ căn cước hay xin thứ giấy tờ gì đó
ở trong hồ sơ Tổng Nha Cảnh sát của ta.
°°°
Tôi có tật viết vòng vo và quý bạn đọc vừa thấy tôi biểu
diễn một đường Lăng Ba Vi Bộ vi vút.Ý định của tôi khi ngồi
vào bàn gõ máy chữ Olympia mang theo từ Ngã Ba Ông
Tạ, Thành Hồ đến Virginia Rừng Phong A Linh Tôn là viết
về Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều, và về một người đã
thương xót, đã giúp đỡ an ủi khuyến khích, làm cho trái tim
vợ chồng, bố con tôi, kể cả trái tim thằng cháu ngoại của tôi
ấm lại.
Năm 1980 từ số 4 Phan Đăng Lưu trở về Ngã Ba Ông Tạ,
gặp lại Dương Hùng Cường - anh đi cải tạo trở về khoảng
năm 1979 - Cường bảo tôi:
- Trần Tam Tiệp, không quân, tức Đạo Cù, Con Ong, hiện
là Tổng Thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, ở Paris, có
gửi thuốc về cho anh em. Tôi đã cho Tiệp biết ông mới về,
địa chỉ ông, kỳ quà tới thế nào ông cũng có đấy.
Tôi gặp Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn nói:
- Có cô Phương Hương ở Pháp gửi thuốc về chi viện văn
nghệ sĩ. Tao có báo cho cô ấy biết tin mày. Địa chỉ của cô
ấy đây. Mày nên viết cho cô ấy…
Thế là tôi được ghi tên vào hai sổ Con Cá Nó Sống Vì
Nước Ngoài, sổ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại kiêm Văn Bút
Quốc Tế của Trần Tam Tiệp, Sổ Quan Thế Âm Bồ Tát Cứu
Khổ Cứu Nạn của cô Phương Hương. Khi gửi thùng thuốc
cho Lê Trọng Nguyễn, cô để tên người gửi là Lê Thị
Phương Hương, trên thùng thuốc gửi cho tôi cô đề tên
người gửi là Hoàng Thị Phương Hương. Gửi quà cho ai, cô
lấy tên họ người ấy. Tôi chắc trên thùng thuốc cô gửi cho
Mai Tuyết An, vợ Lý Đại Nguyên, cô để tên người gửi là
Mai Phương Hương.
Trong những năm đen tối, tuyệt vọng ở Thành Hồ, tôi may
mắn được khá nhiều người gửi đồ, gửi tiền về cứu trợ. Bà
Dì tôi và các em tôi không kể, cô Phương Hương là một
trong những người thương xót vợ chồng chúng tôi nhất. Tôi
chắc với tất cả mọi người - những chúng sanh lặn ngụp
trong bể khổ cõi Ta Bà - cô Phương Hương đều có tấm
lòng vị tha như thế. Tôi được biết tên cô là Cao Ngọc
Phượng, sinh quán Bến Tre, nữ bác sĩ. Cô là Phật tử thuần
thành, đệ tử của Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh. Tôi gửi một
số bài viết của tôi sang cô. Hai bài của tôi được đăng trong
tuyển tập "Tắm Mát Ngọn Sông Đào" do nhà xuất bản Lá
Bối ấn hành ở Paris năm 1982.
Tắm Mát Ngọn Sông Đào được lấy ra từ bài Sẩm Xoang
của tôi:
Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ
Cơm nhà quà vợ nửa rồ anh lại nửa điên
Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng chiền chiền
Ngày rơi ngày muộn, đêm phiền theo đêm
Nhưng mà em ơi… Anh ngẫm cái thân anh đến giờ này anh còn
nệm ấm, giường êm.
Vợ thương, con thảo, anh còn rên cái nỗi gì
Bạn bè anh như lá đài bi
Đứa thì dãi nắng, đứa thì dầm sương
Thằng sông Vô Định phơi xương
Thằng thì con vợ nó phú lỉnh một đường sang sông
Thơ xanh anh chép giấy hồng
Lúc hèn thì đến Quận Công cũng hèn.
Nói gì rằng đỏ, rằng đen.
Được cô Phương Hương thương xót, cứu trợ và đối xử chân tình,
tôi chăm chỉ viết thư cho cô, kể linh tinh đủ thứ chuyện trong nhà,
ngoài xã hội. Ngoài việc cứu trợ bằng phẩm vật, nâng đỡ tinh thần
bằng những lời thăm hỏi, cô còn giúp vợ chồng tôi nhiều nữa qua
những việc cô làm mà cô không nói, như trình bày trường hợp của
tôi với những tổ chức nhân đạo quốc tế để xin họ giúp đỡ, xin họ
can thiệp cứu tôi, lên tiếng đòi trả tự do cho tôi.
Tháng Năm 1984. tôi bị bắt lần thứ hai. Năm mùa lá rụng ngồi tù
nhìn nắng chiếu, mưa rơi ngoài song sắt phòng tù tôi mới được gần
Alice vảnh cát xuya vảnh cát ở trại Cải tạo Z30A Xuân Lộc, Đồng
Nai, Alice kể:
- Cô Phương Hương tội lắm. Anh bị bắt rồi, thư đầu cô ấy gửi về
cho con Giang. Cô ấy viết: "… Giang… con ôm chặt lấy Má cho
cô…"
Năm 1989 Doãn Quốc Sĩ và tôi ở trại Z30A , cô Phương Hương nhờ
một nữ đệ tử về thăm quê hương đem tiền cứu trợ đến tận nhà cho
chúng tôi. Nữ phật tử này cũng theo các vị sư sãi chùa Già Lam lên
trại Z30A thăm các vị Thượng Tọa Thích Đức Nhuận, Đại Đức Tuệ
Sĩ Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát và thăm gặp mặt cả
hai anh em Biệt Kích Văn Nghệ ở tù ở trại này là anh Doãn Quốc Sĩ
và tôi.
Năm 1990 lần thứ hai tôi từ nhà tù cộng sản trở về mái nhà xưa.
Cuộc liên lạc bằng thư từ giữa cô Phương Hương với tôi không còn
được thường xuyên như trước 1984. Cô cho biết cô đã xuống tóc,
trở thành Ni Sư, pháp danh là Chân Không, cô thường đi Ấn Độ,
Tích Lan đi khắp nơi học và thuyết pháp. Cô chuyên vào việc tu
hành. Việc quyên góp và cứu trợ đồng bào trong nước trong tổ
chức Phật tử tự nguyện của cô được cô trao cho người khác.
Tháng Chín năm 1995, Thiền sư Nhất Hạnh sang Hoa Kỳ trong một
chuyến đi hoằng pháp. Ni sư Chân Không ở trong đoàn tháp tùng.
Cô Chân Không phone cho tôi khi cô theo Thầy đến Washington
D.C. Cô mời tôi lên D.C. dự cuộc nói chuyện của Thầy. Người ta
đến nghe phải mua giấy vào cửa, tôi đến nghe free.
Hai ngày sau, Thiền sư thuyết pháp ở Arlington. Vợ chồng tôi lại
được gặp cô. Lần này vợ chồng chúng tôi được nói chuyện với cô
lâu hơn. Cô đến phòng hội trước để chuẩn bị, sắp xếp cuộc thuyết
pháp. Vợ chồng tôi đón cô trên đường cô đi vào hội trường. Gặp
chúng tôi cô hỏi ngay:
- Kiều Giang hồi này sống ra sao? Con nó năm nay mấy tuổi rồi?
°°°
Trích "Những tên Biệt kích cầm bút"
Chỉ vài ngày sau khi Đoàn Quốc nhận được giấy xuất cảnh thì
hầu như những người quen biết cũ trong làng văn, làng báo
trước đây cũng đều biết tin. Lâu nay, ít ai nhắc đến ông ta. Điều
đó cũng dễ hiểu thôi vì từ trước ông ta vẫn chuộng lối sống "ẩn
dật" khá khác biệt với các đồng nghiệp.
Ngoài nghề viết văn, ông ta còn là nhà giáo, ảnh hưởng sâu
đậm Nho giáo và của văn học Pháp, về sau này tốt nghiệp môn
giáo dục học ở Đại học California. Ông ta còn nghiên cứu về
Thiền và là bạn thân với các nhà sư tiếng tăm.
Tất cả những khuynh hướng văn học, triết học có vẻ trái khoáy
với nhau tập hợp lại tạo thành tính cách riêng, mặt này bổ sung
mặt kia, khiến cho các đồng nghiệp và độc giả của nhà văn
Đoàn Quốc thấy ở ông một tổng hợp nhiều màu sắc và có sức
thuyết phục!
Cái vẻ nho nhã bên ngoài khiến cho một số người coi đó là "tính
truyền thống" của văn hóa Việt Nam. Điều khác là "nhà nho"
Đoàn Quốc không có khăn đóng, áo dài mà khoác bộ cánh của
văn chương lãng mạn Pháp và những đường nét kỷ hà của văn
minh Mỹ ngang ngay sổ thẳng, chính xác và thực dụng. Vì vậy,
trong văn chương và cả trong cuộc sống ai theo thị hiếu nào
đều cũng có thể tìm thấy cái nhìn ưa thích nơi Đoàn Quốc. Vì
chính màn khói ảo giác ấy đã đưa Đoàn Quốc lên vị trí đàn anh
trong thứ trật tự "chiếu trên, chiếu dưới" trong làng văn Sàigòn
trước đây.
Thế mà nay mai ông ta sắp đi cùng đám con lai Mỹ, cùng với
các cụ già, cháu bé… được Nhà Nước cho phép xuất cảnh để
"đoàn tụ gia đình". Sự thật là vậy. Theo đúng chính sách, ông ta
ra đi theo diện người ngoài tuổi lao động, già yếu, được con cái
bảo lãnh, chứ không hề với tư cách một nhà văn. Ấy thế mà lại
có tin đồn, ông ta được "một tổ chức nhân quyền quốc tế" nào
đó can thiệp để ra đi với tư cách là một nhà văn "không thích
nghi với chế độ cộng sản"! Cái tin vịt ấy kể ra cũng có xuất xứ
của nó. Một vài tờ báo lá cải của nhóm lưu vong phản động bắt
đầu làm rùm beng, coi việc ra đi của Đoàn Quốc như là thành
tích "đấu tranh" của chúng buộc "nhà cầm quyền cộng sản"
phải nhượng bộ!
phần 16
Trích NTBKCB, tiếp theo:
Thế đấy, nhưng nghe ai bàn tán đến việc này, Đoàn Quốc cũng
không thanh minh, mặc ai hiểu thế nào cũng được. Được phép
xuất ngoại, ông ta càng tính toán tương lai. Cũng chính trong
thời gian đó, ông ta được bạn bè cũ ở nước ngoài báo cho biết
số tác phẩm cũ của ông được tái bản ở Mỹ, lại có người hứa
can thiệp để nhà xuất bản ấy trả tiền bản quyền cho ông ta.
Hàng chục nghìn đô la đâu phải dễ kiếm với người đã ngoài sáu
mươi như ông ta. Rồi đến lượt "Hội Văn Bút Việt Nam Hải
Ngoại" gửi thư chúc mừng ông ta sắp được "tự do", hứa hẹn sẽ
đón tiếp ông ta như một hội viên danh dự.
- Té ra, người ta vẫn còn nhớ đến mình như ngày nào! - Đoàn
Quốc tự nhủ - Thế mà lâu nay, chính ta lại quên lãng ta. Trong
đêm tối mặt trời vẫn tồn tại!
Chính vì tự thấy mình vẫn "tồn tại" với tư cách một nhà văn mà
Đoàn Quốc đã nhận lời và báo tin cho nhiều đồng nghiệp cũ
đến nhà Kiều Trang, dự buổi họp mặt với các đồng nghiệp cũ.
Vốn không thích ồn ào, ông ta lặng thinh khi cuộc họp chính
thức hôm ấy bắt đầu, nhưng cũng từ đấy, trong đầu ông nẩy
sinh ra bao dự tính khiến ông trằn trọc, nôn nao như đang thai
nghén một tập truyện dài. Đúng ra Đoàn Quốc rạo rực với tập
truyện "Dấu chân cát xóa" của ông ta viết từ năm 1972 đến
1974 và bản thảo đã được chữa xong ngày 16 tháng 5 năm
1975 - nửa tháng sau ngày thành phố được giải phóng. Tập
bản thảo dấu trên trần nhà được lôi xuống. Ông ta chong đèn
đọc mấy đêm liền, trân trọng như đọc tác phẩm của một văn
hào!
Tháng ngày lùi xa tít tắp như cuối trời sa mạc. Tìm lại những
dấu chân mình đã bị cát xóa. Bỗng thấy bầu trời "Springfield" -
cánh đồng mùa xuân ấy - gần gũi trong xanh mà Chương -
nhân vật trong truyện của ông ta - đã trở lại. Nơi ấy, những
năm tháng sau khi giải ngũ, Chương đã sang du học và tốt
nghiệp Ph.D . Nơi ấy Martha đã đến với Chương như một quà
tặng của tự do. "Tôi sẽ dùng xe buýt đi dọc theo xa lộ qua các
tiểu bang New Mexico, Arizona, Nevada và nhất định tôi sẽ đến
Los Angeles qua Thung lũng Tử thần (Chương nhấn mạnh).
Yes, Death Valley, I said" con lừa nhỏ của chàng Tappan.
Chàng Tappan đi qua thung lũng Tử thần dưới ánh nắng chói
lòa trên sa mạc cát bỏng. Những tia nắng đã thực sự biến
thành những mũi kim xiên thấu da thịt. Nhớ lúc Tappan chịu cơn
bão táp giết người về đêm, chết ngất trên lưng lừa. Thế mà
Tappan cũng lên được đỉnh núi tuyết và sống bốn mùa êm ả
trên đó. Thế rồi, giờ của định mệnh đã điểm. Tappan đã cứu
được con lừa Janet qua khỏi cơn bão tuyết, đưa nó từ đỉnh núi
băng giá xuống thung lũng mượt xanh. Con lừa được ăn cỏ và
sống, còn chủ nó đã chết vì kiệt sức.
"Mình là con lừa Janet hay là chàng Tappan?" Đoàn Quốc băn
khoăn tự hỏi. "Mình sẽ vượt qua thung lũng của sự chết - cái
đất nước khốn khổ này. Mình đến được đó là đủ rồi. Rồi ra sao
thì ra, miễn là thoát được cơn bão khốn kiếp này. Là con lừa
Janet may mắn hay chàng Tappan xấu số cũng được."
Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại "Martha!
Martha". Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa
mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang -
Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biêng biếc
như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương
biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn
man êm dịu… Springfield - cánh đồng mùa xuân - thủ phủ của
Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định.
Đến Springfield để trả món nợ tình… Thời gian, không gian giờ
đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên
tai Martha:
- The closer I get, the better you look.
Chàng có một cử chỉ "nhào đại", muốn hôn lên miệng Martha…
- A… a… a… a…
Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi
Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn
trịa của nàng
- Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.
Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy
những ánh sao lóe sáng rụng lả tả… rụng lả tả trên khắp vùng
da thịt…
…..
Đoàn Quốc tiếp tục đọc hơn trên hai trăm trang bản thảo. Như
trở về chốn cũ. Anh gặp lại người xưa. Ngỡ ngàng như quen
thuộc, gần gũi mà xa xôi. "Dòng sông tâm tưởng. Martha,
Martha!" Tiếng vọng từ bên kia dòng sông, hay từ bên kia đại
dương, của quá khứ nhạt nhòa đứt đoạn.
Ngoài đường đã bắt đầu tiếng xe chạy. Tiếng xích lô máy nổ lẻ
loi, vang động. Đoàn Quốc nghe cột sống lưng tê cứng, nhưng
không thấy buồn ngủ. Châm bình trà mới, đốt một nén hương
đuổi muỗi. Bẩy năm rồi đã ngủ triền miên để thức trọn đêm nay.
Để thấy lại bầu trời. Cánh đồng mùa xuân và Martha, thung
lũng tử thần và anh chàng Tappan tội nghiệp.
Gần sáng, Đoàn Quốc nẩy ý định viết tiếp "Dấu chân cát xóa".
Chương trở về nước làm giáo sư kiêm nhà văn. Lúc giải phóng
Sàigòn, hắn ta bị kẹt lại đi học tập cải tạo. Bẩy năm qua chẳng
là tấn bi kịch của cuộc đời được tiếp nối đó sao? Mặt trời đã
lặn, nhưng mặt trời không tắt hẳn. Nó sẽ mọc lại vào bình minh
hôm sau. Tappan đã vượt qua Thung lũng Tử thần nóng bỏng,
chết chóc để lên tận đỉnh non cao bốn mùa êm ả. Dẫu là đêm,
nhưng mặt trời vẫn tồn tại…"Đường lên mặt trời" - Đoàn Quốc
đã chọn để làm tựa đề cho chương tiếp của "Dấu chân cát
xóa".
Trên đây là một phần chương IV-NTBKCB. Nhân vật chính của
chương này là giáo sư - nhà văn Đoàn Quốc. Trong số năm tên
chúng tôi bị gọi là "Những tên Biệt kích cầm bút", Đoàn Quốc là
người được diễn tả đời tư với những lời tương đối sạch sẽ, tử tế
nhất. Không chỉ những giới thiệu đàng hoàng mà thôi dường như hai
anh cớm cộng Nam Thi - Minh Kiên còn có vẻ thán phục và đề cao
Biệt kích Đoàn Quốc. Kể từ 1954 - trước đó bỏ, ta chỉ tính sổ bụi
đời từ năm 1954 - đến năm nay 1996 là 42 mùa thu lá bay ông
Đoàn Quốc dậy học, viết văn, in sách, đi tù ở Sàigòn nói riêng và
trong nước nói chung, rồi ra hải ngoại, định cư ở Houston, Texas,
hai ông bà được mời đi khắp nơi gặp lại bạn hữu v.v… Suốt 42 mùa
thu đó ông Đoàn Quốc không bị một lời chỉ trích, chê bai, kể cả
xuyên tạc, vu khống, ghen tị, bới lông tìm vết, móc lò bậy bạ. Ngay
cả đến đại tá công an Việt cộng khi viết về người tù Đoàn Quốc
cũng viết với những lời lịch sự như ta vừa thấy. Trong khi ấy, thì bốn
tên văn nghệ sĩ Khuất Duy, Dương Hùng, Trần Ngọc Thự, Hoàng
Hải cùng được xe bông công an thành Hồ đến tận nhà rước đi trong
một đêm với ông Đoàn Quốc bị diễn tả như những tên lưu manh,
láu cá, đá cá lăn dưa hết sức tồi tệ. Khốn nạn nhất là anh cu Hoàng
Hải. Anh này không những bị chửi về đời tư bê bối mà thôi, bọn bắt
giam và viết về anh còn lôi cả ông ngoại anh vào những trang
NTBKCB.
Tác phẩm Dấu Chân Cát Xóa của Doãn Quốc Sĩ đã được ấn hành ở
hải ngoại. Tháng Năm 1995 anh chị Doãn Quốc Sĩ đến thủ đô Hoa
Thịnh Đốn. Trong sáu niên tù đầy lần thứ hai tôi ở chung phòng với
Trí Siêu Lê Mạnh Thát năm năm, chung phòng với Doãn Quốc Sĩ
hai năm. Không một lần nào chúng tôi hẹn nhau, dù chỉ là hẹn đùa
cho dzui: "Chúng ta sẽ gặp nhau ở Mỹ…". Dzậy mà… định mệnh an
bài… Nàm thao em piết….!
Tôi không hay đọc tác phẩm của người viết cùng thời. Trước năm
1975, tôi chỉ đọc những quyển "Tình cao thượng, Mối tình mầu hoa
đào, Hòa bình, nghĩ gì, làm gì?" của Nguyễn Mạnh Côn, Thương
Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng. Những ngày u buồn trống rỗng, đen tối
khủng khiếp sau Ba Mươi tháng Tư 75 quẩn quanh trong căn nhà
nhỏ, không có việc gì làm, không biết đi đâu, tôi lấy sách cũ ra đọc.
Vớ được quyển "Sầu Mây" của Doãn Quốc Sĩ trong tủ sách, tôi nằm
đọc "Sầu Mây".
Năm 1981, anh Sĩ từ trại cải tạo Gia Trung Pleiku-Kontum trở về.
Tôi gặp lại anh ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tôi nói với anh:
- Trong "Sầu Mây" cái đoạn nhân vật chính, anh chàng gì đó, sang
Mỹ du học, làm tình với em đầm Mỹ, anh tả: "Lúc ấy chàng cảm
thấy như nước tình yêu chan hòa trên mặt các lãnh tụ của cả hai
miền Nam Bắc…" Tôi thấy hơi quá đáng. Hai nữa, theo tôi nghĩ,
thằng đàn ông nào đến giây phút ấy còn bị ám ảnh về chuyện chính
trị thì đó là tên khổ sở nhất đời.
Nhà mô phạm tả chuyện đàn ông, đàn bà làm tình rạo rực, rộn rịp
mê ly đâu có kém gì những nhà văn nữ. Bằng chứng như ta đã
thấy. Công an Việt cộng khi trích "Dấu chân cát xóa" đã bỏ qua
những đoạn có tư tưởng chính trị để trích đoạn nhân vật Chương
trở lại Springfield, Illinois, với đầm Mỹ Martha. Anh Con Trai Bà Cả
Đọi xin chiếu lại hầu quý vị đoạn phim này:
Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại "Martha!
Martha". Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa
mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang -
Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biên biếc
như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương
biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn
man êm dịu… Springfield - cánh đồng mùa xuân - thủ phủ của
Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định. Đến Springfield
để trả món nợ tình… Thời gian, không gian giờ đây là của hai
người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:
- The closer I get, the better you look.
Chàng có một cữ chỉ "nhào đại", muốn hôn lên miệng Martha…
- A… a.. .a… a…
Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi
Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn
trịa của nàng
- Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.
Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy
những ánh sao lóe sáng rụng lả tả… rụng lả tả trên khắp vùng
da thịt…
Năm 1970 Nhật báo Sống của anh Chu Tử đang ở giữa thời kỳ
phồn vinh nhất trong cuộc sống ngắn ngủi của nó. Năm ấy ngoài
truyện võ hiệp Kim Dung như các báo khác, Sống đăng truyện dài
nơi trang trong của Nguyễn Thụy Long, Hoàng Ly, Anh Hợp, Hoàng
Hải Thủy. Báo Sống bán được có tiền, anh Chu Tử tăng cường hai
cây bút nặng ký: Nguyễn Mạnh Côn và Bùi Giáng.
Anh Côn viết loạt bài không hẳn là khảo luận, không ra luận thuyết
mà cũng không phải là tiểu thuyết, dưới cái tên long trọng là "Tuyên
ngôn của Tình Yêu và Ánh Sáng". Anh Bùi Giáng viết tiểu thuyết võ
hiệp. Anh Chu Tử có cái hay là khi anh đã nhờ ai viết cho báo anh
thì người đó hoàn toàn tự do muốn viết gì thì viết, anh không bao
giờ can thiệp vào việc viết của anh em. Thi sĩ Lá Hoa Cồn, người có
câu thơ bất hủ tả trong một đêm mà "… Cồn lê lên miệng đến ba
bốn lần" - Một hai lần chắc còn ngắc ngoải được, một đêm mà đến
ba bốn lần chắc chết - người từng dịch "Antoine et Cléopatre" ra
"Sương Tì Hải", viết tiểu thuyết võ hiệp không giống ai, anh dùng rất
nhiều tiếng "tồn liên, liên tồn" trong truyện. Kể cả bọn tôi, bọn thợ
viết, đọc truyện anh đăng trên báo Sống cũng chịu không biết anh tả
chuyện gì, nhân vật nói với nhau lời gì, ân oán ra sao.
Tôi có dịp gần anh Nguyễn Mạnh Côn khá nhiều. Trong số những
người trẻ từng gần anh Côn như Nguyễn Đình Toàn, Trần Dạ Từ,
Duyên Anh chỉ có tôi là người cùng đăng lính Cô Ba với anh Côn.
Tôi dám nói chắc mà không sợ mấy ổng kiện là những ông văn
nghệ sĩ lớn như các ông Nguyễn Mạnh Côn, Bùi Giáng, Chu Tử,
Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, kể cả hai ông thi sĩ mần thơ Tình Yêu vi
vút nhất là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… đều là những ông đàn
ông ít biết về đàn bà nhất và biết ít đàn bà nhất.. Xin nói rõ: biết ít
đàn bà nhất. Ông nào cũng vừa mới mười chín, đôi mươi là có vợ
hiền, suốt đời cơm nhà, quà vợ. Dzậy mà kể cũng lạ và cũng hay:
các ông vẫn viết về tình yêu và đàn bà loạn cào cào.
Tôi chịu khó đọc những bài "Tuyên ngôn vềTình Yêu và Ánh Sáng"
của anh Côn đăng trên báo Sống. Một sáng tôi gặp anh đến tòa
báo, tôi bảo anh:
- Ông ơi…Ông làm ơn viết "Tình Yêu Ánh sáng" cẩn thận giùm con
một tí…
Đa số người viết thích thú khi gặp người đọc mình - khen càng tốt,
chê, chỉ trích cũng được. Miễn là có đọc mình - chê đúng thì nghe,
bậy bạ bỏ qua - Anh Côn tỏ ra hào hứng nghe tôi phê bình những gì
anh viết. Muốn phê phán văn anh ngoài việc đọc anh người phê còn
phải có công lực kha khá. Trong bài Nguyễn Xuân Hoàng phỏng vấn
anh Côn đăng trong Nhật báo Công Luận - khoảng năm 1968-69 -
anh Côn có nói: "Trong số những người trẻ tôi vẫn mến và cho là
viết được, tôi không ngờ Hoàng Hải Thủy lại là người đọc tôi kỹ
nhất…"
Khi nghe tôi nói câu trên về "Tình Yêu và Ánh Sáng" tại xe cà phê-
nước ngọt trên vỉa hè trước cửa tòa soạn báo Sống - Nhà in Tường
Anh đường Gia Long - Anh Côn hỏi tôi:
- Chuyện gì thế?
- Ông đưa ra mấy cái đền gì đó ở Ấn Độ có cả mấy trăm bức tượng
nam nữ mần tình đủ kiểu, ông kết luận: "Tại dân Ấn biết cách làm
tình nên họ thông minh!" Ông viết thế là thế nào? Tại vì họ biết làm
tình nhiều kiểu cho khoái lạc nên họ thông minh hay vì họ thông
minh nên họ biết cách làm tình? Ông viết như thế bọn trẻ nó đọc
ông, nó sẽ thấy muốn thông minh nó phải làm tình thật nhiều, làm
đủ kiểu. Làm tình như thế nó sẽ trở thành thằng điếm đực chứ
không thể trở thành người thông minh.
Anh cười:
- Được rồi. Ông nói thế tôi cũng biết thế. Tôi không nhớ tôi có viết
đúng như ông nói hay tôi viết khác. Tôi về đọc lại rồi sẽ nói chuyện
với ông….
Tôi định nói: "Cả đời anh chỉ biết có mỗi một người đàn bà thôi mà
anh cứ viết bừa tăng tít về đàn bà…" nhưng sợ câu đó quá hỗn, tôi
nói một câu nhẹ hơn:
- Anh chẳng biết đ.. là cái gì mà anh cứ viết loạn cào cào về đ…
Sáng nay, một buổi sáng hai mươi sáu mùa lá rụng sau buổi sáng
năm 1970 tôi gặp anh Côn ở trước cửa tòa soạn báo Sống, ngồi viết
ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tôi thấy hiện lên trong tôi
ánh mắt sau làn kính cận và miệng cười vui của anh Nguyễn Mạnh
Côn. Rồi tôi thấy hiện lên hình ảnh của anh trong Nhà Giam Số 4
Phan đăng Lưu năm 1977: buổi sáng chủ nhật, khoảng 10 giờ, cai
tù mở cửa phòng cho tù nhân ra sân ngồi phơi nắng chừng nửa
tiếng. Từ sà-lim nhìn ra qua ô cửa gió tôi thấy anh Côn ngồi bên lối
đi, anh bận bộ đồ ngủ nâu. Đó là hình ảnh cuối cùng của anh trong
ký ức tôi. Vài ngày sau anh Côn bị đưa lên trại cải tạo Xuyên Mộc và
anh chết ở đó.
phần 17
Trích "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút"
Cuộc họp giao ban thường lệ buổi sáng của Ban An Ninh công
an thành phố. Chỉ huy các đơn vị trực thuộc đã đông đủ. Màn
che tấm bản đồ thành phố đóng khung trải gần kín cả bề mặt
vách tường được kéo ra. Cán bộ tham mưu thuyết trình về
những diễn biến mới nhất trong hai mươi bốn giờ qua.
Chỉ huy trưởng lắng nghe. Bản báo cáo ngắn gọn. Thông
thường đồng chí sẽ phát biểu một số vấn đề rút ra từ tình hình
được phản ánh và ra những chỉ thị cần thiết. Cuộc họp chỉ kéo
dài 15 phút.
Sáng hôm ấy cũng vậy. Nhưng khi chỉ huy các đơn vị rời phòng
họp thì đồng chí Tư Tuân, phụ trách đơn vị chống phá hoại tư
tưởng được mời ở lại.
Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của
bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.
- Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?
- Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…. Tư Tuân
định hỏi "có vấn đề mới gì không?" nhưng anh thấy câu hỏi ấy
thừa, bởi chỉ huy trưởng đã mời ở lại, hẳn phải có "vấn đề" cần
trao đổi. Vì vậy anh bỏ lửng câu nói, nhìn đồng chí cấp trên của
mình, chờ đợi.
- Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói
của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần
phải chú ý tới nó.
- Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu - Thú thật với anh, tôi
chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê
hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món
hàng ôi đó! Thế nhưng những tên bồi bút đã nhẵn mặt và số
em út mới ngoi lên lại vẫn sản xuất ra những món hàng này để
lên dây cót tinh thần lẫn nhau, gây ảo tưởng cho nhau. Chỉ một
số người di tản bị lừa bịp, còn đa số những người khác không
xa lạ gì với những lời dối trá ấy. Đọc những thứ ấy giống như
phải mổ một xác chết thối rữa để giám định y khoa. Chán thật.
- Ừ. Chán thật. Kể ra, ta đâu có lạ gì chúng nó.
Đột nhiên đồng chí chỉ huy trưởng đặt một câu hỏi mà thoạt
nghe, tưởng đâu như ngoài đề câu chuyện đang trao đổi:
- Anh Tư còn nhớ vụ áp phe Martine Bokassa năm nào chớ?
Nghe người chỉ huy hỏi. Tư Tuân sực nhớ câu chuyện cũ mà
báo chí Sàigòn thời ngụy đã đăng tải dài dài, nhưng anh chưa
hiểu đồng chí chỉ huy trưởng của mình nhắc lại câu chuyện giật
gân ấy với dụng ý gì.
Bokassa nguyên là một trung sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp.
Những năm sống ở Việt Nam, trong những mối quan hệ "nhân
tình" ông đã gửi lại Sàigòn một đứa con gái. Pháp bại trận ở
Điện Biên Phủ, Bokassa trở về quê hương. Một thời gian sau,
ông được bầu làm Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi. Nhớ
đến giọt máu còn để lại ở Việt Nam, ông ngỏ ý nếu ai tìm ra và
đưa được người con gái của ông về Trung Phi ông sẽ hậu tạ.
Như vớ được một món bở, sứ quán một nước tư bản ở Sàigòn,
lúc bấy giờ đã tìm một cô gái lai da đen đưa sang Trung Phi và
bảo đó là con của vi đương kim Tổng thống nước này. "Sứ giả"
được đón tiếp nồng nhiệt và trả công rất hậu. Người con gái da
đen xấu số đang sống lam lũ ở một xóm nhà lá của Sàigòn,
nghiễm nhiên trở thành "ái nữ" của một Tổng Thống. Báo chí
gọi cô ta là Công chúa Lọ Lem của thời đại.
Ít lâu sau, bọn CIA lại tìm một cô gái da đen khác với đủ bằng
chứng khẳng định cô Martine Bokassa thứ hai đó là con gái của
Tổng thống Bokassa. Việt Định Phương, chủ nhiệm tờ báo
Trắng Đen, cầm đầu phái đoàn nhận lãnh "sứ mạng" đưa cô gái
ấy sang Trung Phi. Cùng đi với Việt Định Phương còn có bà mẹ
của cô gái. Bokassa nhận ra người "vợ" cũ và thừa nhận cô gái
bà ta là Martine Bokassa chính hiệu. Tuy thế, ông ta vẫn xử sự
đẹp với cô gái thứ nhất: nhận cô ta làm con nuôi. CIA đã thắng
lớn và kéo hẳn Bokassa về với nước Mỹ, đẩy lùi uy tín của
nước tư bản kia. Song CIA không phải dừng lại tại ấy. Sau này
cô gái ấy lấy một viên thiếu tá thân Mỹ và nghe đâu chính
người con rể này đã làm cuộc đảo chính Bokassa. Xứ Trung
Phi giầu kim cương đã rơi vào khu vực ảnh hưởng của Mỹ.
Chắc rằng Việt Định Phương cũng kiếm chác khá nhiều đô la,
chưa kể số kim cương do Bokassa thưởng công.
- Đấy! Vẫn giọng trầm dịu, đồng chí chỉ huy trưởng nói tiếp -
Nay vẫn tên Việt Định Phương là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo
Trắng Đen. Lại cũng vẫn Mai Thảo, Trần Bích Loan của nhóm
"Sáng Tạo" do USIS dựng lên… Vẫn nhưng quân bài ấy trên
tay bọn chủ cũ đang múa may ở Mỹ. Chúng đã sử dụng ngòi
bút để tập hợp bọn phản động ở nước ngoài. Chính tên Việt
Định Phương ấy núp dưới biệt danh Trúc Việt đã tô son vẽ
phấn cho tên Võ Đại Tôn, suy tôn hắn thành "người hùng phục
quốc", móc nối Võ Đại Tôn với Vàng Pao, đặt Tôn lên lưng cọp
rồi đẩy hắn về Việt Nam để phá hoại. Âm mưu chưa thực hiện
được thì Võ Đại Tôn đã bị ta tóm cổ trên đường thâm nhập.
Tư Tuân xen vào:
- Sau Võ Đại Tôn, chắc chúng sẽ nặn ra con rối khác.
- Đấy, đấy! - chỉ huy trưởng ngắt lời - Vấn đề là chỗ ấy. CIA đâu
từ bỏ những tên âm binh ấy, cháy tên này thì chúng tạo ra tên
khác đế… nướng tiếp. Không hiểu sau vụ ấy, cái tên chủ báo
Trắng Đen kia nhận được bao nhiêu đô la nhỉ?
- Cái đó thì chịu. Nhưng có tin nhiều tên trong bọn phản động
lưu vong định vặt lông tên đểu cáng ấy, khiến nó phải lỉnh ở xó
xỉnh nào đó, ít thấy xuất hiện. Nghe nói nó chuồn qua Châu Âu
rồi.
- Chắc thế thôi. Dẫu sao con rối ấy đã diễn xong phần kịch bản
mà bọn chủ dành cho nó. Và đến lượt một con rối khác. À, mà
tên thật của nó là gì nhỉ?
- Dạ, Phạm Thu Trước.
- Anh nhớ khá nhỉ, - Chỉ huy trưởng cười.
- Thật tình tôi không muốn nhớ những tên ấy, nhưng vẫn phải
nhớ. Thật là "tai nạn nghề nghiệp"
- Sao "ông bạn" lại coi là tai nạn nhỉ? - Chỉ huy trưởng cười
thông cảm và nói tiếp - Cuộc đấu tranh còn tiếp tục, thì ta còn
phải tiếp tục nhớ đến chúng. Dầu cho bọn này chết già, chết
ráo, cũng vẫn chưa xong. Lại có một số tên khác mới nẩy lên,
không chỉ ở bên đó mà ngay cả ở đây - Chỉ huy trưởng lật
những trang của tờ "Kháng Chiến" và dừng lại ở trang in bài ký
tên Trần Tam Tiệp - Như tên này, anh Tư có biết không?
Tư Tuân kéo tờ báo đến trước mặt, đọc lướt vài dòng. Cái tên
Trần Tam Tiệp ấy nghe rất lạ. Anh cố nhớ nhưng vẫn mù tịt. Chỉ
huy trưởng nói tiếp:
- Tên này chưa từng xuất hiện trên làng văn, làng báo Sàigòn
trước đây. Thật ra, trước đây hắn cũng có viết đôi bài báo
nhưng đều ký tên người khác. Tôi cũng mới biết qua về lai lịch
của hắn. Hắn nguyên là Trung tá An ninh Không quân ngụy.
Điều này đã được bộ tàng thư xác định. Ấy thế mà nay nó lại là
Tổng thư ký cái "Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại" đóng trụ sở
ở Paris. Công khai đấy, khỏi cần kiểm chứng, vì chúng treo
bảng hiệu đàng hoàng. Và Tiệp đã xách cặp đi dự hết hội nghị
này đến hội thảo kia, còn chủ tịch của nó là Trần Thanh Hiệp
mà mọi người đều biết là một trong những tay sai lâu năm của
sứ quán Mỹ ở Sàigòn. Đằng sau bảng hiệu ấy là gì, đó lại là
chuyện khác. Trong bài báo này, Tiệp lên tiếng đòi ta tha cho số
bồi bút phản động đã bị bắt và cho bọn ấy ra nước ngoài. Láo
thật. Anh đọc qua bài biết của nó đi, rồi ta bàn.
Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo
rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với
anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó
đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số "nhà văn" cũ và sách báo
mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật
là chán đến buồn nôn. Nhưng anh vẫn ráng đọc "để xem chúng
thế nào". Rặt một lũ chống cộng cuồng si, thể hiện lộ liễu ý thức
phản động cao độ. Đã có anh em nói đùa rằng "anh Tư đang
trở thành nhà nghiên cứu văn học thực dân mới" Cũng không
ngoa đâu vì đến nay Tư Tuân có thể quen thuộc khuynh
hướng, bút pháp những tên "nổi tiếng". Nhưng cái tên Trần Tam
Tiệp này thì anh chịu.
Khi Tư Tuân đọc xong, chỉ huy trưởng hỏi:
- Anh thấy thế nào?
- Thằng này láo, - Tư Tuân buột miệng.
- Đành thế. Nhưng cái mà chúng ta quan tâm là sự tác động
ngầm đối với những người ở lại đây, mặc dầu những người ấy
không cần và không muốn nó bảo vệ. Sau gần mười năm sống
dưới chế độ mới, họ đã tìm câu kết luận cho chính họ, họ đã
tạo dựng một cuộc sống mới. Nhiều người tiếp tục theo đuổi
nghề văn, nghề báo, một số đã chuyển sang nghề khác vì thấy
phù hợp với họ hơn; trừ một số ít ngựa quen đường cũ, bị rủ
rê, có người không đủ nghị lực, lại chứng nào tật ấy. Có người
phải di chuyển đến một nơi xa xôi nào đó để cắt mối liên lạc cũ.
Thậm chí có người tự nguyện trở vào trại.
Thế đấy. Cuộc sống nào cũng có quy luật riêng của nó. Ở đây
là quy luật của bọn phản cách mạng, bọn vong quốc lang thang
ở các nước Tây phương. Do bản chất và chịu sự tác động của
bọn chủ, chúng còn biết làm gì khác, nếu không tiếp tục chống
lại tổ quốc bằng cách thò vòi, kích động, móc nối những đồng
bọn của chúng còn lại ở trong nước. Nếu ta chặt đứt những cái
vòi ấy, chúng sẽ tịt ngòi.
- Vâng. Tôi nắm được vấn đề anh gợi ý. Xin anh cho tôi có thời
gian nghiên cứu thêm.
Chỉ huy trưởng đứng dậy, trao cho Tư Tuân cả mớ báo ấy và
dặn:
- Anh mang về đọc hết đi. Tôi chỉ xem qua, nhưng thấy có một
số bài có giọng văn quen quen. Trong hoàn cảnh đất nước ta
mọi sự phức tạp hơn chứ chẳng phải là chuyện văn chương
nhảm nhí. Có những tín hiệu có ích cho chúng ta đấy! Tôi sẽ
gửi thêm cho anh những tin tức từ bên ngoài để anh nắm thêm.
Ta sẽ có dịp bàn tiếp.
Tôi bỏ qua không điểm khoảng 40 trang hai anh cớm cộng viết
tưởng tượng lèm bèm về anh em chúng tôi. Chương VIII của
NTBKCB quý bạn vừa đọc gồm 8 trang, đánh số từ 74 đến 81.
phần 18
Trong Chương VIII hai anh đại tá công an Việt cộng đả
động đến một số văn nghệ sĩ ở hải ngoại. Những ông văn
nghệ sĩ đẻ bọc điều này, nhanh chân bỏ nước chạy lấy
người, phú lỉnh được sang Pháp, sang Mỹ. Nếu các ông bị
kẹt giỏ ở Thành Hồ chắc chắn tên tuổi các ông không được
Cớm ViXi nhắc đến trong quái phẩm chúng gọi là "Truyện"
này. Kẹt giỏ, các ông cũng giã từ vòng tay ấm, vòng tay
lạnh của bà vợ gầy để đi tù mút mùa Lệ Thu như chúng tôi
thôi.
Những người bị nhắc đến trong chương này là Việt Định
Phương, em Martine Bokassa, rồi "Mai Thảo, Trần Bích
Loan của nhóm Sáng Tạo do USIS dựng lên…" - tên cúng
cơm của thi sĩ Nguyên Sa được Cớm Cộng thêm vô một
chữ O to tổ bố - Võ Đại Tôn, đặc biệt luật sư Trần Thanh
Hiệp, Chủ tịch - dường như anh là chủ tịch tiên khởi, tức
bom-nhe, thứ nhất - của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại -
tôi không biết nên sài ở đây tiếng "bị" hay tiếng "được" với
việc bọn Cớm Cộng nhắc đến Luật sư Trần thanh Hiệp và
Hội Văn Bút: "… chủ tịch của nó là Trần Thanh Hiệp mà
mọi người đều biết là tay sai lâu năm của Sứ quán Mỹ ở
Sàigòn…"
Tôi thú nhận trong những gì tôi viết ra cứ 10 phần thì có 5
phần diễu cợt, bông lơn, tán nhảm, đấu hót lia chia, 3 phần
do tôi phịa ra, chỉ có may mắn hai phần là sự thật. Song ở
cái bài viết hôm nay - một sáng chủ nhật mùa xuân ở vườn
đất xứ Mẽo Virginia của những người Mẽo yêu nhau, người
Mít ở nhờ - tôi long trọng xin lỗi tất cả quý vị - nhân sĩ quốc
gia, quốc dzô và bạn hữu, thân cũng như sơ - những người
đã bị công an Việt cộng vu khống, bôi bẩn vì các vị có liên
can xa gần đến anh em chúng tôi. Các vị đã phải chịu một
tình trạng mà bọn tù nạn nhân cộng sản chúng tôi trong
những nhà tù gọi là "bị văng miểng". Miểng đây là miểng
lựu đạn. Bọn xấu quẳng lựu đạn vào gầm bàn bọn ngồi ăn
nhậu ở cùng phòng ăn với các vị. Chúng định giết bọn kia
nhưng vì các vị ngồi gần bọn kia nên các vị bị miểng lựu
đạn nổ dzăng trúng, thường thì các vị bị trúng miểng lựu
đạn nơi gọi là ti-bịa, các bà các cô thường bị trúng vào chỗ
để ngồi.
Và "đặc bịt" Chương BKCB này đụng đến nhà văn Mai
Thảo. Tôi nghe nói ông có làm bài thơ gì đó trong có hai
câu:
Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta lịch sử chép ngàn chương.
Đời ông lịch sử chép ngàn chương là chuyện tất nhiên kiêm tự
nhiên, chuyện chắc như bắp rang, như gạch tầu, như đinh 10 phân
đóng cột gỗ lim. Trong số ngàn trang ấy tôi xí phần viết về ông vài
ba trang lấy thảo.
Cả đời tôi không có một trang truyện nào ký tên tôi được xuất hiện
trên tạp chí Sáng Tạo. Đúng thôi. Những gì tôi viết đều thuộc loại
"hàng chợ", mà đã là "hàng chợ" tức là hàng rẻ tiền, hổng phải thứ
hàng nghệ thuật cao giá. Ba mươi mùa cóc chín trước đây ở Sàigòn
tôi nghe nói - tôi chỉ nghe nói lại thôi, người nói không nói trước mặt
tôi - ông Sần Foóng, tức Trần Phong Giao, báo Văn, tòa soạn ở
đường Phạm Ngũ Lão trước rạp xi nê Thanh Bình - xếp hạng tôi -
Hát Hát Tê - hổng phải là "nhà văn". Nghe nói lại câu đó, không
những tôi không buồn mà trái lại tôi còn coi ông Sần Foóng như
người tri kỷ. Tôi hổng phải là nhà văn và chưa một lần tôi tự nhận là
nhà văn. Cho đến bây giờ tôi vẫn tự nhận tôi là người viết tiểu
thuyết. Khi bị gọi là "nhà văn" tôi thấy ngượng. Bởi vậy việc tôi
không có mặt trên tạp chí Sáng Tạo của ông Mai Thảo là hợp lý.
Và cũng bởi vậy, tôi không được giao du thân mật với ông chi nhiều,
tôi hân hạnh được ông gọi bằng mày, xưng tao nên "kính trọng
không bằng vâng lời", tôi cũng xưng tao với ông và kêu ông bằng
mày.
Nhà văn Mai Thảo, tháng Ba, tháng Tư năm 1975, chỉ có một thân,
một mình, không vợ, không con. Dường như tháng ấy, ngày ấy ông
cũng chẳng có nhân tình, nhân bánh gì cả. Vậy mà nhiều ông văn
nghệ sỡi vợ con đùm đề, có ông còn đèo bòng vợ lớn, vợ bé, vẫn
bỏ nước chạy lấy người thoát thân, ông Mai Thảo cu ky đờ luých
vẫn cứ lang thang trên những vỉa hè Sàigòn thất thủ. Trước ngày 30
Tháng Tư 75 ông ngụ trong một phòng ở Nhà Chiều Tím cạnh phở
79 đường Võ Tánh. Sau Tháng Tư đen hơn mõm chó ông về ở một
phòng trong căn nhà của ông anh ông - ông Nguyễn đăng Viên -
đường Phan Đình Phùng.
Từ 30 Tháng Tư năm 1975 ông Mai Thảo cũng sống lêu bêu, vất
vưởng không khác gì các ông văn nghệ sĩ VNCH lớn nhỏ khác. Phải
nói rõ, những ông văn nghệ sĩ được nói đây là những ông văn nghệ
sĩ xi -dzin, tức là thường dân, lại có nghĩa là không ở trong quân
đội. Những ông văn nghệ sĩ quân nhân còn kẹt lại một tháng sau
ngày Việt cộng vào Sàigòn đã lên đường đi cải tạo hết. Ngày tháng
phất phơ không có việc làm, các ông văn nghệ sĩ bắt chước các
thầy Min Đơ, Min Toa đạp xế đạp đi lang thang tìm nhau, gặp nhau
ở những quán cà phê vỉa hè, đi ăn nhậu cũng vỉa hè cho đỡ buồn.
Thường dân Sàigòn thất nghiệp cũng mần y như những ông văn
nghệ sĩ cho qua thì giờ. Nghĩa là thường dân ngày ngày cũng không
có việc làm, cũng đạp xế đi lang thang, cũng ngồi cà phê vỉa hè cả
buổi tán dóc cho đỡ buồn. Gặp nhau tất nhiên là hỏi thăm kẻ còn,
người phú lỉnh, người đi cải tạo, rồi trao đổi những tin đồn. Thường
dân làm như thế thì không sao, nhưng văn nghệ sĩ làm như vậy là
không được, văn nghệ sĩ không có quyền tụ tập, trao đổi với nhau
những tin đồn.
Những ngày ấy Sàigòn có thật nhiều tin đồn. Đại khái vài tin: quân ta
còn rất đông trong rừng sẽ kéo về một ngày rất gần, Rằn ri xuất
hiện ở ngay Cát Lái, Thủ Thiêm, phi cơ thả dù đồ tiếp tế xuống Dốc
Mơ, Đà Lạt v.v… Ai sáng tác những tin đồn ấy? Tôi không biết. Tôi
chỉ biết những ông văn nghệ sĩ kẹt giỏ Sàigòn không phải là những
người sáng tác tin đồn. Các ông loan truyền những tin đồn các ông
nghe được thì có, sáng tác thì không.
Hai ký giả Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến bị tóm ngay từ
những ngày đầu tháng Năm 1975.
Tiếp theo là Uyên Thao, Vũ Ánh, Đoàn Kế Tường, Văn Chi. Nếu các
ông Chu Tử, Hồ Anh, Phạm Duy còn kẹt lại ở Sàigòn tôi chắc bọn
công an đặc vụ từ Hà Nội vào cũng đem xe bông đến tận nhà các
ông, ưu ái đưa các ông đi cất ngay mà không đợi đến mùa ổi chín
năm sau.
Tháng Ba năm 1976, công an Vixi mở chiến dịch bắt văn nghệ sĩ
Saigon. Trước khi viết đến chiến dịch bắt bớ này, tôi ghi lại vài dòng
về vụ nổ bom làm chết người mà bọn công an Việt cộng nói là có
dính líu đến một số văn nghệ sĩ. Tôi xin nói ngay những gì tôi viết
đây là những gì cá nhân tôi được nghe nói. Những sự kiện này
không có gì bảo đảm là chính xác.
Vụ nổ xẩy ra ở Hồ Con Rùa đường Duy Tân. Cả Thành Hồ xã hội
chủ nghĩa chỉ có một tờ nhật báo Saigon Giải Phóng. Tờ báo này
không loan một mẩu tin nào về vụ nổ ở Hồ Con Rùa, nên người dân
chỉ biết về vụ nổ qua những tin truyền miệng mơ hồ. Nghe nói có
nhiều người chết oan. Vụ nổ Hồ Con Rùa xẩy ra vào khoảng đầu
năm 1976. Vài tháng sau chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ Sàigòn
được tiến hành.
Huỳnh Bá Thành, dân Quảng Nam, trước năm 1975 vẽ biếm họa ký
tên họa sĩ Ớt ở nhật báo Điện Tín do Thượng nghị sĩ Hồng Sơn
Đông làm chủ nhiệm. Trước năm 1975, làng báo Sàigòn có những
họa sĩ Chóe, Tuýt, Hĩm, anh họa sĩ Ớt không sao nổi lên được. Việt
cộng vào Sàigòn, anh cu Ớt trở thành công an nằm vùng Huỳnh Bá
Thành. Quyển "Vụ án Hồ Con Rùa" do Huỳnh Bá Thành viết là
quyển truyện mở đầu một lô những quyển "Vụ án đủ thứ" sau đó.
Vụ nổ xưa rồi. Đã hơn hai mươi mùa lá rụng trên đường Duy Tân
cây dài bóng mát. Riêng tôi, tôi có hai điều cần viết về vụ nổ Hồ Con
Rùa:
- Người anh em nào gài chất nổ tại sao không cho nổ ở một cơ sở
nào của Việt cộng? Bất cứ cơ sở nào cũng được, không cần phải là
cơ sở quan trọng. Ngay gần đó, có Nhà Thanh Niên của ta bị Việt
cộng chiếm làm nhà triển lãm thường trực Tội Ác Mỹ Ngụy. Tại sao
người anh em không làm cử chỉ đẹp, cho chúng tôi được vinh hạnh
theo là cho nổ trong cái phòng triển lãm ấy? Biết là khó đấy nhưng
anh em cho nổ ở công trường Hồ Con Rùa, người bị chết chỉ là anh
em, con cháu chúng ta thôi.
Công an Việt cộng không bắt được ai là người đặt bom ở Hồ Con
Rùa. Vụ án chìm dần trong quên lãng và thời gian. Bọn cộng sản có
cái bệnh chung là chuyên giấu giếm, che đậy những sự kiện xấu xảy
ra trong xã hội chúng cầm quyền. Việt cộng tiết lộ rất mơ hồ về vụ
nổ Hồ Con Rùa cũng như về vụ cô đào Thanh Nga cùng ông chồng
Đổng Lân bị bắn chết ở Thành Hồ năm 1978. Đây là thời gian Tàu
cộng và Việt cộng đang hục hặc hăm he đánh nhau. Việt cộng đổ là
do bàn tay lông lá của bọn phản động Bắc Kinh đã hạ sát đào Thanh
Nga chỉ vì Thanh Nga đóng vai "Thái Hậu Dương Vân Nga" trong vở
tuồng cùng tên. Đại khái sự tích vở tuồng như sau: Cuối đời nhà
Đinh, nước Đại Cồ Việt nhỏ bé ở miền Nam sau ít năm độc lập lại bị
người Hán tính chuyện xâm lăng. Quốc gia lâm nguy, vua ít tuổi
không thể lãnh đạo quân dân chống cường địch, may sao nước nhà
có Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn là người anh dũng. Bà Thái Hậu
họ Dương bèn dẹp tình riêng, lo chuyện chung, lấy hoàng bào của
Vua cho Lê Tướng quân mặc. Hành động của bà Thái hậu đa tình
cho nhân dân biết cơ nghiệp nhà Đinh - mở đầu bởi người hùng Cờ
Lau Đinh Bộ Lĩnh - đến đây là chấm dứt. Ngôi Vua đã được đích
thân Thái Hậu Mẹ Vua trao cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn để
Tướng quân đánh giặc ngoại xâm, cứu nước. Nghe nói Dương Thái
Hậu còn đi xa một bước nữa trên đường thưởng công cho Thập đạo
Tướng quân bằng cách trở thành vợ của Tướng quân.
Đấy là ý chính vở tuồng "Thái Hậu Dương Vân Nga." Ngoài việc kêu
gọi đánh quân nhà Hán - năm 1978 là quân Trung cộng cờ đỏ búa
liềm năm sao vàng - vở tuồng còn có ý đồ khuyên đàn bà con gái
miền Nam bại trận nên quên chồng cũ - những anh bại trận này đã
chết và còn sống cũng như đã chết - để trao thân gửi phận cho
những anh chồng mới trẻ, khỏe hơn, những anh chiến thắng v.v….
Và chỉ có thế thôi - mà theo Việt cộng - "bọn phản động Bắc Kinh đã
giết nữ nghệ sĩ Thanh Nga…" Năm 1962, đào Thanh Nga đóng vai
chính trong bộ phim tình cảm Hai Chuyến Xe Bông của đạo diễn
Hoàng Anh Tuấn hiện sống ở San José, Cali. Hai chuyến xe bông?
Phải chăng đây là cái tên tiền định? Cô đào tài sắc có ông chồng
chết theo. Đám tang hai người cùng cử hành một ngày, một giờ. Dù
là vợ chồng cũng không tiện hai quan tài đi cùng một chuyến xe
bông ra nghĩa địa. Khi cô đào bị bắn chết thê thảm anh Con trai bà
Cả Đọi đang nằm phơi rốn cho muỗi đốt trong cái gọi là Trại Tạm
Giam Số 4 Phan Đăng Lưu, anh chắc đám tang cô ít nhất phải có
Hai Chiếc Xe Bông chứ không phải một.
Vòng vo tam quốc. Xin lỗi đã đưa quý vị đi theo cô đào Thanh Nga
Cải Lương chi bảo tài sắc nổi nhất, đắt giá nhất một thời … đến
nghĩa trang, bỏ quên nhà văn Mai Thảo Bảng Đường nằm cu ky hơi
lâu trong căn phòng của ông ở đường Phan Đình Phùng. Căn nhà
đẹp này nguyên là nhà của một ông anh của ông. Ông anh ù té
chạy được trước 30 tháng 4. Một ông anh khác của ông về ở nhà
này, dành cho ông một phòng. Có đêm theo ông đi chơi quá khuya -
nhà tôi ở mút chỉ cà tha tận đầu đường Lê Văn Duyệt, bị đổi tên là
đường Cách Mạng Tháng Tám, gần Ngã Tư Bẩy Hiền - tôi theo ông
về ngáo với ông trong phòng này. Tôi thấy trong ngăn kéo bàn ngủ
bên giường của ông có mấy bài thơ mới làm của Thi bá Vũ Hoàng
Chương. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Thi bá và bà vợ bị đuổi ra khỏi
cái vi la sang trọng trong khu Lăng Cha Cả - khi Thi bá là Thi bá,
người ta hân hoan được mời ông về nhà ở với người ta trong vi la
này. Khi cộng sản nói cối dép râu vào Sàigòn. Thi bá không những
chỉ hết là Thi bá mà còn bị coi như một thứ tội nhân văn học, người
ta đuổi ông bà đi không chút xót thương.
Thi bá cùng bà vợ về sống trong một khu lao động bên Khánh Hội,
Thi bá vẫn mần thơ. Ông làm nhiều bài thơ ngắn, bốn câu, sáu câu,
viết ngay vào mảnh giấy trao cho người đến thăm ông. Lý do Việt
cộng bắt ông là: "sáng tác và phổ biến thi văn phản cách mạng".
Trong tác phẩm Quần đảo Ngục tù - The Gulag Archipelago - Tác
giả Alexander Solzhenytsin viết đại khái: Sống trong kìm kẹp của
bọn mật vụ cộng sản, người dân khiếp sợ đến nỗi không những
không ai không dám làm một hành động phản kháng mà còn không
ai dám bỏ trốn. Như con chim trước con rắn, người ta chỉ mong bọn
công an đến gõ cửa nhà người khác. Nhớ lại thời người dân ở
Leningrad bị khủng bố, tôi nghĩ nếu chúng tôi, những người dân hiền
lành, chỉ chống đối bọn công an đêm đêm đi bắt người bằng cách
lén ra phá hoại xe ô tô của chúng thôi, đã có biết bao nhiêu người
không bị bắt, thoát khỏi việc bị chết trong ngục tù vì bọn công an
Leningrad không có xe để đi bắt họ. Có thể nói tất cả mọi người dù
biết mình sắp bị bắt vẫn cứ chịu chết ở nhà chờ chúng đến bắt.
Người ta nghĩ rằng với sự kiểm soát chặt chẽ của công an mình
không thể nào trốn thoát được. Bỏ trốn chỉ thêm tội nặng. Nhưng tôi
biết một sinh viên khi thấy bọn công an đến bắt anh, tung cửa sổ
nhẩy ra vườn sau chạy thoát. Và anh thoát luôn. Mười mấy năm
sau trở về thành phố tôi lại gặp anh….
Tình trạng người dân khiếp sợ bọn công an ở Nga dù sao cũng vẫn
không nặng bằng tình trạng xẩy ra ở Sàigòn và những tỉnh miền
Nam Việt Nam, nơi từng là một quốc gia riêng với đủ thứ lệ bộ, lễ
nghi của một quốc gia độc lập, nơi người dân trong mấy chục năm
trời từng đổ máu, đổ nước mắt chống cộng sản. Trong cái gọi là
Khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ Sàigòn, Hai Khuynh một
cán bộ biên tập tạp chí Đại Đoàn Kết, đến dự với tư cách hướng
dẫn viên , nói:
- Nếu chúng tôi còn yếu như năm 1954 thì lần này có thể trong số
các anh có vài anh bị chúng tôi cho đi mò tôm rồi đấy. Chuyện trả
thù tắm máu không xảy ra vì bây giờ chúng tôi mạnh rồi, chúng tôi
có Đảng lãnh đạo với chính sách đúng đắn…
Ý Hai Khuynh muốn nói là Việt cộng khi vào Sàigòn đã tha, đã
không đè cổ năm bảy văn nghệ sĩ VNCH ra cắt tiết lấy máu tươi
cúng Chủ tịch Hồ Chí Minh mừng ngày Chủ tịch dzô dinh Độc Lập.
"Mò tôm" là hai tiếng mới tinh, mới có từ những năm 1946, 1947
trong ngôn ngữ Việt Nam bốn ngàn bốn mươi năm văn hiến diễn tả
việc giết người của Việt cộng. Đêm đến , người chống đối hay
không chống đối nhưng bị Việt cộng cho là nguy hiểm bị chúng trói
tay, bịt mắt dẫn ra bờ sông, bãi cát vắng tanh - Tội nhân được đưa
ra bờ sông không phải để đứng ngóng đò như trong thơ Tê Tê Ca
Hát mà là để - bị bắn vào đầu, bị đâm, bị cắt cổ rồi bị đạp một đạp
cho nhào xuống sông. Từ đó, nạn nhân sẽ vĩnh viễn làm bạn với cá
tôm. Người dân miền Bắc gọi việc đó là "cho đi mò tôm". Hai
Khuynh là dân miền Nam kháng chiến tập kết ra Bắc nên sài tiếng
"mò tôm" khá nhuyễn.
Tôi nghĩ ta không nên vu cho Việt cộng nhiều tội ác hơn là những tội
ác họ đã làm với đồng bào của họ. Việt cộng, nón cối, dép râu, AKa,
tóc bím, răng cải mả, mông đít to như cái thúng, ngơ ngáo kéo
nhau vào Sàigòn như đàn bò vào thành phố ba triệu dân mà chỉ có
ba anh - Xin lỗi - Tính lại chỉ có bốn anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh
Công Sơn, Vũ Hạnh và Thái Bạch là bốn người quen sơ sơ. Ký giả
Thái Bạch, thường được anh em gọi là Thái Bịch, mặt mũi khó đăm
đăm, những ngày trước 30 Tháng Tư năm 1975 ngồi xào nấu tin lô
can, tin xe cán chó, tin người đánh nhau được gọi là tin "Từ thành
đến tỉnh" trong tòa soạn nhật báo Xây Dựng của Linh mục Thiên Hổ
Nguyễn Quang Lãm ở đường Thánh Mẫu, Ngã Ba Ông Tạ nổi tiếng
về mục Cờ Tây.
phần 19
Công tử Hà Đông nhấn nút linh tử xem lại vài cảnh bỏ
nước chạy lấy người thê thảm hai mươi mốt mùa cô hồn
tháng Bảy năm xưa. Phải nói là ngày ấy, tháng ấy, năm ấy
Công tử gà què kẹt giỏ chạy không kịp chứ không phải là
không muốn chạy. Từ trưa ngày 29 tháng Tư trực thăng
Mẽo bay vần vũ trên trời Sàigòn, tiếng máy bay quần thảo
suốt đêm. Tảng sáng Ba Mươi, trực thăng Mẽo vắng bóng
trên thành phố đầu hàng. 11 giờ trưa "Toỏng Thoóng"
Dương Văn Minh đọc lệnh buông súng trên ra-dzô, những
người lính Việt Nam Cộng Hòa bại trận, buông súng, vừa đi
vừa khóc trên hè phố. Đường phố Sàigòn náo loạn, người
ta chạy lên, chạy xuống như kiến vỡ tổ. Bốn giờ chiều có
anh nào đó tên là Tòng - Nguyễn hay Lê Văn Tòng - cùng
vài anh nữa hát bài "Nối Vòng Tay Lớn" chào mừng Việt
cộng trên đài phát thanh.
Năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười ngày sau một số ký giả
nhanh chân chạy đến "trình diện" ở Câu Lạc Bộ Báo Chí
đường Lê Lợi. Ở đây có một anh cán bộ nào đó tên là Kỳ
Nhân cấp cho đám ký giả Sàigòn nhanh chân chạy đến với
chủ mới những giấy chứng nhận "có đến trình diện" ký tên
Kỳ Nhân. Ít ngày sau, anh Kỳ Nhân này mất tích. Nhiều ký
giả nói với nhau: "Không biết thằng Kỳ Nhân là thằng nào.
Có lẽ tên nó là Kỳ Nhông thì đúng hơn…"
Bọn Văn Nghệ Giải Phóng Miền Nam chiếm tòa Đại sứ Đại
Hàn ở đường Nguyễn Du - nghe nói nhà này nguyên là
nhà của ông Nguyễn Hữu Hào, ông Quốc cữu thời vua Bảo
Đại - văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bảo nhau đến đó "trình
diện cách mạng". Thực ra Việt cộng nó chỉ ra lệnh và kêu
gọi các sĩ quan, công chức và đặc biệt là quý ông phú lít,
bác sĩ, giáo viên, nhân viên bệnh viện v.v… đi trình diện
thôi. Mới vào được Sàigòn Việt cộng đang có quá nhiều
việc rối tinh, rối mù. Họ không ngờ họ chiếm được Sàigòn
đẹp quá Sàigòn ơi dễ và nhanh ngon lành đến thế, hai là
họ chẳng thèm để ý, để tứ, để mắt, để mũi gì đến đám văn
nghệ sĩ Sàigòn nên họ hổng có kêu gọi mấy anh đi "trình
diện, trình mạo" chi ráo trọi. Mấy ảnh sợ và mấy ảnh tưởng
bở, mấy anh nghĩ "đi trình diện là tốt", nên mấy ảnh lơ láo
đến Tòa Đại sứ Đại Hàn nay đã đổi chủ. Công tử Hà Đông
cũng đến đấy.
Đến đấy mấy ảnh gặp ký giả Thái Bịch. Bộ mặt Thái Bịch
những ngày Việt Nam Cộng Hòa còn hùng mạnh trông đã
khó thương rồi, nay cờ đỏ sao vàng đầy thành phố bộ mặt
ấy trông lại càng ghê rợn. Ký giả nhà ta lúc thì mặt lạnh
như tiền, lúc thì hòa nhã với cái vẻ cố ý để cho những kẻ
đến gặp anh biết anh muốn nói với họ: "Bi giờ ngươi đã biết
Thái Bịch này chưa?"
Để chứng tỏ mình không phải là thường dân, mình là chiến
sĩ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, mấy anh cách mạng Ba
mươi chạy cờ, chạy hiệu, chạy bàn thường đeo cái băng
đỏ ở cánh tay. Đặc biệt Ký giả Thái Bịch đeo sề sệ một
khẩu Côn Đui bên hông.
Ký giả Thái Bịch nhờ ơn Bác, Đảng, được hạnh phúc đeo
Côn Đui- hay Côn Bạt, súng Mỹ -liên tục dễ đến hơn cả
tháng. Ít lâu sau, Việt cộng tổ chức lại, đem cái gọi là Hội
Văn Nghệ Giải Phóng về tòa nhà Tình báo Việt Nam Cộng
Hòa đường Trương Minh Giảng-Tú Xương. Bộ mặt hãm tài
của ký giả Thái Bịch không còn xuất hiện nữa.
Trở lại với Sàigòn ngày tan hàng. Nhiều anh em tù cải tạo
gọi là Ngày Đứt Phim. Lấy ý như là mình đang ngồi trong
rạp Rex xem đào E-Li-Za-Bét Tê-Lo mần tình với kép Rốc-
Hất-sân. Đang cụp lạc bỗng màn ảnh tối om rồi đèn bật
sáng. Những cặp tình nhân ngồi nghiêm chỉnh lại, tay chân,
miệng lưỡi không còn dính nhau, những trinh nữ sửa lại y
phục. Đèn sáng trong một lúc. Nhân tiện kháng giả đi đé.
Đứt phim. Khi phim nối lại, cuộc sống sẽ trở lại như trước.
Saigon ngày tan hàng. Nhìn lên trời thấy những chiếc trực
thăng bay ra biển Công tử Hà Đông cảm khái lẩy Kiều:
Ào ào gió dục mây vần
Trực thăng trong cõi hồng trần như bay…
Mai Thảo là văn nghệ sĩ Sàigòn duy nhất công an Việt cộng muốn
bắt mà không bắt được. Đúng là con người có số. Số ông Mai Thảo,
số ông Lê Trọng Nguyễn Nắng Chiều - những ông ba chân bốn cẳng
vắt giò lên cổ chạy thoát được trước Ngày Ba Mươi Tháng Tư
không nói làm chi - hai ông Mai Thảo, Lê Trọng Nguyễn sống ở
Thành Hồ cả mấy năm mà vẫn không bị Việt Cộng bắt - Số hai ông
là số không ở tù nên hai ông không bị ở tù. Giản dị và trong sáng,
dễ hiểu như vậy thôi. Hai ông chẳng giỏi giang gì cả.
Công an Việt cộng, nhất là anh Huỳnh Bá Thành họa sĩ Ớt nhật báo
Đồng Nai của Thượng nghị sĩ Hồng Sơn Đông, rất lấy làm cay cú vì
không bắt được Mai Thảo. Chúng lại càng ức hơn khi chúng biết
Mai Thảo vẫn sống giữa lòng Thành Hồ, vẫn gặp anh em. Cuối năm
1977 sau khi vác mặt mo đi dự cái khóa Bồi dưỡng chính chị, chính
em ruồi bâu kiến đậu Công tử Hà Đông được nhà văn lớn Bảng
Đường cho người đến nhà đưa thư.
Thư nhà văn lớn viết đại ý: "Tưởng mày cũng bị bắt nên tao không
liên lạc. Người cầm thư này là người thân của tao. Đưa nó mang về
cho tao mấy quyển truyện trinh thám Pháp. Tao suốt ngày nằm đọc
sách. Tao là kẻ thù của mặt trời…"
Công tử học hành dốt nát, tiếng Tây, tiếng Mẽo tiếng nào cũng ăn
đong nhưng tiểu thuyết tiếng Tây, tiếng Mẽo lại có khá nhiều. Toàn
là loại sách bìa mềm rẻ tiền. Đọc thư nhà văn lớn, Công tử bèn xếp,
không phải mười quyển mà là hai mươi quyển liền một khi, đưa anh
mang thư đem về cho nhà văn đọc. Đồng thời một thư cũng được
gửi Công tử gửi cho nhà văn lớn: "Hôm nào mày đến nhà tao
chơi…"
Người giao liên của Mai Thảo là anh cháu con bà chị của ổng. Anh
và gia đình hiện ở San José, Cali. Lần sau trở lại, anh cho biết Mai
Thảo chỉ ra khỏi nhà lúc sáng sớm và trở về nhà lúc tối mịt, anh sẽ
đưa ông cậu anh đến nhà tôi sớm, để ông ở nhà tôi, tối anh đến đón
về…
Một sáng Mai Thảo đến nhà tôi. Ông đội mũ phớt, để hàng ria mép.
Vợ tôi nấu cơm. Tôi đi mời bà dì tôi ở gần nhà sang chơi. Bà dì tôi,
vợ tôi, cậu, cháu Mai Thảo là bốn tay đánh chắn cừ khôi. Tôi chắn
cạ A B C nhưng phải ngồi dzô cho đủ năm tay. Tôi sinh trưởng trong
một gia đình tổ tôm, tài bàn, chắn cạ, bất, đố mười gia truyền.
Những tờ giấy bạc lương thiện do sức lao động đầu tiên tôi kiếm
được trong đời tôi là tiền chia bài. Những năm 40 với việc chia bài
mỗi canh chắn khoảng ba , bốn tiếng đồng hồ tôi kiếm được hai ba
đồng tiền công chia bài. Tôi chi số tiền này vào việc đớp bò khô
thoải mái. Năm ấy thịt bò khô Hà Đông - Sàigòn là gỏi đu đủ - một
đĩa là một hào. Một đồng bạc Đông Dương đớp được những mười
đĩa. Ở số tuổi một bó, một bó hai ba que tôi đớp liền tù tì bẩy tám
dĩa thịt bò khô giấm chua trinh nữ són đé mà vẫn tỉnh queo không
xót ruột, sót gan gì cả.
Vậy mà khi lớn lên, tôi lại không ưa cờ bịch một ly Cửu Sừng, Ông
Cụ nào cả. Về bộ môn cờ bịch có thể nói tôi biết đủ thứ. Nhưng vì
tôi không thích nên dù biết bí kíp mà không tập luyện nên võ công
của tôi không cao. Chắn cạ, mạt chược, cờ tướng tôi chơi thấp hơn
vịt… Vì thiếu chân nên tôi phải ngồi vào bàn chắn cho Mai Thảo tiêu
thì giờ trong một ngày quanh quẩn ở nhà tôi từ sáng đến tối.
Trước sau Mai Thảo đến nhà tôi chừng ba lần. Thế rồi tình cờ khi
gặp anh em ký giả ở đâu đó nghe họ nói:
- Mai Thảo bị bắt rồi
Tôi hỏi:
- Bị bắt hồi nào? Cách đây bao lâu rồi?
Với vẻ thản nhiên đầy quan trọng tôi nói:
- Bậy. Mới tuần trước Mai Thảo đến nhà tôi.
"Tin Mai Thảo đến nhà Hoàng Hải Thủy…" dần dần được chuyền
đến tai bọn công an muốn bắt Mai Thảo. Tôi tuy ngu nhưng không
đến nỗi không biết là tin ấy sẽ được truyền đến tai bọn công an Việt
cộng, tôi chỉ ngu si - vì lúc đó tôi chưa bị bắt - khi nghĩ tôi không có
tội gì khi tôi biết Mai Thảo bị lùng bắt mà tôi không báo cáo cho
công an đến bắt Mai Thảo, là công dân tốt, theo nghĩa tốt của Việt
cộng - tôi phải báo cáo với công an Việt cộng để họ giăng bẫy bắt
Mai Thảo. Nếu tôi vì tính chất phản động không chịu làm việc ấy thì
vợ tôi phải sáng mắt, sáng lòng đi khai báo mà không cho tôi biết.
Vì vậy, khi tôi bị bắt lần thứ nhất - lần bị bắt này của tôi không được
hai anh Nam Thi - Minh Kiên nhắc đến, dù chỉ nhắc sơ nửa dòng
trong quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút - người phụ trách thẩm
vấn tôi là Huỳnh Bá Thành. Lần thứ nhất gặp tôi trong phòng thẩm
vấn của Nhà giam số 4 Phan Đăng Lưu, Huỳnh Bá Thành tự giới
thiệu:
- Tôi là Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Ớt báo Đồng Nai. Anh gặp những
anh chị bị bắt và đã được thả chắc cũng có nghe nói đến tên tôi.
Khi tôi vào Số 4 Phan Đăng Lưu một số văn nghệ sĩ bị bắt tháng Ba,
tháng Tư năm 1976 đã được thả về: Hồng Dương, Minh Đăng
Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn, Dương
Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca, Xuyên Sơn, Minh Vồ, Hồ
Nam, Lê Xuyên, Trần Việt Sơn v.v… Tôi có nghe anh em kể vài mẩu
chuyện trong tù nhưng thực sự tôi chưa một lần nghe nói đến tên
anh Huỳnh Bá Thành.
Trước mắt tôi, Huỳnh Bá Thành gầy, đen, tóc chải sang bên trái cho
tôi biết anh thuận tay trái. Anh cho tôi biết bí danh anh là Ba Trung.
Anh cũng tự giới thiệu anh là tác giả quyển Vụ án Hồ Con Rùa.
Tôi không nói cho anh biết là tôi chưa nghe ai nói đến tên anh lần
nào, tôi không biết họa sĩ Ớt và tôi cũng chưa từng để mắt đọc nửa
trang truyện Vụ Án Hồ Con Rùa.
Tôi bị bắt chiều thứ Bảy - công an đến nhà tôi lúc 11 giờ trưa, khám
xét, tìm tang vật mãi đến khoảng 5 giờ chiều tôi mới vào đến Biệt
giam 15 khu B, Số 4 Phan Đăng Lưu - 10 giờ sáng Chủ nhật hôm
sau Huỳnh Bá Thành đã gọi tôi ra phòng thẩm vấn.
Mỗi lần Ba Trung thẩm vấn tôi rất lâu. Ngoài phần hỏi đáp còn có
phần nói chuyện linh tinh, lang tang về văn nghệ, văn gừng, chính
em, chính chị. Ba Trung thường gọi tôi ra thẩm vấn vào buổi chiều,
ngồi mãi đến chín, mười giờ tối mới thả tôi về biệt giam. Tôi không
lấy gì làm phiền nhiễu vì những lần hỏi cung dài lòng thòng này. Mới
bị bắt nằm xà lim một mình buồn thấy mồ đi. Được ra ngoài ngồi
thoải mái, được có người nói chuyện qua lại - dù người đó là Vixi -
cũng đỡ buồn hơn là cứ nằm đến mỏi nhừ cả người trên nền xi
măng xà lim. Tôi phải nói rằng Huỳnh Bá Thành đối xử với tôi rất
nhã nhặn, lịch sự. Anh ta không nói nặng tôi nửa câu, không tỏ ra
khinh bỉ hay vô lễ với tôi, cũng không đe dọa tôi nửa lời. Anh có thể
đe dọa tôi, nhưng anh đã không làm. Anh cũng không nói lời gì để
tôi thêm buồn , thêm sợ. Anh có đọc tập thơ của tôi - Sau ngày oan
nghiệt, tôi có làm một số bài thơ vẩn vương, chép vào một tập để
ngay trên bàn. Bọn công an xét nhà vồ được tập thơ này của tôi.
Giờ này tập thơ vẫn nằm yên trong kho Lưu trữ tang vật của Sở
Công an thành phố Hồ Chí Minh, trong tập có bài thơ tả cảnh Chợ
Trời Saigòn sau ngày ta mất nước:
Chợ Trời
Trời chiều đi dạo Chợ Trời
Xem đồ ta, ngắm đồ người cho vui
Tìm vui chỉ thấy ngậm ngùi
Vỉa hè này những khóc cười bầy ra
Lạc loài áo gấm, quần hoa
Này trong khuê các, sao mà đến đây?
Chợ bầy những đọa cùng đầy
Vàng phơi nắng quái, ngọc vầy mưa sa
Bán đồ toàn những người ta
Mua đồ thì rặt những ma cùng Mường
Chợ Trời hay Chợ Đoạn Trường
Đầu âm phủ, cuối thiên đường là đây!