TÌM HIỂU PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRỐNG DỒNG CỔ VIỆT NAM
MỤC LỤC. Lời mở đầu. Trang PHẦN THỨ NHẤT. TÌM HIỂU CÁC THỜI ĐẠI VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM 1. Dẫn nhâp. 9 2. Văn hóa Sơn Vi 10 3. Văn hóa Hòa Binh. 12 4. Văn hóa Bắc Sơn. 23 5. Văn hóa Phung Nguyên. 24 6. Văn hóa Đồng Dậu. 30 7. Văn hóa Gò Mun. 30 8. Văn hóa Đông Sơn. 34 9. Văn hóa Sa Huỳnh. 40 PHẦN THỨ HAI. TÌM HIỂU NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI NHẤT VỀ KHẢO CỔ. Chương I. Ánh sáng mới trên một quá khứ lãng quên. 49 Chương II. Kim tự tháp Yonaguni. 67 Chương III. Thiên Đàng ở Phương Đông. 87 (Eden in the East ).. …………………...…………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………... …………………...
TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. Lương Kim Định: Sứ Điệp Trống Đồng. Thanh Niên Quốc Gia xuất bản, 1984. 2. Lương Kim Định: Kinh Hùng Khải Triết. An Việt xuất bản. 3. Nguyễn Đăng Thục: Lịch Sử Triết Học Đông Phương.Duy Nhất tái bản, 1961. 4. Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam Chích Quái. Văn Học, Hà Nội, 1990. 5. Nguyễn Duy Cần: Dịch Học Tinh Hoa. Xuân Thu xuất bản. 6.Nguyễn Thiếu Dũng: Một phát hiện mới về Kinh Dịch: Trung Thiên Đồ. Thông tin khoa học ĐH DL Duy Tân tháng 5/1999. 7. Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam. Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam, 1973. 8. Stephen Oppenheimer: Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia. Nhà xuất bản Phoenix (London), 1998. 9. Wilhelm G Solheim II: New Light on a Forgotten Past. Naional Geographic, Vol.139, No.3 Tháng 3 năm 1971. 10. Wells S, Available online at: genographic/nationalgeographic.com/About; Retrieved on June 1rst, 2014 11. Lê Văn Siêu: Việt Nam Minh Sử. 2006. 12. Đại Nam thục lục tiền biên. 273 PHN TH BA. TÌM HIU PHÁT HUY GIÁ TR TRNG NG C VIT NAM Chng I. i cng v trng ng cfl Viffit Nam. 1. Mô tffl s qua trng ng Ngffc Lfi. …………151 2. Phân loi các trng ng cfl. …………………... 152 3. Các trng ng Viffit Nam nfli ti!ng ……… ...159 Chng II. Nh"ng giá tr# truyn thng v$n hóa Dân t%c Viffit. …………………………………….. 163 PHN TH T. NHNG GIÁ TRI N I B T CA TRNG NG C VIT NAM. Chng I. Giá tr# truyn thng v$n hóa dân t%c Viffit. …………………………………………… 185 Chng II. Giá tr# v Kinh D#ch. …………………….. 207 Chng III. Giá tr# v Nguyffit l#ch vn niên cfl xa nh&t v'i 18 con chim……. 237 Chng IV. Gía tri ghi li chiu quay trái &t cách nay khofflng 10 ngàn n$m………….. 263 Chng V Gía tr# ghi li nn v$n minh cfl xa c*a vùng Sundaland. …………………….. 267 TÀI LI+U THAM KH,O. …………………. 275
LỜI MỞ ĐẦU. Những thành quả khảo cổ: của Bà Madelaine Coloni người Pháp về văn hóa Hòa Bình vào năm1923, và của các cuộc khảo cứu khai quật một số địa điểm ở vùng Đông Nam Á từ 1965 đến 1966 do đoàn thám hiểm Đại Học Hawaii kết hợp với Thái Lan, mà giáo sư Tiến sĩ Willhelm G. Solheim II phụ trách, đã làm cho các nhà khảo cổ rất chú ý đến vùng Đông Nam Á. Rồi mới đây, người ta đã khám phá ra một vùng đất bị ngập chìm ở biển Đông, ngang Bắc Việt,Việt Nam, do trận Đại hồng thủy xảy ra cách nay khoảng 10 ngàn năm, đã có những chứng tích của nền văn minh cổ xưa, mà điển hình là kim tự tháp Yonaguni vừa được phát hiện ở dưới biển gần Đài Loan. Từ đó, bác sĩ Stephen Oppenheimer người Anh, đã nghiên cứu công phu về khảo cổ và đối chiếu kỹ lưỡng với các di truyền, ngôn ngữ, huyền thoại, kỹ thuật v.v. liên quan đến khảo cổ thế giới, liên quan đến các thời đại băng hà, ông đã viết quyển Thiên Đàng ở phương Đông ( Eden in the East), và cho rằng: Đông Nam Á (gồm có Miến Điện, Thái Lan, Lào, Căm bốt, Việt Nam và bán đảo Mã Lai) chính là cái nôi của nền văn minh nhân loại ngày nay. Bác sĩ Stephen Oppenheimer đã gọi vùng đất bị ngập chìm đó là vùng Sundaland (gồm Bắc Việt, châu thổ sông Dương Tử, và một phần thềm lục địa biển Đông), và cho rằng khi vùng đất này bị ngập chìm, các cư dân từ nơi đó đi khắp nơi đã vun đắp những nền văn minh vĩ đại ở phương Tây ngày nay. Trong lúc đó, có một số cư dân đã đi vào Đông Sơn và đã ghi lại nền văn minh cổ xưa trên trống đồng cổ Ngọc Lũ, 1 Hơn nữa, tuổi thọ thật sự của nền văn minh Lạc Việt được khắc trn trống đồng Ngọc Lũ phải tồn tại v pht triển vo cuối kỷ băng h ( 10,000-BC_5000-BC), vì như vậy mới ph hợp với sự thay đổi trục quay của Tri Đất v cc chim nghiệm thin văn được khắc ghi trn mặt trống. Vì Kim tự thp Yonaguni nằm trong thềm Nanhailand, nn nhiều khả năng đy l cơng trình của người Việt xưa. Ngồi ra trn thế giới, cĩ nhiều cơng trình “kỳ lạ” như cc tượng ở đảo Phục Sinh, cc Kim tự thp Ai Cập v cc cơng trình của cư dn chu Mỹ, trước khi phương Ty biết đến vng đất ny, cho ta những lin tưởng về sự giao lưu văn minh giữa vng đất Thin Đng v cư dn tại cc vng đất khc trn thế giới. Trong huyền thoại của một số nền văn minh cổ đại cĩ nĩi đến trận Đại Hồng Thuỷ, về những người từ phương Đơng đến v đem theo những tri thức ảnh hưởng đến sự pht triển của họ, điều đĩ cũng cho php chng ta nghĩ đến một thời kỳ pht triển v giao lưu văn minh giữa những vng đất pht triển vo thời kỳ cuối kỷ băng h với vng đất thin đng tại Đơng Nam cổ : Sundaland v Nanhailand. Lịch sử văn minh thế giới cổ đại cần được viết lại, khơng phải bắt đầu từ những nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Lưỡng H, Hy Lạp, Trung Hoa, Incas, Maya, Aztec,… Đy l những nền văn minh pht triển sau kỷ băng h v thừa hưởng cc thnh tựu của nền văn minh tồn tại trong v cuối kỹ băng h : Atlantis hay Thin Đng phương Đơng của cc dn tộc Đơng Nam , trong đĩ cĩ những đĩng gĩp lớn của cư dn Lạc Việt cho sự pht triển thin văn, triết học, nơng nghiệp v phương tiện lưu trữ tri thức, khơng loại trừ cả hệ thống ký tự cổ, một sự hợp nhất giữa cc ký tự tượng hình tồn thể v sự lắp ghp của chng để diễn đạt những ý tưởng truyền tải. 272
Hình. Mặt trống đồng Ngọc Lũ. Nền văn minh m Plato nĩi đến, Atlantis, thực sự tồn tại trn thềm Nanhailand v Sundaland (Kim tự thp Yonaguni l một bằng chứng, cơng trình ny phải được xy dựng vo cuối kỷ băng h, để khi nước biển dng ln khoảng 8000-BC, cơng trình bị chìm xuống biển như hiện trạng ngy nay), v trống đồng của người Việt thì tìm thấy kh nhiều tại khu vực ny, nn cấu trc vịng cung của Atlantis v trống đồng nhất định cĩ mối lin hệ. Lưu ý l mơ phỏng Atlantis đ theo kiến trc phương Ty. Cũng dễ hiểu vì hồi đầu người ta tưởng rằng Atlantis nằm ở Đại Ty Dương. Nhưng hình chụp địa hình của vệ tinh đ khẳng định khơng cĩ vng đất bị nhận chìm no ở Đại Ty Dương đủ lớn để con người pht triển văn minh. Nhưng bn đảo Đơng Nam cổ thì cực kỳ hợp lý. Việc khm ph ra cấu trc cĩ hình dạng của một kim tự thp đang được xy dựng dưới vng biển gần đảoYonaguni, vốn l một phần của thềm lục địa Nanhailand đ bị nhận chìm xuống biển vo cuối kỷ băng h, l một minh chứng hng hồn cho nền văn minh từng tồn tại tại “vng đất thin đng” Đơng Nam cổ. 271 cách nay khoảng 10 ngàn năm. Thời gian này biết dược là do phương hướng trục xoay của Trời Đất được ghi trên mặt trống đồng cổNgọc Lũ. Việt Nam thuộc vùng Sundaland, có văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn đã đóng góp chủ yếu cho Đông Nam Á, là cái nôi của nền văn minh nhân loại ngày nay. Việt Nam ở giữa Đông Nam Á, là Trung Tâm cội nguồn văn minh thế giới. Nên trống đồng cổ Việt Nam đã chứa đựng tư tưởng cội nguồn văn minh thế giới. Trống đồng cổ Ngọc Lũ là cổ vật tiêu biểu nhất cho nền văn hóa của Việt tộc. Nó đã được cả thế giới biết đến, và đã xếp nó vào trống đồng cổ Đông Sơn Loại I là loại lâu đời nhất trong 4 loại trống đồng cổ tại Đông Nam Á. Trống đồng cổ Đông Sơn Loại I được tìm thấy phần nhiều ở Việt Nam (khoảng 100 trống). Nên người ta đã gọi trống đồng cổ Đông Sơn Loại I là trống đồng cổ Việt Nam. Trống đồng cổ Việt Nam có 4 chiếc nổi tiếng nhất là trống đồng cổ Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà (tức Moulié), Sông Hồng (tức Khai Hóa). Nhưng trống đồng cổ Ngọc Lũ là chiếc đẹp nhất. Đặc biệt, trống đồng cổ Ngọc Lũ đã chứa đựng những giá trị truyền thống văn hóa dân tôc Việt, mà tổ tiên ta đã dùng để hướng dẫn dân tộc ta được hạnh phúc thành công chiến thắng xâm lăng. Suốt chiều dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến, tổ tiên ta đã dùng những giá trị truyền thống tuyệt vời này được ghi trên trống đồng cổ Ngọc Lũ, để hướng dẫn dân tộc ta được khỏe mạnh hạnh phúc thành công chiến thắng xâm lăng. Và đã sáng tạo văn chương nghệ thuật kỳ tài. Nhờ đó, dân tộc ta mới không bị đồng hóa sau hàng ngàn năm do Tầu đô hộ. 2
Giá trị chủ yếu của trống đồng cổ Ngọc Lũ là Đạo Ba tức là Trời Đất Người hòa hợp, là Tam Tài, là triết lý Nhân Bản, đã được tổ tiên ta ghi lại trên trống đồng cổ Ngọc Lũ, mà ca dao ta đã ca ngợi: Cố sao giữ trọn Đạo Ba, Sau dù có thác cũng là thơm danh. Đạo Ba là Chân lý sáng ngời của dân tộc ta. Đạo Ba là triết lý Nhân Bản, mà xưa kia các tôn giáo chính như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo đã dùng làm đạo giáo, nhưng cách hành đạo khác nhau, nên đã được gọi là Tam giáo đồng nguyên. Ngoài ra, ngày nay trống đồng cổ Ngọc Lũ còn là quyển Kinh Dịch và là quyển Âm lịch cổ xưa nhất với 18 con chim, để hướng dẫn dân tộc ta biết phương hướng, ngày tháng năm, thời tiết tốt, rất cần thiết cho mùa màng, đánh cá, đi săn, và cho đời sống hàng ngày . Để phát huy Chân lý sáng ngời của dân tộc ta, và để Bảo tồn văn hóa dân tộc Việt, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu và sưu tầm các tài liệu để viết quyển “Tìm hiểu phát huy giá trị trống đồng cổ Việt Nam” Dù sao Quyển sách này cũng không tránh khỏi mọi khuyết điểm. Vậy có điểm nào sai sót, kính xin Quý vị và các bạn chỉ giáo cho. Xin chân thành cảm tạ. Cali ngày 10 tháng 8 năm 2009. 3 Do đó, khi vùng đất Sundaland bị ngập chìm, có một số cư dân đã đi vào Đông Sơn và đã ghi lại nền văn minh cổ xưa trên trống đồng Ngọc Lũ. Bởỉ vậy, trống đồng Ngọc Lũ được coi là cổ vật đã ghi lại nền văn minh cổ xưa của vùng đất bị ngập chìm ở biển Đông. Nền văn minh của dn tộc khắc trn mặt trống đồng Ngọc Lũ, văn minh Lạc Việt, tồn tại vo thời điểm xy dựng kim tự thp Yonaguni, vì trng hợp về thời điểm hiện diện. (Chứ khơng phải bản thn ci trống, vốn cĩ thể được đc lại khi người Việt di chuyển vng đất sinh sống từ thềm lục địa bị chìm vo su trong đất liền). Hình. Mô phỏng thành phố Atlantis mà Plato mô tả. Ngoài ra, theo nhà hiền triết Plato đã mô tả lục địa Atlantis có một nền văn minh cổ xưa vào thời trước ông khoảng 9000 năm, đã phát triển khoa học kỹ thuật đến dỉnh cao tột độ, là một quốc gia vĩ đại hùng cường, đột ngột đã bị biến mất do thiên tai ngập chìm. Theo sự mô tả của Plato, hình dạng của lục địa Atlantis có hình dạng tròn rất giống hình dạng được ghi trên trống đồng Ngọc Lũ. Do đó, người ta đã cho rằng lục địa Atlantis chính là vùng đất bị ngập chìm Sundaland ở biển Đông. 270
GIÁ TRỊ GHI LẠI NỀN VĂN MINH CỔ XƯA. Trống đồng Ngọc Lũ được coi là cổ vật đã ghi lại nền văn minh cổ xưa của vùng đất bị ngập chìm ở biển Đông. Mới đây người ta đã tìm thấy một vùng đất bị ngập chìm ở thềm lục địa biển Đông, ngang Đông Sơn Việt Nam, thuộc Đông Nam Á, do trận Đại hồng thủy xảy ra vào cuối kỷ Băng hà khoảng 8000 BC. Vùng đất bị ngập chìm này có chứng tích của một nền văn minh cổ xưa, mà đặc điểm là Kim tự tháp Yonaguni được phát hiện ở dưới biển gần Đài Loan. Bác sĩ Stephen Oppenheimer người Anh, tác giả quyển Thiên Đàng ở phương Đông, đã nghiên cứu Thời đại Băng hà, dựa vào những thành qủa khảo cổ tại Đông Nam Á, đối chiếu kỹ lưỡng các tài liệu khảo cổ thế giới về mọi lãnh vực, ông đã xác định Đông Nam Á (gồm có Miến Điện, Thái Lan, Lào, Căm Bốt, Việt Nam và bán đảo Mã Lai), chính là cái nôi của nền văn minh nhân loại ngày nay. Bác sĩ Oppenheimer đã gọi vùng đất bị ngập chìm đó là vùng Sundaland (gồm Bắc bộ Việt Nam, châu thổ sông Dương Tử, và một phần thềm lục địa biển Đông), và ông cho rằng khi vùng đất này bị ngập chìm, các cư dân từ nơi đó đi khắp nơi đã vun đắp những nền văn minh vĩ đại ở phương Tây ngày nay. Việt Nam thuộc Đông Nam A . Dân Việt cổ đã sống và phát triển ở vùng Sundaland. Như thế, chứng tỏ nguồn gốc dân tộc và đất nước Việt Nam đã phát xuất từ vùng Sundaland là vùng có nền văn minh cổ xưa rực rỡ. 4 269
Hà Anh Phương. 268 5 TIỂU SỬ CỦA HÀ ANH PHƯƠNG. Hà Anh Phương tên thật là Nguyễn Duy Hạp sinh ngày10-8- 1930 tại Tân mỹ, Kim Sơn, Ninh bình (Bắc Việt). Con ông Nguyễn Duy Đàm và bà Phạm Thị Mai. Cháu nội của cụ Bá Kỳ Phát Diệm,Kim Sơn, Ninh bình, và cháu ngoại của cụ Tú Khới vùng duyên hải Kim Sơn. Hồi nhỏ học trường Phát Diệm. Khi lớn học trường Dũng Lac, Hà nội . Có bằng Tú tài đậu ưu. Có vợ 4 con.
Chương V. GIÁ TRỊ GHI LẠI NỀN VĂN MINH CỔ XƯA. 6 267 * N ăm 1954, bị động viên Khóa V Sĩ Quan Trừ Bị Th ủ Đức tại Saìgòn. Ra trường n ăm 1955, v ới c ấp b ậc Thi ếu úy. N ăm 1970, được th ăng c ấp Thi ếu tá và gi ữ ch ức v ụ Ti ểu đoàn trưởng Ti ểu Đoàn Y ểm Tr ợ T ổng Quát Truy ền Tin ở C ủ Chi , Saigon Vi ệt Nam. * N ăm 1975, đi tù C ộng s ản 7 n ăm. Được th ả v ề, đi vượt biên tới đảo Galang (Indonesia) n ăm 1985. Đến M ỹ ngày 17-9-1986 N ăm 1991, đoàn t ụ v ới v ợ con và s ống t ại Santa Ana, CA. Trong th ời gian ở Galang, đã tham gia Ban Đại Di ện Người Vi ệt và ph ụ trách Chương trình V ăn hóa v ăn ngh ệ vào cu ối tu ần. T ới M ỹ, đã nghiên c ứu vi ết quy ển “Hướng v ề v ăn hoá dân t ộc Vi ệt”và “T ừ ng ục tù C ộng S ản đến xây dựng tương lai”, Đã được nguy ệt san Xây D ựng ở Texas đăng toàn b ộ vào n ăm 1987, 1988 . Sau đó, vi ết quy ển “Bí quy ết trường sinh kh ỏe m ạnh”, quy ển « K ế ho ạch phát tri ển Đường hướng Tu ổi tr ẻ Vi ệt Nam h ải ngo ại »,.R ồi đến quy ển “Tìm hi ểu Phát Huy Gía Trị Tr ống Đồng c ổ Vi ệt Nam”, Ti ếp theo là quy ển « Tim hi ểu Tinh hoa v ăn hóa dân t ộc Vi ệt. ». Hi ện nay, nh ững quy ển sách này đang đóng góp vào vi ệc phát tri ển Đường hướng Tu ổi tr ẻ Vi ệt Nam h ải ngo ại, để phát huy nh ững giá trị truy ền th ống v ăn hóa dân t ộc Vi ệt, đem l ại h ạnh phúc thành công, t ạo s ức m ạnh tương lai cho Tu ổi tr ẻ. Nh ằm th ăng ti ến C ộng Đồng Người Vi ệt H ải Ngo ại v ững m ạnh, và đưa đất nước Vi ệt Nam s ớm được T ự do Dân ch ủ gi ầu m ạnh, dân h ạnh phúc ấm no. Ngoài ra, đã tham gia các H ội đoàn dưới đây để cùng nhau sinh ho ạt phát tri ển đường hướng nêu trên : H ội Ái h ữu Binh ch ủng truy ền tin. H ội Ái h ữu khóa 5 SQTB Vì Dân. H ội truy ền th ống Phát Di ệm. H ội các thánh t ử đạo VN (Night Columbus). H ội V ăn bút vùng Tây nam Hoa Kỳ.
PHẦN THỨ NHẤT. TÌM HIỂU CÁC THỜI ĐẠI VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM 7 Nguyễn Quang Riệu là tiến sĩ khoa học vật lý, Đại học Sorbonne, Paris. Năm 1973, Ông được giải thưởng thành tích về Thiên văn vật lý của Hàn Lâm khoa học Pháp. Ông viết quyển “Vũ trụ huyền diệu”rất hấp dẫn, được rất nhiều người mê đọc. Hiện nay, Ông là nhà Thiên văn học nổi tiếng thế giới. Phương hướng trên trống đồng cổ Việt Nam. Phương Bắc Nam không đổi, nhưng phương Đông Tây thì ngược so với ngày nay. Nhìn mặt trống đồng Ngọc Lũ I, tất cả các hình vẽ chim, gà, hươu, người, đều tiến theo một hướng trong vòng tròn, từ phải qua trái, ngược chiều kim đồng hồ, tức ngước chiều quay của trái đất ngày nay. Như thế, có nghĩa là chủ nhân trống đồng chiêm nghiệm thiên văn lúc đó trước khi trục quay trái đất thay đổi trục, tức trước khi xảy ra trân đại hồng thủy cách nay khoảng 10 ngàn năm. 266
GIÁ TRỊ VỀ THIÊN VĂN HỌC XÁC ĐỊNH TRỤC QUAY TRÁI ĐẤT. Theo khoa học thiên văn, cứ 11 ngàn năm trục quay trái đất thay đổi 1 lần. Mỗi lần thay đổi sẽ có thiên tai và đại hồng thủy. Phương hướng trên trống đồng cổ Việt Nam ngược với phương hướng ngày nay. Điều này có nghĩa là chủ nhân của trống đồng đã chiêm nghiệm thiên văn vào thời kỳ cuối kỷ Băng hà tức Thời kỳ trước khi xảy ra trận đại hồng thủy làm ngập lụt vùng đất Sundaland ở biển Đông, cách nay khoảng 10 ngàn năm. Như thế, vào khoảng1000 năm nữa, trục quay trái đất sẽ thay đổi, và sẽ có thiên tai đại hồng thủy. TRỤC QUAY TRÁI ĐẤT. Xem hình III.16-trang 68-Thiên văn Vật lý - Nguyễn Quang Riệu: có vẽ diễn tả chu kỳ 26.000 năm của trục xoay Trái Đất từ C --> C" --> C 8 265
1. Dẫn nhập. Theo thuyết tiến hóa của Charles Darwin , tổ tiên con người và tổ tiên loài tinh tinh tách rời khoảng 5 triệu năm trước. Khoảng 2,5 triệu năm sau đó, con người phát triển thành giống người Homo habilis. Giống người Homo habilis có khả năng làm những dụng cụ thô sơ bằng đá, và có hai chân. Dung lượng não của Homo habilis cao hơn loài tinh tinh, nhưng thấp hơn so với con người hiện đại. Khoảng 2 triệu năm trước, Homo habilis tiến hóa thành loài Homo erectus (loài người đi đứng thẳng lưng), và chính giống người này tản mát khỏi Phi châu và đi khắp thế giới. Đến khoảng 500.000 năm trước Homo erectus tiến hóa thành Homo Sapiens (loài người thông minh). Người Homo Sapiens có dung lượng và hình dạng não giống với con người hiện đại ngày nay. Nói một cách ngắn gọn, Giả thuyết Phi châu phát biểu rằng con người hiện đại chỉ có mặt khoảng 100.000 đến 200.000 năm trở lại đây, và tất cả đều xuất phát từ Phi châu. Darwin còn tiên đoán rằng hài cốt của con người hiện đại sẽ được phát hiện ở Phi châu. Việt Nam thuộc Đông Nam A . Dân Việt cổ đã sống và phát triển ở Bắc Việt lâu đời từ Thời đại đồ đa cũ. (2 triệu đến 10 ngàn năm TCN), đến Thời đại đồ đá mới.( 8 đến 3 ngàn năm TCN), qua Thời đại đồ đồng đá, đồ đồng, Thời kỳ đồ sắt,với các nền văn hoá Việt Nam: Văn hoa Sơn Vi (20.000 - 12.000 TCN) Văn hoa Hoa Bình (12.000 - 10.000 TCN) Văn hóa Bắc Sơn (10.000 - 8.000 TCN) Văn hóa Phùng Nguyên (2.000 -1.500 TCN) Văn hóa Đồng Đậu (1.500 - 1.000 TCN) Văn hóa Gò Mun (1.000 - 600 TCN) Văn hóa Đơng Sơn (700 TCN - 100) Văn hóa Sa Huỳnh (1.000 TCN - 200) 264 9
Chương IV. GIÁ TRỊ VỀ THIÊN VĂN HỌC XÁC ĐỊNH TRỤC QUAY TRÁI ĐẤT. 263 . Dân Bắc Việt sống ở vùng Sundaland lâu đời 2. Văn hóa Sơn Vi Thời đại đồ đá cũ. (có niên đại 2 triệu đến10 ngàn năm TCN) Văn hóa Sơn Vi là một thuật ngữ mà các nhà khảo cổ học dùng để chỉ các di chỉ, nơi sinh sống của các bộ lạc Người tinh khôn sống ở Việt Nam vào cuối thời đá cũ. Sơn Vi là tên một xã thuộc huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên phát hiện ra di chỉ của nền văn hóa này. Văn hóa Sơn Vi cách ngày nay khoảng 30000 năm đến 11000 năm. Theo phương pháp phóng xạ cacbon C14. Niên đại phóng xạ C14 của di tích Văn hóa Sơn Vi ở hang Con Moong (Thanh Hóa) là 11840 năm +- 180 năm cách ngày nay là 11090 năm. Ở di tích hang Ông Quyền Hòa Bình, có niên đai C14 là 18390 năm +- 125 năm cách ngày nay. Địa bàn sinh sống của cư dân Văn hóa Sơn Vi Người tinh khôn Sơn Vi Homo Sapiens Sapiens cư trú 10
trong các hang động, mái đá, ngoài trời, ven bờ các con sông, suối trên một địa bàn khá rộng từ Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang, đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Căn cứ vào sự phân bố các di tích Văn hóa Sơn Vi (các di tích hang động ít, chỉ chiếm 10% di tích, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân Sơn Vi thời hậu kì đá cũ ở Việt Nam sống tập trung trong các đồi, gò trung du, dạng hình chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng; cụm lại thành những khu vực lớn. Trung lưu sông Hồng, thượng lưu sông Lục Nam, thượng lưu sông Hiếu. Công cụ lao động của cư dân Văn hóa Sơn Vi Cư dân Sơn Vi sử dụng công cụ lao động, với nguyên liệu dùng để chế tác chủ yếu là đá cuội. Họ thường ghè đẽo ở rìa cạnh hòn cuội để tạo nên những công cụ chặt, nạo... Công cụ đặc trưng cho Văn hóa Sơn Vi là những hòn cuội được ghè đẽo ở rìa cẩn thận, có nhiều loại hình ổn định, thể hiện bước tiến bộ rõ rệt trong kĩ thuật chế tác đá. Nhưng chưa có kĩ thuật mài. 11 Tháng chạp : Thần cầm vật gì giống như hình cái bàn chải đánh răng, dài bằng cả một bên cánh, dưới đầu cán có hình mũi tên chĩa nghiêng xuống mặt đất phía trước mặt. Ấy là hình tượng sự chít một lông cánh thời gian, để nói việc hết năm. Những đặc tính của mỗi năm trong chu kỳ : Chúng ta thấy mỗi con chim thời gian giống nhau bay ở vòng ngoài ( theo chu kỳ 18 năm đã nói ) đều có một con chim nhỏ ở dưới mỏ dài của nó, mà chim ấy thì không con nào giống con nào cả. Cần phải là người đi rừng nhiều, trông hình vẽ mới tin chắc được rằng lịch 12 con giáp của Trung Hoa đã ít tuổi hơn lịch 18 con chim này nhiều lắm. Bởi lịch này cho thấy người ta mới định cư còn ở thời kỳ chưa nuối được con lợn, con trâu, con mèo, chưa biết được con dê con ngựa là gì nữa. ( Bạn hãy tham khảo hình chụp ở bài viết “ Lời nói đầu ” và hình vẽ ở đầu bài 2 để thấy việc ngập lục bán đảo Sunda từ 25.000 năm đến 14.000 năm trước CN đã dẫn đến sự di dân của cư dân đông Nam Á cổ vào các vùng đất cao, sự định cư mới mà tác giả nói ở trên có thể liên hệ với sự kiện di cư từ nơi định cư củ sang nơi định cư mới ). Kết luận : Mặt trống đồng Ngọc Lũ quả đúng là một quyển lịch được sắp xếp và vẽ một cách thông minh. Trừ một vài chi tiết chưa hiểu rõ như đã nói, những nét chính của hình vẽ đã khiến ta chân thành khâm phục rằng: Với mức độ hiểu biết và tiến hoá của đời nay cũng chưa chắc có người bố trí nổi một bản ghi thời gian tài tình như thế. 262
thần đi ngược chiều được. Tay trái thần cũng cầm gậy thẳng nhưng ngắn hơn, tay phải cầm gậy trạc cây với gốc độ đẹp hơn. Có vẻ thần khuyên người săn sóc việc bắt sâu bọ. Tháng năm : Mắt thần nhìn theo hướng tiến chung, thân hình ở tư thế đi bình thường, tay trái cầm gậy ngắn nhất, tay phải cầm trạc cây với một bên cụt hơn. Có vẻ như thần khuyên nghỉ tay. Tháng sáu : Cũng vậy, có vẻ như tháng này và hai tháng nữa không thể làm việc đồng án được. Tháng bảy : Thần quay mặt nhìn theo hướng chung, cầm trong tay vật gì như muỗng múc canh, có dấu tròn biểu tượng mắt chim ở ngoài, tay phải cầm cái gì như cái lồng bắt chim. Cả hai tày đều đưa về phái trước mặt. Có vẻ là tháng nên đi bắt chim. Vị này có thêm một đặt điểm : ở sau gáy nơi đầu cánh có một hình tam giác, giữa vẽ một hình tròn, chưa rõ ý nghĩa gì. Tháng tám : Thần thổi loa ở miệng, loa dính với một vật tròn tia ra ba vạch lên trời, ba vạch xuống đất. Đó có vẻ là tiếng gọi vào rừng săn thú. Tháng tám trăng sáng nhất là tháng thích hợp nhất cho việc ấy. Tháng chín : Thần cầm dao đi rừng như tháng hai nhưng đầu trên lại khoằm vào trước mặt, đầu dưới lại uốn khoằm ra, mặt và chân quay về hướng tiến chung. Có vẻ là vật để hái trái, má tháng này là tháng có nhiều trái cây chín. Tháng mười : Thần vẫn cầm dao ấy ở tay trái như vậy nhưng mặt nhìn xuống đất sau bước chân với chạc cây hạ thấp xuống gần mặt đất. Có vẻ như thần muốn nói về việc gặt lúa. Tháng mười một : Thần cầm gậy ngắn với trạc cây ngắn ở tư thế nghỉ ngơi và theo dáng đi bình thường ( như tháng năm, tháng sáu đã nói ). Có vẻ là tháng xong việc đồng án thì nghỉ ngơi. 261 Công cụ đá cuội Văn hóa Sơn Vi có nhiều loại hình phong phú đặc trưng cho Văn hóa Sơn Vi, nhưng vẫn còn một số ít những công cụ mang dấu vết kĩ thuật thô sơ của thời kì sơ kì đá cũ và cũng có những công cụ có dấu vết Văn hóa Hòa Bình ở giai đoạn đá mới sơ kì. 3. Văn Hóa Hoà Bình. Thời đại đồ đá mới (có niên đại 8 đến 3 ngàn năm TCN) Nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Hoà Bình là một tỉnh miền núi có nền "Văn hoá Hoà Bình" nổi tiếng - cái nôi văn hoá của người Việt cổ, là vùng sử thi huyền thoại “Đẻ đất đẻ nước”, là miền đất âm vang tiếng cồng, tiếng chiêng, vùng của những lễ hội giầu bản sắc dân tộc Tây Bắc, của kho tàng phong phú về văn nghệ dân gian các dân tộc: Mường, Dao Thái, Mông... Là quê hương của những làn điệu dân ca "ngọt như mật ong, trong như dòng suối"; những trường ca, truyện thơ đậm nét văn hóa dân tộc và chất nhân văn tinh tế… Mời bạn đến với mảnh đất Hoà Bình để cùng khám phá và cảm nhận vẻ đẹp của một miền văn hoá giàu bản sắc. Hoà Bình - Dấu ấn một nền văn hoá 12
Hoà Bình là một trong những vùng đất mà các nhà khảo cổ học chứng minh đã có người Việt cổ sinh sống cách đây hàng vạn năm. Nơi đây còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hóa Hòa Bình rực rỡ qua việc tìm thấy 47 chiếc trống đồng cổ trong đó có trống đồng sông Đà và Miếu Môn thuộc loại đẹp và cổ cùng một hệ thống các di tích xác định nền văn hoá Hoà bình đó là: Hang Muối - nơi cư trú của người nguyên thuỷ trong thời gian dài. Tại đây đã xác định nhiều công cụ đá, di tích bếp, xương của người nguyên thuỷ. Là Hang Khoài - Niên đại kỹ nghệ cuội Việt nam. Nơi cư trú của người nguyên thuỷ cách đây 17.000 đến 11.000 năm. Là Khu mộ cổ Đống thếch: Có hàng trăm ngôi mộ xung quanh được được chôn nhiều hòn mồ, có hòn cao tới hơn 3 m, trên khắc chữ Hán ghi tên người đã chết. Người Mường quan niệm rằng người chết vẫn có linh hồn và linh hồn thường được trú ngụ và gửi gắm vào đá. Do đó các cột đá (hòn mồ) dựng lên không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là đánh dấu mộ. Hiện tượng này không chỉ có ở vùng Mường mà còn khá phổ biến ở một số dân tộc Đông Nam á. Khu mộ cổ Đống thếch 13 đem những hướng dẫn đến cho người trong cuộc sống. Thời gian có cộng tác với người, là bạn là thầy của người. Trừ vị thần dùng cho tháng nhuận ( xen kẻ vào bất cứ tháng nào trong năm ) đúng là có dáng điệu người ca vũ mềm mại và vui tươi, chân bước theo hướng tiến chung, hai tay cầm cái gì như phách để gõ nhịp cho bước chân, còn 12 vị thần khác thì mỗi vị cầm một đồ vật khác nhau để nói lên cái ý khuyên bảo người đời tháng ấy thì nên làm một việc nào với đồ dùng đó : Tháng giêng : Đồ vật ở tháng giêng to lắm, thần phải ôm bằng hai tay đưa ra phái trước mặt, trong có vẻ như con cá. Có lẽ là tháng nên đi bắt cá. Về điểm này ta thấy tệ xưa có ghi rằng : Loài gấu chưa tế thú ( vào mùa thu ) thì không được chăn lưới ở cánh đồng , loài rái chưa tế cá ( vào mùa đông ) thì không được thả lưới vét xuống nước. Nay đã sang tháng giêng, vậy có thể đi bắt cá được. Tháng hai : Đồ vật ở tháng hai là cây gậy thẳng, thần cầm bàn tay trái đưa ngang ra trước mặt, đầu trân của gậy uốn ra ngoài, đầu dưới uốn vào phái bụng. Tay phải của thần đưa về phía sau lưng cầm một trạc gậy trút xuống. Chân và mặt đưa ra theo hướng tiến chung. Có thể là con dao đi rừng để chặt những cành kho củi mục, việc nên làm vào tháng hai. Tháng ba : Thần bước đi theo hướng tiếng chung nhưng mặt quay lại nhìn tay phải cầm trạc cây trúc xuống, tay trái cầm một cây gậy hơi cong với đầu to ở trên, đầu nhỏ ở dưới. Có vẻ thần khuyên người nên làm việc gì ngay trên mặt đất sau bước chân cảu mình, giao hạt giống chăng ? Tháng tư : Thần có dáng điệu như vị ở tháng ba nhưng mình nghiêng hẳn về phía sau, đầu và mỏ cũng cuối thấp hơn, với mặt mở tròn to hơn. Nếu không có điệu cánh và chân bước theo hướng chung thì có thể kể là 260
Nếu vòng tròn ấy là hình trái cây thì kiến tạo miếu thờ vị thần phù trợ cho cây cối sinh nhiều trái. Còn bên Thu phân thì vẽ hình người dang chân và dang tay lên trời, hai bên không có vòng tròn mà có 4,5 vết như lá tụng. Người vẽ tỏ ra rất hiện thực vậy. ( Có ý kiến cho rằng các vòng tròn có chấm là nhạc cụ còng, chiên; có ý kiến lại cho rằng đó là biểu tượng của hào âm hào dương; xem thêm bài “ Dạng nguyên thuỷ của Âm Dương ” ) Các vị Nguyệt thần : Theo điểm khởi đầu năm nhân sự, ta thấy ban đầu có một vị thần nhỏ bé hơn cả, không có mũ, để dùng ghi tháng nhuận, rồi đến 6 vị để ghi sáu tháng đầu năm, đối diện với bên kia vòng tròn có 6 vị nữa để ghi sáu tháng cuối năm. Vị nhỏ bé để ghi tháng nhuận, cánh cụp xuống, đầu không mũ, người nghiêng, tay cầm phách dang ngang theo tư thế ca vũ. Còn 12 vị đều là chim thần, không phải người hoá trang thành chim. Người ta nhìn vội nên cho rằng người đội mũ lông cánh chim. Đó là một bên cánh mọc từ lưng ra, bị đầu che một đoạn, còn một bên cánh mọc từ ngực ra xoè xuống đất. Bởi nếu là đội mũ, thì có vị quay mặt đi, có vị quay mặt lại, sao mặt quay lại mà mũ lại không quay lại ? Lông đuôi thì xoè về phía chân trước. Hai tay và hai chân thì ráp vào hai bên mình như người. Chim thần khàc người và khác chim thường ở chổ ấy. Việc dùng một con chim thần tiêu biểu cho một tháng chứng tỏ người xưa quan niệm thời gian qua mau. Nhưng khác với người phương Tây thần thánh hoá và nhaân caùch hoá thời gian thành hình một ông cụ có cánh, tay cầm lưỡi hái tượng trưng quyền lực huỷ hoại, không những thời gian chẳng giúp gì cho người mà còn thù nghịch với người nữa. Ở đây chim thần từng tháng 259 Là Hang chùa: Còn gọi là "Văn Quang Động", đó là 3 chữ đại tự khắc trên vách đá, dưới có khắc nhiều bài thơ, bài văn ở thế kỷ 18 – 19… Đặc biệt, phát hiện mới nhất về lối mòn cổ cách đây 22 nghìn năm tại hang xóm Trại xã Tân Lập (thuộc Mường Vang, Lạc Sơn) đã khẳng định chắc chắn về điều đó. Hang xóm Trại là một hang tiêu biểu của văn hoá Hoà Bình trên thế giới. Nền văn hoá mà thế giới biết đến và công nhận. Từ năm 1932 tại Hội nghị các nhà tiền sử châu Á Thái Bình Dương, Tiến sỹ khảo cổ học người Pháp, bà Madelaine Colani đã đề xuất công nhận một nền văn hoá mang tên là văn hoá Hoà Bình. Vì Bà đã khám phá ra rất nhiều di tích khảo cổ, đặc biệt phải kể đến những kết quả khảo cổ cực kỳ quan trọng của những khai quật ở Hòa Bình. Theo Tiến sỹ Nguyễn Việt, Trung tâm tiền sử Đồng Nam Á: Hang xóm Trại là một điểm cư trú lâu dài của người nguyên thuỷ trong văn hoá Hoà Bình. Theo kết quả nghiên cứu mới nhất, địa điểm này có niên đại cách ngày nay từ khoảng 22 nghìn năm. Tầng văn hoá trong hang có độ dầy trung bình lên tới 5m. Lối đi cổ mới phát hiện ở ngách phía Bắc hang có niên đại vào khoảng 22 nghìn năm. Đây là lối đi đầu tiên của người nguyên thuỷ ra, vào hang. Bên cạnh những phát hiện mới về lối đi cổ, về mộ táng, về niên đại, hang xóm Trại còn tiêu biểu của Văn hoá Hoà Bình không chỉ ở Việt Nam mà còn là di tích tiêu biểu trong khu vực Đông Nam Á. Đây vừa là nơi cư trú lâu dài với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn thức ăn dồi dào, vừa là công xưởng chế tác công cụ của cư dân Văn hoá Hoà Bình. Qua những phân tích khoa học, hang xóm Trại không chỉ khẳng định là cái nôi sinh sống của người Việt cổ mà nó còn là “bảo tàng” văn hoá của người Việt cổ. Với sự xuất hiện liên tiếp của các thời kỳ văn hoá như thời kỳ đồ đá, văn hoá Phùng Nguyên, thời kỳ nhà Trần, nhà Lê. 14
Hang xóm Trại Cho đến thời điểm này, hang xóm Trại có khoảng trên 4 nghìn hiện vật được khai quật. Qua các so sánh thì đây là hang phát hiện được nhiều hiện vật nhất và có nhiều tầng văn hóa nhất trong khu vực Đông Nam Á. Với số lượng hiện vật được phát hiện đã khẳng định đây là hang được người nguyên thủy sử dụng sớm nhất và lâu đời nhất. Đặc biệt, ngoài việc phát hiện 2 lối đi cổ, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy vết tích tro bếp - một hiện vật tiền sử sớm nhất ở Việt Nam - và bộ hài cốt có độ tuổi trên 14 nghìn đến 17 nghìn năm. Trước đó, cuộc khai quật hang xóm Trại vào những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà nghiên cứu đã phát hiện những hạt thóc của người xưa rơi vãi. Sau khi phân tích đã xác định các hiện vật này thuộc thời Trần. Việc khai quật di tích cũng đã phát hiện vết tích của mộ táng cuối thời Trần đầu thời Lê vẫn còn gần như nguyên vẹn. Qua đó cho thấy các tầng lớp văn hoá ở đây rất dày. Được xếp tầng tầng lớp lớp thể hiện qua các công cụ khai quật dưới các tầng sâu trong lòng hang. “Từ các cứ liệu thu 15 chí lại có một người đứng và quay lưng lại hướng chung ấy và một người ngồi đưa bàn chân để cho dùi trống không gõ xuống. Đó là hai điệu nhạc khác nhau của 2 dịp hội hè lớn khác nhau trong một năm. Sửa soạn hội hè : Người ta phải sửa soạn từ trước ngày Đông chí, bằng cách giã gạo để ủ lên men làm rượu, hoặc để làm bánh, nấu xôi. Hình hai người giã chày đứng trong một cái cối ở trước hai nhà đông chí và hạ chí nói về việc ấy. Nhưng cảnh giã gạo bên hạ chí có vẻ thong thả, người đàn ông chếch một chân đạp vào chân cối. Còn bên dông chí thì vội vã hơn, ngưởi đàn ông đứng cả hai chân trên mặt đất và người đàn bà tóc xoã tay cầm chày giơ cao hơn. Hình người và gà cạnh đó cũng khác nhau. Sau xuân phân, người cầm gậy quay mặt lại có vẻ là chăn dắt nuôi gà. Sau thu phân, người kiễng chân, không có gậy, có vẻ là nhảy để bắt gà. Đó là những việc phải làm để sửa soạn cho ngày lễ. Xuân phân thu phân : Trên cùng một đường kính vạch ngang hơi chếch lên đường Đông chí Hạ chí, là đường Xuân phân Thu phân, ta thấy 2 kiến tạo giống nhau, mái hình khum mui thuyền, gác trên hai trụ đứng cũng khum lại, trên đầu gọt tròn đều nhau, với hai vòng trang trí tròn, còn phiá chân cột có sàn bắt ngang, để hở ở dưới hai tảng kê hai bên với một vật gì như để chồng ở giữa. Bên trong khung hình khum ấy, khoảng trống được vạch chia làm 3 phần, bên Xuân phân thì ở giữa hình chữ nhật vẽ một người đứng nghiêng, quay mặt theo hướng chung, tay cầm cuống một trái gì như trái bầu tròn. Hai phần tả hữu, một bên vẽ bảy vòng tròn, một bên vẽ tám, tất cả đều có một chấm ở giữa. 258
tóc buông sau gáy, ngồi co dầu gối đặt hai bàn chân lên nhau và đưa hai bàn tay lên cao để úp vào nhau cho rơi cái gì như hai viên sỏi. Đúng là hai đứa trẻ đang vui chơi, Cha mẹ chúng đâu ? Cha mẹ chúng đi làm việc ngoài đồng áng. Tháng tư đi tậu trâu bò. Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm. Câu ca dao này về sau mới có. Nhưng thời dụng biểu của nhà nông trong hoàn cảnh địa lý, khí hậu, và điều kieän ñaát nước, để làm mùa, thì đã có ngay từ hồi đầu định cư. Hình vẽ đã nói lên thực rõ. Bên dưới nhà sàn, góc phải, có cái cối đặt ngang và bên trái có một đứa trẻ ngửa mặt, tóc xoã sau lưng, đưa tay kéo một trục tròn có vẻ xoay được một trục đứng. Hình vẽ có nghĩa xoay và nặn đồ gốm chăng ? Còn cối đặt nằm nghiêng có nghĩa là bận việc đồng áng, nghỉ giã gạo chăng ? Hội hè, gõ trống : Tiếp theo nhà sàn nói về Đông chí và Hạ chí, đều có cảnh gõ trống và đều có 4 cái đặt úp trên bệ của nó trong 4 cái hố. Bệ là một chân đội một mặt tròn, như hình cái nấm, để trống úp đúng vào vành mặt ấy. Mặt ấy chắc là bằng gỗ, hẵng phải khoan thủng nhiều lỗ thì khi gõ, tiếng trống mới có lối thoát ra và vang đi xa. Nếu đúng như dự đoán thì tuỳ theo mặt tròn có nhiều hay ít lỗ, và lỗ lớn hay nhỏ của 4 cái khác nhau, mà âm thanh của cả 4 cái khi cùng gõ lên đã có thể trở thành một bản hòa tấu. Theo hình vẽ thì trống đặt bên dưới nhà sàn, trong hố, không trông thấy. Người ngồi trên sàn gõ vào mặt trống. Như vậy trống để gõ đã không cùng loại với trống biểu tượng quyền uy của tù trưởng như trống Ngọc Lũ này. Bên cạnh nhà Hạ chí, cả bốn người gõ trống đều ngồi quay mặt theo hướng chung, riêng bên cạnh nhà Đông 257 được, có thể khẳng định đây là di tích Văn hoá Hoà Bình có bộ di vật phong phú nhất về công cụ đá, cũng như công cụ xương. Đặc biệt là số lượng công cụ đá cuội mài lưỡi thu được trong các lần khai quật khá phong phú so với các di tích Văn hoá Hoà Bình đã được khai quật từ trước đến nay”, Tiến sỹ Nguyễn Việt cho biết. Công cụ đá tìm thấy ở đây đã cho thấy kỹ thuật chế tác đá khá điêu luyện của người Việt cổ. Ngoài những công cụ đá, mộ táng của người nguyên thủy như rìu đá, xương thú, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy vỏ trấu, vỏ quả óc chó và rất nhiều hoá thạch của vỏ ốc. Đây được coi là thức ăn thường dùng của người Việt cổ. Với chiều rộng của hang trung bình 7m và chiều dài từ miệng vào đáy khoảng 22m, sâu khoảng 7-10m, qua hàng nghìn năm vùi lấp chủ yếu là vỏ ốc ken đặc. Tiến sỹ Nguyễn Việt nhận định: Phải qua hàng chục nghìn năm mới tích tụ được lớp vỏ thức ăn dày như vậy. Để khai quật, các nhà khảo cổ đã phải đào vét lượng ốc hóa thạch khổng lồ đổ xuống triền núi đá làm lối đi. Việc phát hiện các tầng văn hóa tại hang xóm Trại đã khẳng định đây là điển hình của nền văn hóa Hòa Bình không chỉ của các nước Đông Nam Á mà còn thuộc loại hiếm có trên thế giới. Cách thức ăn ốc cho đến ốc mà người Việt cổ thường dùng, đã được kế thừa cho đến ngày nay. Đến nay, đồng bào Mường ở Hòa Bình vẫn dùng ốc bằng cách chặt đuôi để hút thịt. Sự kế thừa của người cổ xưa vẫn hiển hiện trong đời sống sinh hoạt của bà con như chứng tích cụ thể minh chứng cho lịch sử của người Việt cổ có nguồn gốc trên lãnh thổ Việt Nam. Theo tính toán khoa học, bình quân 1m3 vỏ ốc trong hang xóm Trại đếm được khoảng hơn 40 nghìn vỏ ốc. Số lượng này tương đương với khoảng 300kg thịt ốc. Căn cứ theo các tầng ốc hóa thạch qua các thời kỳ có thể thấy phải qua hàng chục nghìn năm mới có được tầng vỏ ken đặc như vậy. Với những cứ liệu đó, hang xóm Trại xứng đáng được gọi là “bảo tàng” văn hoá của người Việt cổ. 16
Hoà Bình - nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống Hoà Bình là một tỉnh miền núi có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó điển hình là các dân tộc Mường, Thái, Mông Đen. Đây là những tộc người có quá trình cộng cư lâu đời ở các huyện Tân Lạc, Mai Châu của tỉnh Hoà Bình, đã bảo lưu được những nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá dân tộc Việt Nam. Hoà Bình – nơi có người Mường tập trung đông đảo nhất và cũng là nơi văn hoá Mường rõ nét nhất, chính vì thế nói văn hoá dân tộc ở tỉnh Hoà Bình thì trước hết phả nói tới văn hoá của dân tộc Mường. Do những đặc điểm về lịch sử và vị trí địa lý cho nên người Mường còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hoá cổ truyền. Phần lớn đồng bào Mường vẫn ở nhà sàn, uống rượu cần và có nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng trên nhà sàn. Truyền thống đạo đức gia đình giữ được những nét đẹp: Yêu trẻ, kính già, hiếu khách. Người Mường vẫn giữ được những lễ hội cổ truyền: Hội xuân Xéc bùa, hội Xuống đồng, hội cầu Ma, lễ Rửa lá lúa, lế Cơm mới...Trong các lễ hội không thể thiếu cồng chiêng – một nhạc cụ gần như bất hủ của đồng bào Mường. 17 Riêng việc vì sao vẽ 10 con hươu, theo ý chúng tôi phỏng đoán có lẽ con số 10 chỉ là con số toàn vẹn, để nói rằng nhiều lắm, đầy đủ lắm, mà người đi săn đêm sẽ gặp vào đêm trăng sáng ? Vòng sinh hoạt của người : Vòng này quan trọng hơn, tiết rằng việc nghiên cứu của chúng tôi bị hạn chế, vì ngại rằng người vẽ có thể đã theo định kiến cũ về người lên đồng, ca múa cầu thần linh, không lưu ý đến những ý nghĩa tượng trưng của các hình vẽ, khiến có thể đã bỏ sót những chi tiết có ích chăng ? Tiết đông chí : Ta gặp trên đường bán kính từ trung tâm bông hoa kéo ra, hình vẽ cái nhà sàn, có hai vợ chồng con chim trên nóc mái, và trong nhà có ba người đang nằm vừa ngồi nhỏm dậy. Góc phải của nhà sàn ở mặt đất có cái gì như cái cối đặt nằm nghiêng. Góc trái có đứa nhỏ gõ vào cái gì như cái trống con, có vẻ để báo thức. Ta hiểu rằng trải qua một mùa đông, các loài vật đông miên ngủ vùi đến ngày đông chí mới tỉnh dậy, mầm mộng của các loài hoa lá trên cành cũng đến ngày ấy mới “ngồi dậy”. Cả đến cái cối nằm ngủ mãi có lẽ cũng sắp được dựng dậy để làm việc. Tiết hạ chí : Đối điểm của Đông chí bên kia vòng tròn, trên cùng đường kính là tiết hạ chí. Ta gặp những cái nhà sàn ấy. Nhưng trên nóc mái chỉ có một con chim trống. Vợ nó đâu ? Vợ nó đương ở nhà ấp trứng. Do đó mùa hè phải đóng bè làm phúc, không được phá phách các tổ chim, bắt được chim còn phải phóng sinh nó đi, để nó về nuôi vợ con nó. Thương biết là bao nhiêu, truyền thống ấy còn mãi đến thế hệ chúng ta ! Trong nhà sàn ta thấy hai đứa nhỏ đối mặt nhau, 256
Trên mặt trống, có thể chắc được là người ta vẽ hình con Trào Kê, một đặc sản địa phương có linh tính hữu ích cho cuộc sống, lại có liên hệ tới công dụng của trống về sự quan sát thuỷ triều. Nhưng tại sao lại vẽ sáu con gà sau ngày mồng một và ngày rằm. Trong khi theo kình nghiệm chỉ 3 ngày trước và 3 ngày sau những ngày ấy thì con nước mới ở thế lớn hơn ? Và tại sao lại vẽ tám con gà bên kia vòng tròn, sau và trước 10 con hươu ? Phải chăng để nói về 6 đêm đầu tháng và 8 đêm cuối tháng không trăng, không nên tổ chức đi săn đêm ? Mười con hươu lại 10 con hươu : Hươu vẽ ở đây là hươu sao, có đốm lông trên mình, và vẽ thành từng cặp : đực đi trước, cái đi sau, tất cả đều có sừng. Đó là con vật có tên là lộc, hay ở núi cao, tiết Hạ Chí rụng sừng ( khác hẳn với nai, chỉ con đực có sừng và hay ở hốc núi nên tiết Đông Chí rụng sừng). Theo tục truyền thì hươu thuộc loài tiên thú, 60 năm ắt có ngọc quỳnh, ở gốc sừng có dấu tích lấm chấm sắc tím. Do đó cổ ngữ nói con hươu có ngọc nên sứng vằn, con cá có châu nên vảy tím. Đặc biệt hơn là hươu trắng, người xưa coi hươu trắng xuất hiện là một điềm may. Cho nên hễ bắt được nó thì người ta dâng về cho vua và sẽ được thưởng. Theo tài liệu của sách sử và địa lý cũ, chỉ Thanh Hoá có nhiều loài này. Vùng phía Bắc từ Ninh Bình trở ra thì hiếm dần. Vùng phái Nam cũng vậy. Từ đèo Hải Vân trở vào thì không thấy nữa, chỉ có nai thôi. Điều đáng nói ở đây là người ta vốn biết tánh con hươu hay dâm, một con cái thường giao cấu với vài con đực. Vậy mà trên mặt trống người ta vẽ cặp nào cặp ấy, không lộn xộn, con đực đi trước, con cái đi sau. Người ta muốn sắp xếp đời sống vợ chồng của chúng nó vào khuôn khổ luân lý ? Hoặc đó là dấu hiệu để nói lên cuộc sống định cư, chấm dứt thời kỳ thị tộc mẫu hệ ? 255 Người Mường có dân số khoảng trên 1 triệu người, sống xen kẽ với các dân tộc anh em tại các vùng Thanh hoá , Sơn la, Phú thọ, Hà tây, Ninh bình và miền tây Nghệ an. Riêng ở Hoà bình có khoảng 400.000 người, chiếm 60% dân số của tỉnh. Là một tôc người bản địa có cùng nguồn gốc xa xưa với người Kinh, sau khi phân hoá thành hai tộc người với đầy đủ yếu tố của từng dân tộc, người Mường tiếp tục lưu giữ và phát triển nền văn hoá của mình rất phong phú và độc đáo, đó là ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật... Tiếng Mường thuộc ngữ hệ Đông Nam Á, nhóm Việt Mường. Tiếng Mường có nhiều phương ngữ khác nhau nhưng trên cơ sở của phương ngữ Bi, Vang, Thàng, Động là trung tâm cư trú của người Mường, đó cũng là những nơi phát tích của người Mường. Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì tiếng Mường Bi có nhiều thanh điệu nhất, gồm 6 thanh điệu. Tiếng Mường còn có những đặc điểm gần giống một số tộc người ở miền Trung như Chút, Pọng, Arem. Người Mường ở nhà sàn, nhà sàn Mường thấp và nhỏ hơn so với nhà sàn của người Tày, người Thái. Kiến trúc đơn giản và thanh thoát. Người Mường thờ tổ tiên, Thành Hoàng, Thánh Tản Viên, thờ Vua Mỡi, Thần bảo hộ sự yên lành, thờ thổ công và một số thần khác, người mường có tục thờ cây, thờ đá... Trang phục của người Mường kế thừa và phát triển lối trang phục thời Hùng Vương, ngày nay còn thấy biểu hiện rõ nét nhất ở trang phuc phụ nữ, nhất là phụ nữ quyền quý. Trang phục Mường khá độc đáo. Nam giới mặc bộ quần áo cánh màu nâu, màu chàm dệt bằng bông sợi thô; phụ nữ đội khăn trắng hình chữ nhật nơi đỉnh đầu, mặc yếm và áo cánh ngắn thân có xẻ ngực, không cài cúc. Váy Mường thả dài từ ngang vồng ngực xuống chấm gót chân làm tôn thêm vẻ mềm mại của người xứ núi. Sự tinh sảo thể hiện ở cạp váy được dệt bằng tơ nhiều màu tạo ra 18
những hoa văn hình học và những hình chim thú, rồng phượng cách điệu. Đồ trang sức gồm vàng, bạc đeo tay chạm trổ hình hoa leo, hình chữ chi chồng lên nhau, lng đeo bộ dây xà tích 4 cạnh, cả quả đào, chùm vuốt hổ bọc bạc, tay đeo những hạt cườm bằng đá nhiều màu. Người Mường xưa ăn xôi nếp, gặp mùa đói kém thì ăn cơm tẻ nhưng cũng ngâm đồ như cơm nếp. Người Mường đặc biệt ưa chuộng các món ăn chua và đắng, món ăn đặc sản là cá đồ măng chua, canh đắng. Họ biết làm rượu từ rất lâu, khi chưa biết chưng cất rượu thì thức uống chính của người Mường trong lúc vui là rượu cần. Người ta đặt ra các luật uống để kéo dài thời gian vui chơi, ngày nay rượu cần được coi là đặc sản. Lễ hội lớn nhất và phổ biến nhất ở khắp Mường là lễ hội "Khuống mùa" (xuống đồng), lễ hội này chỉ tổ chức vào đầu năm mới, người ta rước Thánh Tản về miếu thờ, trên đường rước cũng nh khi đã hành lễ xong, người ta vui chơ, ăn uống, ca hát, cồng chiêng đến tối mới tan hội. Còn nhiều lễ hội khác như Hội làm thuỷ lợi, Lễ cầu ma, lễ Thành Hoàng... cũng tổ chức vào dịp đầu năm. Lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới tổ chức ở phạm vi gia đình, có họ hàng, láng giềng đến dự. Lễ cưới người Mường tiến hành theo các bước tìm hiểu, ướm hỏi (kháo thiếp), sau lễ kháo thiếp là lễ ăn hỏi chính thức, sau lễ ăn hỏi là lễ "đi mòn", sau lễ đi mòn là lễ "đi cháu". Rể đến nhà bố mẹ vợ trong lễ này và họ hàng hai bên tổ chức ăn uống tại nhà gái. Sau lễ đi cháu vài năm mới tổ chức đón dâu, lễ này cùng đi với cô dau về nhà chồng còn có đại diện bên nội, ngoại cô dâu rất đông đến vui ăn uống tại nhà trai. Lễ cưới của người Mường thường tổ chức vào ban đêm. Một đặc điểm hôn nhân của người Mường là phải sau lễ cưới một thời gian khá dài, đôi vợ chồng mới chính thức được cha mẹ hai bên cho chung chăn gối, lúc đó nàng dâu mới ở hẳn bên nhà chồng để thực sự bắt tay vào xây dựng cuộc sống vợ chồng. 19 Tất cả các phép tính trên đây có thể có bàn tay mà tính ra được. Ví duï.Giả như năm Mậu Tý, tháng giêng là tháng thiếu, ngày mồng một là ngày Ất Dậu, can ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu đến chi thứ tám là Thìn. 9 năm sau là năm Bính Thân, tháng giêng ngày mồng một là ngày Mậu Thìn. Giả như năm Mậu Tý, tháng hai là tháng đủ, ngày mồng một là ngày Giáp Dần. Can giáp đến can thứ năm là can Mậu, chi dần đến chi thứ chín là chi Tuất, 9 năm sau là năm Bính Thân, tháng 2 ngày mồng một là ngày Mậu Tuất. Cũng trong Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn còn có bí quyết tính ngày mồng một và ngày rằm như sau : Mồng một tháng giêng của 9 năm trước là ngày Thìn. Ngày rằm tháng hai của 9 năm sau cũng là ngày Thìn. Moàng một thàng hai của 9 năm trước là ngày Thìn. Ngày rằm tháng hai của 9 năm sau cũng là ngày Thìn. Chúng ta chưa biết rõ người Giao Chỉ khi quan niệm lịch với chu kỳ 18 năm đã gọi tên tháng như thế nào, và đã những số can chi gọi bằng những tên nào khác để tính ngày ra sao. Nhưng hẳn đã phải có thì đời sau mới noi theo bí quyết cũ mà làm những bài thơ đặt công thức cho người làm lịch. Cả những kết quả chiêm nghiệm về khí tieát, tháng nhuận., ngày Lập Xuân,… hẵn cũng đã phải có để người đời sau chỉ tuân theo thôi. Sáu con gà và tám con gà : Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” đã dẫn lời sách Hoàn Vũ ký mà cho biết rằng : ở Ái Châu về huyện Di Phong có giống gà gọi là Trào Kê, khi tới kỳ nước triều lên thì gáy để báo tin. Sách ấy cũng có nói tới một giống gà khác ở mạng thượng du là Cẩm Kê, lông có nhiều sắc xanh đỏ trắng xen lẫn như nền gấm. 254
Con chim thời gian : Trên mặt trống ở vòng ngoài cùng, kể như vòm không gian, ta thấy vẽ những con chim mỏ dài cánh lớn đang bay. Không phải là chim vật tổ, mà đó là biểu tượng của một năm qua, do người ta quan sát thấy con chim ấy bay vút ngang trời vào mùa này năm ngoái, thì năm nay cũng mùa này, cỡ ngày này lại thấy nó bay. Chu kỳ 18 con chim : Tức là đã có chu kỳ 18 năm. Sở dĩ chỉ có 18 không hơn không kém số ấy là vì người ta dựa theo thang biểu 9 năm trước để tính ngày nguyệt sóc 9 năm sau. Sách Vân Đài loaị ngữ của Lê Quý Đôn có chép định thứ tính lịch như sau : Ngày mồng một của mỗi tháng vốn từ xưa đã có phép tắc. Quy định ngày ấy của 9 năm trước đem dùng lại để quy định ngày ấy của 9 năm sau. Gặp ngày ấy của tháng đủ ở 9 năm trước thì đếm liên tục từ can cũ của ngày ấy đến can thứ năm, từ chi cũ của ngày ấy đến chi thứ chín ( theo số lẻ, để định can chi cho ngày ấy tháng ấy của chín năm sau ). Gặp ngày ấy của tháng thiếu ở 9 năm trước cũng đếm như thế, nhưng dùng can thứ 4, chi thứ 8 ( theo số chẵn để định can chi cho ngày ấy tháng ấy ở chín năm sau ). Gặp năm thứ 36 = 6x6 = 18x2 của chu kỳ thì nên lưu ý suy tính cho kỹ. Phải tính xem trong vòng 36 năm ấy có bao nhiêu số lẻ thuộc về tiết Hàn lộ. Rồi ông lấy thành quả ấy để quy định ngày Lập Xuân của năm mới này. Nếu tính toán theo căn bản đó thì không sai lầm. Bốn mươi bảy năm về trước có nhuận vào tháng nào thì nay phải gia thêm 2 tháng để tính tháng nhuận. Giảm tăng như thế thì không sai vào đâu được. 253 Tang lễ người Mường nếu thực hiện đầy đủ phải mất 12 ngày đêm vì nó là một chuỗi các nghi lễ phức tạp quy tụ nhiều loại hình văn hoá dân gian mang tính nhân bản sâu sắc. Văn học dân gian Mường rất phóng phú đa dạng: Trường ca "Đẻ đất đẻ nước" dài hàng vạn câu thơ được diễn xướng bằng nhiều khúc đoạn. Toàn bộ Trường ca phản ánh quan niệm của người Mường về vũ trụ, con người; phản ánh lịch sử đấu tranh lâu dài gian khổ của con người trước thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Truyện thơ dài có "Vườn hoa núi cói, "Hùng nga Hai mối", "út lót Hồ liêu", "Tràng đồng"... Đó là những truyện thơ được người Mường yêu quý và nhiều người trong cộng đồng Việt Nam biết tới. Truyện cổ, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, vè, câu đối rất phong phú đã được tập hợp xuất bản ở nhiều đầu sách của Trung ương và địa phương. Lối hát giao duyên, hát chúc hát mừng được thể hiện ở các hình thức hát "thường đang, "bộ mẹng", hát ví gồm hàng loạt bài thơ dài ngắn khác nhau được định hình từ lâu và ngày càng được sáng taọ, bổ sung. Người Mường thường ví sự phong phú của thể loại văn học này là "Thường đang chín gánh bảy mùa" hát mãi không hết. Sự phong phú đa dạng của văn hoá Mường đã đóng góp xứng đáng vào văn hoá dân gian Việt Nam. Nhạc cụ của người Mường gồm cồng, chiêng, cò ke, ống sáo, kèn gỗ, ống ôi, phỉ đôi, bòng beng, trống đồng, trống gỗ, đàn máng (đàn bầu), đàn tam, đàn tớ ính (đàn môi), kiểng, chũm choẹ. Về hoà tấu, có hai loại tấu: Dàn chiêng sắc bùa gồm từ 6 đến 12 chiếc chiêng to và dàn nhạc cò ke ống sáo. Hoà tấu chiêng thường vào các dịp tết, ngày vui. Người Mường coi chiêng là vật gia bảo, là sự giàu có thịnh vượng. Độc tấu sáo ôi thường được tấu lên trong khung cảnh đêm trăng thanh vắng để gọi bạn tình. 20
Nghệ thuật múa có múa "quạt ma" là điệu múa của các nàng dâu trong đám tang với ý nghĩa là quạt hầu cho hồn người quá cố. Điệu múa này có trang phục lộng lẫy và trang sức rất đẹp mắt. Ngoài ra còn có múa tế lễ vật cũng thực hành trong lễ tang, múa tế cờ thực hành trong giờ phút trước khi ra trận. Trò chơi dân gian là một bộ phận quan trọng trong văn hoá Mường. Người lớn có trò chơi ném còn, chơi đu, bắn nỏ, bắn súng hoả mai thường diễn ra trong các dịp lễ hội. Phong phú nhất là các trò chơi của trẻ em, đó là các trò như đánh mảng, đánh cắt, đánh chò rất độc đáo, khoẻ khoắn lôi cuốn nhiều trẻ em tham gia. Những trò chơi gắn với đồng giao như "chằn chỉ, chằn chăn", trò "đập boồng boông". Trò chơi dân gian góp phần vào sự phát triển toàn diện của trẻ em, do đó nó không thể thiếu vắng trong đời sống văn hoá của người Mường. Văn hoá Mường đã góp phần xứng đáng vào sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hoá Việt Nam. Cùng với văn hoá Mường, văn hoá các dân tộc Thái, H’Mông, Dao sống trên mảnh đất Hoà Bình đã tạo nên sự phong phú đa dạng cùng những nét riêng của văn hoá trên mảnh đất này. Cũng giống như nguời Mường, người Thái Hoà Bình cũng làm nhà sàn, song nhà sàn Thái rộng hơn, sắp xếp quy củ hơn. Trang phục của người Thái đa dạng và hết 21 chưa đổi phương hướng, người ta tất phải chiếu theo để ước định rằng quan niệm và chiêm nghiệm này có tuổi thọ xưa hơn quan niệm và chiêm nghiệm ghi trong kim tự tháp. Quan sát mặt trăng và thuỷ triều : Tù trưởng cần biết đích xác thuỷ triều lên xuống để chỉ dẩn dân chúng làm ruộng hay ra khơi. Cho nên ông cần ngồi đồng hướng mới nghiên cứu được mặt trăng và con nước. Kinh nghiệm không sai dạy từ xưa đã cho biết rằng: Mặt trăng đến phương Mão Dậu thì thuỷ triều dâng lên ở phía Đông, Tây. Mặt trăng đến phương Tí Ngọ thì thuỷ triều dâng lên ở phía Bắc, Nam . Từ mồng một đến ngày rằm, con nước thường chậm một đêm. Từ ngày rằm đến ngày mồng một, con nước thường chậm một ngày. Trước và sau ngày mồng một và ngày rằm, mặt trăng đi mau hơn, cho nên 3 ngày trước cuối tháng thì con nước thượng thế lớn hơn. Ba ngày sau ngày mồng một, con nước đương thế to tát. Trong ngày rằm con nước cũng như thế. Trong thời trăng lưỡi liềm, mặt trăng đi hơi chậm, cho nên con nước lên xuống hơi kém. Trong một tháng, con nước lên mạnh sau ngày mồng một và ngày rằm. Trong một năm, con nước lên mạnh vào giữa mùa xuân và mùa thu. Đó là những chiêm nghiệm của người ở hải khẩu vùng sông Mã, người ở Phong Châu trong đất liền sợ không có chiêm nghiệm ấy. 252
Người đứng trên cầm cái gì như cung tên nhưng không nhắm để bắn gì cả, đó là công cụ xem sao mà xoay hướng thuyền. Các hướng Đông Tây được ước định theo chiều xoay của kim đồng hồ. Đó là khi người ta quan niệm Trái Đất đứng yên một chỗ, chỉ mặt trời mọc đằng Đông , lặn đằng Tây. Nhưng khi người ta chiêm nghiệm và quan niệm Mặt Trời đứng nguyên vị và Trái Đất chạy xung quanh Mặt Trời theo quỹ đạo thực của nó. Vấn đề hướng Đông Tây, theo sử gia Hy Lạp Hérodote, ở thế kỷ V trước CN, khi tiếp xúc với các tu sĩ Ai Cập, ông được các vị này cho biết trải qua 341 thế hệ thiên vương Ai Cập ( tính ra 11 ngàn năm ) đã có 4 lần mặt trời mọc và lặn ở phương khác nhau. 2 lần nó đã mọc ở phía nó lặn bây giờ và 2 lần nó đã lặn ớ phía nó mọc bây giờ. Nhà học giả Nga Immanuel Velikovsky khi dẫn điều ấy trong sách “Tinh Cầu va chạm” ( Modes en collision ) còn nhắc thêm nhiều cổ tự Ai Cập khắc trên lá giấy papyrus nói về sự lộn ngược của Trái Đất hồi 2 thiên niên kỷ trước Tây lịch, không thể cho là mơ hồ được những lời như : Harakhte ( mặt trời chiều ) mọc ở phương Tây. Ông lại dẫn thêm những chữ khắc trong các kim tự tháp : “ Mặt Trời đã thôi ở phương Tây và bắt đầu chói sáng ở phương Đông”. Sau khi có hiện tượng đảo ngược phương hướng ấy, thì danh từ phương Tây và mặt trời mọc đã không còn đồng nghĩa với nhau nữa, mà người đời đã phải nói thêm để xác định : l’Quest, qui est à l’Occident (phương Tây là ở về phương Tây). Theo luận cứ của tác giả thì đó là kết quả của hiện tượng lộn ngược trục xoay của Trái Đất. Chúng tôi chưa dám tin là đúng như vậy, bởi vì đúng như vậy thì kể từ ngày đổi phương hướng Đông Tây ấy, mà chữ khắc trong kim tự tháp ghi nhận, và đây mặt trống vẽ ra khi 251 sức độc đáo. Trang phục phụ nữ Thái có những hoa văn trang trí mang biểu tượng thiên nhiên đa dạng: chim muông, cây cỏ. mặt trời. Đai thắt lưng và khăn Piêu là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Dân tộc Thái có nhiều lế hội mang sắc thái riêng: lễ ra lửa. lễ cưới, lễ cơm mới, lễ hội ném còn, múa quạt. Đặc biệt xoè Thái là hấp dẫn nhất. Nếu vào các bản thái và được thưởng thức hương vị cá đồ, măng đắng, là coi như bạn đã trở thành người khách quý. Một số bản Thái ở Mai Châu từ lâu đã cuốn hút và làm cho du khách sững sờ trước vẻ đẹp của thiên nhiên cùng sự phong phú, độc đáo của nếp sinh hoạt Thái. Dân tộc H’Mông Hoà Bình sống trên các đỉnh núi cao. Trang phục của người H’Mông có kết cấu hoa văn khác lạ. Con trai H’Mông có tục “Bắt vợ” rất thú vị và là quy ước để nâng cao giá trị ngườ con gái. Ngườ H’Mông là tác giả của tục chơi cù quay, một trò chơi sôi động cuốn hút nhiều người tham dự. Tiếng khèn và những điệu múa khèn mang nhiều sắc thái tình cảm, văn hoá rất độc đáo. Cái khèn kà ngườ bạn tâm tình của người H’Mông, nó đã ăn sâu vào từng phong tục, nếp sống của người H’Mông. Người Dao mỗi khi có cháu bé chào đời thường tổ chức lễ “Dâng hương cúng Mạ” để cầu mong cho cháu bé được lơn lên trong sự đùm bọc yêu thương. “Tết nhảy” là một nét độc đáo của người Dao mang sắc thái gia đình. Tết tổ chức ở một vài nhà nhưng được bản coi như tết chung. Tất cả mọi người đều ăn uống, nhảy múa vui vẻ trong 3 ngày liền. Du khách nếu có dịp đến đúng vào “tết Nhảy” thì khó mà từ chối một lời mời nhiệt tình của chủ nhân, chỉ khi nào bạn được ăn uống no say mới được về. Có thể nói, văn hoá Hoà Bình với sự phong phú, đa dạng của nền văn hoá các dân tộc, đã để lại những giá trị to lớn không chỉ cho Việt Nam mà còn của cả thế giới. Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể mang đậm nét bản sắc văn hoá của các dân tộc, bản sắc văn hoá núi rừng Hoà Bình như: cơm lam, rượu cần, nhà sàn, vải thổ cẩm, kỹ thuật trồng lúa nước trên các chân ruộng bậc thang, ngôn ngữ, chữ viết, các áng mo mỡi, các làn điệu dân ca 22
(ví đúm, thường rang, bọ mẹng), các nhạc cụ cồng chiêng, các điệu múa quạt và múa xoè, nhảy sạp, các phong tục, tập quán và lễ hội khác là sản phẩm trí tuệ được nhân dân các dân tộc Hoà bình đúc rút, sáng tạo trong lao động và được giữ gìn qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Những giá trị văn hoá đó tạo nên nền văn hoá Hoà Bình đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên nét đặc trưng văn hoá, cốt cách nhân dân các dân tộc thiểu số Hoà Bình. 4. Văn hóa Bắc Sơn. Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn, nơi phát hiện đầu tiên những di vật của nền văn hóa này. Không gian của văn hóa Bắc Sơn là các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... ngày nay. Tính đến năm 1997, đã có 51 điểm văn hóa Bắc Sơn được tìm thấy và khai quật. Trong số đó, có 8 địa điểm tìm thấy di cốt người. Trên lưu vực sông Hồng, các nhà khảo cổ học đã xác lập chắc chắn được một phổ hệ gồm 3 giai đoạn trước Văn hóa Đông Sơn và sau Văn hóa Hòa Bình diễn ra trong thiên niên kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên: * Giai đoạn Văn hóa Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ đồng thau. * Giai đoạn Văn hóa Đồng Đậu thuộc trung kỳ đồng thau. * Giai đoạn Văn hóa Gò Mun thuộc hậu kỳ đồng thau. 23 văn, các loại vật đông miên bừng tỉnh dậy và mầm của cây cối cũng bắt đầu đội vỏ đâm lên.Ta gặp trên đường thẳng vạch từ trung tâm ra vòng thứ nhất, hình vẽ của những gì như người ở trong nhà sàn vừa tỉnh dậy. Còn kéo thẳng đường ấy ngược lên phái Nam , là thái dương cư ngọ, ấy là ngày hạ chí, trời nóng nực. Ta gặp hình vẽ của những gì như người làm việc đồng án vắng nhà. Phương mẹo dậu : Từ Tây sang Đông hới chếch lên, không vuông góc với Nam Bắc, ta gặp ở 2 đầu trên đường thẳng vạch tại vòng tròn thứ nhất, hai cái hình giống nhau, cùng khum tròn với 2 cột 2 bên, ở giữa một bệ như bệ thờ. Ấy là Xuaân phaân, Thu phân, khí trời mát mẻ, mọi người phải lo làm việc tế lễ. Bốn ngày thuộc nhị phân nhị chí này chính là 4 cái mốc thời gian cho người ta căn cứ để làm lịch. Chúng ta không còn những dụng cụ của người Giao Chỉ đã dùng để đo thời gian, nhưng chắc chắn phải có, thì khi chiêm nghiệm mới biết được có những gì khác nhị phân nhĩ chí, để người ta dùng nó như những cái mốc thời gian mà làm lịch. Phương tí ngọ và phương mão dậu với chòm sao bắt đẩu : Trên mặt trống đã có những phương Bắc Nam Đông Tây như vừa nói, thì trống tất nhiên phải được đặt theo phương hướng ấy trước mặt tù trưởng. Do đó ngoài công dụng làm lịch, trống còn là một địa bàn cho moät bộ tộc, khi đã định cư, để tìm ra phương hướng đi và về trung tâm định cư của mình, dù bằng đuờng thuỷ hay đường bộ. Trên hình thuyền, ở tang trống, có vẽ cái trống không thể hiểu là phẩm vật đem bán vì chỉ có một cái và lại đặt như thế. Đó là “ cái bàn biết phương hướng “đi về. 250
Riêng dòng tù trưởng Giao Chỉ, một mình hùng cứ một cõi trời nam, thì tính năm 354 ngày với 6 tháng đủ, 6 tháng tháng thiếu trong một năm, cho đúng với tuần trăng và khí tiết, mà đến ngày nay, âm lịch từ Trung Hoa in đem qua bán, cũng tính theo như thế. Nếu cần tính sổ vay mượn, thì có lẽ người Trung Hoa đã thiếu nợ của ta vậy. Lịch in vào sách và lịch khắc trên mặt trống : “Hoàng Đế ngũ gia lịch tam thập tam quyển”. Thật đã rõ: người Trung Hoa in lịch trên sách và lịch 365 ngày. Người giao Chỉ khắc lịch vào mặt trống đồng và lịch 354 ngày. Người Trung Hoa dùng Thiên Can, Địa Chi tính năm tháng ngày theo chu kỳ thập lục hoa giáp. Người Giao Chỉ tính chu kỳ 18 năm và những bội số của 18 ấy. Tỉ như 2 chu kỳ 18 gồm 3 lần thập lục hoa giáp ( 2x18=3x12) . Kết quả vẫn như nhau vậy . Riêng việc có một sáng kiến sắp xếp ngày tháng năm của quyển lịch cho tiện dụng hàng vạn năm thì đã thật là một sáng chế không kém cõi về khoa học, hợp lý, nhất là khi chúng ta được biết chưa thấy dẫn nước nào có một quyển lịch như vậy (Âm lịch hay Dương lịch ). Hướng tiến chung : Tất cả các hình vẽ chim, gà, hươu, người, đều tiến theo một hướng trong vòng tròn, từ trái qua phải, thuận theo chiều quay của Trái Đất đối với người quan sát, day mặt về hướng Bắc ( ngược chiều quay của kim đồng hồ ). Bởi lịch này là nguyệt lịch nên đặt tất cả theo chiều quay chung ấy. Phương tí ngọ : Đặt đúng khởi điểm của lịch ở cuối con gà trong dòng 6 con như đã nói, thì phương tí ngọ (bắc nam) chếch qua tia cuối bên tay trái của 14 tia ở trung tâm. Ấy là tiết đông chí nhất dương sinh, ngày đầu năm thiến 249 5. Văn hóa Phùng Nguyên . ( Thời đại đồ đồng đá.) Dọi xe chỉ bằng đất nung (chứng cứ của nghề xe sợi, dệt vải) Văn hoá Phùng Nguyên được phát hiện năm 1959 cách ngày nay khoảng 4000 năm, địa bàn phân bố chủ yếu ở một số tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ như: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội …. Văn hoá Phùng Nguyên là nền văn hoá mở đầu cho thời đại đồng thau ở Việt Nam. Đây là thời kỳ con người đã phát hiện ra kỹ thuật luyện kim (kim loại đồng) một nguyên liệu quan trọng giúp con người chế tạo những công cụ và vũ khí hiệu quả hơn trong quá trình chinh phục thiên nhiên và cải tạo cuộc sống của chính mình. Những dấu tích của nền văn hoá này hầu hết là các di chỉ cư trú ngoài trời, phân bố ở những vùng chân đồi núi, ven sông suối, trên những thềm sông, những gò đồi cao ở vùng đồng bằng và miền ven biển… Với một khối lượng di vật lớn phong phú về chất liệu, đa dạng về loại hình đã được phát hiện cho thấy nền kinh tế thời kỳ này phát triển hơn so với thời kỳ trước đó, đặc biệt là nông nghiệp, chăn nuôi. Với sự phổ biến của các công cụ săn bắn, đánh cá như mũi tên, mũi lao, chì lưới… chứng tỏ săn bắn, hái lượm vẫn đóng 24
một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế thời kỳ này. Nghề chế tác đá: Sưu tập di vật phong phú bao gồm công cụ sản xuất, thành phẩm và bán thành phẩm phát hiện tại công xưởng chế tác đồ trang sức tại Tràng Kênh (Hải Phòng) đa dạng về loại hình, tinh tế về kỹ thuật, chứng tỏ kỹ thuật chế tác đá thời kỳ này đã đạt đến đỉnh cao. Hầu hết những công cụ và đồ trang sức bằng đá đều được mài nhẵn, kích thước nhỏ nhưng hết sức tinh tế như: đục, mũi khoan, cưa, khuyên tai, nhẫn, vòng đeo tay, hạt chuỗi … Đặc biệt tượng người đàn ông bằng đá phát hiện ở Văn Điển (Hà Nội) còn mang đậm yếu tố phồn thực của cư dân nông nghiệp. - Nghề làm gốm: Là một nghề thủ công phát triển trong giai đoạn này, đa số đồ gốm được làm bằng bàn xoay nên có độ dày mỏng đều đặn, cân đối. Người Phùng Nguyên đã biết pha thêm cát hoặc các tạp chất khác như bã thực vật vào xương gốm làm cho gốm không bị biến dạng khi phơi hoặc nung ở nhiệt độ cao. Các hoạ tiết hoa văn trang trí đa dạng, phong phú như khắc vạch kết hợp văn đập, hoa văn chữ S, hoặc hoa văn hình tam giác đối xứng tạo thành dải băng mềm mại… Những dọi xe chỉ và những công cụ lao động bằng đá có kích thước nhỏ chứng tỏ nghề xe sợi, dệt vải, làm đồ gỗ cũng đã khá phát triển. Gốm Phùng Nguyên - sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật và mỹ thuật 25 được vào buổi chiều. Sâu bọ phải ẩn phục hết rồi vì lạnh. Thế mà nay sao hoả vẫn còn thấy hiện, côn trùng còn phá phách, như vậy các nhà làm lịch Trung Hoa thời ấy đã lầm, đáng lẽ phải có tháng nhuận nữa mới phải. Đó chính là thể thức và phương pháp làm lịch chung cho cả mọi giống dân trên thế giới, mà quyển lịch trên mặt trống đồng Ngọc Lũ đã có sẵn những gì để phòng hờ chỗ ghi năm dư tháng nhuận, thì trước khi nó hiện ra là một bảng lập thành, dòng dõi các tù trưởng Giao Chỉ không phải chỉ chừng năm ba thế hệ. Chúng ta có thể đoán không sợ sai lầm là ít nhất cũng phải mươi cái chu kỳ 180 năm (tức ít nhất là 1800 năm cho đến khi cái trống Ngọc Lũ đầu tiên được đúc), còn hơn nữa thì không dám biết. Những kết quả chiêm tinh lịch số riêng : Vâng, riêng của dòng tù trưởng Giao Chỉ. Đây là những bằng chứng hùng hồn nhất cho biết đích xác hồi đầu lịch sử, giống dân Giao Chỉ ở gốc tổ sống mà chẳng dính dáng gì về văn hoá với giống người Trung Hoa. Người Trung Hoa cho rằng nền thiên văn của họ bắt đầu với Phục Hi, khoảng 2850 năm trước kỷ nguyên Tây lịch. Đến đời Hoàng Đế ( 2657 – 2557 ) ta đã thấy họ dùng cách tính năm tháng theo chu kỳ lục thập hoa giáp ( chu kỳ 12 năm ). Hán thư Nghệ Văn Chí có ghi : “Hoàng Đế ngũ gia lịch tam thập quyển”. Cháu ba đời Hoàng Đế là Chuyên Húc (2545 – 2485 ) rất có nhiều về thiên văn. Trúc Thư Ký Niên viết : Sau khi lên ngôi được 13 năm, vua bắt đầu làm lịch số, và tính toán vị trí các sao trên trời. Xuân Thu Tả Truyện cũng ghi nhận rằng đời vua Chuyên Húc đã có những quan coi về lịch, về nhị phân (xuân phân, thu phân) và nhị chí (đông chí, hạ chí) và đoán được các ngày đầu mùa ( Xuân Thu Chiêu Công năm XVII ). Đời vua Nghiêu ( 2356-2255) đã biết vị trí nhị thập bát tú, nhật nguyệt ngũ tinh, đã định năm là 365 ngày, đã biết đặt tháng nhuận. 248
Con vật nhỏ theo sau mỗi con CHIM THỜI GIAN của một năm là để dành ghi năm nhuận 13 tháng. Cứ 5 năm thì bôi màu đánh dấu vào hai con vật nhỏ ấy, để hết tháng sáu nữa mới bôi vào tháng 6. ( Việc làm có vẻ mất công. Như ngày nay, mỗi ngày người ta cũng phải bóc một tờ lịch, và nếu lịch tháng thì mỗi ngày cũng phải lấy bút đánh dấu để hết tháng thì xé một tờ ). Quyển Âm Lịch dùng cho nhiều năm : Như vậy, ta thấy quyển lịch này dùng được cho nhiều năm và chúng tôi nghĩ rằng ngay cả bây giờ vẫn dùng được, để có thể mệnh danh là Nguyệt Lịch Vạn Niên. Làm sao biết chính xác năm nào nhuận vào tháng nào ? Điều ấy chưa có tài liệu nào khác để hiểu thêm. Có lẽ người xưa đã dùng lối chiêm nghiệm về khí tiết trong nhiều năm, nhiều chu kỳ, thấy có diễn biến trở lại như cũ mà bồi bổ dần cho sự hiểu biết chăng ? Biết đúng tháng nào đủ, thiếu , hoặc hai ba tháng đủ liền, hai ba tháng thiếu liền, và nhất định vào đâu trong năm, tất cũng do chiêm nghiệm. Hoặc còn một dụng cụ để ghi nhớ nào khác, trên một mặt trống khác, hay một vật nào khác mà ngày nay chưa tìm ra? Điều ta có thể biết chắc được là người xưa đã quan sát tinh tế rồi chiêm nghiệm trước, sau mới tính toán, để lại chiêm nghiệm nữa, mà kiểm điểm những tính toán kia. Sách Xuân Thu Tả Truyện có chép rằng : mùa đông tháng 12 (Năm Ai Công thứ XII) có châu chấu phá hoại. Quý Tôn hỏi Khổng Tử, ông đáp : “Tôi nghe rằng: chiều mà không thấy sao hoả nữa thì côn trùng ẩn phục hết. Nay sao hoả vẫn còn thấy chuyển vận về phía Tây, chắc các nhà làm lịch đã lầm”. Ý nói theo lịch Trung Hoa là tháng chạp. Đáng lý ra thì sao hoả không còn thấy 247 - Nghề đúc đồng: Tuy chưa tìm thấy công cụ lao động bằng đồng nhưng trong một số di chỉ thời kỳ này đã phát hiện một số cục đồng thau và những gỉ đồng, điều đó đã chứng tỏ người Phùng nguyên đã biết luyện kim đồng. Qua phân tích thành phần kim loại đó là những hợp kim đồng thau được pha trộn từ đồng thiếc hay chì. Tượng người Đá, Văn Điển - Hà Nội, cách ngày nay khoảng 4000 năm. Cuối thời đại đá mới, kỹ thuật chế tác đá đã đạt đến đỉnh cao của sự phái triển. Những chế phẩm đá như: công cụ, đồ trang sức hết sức phong phú, đa dạng về loại hình, kích cỡ. Đặc biệt đồ đá nhỏ xuất hiện và ngày càng phổ biến với kỹ thuật tinh xảo. Thời kỳ này công cụ được cải tiến, phương thức sản xuất thay đổi, của cải vật chất trở nên phong phú cho phép một số ngành thủ công ra đời trong đó có nghề làm đồ trang sức. Nhiều công xưởng chế tác đá với trình độ chuyên môn hoá cao đã hình thành. Pho tượng người bằng đá này chắc hẳn là một trong số những chế phẩm tinh xảo của các công xưởng đó. Tượng được phát hiện ở di chỉ khảo cổ học Văn Điển. Đây là pho tượng người bằng đá đầu tiên phát hiện được. Tượng làm bằng đá nephrit mô tả một người đàn ông trong tư thế nửa quỳ nửa đứng. Khuôn mặt tạo tác giản đơn theo phương pháp ước lệ khái quát, không đặc tả tỉ mỉ chi tiết nhưng vẫn tạo được nét sinh động. Toàn bộ 26
khuôn mặt chỉ là hai vạt lõm đối xứng, chỗ giao điểm của hai vạt lõm tạo thành sống mũi nổi cao. Hai vết khoan tròn nhẹ cân đối phía trên hai ăn sống mũi điểm nhãn đã tạo hồn sống cho pho tượng, khiến tượng sinh động hẳn lên. Mặc dù pho tượng không còn nguyên vẹn, song vẫn cho ta thấy tỉ lệ đầu - mình - chân rất cân đối, chính xác chứng tỏ người thợ tạo tác tượng nắm rất chắc về cấu tạo hình thể con người. Pho tượng đá có hai chi tiết đáng lưu ý: - Trên đầu pho tượng vẫn còn lại một phần của chiếc mấu có lỗ khoan để sỏ dây chứng tỏ đây là pho lượng nhỏ để đeo như một thứ đồ trang sức tín ngưỡng. - Giới tính nam của pho tượng được thể hiện rất rõ, có lẽ lại là một biểu hiện của tục thờ sinh thực khí - một tín ngưỡng phổ biến của cư dân nông nghiệp lúa nước khu vực Đông Nam Á. Đây là pho tượng tròn hình người hiếm hoi được phát hiện trong di tích thuộc những nền văn hoá tiền Đông Sơn ở Việt Nam. Ảnh tư liệu văn hoá Phùng Nguyên 27 chim ở vòng ngoài cùng và đi qua phần cuối của một lễ hội ở sau lưng vị thần tí hon). Thực hành việc ghi lịch và xem lịch : Người ta có thể dùng một chất màu (son phấn, mực đen) mà bôi lên hình của mỗi cánh hoa khi có 1 đêm qua. Chẳng hạn đến cánh thứ tư mà vòng ngoài chưa có gì cả thì đó là đêm mồng 4 tháng giêng năm đầu của chu kỳ. Nếu vòng ngoài đã có 3 hình người tượng trưng cho tháng và vòng ngoài cũng đã có 6 con chim bị bôi rồi thì đó là đêm mồng 4 tháng tư năm thứ 7 của chu kỳ. Người tù trưởng có thể lấy năm đầu của mình chấp chưởng quyền lãnh đạo làm năm đầu chu kỳ. Khi nhìn vào lịch thì biết rõ mình đã cai trị được bao nhiêu năm. 246
Mồng 1 lưỡi trâu - Mồng 2 lưỡi gà - Mồng 3 lưỡi liềm - Mồng 4 câu liêm - Mồng 5 liềm vật - Mồng 6 phạt cỏ - Mồng 7 tỏ trăng, là bắt đầu tuần trăng sáng. Tuần trăng sáng kia dài đến đúng đêm 10 rằm trăng náu (đáo : đủ ). Mười sáu trăng treo ( chiêu : sáng sủa ). Mười bảy trải giường chiếu ( rủ giường chiếu ). Mười tám giương cạm ( trương : xếp đặt, chẩm : cái gối ). Mười chín bịn rịn (bị : áo ngủ đắp trùm, rị : tối ). Hai mươi giấc tốt ( ngủ ngon ). Hai mốt nữa đêm ( mới có trăng ). Từ 22 lại vào tuần không trăng, ( 22 – 30 ) nên không cần tính nữa. Cái hoa 14 cánh ở trung tâm không phải là hình mặt trăng hay mặt trời của bộ lạc thờ những tinh thể ấy, đó là hình vẽ để đếm đêm và ngày. Đêm là khoảng cách nằm giữa mỗi 2 ngày, trong cả tháng 29 ngày. Tổng số khoảng cách ấy là 28 nếu là tháng thiếu, 29 nếu là tháng đủ. Cái hoa 14 cánh, đếm hết vòng thứ nhất từ 1 đến đêm trăng tròn (15, đêm rằm ) và đếm vòng thứ 2 nữa, từ 16, thì lại trở về đêm không trăng (đêm 30). Bắt đầu đếm từ đâu ? Tìm ra đầu mối là vấn đề quan trọng. Chỉ có 1 điểm trong cả vòng tròn để dùng khởi đầu cuộc đếm. Ấy là điểm chỉ vào đêm 30 không trăng. Ta biết rằng vào đầu tháng có 6 đêm không trăng. Vậy điểm khởi đầu để xem lịch phải nằm ở đuôi con gà cuối cùng trong dòng 6 con. ( Xem hình : Doremon tô vàng con gà và vị thần “tí hon”, đó là điểm đầu năm nhân sự, ngày đầu năm bạn có thể xác định bằng cách kẻ một đường thẳng từ tâm bông hoa thời gian tới điểm giữa của 2 cánh hoa ( giữa 2 đêm liền nhau là 1 ngày ) và hướng về phía con gà này, đường thẳng đó sẽ tự nhiên cắt đuôi con gà, đuôi con 245 Đá, Văn Điển - Hà Nội, cách ngày nay khoảng 4000 năm : Công cụ sản xuất của cư dân Phùng Nguyên chủ yếu làm bằng đá. Hầu như toàn bộ công cụ như bôn đá hình tứ giác, rìu đá tứ giác và đồ trang sức đá vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai… đều được mài nhẵn, kích thước nhỏ nhắn, đa dạng và tinh tế, được chế tác từ các loại đá quý hiếm, độ rắn cao, màu sắc đẹp như trắng, nâu, đỏ, lam, nâu đen, vàng gan gà…. Các kỹ thuật chế tác như ghè đẽo, cưa, khoan, mài, tiện… đều có mặt trong quá trình chế tác đồ đá của người Phùng Nguyên và đạt tới một trình độ điêu luyện cao • Di vật: đá, gốm, xương, đồng Hiện vật đồng thau định hình chưa tìm thấy trong các địa điểm văn hoá Phùng Nguyên, song cư dân Phùng Nguyên đã biết đến nghề luyện đồng. Trong một số di chỉ 28
Phùng Nguyên đã tìm thấy những cục đồng nhỏ, gỉ đồng và xỉ đồng. Kỹ thuật chế tác gốm rất tinh xảo về cả loại hình, chất liệu, hoa văn. Gốm Phùng Nguyên dược xem là đỉnh cao của nghệ thuật gốm Việt Nam thời sơ sử. Gốm Phùng Nguyên - sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật và mỹ thuật •Kinh tế-Xã hội: Cư dân Phùng Nguyên là cư dân nông nghiệp, sống ở những làng định cư rộng và lâu dài, các ngành nghề thủ công đóng vai trò quan trọng. Những chứng cứ vật chất cũng cho thấy thu lượm và săn bắt những loại thú vừa và nhỏ, thuỷ sản… có vai trò không phải là nhỏ trong đời sống hàng ngày. Đời sống tinh thần phát triển với những đồ trang sức đẹp, gốm trang trí cầu kỳ và một số tượng nghệ thuật Bộ 3 cái chạc. Văn hóa Phùng Nguyên Năm 1958, người ta tìm thấy những mộ táng tại Phùng Nguyên Phú Thọ, với những đồ tùy táng như chạc bao giờ cũng đi từng bộ ba chiếc. Bộ 3 cái chạc. Tìm thấy trong 6 mộ táng ở Lý Hòa. Mộ nào cũng có bộ 3 cái chạc, tức huyền số 3 và 2. 29 Cách đếm ngày và đêm Năm âm lịch theo kinh nghiệm nhiều đời nghiên cứu mặt trăng, vẫn được tính là 354 ngày ( dương lịch tính 365 ngày ) chia ra cho 12 tháng, thì mỗi tháng 29 ngày gọi là tháng thiếu và có dư 6 ngày để thêm vào cho 6 tháng khác gọi là tháng đủ. Vậy một năm âm lịch có 6 tháng 29 ngày và 6 tháng 30 ngày. Cứ năm năm lại có hai năm mỗi năm dư 1 tháng, gọi là năm dư tháng nhuận. Và cứ sau năm thứ 18, qua năm thứ 19 gọi là 1 chương thì lại không tính là năm dư, chỉ có 12 tháng thôi, kể như là năm thường vậy. Do đó, vòng hình vẽ 18 con chim mỏ dài cánh lớn ở ngoài cùng là hình vẽ một chu kỳ 18 năm, mỗi con chim ấy là 1 năm. Vòng hình vẽ thứ nhất ở trong cùng gần trung tâm có 6 người trang phục kỳ dị mỗi bên vòng tròn đối nhau, đã không phải người Giao Chỉ ăn bận như thế, mà đó là những vị thần cai quản mỗi vị 1 tháng, trong 6 tháng đầu ở 1 bên và 6 tháng cuối mỗi năm. Thêm có một hình người thấp bé hơn cạnh 6 người ở một bên, đó là để ghi tháng nhuận của năm dư. Vòng hình vẽ thứ nhì ở giữa, có 6 con gà, 10 con hươu, rồi lại 8 con gà, 10 con hươu, ấy là hình vẽ những con vật tương trưng. Gà chỉ đi ăn vào ban ngày, Hươu đi ăn vào đêm trăng sáng. Có 6 đêm vào đầu tháng từ 1 đến 6 không trăng; và 8 đêm vào cuối tháng từ 22 đến 30 cũng không trăng. Những đêm ấy không đi săn thú được. Và sau đó, khi có trăng thì có thể tổ chức đi săn đêm. Theo kinh nghiệm cũ truyền mãi tới ngày nay, có 6 đêm đầu tháng không trăng, người ta tính : 244
Liệu có trăng không ? Trăng lên vào chặp tối hay gần sáng ? Ngày mai nước có lên không ? Có thể cho thuyền ra khơi đánh cá được không ? Mùa này nên ở nhà hay đi hái trái ? Đã nên giả gạo để ủ làm rượu dùng vào ngày lễ nào đó chưa ? Ông tù trưởng phải có nhiệm vụ biết ngày giờ, sáng tối, trăng tròn trăng khuyết, tiết trời nóng lạnh, mưa gió, con nước, tình hình muôn thú, cũng như những dịp lễ lạt phải chuẩn bị trước. Sự tích lũy kinh nghiệm của nhiều đời tù trưởng đã phải được ghi lại, cũng như phải có gì để mà ghi lại, để mà làm việc và hướng dẫn quần chúng. Một quyển lịch cổ xưa Vì các lý lẽ trên, vị tù trưởng phải có một quyển lịch năm, tính theo tuần trăng, theo mùa màng khí tiết, đặt ngay cạnh mình, để dân hỏi gì là tra ngay ra được câu trả lời. Lịch ấy vạch trên đồ đất nung thì dể vỡ, dễ mòn, không truyền được nhiều đời. Vạch trên mặt trống đồng thì thật là tiện, gọn, đúng với vật biểu tượng uy quyền của mình cùng cả dòng tù trưởng. Vậy những hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là một quyển Âm Lịch, có tháng đủ, tháng thiếu, có đêm trăng tròn, trăng khuyết, hay không có trăng, lại có cả năm nhuận và chu kỳ 18 năm để tính tháng dư, cũng như có những chỉ vạch về 4 mùa trong năm. Nếu vậy thì không những không có gì là mê tính ( thờ chim, vật tổ mặt trời, mặt trăng, ca vũ để cầu thần linh,…) mà có vẻ như người xưa còn có tinh thần thực tế, hợp lý, khoa học, chính xác, chưa biết chừng người đời nay còn phải giật mình là đằng khác nữa. 243 6. Văn hóa Đồng Đậu . ( Thời đại đồ đồng) Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên, trước văn hóa Gò Mun. Tên của nền văn hóa này đặt theo tên khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962. Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các đồi gò trung du Bắc Bộ với một nền kinh tế khá ổn định và phát triển dựa trên nông nghiệp trồng lúa và các cây hoa màu. Các đấu tích luyện kim như xỉ đồng, các mảnh khuôn đúc (bằng đá) cho thấy nghề đúc đồng đã có và phát triển thời kỳ này[. Hiện vật đồ đồng Văn hoá Đồng Đậu 7. Văn hóa Gò Mun. Văn hóa Gò Mun ước chừng trong khoảng thời gian từ năm 1.000 - năm 700 TCN, thuộc cuối thời kỳ đồ đồng. Nền văn hóa này được đặt theo tên của địa điểm mà vào năm 1961, các nhà khảo cổ học đã khai quật được nhiều 30
di chỉ của nền văn hóa này, gò Mun, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Văn hóa Gò Mun được nhìn nhận như là nền văn hóa tiền văn hóa Đông Sơn. Thời kỳ này, người Việt cổ đã có những chuyển biến rõ rệt về một xã hội phúc tạp và giàu có, thúc đẩy việc ra đời nhà nước sơ khai của người Việt. Khám phá Rời Đồng Đậu và các di chỉ đồng dạng, chúng ta hãy đi thăm Gò Mun cùng với hơn 10 địa điểm khảo cổ khác thuộc giai đoạn văn hóa Gò Mun được phân bố trên một địa bàn về cơ bản phù hợp với địa bàn các địa điểm thuộc những giai đoạn trước. Đó là Bãi Dưới, Vinh Quang, Đình Tràng, Đồng Lâm, Nội Gầm... thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hà Nội. Người Gò Mun cũng thích ở trên những gò đồi cao nổi lên giữa vùng đồng bằng và trung du; họ bắt đầu thích tập trung ở những vùng chân gò, những vùng gò thấp ven các sông Hồng, Cầu, Đáy, Cà Lồ... Cuộc sống định cư lâu dài của họ đã để lại những tầng văn hóa khá dày.Đến giai đoạn Gò Mun, công cụ và vũ khí đồng thau đã chiếm tỷ lệ trên 50% tổng số công cụ và vũ khí, với các loại mũi tên, mũi nhọn, lưỡi câu, dao, giáo, dây, kim, giũa, dùi, đục. Loại rìu lưỡi xéo đã xuất hiện dưới dạng hoàn chỉnh với mũi rìu hơi chúc và lưỡi hơi cong. Đồ đồng thau Gò Mun đã được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp: những lưỡi hái đã được phát hiện; những chiếc rìu cũng đã được sử dụng như những nông cụ. Đồng thau cũng được dùng làm đồ trang sức: vòng tay được uốn bằng những dây đồng. Đồ gốm Gò Mun có độ dày rất đều, độ nung cao (khoảng 900C); có mảnh được nung gần thành sành. Gốm có màu xám xanh, xám mốc. Người thợ gốm Gò Mun phát triển 31 như trên trống dùng vào dịp tang lễ. Nhiều vị khác còn thêm tại miền Bắc có bộ lạc hay hoá trang cái đầu thành đầu chim trong lễ nghi cúng kiếng theo điệu trống đồng. Trống vốn không biết nói, cũng không biết thế nào mà dám cãi. Thôi thà tuỳ người ta nhớ được một tiền tích nào ở đâu thì sẵn ghép cho nó những nội dung khác nhau. Ra sao nó cũng phải chịu. Chúng tôi chỉ trộm nghĩ rằng, trống đồng xưa chỉ tù trưởng mới được phép có, nó như một ấn ngọc tỷ, biểu tượng uy quyền của vị Hoàng Đế, người ta chả nên lầm mà hiểu nó như một sản phẩm công nghệ để trao đổi trong phiên chợ, và hiểu những hình vẽ là để cho vui mắt người mua dùng. Việc cần là tìm cái ý tiên khởi của người xưa gởi gắm vào hình vẽ và nếu có thể được thì tìm hiểu xem hình vẽ đó để làm gì ? Tạm coi là hình mặt trời ở giữa mặt trống, nhưng sao lại 14 tia sáng mà không hơn, không kém ? Sao lại chỉ có 18 con chim ? Sao lại có 6 con gà, 10 con hươu ? Rồi 8 con gà 10 con hươu nữa ? Nếu làm cho đẹp sao không làm đều nhau ? Có lẽ chăng đây là cái trống của người tù trưởng quản lãnh 14 vị tù trưởng nhỏ khác mà tiếng trống đánh lên thì 14 nơi kia đều phải nghe ? Hoặc đây là một đám rước và người ta hoá trang chăng ? Nhưng đâu là đầu, đâu là cuối đám rước ? Và sao lại có người giã gạo ? Người ngồi nhà sàn ? Tài ba và nhiệm vụ của tù trưởng Một tù trưởng hẳn phải có nhiều đám dân đến hỏi những việc thuộc đời sống hằng ngày của họ. Ông phải có hiểu biết gì hơn họ và chỉ bảo họ ra sao ? Chẳng hạn, có đám hỏi đêm nay có thể đi săn được không ? 242
Huống chi chúng tôi có ở đây khá đủ những căn cứ của nền cổ học phương Đông mà dường như nhiều nhà khoa học mới vì lẽ nào đó không để ý tới khiến sự nhìn vào di sản văn hoá cũ ở Đông phương, mà thuần bắng con mắt Tây phương, thì có thể sẽ quên những khía cạnh quan trọng ở nội dung chăng ? Chính vì ngại chuyện ấy mà chúng tôi có bản viết này, riêng đề cập tới hình vẽ trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, ước mong cho rằng nó sẽ là chìa khoá để mở nhiều những kho tàng khác có thể có trên những mặt trống khác. Chúng tôi không nói tới hình vẽ ở tang trống vì nó có giá trị trang trí nhiều hơn là thực tiễn. Trống đồng Ngọc Lũ. Kể từ ngày cái trống này được moi ra khỏi chổ chôn giấu đến nay, những hình vẽ trên mặt trồng vẫn là một thách đố đối với các nhà khảo cổ học, cũng như với nhân dân Việt Nam muốn tìm hiểu nó định nói cái gì ? Chúng tôi rất kính phục và cảm ơn các nhà khảo cổ Tây phương nhất là ở trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, để rất nhiều năm tháng và tâm tư cùng đem những sử học, mày mò, khảo sát, suy luận và giả thiết. Các vị ấy đã viết nên cả những bộ sách lớn khiến trống đồng trở thành một vật nổi tiếng trên Thế Giới. Nhờ các vị mà rất đông những nhà học giả của nước chúng tôi khi đề cập đến di sản văn hoá này cũng đã khiến được cho quần chúng bình dân biết đại khái rằng ngày xưa các bộ lạc của tổ tiên mình thờ vật tổ là con chinh tên là Lạc, thờ thần mặt trời ( vì hình vẽ ở trung tâm mặt trời loé ra nhiều tia sáng),lại có những hình người đội mũ cánh chim, mặc áo xòe ra như lông cánh chim, rồi có cả mắt chim ở đầu mũi thuyền, đầu mũi tên, trên mái chèo, bánh lái thuyền, … Nhiều vị xác quyết rằng bộ lạc cổ xưa này sau đó di cư đến các hải đảo Thái Bình Dương, nên có liên hệ bà con với bộ lạc Dayak ở Bornéo, còn có hình thuyền giống 241 lối trang trí hoa văn bên trong miệng hiện vật đã có từ giai đoạn Đồng Đậu. Các miệng gốm Gò Mun thường được bẻ loe ra, nằm ngang, rộng bản, góc tạo thành giữa cổ và thân thường là góc nhọn. Những loại hình thường gặp là các loại nồi, các loại vò, bình cổ cao, chậu, âu, bát đĩa, cốc. Chân đế có xu hướng thấp dần, loại đáy bằng xuất hiện, hình dáng ổn định, thanh thoát. Ngoài ra còn có các loại bi, dọi xe chỉ, chì lưới. Loại hoa văn độc đáo và phổ biến của gốm Đồng Đậu là hoa văn nan chiếu, và hoa văn khắc vạch: những đường nét này được phối trí hài hòa với những vòng tròn nhỏ tạo nên những đồ án sinh động kết thành một dải quây vòng phủ kín miệng gốm, làm thành đặc trưng chủ yếu của hoa văn gốm Gò Mun. Kỹ thuật chế tác đá đang ở trên bước đường suy thoái. Đó là do sự phong phú và sự phát triển của nghề luyện kim đồng thau. Những cái hái bằng đồng thau phát hiện được ở nhiều nơi nói lên sự phát triển và hoàn thiện của nông nghiệp trồng lúa. Hợp kim đồng thau để đúc hái có 89% đồng và 0,1% thiếc với những vết chì. Trong số những công cụ bằng đồng thau dùng để thu hoạch hoa màu của người xưa ở vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công nguyên, loại hái Gò Mun lưỡi cong, có gờ ở giữa, họng tra cán hình chóp cụt là có hình dáng hoàn thiện và tiến bộ hơn cả. Lần đầu tiên những mũi tên đồng thau xuất hiện, với loại hình đa dạng và số lượng nhiều, đòi hỏi những tiến bộ về kỹ thuật và cũng đòi hỏi phải có một khối lượng nguyên liệu lớn để đáp ứng đủ nhu cầu, vì mũi tên một lần bắn đi là mất "một đi không trở lại". Truyền thống giỏi cung nỏ của người Việt cổ khiến quân thù xâm lược ở buổi đầu công nguyên phải khiếp sợ và khâm phục, vốn đã có một gốc rễ lâu bền từ giai đoạn Gò Mun này. Sự phát triển của nghề thủ công luyện kim đã có ảnh hưởng lớn không những đến sự phát triển của nông nghiệp mà còn thúc 32
đẩy sự hoàn thiện của các nghề thủ công khác - trừ nghề làm đồ đá. Những mũi giáo gỗ phát hiện được ở giai đoạn Gò Mun cho chúng ta biết rằng nghề làm đồ gỗ - một nghề cũng có truyền thống xa xưa như nghề làm đồ đá - vẫn tiếp tục tồn tại và cải tiến. Người Gò Mun sống bằng nghề làm ruộng trồng lúa nước là chính, đồng thời họ cũng là những người chăn nuôi, săn bắn, đánh cá. Đây là một cung cách làm ăn tiến bộ, cũng là cách làm ăn của mọi dân cư ở những vùng trung tâm nông nghiệp của thế giới cổ đại Hiện vật khảo cổ cho thấy rõ: giai đoạn Gò Mun được phát triển trực tiếp lên từ giai đoạn Đồng Đậu và có mối liên hệ chặt chẽ với các giai đoạn phát triển trước đó. Đồng thời giai đoạn Gò Mun cũng chứa đựng những tiền đề vật chất cho sự phát triển của một giai đoạn cao hơn vào cuối thời đại đồng thau và đầu thời đại đồ sắt ở nước ta: giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun: 3 giai đoạn lớn của thời đại đồng thau trong đó cư dân nông nghiệp Việt cổ, người Phùng Nguyên, người Đồng Đậu, người Gò Mun ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, bắc Trung Bộ, đã từng bước chế ngự thiên nhiên, làm ruộng lúa, phát huy được tính ưu việt của nền kinh tế nông nghiệp, bước vào chế độ dòng cha, làm chủ vùng tam giác châu sông Hồng, mở đường cho một giai đoạn văn hoá rực rỡ, đỉnh cao thời đại dựng nước: Di vật Phân bố trên cùng địa bàn với văn hoá Phùng Nguyên và văn hoá Đồng Đậu trước đó, trong các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây và thành phố Hà Nội. Chủ nhân Văn Hóa Gò Mun là cư dân nông nghiệp. 33 trống có thể đoán được là của các tù trưởng đã thuê lò Thanh Hoá đúc. Đó là những vật biểu tượng quyền uy của tù trưởng. The Dong Son bronze drums Trong những di vật quý giá này , trống thuộc loại vừa kể, thuộc loại đẹp nhất, vẫn là trống tìm thấy năm 1902 ở Ngọc Lũ ( tỉnh Hà Nam ) hiện để tại viện bảo tàng lịch sử ở Hà Nội. Các nhà khảo cổ có tinh thần khoa học mới, khi nghiên cứu về những di vật ấy chắc sẽ hứa hẹn nhiều khám phá về kỹ thuật, niên đại, tương quan tạo tác, tương quan sản xuất, xã hội, cả về trình độ tiến hoá mỹ thuật của dân tộc. Chúng tôi nghiên cứu lịch sử, không bị ước thức bởi những mô thức, nên tự thấy được rộng tay đóng góp một phần tìm tòi thuộc về nội dung những hình vẽ. Tất nhiên không thiếu gì nhà khoa học mới mỉm cười cho là tưởng tượng, nhưng tìm hiểu ý nghĩa của một hình vẽ củ không có lời chú giải của tác giả bên cạnh, mà chẳng dùng tưởng tượng thì dùng cái gì ? Người ta đã tưởng tượng đây là bộ lạc thờ thần mặt trời, mặt trăng, hay thờ chim vật tổ. Nhưng có tinh thần khoa học nào cấm người khác không được có tưởng tượng khác, nhất là khi tưởng tượng này có thể hữu lý, dễ đúng hơn ? 240
TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ LÀ QUYỂN ÂM LỊCH CỔ XƯA 18 CON CHIM. ( Việt Nam Văn Minh Sử - Lê Văn Siêu – 2006 ) Theo sự phân loại của Hê-gơ, và bản tổng kê của các nhà khảo cổ tại miền Bắc, trong sách Thời Đại Đồng Thau, những trống đồng loại 1 phát hiện ở Việt Nam khoảng trên 70 chiếc. Số lượng tìm thấy đã hơn bất cứ một miền nào khác. Mặc dầu tướng Mã Viện đời Đông Hán khi qua đánh Giao Chỉ, đã tịch thu không biết bao nhiêu trống nữa, để đúc con ngựa kiểu mà chơi, và đúc cái cột đồng khắc chữ “Đồng Trụ chiết Giao Chỉ diệt“. Những trống loại 1 đã thấy khá nhiều tại Thanh Hoá để có thể đoán chắc rằng Thanh Hoá là nới sản xuất và những trống cùng loại thấy ở các nơi khác ( Hà Đông, Hà Nam, Hà Nội, Hải Phòng, Hoà Bình, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An) là những trống được kịp thời giấu đi. Đó là những 239 Công cụ và vũ khí bằng đồng khá đa dạng, gồm rìu, liềm, dao, giáo, lao, mũi tên, vv. Đồng cũng được dùng làm chuông, vòng tay, khuyên tai, trâm cài và tượng động vật. Đồ gốm có độ nung cao. Phổ biến nhất là các loại bình, nồi có miệng loe gãy và trang trí hoa văn khắc vạch phía trong miệng. Văn Hóa Gò Mun phát triển lên từ văn hoá Đồng Đậu và tồn tại trước văn hoá Đông Sơn, trong khoảng thế kỷ XI đến thế kỷ VII TCN. 8. Văn hóa Đông Sơn. ( Thời đại đồ sắt) 90 năm phát hiện và nghiên cứu, các nhà khoa học đều cho rằng văn hóa Đông Sơn có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam. Nền văn hóa này là cơ sở vật chất cho việc hình thành nhà nước đầu tiên Văn Lang - Âu Lạc, nhà nước đầu tiên thời đại các Vua Hùng, và là nền tảng cho sự hình thành bản sắc văn hóa Việt cổ, cũng như văn minh Đại Việt sau này. Rực rỡ một nền văn minh Việt cổ Văn hóa Đông Sơn được xác định tồn tại trong khoảng từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I - II sau Công nguyên. Qua hàng trăm di tích cùng với khối di vật đồ sộ đã được phát hiện và nghiên cứu, là minh chứng sinh động cho nguồn gốc bản địa, sự phát triển lâu dài, liên tục và trực tiếp từ các văn hóa tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun), đến đỉnh cao văn hóa Đông Sơn và văn minh Đại Việt. Theo thống kê, hiện đã có trên 200 di tích thuộc văn hóa Đông Sơn được phát hiện ở nước ta, chủ yếu phân bố ở 3 lưu vực sông chính là sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ), sông Mã (Thanh Hóa) và sông Cả (Nghệ An). Nhiều di vật 34
văn hóa Đông Sơn còn được phát hiện ở các tỉnh miền Trung, miền Nam, Tây Nguyên của Việt Nam và một số nước khu vực Đông Nam Á. Đến nay, số lượng di vật thuộc văn hóa Đông Sơn đã tìm được vô cùng đồ sộ, được lưu giữ ở các bảo tàng trong nước, nước ngoài và các sưu tập tư nhân. Trống đồng Ngọc Lũ - trống đồng đẹp nhất, có niên đại sớm nhất của văn hóa Đông Sơn. Ảnh: BTLSQG Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một trong những nơi lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật văn hóa Đông Sơn nhất hiện nay với khoảng 10.000 hiện vật, bao gồm các chất liệu đa dạng như: đồng, gốm, gỗ, đá... Trong đó, hiện vật đồng chiếm số lượng nhiều hơn cả, đặc biệt là sưu tập trống đồng. Bên cạnh đó, còn có các sưu tập công cụ lao động, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt và đồ trang sức... Trong đó có nhiều hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia như thạp đồng Đào Thịnh, trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạ, đèn hình người quỳ... Điều đó cho thấy ý nghĩa, giá trị và tầm quan trọng của các hiện vật thuộc 238 35
Chương III. GIÁ TRỊ VỀ QUYỂN ÂM LỊCH CỔ XƯA 18 CON CHIM. 237 văn hóa này. Văn hóa Đông Sơn có vị trí vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc, và là nền tảng vật chất đối với sự hình thành bản sắc văn hóa Việt cổ cũng như văn minh Đại Việt sau này. Những năm gần đây, việc điều tra, phát hiện mới và khai quật hàng loạt các di tích văn hóa Đông Sơn như các di tích như Mả Tre, Đình Tràng (Cổ Loa, Hà Nội), Bãi Cọi (Hà Tĩnh), các di tích tiền Đông Sơn như Xóm Dền (Phú Thọ), Nghĩa Lập (Vĩnh Phúc) với sự hợp tác của các chuyên gia nước ngoài đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa sự đa dạng, sự thống nhất cũng như mối quan hệ, giao lưu và vị thế của văn hóa Đông Sơn với các văn hóa đồng đại khu vực lân cận. Các nhà khoa học cũng đã xây dựng đầy đủ các phông tư liệu về văn hóa Đông Sơn với các lát cắt phản ánh các phương diện khác nhau về văn hóa Đông Sơn, về đời sống cư dân Việt cổ qua các hình thức cư trú và nhà ở, các phương thức mai táng, đời sống tinh thần, đời sống sản xuất... Trên cơ sở nghiên cứu về văn hóa Đông Sơn, hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng, văn hóa Đông Sơn chính là cơ sở vật chất và là sự thể hiện sinh động “hình ảnh” của nhà nước đầu tiên trong lịch sử: Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, và là nền tảng hình thành truyền thống văn hóa Việt Nam. Đỉnh cao của nghề luyện kim, đúc đồng Nghề luyện kim, đúc đồng ở thời kỳ văn hóa Đông Sơn đã phát triển và đạt đến trình độ nghệ thuật đỉnh cao. Theo Ths.Nguyễn Quốc Hữu (Phó trưởng Phòng Trưng bày, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), thống kê cho thấy, tỷ lệ đồ đồng trong văn hóa Đông Sơn chiếm tới gần 90% trong tổng số hiện vật được tìm thấy, với hàng vạn tiêu bản, thuộc nhiều loại hình khác nhau, đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu sản xuất, đời sống của cư dân Đông Sơn, từ trống đồng, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí, trang sức. 36
Thạp đồng Đào Thịnh - hiện vật điển hình, đặc biệt về đồ dùng sinh hoạt của cư dân Đông Sơn. Ảnh: BTLSQG Văn hóa Đông Sơn là văn minh của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, nên người Đông Sơn đã có cả một bộ nông cụ chuyên dụng, tiên tiến. Để chặt cây, khai hoang họ chế tạo các loại rìu, dao. Để đắp bờ, mở thửa, làm đất họ có các loại cuốc, xẻng, mai, thuổng, lưỡi cày... Đặc biệt, các cư dân Đông Sơn đã chế tạo được nhiều những chiếc liềm, một loại công cụ gặt tiên tiến giúp cho việc gặt hái nhanh hơn, cho năng suất cao hơn. Người Đông Sơn cũng đã tạo ra bộ công cụ làm mộc, có cấu tạo và chức năng gần như bộ công cụ làm mộc hiện đại, dùng để dựng nhà sàn, đóng thuyền và chế tác các loại vật dụng sinh hoạt... Bộ công cụ mộc gồm có các loại đục vũm, đục 236 37
Văn Lang còn đưa không khí Dịch đến từng sự vật con thuyền, mái chèo, ngọn giáo, đâu đâu cũng trang hoàng ký hiệu của Dịch: những con mắt Dịch, hào Dịch, quẻ Dịch. Người và vật cùng say sưa, ngây ngất trong mùa Hội Dịch hay đúng hơn là Hội Diệc bất tận đi mãi cùng thời gian. Sách tham khảo: (1) Vương Ngọc Đức - Bí ẩn của Bát Quái, NXB Văn HoáThông Tin, HN 1996. (2) Chu Bá Côn - Dịch Học Toàn Tập, NXB Văn Hoá-Thông Tin, HN 2003. (3) Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam, 1975. Nguyễn Thiếu Dũng 235 bẹt với nhiều kiểu dáng dài ngắn, thon bè thích hợp với từng kỹ thuật đục chạm khác nhau, hoặc các loại rìu xéo dùng để tu chỉnh sản phẩm mộc. Cây đèn đồng hình người quỳ thời văn hóa Đông Sơn, một bảo vật quốc gia. Ảnh: BTLSQG Do sản xuất phát triển, tạo được nhiều của cải dư thừa, người Đông Sơn đã chế tác ra những chiếc thạp lớn nhỏ nhiều kích thước để cất trữ lương thực, thực phẩm. Đồng thời, thạp còn liên quan đến các nghi lễ chôn cất người chết. Đây là loại di vật khá điển hình của văn hóa Đông Sơn, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật tương tự như trống đồng. 38
Minh chứng tiêu biểu nhất khẳng định kỹ thuật luyện kim, đúc đồng của người Đông Sơn đã đạt tới trình độ cao là việc chế tạo những chiếc trống đồng, thạp đồng với kích thước lớn, hình dáng cân đối, hoa văn trang trí hoàn hảo, sắc nét đến từng chi tiết... Cho tới nay, hàng trăm chiếc trống đồng đã được tìm thấy trong phạm vi phân bố của văn hóa Đông Sơn. Đồng thời, một số trống đồng Đông Sơn điển hình cũng được tìm thấy ở nhiều nơi khác thuộc Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Nhưng những chiếc trống đẹp nhất, hoàn hảo nhất đều được phát hiện tại Việt Nam, như trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạ, trống đồng Sông Đà, trống đồng Cổ Loa... Trên cơ sở phân tích kiểu dáng và phong cách hoa văn trang trí, cùng trang phục của các hình người trang trí trên trống đồng, các nhà khảo cổ học đã phân loại trống đồng Đông Sơn thành các loại hình có niên đại sớm muộn khác nhau. Trong đó, nhóm trống Ngọc Lũ đẹp nhất, có niên đại sớm nhất. Các nhà khảo cổ cũng đã nghiên cứu và nhận ra sự khác biệt của trống đồng Đông Sơn với trống đồng của tộc Điền Vân Nam, Trung Quốc, từ đó xác định, trống đồng Đông Sơn là di vật tiêu biểu của người Việt cổ thời dựng nước đầu tiên của dân tộc. Trải qua quá trình phát triển hàng mấy trăm năm, dù có sự thay đổi nhất định, nhưng trống đồng Đông Sơn vẫn giữ được kiểu dáng và các loại hoa văn cơ bản. Đó chính là những đặc trưng cơ bản của truyền thống văn hóa Việt cổ, mà ngày nay chúng ta vẫn còn bắt gặp trong các đường trang trí trên váy Mường, trên các nhạc cụ của người Việt... Theo đánh giá của các nhà khảo cổ học, những di vật của văn hóa Đông Sơn đã trở thành những tư liệu sống động, phản ánh cuộc sống sôi động, hào hùng của chủ nhân văn hóa Đông Sơn từ hơn hai nghìn năm trước. Và văn minh Đông Sơn đã trở thành một thành tố quan trọng cho việc lập nên quốc gia, dân tộc Việt Nam, và là niềm tự hào của chúng ta về tổ tiên thủa bình minh của lịch sử. 39 tiếp tuyến không thể xem đó là những sợi dây buộc chiêng được. Hai con chim trên nóc nhà trống Hoàng Hạ có thể gọi là hai con chim Dịch, một con lớn và một con nhỏ, như một trống một mái, hai con đang cọ mỏ vào nhau tượng cho âm dương giao hoán theo nghĩa giao dịch của Kinh Dịch. Hai cột trang trí hai bên hông nhà không thể là hai trụ cột vì nó nằm nghiêng và không chấm đất, chỉ có thể là hai cột trang trí, các cột nay trên cùng có hình các vòng tròn đồng tâm, vòng tròn có thể xem là biến thái của chấm, tượng trưng cho nguyên lý âm, vòng tròn có chấm ở giữa tượng trưng cho nguyên lý dương. Các vòng tròn nhỏ có chấm giữa là những con mắt Dịch, biểu tượng của Dịch Văn Lang (sẽ giải rõ hơn trong bài "Con mắt Dịch" cùng tác giả). Các chấm và các vạch ngang dùng để trang trí gợi nhắc đến hào âm và hào dương. Đường tiếp tuyến chính là hào dương-cây gậy thần nối những con mắt Dịch dẫn đưa trí tuệ của Dịch Văn Lang lan tỏa khắp không gian. Vì những liên hệ đó với Dịch có thể gọi đây là Nhà Bói Dịch hay đúng hơn là Nhà Bói Diệc (Chữ Dịch còn đọc là Diệc, chỉ một loại Cò, xin xem "Đi tìm định nghĩa Dịch trên trống Đông Sơn" cùng tác giả). Cư dân Văn Lang tìm đến những ngôi nhà này để hỏi về cát hung, về cách giải quyết các vấn đề của cuộc sống, các nhà lãnh đạo đến những ngôi nhà này để cầu mùa, cầu giải hạn, giải quyết những vấn đề nhân sinh. Cảnh sinh hoạt được khắc hoạ trên trống đồng chính là cảnh sinh hoạt của một ngày hội Dịch. Không những con người hân hoan rộn ràng ca múa chào đón ngày Hội, mà cả sinh vật cũng hoàchung niềm vui với con người, từng đàn chim Dịch bay lượn, từng đàn hươu Dịch con âm con dương nối bước nhau diễn quanh trống đồng theo chiều quay của trái đất. Không chỉ vui riêng cho mình, người 234
Trên trống Ngọc Lũ hay trống Hoàng Hạ có những ngôi nhà sàn mái hình vòng cung vồng lên (sống lồi) hay võng xuống như ở trống Sông Đà (sống võng), mặt trước nhà có trang trí những hình vòng tròn có chấm, có hay không có tiếp tuyến . Nguyễn Văn Huyên và Hoàng Vinh cho đó là ngôi nhà có liên quan đến nghi lễ tôn giáo, đề nghị gọi là "nhà cầu mùa" và dẫn thêm ý kiến của những tác giả khác: "Pac-măng-chi-ê gọi đó là vật hình vòng cung (arche). (H.Parmentier - Anciens tambours de bronze.BEFEO T.XVIII. Hà Nội. 1918 P.5) Đào Duy Anh tán thành ý kiến của Gô-lu-bép cho đây là cảnh đánh chiêng (Đào Duy Anh - Văn hoá đồ đồng và trống đồng Lạc Việt. Hà Nội, 1957, tr.34) Văn Hựu xem đó là những tấm phên (Văn Hựu - Cổ đồng cổ đồ lục. Bắc Kinh, 1957) Nguyễn Ngọc Chương cho đó là ngôi nhà để tiến hành nghi lễ có liên quan đến việc cầu mùa (Nguyễn Ngọc Chương - Tìm hiểu một số hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, "Nghiên cứu Lịch Sử" số 141, Hà Nội 1971)" (3,tr.2) Rất có thể đây là nhà cầu mùa hay nhà cầu giải hạn, đúng như các tác giả đã nói là ngôi nhà có liên quan đến nghi lễ tôn giáo, theo thiển ý ngôi nhà này có nhiều liên hệ đến Dịch, tư tưởng chủ đạo của thời Hùng Vương chi phối mọi sinh hoạt của cư dân Văn Lang thời ấy. Các ngôi nhà trên cả ba trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà đều có điểm chung là dùng các hào dương vạch liền, hào âm vạch chấm chấm và vòng tròn có liên quan đến Dịch để trang trí. Các vòng tròn ở đây không thể quan niệm là những chiếc chiêng có núm được vì trên lưng hai con chim trên nóc nhà trống Hoàng Hạ cũng có vòng tròn có chấm này và tất nhiên chim đó không thể mang chiêng trên mình nó. Lại thêm những vòng tròn có chấm trên trống Sông Đà có 233 9. Văn hóa Sa Huỳnh. Văn hóa Sa Huỳnh Văn hóa Sa Huỳnh được các nhà khảo cổ phát hiện lần đầu tiên vào 1909, thuộc giai đoạn sơ kỳ đồ sắt của cư dân nông nghiệp ven biển Việt Nam. Nền văn hóa này có niên đại cách ngày nay 3.000-2.500 năm. Mộ chum văn hóa Sa Huỳnh Năm 1923, người Pháp tiến hành khảo cổ và thu thập được nhiều tài liệu có liên quan đến nền văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam. Sau nền móng này, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiến hành các hoạt động khám phá và tìm hiểu về nền văn hóa này. Tính cho đến nay có khoảng 100 di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện và hàng loạt các địa điểm được khai quật như Bình Tĩnh, Bình Định, 40
Huế, Quảng Nam… khẳng định sự giao thoa giữa các nền văn hóa với nhau. Trong văn hóa Sa Huỳnh, mộ chum là đặc điểm nổi bật và đặc trưng của di tích mộ táng được tìm thấy trên nhiều dạng địa hình khác nhau với các hình dạng và kích thước đa dạng. Mộ chum hình trứng nắp nón cụt Trong đó có thể kể đến mộ dành cho các đối tượng như trẻ em, người lớn… Các hình thức mai táng chủ yếu của cư dân nơi đây bao gồm cải táng, hung táng trẻ em, hỏa táng và mộ táng tượng trưng. Bên cạnh đó phải kể đến các kiểu dáng mộ chum đặc trưng: mộ chum hình trứng, hình trụ, hình cầu hay hình chum lồng nhau… Chum chủ yếu có nắp hình chóp cụt hoặc hình nón và có đáy bằng hoặc đáy nhọn, và tùy vào đối tượng mộ táng 41 người Văn Lang. Nếu là lông chim thì toàn bộ chỉ là những đường sọc kéo xuống sao lại còn có những đường chấm chấm kéo xuống? Đường nhiều chấm là hào âm, đường liền là hào dương. Cho nên ta có thể nói những chiếc mũ đó là những chiếc mũ Dịch thường được dùng để đội mỗi khi hành lễ. Trong hình vũ sĩ trích từ (3,tr 207) trên trống Miếu Môn ta có thể tìm thấy một cách rõ ràng các quẻ Ly trên tấm mộc, quẻ Càn trên mũ vũ sĩ, quẻ Đoài trên áo vũ sĩ, quẻ Đoài tượng trưng cho sự hoan lạc. Cũng trong trang này (3,tr 207) ta thấy nhiều quẻ . Dải băng trắng và dải băng có chấm chấm là hào âm. Dải băng có hình tam giác và dải băng có hình hai vòng tròn có chấm ở giữa là hào dương. Cứ ba băng làm thành một quẻ đơn ta có thể đọc lần lượt từ trên xuống quẻ Chấn/Lôi, quẻ Khảm/Thuỷ, quẻ Cấn/Sơn. Nếu đọc theo quẻ kép ta có hai quẻ: Lôi Thuỷ Giải và Thuỷ Sơn Kiển (Quẻ Khảm/Thuỷ nằm giữa vừa thuộc quẻ trên vừa thuộc quẻ dưới, do yêu cầu trang trí tỉnh lược). Trên thân bò khắc trên trống Đồi Ro hay trống Làng Vạc I có hình những con bò rất đặc biệt , trích từ (3,tr 216), con nào cũng có lông là hình khắc vạch các hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm. Ta có thể tìm thấy nhiều nhất là hình dạng các quẻ Tốn. Đây có thể là hình những con bò được đem làm lễ tế vì quẻ Tốn, quẻ thứ 41, hào Lục Tứ có câu: điền hoạch tam phẩm. Theo Vương Bậc - Chu Dịch chú: "tam phẩm là ba loại thịt dùng để tế tự, để đãi tân khách, và để đưa vào nhà bếp". Cái u trên lưng bò có hình con mắt Dịch tức là quẻ Ly - hình vòng tròn có chấm. Ta biết, theo Dịch Ly có tượng là con bò. Bên cạnh con bò còn có quẻ Lôi Thuỷ Giải và Thuỷ Sơn Kiển vẽ theo dạng đứng. Giải Kiển tức là Giải nạn, nạn hạn hán hay là lũ lụt. Vậy đây là những con bò dùng trong lễ hiến tế để cầu giải hạn 232
truyền thống đó ghi lại trên trống đồng. Những vạch chấm đó được vẽ trên hình chim, trông mường tượng như lông chim khiến hậu thế hiểu lầm. Với chim thì còn giống, còn dễ lầm nhưng với bò trên trống đồi Ro những hình trang trí đó cũng gọi là lông bò được sao, và cả trên hình thuyền trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ, chẳng lẽ là lông thuyền! Quan sát một mẫu thuyền trên trống Miếu Môn, trích từ (3,tr 206), ta thấy rất nhiều hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm được trang trí trên mạn thuyền. Vì là trang trí nên khó xác định được quẻ, nhưng các nhà thiết kế thường dùng nhiều quẻ Càn 3 vạch liền. Vạch chấm chấm nằm rải rác nên ta có thể đọc được rất nhiều dạng quẻ tuỳ vị trí của nó như quẻ Đoài có một vạch chấm chấm ở trên và hai vạch liền ở dưới, quẻ Ly có một vạch chấm chấm ở giữa và hai vạch liền hai bên, quẻ Tốn có một vạch chấm chấm ở dưới và hai vạch liền ở trên. Các vạch hào âm dương này cũng được trang trí trên chim đang săn mồi cạnh thuyền. Trên lưng chim còn có hình con mắt một vòng tròn có chấm ở giữa đó là hình dạng quẻ Ly, chấm giữa và vòng tròn bên ngoài là hào dương, vòng trắng ở giữa chính là hào âm. Theo Kinh Dịch quẻ Ly có các biểu tượng là con chim, con bò, lưới săn. Trên đầu những người ngồi trên thuyền có đội mũ hình ba vạch đó là tượng quẻ Càn (trời), không phải là lông chim, đây là loại mũ Dịch dùng để đội khi tế lễ. Tất cả những hoạ tiết trên trống đồng thường được gọi là lông đều nằm trong một hệ thống. Đấy là những hào âm, hào dương, biểu tượng của Dịch. Những chiếc mũ trên đầu người trên trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ không phải là những chiếc mũ lông chim như vật trang trí của những bộ lạc Di Địch quanh Trung Quốc, mà đấy là biểu tượng của Dịch, một nét đặc thù của 231 mà chum có kích thước khác nhau, chủ yếu cao 1m8 và đường kính 50-60cm. Một đặc điểm đặc trưng trong mộ táng văn hóa Sa Huỳnh chính là đồ tùy táng, nghĩa là đồ được chôn theo người chết. Đồ tùy táng trong mộ chum Sa Huỳnh Tùy theo từng đối tượng mà đồ tùy táng kèm theo sẽ nhiều hay ít và giá trị như đồ trang sức, công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt…Những điều này đã cho thấy tín ngưỡng văn hóa Sa Huỳnh có sự giao thoa và liên hệ 42
chặt chẽ với cư dân tại các văn hóa khá trên thế giới, cư dân biển. Dưới đây là một số hình ảnh những món đồ tùy tang. Những món trang sức chủ yếu được tìm thấy trong các chum mộ cổ của người Sa Huỳnh Phủi đi lớp bụi thời gian ngàn năm tuổi, những trang sức với màu sắc tự nhiên vẫn đầy sức hút 43 trưng cho hào dương. Nhưng với hào âm thì có thể phải mất nhiều thời gian suy tư. Triết gia thời cổ đại không ngồi trong phòng giấy để suy tưởng. Minh triết của họ gắn liền với thao tác lao động. Họ làm việc, thâm nhập vào cuộc sống, suy gẫm từ cuộc sống. Một buổi sớm mai trời còn mờ mờ, nhà hiền triết Văn Lang đã cầm ngọn giáo theo đoàn người lên nương, hôm nay họ trồng một loại ngũ cốc. Một người đàn ông đi giật lùi, vừa đi người đàn ông đó vừa cắm mạnh ngọn giáo xuống đất, rồi giựt mạnh ngọn giáo lên, một cái lỗ nho nhỏ hiện ra, một người đàn bà tay ôm bọc đậu bước lần theo, bàn tay kia bốc một hạt đậu khom lưng xuống tra hạt đậu vào lỗ. Cứ thế một người đi lui, một người bước tới, họ tỉa đậu một cách nhịp nhàng. Nhìn những người anh em hăng say canh tác, xa xa có tiếng suối reo vọng về hoà lẫn tiếng chim hót líu lo trong lúc ánh bình minh đang lên, lòng nhà hiền triết dâng lên một một niềm vui rộn rã, khoan khoái, bỗng một tia chớp vụt loé sáng, nhà hiền triết cảm thấy như đang ngập tràn trong niềm hạnh phúc vô biên. Ngài cắm mạnh ngọn giáo xuống đất, ngắm đi, ngắm lại cái lỗ nhỏ vừa được tạo ra. Ngài sung sướng lẩm bẩm với chính mình: "Đây rồi!". Nhà hiền triết như thấy được ngày mai, từ cái lỗ nhỏ những cây đậu mọc ra những lá mầm xanh mơn mởn, chẳng khác gì hình ảnh những bà mẹ hoài thai sinh ra những đứa con xinh xắn. Vạn vật theo giòng năm tháng sinh sôi nảy nở. Nhà hiền triết Văn Lang, cha đẻ của Kinh Dịch, thở phào nhẹ nhỏm, ngài đã tìm ra hình ảnh tượng trưng cho hào âm, đấy là những chấm nhỏ nối nhau như những lỗ tra hạt giống. Phát minh của nhà hiền triết Văn Lang được khắc ghi lại trên đồ gốm Phùng Nguyên và hậu duệ của ngài tiếp tục 230
bằng tre đan, điều này khó thành hiện thực vì đầu thuyền và đuôi thuyền đều được uốn cong lên và có chạm tỉa hình đầu chim rất tỉ mỉ, chứng tỏ thuyền phải làm bằng gỗ. Có người cho rằng những đường vạch ngắn đó tượng trưng cho việc ghép những mảnh ván gỗ. Kiến giải này khó chấp nhận vì những vạch ngắn ở đây thường nằm đứng mà gỗ ghép thuyền thì phải nằm ngang theo chiều dài của thuyền. Đáng chú ý nhất là những đường vạch chấm chấm có mặt ở đây, không thể nói đây là những hàng đinh đóng. Vậy thì những hàng chấm chấm này biểu trưng cho cái gì? Một khi ta đã ý thức rằng những hoạ tiết hoa văn trên trống đồng có liên hệ đến Dịch, ta sẽ nhận ra sự việc hết sức đơn giản rằng đó chỉ là hình tượng những hào âm, hào dương. Hào dương vạch liền , hào âm vạch chấm chấm. Trên thuyền chỗ nào cũng đầy những con mắt Dịch (xin xem "Con mắt Dịch" cùng tác giả), thì thân thuyền trang trí đầy những hào quẻ không có gì lạ chẳng qua tất cả đều nằm trong một hệ thống. Có sự khác biệt giữa hình dạng hào đang lưu hành và hình dạng hào nguyên thuỷ. Người Trung Hoa giữ nguyên trạng hào dương một vạch liền nhưng đã cải biến hào âm thay vì vạch nhiều chấm họ đã đổi thành một vạch đứt. Có cách thay đổi này có thể là để vẽ cho nhanh Không phải đợi đến thời kỳ Đông Sơn hào âm dạng nhiều chấm mới xuất hiện, thật ra hào âm nhiều chấm đã có mặt từ thời văn hoá Phùng Nguyên trước hào âm dạng vạch đứt cả nghìn năm Khi những triết gia Văn Lang muốn tìm một hình ảnh để biểu tượng cho hào dương họ không phải mất nhiều thời gian, trong tay họ thường ngày vẫn cầm nắm những dụng cụ lao động: ngọn giáo đi săn, cây đâm trống, những dụng cụ này gợi ý cho họ chọn một vạch liền để tượng 229 Thậm chí, khi ướm vào người vẫn thấy còn hợp thời 44
Có nhiều chất liệu chế tác trang sức từ đá mã não, nephrit, vàng... Văn hóa Sa Huỳnh là một trung tâm văn minh phát triển rực rỡ thời kỳ đầu dựng nước của người Việt cổ, tạo nên đặc điểm truyền thống cho người Việt Nam sau này. TÓM LẠI. Qua các thời đại văn hóa văn minh của Việt Nam lâu đời, và qua những khám phá mới nhất về khảo cổ, chứng tỏ nguồn gốc dân tộc và đất nước Việt Nam đã sống từ xưa ở Bắc Việt tại vùng Sundaland thuộc Đông Nam Á. Dân Việt Nam đã có di truyền văn minh cổ xưa rực rỡ lâu đời, đã trở thành dân tộc thông minh tài trí. Nên khi ra hải ngoại, gặp môi trường thuận lợi như diều gặp gió, những người Việt hải ngoại đã thành công vẻ vang mau trên khắp thế giới. Vậy, chúng ta hãy hãnh diện về di truyền văn minh rực rỡ cổ xưa của nguồn gốc dân tộc và đất nước Việt Nam. 45 "Cách lý giải cho rằng quái tượng và hào tượng do chữ số biến hoá mà thành xem ra rất hợp lý. Song về khía cạnh lôgic, chúng không thể giải quyết được vấn đề kết cấu của "Kinh Dịch". Chúng ta đã biết, bản thân cuốn sách Kinh dịch là do Bát quái và Lục thập tứ quái (64 quẻ) tạo thành, vì thế cho nên sẽ là 8 kinh quái, 64 biệt quái, hơn nữa đơn vị cơ bản cấu thành chúng là sự gắn chặt của (-) và (- -). Bởi vì hai loại nét ngang liền và nét ngang đứt đoạn được chồng 3, chỉ có thể có 8 đồ hình khác nhau, xét trên góc độ toán học thì là 2.2.2 = 8. Còn 8 loại đồ hình khác nhau khi được bình phương lên thì cũng chỉ có 64, tức là 8.8 = 64. Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1, 5, 6, 7, 8 v.v... không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong Kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biệt quái". (2,tr. 63) Đó là sự cách biệt một trời một vực giữa phệ số và Dịch, không thể đồng hoá phệ số là Dịch, cũng không thể nói số lẻ số chẵn dễ dàng chuyển hóa thành vạch liền vạch đứt được. Trong khi người Trung hoa còn đang lúng túng về khởi nguyên của dạng hào vạch, thì trên trống đồng Đông Sơn của quê hương Việt Nam , hào âm, hào dương và quẻ được khắc rất rõ khắp nơi trên mặt trống, trên tang trống, trên thân trống với nguyên hình, nếu chịu nhìn là nhận ra ngay. Trên đồ đồng Đông Sơn ta thường gặp những hình tượng biểu lộ tín ngưỡng phồn thực nhưng đối với người Văn Lang tính dục không phải là mối bận tâm hàng đầu, vì thế hình tượng sinh thực khí không phải là nguyên mẫu ảnh hưởng đến người sáng tạo ra Dịch. Những họa tiết hoa văn trên trống đồng Đông Sơn cho ta một cách tiếp cận khác, thực tế hơn. Nhìn những chiếc thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ, ta không khỏi tự hỏi: Tại sao trên mạn những chiếc thuyền này có vẽ những hoa văn vạch và chấm ? Đó có phải là hình những chiếc nan tre gợi ý thuyền làm 228
Truyện là phần tinh hoa của Trung Quốc do chịu ảnh hưởng của Dịch nguyên thuỷ phát triển thành. Trung Quốc gộp chung Dịch Kinh và Dịch truyện thành Kinh mà họ gọi là Chu Dịch). Bói cỏ thi đang bế tắc vì không có hào từ qui định gặp được Dịch như cây gặp đất lành, cây lớn rất nhanh, phát triển thành rừng che kín cả đất. Về sau người ăn cây trái chỉ biết có cây, có rừng quên hẳn Đất. Đây cũng là chiến thuật trước ở ngoài sân sau lần vào bếp, mượn của người làm của mình, rồi soán đoạt luôn. Bói cỏ thi dựa vào Dịch, rồi biến Dịch thành công cụ, sau đó đồng hoá sáp nhập. Kẻ đi vay mượn trở thành chủ nhân. Bói cỏ thi được Dịch nuôi dưỡng trở mặt thành cha đẻ của Dịch. Gần đây, Trương Chính Lãng căn cứ vào những chữ số khắc trên những mảnh giáp cốt của đời Thương, đào được ở An Dương cũng khẳng định bát quái bắt nguồn từ phệ số, cho rằng hào dương là do số lẻ biến thành và hào âm là do số 6 (chữ lục) biến thành. Trên giáp cốt văn hay trên kim văn người ta phát hiện có những nhóm chữ số kỳ lạ, gồm có ba chữ số hoặc sáu chữ số tạo thành. Điều này khiến người ta liên tưởng đến các quẻ Dịch cũng do 3 hào hay 6 hào tạo thành. Rõ ràng là mối tương đồng này chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để kết luận đấy là quẻ Dịch. Trương Chính Lãng cho rằng trong các quẻ phệ số tìm được, chữ số 1 (chữ nhất -) và chữ số 6 (chữ lục, thời cổ đại viết là /\) sau này chữ nhất biến thành hào dương (-) và chữ lục /\ biến thành hào âm (- -) do đó mặc dầu các chữ phệ số có nhiều số khác như 5, 7, 8 vẫn tuỳ theo số chẵn hay lẻ đều có thể đổi thành âm hoặc dương. Đây cũng là cách chặt đầu chặt chân để bỏ cho vừa rọ. Thuyết của Trương Chính Lãng cũng chỉ là thuyết khiên cưỡng như bói cỏ thi. Nhóm Chu Bá Côn đã thẳng thắn bác bỏ thuyết này: 46 227