trong các dân tộc vùng Đông Nam Á, Trung Đông, Úc châu, và Mỹ châu đều có những câu truyện thần thoại về trận lụt vĩ đại này, và các câu truyện này có độ tương tự rất cao. Điều này chứng tỏ rằng các sắc dân này xuất phát từ một nền văn hóa nguyên thủy. Theo Oppenheimer, những người tỵ nạn này là những hạt giống cho những nền văn minh lớn khác mà sau này được phát triển ở Ấn Độ, Mesopotamia, Ai Cập, và Địa trung hải. Ngoài phần nghiên cứu về thần thoại và truyền thuyết, Oppenheimer còn dùng một nguồn tài liệu đáng tin cậy nhất và mang tính khoa học và chính xác hơn là di truyền học. Các dữ kiện di truyền học chứng minh rằng các sắc dân trong quần đảo như Tân Guinea, Polynesia, Melanesia, v.v. có cấu trúc di truyền tố giống với các sắc dân thuộc vùng Đông Nam Á ngày nay. Gần đây, còn có một số nghiên cứu di truyền học cho thấy người Hán có nguồn gốc từ Đông Nam Á và có thể cả Bắc Á. Ông Oppenheimer viết, "Lý thuyết mà tôi trình bày trong cuốn sách này. lần đầu tiên, đặt Đông Nam Á vào trung tâm của các nguồn gốc văn hóa và văn minh. Tôi cho rằng nhiều người phải di tản khỏi vùng duyên hải của họ ở phương Đông vì lụt lội. Những người tỵ nạn này từ đó vung đấp những nền văn minh vĩ đại ở phương Tây." Một vùng đất văn minh tiến bộ Theo Oppenheimer, Atlantis của Đông Nam Á, tạm gọi là "Sundaland", bởi vì vùng này là một thềm lục địa Sunda, nơi từng là trung tâm hàng đầu về cuộc cách mạng thời đại đồ đá mới (Neolithic Revolution), bắt đầu phát triển kỹ thuật trồng trọt, dùng đá để nghiền hạt lúa, vào khoảng 24,000 ngàn năm trước đây, tức là trước cả Ai Cập và Palestine khoảng 10,000 năm. 97 Ngoài ra dân ta còn nhiều người thông minh tài trí. Riêng về phụ nữ, Có bà Đoàn thị Điểm, bà Hồ Xuân Hương v.v. là các danh nhân kỳ tài. Còn về thể lực, dân ta có sức khỏe phi thường. Như : ông Lê Văn Khôi (Cao Bằng) con nuôi của Tả quân Lê Văn Duyệt, tay không bắt cọp dữ, làm sứ giả Xiêm thán phục. Hoặc như : Lý Ông Trọng (Quận Giao Chỉ) (Hình 3) Cao lớn sức mạnh phi thường. Dưới thời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng dem 50 vạn binh đánh nước ta đã bị thất bại.(220 TCN). Vì quân Tầu thấy Lý Ông Trọng cao lớn sức mạnh phi thường đều sợ hãi bỏ chạy. Sau Vua An Dương Vương đưa Lý Ông Trọng sang cống Tầu để được yên. Vua Tần Thủy Hoàng rất mừng rỡ, đã dùng Lý Ông Trọng để dẹp Hung nô. Nước Tầu yên ổn, vua Tần Thủy Hoàng cho Lý Ông Trọng về thăm quê hương. Rồi Ông bị bệnh chết ở quê nhà. 176
diều gặp gió, những người Việt hải ngoại đã thành công vẻ vang mau chóng trên khắp thế giới. C. Điển hình Giá trị số 6. Xưa kia, dân ta tài trí thông minh như Nguyễn Trãi , Nguyễn Du. Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hoặc như : Nguyễn Hiền (Nam Định) (Hình 1) Thông minh tài trí. Năm 12 tuổi đậu trạng nguyên. Sứ Tầu qua thăm, đưa bài thơ thử tài. Các quan xem không ai hiểu gì. Vua cho vời ông tới. Ông xem qua trả lời ngay. Sứ Tầu rất phục tài trí của ông. Lê Quý Đôn. (Thái Bình) (Hình 2) Học rộng tài cao, Có trí nhớ siêu phàm. Một hôm,Ông xem qua quyển sổ ghi thiếu thuế tại nhà lý trưởng. Sau đó, nhà lý trưởng bị cháy. Ông đọc cho viết lại không sai một chữ. 175 Một loạt khám phá khảo cổ gần đây đã đủ để xét lại thuyết cho rằng Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước đã khai hóa hay truyền bá văn minh cho các nước thuộc vùng Đông Nam Á. Thực vậy, khám phá về hạt lúa ở hang Sakai (miền Bắc Thái Lan) gần đây cho thấy cư dân ở đây đã biết trồng lúa rất xưa, có thể trước cả thời kỳ nước biển dâng cao vào khoảng 8000 năm về trước, ít nhất là từ thiên niên kỷ thứ 6 hay thứ 7 trước Dương lịch. Hệ thống nông nghiệp được tìm thấy ở Nam Dương có niên biểu lâu đời hơn cả thời đại mà những thành tựu được xem là "cách mạng" về trồng lúa ở Trung Quốc. Thực vậy, ở Nam Dương, kỹ thuật về trồng khoai lang và khoai nước được ước đoán có tuổi từ 15000 đến 10000 năm trước Dương lịch. Ở Việt Nam, khám phá ở Phùng Nguyên và bằng kỹ thuật định tuổi dùng Carbon-14 cho thấy tổ tiên ta từng trồng trọt ngũ cốc khoảng 5000 đến 6000 năm trước đây, tức là còn sớm hơn nhiều niên biểu của những thành tựu của người Trung Quốc. Ngoài ra, Nhà khảo cổ học rất uy tín gốc Mỹ, Giáo sư Wilhelm G. Solheim II, trong một loạt nghiên cứu từ 1965 đến 1968, cho thế giới thấy nền văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15,000 năm trước dương lịch. Một Nhà khảo cổ học danh tiếng khác người Úc, Giáo sư Peter Bellwood, đã từng viết rằng quê hương nguyên thủy của cây lúa rất có thể là ở chung quanh vùng Đông Dương - Mã Lai - Miến Điện, vì ở đây khí hậu nhiệt đới là môi trường thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. Trong Eden in the East, Oppenheimer cũng có kết luận tương tự: thay vào một mô hình cho rằng Trung Quốc là xứ sở nguyên thủy của kỹ thuật trồng lúa, chúng ta lại có một mô hình khác mà trong đó các dân tộc "man di" nói tiếng Nam Á ở Đông Dương dạy người Trung Quốc các kỹ thuật trồng lúa.Không những trong lĩnh vực nông nghiệp, mà ngay cả trong lĩnh vực kỹ nghệ chế biến, sản xuất, người Đông Nam Á, mà đặc biệt là người Việt Nam, đã phát triển kỹ thuật làm đồ đồng, đồ thiết và đồ gốm khá cao. Về các sản phẩm đồ đồng và thiết, người dân ở vào 98
thời Phùng Nguyên đã từng sản xuất vũ khí, và mức độ sản xuất đã tăng vọt trong thời đại Đông Sơn. Thực vậy, vào thời Phùng Nguyên (tức là lúc thời kỳ khởi đầu của vù Hùng) tỷ lệ vũ khí tìm thấy trong các di vật dưới 1%; nhưng đến thời cuối vua Hùng, tỷ lệ này tăng lên khoảng 50 đến 63%. Nhiều khí giới khai quật gần đây ở Đông Sơn cho thấy cư dân ở đây là từng sản xuất nhiều vũ khí phức tạp (có chạm trổ tinh vi), có thể đánh xa và gây tổn thương hàng loạt cho đối phương. Người Trung Quốc vẫn cho rằng họ là người phát minh ra vũ khí dùng trong chiến trường. Đối chiếu với những khám phá ở Đông Sơn và Phùng Nguyên, xem ra thuyeát người Trung Quốc khám phá ra vũ khí đầu tiên không còn vững nữa! Về đồ gốm, người Việt Nam đã sản xuất nhiều sản phẩm nghệ thuật công phu và thanh tú, và những sản phẩm này không những được bán trong khắp vùng Đông Nam Á, mà còn xuất khẩu qua tận xứ Melanesia. Thị trường xuất khẩu này đã hình thành trước sự ảnh hưởng của Ấn Độ. Các dụng cụ bằng đá tìm được ở Úc châu cũng từ Hòa Bình mà ra: tuổi của các đồ đá này được định là 14000 đến 20000 năm trước Dương lịch. Đồ gốm ở Nhật với tuổi khoảng 10000 năm trước dương lịch cũng xuất phát từ Hòa Bình. Giáo sư Solheim II nhấn mạnh rằng cả hai nền văn minh nổi tiếng của Trung Hoa là Lung Shan và Yang Sao đều xuất phát từ Hòa Bình. Như vậy, từ đồ gốm Phùng Nguyên đến trống đồng Đông sơn, tất cả đều chứng minh nền văn minh Việt Nam thời tiền sử đã đạt tới một trình độ cao trên thế giới. Quan trọng hơn là những phát triển này xảy ra trước thời văn minh Lung Shan và Yang Sao ở Trung Quốc. Trước, và đặc biệt là trong, thời kỳ nước biển dần dần dâng cao, người Sundaland di dân đến những vùng đất láng giềng: Trung Quốc, Ấn Độ, Mesopotamia, và vài hòn đảo từ Madagascar đến Phi Luật Tân, Tân Guinea, và sau này họ chiếm luôn vùng Polynesia cho đến Hawaii 99 GÍA TRỊ SỐ 6. Hun đúc tinh thần tài trí như Tiê n và thể lực mạnh mẽ như Rồng, để được hạnh phúc thành công. . Mặt trống Thành trống (Tượng trưng Tiên) (Tượng trưng Rồng) A.Hình ảnh diễn tả gía trị số 5. Nhìn trống đồng Ngọc Lũ I, chúng ta sẽ thấy mặt trống có nhiều chim. Nên Mặt trống được tương trưng cho Tiên. Còn thành trống có 6 thuyền Rồng. Bởi thế, Thành rống được tượng trưng cho Rồng Đó diễn tả giá trị số 6 : BIỂU TƯỢNG TIÊN RỒNG. Ý nghĩa : Hun đúc tinh thần tài trí như Tiên và thể lực mạnh mẽ như Rồng, để được hạnh phúc thành công. B. Diễn giải Giá trị số 6. Tổ tiên ta đã chọn Tiên Rồng làm vật biểu nước ta, là để hun đúc tinh thần dân tộc ta được thông minh tài trí như Tiên và thể lực có sức mạnh như Rồng. Rồi kết hợp phát huy những giá trị truyền thống tuyệt vời của dân tộc ta từ lâu đời. Nên dân tộc ta đã trở thành dân tộc thông minh tài trí.Do đó, khi ra hải ngoại, gặp địa bàn thuận lợi như 174
B. Diễn giải Giá trị số 5. Sống với Âm Dương ý nghĩa là mọi sự việc, sự vật đều có hai mặt đối nghịch như Âm Dương. Do dó, biết dung hòa hai mặt đối nghịch sẽ tốt đẹp. Còn ngược lại sẽ tai hại. Trong gia đình, ngoài xã hội, nếu có tính tình hay ý kiến trái ngược nhau, hãy sống dung hòa sẽ tốt đẹp, thành công. C. Điển hình Giá trị số 5. GIA ĐÌNH ĐƯỢC HẠNH PHÚC. (Hình 1) Nhờ mọi người biết sống dung hòa tính tình đối nghịch hoặc khác biệt. Vợ chồng sống chung thủy, hay con cái sống hiếu đễ, cũng nhờ biết dung hòa tính tình đối nghịch hoặc khác biệt. SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG THÀNH CÔNG, (Hình 2) Cũng nhờ mọi người biết sống dung hòa ý kiến đối nghịch hoặc khác biệt. 173 và Tân Tây Lan. Họ là những người thầy ở các vùng đất mới, dạy người địa phương những kỹ thuật trồng trọt và xây dựng. Người Hòa Bình còn truyền bá văn minh nông nghiệp đến nhiều nơi trên thế giới: Nhật, Đài Loan khoảng 4000 năm trước Dương lịch; Phi Luật Tân, Indonesia khoảng 3000 năm trước Dương lịch; Madagasca và Đông Phi châu khoảng 2000 năm trước Dương lịch. Bắc xuống Nam, hay Nam lên Bắc? Theo thuyết của Oppenheimer thì người Trung Quốc và Ấn Độ ngày nay có gốc gác từ Đông Nam Á, chứ không phải nguồn gốc của người Đông Nam Á là ở Trung Quốc hay Ấn Độ. Đây cũng là một đảo vòng xoay 180 độ về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Mà, xem ra thuyết của Oppenheimer có nhiều "đồng minh." Một số học giả khác (như Madelaine Colani, J Hornell, P. V. van Stein, Heine Geldern, Bernard Karlgren, N J Krom) cũng cho rằng làn sóng người từ Bắc Việt tràn xuống phía Nam và vào Ấn Độ trước khi vùng này bị giống dân Aryan xâm chiếm. Giáo sư Solheim II căn cứ trên những dữ kiện khảo cổ thì thấy rằng giống người Hoà Bình tràn lan xuống phía nam, lên hướng bắc, và sang hướng tây. Tại mỗi nơi, người Hòa Bình phối hợp với dân địa phương để tạo thành các chủng tộc mới của mỗi vùng. Mới đây thuyết Bắc-tiến còn có căn cứ khoa học vững vàng (dù lúc viết sách, ông Oppenheimer không biết đến), đó là: trong một bài báo khoa học quan trọng được công bố trên Tạp chí của Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Mỹ (một tạp chí khoa học rất uy tín trên thế giới) , một nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Texas (Mỹ) và Viện Nghiên cứu Di truyền học Trung Quốc cho thấy nguồn gốc của người Trung Hoa (và cả người Đông Á) rất có thể là do người từ Đông Nam Á di dân lên [11], chứ không phải ở Bắc di dân xuống Nam! Như vậy, cho 100
rằng dân tộc Vieät là xuaát phát từ người Trung Quốc có thể là một ngộ nhận. Phải hiểu ngược lại thì mới đúng ! Một vài nhận xét Eden in the East là một tác phẩm độc đáo, được soạn thảo rất công phu và khoa học. Điều đáng chú ý là tác giả là một bác sĩ chuyên khoa về nhi đồng, không phải là một nhà khảo cổ học. Tuy nhiên, với khả năng và kiến thức khoa học của tác giả, ông đã tiếp nhận tri thức và xử lý thông tin từ nhiều nguồn như di truyền học, nhân chủng học, thần thoại, văn học dân gian, ngôn ngữ học, hải dương học, và khảo cổ học để cho ra đời một cuốn sách làm cho nhiều nhà nghiên cứu Đông Nam Á học và khảo cổ học phải bất ngờ. Thực vậy, Oppenheimer đã, không những trực tiếp chất vấn, mà còn thách đố, những thuyết mà giới chuyên môn, kể cả các học giả Việt Nam đề ra và chấp nhận như những "chân lý" thời tiền sử. Kể từ ngày xuất bản cuốn saùch cho đến nay (khoảng 3 năm), theo tôi biết, chưa một ai trong giới chuyên môn về Đông Nam Á học chất vấn tính khoa học của thuyết mà Oppenheimer đề xuất. Thực ra, tất cả những bài điểm sách (khoảng 20 bài) mà tôi đọc qua không có một bài nào chất vấn cách làm việc hay khoa học tính của tác giả; tất cả đều ngợi khen một cách nồng nhiệt. Có người còn cho rằng đây là một quyển sách quan trọng vào bậc nhất trong ngành Đông Nam Á học! Đối với người viết bài này, một điểm yếu của quyển sách là những dữ kiện hay bằng chứng liên quan đến các câu chuyện thần thoại. Tác giả cố thuyết phục độc giả bằng cách trình bày mối tương quan giữa các nền văn hóa bằng những câu chuyện thần thoại có motif giống nhau, để từ đó chứng minh cho thuyết của ông (tức là văn minh nhân loại xuất phát từ Đông Nam Á). Tác giả thậm chí còn dùng thống kê học để thẩm định mối tương quan 101 giết chết tướng Liễu Thăng ở Chi Lăng (1427), dành lại Độc lập cho nước ta. Vua QuangTrung. (Hình 3). Mưu trí, lợi dụng sơ hở Quân Thanh đang say sưa ăn Tết, Vua cho quân ta di chuyển thần tốc ra Bắc, và bất ngờ tấn công vào ngày mồng 3 Tết, Quân ta đánh tan 20 vạn quân Thanh, tướng Tầu chết tơi bời. Trận Đống Đa (1789) đã chiến thăng oai hùng trong vòng 5 ngày, làm khiếp đảm quân Tầu. GÍA TRỊ SỐ 5. Dung hòa hai mặt đối nghịch để được hạnh phúc thành công. Mặt trống đồng cổ Ngọc Lũ I. A. Hình ảnh diễn tả gía trị số 5. Nhìn mặt trống đồng Ngọc Lũ I, chúng ta sẽ thấy mặt trống được phân biệt làm đôi một nửa chẵn một nửa lẻ : Nửa chẵn gồm có : Đàn chim 4 cặp, Đoàn múa 6 người, Nóc nhà 2 chim. Nửa lẻ gồm có : Đàn chim 3 cặp. Đoàn múa 7 người. Nóc nhà 1 chim. Đó diễn tả giá trị s SỐNG VỚI ÂM DƯƠNG. Ý nghĩa là : Dung hòa hai mặt đối nghịch để được hạnh phúc thành công. 172
Đó diễn tả giá trị số 4: ĐI THEO TẢ NHẬM. BÊN TRÁI . Ý nghĩa là : Mưu trí, Lấy yếu thắng mạnh, để chiến thắng xâm lăng. . B. Diễn giải Giá trị số 4. Xưa kia, trong xã hội Việt Nam, người ta rất chú trọng bảo vệ những người yếu và được gọi là Tả đản. Rồi bằng hành động, người ta đã cùng nhau đi theo bên trái, và cài khuy áo dài bên trái (tức Tả Nhậm) v.v để diễn tả lấy yếu thắng mạnh, lấy nhu thắng cương. Ý nghĩa là kẻ mạnh coi thường đối thủ yếu không đề phòng, và đối thủ nhắm vào các nhược điểm sơ hở, và bất ngờ tấn công để chiến thắng. C. Điển hình Giá trị số 4. Hình 1 Hình 2 Hình 3 Tướng Lý Thương Kiệt. (Hình 1). Mưu lược, làm bài thơ (Nam quốc sơn hà), để khích lòng quân sĩ tin tưởng hăng hái chiến đấu, đã đánh quân Tống thua thảm bại (1076). Bài thơ đó đã trở th ành Bản tuyên ngôn độc lập của nước ta. Vua Lê Lợi. (Hình 2). Mưu trí, chọn rừng núi hiểm trở, tìm sơ hở đánh du kích lâu dài, quân giặc hao mòn mệt mỏi. Sau 10 năm, vua đã chiến thắng 10 vạn quân Minh 171 này! Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy những dữ kiện như thế có vẻ hời hợt, và thiếu tính thuyết phục cao. Đành rằng, nhiều nền văn hóa, và đặc biệt là những văn hóa thuộc vùng Á châu - Thái bình dương, có nhiều truyện thần thoại giống nhau, hay ít ra là song song nhau về lụt lội. Đây không phải là những sự ám chỉ tối tăm đến những sự kiện mang tính Freud trong tiềm thức nhưng là những sử kiện rõ rệt liên đới đến những thảm họa khi mực nước biển dâng cao sau thời đại Băng hà. Nhưng phương pháp xác định nguồn gốc của những câu chuyện thần thoại này là một vấn đề. Tuy nhiên, giữ cái điểm yếu đó trong khi đọc sách, tôi vẫn phải công nhận tác giả đã khảo cứu rất cẩn thận, tiếp thu và xử lý tài liệu rất chuyên môn. Thêm vào đó là lối hành văn trong sáng, và lý luận vững vàng, tác giả đã làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại về nguồn gốc tổ tiên và văn minh của nhân loại ngày nay. Chúng ta cần nhiều tác phẩm loại này hơn nữa trong lĩnh vực khảo cổ học để cho thấy rằng tổ tiên chúng ta không chỉ sáng tạo ra địa cảnh (hay hải cảnh) mà chúng ta đang sống, nhưng địa cảnh và hải cảnh cũng tạo ra chúng ta. Tóm lại, nhiều khám phá khảo cổ học mới đây, và nhất là cuốn sách Eden in the East, đã nhanh chóng đưa vùng đất bị lãng quên của Đông Nam Á vào một nơi trang trọng của bản đồ thế giới, và là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Và qua những khám phá này, chúng ta đã có dữ kiện để đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam, chất vấn những thuyết mà ta từng được dạy và từng tin như là những chân lý. Chúng ta có bằng chứng để phát biểu rằng trước khi tiếp xúc với người Hán từ phương bắc (Trung Quốc) đến, tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên một nền văn minh khá cao, nếu không muốn nói là cao nhất trong vùng Đông Nam Á. Đô thị cổ xưa nhất trong vùng là do tiền nhân của chúng ta xây dựng. Tổ tiên chúng ta là những nhà kỹ thuật giỏi, đã biết sản xuất vũ khí để đánh giặc, đã đúc 102
được những trống đồng tinh xảo để truyền lại những ý tưởng và triết lý cho hậu duệ, và cũng có thể nói họ cũng là những nghệ sĩ tài ba, ham thích múa hát và thổi kèn. Tổ tiên chúng ta đã phát triển và ứng dụng kỹ thuật trồng lúa trước người Hán, hay là những người thầy dạy cho người Hán trồng lúa (chứ không phải ngược lại.) Và có thể tổ tiên chúng ta cũng chính là tổ tiên của người Trung Quốc ngày nay. Đã đến lúc phải trả lại sự thực và danh dự cho tổ tiên chúng ta. Nguyễn Văn Tuấn Chú thích : 1. Trong Việt Nam Văn hóa Sử cương (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm 1992), ở trang 24-25, Đào Duy Anh viết: "Nay ta hãy căn cứ vào sự nghiên cứu của các nhà sử học, nhất là các vị giáo sư ở trường Viễn Đông bác cổ, mà xem gốc tích của dân tộc ta như thế nào. Có người cho rằng tổ tiên ta phát xuất từ Tây Tạng, sau theo lưu vực sông Nhị mà di cư xuống miền trung châu Bắc Việt. Nhưng theo ông Aurousseau dẫn chứng có điều rất kỹ càng thì tổ tiên ta lại là người nước Việt ở miền hạ lưu sông Dương Tử, sau bị nước Sở (đời Xuân thu) đánh đuổi phải chạy xuống miền nam ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, rồi lần lần đến Bắc Việt và phía Bắc Trung Việt. Theo nhiều nhà nhân chủng học hiện thời thì ở thời thượng cổ, giống người Indonesian bị giống Aryan đuổi ở Ấn Độ mà tràn sang bán đảo Ấn Độ Chi-na, làm tiêu diệt giống người thổ trước đầu tiên ở đây là giống Melanesian rồi một phần trong đám di dân ấy đi thẳng mãi sang Nam Dương quần đảo, còn một phần ở lại Ấn Độ Chi-na, ở phía nam thành người Chiêm Thành và Cao Man sau đồng hóa theo văn hóa Ấn Độ, ở phía bắc thì 103 Hai Bà Trưng. (Hình 1) Nhờ sự đoàn kết toàn dân, đã đánh đuổi Tô Định nhà Đông Hán, dành lại Độc lập cho nước ta. (năm 40) Vua Ngô Quyền. (Hình 2) Nhờ quân dân đoàn kết một lòng, đã chiến thắng 20 vạn quân Nam Hán, dành Độc lập cho nước ta, với trận Bạch Đằng (938) Đức Trần Hưng Đạo (Hình 4) Với sự đoàn kết cao độ qua Hội nghị Diên Hồng (Hình 3), đã chiến thắng 50 vạn quân Mông Cổ, trên sông Bạch Đằng. (1288) GIÁ TRỊ SỐ 4. Mưu trí, Lấy yếu thắng mạnh, để chiến thắng xâm lăng. Mặt trống đồng cổ Ngọc Lũ I. A. Hình ảnh diễn tả gía trị số 4. Nhìn mặt trống đồng Ngọc Lũ I, chúng ta sẽ thấy tất cả những đoàn người,những đàn chim, thú đều đi theo hướng ngược kim đồng hồ. 170
A. Hình ảnh diễn tả giá trị số 3. Nhìn trên thành trống đồng Ngọc Lũ I, chúng ta sẽ thấy có 6 chiếc thuyền rồng cong chở các chiến sĩ. Đó diễn tả giá trị số 3 : THUYỀN RỒNG CONG. Ý nghĩa là : Đoàn kết là sức mạnh để chiến thắng xâm lăng. B. Diễn giải Giá trị số 3 . Hình thuyền rồng cong chở các chiến sĩ. Thuyeàn là phương tiện rất hữu dụng ở nước ta có nhiều sông ngòi, dùng di chuyển, chuyên chở, buôn bán, tuần vòng bảo vệ dân làng, chống xâm lăng v.v. Rồng chỉ sức mạnh, nét cong là đoàn kết, chiến sĩ để bảo vệ dân làng, chống xâm lăng. Ý nghỉa là đoàn kết có sức mạnh như Rồng, để bảo vệ đất nước, chống xâm lăng. Sở dĩ dùng thuyền rồng, để chỉ dân tộc ta thuộc dòng giống Tiên Rồng, uy quyền, có sức mạnh tài giỏi đi thuyền nhất Đông Nam Á. Do đó, vua Ngô Quyền và Đức Trần Hưng Đạo đã phát huy giá trị này dùng sông Bạch Đằng để chiến thắng quân Nam Hán và Mông Cổ. C. Điển hình Giá trị số 3. Hình 1 Hình 2 Hình 3 Hình 4 169 hỗn hợp với giống Mông Cổ ở Trung Hoa xuống mà thành người Việt Nam." 2. Trong Việt Nam Sử Lược (Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, Sàigòn, 1971), ở trang 5, Trần Trọng Kim viết: "Theo ý kiến những nhà kê cứu của nước Pháp, thì người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà lần xuống phía Đông nam, lập ra nước Việt Nam ta bây giờ; còn người Thái thì họ theo sông Mê-kông xuống, lập ra nước Tiêm la (tức là Thái Lan) và các nước Lào. 3. Lại có nhiều người Tàu và người Việt Nam nói rằng nguyên khi xưa đất nước Tàu có giống Tam Miêu ở, sau giống Hán tộc (tức người Tàu bây giờ) ở phía Tây Bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà lập ra nước Tàu, rồi dần dần xuống phía nam, người Tam Miêu phải lẩn núp vào rừng hay là xuống ở miền Việt Nam ta bây giờ. 4. Những ý kiến ấy là theo lý mà suy ra đó thôi, chứ cũng chưa có cái gì làm chứng cho đích xác. Chỉ biết rằng người Việt Nam ta trước có hai ngón chân cái giao lại với nhau, cho nên Tàu mới gọi ta là Giao Chỉ; mà xem các loài khác, không có loài nào như vậy, thì tất ta là một loài riêng, chứ không phải là loài Tam Miêu." 5. Trong Tổ quốc ăn năn (Paris, 2001), ở trang 122, Nguyễn Gia Kiểng viết: " … cuộc Nam tiến của người Trung Hoa đến Quảng Đông, Quảng Tây thì khựng lại vì gặp bức tường núi gần 100 cây số. Chỉ có một số ít người vượt được núi, hợp với thổ dân mà tạo ra nước Văn Lang." 6. Sách Hậu Hán thư (tức sử của Trung Quốc) chép: "Phàm đất thuộc bộ Giao Chỉ, tuy đã đặt quận, huyện, nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, nhưng ngôn ngữ vẫn khác nhau, phải có thông ngôn mới hiểu. Người như cầm 104
thú, không phân biệt trưởng ấu (tức không có tôn ti trật tự), búi tóc ở gáy, đi chân không, lấy vải quấn qua đầu làm áo. Sau đó những người tội phạm Trung Quốc đến ở lẫn với họ, mới biết ngôn ngữ dần dần thấy hóa theo lễ. Đến thời Quang Vũ Trung Hung, Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cử Chân, bấy giờ mới dạy cho dân biết cày cấy, biết đội mũ đi giày, đặt mối lái, dân mới biết hôn nhân, dựng học hiệu dạy lễ nghĩa …" 7. Trong một cuốn băng video ca nhạc mang tựa đề "Cây đa, bến cũ" do Trung tâm Thúy Nga thực hiện và phát hành, người diễn đọc (Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn) lập lại câu văn của Hậu hán thư và phát biểu rằng Quan thái thú Nhâm Diên là người đã dạy cho dân Việt Nam cách trồng lúa. 8. Trích Tổ quốc ăn năn (Paris, 2001) của Nguyễn Gia Kiểng, trang 306. 9. Về các bài báo khoa học mang tính tiền phong trong ngành khảo cổ học ở Đông Nam Á, xin xem những bài sau đây: (i) "On the improbability of Austronesian origins in South China," của Giáo sư William Meacham, đăng trong Tạp san Asian Perspectives, quyển 25, năm 1984- 5; (ii) "The nusantao and North-South dispersals," của Giáo sư Wilhelm G. Solheim II, in trong "IndoPacific Prehistory Association Bulletin," quyển 2, năm 1996; (iii) "Southeast Asia and Korea: from the beginings of food production to the first states," cũng của Giáo sư Solheim II, in trong "The History of Humanity: scientific and cultural development," quyển I: "Prehistory and the Beginning of Civilization," do UNESCO/Routledge (London) xuất bản năm 1994. Ngoài ra, độc giả có thể tham khảo thêm các bài báo tiếng Việt liên quan đến đề tài này của Tác giả Cung Đình Thanh trên Tạp san Tư Tưởng số 3,4,và 7. 105 C. Điển hình Giá trị số 2. Hình 1. Hình 2 Hình 3. Nhà thờ Phát Diệm Chùa Một Cột Mái ấm gia đình. Vậy, khi thấy Mái cong như nhà thờ Phát Diệm (Hình 1), hay Mái cong như chùa Một Cột (Hình 2), chúng ta hãy nghĩ đến : Sự Hòa hợp sẽ đem lại tốt đẹp hạnh phúc. Từ đó, mọi người trong gia đình hãy cố gắng sống Hòa hợp với nhau để được Mái ấm gia đình (Hình 3). GIÁ TRỊ SỐ 3. Đoàn kết là sức mạnh để chiến thắng xâm lăng. Thành trống đồng cổ Ngọc Lũ I, Thuyền rồng cong. 168
Nhìn mặt trống đồng Ngọc Lũ I, chúng ta sẽ thấy có hai hình mái nhà cong đối xứng nhau giữa mặt trống. Một nhà trên nóc có một chim đậu. Còn nhà kia có hai chim đậu . Đó diễn tả giá trị số 2 MÁI NHÀ CONG. Ý nghĩa là Hòa hợp đem lại tốt đẹp hạnh phúc. Mái nhà cong 1 chim. Mái nhà cong 2 chim. B. Diễn giải Giá trị số 2 . Vì thủa xưa chưa có chữ viết, tổ tiên ta đã dùng hình tượng Tròn chỉ Trời và Vuông chỉ Đất. Tròn Vuông kết hợp với nhau thành hình cong. Từ đó hình cong chỉ sự hòa hợp, đoàn kết. Do dó, Mái nhà bằng tre cũng phải cố làm sao để uốn cho cong. Ý nghĩa là mọi người trong gia đình hãy sống hòa hợp để được Mái ấm gia dình. 167 10. Sách "Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia," của Stephen Oppenheimer, Nhà xuất bản Phoenix (London), 1998. Sách khổ 13 x 20 cm, dày 560 trang, kể cả 47 trang tài liệu tham khảo và 28 trang bảng danh mục, chữ loại nhỏ (Times cỡ 8). Giá đề 15 đôla Canada, hoặc 9 sterling Anh. 11. Theo sách Genesis, và theo truyền thuyết của nhiều nền văn minh cổ, ngày xưa có xảy ra một số trận lụt vĩ đại (hay đại hồng thủy) phủ ngập cả trái đất. Huyền thoại về lụt nổi tiếng nhất là câu chuyện về Noah, một giáo trưởng, được của Thượng đế, xây dựng một chiếc thuyền lớn tên là Ark để gia đình ông ta và mọi sinh vật có thể sống sót qua cơn lụt. 106
BAØI ÑOÏC THEÂM. NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT NAM. CUNG ĐÌNH THANH Phần dẫn nhập: Gần đây cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm hiểu nguồn gốc dân tộc. Một trong những thành tích về vấn đề này cần được lưu ý là quyển Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ do Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản tại Montréal (Canada) năm 1985. Nói là đáng lưu ý bởi quyển sách nhỏ này (172 trang) trình bầy những dữ kiện và áp dụng một lối lý luận rất khoa học. Theo Nguyễn Khắc Ngữ thì : “đại để có thể chia các giả thuyết (nguồn gốc dân tộc Việt Nam) thành bốn loại tiêu biểu: * giả thuyết con Rồng cháu Tiên * giả thuyết Bách Việt * giả thuyết của các tác giả miền Nam * giả thuyết của các tác giả miền Bắc”. Phân chia như vậy e rằng vừa thiếu lại vừa dư. Quá thiếu vì nếu cứ ý kiến của một tác giả được kể như một “giả thuyết” thì bảng liệt kê trên còn thiếu nhiều giả thuyết chưa kể ra. Quá dư vì những giả thuyết mà Nguyễn Khắc Ngữ gọi là giả thuyết Bách Việt, giả thuyết của các tác giả miền Nam, miền Bắc ... thực ra chỉ là con đẻ của một trong hai thuyết: Thuyết thứ nhất dựa vào văn bản (những bộ sử hay truyện của người xưa viết ra để lại) chủ trương người Việt có nguồn gốc từ phương Bắc đi xuống. Các tác giả có công xây dựng nên thuyết này đầu tiên phải kể đến những học giả người Pháp như Edouard Chavannes, 107 Tục lệ Tết Ta Ngoài ra, con người sống hòa hợp theo Thiên nhiên, theo Bản thiện (tức Nhân bản) sẽ được khoẻ mạnh tốt lành, đem lại hạnh phúc thành công. Còn nếu trái lại, sẽ bị bệnh hoạn, sinh nhiều tật xấu, con người sẽ đau khổ nhiều. Vậy chúng ta hãy cố gắng sống Hòa hợp Thiên nhiên Nhân bản, để được khỏe mạnh tốt lành, đem lại hạnh phúc hành công. GIÁ TRI SỐ 2. Hòa hợp đem lại tốt đẹp hạnh phúc. A. Hình ảnh diễn tả giá trị số 2. : Mặt trống đồng cổ Ngọc Lũ I. 166
Đó diễn tả giá trị số 1: TRỜI ĐẤT NGƯỜI HÒA HỢP Ý nghĩa là : Sống theo Hòa hợp Thiên nhiên Nhân Bản, Để được khỏe mạnh tốt lành, Đem lại hạnh phúc thành công yên vui. B. Diễn giải Giá trị số 1. Xưa kia, Tổ tiên ta đã chiêm nghiệm Thiên văn,Trời Đất. Lúc thấy Trời tươi sáng, Đất nở hoa, cho là vì Hòa hợp được tốt đẹp. Từ đó Trời Đất có nghĩa là Hòa hợp, tốt đẹp. Rồi thấy Trời tươi sáng, Đất nở hoa, Người vui sướng, cho là vì Trời Đất Người Hòa hợp được tốt đẹp. Nên, Trời Đất Người hòa hợp đã trở thành đường lối hướng dẫn con người được tốt đẹp, và đã gọi là Đạo Ba. (Đạo là đường lối, Ba là Trời Đất Người hòa hợp). Vì vậy, ca dao ta mới có câu : Cố sao giữ trọn Đạo Ba, Sau dù có thác cũng là thơm danh. Như thế, Đạo Ba là Tam Tài, là Chân lý sang ngời của dân tộc ta, là Đường lối sống theo Hòa hợp Thiên nhiên Nhân Bản, tức là sống hòa hợp với Trời Đất, hòa hợp với tình Người, là tình thương yêu đoàn kết, để bản thân được khỏe mạnh tốt lành, gia đình được hạnh phúc thành cơng, quốc gia được thịnh trị, thế giới được hòa bình. C. Điển hình Giá trị số 1. Tổ tiên ta đã lấy ý tưởng Đạo Ba, và chọn thời tiết mùa Xuân để tác hành Trời Đất Người hòa hợp, tạo dựng khuôn mẫu cho cuộc đời dân tộc ta được sống hạnh phúc tươi vui như mùa xuân, và được gọi là Tục lệ Tết ta. Như thế, Tết có nghĩa là Tiết,Tiết của mùa xuân, với Trời Đất Người hòa hợp. Vậy chúng ta hãy giữ vững Tục lệ Tết ta. 165 Léonard Aurousseau. Nhiều học giả nổi tiếng người Việt đã phụ họa thêm vào thuyết này như Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim ... Có điều lạ cần nhấn mạnh là những học giả người Pháp tuy có gốc thực dân, dựa vào những sách của các tác giả Trung Hoa cũng thực dân không kém như Tư Mã Thiên, Hoài Nam Tử ... đã giả thuyết rằng người từ phương Bắc đây, vốn thuộc đại tộc Bách Việt, vì sự bành trướng của nòi Hoa Hán dưới thời Tần nên phải di cư xuống Bắc Việt để cùng với dân bản xứ đã có sẵn ở đó từ trước (Madrolle CL. Les populations de L’Indochine, Paris 1918) lập nên nước Văn Lang. Những tác giả vốn là người Việt nói về nguồn gốc dân mình lại không bằng những ông Tây kể trên. Nhiều người còn nghi ngờ cái nguồn gốc Bách Việt của mình, cuối cùng (đã phải là cuối cùng chưa?) còn sản sinh ra một đứa con hoang cho rằng dân Việt Nam chỉ là một bộ phận của người Trung Hoa hết đợt nọ đến đợt kia sang thực dân ở đây, khi hoàn cảnh thuận lợi đã lập ra nước riêng có tên là Việt Nam (Nguyễn Phương, GS Đại Học Văn Khoa - Việt Nam thời khai sinh - Viện Đại Học Huế 1965). Mới xem giả thuyết này có vẻ không sai vì quả đã có một cuộc di cư của người từ phía nam sông Dương Tử, vùng nay thuộc các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây đi xuống phía Nam từ khi nhà Tần thống nhất đại lục, lập ra một chính quyền trung ương dưới sự thống trị của nòi Hoa Hán (chỉ mấy trăm năm trước Công Nguyên). Tuy nhiên thuyết đó không giải thích được những điểm căn bản về sự xuất hiện của loài người đã sinh sống và đạt được một nền văn minh khá cao tại miền đất này cả chục ngàn năm, trước khi có người từ Phương bắc di cư tới. Thuyết này càng không thể hiểu được tại sao có sự xâm lấn ồ ạt của người phương Bắc đến một địa phương đã có người sinh sống trong một xã hội có tổ chức quy củ lại xẩy ra một cách êm thắm như vậy ? Ngay cả khi vua Thục chiếm Văn Lang của vua Hùng lập ra nhà nước Âu Lạc cũng 108
tương đối êm thắm chưa kể vua Thục cũng được dân địa phương lập đền thờ như đã thờ vua Hùng. Lại nữa, khi nhà Hán đã xâm chiếm Giao Châu, chia thành quận huyện để cai trị cả mấy trăm năm, vậy mà khi Hai Bà Trưng nổi binh đánh Hán vào năm Canh Tý (năm 40 sau Công Nguyên), sử chép rằng : “Hô một tiếng mà các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Nam đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay” (Lê Văn Hưu - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - trg 146). Dân ở Cửu Chân, Nhật Nam là dân ở vùng Bắc và Bắc Trung Việt ngày nay, chắc chắn là tổ tiên người Việt nổi lên hưởng ứng Hai Bà Trưng, lãnh tụ của mình là chuyện dĩ nhiên rồi. Nhưng còn dân Nam Hải, Hợp Phố và 65 thành thuộc Lĩnh Nam tức dân các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam, có thể một phần các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, cả Triết Giang nữa thuộc Trung Quốc ngày nay. Vậy họ là dân nào? Chả lẽ họ là dân Hán mà lại theo lãnh tụ người Việt nổi lên đánh đuổi quan quân nhà Hán giành độc lập cho người Việt sao ? Phải chăng người phương Bắc đó với người địa phương nay thuộc Bắc phần và Bắc Trung phần Việt Nam chẳng qua cũng cùng một đại tộc ? Và sự di cư từ miền Bắc về miền Nam do sự dồn ép của Hoa tộc một phần, nhưng trước đó là do sự nước biển đã lui dần trả lại các đồng bằng sông Hồng, sông Mã màu mỡ, là phần khác, phần chính, khiến luồng người từ miền Bắc di về miền Nam cũng chỉ là sự qui cố hương của giống người trước kia đã từ miền Nam bành trướng lên miền Bắc ? Thuyết thứ hai dựa vào những xương sọ, đúng hơn, vào tỷ lệ tộc người căn cứ vào các sọ này đã tìm được ở phần đất nay là Bắc và Bắc Trung phần Việt Nam. Tổng số xương sọ được dùng làm đối tượng nghiên cứu còn giữ lại được cho đến nay là 70 cái, chia làm hai bảng : Bảng thứ nhất gồm 38 sọ được coi là thuộc thời đại Đồ Đá Mới, phần lớn do các học giả người Pháp tìm ra (29/38) và cho rằng họ thuộc các chủng tộc Malanesian, 109 truyền thống văn hóa dân tộc Việt đã được ghi lại chính xác, và đã được phổ biến. Từ đó, ta thấy rất nhiều hình tượng Tròn vuông, cong, và huyền số 2, 3 trong đời sống hang ngày của dân tộc ta. Như Tết ta phải có 3 ngày. Mặc áo dài trên 2 khuy dưới 3 nút. Đám cứới trầu cau phải có trầu, cau, vôi.(số 3).. Đồ táng xưa có bộ 3 cái chạc (chạc tức là 2). v.v.. Tất cả những hình tượng và huyền số diễn tả, đều có ý nghĩa là sống hòa hợp đem lại tốt đẹp, hoặc sống theo Đạo Ba để được hạnh phúc thành công yên vui. GIA TRỊ SỐ 1. Hoa hợp Thiên nhiên Nhân Bản Để được hạnh phúc thành công yên vui. Mặt trống đồng cổ Ngọc Lũ I, A. Hình ảnh diễn tả gía trị số 1. Nhìn mặt trống đồng Ngọc Lũ I, chúng ta sẽ thấy ở giữa là hình mặt trời có nhiều tia sáng (Trời).Rồi ra phía ngoài là vòng những đoàn người nhảy múa (Người). Kế tiếp là đến vòng những đàn gà, hươu nai đang đi nhộn nhịp. Tiếp theo là những đàn chim mỏ dài đang bay, xen kẽ là chim mỏ ngắn đang đứng (Đất). 164
Chương II NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT QUA TRỐNG ĐỒNG CỔ VIỆT NAM. . Trống đồng Ngọc Lũ I Việt Nam Những gía trị truyền thong văn hóa dân tộc Việt qua trống đồng cổ Việt Nam . Suốt chiều dài lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến, tổ tiên ta đã dùng những giá trị tuyệt vời, tức giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc ta, được ghi trên trống đồng cổ Việt Nam, để hướng dẫn dân tộc ta được hạnh phúc thành công chiến thắng xâm lăng, dù quân xâm lăng to lớn như quân Tầu, hay hùng mạnh như quân Mông Cổ cũng phải tan tành khiếp sợ. Nhờ đó, dân tộc ta mới không bị đồng hóa sau hàng ngàn năm do Tầu đô hộ Những gía trị truyền thống tuyệt vời đó, đã được các triết gia, và các nhà khảo cổ nghiên cứu giải mã ý nghĩa các hình tượng (hình vuông, cong), các huyền số (2,3) được diễn tả trong huyền thoại ca dao, hoặc trong hoa văn các trống đồng cổ Việt Nam, do tổ tin ta đã để lại, vì xưa chưa có chữ viết. Rồi đối chiếu với những thành quả lịch sử, văn chương và đời sống của dân tộc ta, những giá trị 163 Indonesian, Australoid hay Nam Á. Bảng thứ hai gồm 32 sọ, phần lớn, ngược lại, do các học giả Việt Nam tìm thấy (22/27) trong những năm gần đây sau khi Cộng sản cho lập Viện Khảo Cổ (từ 1960). Những sọ này được coi là thuộc thời đại Đồng-Sắt nghĩa là vào khoảng 1000 năm trước Công Nguyên đến vài ba trăm năm sau Công Nguyên, đa số thuộc chủng tộc Mongoloid. Hai bảng xương sọ này đã là nguyên nhân sinh ra những giả thuyết về nguồn gốc người Việt khác với những giả thuyết dựa vào văn bản kể trên. Tuy nhiên kết luận của các tác giả này cũng có những khác biệt đáng kể : có người cho nguồn gốc người Việt như vậy là quá trình Mongoloid hóa các sắc dân Hắc chủng (Trần Quốc Vượng & Hà Văn Tấn - Sơ yếu khảo cổ học nguyên thủy Việt Nam - Hà Nội 1963). Có người cho đành là đã có sự Mongoloid hóa hình thành nguồn gốc người Việt nhưng sự da vàng hóa này không nhất thiết được hiểu là Hán hóa mà là Mường hóa, Tày Thái hóa (Phạm Huy Thông, KCH 1&2 - 1983). Có người đi xa hơn cho nguồn gốc dân tộc Việt Nam là sự hòa đồng của các dân có nguồn gốc bản địa (Nguyễn Đình Khoa - Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam - Hà Nội 1976). Riêng Nguyễn Khắc Ngữ, tuy không khác các tác giả trên bao nhiêu, nhưng ông hiểu Mongoloid là giống Mông Cổ (Mongol) ở phía Bắc nước Trung Hoa, nên kết luận của ông đương nhiên phải cho nguồn gốc người Việt trước hết là các giống Malanesian, Indonesian, Australoid từ các hải đảo Thái Bình Dương vào. Dần dần những sắc dân này bị Mongoloid hóa mà ông khẳng định là Hán hóa từ phương Bắc xuống, hình thành nên tổ tiên người Việt (trang 88, sđd). Trước khi minh định cho thực rõ người Mongoloid từ đâu mà sinh ra? (Điểm này sẽ được trình bày trong phần sau), ta cần xác định lại từ Mongoloid trong khảo cổ học không có nghĩa là người Mông Cổ của nước Mongol, cũng như Malanesian không có nghĩa là người Mã Lai, Indonesian không hẳn phải là người Nam Dương. Giản dị là khi có những tộc người này nhân loại chưa có quy 110
chế quốc gia, tất nhiên cũng chưa có các nước Mongol, Indonesia, Malaysia ... Gia dĩ, khởi thủy nhân loại chỉ coi như gồm ba đại tộc : Mongoloid là đại tộc da vàng ở Á Châu gồm hai loại : Bắc Mongoloid ở từ Ngoại Mông về phía Bắc và Nam Mongoloid ở toàn cõi đại lục Á Châu; Europoid, đại chủng da trắng ở Âu Châu; và Négro - Australoid, đại chủng da đen ở Phi Châu và các đảo Nam Thái Bình Dương. Việc tìm thấy sọ loại Mongoloid thời Đồ Đồng có ít hơn thời Đồ Đá là do một lý do khác sẽ được làm sáng tỏ trong phần dưới đây chứ không phải vì lý do người Mongoloid đã từ phương Bắc di cư đến như trước kia đã hiểu. Hãy lấy một thí dụ : chỉ có một địa điểm Hang Nậm Tum thuộc tỉnh Sơn La vùng Tây Bắc, trong thời tiền sử người ta đã thấy có hai lớp người đến cư trú để lại nhiều công cụ, nhiều ngôi mộ, nhiều di tích khiến người ta biết được hai lớp người tại đây cách nhau khá xa : lớp đầu thuộc văn hóa Sơn Vi (Hòa Bình I, khoảng hơn 20.000 năm trước Công Nguyên), lớp sau thuộc hậu kỳ đá mới bắt đầu thời kỳ kim khí (khoảng từ 1000 năm trước Công Nguyên trở lại). Giữa hai lớp này có một khoảng cách chứng tỏ không có con người sinh sống tại đây đến mười mấy ngàn năm (Võ Quý, KCH 1&2 - 1990, trang 25). Chỉ tiếc những xương cốt để lại toàn là những mảnh sọ, những răng nanh, xương cẳng tay, ngón tay không nguyên vẹn khiến người ta khó đoán biết chủ nhân hang động này trước kia thuộc chủng tộc nào? Việc có hai lớp người cư ngụ tại Hang Nậm Tum thuộc hai thời kỳ khác nhau cách quãng nhiều ngàn năm tương ứng với thời kỳ biển tiến (giả thiết có sự di cư của đoàn người từ Nam lên Bắc), và biển lui (tương ứng với sự bành trướng của Hán tộc ở phương Bắc đưa đến việc di cư ngược lại của đoàn người từ Bắc xuống Nam) là giả thiết cần được suy nghĩ và nghiên cứu. Người viết sẽ trở lại vấn đề này ở phần dưới đây. 111 Sông Hồng (Nguyễn Phúc Long Les nouvelles recherches- trang 92-93). Trống Sông Hồng hiện được lưu trữ tại viện bảo tàng Mỹ thuật Kỹ Nghệ thủ đô nước Áo. Nó có kích thước nhỏ. Đường kính 65 cm, chiều cao 53 cm. Đặc biệt mặt trống đồng Sông Hồng. Mặt trời ở giữa có 12 tia. Kế đến là vòng Người. Tiếp theo là vòng các móc đầu tròn. Sau đó là vòng 18 chim mỏ dài. Ghi chú. Tùy theo công dụng, các trống đồng Việt Nam đã được chế tạo đặc biệt và có các hoa văn thích hợp. 162
Đặc biệt mặt trống đồng Hoàng Hạ. Mặt trời ở giữa có 16 tia. Kế đến là vòng Người. Tiếp theo là vòng các móc đầu tròn. Sau đó là vòng 14 chim mỏ dài. 3. Trống đồng Sông Đà. Trống đồng Sông Đà. cũng được gọi là trống “Moulie” vì ông phó sứ tỉnh Hòa Bình này đã lấy được tại nhà người vợ góa của một quan lang Mường thuộc vùng Sông Đà tỉnh Hòa Bình. Năm 1889, trống này được mang tham dự đấu xảo quốc tế tại Paris, và hiện nay nó đang được để tại viện bảo tàng Guimet ở Pháp. Trống Sông Đà hơi nhỏ hơn hai trống Ngọc Lũ I và trống Hoàng Hạ. Đường kính 78 cm, chiều cao 61 cm. Đặc biệt mặt trống đồng Sông Đà. Mặt trời ở giữa có 14 tia. Kế đến là vòng Người. Tiếp theo là vòng 18 chim mỏ dài. Sau đó là vòng các quả trám. 4. Trống đồng Sông Hồng. Vốn xưa được gọi là trống “Khai Hóa” hay trống “Gilet” (gọi theo tên người chơi đồ cổ là Leopold Gilet). Theo Văn Hựu thì trống này được phát hiện ở phủ Khai Hóa tỉnh Vân Nam. hủ nhân là một tù trưởng người Mèo, cho biết trống đồng được đưa từ phía Nam tỉnh Quí Châu tới (Văn Hựu Cổ Đồng Cổ Lục Bắc Kinh 1957). Nhưng theo tài liệu mới nhất thí trống đồng này xuất xứ từ miền châu thổ Sông Hồng, nên được gọi là trống đồng 161 Hai giả thuyết kể trên, dù là thuyết dựa vào văn bản, hay thuyết dựa vào các xương sọ đào được mà người ta gọi là thuyết nhân chủng đều dựa vào một tiền đề căn bản. Đó là : văn minh dân tộc Hoa Hán có trước tộc Việt; đất nước và con người Trung Hoa cũng đã có trước và từ khởi thủy ñaõ khoâng khác mấy với ngày nay (!). Cái tiền đề này không biết tự bao giờ đã coi như là một chân lý bất biến mà hễ ai nói khác đi thì bị coi là dốt, là nói mò hay nói láo (!). Nay nếu cái “tiền đề” này được chứng minh là không đủ, không đúng, là sai sự thực, trái ngược cả sự thực thì tất cả những giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam kể trên, dù xây dựng trên thuyết dựa vào văn bản hay trên thuyết dựa vào sọ người cổ, đều là chuyện lâu đài xây trên bãi cát, đều trở thành sai vậy! Việc chứng minh cái tiền đề này là không đúng, trái với sự thực chính là mục đích của người viết tham luận này. Căn cứ vào kết quả của Hội nghị Berkeley 1978 nghiên cứu về nguồn gốc văn minh Trung Hoa, căn cứ vào những phát minh khoa học mới nhất về khảo cổ học, nhân chủng học, di truyền học (DNA), ngôn ngữ học, cả những sưu tầm về phong tục tậïp quán ở phần đất nay thuộc hai quốc gia khác nhau, người viết chứng minh được rằng : khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, huyết thống di truyền học, cả về phong tục tập quán, đều chứng tỏ Đại Tộc Bách Việt đã có trước, cũng đã cư ngụ tại phần đất nay là đất nước Trung Hoa, ít nhất từ phía nam sông Hoàng, trước Hán tộc. Và văn minh Bách Việt, căn bản là văn minh định cư trồng lúa nước, cũng đã có trước văn minh Hoa Hán, thuộc văn minh săn bắn và trồng lúa tắc, lúa khô. Tộc Hoa Hán khởi thủy lập quốc từ đời Thương, khoảng 1600 năm trước Công Nguyên, chỉ là một tộïc ít người chiếm một vị trí nhỏ tương ứng với các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây và một phần Hoa Nam ngày nay, nhưng nhờ có tài thiện chiến, tâm lý 112
thực dụng và văn minh vật chất, học được do tiếp xúc với văn minh Lưỡng Hà đã nhanh chóng bành trướng ra khắp đại lục và đã đồng hóa được đa số tộc Bách Việt, thâu hóa được văn minh của họ, hòa đồng với nhiều văn minh khác xây dựng nên một nước Trung Hoa vĩ đại và đa tạp như ngày nay.Sự chứng minh này không phải để so bì hơn kém, càng không có ý chia rẽ chủng tộc mà chỉ muốn nói lên cái gốc tích thực sự, cái dòng dõi chân chính của dân tộc mình, đồng thời chuẩn bị tài liệu cho một hội nghị quốc tế về nguồn gốc văn minh Việt Nam có thể được triệu tập trong tương lai. Ai trong chúng ta cũng biết, muốn tìm hiểu nguồn gốc dân tộc Việt Nam, không thể không nói tới nguồn gốc con người. Phần viết dưới đây chủ yếu căn cứ vào những khám phá mới nhất của di truyền học DNA để tìm hiểu về nguồn gốc người Hoa và loài người nói chung, rồi từ đó suy ra nguồn gốc người Việt chúng ta. KHÁM PHÁ MỚI VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI Á ĐÔNG QUA DI TRUYỀN HỌC CỦA NHÀ BÁC HỌC J.Y. CHU Chỉ mới chưa đầy hai năm tính đến nay, một khám phá mới của nhà bác học J.Y. Chu cùng 13 đồng nghiệp khác tại các trường đại học và viện nghiên cứu lớn nhất ở Trung Hoa đã công bố một nghiên cứu thành công về Di truyền học DNA mang tên Genetic Relationship of Population in China, đăng trong Tạp chí Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia của Hoa Kỳ (The Nation Academy of Sciences - USA - Vol.95, issue 20, 1763-1768, 29 tháng 7, 1998). Báo cáo này khẳng định nguồn gốc của người Trung Hoa, và nói chung, người Đông Á là do giống người ở Đông Nam Á di lên. Những người này có gốc gác từ Phi Châu đã di đến Đông Nam Á qua ngả Nam Á từ nhiều năm trước. Riêng ở phía Bắc Trung Hoa ngày nay, những 113 I. Trống đồng Ngọc Lũ. Trống đồng Ngọc Lũ I được đào lên từ lòng đất, nhờ đang đắp đê vào năm 1839, và được đem về cung vào đình làng Ngọc Lũ, tỉnh Hà Nam, để dùng vào việc đình đám cúng tế. Rồi có cuộc đấu xảo ở Hànội (15-11-1902), công sứ Hà Nam đem trống đồng Ngọc Lũ đến dự đấu xảo. Sau đó viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã mua lại trống đồng đó với giá 550 đồng. Hiện nó được để tại viện bảo tàng lịch sử Hànội. Nó có kích thước lớn. Đường kính 79 cm, chiều cao 63 cm. Cước chú. Tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, ngừơi ta tìm thấy 2 cái trống dồng. Cái trước gọi là Ngọc Lũ I, cái sau là Ngọc Lũ II. Đặc biệt mặt trống đồng Ngọc Lũ I. Mặt trời ở giữa có 14 tia. Kế đến là vòng Người. Tiếp theo là vòng nai và gà. Sau đó là vòng 18 chim mỏ dài và 18 chim mỏ ngắn. 2. Trống đồng Hoàng Hạ. Trống đồng Hoàng Hạ được dân làng Hoàng Hạ, huyện Phú Xuân, tỉnh Hà Đông đào được trong khi khai mương nước vào ngày 17-3-1937. Trống đồng này được giao cho trường Viễn Đông Pháp để tại bảo tàng Finot, nay cũng ở Hànội. Nó có kích thước lớn. Đường kính 79 cm, cao 61cm. 160
4. Troáng ñoàng duøng ñeå giuùp vui nhöõng ngaøy leã hoäi. Haøng naêm, Hoäi Ñeàn Huøng ôû Laâm Thao, tænh Phuù Thoï (Baéc Vieät), vaøo thaùng ba AÂm lòch, coù toå chöùc ngaøy leã hoäi gioã toå Huøng Vöông. Trong ngaøy ñoù, ngöôøi ta Ñaõ duøng troáng ñoàng ñeå giuùp vui cho ngaøy leã hoäi. Caùc ngöôøi ñaùnh troáng goàm coù 4 ngöôøi con vaø 1 ngöôøi caùi. Caùc ngöôøi con duøng duøi tre daøi ñöùng ñaùnh nhö giaõ gaïo, ñaùnh vaøo chung quanh vaønh troáng. Coøn Ngöôøi caùi ñaùnh khaép maët troáng, töø trong trôû ra coù ñoä traàm boång khaùc nhau, ñaùnh ñöôïc baøi baûn. Tieáng troáng vang doäi nghe raát hay. Ghi chuù. Tuøy theo coâng duïng, caùc troáng ñoàng Vieät Nam ñaõ ñöôïc cheá taïo ñaëc bieät vaø coù caùc hoa vaên thích hôïp. CÁC TRỐNG ĐỒNG CỔ VIỆTNAM NỔI TIẾNG NHẤT. Các trống đồng Đông Sơn Loại I là loại lâu đời nhất ở Đông Nam Á, được tìm thấy phần nhiều ở Việt Nam. Nên nó được gọi là trống đồng Việt Nam. Có 4 chiếc trống đồng Việt Nam nổi tiếng nhất là trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà và Sông Hồng. Riêng trống đồng Ngọc Lũ là chiếc đẹp nhất. 159 người này vào khoảng cả chục ngàn năm sau lại lai giống với người cũng từ Phi Châu di qua theo đợt sau nhưng đi theo ngả Âu Châu và Trung Á mà người ta đồ chừng nhiều lắm là khoảng 15.000 năm trở lại đây, sau đợt tan băng hà cuối cùng. Sự phát minh này đã được những nhà sinh học và nhân chủng học hàng đầu của nhân loại phụ họa và bổ túc (Cavalli - Sforza L. Alberto Piazza, 1998, Li Yin 1999) khiến nguồn gốc nhân loại Đông Phương, trong đó có Trung Hoa và Việt Nam có thể coi như đã được khẳng định. Xin Quí vị độc giả đọc trong số này bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp tường trình báo cáo khoa học của GS. Chu. Ở đây, chúng tôi chỉ xin Quí vị cùng chúng tôi lược qua lý thuyết về sự thay đổi cấu trúc di truyền DNA; rồi kiểm chứng lại phát minh của ông Chu bằng khảo cổ học và cổ nhân chủng học đã từng được công bố; từ đó có thể chiếu rọi vào các thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam ngõ hầu có thể chấm dứt mọi tranh cãi về vấn đề tối quan trọng có thể dùng làm căn bản cho mọi hoạt động văn hóa của chúng ta sau này. VÀI NÉT VỀ THUYẾT THAY ĐỔI CẤU TRÚC DI TRUYỀN DNA. Các nhà khoa học đều đồng ý đây là thuyết quan trọng nhất có thể thay đổi bộ mặt nhân loại kể từ đầu thiên niên kỷ thứ ba này. Người ta đã nói đến thuyết này từ lâu nhưng việc chứng minh được về phương diện khoa học của thuyết này mới được thực hiện trong những ngày rất gần đây. Xin hãy lấy ngày 22-2-2000, ngày mở đầu Hội nghị về Kỹ thuật Vi-Kính trong Sinh học (Optics Within Life Sciences) tổ chức ngay tại bãi biển Coogee, thành phố Sydney (Úc Đại Lợi) làm khởi điểm thảo luận. Trong hội nghị này, nhà nữ bác học S. Kornilova, Trưởng đoàn nước Ukraine, trước kia thuộc Liên Bang Sô-viết, đã báo cáo về ảnh 114
hưởng của phóng xạ nguyên tử đối với sinh vật tại Chernobyl nơi trước kia là địa điểm một lò nguyên tử của Nga đã bị dò làm phóng xạ thoát ra ngoài. Phóng xạ này khiến các nhiễm sắc thể vỡ ra nhiều mảnh vụn nhẹ cỡ 5.105 Dalta. Những mảnh vụn DNA này thường ở tình trạng thối rữa mang nhiều di tố 6-C gấp nhiều lần hơn bình thường, đồng thời các khoáng chất (sắt, đồng, măng gan, kẽm, chì ...) lại tăng lên rất nhiều. Cái đáng sợ nhất là tình trạng này đã tăng lên theo tuổi tác các sinh vật (trong đó có người) đồng thời di truyền cho thế hệ sau với mức tăng trưởng cao hơn gấp bội. Các sinh vật nói chung và con người nói riêng mai hậu tại vùng này sẽ biến thể như thế nào còn là điều người ta phải theo dõi thêm mới khẳng định được! Phải chăng rồi sẽ có những loại người khổng lồ như khủng long hay dị dạng như người hành tinh ? (Tất nhiên theo giả tưởng của khoa học). Điều quan trọng hơn nữa là người ta đã chứng minh được bằng khoa học chứ không phải chỉ bằng lý luận và linh cảm như trước kia, rằng ngoài phóng xạ nguyên tử, cấu trúc di truyền cũng có thể thay đổi theo luật tự nhiên mà trước kia được hình dung qua cụm từ đột biến di truyền. Sự đột biến di truyền này khoa học ngày nay gọi là SPONTANEOUS POINT OF MUTATION, có thể xẩy ra vì nhiều nguyên do mà 4 nguyên do sau đây cần được lưu ý: 1. Đột biến di truyền do độc chất đưa đến ung thư (carcinogens) như chất formaldehyde gây ra. 2. Đột biến di truyền vì nhiễm khuẩn. 3. Đột biến di truyền do tia cực tím của mặt trời. 4. Đột biến di truyền do sơ xuất của bộ máy tuần hoàn trong quá trình phân sinh tự tạo thường xảy ra ở hai vùng có di tố purine và pyridine. (GS. Võ Thanh Liêm, Đại Học Monash, Báo Việt Luận, số 1460 ngày 11-3-2000). 115 COÂNG DUÏNG CUÛA TROÁNG ÑOÀNG. Troáng ñoâng coù raát nhieàu coâng duïng. Sau ñaây laø moät soá nhöõng coâng duïng noåi baät nhaát. 1. Troáng ñoàng duøng ñeå thuùc quaân ñaùnh xaâm laêng. Xöa kia, Hai Baø Tröng ñaõ duøng troáng ñoàng ñeå thuùc quaân ñaùnh ñuoåi Toâ Ñònh quaân nhaø Ñoâng Haùn beân Taàu, daønh ñoäc laäp cho ñaát nöôùc, vaø leân ngoâi vua ñoùng ñoâ ôû Meâ Lnh.( naêm 40-43 tröoùc Coâng nguyeân). Sau ñoù, Maõ Vieän ñem ñaïi binh sang ñaùnh. Hai Baø vì theá yeáu phaûi thua. Maõ Vieän thaéng roài, sôï quaân ta duøng troáng ñoàng ñeå thuùc quaân choáng traû. Neân ñaõ ra leänh cho thu hoài heát caùc troáng ñoàng ñeå ñuùc coät ñoàng truï. Roài khi veà Taàu, Maõ Vieän cho döïng coät ñoàng truï ôû bieân giôùi vaø khaéc saùu chöõ “Ñoàng truï thieát, Giao Chæ dieät” (nghóa laø ñoàng truï ñoå, daân Vieät bò dieät vong). Vì theá, daân toäc phaûi choân daáu troáng ñoàng, neân ngaøy nay môùi coøn ñaøo thaáy. 2. Troáng ñoàng duøng cho l.eã nhaïc ñình laøng. Troáng ñoàng duøng cho leã nhaïc ñeå caàu cho quoác thaùi daân an, hoaëc ñeå caàu möa naéng cho muøa maøng, ñöôïc cheá taïo ñaëc bieät vôùi aâm thanh uy nghi khi ñaùnh leân. Coù ñình laøng duøng troáng ñoàng naøy ñeå treân baøn thôø maø caàu xin. 3. Troáng ñoàng duøng cho caùc tuø tröôûng laõnh ñaïo. Troáng ñoàng ñöôïc cheá ñaëc bieät vôùi kyõ thuaät cao, laø quyeån Kinh Dòch vaø quyeån AÂm lòch coå xöa nhaát vôùi18 con chim, duøng cho caùc tuø tröôûng laõnh ñaïo, ñeå höôùng daãn daân chuùng bieát ñöôïc phöông höôùng, ngaøy thaùng naêm, thôøi tieát toát, raát caàn thieát cho muøa maøng, ñi saên, ñaùnh caù vaø cho ñôøi soáng haøng ngaøy, ñaït ñöôïc keát quaû toát. 158
đồng Sông Đà và Sông Hồng, ta thấy 18 con chim mỏ dài (tức 2 số 9). Trong truyện cổ Ca Tu của ta, có rất nhiều số 9. Đọc 5 trang đếm được 16 số 9. Trong huyền thoại Hồng Bàng, có 18 đời Hùng Vương (tức 2 số 9). Hoặc thành Cổ Loa được truyền tụng có 9 vòng, rộng 9 dặm v.v. Tóm lại, tất cả đều nói lên dân tộc Lạc Việt đã sống có mẫu mực để nước được thịnh trị. Trống đồng.có hoa văn diễn tà Trời Đất Người, tức huyền số 3. Cái lư. Đồ thờ cúng có 2 tai 3 chân, tức huyền số 2, 3. Đá cuội có 2 vạch. Bộ 3 cái chạc. Cái lư 2 tai 3 chân. ( Thời kỳ Dồ dá mới) (Thời kỳ dồ đồng đá) (Thời kỳ đồ sắt) Văn hóa Hòa Bình Văn hóa Phùng Nguyên Văn hóa Đông Sơn 12000-10000 TCN 2000-150 TCN 700-100 TCN 157 Xin nói ngay, những hiểu biết trên, nhân loại cũng chỉ mới khám phá ra trong những năm gần đây. Muốn hiểu rõ hơn, đúng ra cần phải phân biệt khái niệm về di truyền với kỹ thuật di truyền (genetic engineering hay gene technology). Về khái niệm di truyền, từ năm 1665 Robert Hooke là người đầu tiên đã dùng từ tế bào (cells) để diển tả cấu trúc của đối tượng ông quan sát dưới kính hiển vi thô sơ của ông. Năm 1943 cụm từ DNA (DEOXYRIBO NUCLEIC ACID) đã được dùng lần đầu để chứng minh có sự di truyền trong loài vi khuẩn, nhưng đến năm 1951 Rosalind Frannklin mới cung cấp được dữ kiện về sự cấu trúc của DNA. Khởi điểm của kỹ thuật di truyền có thể kể từ năm 1953 khi James Weston và Francis Crick mới đặt thành định đề cấu trúc di truyền DNA trong 23 cặêp vòng xoắn nhiễm thể chromosomes - cấu trúc của con người hiện đại. Phải bước vào thập niên 80, kỹ thuật di truyền mới bắt đầu phát triển với kỹ nghệ sản xuất insulin (1980), với giải thưởng Nobel Hòa Bình trao cho Barbara Mc Clintock về công trình khảo cứu tính di động của genes, (1983) tiếp theo là nhiều thành tựu của thay đổi cấu trúc di truyền từng bước đạt được do tiến bộ của kỹ thuật di truyền thay DNA bằng cách chuyển đổi genes. Nhưng việc làm chủ được kỹ thuật di truyền đủ để con người có thể đoạt quyền tạo hóa trong việc tạo ra muôn loài, tăng khả năng phát hiện được nguồn gốc loài người, thì, như trên đã nói, nhân loại mới đạt được trong những năm rất gần đây mà thôi. Một câu hỏi cần làm cho rõ nghĩa là: vậy kỹ thuật di truyền (genetic engineering) là gì ? Xin đọc định nghĩa sau đây của một cơ quan giáo dục và di truyền Úc: “Những tế bào của mọi động vật cũng như thực vật đều chứa yếu tố DNA, ví như một bảng thiết kế cho cuộc sống được lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. DNA tạo nên gene và chính các genes đã mang tín hiệu làm cho muôn loài 116
từ thực vật, động vật đến con người có được cái sắc thái đặc biệt như mắt xanh, da nâu ... DNA có thể bị thay đổi bằng cách chuyển đổi các genes giữa muôn loài khác biệt nhau. Thí dụ: ta có thể cấy một gene từ loài cá sống ở biển Bắc Atlantic vào một cây dâu khiến cây dâu này có thể sống trong băng lạnh. Thay đổi những genes đặc biệt với mục đích thay đổi một loại động vật hay thực vật nào đó theo phương cách đặc biệt thì được gọi là kỹ thuật di truyền vậy” (“The cells of all plants and animals contain DNA; it’s like a blueprint for life, which is passed from generation to generation DNA is made up of genes, and it’s the genes that carry the information which make plants, animals and humans have specific charcteristics such as green eyes or brown skin ... DNA can be changes by transferring genes between and within defferent living things - you might, for example, try putting a gene from a fish that lives in the vary cold seas of the North Atlanitc into a strawberry, so it can survive a frost. Changing specific genes in order to change a plant or animal in a particular way is known as genetic engineering or genetic modification” - Choice Magazine, Feb. 1997, published by Australian Consumers’ Association) Trong kỹ thuật di truyền niên đại đáng ghi nhớ là năm 1997 khi nhà bác học IAN WILMUT tại Viện Roslin Institute ở Tô Cách Lan đã chế ra “con cừu DOLLY” bằng phương pháp phân sinh tế bào (clone). Rồi tháng 1 năm nay 2000, Đại học Texas (USA) đã chế tạo thành công một cấu trúc DNA hoàn toàn nhân taïo. 117 Do đó,dùng hình tượng và huyền số để diễn tả ý nghĩa : Tết ta phải có 3 ngày.( sổ 3=Hòa hợp thiên nhiên nhân bản= sống hạnh phúc yên vui) Mặc áo dài trên 2 khuy dưới 3 nút. (sồ 2,3= hòa hợp, tốt đẹp). Đám cưới phải có đủ 3 thứ là trầu cau vôi (sổ3). Các đồ cúng như lư, tước, giả đều có 2 tai 3 chân. Xưa vua đi xe mui tròn, thùng vuông.(Trời Đất=tốt đẹp) Đồng tiền hình tròn lỗ vuông. Ngườii quân tử đội nón tròn, đi giầy đầu vuông. Các bà đi hài cong (Trời đất hòa hợp=tốt đẹp). Mái nhà cong, thuyền rồng cong v.v. Vậy, mỗi khi nói đến Trời Đất hoặc Trời Đất Người, hay là khi thấy Số 2 ,3, Tròn Vuông, Đường Cong hay là ở dưới mái chùa cong, mái nhà thờ cong, hoặc là mặc áo dài trên 2 khuy dưới 3 nút v.v. là chúng ta phải nhớ ngay đó là biểu tượng của Hòa hợp tốt đẹp, là Chân lý sáng ngời của dân tộc ta. Chúng ta hãy cố gắng Sống hòa hợp với tình thương yêu đoàn kết, để được hạnh phúc thành công . GHI CHÚ. Ngoài huyền số 2 và số 3, còn có nhiều huyền số nữa. Như : Số 5 (là số 2+3)=tức Ngũ hành= chỉ là chu kỳ chuyển biến từ Âm qua Dương, hoặc từ Dương qua Âm, của một quá trình 5 tác hợp liên hệ cụ thể tương quan giữa sự vật hoặc sự việc. Số 9. Số 9 là bội số của số 3. (3 X 3 =9). Số 9 tượng trưng cho Cửu Trù, cho Cửu Lạc, là 9 phép nước của dân Lạc Việt đã dùng để nước được thịnh trị. Trên trống đồng Ngọc Lũ, ta thấy vòng ngoài có 36 con chim (18 con mỏ dài +18 con mỏ ngắn) tức cặp đôi 2 số 9= 36. Trên trống 156
Ý NGHĨA CÁC HÌNH TƯỢNG VÀ HUYỀN SỐ. Xưa kia, Tổ tiên ta đã chiêm nghiệm Thiên văn, Nhìn Trời Đất,. * Vào mùa Hè, thấy Trời tươi sáng, Đất nở hoa, đã suy ra là vì Hòa hợpđược tốt đẹp. Nên Trời Đất cónghĩa là Hòa hợp,tốt đẹp. * Vào mùa xuân, thấy Trời tươi sáng,Đất nở hoa, Người vui tươi., đã suy ra Trời Đất Người hòa hợp đem lại tốt đẹp, thành công., yên vui. Rồi từ ý nghĩa Hòa hợp tốt đẹp, tổ tiên ta đã sáng tạo dùng các hình tượng và huyền số, vì thủa xưa chưa có chữ viết, để diễn tả những tư tưởng lãnh đạo, những giá trị truyền thống, những phong tục tập quán, đem lại tốt đẹp hạnh phúc thành công, yên vui cho dân tộc ta.. Các hình tượng và huyền số được diễn tả như sau: Tròn = là hình tượng = chỉ Trời, vì mặt trời tròn. Vuông= là hình tượng = chỉ Đất, vì xưa cho rằng trái đất vuông. Đường cong = là hình tượng = chỉ Trời Đất hòa hợp.=tốt đẹp (Đường cong do Tròn vuông đúc thành, vì nếu ghép tròn vuông lại với nhau thành đường cong là Trời dất hòa hợp=tốt đẹp). Số 2 = là huyền số = chỉ Trời Đất, hòa hợp, tốt đẹp, đoàn kết. Số 3 = là huyền số = chỉ Trời Đất Người hòa hợp =tốt đẹp, thái hòa, thành công , yên vui.. Trời Đất Người hòa hợp = có ý nghĩa là Tam Tài, Đạo Ba, Chân lý sáng ngời của dân tộc ta.,được gọi là Hòa hợp Thiên nhiên Nhân bản, tức hòa hợp với thiên nhiên, hòa hợp với bản thiện (Nhân bản), để con người được khỏe mạnh tốt lành, đem lại hạnh phúc thành công yên vui .. 155 Chính những khám phá kể trên đã phá vỡ được điểm bế tắc mà kể từ Darwin (The descent of Man - London 1874), ông tổ của thuyết TIẾN HÓA chỉ có thể lý luận được bằng lý thuyết chứ chưa chứng minh được bằng khoa học về câu hỏi : làm thế nào mà người vượn (Homo-Erectus) lại có thể biến thành người hiện đại (Homo-Sapiens) như chúng ta ngày nay ? Điểm này sẽ được trình bày trong những dòng sau khi ta bàn đến: SƠ LƯỢC VỀ THUYẾT TIẾN HÓA VÀ NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI Thuyết này chủ trương con người cũng như muôn loài trên trái đất đều từ một đơn bào phát sinh cách nay khoảng 1 tỷ rưỡi năm biến đổi sinh thành. Riêng ông tổ trực tiếp của loài người đều được các nhà nhân chủng cho là từ một giống người vượn đi thẳng bằng hai chân tên khoa học là Homo- Erectus biến hóa dần mà ra. Như ta đã biết (Ts TƯ TƯỞNG số 4 - Văn Hóa Đông Sơn, trang 15) dấu vết người vượn hay còn gọi là Linh Trưởng cho đến nay tìm được, xưa nhất là ở Đông Phi Châu. Người ta chia làm ba loại: Cổ nhất thường được gọi là người Viễn Cổ (Proteo-anthropus) từ 1 triệu năm trở về trước (dấu chân người vượn homonid có thể cách đây đến 3 triệu rưỡi năm!). Cổ thứ nhì thường được gọi là người Thái Cổ (Arche-anthropus) có từ 100.000 năm đến 1 triệu năm. Cổ thứ ba được gọi là người Thượng Cổ (Paleo- anthropus) từ khoảng 40.000 năm đến hơn 100.000 năm trở về trước. 118
Sau hết là người Hiện Đại (Neo-anthropus) là mẫu hình nhân loại ngày nay tên khoa học là HomoSapiens-Sapien xuất hiện cùng một loạt ở nhiều nơi mà khảo cổ tìm thấy xương cốt cách đây trên dưới 40.000 năm. Hai trung tâm tìm thấy người Hiện Đại đầu tiên là Đông Nam Á (Hang Nia) và Tây Á. Một câu hỏi cần đặt ra là: có phải người Vượn Homo- Erectus từ hơn hai triệu năm trước đã tuần tự tiến hóa để trở thành người hiện đại như ngày nay không ? Các nhà nhân chủng học hình như đã không có cùng một câu trả lời cho vấn đề này. Người đồng ý với thuyết chủ trương từ người Vượn Phi Châu (Autralopithecus) đã chuyển thành người Hiện Đại chỉ theo một tiến trình Sapiens hóa duy nhất là nhà sinh học nổi tiếng Weidenreich F. [On the Earliest representatives of modern mankind recovered on the soil of East Asia (Peking, Not.Hist. Bul. XIII, 1939) - A skill of Sinanthropus pekinensi (A comparative study on a primitive minid skill - Palacotologia Simica - No. 10, 1943) - The Kellor Skull: Anr. jown. of Physic Anthropology 3, 1, 1945] Nhưng phần lớn những nhà nhân chủng khác đều cho rằng tiến trình này chỉ bắt đầu từ người Thượng Cổ (Paleo-Anthropus) mà bỏ đi hai loại Thái Cổ và Viễn Cổ, với lý do hai loại người Vượn quá xưa này có bộ óc quá nhỏ (dung tích não dưới 1000 cm3) không thể cùng một chủng loại với loài người được (não phải từ 1000 cm3 đến 2000 cm3) [Dobzhansky T. (Mankind Evolution - New Haven - London, Yale Uni. Press. 1962); Coon C.S. (The Origins of Races 1963)]. Nói một cách khác, ông 119 Đặc điểm trống đồng cổ Việt Nam. Trống đồng cổ Việt Nam, điển hình là trống đồng cổ Ngọc Lũ I là loại đẹp nhất, (được tìm thấy tại làng Ngọc Lũ tỉnh Hà Nam năm 1839 trong khi đào dất đắp dê), thuộc cổ vật tiêu biểu nhất cho nền văn hóa của Việt tộc. Nó đã được cả thế giới biết đến, và đã được xếp vào trống đồng cổ Đông Sơn Loại I là loại lâu đời nhất trong 4 loại trống đồng cổ tại Đông Nam Á. Trống đồng cổ Đông Sơn Loại I được tìm thấy phần nhiều ở Việt Nam ( khoảng hơn 100 trống ), nên được gọi là trống đồng cổ Việt Nam. Trống đồng cổ Việt Nam có 4 chiếc nổi tiếng nhất là : Trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ, trống Sông Đà, trống Sông Hồng. Những điểm nổi bật của trống đồng cổ Việt Nam. 1/. Trống đồng cổ Việt Nam có những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt. 2/. Trống đồng cổ Việt Nam là quyển Kinh Dịch và là quyển Âm lịch cổ xưa nhất với 18 con chim.. 3/. Trống đồng cổ Việt Nam đã ghi lại chiều quay trái đất cách nay khoảng 10 ngàn năm. (Cứ 11 ngàn năm, trục xoay trái đất đổi chiều. Còn 1 ngàn năm nữa sẽ đổi trục.) 4/. Trống đồng cổ Việt Nam đã ghi lại nền văn minh cổ xưa của vùng đất bị ngập chìm ở biển Đông (Sundaland).. Trống đồng cổ Ngọc Lũ I KINH DỊCH Quyển Âm lịch cổ xưa nhất Với những truyền thống Di sản sáng tạo với 18 con chim. văn hóa dân tộc Việt. của Việt Nam. 154
cóc, đôi khi 6 con. Mặt trời 8 tia. Loại trống đồng này làm vào thời Hán thuộc, bị ảnh hưởng của Tầu.Tìm thấy nhiều nhất ở miền Nam Trung Hoa. Loại III. Quai nhỏ đẹp. Mặt trời có 12 cánh, 4 góc trên mặt trống có cóc, thường 3 con chồng lên nhau thành 12. Trang trí toàn bằng đồ án hình học và hoa văn. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi, đôi khi thay vào bằng ốc. Loại trống đồng này làm vào thời Hán thuộc và bị ảnh hưởng của Tầu. Tìm thấy ở Miên. Loại IV. Kích thước thường nhỏ, không có cóc. Có các đường gẫy khúc là đặc điểm của Tầu. Mặt trời bao giờ cũng 12 tia. Loại trống đồng này phần lớn bởi Tầu. Xuất hiện sớm nhất là một vài thế kỷ sau Công Nguyên, hoặc có thể làm sau này vào thời Đường, Tống. Tìm thấy ở Trung Hoa. Loaïi I Loaïi II Loaïi III Loaïi IV Bốn loại trống đồng cổ Đông Sơn tại Đông Nam Á. 153 tổ trực tiếp của người Hiện Đại là người Thượng Cổ rõ hơn chỉ từ người Thượng Cổ (Paleo-anthropus) mà ra. Ngay cả với loại người vượn Homo Erectus thượng cổ này (Paleo-Anthropus) không phải tất cả đều tiến hóa thành người Hiện Đại. Có những loại như người Neanderthal rất phổ thông ở Âu Châu (đến nay tìm thấy được hàng trăm di tích có xương cốt loại người này) đã phát triển cách đây 150.000 năm rồi bỗng tự tiêu diệt cách đây khoảng 50.000 năm, như nhiều loài động vật khác thời đó. Giống người này có bộ óc khá phát triển (1550 cm3 so với người hiện đại bộ não trung bình là 1400 cm3). (Boule M & Vallois H. - Les hommes sossiles - Paris 1952) và như vậy người Neanderthal không phải là tổ tiên của người Châu Âu ngày nay. Di truyền học DNA xác nhận kết luận của khảo cổ học kể trên là đúng. (Krings M. & al Neanderthal DNA Sequences and the Origins of modern humans - Cell. Vol. 90. pp. 7719-7724, 1997). Xem chừng chỉ có một loài linh trưởng qua được cái cầu thay đổi cấu trúc di truyền mà trước kia được gọi là đột biến di truyền và bước nhẩy biện chứng. Muốn hiểu tại sao thì trước hết ta phải trả lời được hai câu hỏi căn bản nữa là: 1. Cấu trúc di truyền của người vượn và người hiện đại khác nhau như thế nào? 2. Nếu loài người đã sinh ra từ một nguồn duy nhất mà nhân chủng học ngày nay thường gọi là từ một “bà Mẹ Phi Châu”, thì tại sao con người lại kẻ da trắng tóc hoe như người Âu Châu ? Kẻ da vàng tóc đen như người Á Châu ? Kẻ da đen tóc xoắn như đa số người Phi Châu và Hải đảo Thái Bình Dương? 120
Về câu hỏi thứ nhất: Người ta biết được rằng con người hiện đại như chúng ta ngày nay có 23 cặp vòng xoắn nhiễm thể (chromosomes) trong khi người vượn có những 24 cặp, trong đó chỉ có 5 cặp là giống người hiện đại. Do đó, trước kia, bằng lý luận và bằng linh cảm các nhà nhân chủng học đã đoán biết được người vượn đã tiến hóa để trở thành người hiện đại phải vượt được cái cầu thay đổi cấu trúc di truyền. Nhưng thời đó khoa di truyền học chưa tiến bộ nên người ta chỉ có thể lý luận có tính cách triết học là sự thay đổi này phải có nhờ bước nhẩy biện chứng: Các học giả thời ấy giả thiết khi những biến chuyển nhỏ về lượng tích lũy đến một mức nào đó có thể gây những biến đổi về chất. Trả lời như vậy là chưa thỏa đáng, không thể làm vừa ý những người đắm mình trong tinh thần khoa học, thường được mệnh danh là khoa học chính xác trước đây. Ngày nay nhờ tiến bộ của khoa di truyền như trên đã nói, người ta hiểu, ngoài thay đổi vì phóng xạ, có thể có thay đổi cấu trúc di truyền DNA theo luật tự nhiên vì những nguyên do khoa học, như trên đã trình bày. Vậy thì, trong các loại người vượn, đã có một loại, ở Phi Châu, hội đủ được những yếu tố khoa học để thay đổi được cấu trúc di truyền của luật Spontaneous Point of Mutation này, chuyển được DNA (translocation) của loài Homo-Erectus thành DNA của loài Homo-Sapiens mà thành người hiện đại. Việc này xẩy ra chỉ mới khoảng 100.000 năm cách ngày nay (tối đa là 200.000 năm). Vậy di truyền học DNA đã chứng minh thuyết các nhà nhân chủng học chủ trương chỉ riêng người vượn Thượng Cổ (Paleo-Anthropus) đã chuyển hóa thành người Hiện Đại là đúng. 121 Nguồn gốc trống đồng cổ Đông Sơn Và văn hóa Đông Sơn. Năm 1924, người làng Đông Sơn Thanh Hóa Việt Nam, ra sông Mã câu cá sau trận bão lụt, thấy trống đồng nằm trên bờ sông, bèn lấy về đem bán cho Tây đoan Pajot. Trường Viễn Đông Bắc Cổ bèn giao cho Pajot khai quật tại Đông Sơn và đã tìm được gần 500 món đồ đồng trong đó có 20 chiếc trống dồng cổ Đông Sơn Loại I . Nên có tên là trống đồng cổ Đông Sơn . Rồi từ đó, các nhà khảo cổ đã nghiên cứu các cổ vật này và nguồn gốc Văn Hóa Đông Sơn được đề xướng . PHÂN LOẠI CÁC TRỐNG ĐỒNG CỔ. Theo Franz Heger, một học giả người Đức làm cố vấn trong hội nghị nghiên cứu về Viễn Đông ở Hà-nội, năm 1902, ông đã cho xuất bản tại Leipzig 2 quyển về trống đồng ở Đông Nam Á. Sách in khổ lớn có 45 hình và một bản mục lục về tất cả các diễn đề. Heger chống lại ý kiến của Hirth cho trống đồng là sản phẩm của Tầu, mà ủng hộ ý kiến của Grooth cho là của Việt tộc. Ông đã phân chia 165 chiếc trống đồng cổ được biết đến lúc ấy thành 4 loại rất chính xác : Loại I. Kích thước thường lớn, mặt trống có hình sao đúc nổi với 14 cánh như trống đồng Ngọc Lũ, Sông Đà, hoặc 16 cánh như trống đồng Hoàng Hạ v.v. Trên mặt trống và trên thân trống có hình người, vật, nhà cửa. Loại trống đồng này có niên đại cổ nhất, tiêu biểu nhất cho nền văn hóa của ta, có từ khoảng 700 năm trước CN, và tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam (khoảng 100 trống). Loại II. Không có hình người hay vật, mà chỉ có các hoa văn hình học. Trên mặt trống thường có hình khối 4 con 152
Chương I. Đại cương về trống đồng cổ Việt Nam. Mặt Trống Tang Thành Thân Chân Thành Trống MÔ TẢ TRỐNG ĐỒNG CỔ NGỌC LŨ I MẶT TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ I THÀNH TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ I Mặt trống được chia thành 3 vùng Thành trống gồm :Tang ,Thân và Chân Vùng a :Chính giữa diễn tả Trời Tang trống (phình ra) có 6 thuyền rồng Vùng b: Ở vòng thứ 6 diễn tả Người cong ,mỗi thuyền có 5, 6 người. trong lễ hội, vũ điệu ca nhạc. Thân trống có 6 khung, mỗi khung có Vùng c: Ở vòng 8,10 diễn tả Đất 2 người hóa trang chim cầm rìu, mộc. Đây có nhiều chim và hươu . Chân trồng khơng có trang trí. 151 Về câu hỏi thứ hai: Con người Homo-Erectus từ Phi Châu dần dà đã phân bố đi các nơi theo nhiều đợt qua nhiều giai đoạn khác nhau: đợt qua Á Châu trở thành người da vàng tên khoa học là Mongoloid, đợt qua Âu Châu trở thành người da trắng Europoid và đợt xuống Nam Phi Châu và qua hải đảo trở thành người Negro-Australoid. Những người này có vóc dáng mầu da, ánh mắt, râu tóc ... khác nhau. Tại sao ? Trước kia, câu trả lời của các nhà nhân chủng học là: vì ảnh hưởng của môi trường sinh sống (môi sinh). Điều này có thể hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: môi sinh được coi là yếu tố ngoại tại, Nghĩa thứ hai: môi sinh khi thâm nhập vào cơ thể con người dần dần đã biến thành yếu tố nội tại của con người đó. Theo nghĩa thứ nhất: con người được dinh dưỡng tốt, có khí hậu tốt thì có thể cao lên, to ra; sống tại nới quá nóng hay quá nhiều ánh sáng mặt trời thì da có thể đen hơn; sống ở nơi môi sinh khác hẳn như người Mongoloid qua eo Bering sang Mỹ Châu, da đỏ hơn, to lớn hơn ... Nhưng sự thay đổi hình dáng vì môi sinh như vậy cũng chỉ có thể đến một chừng mực nào đó. Không thể cùng một nguồn gốc hay cùng một mẹ mà kẻ da trắng mũi lõ, người da vàng mũi tẹt, người lại da đen tóc xoăn quắn. Dùng môi sinh theo nghĩa này để giải thích hiện tượng con người cùng một gốc mà vì ảnh hưởng của môi sinh đã biến thành người da trắng (Europoid) ở Âu Châu, da vàng (Mongoloid) ở Á Châu hay da đen (Negro- Australoid) ở Hải Đảo Thái Bình Dương và các vùng khác ở Phi Châu thì có vẻ không ổn vì không đúng với khoa học và thực tế. 122
Nhưng nếu hiểu theo nghĩa thứ hai, vấn đề lại khác : môi trường đặc biệt có thể đưa vào cơ thể con người những yếu tố đặc biệt (như các vi khuẩn, tia cực tím do ánh sáng mặt trời, các chất độc, các khoáng sản đặc biệt ... ) khiến con người khi hội đủ yếu tố có thể có sự đột biến di truyền tự nhiên mà khoa học ngày nay gọi là spontaneous point of mutation. Trong trường hợp đó nhiễm sắc thể DNA trong gene sẽ làm con người thay đổi đi về hình dáng, màu da, râu tóc, sức khỏe, tật bệnh, cả về thông minh và có thể về tác phong thiên hướng của con người như nghiện rượu, đa sát ... nữa. Cái nhiễm sắc thể DNA này, một khi đã lập thành sẽ tồn tại vĩnh viễn trong con người và di truyền mãi mãi cho các thế hệ về sau. “Genes contain the information necessary for our bodies to grow, develop and formation. Genes are made of the chemical DNA (Deoxyribosenucleic acid) which is the basic material of heridity. Genes provide the information for the cells in the form of a chemically codes “message”, knows as the genetic code”. (Fact Sheet No14 - NSW Genetic Educ. prog.) và: - all yours DNA is in nearly every cell in your body. - it influences things that make up personal identify ; height, build, shin colour, intelligence and possibly propensity for some behaviours such as alcholism. - your genetic make up stays with you all your life it cannot be changed” (Information paper No 5 - Sept 1996 - Privacy Commissioner Human Rights Australia) Chính vì sự bất lực của khoa học trước kia không giải thích nổi các hiện tượng như cách giải thích của di truyền học DNA vừa kể trên nên thuyết tiến hóa từ một trung tâm duy nhất không đủ sức thuyết phục, nên nhiều tác giả, kể 150 123
PHẦN THỨ BA TÌM HIỂU PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRỐNG ĐỒNG CỔ VIỆT NAM. 149 cả người viết những dòng này trước kia, đã phải tạm quay ra thuyết nhiều trung tâm, dựa vào thuyết Tiến hóa Độc lập Đa địa phương (Multiregional Evolution) để giải thích về sự xuất hiện của người hiện đại. Xin đừng vội dùng thuyết lai giống để giải thíùch hiện tượng này vì khởi thủy đã có giống da trắng, da vàng, da đen khác nhau đâu mà lai. Tóm lại: tuy trước kia đã có rất nhiều lý thuyết có sức thuyết phục cao, nhưng trước khi có sự khám phá về thay đổi cấu trúc di truyền DNA mà, như trên đã nói, mới chỉ phát minh ít năm gần đây, mọi cuộc bàn cãi về nguồn gốc con người nói chung, về nguồn gốc một chủng tộc nào đó như chủng tộc Hoa, chủng tộc Việt nói riêng, chỉ có giá trị thuần lý thuyết. Trong những bài viết trước đây, chúng tôi đã chứng minh bằng những chứng tích do khảo cổ học cung cấp, là con người đã từ phương Nam (Văn Hóa Hòa Bình) di lên phương Bắc và là căn cốt thành lập nên nước Trung Hoa, kể cả các nước Nhật Bản, Triều Tiên. Tuy nhiên, lúc đó chưa có được các bằng chứng về di truyền học nên người viết còn biï lấn cấn về bảng xương sọ có tính Hắc chủng mà các học giả Pháp gọi là người Malanesian, Indonesian, Nam Á, Australoid, và được tất cả các tác giả người Việt gần đây tuân theo như một chứng tích đầy quyền uy của khoa học. Tất cả những lấn cấn này, nay nhờ di truyền học đã được sáng tỏ. Và chúng ta thấy đã đến lúc cần phải duyệt xét lại tất cả các thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam từ trước đến nay cho phù hợp với tiến triển của khoa học ngày nay. 124
ĐÓNG GÓP CỦA GS. CHU & ĐỒNG NGHIỆP VÀO NGUỒN GỐC NGƯỜI ĐÔNG Á QUA THUYẾT DI TRUYỀN Như trên đã nói, xin Quý vị độc giả đọc chi tiết về báo cáo khoa học của GS. Chu và các đồng nghiệp trong số này. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh vào ba điểm căn cốt như sau : Điểm thứ nhất: Công trình khảo cứu của GS.Chu phủ nhận người Trung Hoa đã tự sinh ra và phát triển độc lập trên đất Trung Hoa như nhiều nhà khảo cổ trước đây đã chủ trương đồng thời khẳng định gốc gác của người Trung Hoa từ Đông Nam Á di lên. [Trích Báo cáo GS. Chu: “Nervetheless, genetic evidence does not support an independence origin of Homo-Sapiens in China. The phylogeny also suggested that it is more likely that ancestor of the populations currently residing in East China entered from Southeast Asia”]. Điểm thứ hai: Người từ Đông Nam Á di lên đó cũng không hẳn tự phát sinh ở Đông Nam Á mà họ đã đến từ Phi Châu qua ngả Nam Á. [Trích Báo cáo GS. Chu: “In both phylogenies with different loci and populations from East Asia always derived from a single lineage, indicating the single origin of those populations ... It is now propably safe to conclude that modern humans originating in Africa 148 125
“con gái” và “cháu ngoại” của thị tộc Nasreen, mà thị tộc Nasreen lại là “con gái” của thủy tổ Eva (L3)—tức tức tổ tiên của tất cả mọi người không-Châu Phi (sđd, tr. 61-2, 85 & 134). 2. Ngày nay, tại vùng Bắc châu Phi, khảo sát mtDNA cũng đã không tìm thấy dấu tích di truyền thể của các nhánh thị tộc Nasreen (N) và Rohani (R)—là “con gái” của Nasreen; ngược lại, khảo sát chỉ tìm thấy hậu duệ của các thị tộc Nasreen và thị tộc Rohani xuất hiện ở vùng Nam Á mà thôi; hơn thế nữa, huyết tộc mtDNA của người Bắc châu Phi bản xứ được ghi nhận chỉ đến từ Cận Đông vào khoảng 30.000 năm trước mà thôi. (63 & 83) 3. Ngoài ra, các thông tin địa chất học, khảo cổ học và khí hậu học cũng cho biết rằng: Tại vùng Bắc Phi và Cận Đông trong thời kì 50.000 năm về trước, loài người hiện đại không thể định cư sinh sống, bỡi lẽ thời tiết quá lạnh và đất đai trở thành sa mạc, khô cằn; do đó không thể có con đường di dân ra khỏi châu Phi xuyên qua vùng Sahara để đến Trung Đông và châu Âu trước thời kì đó (tr. 50-4). 4. Thật vậy, nghiên cứu những lõi khoan lấy được từ lòng biển vùng tam giác châu thổ sông Indus cho thấy: Mãi đến khoảng 50.000 năm trước, thời tiết khu vực giữa Syria và biển Ấn Độ mới không còn băng tuyết giá lạnh và cũng không còn trở ngại sa mạc—vì đã trở nên ấm áp và có cây cỏ xanh mọc—nên đã mở hành lang qua vùng lưỡi liềm phì nhiêu Lưỡng Hà để cho hậu duệ của Nasreen (N) và Rohani (R) đến vùng Cận Đông hoặc Châu Âu (Oppenheimer, sđd, tr. 85). Cũng xin nhắc lại ở đây: Khoảng 120.000 năm trước, tuy đã có một đợt di dân đầu tiên ra khỏi Châu Phi dược ghi nhận có mặt ở vùng Cận Đông, nhưng những dữ kiện khảo cổ học và di truyền học cho thấy các hậu duệ của đọt này đã bị tiêu diệt tất cả (Oppenheimer, sđd, tr. 16). 147 constitute the majority of the current gene pool in East Asia”]. Điểm thứ ba: Và, sau khi phối kiểm với kết quả của khảo cổ học như việc đo đạc xương cốt sọ mặt ... GS. Chu kết luận riêng người phương Bắc Trung Hoa sau khi đã từ Đông Nam Á di lên sau lại lai giống với người từ Trung Á và Âu Châu di cư đến. (Có lẽ đây là tổ tiên của người Hoa Hán lập nên nhà Thương - Người viết ghi thêm). [Trích Báo cáo GS. Chu : “The northern populations were under strong genetic influences from ALTAIC populaitons from the North. But it is unclear how Altaic populations migrated to Northeast Asia. It is possible that ancestral Altaic pop. arrived there from middle Asia, or alternatively they may have originated from East Asia”.và: “Therefore, it is likely that ancestors of Altaic speaking people originated from an East Asia population that was originally derived from South Asia, although the current Altaic-speaking populations undeniably admixed with later arrivers from mid-Asia and Europe”]. Như thế là đủ rõ. Trong những bài viết trước, chúng tôi đã chứng minh người thuộc Văn hóa Hòa Bình Từ Đông Nam Á mà điểm chính có thể từ Bắc Việt Nam đã di cư lên góp phần thành lập nước Trung Hoa. (TƯ TƯỞNG số 2 - Nguồn gốc dân tộc Việt Nam; số 3 - Biển tiến và Sự thuần hóa cây lúa nước; số 4 - Văn hóa Đông Sơn). Nay thì di truyền học đã chứng minh không phải người Đông Nam Á chỉ góp phần mà thực ra đã đóng vai trò chính, đã là tuyệt đại bộ phận của nhân chủng lập nên nước 126
Trung Hoa. Ngay cả những người ở phía Bắc Trung Hoa cũng chỉ là người lai giữa giống từ Đông Nam Á di lên với giống từ phương Tây (ngưới Âu?) di lại. Và việc đó cũng chỉ diễn ra nhiều lắm từ 15.000 năm trở lại đây mà thôi. Sự khám phá của Gs. Chu và các đồng nghiệp đã được các học giả khắp nơi hưởng ứng. Nhiều học giả đã bổ khuyết thuyết của Ông Chu bằng những tham luận giá trị. Xin kể ra đây ba khuynh hướng đáng lưu ý nhất: Khuynh hướng 1: Trước hết, phải kể đến nhà di truyền học rất nổi danh vì đã đóng góp cho nhân loại nhiều công trình nghiên cứu giá trị là GS. Cavalli-Sforza. Ông đã chứng minh từ năm 1997 trước khi có sự công bố công trình nghiên cứu của GS. Chu là người từ Châu Phi đã đến Đông Nam Á qua ngả Nam Á, rồi từ Đông Nam Á họ đã chia hai ngả : một ra các hải đảo thuộc Châu Đại Dương để trở thành những người mà sau này các nhà nhân chủng học gọi bằng nhiều tên như Malanesian, Indonesian, Australoid; và một ngược phía bắc lên Đông Á rồi vượt eo Bering sang Mỹ Châu. (Cavalli-Sforza - genes, people & languages - Proc. Natl. Acad. Sci. - USA, Vol. 194 pp. 7719-7724, 1997). Câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao cũng từ Đông Nam Á ra đi mà người ra hải dảo thì da sậm, tóc xoăn; trong khi người ngược phía Bắc lại thuộc da vàng, tóc đen? Cần phải có sự nghiên cứu về di truyền học và có thêm tài liệu khảo cổ để trả lời câu hỏi này cho xác đáng. Trong hoàn cảnh tài liệu hiện có, chỉ có thể giả thiết, người từ Phi Châu đến Đông Nam Á rồi tiện đường (lúc này nước biển thấp nên có nhiều cầu nổi nối liền Đông Nam Á đến hải đảo) ra hải đảo Thái Bình Dương trước. Trong khi trụ lại Đông Nam Á, họ đã hội đủ các yếu tố khoa học để có được một sự thay đổi cấu trúc di truyền lần hai, biến từ giống da đen sang giống da vàng trước khi họ tiến lên phía Bắc. (Xin đọc lại đoạn trên về sự thay đổi di truyền DNA là nguyên nhân thay đổi vóc dáng, mầu da, mầu mắt, mầu tóc ...). Vậy phải chăng người Hắc chủng từ Phi 127 Lý do khác nhau về nơi xuất phát của đợt II Như chúng ta đã đọc thấy ở trên, trong khi nhà di truyền học Anh Spencer Wells tin rằng có hai vị trí xuất phát và hai đợt di dân lớn ra khỏi Châu Phi khác nhau, thì nhà di truyền học Anh Oppenheimer khảo sát mtDNA mẫu hệ (có phối kiểm chặt chẽ với khảo cổ học, dịa chất học và khí hậu học) lại cho rằng: chỉ có một đợt di dân lớn ra khỏi châu Phi; còn đợt II thật ra chỉ là đợt nối tiếp với đợt đầu, mà Ấn Độ, Pakistan và vùng Vịnh là nơi xuất phát của đợt II này. Lý do là khi khảo sát “cây gia phả”, căn cứ vào kết quả khảo sát mtDNA mẫu hệ, Oppenheimer nhận thấy: chỉ có một nhánh di dân thành công duy nhất rời châu Phi ở một lúc nào đó trong khoảng giữa 65.000 và 90.000 năm trước, và có thể nói tất cả mọi người không-Châu Phi ở Úc, Châu Mĩ, Siberia, Iceland, Châu Âu, Trung Quốc, và Ấn Độ đều thừa kế di truyền thể từ một gốc dòng dõi tổ tiên xuất phát từ Châu Phi (sđd, tr. 78 & 83). Ông còn cho biết, cây gia phả di truyền thể đã chỉ ra rõ ràng rằng: Người Châu Âu và người Trung Đông không đến trực tiếp từ Châu Phi, nhưng từ một nơi nào đó gần Ấn Độ (sđd, tr. 84). Thành thử, ông khẳng định không thể có nhánh thứ hai nào từ Châu Phi di chuyển trực tiếp lên Trung Đông, mà đó chỉ là đợt nối tiếp với đợt đầu: nó xuất phát từ bên ngoài châu Phi, có thể trong khu vực Pakistan hoặc Ấn-độ (sđd, tr. 151-2). Và để chứng minh điều này, ông đưa ra những chứng cứ như sau: 1. Một công trình nghiên cứu dấu vết di truyền học châu Âu hồi đầu thế kỉ, do những nhà khoa học như Martin Richards, Vincent Macaulay và Hans-Jurgen Bandelt thực hiện, đã cho thấy: KHÔNG hề có dữ kiện di truyền thể chứng tỏ người Châu Âu hoặc người Cận Đông đến trực tiếp từ Châu Phi. Vì lẽ, kết quả khảo sát mtDNA cho thấy 4 dòng dõi gốc gác ở Cận Đông (J, T, U5 và I) đều là những nhánh thị tộc 146
truyền học Oppenheimer và Wells, như chúng ta đã thấy ở trên (Oppenheimer, sđd, tr. 37 và Wells, sđd, tr. 59). Một điều khác nhau nữa là vì cách sinh hoạt tình dục của nhân loại ở thuở xa xưa; trong phần nhiều xã hội truyền thống có một số ít người giao phối nhiều nhất như các tộc trưởng và lãnh chúa; nhưng, đồng thời cũng có một số đàn ông không bao giờ có con được, còn một số đàn ông khác lại có con đông hơn mức bình thường. Người phụ nữ thì ngược lại, họ có cơ hội có con đồng đều hơn; những huyết tộc mtDNA của họ có nhiều cơ may được thừa kế đến thế hệ kế tiếp, hơn là huyết tộc của nhiễm sắc thể Y phụ hệ; thành thử, trải qua thời gian, những dòng dõi huyết tộc Y có thể bị mất mát hơn những dòng dõi huyết tộc mtDNA. Nói cách khác, những dòng dõi huyết tộc nam giới thường dễ trở nên tuyệt chủng nhanh hơn những dòng dõi huyết tộc nữ giới; do đó, chỉ để lại một số ít huyết tộc có di truyền thể ưu thế hơn. (Wells, sđd, tr. 159-60, và Oppenheimer, sđd, tr. 41-2) Đó cũng là lí do tại sao, khi khảo sát mtDNA mẫu hệ, các nhà di truyền học đã tìm thấy thủy tổ Eva của nhân loại hiện đại xuất hiện ở châu Phi cách nay khoảng 170.000 năm; trong khi đó, khảo sát nhiễm sắc thể Y phụ hệ lại chỉ ra thủy tổ Adam chỉ mới xuất hiện khoảng 60.000 năm trước. Và đó cũng là lí do sai lệch thời gian di dân ra khỏi châu Phi giữa Wells và Oppenheimer: vì Wells chỉ chuyên chú về nhiễm sắc thể Y và gắn bó hơn vào thời gian của đồng hồ phân tử di truyền thể (the genetic molecular clock); trong khi đó, Oppenheimer lại chuyên chú về mtDNA và gắn bó phối kiểm chặt chẽ với địa chất học, khí hậu học và khảo cổ học. 145 Châu đến Đông Nam Á rồi nhờ hội đủ yếu tố khoa học, đủ cơ duyên, đã biến đổi thành người da vàng mà sau này nhân chủng học gọi bằng tên Mongoloid. Từ đó họ đã tỏa lên phía bắc vượt sang Châu Mỹ tạo thành người Da Đỏ. Một nhánh khác của Hắc chủng khi đến Âu Châu đợt sau đã nhờ thay đổi cấu trúc di truyền DNA mà thành Bạch chủng, sau này gọi là Europoid. Đại chủng Vàng Mongoloid ở Á Châu, và Đen Negro-Australoid ở Phi Châu và các hải đảo Thái Bình Dương, và Trắng (Europoid) ở Âu Châu nay lan sang nhiều nơi khác như Bắc Mỹ, Úc Châu ... là ba đại chủng chính của nhân loại ngày nay. Khuynh hướng 2: Đến năm 1999, một học giả khác người Trung Hoa, GS. Li Yin, đứng đầu một nhóm khoa học gia về di truyền học (Đại học Stanford) đã nghiên cứu cùng một vấn đề trên. Báo cáo của ông củng cố thuyết của ông Cavalli-Sforza mà còn chi tiết thêm thuyết con người có gốc duy nhất từ Phi Châu đã di cư đi các nơi khác qua ba đợt như sau: Đợt 1: Từ Phi Châu đến Nam Á rồi xuống Châu Đại Dương. Đợt 2: Từ Phi Châu đến Đông Nam Á qua ngả Nam Á; rồi từ Đông Nam Á chia hai ngả, một đến các hải đảo Thái Bình Dương, một ngược lên phía bắc đến Đông Á và Bắc Mỹ. Đợt 3: Từ Phi Châu đến Tây và Trung Á rồi từ đó chia hai : một nhóm đi lên Âu Châu rồi qua Bắc Mỹ; một nhóm đi qua Nam Á và vào Bán đảo Ấn Độ. Kết quả về di truyền của GS. LiYin về sự di cư của người Phi Châu thực ra cũng không khác nhiều với thuyết di cư do các nhà nhân chủng học mà tiêu biểu là Charles Higham đã vẽ ra bản đồ từ năm 1996 (Li Yin & N. - Distribution of halotypes from a 128
chrosmosomes 21 Region-distinguishes multiple prehistoric human migrations - Proc. of Natl. Acad. Sci. - USA, Vol. 96 pp. 3796-3800, 1999). Khuynh hướng 3: Một tác giả nổi tiếng khác ủng hộ và làm sáng tỏ thêm kết quả nghiên cứu của GS. Chu là GS. Alberto Piazza ở Đại học Torino, Ý Đại Lợi, ông nhắc lại ba mô hình được các học giả trước đây đưa ra về nguồn gốc người Trung Hoa là : Mô hình 1: Chủ trương nguồn gốc người Trung Hoa ở Hoa Nam là từ Hoa Bắc di xuống rồi hợp chủng với những người Australoid đã có sẵn ở đó. Mô hình 2: Chủ trương ngược lại cho người Hoa Nam đã di cư lên Bắc và người phía Bắc Trung Hoa chỉ là hậu duệ của người Phương Nam di cư lên. Mô hình 3: Chủ trương hai giống người ở Hoa Bắc và Hoa Nam tiến hóa và phát triển độc lập với nhau qua ba trung tâm chính Yang-Shao, Ching Lien Khang và Ta-Pen-Keng. Ông kết luận: mô hình thứ hai (Bắc là hậu duệ của Nam Trung Hoa), người phương Bắc có sau và do từ người phương Nam di cư lên sinh ra, phù hợp với các dự kiện về di truyền học theo khảo cứu của GS. Chu và đồng nghiệp hơn. Những sự nghiên cứu khác dù về di truyền (Cavalli-Sforza), hay về khảo cổ như nghiên cứu về răng (Turnen C. G.); về sọ ( Hanihara T.) của người cổ ở Trung Hoa cũng hậu thuẫn cho mô hình hai này. (Alberto-Piazza - Human Evolution: Towards a genetic history of China - Proc. of Natl. Acad. Sci. - USA, Vol 395, No 6707, 1998). Trước khi kết luận bài viết này, chúng tôi có ý định lược duyệt các thuyết đã có về Nguồn gốc Dân tộc Việt Nam 129 Lí do khác nhau về thời gian di dân Đó chính là do sự chọn lựa giữa hai phương pháp khác nhau. Wells chuyên tìm dữ liệu và khảo sát nhiễm sắc thể Y phụ hệ, dựa vào cấu trúc đa dạng của chúng, để truy tầm thủy tổ Adam và các chi nhánh hậu duệ của nhân loại hiện đại. Lí do là vì nhiễm sắc thể Y của đàn ông ở trong hệ di truyền thể hạt nhân của tế bào to lớn hơn mtDNA của đàn bà ở trong “mitochondrion”, nên nó lưu giữ khá nhiều bí mật của quá khứ loài người chúng ta hơn mtDNA. Tuy nhiên, cái bất lợi: đó là nhiễm sắc thể Y cho kết quả truy tìm tốt về nhiều chi tiết lí lịch, nhưng lại chỉ ra “tuổi tác lịch sử” không được chính xác. Do đó, tuổi tác của các nhánh gia phả được khám phá thông thường khác nhau khủng khiếp, từ nhóm nghiên cứu này đến nhóm nghiên cứu khác; có nhiều trường hợp gấp 2 đến 5 lần trẻ hơn so với số tuổi tương đương trên bản đồ gia phả được vẽ theo kết quả khảo sát mtDNA mẫu hệ. (Oppenheimer, sđd, tr. 41 & 150) Khác với Wells khảo sát nhiễm sắc thể Y phụ hệ, Oppenheimer đã chọn khảo sát mtDNA mẫu hệ để đạt sự chính xác hơn về thời gian. Vì, như kết quả khảo sát mtDNA đã cho biết, mỗi một người trong chúng ta, cả nam lẫn nữ, đều thừa kế mtDNA từ mẹ mình, và mẹ mình thì thừa kế từ bà ngoại, và cứ như thế tiếp tục qua nhiều thế hệ… Cho đến khi “gien” mtDNA của thế hệ tận cùng nối kết với “gien” mtDNA của một phụ nữ thủy tổ duy nhất của loài người hiện đại chúng ta. Cũng xin lưu ý điểm này: Nam giới dù được nhận mtDNA từ mẹ mình, nhưng không thể truyền lại cho con trai mình. Và đây cũng chính là một trong những lí do tạo ra sự mất liên tục thời gian kế thừa trong huyết tộc phụ hệ và đưa đến sai lệch “tuổi tác” của quá trình di dân ra khỏi Châu Phi giữa hai nhà di 144
Hoa Nam, Hoa Đông và người Việt Nam đều CÙNG CHỦNG.[5] 13. Còn theo khám phá của Stephen Oppenheimer viết trong sách Eden in the East của ông, thì các cư dân sống du mục ở vùng phía Bắc Tây Tạng và các gia đình quí tộc ở Lhasa đều có sọ não dài giống như người Thổ-nhĩ-kì và người Châu Âu. Kế nữa, trong phần nghiên cứu ngôn ngữ học, ông cũng cho biết quê quán của các ngôn ngữ Hoa-Hán (sinitic languages) ở tận phía Bắc sông Hoàng Hà. Nhưng, sau đó theo chân bành trướng “Nam tiến”, các ngôn ngữ này đã phát triển đến tận phía Nam Trung Quốc. Còn quê quán của các ngôn ngữ Tạng-Miến (Tibeto- Burmese), thì ở quanh khu vực Tây Tạng, Tây Tứ Xuyên, Vân Nam, và khu vực đầu nguồn của các con sông Brahmaputra, Irrawaddy, Cửu Long và Dương Tử.[6] 14. Nhưng nói chung, phần nhiều nội dung nghiên cứu về bản đồ di dân ra khỏi châu Phi, được vẽ bằng “DNA”, giữa hai tác giả Oppenheimer và Wells không khác nhau cho lắm; đặc biệt là lộ trình đợt I của Oppenheimer mô tả cũng gần tương tự với lộ trình Wells mô tả, chỉ KHÁC về thời gian diễn tiến di dân mà thôi. Theo Wells, thì thời gian đợt I xuất phát từ miền Đông Châu Phi là khoảng 60-50.000 năm trước, đến Đông Nam Á và Úc là 50.000 năm trước. 15. Như vậy, lí do nào đã có sự khác biệt giữa các kết quả khảo sát di truyền thể của Stephen Oppenheimer và Spencer Wells? Sau đây là những điều chúng tôi đã đọc hiểu từ hai cuốn sách Out of Eden và The Journey of Man của hai tác giả và xin lược dịch như sau: 143 và trình bày những ưu khuyết điểm của chúng trước khi đưa ra kết luận chung cuộc cho vấn đề. Nhưng viết đến đây tôi thấy việc làm này cũng không cần thiết nữa. Chung qui thì những thuyết về nguồn gốc dân tộc ta từ trước đến nay, dù do người ngoại quốc viết, dù do người Việt Nam viết cũng chỉ qui về hai mô hình như đã trình bày ở phần mở bài : mô hình 1 căn cứ vào văn bản chủ trương người Việt là hậu duệ của những người từ phương Bắc di cư xuống; mô hình 2 căn cứ vào bảng tỷ lệ xương sọ thời Đồ Đá Mới do người Pháp thành lập trước kia và mới được bổ túc vào thập niên 60, chủ trương người Việt là hậu duệ những người thuộc Hắc Chủng từ Hải đảo Thái Bình Dương di vào sau phối hợp với những người Mongoloid từ phương Bắc di cư xuống mà thành. Tất cả những khảo cứu về di truyền học DNA , như vừa trình bày ở trên, đều khẳng định cả hai mô hình trên là sai, là ngược lại với sự thực. Người viết, bằng vào những kết quả mới nhất của khảo cổ học về thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, về sự thuần hóa lúa nước ... cũng đã chứng minh những thuyết ấy là sai sự thực (Tập San TƯ TƯỞNG số 1, 2, 3 và 4). Những chứng minh này hổ trợ cho các kết luận về di truyền học như vừa kể. Chúng tôi sẽ trình bày các sưu khảo khác về đồ gốm, về ngôn ngữ, văn tự, về các phong tục tập quán, nói chung về văn hóa, tất cả đều chứng minh tộc Bách Việt đã có trước và di cư lên phía Bắc để lập ra nhiều nước khác nhau trước khi thống nhất dưới bạo lực của nhà Tần thành nước Trung Hoa như ngày nay. Văn hóa Việt cũng đã có trước rồi sau này tiến hóa thành văn hóa Hoa ăn khớp nhịp nhàng với kết luận của các khảo cứu về di truyền học vừa được công bố trong vài năm gần đây. Thuyết của GS. Nguyễn Khắc Ngữ cũng như các GS. Đại Học Hà Nội về người Hắc chủng ở hải đảo vào lai giống với người Mongoloid là tổ tiên của người Việt ngày nay và thuyết của các học giả Pháp và các học giả người Việt lớp cũ từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đến Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim ... nói về nguồn gốc 130
người Việt là hậu duệ của người từ phương Bắc xuống phải được đảo ngược lại mới đúng với sự thực. Người viết xin kết luận bài này với lòng mong ước những nhà di truyền học Việt Nam, trước hết xin bổ khuyết cho phần viết của chúng tôi liên quan đến di truyền học DNA trong những dòng viết ở trên để những tài liệu này được hoàn chỉnh hơn. Thứ nữa, nếu có thể được, xin sớm thực hiện một cuộc khảo cứu về di truyền học DNA cho người Việt Nam, như trường hợp GS. Chu và đồng nghiệp của ông vừa thực hiện đối với người Trung Hoa ngỏ hầu có thể khẳng định và làm rõ rệt thêm rằng người Hòa Bình, đã di cư từ Châu Phi đến, nhưng đã trụ ở Đông Nam Á và nhờ đó đã có một söï chuyển hóa di truyền lần thứ hai tại đây nhờ những thay đổi về DNA trong nhiễm sắc thể khiến từ người da đen gốc Châu Phi dã chuyển hóa thành da vàng Châu Á trước khi di cư lên phía Bắc. Nhờ vậy Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) trở thành cái nôi người da vàng cổ nhất của nhân loại tại phần đất không những ở Đông Nam Á mà ở cả toàn cõi Châu Á vậy. CUNG ĐÌNH THANH (Viết tại Sydney, Nam Bán Cầu, nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng Ba năm Canh Thìn 14/4/2000) 131 10. Ngoài ra, cũng có một trở ngại khác đáng kể hơn nữa, đó là ảnh hưởng của núi lửa Toba đã xảy ra ở Sumatra khoảng 74.000 năm trước. Lí do là vì những đám mây tro của núi lửa này có thể đã gây ra nhiều chết chóc khủng khiếp và tạo ra một vùng “mùa đông hạt nhân” diệt chủng rộng lớn giữa Đông Á và Tây Á. Đến đỗi, ngày nay một “luống rãnh” chia cắt Đông- Tây sâu đậm vẫn còn được trông thấy trong hồ sơ di truyền thể (sđd, tr. 81-2, 181, 192-3). 11. Những sự khác biệt này không những đã được ghi nhận trong hồ sơ giữa Đông Tây, mà còn ghi nhận trong hồ sơ di truyền thể giữa chủng Monggoloid phương Bắc và chủng phương Nam nữa. Cụ thể là theo kết quả khảo sát di truyền thể của nhiều nhóm cư dân Đông Á, do nhà di truyền học Luca Cavalli- Sforza và các đồng nghiệp người Trung Quốc của ông thực hiện, thì người Bắc Hán và người Nam Hán tuy được kể là cùng nhóm dân tộc Trung Quốc, nhưng họ chỉ có mối quan hệ rất gần gũi với nhau về mặt địa dư, hơn là về mặt chủng tộc” (Wells [4], The Journey of Man, tr. 120-1). 12. Những sự khác biệt giữa người Bắc Hán và Nam Hán này cũng còn được các nhà khảo sát sọ não của trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp khẳng định. Theo đó, chỉ số sọ não của người Hoa ở miền Hoa Bắc là 76,56 và thuộc sọ dài; còn chỉ số của người Hoa ở miền Hoa Nam, như Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, và người Hoa ở miền Hoa Đông (nguyên thuộc tộc Đông Di và Bộ lạc Trĩ) là 81,22 và có sọ tròn. Còn chỉ số của người Việt Nam là 82,13 và cũng có sọ tròn. Điều này chứng tỏ người Hoa Bắc KHÁC CHỦNG với người Hoa Nam và người Hoa Đông — vì khác nhau sọ dài với sọ tròn và có sự chênh lệch (81,22 – 76,56 = 4,66) hơn 4 chỉ số sọ giữa họ với nhau. Ngược lại, với cùng sọ tròn và với sự chênh lệch (82,13 – 81,22 = 0,91) dưới 1 chỉ số sọ, người 142
là vì trở ngại của núi lửa Toba ở Sumatra đã xảy ra cách nay 74.000 năm. 7. Cũng vì những trở ngại trên mà các nhóm di dân đợt II đã tách ra làm hai nhánh. Một nhánh, sau khi rời Pakistan hoặc Ấn Độ, đã men theo thung lủng sông Indus để di chuyển tiếp lên hướng Bắc và ngang qua các thảo nguyên Trung Á; sau đó, cũng chia thành hai nhóm nhỏ. Một nhóm rẽ về hướng Tây để vào Châu Âu; còn nhóm kia di chuyển tiếp về hướng Đông để vào Mông Cổ và vùng Đông Bắc Á, kế nữa phối chủng với cư dân bản địa của đợt I (Australoid) để trở thành Mongoloid phương Bắc. 8. Trong lúc đó, nhánh còn lại (và cũng nhánh chính) tiếp tục men theo các cao nguyên dưới chân núi Himalaya, cũng như men theo các con sông lớn (Brahmaputra, Irrawaddy, Cửu Long, Dương Tử) để đến Đông Nam Á và Đông Á. Tại đây, hậu duệ của nhánh PHỐI CHỦNG với các cư dân bản địa có huyết tộc Australoid đường biển để trở thành chủng Mongoloid phương Nam (cũng có nhiều tác giả gọi là chủng Indonésien hoặc Cổ Mã Lai). Có đặc thù khác biệt giữa người Bắc Hán và Nam Hán 9. Như vậy, mặc dù tổ tiên của chủng Mongoloid phương Bắc và tổ tiên của chủng Mongoloid phương Nam đều là hậu duệ của đợt II; nhưng một mặt do đã tách biệt từ khi gặp trở ngại của các dãy núi cao ở miền Tây Á và Trung Á, và mặt khác cũng do những khắc nghiệt của thời tiết và cuộc sống khó khăn KHÁC BIỆT giữa hai hành lang di chuyển, nên đã tạo ra những biến đổi đặc thù KHÁC NHAU giữa hai chủng Mongoloid phương Nam và Mongoloid phương Bắc. 141 BÀI DỌC THÊM CÂY PHẢ HỆ NHÂN CHỦNG HỌC PHÂN TỬ. 1. Tìm hiểu nguồn gốc các dân tộc Qua cây phả hệ nhân chủng học phân tử Do Khảo sát DNA Nhiễm sắc thể Y người cha Adam. (Theo The journey of man: A genetic Odyssey Của Spencer Wells. ) Nhà nhân chủng và di truyền học Spencer Wells xem xét một mẫu DNA (Ảnh: nationalgeographic) Nhân chủng học phân tử là một chuyên ngành nhân chủng chuyên dùng các phân tích phân tử và di truyền để khám phá nguồn gốc và tiến hóa loài người hay phân loại và xem xét quá trình tiến hóa của các động vật nhân hình. Hội Địa lý quốc gia Mỹ đã cho triển khai Dự án địa lý di truyền (Genographic Project) kéo dài 5 năm do Spencer Wells đứng đầu, với nhiệm vụ kết hợp di truyền học dân số và sinh học phân tử để lần tìm dấu vết của sự di cư 132
của con người từ thời điểm lần đầu tiên chúng ta rời khỏi châu Phi, 50.000 đến 60.000 năm trước, tới những nơi mà chúng ta sống ngày nay. Mười trung tâm nghiên cứu trên thế giới đã nhận được tiền tài trợ từ tổ chức Waitt Family Foundation để thu thập và phân tích mẫu máu từ các dân tộc bản xứ, trong đó có nhiều tộc người ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Dự án địa lý di truyền hy vọng sẽ thu thập được trên 100.000 mẫu DNA để tạo ra ngân hàng gen lớn nhất thế giới. Dự án sẽ cho thấy những con đường mà người tiền sử đã đi để rồi sinh sôi trên khắp mặt đất, vẽ một bức tranh về tấm thảm gen đã kết nối tất cả chúng ta. Bộ tộc Hadzave sống du mục ở miền bắc Tanzania (Ảnh: nationalgeographic) Như vẫn thường xảy ra trong khoa học, công nghệ đã mở ra một lĩnh vực với những cách thức mới để trả lời những câu hỏi cũ, và thường là cho chúng ta những câu trả lời gây sửng sốt. Bằng cách phân tích những biến đổi gen trong nhiễm sắc thể Y của con người ở mọi khu vực trên thế giới, Wells và các đồng sự đã kết luận rằng, tất cả loài người sống trên trái đất hiện nay đều là con cháu của một người châu Phi duy nhất. (Các nhà khoa học căn cứ vào nhiễm sắc thể 133 hậu duệ thuộc thị tộc Nasreen và Manju là 1:3 (sđd, 180). 4.Rohani (R) là con gái của siêu thị tộc Nasreen, được ghi nhận có mặt sớm nhất ở Ấn Độ khoảng trên 55.000 năm trước; ở vùng Lưỡng Hà, và Cận Đông từ sau 55.000 năm trước. Tổ tiên đầu tiên của người Châu Âu là một trong bốn người con gái của thị tộc Rohani (R →J, T, U5 và I), được ghi nhận có mặt ở miền Cận Đông sau 55.000 năm trước và đã di dân đén Châu Âu khoảng 50.000 năm trước; trong khi đó, cũng có một nhánh tổ tiên khác của người Châu Âu đến từ Trung Á vào khoảng 40.000 năm trước. Chỉ có một đợt di dân lớn ra khỏi Châu Phi 5. Khác với quan niệm của nhà di truyền học Hoa Kì Spencer Wells cho rằng có hai vị trí xuất phát và hai đợt di dân lớn ra khỏi Châu Phi khác nhau, nhà di truyền học Anh Oppenheimer khảo sát mtDNA mẫu hệ (có phối kiểm chặt chẽ với khảo cổ học, dịa chất học và khí hậu học) lại nhận định: Chỉ có một đợt di dân lớn ra khỏi châu Phi cách nay 85.000 năm (sđd, tr. 69 & 78); còn đợt II thật ra chỉ là đợt nối tiếp với đợt đầu, mà Ấn Độ, Pakistan và vùng Vịnh là nơi xuất phát của đợt II này. Vi, cũng theo quan niệm của Oppenheimer, tất cả mọi phân nhánh di dân không- Châu Phi đi khắp lục địa Âu-Á đều phát khởi từ các vùng bờ biển này, trong đó có hai nhánh di dân sớm nhất đi Đông Nam Á, Úc và Đông Á (sđd, tr.82, 163, 171, 348 & 352). 6. Hơn nữa, đợt II cũng đã xảy ra khá trễ. Mà lí do trễ, đó là một phần vì các nhóm di dân của đợt II này có lối sống săn bắt “con mồi” trong sâu lục địa, nên đã gặp trở ngại không những của các dãy núi cao ở miền Tây Á và Trung Á, như Hindu Kush, Tien Shan và Himalaya, mà còn vì thời tiết khắc nghiệt; kế nữa 140
2. Tìm hiểu nguồn gốc các dân tộc Qua cây phả hệ nhân chủng học phân tử do khảo sát DNA Ty thể người mẹ Eva. ( Theo Out of Eden Của BS Stephen Oppenheimer.) Những nghiên cứu khảo sát mtDNA mẫu hệ của nhà di truyền học Anh, Bác sĩ Stephen Oppenheimer, được viết trong sách Out of Eden của ông được tóm lược một số điểm chính như sau: Lộ trình di dân bên ngoài Châu Phi 1. Cách nay 85.000 năm, một cặp thủy tổ loài người hiện đại rời miền Đông Châu Phi, vượt Biển Đỏ; sau đó, sinh ra các nhóm di dân không-Châu Phi đầu tiên, Các nhóm này men theo bờ biển Nam Á, ngang qua Ấn Độ, đến Đông Nam Á và Đông Á cách nay 75.000 năm trước; kế nữa vào Úc khoảng 65.000 năm trước. Từ 70000 năm TCN, người Việt cổ đã ở Đông Nam Á .(Theo GS Nguyễn Đình Khoa) 2. Siêu-thị tộc Manju mẫu hệ (M) là con gái của thủy tổ Eva không-Châu Phi (L3), có tỉ lệ di truyền thể tăng lên dần từ Tây sang Đông và chiếm ưu thế trong huyết thống của đại chủng Mongoloid. 3. Còn siêu-thị tộc Nasreen (N) cũng là con gái của thủy tổ Eva không-Châu Phi (L3), lại có tỉ lệ ngược lại với Manju. Khoảng giữa Biển Đỏ và cửa sông Indus ở Pakistan, các hậu duệ di truyền thể của siêu-thị tộc Nasreen chiếm tỉ lệ 5:1 so với các hậu duệ di truyền thể của siêu-thị tộc Manju; nhưng càng di chuyển về hướng Đông tiến đến Ấn-độ, thì tỉ lệ giữa Nasreen và Manju giảm xuống còn 1:1; tại Tây-tạng, tỉ lệ của các 139 Y vì đây là một trong những công cụ mạnh nhất ở cấp độ tế bào, giúp truy nguyên nguồn gốc loài người - truyền từ cha sang các con mà không hề thay đổi suốt hàng nghìn năm). (S.Oppenheimer căn cứ theo ADN ty thể của người mẹ, để truy nguyên nguồn gốc loài người.) Khuôn mặt chính diện của hình mẫu Adam do máy tính dựng lên (Ảnh: nationalgeographic) Trong cuốn sách của mình, Hành trình của con người: cuộc phiêu lưu của gen (The journey of man: A genetic Odyssey), Wells mô tả cuộc di cư từ châu Phi bắt đầu từ khoảng 60.000 năm trước, và con đường mà chúng ta đã đi để đưa con người đến mọi nơi trên thế giới. (Theo GS Nguyễn Đình Khoa, trong thời gian 70000 năm TCN, người Việt cổ đã ở Đông Nam Á.) Làn sóng đầu tiên.Đi theo đường bờ biển phía Nam châu Á, những người di cư đầu tiên đã vượt khoảng 250km đường biển, và chiếm lĩnh Australia vào khoảng 50.000 năm trước. Những thổ dân da đỏ Australia, là con cháu của làn sóng di cư đầu tiên khỏi châu Phi. Làn sóng thứ hai. Rời khỏi "châu lục đen" là vào khoảng 45.000 năm trước và định cư ở Trung Đông, với những 134
nhóm nhỏ hơn đi đến Ấn Độ, bắc Trung Quốc, và nam Trung Quốc. Khi những sông băng của Kỷ Băng hà bắt đầu tan chảy vào khoảng 40.000 năm trước, và nhiệt độ tăng lên, con người đã di chuyển vào Trung Á và nhanh chóng sinh sôi ở đó. Những nhóm nhỏ rời Trung Á vào khoảng 35.000 năm trước để tới châu Âu. Và vào khoảng 20.000 năm trước, một nhóm nhỏ những người Trung Á khác đã tiến xa hơn về phía Bắc, tới Siberia và vùng Bắc cực. Hình : Bản đồ thiên di của những người cha. CHÚ THÍCH. Theo những công bố mới nhất của Đề án bản đồ gien, hành trình chiếm lĩnh trái đất của người tinh khôn (Homo sapiens) có thể miêu tả lại như sau : • 200.000-60.000 năm trước: Người hiện đại tiến hóa tại Đông Phi. Bắt đầu có một số cuộc di cư nội châu Phi và vượt biển Đỏ sang Trung Đông. Người vượt biển hoặc bị diệt vong hoặc quay lại cố hương khi đối mặt với người Neanderthal (cuộc chạm trán lần thứ nhất). • 60.000-55.000 năm trước: Vượt biển Đỏ tại eo Bab el Mandeb sang Yemen rồi men theo bờ biển Ấn Độ Dương tới lục địa Sunda (gồm vùng Đông Nam Á chưa bị biển 135 Các cuộc di cư dựa trên ADN nhiễm sắc thể Y (màu xanh) và ADN ti thể (màu vàng) 138
• 35.000-30.000 năm trước: Từ Tây Nam Trung Quốc, Homo sapiens tới Đài Loan (M119), Indonesia, Triều Tiên và Nhật Bản (cùng mang dấu gien P31). • 20.000-10.000 năm trước: Từ Đông Á, người tinh khôn di cư tới Tây Bắc Mĩ (M217). Từ Bắc Afganistan, người hiện đại di cư lên Bắc Âu (LLY22), qua Siberia tới Alaska (M242), rồi tới Bắc và Nam Mĩ (M3). Từ Đông Nam Á, họ đi tới châu Đại Dương (M4); còn từ Nam Trung Quốc, họ ngược lên tới Hoàng Hải (M122). Đó là mốc thời gian và địa lý của những cuộc di cư chủ yếu. Thông tin chi tiết hơn có thể tìm tại địa chỉ http://www.nationalgeographic.com/ trên mạng. GHI CHÚ. Tuy nhiên, về thời gian thiên di rời khỏi Phi châu của Spencer Wells, so với thời gian thiên di của J.Y. Chu và của Siephen Oppenhei mer có sự cách biệt quá xa. Do đó cần phải xét lại. 137 ngăn cách) rồi đi tiếp tới Australia. Ngoài ra là các nhánh tới Cận Đông và Trung Á. Tất cả các cuộc di cư này đều được nhận chân nhờ dấu gien M*. Từ Ả-rập Xê-út có hai nhánh quay ngược về Bắc và Đông Phi (dấu gien đặc trưng là M1) • 55.000-40.000 năm trước: Đây là thời kì dư cư điển hình của người hiện đại. Một nhóm từ vài trăm tới một vài ngàn người tinh khôn (dấu gien M168) vượt biển Đỏ rồi tách đôi tại Trung Đông. Một nhánh (dấu gien M174) đến Sunda, lên Đông Bắc Á, tới Siberia và Mông Cổ, trước khi vòng xuống Tây Nam Trung Quốc. Nhánh thứ hai hoặc tới Bắc Âu (dấu gien R) hoặc tới Trung Á (Bắc Afganistan). Từ đây Homo sapiens đi xuống Đông Nam Á và châu Úc (dấu gien B); xâm nhập miền Trung (dấu gien F) và Nam Trung Quốc (dấu gien B); ngược lên Mông Cổ, Altai (Siberia) và Bắc Trung Quốc (dấu gien A, B, F). Nhiều nhánh vượt Siberia qua eo Bering để tới Bắc và Nam Mĩ (dấu gien A, B, C, D). Và họ tiếp tục xâm nhập Trung Á (M9); Ấn Độ (M69); theo bờ biển tới Sunda trước khi sang Philippines và Australia, cũng như lên Đông Bắc Á, vào Siberia, đồng thời theo bờ Thái Bình Dương sang Tây Bắc Mỹ (đều mang dấu gien M130) • 40.000-35.000 năm trước: Từ Trung Á tới châu Âu (M173), Trung Âu và bán đảo Iberia (M343), một nguyên nhân khiến người Neanderthal tuyệt chủng (cuộc chạm trán lần thứ hai, với kết quả ngược với lần thứ nhất). Cũng từ Trung Á, họ tiếp tục xâm nhập Tây Bắc Đông Nam Á và Nam Trung Quốc (M175), 136