Bác Minh, người gầy gò, thấp bé. Thỉnh thoảng dẫn người
con trai ngoài hai mươi tuổi đến nhà bác Phong xoa mạt
chượt. Con trai bác Minh nói tiếng Việt rất rõ. Hai cha
con bác luôn nói tiếng Việt với nhau, bố bố, con con rất
thân mật. Nghe người khác nói lại rằng người con trai kia
là con riêng của bà Trúc, vợ bác Minh.
Bà Trúc cũng là một người Việt Nam lưu lạc sang Đài
Loan cùng khoảng năm với các bác, nhưng theo chồng Đài
Loan về xứ. Vài năm sau, ông này có lẽ bị tù tội sao đó, bà
Trúc phải ra chợ bán rau nuôi con một mình. Bác Minh
gặp bà Trúc ngoài chợ, cảm động vì gặp được một người
đồng hương bôn ba cực khổ, trong lúc bác cũng đang cô
đơn tứ bề. Bác Minh cảm thấy như là “chị Trúc” ngồi ở
giữa chợ để chờ bác, nên bác làm quen và sau đó ít lâu dọn
vào ở chung, thành ông thành bà. Bác Minh trai không thể
có con nên bác xem con của bác gái như của mình, hai cha
con rất thân nhau.
Bác Thắng qua Đài Loan cùng thời gian như bác Phong và
bác Quang. Nhưng bác Thắng không phải trong nhóm
người đi kháng Pháp rồi trôi giạt sang Tàu. Lý do tại sao
bác Thắng đến Đài Loan thì tôi không rõ. Bác Thắng dáng
người cao ráo, mặt vuông, thuộc loại điển trai. Bác có vợ
người Đài Loan, dung nhan bà này trên trung bình. Cô con
gái lớn của bác Thắng cao hơn một mét sáu, mảnh khảnh,
nét mặt đẹp quyến rũ. Nhưng con bác Thắng không nói
được tiếng Việt. Bác Thắng mở một công xưởng nhỏ, làm
gì thì tôi không rõ, nhưng bác rất sung túc.
Thỉnh thoảng bác Thắng mời các anh sinh viên Việt Nam
và bác Phong đến nhà xoa mạt chượt, mục đích để giới
thiệu con gái bác cho các anh sinh viên này. Các anh này
ai cũng khen con gái bác Thắng đẹp tuyệt vời. Bác Thắng
thì bảo rằng: “Anh nào mà theo được nó thì tôi gả cho.”
152 Những Người Việt Luân Lạc.. | TT-Thái An
Thế mà chẳng thấy anh nào theo cả. Một hôm, có anh cho
biết rằng con gái bác Thắng đã có bạn trai người Đài Loan
rồi, cô ấy đâu muốn thay đổi làm gì.
Trở lại với bác Quang trai. Ngày còn tòa đại sứ Việt Nam
Cộng Hòa, bác làm việc cho tòa đại sứ. Sau 30 tháng Tư,
1975, tòa đại sứ đóng cửa. Tất cả các nhân viên sứ quán
đều được Mỹ cho đi Mỹ tị nạn. Đáng lẽ bác cũng được đi
theo diện này, nhưng có lẽ vì bác gái đã nhập tịch Đài Loan
nên lãnh sự Mỹ khước từ cấp visa tị nạn cho gia đình bác.
Lý do bác gái nhập tịch Đài Loan cũng dễ hiểu, vì bác
muốn mua nhà để các con có chỗ ở cố định, khu có trường
trung học nổi tiếng. Vì ở nhà thuê chủ nhà có thể lấy lại
nhà khi hết hợp đồng. Đi Mỹ không được, vợ chồng bác
xoay qua làm giò, chả, bì tươi, bánh cuốn, bỏ mối cho một
vài tiệm ăn Việt Nam và nhận đặt hàng khi có người gọi.
Cũng may là sau 1975, có một số Hoa kiều Việt Nam chạy
qua Đài Loan sinh sống nên họ gọi điện thoại đặt mua giò
lụa, chả quế và bánh cuốn của bác thường xuyên nên gia
đình bác rất sung túc.
Có lần bác Quang kể chuyện thời kháng chiến cho tôi nghe
về cái chết của một người đồng đội. Lúc đó trời đã khuya,
người bạn kia bị thương nặng đang nằm trong nhà, chờ
chết. Căn nhà này ở trong rừng, các bác ngồi phía ngoài để
canh gác. Bỗng nhiên có một đóm lửa xanh thật lớn bay
vụt từ nóc nhà lên cao rồi biến mất. Tức thì trong nhà có
tiếng khóc bật lên. Các bác biết ngay là người kia vừa chết,
hồn vừa lìa khỏi xác. Bác kể bác đã thấy nhiều người chết,
nhưng chỉ có vài người có khí phách cao hơn người khác
thì mới có hiện tượng này xảy ra. Bác bảo người ta gọi đó
là cái phách của người vừa chết vụt bay ra.
Lần khác, bác hỏi tôi biết tại sao ông Nguyễn Hải Thần lấy
biệt danh như thế. Tôi không biết. Bác bảo vì ông ấy bơi
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lac̣ .. 153
lội rất giỏi, rất nhanh. Chính bác đã nhìn thấy ông ấy bơi
loáng một cái đã sang bên kia sông. Ông cũng lặn thật tài.
Bác thấy ông lặn xuống thật lâu chẳng thấy nổi lên, bác lo
ông bị chìm luôn. Nhưng sau đó lại thấy ông nổi lên ở một
điểm thật xa.
Có lần bác Phong kể lại khi bác ở đảo Hải Nam, bác gặp
một nhóm người nhuộm răng đen, họ sống với nhau thành
làng, họ không còn nói được tiếng Việt Nam. Nhưng họ
nói với bác rằng tổ tiên họ gốc Việt Nam, lưu lạc đến đảo
này từ thời hai bà Trưng. Vì thế cả hai bác Phong và bác
Quang đều xác định rằng, người Việt Nam phải nhuộm
răng đen để không bị đồng hóa với người Tàu trong suốt
gần một ngàn năm Bắc thuộc.
Bác Quang trai rất khỏe mạnh. Có lần bác khoe với tôi
rằng trên hai mươi năm qua bác không cần uống một viên
thuốc nào. Vì ỷ vào sức khỏe của mình nên bác chẳng đi
khám định kỳ. Đến khi bác cảm thấy bụng hay đau ngâm
ngâm, lúc nào cũng xình bụng, đầy hơi, ăn vào cứ tháo ra
ngay, thì bác ra chợ mua thuốc đau bụng, loại thuốc Bắc
đóng chai công nghiệp về uống. Uống hiệu này không hết,
bác đổi hiệu khác, cũng không hết bệnh. Bác âm thầm chịu
đau, không nói cho vợ con biết. Nhưng một hôm, ông
Diệp, người đưa hàng (bác thuê một ông lớn tuổi đi giao
hàng cho bác mỗi ngày vài giờ) nói với bác rằng: “Ông chủ
ơi! Tôi thấy cái bụng của ông chủ lúc này to phình lên, mà
người thì gầy ốm lại giống như ông hàng xóm tôi vậy. Ông
ấy vừa mới chết vì bị ung thư gan đấy. Ông nên đi khám
bệnh đi, coi chừng trễ!” Bác Quang nghe xong, tức giận la
lên, bảo ông Diệp đừng nói nữa, đừng có trù ẻo bác như
thế.
Bác gái nhớ lại, cả tuần nay bác trai không ăn uống gì cho
ra bữa nên cũng hối chồng đi khám bệnh. Bác trai vẫn
154 Nhưñ g Người Việt Luân Lac̣ .. | TT-Thái An
ngoan cố, không chịu nghe. Bác gái phải gọi điện thoại cho
đứa con trai thứ đang học đại học xa nhà về gấp để khuyên
bố. Người con về gấp, thấy sắc diện của bố mà giật mình.
Nó nói với bố rằng: “Bố ơi! Cái bụng của bố to như người
ta có bầu sắp sanh rồi. Bố phải đi khám ngay. Nếu bố
không đi khám, con sẽ không về trường đi học tiếp.”
Thế là bác Quang vì thương con mà chịu đi khám bệnh. Cả
hai người con trai và bác gái cùng đưa bác trai đến một
bệnh viện nổi tiếng nhất Đài Bắc để khám. Bác sỹ khám
cho bác trai xong bảo cả nhà ngồi lại chờ kết quả . Gần hai
giờ sau, bác sỹ gọi ba mẹ con bác gái lại báo tin dữ: “Bác
trai chỉ còn sống được khoảng hai tháng nữa thôi! Bác bị
ung thư ruột thời kỳ chót. Toàn bộ ruột của bác đã bị ung
thư tràn lan hết, và giống như đang nằm trong một thùng
nước” Bác sỹ khuyên hãy đem bác trai về nhà nằm, chờ
giờ ra đi. Vì để lại bệnh viện hai tháng tốn tiền phòng, tiền
thuốc thang rất nhiều mà cũng chẳng hy vọng gì. Bác gái
nghe chưa xong đã lảo đảo suýt té. Hai người con trai phải
vội vàng đỡ mẹ.
Về đến nhà, bác gái lại thu xếp đưa bác trai lên bệnh viện
quân đội lớn nhất Đài Bắc, vì bác hy vọng sẽ có các bác sỹ
giỏi hơn, may ra cứu được bác trai. Nhưng lên đây, bác sỹ
cũng chịu thua. Bác gái nhất định không đem bác trai về
nhà, cứ để bác nằm lại bệnh viện. Bác sỹ và y tá thỉnh
thoảng đến xem chừng và rút nước ra khỏi bụng bác, mỗi
lần gần cả sô. Bác thuê người nuôi bác trai, trả tiền từng
ngày công rất cao. Chưa kể, bác không có bảo hiểm sức
khỏe, phải trả tiền túi toàn phần, rất tốn kém.
Khi tôi vào thăm bác, mặt mày bác hốc hác nhiều, hai con
mắt trũng sâu, nhưng đầu óc còn tỉnh táo. Bác kể cho tôi
nghe tối qua có một anh ca sỹ bị tai nạn xe hơi, đem vào
đây, nghe anh ta la hét dữ dội ngoài hành lang, độ một lúc
TT-Thái An | Nhưñ g Người Việt Luân Lạc.. 155
sau thì im lìm. Có lẽ anh ta chết mất! Khi nói đến cái chết
đột ngột của người khác, có lẽ bác cũng nghĩ đến cái chết
đang đứng kề sát bên mình.
Bác trai trăn trối với bác gái rằng thỉnh thoảng nhớ đóng
một thùng quà gửi về Việt Nam tiếp tế cho em gái út của
bác còn ở ngoài Bắc. Dù bố mẹ bác chết hết cả rồi, nhưng
bác vẫn còn nợ em bác, là người đã thay bác nuôi cha mẹ
dù lúc sống dưới chế độ cộng sản, em bác chịu khó khăn,
túng thiếu mọi bề. Bác gái hứa rằng: “Khi nào tôi còn làm
việc, còn kiếm ra tiền thì tôi sẽ thay ông lo cho cô ấy.”
Bác Quang trai cũng nhờ bác gái kiếm cho ra vị linh mục
Việt Nam đang ở tại Đài Bắc, để nhờ vị này đến bệnh viện
gặp bác trai cho bác được xưng tội trước khi lìa đời.
Vị linh mục này là Hoa Kiều VN nên nói tiếng Việt rất
giỏi. Đến lúc này mọi người mới biết bác trai là người theo
đạo Công Giáo. Ít ra, bác cũng còn chút thời gian trước khi
chết để lo cho linh hồn của mình một chốn về. Vị linh mục
này cũng được bác Quang nhờ cậy làm phép xác cho bác
khi bác ra đi.
Bác gái gọi điện thoại qua Canada cho một người em gái
khác của bác trai báo tin. Người em này di cư từ Bắc vào
Nam năm 1954. Năm 1975 lại chạy qua Canada tị nạn.
Hai anh em chưa gặp lại nhau gần bốn mươi năm. Hai vợ
chồng người em gái vội mua vé máy bay đi gấp. Bác gái
báo cho bác trai hay để bác cố gắng chờ. Mỗi khi bác trai
lên cơn đau lại la hét lên, đưa tay cố tháo gỡ các thứ dây
đang truyền vào người bác. Bác chỉ muốn chết ngay cho
hết đau. Nhưng bác gái lại nhắc bác trai rằng em bác từ
Canada sắp đến gặp bác.
Vào ngày cuối, bác trai lúc tỉnh lúc mê. Khi tỉnh, cứ thấp
thỏm hỏi bác gái: “Vợ chồng cô Nhàn sắp đến chưa?” rồi
156 Những Người Việt Luân Lac̣ .. | TT-Thái An
lại thiếp đi.
Khi em bác vừa đến phi trường Đài Bắc lúc gần trưa, được
con bác đưa ngay đến bệnh viện để gặp anh.
Bác trai gặp được em mình lần cuối. Khi bác đi kháng
chiến cô ấy còn bé lắm, nay hai anh em đã già. Bác nói
thều thào vài lời với em rồi trút hơi cuối cùng. Bác gái bảo
rằng đáng lẽ bác Quang đi sớm hơn từ hôm trước, nhưng vì
muốn gặp em nên bác gắng chờ đến trưa hôm sau.
Bác trai thọ được 67 tuổi.
Năm đó hình như là 1985.
Bác Quang được chôn cất ở nghĩa trang Công Giáo, trên
một cái đồi, ở ngoại ô Đài Bắc. Vị linh mục hôm nọ đến
làm phép xác cho bác bằng tiếng Việt.
Sau đám tang, bác Quang gái mời mọi người ra nhà hàng
để đáp lễ vì bác đã đặt bàn trước.
Bác vẫn giữ phong tục miền Bắc cổ xưa, làm cỗ đãi mọi
người đã đến tiễn đưa chồng, cha, hoặc mẹ, hoặc một người
trong gia đình mình để trả lễ. Bác gái bảo ở nhà quê ngoài
Bắc mỗi khi nhà có đám tang thì cả họ phải xúm nhau lại
làm cỗ đãi cả làng. Người làng cũng lại phụ giúp, đỡ đần
cho một tay. Còn ở đây bác và mọi người quen đều chẳng
có thì giờ nên phải ra nhà hàng. Nhìn bác buồn áo não, chỉ
lo tiếp khách chứ chẳng thiết đến ăn uống. Vợ chồng bác
giống như đôi uyên ương, lúc bác trai còn sống, họ chẳng
xa nhau một ngày.
Đám tang bác Quang có ba người khách đến từ tỉnh Cao
Hùng. Họ ngồi tàu lửa suốt đêm, cố gắng đến tiễn đưa một
người đồng hương đến nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là bà
TT-Thái An | Nhưñ g Người Việt Luân Lac̣ .. 157
Chuyền và hai bà Việt Nam khác. Các bà này dù ở Cao
Hùng, nhưng khi xưa thỉnh thoảng lên tòa đại sứ VNCH ở
Đài Bắc, có quen biết các bác.
Dù không còn tòa đại sứ nữa, dù ít khi liên lạc với nhau, họ
vẫn xem nhau như đồng hương, rất trân quý. Nhìn ba người
đàn bà lớn tuổi dìu dắt nhau đi đưa đám tang bác Quang
chẳng ngại đường xá xa xôi, ngồi tàu lửa suốt đêm, mệt
mỏi, tốn kém; bà Hoàng lại còn phải bỏ một ngày bán hàng
ngoài chợ. Sau đó lại lầm lũi ra về, không ai đưa tiễn. Tôi
cảm thấy bùi ngùi, thương cảm cho các bà theo chồng xa
xứ.
Tuổi các bà đã cao, một ngày nào đó nằm xuống, có đồng
hương nào trên Đài Bắc xuống Cao Hùng để tiễn đưa các
bà không?
Gia đình cha mẹ, anh chị em của các bà ở miền Bắc đã mất
liên lạc với các bà từ lâu. Có lẽ họ xem các bà như đã chết
từ lâu rồi! Riêng bà Chuyền, có lẽ bà chẳng còn họ hàng
thân thích nơi đâu. Bà chỉ có chồng con và hai bà bạn đồng
hương Việt Nam ở Cao Hùng mà thôi.
Đưa đám tang cho bác Quang xong, có lẽ bác Phong buồn
lắm vì mất đi một người bạn đồng chí và đồng hương suốt
hơn 40 năm.
Bác xin nghỉ làm ở nhà một tuần để đi khám tổng quát và
để nguôi ngoai nỗi buồn mất bạn. Kết quả không đến nỗi
nào, bác chỉ bị sạn trong thận, mỗi ngày cần uống thuốc
cho tiêu sạn.
Sau này, bác cho một anh sinh viên Việt Nam vừa tốt
nghiệp, dọn vào ở chung cho vui. Vì căn chung cư bác
thuê có hai phòng ngủ, dư một phòng. Bác cho anh kia ở
không, không cần chia tiền nhà với bác, vì bác chẳng cần.
158 Những Người Việt Luân Lac̣ .. | TT-Thái An
Vài năm sau, nghe nói bác cho anh kia tiền để đặt cọc mua
nhà khác.
Dù anh kia đi làm có tiền, nhưng bác vẫn cho. Nghe nói
bác nhận anh kia là cháu họ xa. Thế là anh kia mua nhà mới
và mời bác vào, tiếp tục ở chung. Sau này bác qua đời, anh
kia lo đám tang cho bác.
Và có lẽ, bác để lại tất cả tiền bạc trong trương mục cho
anh ấy, vì tại Đài Loan, bác chẳng có ai ngoài anh ấy. Sự
thật ra, bác còn các cháu gọi bằng chú ruột, sống tại Sài
Gòn. Nhưng bác chẳng giữ liên lạc và cũng chẳng quan tâm
gì lắm.
Hai năm sau, bác Quang gái không làm hàng một mình nổi
nữa. Bác bán hết thương vụ và máy móc, đồ nghề cho
người hàng thịt là người đã giao thịt cho bác từ nhiều năm
qua, để nghỉ hưu. Thế là nghề làm giò lụa, chả quế, bánh
cuốn, bì khô cổ truyền của Việt Nam phải trao lại cho
người Đài Loan bản xứ. Vì các con bác chẳng đứa nào chịu
tiếp nối cái nghề của cha mẹ.
Riêng hai người con trai của bác Quang. Người con lớn tên
Tiếp. Sau khi tốt nghiệp đại học tại Đài Loan, Tiếp qua Mỹ
học cao học. Bác gái gửi gấm gia đình người em trai của
bác đang định cư tại Mỹ kiếm hộ một cô Việt Nam giới
thiệu cho Tiếp. Vì nguyện vọng của hai bác là có con dâu
người Việt để duy trì giòng giống Việt Nam. Em trai bác
kiếm được một cô trông cũng xinh, đang học đại học, giới
thiệu cho Tiếp.
Hai cô cậu gặp nhau một lần, Tiếp rút lui, bảo rằng không
biết nói chuyện gì với cô ấy. Gần cuối năm cao học, Tiếp
báo tin cho mẹ hay đang quen một cô người Đài Loan học
cùng trường, khi nào hai người học xong, về Đài Loan sẽ
làm đám cưới. Người ta đoán rằng vì Tiếp nói tiếng Việt
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lạc.. 159
không giỏi lắm nên không dám nói chuyện với cô Việt
Nam kia. Trong khi nói tiếng Tàu với cô Đài Loan thì quá
dễ dàng nên dễ thông cảm với nhau hơn.
Nhưng tôi nghĩ rằng, ngoài vấn đề ngôn ngữ ra, vấn đề văn
hóa là chính. Hai cô cậu lớn lên trong cùng một xã hội, đi
học từ tiểu học lên trung học, tiếp thu cùng một văn hóa
Trung Hoa, thì dễ thông cảm nhau hơn là nói chuyện với
một người khác văn hóa với mình.
Sau này, tôi rời Đài Loan, không biết tin tức của ai nữa.
Nhưng có người từ Đài Loan qua cho hay cả hai con trai
của bác Quang đều cưới vợ người Tàu bên đó. Bác Phong
đã qua đời. Bác Minh và bác Thắng ít liên lạc với những
người trẻ nên không nghe nói đến. Nếu họ còn sống thì
cũng đã trăm tuổi. Ba bà Việt Nam ở Cao Hùng thì các
người sinh viên VN trẻ ở Đài Bắc không biết đến nên có lẽ
khi họ qua đời chẳng ai hay.
Khoảng năm 2005, tình cờ tôi gặp một người họ Phó-Đức
tại McLean, VA. Người này cho hay vài năm trước đó bác
Phong đã qua Mỹ thăm gia đình người này vì cùng người
nhà họ Phó-Đức. Như thế, lúc còn sống, bác Phong cũng
đã qua Mỹ thăm người nhà.
Yêu nước thương nòi đến nỗi hy sinh cả tuổi thanh niên của
mình đi kháng chiến chống Pháp như các bác Phong, bác
Quang và bác Minh, rốt cuộc sống những ngày còn lại của
đời mình trên đất khách; nhìn về quê hương như xa lạ,
chẳng còn gì liên hệ.
Sau 1986, chánh phủ Đài Loan cho phép đi du lịch Việt
Nam, bác Phong có điều kiện để đi nhưng cũng chẳng đi để
tìm kiếm thân nhân.
Bác Quang đối với người nhà cũng ít liên lạc. Đến như em
gái ruột ở Canada, bác có thể đi thăm nhưng cũng chẳng đi.
160 Những Người Việt Luân Lạc.. | TT-Thái An
Em gái út còn ở quê bác, bác chỉ gửi quà tiếp tế. Bác Minh
thì chẳng bao giờ nghĩ đến việc về VN tìm kiếm thân nhân.
Các bác có cố duy trì nòi giống Việt cũng chỉ đến đời con
mình là hết. Sau này các con của các bác lấy vợ bản xứ, sẽ
sản sinh ra “nòi giống Tàu” dù các bác không muốn như
thế.
Còn các bà Việt Nam lấy chồng Tàu, đã đương nhiên chấp
nhận hậu tự của họ là nòi giống của Tàu nên chẳng có gì
buồn. Bản thân họ, còn chẳng giữ được liên lạc với gia
đình, làng mạc, thì còn mong gì đến đời con, đời cháu.
Sau những năm 2000, biết bao nhiêu là cô dâu Việt Nam
“được” hay “bị” xuất cảng sang Đài Loan, nghe nói có đến
hơn 100,000 người. Tiệm ăn, hàng quán Việt Nam mọc lên
như nấm. Những cô này sẽ không bơ vơ, lạc lõng như
những người Việt đến Đài Loan thời trước. Nhưng chung
quy, họ đều sản sinh ra một dòng giõi mới cho người Tàu.
Ôi! Giống nòi là gì?
Tinh thần dân tộc là gì?
Tất cả chỉ là những sản phẩm tinh thần. Mà sản phẩm đó
chỉ có thể hình thành tại trên mảnh đất quê hương, là nơi
người ta sinh ra và lớn lên.
Khi đã rời xa khỏi quê hương, sống ở một quốc gia khác,
dù có muốn truyền lại cho con cháu cái tinh thần dân tộc đó
cũng khó mà thực hiện được. Khi nhắm mắt xuôi tay, ai
còn có thể lo được cho hậu duệ của mình có trung tín với
nguồn cội của nó hay không? Phải chăng đó là lý do tại sao
bác Phong không lấy vợ? Bác chỉ cần sống cho hết cái đời
lưu vong của bác mà thôi. Những lý tưởng xa xưa thời trai
trẻ, bác đã chôn vùi từ lâu.
Riêng những người Việt Nam bị ở lại Trung Hoa lục địa
TT-Thái An | Nhưñ g Người Việt Luân Lạc.. 161
dưới sự cai trị của Trung cộng từ năm 1949, có một người
may mắn thoát ra được, đó là nhà văn Nguyễn Tường Bách.
Sau khi lưu vong ở Trung Cộng 42 năm (1946-1988), ông
di cư sang Mỹ năm 1988 để tiếp tục những ngày lưu vong
tự chọn, giống như chúng ta vậy.
Đây cũng là một may mắn lớn cho dân tộc Việt Nam, vì
ông là người em út của dòng họ Nguyễn-Tường và là người
cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn còn sống sót. Ông là một
nhân chứng của lich sử thời kháng Pháp và đối phó với
Việt Minh.
Nhờ sống tại Mỹ nên ông có cơ hội viết cuốn “Trên Sông
Hồng Cuồn Cuộn” theo dạng tiểu thuyết hồi ký.
Tuy nhiên ông bảo rằng chỉ là truyện, không phải hồi ký.
Sau đó, ông viết thêm hai cuốn hồi ký. Ông ở với cộng
đồng người Việt tại hải ngoại được thêm hai mươi lăm năm
rồi vĩnh viễn ra đi năm 2013. Sách của ông chưa được phổ
biến trong nước. Nhưng một ngày nào đó, khi chế độ cộng
sản không còn. Người dân trong nước sẽ được đọc đến sách
của ông và rất nhiều sách Việt Nam xuất bản tại hải ngoại
sau 1975.
Những người Việt lưu vong ở Trung cộng từ những năm
1940, có lẽ đa số đã ra người thiên cổ. Họ là những chiến
sỹ vô danh, lịch sử không ghi tên họ, cộng sản phỉ báng họ.
Thoát khỏi cộng sản Việt Nam, lại rơi vào cộng sản Tàu.
Thoát khỏi cái giếng con, lại rơi vào cái vực lớn. Bị hoàn
toàn cô lập với thế giới bên ngoài. Có yêu nước cách mấy,
chỉ giữ được trong lòng mà thôi. Và lòng yêu nước này
chẳng thể nào lưu truyền cho con cháu. Chúng nó không
cảm nhận được, vì chúng nó chịu giáo dục và ảnh hưởng
của xã hội hay nơi chốn mà chúng nó sinh ra và lớn lên.
Chúng nó trở thành những con người cộng sản vô cảm!
162 Những Người Việt Luân Lac̣ .. | TT-Thái An
Nếu may mắn, chúng còn có chút lòng thương yêu cha mẹ
hoặc anh chị em ruột thịt. Đau lòng quá phải không?
Nhưng thôi, “Đời cua, cua máy! Đời cáy, cáy đào!”.
Chẳng ai sẽ đem những chuyện đau lòng của mình xuống
tuyền đài hay truyền đạt được hoài bão của mình cho con
cháu nơi xứ người; nhất là xứ cộng sản.
Tất cả chỉ là hư không!
Mọi sự đều sẽ qua đi, chẳng có điều gì trường cửu! Ngay
cả chế độ cộng sản dùng bạo lực và thủ đoạn để cai trị,
cũng đã sụp đổ ngay trên xứ đã sản sinh ra nó là Nga Sô mà
không cần tốn xương máu của nhân dân. Cộng sản Tàu,
cộng sản Việt hay một thứ cộng sản nào đó rồi cũng sẽ cáo
chung. Vấn đề là sau khi nó cáo chung, người ta sẽ có thể
làm những gì để chữa lành cho những vết thương tinh thần
quá trầm trọng của nó? Đó là những thế hệ sinh ra và lớn
lên dưới sự bịp bợm và nhồi sọ của đảng cộng sản, từ thầy
giáo cho đến học trò, từ trí thức cho đến bình dân, từ cán bộ
cho đến dân đen. Làm sao để cảm hóa những thế hệ này để
có thể có được một tâm hồn chưa ô nhiễm “văn hóa cộng
sản” đó? Nghĩa là làm sao có thể có được những thế hệ có
liêm sỹ, biết gớm ghét sự dối trá, bịp bợm, ăn cướp của
dân, của nước, của công sở, tư sở, của ngoại kiều, tàn ác
với dân và với nhau?
Dĩ nhiên trong cái đám hỗn độn trong nước, vẫn còn một số
người còn nặng lòng với “chữa lành” cho con người Việt
Nam.
Chúng ta là những người Việt tị nạn trên các nước Mỹ,
Canada, các nước ở Âu Châu, Úc Châu, là những nước tự
do, dân chủ, hùng cường và thạnh vượng. Không những
đời sống vật chất được thoải mái, đời sống tinh thần của
chúng ta cũng nhẹ nhàng hơn những người chịu cảnh lưu
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lac̣ .. 163
đày bên Trung Cộng hay những nơi có quá ít người Việt
sinh sống. Và họ bị “bế môn tỏa cảng” hay ở “bên kia bức
màn sắt” từ thời chưa có điện thoại bàn, điện thoại di động
hay mạng điện tử để thông tin, liên lạc.
Chúng ta còn có cả một cộng đồng người Việt đông đảo
chung quanh. Chúng ta có mọi phương tiện truyền thông
bằng tiếng Việt Nam, TV, radio, sách báo, điện thoại, thư
điện tử và có mọi dịch vụ do chính người Việt cung cấp từ
chợ búa, nhà hàng, bác sỹ, dược sỹ, nha sỹ, luật sư, địa ốc,
bảo hiểm, khai thuế, bán xe, sửa xe, sửa nhà, hớt tóc, chụp
hình và đủ mọi thứ dịch vụ khác. Nhất là có cả các hội
đoàn, chùa chiền, nhà thờ v.v. Chẳng khác nào chúng ta
đang có một tiểu quốc trong một đại quốc. Chúng ta không
lẻ loi, thì chúng ta không nên buồn bã cho số phận “lưu
đày”. Vì chúng ta được may mắn hơn những người kia rất
nhiều. Chúng ta tự chọn cho mình những nơi này, những
nước này để chúng ta và con cháu chúng ta sống và đóng
góp cho xứ sở đã cưu mang chúng ta.
Cháu xin phép các bác Quang, bác Phong, bác Minh, bác
Thắng và các bà Chuyền, bà Hoàng được phép nhắc đến
tên các bác ở đây vì muốn ghi lại tên của các bác với lòng
kính trọng. Riêng tên của con bác Quang, cháu không ghi
tên thật vì vấn đề riêng tư.
TT-Thái An
3/14/2016
164 Nhưñ g Người Việt Luân Lạc.. | TT-Thái An
Nỗi Lòng Của Bác
TT-Thái An
Bác Phong và nhiều đảng viên trong nhóm Đại Việt kháng
Pháp, bị Việt Minh đánh đuổi chạy qua Tàu từ năm 1947.
Khi Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch tại Trung
Quốc năm 1949, bác và vài bạn đồng chí lại theo đoàn tàu
của họ Tưởng qua Đài Loan từ đấy.
Vài người trong đám này may mắn lấy được vợ Việt, vài
người lấy vợ người bản xứ (Đài Loan).
Riêng bác, khoảng năm 1958, có người giới thiệu cho bác
một cô người Bắc di cư vào Sài Gòn năm 1954.
Bác cũng đã xin nghỉ làm mươi ngày để về Việt Nam xem
mắt cô kia. Nhưng khi gặp mặt cô ấy, bác hơi thất vọng nên
làm thinh bỏ về Đài Loan.
Sau này có người hỏi tại sao bác không thích cô ấy. Bác
chỉ bảo vì cô ấy là gái quê, ăn mặc nâu sòng và còn ăn trầu.
Gái quê thì cũng tốt thôi, bác không muốn cô ấy ăn mặc
theo lối quê và ăn trầu thì bảo cô ấy đổi ra tân thời và bỏ ăn
trầu đâu khó gì. Nhưng bác chỉ cười.
Từ đó, bác thản nhiên sống đời độc thân. Bác có vệc làm
trong một hãng xuất nhập cảng ở Đài Bắc, lương cao, đời
TT-Thái An | Nỗi Lòng Của Bác 165
sống ổn định. Nếu bác lấy vợ, bác có thể nuôi vợ con dễ
dàng, không cần để vợ ra ngoài làm việc. Có người làm
mai cho bác một phụ nữ địa phương nhưng bác lắc đầu và
nói “Khỏi cần”.
Đến những năm 1970 trở đi mới có một số sinh viên miền
Nam Việt Nam được chánh phủ Đài Loan cấp học bổng
toàn phần cho du học xứ này.
Thế là các bác cùng đợt bác Phong có thêm người đồng
hương để họp mặt cuối năm ở tòa đại sứ Việt Nam Cộng
Hòa (VNCH) tại Đài Bắc.
Sau ba mươi tháng Tư năm 1975, tòa đại sứ VNCH đóng
cửa. Một số sinh viên có người thân ở miền Nam Việt
Nam chạy thoát ra nước ngoài, bảo lãnh cho họ đi đoàn tụ.
Số ít ỏi còn lại vẫn giữ liên lạc với các bác.
Sau này vợ chồng anh chị Chiếu dọn vào ở chung với bác
Phong. Anh Chiếu qua Đài Loan du học chương trình thạc
sỹ, vừa ra trường, có được việc làm tại Đài Bắc. Chị Chiếu
được theo chồng qua Đài Loan trước 1975.
Chị Chiếu nấu cơm tháng cho bác luôn. Như thế bác khỏi
cần phải ghé hàng cơm mỗi ngày nữa.
Một số sinh viên chưa ra trường còn ở lại trong túc xá. Họ
ăn cơm chỉ trong trường. Cuối tuần thì ra ngoài ăn và nhậu
chút đỉnh với nhau. Dần dà họ quen thêm vài đồng hương
Việt Nam chạy tị nạn đến Đài Loan, đang chờ đi định cư ở
nước khác.
Khoảng năm 1977, có người mách với họ rằng cô chủ nhân
của một tiệm uốn tóc nằm trên đường Đinh Châu gần
trường Đài Loan Đại Học là người Việt Nam.
166 Nỗi Lòng Của Bác | TT-Thái An
Tò mò, vài anh sinh viên rủ nhau đi kiếm tiệm này.
Bước vào tiệm, thấy cô chủ đang ở không và hai cô thợ
đang có khách. Các anh ngập ngừng hỏi thăm bằng tiếng
Phổ Thông
- Chúng tôi nghe nói cô từ Việt Nam qua đây phải không?
Cô chủ vui vẻ nói lại bằng tiếng Việt:
- Phải! Tôi là người Việt Nam. Thế các anh là Hoa Kiều
Việt Nam hay là người Việt?
Thế là hai bên nói tiếng Việt với nhau thoải mái.
Kể từ đấy, cứ đến thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ Nhật, tiệm của
chị Đoan lúc nào cũng đầy khách Việt Nam, họ là những
sinh viên còn học trong trường Đài Đại, đến để ăn uống và
nhậu chứ không phải để làm tóc.
Chị Đoan hiếu khách. Cứ đến bữa ăn là chị và một trong
hai cô thợ làm tóc vào bếp nấu cơm cho họ và cho cả mấy
người sinh viên này.
Qua lời kể của chị Đoan, chị rời Sài Gòn qua Nhật học
nghề uốn tóc, trang điểm và làm mặt từ năm 1970. Học
xong, ở lại Nhật vài năm rồi chị qua Đài Loan xin ở lại.
Chị mở tiệm này khoảng nửa năm thôi. Chị Đoan dáng
người nhỏ nhắn. Gương mặt dễ nhìn và nụ cười luôn nở
trên môi. Khi chị cười, để lộ hàm răng trắng bóng đều đặn.
Năm 1977, chị khoảng ba mươi hai tuổi. Lớn hơn đám
sinh viên khoảng bảy đến mười tuổi nên ai cũng gọi chị là
“chị”.
Chị Đoan nói năng thủng thỉnh, đôi khi có vẻ yểu điệu hay
ỏn ẻn nữa. Nhưng chị cũng biết khôi hài. Chị có vẻ vô tư
TT-Thái An | Nỗi Lòng Của Bać 167
như con gái mười lăm. Nói chung, chị thuộc dạng người
hiền lành, nhẹ nhàng và nhiều nữ tính.
Đám sinh viên đặt cho chị cái tên thân mật “Cô Ký Điệu”.
Gọi chị là Cô Ký Điệu cũng phải vì mỗi khi rủ chị ra ngoài
ăn, dù là đi ăn ở tiệm gần trường Đài Đại, đi bộ độ mười
lăm phút thôi, chị cũng phải thay đổi xiêm y, dồi phấn thoa
son nhè nhẹ, nhờ một cô thợ chải bới lại mái tóc. Sau đó
chị đeo ví, mang giầy cao gót, và mang theo cái quạt xếp để
cầm tay. Không bao giờ chị ra đường mà không có cái quạt
này.
Chị hay mặc váy dài che hết chân, trên mặc cái áo kiểu tay
ngắn. Vào mùa thu, đông hay xuân, trời se se lạnh, chị
quấn thêm cái khăn quàng cổ.
Thời gian chị trang điểm trước khi ra đường ít nhất là một
giờ. Vì thế các chàng sinh viên hay nói đùa rằng muốn rủ
chị Đoan đi ăn thì phài gọi điện thoại cho chị trừ hao trước
một tiếng để chị sửa soạn.
Họ hay thắc mắc với nhau rằng sao chị Đoan hiền như thế
mà có thể ở Nhật và Đài Loan một mình trong nhiều năm.
Gia đình chị Đoan di cư từ Bắc vào Nam năm 1954. Mẹ
ruột chị mất vài năm sau đó. Cha chị tục huyền với người
khác và sanh thêm nhiều con. Sau 1975, cha và kế mẫu chị
và các em vượt biên chạy được qua Mỹ. Chị có một người
anh ruột cùng cha cùng mẹ.
Chị bầy ảnh chân dung người mẹ quá cố trên kệ.
Ảnh do anh chị vẽ bằng bút chì, nhỏ khoảng 17cm x 20cm.
Người đàn bà trong tranh mặc áo dài, vấn khăn kiểu Bắc.
Chị hãnh diện về tài vẽ của anh chị lắm, chị luôn bảo rằng
đó là vẽ “truyền thần”. Anh chị tuy không phải là họa sỹ,
168 Nỗi Lòng Của Bać | TT-Thái An
nhưng có khiếu vẽ. Chị cũng hãnh diện vì anh chị trước
1975 là Đại Úy nhẩy dù trong quân lực Việt Nam Cộng
Hòa.
Vợ chồng anh Chiếu và bác Phong ở cách trường Đài Đại
15 phút ngồi xe. Anh chị Chiếu được đám sinh viên này
dắt đến tiệm chị Đoan để giới thiệu.
Chị Chiếu vừa gặp chị Đoan vài lần thì nẩy sinh ý định giới
thiệu chị Đoan cho bác Phong. Anh Chiếu bác bỏ ý định
này, vì thấy tuổi tác giữa bác Phong và chị Đoan quá so le,
bác hơn chị trên hai mươi tuổi. Nhưng chị Chiếu quả quyết
thế nào cũng được vì chị Đoan đã ngoài ba mươi, khó lấy
chồng lắm rồi. Còn bác Phong tuy ngoài năm mươi nhưng
còn khỏe mạnh, kinh tế vững vàng. Lấy bác, chị Đoan được
bảo đảm tài chánh suốt đời. Bác có chết sớm thì cũng có số
tiền để lại cho chị dưỡng già.
Thế là một ngày đẹp trời, bác Phong theo anh chị Chiếu
đến tiệm chị Đoan.
Vì được chị Chiếu nói trước nên bác Phong để ý quan sát
chị Đoan. Ngồi chơi một lúc, bác Phong mở lời mời chị
Đoan và vợ chồng anh Chiếu đi ăn tiệm. Bác chịu khó ngồi
chờ chị trang điểm, thay đổi trang phục cả giờ.
Sau hôm đó, bác Phong vui hẳn ra và nói với vợ chồng anh
Chiếu rằng bác rất ưng ý chị Đoan. Chị Đoan có lẽ là mẫu
người lý tưởng của bác. Vì chị biết điệu, biết làm dáng, biết
nũng nịu và đi đứng khoan thai, nói năng nhẹ nhàng. Đó là
cái “kiểu cách” của các cô Hà Nội, con nhà gia giáo trước
1954.
Chị cũng biết cắm hoa theo kiểu Nhật vì suốt mấy năm ở
Nhật chị tiếp thu được môn cắm hoa này, tiệm của chị lúc
nào cũng có hoa tươi.
TT-Thái An | Nỗi Lòng Của Bać 169
Thế là thứ Bẩy nào bác cũng rủ vợ chồng anh Chiếu đi
thăm chị Đoan và mời chị đi ăn tối.
Chị Đoan không khước từ bao giờ. Bác Phong vui ra mặt,
dù đang ngồi làm việc trong sở, bác cũng nghĩ đến chị
Đoan, bác gọi điện thoại cho chị Đoan hỏi thăm và chuyện
trò cả nửa giờ. Chị Đoan luôn vui vẻ trả lời điện thoại của
bác.
Bác chưa vào quốc tịch Đài Loan vì không có ý mua nhà.
Nhưng nếu chị Đoan lấy bác, bác sẽ đưa tiền cho chị Đoan
mua nhà, vì chị Đoan đã nhập tịch Đài Loan. Như thế cuộc
đời còn lại của bác sẽ hạnh phúc bên người vợ đồng hương
mà bác ưng ý. Bác không ngần ngại nói cho anh chị Chiếu
biết kế hoạch lâu dài của bác. Chị Chiếu thấy hai bên có vẻ
ưng nhau rồi nên mắng yêu anh Chiếu: “Đó, em đã nói với
anh rồi, thế nào chị Đoan cũng chịu bác Phong mà! Vì ở
đây đâu có anh Việt Nam nào lớn hơn chị ấy nữa mà chờ.”
Kéo dài được gần hai tháng chị Đoan đi ăn với bác Phong.
Một hôm mấy sinh viên lại dẫn đến tiệm chị Đoan một
chàng Việt Nam trạc tuổi chị, đó là anh Kiên. Một cựu Đại
Úy Hải Quân của miền Nam Việt Nam trước 1975.
Ngày 30 tháng Tư, 1975, sau khi nghe tin Tổng Thống
Dương Văn Minh đầu hàng cộng sản Bắc Việt, anh Kiên
toan trở về nhà với vợ, nhưng anh bị nhiều người khác
cưỡng bách lái tàu rời Việt Nam.
Tàu nhỏ thôi, nên ra giữa biển thì gặp tàu Đài Loan cứu vớt
đem về Đài Loan, đưa vào trại tị nạn.
Những người khác xin đi Mỹ tị nạn. Riêng anh Kiên đan
giận Mỹ sôi sục vì bỏ rơi miền Nam Việt Nam nên nhất
định không đi Mỹ. Vì thế chánh phủ Đài Loan cho anh
giấy cư trú, đưa anh về làm việc ở cảng Cơ Long.
170 Nỗi Lòng Của Bác | TT-Thái An
Công việc này chỉ dành riêng cho cựu chiến binh của Đài
Loan, người ngoài khó xin được vì làm việc như công
chức, lương cao, có nhiều quyền lợi. Họ chỉ cho anh lái xe
cẩu, cẩu từng khối xi măng khổng lồ bỏ xuống ven biển để
ngăn cho bờ không bị nước biển soi mòn.
Cứ hai tuần lãnh lương một lần, lãnh xong, thứ Bảy đó anh
lên xe buýt trực chỉ Đài Bắc đến trường Đài Đại rủ mấy
sinh viên Việt Nam đi nhậu với anh.
Anh bao hết cả bàn, nhậu từ thứ Bảy sang đến Chủ Nhật,
nhậu hết tiền thì tờ mờ sáng thứ Hai anh đón xe buýt về Cơ
Long để đi làm tiếp. Mấy anh em đặt tên cho đám nhậu là
“gánh hát” do ông bầu Kiên điều khiển.
Anh Kiên tâm sự rằng vừa cưới vợ được sáu tháng thì chạy.
Vợ chồng anh chưa có con. Anh định trở về nhà với vợ
chứ không muốn chạy thế này. Ai cũng khuyên anh vào
quốc tịch Đài Loan để bảo lãnh cho vợ qua. Nhưng anh
nhất định không viết thư cho mẹ hay vợ, vì anh muốn họ
nghĩ rằng anh đã chết rồi, để họ tự lo, không cần chờ đợi
hay trông mong anh nữa.
Nhưng sau khi rời trại tị nạn, ở lại Đài Loan một mình, anh
cảm thấy lạc lõng giữa dòng người lạ. Anh sống không
mục đích, làm việc có tiền thì nhậu cho hết. Nhưng anh
cũng biết rõ rằng một ngày nào đó đám sinh viên này ra
trường, họ sẽ kiếm việc làm, lập gia đình và chẳng còn ai ở
không để nhậu với anh nữa. Vì thế trong thâm tâm anh cầu
mong sao anh chóng sớm bị ma men vật chết.
Anh Kiên theo ba anh sinh viên bước vào tiệm chị Đoan.
Chị Đoan tiếp khách mới niềm nở và mời khách ở lại ăn
tối. Chờ đến giờ tiệm đóng cửa, anh Kiên đưa tiền cho mấy
anh kia đi mua bia về nhậu, khỏi cần ra ngoài quán nhậu.
TT-Thái An | Nỗi Lòng Của Bác 171
Nhậu đến khuya thì mấy anh em leo lên cái gác lửng ngủ,
nếu không đủ chỗ thì trưng dụng luôn cái ghế trong phòng
làm mặt để ngủ.
Từ hôm đó trở đi, anh Kiên không rủ mấy sinh viên ra quán
nhậu mà rủ họ đến thẳng tiệm chị Đoan để nhậu ở đó.
Từ khi quen anh Kiên, chị Đoan lơ là bác Phong. Bác gọi
điện thoại, chị ngại bắt máy lắm. Chị dặn mấy cô thợ nói
với bác rằng chị vừa bước ra ngoài hay chị đang có khách.
Nhiều lần gọi chị Đoan mà không gặp, bác tâm sự với chị
Chiếu. Chị Chiếu tìm hiểu thì biết rằng anh Kiên đang theo
đuổi chị Đoan và hai bên đang phải lòng nhau.
Bác Phong buồn ra mặt, vốn dĩ bác đã ít nói, giờ còn im lìm
hơn. Ai cũng ái ngại cho bác, ngoài năm mươi tuổi mới gặp
được người ưng ý, mới có ý định lập gia đình thì đùng một
cái anh Kiên xuất hiện. Thế là mọi dự tính cho tương lai
của bác và chị Đoan sụp đổ tức khắc.
Chị Chiếu kêu rêu với nhiều người rằng đáng lẽ chị Đoan
chịu bác Phong rồi, nhưng vì mấy sinh viên kia giới thiệu
anh Kiên cho chị Đoan nên chị Đoan chọn anh Kiên. Mấy
chàng sinh viên nghe thế thì bực bội lắm, vì họ không có ý
mai mối gì cả, tự hai người ấy tiến tới với nhau thôi.
Nửa năm sau, chị Đoan và anh Kiên làm đám cưới.
Chị Đoan tự may áo dài cưới màu đỏ, tự làm khăn vòng
dây đội đầu. Họ đãi tiệc ở một tiệm ăn nhỏ gần trường Đài
Đại.
Các sinh viên kéo nhau đi ăn cưới ông bầu gánh Kiên. Họ
tán với nhau rằng “Hèn gì, lần đầu tiên anh Kiên gặp chị
Đoan, tao thấy ảnh có vẻ mắc cỡ, không dám ăn to nói lớn
như thường ngày. Chắc là anh Kiên bị tiếng sét ái tình ngay
172 Nỗi Lòng Của Bác | TT-Thái An
hôm đó.”
Sau đám cưới, chị Đoan đóng cửa tiệm theo anh Kiên về
Cơ Long là nơi anh làm việc.
Từ đó “gánh hát” giải tán. Vợ chồng anh Kiên chị Đoan
biến mất luôn hơn sáu năm không liên lạc với anh em trên
Đài Bắc.
Một hôm anh Kiên đi ngang Đài Bắc, gặp lại một người
trong gánh hát ngày xưa cố nài nỉ anh về nhà chơi. Anh
cho biết chị Đoan đã sanh một con trai, năm nay cháu vừa
sáu tuổi. Anh cho địa chỉ nhà ở Cơ Long để mọi người có
thể xuống thăm. Anh đã bỏ nhậu từ khi lấy chị Đoan.
Anh và chị Đoan thuê nhà gần nơi anh làm, vừa để ở, vừa
để mở tiệm uốn tóc. Chị có vài cô học trò theo học nghề
với chị. Lương của anh dư sức nuôi vợ con, nhưng chị
Đoan vẫn muốn giữ nghề của mình.
Hai anh chị có vẻ rất hạnh phúc. Anh Kiên rất nhỏ nhẹ, từ
tốn với vợ và con. Chị Đoan vẫn nũng nịu với chồng.
Đứa con trai quá đẹp vì có nét mặt đẹp trai như bố và nước
da trắng nõn của mẹ. Nó cũng rất thông minh, lúc mới năm
tuổi nó đã biết quan sát các loại xe chạy ngang trước nhà và
vẽ lại chiếc xe buýt trên bảng đen, vẽ từng chi tiết, các cửa
sổ, cửa lên xuống, các bậc thang lên xuống, các hàng ghế
bên trong, và vẽ sắc nét, đẹp như tranh của người lớn vẽ.
Chị Đoan luôn khoe rằng vì đó là đứa con của tình yêu nên
nó xinh đẹp và thông minh tuyệt vời. Có lẽ chị có mặc cảm
là người đến sau nên sợ người ta không biết rằng anh Kiên
rất yêu quý chị, vì thế ai đến chơi cũng phải chịu khó nghe
chị nhắc đi nhắc lại cái điệp khúc: “đó là đứa con của tình
yêu.”
TT-Thái An | Nỗi Lòng Của Bać 173
Chị Đoan cũng cho biết chị phải hỏi mãi anh Kiên mới cho
chị địa chỉ nhà mẹ anh ở một thành phố miền Trung, để chị
liên lạc. Kết quả mỹ mãn, mẹ anh Kiên và cả nhà mừng
như chết đi sống lại khi hay tin anh còn sống và đã có vợ
khác và có một đứa con trai.
Mẹ anh Kiên cũng báo tin rằng sau 30 tháng Tư, 1975,
không thấy anh Kiên về nhà, vợ trước của anh Kiên cũng
bỏ đi đâu mất và chẳng nghe tin tức gì nữa cả. Mẹ anh
Kiên cũng chụp ảnh cả nhà gửi ra cho chị Đoan và nhận chị
là con dâu và con trai của anh Kiên và chị là cháu nội.
Trước khi gặp chị Đoan, anh Kiên chỉ muốn nhậu cho chết,
anh chẳng thiết sống. Nhưng khi gặp chị Đoan, anh biết
mình cần một người đàn bà như chị, một người nhiều nữ
tính, có nề nếp gia phong tốt, nói năng vui vẻ, nhẹ nhàng và
chịu thương chịu khó.
Chị là người đàn bà mà anh muốn đi hết quãng đời còn lại
với chị. Đời sống có ý nghĩa hơn khi lưu vong xứ người mà
có được người vợ đồng hương nết na như chị Đoan.
Riêng bác Phong, vài năm sau cũng nguôi ngoai nỗi buồn
thất tình.
Vào một cái tết Nguyên Đán đến thăm một gia đình đồng
hương, bác kể chuyện những cái tết ở Hà Nội xưa, khi bác
còn trai trẻ. Thời đó bác và vài anh bạn học hay rủ nhau đi
xem hoa thủy tiên do các cô Hà Nội tỉa khéo thế nào mà họ
canh đúng mùng một tết là nở hoa.
Bác bảo các cô hay bầy hoa thủy tiên ngay bên cửa sổ để
các anh đi ngang qua nhìn vào là thấy ngay. Các anh như
bác thời đó nói đùa với nhau là “đi chấm điểm hoa thủy
tiên xem hoa nhà nào đẹp nhất”.
174 Nỗi Lòng Của Bác | TT-Thái An
Có lẽ ngày xưa đó bác Phong chưa có dịp hẹn hò với một
cô Hà Nội nào, bác đã bỏ đi kháng chiến. Nhưng hình ảnh
của các cô tiểu thư Hà Thành vẫn còn trong ký ức của bác.
Vì thế, khi gặp chị Đoan, gợi cho bác hình ảnh xưa của Hà
Nội nên bác phải lòng chị ngay.
Phần anh Kiên khi nhìn lại, lúc mới chạy ra khỏi Việt Nam,
anh nhất định không đi Mỹ vì lúc đó anh còn giận Mỹ lắm.
Nhưng nhờ thế anh mới có cơ duyên gặp chị Đoan.
Anh nhận biết anh và chị Đoan thực sự có duyên làm vợ
chồng với nhau.
Sau này, bố chị Đoan ở Mỹ đã bảo lãnh cho mẹ con chị và
anh Kiên đi Mỹ. Vợ Đoan đi đâu thì chồng Kiên theo đó.
Như thế có phải là anh Kiên phải ở lại Đài Loan để gặp chị
Đoan và cưới chị làm vợ rồi mới đi Mỹ không chứ?
TT-Thái An
7/1/2018
TT-Thái An | Nỗi Lòng Của Bác 175
Tiêń g Rú Trong Đêm
TT-Thái An
Trên lầu bốn của căn chung cư bốn tầng lầu này, phía bên
trái là nhà ở của một gia đình họ Lý, có hai vợ chồng và ba
đứa con, hai gái lớn và một con trai út. Thằng út tên Lý
Thạch.
Ông Lý trông cao ráo trắng trẻo và mặt mày sáng sủa; ông
là một cựu sỹ quan theo quân Tưởng Giới Thạch đến Đài
Loan từ năm 1949. Bà Lý người bản địa, mù chữ, người
hơi đẫy đà, đen đúa và có đôi mắt ti hí. Mặt mày lúc nào
cũng khó đăm đăm.
Bà Lý là người có tiếng hay cãi cọ với hàng xóm. Đó là
một điều khác thường ở Đài Loan.
Dân Đài Loan không phải là dân thích cãi nhau ồn ào với
xóm giềng. Ngoài chợ cũng chẳng thấy tiếng cãi vã ồn ào
bao giờ. Thế mà hở ra là nghe tiếng bà la chói lói nên ít ai
chuyện trò với bà. Và bà cũng chẳng hỏi han ai. Mỗi lần
lên xuống cầu thang, nếu có gặp ai thì cả bà và người kia
cứ phớt lờ như không trông thấy nhau.
Không chỉ bà Lý mà cả chồng con bà cũng thế, chẳng bao
giờ chào hỏi ai dù ở chung trong chung này cả chục năm.
Đó là điều rất hiếm hoi ở Đài Loan. Dân tình ở đây đâu
đến nỗi lạnh nhạt nhà ai nấy ở, không ai cần biết đến ai.
Có lần, người hàng xóm ở lầu ba chạy lên sân thượng bên
176 Tiếng Rú Trong Đêm | TT-Thái An
trên lầu bốn phía căn nhà của họ để bắc ăng ten cho cái TV
của mình. Bà Lý vội chạy lên la mắng, cấm anh kia không
được dựng ăng ten trên này dù chẳng đụng chạm gì đến nhà
bà, vì nhà bà ở phía bên kia cầu thang. Chưa hết, ở Đài
Loan, sân thượng của một chung cư là của mọi nhà phía
dưới lầu cùng một phía, ai cũng có thể lên đó cắm ăng ten
được.
Cái chung cư này có một cầu thang đi chung, hai bên cầu
thang là hai căn chung cư. Vậy, có sáu căn chung cư ở hai
bên cầu thang này. Vì hai căn từng trệt thì không cần đi
cầu thang. Họ mở cổng thẳng ra đường. Thế là hai bên cãi
nhau ầm trời vì anh kia không chịu tuân cái lệnh quái gở
của bà Lý. Bà Lý tự cho mình quyền quản lý hai cái sân
thượng này và nhiều quyền khác mà chẳng ai chấp nhận.
Bà Lý cũng quản lý chồng con rất nghiêm ngặt nên khi bà ở
nhà, các con bà tan học ra là phải về nhà ngay. Đứa nào về
trễ một tí là chết với bà. Các con bà không được cho bạn
bè đến nhà và chúng cũng không được đến nhà bạn bè.
Xem như chúng chẳng hề có bạn.
Bà Lý là người trong giáo phái tu tại gia. Giáo phái này
không xây chùa. Quanh năm ăn chay trường nên bà có
nhiều bạn cùng giáo phái. Nghe nói vào những thế kỷ
trước giáo phái này có tên là Bạch Liên Giáo, một giáo phái
trá hình để làm chính trị nhưng sau này, dần dần thành ra
một giáo phái chánh thức tu hành tại nhà.
Mỗi lần đi tụng niệm ở đâu, họ đều mặc áo khoác như ni cô
nhưng màu đen, không phải màu xám. Còn lúc ở nhà thì
vẫn mặc váy hoặc quần áo màu sắc bình thường như mọi
người.
Nhưng hơn một năm nay (1988) ở Đài Loan có phong trào
giảm cân nên các tiệm cơm chay mọc lên nhanh chóng.
TT-Thái An | Tiếng Rú Trong Đêm 177
Cũng bởi thế, các bạn đồng giáo phái với bà Lý rủ bà hùn
hạp mở tiệm cơm chay.
Bà Lý hùn vốn ngay, vì từ xưa đến giờ gia đình bà chỉ sống
nhờ vào tiền hưu của chồng. Tiến hưu chẳng có là bao nên
phải cẩn thận lắm mới đủ tiêu dùng.
Từ ngày mở tiệm cơm chay, bà Lý đi từ sáng đến tồi mới
về, đi một tuần bảy ngày.
Nhờ thế, thằng Lý Thạch con trai bà hay xuống lầu ba chơi
với anh em thằng Vinh Quân.
Lý Thạch đang học năm chót bậc tiểu học. Sang năm nó sẽ
lên lớp Sáu, thuộc trung học rồi. Vì thế nó lớn hơn thằng
Hồng Vinh Quân ba tuối, lớn hơn thằng Hồng Quang Vinh
bốn tuổi. Nó không dám đi ra ngoài căn chung cư này để
kiếm bạn đồng tuổi, nó tự an ủi được xuống tầng dưới chơi
với mấy đứa bé này là tốt lắm rồi.
Nó chỉ dám đứng ngoài cửa, gần cầu thang, nói chuyện với
hai anh em thằng Vinh Quân chứ không dám vào hẳn trong
nhà vì còn sợ ba nó gọi về mà không nghe thấy. Ba nó, ông
Lý cũng thông cảm với con chẳng mấy khi được ra ngoài
chơi với bạn nên ông để nó xuống chơi với anh em thằng
Vinh Quân mỗi ngày, mỗi lần gần cả giờ.
Ngày cuối của niên học, học sinh đến trường cốt để vui
chơi và chia tay với bạn bè vì hôm đó không có lớp nữa.
Nhiều học sinh đem quấn áo tắm theo để bơi lội. Thằng Lý
Thạch và anh em thằng Vinh Quân cũng thế.
Sau khi chơi đùa trong hồ bơi của trường được vài giờ,
thằng Lý Thạch rủ hai anh em thằng Vinh Quân ra bờ sông
vì hôm đó trường cho học sinh về sớm.
Lý Thạch bảo hai anh em Vinh Quân rằng bơi ở sông thích
hơn bơi ở hồ của trường. Hơn nữa hôm nay được về sớm,
178 Tiếng Rú Trong Đêm | TT-Thái An
mình phải đi chơi thêm về nhà làm gì, uổng phí thời gian.
Nó nói thế vì nghĩ thế thật.
Mẹ nó mãi đến tối mới về. Chẳng mấy khi mà được tự do
như thế này. Tứ lúc chị em nó đi học mẫu giáo cho đến
nay, chưa ngày nào chúng nó dám về nhà trễ. Cả đời nó
chỉ ngồi xe buýt vài lần với cha hoặc mẹ nó đi công việc gì
đó. Nếu có đau ốm thì đi bác sỹ gần nhà. Có lần ngồi trên
xe buýt đi ngang qua cầu Phú Hòa, nó trông thấy con sông
bên dưới có nhiều người đang đi dạo gần đó.
Nó ước ao một ngày nào đó nó có thể đến đây.
Thế là ba đứa trẻ cùng nhau đi bộ ra bờ sông, đi ít nhất bốn
mươi phút mới đến nơi.
Đêm hôm đó, khoảng sau mười giờ đêm, có tiếng kêu thất
thanh của bà Lý, sau đó là tiếng rú, tiếng gào rống thảm
thiết của bà suốt đêm không ngừng. Thỉnh thoảng tiếng
kếu rú ngừng lại một lúc, sau đó lại tiếp tục.
Tiếng rú nghe như tiếng voi rống, hay tiếng gào hét của
người điên, cuốn xoáy vào tai người nghe.
Vì là mùa hè, các cửa sổ đều mở toang nên cả bốn tầng lầu
đều nghe thấy. Cả những căn chung cư phía trước, phía sau
cũng nghe thấy. Người ta đoán có việc gì ghê gớm lắm vừa
xảy ra.
Sáng hôm sau bà Hồng, mẹ của anh em thằng Vinh Quân
qua nhà hàng xóm đối diện cầu thang gõ cửa. Vừa trông
thấy bà Vương, bà Hồng hỏi ngay:
- Bà Vương này, tối qua bà có nghe tiếng bà Lý la hét
không?
Bà Vương trả lời:
TT-Thái An | Tiếng Rú Trong Đêm 179
- Có nghe. Việc gì mà bà ta la gào hét kinh thế?
Bà Hồng kể ngay:
- Thằng con bà ta chết đuối ở sông hôm qua rồi. Nó rủ hai
thằng con tôi theo ra sông để bơi. May là hai thằng con tôi
nhát, không dám xuống bơi. Nó xuống bơi một mình để
biểu diễn cho hai thằng con tôi xem. Nhưng càng đi càng
lún xuống sâu, không bơi được cũng không quay lại bờ
được nữa, nó kêu cứu mà hai thằng con tôi không dám
xuống cứu. Chúng nó chạy dọc trên bờ vừa khóc vừa kêu
cứu, có người nghe thấy gọi cảnh sát cấp cứu giùm. Khi xe
cảnh sát và xe cứu thương đến nơi thì thằng Lý Thạch đã
chìm lâu rồi.
Bà Hồng ngừng một lúc để thở. Bà Vương hỏi ngay:
- Thế đã kiếm ra xác nó chưa?
- Cảnh sát phải cho người nhái lặn xuống kiếm. Từ hai giờ
chiều cho đến 7 giờ tối mới kiềm ra xác nó đưa lên bờ. Sau
đó cảnh sát đưa hai đứa con tôi về rồi lên nhà ông Lý yêu
cầu ông theo ra bờ sông nhìn xem có phải là con của ông
không.
Bà Vương bàng hoàng nghe tin thằng Lý Thạch chết. Bà
nói:
- May phước là bà Lý không xuống chửi hai thằng con bà
rủ rê thằng Lý Thạch ra sông bơi khiến nó bị chết chìm.
Bà Hồng cãi ngay:
- Thằng Lý Thạch lớn hơn hai thằng con tôi nhiều, nó rủ rê
hai thằng con tôi chứ hai thằng bé nhà tôi làm sao dám rủ
nó đi bộ ra bờ sông xa như thế? May là hai thằng con tôi
không việc gì. Nếu có sao, tôi sẽ không để yên cho nhà bà
Lý đâu.
180 Tiêń g Rú Trong Đêm | TT-Thái An
Cả xóm chung cư này chẳng ai dám lên chia buồn với bà
Lý dù họ đều cảm thấy tội nghiệp bà.
Bà chỉ có mỗi một thằng con trai xem như quý tử, để di
truyền nòi giống cho họ Lý. Mà bây giờ nó đã chết, hai vợ
chồng bà đau đớn biết thế nào kể siết. Lúc này mà lên nói
chuyện với bà ấy thì có thể lãnh đủ mọi phát súng tia ra từ
miệng bà.
Sau khi chôn con xong, bà Lý bỏ tiệm cơm chay, không
buôn bán nữa.
Hết hè, trường tiểu học Tú Lang lại khai giảng.
Chiều chiều khi tan trường, cả con đường trước cửa nhà
tràn ngập học sinh ra về. Tiếng cười nói hồn nhiên của lũ
trẻ vang rân.
Ông Lý đứng trước ban công nhìn xuống đường, nhìn quần
áo đồng phục, quần xanh áo trắng và mũ lưỡi trai màu cam
của bọn con trai khiến ông nhớ đến con ông, thằng Lý
Thạch. Nếu nó còn sống, giờ này nó đang học ở một
trường cấp hai.
Mặt mày ông sầu thảm.
Cứ đến giờ tan trường, ông đứng nhìn như thế hết ngày này
qua ngày khác suốt cả năm. Ông cứ ray rứt mãi, phải chi
ông cũng khó khăn với nó như mẹ nó đối với nó thì có lẽ
nó chưa chết.
Về phần bà Lý cũng ray rứt mãi, phải chi bà đừng hùn hạp
mở tiệm cơm chay thì giờ này thằng Lý Thạch hãy còn
sống. Vì bà mở tiệm cơm vừa được một tháng, chưa lấy lại
vốn thì thằng con bà đã chết rồi.
Còn hàng xóm thì xì xầm với nhau rằng vì bà Lý khó khăn
với con cái quá, chúng nó bị nhốt quanh năm suốt tháng
TT-Thái An | Tiếng Rú Trong Đêm 181
trong nhà, ba chị em ở chung một căn phòng. Vì căn chung
cư của họ chỉ có hai phòng ngủ, một phòng khách kiêm
phòng ăn, một nhà tắm và một cái bếp. Nên hở ra là xổ
lồng ngay.
Vì thằng Lý Thạch ao ước được bay thật xa lâu rồi.
TT-Thái An
5/14/2018
182 Tiếng Rú Trong Đêm | TT-Thái An
Tình Khùng
TT- Thái An
Bà Hoa và hai đứa con qua Mỹ theo diện con lai vào năm
1983. Đứa con gái lớn của bà không lai Mỹ và đã trên 21
tuối nên phải ở lại. Vì ở Sài Gòn nên bà biết tin tức sớm
nên nộp đơn đi Mỹ qua diện con lai rất sớm. Bà Hoa qua
Mỹ khi vừa 45 tuổi, con trai được 13 tuổi, con gái được 10
tuổi
Đến Mỹ, xuống phi trường ở New York, được nhà thờ bảo
trợ ra đón đưa đến một khách sạn ngủ tạm. Hôm sau lại
được họ đưa ra phi trường bay xuống Lynchburg, Virginia.
Nhà thờ ở Lynchburg ra đón mấy mẹ con bà. Đưa đến một
khách sạn ngủ tạm một đêm. Hôm sau họ đưa mấy mẹ con
bà đến một căn appartment do chánh phủ cấp cho ở. Họ
giúp đỡ bà mọi thủ tục xin trợ cấp xã hội, xin medicaid và
xin cho con cái đi học. Rồi họ giúp bà xin việc làm. Lúc
đầu họ giới thiệu bà vào một xưởng may quần áo. Nhưng
vì bà làm không đạt chỉ tiêu nên sau khi làm được một
tháng, xưởng may cho bà nghỉ. Nhà thờ lại giới thiệu cho
bà đi giữ con cho một gia đình. Bà làm việc này được một
năm. Sau đó nhà thờ lại kiếm cho bà việc làm trong một
xưởng điện tử. Bà làm ở đây trên hai mươi năm cho đến về
hưu.
TT-Thái An | Tiǹ h Khùng 183
Khi bà Hoa chưa biết lái xe, mỗi ngày có người Việt làm
chung xưởng điện đến rước bà đi chung. Bà chỉ cần góp
tiền xăng cho họ mỗi tuần. Khi hai con bà còn nhỏ, có vài
người trong nhà thờ tình nguyện đến giữ con cho bà đi làm.
Họ thay phiên nhau trong cả tuần lúc nào cũng có người
đến nhà khi con bà vừa đi học về, kéo dài đến vài năm như
thế, vì họ biết bà đi làm những việc lao động không kiếm
được bao nhiêu tiền để trả tiền cho người giữ con.
Tất cả bàn ghế, tủ giường, nồi niêu song chảo, chén bát,
đều do những người trong nhà thờ đem tới cho. Con trai bà
ao ước có cái máy truyền hình để xem thì hôm sau họ cũng
đem tới một cái mới toanh do một người biếu tặng.
Con trai bà hỏi: “Ông cho mượn rồi lấy lại hả?”. Người kia
trả lời: “Tôi cho luôn, tôi không lấy lại đâu”
Bà Hoa thấy người Mỹ tốt quá.
Lynchburg là một thành phố nhỏ, ở cách Eden Center
khoảng hơn 3 giờ lái xe, về phía tây nam của Virginia,
không đến nỗi hẻo lánh, nhưng cũng chẳng tấp nập. Cộng
đồng người Việt ở đây quá ít ỏi, chưa đến mười gia đình đã
định cư ở đây từ năm 1975. Khi hay tin mấy mẹ con bà
vừa đến, họ rủ nhau đi thăm. Mỗi người đến thăm đều
đem theo ít quà tặng cho mẹ con bà, bà cảm thấy tình đồng
hương nơi đây thật ấm áp. Mỗi người tình nguyện giúp bà
một việc. Những việc cần phải làm khi mới đến định cư.
Cuối tuần, ông Hồ Thanh Vân đến đưa bà đi chợ. Khi bà
cần đi bác sỹ, ông Vân sẵn sàng đưa bà đi. Ông nhỏ hơn bà
14 tuổi nên lúc nào cũng thưa chị và xưng em với bà thật lễ
phép. Ông Vân đã có vợ và một con gái ba tuổi. Nhưng
hai vợ chồng ông vừa mới ly dị. Lý do vì bà vợ ông không
chịu nổi căn bệnh tâm thần của ông. Ly dị xong, vợ ông
184 Tình Khùng | TT-Thái An
Vân còn ở lại Lynchburg thêm một năm rồi dắt con dọn đi
North Carolina cùng với gia đình cha mẹ ruột.
Lúc trước ông Thanh Vân gặp vợ ông ở Lynchburg rồi hai
người lấy nhau. Gia đình vợ đều được một nhà thờ bảo
lãnh đến định cư ở đây. Ông Thanh Vân dạy bà Hoa lái xe,
giúp bà đi thi lấy bằng luật và bằng lái. Bà Hoa hầu như là
mù chữ Việt lẫn chữ Anh nên bà cảm thấy ông Thanh Vân
rất giỏi, vì ông thạo chữ Việt, biết chữ Anh “đủ xài” để đi
làm thợ và lo giấy tờ chút đỉnh.
Bà Hoa rất cần kiệm để dành tiền để mua một chiếc xe cũ
để đi làm và đi mua sắm quanh vùng. Ông Vân kể cho bà
nghe lúc trước khi còn trong không quân của Việt Nam
Cộng Hòa, ông được đưa qua Mỹ để học bảo trì máy bay.
Ông đeo lon Trung Sỹ cho đến ngày 30 tháng Tư năm
1975.
Ngày 30 tháng Tư ông đang trực trong phi trường Tân Sơn
Nhất nên leo lên được một chiếc tầu bay, bay qua Guam rồi
vào trại tị nạn. Ông cũng được một nhà thờ ở Lynchburg
bảo trợ nên ông ở Lynchburg từ 1975. Nhà thờ bảo lãnh 5
người thanh niên độc thân, sau này bốn người kia bỏ đi tiểu
bang khác vì không chịu nổi cảnh xa quê hương lại còn
thiếu người đồng hương chung quanh mình. Vì thế, chỉ còn
một mình ông ở lại. Ông được giới thiệu vào làm việc cho
một xưởng chế tạo giấy dán tường. Ông làm rất giỏi, nên
với đồng lương này, ông có thể sống ở Lynchburg thoải
mái tuy không dư nhiều.
Bà Hoa hài lòng với đời sống tại Lynchburg, có nhà chánh
phủ cấp, có việc làm, các con bà vào trường và học hành
yên ổn. Ở Lynchburg hơn một năm, một hôm sau khi tan
sở về nhà, bà Hoa đang nấu bữa cơm tối thì ông Thanh Vân
đến chơi. Bà Hoa ngạc nhiên hỏi ông:
TT-Thái An | Tiǹ h Khùng 185
- Sao bữa nay mới thứ Ba mà đã tới?
Ông Thanh Vân nói giọng ỉu xìu:
- Chị nấu cơm tháng cho em được không? Em gửi tiền cho
chị. Em nấu ăn dở mà còn ăn một mình nữa, buồn quá.
Hết muốn ăn luôn.
Bà bảo ông cứ ở lại ăn cơm với mẹ con bà hôm đó cho đỡ
buồn. Thế là ông Vân được thể xin bà Hoa nấu cơm tháng
cho ông, vì ông không muốn về nhà loay hoay nấu nướng
một mình, buồn quá. Bà Hoa vui lòng nhận lời, vì ông Vân
đã giúp bà rất nhiều khi mấy mẹ con bà vừa đến đây định
cư.
Mỗi chiều tan sở ra ông Vân đi thẳng đến nhà bà Hoa, ăn
uống xong, ngồi chơi thêm một lúc rồi ông ra về.
Dần dà, ông ngồi lại lâu hơn. Khi trời trở lạnh, ngại đường
khuya mù sương hoặc trơn trượt, ông xin bà Hoa cho ngủ
lại ở phòng khách của bà. Bà Hoa cũng vui vẻ bằng lòng.
Ông Vân ngủ lại phòng khách vài tuần vẫn không hề có
thái độ suồng sã với bà Hoa.
Một hôm ông Vân chờ lúc hai đứa bé đã đi ngủ, ông bảo bà
Hoa ngồi lại nói chuyện với ông. Ông rào trước đón sau rồi
tỏ tình với bà. Bà Hoa cũng linh cảm được điều này từ lâu
rồi, nhưng bà cứ chờ đến khi nào ông Thanh Vân muốn nói
thì nói. Ông Vân lúng túng kiếm lời:
- Thưa chị, Vân muốn nói với chị một chuyện từ lâu mà
ngại quá. Nhưng không muốn kéo dài nữa nên hôm nay
Vân phải nói.
Nói đến đó ông Vân ngừng lại chờ phản ứng của bà Hoa.
Nhưng bà Hoa thản nhiên ngồi chờ ông nói tiếp. Bà giục
ông:
- Nói tiếp đi. Tôi đang nghe.
186 Tình Khùng | TT-Thái An
Ông tằng hắng rồi nói tiếp:
- Vân muốn nói với chị là Vân có cảm tình với chị từ lâu
mà ngại chị chê Vân nhỏ hơn chị nhiều quá.
Bà Hoa nhìn thẳng vào mặt ông Vân. Bà chỉ muốn ông nói
tiếp, nói hết những gì bà muốn nghe, nhưng ông Vân lại hỏi
bà:
- Chị nghĩ sao, chị Hoa?
Bà Hoa chợt bật cười, không ngờ mình bị hỏi. Bà trả lời:
- Tôi chờ Vân tỏ tình với tôi lâu rồi. Nếu Vân biết chắc là
Vân thương tôi thì Vân nói cho tôi rõ. Chứ “có cảm tình”
là có ra làm sao?
Ông Vân nói ngay:
- “Có cảm tình” là có thương đó chị. Chị làm bộ hỏi kỳ
quá!
Bà Hoa cười thật lớn tiếng vì bà đang vui như Tết. Ông
Vân cũng cưới theo. Cả hai cùng cười thật lớn như vừa trút
được nỗi niềm đúng lúc.
Ở Việt Nam sau 1975, các bà có con lai Mỹ đa số đều kiếm
được một ông chồng sau người Việt, khi được đi Mỹ theo
diện con lai, mấy ông chồng sau được đi theo vợ. Riêng bà
Hoa vì có cô con gái lớn luôn hăm he bà rằng :“Má làm ơn
đừng cặp với ai để con không bị mang tiếng thì mới dễ lấy
chồng.”
Bà thương con, thấy nó nói cũng đúng nên ráng sống độc
thân nuôi con. Vì xã hội Việt Nam luôn có thành kiến với
con lai và mấy bà “me Mỹ”, nếu cặp bồ lăng nhăng chẳng
đi tới đâu thì còn bị chê bai thêm nữa. Nhưng trong sâu
thẳm, bà Hoa biết mình cần một người đàn ông để san sẻ
TT-Thái An | Tiǹ h Khùng 187
cuộc đời còn lại cho bớt quạnh hiu. Bà Hoa có dáng người
dong dỏng cao; khuôn mặt thon thon, sống mũi dọc dừa cao
vừa tầm và nhỏ nhắn; có đôi môi vừa dầy. Nhìn chung, bà
là một người đàn bà có nhan sắc.
Khi đã cặp với nhau, ông Vân đổi cách xưng hô, ông không
gọi bà Hoa là chị và xưng em nữa. Ông gọi là “Hoa” và
xưng “Vân”. Khi dọn vào ở chung lâu ngày, lại đổi thành
“tôi” với “bà”. Ngược lại bà Hoa cũng xưng “tôi” với
“ông”.
Có lần bà Hoa lên Eden để gửi thùng đồ về cho con gái ở
Sài Gòn, bà gặp ông Bảo, người có dịch vụ chuyển hàng
hóa về Việt Nam. Ông Bảo làm quen với bà, mời bà đi ăn
tối. Qua lời kể của ông, bà biết ông có vợ con ở Việt Nam,
sẽ bảo lãnh qua Mỹ. Nhưng ông lại hứa hẹn với bà rằng
nếu bà chịu làm bạn gái của ông, ông sẽ sắm cho bà một xe
bán hot dog ở DC, chỉ cần bán một mùa hè là đủ sống cả
năm. Nhưng lúc đó bà đã thương ông Vân rồi. Bà nghĩ dù
sao ông Vân độc thân, bà không sợ ông bỏ bà mà trở về với
người vợ trước. Còn ông Bảo hãy còn vợ, ông sẽ trở về với
vợ của ông. Như thế bà lại lẻ loi, cô độc. Nghĩ thế bà Hoa
từ chối ông Bảo. Sau gần một năm cặp với nhau, bà Hoa
và ông Vân quyết định dọn vào ở chung nên bà Hoa phải
trả chánh phủ căn nhà housing. Bà đi mua một mobil home
ba phòng vừa đủ cho ba mẹ con bà và ông Thanh Vân ở.
Đó là năm 1986.
Sau hơn mười năm thiếu bóng đàn ông trong nhà, bà Hoa
cảm thấy hạnh phúc tuyệt vời vì đã có ông Thanh Vân, căn
nhà ấm cúng hẳn lên. Ông Vân lại khéo tay, ông có thể sửa
chữa những thứ vặt vãnh trong nhà và điện nước. Thay
bánh xe, thay nhớt xe ông đều tự làm. Ông cũng mua cho
bà Hoa một cái nhẫn kim cương và một cái đồng hồ $300
188 Tình Khùng | TT-Thái An
thời 1986, đáng giá một lượng vàng lúc đó. Đeo đến trên
20 năm chưa hư.
Bà Hoa tự nhủ thầm: Hên quá! Nhờ vợ cũ của ông Vân bỏ
ông nên mới tới lượt bà. Thôi thì người ta bỏ thì mình nhặt
lại xài. “Cũ người, mới ta” mà!
Ông Thanh Vân vẫn phải uống thuốc trị bệnh tâm thần của
ông mỗi ngày. Bà Hoa là người lo nhắc nhở ông uống
thuốc một ngày hai lần. Thường ngày ông nhận thuốc và ly
nước do bà Hoa đưa cho. Nhưng một hôm ông lên cơn bất
thường, ông cầm ly nước quăng vào tường rồi tiện tay thoi
vào mặt bà. Bà Hoa té bật ra, mũi chảy máu.
Con trai bà ngồi ngay đó trông thấy nên gọi ngay 911. Vài
phút sau cảnh sát đến còng tay ông Vân đi. Sau đó tòa cấm
ông không được trở lại nhà bà Hoa và không được đến gần
nhà bà hoặc bà trong vòng 100 feet.
Sau khi tù vài ngày trong bót, ông Vân được thả ra. Ông
phải thuê một cái appartment khác để ở riêng. Bà Hoa lại
tội nghiệp ông, bà nấu cơm đem đến tiếp tế cho ông mỗi
ngày. Ông xin lỗi, năn nỉ bà bỏ qua. Bà Hoa lại bằng lòng
vì còn thương ông.
Kỳ này bà Hoa khuyên ông nên mua một cái mobil home
khác ở gần nhà bà để bà chạy qua chạy lại giữa hai nhà cho
tiện. Mỗi khi ông lên cơn, bà chỉ cần bỏ chạy về nhà. Qua
hôm sau đâu lại vào đó. Ông Vân lại qua năn nỉ làm lành
với bà. Ở chung một nhà nhưng luôn khắc khẩu, ông nói
gà bà nói vịt, mạnh ai nấy nói, chẳng ai nghe ai. Nhưng bà
Hoa luôn là người thắng, vì ông Thanh Vân luôn đuối lý và
im luôn cho xong chuyện. Khổ nỗi ông luôn khơi chuyện
trước khiến cho bà Hoa lên cơn la mắng rồi ông cãi lại. Cãi
thôi chứ không dám chửi bới đâu, có lẽ vì ông không muốn
làm bà Hoa buồn. Hai bên cùng cãi qua cãi lại cho đến khi
TT-Thái An | Tình Khùng 189
cả hai cùng mệt mỏi thì ngừng. Có người khuyên bà Hoa
rằng: “Ông Vân khùng quá chừng, bà hơi đâu cãi vời ổng,
cãi biết đến chừng nào mới xong?”
Bà Hoa nghe người ta khuyên thì được thể kể tội điên điên
khùng khùng của ông Vân cho bà đỡ tức. Nghe hai người
này cãi nhau mỗi ngày, không biết ai điên hơn ai. Ấy thế
mà có một năm hai ông bà rủ nhau về Việt Nam. Ông về
trước, bà Hoa về sau vài ngày. Nhà con gái bà Hoa ở Sài
Gòn. Bà Hoa ở nhà con vài ngày rồi xuống Cần Thơ kiếm
ông Thanh Vân đang ở nhà bà chị của ông. Ở Cần Thơ vài
ngày, hai ông bà lại trở về Sài Gòn, dắt nhau đi chụp ảnh
“đám cưới” ở hiệu chụp ảnh. Họ có sẵn nhiều kiểu áo cô
dâu cho khách mặc. Bà Hoa mặc áo đầm cô dâu và cầm bó
hoa trông thật xinh. Ông Vân diện bộ áo vest trông cũng
bảnh trai. Kể ra cả hai người vẫn còn nét đẹp trai và đẹp
gái khi bà Hoa ở tuổi ngoài năm mươi, ông Vân độ bốn
mươi. Nhìn ảnh chụp của hai ông bà, chẳng thấy tuổi tác
chênh lệch. Hai ông bà ở với nhau như vợ chồng nhưng
chẳng màng đến việc làm hôn thú. Ông Vân nói với con
gái bà Hoa: “Chú hứa với con là chú không bao giờ làm
cho má con buồn”. Con gái lớn bà Hoa nghe thấy ông
Thanh Vân nói như thế thì cảm động lắm, mừng cho mẹ
mình có được người thương yêu thật tình.
Về Mỹ ông lại tiếp tục làm việc ở xưởng làm giấy dán
tường. Bà Hoa thì làm thêm hai ngày cuối tuần ở một tiệm
nail. Vì sau khi nghỉ hưu, tiền xã hội mỗi tháng của bà
chưa đến một ngàn. May là cái mobil home đã trả hết,
không còn mắc nợ. Một hôm ông Thanh Vân bỏ xưởng về
nhà tuyên bố nghỉ làm. Bà Hoa chưng hửng hỏi lại:
- Tại sao ông nghỉ làm, lấy tiền đâu sống đây?
Ông Vân trả lời:
190 Tiǹ h Khùng | TT-Thái An
- Kiếm job khác. Tôi không thích làm với mấy thằng kỳ thị
nữa!
Bà Hoa lại tức tối hỏi lại:
- Ai kỳ thị với ông? Chứ không phải ông kỳ thị với người
ta hả? Hở ra là đổ thừa người này kỳ thị mình, người kia
kỳ thị mình. Nếu người ta kỳ thị ông thì đã không cho ông
việc làm từ đầu.
Ông Vân gân cổ lên cãi:
- Sao bà biết tụi nó không kỳ thị tôi? Tôi làm ở đó trên hai
mươi năm rồi, không đứa nào làm giỏi bằng tôi hết. Mà hở
ra là bắt bẻ, kiếm chuyện chê. Tôi nghỉ làm cho nó biết
tay!
Bà Hoa cười ré lên, trả lời:
- Ông nghỉ làm thì ông thiệt chứ tụi nó làm cho ông nghỉ là
tụi nó mừng húm vì ông trúng kế của tụi nó.
Ông Thanh Vân có vẻ thấm thía, nhưng cãi thêm:
- Kệ tụi nó, tụi nó hại tui thì Trời sẽ hại tụi nó.
Thế là sau khi làm xưởng giấy dán tường được trên hai
mươi năm, ông Vân quyết định bỏ làm. Ở nhà vài ngày,
ông Thanh Vân bước qua cái nhà hàng gần nhà xin việc, đi
bộ khoảng 15 phút là đến. Nhà hàng có tên Country
Kitchen. Ông chủ nhà hàng này tốt bụng, thích thuê người
Việt Nam vì ông thấy họ siêng năng, dù nhỏ con, nhưng
năng xuất cao hơn mấy người Mỹ da màu khác. Vì họ to
con lớn xác, nhưng làm việc tàn tàn. Thúc đẩy họ, họ cũng
vẫn la cà chuyện trò trong lúc làm việc, nói mãi không thay
đổi. Họ làm rề rề, nhiều khi hết giờ mà chưa hết việc. Còn
mấy người Việt Nam làm luôn tay, công việc không bị ứ
đọng. Ông chủ cho ông Vân việc rửa chén và lau dọn sàn
TT-Thái An | Tình Khùng 191
nhà bếp. Ông Vân chỉ việc bỏ đĩa, ly, muỗng, nĩa vào máy
cho nó rửa rồi đem ra cất vào ngăn. Ông làm rất siêng, và
ông chủ rất thích ông. Ông Vân làm nghề rửa chén gần
mười năm cho đến khi sức khỏe thể xác và tinh thần của
ông không còn cho phép. Nhưng thỉnh thoảng có người
nghỉ làm vài ngày, ông chủ lại gọi ông Vân đi làm thế.
Ông Vân chẳng bao giờ từ chối. Có lẽ vì ông Vân có cảm
tình với ông chủ, vì ông luôn xử tốt với nhân công.
Sau trên hai mươi năm sống chung, cả hai đều rụng đi gần
hết hàm răng. Ông chẳng còn cái răng nào ở cả hai hàm
răng cửa. Bà thì còn hai cái ở hàm trên. Không biết sao cả
hai không ai giữ được hàm răng của mình và cũng không
có điều kiện để làm răng giả.
Càng lúc ông Vân càng nói năng lung tung, không đầu
không đuôi gì cả. Bà Hoa cãi nhau với ông mỗi ngày cũng
chỉ vì những chuyện lung tung, lằng nhằng chẳng ra làm
sao. Họ cãi nhau hằng ngày không biết chán.
Sau này, bác sỹ cho ông Vân thuốc chích mỗi ngày một
ống nên không cần uống thuốc viên nữa. Bà Hoa lại là
người nhắc ông chích thuốc mỗi ngày. Đôi khi chính bà
chích cho ông. Sau rốt bà Hoa phải dọn luôn về nhà của bà
vì không chịu nổi cái tính càng ngày càng khùng của ông.
Lúc này các con bà đã lớn, chúng đã dọn ra ở riêng với bạn.
Nhưng mỗi ngày bà vẫn nấu cơm cho ông Vân.
Sáng sớm ông Vân đã qua nhà bà Hoa. Bà pha cà phê phin
cho ông. Vừa uống cà phê vừa nói chuyện. Ngồi thêm một
lúc, ông Vân ra về. Gần trưa lại qua ăn trưa. Ăn xong ngồi
thêm một lúc lại ra về. Ngủ trưa một giấc, thức dậy ông lại
qua nhà bà ngồi. Có lúc ông chỉ ngồi yên xem TV. Bà
Hoa bắc đủ mấy đài truyền hình Việt Nam bên Cali nên
ông cứ nhìn lên màn hình mà xem, không biết có chú ý
nghe không nữa.
192 Tình Khùng | TT-Thái An
Cuộc sống cứ thế trôi. Ngày ba cữ ông qua nhà bà Hoa ăn
uống, chuyện trò hoặc cãi cọ đủ điều. Không ngày nào mà
hai người này không cãi nhau. Cuối cùng thế nào ông Vân
cũng đuối lý và im miệng, không cãi nữa. Thế là kết thúc
buổi cãi nhau và bà Hoa hài lòng vì ông Vân im miệng
trước.
Mỗi tháng một lần bà Hoa chở ông Vân ra nhà băng ký gửi
cái check của sở xã hội gửi cho ông. Sau khi lãnh tiền ra,
bà Hoa chỉ đưa cho ông Vân $50 dằn túi. Ông Vân đi ngay
ra tiệm 7/11 để mua vé số và thuốc lá. Số tiền còn lại bà
vẫn giữ như lúc còn ở chung nhà với ông, để bà nấu ăn,
mua sắm lặt vặt và đổ xăng. Thỉnh thoảng ông cần thêm
tiền thì bà đưa cho ông nhưng không quên dặn dò tiêu xài
từ từ, không được mua vé số nữa. Nhưng tháng nào cũng
thế, vừa mới đưa tiền cho ông Vân hôm trước, hôm sau ông
đã kêu hết tiền. Bà Hoa tức quá la lên:
- Ông làm gì mà xài tiền nhanh quá vậy? $50 đồng mới
đưa cho hôm qua mà hết rồi sao?
Ông Vân lại tàn tàn trả lời:
- Thì tôi mua thuốc lá ở 7/11, mua thêm mấy tờ vé số cào.
Mới bước ra gặp mấy thằng Mỹ đen đứng trước cửa xin
tiền mua thuốc lá nên tui cho tụi nó hết rồi.
Bà Hoa lại kêu:
- Trời ơi là Trời! Sao mà ông ngu quá vậy? Tụi nó không
có tiền mua thuốc lá thì tụi nó phải đi làm kiếm tiền mua
chớ sao lại đi xin tiền ông? Bộ ông tưởng ông giầu lắm
sao? Ông cũng phải lãnh tiền trợ cấp bệnh hoạn của xã hội
mà!
Ông Thanh Vân lại cãi:
TT-Thái An | Tiǹ h Khùng 193
- Thì tôi thấy tội nghiệp tụi nó tôi cho có sao đâu?
Bà Hoa lại tru tréo:
- Ông tội nghiệp tụi nó rồi ai tội nghiệp ông? Ông bệnh
hoạn như vầy có đứa nào lo cho ông không?
Bà Hoa nói tiếp:
- Tôi đã biểu ông bỏ thuốc lá đi, hút làm chi cho tốn tiền
mà có ngày ung thư phổi. Sao ông không nghe mà còn đưa
tiền cho tụi nó mua thuốc lá? Ông bị mấy đứa ma lanh lợi
dụng. Tụi nó biết ông ngu, có tiền không biết giữ nên xúi
ông đưa tiền cho tụi nó xài.
Ông Vân ráng cãi cho bằng được:
- Ung thư thì chết có sao đâu, tôi không sợ. Sống lâu chán
quá rồi. Hết tiền thì tháng sau có nữa.
Ông Vân và bà Hoa cãi nhau như thế không ngừng, nhưng
bà Hoa không thể nào thay đổi được tâm trí của người
khùng. Có lẽ bà Hoa cũng nhiễm cái khùng của ông Vân
rồi. Nghe hai người này cãi nhau mỗi ngày, người ta tưởng
đang nghe hai người khùng cãi nhau.
Bà Hoa có cái thú nuôi chó và mèo. Chó hoang, mèo
hoang ở đâu kéo đến trước nhà bà càng lúc càng đông. Vì
bà mua sẵn đồ ăn đổ đầy thau bỏ trước sân nhà cho chúng.
Chưa kể trong nhà bà lúc nào cũng có một đàn mèo từ sáu
đến bảy con; chó từ hai đến ba con. Khách vào nhà bà vừa
ngồi xuống là lũ mèo kéo đến ngồi từ trên vai đến đùi, đến
chân. Chó thì cứ quẩn quanh dựa chân hoặc nằm trên ghế
sát bên người khách. Chưa hết, bà còn đưa cho ông Vân
mấy bao thực phẩm của mèo, bảo ông đem về nuôi đám
mèo hoang trước sân nhà ông. Thỉnh thoảng bà hỏi xem
còn đồ ăn cho chúng nó không để bà đi mua tiếp. Ông Vân
luôn làm theo lời dặn dò của bà Hoa vì chẳng muốn bị bà la
194 Tình Khùng | TT-Thái An
hét ồn ào việc quên cho mèo ăn và uống nước.
Một năm bà Hoa về Việt Nam thăm con gái, tiện thể làm lại
hai hàm răng. Khi trở về Mỹ, trông bà đẹp và trẻ hẳn ra vì
có hai hàm răng mới, hết trống trơ, móm sọm. Chỉ có ông
Vân là vẫn móm mém vì không hàm nào có răng. Trông
ông hóp hép, già nua trước tuổi.
Từ lâu lắm, bà Hoa hay nghĩ đến nhà thờ, bà muốn hôm
nào đó, bà sẽ ghé nhà thờ cám ơn Chúa đã ban ơn cho bà và
các con bà được sống an lành trên đất Mỹ. Nghĩ thế thôi,
nhưng ngại đi một mình đến nhà thờ quá.
Một hôm bà Hoa đang ngồi ế khách ở tiệm nail, có một bà
Việt Nam tuổi độ 60 bước vào tiệm làm quen với bà. Bà
này tên Tốt. Bà Tốt mới dọn xuống Lynchburg vài năm
thôi, nhưng đã ở Mỹ từ 1975. Bà Tốt nói về Chúa Jesus
cho bà nghe. Bà Hoa nói ngay:
- Tôi cũng biết Chúa Jesus chứ. Tôi tính bữa nào đi nhà
thờ tạ ơn Chúa đó. Mà lười quá, chưa muốn đi.
Bà Tốt trả lời:
- Không sao, hôm nay tôi cầu nguyện với chị, chúng ta tạ
ơn Chúa đã ban phước cho mẹ con chị. Nhưng chị có tin
Chúa chưa?
Bà Hoa không do dự trả lời:
- Chưa! Ba tôi đạo Phật. Má tôi đạo Thiên Chúa. Tôi
chưa biết theo ai hết. Tôi nghĩ theo ai cũng dạy làm lành
lánh dữ mà. Đạo nào cũng tốt hết đó!
Bà Tốt trả lời:
- Ừ, đạo nào cũng dạy làm lành, dạy tu thân tích đức.
Nhưng Đức Chúa Trời không dạy làm lành lánh dữ để tự
TT-Thái An | Tiǹ h Khùng 195
cứu lấy mình. Ngài là quan tòa để xét xử nhân loại. Ngài
không muốn Satan kéo người ta xuống địa ngục. Ngài
muốn cứu mọi người khỏi địa ngục đời đời nên đã ban con
độc sanh của Ngài là Chúa Jesus Christ xuống thế gian chết
thay cho loài người. Hầu cho hễ ai tin con ấy không hề hư
mất mà được sự sống đời đời nơi thiên quốc sau khi lìa
khỏi thể xác này.
Lần đầu tiên bà Hoa biết rõ hơn về Chúa Jesus và chương
trình cứu rỗi loài người của Đức Chúa Trời. Bà Hoa chú ý
nghe và hẹn tuần sau bà Tốt nhớ trở lại nói chuyện tiếp.
Sau vài tháng chuyện trò với bà Tốt, bà Hoa quyết định đi
theo Chúa vì bà muốn sau khi lìa đời bà được thiên sứ của
Chúa đưa về Thiên Đàng. Bà Hoa về rủ ông Vân theo
Chúa với bà. Ông Vân hỏi:
- Theo Chúa hay không theo thì có gì khác?
Bà Hoa nói:
- Khác chứ! Theo Chúa, tôi biết chắc sau khi lìa đời tôi
được lên Thiên Đàng ở với Chúa. Nếu không theo Chúa,
tôi không biết sau khi chết tôi sẽ đi về đâu. Lỡ bị quỷ sứ
kéo xuống địa ngục cái sao? Nhất là tôi với ông có tu thân
tích đức bao giờ đâu!
Bà hỏi ông:
- Nếu tôi lên Thiên Đàng, ông có muốn đi theo tôi không?
Không do dự, ông Thanh Vân trả lời:
-Muốn chứ, bà đi đâu tôi theo đó. Lên Thiên Đàng với bà
cho vui.
Bà Hoa cười ha hả, bà vẫn cảm nhận được ông vẫn yêu
thương bà.
Thế là bà Hoa mời bà Tốt đến cầu nguyện cho ông Vân tiếp
196 Tình Khùng | TT-Thái An
nhận Chúa Jesus và dạy kinh thánh cho hai người.
Sau vài tuần học giáo lý căn bản, cả hai ông bà đều chịu
phép Báp Tem tại một nhà thờ Mỹ. Bà Tốt đi theo để
chứng kiến và chúc mừng hai người vừa được làm công
dân của Thiên Quốc.
Có lẽ ông Thanh Vân tin Chúa để được theo bà Hoa lên
Thiên Đàng nên ông không mấy sốt sắng cầu nguyện với
Chúa mỗi ngày. Nhưng thỉnh thoảng ông vẫn theo bà Hoa
đi nhà thờ cho bà vui và ông cũng đỡ buồn. Vài năm sau
đó, ông Vân càng ngày càng biếng ăn. Ông vẫn qua nhà bà
Hoa mỗi ngày. Nhưng đến bữa ăn ông đứng dậy ra về. Bà
Hoa có gặng hỏi thì ông trả lời không thấy đói bụng. Ông
gầy đi nhiều, trông càng hom hem tiều tụy. Thỉnh thoảng
ông ho khan vài tiếng.
Bà Hoa cũng thắc mắc không biết sao lúc này ông không
chịu ăn uống như trước. Thỉnh thoảng đói lắm thì ông ăn
qua loa chút đỉnh. Thắc mắc thế thôi, bà chỉ nghĩ rằng có lẽ
lúc này ông yếu hơn trước nên không thích ăn. Nhưng hễ
có người quen đang ngồi chơi, thấy ông Vân bỏ về không
ăn cơm, họ lại nghĩ ông Vân không thích món ăn hôm nay
nên về nhà kiếm thứ khác ăn. Bà Hoa nói ngay với khách:
- Không biết sao mấy lúc này ổng không chịu ăn uống gì
hết. Ổng về ngủ đó chứ. Tôi biết chắc ổng không ăn gì
đâu.
Cả hai ông bà chẳng bao giờ nghĩ đến việc đi khám sức
khỏe hằng năm mặc dù cả hai người đều có Medicaid, đi
khám bệnh miễn phí.
Một hôm vừa bước vào nhà bà Hoa, ông Vân ngã quỵ ngay
trước mặt bà rồi bất tỉnh luôn. Bà hoảng quá gọi ngay 911.
Xe cứu thương đến ngay sau đó 10 phút chở ông đi cấp
cứu.
TT-Thái An | Tình Khùng 197
Nằm ở nhà thương vài ngày để khám toàn thân. Bác sỹ cho
biết ông Thanh Vân bị ung thư phổi thời kỳ chót, đã lan
qua gan, qua xương sống, xương chân, lên óc. Bác sỹ nói
không còn cách nào để cứu chữa cho ông Vân nữa; phải
đưa ông qua hospice care nằm chờ ngày đi mà thôi. Bà
Hoa khóc sướt mướt khi hay tin này.
Ngày nào bà cũng vào hospice care hai lần để thăm nuôi
ông Vân. Bà nấu ăn đem vào, đút cho ông ăn mặc dù bác
sỹ dặn không nên cho ông ăn nữa vì ông không thể tiêu hóa
được. Ông Vân cũng cố ăn chút đỉnh cho bà Hoa vui lòng.
Bà hỏi ông:
- Mấy năm nay, ông thấy trong người có triệu chứng gì bất
thường không? Sao tôi không nghe ông than gì hết vậy?
Ông trả lời:
- Cũng có khi thấy đau chỗ này chỗ kia trong người, nhưng
tôi nhịn đau cho qua, nói với bà làm chi.
Bà Hoa la lên:
- Phải chi ông nói cho tôi hay thì tôi đưa ông đi bác sỹ
khám, thì đâu đến nỗi trễ như vầy!
Ông an ủi bà:
- Thôi! Sống chết có số. Tôi đi trước, bà đi sau có vậy thôi.
Bà Hoa lại khóc ấm ức, trách ông:
- Sao ông nỡ bỏ tôi lại một mình vậy ông?
Ông lại an ủi:
- Tôi đâu muốn vậy đâu. Nhưng mà tới số thì đi thôi.
Bà Hoa lại trách ông:
- Ai biểu tôi nói ông bỏ thuốc lá mà ông không nghe.
Ông vẫn an ủi:
198 Tình Khùng | TT-Thái An
- Thôi, tôi đi thì bà còn đám chó với mèo để bà lo, cho đỡ
buồn.
Bà Hoa la lên:
- Chó với mèo đâu biết cãi lộn như ông vậy. Ông đi rồi còn
ai cãi với tôi nữa hả ông?
Ông chỉ biết cười trừ. Một buổi sáng, bà Hòa đi thăm ông
Vân. Vừa trông thấy bà Hoa, cô y tá gọi bà lại kể chuyện:
- Tối qua ông Van Ho (Vân Hồ) thức khuya lắm, ông cứ
nhìn lên trần nhà mà hát “Hallelujah” suốt đêm. Tôi thấy
mặt ông sáng lên và có vẻ vui lắm.
Bà đoán có lẽ ông trông thấy thiên sứ hay thấy Chúa nên
mới hát “Hallelujah” (có nghĩa là “Tôn vinh Đức Chúa
Trời”) nên cám ơn cô y tá đã nói cho bà hay. Bước vào
phòng, thấy ông Vân đã thức nằm trên giường. Bà Hoa đến
gần giường ngồi xuống. Ông Vân nói ngay với bà:
- Tối qua tôi thấy Chúa hiện ra trong phòng. Tôi vui quá
nên tôi hát “Hallelujah” hoài.
Bà Hoa đáp lại:
- Vậy hả ông? Vậy là Chúa chờ sẵn để đem ông đi đó.
Nói xong bà Hoa lại khóc sụt sùi. Ông Vân hỏi bà:
- Ủa sao bà khóc? Hồi đó bà rủ tôi tin Chúa để theo bà lên
thiên đàng, mà bây giờ Chúa rước tôi đi thì bà khóc.
Bà Hoa nói ngay:
- Tôi khóc vì tôi sắp xa ông rồi. Chứ ông được lên thiên
đàng thì tôi mừng lắm chứ.
Ông cảm động nói với bà:
TT-Thái An | Tình Khùng 199
- Thôi! Tôi còn sống được thêm ít ngày. Bà vui với tôi cho
tôi an lòng. Tôi ở đây, tôi nhớ bà từng ngày.
Bà cũng cảm động trả lời:
- Còn tôi, tôi nhớ ông từng phút, từng giây.
Ông Vân cười móm sọm. Vẻ mặt ông lộ vẻ hạnh phúc.
Ông nói tiếp với bà:
- Tôi sẽ không về nhà được nữa. Bà về mở ngăn kéo lấy
cái title nhà của tôi ra đem tới đây. Tôi muốn ký chuyển
tên cho bà. Bà sơn sửa lại cho sạch sẽ cho người ta thuê
cũng có thêm sáu hay bảy trăm mỗi tháng mà xài.
Bà Hoa cảm động khóc nấc lên vì không ngờ ông Vân lo
cho bà như vậy. Sở xã hội cố gắng kiếm ra con gái của ông
Thanh Vân đang sống ở North Carolina báo tin cha cô sắp
chết.
Con gái ông tên Elizabeth Hồ. Được tin cha sắp chết, qua
hôm sau Elizabeth lái xe từ North Carolina lên Lynchburg
để thăm cha. Hai cha con trùng phùng sau hơn ba mươi
năm xa cách. Nhìn nhau thật xa lạ. Lúc con còn nhỏ dưới
18 tuổi, ông Thanh Vân vẫn theo lệnh của tòa mà cấp
dưỡng hàng tháng cho con. Tháng nào cũng trừ thằng
trong tiền lương của ông vài trăm đồng. Ông Vân cảm
động vì con gái đến thăm trong lúc ông không hy vọng gì
gặp lại. Vì vợ cũ của ông không liên lạc gì với ông kể từ
khi bỏ ông ra đi.
Hai cha con hỏi thăm nhau vài câu thì hết chuyện. Ông
Vân gửi lời thăm vợ cũ của ông. Có lẽ Elizabeth hơi thất
vọng vì hình ảnh quá xác xơ của cha, và nhất là người cha
quá nghèo, không có gì để lại cho nàng. Nhưng Elizabeth
cũng ráng ngồi với cha được vài giờ rồi đứng dậy ra về kẻo
trời xụp tối.
200 Tiǹ h Khùng | TT-Thái An
Ông chủ nhà hàng Country Kitchen hay tin ông Vân vào
hospice care cũng đến thăm. Ông mua cho ông Vân $20 vé
số để làm quà vì biết ông Thanh vân hay chơi vé số. Ông
Vân cầm lấy mấy tấm vé số chỉ cười toe với ông chủ vì biết
ông đùa với mình. Sắp chết rồi, có trúng bạc triệu cũng
chẳng hưởng gì được nữa.
Sau hơn một tháng nằm trong “hospice care,” ông Vân
xuống sức rất nhiều. Ông không còn ráng ăn được nữa.
Ông cũng chẳng còn hơi để nói. Thỉnh thoảng nghe ông
thều thào vài tiếng. Bà Hoa luôn túc trực bên ông.
Ông Thanh Vân ở trong hospice care được hai tháng ba
tuần thì chết. Ông sinh tháng Hai, năm 1951. Chết ngày
11 tháng Bảy, năm 2016. Hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi.
Nhân viên sở xã hội gọi cho Elizabeth báo tin cha cô vừa
chết. Hôm sau Elizabeth lái xe lên nhà quàn. Người ta đưa
giấy khai tử của ông Thanh Vân cho cô và hỏi cô có muốn
nhìn xác cha lần cuối trước khi họ đem ông đi thiêu không.
Nhưng Elizabeth bảo rằng không cần. Sau đó cô ra về,
không ở lại chờ lấy tro của cha. Sở xã hội lo hết chi phí
hỏa thiêu cho ông Vân. Họ giao lại cho bà Hoa cái hũ
đựng tro của ông. Bà Hoa đem cái hũ này về cất tạm trong
nhà. Khi nào có dịp về Việt Nam, bà sẽ đem về giao cho
người em gái của ông ở Long Xuyên rồi tùy họ muốn chôn
ở đất nhà hay rải xuống sông tùy ý.
Bà Hoa cũng giữ lại xâu chìa khóa của ông Vân. Bà lấy ra
hai cái thẻ bài mà ông Vân đeo trên cổ lúc còn phục vụ
trong không lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông luôn xâu hai cái
thẻ bài này trong chùm chìa khóa của ông trong suốt những
ngày lưu vong ở Mỹ. Bây giờ bà Hoa lấy ra, xâu vào chùm
chìa khóa của bà như là vật kỷ niệm của ông. Sau khi ông
Vân chết, bà Hoa như người mất hồn. Ngồi đâu trong nhà
bà cũng khóc vì đâu đâu cũng thấy hình ảnh của ông. Đang
TT-Thái An | Tình Khùng 201