nào có con trai mới thôi. Như thế số phận của những đứa
bé gái là phải chết yểu để cha mẹ nó kiếm con trai nối dõi
tông đường.
Nhưng “gậy ông đập lưng ông”!
Hậu quả của việc “chỉ sinh con trai mà thôi” hiện nay là
nạn khan hiếm đàn bà đã trở nên trầm trọng tại Trung cộng.
Các nược láng giềng như Việt Nam phải chịu ảnh hưởng
lây.
Những tỉnh nằm dọc theo biên giới Trung Hoa thỉnh thoảng
lại xẩy ra việc mất tích vài cô gái tuổi trên dưới hai mươi.
Cha mẹ kiếm con mãi không ra.
Sau này mới phát hiện ra con mình đã bị một bọn người bắt
cóc, đem bán qua Tàu để sinh con đẻ cái cho người ta. Có
lẽ những nước khác nằm dọc theo biên giới Trung Hoa như
Lào, Thái, Miến Điện, Bắc Hàn, Mông Cổ cũng có cảnh
con gái bị bắt cóc bán sang Tàu như thế. Nếu con trai của
họ không kiếm ra vợ để tiếp tục sinh sản thì dòng dõi của
họ xem như bị tuyệt tự.
Ôi! Đó có phải là điều mà họ sợ gặp phải nên đã giết chết
hằng trăm triệu đứa bé gái sơ sinh hay không?
Mới đây, một cấp lãnh đạo của Trung cộng tuyên bố rằng:
“Nếu thiếu đàn bà thì tại sao đàn ông không thể chia vợ
chung với nhau?”
Vừa mới nghe như thế, đám đàn ông đang có vợ chắc phản
đối ngay.
Có ông nào muốn chia vợ với người khác không?
Nhưng đám đàn ông chưa có vợ hoặc không hy vọng kiếm
được vợ thì khấp khởi vui mừng, chờ mong ngày chánh
102 Hêt́ Đa Thê, Rồi Đa Phu! | TT-Thái An
phủ chánh thức ký sách lệnh cho phép “Đa Phu”, một bà có
quyền lấy hai hoặc ba chồng.
Như thế trên tờ hôn thú sẽ có thêm câu “Chồng lớn, hay
chồng thứ nhì, thứ ba”. Còn phía các bà, chỉ xì xầm bàn
tán với nhau thôi, không dám lộ vẻ vui mừng để các ông
chồng nhìn thấy mà chửi cho, có khi còn bị đánh nữa.
Về phía đàn ông Việt Nam, mới nghe xong lời tuyên bố của
Xếp Trung cộng đã vội vã lên án chỉ có chế độ công sản
mới bày ra chuyện vô luân lý, vô đạo đức như thế.
Có lẽ các ông Việt Nam nhìn thấy người Tàu truyền cho
mình nhiều thứ từ ngàn năm trước, tới giờ mình vẫn còn
đeo theo, không bỏ. Ngộ nhỡ bây giờ họ bầy ra việc Đa
Phu thì đàn bà mình lại cũng ào ào chạy theo thì sao?
Nhưng chưa đến lúc phải lo đâu các ông ạ!
Bằng chứng là mỗi năm nước ta còn xuất cảng nhiều cô dâu
sang Đài Loan và Nam Hàn. Điều này chứng tỏ con số đàn
bà trong nước nhiều hơn đàn ông nên mới thặng dư để xuất
cảng đấy chứ. À, sao không nghe thấy xuất cảng cô dâu
sang Trung cộng? Có lẽ chẳng cô nào muốn di cư sang
nước cộng sản bao giờ nên dịch vụ này không ai thực hiện.
Vì đã bỏ một nước cộng sản nhỏ, chẳng ai muốn chui vào
một nước cộng sản lớn hơn!
Hơn nữa, chuyện của nước người ta, người ta tự giải quyết
cách nào “tốt nhất” thì thôi. Vì người ta có thể chọn vài
cách khác nhau, chẳng hạn qua các nước láng giềng bắt cóc
phụ nữ đem về mỗi đợt vài người. Hoặc bạo hơn, Trung
cộng sẽ tạo chiến tranh, đem đám thanh niên thặng dư này
sang xâm lấn các nước láng giềng, giết bớt đàn ông bản xứ,
bắt cóc đàn bà, con gái đem về làm nô lệ tình dục. Và tiện
thể chiếm luôn dất của các nước bé.
TT-Thái An | Hêt́ Đa Thê, Rồi Đa Phu! 103
Hoặc giả đám thanh niên thặng dư này chết bớt khi qua
xâm lấn các nước láng giếng thì cũng giải quyết được nạn
dư thừa đàn ông cách trầm trọng của Tàu đấy. Chánh phủ
Trung cộng không hơi đâu tiếc thương đám đàn ông, thanh
niên thừa của xứ họ đâu.
Quý vị thấy cách nào tốt nhất?
Có phải cách nào mà đừng đụng chạm đến dân mình, nước
mình thì “tốt” rồi, phải không? Khỏi cần bàn đến chuyện
đạo đức với những con người không biết đạo đức là gì. Vì
người Tàu phá thai và giết bé gái sơ sinh cao nhất thế giới
chỉ để đáp ứng nhu cầu kiếm con trai nối dòng nối dõi của
họ, thì chuyện đa phu cũng chỉ là đáp ứng nhu cầu cấp bách
của họ mà thôi!
À, sao cả mấy ngàn năm nay, người Tàu và dân Việt Nam
áp dụng tục đa thê mà chẳng ai lên án vô đạo đức? Sao bây
giờ mới nghe đến việc đa phu có thể sẽ thực hiện tại Trung
cộng thì mọi người đã lên án kịch liệt, xem như vô đạo
đức?
Thế mới biết, từ thủa xa xưa, đàn ông lập ra luật lệ của xã
hội để mọi người làm theo, chứ chẳng phải đàn bà.
Con người ăn ở và sinh hoạt theo thời thế đưa đẩy. Có lẽ
ngày xưa đàn bà dư thừa nhiều lắm hay sao mà hàng vua
thì lấy cả ngàn cung tần mỹ nữ. Hàng Chúa thì cũng lấy
hàng trăm. Hàng quan liêu thì cũng hàng nửa tá đến một
tá. Hàng phú ông ít nhất cũng đôi ba bà vợ. Ấy thế mà
nghèo hèn nhất làng là anh Mõ vẫn có vợ như thường.
Chẳng nghe nói có anh nào ế vợ cả!
Thủa nhỏ, tôi nghe mấy bà người lớn nói chuyện với nhau
rằng bên Tây Tạng có khi hai, hay ba anh em phải lấy
chung một vợ. Họ đoán rằng có lẽ vì nhà nghèo quá, không
104 Hết Đa Thê, Rồi Đa Phu! | TT-Thái An
đủ tiền sắm sính lễ cho hai, ba cô dâu nên hai, ba anh em
phải cưới chung một cô cho đỡ tốn.
Lúc đó tôi chẳng hiểu gì.
Nhưng bây giờ nghĩ lại, thấy mấy bà xứ mình cứ tưởng
rằng xứ nào cũng là đàn ông đi cưới vợ như xứ mình hay
sao? Ôi chà! có lẽ Tây Tạng là một trong những xứ theo
phong tục đàn bà đi cưới chồng. Đàn bà của họ đem sính lễ
đi cưới chồng thì làm gì có chuyện vì nghèo quá mà hai anh
em phải cưới chung một vợ. Như thế thì có lẽ vì khan hiếm
đàn bà nên đàn ông của họ phải chia chung một cô vợ đấy!
Bây giờ đến anh Trung cộng khan hiếm đàn bà trầm trọng
nên mới nghĩ ra cảnh vợ chung. Đây chẳng phải là sáng
kiến mới mẻ gì. Có lẽ anh Trung cộng copy văn hóa của
chị Tây Tạng thời xưa vậy! Vì hiện tại, anh Trung cộng
chiếm lĩnh chị Tây Tạng, nên văn hóa và lịch sử của chị
Tây Tạng thì anh Trung cộng biết thừa. Khi hữu sự, cái gì
cọp dê được của người khác thì cứ cọp dê.
Nhưng chị Tây Tạng lấy ba anh em thì sinh con ra chỉ có
một họ cha để lấy. Chị Trung Cộng mà lấy ba ông chồng
không phải là ba anh em, một chồng họ Mao, một chồng họ
Đặng, một chồng họ Tập thì không biết chánh phủ sẽ cho
phép đẻ mấy đứa. Có thể cho phép đẻ 3 đứa, nhưng không
được thử DNA, vì như thế lỡ có ông may mắn được luôn 3
đứa, còn hai ông chồng kia không có đứa nào thì sao? Thế
thì, đứa nào ra trước là con ông nhất, đứa ra nhì là con ông
nhì, đứa ra chót là con ông chót; trai hay gái thì ráng chịu;
nếu không ráng chịu thì cứ bắt phá thai để tiếp tục sinh cho
đến khi có con trai thì ông chồng thứ hai, thứ ba chờ lâu
quá sốt cả ruột. Hơn nữa chỉ làm khổ bà vợ phải tiếp tục
tăng gia sản xuất “ tanh banh hết cả thây.”
TT-Thái An | Hết Đa Thê, Rồi Đa Phu! 105
Con người sống theo hoàn cảnh, lâu ngày thì đặt thành
luật, thành lệ rồi trở thành phong tục. Có phong tục thịnh
hành một thời gian khá lâu rồi lỗi thời. Cũng có những
phong tục hoặc luật lệ của nước này đi ngược với nước kia,
hoặc của tôn giáo này chõi với tôn giáo nọ.
Nhưng chỉ có luật Trời là bất di bất dịch, đó là luật vĩnh
viễn. Vì sao? Vì Ngài là Đức Chúa Trời thành tín: “Trời
đất sẽ qua đi, song lời ta không bao giờ qua đâu”, và “trong
Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự
biến cải nào”.
TT-Thái An
5/29/2016
106 Hêt́ Đa Thê, Rồi Đa Phu! | TT-Thái An
Hương Nhục
TT-Thái An
Ngày còn nhỏ, mỗi khi đi ngang tiệm Kỳ Pháp 7 Món trên
đường Võ Di Nguy, gần ngã tư Phú Nhuậ, tôi hay thắc mắc
chẳng biết họ bán gì. Một hôm tôi hỏi ông ngoại:
- Ông ơi! Cái tiệm Kỳ Pháp 7 Món bán gì vậy ông?
Ông tôi tủm tỉm cười rồi nói:
- “Kỳ” có nghĩa là “Cờ”; “Pháp” có nghĩa là “Tây”. “Kỳ
Pháp” là “Cờ Tây”.
Rồi ông hỏi lại tôi:
- “Cờ Tây” nói lái thành ra chữ gì?
Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
- Là “Cầy tơ” phải không ông?
Ông bảo:
- Đúng rồi! Thế “cầy tơ” là con gì?
- Cháu không biết. Tôi trả lời.
Ông lại cười cười giải thích:
- “Cầy” là con chó. “Tơ” là còn nhỏ, còn non. “Cầy tơ” là
chó vừa lớn tới, còn non. Tiệm đó bán thịt chó. Họ bán 7
TT-Thái An | Hương Nhục 107
món thịt chó đó mà. Thật ra “Cầy” là con cầy hương, họ
mượn tên con cầy hương để gọi thịt chó cho đỡ trắng trợn
ấy mà.
À thì ra thế! Ở gần nhà tôi có nhà hàng “Bò 7 Món Ánh
Hồng”. Bây giờ lại có tiệm “Cầy 7 món” nữa.
Nhưng lần nào đi ngang tiệm Kỳ Pháp 7 Món tôi tò mò
nhìn vào nhưng chẳng thấy họ bầy thịt chó trước tủ kính.
Khi lớn lên, học lớp đệ tam, thỉnh thoảng vào buổi chiều,
tôi ghé nhà cô bạn học tên Bich ở trong chợ Ông Tạ. Chợ
chiều vắng vẻ, nhưng các cửa hàng trong chợ vẫn còn buôn
bán. Tình cờ tôi đi ngang qua một cửa hàng có treo một
nửa con chó đã thui. Tôi biết ngay đó là hàng bán thịt chó.
Một hôm đang ngồi trên gác với Bích, bố nó gọi nó xuống
đi mua thịt cầy cho bố. Nó dạ thật lớn rồi chạy ngay xuống
gác. Mộ lúc sau nó trở về sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ, tay
còn cầm miếng thịt chó đưa vào miệng ăn có vẻ ngon lành
lắm. Nó bảo: “Bố tao thích thịt cầy, tuần nào cũng phải ăn
ít nhất một hoặc hai lần”.
Lúc đó, tôi thấy hễ nơi nào có chợ của những người Bắc
xóm đạo di cư là có hàng thịt chó nên tôi tưởng chỉ có
người Bắc ăn thịt chó. Nhưng có lần tôi nghe thấy người
Nam cũng có món thịt cầy nấu với nước cốt dừa và xả.
Nhưng có lẽ người Nam không ăn thịt chó nhiều như người
Bắc. Người Bắc dùng riềng, mẻ, mắm tôm để nấu thịt cầy,
món rựa mận. Sau này vì có người không ăn thịt chó nên
biến chế ra món “Giò lợn giả cầy” .
Tôi không biết món cầy rựa mận ăn ngon ra sao. Nhưng ăn
món “giò lợn giả cầy” cũng thấy ngon rồi.
Khi ở Đài Loan, hễ trời bắt đầu trở lạnh vào Thu rồi sang
Đông. Các xe thịt chó lại xuất hiện rải rác đó đây trên các
108 Hương Nhục | TT-Thái An
vỉa hè vào buổi tối. Lý do vì người Tàu cho rằng thịt chó là
loại thịt nóng, nhiều dinh dưỡng nên họ ăn vào mùa Đông
cho ấm áp và bồi bổ cơ thể. Đã thế hình như họ chỉ bán
một món thịt chó tiềm thuốc bắc. Đi ngang hàng thịt chó
chỉ ngửi thấy mùi thuốc bắc là chính. Nhưng người Tàu
không gọi là thịt chó vì tránh viết chữ “Cẩu” treo lủng lẳng
trước xe hay sao đó mà thay vào đó chữ “Hương Nhục”, có
nghĩa là “Thịt Thơm”. Khách hàng ngồi chung quanh xe
thịt chó, vừa ăn món hương nhục tiềm thuốc bắc vừa uống
vài chung rượu Kao Liang (Cao Lương). Khách đa phần là
những anh tài xế taxi, đang chạy xe lòng vòng chưa có
khách nên ghé vào ăn cho ấm lòng và cho đã ghiền, hay
những ông nhậu, nhà ở gần đó.
Nguồn gốc của chữ “Hương nhục” đã có từ lâu bên Trung
Hoa; từ đời Hán Lưu Bang đã có từ “Hương nhục”. Có lẽ
do mặc cảm khi ăn con vật có tiếng trung thành với người
nên người ta tránh gọi thịt chó. Cũng như người Việt Nam
tránh gọi thịt chó mà đọc trại thành “thịt cầy”. “Cầy” cũng
lại là một từ Hán Việt dùng để chỉ một con vật hoang dã
khác con chó, là con cầy hương.
Dân Tàu là dân ăn tạp; mõm gấu, móng ngựa, thịt chồn, vòi
voi, óc khỉ, ngầu pín, dái dê, lưỡi vịt, rắn, rết, bò cạp, dơi,
chuột, họ ăn tuốt tuồn tuột hết. Càng hiếm càng đắt, càng
cho là bổ phải kiếm cho được mà ăn.
Người Việt Nam cũng là dân ăn tạp và còn chịu ảnh hưởng
cái lối “ăn gì bổ nấy” của người Tàu nên người Tàu cho cái
gì bổ thì người Việt cũng tin ngay. Như ăn óc bổ óc, ăn tim
bổ tim, ăn phổi bổ phổi, ăn gan bổ gan, ăn cật bổ cật, ăn
chân bổ chân. Còn ăn thịt chó thì bổ gì? Chắc lại “không
bổ âm thì cũng bổ dương”.
Riêng cái món hương nhục thì có hiếm gì đâu. Chó chạy
TT-Thái An | Hương Nhục 109
quanh làng quanh xóm. Ngày xưa ở Việt Nam và Trung
Hoa cứ thả chó chạy rông ngoài đường, đi chán thì chúng
lại về nhà. Vì thế, thỉnh thoảng có nhà bị mất chó là
chuyện thường, biết ngay chó nhà mình đã bị nhà khác ăn
cắp, giết làm thịt, cho đi đầu thai làm kiếp con vật nào khác
rồi.
Nhưng người Tàu lại biện minh cho việc ăn thịt chó của
mình bằng câu tục ngữ “Thịt của các loại chim trên trời
không loại nào thơm bằng thịt chim am thuần (một loại gà
ri), thịt của các loài thú trên mặt đất không loại nào thơm
bằng thịt chó”. Ý của họ cho rằng người sành ăn lắm mới
biết thưởng thức thịt của hai con vật này.
Còn dân nhậu Việt Nam có câu “Sống trên đời có miếng
dồi chó; chết xuống âm phủ biết có còn hay không?”. Ý họ
bảo rằng thịt chó ngon quá mà, còn sống ngày nào thì cố
mà thưởng thức miếng dồi chó ngày đó. Tựu chung, cũng
là tỏ ra mình sành ăn và biện hộ cho việc ăn thịt chó của
mình.
Dân Tàu dù ở tỉnh nào cũng ăn thịt chó. Ngày xưa thịt chó
bán ở mấy xe đẩy quanh phố, ngày nay thịt chó được nhẩy
vào cửa hàng, cửa tiệm, có trương bảng thật lớn, chó treo
lủng lẳng trong tủ kính còn nhe cả hàm răng trắng nhỡn ra.
Vì thịt chó được họ liệt vào hàng đặc sản, hiếm hơn thịt
nuôi công nghiệp như heo và gà, nên đắt tiền hơn.
Thế nên, khi thế vận hội Olympic 2008 được tổ chức tại
Bắc Kinh, chánh quyền Bắc Kinh ra lệnh đóng cửa các tiệm
bán thịt chó trong những ngày có đại hội Olympic. Vì họ
biết du khách ngoại quốc sẽ kinh hoàng khi nhìn thấy cảnh
“dã man” này. Làm sao mà con chó yêu quý của họ luôn
được săn sóc kỹ lưỡng, chải chuốt, cắt tỉa lông, cho ăn
ngon, mặc đẹp, bồng ẵm suốt ngày trên tay, có khi còn
được ngủ chung giường với chủ nữa mà lại bị đánh đập,
110 Hương Nhục | TT-Thái An
giết lấy thịt rồi còn treo lủng lẳng trình bày “tội ác” thế
này?
Ngày xửa, ngày xưa ở Việt Nam, thịt chó là món ăn bình
dân của người nghèo. Vì nó không tốn tiền mua, chỉ cần
bắt con chó nhà ra mà làm thịt thì có một bữa ăn bồi bổ cho
cả nhà. Nuôi chó lại cũng không tốn thóc tốn cám như nuôi
gà, nuôi lợn; chỉ cần cho nó ăn chất thải của người, hay cho
ăn vớ vẩn mấy thứ bỏ đi. Người nghèo ở Việt Nam ngày
xưa làm gì có cơ hội ăn thịt gà thịt lợn mỗi ngày, tiền đâu
mà mua? Quanh năm họ chỉ ăn rau, ăn cơm độn sắn, độn
khoai; cơ thể luôn thiếu dinh dưỡng, thiếu chất đạm. Vì thế
có được miếng thịt chó để bồi bổ là một niềm hạnh phúc.
Nên thông cảm với họ.
Ngày nay, thịt chó đã trở thành “đặc sản” ở các tỉnh thành
lớn ở Việt Nam. Nó trở thành món thịt đắt hơn các thứ thịt
khác vì càng nhiều hàng thịt chó, càng thiếu nguồn cung
cấp. Cầu nhiều hơn cung thì giá phải tăng lên. Nghề lái
chó trở nên khá giả, hợp thời. Họ buôn chó từ các miền
quê rồi chở ra tỉnh. Người cung cấp chó cho họ có lẽ đi
thâu mua từng xóm, từng làng, cũng có thể do bọn bắt cóc
chó giao cho.
Ở Việt Nam hay bên Tàu đều không có hội bảo vệ súc vật
nên nghề bán thịt chó vẫn tồn tại, dân nhậu vẫn ung dung
ngâm nga câu “Sống trên đời có miếng dồi chó...”
Ở Việt Nam cũng không có luật bảo vệ con người trước sự
tấn công của chó nên vẫn còn chó chạy rông ngoài đường,
trong làng, trong xóm. Nếu có người bị chó cắn thì cũng
phải tự đi bác sỹ khám xem có bị chó dại cắn không, chứ
chẳng ai nghĩ đến chuyện bắt chủ nhân của con chó bồi
thường. Người bị chó dại cắn, lây bệnh chó dại rồi chết,
TT-Thái An | Hương Nhục 111
mọi người khác cho là hắn xui xẻo bị chó dại cắn. Chung
quy cũng chỉ vì không có luật rõ ràng.
Ờ mà, mạng sống và sự an toàn của người dân tại Việt Nam
hay Trung Quốc còn không được bảo đảm trước sự hiếp
đáp, trấn lột của bọn cán bộ địa phương thì hơi đâu bảo vệ
con người trước mõm mấy con chó?
Người Tây phương luôn đề cao con chó là bạn thật của con
người. Con người còn có khi phản bội nhau, nhưng con
chó thì luôn trung thành với chủ.
Người Việt Nam cũng có câu “Con không chê cha mẹ khó,
chó không chê chủ nghèo” để đề cao đức tính trung thành
của chó. Ấy thế mà khi ông chủ nghèo thèm ăn miếng thịt
thì cũng hy sinh con chó trung thành để có một bữa bồi bổ.
Chỉ vì ông chủ thích câu ca dao “Con chó khóc đứng khóc
ngồi, mợ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng” quá chừng đi. Xin
con chó thông cảm với ông chủ nghèo nhé.
Nếu ở miền quê ngoài Trung, ngoài Bắc Việt Nam, người
dân luôn có đủ các thứ thịt gà, vịt, lợn, bò, cá, tôm để ăn
mỗi ngày, thì có lẽ người ta sẽ không nghĩ đến món thịt chó
nữa đâu. Hy vọng là như thế. Ở trong Nam gần sông gần
biển thì cũng còn cá tôm cua ghẹ ăn thường nhật, không
đến nỗi thiếu dinh dưỡng, mà sao mấy ông nhậu vẫn còn
thích thịt chó?
Ở Sài Gòn lúc này cũng có bán thực phẩm nuôi chó như
bên Âu Mỹ. Một số người làm ăn khấm khá nên bắt đầu
nuôi chó kiểng; người nào yêu chó thì cứ yêu. Tuy nhiên,
tiệm bán thịt chó vẫn đắt khách như thường. Có lẽ tâm lý
con người muốn tỏ ra mình sành ăn chăng hay là ăn thịt chó
cũng phát ghiền, không ăn chịu không nổi?
Tỏ ra mình là tay hảo hán, giỏi kinh bang tế thế thì khó chứ
112 Hương Nhục | TT-Thái An
tỏ ra sành ăn thì dễ mà, có chút tiền vào hết hàng này đến
quán kia là “sành ăn” ngay.
Năm con chó có lẽ các tiệm bán thịt chó từ Tàu đến Việt
Nam tha hồ mà hốt bạc. Thiên hạ có cớ rủ nhau đi ăn thịt
chó để xả xui hay kiếm hên gì gì đó.
Nếu có kiếp sau, mấy con chó bị giết làm thịt ở Việt Nam
và toàn cõi Á Châu cố mà đầu thai làm chó ở Tây ở Mỹ
nhé. Tha hồ mà được cưng chiều, cho ăn ngon, mặc đẹp,
nhiều đồ chơi để chơi, đau ốm còn được đi bác sỹ, chết còn
được chôn cất đẹp đẽ nữa.
TT-Thái An
01/03/2018
TT-Thái An | Hương Nhục 113
Kỹ Nữ Xưa Và Nay
TT-Thái An
Kỹ nữ là từ Hán Việt. Xuất phát bên Trung Hoa từ thời
chiến quốc. Ái thiếp của Lã Bất Vi là một kỹ nữ, sau đó
được gả cho vua Tần sinh ra Tần Thủy Hoàng.
Kỹ nữ sống trong các Thanh Lâu, tiếng Việt gọi là lầu
xanh. Có “lầu” thì căn nhà này phải lớn hơn những cửa
hàng nhỏ buôn bán ngoài phố xá.
Phần lớn, các cô kỹ nữ là con nhà nghèo, bị cha mẹ bán cho
thanh lâu từ lúc còn bé, khoảng tám, chín hay mười tuổi.
Chủ thấy đứa nào mặt mày trông xinh đẹp thì mua vào, dạy
cho cầm, kỳ, thi, họa. Đến khi vừa 15 hay 16 là có thể ra
tiếp khách.
Tùy theo tài của từng cô, mà có khách mộ điệu cho riêng
mình. Mỗi lần khách trở lại, là đòi cho bằng được cô ấy ra
tiếp.
Các cô kỹ nữ được xem như tài sản của chủ nhân nên họ
làm việc không có tiền công, có thể xem như một hình thức
nô lệ. Nếu gặp khách hào hoa thì được thưởng cho ít tiền.
Thời đó có câu “Bán tài không bán sắc” để dành cho các kỹ
nữ không bán thân. Như thế số kỹ nữ bán tài và bán cả sắc
có nhiều hơn số chỉ bán tài.
114 Kỹ Nữ Xưa Và Nay | TT-Thái An
Khách đến thanh lâu đa phần là những người đàn ông có
tiền hoặc có quyền, và đã có một hay vài bà vợ.
Vì thời xưa, con trai chưa cưới vợ hãy còn ở nhà cha mẹ,
có làm phụ cha mẹ cũng không được giữ tiền riêng để có
thể đến thanh lâu giải trí. Hơn nữa, phong tục thời xưa gắt
gao với những người còn trẻ mà đã ‘ham chơi”.
Nghề kỹ nữ có thể chỉ kéo dài nhiều lắm là bảy, tám năm,
vì thanh lâu thường xuyên mua vào những bé gái để tập
luyện cho chúng hầu thay thế cho những nàng kỹ nữ sắp
“về hưu”.
Vì thế, số phận các nàng kỹ nữ, nếu may mắn có được một
ông khách bỏ tiền ra chuộc về làm vợ thứ hay tì thiếp thì
sau này có cơ hội sinh con đẻ cái. Tuổi già có chỗ nương
thân, được sống nhờ con. Còn những cô không có ai chuộc
về làm vợ thứ hay tì thiếp, có lẽ khi bị sa thải khỏi kỹ viện,
họ phải kiếm cái miếu, cái chùa nào đó đi tu, sống nhờ bá
tánh. Nói mỹ tự, nếu vào miếu ở thì gọi là sống nhờ lộc
thánh; nếu vào chùa ở thì gọi là nương nhờ cửa Phật.
Bên Trung Hoa, miếu nhiều hơn chùa và miếu lớn bằng
chùa hay lớn hơn cả chùa. Miếu là nơi thờ Quan Công,
Thổ Địa hay các thần Thiện, thần Ác, thần Hỏa, thần Hà
Bá, hoặc các thần dân gian của người Trung Hoa. Trong
khi ở Việt Nam, miếu chỉ là những cái am nhỏ dọc đường,
dọc sông nơi thờ những người chết dọc đường, hoặc chết
đuối ven sông.
Chùa là nơi thờ Phật mà thôi. Nhưng chùa của người
Trung Hoa thờ Phật Thích Ca và thêm nhiều Phật khác.
Từ khi âm nhạc của Âu Châu du nhập vào Trung Hoa, các
phòng trà, vũ trường mọc lên ở các thành phố lơn. Vì thế
xuất hiện bốn nghề mới là nhạc sỹ tân nhạc, nhạc công, ca
sỹ và vũ nữ.
TT-Thái An | Kỹ Nữ Xưa Và Nay 115
Các ông có tiền và muốn học theo cách ăn chơi của Tây
phương thì bỏ lối ăn mặc cổ, khoác lên người bộ Âu phục,
thắt cà vạt, bước vào các vũ trường nghe nhạc và khiêu vũ.
Vì thế âm nhạc cổ truyền, ngâm thơ, hát hò theo lối cổ do
các kỹ nữ cống hiến từ từ mất người thưởng thức và thanh
lâu bị đi vào quá khứ. Nhưng nghề kỹ nữ vẫn tồn tại trên
nước Trung Hoa và ngay cả ở Đài Loan cho đến ngày nay.
Vì họ vẫn dùng từ “kỹ nữ” để gọi những cô gái điếm, chỉ
làm điếm bán thân mà thôi. Vì thế kỹ nữ ngày nay là gái
điếm chuyên bán thân.
Ở Đài Loan, đoàn quân của Trung Hoa Dân Quốc theo
Tưởng Giới Thạch đến Đài Loan năm 1949 đa phần là lính
tráng chưa vợ. Nhiều người trong số này phải ở độc thân
suốt đời vì không kiếm ra đàn bà để lấy.
Vì thế chánh phủ giải quyết vấn đề bằng cách cấp giấp
phép cho mở Kỹ Viện (Tiếng Việt gọi thẳng là Động
Điếm).
Kỹ nữ trong các kỹ viện tân thời, chỉ có phục vụ sinh lý cho
khách, không đàn ca hát xướng gì ở đây. Những cô kỹ nữ
bán dâm trong kỹ viện phải đăng ký để có giấy phép hành
nghề. Các cô này phải đi khám sức khỏe mỗi tháng để
chánh phủ dễ kiểm soát vấn đề an toàn cho khách chơi.
Những kỹ viện này trang trí bằng cách gắn đèn màu chớp
nhá chung quanh mặt tiền y như ở Mỹ gắn đèn màu trước
nhà vào mùa Giáng Sinh. Nhưng đèn mừng Giáng Sinh ở
Mỹ chỉ thắp vào buổi tối. Còn đèn ở kỹ viện thì bật suốt
24/7.
Đến năm 1997, chánh phủ Đài Loan chánh thức đóng cửa
các kỹ viện. Không cấp giấy phép cho hoạt động nữa. Có
lẽ vì con số những người lính độc thân còn sót lại từ thời
116 Kỹ Nữ Xưa Và Nay | TT-Thái An
1949 đã chết gần hết, hoặc nếu còn sống thì cũng đã quá
già, đang nằm trong các viện dưỡng lão chờ ngày chầu tổ
nên không cần duy trì kỹ viện nữa. Nếu có ông nào còn
nhu cầu, thì tự kiếm các kỹ nữ hành nghề tự do.
Tuy không còn kỹ viện, nhưng các bar, quán nhậu, phòng
karaoke, hộp đêm, vũ trường còn đầy dẫy, ngày càng nhiều
hơn, vì thế nghề kỹ nữ vẫn tồn tại và rầm rộ trên đất Tàu và
Đài Loan hơn thời cổ xưa rất nhiều.
Số phận các cô kỹ nữ về hưu tại Đài Loan không đến nỗi
thảm sầu như bên Trung Hoa thời cổ. Vì các cô này tự
nguyện xin làm việc cho các kỹ viện, không phải bị cha mẹ
bán vào. Các cô này ăn chia với chủ động. Nếu gặp khách
sộp thì cho thêm tiền thưởng. Khi giải nghệ, các cô đã có
tiền để dành đủ để mua một căn chung cư và có vốn làm
ăn, mở cửa hàng cửa tiệm.
Như thế, các cô có của “hồi môn” nên lấy chồng dễ dàng.
Làm vợ chánh thức chứ không làm vợ bé hay thê thiếp đâu
nhé.
Các cô gái điếm giải nghệ vẫn hiên ngang mặc áo cưới
trắng tinh, mở tiệc cưới linh đình đâu thua gì đám cưới của
các cô con nhà lành. Ăn mừng lớn cũng phải!
Tại Việt Nam, từ “kỹ nữ” chỉ có trong thơ văn như: “Lời kỹ
nữ đã vỡ vì nước mắt, cuộc yêu đương gay gắt vị làng
chơi” (Lời Kỹ Nữ, thơ Xuân Diệu).
Kỹ nữ trong bài thơ này rõ là một cô “gái điếm” thời xưa.
Thời cổ xưa ở Việt Nam có nghề “Cô Đầu”, hay còn gọi là
Ả Đào. Các cô đầu hát ả đào hay ca trù cho khách thưởng
thức.
Các nhà hát ả đào không to lớn như các thanh lâu bên
TT-Thái An | Kỹ Nữ Xưa Và Nay 117
Trung Hoa. Có lẽ chủ nhân không có vốn để xây cất nhà
gạch cao to. Vì dân chúng không giầu có, không có nhiều
thương gia hay phú ông trong xã hội thời đó. Nên các nhà
hát ả đào không giầu.
Tuy nhiên, các cô đầu thuần túy chỉ hát giúp vui cho khách
là chính. Họ không phải là gái mãi dâm. Nhưng cũng có
những cô đầu trá hình, chỉ hầu rượu và có thể đi khách nữa
nên gọi là cô đầu rượu.
Các cô đầu thuần túy ca hát cũng xuất thân con nhà nghèo.
Có lẽ trên 14 hay 15 cha mẹ mới bán vào các nhà ả đào, vì
không cần nhiều thời gian để học đủ các môn cầm kỳ thi
họa, họ chỉ học hát mà thôi.
Số phận các cô này cũng chỉ cầu mong có được một ông
phú hộ hay một ông tri phủ, tri huyện hay một ông Thông,
ông Phán thời Pháp thuộc rước về làm tì thiếp. Để khi về
già có thể sống nhờ con cái. Cũng như Trung Hoa, khi âm
nhạc Tây phương xuất hiện tại Việt Nam. Các nhạc sỹ bắt
đầu sáng tác theo Tân nhạc. Vũ trường và đài phát thanh
phát đi những bản nhạc tân thời. Số người biết thưởng thức
hát ả đào không còn, thì các địa điểm hát ả đào cũng đi vào
quên lãng.
Cái nghề kỹ nữ hiện đại của Trung Hoa thì Việt Nam gọi là
làm đĩ, làm điếm, tiếng mới gọi là “làm gái”. Công việc
của họ giống như nhau là bán thân.
Thời nay ở Việt Nam, nghề làm gái khá thịnh hành từ Nam
chí Bắc. Vì cha mẹ họ không muốn an phận, để con làm
thuê, cấy cày vất vả mà không được nhiều tiền.
Đi làm gái kiếm được nhiều hơn, may ra còn có tiền cho
cha mẹ xây nhà nhiều tầng. Vì nhìn quanh, thấy cán bộ lớn
nhỏ, công an và công nhân viên bỗng dưng giầu quá, mà
118 Kỹ Nữ Xưa Và Nay | TT-Thái An
mình thì nghèo rớt mồng tơi. Không chịu an phận nữa thì
bất chấp để “vươn lên”.
Tuy nhiên cũng có nhiều cô vướng vào con đường nghiện
ngập nên tự động bước vào con đường bán thân để đổi lấy
ma túy, độc dược.
Việt Nam ngày nay cũng đã có kỹ nam, điếm đực, để phục
vụ các bà trong nước cũng như các bà Việt kiều về nước ăn
chơi.
Sau 1975, văn hóa truyền thống ngàn năm văn vật của Việt
Nam đã bị bào mòn, bị xem là lạc hậu.
Nhưng văn hóa cộng sản cổ súy “Nam Nữ bình quyền” rởm
thì tự do phát triển. Nghĩa là đàn ông chơi kiểu gì, đàn bà
cũng chơi kiểu nấy. Bởi thế, có khối các cô các bà nhậu
nhẹt, hút sách và chơi điếm chẳng thua các ông. Miễn làm
ra tiền muốn mua vui kiểu gì tùy ý. Chủ nghĩa “duy vật”
mà!
Ở Việt Nam ngày nay, ngoài phong trào xuất cảng cô dâu
qua Đài Loan và Nam Hàn ra, còn một đường dây xuất
cảng gái điếm sang Trung cộng cũng rất rầm rộ. Nó không
phải là chánh thức, nhưng có thể xem là “bán chánh thức”.
Đám người tổ chức đường dây này gồm cả hai phía Việt và
Tàu. Vì hơn nửa thế kỷ qua, Trung cộng ra luật một gia
đình một đứa con mà thôi.
Hậu quả là những đứa gái sơ sinh bị cha mẹ chúng cho “đi
chầu tổ” tức thì để cha mẹ chúng có thể sinh đứa khác họa
may kiếm được con trai để nối dòng cho cha nó. Vì thế,
khi đám con trai này lớn lên, nhiều đứa kiếm vợ không ra.
Vì nước Tàu lâm vào tình trạng trai thừa gái thiếu.
Bởi Trung cộng lâm cảnh trai thừa gái thiếu nên con gái
Việt Nam và các nước chung quanh nước Tàu bị bắt cóc
TT-Thái An | Kỹ Nữ Xưa Và Nay 119
bán qua Tàu để làm vợ cho một thằng ế vợ.
Nghe nói giá bán một cô năm 1993 khoảng $1,000 tiền Đô
La Mỹ. Nhưng bắt cóc bao nhiêu cũng không đủ để bán.
Cho nên động điếm bán chánh thức mọc lên ở Trung cộng
nhiều vô số. Gái điếm đa phần là các cô từ Việt Nam và
các nước lân cận đưa qua. Nghe nói các cô điếm này có thể
kiếm được trên dưới $300 Nhân Dân Tệ mỗi ngày. Làm
điếm ba năm ở Tàu có thể đem tiền về Việt Nam xây nhà
lầu. Như thế các cô có “của hồi môn” để đi lấy chồng.
Nhưng nếu trong lúc hành nghề, các cô bị xui xẻo mang
vào người virus HIV thì xem như có bao nhiêu tiền kiếm
được chỉ đủ đem thân về nước để lo việc thuốc thang cầm
chừng, sau đó là lo việc ma chay, chôn cất.
Nếu cô nào tin có luân hồi chuyển kiếp, và tin rằng nhờ
người khác cầu siêu, cúng tế cho thì có thể nhanh chóng
thoát địa ngục, đi đầu thai kiếp khác, thì phải có tiền để lại,
nhờ người nhà kiếm thầy cầu siêu, sao cho “Kiếp sau chớ
có làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”
(Nguyễn Công Trứ) để khỏi phải đi làm đĩ nữa.
Thái Lan là một nước thứ hai ở Á châu được chính phủ cấp
giấp phép mở động điếm công khai.
Không những thế thôi, Thái Lan là một nước đi tiên phuông
trong lãnh vực “Kỹ Nam”, nói nôm na là “Đĩ Đực”.
Ở Thái, có những hộp đêm, tụ điểm vũ sexy do những
người thanh niên, trai tráng biểu diễn. Thoạt trông, tưởng
họ là con gái chánh hiệu. Nhưng họ đẹp hơn các cô ở chỗ
họ cao hơn các cô Thái Lan có chiều cao trung bình; họ trở
thành “người đẹp chân dài”. Ngoài công viên, trên đường
phố, người ta có thể bắt gặp những người đàn ông Tây
phương đang kỳ kèo trả giá với những đĩ đực Thái Lan, mặt
mày phấn son đậm đà. Chưa hết, Thái Lan cũng đi tiên
120 Kỹ Nữ Xưa Và Nay | TT-Thái An
phuông trong lãnh vực “Kỹ Nhi Đồng”. Nói trắng ra là đĩ
nhi đồng.
Những đứa bé gái khoảng 7 đến 10 tuổi con nhà nghèo
vùng núi đồi Chiang Mai được người dưới Bangkok đến
tận làng thu mua với giá khoảng vài trăm đô Mỹ (giá 20
năm trước; năm 2018 có thể lên một ngàn đô la hoặc hơn
chút).
Cha mẹ chúng bán con để lấy tiền tiêu xài hay làm gì chẳng
biết. Chúng được đưa vào các động Ấu Dâm để phục vụ
khách. Chỉ khoảng 5 năm sau là chúng hết được ưa chuộng
vì đã quá cũ xì. Có những đám con gái bé nhỏ khác được
mua về hàng năm để thay thế chúng.
Đám con gái làm đĩ nhi đồng này khi đến lúc bị phế thải,
được trở về cố quán, về nhà cha mẹ.
Chúng trở về với một thân xác bệnh hoạn, một tâm hồn suy
sụp, và một cái túi rỗng không tiền. Vì suốt những năm
làm điếm, tiền thu vào là của chủ.
Giới giang hồ Việt Nam có câu “Dân chơi xứ Thái”. Ý nói
ở Thái Lan, muốn chơi kiểu nào cũng có. Người nào được
gán cho nhãn hiệu “Dân chơi xứ Thái” là thuộc loại cái gì
cũng chơi.
“Ngầu” lắm đấy!
Nhưng phải coi chừng, khoảng 20 - 25 năm trước, tỷ lệ
người bị bệnh AIDS ở Thái Lan đứng hàng nhất nhì thế
giới. Vào đó chơi coi chừng lãnh đủ.
Cambodia cũng chẳng thua Thái Lan trong lãnh vực kỹ nữ
và kỹ nhi đồng. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, kinh tế
chưa phục hồi, dân còn nghèo xơ nghèo xác mà động điếm
đã mọc lên như nấm. Vẫn có vô số đàn ông xếp hàng đi
vào các động. Nghề làm điếm hay làm gái hay làm kỹ nữ
TT-Thái An | Kỹ Nữ Xưa Và Nay 121
đã có từ thời cổ đại xa xưa, có thể nó đã xuất hiện từ khi
con người hình thành xã hội có tổ chức.
Có chánh phủ cho phép công khai, có chánh phủ không cho
phép công khai thì lại nhận hối lộ từ các chủ động, chủ
đường dây gái gọi, gái điếm để nhắm mắt làm ngơ.
Các tổ chức bài trừ tệ nạn điếm nữ, điếm nam, điếm nhi
đồng trên thế giới chẳng mấy đạt hiệu quả. Vì nếu không
có khách mua dâm thì làm sao có điếm bán dâm?
Người mua, kẻ bán, chủ chứa, người dẫn mối, người tổ
chức đường dây, người cho phép, người nhận hối lộ. Thảy
thảy đều có tội như nhau.
Những người có tiền lý sự rằng họ làm ra tiền thì có quyền
dùng đồng tiền cho lạc thú của mình. Người nghèo thì lý
sự rằng vì họ nghèo nên phải kiếm tiền bất cứ cách nào để
sống.
Chỉ trừ khi con người biết sợ tội, sợ sự phán xét cuối cùng
của Đấng Phán Xét tức Thượng Đế hay Đức Chúa Trời, thì
sẽ không dám phạm tội nữa.
Nhưng rất tiếc, người ta cứ tiếp tục phạm tội vì không tin
có sự phán xét sau cùng.
Hoặc người ta tin vào thuyết luân hồi thì tự an ủi rằng kiếp
này không tu được thì xuống địa ngục, đi đầu thai kiếp
khác làm súc sanh rồi tu luyện tiếp cũng bằng lòng.
Hoặc như họ theo thuyết vô thần, chết là hết thì cứ tiếp tục
chơi, hơi đâu mà lo nghĩ nhiều.
TT-Thái An
3/15/2019
122 Kỹ Nữ Xưa Và Nay | TT-Thái An
Mùa Cô Hôǹ
TT-Thái An
Trong miền nam Việt Nam, những năm trước 1975, cứ đến
rằm tháng 7, khoảng bốn năm giờ chiều, những gia đình
người Hoa đã bầy sẵn bàn thờ trước cửa nhà để chuẩn bị
cúng cô hồn. Trên bàn thờ có nhiều đồ ăn mặn, gà luộc,
heo luộc, hoa quả, có vài đĩa đựng gạo sống, một đĩa đựng
nhiều tiền cắc. Họ thắp hương từ chiều.
Khoảng chiều tối từ 6 hay 7 giờ, họ lại thắp hương lần nữa,
cầm hương lên và miệng lâm râm khấn vái. Lũ trẻ con
hàng xóm bu lại chung quanh đứng xem và chờ chủ nhà bố
thí cho các cô hồn mà gọi tắt là “thí cô hồn”. Sau đó họ
cầm đĩa gạo lên hất tung ra phía trước sân. Còn đĩa tiền cắc
thì họ nắm từng nắm hất tung lên phía trước cho lũ trẻ xúm
nhau dành giật. Nhà nào có con đứng chầu dìa trước bàn
thờ thì họ tung tiền cắc về phía các con của họ cho chúng
nhặt được nhiều hơn. Sau đó họ đốt vàng mã để gửi xuống
âm phủ cho thân nhân hay cho các cô hồn đang lang thang
chầu chực.
Cúng kiếng và thí cô hồn xong, họ đem thức ăn vào nhà để
cả nhà cùng ăn tối. Rồi khuân bàn vào nhà cất. Thời đó
không thấy người Việt Nam bầy bàn thờ trước nhà để cúng
cô hồn như người Tàu.
TT-Thái An | Mùa Cô Hồn 123
Vì thế hình như chỉ có người Tàu có phong tục này.
Nhưng bây giờ trong nước có vẻ chạy theo đủ thứ vì chánh
phủ đang cổ xúy loại văn hóa được du nhập tứ Tàu. Vì thế
báo chí trong nước viết bài chỉ vẽ dân cách cúng cô hồn sao
cho phải cách vì sợ dân không biết làm.
Chánh phủ cộng sản Việt Nam thừa biết rằng sau vài chục
năm cấm đoán dân chúng hội họp cúng kiếng rước đình,
rước thần vì đi ngược với giáo điều cộng sản quốc tế, dân
trở nên thiếu thốn về mặt văn hóa và tín ngưỡng. Họ suy ra
rằng, cách ru ngủ dân tốt nhất là cổ súy dân chúng chạy
theo những lễ hội đâm trâu, chém lợn, hội làng này, hội
làng kia thì dân chúng sẽ không để ý đến những cái xấu, cái
tồi tệ của hệ thống cai trị kềm kẹp, độc đảng, độc tài của
đảng cộng sản. Không những thế, dân chúng còn tưởng
lầm rằng lúc này chánh phủ cởi mở hơn thời xưa nhiều, cho
dân được tự do tín ngưỡng nên an tâm mà chạy theo sự xúi
bẫy của đám cán bộ làng xã. Còn đám cán bộ văn hóa thì
được lệnh viết bài xúi dục, dạy bảo dân cách cúng các ngày
lễ hội và ca tụng đó là hành động có văn hóa. Và họ cũng
viết thêm phần quảng cáo cho các dịch vụ du lịch đưa
khách đi tham quan các làng vào những ngày lễ hội.
Nhìn các bà sồn sồn và các cô gái quê ăn mặc áo tứ thân
trong các lễ hội của các làng miền Bắc thì biết ngay đã bị
kỹ nghệ hóa. Áo tứ thân thế kỷ 21 màu sắc lòe loẹt, một
cái áo tứ thân có hai ba màu chõi nhau, mỗi thân áo hay
mỗi vạt áo là một màu khác. Mặt các cô các bà son phấn
như hát tuồng. Cử chỉ nói năng như dân đi buôn hàng
chạy. Chẳng còn thấy vẻ nết na thùy mị của thời “Lỡ Bước
Sang Ngang” của Nguyễn Bính, trước khi cộng sản chiếm
miền Bắc Việt Nam.
Người Trung Hoa lập ra tết Trung Nguyên, rằm tháng 7,
cúng cô hồn từ trước thời Lão Giáo xuất hiện vào thế kỷ
124 Mùa Cô Hồn | TT-Thái An
thứ 4 trước CN. Nó là một loại tín ngưỡng dân gian của
người Tàu. Họ tin rằng tháng 7 là tháng cô hồn, Diêm
vương ra lệnh mở Quỷ Môn Quan vào rằm tháng 7, thả cho
ma quỷ túa ra, về dương thế. Đến 12 giờ đêm hôm đó thì
phải trở về địa ngục. Người ta sợ bị ma quỷ quấy nhiễu
cũng có, muốn làm phước bố thí cho chúng nó cũng có nên
người Tàu lo cúng rằm tháng bảy để được yên ổn. Cũng có
thể, họ nghĩ rằng một ngày nào đó họ cũng sẽ trở thành một
cô hồn lang thang tìm kiếm thức ăn và vàng mã thì sẽ có
người khác cho lại.
Sau này khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, họ dùng
rằm tháng 7 để làm lễ Vu Lan, báo hiếu cha mẹ. Vậy rằm
tháng 7 nguyên thủy của người Tàu hoàn toàn không phải
lễ Vu Lan của Phật giáo.
Riêng tại Thừa Thiên và Quảng Trị, người ta hay làm một
hay hai cái am trước sân nhà, thoạt nhìn tưởng là bàn thờ
Ông Thiên giống như của người miền Nam. Hỏi ra thì mới
biết đó là những cái am cúng những người chết vất vưởng,
không nhà, không ai cúng cho, hoặc cúng những cái thai bị
xảo của bà chủ nhà. Có thể có những chủ nhà còn có ý
cúng cho những người chết dọc đường, chết trong tết Mậu
Thân, trong mùa hè đỏ lửa hay trong suốt cuộc chiến thời
còn Việt Nam Cộng Hòa đang bị cộng sản Bắc Việt tấn
công.
Những nước chịu ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa như
Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam thì cũng theo những ngày
lễ của Trung Hoa như:
Rằm tháng giêng (tết Nguyên Tiêu), người Tàu ăn chè trôi
nước tròn to bằng hai viên bi có nhân đậu đỏ, nhân đậu
phọng hoặc nhân mè đen.
TT-Thái An | Mùa Cô Hồn 125
Và ăn bò bía làm ở nhà còn gọi là xuân cuốn (cái cuốn của
mùa xuân), dùng bánh tráng bột mì của Tàu cuốn năm sáu
thứ rau xào, dưa chua thái sợi xào và xá xíu, lạp sườn, tôm
khô, ruốc khô, trứng chiên, đậu hũ chiên, sau hết cho vào
một muỗng đầy đường trắng và một muỗng đậu phọng rang
đã tán thành bột. Cuốn một cuốn to như trái bắp; ăn hai
cuốn là no ứ hự.
Rằm tháng 5 (tết Đoan Ngọ), ăn bánh ú tro và rượu nếp
(hay cơm rượu) để giết sâu bọ.
Rằm tháng 7, cúng cô hồn
Rằm tháng 8 (tết Trung Thu), ăn bánh trung thu (bánh
nướng). Nhưng miền Bắc Việt Nam lại có thêm bánh dẻo.
Tết Nguyên Đán (tết Âm lịch). Ở Mỹ, truyền thông và dân
Mỹ gọi là Chinese New Year chứ chẳng ai gọi là
Vietnamese New Year hay Korean New Year mặc dù
người Việt và người Đại Hàn vẫn còn ăn tết này.
Riêng nước Nhật, kể từ khi chánh phủ loại bỏ không xử
dụng âm lịch của Trung Hoa từ năm 1873, chuyển sang
dùng Tây lịch, thì tết âm lịch của Tàu đã hoàn toàn bị loại
bỏ từ năm đó. Chánh phủ Nhật không nhìn nhận tết âm
lịch của Tàu như một ngày quốc lễ nữa. Ngươì Nhật đón
năm mới vào ngày 1 tháng 1 của Tây lịch kể từ đó.
Tuy nhiên trong tất cả những cái lễ tết của Tàu, người Việt
Nam chỉ chú trọng tết Đoan Ngọ (rằm tháng Năm), tết
Trung Thu (rằm tháng Tám) và tết Nguyên Đán.
Những nước Á Châu khác như Thái Lan, Campuchia, Lào
thì ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, không dùng đến âm lịch của
Tàu nên không có những cái lễ tết và các ngày rằm của Tàu
và cũng không ăn tết âm lịch của Tàu.
126 Mùa Cô Hồn | TT-Thái An
Người Âu châu có lễ Halloween. Có tên gốc là All
Hallows’Eve, có nghĩa là đêm trước ngày lễ các thánh.
Hallow là tiếng Anh cổ, có nghĩa là “thánh”. Cuối cùng
trở thành Halloween. Lễ có nguồn gốc Công Giáo để
tưởng nhớ những người vừa mới chết mà họ tin là còn ở
ngục luyện tội, chưa được lên thiên đàng, tưởng nhớ các
người và các thánh tử đạo.
Thực ra trước khi Cơ Đốc (Kitô) giáo du nhập vào Âu châu
vào thế kỷ thứ nhất, dân Âu châu cổ đã có các lễ hội mang
tính cách tín ngưỡng dân gian của người Celt và người
Gael. Làm lễ cho những người vừa chết về hưởng ít thức
ăn. Vì thế người ta cho rằng giáo hội Công Giáo thời sơ
khai đã Kitô hóa lễ hội này thành lễ Halloween.
Trong đêm Halloween, các nhà thờ kéo chuông, cầu
nguyện cho các linh hồn đang thanh tầy trong luyện ngục,
làm bánh linh hồn “soul cakes” để trước thềm nhà của
người vừa chết để họ về hưởng và chia cho trẻ em và người
nghèo. Họ cũng đem nến đến thắp trước những ngôi mộ
của người thân vừa qua đời.
Trong thời cải cách Tin Lành ở Âu châu vào đầu thế kỷ 16,
giáo lý về “luyện ngục” bị phản đối và loại bỏ; vì thế người
Tin Lành không cử hành lễ Halloween để cầu nguyện cho
người vừa chết sớm thoát luyện ngục lên thiên đàng hay
làm bánh cho người chết về ăn. Vì người Tin Lành tin vào
Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời và làm theo lời Chúa,
không tin vào tín ngưỡng hay phong tục dân gian để làm
theo.
Ngày nay tại Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) lễ Halloween có
tính cách giải trí và thương mại, trẻ em được mặc quần áo
hóa trang và đi xin kẹo từng nhà. Kỹ nghệ làm kẹo và quần
áo hóa trang có cơ hội buôn bán tốt. Những người trẻ có cơ
TT-Thái An | Mùa Cô Hồn 127
hội đi dạ tiệc hóa trang, vui chơi với bạn bè.
Người Tin Lành ở Hoa Kỳ và Canada vui vẻ mở cửa phát
kẹo cho trẻ em trong đêm 31 tháng 10 vì xem như lễ nhi
đồng, không có tính cách tôn giáo nữa. Họ không trang trí
nhà cửa bằng những hình đầu lâu sọ người hay hình ảnh
các quỷ để mừng lễ Halloween.
Tuy nhiên nhiều người khác vẫn trang trí lễ Halloween theo
như thông lệ.
Nhìn chung từ Âu sang Á, thời cổ xưa khi chưa có những
tôn giáo lớn hình thành hay du nhập từ nước khác vào,
người ta đã tin có linh hồn nên làm ra các lễ để mời đón
linh hồn về ăn uống, chiêu đãi các linh hồn một ngày cho
xoa dịu cả năm bị nhục hình trong địa ngục.
Bởi đâu mà con người biết rằng ngoài thể xác ra, họ còn có
linh hồn? Phải chăng từ thời cổ xưa, con người đã kinh
nghiệm được sự hiện hữu của ma quỷ, là loài không có thân
thể như người sống mà chỉ có những hình ảnh xấu xí và
kinh dị, khi biến khi hiện.
Các hình ảnh kinh dị này đi theo phá phách họ, có khi hiện
ra ngay trong nhà họ lúc đêm khuya hay hiện ra trên con
đường làng, đường huyện lúc đêm vắng ít người qua lại
khiến họ sợ hãi. Mục đích của ma quỷ là hù dọa, làm cho
người ta sợ mà làm bàn thờ cúng tế chúng để chúng có một
chỗ ăn, chỗ ở. Đôi khi có gia chủ phải mời thầy cúng, thầy
pháp đến cúng kiếng, dán bùa trừ tà ếm quỷ.
Thông thường, người ta thường lầm tưởng rằng ma quỷ là
linh hồn của những người chết mà biến thành vì chết nhằm
giờ trùng, giờ xấu hay vì không siêu thoát, chưa đi đầu thai
kiếp khác được v.v.
Nhưng Kinh Thánh của Đức Chúa Trời cho biết rằng ma
128 Mùa Cô Hồn | TT-Thái An
quỷ là quân đội của Satan (Chúa quỷ), chúng nó là những
thiên sứ xa đọa bị Đức Chúa Trời đuổi ra khỏi thiên đường.
Chúng ở đầy dẫy trên không trung và trên quả địa cầu này.
Chúng chẳng phải là linh hồn của những người đã chết biến
thành ma quỷ dù đôi khi chúng giả dạng giống y như người
đã chết cố ý đánh lừa thân nhân người chết để cúng tế
chúng nó.
Chúng có quyền phép biến hóa, hiện ra hù dọa, và có thể
hành hạ con người, phá phách trong nhà của người ta gây
tiếng động ồn ào, vặn nước chảy trong buồng tắm, dựng
đứng giường, kéo bàn ghế hay xúi dục người bị chúng nhập
vào giết người này người nọ v.v.
Đức Chúa Trời đã tạo ra loài người và ban cho linh hồn trú
ngụ trong thân xác người đó cho đến khi xác bị chết, linh
hồn phải đi ra. Nhưng hồn người không được Đức Chúa
Trời cho phép biến thành ma quỷ hay thần thánh. Con
người vĩnh viễn chỉ là người mà thôi cũng như thiên sứ thì
vĩnh viễn là thiên sứ, không bao giờ biến thành người. Dù
cựu thiên sứ trưởng của Đức Chúa Trời là Lucifer có quyền
phép cao đến đâu cũng chỉ ở cấp bậc thiên sứ mà thôi.
Nhưng vì Lucifer không an phận ở ngôi vị của mình, hắn
muốn trở thành Đức Chúa Trời vì nghĩ rằng quyền phép
của hắn cũng ngang hàng với Đức Chúa Trời rồi.
Bởi vì Lucifer kiêu ngạo muốn phá vỡ trật tự ngôi thứ nên
bị Đức Chúa Trời loại bỏ hắn ra khỏi hàng ngũ thiên sứ
thiện, Ngài đuổi hắn và các thiên sứ theo hắn ra khỏi thiên
đường. Và Lucife trở nên thiên sứ sa đọa, còn gọi là Satan,
thiên sứ trưởng của cả bầy thiên sứ sa đọa.
Từ đó Lucifer và bè lũ của mình trở thành thiên sứ ác, mặc
lấy những hình ảnh xấu xí, kinh dị, chuyên đi khắp thế gian
dụ dỗ loài người phạm đủ thứ tội chống nghịch cùng Đức
TT-Thái An | Mùa Cô Hồn 129
Chúa Trời.
Loài người càng văn minh càng chống nghịch Đức Chúa
Trời, chánh phủ phải chiều lòng dân sửa luật cho phép phá
thai đến khi trước ngày sanh một ngày.
Những cái thai bị xảo hay bị cha mẹ nó cố ý lấy ra, hay
những đứa trẻ chết non khi còn bé nhỏ đều được thiên sứ
của Đức Chúa Trời đem về thiên đường nuôi dưỡng. Ma
quỷ không thể bắt những đứa bé này theo chúng. Dưới địa
ngục không có trẻ con.
Đây là một câu chuyện có thật. Có một người thanh niên
Việt Nam sống ở Toronto, Canada. Anh này tên Vinh, bị
hư thận nên phải đi lọc thận một tuần ba lần. Vì thế anh
không muốn nghĩ đến việc lập gia đình.
Nhưng khi gần bốn mươi tuổi, anh gặp một cô Việt Nam,
tên Ánh, hai người yêu nhau và kết hôn với nhau. Họ có
được một đứa con trai, gia đình thật hạnh phúc.
Khi đứa con được bảy tuổi, người vợ rủ chồng dẫn con về
Việt Nam thăm gia đình bên vợ. Vì thương vợ con nên anh
đi theo. Trước khi đi, anh đã liên lạc với bệnh viện tại Sài
Gòn cho xe đến đón anh tại phi trường Tân Sơn Nhất khi
vợ chồng anh vừa đến nơi để chở anh vào bệnh viện lọc
thận ngay tức khắc.
Cuộc lọc thận thứ nhất thành công, anh vui vẻ ra về đi chơi
với vợ con. Hai hôm sau anh phải trở lại nhà thương để lọc
thận lần nữa. Lần này thì anh đi luôn về thiên đàng với
Chúa. Vợ anh làm hỏa thiêu cho anh rồi đem tro rải xuống
biển y như có lần anh đã nhắc đến, rồi dẫn con về Canada.
Một ngày Chúa Nhật hai chị em cô Ánh dẫn hai đứa con
trai của họ đi nhà thờ như thường lệ, nhưng hôm đó có một
ông mục sư ở xa đến thăm hội thánh.
130 Mùa Cô Hồn | TT-Thái An
Sau khi giảng xong, ông mục sư mời gọi những người có
nhu cầu cần cầu nguyện thì bước lên.
Hai đứa con trai của hai chị em cô Ánh bước lên, một đứa
lên bẩy, một đứa lên tám. Ông mục sư hỏi:
- Hai cháu muốn xin Chúa điều gì?
Đứa anh họ trả lời:
- Con muốn xin Chúa cho con gặp dượng Vinh con.
Đứa trẻ ngây thơ xin một điều mà chưa ai dám xin. Ông
mục sư thấy nó thành thật quá nên cũng đặt tay lên vai nó
và cầu nguyện Chúa ban cho nó được như điều nó nài xin.
Tức thì nó thấy mình được lên thiên dàng, gặp Chúa Jesus
mặc áo trắng toát và dượng Vinh đứng phía sau Chúa.
Chúa xoa đầu nó, và dượng Vinh nói với nó khi trở về thế
gian nhớ nghe lời mẹ và thương mẹ.
Khải tượng thiên đàng mà Chúa cho nó thấy chỉ vài giây
thôi, rồi biến mất.
Nó vui vẻ kể lại cho mọi người chung quanh nghe, còn bảo
rằng áo của Chúa màu trắng nhưng đẹp hơn áo trắng của
dượng Vinh.
Em họ nó là con của anh Vinh nghe thấy thế liền thưa với
ông mục sư:
- Xin ông mục sư cầu nguyện Chúa cho con được gặp ba
con!
Ông mục sư lại đặt tay lên vai đứa bé bẩy tuổi con của anh
Vinh mà cầu nguyên với Chúa. Ngay lúc đó nó thấy mình
được lên thiên đàng, gặp Chúa Jesus và cha nó, nó chạy
đến ôm lấy cha. Anh Vinh nói với nó rằng:
TT-Thái An | Mùa Cô Hồn 131
- Ba thương con lắm, con phải thương mẹ và nghe lời mẹ
luôn.
Khi nó ra khỏi khải tượng thiên đàng liền vui vẻ kể cho mọi
người nghe. Nó rất sung sướng vì gặp lại cha và biết chắc
rằng sau này khi nó lìa đời nó sẽ lên thiên đàng và gặp lại
cha nó.
Có một bà cụ tuổi tám mươi đang đứng gần đó nghe thấy
hai đúa bé kể chuyện vừa được đi thăm thiên đàng, bà thích
quá liền nói với mục sư:
- Xin ông mục sư cầu nguyện Chúa cho tôi được đi thăm
thiên đàng.
Liền lúc đó bà nghe tiếng Chúa phán bên tai bà:
- Con sắp được lên thiên đàng rồi, cần gì mà phải đi thăm!
Bà bật cười thành tiếng vì nhận ra mình đã già lắm rồi,
chẳng còn sống bao lâu trên đất nữa. Bà cảm thấy Chúa
thương yêu bà quá, dù bà xin một điều thật trẻ con nhưng
Chúa cũng giải thích cho bà hiểu lý do Chúa không cho bà
đi thăm thiên đàng.
Và sự giải thích của Chúa cũng xác nhận rằng bà sẽ lên
thiên đàng với Chúa ngay sau khi bà lìa đời.
Ấy thế mà bà còn sống đến ngày nay, tám mươi bẩy tuổi
rồi. Đối với Chúa, “sắp” không có nghĩa là vài ngày, vài
tuần hay vài tháng. Nó chỉ có nghĩa số ngày còn lại của bà
cụ trên mặt đất này rất ngắn so với khoảng thời gian bà đã
sống 80 năm.
Hai đứa bé kia được Chúa cho đi thăm cha và dượng trên
thiên đàng vì Chúa muốn xác định với chúng rằng thiên
đàng có thật để nâng đỡ đức tin cho chúng.
132 Mùa Cô Hồn | TT-Thái An
Sau này khi chúng lớn lên Chúa có thể sẽ dùng chúng cho
công việc của Ngài.
Người tin Chúa theo các giáo phái Tin Lành hay cả nhóm
người Công Giáo Về Nguồn không tin vào giáo lý “Ngục
Luyện Tội”, nghĩa là sau khi chết phải vào đó một thời gian
để luyện cho hết tội rồi mới lên thiên đàng.
Vì thế đám tang của người Tin Lành không buồn thảm mà
là một khởi sự cho một đời sống vĩnh cửu trên thiên đàng,
hưởng bình yên của nước Trời đời đời trong sự hiện diện
của Đức Chúa Trời và con Ngài là Chúa Jesus Christ.
Bởi huyết của Chúa Jesus đã đổ ra một lần, thân thể của
Ngài đã tan nát và chết trên thập tự giá một lần là đủ để
hoàn tất luật pháp của Đức Chúa Trời, chết thay cho tội
lỗi của nhân loại.
Sự hy sinh của Chúa Jesus có quyền năng để chuộc tội cho
những ai tin đến Ngài. Ngài cứu người ta khi còn đủ thứ
tội vấn vương rồi giúp người ta sống theo ý Ngài, là ý của
Đức Chúa Trời, trong lành, thánh thiện. Chúa không bắt
người ta làm lành trước rồi mới cứu họ sau.
Kinh Thánh, sách Lu-Ca, đoạn 23 chép lại:
Khi Chúa Jesus đang bị treo trên thập tự giá, có hai tên
trộm cũng bị treo ở hai bên thập tự, một tên mắng nhiếc
Ngài rằng: “Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự
cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!”
Nhưng tên trôm kia trách nó rằng: “Ngươi cũng chịu một
hình phạt ấy còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần
chúng ta chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc
ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác.”
TT-Thái An | Mùa Cô Hồn 133
Câu 42: Đoạn lại nói rằng: “Hỡi Jesus, khi Ngài đến trong
nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!”
Câu 43: Đức Chúa Jesus đáp rằng: “Quả thật, ta nói cùng
ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.
Chúa cứu tên trộm cướp này vào giờ phút sau cùng của
hắn, hắn được Chúa cho đi thằng lên thiên đàng. Hình ảnh
hai tên trộm bị treo hai bên Chúa Jesus cũng là hình ảnh
của hai loại người.
Một người không ăn năn và chỉ nghĩ đến sự sống của thể
xác.
Một người ăn năn và lo nghĩ cho sự sống của linh hồn
mình.
Trong mùa lễ các vong hồn, thay vì chỉ lo bố thí cho các
quỷ hay các cô hồn có đồ ăn, đồ dùng, người ta cũng nên lo
nghĩ đến linh hồn của mình sau khi lìa thể xác có một chỗ
về xứng đáng, bình an vĩnh cửu thì hơn.
Chúa phán trong Kinh Thánh rằng “Linh hồn nào có phước
sẽ trở về nơi sinh ra nó”
Đức Chúa Trời sinh ra thể xác và linh hồn của con người.
Vậy “về nơi sinh ra nó” có nghĩa là về nơi Đức Chúa Trời
ngự, tức là về Thiên Đàng.
TT-Thái An
10/14/2017
134 Mùa Cô Hồn | TT-Thái An
Nguồn Gôć Bań h Tổ
TT-Thái An
Người Việt Nam ăn tết không thể thiếu bánh chưng, bánh
tét. Thì người Trung Hoa ăn tết không thể thiếu bánh
“Niên Cao” mà sau này người Việt chỉ còn gọi là bánh tổ.
Người Trung Hoa dùng gạo nếp chế biến ra bánh niên cao
từ thời cổ đại xa xưa, khi mà người ta còn tin vào các
chuyện hoang đường hay huyền thoại.
“Niên” có nghĩa là năm, “Cao” có nghĩa là bánh. Vậy,
Niên Cao có nghĩa là bánh tết, bánh ăn vào dịp tết. Nhưng
vì chữ bánh “cao” có cùng một âm với chữ “cao” thấp, nên
có thể ngầm hiểu rằng bánh “niên cao” là bánh “cao niên”,
có nghĩa là thêm tuổi thọ; và người Trung Hoa cho rằng
đồng âm cũng mang lại vận tốt như ý muốn. Bởi thế, người
Trung Hoa bất cứ tỉnh nào (Quảng Đông, Quảng Tây,
Phước Kiến, Tiều Châu, Đài Loan v.v), đều làm cho bằng
được bánh niên cao để bầy cúng trên bàn thờ vào ba ngày
tết. Sau tết bánh đã khô cứng thì đem xuống cắt ra từng
miếng dầy khoảng 2 phân mà đem chiên cho bánh dẻo lại
để dễ ăn.
Ngày nay, người Hoa còn chế ra cách ăn cho bánh có mùi
vị đậm đà hơn bằng cách pha một chén bột mì với nước và
trứng, cho thêm muối vào quậy đều rồi nhúng những miếng
bánh niên cao đã cắt lát vào, đem chiên cho chín lớp bột áo
này thì bánh phía trong cũng đã mềm dẻo, vớt ra ăn nóng
TT-Thái An | Nguôǹ Gôć Bánh Tổ 135
rất ngon.
Bánh “niên cao” theo chân những người Trung Hoa di dân
vào Việt Nam theo nhiều đợt. Thoạt đầu, họ làm bánh niên
cao để ăn vào ngày tết nguyên đán vì đó là phong tục của
họ. Nhưng, lớp người di dân này đa phần rất nghèo khó lúc
đầu, họ phải nghĩ ra cách buôn bán những sản phẩm của họ
để kiếm sống. Như thế, rất nhiều loại bánh trái hoặc các
món ăn bình dân của họ cũng được phổ biến rộng rãi tại
miền đất họ mới đến định cư. Vì thế, nơi nào có nhiều
người Trung Hoa đến định cư, nơi đó có bánh niên cao bấy
bán trong những ngày tết. Có lẽ, người Trung Hoa khi bán
bánh niên cao cho người Việt Nam, họ không giới thiệu nó
cho người Việt Nam bằng cái tên nguyên thủy vì hơi khó
gọi. Họ chỉ giới thiệu với khách hàng Việt Nam rằng bánh
này để cúng tổ. Vì thế người Việt Nam chỉ gọi “Bánh Tổ”
mà không biết đến nguồn gốc tên thật của nó và ý nghĩa ăn
bánh “niên cao” để được “cao niên.”
Dưới đây là một trích dẫn về bánh niên cao của người
Trung Hoa. Truyền thuyết con yêu quái tên “Niên” nghe
có vẻ như một loại “commercial” hay quảng cáo thời nay.
Thời xa xưa đó, muốn có một nghề để sanh sống không
phải là dễ, khi đã phát minh ra một món ăn nào để bán thì
phải dấu nghề hoặc ráng mà phổ biến nó để được buôn may
bán đắt. Còn truyền thuyết thứ hai thì có vẻ chính trị,
khuyên dạy dân.
“年糕(nián-gāo, rice cake; new year cake)
Về nguồn gốc của bánh gạo năm mới của Trung Quốc, có
một truyền thuyết rất cổ xưa.Trong thời cổ đại có một con
quái vật được gọi là "Niên", quanh năm sống trong rừng
sâu, đói khát thường bắt động vật để ăn.Trong khi vào mùa
đông, hầu hết động vật đều trú đông nên "Niên" khi đói,
136 Nguồn Gôć Bánh Tổ | TT-Thái An
thường xuống đồng bằng , cướp người làm thực phẩm, làm
cho mọi người sợ hãi. Sau đó, một bộ tộc thông minh mang
họ Cao “Gao 高“ gọi là "Cao-tộc", vào mùa đông sau khi
thu họach đồng áng xong đã đem ngũ cốc xay nhuyễn
thành bột nấu chín thành từng miếng bỏ trước cửa nhà còn
người thì ẩn nắp trong nhà ."Niên" đến tìm người để ăn, do
quá đói lại không tìm thấy người nên đành ăn tạm các
miếng thực phẩm của người làm bỏ ngòai hiên cho đỡ đói ,
ăn no và sau đó trở về núi. Mọi người nhìn ra thấy quái vật
đã biến mất, tất cả đều ra khỏi chổ ẩn núp chúc mừng lẫn
nhau, vui mừng khi thoát khỏi bị con Niên ăn thịt và chuẩn
bị cho bước vào mùa xuân.
Từ đó về sau dân làng học theo làm bánh gạo theo nhà họ
Cao để cho “Niên”ăn sau này gọi quen thành 糕 = 高 (đồng
âm). và còn tập tục đốt pháo múa lân cũng vậy , mục đích
là đuổi con “Niên” về rừng sâu! Nên gọi là “Qua Tết” “Tất
Niên”
Còn 1 thuyết nữa là thời chiến quốc Ngô vương Phù Sai
không nghe lời khuyên tướng quốc Ngũ Tử Tư (Thời Phạm
Lãi -Tây Thi) nên bị Việt Vương Câu Tiển làm mất nước,
người dân lầm than đói khổ – nhớ lúc Ngũ Tử Tư còn sống
có căn dặn khi mất nước, đói thì tới Từ Thành chân tường
thành đào sâu 3 thước sẽ tìm thấy lương thực! Nên khi đói
dân chúng và binh sĩ đã tới đào quả nhiên tìm được lọai
bánh làm từ gạo nếp hình dạng giống viên gạch để xây
tường thành nên về sau có sức lực đã đánh thắng trận. Để
tưởng nhớ công ơn của Ngũ Tử Tư phòng giac từ trước ,
người dân Từ Thành hằng năm đã làm bánh này để tưởng
nhớ Ông.
Trên đây là 2 thuyết về nguồn gốc bánh niên cao (年糕)
của Trung Hoa.
TT-Thái An | Nguồn Gốc Bánh Tổ 137
Hằng năm khi Tết đến Xuân về người Hoa thường dùng
bánh này để cúng tạ Thần Linh Tổ Tiên là để chúc mừng
thêm 1 tuổi (vì thóat khỏi bị con Niên ăn thịt), trẻ nhỏ cao
lớn, người già được cao niên (sống lâu: 糕 = 高 cao (đồng
âm).
Bánh Tổ 年糕 = 高年 cao niên.”
Đọc qua hai truyền thuyết trên, có thể, có vài người ngạc
nhiên vì nguồn gốc Bánh Tổ xuất phát từ bánh Niên Cao
của người Trung Hoa, và nó có nguồn gốc rất lâu đời chứ
chẳng phải là một loại bánh mới phát minh vài chục năm
nay.
Tôi đã đọc vài bài về bánh tổ do các người viết báo trong
nước sau 1975 tìm hiểu và giới thiệu người làm nghề bánh
tổ. Tuyệt nhiên họ không nhắc đến xuất xứ xa vời của nó.
Có lẽ vì tự ái dân tộc, hay vì tự ái vùng.
Thời buổi này, cái từ ngữ “đặc sản” bị lạm dụng hơi nhiều.
Nhất là khi kỹ nghệ du lịch phát triển mạnh, vùng nào cũng
ráng tìm ra những “đặc sản” của mình để quảng cáo hầu
chứng minh được “ta cũng có cái riêng đặc biệt của ta” để
thu hút khách du lịch. Những người làm bánh tổ trên nước
Việt ngày nay đa số là con cháu mấy đời của các lưu dân
người Hoa.
Một số người Việt Nam cũng học được cách làm bánh tổ và
tiếp tục sản xuất bánh này, thật ra chỉ bán mỗi năm một
mùa vào dịp tết nguyên đán.
Riêng thành phố Hội An trong tỉnh Quảng Nam là một phố
cổ của người Hoa, có thể gọi Hội An là một China Town
thời xưa. Ngày nay, những con cháu ba, bốn, năm đời của
những người Trung Hoa tại Hội An hầu như đã Việt Nam
hóa, nhưng bánh tổ vẫn bầy bán ngoài chợ quanh năm. Họ
138 Nguồn Gốc Bánh Tổ | TT-Thái An
dùng lá chuối xếp tròn, lấy tre ghim lại để làm khuôn bánh.
Riêng tại Trung Hoa hay Đài Loan, Hồng Kong, và trong
các gia đình Hoa Kiều sống rải rác trên thế giới, nhiều nhà
tự làm bánh niên cao lấy. Các bà các cô ngâm gạo nếp một
đêm, hôm sau xách thùng gạo nếp đã ngâm ra hàng sữa đậu
nành xếp hàng để nhờ xay thành bột nếp (vì có rất nhiều
người đem gạo nếp đi xay nên phải xếp hàng). Vì hàng sữa
đậu nành có máy xay đậu loại công nghiệp nên sẵn sàng
xay lấy tiền công.
Sau đó các bà đem về nhà trộn bột nếp này với đường thẻ
đã nấu tan với nước, rồi đổ vào khuôn tròn bằng tre có lót
giấy bóng kính hay lá trúc khô đã bôi dầu. Đem hấp đến
chín rồi rắc mè rang lên trên. Khi bánh nguội đem ra khỏi
lồng thì có hình tròn. Bầy bánh lên đĩa rồi đặt lên bàn thờ
để cúng ba ngày tết. Các bà các cô nếu quá bận đi làm,
không có thì giờ tự làm bánh niên cao thì mua ở chợ. Chợ
bán hàng tết lúc nào cũng có bánh niên cao đủ cỡ lớn nhỏ.
Đường kính từ 15 đến 18 cm.
Văn hóa ẩm thực có tính cách giao lưu, thức ăn di chuyển
từ vùng này qua vùng kia vì nhiều lý do hay phương tiện.
Riêng những nước ở Á châu có nhiều di dân từ Trung Hoa
qua thì không thể không chịu ảnh hưởng ẩm thực từ những
người di dân này. Bánh “Niên Cao” đã theo những người
Hoa đợt Minh Hương và những đợt đi riêng rẽ vào miền
trung và miền nam nước Việt.
Riêng miền Bắc Việt Nam, tuy chịu gần một ngàn năm Bắc
thuộc, bánh Niên Cao/Bánh Tổ vẫn không hiện diện tại
những chợ tết hay trong gia đình, có lẽ nó không hấp dẫn
đối với người miền Bắc. Cũng có thể nó xuất hiện dưới
dạng bánh dầy, cũng hình tròn như bánh tổ, nhưng không
pha với đường mật, đường thẻ nên bánh dầy chỉ có mầu
TT-Thái An | Nguồn Gôć Bánh Tổ 139
trắng. Riêng ở miền Bắc, các vùng gần biên giới Trung
Hoa, người ta làm bánh nếp pha đường thẻ, lót lá chuối hấp
trong một cái chõ (cái xửng) to. Khi bánh chín có đường
kính to lớn như cái chõ. Họ cắt ra từng miếng to, cân rồi
bán cho khách. Họ chỉ gọi là bánh nếp, nhưng màu sắc và
nguyên liệu thì ăn như bánh tổ.
Sự tích bánh dầy bánh chưng bầy cúng trong ngày tết là cái
bánh dầy to lớn như bánh tổ, nhưng lâu ngày dân miền Bắc
không hảo bánh dầy ngọt lắm, nên cải cách lại thành cái
bánh dầy tròn trịa, bé và mầu trắng, khi ăn kẹp với giò lụa
hay chả chiên. Vì cái bánh dầy còn lại bé xíu nên người
miền Bắc không cúng bánh dầy nữa. Còn bánh dầy ngọt
cũng được cải biến bé lại và được gọi là bánh mật.
Tuy bánh tổ không lan tràn khắp cả các tỉnh thành Việt
Nam, nhưng nó cũng xuất hiện nhiều nơi ở miền Nam và
miền Trung trong các chợ tết. Ngày nay, qua báo chí trong
nước, nó còn được đưa lên hàng bánh “đặc sản” của vài
vùng. Và người Việt Nam biết đến nó qua cái tên “Bánh
Tổ”.
Cám ơn Tất C Hòa đã giúp cho tài liệu về bánh tổ của người
Trung Hoa.
TT-Thái An
11/ 2015
140 Nguồn Gốc Bánh Tổ | TT-Thái An
Những Người Việt Luân Lac̣ ..
Trên Đất Taù Từ Giữa Thế Kỷ 20
TT-Thái An
Đầu tháng Bẩy năm 1975, khi vừa rời trại tị nạn Busan, Đại
Hàn, đến Đài Loan định cư, ở tận cuối đảo, về phía nam.
Mấy chị em chúng tôi và mẹ rất buồn chán, bơ vơ và lạc
lõng.
Lúc còn ở trong trại thì còn người Việt Nam chung quanh,
còn nói tiếng Việt mỗi ngày, chưa thấy thấm thía nỗi buồn
luân lạc như lúc này.
Tuy là xứ Á châu, nhưng ngôn ngữ và chữ viết hoàn toàn
khác. Chưa kể là con người và văn hóa cũng hoàn toàn
khác biệt. Khi ra đường, chúng tôi như câm, điếc và mù
chữ. Tất cả chúng tôi ai cũng thất vọng vì không có người
Việt chung quanh. Chúng tôi chỉ ao ước gặp được vài
người Việt Nam để bớt lẻ loi, trơ trọi. Mẹ nhớ lại vào
khoảng năm 1973, 1974, báo chí tại Sài Gòn có đăng tin
chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc cấp học bổng cho một số
sinh viên Việt Nam qua Đài Loan du học. Mẹ nhờ bố hỏi
thăm xem có ai biết trường đại học nào có sinh viên Việt
Nam không. Vài người bảo rằng phải lên Đài Bắc, đến
trường Đại Học Đài Loan kiếm xem, họa may ra gặp.
TT-Thái An | Nhưñ g Người Việt Luân Lac̣ .. 141
Gần một năm sau, bố mẹ tôi đón tàu lửa để lên Đài Bắc.
Từ phía nam cuối đảo đi lên phía bắc, đầu đảo, phải ngồi
tàu lửa một đêm, sáng ra là đến nơi. Từ ga tàu lửa Đài Bắc,
bố mẹ tôi còn phải đón taxi đến trường Đại Học Đài Loan.
Đây là một trường đại học đệ nhất hạng trong tất cả các
trường đại học của Đài Loan. Dân bản xứ phải thi tuyển
vào rất khó.
Xe bỏ bố mẹ tôi xuống cổng trường. Bố mẹ bước vào, sân
rộng, đường dài, nhiều dãy nhà ngang dọc, chẳng biết đâu
mà lần. Cũng may gặp được vài cô cậu sinh viên sốt sắng
dẫn đường cho khách đang muốn kiếm đến văn phòng.
Nhân viên văn phòng cũng tốt bụng mở sổ sách ra tra tìm
rồi cho người đưa bố mẹ tôi đến một túc xá có vài sinh viên
Việt Nam ở đó.
Bố mẹ tôi và họ gặp nhau, mừng mừng tủi tủi như quen
biết đã lâu. Họ là những sinh viên Việt Nam qua Đài Loan
du học theo học bổng của chánh phủ Đài Loan cấp. Họ đi
làm hai hay ba đợt, mỗi đợt vài người, và mỗi đợt cách
nhau một năm. Sau 30 tháng Tư năm 1975, một số sinh
viên có thân nhân chạy ra được, qua Mỹ hay các nước Âu
Châu tị nạn, đã bảo lãnh cho họ đi. Số còn lại, không ai
bảo lãnh nên còn sót lại ở Đài Loan.
Sau đó, vài sinh viên này dẫn bố mẹ tôi đến thăm một vài
bác Việt Nam lớn tuổi khác đã cư ngụ ở Đài Loan gần ba
mươi năm. Họ là đợt người Việt Nam đầu tiên đến Đài
Loan từ thời Tưởng Giới Thạch thua cộng sản Mao Trạch
Đông và rút lui khỏi Trung Hoa lục địa năm 1949, đến Đài
Loan cắm dùi. Đó là gia đình bác Quang và bác Phong.
Bác Quang cho bố mẹ tôi số điện thoại của ba bà Việt Nam
khác cũng ở thành phố Cao Hùng gần chúng tôi. Các bà
này cũng đến Đài Loan cùng một thời gian với các bác ấy.
Nhờ chuyến đi tìm kiếm đồng hương người Việt ở Đài Bắc
142 Những Người Việt Luân Lạc.. | TT-Thái An
của bố mẹ mà gia đình chúng tôi bớt cô quạnh, lẻ loi.
Về đến Cao Hùng, hôm sau mẹ gọi ngay cho bà Chuyền.
Bà Chuyền nghe mẹ giới thiệu thì vui vẻ mời đến chơi
ngay. Bà Chuyền khoảng gần năm mươi tuổi. Chồng bà
là người Đài Loan, theo quân đội Nhật qua Việt Nam từ
thời đệ nhị thế chiến, quen bà ở Hải Phòng và lấy bà. Sau
khi Nhật hàng đồng minh năm 1945, chồng bà trở về Đài
Loan và dẫn bà theo. Bà có mấy người con lớn, có gia đình
và ở riêng. Gia đình bà vừa đủ sống, nhưng hạnh phúc.
Bà Chuyền dẫn bố mẹ tôi đi thăm hai bà kia. Hai bà này
lấy chồng người Trung Hoa lục địa. Chồng các bà này là
lính của Tưởng Giới Thạch qua miền Bắc Việt Nam để
tước vũ khí Nhật khi Nhật hàng đồng minh năm 1945; gặp
hai bà này cưới làm vợ và đem theo về Tàu. Khi Tưởng
Giới Thạch rút lui khỏi Trung Hoa lục địa năm 1949, qua
Đài Loan, thì hai ông này được theo đoàn quân rút lui.
Vì là cựu chiến binh nên họ được quân đội cấp dưỡng suốt
đời, đời sống được bảo đảm, tuy không dư giả, nhưng
không phải lo lắng. Một trong hai bà này, một bà tên
Hoàng, bán thịt bò ở chợ mỗi ngày, đời sống sung túc và
hạnh phúc với chồng. Hai vợ chồng bà không có con nên
xin hai người con nuôi từ nhỏ. Năm đó hai con đã lớn, đã
có gia đình và ở riêng. Bà kia đông con hơn và cũng hạnh
phúc lắm. Các con bà đã có gia đình, đem cháu ngoại về
cho bà giữ mỗi ngày để chúng đi làm. Bà thường mời mẹ
tôi đến chơi và ngủ lại nhà bà cuối tuần. Rất tiếc, tôi chưa
gặp qua bà này nên không nhớ tên.
Thực ra mà nói, số lính đi theo Tưởng Giới Thạch qua Đài
Loan năm 1949, chỉ có một số ít có vợ con đem theo. Còn
thì đại đa số còn độc thân hay không đem vợ con theo
được. Nên sau này, số binh lính này trở thành những người
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lac̣ .. 143
độc thân suốt đời vì con số phụ nữ tại Đài Loan thời đó
không đủ đáp ứng cho con số đàn ông độc thân từ Trung
Hoa lục địa qua. Vì thế, ông lính nào có vợ thì phải biết
quý vợ là phải rồi. Như thế làm sao gia đình không hạnh
phúc! Sau này tôi gặp một gia đình khá đặc biệt, người
chồng là bác sỹ quân y theo quân Tưởng Giới Thạch qua
Đài Loan, dáng người cao ráo, nước da trắng trẻo, đẹp trai
và ít nói. Nhưng bà vợ của ông là một phụ nữ Đài Loan,
xuất thân con nhà nghèo, không được đi học bao giờ nên
mù chữ. Đã thế, dung nhan lại quá kém, nước da ngăm
ngăm, nổi tiếng nhiều chuyện.
Hai vợ chồng là hai thái cực, từ hình thức đến nội dung.
Vậy mà họ sống với nhau đến răng long đầu bạc. Không
phải chỉ có một gia đình đặc biệt này thôi đâu, tôi còn gặp
hoặc nghe nhiều về những gia đình đại khái như thế. Đó là
những năm 1940-1950 ở Đài Loan, đàn bà hiếm hoi, có thể
ví như “gạo châu, củi quế”
Cả ba bà này đều là người miền Bắc. Từ khi theo chồng
đến Đài Loan, các bà mất hết liên lạc với gia đình vì Đài
Loan không bang giao với cộng sản Bắc Việt nên không
thư từ qua lại được. Các bà bảo rằng khi còn tòa đại sứ Việt
Nam Cộng Hòa thì thình thoảng ông bà Sứ (người Việt
Nam tại Đài Loan thời đó vẫn gọi theo lối cổ “Ông Sứ, Bà
Sứ” chứ không gọi ông bà Đại Sứ) có xuống Cao Hùng
thăm các bà nên cũng được an ủi lắm. Nhưng từ khi mất
miền Nam, tòa đại sứ VNCH đóng cửa, các bà thấy bơ vơ
vì không còn tòa đại sứ để liên lạc. Được biết viên đại sứ
sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa tại Đài Loan là ông
Nguyễn Văn Kiểu, anh ruột của Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu.
Từ lúc biết chúng tôi, bà Chuyền hay nhờ con trai út chở xe
gắn máy đến thăm bố mẹ tôi mỗi tuần một lần, vào buổi tối,
144 Những Người Việt Luân Lạc.. | TT-Thái An
khi con bà có thì giờ. Anh này là con út nên còn trẻ, chưa
có gia đình, làm việc ở công xưởng. Bà luôn mặc áo xường
xám dài qua đầu gối một tí, chân mang giầy bít gót cao
bốn, năm phân.
Lúc đầu tôi hơi thắc mắc tại sao bà là người Việt Nam mà
lại mặc xường xám. Vì tại Đài Loan, chỉ có cô dâu hay
mấy bà lão gần 70 trở lên mới mặc xường xám mà thôi.
Còn ra, các bà các cô khi ra đường mặc toàn áo đầm theo
Tây phục. Sau này nghe bà nói khi bà còn ở Hải Phòng, ra
đường luôn phải mặc áo dài quen rồi, bà không quen mặc
đầm, nên mặc xường xám ít thấy kỳ cục hơn.
Ngạc nhiên hơn nữa khi bà nói về gốc gác của bà. Bà
Chuyền kể cha mẹ bà là người Nhật chính cống, qua Việt
Nam sinh sống, mở tiệm ăn tại Hải Phòng. Bà sanh ra tại
Hải Phòng và là con độc nhất. Lớn lên đi học trường Việt,
nói tiếng Việt là chính. Tiếng Nhật chỉ biết sơ sơ. Năm bà
mười bẩy tuổi, cha mẹ đã qua đời hết. Bà hoàn toàn bơ vơ,
không họ hàng thân thích. May sao, bà gặp một ông người
Đài Loan theo quân đội Nhật qua Hải Phòng nên lấy ông
này để có nơi nương tựa.
Khi hỏi ra tên tiệm ăn của bố mẹ bà, bố tôi nhận ra ngay là
người quen cũ. Bố tôi quen với bố mẹ bà và gặp bà từ lúc
bà còn ở nhà với bố mẹ ở Hải Phòng. Bà Chuyền cảm
động vì có người biết đến bố mẹ của bà. Bà nói tiếng Việt
y hệt như người Việt chánh cống. Nếu bà không nói đến lai
lịch của bà, thì chẳng ai ngờ bà là người Việt gốc Nhật. Bà
luôn nhận mình là người Việt Nam. Bà xem những người
Việt Nam khác sống trên đảo Đài Loan là đồng hương của
bà và bà rất quý họ. Vì thế cho nên bà và hai bà Việt Nam
kia rất thân với nhau.
Con bà Chuyền rất tốt với mẹ, đưa mẹ đến nhà tôi, ngồi yên
TT-Thái An | Nhưñ g Người Việt Luân Lạc.. 145
cho mẹ nói chuyện tiếng Việt với bố mẹ tôi. Dù không
hiểu tí gì, anh cũng yên lặng, bình thản ngồi chờ. Thỉnh
thoảng em trai tôi hỏi thăm anh thì anh vui vẻ trả lời. Lúc
này chị em tôi đã bập bẹ nói được tiếng Quan Thoại do các
người hàng xóm và những người làm chung trong hãng
xưởng chỉ cho.
Sau hơn ba năm ở Đài Loan, bố mẹ tôi lại ra đi. Bà Chuyền
và hai bà kia mất đi vài người đồng hương đến muộn.
Năm 1978, khi dọn lên Đài Bắc, tôi lại có cơ hội tiếp xúc
với các bác Quang, bác Phong nhiều hơn. Ngoài hai bác
này, còn có bác Minh và bác Thắng. Nhưng hai bác kia tôi
chỉ gặp vài lần và nghe nói sơ về họ mà thôi. Tất cả các
bác này đều đọc thông viết thạo chữ Tàu vì chịu khó tự học
và vì ở Đài Loan đã gần ba mươi năm rồi.
Nghe bác Phong kể chuyện lại, ngày xưa thời kháng Pháp,
bác Phong và các bác Quang, bác Minh đều là học sinh vừa
học xong trung học, bỏ đi kháng chiến chống Pháp vì lòng
yêu nước và phong trào kháng Pháp đang dâng lên cao. Có
lần tôi hỏi bác Phong, thời đó các bác theo đảng gì để
kháng Pháp, bác trả lời là đảng Đại Việt Dân Chính.
Nhưng vừa đánh Pháp, vừa phải đối phó với Việt Minh.
Các bác đã bị Việt Minh đánh, rượt đến gần biên giới Tàu.
Cuối cùng các bác phải vượt biên sang Tàu. Từ đó sống
đời lưu vong! Trên xứ Tàu, các anh em liên lạc với người
lãnh đạo của mình đã ở sẵn bên Tàu từ trước. Và họ đã ở
chung với nhau.
Bác Phong kể, người lãnh đạo ấy đã lấy vợ người bản xứ
khi lưu vong trên xứ Tàu và có hai con, một trai, một gái.
Người vợ của vị lãnh đạo này mỗi ngày bán rau ngoài chợ
kiếm được chút tiền mua vài lon gạo để nấu cháo cho gia
đình và tất cả các anh em cùng ăn. Khi kể lại, bác Phong
còn vẻ bùi ngùi, thương cảm, vì người lãnh đạo của bác
146 Những Người Việt Luân Lac̣ .. | TT-Thái An
không cho các con được phần cháo nhiều hơn các chiến sỹ
của mình. Bác nói: “Chúng nó cũng chỉ được phần bằng
chúng tôi mà thôi, nên cả hai đứa cùng xanh xao, ốm yếu.
Trông hai cánh tay của cái Múi và thằng Cường gầy gò,
xương xẩu thật đáng thương!”
Khi đảng cộng sản do Mao Trach Đông lãnh đạo thắng
quân Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch làm Tổng
Thống năm 1949, Tường Giới Thạch bắt buộc phải đem tàn
quân rút lui khỏi Trung Hoa lục địa, chạy qua Đài Loan.
Trước khi rút quân, người của họ Tưởng có lòng giúp đỡ
cho người lãnh đạo của đảng Đại Việt đang sống lưu vong
được mấy cái vé cho cả gia đình xuống tàu qua Đài Loan.
Nhưng người lãnh đạo này đã làm một nghĩa cử sau cùng
của một người lãnh đạo, đó là nhường hết vé xuống tàu cho
các chiến hữu của mình. Còn ông và gia đình cùng một số
anh em khác không có vé xuống tàu chịu ở lại Trung Hoa
luc địa, mặc cho cộng sản xử thế nào tùy ý. Khi bác Phong
kể đến đây, mặt bác vẫn còn vẻ đăm chiêu, tư lự.
Trước khi đánh Pháp, đảng cộng sản có tên là Việt Minh,
chúng lo thanh toán những đảng phái quốc gia khác.
Chúng biết đặt ưu tiên thứ tự, các đảng khác là kẻ thù số
một, Pháp là kẻ thù sau rốt. Trong khi các đảng khác như
Đại Việt, VN Quốc Dân Đảng dù biết rằng cục diện thế
giới đang xoay vần, đảng cộng sản quốc tế đang muốn bành
trướng thế lực và hùa giúp đảng cộng sản Việt Nam ra sao,
nhưng họ không tàn ác với bọn Việt Minh như bị Việt
Minh tàn ác với họ.
Đã thế, họ cũng không lừa bịp dân chúng như đảng Việt
Minh đã làm, là dùng cái chiêu bài “San bằng giai cấp, lấy
của người giầu cho người nghèo và vì người giầu có nợ
máu với nhân dân nên phải đòi nợ bằng cách đấu tố cho
chết hết hoặc ít ra cũng phải trở thành những người vô gia
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lac̣ .. 147
cư” đi đến đâu cũng bị xua đuổi, giở sống giở chết v.v.”
Việt Minh còn đề cao, tán dương những người thuộc thành
phần thấp kém nhất xã hội để xử dụng họ vào những việc
thủ tiêu, đấu tố, làm “thẩm phán” của “Tòa Án Nhân Dân”.
Thế nên, những người đang mặc cảm mình thuộc giai cấp
hèn hạ, bị xã hôi xem thường, bỗng dưng được đề cao,
đánh bóng thành người hùng cách mạng, có công với cách
mạng v.v ai lại không mê tít thò lò? Dân chúng ở các làng
quê bị Việt Minh lừa bịp và chạy theo chúng. Thôi thì, vận
nước tới hồi mạt! Thằng ác lên cai trị và biến dân thành
một lũ ác theo khuôn mẫu của chế độ cộng sản chuyên
chính.
Rốt cuộc, sau khi thanh toán một số lớn các đảng Đại Việt,
Việt Nam Quốc Dân Đảng, và các đảng phái khác, đảng
cộng sản Việt Minh “được độc quyền” kháng Pháp. Việt
Minh đã lừa đảo được dân chúng toàn quốc rằng chúng nó
yêu nước hơn các đảng khác và chỉ có chúng có công giải
phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của Pháp. Đại đa số dân trí
thời đó còn quá thấp, dễ bị lừa, xả thân lót đường cho đảng
Việt Minh leo lên đài chiến thắng và cai trị cách tàn ác,
man rợ trên chính dân tộc mình. Sau đó thì bộ mặt thật của
đảng cộng sản lòi ra.
Đó cũng là lý do tại sao chính sách nguyên thủy của cộng
sản là giết hết thành phần trí thức hoặc khổ sai lưu đày họ,
vì thành phần này khó bị mắc lừa sẽ cản trở những âm mưu
đen tối của đảng cộng sản.
Trên thực tế, thời đó, chế độ thực dân đang bị suy thoái.
Những nước thuộc địa Anh hay Pháp đều được trả độc lập
chẳng cần đổ máu. Riêng đảng cộng sản Việt Nam muốn
dùng xương máu của toàn dân để xây dựng một nước Việt
Nam cộng sản nên cố tình phát động phong trào kháng
chiến chống Pháp, làm tiêu hao biết bao là xương máu của
148 Những Người Việt Luân Lạc.. | TT-Thái An
những người trai trẻ và những người dân vô tội. Một công
hai việc, vừa lấy được công trạng đuổi Pháp, vừa chiếm
được quyền cai trị trên một dất nước vừa thoát cảnh đô hộ.
Thằng dân chết bớt vài triệu người thì cũng chẳng sao,
miễn sao tập đoàn cộng sản đạt được mục tiêu nắm quyền
cai trị trên một dân tộc còn ngơ ngác chưa thực sự biết đến
Tự Do Dân Chủ là gì. Đảng tha hồ nhồi nhét một mớ lý
thuyết cộng sản vào đầu dân chúng, dễ dạy biết bao! Bởi
cộng sản chỉ muốn dùng những người ngu dốt dễ dạy, nên
thành phần có vẻ khó dạy đã bị thanh toán hết bằng cách
thanh trừng, đấu tố, thủ tiêu hay tù đày khổ sai. Máu chảy
thành sông, xương chất thành núi là như vậy! Đây là mô
hình chung của đàn anh cộng sản Nga, truyền cho cộng sản
Tàu, rồi cộng sản Tàu truyền lại cho đàn em cộng sản Việt
Nam. Chẳng có gì mới mẻ! Có thể nói cái từ “Cộng sản”
đồng nghĩa với xảo quyệt, tàn ác, vô nhân tính và man rợ!
Trở lại với Bác Phong, dáng người vừa tầm, nói năng nhẹ
nhàng. Từ khi đến Đài Loan, bác Phong dùng luôn cái bí
danh thời kháng chiến của mình là Nguyễn Phong để làm
tên chánh thức trên giấy tờ.
Tên thật của bác là Phó-Đức Thính, sinh quán tại Hà Nội.
Vì bác viết tiếng Pháp, tiếng Anh thông thạo nên kiếm việc
làm trong một hãng mậu dịch ở Đài Bắc thời đó rất dễ. Vì
dân Đài Loan bị Nhật đô hộ gần năm mươi năm, nên thời
đó họ chỉ học chữ Nhật, không học Anh văn, Pháp văn, nên
khó kiếm được người giỏi hai ngôn ngữ này. Họ trả lương
cho bác cao, việc lại nhẹ nhàng, thích hợp với bác.
Thời còn tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa, có người làm
trong tòa đại sứ giới thiệu cho bác một người cháu gái ở
Việt Nam. Bác xin nghỉ làm vài tuần để về Việt Nam cưới
vợ. Nhưng khi gặp mặt cô kia, bác thấy không thích lắm
nên chỉ ở lại thăm gia đình người anh ruột đã di cư vào Sài
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lac̣ .. 149
Gòn năm 1954. Và bác đi phòng trà nghe ca nhạc mỗi tối
rồi trở về Đài Loan. Bác sống độc thân cho đến già, đến
chết.
Về phần bác Quang, đơn giản hơn bác Phong. Quê bác ở
Nam Định. Năm bác gần bốn mươi tuổi, có người trong
tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa giới thiệu cho bác một cô
cháu ở Việt Nam mới qua chơi. Bác thấy người Việt Nam
là bác chịu ngay, dù nhan sắc cô này chỉ vừa đủ nhìn thôi.
Có lần bác kể cho tôi nghe hai bác là người cùng tỉnh, chỉ
cách một cái làng mà thôi nên quen biết họ hàng gần xa của
nhau. Ấy thế mà vợ chồng bác hạnh phúc, sinh được hai
con trai, đứa nào cũng học giỏi và ngoan. Đã thế, cả hai
đứa đều cao lớn và đẹp hơn bố mẹ nhiều.
Hai bác kèm con nói tiếng Việt rất kỹ, ở nhà phải nói tiếng
Việt với hai bác. Hai bác còn gửi mua cả sách tập đánh vần
chữ Việt để dạy hai con. Bác trai luôn nhắc nhở các con từ
khi chúng vừa lên trung học, rằng phải lấy vợ Việt Nam để
giữ giống nòi, đứa nào lấy vợ Tàu là bác tự tử! Nhưng ở
Đài Loan thời đó kiếm đâu ra hai cô Việt Nam cho hai con
bác?
Bác Phong và bác Quang rất thân nhau. Bác Phong thuê
một căn chung cư gần nhà bác Quang để tiện liên lạc. Từ
nhà bác Phong đi bộ qua nhà bác Quang độ vài ba phút vì
chỉ cách nhau một con hẻm. Ở Đài Bắc, đa số là nhà chung
cư, vì đất hẹp người đông nên ít ai có nhà riêng. Chung cư
của hai bác ở gần trung tâm thành phố nên thuộc loại trung
lưu. Bác Phong có thể mua một căn chung cư để ở, nhưng
bác vẫn giữ quốc tịch Việt Nam nên không được mua bất
động sản. Có lẽ bác biết trước sẽ chẳng có hậu tự để thừa
kế gia sản của mình nên bác chẳng cần mua nhà làm gì.
Hai bác ít khi qua nhà nhau, chỉ liên lạc trong điện thoại.
Mồng một Tết thì thế nào bác Phong cũng qua nhà bác
150 Những Người Việt Luân Lac̣ .. | TT-Thái An
Quang chúc tết. Hoặc thỉnh thoảng bác Quang mời bác
Phong qua nhà dùng cơm. Các bác vẫn giữ nề nếp sinh
hoạt cổ xưa của người miền Bắc, nên không gặp nhau để
nhậu.
Bác Quang là mẫu người đàn ông của gia đình nên chẳng
bao giờ đến nhà bác Phong xoa mạt chượt vào cuối tuần.
Bác Phong tuy không phải là người mê đánh mạt chượt,
nhưng hễ có người Việt Nam đến nhà bác vào cuối tuần rủ
đánh là bác gật đầu ngay. Cho nó đỡ buồn! Nhưng không
phải cuối tuần nào nhà bác cũng có sòng mạt chượt.
Sau năm 1981 hay 82, chánh phủ Đài Loan cho phép trao
đổi thư từ với Việt Nam. Bác Quang gái thỉnh thoảng lại
đóng thùng gửi quà về miền Bắc Việt Nam cho em gái út
của bác trai.
Bác trai bảo rằng vì cô ấy là con gái mà phải thay bác, là
anh trai cả, nuôi bố mẹ, vì bác bỏ nhà đi kháng chiến từ trẻ,
nên bác muốn trả ơn lại cho em.
Một hôm bác Phong cũng nhận được thư của người chị dâu
từ Sài Gòn gửi qua xin tiếp tế. Vì anh bác đã qua đời,
người chị dâu một mình cáng một đàn con rất vất vả. Bác
Phong không rành việc mua sắm và đóng thùng nên qua
nhà bác Quang, đưa tiền cho bác gái nhờ lo giùm. Bác còn
dặn bác Quang gái rằng: “Khi nào bác đóng thùng gửi quà
về Việt Nam thì xin bác đóng giùm tôi một thùng như thế
nhé! Tốn bao nhiêu tôi xin gửi lại bác.”
Bác Quang gái bận làm giò chả bỏ mối một tuần bẩy ngày.
Nếu phải đi mua sắm bác phải nhín thì giờ ra đi vội rồi về
ngay để còn giờ ngồi cân hàng, đóng gói thùng. Nhưng
không nỡ từ chối nên phải bấm bụng nhận lời. Bác Quang
trai hiểu ý vợ nên ngồi cười trừ.
TT-Thái An | Những Người Việt Luân Lạc.. 151