The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút
Hoàng Hải Thủy

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-05-29 00:23:58

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút

Những Tên Biệt Kích Cầm Bút
Hoàng Hải Thủy

phần 20

Việt cộng vào Sàigòn, theo đúng thông lệ Cộng đi tới đâu
ruồi bâu đến đấy, thành phố Sàigòn thất thủ một sớm, một
chiều trở thành cái Chợ Trời khổng lồ. Người Sè Goòng
mang ra vỉa hè bán đủ thứ linh tinh. Hai chợ Trời đông đảo
nhất Sàigòn là Chợ Cũ và Chợ Lăng Cha Cả. Mộng ước
cao đẹp nhất của những anh nông dân Bắc Việt đi lính cụ
Hồ vào được Sàigòn là được làm chủ cái đồng hồ "không
người lái". Người bán đồ toàn là dân Sàigòn, người mua đồ
toàn là lính Bắc Việt cộng sản. Các em Lính Cái Việt cộng
mông to hơn cái thúng đi chợ trời tìm mua "Áo Mông" -
Montagut - đồ các em mua phải là đồ có chữ U Ét - US-
hay U Ét A - USA.

Ba Trung có đọc bài thơ Chợ Trời, anh nói:

- Anh làm thơ gọi chúng tôi là Mán, là Mường. Nếu các chú
đi bắt anh mỗi chú chỉ đánh anh một cái thôi giờ này anh
cũng ngồi không vững.

Cay cú nặng vì vụ vồ hụt Mai Thảo, Ba Trung nói:

- Anh thấy đấy… Chúng tôi định bắt một trăm anh là đúng
một trăm anh bị bắt. Chúng tôi chỉ có bắt hụt mỗi một mình
Mai Thảo.

Thấy anh đối xử với tôi tử tế, tôi nói:

- Các anh bắt vậy là hay quá rồi. Chỉ vì cái sơ suất này mà
các anh không bắt được Mai Thảo: chúng tôi có vợ con, khi

nghe tin anh em chúng tôi bị bắt chúng tôi quyến luyến vợ
con nên chúng tôi cứ ở nhà chờ không chịu bỏ đi. Mai
Thảo không có vợ con, sau giải phóng nó lại quen ở nhà
này ít lâu, ở nhà khác năm bữa nửa tháng. Nghe nói bị bắt
là nó lững thững hai tay không nó đi. Lẽ ra các anh phải bắt
Mai Thảo trước nhất, sau nó mới đi bắt những người khác.

Ba Trung hỏi:

- Anh có nhiều lần gặp Mai Thảo phải không?

Có cái tật không thích nói dối - mặc dầu đôi khi cũng nói dối
như máy - và không nói dối được, tôi trả lời:

- Có. Mai Thảo đến nhà tôi vài lần.

Ba Trung bất thần hỏi mánh:

- Cũng có khi anh đến rủ Mai Thảo đi chơi chứ?

Phải nói thật là tôi chẳng lần nào đến chỗ Mai Thảo trốn
tránh gọi anh đi chơi cả. Nên tôi trả lời ngay boong.

- Không.

Và tôi giải thích "tại sao không":

- Mai Thảo không nói cho tôi biết chỗ hắn ở là vì việc đó
không cần thiết, tôi không cần biết chỗ hắn ở làm chi. Tôi
không hỏi chỗ Mai Thảo ở vì tôi sợ nếu tôi bị bắt, các anh
sẽ hỏi tôi Mai Thảo ở đâu. Tôi không khai thì sợ các anh
hành hạ tôi. Tôi khai thì tôi ân hận vì tôi mà Mai Thảo bị bắt.

Vì vậy, tôi không hỏi. Nhưng bây giờ, khi đã bị bắt vào đây
rồi, nếu tôi biết chỗ Mai Thảo ở tôi khai với các anh ngay.
Nếu tôi còn ở ngoài mà tôi làm cho hắn bị bắt, tôi mới ân
hận. Đã bị bắt rồi, tôi chẳng có gì mà để sợ. Mai Thảo có bị
bắt thì nó cũng chỉ khổ như tôi thôi. Tôi chẳng áy náy gì về
việc khai ra chỗ nó ở để nó bị bắt vì tôi biết trước sau gì nó
cũng bị bắt thôi. Làm sao nó trốn mãi được…

Ba Trung không nói gì cả. Chèn đét ơi… tôi nói có lý quá
trời đi, còn bắt bẻ tôi vào đâu được. Bị Việt cộng bắt mình
khai báo với nó phải có lý may ra mới được nó nể nang
phần nào. Có lần, tôi nhớ vào buổi tối đã khuya, khi đã sửa
soạn ra về, cho tôi vào xà lim ăn cơm tù nguội cứng ngắc,
Ba Trung nói:

- Làm việc với anh, tôi cũng học được nhiều điều hay
hay…

Ba Trung nuôi mộng qua tôi, qua vợ tôi, bắt được Mai
Thảo. Có lần hắn bảo tôi:

- Tôi muốn anh viết một thư cho Hoài Bắc. Ý thư là anh báo
cho Hoài Bắc biết người ta, tức là chúng tôi, đã biết chỗ ở
của Mai Thảo, Hoài Bắc phải đến cho Mai Thảo biết để Mai
Thảo đi nơi khác ngay…

Tôi biết ngay mánh mung của Ba Trung. Trong tù thường
có người bị bắt khi được thả lén mang thư của người tù ra
ngoài, đem đến cho thân nhân người tù. Ba Trung muốn tôi
viết thư cho Hoài Bắc, hắn sẽ cho một chú công an nào đó
giả làm tù ở chung phòng với tôi trong Số 4 Phan Đăng Lưu
mới được thả, đem thư HHT đến cho Hoài Bắc. Được thư

Hoài Bắc sẽ nhẩy lên ngựa sắt lọc cọc đến chỗ Mai Thảo
hay cho người nhà đi báo tin cho Mai Thảo biết là công an
đã biết chỗ ở của Mai Thảo, nên đi chỗ khác ngay.. Anh em
Ba Trung chờ sẵn ngoài đường sẽ đi theo, ập vào nơi Mai
Thảo ở, còng tay Mai Thảo ngon lành.

Tháng 10 năm 1977, khi tôi ngơ ngáo tay bị còng, theo
những anh Công An Nhăn Dăn thành Hồ, đặt những bước
chân đầu tiên đi vào con đường tù đầy nạn nhân Cộng sản,
đặt những bước chân đầu tiên là lời nói văn huê để diễn tả
việc loạng quạng đi vào trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, các
ông Mai Thảo, Hoài Bắc vẫn còn vất vưởng ở Thành Hồ.
Nói rõ hơn là ngày tôi bị bắt các ông chưa vượt biên đi
thoát. Sở dĩ công an Thành Hồ không tóm được Mai Thảo
là vì Thành Hồ có trò vượt biên. Nhờ có vượt biên, Mai
Thảo mới thoát được tù đầy cộng sản. Nếu không có vượt
biên làm sao ông có thể lẩn tránh mãi. Bị Việt cộng vồ
trượt, lùng bắt từ tháng 3 năm 1976 cho đến đầu năm 1978
ông mới đi thoát. Thành tích sống ẩn mình chờ đi chui của
ông như dzậy là khoảng hai niên. Kỷ lục Guiness Mít.

Khi Ba Trung Huỳnh Bá Thành đưa cho tôi mảnh giấy bao
thuốc lá, cây bút, bảo tôi viết thư cho Hoài Bắc theo ý hắn,
tôi ngồi lặng đi nửa phút. Tôi thầm đọc Ba Kinh Kính Mừng
xin Đức Mẹ Maria làm cho lá thư tôi viết không gây tác hại
gì cho các bạn tôi. Tôi cẩn thận khẩn cầu cho chắc ăn.
Trong lòng tôi không tin Hoài Bắc khi nhận được thư tôi -
nếu Ba Trung cho công an giả làm tù được ra đến đưa thư
thực sự - lại lóc cóc đạp xe đến chỗ Mai Thảo ở để phi báo
ngay. Tôi chắc vậy, vì tôi biết Hoài Bắc cũng không biết rõ
chỗ Mai Thảo ẩn náu như tôi. Dù có nhận thư báo, anh
cũng chỉ chờ anh cháu liên lạc viên của ông bạn lại mới nói

cho biết. Nếu tôi là Hoài Bắc tôi cũng làm như vậy.

Hai mươi mùa lá rụng đã qua kể từ ngày ấy - không nhớ là
sáng, hay chiều, hay tối, trong phòng thẩm vấn số 4 Phan
Đăng Lưu, cửa ngõ tù đầy của những công dân thành phố
Hồ Chí Minh quang vinh, tôi cầm bút viết. Đại khái lời thư
tôi còn nhớ:

Hoài Bắc,

Người ta đã biết chỗ ở của Mai Thảo. Mày đi cho nó biết ngay
để nó đi chỗ khác. Ở lại đấy là bị vồ đấy.

H.H.T.

Tôi ký tờ thư ngắn. Ba Trung bảo tôi:

- Anh vẽ bông hoa dưới chữ ký anh.

Y xem tập thơ của tôi, thấy tôi thường vẽ bông hoa trên đầu bài,
trên chữ ký. Tôi có con dấu bằng đồng hình bông hoa và chữ ký tôi
khá đẹp. Khi đến bắt tôi, bọn công an lục soát lấy đi tất cả những
con dấu hoa hòe hoa sói của tôi. Tôi vẫn nghĩ bông hoa là biểu hiệu
tiền định của đời tôi. Hoa đẹp, hoa thơm, nhưng người ta không ăn
được hoa. Đời tôi an nhàn, có chút tiếng tăm còm, có vài ba nữ độc
giả ái mộ, vợ không đẹp lắm, con không khôn lắm nhưng cũng
không quá ngu. Đời tôi đúng như bông hoa. Không có tiền. Phải chi
thời trẻ tôi lấy dấu hiệu là trái sầu riêng hay trái mít. Tiếc thật. Lấy
dấu hiệu là trái đu đủ cũng có ăn. Hoa thì hèn chi hổng nghèo phai
nhạt nụ tầm xuân.

Dễ thôi. Tôi là người tù dễ bảo có hạng. Tôi vẽ bông hoa bên chữ ký
theo lời của Ba Trung. Tôi tin dù thư có đến tay Hoài Bắc anh sẽ
không tin đó là thư tôi. Vì tôi "mày tao" mí ông Mai Thảo, tôi không

"mày tao" mí ông Hoài Bắc. Ông Hoài Bắc không mày tao với ai cả
thì đúng hơn. Thư tôi "mày tao" vớí ông chắc vừa đọc ông đã thấy
có cái gì khác lạ. Tôi có thể "toa, moa" nhưng nhất định không thể
"mày, tao" vớí ông. Có vài lần tôi nghe ông Thanh Nam mày tao vớí
ông Hoài Bắc, nhưng ông Hoài Bắc vẫn cứ "tôi, anh" với ông Thanh
Nam.

Ba Trung có thực hiện mánh mung cho đàn em giả tù được thả đem
thư rởm của tôi đến cho Hoài Bắc hay không? Chuyện đó tôi không
biết và không bao giờ tôi biết. Hoài Bắc đã qua đời, hình như anh
mất năm 1993. Ở Thành Hồ chúng tôi biết tin Hoài Bắc nhờ nghe
đài VOA. Công an Việt cộng Ba Trung Huỳnh Bá Thành cũng đã
chết.

Tôi bị giam 12 tháng 2 ngày trong xà lim, Biệt giam số 15 khu B hai
tháng, Biệt giam 6 khu C Một mừời tháng. Khi sang phòng tập thể
cuối năm 1978 tôi được anh em tù báo tin:

- Mai Thảo, Hoài Bắc, Lê Thiệp, Nguyễn Hữu Hiệu… đi thoát hết.
Sang Mỹ cả rồi…

Nghe tin tôi nhẹ người.

°°°

Tuy không biết nơi ẩn náu của Mai Thảo tôi vẫn có thể chỉ
cho Ba Trung bắt được anh. Số là vợ chồng tôi chỉ về ở
căn nhà nhỏ của mẹ tôi vẫn bỏ không trong Cư xá Tự Do,
Ngã Ba Ông Tạ ba tháng sau ngày nón cối, dép râu ngơ
ngáo vào Sàigòn. Khoảng tháng Mười, tháng Mười Một đen
hơn mõm chó năm 1975 một tối buồn, trời trở lạnh, tôi đạp
xế lang thang trong những đường phố tang thương của
Sàigòn thương yêu. Khoảng mười giờ khuya ở đường
Phan Đình Phùng, đèn tắt tối om, tôi gặp ông Mai Thảo,
Hoài Bắc trên hai con ngựa sắt. Chúng tôi vào tiệm Nghi

Xuân đớp phở. Khi đang dùng dằng chưa nỡ rời tay mà
cũng chưa biết nên và có thể kéo nhau vào đâu chơi,
chúng tôi nghe người gọi tên:

- Hoài Bắc… Mai Thảo… Hoàng Hải Thủy…

Gọi mà gọi lớn tiếng chứ không vừa đủ nghe. Ông Đoàn
Khê - một tên khác là Khê Vinh - cầu thủ bóng tròn nổi tiếng
trước năm 1954 - trên lưng ngựa sắt ghé đến. Chúng tôi
trao đổi vài lời trên lề đường vắng.

- Bọn đá bóng Bắc Kỳ vào chúng nó có tìm ông không?

- Có chứ. Về bóng tròn thì tôi là Hồ Chí Minh của chúng
nó…

Đó là lời tuyên bố giữa đường của ông Đoàn Khê, tức Khê
Vinh, cựu cầu thủ Bắc Việt. Ba ông Khê Vinh, Mai Thảo,
Hoài Bắc đều đã ra người thiên cổ.

Đêm ấy trời quá khuya, tôi theo ông Mai Thảo về ngáo một
giường mí ông trong căn nhà một ông anh của ông phú lỉnh
được để lại. Sáng hôm sau, tôi rủ Mai Thảo về nhà tôi chơi.

- Mẹ tao đau, vợ tao lên hầu bà cụ. Có mình tao ở nhà.
Trưa mình đi đớp thịt chó.

Khu Ông Tạ Bắc Kỳ Ri Cư tám mươi phần trăm là dân công
giáo, nổi tiếng khắp Sàigòn về mục Cầy Tơ. Ngã Ba Ông
Tạ có một điểm độc đáo không nơi nào có là Ngã Ba được
gọi bằng tên ông thầy thuốc hành nghề ở đó. Ông thầy
thuốc tên là Tạ vẫn còn sống, vẫn ngày ngày hành nghề,

nhân dân ta đã lấy tên ông đặt cho toàn khu. Không có văn
bản địa đồ chính thức nào ghi địa danh ông Tạ nhưng địa
danh ấy nằm trên cửa miệng của người Sàigòn từ những
năm 1950 đến chưa biết bao giờ.

Trên đường đi, chúng tôi gặp Nguyễn Đình Toàn. Toàn đã
biết nhà tôi, anh bảo:

- Chúng mày về trước. Trưa tao đến.

Mai Thảo chỉ đến nhà tôi ở Cư xá Tự Do có lần ấy. Khi nhờ
anh cháu đến nhà tôi mượn truyện, anh chỉ có thể chỉ
đường lờ mờ.

Anh cháu của Mai Thảo nói với tôi:

- Ông cậu tôi đâu có nhớ số nhà. Ông chỉ nói là ông ở trong
cư xá Tự Do trước hồ tắm Cộng Hòa. Tôi có người quen ở
ngay cùng dẫy với ông, chỉ cách nhà ông có mấy nhà. Tôi
hỏi là trúng phóc.

Người quen của anh cháu Mai Thảo ở ngay gần nhà tôi.
Mỗi lần đến nhà tôi, anh đều ghé nhà ấy trước. Tôi có thể
khai với Ba Trung về người quen anh ở cùng cư xá với tôi.
Nếu tôi khai biết đâu anh cháu Mai Thảo đã chẳng bị công
an VC theo rõi và biết đâu nhà văn lớn đã chẳng vì thế mà
theo tôi vào Số 4 Phan Đăng Lưu, biết đâu Mai Thảo đã
chẳng ở lại với quê hương, biết đâu giờ này tên ông đã
chẳng nằm trên một bảng đường nào đó ở thủ đô tị nạn.
Biết đâu v.v…??

Hai mươi tháng tù đầy kéo dài trong ba niên. Cuối 1979, trở

về căn nhà nhỏ Alice kể cho tôi nghe:

- Ba Trung nó gọi em lên Sở. Nó dụ em chỉ chỗ cho nó bắt
Mai Thảo. Nó nói bóng gió là nếu em muốn anh sớm được
tha thì em phải giúp chúng nó bắt Mai Thảo. Nó gọi em lên
sở từ 9 giờ sáng để em chờ tới 11 giờ nó mới ra tiếp em.
Nó nói đủ thứ ba lăng nhăng đến bốn, năm giờ chiều mới
cho em về. Nó nói: "… Chúng tôi sẽ xây dựng nước Việt
Nam thành một vườn hoa bên bờ Thái Bình Dương…". Nó
còn hỏi em đã coi phim Chiến Tranh Và Hòa Bình của Liên
Sô chưa? Nó nói phim chiến tranh và hòa bình của Liên Sô
mới thật vĩ đại. Phim Mỹ không đi đến đâu. Nó còn nói: "Cái
gọi là quốc gia Việt Nam Cộng Hòa nó đã chết rồi. Anh ấy
cứ đào nó lên anh ấy thương xót nó…". Em điên lên em
nói: "Nếu mà nó đúng thì nó có chết đến một trăm năm
cũng vẫn đào nó lên. Việt Nam Cộng Hòa mới mất có mấy
năm nay mà…". Nó dọa em: "Chị mới là người đáng bị
chúng tôi bắt…". Em nói: "Các anh làm ơn bắt ngay tôi đi.
Tôi mừng. Bị bắt là tôi hết lo. Bây giờ tôi phải lo nuôi chồng
tôi ở trong tù, lo nuôi các con tôi. Tôi không sợ các anh bắt
đâu…"

Nàng cay cú nhiều vì bị Ba Trung quấy rầy. Nàng từng hẹn
hò:

- Nếu có ngày đổi đời, phe ta lại nắm quyền, ai giành cái gì
thì giành, em giành thằng Ba Trung. Em bắt nó về em xích
cổ nó ở chân giường, em cho nó ăn uống tử tế nhưng em
bắt nó suốt ngày phải nói câu: "Xây vườn hoa bên bờ Thái
Bình Dương…"

phần 21

"Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh khởi tố vụ án gián
điệp hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh…"

Đó là câu đầu tiên trong cái gọi là bản khởi tố Bọn Gián
Điệp của Sở Công An Thành phố mang tên bác Keo. Tôi
đọc được mấy câu này trên tập khởi tố do chị nhân viên cái
gọi là Viện Kiểm Sát Nhăn Dăn vào nhà tù Chí Hòa gọi tôi
ra hỏi đôi câu ra cái điều viện cũng chú ý đến người tù, dù
là tù phản động. Bản khởi tố ấy đặt ngược với tôi, vì mắt
yếu tôi chỉ đọc ké được mấy dòng đầu.

Cứ như những gì hai anh Cớm cộng Nam Thi - Minh Kiên
kể trong NTBKCB thì anh em chúng tôi chỉ can tội viết và
gửi một số bài viết ra nước ngoài. Nhưng năm 1986 khi
định đưa chúng tôi ra tòa, bọn Công An Thành Hồ, hung
hăng con bọ xít khép chúng tôi vào tội gián điệp. Chúng đòi
giết một người, cho tù chung thân một người trong chúng
tôi.

Nhưng vở kịch "Vụ án gián điệp thành Hồ" do bọn Công An
Thành Hồ dàn dựng như quả bóng xì hơi, đầu voi đuôi
chuột. Bọn chúng la lối với ý định giết người nhưng rồi
chúng tẽn tò, xụi lơ v.v… Đó là những chuyện đã xưa rồi.

Theo thủ tục những cái gọi là Truyện Vụ Án bao giờ cũng
có vài chương đề cao cá nhân vài tên công an: "những
chiến sĩ công an cương cường bắt, bỏ tù nhân dân không
mệt mỏi". Trong đoạn dưới đây trích trong NTBKCB ta thấy
nói đến đồng chí Tư Tuân, người phụ trách đơn vị công an

"chống phá hoại tư tưởng"

Ban này có cái tên là "Ban Công tác chống phá hoại tư
tưởng". Đại khái "chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn tốt đẹp,
chủ nghĩa cộng sản sẽ đem lại hạnh phúc cho loài người".
Chuyện ấy chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Kẻ nào
nói ngược lại, hay chỉ cần tỏ vẻ nghi ngờ thôi, kẻ ấy can tội
"phá hoại tư tưởng". Phải bắt giam kẻ ấy để bảo vệ tư
tưởng chủ nghĩa cộng sản là đỉnh cao trí tuệ loài người.

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút:

Chỉ huy trưởng rút từ trong ngăn kéo ra một xấp báo lá cải của
bọn phản động lưu vong in ở nước ngoài để trên bàn.

- Anh Tư đã xem mấy thứ này chưa?

- Dạ có. Tôi vẫn nhận được thường xuyên nhưng…

- Tôi biết. Mấy thứ giấy lộn này có đáng gì, nhưng đó là khói
của đốm lửa cần dập tắt. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là cần
phải chú ý tới nó.

- Vâng, Tư Tuân vừa nói, vừa lắc đầu - Thú thật với anh, tôi
chán ngấy mà vẫn phải đọc. Anh em Việt kiều về thăm quê
hương cũng nói với tôi, họ chẳng bao giờ thèm để mắt tới món
hàng ôi đó!

….

Tư Tuân đọc lướt mấy trang báo. Cũng những luận điệu vu cáo
rẻ tiền. Cả cái lối hành văn, thuật ngữ đã quen thuộc đối với
anh. Từ khi được giao phụ trách đơn vị này, anh đã chịu khó

đọc hàng lô sách, tiểu thuyết của số "nhà văn" cũ và sách báo
mới được bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài. Thật
là chán đến buồn nôn…

Hai đoạn chữ in nghiêng trên đây được trích ở trang 79 NTBKCB.
Anh cu Tư Tuân nói anh đọc và thấy "buồn nôn" thì cũng đúng thôi.
Toàn là những gì viết về cái xấu, cái bẩn, cái tàn ác của Việt cộng,
anh không thấy buồn nôn làm sao được. Có điều anh nói đó toàn là
"những luận điệu vu cáo rẻ tiền" thì chúng tôi không dám đâu. Tội
của mấy ảnh nhiều quá rồi. Cần gì chúng tôi phải vu cáo mấy ảnh.
Hai nữa, chúng tôi muốn bịa thêm ra tội để vu cáo mấy ảnh cũng
hổng có được. Loài người ác độc nghĩ ra được bao nhiêu cách hành
hạ nhau, làm nhau đau đớn, giết nhau… mấy ảnh mần ráo trọi. Mấy
ảnh còn sáng chế ra nhiều tội ác mới nữa mà loài người hổng thể
nào ngờ được có những tên cũng nhận là người mà làm nổi. Sức
mấy mà chúng tôi vu cáo nổi mấy ảnh.

Bọn công an Thành Hồ vẫn theo dõi anh em chúng tôi từ những
ngày đầu chúng chiếm được Sàigòn. Tôi chắc đến năm 1982 chúng
mới mở cuộc điều tra riêng về chúng tôi. Trong số "sách báo mới
của bọn phản động lưu vong ấn hành ở nước ngoài" được nói đến
trong đoạn trên đây chắc chắn có tập "Tắm Mát Ngọn Sông Đào"

Trích: Tắm Mát Ngọn Sông Đào. Thơ, văn, nhạc sáng tác từ quốc
nội
Nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất, Paris 1981.

Lời mở đầu

Những giai đoạn khó khăn của đất nước dù kéo dài đến mấy
cũng không làm tiêu hao được niềm tin của chúng ta nơi khả
năng của dân tộc, của cả một dân tộc. Đành rằng chiến tranh,
tình trạng áp bức và nghèo khổ có làm băng hoại đi nhiều giá trị
tinh thần, nhưng không phải vì vậy mà những viên kim cương
bất hoại không được tiếp tục phát triển giữa lòng dân tộc. Ngày

mai khi đất nước lại đi vào giai đoạn sáng sủa mới ta lại thấy
được khả năng và tiềm lực của giống nòi. Sống xa quê hương,
ta không thấy và không cảm được một cách trực tiếp và
thường xuyên nỗi đau, niềm thương của người trong nước, vì
vậy ta vẫn phải thỉnh thoảng về tắm lại trong dòng sông dân tộc
để tự tìm lấy mình, để tự mình đánh mất mình, và như thế
cũng có thể đóng góp được phần mình vào sức sống đi lên của
dân tộc. Văn nghệ sĩ sống trong nước chính là những người có
thể giúp ta rung cảm cái rung cảm của dân tộc, bởi họ chính là
một trong những thành phần dễ bị rung cảm nhất bởi cái rung
cảm chung. Đọc họ, nghe họ, ta có cảm tưởng được chia xẻ
những nỗi đau, niềm thương của dân tộc, và như thế ta cũng
có cảm tưởng được đất nước đưa hai cánh tay cứu chuộc ta
về.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh…

Nước mát ở ngọn sông đào và trái sim chín ở rừng xanh bao
giờ cũng còn đó đợi ta. Ta có tắm mát và ta có ăn sim chín thì
ta mới còn là người Việt Nam, dám nói, dám làm cho đất nước,
cho dân tộc.

… Những tác phẩm Lá Bối trình bày trong tập này đều xuất
phát từ quốc nội, trong đó nhiều bài đã được đưa ra từ chốn lao
tù. Bạn đọc sẽ dễ dàng nhận ra sự kiện này. Một điều nữa mà
ta nhận thấy khi đọc là các tác giả đã chứng tỏ một sức kiên
nhẫn và chịu đựng lớn lao; nhiều người đã biết nhìn bằng con
mắt từ bi hơn là con mắt căm thù. Chính ưu điểm là ở chỗ đó.
Sức mạnh của dân tộc không nằm ở chỗ giận dữ hung hăng
bên ngoài mà nằm ở khả năng bền bỉ chịu đựng và ý chí thắng
vượt hoàn cảnh.

Mong rằng những giọt máu, những dòng lệ và những tiếng cười
của họ có thể giúp chúng ta vượt thoát trạng thái vô tâm thụ

động và quên lãng, đồng thời giúp ta phương tiện cứu chuộc lấy
chính chúng ta.

Ông bạn Sáu Bó Gập, xưa là sĩ quan Dù, hiện làm việc tại Đại học
NOVA, Virginia nói với tôi:

- Tôi đọc anh từ những năm tôi mới nhập ngũ, đọc anh dài dài trong
bao nhiêu năm. Những năm 80 khi đọc mấy bài viết từ trong nước
gửi ra ký tên Con Trai Bà Cả Đọi, tôi hỏi Trần Tam Tiệp, Con Trai Bà
Cả Đọi có phải là anh không, hắn chịu ngay. Ngôn ngữ của anh nó lù
lù ra đấy, làm gì bọn Việt cộng nó chẳng biết…

Ông bạn Sáu Bó Gẫy khác nói:

- Đọc những bài anh viết gửi ra tôi lấy làm lạ. Tôi tự hỏi, anh cu này
không sợ Việt cộng nó bỏ tù hay sao mà dám viết phoong phoong
gửi ra nước ngoài như thế này?

Nhiều ông, phải nói rất là nhiều ông, khi còn kẹt trong nước thì nín
khe, một lá thư ngắn gửi ra nước ngoài cũng không viết, có ông khi
được người đem tiền cứu trợ từ nước ngoài gửi về đến cho cũng sài
lắc, không lãnh, dù đang đọi, sợ mang vạ. Các ông giữ thân: không
dính dáng gì đến Việt cộng để ÔĐiPi Mẽo có cớ từ chối không cho
mình và vợ con sang Mẽo, hai: không làm gì để cộng sản có cớ bắt
lại, đi nằm ấp thêm vài niên, hỏng mất cơ hội đưa vợ con sang Xê
Kỳ. Tám anh em chúng tôi chẳng có tài cán cũng chẳng can đảm
hơn ai, những gì chúng tôi viết gửi ra ngoài cũng chẳng có gì đáng
gọi là giá trị, nhưng ít nhất chúng tôi cũng đã viết, đã gửi tác phẩm
ra phổ biến ở nước ngoài, gọi là nói lên một trong trăm ngàn nỗi đau
thương, tuyệt vọng, căm hận của đồng bào ta sống trong kềm kẹp
của cộng sản.

Năm 1980, tôi được người bạn cho mượn quyển tự truyện của
Stefan Zweig. Ông viết quyển này vào khoảng năm 1944. Ông bà
nguyên là người Đức gốc Do Thái, phải bỏ nước đi tị nạn, Hít Le
Nazi muốn giết hết người Do Thái. Viết xong quyển tự truyện hồi ký

này, hai ông bà cùng tự tử ở nước Anh. Trang đầu quyển sách in
bức thư nhà văn viết để lại cho người đời. Hai ông bà thấy chiến
tranh quá ghê rợn, dân Do Thái bị tàn sát quá mức khủng khiếp.
Ông viết:

Các bạn còn niềm tin ở ngày mai tươi sáng, các bạn ở lại.
Chúng tôi tuyệt vọng, chúng tôi đi thôi. Vĩnh biệt các bạn…

Trong căn nhà tối của vợ chồng tôi ở Cư xá Tự Do, năm 76, 77, có
lần Alice nói với tôi: "Hay là chúng mình cùng chết đi anh…". Chúng
tôi tuyệt vọng đến nỗi chúng tôi cũng có ý định chết như ông bà
Stefan Zweig, nhưng chúng tôi không cùng tự tử được như ông bà.
Định mệnh an bài. Ông bà Zweig mà tự tử chậm một tí thôi, chỉ
chưa đầy một mùa lá rụng sau ông bà đã thấy Đức Quốc Xã sụp đổ
không còn viên gạch, Hít Le Ria Cứt Mũi chết tồi tàn hơn con chó
chết.. Vợ chồng Anh Con Trai Bà Cả Đọi Cư xá Tự Do Ngã Ba Ông
Tạ Cờ Tây Leo Dây Xe Kiếm Đen cửa Nhà Dây Thép Gió tuy ngu
ngây song cũng biết như ai cái chân lý ngàn đời: "Chết là thoát.
Chết là hết khổ. Chết là quỵt hết nợ nần. Chết là những tên khốn
nạn không còn hành hạ được mình. Mình chết là chúng nó trơ
mõm…". Nhưng anh chị hổng chết được bởi vì trước hết anh chị
nghèo quá, người ta nghèo không có miếng đất để cắm dùi, anh chị
- những năm 80 - nghèo đến nỗi không có cả cái dùi đem đi tìm đất
cắm nhờ. Sống đời dân Ngụy giữa lòng Thành Hồ những năm 80
muốn tự tử cho êm ả đôi chút cũng khó chứ không phải dễ.

Tôi đọc bản dịch Việt ngữ truyện "Lá Thư Của Người Không Quen
Biết" từ trước 1945. Đến năm 1954, tôi đọc bản tiếng Pháp "Lettre
d’une Inconnue". Truyện tình cảm động ướt át thuộc loại truyện
diễm tình những năm 1920. Một ông nhà văn nổi tiếng Áo quốc,
quốc gia có dòng sông Đa Nuýp Bờ Lơ, tuổi đời chừng Bốn Bó, độc
thân, một tối về nhà nhận được thư của một người phụ nữ không
quen biết. Người phụ nữ viết thư cho ông kể cô ta là độc giả ái mộ
ông, cô coi ông còn hơn cả thần tượng. Cô ở với bà mẹ gần nhà
ông nhưng ông đâu có biết cô là ai. Còn cô, tất nhiên là cô biết ông.

Không những cô chỉ biết ông mà thôi, cô còn mê ông nữa. Cô đọc
văn ông và cô mê đến nỗi cô muốn được gần ông, được ông yêu,
dù chỉ là được ông yêu một lần. Cơ hội đến với cô. Một tối khuya cô
đứng tránh mưa trong cửa vào tòa nhà trên lầu có phòng của nhà
văn lớn, cô gặp ông đi về. Cô chào ông và ông chào lại. Đôi người
bắt chuyện nhau. Cô độc giả ái mộ này con nhà lành, còn nguyên
trinh, đẹp, có duyên, có học. Ông nhà văn mời cô lên phòng. Cô lên
theo ông. Ông mời cô ăn tối, cô nói với ông về cảm nghĩ của cô đối
với những tác phẩm của ông. Và rồi chuyện phải đến đã đến. Nam
nữ gặp nhau, thi văn đàn địch gì thì rồi cũng phải sát lại làm một.
Cuộc tình văn nghệ, văn gừng, văn sĩ, nữ độc giả ái mộ thơm hơn
múi mít êm đềm diễn ra không phải trên bàn viết với cái máy đánh
chữ hay máy computer mà là trên giường với nệm bông, mền gối.

Thư người phụ nữ không quen biết viết tiếp: "Sáng ra anh còn ngủ,
em lặng lẽ ra đi. Được gần anh một đêm, nhà văn thần tượng của
em, được anh yêu, em thỏa mãn rồi. Em không còn đòi hỏi gì hơn.
Em sống suốt đời em với cảm giác hạnh phúc khi em được anh
yêu…". Thế rồi cô viết tiếp: sau đêm yêu đương ấy cô có thai.
Nhưng cô không cho nhà văn biết cô có thai. Cô chửa rồi cô đẻ, cô
đẻ và cô đi mần cô nuôi con cô. Cô thương đứa nhỏ ghê gớm.
Nhưng con cô và con nhà văn lớn bị bệnh… "… Khi em ngồi viết thư
này cho anh con chúng ta sắp chết. Đêm khuya. Trời lạnh quá. Anh
yêu ơi… Con của chúng ta đã chết rồi…"

Thư đến đây là hết. Ông nhà văn bàng hoàng. Người viết không đề
tên, không cho ông biết địa chỉ, số phône. Đúng là thư của người nữ
không quen biết. Mà người nữ không quen biết ấy lại là một nữ độc
giả ái mộ, người từng ân ái với ông, người mẹ đứa con của ông mà
ông không hay biết.

Không thể biết mức độ xúc cảm của ông nhà văn khi ông đọc bức
thư ấy cao thấp chừng nào, cũng có thể ông tỉnh queo coi thư như
một truyện ngắn. Chỉ biết những năm tuổi đời vừa ngoài một bó đọc
truyện "Thư của người không quen biết" tôi thấy cuộc đời tư của
những ông nhà văn mê ly hất hủi quá. Mấy ông được đàn bà đẹp

yêu mê còn hơn cả kép hát. Chính vì bị mê hoặc bởi những truyện
như "Thư của người không quen biết" nên ngay từ số tuổi chưa biết
đàn bà với con gái giống nhau, khác nhau ra sao tôi đã mơ giấc
mộng hoang tưởng cực kỳ là mai sau ta lớn ta mần văn sĩ.

phần 22

Thế rồi, những mùa lá rụng theo nhau qua… Những năm
tuổi đời ba bó có dzợ, có con, không có nhân tình, không
dzợ bé, có công ăn, có việc làm báo, viết truyện giữa thành
phố Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi đọc lại truyện "Lettre d’un
Inconnue" tôi nghĩ: "Ông văn sĩ tiểu thuyết hóa hơi quá.
Đồng ý là các ông nhà văn lớn có nhiều nữ độc giả thơm
như múi mít ái mộ nhưng ái gì thì ái đâu có ái quá xá ể như
cô nữ sinh trong truyện này." Bạn có thể nói tôi nghĩ như
thế vì ghen tuông, vì tôi hổng được nữ độc giả nào ái mộ
nên tôi ghen mí những ông nhà văn lớn. Bạn nói đúng một
nửa. Quả thực là cả đời viết lách mấy chục mùa khoai lang,
khoai sọ của tôi, tôi không có qua một nữ độc giả nào ái ố í
é tôi cả, song thực tình tôi cũng rất muốn thấy những ông
nhà văn lớn được nữ độc giả ái mộ đến cái độ cực kỳ như
người nữ độc giả trong truyện "Lettre d’une Inconnue". Mấy
ông được nữ độc giả yêu thì có thiệt hại gì đến của chìm,
của nổi của tôi đâu. Nhưng tôi nghi không có hoặc ít nhất
có nhưng không đến cái độ kịch liệt đem thân nữ độc giả
trinh nguyên con gái nhà lành tình nguyện hiến dâng một
đêm cho nhà văn rồi lặng lẽ ra đi khỏi đời chàng, ôm bầu
tâm sự, yêu con chàng cho đến đêm con chết mới chịu
ngồi vào bàn cầm bút viết thư cho chàng. Trong cuộc đời
thực tế phũ phàng ta thấy có nhiều ông văn sĩ lớn nhỏ bị
vơ, bị người yêu bỏ rơi thảm hại thấy mồ đi.

Như đã kể hơn một lần: tôi có tật viết lang thang chuyện nọ
dọ sang chuyện kia. Tôi không có ý định viết về nhà văn
Stefan Zweig để nói về chuyện những ông văn sĩ nổi tiếng
được nữ độc giả ái mộ yêu mê. Đây là chuyện về ông

Stefan Zweig mà tôi muốn viết:

Những năm 1927, 1928 ở Nga Sô, Stalin đã lên nắm chính
quyền khá lâu, một số nhân sĩ trí thức Âu châu được mời
sang thăm nước Nga để thấy tận mắt cuộc sống hồ hởi của
nhân dân Nga dưới chính thể xã hội chủ nghĩa công bằng,
văn minh, tiến bộ, để thấy những xưởng máy hoạt động rộn
rịp, những nam nữ công nhân Xô-viết hân hoan làm việc,
những trường học sáng sủa, sạch sẽ, học sinh học không
mất tiền, những bệnh viện khang trang, bác sĩ phục vụ tận
tâm, lương y như từ mẫu, những công dân có bệnh vào
nằm như thượng khách quốc gia, hưởng mọi phương tiện y
khoa mà không phải chi một đồng kopek nào v.v… Trong
số nhân sĩ trong phái đoàn thăm Nga Sô có nhà văn Stefan
Zweig.

Ông viết: "… Một tối về phòng khách sạn, tôi thấy trong túi
áo của tôi có bức thư không biết ai đã bỏ vào đó. Thư viết
vắn tắt: "Ông đừng có tin những gì chúng nó bầy ra cho
các ông thấy. Cuộc sống thực ở xứ này không như thế đâu.
Thê thảm lắm. Chúng tôi khổ cực lắm…"

°°°

Một buổi tối cuối năm trời lạnh ở Thành Hồ - năm 1981,
1982 - ông bạn chở tôi trên chiếc xe Bridgestone cọc cạch
của ông - ở Thành Hồ những năm 80 còn đi xe gắn máy
được là dân hách - tôi ấm lòng khi nghe ông nói:

- Thằng nào giỏi chửi cộng sản ngay ở đây nè. Sang Pháp,
sang Mỹ thằng nào chửi cộng sản chẳng được.

Đọc bài Lời Mở Đầu đăng trên trang đầu tập Tắm Mát Sông

Ngọn Đào tôi sướng rên mé đìu hiu khi thấy mình được gọi
là "Kim Cang Bất Hoại". Các vị trong Nhà Xuất bản Lá Bối
dùng chữ tất nhiên phải đúng. Chắc quý vị dùng "Kim Cang
Bất Hoại" để gọi những ai kia, không phải để gọi tôi. Tôi
không kim cang bất hoại một ly ông cụ nào cả, tôi mềm hơi
đậu hũ. Bị công an Việt cộng gọi từ xà lim ra phòng thẩm
vấn, tôi mềm hơn bún thiu, tôi nhận tội liền tù tì tút suỵt.
Không những chỉ nhận những gì bị cộng sản coi là tội mà
thôi, tôi còn khai thêm những việc tôi làm mà họ không biết.
Tôi không chối vì tôi thấy tôi chẳng có gì phải xấu hổ vì
những việc tôi làm. Tôi nói với họ: "Tôi bắt buộc phải viết
thôi. Mà viết là tôi phải gửi ra nước ngoài để phổ biến. Nếu
không làm thế, tôi thấy tôi là thằng không có xương
sống…"

Tôi nhận tội vì tôi biết tôi có nhận hay chối họ đã định giam
tôi mấy niên là họ sẽ giam tôi đủ từng ấy niên. Bắt chước
cộng sản đàn anh Nga, Tầu, Việt cộng có một cái gọi là Ủy
ban Luận tội. Thành phần ban này gồm nhân viên công an,
viện kiểm sát, tòa án. Kể là ba, nhưng chỉ là một. Ba anh
đảng viên này quyết định án tù của người bị bắt. Người tù
không bị đưa ra tòa sẽ chịu án tập trung cải tạo. Án này có
cái khó chịu là không biết mức án mấy niên, án có thể co
rãn, thường chỉ rãn chứ không co, cứ mòn mỏi ở trại khổ
sai cải tạo mút chỉ cho đến ngày được gọi cho ra về..
Người tù bị đưa ra tòa sẽ bị bọn chánh án tay sai áp dụng
mức án đã được cái gọi là Ủy ban Luận tội quyết định. Mức
án của người tù đã được định trước khi tòa xử. Ra tòa, nếu
người tù tỏ thái độ cương nghị, bất chấp cái gọi là tù đầy xã
hội chủ nghĩa, bọn chánh án thường tăng mức án cao hơn,
chẳng bao giờ chúng xử người tù dưới mức án phạt bọn
Ủy ban Luận tội đã định trước.

Tòa án Việt cộng chỉ là nơi chúng dựng lên dễ tuyên những
cái án đã định trước. Việc biện hộ, bảo vệ quyền lợi của
người bị cáo trước tòa án cộng sản là chuyện vô ích. Tôi
khó chịu khi thấy nhiều tổ chức tranh đấu nhân quyền thế
giới vẫn đòi Việt cộng phải đưa những người tù lương tâm
ra xử trước tòa. Đưa ra xử trước tòa án Việt cộng thì người
tù lương tâm được lợi gì? Vẫn là án tù đó. Thay vì nó ỉm đi,
nó đưa anh em đi tù mười niên, nó cho anh em ta ra tòa
một buổi và nó tuyên án mười niên. Cũng vậy thôi. Muốn
bảo vệ có hiệu quả đôi chút người tù chính trị, người ta
phải đòi có luật sư đến với người tù ngay từ buổi thẩm vấn
đầu tiên. Ít nhất người tù cũng phải được gặp riêng luật sư
của mình vài lần trong thời gian giam cứu. Đòi nó đưa ra
tòa xử và đến lúc đó mới gửi luật sư đến nói láp nháp dăm
câu là việc làm ngớ ngẩn. Đòi cộng sản cho tù nhân chính
trị được có luật sư, được gặp riêng luật sư trong thời gian
giam cứu là chuyện Việt cộng nó không bao giờ tưởng
tượng có thể có, nói gì đến chuyện nó chấp nhận.

Năm 1977 khi đến bắt tôi, bọn công an Thành Hồ vớ được
tập thơ Ễnh Ương tôi để ngay trên bàn. Tập thơ này hiện
nằm trong Kho Tang Vật Sở Công An Thành Hồ. Ba Trung
Huỳnh Bá Thành nói với tôi trong cuộc thẩm vấn:

- Nếu anh làm thơ, hay anh viết bất cứ cái gì chống chúng
tôi mà anh cất đi, chúng tôi không bắt anh đâu. Anh gửi ra
nước ngoài thì chúng tôi phải bắt anh thôi…

Tù Đậu Hũ ngồi im re, trong bụng nghĩ thầm: "Anh đừng nói
chuyện ruồi bâu, kiến đậu. Tôi viết rồi cất đi làm sao anh
biết mà bắt tôi được. Nói vớ vẩn!" Tôi không nói ra ý nghĩ

của tôi vì tôi thấy: nói ra làm quái gì, chỉ dậy khôn chúng
nó. Dậy khôn cho nó là việc mình không nên làm." Chẳng
hạn như khi Ba Trung nói đến tên ông William Colby, Y gọi
là "… Côn Bai…" tôi không sửa là "Côn Bi". Tôi nghĩ thầm:
"Lạ nhỉ. Nó biết nói Ken Nét Đi sao nó không gọi là Côn Bi
mà gọi là Côn Bai…"

Huỳnh Bá Thành có lẽ vì ít học nên có mặc cảm tự ti, thỉnh
thoảng lại nhét cho bằng được vài câu tiếng Mỹ vào những
trang truyện hắn viết. Trong một đoạn tả Cớm Cộng thẩm
vấn tù nhân, Huỳnh Bá Thành viết:

- Anh tên gì?

- ….

- Không. Cho tôi biết full name của anh kia…

Công an Việt cộng hỏi cung tù nhân Mít trong ngục tù thành
phố Hồ Chí Minh quang vinh mà tự dưng tương vào hai
tiếng full name. Thật quái dị.

Trong một buổi hỏi cung tôi năm 1977, 1978, Ba Trung hỏi:

- Anh nghĩ có thể nào những tổ chức văn hóa tư bản, như
giải Văn Chương Nobel chẳng hạn, nó trao giải thưởng cho
nhà văn ngụy trong nước để làm khó nhà nước ta không?

Tôi nghĩ đến Mai Thảo. Chắc Ba Trung khi nói đến câu đó
cũng nghĩ đến Mai Thảo. Năm ấy, Hà Nội chưa có vụ
Nguyễn Chí Thiện cầm tập thơ chạy vào gửi ở Tòa Đại Sứ
Anh Quốc. Tôi nghĩ: "Làm mẹ gì có chuyện ấy. Nếu Nobel

mà phát giải nhăng cuội như vậy thì Nobel đâu còn là
Nobel nữa. Cộng sản Tàu chiếm Trung Hoa đã gần hai
mươi niên rồi có tên văn sĩ Tầu ca tụng chủ nghĩa cộng sản
hay chống chủ nghĩa cộng sản nào được Giải Văn Chương
Nobel đâu? Việt Nam còn khuya…" Tôi nghĩ thế nhưng nói
chuyện đó với Ba Trung làm quái gì? Tôi chỉ trả lời lửng lơ
con cá vàng:

- Tôi chắc không có chuyện đó đâu.

phần 23

Chúng tôi, bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bại trận, chúng tôi có
anh có em. Trong nhục nhã, trong khổ cực, chúng tôi vẫn
có nhau, chúng tôi vẫn là những văn nghệ sĩ Sàigòn. Cảnh
"phi cầm, phi thú" hiện ra rõ nhất trong những cái gọi là
buổi sinh hoạt tại Hội Văn Nghệ Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh,
trụ sở đặt trong tòa nhà có vườn rộng trước 75 là một cơ
sở nghe nói là Tình báo của Việt Nam Cộng Hòa, góc
đường Trương Minh Giảng, Tú Xương. Bọn trong Ban
Chấp Hành cái gọi là Hội Văn Nghệ, thường là Tổng thư ký
Việt Phương, lên Ủy ban thành phố họp nghe chỉ thị gì đó
về phổ biến với các văn nghệ sĩ. Những buổi như thế gọi là
buổi sinh hoạt.

Trong những buổi sinh hoạt này bọn trong Ban Chấp Hành
Hội ngồi hàng ghế chủ tọa đối diện với hàng ghế của văn
nghệ sĩ Sàigòn. Hai bên ngồi đối mặt với nhau. Hai anh Kỳ
Nhông, Kỳ Đà Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn cũng dự
buổi sinh hoạt. Hai anh không thể ngồi cùng hàng ghế hay
ngồi sau lưng bọn Giải Phóng Miền Nam. Sức mấy chúng
nó cho hai anh ngồi chung. Hai anh không ngồi chung chỗ
với bọn chúng tôi, chắc hai anh sợ ngồi với chúng tôi hai
anh xấu hổ…

Hai anh ngồi sau đít bọn Văn nghệ Giải phóng đối diện với
bọn văn nghệ sĩ Sàigòn bại trận không được, hai anh
không muốn ngồi chung với bọn văn nghệ sĩ Sàigòn nhục
nhã. Dzậy thì trong những buổi họp chia hai phe rõ rệt mặt
đối mặt, chính tà hai phái như dzậy hai anh Kỳ Nhông đặt
đít ở đâu???

Hai anh ngồi ở hai ghế bên cạnh. Hai anh không ngồi trong
phe giải phóng, hai anh cũng không ngồi trong phe Việt
Nam Cộng Hòa bại trận.

Dường như Phạm Trọng Cầu - Phạm Trọng: Em ra đi mùa
thu…. mùa thu không trở lại… cũng đã được sáng mắt,
sáng lòng đôi chút trước cái gọi là xã hội chủ nghĩa do
cách mạng vô sản dựng lên vì thấy nó bê bối, bết bát, dơ
dáy quá đỗi. Nhiều anh chị nhờ gia đình có tiền cho sang
Tây ăn học đớp phải bả xã hội chủ nghĩa, tưởng bở, hung
hăng con bọ xít, theo đuôi cộng sản mần "cách mạng", bị
cộng sản cho hộc máu, vỡ mặt khi chúng cướp được chính
quyền. Điển hình và đại diện cho giới "phi cầm, phi thú" này
là Mợ Dương Quỳnh Hoa. Nghe nói chỉ sau vài mùa kỷ
niệm bác Hồ đầu thai Phạm Trọng đã có vẻ thất vọng.
Phạm Trọng có mần lời ca theo điệu nhạc bài Quê Em -
Quê em miền Trung du. Đồng quê lúa xanh rờn. Giặc tràn
lên cướp phá. Anh về quê cũ. Đi diệt thù giữ quê. Giặc tan
đón em về - Lời ca của Phạm Trọng theo nhạc Quê Em có
câu mở đầu:

Ba tôi trồng khoai lang…
Đào lên thấy khoai mì
Thật là điều phi lý…

Những anh Kỳ Nhông đi theo cộng sản mần "cách mạng xây dựng
xã hội chủ nghĩa" tưởng bở: Xã Hội Chủ Nghĩa nhất định phải tốt
đẹp hơn xã hội tư sản dân chủ. Mấy ảnh vỡ mộng khi thấy sao nó
bẩn quá. Thứ củ có thể ăn được người Bắc gọi là sắn, người Nam
gọi là mì hoặc khoai mì. Những chị đi bán rong trong những xóm
nghèo thường rao: "Ai khoai lang, khoai mì…" Thứ củ người Nam

kêu là củ sắn, người Bắc gọi là củ đậu. Ông bố mấy anh Kỳ Nhông
trồng khoai lang, đào lên thấy khoai mì cũng còn là khá, ông nội anh
không có trồng khoai lang, khoai mì, ông nội ác ôn của anh trồng
người. Các em nhỏ bất hạnh bị đem ra trồng đầu vùi dưới đất, chân
chổng lên trời. Ở những cánh đồng cách mạng vô sản ấy, khi đào
đất lên người ta không thấy khoai mì, khoai lang chi cả, người ta chỉ
thấy có sọ người, có xương người và máu người.

Lo việc mười năm trồng cây
Lo việc trăm năm trồng người.

Câu nói của một Quân Tải Tàu nào ngày xưa, được ghi trong sách
Minh Tâm Bảo Giám do ông Đoàn Trung Còn biên soạn. Già Hồ
mượn dùng cũng được đi. Nhưng trồng là trồng cây: trồng cây si,
trồng đậu, trồng gạch, trồng gì cũng được, "trồng người" nghe sao
man rợ quá trời. Những anh cộng sản coi đồng bào như những con
vật để họ sai khiến, bóc lột, như những cái cây để họ đem trồng.
Những em bé Việt Nam bất hạnh được coi là những khúc măng
non…

Em là khúc măng non…
Em chín queo trong nồi cách mạng

và:

Cháu lên ba… Cháu vô mẫu giáo
Cô thương cháu là cháu không khóc nhè…
Không khóc nhè…. È é e…
Em vào trường học
Mẹ cha vào nhà máy…
Ông bà lo cấy cầy…

Ông bà lo cấy cầy??? Chèng đét théng thèng ơi… Ông bà xã hội
chủ nghĩa cho có trẻ lắm cũng phải sáu mươi, bẩy mươi… Khứa lão
lọm cọm sống trong xã hội thối nát tư sản đến tuổi sáu bó là đã bị
con cháu cho ngồi chơi xơi nước. Khứa ông buổi sáng nhâm nhi ly
trà tầu nếu có tiền, ly nước vối nóng nếu sống giản dị, để móng tay
dài, râu ba chòm, tay phe phẩy cái quạt, chống gậy đi chơi, gặp ông
bạn cũng khứa lão đánh vài ván cờ tướng, trưa mùa rét ăn cơm
uống ly rượu tăm rồi ngáo. Khứa bà trông nom các cháu, giúp con
dâu, ngày rằm, mùng một lên chùa lễ Phật, sáng sáng chiều chiều
đến nhà thờ cảm ơn và xin ơn Thiên Chúa.

Đấy là đại khái vài hình ảnh, cuộc sống những ông già, bà lão trong
xã hội tư sản. Những ông gia,ø bà lão trong xã hội vô sản ra đồng
làm trâu bò cho đến lúc ngã xuống thở hơi cuối cùng. Trong khi đó
thì thi sĩ Đảng Tố Hữu mần thơ diễn tả tấm lòng cao cả của bác Hồ
muôn kính, ngàn yêu, ngày đêm bác vẫn mơ mộng làm sao để có:

Sữa tặng em thơ, lụa tặng già

°°°

Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, trang 82 đến 91

Thời gian một tuần đã trôi qua. Như thường lệ, sáng hôm ấy,
Tư Tuân dến cơ quan từ sáu giờ rưỡi sáng. Còn đúng một tiếng
đồng hồ nửa mới đến giờ làm việc, chỉ có các cán bộ trực đêm
có mặt. Anh tự nấu nước để pha trà. Đêm qua, anh thức quá
khuya để đọc đi đọc lại những bài đăng trên các báo phản động
của bọn di tản. Dạo này, trời cuối năm trở lạnh làm những khúc
xương của anh đau ê ẩm. Những năm tháng gian khổ trong
ngục tù, những trận đòn man rợ của quân thù, những cơn sốt
rét kéo dài đã tàn phá sức khỏe của anh như mưa nắng dội lên
cội tùng già. Dường như bộ phận nào trong lục phủ, ngũ tạng
của anh cũng suy yếu. Anh đã cố gắng chăm chút giữ gìn sức

khỏe, thường xuyên luyện tập để có thể tiếp tục đứng vững.
Năm mười hai tuổi chưa phải lúc cam chịu tụt về tuyến sau của
cuộc sống đang rực lửa.

Vào khoảng hơn một giờ sáng, vợ anh thức giấc dục anh đi
ngủ. Thấy anh vẫn chong đèn đọc, chị dậy pha cho anh ly sữa.
Chị cũng là cán bộ, có thể hiểu và chia xẻ trách nhiệm nặng nề
của chồng, nhưng cũng không thể để cho anh ngã bệnh.

- Này ông, ông tính làm cho mau chết hay sao? Việc gì cũng để
đến mai làm tiếp có được không?

Anh cười giả lả:

- Bà lấy cái chết để dọa tôi đấy hả? Tụi mình sống được đến
ngày nay là đã lời quá rồi, lẽ ra đã theo ông bà lâu rồi…

- Thôi đừng nói liều ông ơi! Chết thì không ai sợ, nhưng ngã
xuống đau thì dừng báo hại vợ con.

- Bà đừng có lo, tôi coi vậy chứ ngon lành lắm, mấy cậu thanh
niên theo không kịp đâu - Anh cười làm lành với vợ - Này, vậy
chớ bà đã mua thuốc cho tôi chưa?

Chị Tư làm mặt giận:

- Xí, thuốc với thang. Người ta uống thuốc thì phải nghỉ ngơi,
chứ làm thí mạng như ông thì uống làm gì. Chừng nào ông xin
nghỉ phép năm thì tôi mới mua cho ông uống.

Tư Tuân lặng thinh. Anh không giận vợ - đúng hơn càng
thương vợ. Nhưng chính lúc ấy, anh cảm thấy cột xương sống
tê buốt. Nó muốn thừa cơ hội để tấn công anh chăng? Bệnh
tật, làm thế nào tránh khỏi khi người ta đã ngoài năm mươi với
ngần ấy gian truân. Tư Tuân hai mươi năm về trước còn đủ
sức mang vác ba lô, vũ khí nặng mấy chục ký lô đi liền mấy

ngày không nghỉ. Tư Tuân của tuổi hai mươi đã là một tiền đạo
có tiếng của đội bóng tiểu đoàn.

Thấy anh trầm mặc, chị Tư sợ chồng giận, nắm bàn tay chồng
thỏ thẻ:

- Thôi khuya rồi, mình đi ngủ đi mai còn đi làm.

Lát sau, Tư Tuân mới nói với vợ:

- Anh bao giờ cũng nghĩ rằng em rất hiểu anh và lo lắng cho
anh. Em xem, tụi mình sống, lấy công tác làm vui. Nhiều lúc
anh cũng muốn nghỉ vài tuần phép, cũng có lúc muốn xin đi
chữa bệnh dài hạn, nhưng anh sợ nhất là sự nhàn rỗi. Vô công
rỗi nghề thì buồn bực không gì bằng. Thôi thì cứ làm việc còn
hơn. Nói vậy chứ mình đâu có phung phí sức. Nếu em thuốc
thang cho anh thì anh còn sống lâu với em và các con chớ đâu
đã đến nỗi nào.

Nghe anh nói, chị Tư ứa nước mắt. Chị có tính hay mủi lòng.
Thương vợ, anh đã xếp hồ sơ và lên giường ngủ. Đến năm giờ
sáng, theo thói quen, anh đã dậy tập thể dục, ăn qua loa mấy
chén cơm chiên và đi làm. Khi anh dắt xe ra khỏi nhà, chị chạy
theo trao cho anh một lọ thuốc và dặn:

- Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho
anh đây, nhơ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và
một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ.
Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc
thơm thơm làm anh sao xuyến.

phần 24

Trích NTBKCB, tiếp theo:

Những hàng chữ trên các tập sách báo phản động vẫn lướt qua
mắt anh, chúng thoạt nhòe đi khi anh nghĩ đến vợ và hiện ra
những vết đen bẩn thỉu trên mặt giấy trắng chẳng khác gì lũ vi
trùng trên tiêu bản đặt dưới ống kính hiển vi. Thật gớm ghiếc.
Thế mà Tư Tuân vẫn phải đọc, vẫn phải chép trên giấy những
đoạn cần thiết để làm tư liệu.

Nghe ấm nước sôi, Tư Tuân buông cây bút xuống bàn. "Mình
cũng chưa hiểu hết chúng" - Anh tự nhủ thầm trong lúc pha trà
- "Chúng là thế đấy. Đến lúc này mới nắm được là quá chậm"

Chén trà đầu tiên buổi sáng làm anh nguôi ngoai đi nỗi bực dọc.
Chính lúc đó Kiên Trinh tươi tỉnh bước vào. Tư Tuân lên tiếng
chào:

- Trà mới pha đấy. Còn sớm nên mình đang lo phải độc ẩm thì
buồn chết. Trà ngon không có bạn hiền không ngon.

- Tôi đoán thế nào anh cũng đến sớm mà!

Trên bàn làm việc của Tư Tuân, cạnh ấm trà mới pha là bao
thuốc lá Mai còn nguyên. Tư Tuân không nghiện thuốc, nên
Kiên Trinh biết chỉ huy đơn vị dành cho anh.

- Thế nào, nhà nghiên cứu văn học! Tư Tuân thường có lối
dùng từ ngữ dí dỏm như thế.

Kiên Trinh kéo ghế ngồi, nhận chén trà của người chỉ huy trao.
Anh là thí sinh sắp trả bài, mà người chấm thi vui vẻ này lại rất

nghiêm khắc khi ra đề thi. Anh lấy từ trong áo ra một tờ giấy
nhỏ có ghi độ mươi dòng và cây bút bi.

- Cậu chưa chuẩn bị xong à? Tư Tuân ngạc nhiên hỏi.

- Tôi sẵn sàng báo cáo. Kiên Trinh giọng nghiêm túc.

- Nghĩa là cậu đã thuộc lòng? Tư Tuân cười. Thế thì tốt. Nào ta
bắt đầu đi!

- Xin anh cho biết ta nên bắt đầu từ đâu?

Tư Tuân lại cười:

- Chà, cậu khôn lắm. Cậu nhường cho tôi giao bóng trước để
thăm dò chứ gì? Thôi được, cậu lần lượt giới thiệu từng
chương của "công trình nghiên cứu văn học" của cậu đi. Trước
hết, sau khi nghiên cứu các bài vở đăng trên báo chí của bọn
phản động lưu vong, được chúng quảng cáo là do các tác giả
trong nước gửi ra, cậu thấy thật giả thế nào, nếu có thật thì khả
năng tên nào viết? Hai là nếu có bọn trong nước viết bài thì
chúng gửi ra bằng đường nào, làm sao phát hiện các đường
dây ấy?

Kiên Trinh dụi điếu thuốc vừa mới đốt vào gạt tàn. Anh nhìn vào
tờ giấy trước mặt. Chắc chắn với mười dòng chữ trên đó không
thể nào gói gọn nội dung trả lời hai câu hỏi ấy. Tuy thế, Tư
Tuân biết rõ người cán bộ dưới quyền mình đã chuẩn bị để giải
đáp các vấn đề do anh đặt ra. Nhưng cậu ta vẫn có thói quen
chừng nào vấn đề còn phải được bàn cãi thì chưa vội viết thành
văn bản báo cáo. Kiên Trinh giải thích rằng viết các báo cáo mà
vấn đề chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh là động tác thừa. Tư
Tuân tán đồng quan điểm ấy và anh cũng đã rất tin vào trí nhớ
của đồng chí mình. Đối với anh, trí nhớ tốt là điều kiện bắt buộc
của nghề nghiệp. Hàng chục năm làm cán bộ quân báo trong
kháng chiến, anh đã có thói quen bắt bộ óc phải ghi nhận tin

tức, tài liệu thay cho giấy tờ để bảo đảm an toàn, chỉ khi nào
cần gửi báo cáo đi xa anh mới dùng đến chữ nghĩa dầu là với
mực bí mật hoạc vi ảnh.

- Xin báo cáo trước với anh, những điều tôi sẽ trình bày chỉ là
đánh giá từ những cơ sở chưa có chứng cứ chắc chắn. Tôi đã
đọc hai mươi mốt bài ký tên mười bốn tác giả khác nhau. Dựa
trên nội dung, cách hành văn, tôi tin rằng ít nhất có mười lăm
bài do ít nhất bốn tên từ trong nước gửi ra, nhưng lấy nhiều bút
hiệu. Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Cái
khó là chỗ đó. Nhưng điều may mắn là văn chương cũng như
chữ viết có đặc điểm riêng của người viết. Hình như khoa học
hình sự chưa có bô môn xác định văn phong như xác định tự
dạng. Tuy thế không phải ai cũng viết văn được. Do đó, số
người viết văn không nhiều lắm, nên ta dễ "khoanh" lại.

- Hay lắm - Tư Tuân cười hóm hỉnh - Xem ra cậu có thể là nhà
phát minh ra một môn mới trong khoa học điều tra hình sự rồi
đấy. Cậu đang giữ bóng tốt đấy, sút đi.

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài
phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm
luận. Tất cả đều là những loại chống cộng "có cỡ" cả. Tôi xin
trình bày từng loại dễ "nhận diện" nhất. Đó là loại phiếm luận
như bài tựa "Nếu chàng Trương Chi đẹp trai" chắc chắn tác giả
của nó trước đây thuộc nhóm "nồi niêu xoong chảo" của báo
Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình
đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố
ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký
tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê
quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu
ruột quan tri huyện.

- Tạm chấp nhận cách suy luận và "bộ môn xét nghiệm" văn
phong của cậu - Tư Tuân suy nghĩ rồi phát biểu - Nếu giả
thuyết đó đúng thì vấn đề còn lại là… bắt đối tượng vào lưới

nhặt bóng. Nhưng chính sự thành công dễ dàng ấy khiến ta
không dễ dàng chấp nhận cách nhìn đơn giản toàn bộ vấn đề.
Cậu nghĩ xem đằng sau các tờ báo rẻ tiền ấy là gì? Trong
những điều kiện hiện nay, thử hỏi chúng sử dụng loại tay sai
nào khác cho những hoạt động chiến tranh tâm lý? Nhiều khi
chiến tranh tâm lý chỉ là những thứ hỏa mù để che đậy cho
những hoạt động ngầm khác, đành rằng loại kẻ thù này chúng
ta đã từng chạm mặt và quá quen thuộc bài bản của chúng:
chúng rất "rẻ tiền" nhưng cũng rất xảo quyệt. Bọn trong nước
gửi bài, tin, bọn bên ngoài đăng trên báo, tạp chí. Gần đây lại
có thêm đài phát thanh của bọn được mệnh danh là "phục
quốc" đặt ở biên giới Thái Lan cũng đã léo nhéo phát trên sóng
nhiều bài, tin của bọn này. Cứ bên ngoài bọn chúng càng la to,
bọn bên trong càng dễ lộ mặt. Việc làm này của chúng nào có
khác gì cho "voi đẻ giữa chợ" thì khó nói đến chuyện giấu kín
được.

Bọn chúng đánh giá thấp chúng ta chăng? Tư Tuân tự đặt một
câu hỏi và liền sau đó anh ta tự trả lời - Chưa hẳn thế. Đánh
nhau mấy chục năm, biết rõ nhau quá rồi. Nhưng chúng vẫn
chống ta vì hận thù, vì ảo tưởng. Hơn thế nữa, chống cộng là
hái ra tiền. Thằng nào cũng có "mánh" riêng. Cái đám Hoàng
Cơ Minh, Phạm Văn Liễu lợi dụng chiêu bài "phục quốc" để
quyên tiền trong số người Việt di tản và đút vào túi hàng chục
triệu đô la của nước ngoài. Trần Tam Tiệp cũng vậy thôi. Có
khác nhau chăng là hắn nhân danh hoạt động văn hóa để tổ
chức quyên góp và nhận tài trợ của bọn phản động các nước
để "cứu tế" văn nghệ sĩ ở trong nước. Giờ đây, nếu nằm im
không "lên tiếng" bằng cách này hay cách khác thì moi được
tiền của ai, nhất là bọn chủ của chúng cũng chẳng phải bọn ngu
ngốc cứ tung tiền mà không thu lại được gì. Đám văn nghệ sĩ
phản động còn lại trong nước đối với chúng vẫn còn có tác
dụng trong việc gây lung lạc một số quần chúng trong và ngoài
nước. Bọn này bị "tóm" ư? Chẳng lỗ lã gì với bọn quan thầy.
Thậm chí chúng sẽ vin vào đó để mở chiến dịch vu cáo cộng
sản khủng bố tù đầy văn nghệ sĩ. Và đây lại là một cú áp phe

mới. Rồi sau đó, chúng tiếp tục tìm cách tạo dựng ra những âm
binh mới để tác động, hòng gây tình hình không ổn định thường
xuyên cho ta. Tôi nói thủ đoạn của chúng "rẻ tiền" vì hai lẽ: một
là nó ít tốn kém mà có hiệu quả, hai là nó không có gì mới lạ.
Song đó cũng chính là sự xảo quyệt của kẻ thù. Liên hệ thực tế
vụ án này cậu nghĩ thế nào?

- Thú thật với anh, khi khoan lại diện đối tượng như đã trình bày
và cho anh em rà lại để xác minh đánh giá của mình, tôi cảm
thấy thất vọng vì đã có những cơ sở bước đầu cho thấy giả
thiết của tôi có khả năng là hiện thực. Tôi thất vọng vì cái mà
anh gọi là thành công dễ dàng và sự "rẻ tiền" của đối thủ mình.
Còn điều thứ hai mà anh gợi ý, quả thật tôi chưa nghĩ đến.

- Đừng vội thất vọng, anh bạn trẻ. Hãy đi vào vấn đề cụ thể này
là làm thế nào chúng có thể gửi đều đặn các bài viết ra ngoài?
Hẳn có đường dây ổn định. Nghĩa là có một tổ chức hẳn hoi,
một thứ "tòa soạn tại chỗ" để đặt hàng và trả tiền cho bọn bồi
bút đó. Cái tòa soạn bí mật đó là đối thủ trực tiếp của chúng ta.
Cậu có tin tức gì chưa? Nếu chưa có thì tính toán để có lời giải
tiếp theo.

Tư Tuân làm việc không biết mệt mỏi, làm ngày, làm đêm. Mần việc
đến một, hai giờ đêm, ngáo đến năm giờ sáng mà đã mò dậy tập
thể dục và "ăn qua loa mấy chén cơm chiên…" Mèn ơi, cơm chiên
mà đảng viên ta chỉ đớp qua loa mỗi sáng có mấy chén thôi. Cơm
chiên mà đảng viên ta buổi sáng đớp qua loa được những mấy chén
thì dù không có ưa cộng sản đến mấy, ta cũng phải nhận đảng viên
đớp khỏe quá. Đảng viên có thể đau bất cứ bệnh gì, song chắc
chắn không phải là đau dạ dày.

Khi anh dắt xe ra khỏi nhà chị chạy theo trao cho anh lọ thuốc
và dặn:

- Em nhờ mấy anh bên Viện Y học dân tộc làm thuốc tễ cho

anh đây, nhớ uống năm viên một lần vào lúc nửa buổi sáng và
một lần trước bữa cơm trưa nghe.

Giờ đây ngồi ở bàn làm việc, Tư Tuân càng thấy thương vợ.
Anh mở cặp lấy lọ thuốc ra, mở nắp đưa lên mũi ngửi. Vị thuốc
thơm thơm làm anh sao xuyến.

Ta nói "nửa đêm" nhưng chẳng ai nói "nửa buổi sáng". Ta nói "giữa
buổi sáng" hay chín, mười giờ sáng. Riêng Cớm Cộng vợ dặn
chồng uống thuốc vào lúc "nửa buổi sáng". Nhưng thôi, nhằm nhò gì
ba cái lẻ tẻ ấy. Ta nên nói đến thứ thuốc tễ đặc bịt mà Cớm Tư
Tuân, trong lúc ngồi lên phương án truy tầm tung tích và tóm bọn
Biệt Kích Thành Hồ, đưa lên mũi ngửi và thấy thơm thơm.

Sau ngày Ba Mươi Tháng Tư những người dân Việt Nam Cộng Hòa
bại trận tối tăm mắt mũi trong một sớm một chiều thấy mình mất
hết tất cả. Sàigòn đang đầy ắp hàng hóa, thực phẩm, thuốc men,
Việt cộng trên răng vẩu, cải mả, dưới lựu đạn thối, ngơ ngáo dắt
nhau vào Sàigòn, bỗng dưng Sàigòn trở thành một Chợ Trời, chợ
vỉa hè khổng lồ. Tất cả những cửa hàng đều đóng cửa. Những
người có tiền gửi ngân hàng đều không được lấy ra, mất trắng.
Những người mắc nợ ngân hàng, nợ Nhà Nước VNCH, bị Việt cộng
truy tầm đòi trả nợ đến nơi, đến chốn. Nhiều người miền Nam Cộng
Hòa cũng biết bọn Việt cộng Bắc Kỳ đói khổ nhưng thực tình chẳng
ai ngờ chúng lại đói rách đến cái độ cực kỳ như thế.

Bọn lý thuyết gia cộng sản từng viết những câu hung hăng con bọ
xít hơn cả thánh tổ của chúng là Các Mác, Ăng Ghen - anh cu Lê
Nin không đáng được nói đến - chẳng hạn như câu:

- Chủ nghĩa tư bản ngay từ lúc nó ra đời đã mang máu tươi trên
từng lỗ chân lông của nó…

phần 25

Lời nhận xét và kết tội ấy áp dụng cho chủ nghĩa cộng sản
mới đúng. Cũng như câu tiên đoán của Mác trong tuyên
ngôn của đảng cộng sản năm 1884.

Chủ nghĩa tư bản có đặc tính ăm bám, thối nát và đang giẫy
chết.

Đến giờ này mà còn lải nhải kể chuyện cộng sản chuyên môn lừa
bịp nhiều Cố Hồng chắc chắn sẽ kêu: "Biết rồi… Khổ lắm… Nói
mãi…" Vì vậy chỉ kể sơ thôi. Thuốc men Nga cộng, Tầu cộng là thứ
dở ẹt nhất thế giới. Nga cộng, Tàu cộng chỉ chi viện súng đạn, mìn,
hỏa tiễn cho đàn em. Nhưng Tầu cộng có phương thuốc tễ thần sầu
quỷ khốc bổ dưỡng cho các lãnh tụ, những bạo chúa cuối thế kỷ hai
mươi.

Tầu cộng truyền phương thuốc bí truyền lãnh tụ cộng sản chi bảo
ấy cho đàn em Việt cộng. Cũng rất có thể đàn anh khoảnh độc, giữ
bí mật chỉ cho đàn em thuốc sực thôi, không chỉ cách mần. Nhưng
đàn em ma lanh, ma bùn, học lén được bí kíp chế tạo mật phương.
Nhờ bí phương này có thể nói tất cả lãnh tụ cao cấp thế giới cộng
sản đều béo tốt, hồng hào, phương phi trông no đủ hơn hẳn những
nhân vật lãnh đạo các nước tư bản.

Phương thuốc bổ dưỡng đại quý Việt cộng học lén được của đàn
anh Tầu cộng là Nhân Cao. So với Nhân cao, thì cao hổ cốt, cao
ban long, cao xương khiếu, cao khỉ đột không đi đến đâu. Nhân cao,
hay cao nhân, như tên gọi, là cao người, được cộng sản làm bằng
thịt và xương người. Không phải thịt và xương những người tầm
thường đã mất nguyên khí hay nguyên trinh mà là xương thịt thai
nhi. Trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa dài lòng thòng việc con gái -
những cháu ngoan bác Hồ mười sáu, mười bẩy tuổi, con gái còn

trinh chứ không phải đàn bà - chửa hoang đi nạo thai là việc được
chế độ khuyến khích, bảo vệ. Thai nhi được lấy ra bất chấp sự an
nguy của người mang thai. Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa thiên hạ
lấy thai ra khỏi bụng mẹ như thiến gà, thiến chó.

Ở những xưởng đẻ Xã hội Chủ nghĩa thai con nít nhiều đến nỗi
được lấy đi nuôi lợn. Một số thai được dược học Xã hội Chủ nghĩa
làm thành Nhân cao. Những cái tên gọi là Viện Y Học Dân Tộc Xã
Hội Chủ Nghĩa chỉ có mỗi một thứ thuốc khốn nạn gọi là Xuyên Tâm
Liên. Nhân cao chỉ để dành cho cán bộ đảng viên. Thứ thuốc vợ Tư
Tuân nhờ mấy đồng chí bên cái gọi là Viện Y học Dân tộc đặc chế
đưa cho chồng chính là một trong những dược phẩm nhân cao ác
ôn. Nhân cao được làm bằng xương, thịt, máu bào thai, bất cứ
người nào ngửi cũng thấy tanh tưởi. Bọn công an cộng sản không
giống người thường, như Tư Tuân chẳng hạn, y ngửi thấy thơm
thơm.

Theo như chi tiết được tả Cớm Tư Tuân phải làm việc ngày đêm, ăn
thì chỉ ăn sáng qua loa có mấy chén cơm chiên - Cớm mà đớp thật
tình chắc phải hết cả chảo - mà Cớm mần việc chi mà dữ quá
dzậy? Ngôn từ Việt cộng gọi là "khẩn trương". Cớm ngày đêm đọc
"sách báo của bọn phản động lưu vong ở nước ngoài" tìm xem
những tên gan cóc tía nào sống dưới gông cùm cộng sản mà dám
viết những bài tố cáo tội ác cộng sản, mô tả đời sống cực khổ của
nhân dân, cười khóc thay cho nhân dân, nguyền rủa cộng sản thay
cho nhân dân. Tìm ra những tên mật lớn này để tóm cổ chúng nhốt
vào tù mút mùa Đỗ Đít.

Việc làm này dễ ợt, dễ hơn đớp cơm sườn. Những năm 81, 82 ở
Thành Hồ, bọn văn sĩ Sàigòn viết được và dám viết bài gửi ra ngoại
quốc có thể đếm được trên mấy đầu ngón tay. Để có thể có những
bài viết, gọi là bài viết thôi, đừng nói đến "tác phẩm" đao to búa lớn -
để có thể có được những bài viết tả đời sống thật của nhân dân
Thành Hồ gửi ra nước ngoài, điều kiện cần nhất và quan trọng nhất
là người viết "dám viết, dám gửi đi, nhận chịu nguy hiểm". Nhiều ông
ra được nước ngoài viết vung xích chó, viết loạn cào cài châu chấu,

nhưng trong khi còn ở trong nước thì thủ khẩu như bình, một chữ
cũng không viết đi. Mấy ông như dzậy là mấy ông khôn. Chỉ có
những thằng ngu sống dưới ách Việt cộng chưa biết chết lúc nào
mà còn ngứa ngáy viết bậy viết bạ gửi ra nước ngoài. Bị tù mút chỉ
cà tha, bị bỏ mạng trong tù là đáng kiếp.

Nhưng đến đoạn này ta lại thấy lòi ra anh Cớm cộng Kiên Trinh. Vậy
là thủ trưởng giao việc điều tra tóm bọn văn nghệ sĩ Sàigòn viết bài
gửi ra nước ngoài cho Tư Tuân, Tư Tuân trao việc này cho Kiên
Trinh. Vậy mà vừa mới đoạn trên ta thấy tả Tư Tuân nghiên kíu điều
cha, điều mẹ ngày đêm, chị vợ phải đi kiếm nhân cao cho đương sự
tẩm bổ. Đây là lời báo cáo của anh cớm cộng có cái tên không hợp
với cớm cộng chút nào là Kiên Trinh:

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài
phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm
luận. Tất cả đều là những loại chống cộng "có cỡ" cả. Tôi xin
trình bày từng loại dễ "nhận diện" nhất. Đó là loại phiếm luận
như bài tựa "Nếu chàng Trương Chi đẹp trai" chắc chắn tác giả
của nó trước đây thuộc nhóm "nồi niêu xoong chảo" của báo
Hòa Bình do Anh Quân chủ trương. Anh Quân bỏ báo Hòa Bình
đem theo cả nhóm này về báo Độc Lập. Hiện nay ở thành phố
ta chỉ còn vài ba tên trong cái nhóm đó thôi. Còn những bài ký
tên Công tử Hà Đông tôi nghĩ đến Hoàng Hải vì tên này quê
quán ở Hà Đông, vốn công tử bột, con thầy Thông phán, cháu
ruột quan tri huyện.

Chàng Công tử Hà Đông sướng rên mé đìu hiu - chữ của Duyên
Anh Tuổi Ngọc những năm tháng xa xưa - khi được Cớm cộng gọi
là "Công tử bột". Dân Bắc kỳ ngày xưa - ngày xưa tức là phần đầu
nửa thế kỷ Hai mươi Trần ai khoai củ - có câu "Công tử Bột, Tiểu
thư Vôi" để gọi những cô cậu cũng ăn diện đấy nhưng không được
thanh lịch, không sang, rẻ tiền. Đúng vậy, Công tử Hà Đông đúng là
một thứ Công tử Bột Bắc kỳ điển hình và chính cống. Nhưng mà
Công tử Bột cũng là, vẫn là công tử. Đời trước, đời này, đời sau

không biết ra sao, có thật ít người dám nhận mình là công tử. Vài
ba anh tự phong mình là công tử ăn diện đúng mác thường bị người
đời chê là rởm, khoác lác hoặc phét lác. Khi Công tử Hà Đông tự
nhận là Công tử Hà Đông tức là chàng muốn nhận chàng chỉ là một
thứ công tử bột "… Công tử bột con thầy thông phán, cháu ruột
quan tri huyện…". Ní nịch trích ngang, trích dọc không có gì nhiều,
không nặng mà cũng không nhẹ, song nghe cũng không không đến
nỗi quá ư hạ cấp.

Có điều cần viết cho đúng về câu nói của anh Cớm cộng Kiên Trinh
trên đây: "… như bài tựa đề "Nếu chàng Trương Phi đẹp trai" chắc
chắn tác giả nó trước đây thuộc nhóm "nồi niêu soong chảo" của
báo Hòa Bình do Anh Quân chủ trương..". Bài được đăng dưới bút
hiệu "Lão Dương". Con nít lên ba, cụ già chín bó cũng biết "Lão
Dương" là Dương Hùng Cường Dê Húc Càn. Thứ hai, nhóm "nồi
niêu soong chảo" là nhóm ký giả trẻ chủ lực của tòa soạn báo Sống
của anh Chu Tử Chu Văn Bình từ những ngày đầu ho hen kèn cựa,
chết đi sống lại của báo Sống đầu năm 1965. Sau ngày ba anh em
ông Diệm, Nhu, Cẩn bị bắn chết, đảng Cách Mạng Quốc Gia, đảng
Cần Lao Nhân Vị, Lực lượng Thanh Niên Cộng Hòa xẹp nhanh hơn
bong bóng xà bông, nguyên thủ Ngô Đình Diệm bị bể đầu, Big Minh
lên thay chức nguyên thủ chưa đầy ba tháng thì bị Nguyễn Khánh
chỉnh lý hạ bệ, cho ngồi chơi xơi nước mút chỉ. Những cuộc binh
biến theo nhau xảy ra, những thủ tướng theo nhau rớt đài, anh Chu
Tử không ra được báo nên phải mướn "măng xét" của báo người
khác để làm. Làng báo Sàigòn - và toàn thể làng báo Bắc Kỳ, Nam
Vang, Viên Chiên do quan thầy Phú Lang Sa truyền nghề. Vì vậy
báo Sàigòn dùng rất nhiều thuật ngữ chuyên môn tiếng Phú Lang
Sa. "Măng xét: Manchette" là tên tờ báo có giấy xuất bản. Nhiều
anh viết cái biên lai giặt ủi cũng ướt mồ hôi trán nhờ những thế lực
nào đó xin được giấy phép ra báo. Mấy ảnh mà báo bổ ký gì. Mấy
ảnh mướn ký giả chuyên nghiệp hoặc cho ký giả chuyên nghiệp
mướn giấy phép ra báo của mình. Việc làm đó được giới trong nghề
gọi tắt và giản dị là "Mướn măng xét". Mỗi lần báo bị đóng cửa, anh
Chu Tử mô tả nhóm anh em ký giả của anh "lêu bêu như chó mất
chủ". Khi mướn được một măng xét nào đó trong bài trình làng anh

viết: "Nhóm chủ trương báo Sống sẽ đua hết nồi niêu soong chảo
sang tờ báo này vv.." Từ đó thành cái tên Nhóm Nồi Niêu Soong
Chảo. Toàn Nhóm Nồi Niêu Soong Chảo sẽ tái ngộ với bạn đọc thân
mến trên tờ báo X v.v…"

Nhóm "Nồi niêu soong chảo" không bao giờ là "của Anh Quân". Anh
Quân có thời làm ký giả báo Sống, nhưng chính Anh Quân không ở
trong nhóm "Nồi niêu xoong chảo" của báo Sống những ngày đầu.
Sau khi anh Chu Tử bị bắn mà không chết vào giữa năm 1965, báo
Sống sống vững, mấy tiếng "Nồi niêu xoong chảo" không được dùng
đến nữa và bị quên dần. Năm 1970, nhân báo Sống đăng phóng sự
làm lớn vụ PM Mẽo dẹp khu lều dân Việt nghèo dựng lên ngoài
hàng rào căn cứ quân sự Mỹ trên bán đảo Cam Ranh để bán sì ke
cho GI Mỹ, cho đó là vụ lính Mỹ xâm phạm, đi bốt đờ sô lên chủ
quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, báo Sống bị đóng cửa. Ký giả
báo Sống mới tản đi kiếm sống ở những báo khác.

Nhóm "Nồi niêu soong chảo" chính cống gồm có Trần Dạ Từ, Đằng
Giao, Tú Kếu, Trần Tử, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Thụy Long, Nhã
Ca, Anh Hợp. "Hiện nay tại thành phố ta còn vài ba tên trong nhóm
đó thôi." Khi Cớm cộng nói câu đó thì ở cái gọi là "thành phố ta" chỉ
còn có hai tay cựu "nồi niêu soong chảo" là Nguyễn Thụy Long và
Nhã Ca là còn lạng quạng vất vưởng ở ngoài nhà tù. Ký giả Trần
Tử, Anh Hợp đã chết, Nguyễn Văn Đông sang Mỹ, Trần Dạ Từ,
Đằng Giao, Tú Kếu đang ở trong những trại tù khổ sai. Dê Húc Càn
Dương Hùng Cường và tôi, người viết những dòng này, không ở
trong nhóm ký giả gọi là nhóm "Nồi niêu xoong chảo" do anh Chu Tử
đứng đầu.

- Dĩ nhiên không có tên nào dại dột dùng bút hiệu cũ. Trong một chế
độ mà người viết văn, làm thơ không dám ký tên thật dưới những
tác phẩm của mình, bọn cầm quyền, bọn đầu sỏ của chế độ đó phải
thấy xấu hổ, thấy nhục nhã hơn những người viết không dám ký tên
thật. Người viết không dám ký tên thật can tội hèn nhát. Đúng vậy.
Nhưng họ còn có lý do chạy tội là họ muốn giữ bí mật tên tuổi để
không bị bọn đầu trâu mặt ngựa nửa đêm ập đến nhà còng tay đưa

đi năm bảy mùa thu lá rụng chưa nhìn thấy mơ hồ bóng dáng
đường trở về mái nhà xưa. Họ mong họ không bị bắt để họ còn có
thể viết được nhiều nữa.

Đời nào cũng vậy thôi, rất nhiều người làm văn nghệ nhưng chỉ có
rất ít người được nổi tiếng. Nổi tiếng và được đời công nhận là văn
nghệ sĩ. Nổi tiếng cũng là thành công. Như Tản Đà, Vũ Hoàng
Chương, Đinh Hùng, không cần có hai tiếng thi sĩ đứng trước tên.
Phạm Duy, Văn Cao, Hoài Bắc không cần có hai tiếng nhạc sĩ, như
Thái Thanh không cần được giới thiệu là nữ ca sĩ. Có rất nhiều
người viết rất nhiều truyện ngắn, truyện vừa, làm nhiều bài thơ
nhưng vẫn chẳng được ai nhìn nhận là văn sĩ hay thi sĩ. Người viết
tạo được một văn phong riêng, bút pháo riêng - nôm na là giọng văn
riêng, cách viết riêng, lối nhận xét cuộc đời trần ai khoai củ riêng -
lại rất khó và hiếm.

Cớm Kiên Trinh báo cáo với cớm Tư Tuân:

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài
phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm
luận. Tất cả đều là những loại chống Cộng "có cỡ" cả…

Cớm cộng đọc 15 bài anh em chúng tôi viết ra, công nhận: "Tất cả
đều loại chống cộng "có cỡ". Trong khi đó thì chính anh em chúng
tôi, những người viết những bài cớm cộng cho là "chống cộng có
cỡ" ấy, chúng tôi coi những gì chúng tôi viết gởi đi chỉ là loại viết
chơi vì quá buồn. Chúng tôi không có ý viết những lời đao to, búa
lớn. Chúng tôi áy náy vì thấy mình không diễn tả, không ghi lại được
một phần trăm những đau khổ, những oán hận của nhân dân,
những tai họa do cộng sản gây ra cho nhân dân ta.

"Những tên biệt kích cầm bút" trang 79, anh cu Tư Tuân cớm cộng,
trưởng cái ban gọi là Ban Công Tác Chống Phá Hoại Tư Tưởng,
được giám đốc cớm Thành Hồ giao nhiệm vụ điều tra mấy tên văn
nghệ sĩ Sègoòng gan cóc tía dám viết bài tố cáo chế độ cộng sản

ác ôn côn đồ gửi ra nước ngoài. Nói là điều tra cho huê dạng, đúng
ra là giao cho anh cu Tư Tuân việc tìm bắt, bỏ tù bọn gan cóc tía.
Tư Tuân đọc những bài báo phản động và thấy "buồn nôn vì toàn là
những luận điệu rẻ tiền.." nhưng đến trang 87, tức là chưa đến
mười trang sau, anh cu Kiên Trinh, anh Cớm Cộng có cái tên không
có vẻ cớm chút nào là Kiên Trinh, được Trưởng ban Tư Tuân giao
lại việc tìm bắt bọn gan cóc tía, báo cáo:

- Trong số 15 bài ấy có hai truyện ngắn, bốn bài thơ, ba bài
phóng sự, hai bài nghị luận chính trị, văn học và bốn bài phiếm
luận. Tất cả đều là những loại chống Cộng "có cỡ" cả…

Thằng đàn anh vừa chê: "… luận điệu vu cáo rẻ tiền. Chán đến
buồn nôn…" Ngay sau đó thằng đàn em dộng tủ đứng, dộng luôn cả
cái bàn thờ Chủ tịt Đảng vào mồm thằng đàn anh bằng câu nói:

- Em đọc 15 bài của chúng nó thấy bài nào cũng thuộc loại
chống cộng "có cỡ" cả…

Rẻ tiền tức là không có cỡ, mà có cỡ tức là có giá trị, và có giá trị
tức là không rẻ tiền. Anh cu Kiên Trinh, cái tên anh cu cớm cộng
Thành Hồ này cũng kỳ. Bác Hồ học mót lối dùng bí danh có vẻ bình
dân để gọi nhau trong Đảng của Tầu Cộng, bác lấy tên là Sáu Keo.
Từ đó, bọn đảng viên Việt cộng anh nào cũng có tên mang số thứ
tự hai, ba, năm, sáu đứng đầu. Chẳng hạn như Tư Bốn, Ba Thiên,
Năm Lành, Bốn Lù v.v… Có anh còn mang cái tên gợi cảm là Hai Bi,
Ba Bi. Nhưng ở trang này, ta lại thấy lòi ra một anh cớm cộng có cái
tên là Kiên Trinh - Anh cu Kiên Trinh chỉ mới đọc có 15 bài còm của
vài tên văn nghệ sĩ Sègoòng kẹt giỏ viết gửi ra nước ngoài là anh đã
phải nhận là "… chống cộng có cỡ…" Nếu hai anh cu này đọc 150
bài do anh em chúng tôi viết về cuộc sống thê thảm của nhân dân
thành Hồ dưới gông cùm Việt cộng, chắc hai anh sẽ buồn nôn đến
cái độ nôn ra máu.

Được cớm cộng "đánh giá" là viết toàn những bài "chống cộng có
cỡ" nghe cũng khoái tỉ. Nhưng quy luật của tự nhiên, theo Ăng Ghen
là "càng được cộng sản đánh giá chống cộng cao cấp chừng nào
càng bị cộng sản bỏ tù lâu chừng ấy". Những trang NTBKCB cho
anh em chúng tôi thấy tại sao bọn công an Thành Hồ lại hục hặc kết
anh em chúng tôi vào tội gián điệp, đưa chúng tôi ra tòa với tội gián
điệp và muốn tử hình một người trong bọn chúng tôi, bỏ tù chung
thân tên thứ hai trong danh sách gián điệp, bỏ tù hai mươi cuốn lịch
Tam Toong Méo tên đứng hạng thứ ba, mười lăm mùa khoai lang
tên đứng thứ tư, mười hai mùa củ đậu tên đứng hạng thứ năm,
mười mùa cốm giẹp tên đứng hàng thứ sáu. Hai tên gián điệp cuối
cùng trong số 8 tên, tên số tám và tên số bẩy: mỗi tên tám mùa cô
hồn cháo lá đa.

Bị tó tháng Năm 1984, một tháng sau ngày Nhóm Già Lam Tuệ Sĩ
Phạm Văn Thương, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Thích Trí Hải giã từ cửa
Thiền lên xe bông dzô cửa tù, chúng tôi bị bọn viết báo cộng sản
chửi lai rai, chửi dài dài từ năm 1985. Năm 1986 trước ngày bọn
công an Thành Hồ đưa chúng tôi ra tòa, bọn báo Công An và bọn
báo Tuổi Trẻ Thành Hồ cùng đăng những bài mới về chúng tôi. Khi
những tờ báo có những bài viết ấy vào đến tay chúng tôi trong nhà
tù Chí Hòa, Trí Siêu Lê Mạnh Thát, người ở tù cùng phòng với tôi
trong suốt năm mùa Lễ Vu Lan, nói với tôi:

- Sao chúng nó thù các bác quá…

Tôi gọi Trí Siêu bằng thầy. Trí Siêu gọi tôi bằng bác. Trí Siêu kém
tuổi tôi mười mùa bác Hồ đầu thai phá dân hại nước.

Nhưng như tôi đã viết, xin viết lại ở đây cho câu chuyện được mạch
lạc, bạn đọc dễ theo dõi hơn. Công an Thành Hồ đã dàn dựng sân
khấu, làm om sòm trên báo để đưa "bọn gián điệp ra tòa. Chúng sẽ
phải cúi đầu nhận tội…v.v…"

Năm 1986, trước ngày chúng họp cái gọi là Đại Hội Đảng Mả Mẹ kỳ
6. Nhưng rồi, chúng không thể đưa chúng tôi ra tòa như chúng đã

loan báo rình rang trên các báo. Chúng tẽn tò. Loạt bài nửa phóng
sự, nửa điều tra, nửa chuyện bịa viết nhiều kỳ về bọn gián điệp mới
đăng được ba kỳ trên báo Công An, Tuổi Trẻ bị ngưng. Không cả
một mẩu tin cho độc giả biết phiên tòa xử bọn gián điệp được loan
báo xử ngày đó, tháng đó đã được hoãn.

phần 26

Bọn Công an thành Hồ có sách báo Việt hải ngoại không
có gì khó. Sách báo Việt hải ngoại bán tự do. Chúng chỉ
việc cho tay sai bỏ tiền mua gửi về. Nhưng chắc chắn
chúng cũng không thể nào mua và có được tất cả các sách
báo Việt chống cộng phát hành ở hải ngoại. Vì vậy anh cu
Kiên Trinh chỉ được đọc có 15 bài. Và chỉ mới đọc 15 bài
thôi anh đã phải nhận: "… bài nào cũng thuộc loại chống
cộng có cỡ…"

Riêng tôi, tôi không lấy gì làm quan trọng những bài tôi viết.
Tôi viết toàn những chuyện phiếm, tôi viết như tôi nói
chuyện. Tôi tự coi tôi như anh lom khom đứng ở góc vườn,
vạch rào nói ra ngoài, tiếng được, tiếng mất, mong những
người đi ngoài đường nghe tiếng:

- Mấy ông, mấy bà ơi… Đừng có tin mấy thằng ăn cướp
chúng nó chiếm cái nhà này của chúng tôi. Chúng nó nói
với mấy ông, mấy bà là mọi người sống trong căn nhà này
đều sung sướng là chúng nó nói láo. Chúng nó đểu lắm, ác
lắm. Chúng nó làm chúng tôi điêu đứng…

Vì đã có thời làm phóng viên nhà báo, tôi tự cho tôi biết
những người Việt bỏ của chạy lấy người trước ngày đứt
phim trong thời gian ấy- những năm 76 đến 84 - sống lưu
vong ở những nơi chân trời, góc biển muốn nghe, muốn
đọc, muốn biết những chuyện gì đang xảy ra ở Sàigòn. Tôi
tự đặt tôi vào tình trạng tinh thần của những người Việt lưu
vong, những người từ đời ông cố, ông sơ sống truyền kiếp
ở Sàigòn, quen thân từng ngõ ngách, từng vỉa hè, đôi mông

quen thuộc với tất cả những chiếc ghế da rạp Rex, Đại
Nam, Kim Châu, Khải Hoàn, Eden, Thanh Bình, Quốc Tế,
Bonard Vĩnh Lợi… quen luôn cả những Lido, Đại Quang,
Victory bỗng dưng một sớm một chiều bị bốc ra khỏi môi
trường sống. Người Việt sống ở Sàigòn thoải mái, hồn
nhiên, tự nhiên, thiên nhiên, tất nhiên, mặc nhiên, nghiễm
nhiên, đủ thứ nhiên hằm bà lằng xíu oát, như con cá lóc
sống trong biển Hồ Pleiku, nơi có người em Pleiku má đỏ,
môi hồng, nơi cuộc đời quanh năm mùa đông. Người Việt
Sègoòng bị trực thăng Mẽo bốc ra nước ngoài tình cảm
chắc cũng không khác gì em cá bông lau bị đưa lên chợ
Cá Trần Quốc Toản. Xin lỗi, không đến nỗi bi đát như thế
nhưng nếu tôi là những người tha hương sầu xứ đột ngột
và bất đắc dĩ ấy, tôi muốn được nghe, được đọc những
chuyện gì đang xẩy ở Sàigòn.

Nếu tôi là người Việt lưu vong, tôi sẽ muốn đọc, muốn biết
những chuyện linh tinh, lặt vặt xẩy đến trong cuộc sống
thường ngày của người dân thường Sègoòng. Người
Sègoòng sống ra sao, mần ăn chi, có bị Việt cộng hành hạ
khổ sở lắm không? Dân Sègoòng nghĩ gì về bọn Việt cộng
nay làm chủ Sàigòn? Vì vậy, tôi đã viết ra nước ngoài
những việc rất thường như chuyện dân Sègoòng đi lãnh đồ
ở những nhà bưu điện, ở kho hàng Tân Sơn Nhất.

Muốn tắm mát thì lên ngọn cái con sông đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh
Đôi tay anh vín đôi cành
Quả chín anh hái quả xanh anh vồ
Năm sáu năm nay anh ăn ở thành Hồ
Anh ra bưu điện lãnh quà em cho

Đồ em vừa nặng vừa to
Anh đã con mắt anh no cái mồm

Tôi viết về những nghề mới của dân Sègoòng sau Ba mươi tháng
Tư: bơm mực bút bi, mua bán chợ trời, chợ đất, thuốc tây, ve chai -
một loại dze chai mới xã hội chủ nghĩa - nghề chà đồ nhôm. Trang
điểm những bài viết ấy là những bài thơ nho nhỏ:

Chà đồ nhôm

Đi đâu bỏ con ở nhà?
Hỏi Em, Em nói: Đi chà đồ nhôm!
Đi đâu tay xách, nách ôm?
Hỏi Em, Em nói: Đi chôm đồ nhà!

Cộng sản đi đến đâu đói khổ, nheo nhóc, dơ dáy đi đến đấy. Quy
luật ấy đã có từ bẩy mươi mùa củ chuối và đã xảy ra ở quá nhiều
nơi. Nhưng như cái gọi là Thiền, phải đến những năm 75, 76 đen
hơn cái lá đa dân Sègoòng mới thấy, mới biết, mới bị nó quật cho tối
tăm mắt mũi, ứa máu ra đủ bẩy lỗ gọi là Thất khiếu. Như chợ trời
chẳng hạn. Cộng sản đến bất cứ thành phố nào trên trái đất bất
hạnh vì có tai họa cộng sản này lập tức thành phố đó xuất hiện
những chợ vỉa hè. Người dân đem đủ thứ vật dụng ra vỉa hè bày
bán. Đặc biệt năm 1975, có nhiều nhà cho Mỹ mướn, nhiều nhà
giàu bỏ của, bỏ nhà, bỏ nước chạy lấy người, số vật dụng được dân
nghèo vào những nhà đó lấy ra thật nhiều. Không chỉ quần áo, đồ
dùng vặt vãnh mà thôi, người dân Sègoòng bán cả bàn ghế, giường
tủ, xe gắn máy. Người ta như bị say đòn bán đồ. Thấy người khác
bán đồ, nhiều người không cần tiền cũng đem đồ ra bán tống, bán
tháo. Có người sợ: "Nhà mình nhiều đồ quá, nó để ý…" "Nó" đây là
Việt cộng.

Giấc mộng huy hoàng nhất của những anh "bộ đội cụ Hồ" là có một
chiếc đồng hồ tay. Những câu "đồng hồ không người lái, một cửa
sổ, hai cửa sổ" xuất hiện trong ngôn ngữ dân Sègoòng. Nhân tiện

nói đến chuyện đồng hồ, xin nhắc lại chuyện "giả chân" trong bài thơ
Đồng Hồ của Tố Hữu.

Phùng Quán - nghe nói là cháu gọi Tố Hữu là cậu - viết một bài
ngắn tả cảnh ông đi tù về đến nhà thăm ông cậu. Ông tả thời Tố
Hữu đang hiển hách, khi Tố Hữu là Phó Thủ tướng kiêm đại đầu sỏ
Văn nghệ xã hội chủ nghĩa, nhà Tố Hữu được canh gác như một
phủ chúa, cận vệ bận đồng phục trắng, an ninh nổi chìm khắp dinh,
quan khách ra vào tấp nập. Thế rồi Đảng cộng sản Nga tiêu tán
thoòng, Liên Sô thành trì xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, thánh tổ
Lenin bị kéo cổ cho ra nằm bãi rác.

Biết rồi…. Nói mãi… Xin vắn tắt: Tố Hữu bị thất sủng. Đang là vị
lãnh tụ được chuẩn bị thay thế Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Hội
Đồng Chánh Phủ, tức là làm Tể Tướng - Tố Hữu tụt xuống làm một
thứ dở ông, dở thằng không giống ai và không ai giống. Phùng
Quán tả nhà ông cậu xuống chó vắng như chùa Bà Đanh, như nhà
cô Đạm Tiên khi người khách viễn phương đến thăm. Rồi Phùng
Quán kể đến bài thơ mới làm của ông cậu xuống chó.

Thơ như vầy:

Anh bộ đội đi mua đồng hồ
Thật giả khó phân anh rất lo
Anh hỏi cô hàng, cô tủm tỉm:
Giả mà như thật, khó chi mô!

Ra cái điều Tố Hữu chửi bọn Đỗ Mười, Võ Văn Kẹt là bọn đệ tử Mác
giả hiệu. Ý nghĩa bài thơ này, em bé lên ba, cụ già chín bó đọc qua
đều biết. Bọn đệ tử Mác vẫn thường chửi nhau là đệ tử Mác giả
hiệu, miệng nói theo Mác, việc làm phản lại lý thuyết Mác. Không
những chúng chỉ chửi nhau mà thôi, chúng còn nhân chuyện ấy giết
nhau tàn tệ. Từ lâu rồi, người ta đã nói: Nếu Các Mác mà sống dưới
thời Sít Ta Lin, Các Mác cũng bị Sít Ta Lin bỏ tù vì tội "hiểu sai chủ
nghĩa Mác"

Điều lạ là anh Tố Hữu, thi sĩ cộng sản đoạt giải thơ nâng bi lãnh tụ
nhiều năm liên tiếp, tác giả những câu ca tụng Chúa Đỏ Sít-ta-lin
đến cái độ ghê rợn - biết rồi, khỏi kể - đã không biết nhục mà còn
mần thơ chửi bọn Mác Xít hoạt đầu. Bài viết ngắn của Phùng Quán
tả cuộc đến thăm Tố Hữu chỉ được nhiều người để ý vì có bài thơ
Đồng Hồ của Tố Hữu.

Có điều lạ nữa là dường như chẳng ai thấy cái vớ vẩn của bài thơ.
Ý bài thơ không ăn khớp. Anh bộ đội đi mua đồng hồ nói một
đường, chị bán đồng hồ trả lời một nẻo. Ý bài thơ anh chẳng, ả
chuộc, anh nói gà, ả nói vịt vô lý quá rõ. Vậy mà tôi chẳng thấy ai
nói gì về chuyện ấy cả.

Này nhé, anh bộ đội đi mua đồng hồ. Chợ xã hội chủ nghĩa bán
nhiều thứ giả mạo quá, anh sợ anh mua phải đồ giả. Anh hỏi cô
hàng làm sao phân biệt được đồng hồ nào giả, đồng hồ nào thiệt.
Thay vì trả lời câu hỏi đó, cô hàng lưu manh trả lời một câu không
ăn nhập gì đến câu hỏi:

- Đồng hồ giả mà làm như đồng hồ thật có gì khó đâu.

Anh bộ đội cụ Hồ có thể nổi cáu:

- Chị đừng có ăn nói vớ vẩn. Tôi hỏi nằm thao biết đồng hồ lào giả,
đồng hồ lào thật… Chị khoe chị làm cho đồ giả như thật là nghĩa
chi?

Bài thơ Đồng Hồ của Tố Hữu, theo tôi, phải như sau mới có nghĩa:

Anh bộ đội đi bán đồng hồ
Đồng hồ anh giả, anh rất lo
Anh nhờ cô hàng, cô tủm tỉm:
Giả mà như thật, khó chi mô!

Có lần tôi bi phẫn trước cảnh những anh chị dze chai mới đi khắp
xóm rao mua đủ thứ đồng hồ, mắt kính, ra-zô, bàn ủi, máy may, nồi
cơm điện… Chẳng thấy ai rao mua người. Anh bạn tôi nói:

- Cũng có đứa nó mua người chứ. Sao anh lại nói chẳng ai mua
người…

Phẫn nộ một cách hết sức dzô dzang, tôi đi một đường Tác-giăng
nổi giận:

- Nó mua là nó mua đàn bà, con gái còn sài được. Nó có mua loại
đàn bà ho hen, kèn cựa, vú lép, mông teo đâu. Đằng này đồ hư, đồ
cũ, đồ xập xệ, đồ nát. Đồ gì cũng có người mua hết. Đàn bà ốm
nhách, xanh leo, xanh lét có cho không nó cũng không thèm lấy.
Còn cái ra-zô cũ, chuột gặm mốc meo anh mua từ thời lính Mẽo
chưa tham chiến ở Việt Nam nghe hết được anh bỏ quên trong gậm
tủ, nay anh mang ra bán vẫn có người mua.

Vật quý hơn người. Đó là lẽ thường, lẽ tự nhiên và đương nhiên. Tôi
bất bình vì chuyện đồ cũ bán có người mua, người cũ không ai mua
cả là tôi vô lý. Quẳng cái bàn ủi cũ ra đường năm phút sau có người
ôm đi ngay. Quẳng một em bốn bó, kể luôn cả ba bó, ho lao hen
suyễn khặc khừ, hay đang trong tình trạng thượng thổ, hạ tả ra vỉa
hè, nằm bẩy ngày người qua đường không ai thèm dừng chân lại
nhìn cho một cái làm phúc. Tôi cũng dzậy thôi. Bố bảo tôi cũng
không khiêng những em ốm o ấy về nhà, đừng nói đến chuyện tôi
bỏ tiền ra mua.

Bất bình tắc minh. Tức cảnh sinh tình. Trong những năm 1976,
1977, rồi trong hai năm 1982, 1983 tôi viết một số bài linh tinh về
những chuyện vặt đại khái như tôi vừa kể gửi ra nước ngoài. Rất
tiếc, những bài tôi viết ra nước ngoài thời ấy, tuy được đăng trên
nhiều báo ở Mỹ, Úc, Pháp, nhưng vì không được in thành sách nên
bị chìm mất theo thời gian. Nay ở Rừng Phong tôi chỉ còn được một
hai bài đăng trong tập "Tắm Mát Ngọn Sông Đào", nhà xuất bản Lá


Click to View FlipBook Version